Trích nội dung chương
3. A few rare, very rare, cases of hermaphroditism. These people, combining in themselves both aspects of the sex life, are faced with a very real problem. It is a problem which is greatly increased by human ignorance, human refusal to face facts, wrong early training and teaching, [64] and a widespread misunderstanding. These cases are to be found in small numbers everywhere, even though their numbers, in relation to the world population, is still negligible. But that they exist is of real interest to the medical profession and a subject of deep pity and commiseration to the humanitarian and the understanding psychologist. They face a…
3. A few rare, very rare, cases of hermaphroditism. These people, combining in themselves both aspects of the sex life, are faced with a very real problem. It is a problem which is greatly increased by human ignorance, human refusal to face facts, wrong early training and teaching, [64] and a widespread misunderstanding. These cases are to be found in small numbers everywhere, even though their numbers, in relation to the world population, is still negligible. But that they exist is of real interest to the medical profession and a subject of deep pity and commiseration to the humanitarian and the understanding psychologist. They face a difficult situation.
3. Một số ít trường hợp lưỡng tính hiếm gặp, rất hiếm gặp. Những người này, kết hợp trong mình cả hai phương diện của đời sống tính dục, phải đối mặt với một vấn đề rất thực tế. Sự thiếu hiểu biết của con người, việc con người từ chối đối diện với sự thật, sự rèn luyện và giáo dục sai lầm từ thuở đầu, [64] cùng sự hiểu lầm phổ biến khiến vấn đề ấy nghiêm trọng hơn nhiều. Những trường hợp này hiện diện với số lượng nhỏ ở khắp nơi, dù so với dân số thế giới, số lượng của họ vẫn không đáng kể. Nhưng sự hiện hữu của họ là điều thực sự đáng quan tâm đối với ngành y, và khơi dậy lòng thương cảm sâu sắc nơi người có lòng nhân đạo và nhà tâm lý học thấu hiểu. Họ phải đối mặt với một tình thế khó khăn.
I have somewhat elaborated this matter as it is of use for you to know such facts and the information is of value to you. It serves to throw light upon a problem which an increasingly large number of people are called upon to face. Psychologists, social workers, physicians, and all those occupied with group training constantly meet with this problem, and it is just as well that some distinction is made between the types which must be considered, thus clarifying the issue. (The Problem of Sex. Pages 268-307. Esoteric Psychology Vol I)
Tôi đã trình bày vấn đề này khá chi tiết vì việc biết những sự thật như thế có ích cho các bạn và thông tin này có giá trị đối với các bạn. Nó giúp soi sáng một vấn đề mà ngày càng nhiều người phải đối mặt. Các nhà tâm lý học, nhân viên công tác xã hội, thầy thuốc và tất cả những ai tham gia huấn luyện nhóm đều thường xuyên gặp vấn đề này; vì vậy, nên có sự phân biệt giữa những loại cần xem xét để làm sáng tỏ vấn đề. (Vấn Đề Tính Dục. Các trang 268-307. Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I)
You will find in these instructions many hints which, though they may not be classified definitely as instructions in healing, yet fall into that category, for they will make those of you who read more efficient in understanding.
Trong những huấn thị này, các bạn sẽ tìm thấy nhiều gợi ý tuy có thể không được phân loại dứt khoát là huấn thị về chữa lành, nhưng vẫn thuộc phạm vi ấy, vì chúng sẽ giúp những ai đọc chúng nâng cao khả năng thấu hiểu.
You will note also from the above how this taint, as might well be expected, has its roots in the astral or sentient body, the body of sensation. It is for this reason that I have included it. It would be an interesting experiment in analysis if these various well-known difficulties, diseases and complaints could be classified under their originating impulses. So few of them have a mental origin, in spite of all that Christian Science or Mental Science may say to the contrary. Perhaps I should say, rather, that they are not based on wrong human thought, though all evil can be aggravated and intensified by wrong thought. Many or perhaps most of the [65] complaints from which average man suffers are based upon astral causes or upon some clearly defined desire. A formulated desire is one that finds expression in some form of activity. Of these homosexuality is one of the clearest to define. The other diseases to which humanity is heir are sometimes not so easy to clarify and define. The man or woman is a victim but the cause producing the illness or difficulty—physical or psychological—lies hid in a long past which the victim (with his limited knowledge) is unable to investigate, nor can he arrive at the cause producing the effect. All that he can affirm is that, in all probability, desire was the initiating impulse. What human beings are today and what they suffer is the result of their long past, and the past presupposes long and well-established habits. Such habits are inevitably the result of one of two factors:
Từ những điều trên, các bạn cũng sẽ nhận thấy rằng, đúng như có thể dự liệu, mầm ô nhiễm này bắt rễ trong thể cảm dục hay thể cảm thụ, tức thể cảm giác. Đó là lý do Tôi đã đưa nó vào đây. Sẽ là một thử nghiệm phân tích lý thú nếu có thể phân loại những khó khăn, bệnh tật và chứng bệnh quen thuộc khác nhau này theo các xung động khởi nguyên của chúng. Rất ít trong số đó có nguồn gốc trí tuệ, bất chấp mọi điều mà Khoa học Cơ Đốc hay Khoa học Trí tuệ có thể nói ngược lại. Có lẽ đúng hơn Tôi nên nói rằng chúng không bắt nguồn từ tư tưởng sai lầm của con người, dù tư tưởng sai lầm có thể làm mọi điều xấu trở nên trầm trọng và mãnh liệt hơn. Nhiều, hoặc có lẽ phần lớn, các [65] chứng bệnh mà người bình thường mắc phải đều bắt nguồn từ những nguyên nhân cảm dục hoặc từ một dục vọng được xác định rõ ràng. Một dục vọng đã định hình là dục vọng tìm được sự biểu lộ trong một hình thức hoạt động nào đó. Trong số này, đồng tính luyến ái là một trong những trường hợp dễ xác định rõ nhất. Những bệnh khác mà nhân loại thừa hưởng đôi khi không dễ làm sáng tỏ và xác định đến thế. Người nam hay nữ là nạn nhân, nhưng nguyên nhân gây bệnh hoặc khó khăn — về thể chất hay tâm lý — lại ẩn trong một quá khứ xa xưa mà nạn nhân, với kiến thức hạn hẹp của mình, không thể khảo sát, cũng không thể tìm đến nguyên nhân tạo ra kết quả ấy. Tất cả những gì người ấy có thể khẳng định là rất có thể dục vọng chính là xung động khởi đầu. Con người ngày nay là gì và chịu đựng những gì đều là kết quả của quá khứ lâu dài của họ, và quá khứ ấy hàm chứa những thói quen lâu đời, đã ăn sâu vững chắc. Những thói quen như vậy tất yếu là kết quả của một trong hai yếu tố:
1. Desire, dominating and controlling action,
1. Dục vọng, chi phối và kiểm soát hành động,
or
hoặc
2. Mental control which substitutes for desire a planned campaign which will run counter in many cases to the normally sensed, defined desire.
2. Sự kiểm soát của trí tuệ thay thế dục vọng bằng một chương trình hành động có kế hoạch, mà trong nhiều trường hợp sẽ đi ngược lại dục vọng thường được cảm nhận và xác định.
You will note from the above that it is my wish that you grasp the importance of the emotional sentient body and its power to initiate those secondary causes which, in this life, demonstrate as disease.
Từ những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy rằng Tôi mong các bạn nắm bắt tầm quan trọng của thể cảm xúc và cảm thụ, cùng quyền năng của nó trong việc khởi phát những nguyên nhân thứ cấp biểu lộ thành bệnh tật trong kiếp sống này.
You will note consequently the emphasis I have laid upon the astral body as a promoter of wrong physical conditions, and the necessity for astral understanding and control on the part of the patient, if there is to be a true overcoming of disease. Will you understand me if I say that the true overcoming may mean an acceptance of the Way of Death as the way out, should it come normally, or of healing, if the causes [66] which are the initial impulses are exhausted? Ponder on this.
Do đó, các bạn sẽ nhận thấy Tôi đã nhấn mạnh thể cảm dục như một tác nhân thúc đẩy những tình trạng sai lệch nơi thể xác, cùng sự cần thiết để bệnh nhân thấu hiểu và kiểm soát cảm dục nếu muốn thực sự vượt qua bệnh tật. Liệu các bạn có thấu hiểu Tôi khi Tôi nói rằng sự vượt qua đích thực có thể hàm ý chấp nhận Con Đường Tử Vong như lối thoát, nếu cái chết đến một cách bình thường, hoặc chấp nhận sự chữa lành, nếu những nguyên nhân [66] vốn là các xung động ban đầu đã cạn kiệt? Hãy suy ngẫm điều này.
In all the above, even in connection with what I have said concerning homosexuality, I have considered either rampant or inhibited desire, but I have only considered it in general terms and in a broad outline. Will you misunderstand if I point out to you that where desire is inhibited (which is the case with many aspirants today) all kinds of diseases—cancer, congestion of the lungs and certain liver complaints—become possible, as well as the dread malady of tuberculosis? The diseases of inhibition are numerous and serious, as you will note from the above enumeration. It should be noted that where desire is rampant and uncontrolled and no inhibition is present, such diseases as the syphilitic disorders, homosexuality and inflammations and fevers appear. According to the temperament so will be the types of disease, and the temperament is dependent upon the ray quality. People on the different rays are predisposed to certain disorders. The psychologists are right in their basic differentiation of human beings into the two major types—extroverts and introverts. These two types produce their own qualities of disease, which demonstrate as ill health through over-expression or inhibition.
Trong tất cả những điều trên, kể cả những gì Tôi đã nói về đồng tính luyến ái, Tôi đã xem xét dục vọng buông thả hoặc bị ức chế, nhưng chỉ xem xét theo những thuật ngữ chung và một phác thảo rộng. Liệu các bạn có hiểu lầm nếu Tôi chỉ ra rằng khi dục vọng bị ức chế — như trường hợp của nhiều người chí nguyện hiện nay — đủ loại bệnh tật có thể phát sinh, như ung thư, sự ứ đọng ở phổi và một số chứng bệnh gan, cũng như căn bệnh lao đáng sợ? Như các bạn sẽ thấy từ phần liệt kê trên, những bệnh do ức chế rất nhiều và nghiêm trọng. Cần lưu ý rằng khi dục vọng buông thả, không được kiểm soát và không có sự ức chế, những tình trạng như rối loạn do giang mai, đồng tính luyến ái, viêm và sốt sẽ xuất hiện. Các loại bệnh tật sẽ tuỳ theo khí chất, và khí chất phụ thuộc vào phẩm tính cung. Những người thuộc các cung khác nhau có khuynh hướng dễ mắc những rối loạn nhất định. Các nhà tâm lý học đúng khi phân biệt căn bản con người thành hai loại chính — hướng ngoại và hướng nội. Hai loại này tạo ra những đặc tính bệnh tật riêng, biểu lộ thành sức khoẻ kém do biểu lộ quá mức hoặc do ức chế.
We have considered our second point under the healing of diseases which arise in the emotional or desire nature. Our first point deals with uncontrolled emotion. I would remind you of our premise that we would only consider the ills to which advanced humanity, the aspirants and disciples of all degrees are prone. We will not deal (in this short treatise) with the whole gamut of diseases which affect humanity as a whole, or down the ages. The more advanced the aspirant, the greater probability there is that the diseases from which he suffers will be pronounced and powerfully demonstrating, on account of the inflow to a greater [67] or less degree of the stimulating force of the soul. Subsidiary to the five major groups of diseases to which I earlier referred, and working out in connection with them in the human frame, are a group of symptoms which are loosely covered by the terms: fevers, tumors, congested areas, plus general debility and the auto-intoxication which lies behind so many symptoms. I would have you remember this with care and bear steadily in mind that I am here only generalising, but that this generalisation is basic and therefore of importance.
Chúng ta đã xem xét điểm thứ hai trong việc chữa lành các bệnh phát sinh từ bản chất cảm xúc hay dục vọng. Điểm thứ nhất của chúng ta đề cập đến cảm xúc không được kiểm soát. Tôi muốn nhắc các bạn về tiền đề của chúng ta: chúng ta chỉ xem xét những chứng bệnh mà nhân loại tiến bộ, những người chí nguyện và các đệ tử thuộc mọi cấp độ dễ mắc phải. Trong khảo luận ngắn này, chúng ta sẽ không đề cập đến toàn bộ phạm vi bệnh tật ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại hoặc xuyên suốt các thời đại. Người chí nguyện càng tiến bộ, các bệnh mà y mắc phải càng có khả năng trở nên rõ rệt và biểu lộ mạnh mẽ, do mãnh lực kích thích của linh hồn tuôn vào ở mức độ nhiều [67] hay ít. Phụ thuộc vào năm nhóm bệnh lớn mà Tôi đã đề cập trước đây, và biểu lộ trong cơ thể con người gắn liền với chúng, là một nhóm triệu chứng thường được gọi một cách khái quát là: sốt, khối u, những vùng ứ đọng, cùng tình trạng suy nhược toàn thân và sự tự nhiễm độc nằm sau rất nhiều triệu chứng. Tôi muốn các bạn ghi nhớ kỹ điều này và luôn nhớ rằng ở đây Tôi chỉ đang khái quát, nhưng sự khái quát này có tính nền tảng và vì vậy rất quan trọng.
C. Diseases of Worry and Irritation.
C. Những Bệnh Do Lo Âu và Bực Bội.
The third category of complaints which arise in the emotional or astral body is synthesised esoterically under the term: diseases of irritation. These are the insidious poisons which lurk behind the phenomena of disease.
Loại chứng bệnh thứ ba phát sinh trong thể cảm xúc hay thể cảm dục được tổng hợp theo cách gọi nội môn là: những bệnh do bực bội. Đây là những độc tố âm thầm ẩn sau các hiện tượng bệnh tật.
It might be said that all diseases can be covered by two definitions, from the standpoint of occultism:
Theo quan điểm huyền bí học, có thể nói rằng mọi bệnh tật đều nằm trong hai định nghĩa:
1. Diseases which are the result of auto-intoxication. These are the most general.
1. Những bệnh là kết quả của sự tự nhiễm độc. Đây là những bệnh phổ biến nhất.
2. Diseases which are the result of irritation. These are very common amongst disciples.
2. Những bệnh là kết quả của sự bực bội. Những bệnh này rất thường gặp trong các đệ tử.
We hear much today about auto-intoxication, and many efforts are made to cure this by diet and the regulation of the life in terms of rhythmic living. All this is good and of help, but it does not constitute a basic cure, as its protagonists would lead us to believe. Irritation is a basic psychological complaint and has its roots in the intensification of the astral body, which definitely produces abnormal effects upon the nervous system. It is a disease of self-interest, of self-sufficiency, and of self-satisfaction. Again I would say, ponder on these terms, for these three aspects of irritation are of general discovery. We will therefore [68] deal with irritation, “imperil,” as it is called by exponents of the first ray, such as the Master M.
Ngày nay, chúng ta nghe nói nhiều về sự tự nhiễm độc, và người ta nỗ lực rất nhiều để chữa trị bằng chế độ ăn uống và điều hoà đời sống theo nhịp điệu. Tất cả những điều này đều tốt và hữu ích, nhưng không tạo thành một phương pháp chữa trị căn bản như những người ủng hộ muốn chúng ta tin. Bực bội là một chứng bệnh tâm lý căn bản, bắt rễ trong sự gia tăng cường độ hoạt động của thể cảm dục, vốn chắc chắn tạo ra những tác động bất thường lên hệ thần kinh. Đó là một căn bệnh của sự chỉ quan tâm đến bản thân, của sự tự mãn vì cho rằng mình không cần ai, và của sự hài lòng với chính mình. Một lần nữa, Tôi muốn nói: hãy suy ngẫm những từ này, vì ba phương diện của sự bực bội này có thể được nhận thấy rộng khắp. Vì vậy, chúng ta sẽ [68] đề cập đến sự bực bội, hay “hiểm độc”, theo cách gọi của những vị tiêu biểu cho cung một, như Chân sư M.
We have nearly completed our first section under the heading Psychological Causes of Disease, and have very briefly, yet I believe suggestively, considered those problems which arise from the overactivity and wrong condition of the astral body. All I can do in this short treatise is to generalise, because most of the statements I may make are, in any case, so new and revolutionary (from the standpoint of orthodox medicine) that it will take time for even this first inner structure of ideas and this somewhat new formulation of truth to make its impact upon the thinkers of the race. Then, if accepted as hypothetical possibilities by the open-minded among them, a long period of time must elapse before there has been enough investigation, leading to definitely formulated conclusions, which will make the ideas of popular recognition and use. In saying this, I am not reflecting critically upon the medical profession. The money-grasping specialist and the charlatan are rare; they of course exist, as do the corrupt and the undesirable in every profession. Where are they not to be found? The closed minds are many; but again, where are they not found? The pioneers along the new lines of thought and the man who has grasped some of the New Age concepts have often equally closed minds and see nothing but the new ways, modes and methods, and throw overboard all the old, losing much thereby. The medical profession has one of the greatest and most beautiful records in the world of its purpose and field of activity, and has developed some of the greatest of the soul qualities—self-sacrifice, compassion and service. But the ways and the techniques of the New Age are hard to grasp. Much of the old ways have to be given up and much sacrificed before the new art of healing becomes possible.
Chúng ta gần hoàn tất phần thứ nhất dưới tiêu đề Những Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật, và đã xem xét rất ngắn gọn, nhưng Tôi tin là có tính gợi mở, những vấn đề phát sinh từ sự hoạt động quá mức và tình trạng sai lệch của thể cảm dục. Trong khảo luận ngắn này, tất cả những gì Tôi có thể làm là khái quát, vì dù sao phần lớn những điều Tôi có thể phát biểu đều quá mới mẻ và mang tính cách mạng — theo quan điểm y học chính thống — đến mức sẽ cần thời gian để ngay cả cấu trúc ý tưởng nội tại ban đầu này và cách trình bày chân lý có phần mới mẻ này tác động đến các nhà tư tưởng của nhân loại. Sau đó, nếu những người cởi mở trong số họ chấp nhận chúng như những khả năng giả định, vẫn phải trải qua một thời gian dài mới có đủ sự khảo sát dẫn đến các kết luận được xác lập rõ ràng, giúp những ý tưởng ấy được thừa nhận và sử dụng rộng rãi. Khi nói điều này, Tôi không có ý phê phán ngành y. Những chuyên gia tham tiền và những kẻ lang băm rất hiếm; tất nhiên họ vẫn tồn tại, cũng như những người tha hoá và bất hảo hiện diện trong mọi ngành nghề. Có nơi nào không thấy họ? Những người có đầu óc khép kín thì nhiều; nhưng một lần nữa, có nơi nào không thấy họ? Những người tiên phong theo các đường hướng tư tưởng mới và người đã nắm bắt một số quan niệm của Kỷ Nguyên Mới cũng thường khép kín không kém, chỉ nhìn thấy những cách thức, phương thức và phương pháp mới, rồi vứt bỏ tất cả những gì cũ, do đó đánh mất rất nhiều. Xét về mục đích và lĩnh vực hoạt động, ngành y có một trong những thành tích vĩ đại và đẹp đẽ nhất trên thế giới, đồng thời đã phát triển một số phẩm tính cao quý nhất của linh hồn — sự hi sinh bản thân, lòng từ bi và sự phụng sự. Nhưng những cách thức và kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới rất khó nắm bắt. Phải từ bỏ nhiều cách thức cũ và hi sinh nhiều điều trước khi nghệ thuật chữa lành mới trở thành khả thi.
[69]
[69]
Until the fact of the subtler bodies is properly recognised by the world thinkers, and their existence is established through a right and true science of psychology and the development of the faculty of clairvoyance, the tracing of the causes of disease back to the subtler bodies is relatively meaningless. The best reaction which the most open-minded physician can (I say can and not will) produce or admit is that the psychological attitude, the mental state, and the emotional condition of the patient do either help or hinder. Many are already admitting that. That in itself is much.
Chừng nào các nhà tư tưởng trên thế giới chưa nhận biết đúng đắn sự thật về các thể vi tế, và sự tồn tại của chúng chưa được xác lập thông qua một nền khoa học tâm lý đúng đắn, chân thực cùng sự phát triển khả năng thông nhãn, thì việc truy nguyên bệnh tật về các thể vi tế vẫn tương đối vô nghĩa. Phản ứng tốt nhất mà người thầy thuốc cởi mở nhất có thể — Tôi nói có thể, chứ không phải sẽ — đưa ra hoặc thừa nhận là thái độ tâm lý, trạng thái trí tuệ và tình trạng cảm xúc của bệnh nhân quả thực có thể giúp ích hoặc cản trở. Nhiều người đã thừa nhận điều đó. Chỉ riêng điều ấy cũng đã là rất nhiều.
When, therefore, I say that cancer, for instance, has its roots in an astral condition and began its career in Atlantean times, it means but little to the average man today. He does not realise that large numbers of people today are Atlantean in their consciousness.
Vì vậy, khi Tôi nói rằng chẳng hạn bệnh ung thư bắt rễ trong một tình trạng cảm dục và bắt đầu tiến trình của nó từ thời Atlantis, điều này không mang nhiều ý nghĩa đối với người bình thường ngày nay. Y không nhận ra rằng ngày nay có rất nhiều người mang tâm thức Atlantis.
I want briefly to touch upon the most common of all causes of trouble: Worry and Irritation. They are more prevalent at this time than ever before, and for the following reasons:
Tôi muốn đề cập ngắn gọn đến nguyên nhân phổ biến nhất của mọi khó khăn: Lo Âu và Bực Bội. Hiện nay, chúng phổ biến hơn bao giờ hết vì những lý do sau:
1. The world situation is such, the problems and uncertainty are such, that scarcely a person in the world at this time is exempt. Everyone is more or less involved in the planetary situation.
1. Tình hình thế giới, các vấn đề và sự bất định lớn đến mức hiện nay hầu như không một ai trên thế giới có thể tránh khỏi. Mọi người đều ít nhiều liên quan đến tình hình hành tinh.
2. The intercommunication between people has increased so much, and men live so much in massed groups—large or small—that it is inevitable that they produce an effect upon each other as never before. “If one member suffers, all the members suffer with it” is a statement of truth, ancient but new in application and today realised for the first time.
2. Sự giao tiếp qua lại giữa con người đã gia tăng rất nhiều, và con người sống tập trung thành nhóm — lớn hay nhỏ — nhiều đến mức tất yếu họ tác động lẫn nhau như chưa từng có trước đây. “Nếu một thành viên đau khổ, tất cả các thành viên đều cùng chịu khổ” là một lời khẳng định chân lý, tuy cổ xưa nhưng mới trong cách áp dụng, và ngày nay lần đầu tiên được nhận ra.
3. The increased sensitivity of the human mechanism is also such that men “tune in” on each other’s emotional conditions and mental attitudes in a new and more potent [70] manner. To their own engrossing concerns and worries are added those of their fellowmen with whom they may be en rapport.
3. Độ nhạy cảm của bộ máy con người cũng gia tăng đến mức con người “bắt sóng” những tình trạng cảm xúc và thái độ trí tuệ của nhau theo một cách mới và mạnh mẽ [70] hơn. Những mối bận tâm và lo âu vốn đã cuốn hút họ nay lại chồng thêm những mối bận tâm và lo âu của đồng loại mà họ có thể đang đồng cảm tương thông.
4. Telepathically, and also with a developed sense of prevision, men are today adding the difficulties that belong to someone else, or to some other group of thinkers and of people, to the difficulties that may be. It is not sure that they will be.
4. Ngày nay, qua viễn cảm, cũng như qua khả năng dự cảm đã phát triển, con người đang cộng những khó khăn của người khác, hoặc của một nhóm các nhà tư tưởng và những người khác, vào những khó khăn có thể xảy ra. Không có gì chắc chắn rằng chúng sẽ xảy ra.
These problems will demonstrate to you how intensely difficult it is for men to face up to life. It will be obvious that the problems of worry and irritation (called by the Master Morya “imperil”) are many and must be considered.
Những vấn đề này sẽ cho các bạn thấy con người phải đối diện với cuộc sống khó khăn đến mức nào. Rõ ràng những vấn đề do lo âu và bực bội — mà Chân sư Morya gọi là “hiểm độc” — rất nhiều và cần được xem xét.
Why are these difficulties of the astral body so “perilous” and so serious? Worry and Irritation are dangerous because:
Tại sao những khó khăn này của thể cảm dục lại “nguy hiểm” và nghiêm trọng đến thế? Lo Âu và Bực Bội nguy hiểm vì:
1. They lower the vitality of the man to such a point that he becomes susceptible to disease. The scourge of influenza has its roots in fear and worry, and once the world settles down to freedom from the present “fearful” condition, we shall see the disease die out.
1. Chúng làm giảm sinh lực của con người đến mức y trở nên dễ mắc bệnh. Tai hoạ cúm bắt rễ trong sợ hãi và lo âu; một khi thế giới ổn định và thoát khỏi tình trạng “đầy sợ hãi” hiện nay, chúng ta sẽ thấy căn bệnh ấy dần mất đi.
2. They are so highly infectious from the astral point of view that they lower in a peculiar manner the astral atmosphere, and thus make it hard for people—in the astral sense—to breathe freely.
2. Xét từ quan điểm cảm dục, chúng có tính lây nhiễm cao đến mức làm suy giảm bầu khí quyển cảm dục theo một cách đặc biệt, khiến con người khó thở tự do — theo nghĩa cảm dục.
3. Because the astral conditions of fear, worry and irritation are so widespread today that they might be regarded as epidemic, in a planetary sense.
3. Vì những tình trạng cảm dục của sợ hãi, lo âu và bực bội hiện nay phổ biến đến mức có thể coi là dịch bệnh, theo nghĩa hành tinh.
4. Because irritation (I speak not here of worry) is inflammatory in its effects—and inflammation is hard to bear—and leads to much difficulty. It is interesting to note that certain forms of eye trouble are caused by this.[71]
4. Vì sự bực bội — ở đây Tôi không nói đến lo âu — gây ra tác động viêm, mà viêm thì khó chịu đựng, và dẫn đến nhiều khó khăn. Có một điểm lý thú cần lưu ý là sự bực bội gây ra một số dạng bệnh ở mắt.[71]
5. Because worry and irritation prevent true vision. They shut out the view. The man who is the victim of these conditions sees nothing but the cause of his complaints and is so submerged through self-pity, self-consideration, or in a focussed negative condition, that his vision is narrowed and his group hindered. Remember that there is group selfishness as well as individual selfishness.
5. Vì lo âu và bực bội ngăn cản tầm nhìn chân thực. Chúng che khuất cái nhìn. Người là nạn nhân của những tình trạng này không nhìn thấy gì ngoài nguyên nhân những chứng bệnh của mình, và chìm đắm trong sự tự thương hại, chỉ nghĩ đến bản thân, hoặc tập trung trong một trạng thái tiêu cực đến mức tầm nhìn của y thu hẹp và nhóm của y chịu cản trở. Hãy nhớ rằng có sự ích kỷ của nhóm cũng như sự ích kỷ của cá nhân.
I have cited sufficient reasons for the effects of Worry and Irritation to demonstrate to you the wideness of the difficulty. It is not much use at this time to talk of the remedy. One does not say to an influenza patient (when the worst throes of the disease are upon him), “There is nothing the matter. Pay no attention. Get up and go about your business.” It is no use saying to men today, “Do not fear. Leave off worrying. All will be well.” They will not believe you, for one thing—and that is fortunate, for it is not true. Things are not well and humanity and the Planetary life are not well. This, the Hierarchy knows, and is working for the amelioration of the conditions. When the throes of the “planetary influenza” are over (and the patient will not die), then investigation can be made and effort produced which can prevent a recurrence. At present, all that can be done is to keep the patient quiet and also keep the fever down. This is the work of the New Group of World Servers and the intelligent men of goodwill. Their name is Legion.
Tôi đã nêu đủ những lý do về tác động của Lo Âu và Bực Bội để cho các bạn thấy mức độ rộng lớn của khó khăn này. Hiện nay, nói đến phương thuốc không có mấy tác dụng. Người ta không nói với một bệnh nhân cúm đang trong cơn hành hạ dữ dội nhất của bệnh rằng: “Chẳng có gì đâu. Đừng để ý. Hãy đứng dậy và làm công việc của mình.” Ngày nay, nói với con người rằng: “Đừng sợ. Hãy thôi lo âu. Mọi chuyện sẽ ổn” cũng vô ích. Trước hết, họ sẽ không tin các bạn — và đó là điều may mắn, vì điều ấy không đúng. Mọi chuyện không ổn, nhân loại và Sự sống Hành tinh đều không khoẻ mạnh. Thánh đoàn biết điều này và đang làm việc để cải thiện tình hình. Khi những cơn hành hạ của “bệnh cúm hành tinh” qua đi — và bệnh nhân sẽ không chết — khi ấy mới có thể khảo sát và nỗ lực ngăn ngừa sự tái phát. Hiện tại, tất cả những gì có thể làm là giữ cho bệnh nhân yên tĩnh và đồng thời hạ sốt. Đây là công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí sáng suốt. Họ đông vô số kể.
2. CAUSES ARISING IN THE ETHERIC BODY – 2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ DĨ THÁI
It will be wise for you to bear in mind that I am not here going to deal with those causes which, producing effects in the physical body, arise in the mind or in the astral body. Necessarily they pass through the etheric body. The etheric body is a transmitter of all energies to the physical body, [72] and all types of force pass through it to different parts of the physical form, producing good and bad results, negative or positive results, as the case may be. This is a fact which we accept. I am here considering the diseases, problems and physical difficulties which arise in the etheric body itself and work out in its relations to the physical body. These are quite widespread and usual. It is essential that you keep these two lines of force-activity clearly differentiated in your mind. Both pass through and from the etheric body into the physical body, but only one of them originates in or is concerned with difficulties which have an etheric origin.
Các bạn nên ghi nhớ rằng ở đây Tôi sẽ không đề cập đến những nguyên nhân phát sinh trong thể trí hoặc thể cảm dục rồi tạo ra tác động nơi thể xác. Tất yếu chúng đi qua thể dĩ thái. Thể dĩ thái truyền mọi năng lượng đến thể xác, [72] và mọi loại mãnh lực đều đi qua thể dĩ thái đến các phần khác nhau của hình tướng hồng trần, tạo ra kết quả tốt hoặc xấu, tiêu cực hoặc tích cực, tuỳ từng trường hợp. Đây là một sự thật mà chúng ta chấp nhận. Ở đây, Tôi đang xem xét các bệnh tật, vấn đề và khó khăn thể chất phát sinh ngay trong thể dĩ thái và biểu lộ trong mối quan hệ của nó với thể xác. Những điều này khá phổ biến và thường gặp. Điều thiết yếu là các bạn phải phân biệt rõ trong trí hai dòng hoạt động mãnh lực này. Cả hai đều đi qua và từ thể dĩ thái vào thể xác, nhưng chỉ một dòng bắt nguồn từ hoặc liên quan đến những khó khăn có nguồn gốc dĩ thái.
The etheric body is a body composed entirely of lines of force and of points where these lines of force cross each other and thus form (in crossing) centres of energy. Where many such lines of force cross each other, you have a larger centre of energy, and where great streams of energy meet and cross, as they do in the head and up the spine, you have seven major centres. There are seven such, plus twenty-one lesser centres and forty-nine smaller centres known to the esotericists. However, we will confine ourselves at this time to the etheric body as a whole and to the seven major centres. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centres are to be found. They can be located at the following points:
Thể dĩ thái là một thể hoàn toàn cấu thành từ các đường mãnh lực và những điểm nơi các đường mãnh lực này giao nhau, nhờ đó tạo thành các trung tâm năng lượng tại những chỗ giao nhau. Nơi nhiều đường mãnh lực như thế giao nhau, có một trung tâm năng lượng lớn hơn; và nơi các dòng năng lượng lớn gặp gỡ, giao nhau, như ở đầu và dọc cột sống, có bảy trung tâm chính. Có bảy trung tâm như thế, cùng hai mươi mốt trung tâm nhỏ và bốn mươi chín trung tâm nhỏ hơn mà các nhà bí truyền học biết đến. Tuy nhiên, lúc này chúng ta sẽ giới hạn trong việc xem xét toàn bộ thể dĩ thái và bảy trung tâm chính. Dẫu vậy, các bạn có thể thấy lý thú khi biết hai mươi mốt trung tâm nhỏ nằm ở đâu. Có thể xác định chúng tại những vị trí sau:
There are two of them in front of the ears close to where the jaw bones are connected.
Có hai trung tâm ở phía trước hai tai, gần nơi các xương hàm nối nhau.
There are two of them just above the two breasts.
Có hai trung tâm ngay phía trên hai vú.
There is one where the breast bones meet, close to the thyroid gland. This, with the two breast centres, makes a triangle of force.
Có một trung tâm nơi các xương ức gặp nhau, gần tuyến giáp. Trung tâm này cùng hai trung tâm ở vú tạo thành một tam giác mãnh lực.
There are two, one each in the palms of the hands. [73]
Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn tay có một. [73]
There are two, one each in the soles of the feet.
Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn chân có một.
There are two, just behind the eyes.
Có hai trung tâm ngay phía sau hai mắt.
There are two also connected with the gonads.
Cũng có hai trung tâm liên kết với các tuyến sinh dục.
There is one close to the liver.
Có một trung tâm gần gan.
There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.
Có một trung tâm liên kết với dạ dày; vì vậy, nó có quan hệ với tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với tùng thái dương.
There are two connected with the spleen. These form one centre in reality, but such a centre is formed by the two being superimposed one on the other.
Có hai trung tâm liên kết với lá lách. Thực ra, chúng tạo thành một trung tâm, nhưng trung tâm ấy do hai trung tâm chồng lên nhau mà thành.
There are two—one at the back of each knee.
Có hai trung tâm — mỗi trung tâm nằm sau một đầu gối.
There is one powerful centre which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major centre; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.
Có một trung tâm mạnh mẽ liên kết chặt chẽ với dây thần kinh phế vị. Trung tâm này có sức mạnh rất lớn, và một số trường phái huyền bí học xem nó là một trung tâm chính; nó không nằm trong cột sống, mà cách tuyến ức không xa.
There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the centre at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral centre, the solar plexus, and the centre at the base of the spine.
Có một trung tâm ở gần tùng thái dương, liên kết tùng thái dương với trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó tạo thành một tam giác gồm trung tâm xương cùng, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống.
The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.
Hai tam giác được đề cập trong bảng liệt kê này có tầm quan trọng thực sự. Một tam giác nằm trên và tam giác kia nằm dưới cơ hoành.
It is of course apparent that where there is a free flow of force through the etheric body into the dense physical body there will be less likelihood of disease or sickness. There may, however, be increased tendency to difficulties arising from overstimulation and its consequent results of overactivity of the nervous system, with all the attendant problems. These forces, seeking inlet into the dense vehicle, are emanations from three directions (if I may use such a term): [74]
Dĩ nhiên, rõ ràng nơi nào mãnh lực lưu chuyển tự do qua thể dĩ thái vào thể xác đậm đặc thì khả năng mắc bệnh sẽ ít hơn. Tuy nhiên, có thể gia tăng khuynh hướng gặp những khó khăn do kích thích quá mức, cùng hệ quả là hệ thần kinh hoạt động quá mức với mọi vấn đề đi kèm. Những mãnh lực này, tìm đường đi vào hiện thể đậm đặc, là các phát xạ từ ba hướng — nếu Tôi có thể dùng một từ như vậy: [74]
1. From the personality vehicles—the astral and mental bodies.
1. Từ các hiện thể của phàm ngã — thể cảm dục và thể trí.
2. From the soul, if contact, recognised or unrecognised, has been established.
2. Từ linh hồn, nếu sự tiếp xúc đã được thiết lập, dù có được nhận biết hay không.
3. From the environing world to which the vehicles of the soul and of the personality have acted as “doors of entrance.” Incidentally, in connection with this last phrase, I would call your attention to a possible relation between these “doors of entrance” and the phrase “door of initiation.”
3. Từ thế giới xung quanh, mà các hiện thể của linh hồn và phàm ngã đã đóng vai trò như những “cửa vào”. Nhân đây, liên quan đến cụm từ cuối này, Tôi muốn các bạn chú ý đến mối quan hệ có thể có giữa những “cửa vào” ấy và cụm từ “cửa điểm đạo”.
In the case where these centres, through which the inflowing energy from these sources of supply flow, are quiescent, unawakened or only functioning partially or too slowly (as far as their vibratory rhythm is concerned), then you will have a condition of blocking. This will produce congestion in the etheric vehicle, and consequent and subsequent difficulties in the functioning of the physical body. One of the most common of these is congestion of the lungs which—though it may be exoterically traced to certain and definite physical causes—is in reality those causes, plus an inner condition of etheric congestion. It is the bringing together of the outer apparent cause and the apparent inner true cause which is responsible for the outbreak of the trouble. When these two conditions are brought into conjunction with each other, and you have a physical handicap and an etheric situation which is undesirable, then you will have disease, illness, or weakness of some kind. Every outer congestion can always be traced to these two causes—an inner and an outer cause. In these cases, the outer cause is not an effect of the individual inner cause, which is interesting. You will note, therefore, that all ills are not purely subjective or psychological in origin as far as an individual is concerned, [75] but are sometimes both exoteric and esoteric. Hence the complication of the problem.
Trong trường hợp các trung tâm mà năng lượng từ những nguồn cung cấp này tuôn qua đang ở trạng thái yên lặng, chưa thức tỉnh, hoặc chỉ hoạt động một phần hay quá chậm xét về nhịp điệu rung động, thì sẽ có tình trạng tắc nghẽn. Điều này tạo ra sự ứ đọng trong hiện thể dĩ thái, rồi dẫn đến những khó khăn trong hoạt động của thể xác. Một trong những tình trạng phổ biến nhất là sự ứ đọng ở phổi; tuy về mặt ngoại môn có thể truy nguyên nó về những nguyên nhân thể chất cụ thể, xác định, nhưng thực ra nó là tổng hợp của những nguyên nhân ấy với một tình trạng ứ đọng dĩ thái bên trong. Chính sự kết hợp giữa nguyên nhân bên ngoài hiển nhiên và nguyên nhân chân thực bên trong có vẻ rõ ràng chịu trách nhiệm cho sự bùng phát của chứng bệnh. Khi hai tình trạng này kết hợp với nhau, vừa có một trở ngại thể chất vừa có một tình trạng dĩ thái không mong muốn, thì bệnh tật, đau ốm hoặc một dạng suy yếu nào đó sẽ xuất hiện. Mọi sự ứ đọng bên ngoài luôn có thể truy nguyên về hai nguyên nhân này — một nguyên nhân bên trong và một nguyên nhân bên ngoài. Trong những trường hợp này, điều lý thú là nguyên nhân bên ngoài không phải là kết quả của nguyên nhân bên trong riêng của cá nhân. Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy rằng, xét về cá nhân, không phải mọi chứng bệnh đều có nguồn gốc thuần tuý chủ quan hoặc tâm lý, [75] mà đôi khi vừa có nguồn gốc ngoại môn vừa có nguồn gốc nội môn. Do đó vấn đề trở nên phức tạp.
The above statement opens up the whole question of the activity of the seven centres of force in the etheric body. These can be regarded as dormant or unawakened, awakening but only as yet sluggishly alive, or functioning normally, which means that some of the energies which produce the form of the centre are moving rhythmically, and are therefore receptive to inflow, while others are still entirely inactive and unresponsive. Other centres will be fully active, and therefore predominantly attractive to any inflowing forces; still others will be only partially so. For the majority of people, the centres below the diaphragm are more active than those above the diaphragm (I am referring here to the seven major centres and not to the twenty-one minor centres). For aspirants, centres below the diaphragm are active and the heart and throat centres are slowly coming into activity, while in the case of disciples, the ajna centre, plus those centres below it in the body, are rapidly awakening. In the initiate, the head centre is coming into vibrant activity, thus swinging all the centres into real and coordinated rhythm. Each patient or human being, being on some ray, responds differently; the time factor also differs; the pattern of the unfoldment varies, and the response to the inflowing forces is slightly differentiated.
Phát biểu trên mở ra toàn bộ vấn đề về hoạt động của bảy trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Có thể xem các trung tâm này là đang ngủ yên hoặc chưa thức tỉnh; đang thức tỉnh nhưng mới chỉ sống động một cách chậm chạp; hoặc hoạt động bình thường, nghĩa là một số năng lượng tạo nên hình tướng của trung tâm đang chuyển động nhịp nhàng và do đó có khả năng tiếp nhận dòng tuôn vào, trong khi những năng lượng khác vẫn hoàn toàn bất động và không đáp ứng. Những trung tâm khác sẽ hoạt động đầy đủ, và vì vậy có sức thu hút nổi trội đối với mọi mãnh lực tuôn vào; một số trung tâm khác nữa chỉ như thế một phần. Ở đa số con người, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động mạnh hơn các trung tâm trên cơ hoành — ở đây Tôi đề cập đến bảy trung tâm chính, chứ không phải hai mươi mốt trung tâm nhỏ. Ở những người chí nguyện, các trung tâm dưới cơ hoành hoạt động, còn trung tâm tim và trung tâm cổ họng đang chậm rãi đi vào hoạt động; trong khi ở các đệ tử, trung tâm ajna cùng các trung tâm nằm dưới nó trong thân thể đang nhanh chóng thức tỉnh. Ở điểm đạo đồ, trung tâm đầu đang đi vào hoạt động rung động mạnh mẽ, nhờ đó đưa mọi trung tâm vào một nhịp điệu thực sự và phối hợp. Mỗi bệnh nhân hay mỗi con người, vì thuộc một cung nào đó, đáp ứng theo cách khác nhau; yếu tố thời gian cũng khác nhau; mô hình khai mở thay đổi, và sự đáp ứng với các mãnh lực tuôn vào cũng có những khác biệt nhỏ.
All of this we will consider with due care when we deal with Chapter IX, which concerns itself with the seven modes of healing. I simply mention it here so as to lay the foundation for what must later be considered, and thus show you how the whole question of the relation of the etheric body to the physical body is connected with the problem of healing. It will be apparent, therefore, how important it is—before real healing can take place—that the healer should know the point in evolution reached by [76] the patient, and should also know his ray type, both personality and egoic. If to this you add some knowledge of his astrological inclinations and indications, a far more accurate diagnosis can be produced. The key to all release (either through the physical cure of disease or through death) lies in the understanding of the condition of the centres in the etheric body. These determine the rate of the bodily vibratory activity and the general responsiveness of the physical body. They even condition the activity and accuracy of the instinctual nature and its relation to the outer plane life and the “wholeness” and general health of the sympathetic nervous system.
Chúng ta sẽ xem xét cẩn thận tất cả những điều này khi đề cập đến Chương IX, nói về bảy phương thức chữa lành. Ở đây, Tôi chỉ nhắc đến để đặt nền tảng cho những điều phải xem xét về sau, qua đó cho các bạn thấy toàn bộ vấn đề về mối quan hệ giữa thể dĩ thái và thể xác gắn liền với vấn đề chữa lành như thế nào. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng trước khi sự chữa lành thực sự có thể diễn ra, điều quan trọng biết bao là người chữa lành phải biết điểm tiến hoá mà [76] bệnh nhân đã đạt tới, đồng thời biết loại cung của bệnh nhân, cả cung phàm ngã lẫn cung chân ngã. Nếu bổ sung vào đó một số kiến thức về những khuynh hướng và chỉ dấu chiêm tinh của bệnh nhân, có thể đưa ra chẩn đoán chính xác hơn rất nhiều. Chìa khoá cho mọi sự giải thoát — dù thông qua việc chữa khỏi bệnh thể chất hay qua cái chết — nằm trong sự thấu hiểu tình trạng các trung tâm trong thể dĩ thái. Những trung tâm này quyết định tốc độ hoạt động rung động của thân thể và khả năng đáp ứng chung của thể xác. Chúng thậm chí còn tác động đến hoạt động và độ chính xác của bản chất bản năng, mối quan hệ của bản chất ấy với đời sống trên cõi bên ngoài, cùng sự “toàn vẹn” và sức khoẻ chung của hệ thần kinh giao cảm.
A. Congestion.
A. Sự Ứ Đọng.
Much real difficulty can be traced to congestion or to the lack of the free play of the forces. In this connection it might be pointed out that the etheric body is a mechanism for intake and for outlet. There is consequently a curious and intimate relation between it and such organs as the lungs, the stomach, and the kidneys. The symbology here present, when correctly understood, will tend to show that there is a deep underlying esoteric relation between:
Nhiều khó khăn thực sự có thể truy nguyên về sự ứ đọng hoặc tình trạng các mãnh lực không thể vận hành tự do. Trong mối liên hệ này, có thể chỉ ra rằng thể dĩ thái là một bộ máy tiếp nhận và phát xuất. Do đó, giữa nó và những cơ quan như phổi, dạ dày, thận có một mối quan hệ kỳ lạ và mật thiết. Khi được thấu hiểu đúng đắn, tính biểu tượng hiện diện ở đây sẽ cho thấy một mối quan hệ nội môn sâu xa làm nền tảng giữa:
1. The mind and the lungs. The process of breathing, with its stages of inhalation, the interlude, and exhalation, works out in connection with both aspects of force, mental and physical.
1. Thể trí và phổi. Quá trình hô hấp, với các giai đoạn hít vào, khoảng dừng và thở ra, diễn ra trong mối liên hệ với cả hai phương diện mãnh lực, trí tuệ và hồng trần.
2. The desire nature and the stomach. Here again is the process of intake, of assimilation, and of elimination.
2. Bản chất dục vọng và dạ dày. Ở đây cũng có quá trình tiếp nhận, đồng hoá và bài tiết.
3. The etheric body itself and the kidneys, with the processes clearly defined in both cases of absorption, chemicalisation, and transmission.
3. Chính thể dĩ thái và thận, với các quá trình hấp thu, biến đổi hoá học và truyền dẫn được xác định rõ trong cả hai trường hợp.
There is no symbol so relatively accurate to the whole [77] creative process as the human frame.
Không có biểu tượng nào tương đối chính xác với toàn bộ [77] tiến trình sáng tạo bằng cơ thể con người.
Congestion in the etheric body, producing much distress in the physical body, can exist. therefore, at the point of intake from the astral body or from the astral plane (Note the phrasing and the difference.) or at the point of outlet, in relation to the centre to which the particular type of etheric force most easily flows and through which it most easily passes. Where there is no free play between the etheric body and the astral body, you will have trouble. Where there is no free play between the etheric body and the physical body, involving also the nerve ganglia and the endocrine system, you will also have trouble. The close relation between the seven major centres and the seven major glands of the physical system must never be forgotten. The two systems form one close interlocking directorate, with the glands and their functions determined by the condition of the etheric centres. These, in their turn, are conditioned by the point in evolution and gained experience of the incarnate soul, by the specific polarisation of the soul in incarnation, and by the rays (personality and soul) of the man. Forget not, that the five aspects of man (as he functions in the three worlds) are determined by certain ray forces; you have the ray of the soul, the ray of the personality, and the rays of the mental, the astral and the physical bodies. All these will, in the coming New Age, be definitely considered and discovered, and this knowledge will reveal to the healer the probable condition of the centres, the order of their awakening, and their individual and basic note or notes. The new medical science will be outstandingly built upon the science of the centres, and upon this knowledge all diagnosis and possible cure will be based. The endocrinologist is only beginning to glimpse possibilities, and much that he is now considering has in it the seeds of future truth. The “balancing of the glandular system” [78] and the relation of the glands to the blood stream, and also to character and predispositions of many kinds, are considerations of real value and worth following. Much, however, remains to be discovered before it will be really safe to work with the glands, making them a major subject of attention (as some day will be the case in all forms of illness).
Vì vậy, sự ứ đọng trong thể dĩ thái, gây ra nhiều đau đớn nơi thể xác, có thể tồn tại tại điểm tiếp nhận từ thể cảm dục hoặc từ cõi cảm dục — hãy lưu ý cách diễn đạt và sự khác biệt — hoặc tại điểm phát xuất, trong mối quan hệ với trung tâm mà loại mãnh lực dĩ thái cụ thể ấy dễ chảy đến và dễ đi qua nhất. Nơi nào không có sự lưu chuyển tự do giữa thể dĩ thái và thể cảm dục, nơi đó sẽ có khó khăn. Nơi nào không có sự lưu chuyển tự do giữa thể dĩ thái và thể xác, liên quan cả đến các hạch thần kinh và hệ nội tiết, nơi đó cũng sẽ có khó khăn. Không bao giờ được quên mối quan hệ chặt chẽ giữa bảy trung tâm chính và bảy tuyến chính của hệ thống thể chất. Hai hệ thống tạo thành một bộ phận điều hành duy nhất gắn kết chặt chẽ, trong đó tình trạng của các trung tâm dĩ thái quyết định các tuyến và chức năng của chúng. Đến lượt mình, các trung tâm này chịu ảnh hưởng của điểm tiến hoá và kinh nghiệm mà linh hồn nhập thể đã đạt được, của sự phân cực cụ thể của linh hồn đang lâm phàm, và của các cung — phàm ngã và linh hồn — của con người. Đừng quên rằng năm phương diện của con người, khi y hoạt động trong ba cõi giới, do những mãnh lực cung nhất định quyết định; có cung linh hồn, cung phàm ngã và các cung của thể trí, thể cảm dục, thể xác. Trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, tất cả những điều này sẽ được xem xét và khám phá rõ ràng; kiến thức ấy sẽ tiết lộ cho người chữa lành tình trạng có thể có của các trung tâm, thứ tự thức tỉnh của chúng, cùng âm điệu hoặc những âm điệu riêng biệt và căn bản của chúng. Nền y học mới sẽ chủ yếu được xây dựng trên khoa học về các trung tâm, và mọi chẩn đoán cùng phương pháp chữa trị khả thi sẽ dựa trên kiến thức này. Nhà nội tiết học mới chỉ bắt đầu thoáng thấy những khả năng, và nhiều điều họ đang xem xét chứa đựng hạt giống của chân lý tương lai. Sự “cân bằng hệ thống tuyến” [78] và mối quan hệ của các tuyến với dòng máu, cũng như với tính cách và nhiều loại khuynh hướng tiềm ẩn, là những điều thực sự có giá trị và đáng tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, còn nhiều điều phải khám phá trước khi việc tác động lên các tuyến và lấy chúng làm trọng tâm chú ý trở nên thực sự an toàn — như một ngày nào đó sẽ xảy ra trong mọi hình thức bệnh tật.
Throughout this short treatise I will give many hints which will serve to guide the open minded investigator in the right direction. Before passing on to the consideration of the relation of the etheric body, as a unit, to the physical body, I would like to point out that I place the complications of congestion first upon the list of diseases arising in the etheric body, because it is at this time—and will be for a couple of centuries—the major cause of difficulty for the bulk of humanity or of those people whom we esoterically call “solar-sacral” people. This is partly due to the age-long habits of suppression and of inhibition which the race, as a whole, has developed. It is this congestion at the point of intake and of outlet in the etheric body which is responsible for the impeding of the free flow of the life force, with the results of a rapid succumbing to diseases. Hence, also, you will see how carefully assigned breathing exercises, with their subtle effects of reorganising and readjusting the subtler bodies (particularly the etheric and astral bodies) will become more and more generally used. The widespread interest in breathing today evidences a subjective recognition of this fact, though not enough is yet known about methods and effects.
Xuyên suốt khảo luận ngắn này, Tôi sẽ đưa ra nhiều gợi ý giúp dẫn dắt người khảo sát có đầu óc cởi mở theo hướng đúng đắn. Trước khi chuyển sang xem xét mối quan hệ của thể dĩ thái, như một đơn vị, với thể xác, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đặt các biến chứng do ứ đọng lên đầu danh sách những bệnh phát sinh trong thể dĩ thái, vì hiện nay — và trong vài thế kỷ tới — đó là nguyên nhân khó khăn chủ yếu đối với phần lớn nhân loại, hay những người mà theo cách gọi nội môn, chúng ta gọi là người “tùng thái dương–xương cùng”. Điều này một phần là do những thói quen đè nén và ức chế lâu đời mà nhân loại nói chung đã hình thành. Chính sự ứ đọng này tại các điểm tiếp nhận và phát xuất trong thể dĩ thái cản trở dòng lưu chuyển tự do của mãnh lực sự sống, dẫn đến việc nhanh chóng gục ngã trước bệnh tật. Do đó, các bạn cũng sẽ thấy những bài tập thở được chỉ định cẩn thận, với tác động tinh tế là tổ chức lại và điều chỉnh lại các thể vi tế — đặc biệt là thể dĩ thái và thể cảm dục — sẽ ngày càng được sử dụng rộng rãi. Sự quan tâm phổ biến đến việc hô hấp ngày nay cho thấy một sự nhận biết chủ quan về sự thật này, dù người ta vẫn chưa biết đủ về phương pháp và tác động.
One other thing I would like to call to your attention is that the points of congestion may exist either in the astral body centre or in the etheric body, and this situation the healer will have to investigate. [79]
Một điều khác Tôi muốn các bạn chú ý là các điểm ứ đọng có thể tồn tại trong trung tâm của thể cảm dục hoặc trong thể dĩ thái, và người chữa lành sẽ phải khảo sát tình trạng này. [79]
B. Lack of Coordination and Integration.
B. Thiếu Sự Phối Hợp và Tích Hợp.
We come now to a brief consideration of our second point of difficulty to be found in the etheric body, which in our tabulation we have called lack of coordination or integration. This is exceedingly prevalent today and is responsible for a good deal of trouble. The etheric body is the inner “substantial” form upon which the physical body is built or constructed. It is the inner scaffolding which underlies every part of the whole outer man; it is the framework which sustains the whole; it is that upon which the outer form is patterned; and it is the network of nadis (infinitely intricate) which constitutes the counterpart or the duplicate aspect of the entire nervous system which forms such an important part of the human mechanism. It is thus definitely, with the blood stream, the instrument of the life force. If, therefore, there is weakness in the relation between this inner structure and the outer form, it will be immediately apparent to you that real difficulty is bound to supervene. This difficulty will take three forms:
Giờ đây, chúng ta chuyển sang xem xét ngắn gọn điểm khó khăn thứ hai trong thể dĩ thái, mà trong bảng liệt kê chúng ta đã gọi là thiếu sự phối hợp hoặc tích hợp. Tình trạng này hiện nay cực kỳ phổ biến và gây ra rất nhiều khó khăn. Thể dĩ thái là hình tướng “chất liệu” bên trong mà trên đó thể xác được xây dựng hay kiến tạo. Nó là giàn giáo bên trong làm nền tảng cho mọi phần của toàn bộ con người bên ngoài; là bộ khung nâng đỡ toàn thể; là cái mà hình tướng bên ngoài được tạo theo; và là mạng lưới các đường dẫn năng lượng vô cùng phức tạp, cấu thành đối phần hay phương diện bản sao của toàn bộ hệ thần kinh, vốn là một phần quan trọng đến thế trong bộ máy con người. Vì vậy, cùng với dòng máu, nó rõ ràng là công cụ của mãnh lực sự sống. Do đó, nếu mối quan hệ giữa cấu trúc bên trong này và hình tướng bên ngoài yếu kém, các bạn sẽ thấy ngay rằng khó khăn thực sự chắc chắn sẽ xảy ra. Khó khăn này sẽ có ba hình thức:
1. The physical form in its dense aspect is too loosely connected with the etheric form or counterpart. This leads to a devitalised and debilitated condition, which predisposes man to sickness or ill health.
1. Hình tướng hồng trần, ở phương diện đậm đặc, liên kết quá lỏng lẻo với hình tướng hay đối phần dĩ thái. Điều này dẫn đến tình trạng suy giảm sinh lực và suy nhược, khiến con người dễ mắc bệnh hoặc có sức khoẻ kém.
2. The connection is poor in certain directions or aspects of the equipment. Through certain focal points or centres the life force cannot adequately flow, and therefore you have a definite weakness in some part of the physical body. For instance, impotence is such a difficulty and a tendency to laryngitis is another—to mention two widely different disorders.
2. Sự liên kết yếu kém ở một số hướng hoặc phương diện của bộ máy. Mãnh lực sự sống không thể lưu chuyển đầy đủ qua một số điểm tập trung hay trung tâm, và do đó có sự suy yếu rõ rệt ở một phần nào đó của thể xác. Chẳng hạn, chứng bất lực là một khó khăn như thế, và khuynh hướng viêm thanh quản là một khó khăn khác — để nêu hai rối loạn rất khác nhau.
3. The connection can also be so basically loose and poor that the soul has very little hold upon its vehicle [80] for outer manifestation, and obsession or possession is easily established. This is an extreme example of the difficulties incident to this condition. Others are certain forms of fainting or loss of consciousness and “petit mal.”
3. Sự liên kết cũng có thể lỏng lẻo và yếu kém ngay từ nền tảng đến mức linh hồn nắm giữ rất ít đối với hiện thể [80] dùng để biểu hiện ra bên ngoài, khiến tình trạng ám nhập hoặc chiếm hữu dễ xảy ra. Đây là một ví dụ cực đoan về những khó khăn gắn liền với tình trạng này. Những ví dụ khác là một số dạng ngất xỉu hoặc mất ý thức và “động kinh cơn nhỏ”.
There are also, as will be apparent, the exactly reverse conditions when the etheric body is so closely knit or integrated with the personality—whether it is of a highly evolved nature or simply an example of an ordinary etheric body—that every part of the physical body is in a constant condition of stimulation, of galvanic effort, with a resultant activity in the nervous system which—if not correctly regulated—can lead to a great deal of distress. It is to this that I refer in the third heading, “Overstimulation of the Centres.” Too loose a connection or too close a connection leads to trouble, though the first kind of difficulty is usually more serious than the others. I have here given enough to show how interesting and how important a study of the etheric body may be. The whole theme of healing is “tied up” (to use a modern phrase which I find difficult) with the development, unfoldment and control of the seven major centres.
Như sẽ thấy rõ, cũng có những tình trạng hoàn toàn ngược lại, khi thể dĩ thái gắn kết hoặc tích hợp chặt chẽ với phàm ngã—dù đó là một thể dĩ thái đã tiến hoá cao hay chỉ là một thể dĩ thái thông thường—đến mức mọi bộ phận của thể xác luôn ở trong tình trạng kích thích, liên tục hoạt động như có dòng điện kích phát, khiến hệ thần kinh hoạt động theo cách mà—nếu không được điều hoà đúng đắn—có thể gây ra rất nhiều khổ sở. Đó là điều Tôi đề cập trong đề mục thứ ba, “Sự Kích Thích Quá Mức các Trung Tâm.” Mối liên kết quá lỏng lẻo hay quá chặt chẽ đều dẫn đến rắc rối, dù loại khó khăn thứ nhất thường nghiêm trọng hơn những loại khác. Những điều Tôi trình bày ở đây đã đủ cho thấy việc nghiên cứu thể dĩ thái có thể lý thú và quan trọng đến mức nào. Toàn bộ chủ đề trị liệu đều “gắn liền” (dùng một cách nói hiện đại mà Tôi thấy khó diễn đạt) với sự phát triển, khai mở và kiểm soát bảy trung tâm chính.
C. Overstimulation of the Centres.
C. Sự Kích Thích Quá Mức các Trung Tâm.
There is much that I could add to what I have said on the cause of disease arising in the etheric body, but in Part II (when dealing with the section on certain basic requirements) I shall elaborate the theme much further. Congestion, lack of integration and over-stimulation of the centres, are obviously fundamental causes as far as the dense physical body is concerned, but they themselves are frequently effects of subtler causes, hidden in the life of the astral and mental bodies and, in the case of overstimulation, [81] the result sometimes of soul contacts. The etheric body reacts normally, and by design, to all the conditions found in the subtler vehicles. It is essentially a transmitter and not an originator and it is only the limitations of the observer which lead him to ascribe the causes of bodily ills to the etheric body. It is a clearing house for all the forces reaching the physical body, provided the point in evolution has brought the various force centres to a condition wherein they are receptive to any particular type of force. Esoterically speaking, the centres can be in one of five conditions or states of being. These can be described in the following terms:
Tôi còn có thể bổ sung nhiều điều vào những gì đã nói về nguyên nhân bệnh tật phát sinh trong thể dĩ thái, nhưng trong Phần II (khi bàn đến mục nói về một số yêu cầu cơ bản), Tôi sẽ trình bày chủ đề này sâu rộng hơn nhiều. Sự ứ đọng, thiếu tích hợp và kích thích quá mức các trung tâm hiển nhiên là những nguyên nhân căn bản đối với thể xác đậm đặc, nhưng chính chúng lại thường là những hệ quả của các nguyên nhân tinh tế hơn, ẩn trong sự sống của thể cảm dục và thể trí; còn trong trường hợp kích thích quá mức, [81] đôi khi đó là kết quả của những tiếp xúc với linh hồn. Theo cách hoạt động bình thường và đúng với cấu tạo của nó, thể dĩ thái phản ứng với mọi tình trạng hiện hữu trong các hiện thể tinh tế hơn. Về bản chất, nó là bộ phận truyền dẫn chứ không phải nguồn phát sinh, và chỉ vì những giới hạn của người quan sát mà người ấy quy nguyên nhân của những bệnh tật thân thể cho thể dĩ thái. Nó là trạm trung chuyển cho mọi mãnh lực đi đến thể xác, miễn là điểm tiến hoá đã đưa các trung tâm mãnh lực khác nhau đến tình trạng có thể tiếp nhận một loại mãnh lực cụ thể nào đó. Nói theo huyền bí học, các trung tâm có thể ở một trong năm tình trạng hay trạng thái hiện tồn. Có thể mô tả những trạng thái này như sau:
1. Closed, still and shut, and yet with signs of life, silent and full of deep inertia.
1. Khép kín, tĩnh lặng và đóng chặt, nhưng vẫn có dấu hiệu của sự sống, im lìm và đầy tính trì trệ sâu nặng.
2. Opening, unsealed, and faintly tinged with colour; the life pulsates.
2. Đang mở ra, không còn phong kín và thoáng nhuốm sắc màu; sự sống đập nhịp.
3. Quickened, alive, alert in two directions; the two small doors are open wide.
3. Được khơi hoạt, sống động, tỉnh thức theo hai hướng; hai cánh cửa nhỏ mở rộng.
4. Radiant and reaching forth with vibrant note to all related centres.
4. Rạng ngời và vươn ra với âm điệu rung động đến mọi trung tâm có liên hệ.
5. Blended they are and each with each works rhythmically. The vital force flows through from all the planes. The world stands open wide.
5. Chúng hoà quyện với nhau, mỗi trung tâm phối hợp nhịp nhàng với mọi trung tâm khác. Sinh lực tuôn chảy xuyên qua từ mọi cõi. Thế giới rộng mở.
Related to these five stages, wherein the etheric body expands and becomes the vital livingness of all expression upon the physical plane, are the five races of men, beginning with the Lemurian race, the five planes of human and superhuman expression, the five stages of consciousness and the various other groupings of five with which you meet in the esoteric philosophy. Incidentally it might be of value and of interest to point out that the five-pointed star is not only the sign and symbol of initiation and finally perfected man, but it is also the basic symbol of the etheric [82] body and of the five centres which control perfected man—the two head centres, the heart centre, the throat centre and the centre at the base of the spine. When these centres are fully awakened and functioning in right rhythm with each other, the various quintuplets to which I have referred above form an integral part of the consciousness of the perfected man.
Liên hệ với năm giai đoạn này, trong đó thể dĩ thái mở rộng và trở thành sức sống sinh động của mọi biểu hiện trên cõi hồng trần, là năm giống dân của nhân loại, bắt đầu từ giống dân Lemuria, năm cõi biểu hiện của con người và các sự sống siêu nhân loại, năm giai đoạn tâm thức cùng nhiều nhóm năm khác mà các bạn gặp trong triết học nội môn. Nhân đây, có lẽ cũng hữu ích và lý thú khi chỉ ra rằng ngôi sao năm cánh không chỉ là dấu hiệu và biểu tượng của điểm đạo và của con người cuối cùng đã hoàn thiện, mà còn là biểu tượng căn bản của thể dĩ thái [82] và năm trung tâm kiểm soát con người hoàn thiện—hai trung tâm ở đầu, trung tâm tim, trung tâm cổ họng và trung tâm ở đáy cột sống. Khi các trung tâm này thức tỉnh hoàn toàn và hoạt động theo nhịp điệu đúng đắn với nhau, những nhóm năm khác nhau mà Tôi vừa đề cập ở trên trở thành một phần không thể tách rời trong tâm thức của con người hoàn thiện.
Though this particular piece of information is not definitely related to the Science of Healing, yet the entire subject is related to energy, and energy in some form or another is related to the causes and the effects of disease, because disease is the undesirable effect of energy upon the energy unit which we call the atom.
Dù thông tin cụ thể này không liên quan trực tiếp đến Khoa Học Trị Liệu, toàn bộ chủ đề vẫn liên quan đến năng lượng, và năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác đều liên quan đến các nguyên nhân và hệ quả của bệnh tật, bởi bệnh tật là tác động không mong muốn của năng lượng lên đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử.
It should be remembered that the etheric body of the human being is an integral part of the etheric body of the planetary Logos and is, therefore, related to all forms found within that body in any and all the kingdoms in nature. It is part of the substance of the universe, coordinated with planetary substance, and hence provides the scientific basis for unity.
Cần nhớ rằng thể dĩ thái của con người là một phần không thể tách rời của thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế, và do đó có liên hệ với mọi hình tướng hiện hữu trong thể dĩ thái ấy, thuộc bất kỳ và tất cả các giới trong tự nhiên. Nó là một phần chất liệu của vũ trụ, phối hợp với chất liệu hành tinh, và vì thế cung cấp cơ sở khoa học cho sự hợp nhất.
If you were to ask me what, in reality, lies behind all disease, all frustrations, error and lack of divine expression in the three worlds, I would say it was separativeness which produces the major difficulties arising in the etheric body, plus the inability of the outer tangible form to respond adequately to the inner and subtler impulses. Here is found the cause (the secondary cause, as I pointed out above) of the bulk of the trouble. The etheric body of the planet does not yet freely transmit and circulate the forces which are seeking entrance into the consciousness and the expression of man upon the physical plane. These forces emanate from within himself as he functions on the subtler levels of consciousness and from the soul; they come also from associated and contacted groups, from the planetary life, [83] and eventually, in the last analysis, from the entire universe. Each of the centres can, when fully awakened and consciously and scientifically employed, serve as an open door through which awareness of that which lies beyond the individual human life can enter. The etheric body is fundamentally the most important response apparatus which man possesses, producing not only the right functioning of the five senses and consequently providing five major points of contact with the tangible world, but it also enables a man to register sensitively the subtler worlds, and, when energised and controlled by the soul, the spiritual realms stand wide open also.
Nếu các bạn hỏi Tôi điều gì thực sự nằm sau mọi bệnh tật, mọi thất vọng, sai lầm và sự thiếu vắng biểu hiện thiêng liêng trong ba cõi giới, Tôi sẽ nói rằng đó là tính chia rẽ, vốn tạo ra những khó khăn chủ yếu phát sinh trong thể dĩ thái, cộng với việc hình tướng hữu hình bên ngoài không thể đáp ứng đầy đủ với những xung lực bên trong và tinh tế hơn. Chính ở đây có nguyên nhân (nguyên nhân thứ yếu, như Tôi đã chỉ ra ở trên) của phần lớn những rắc rối. Thể dĩ thái của hành tinh chưa truyền dẫn và lưu chuyển tự do những mãnh lực đang tìm cách đi vào tâm thức và sự biểu hiện của con người trên cõi hồng trần. Những mãnh lực này phát ra từ bên trong chính con người khi y hoạt động trên các cấp độ tâm thức tinh tế hơn, và từ linh hồn; chúng cũng đến từ những nhóm mà y có liên hệ và tiếp xúc, từ sự sống hành tinh, [83] và cuối cùng, xét đến tận cùng, từ toàn thể vũ trụ. Khi thức tỉnh hoàn toàn và được sử dụng một cách có ý thức, có khoa học, mỗi trung tâm đều có thể đóng vai trò một cánh cửa rộng mở, qua đó sự nhận biết về những gì nằm ngoài sự sống cá nhân của con người có thể đi vào. Về căn bản, thể dĩ thái là bộ máy đáp ứng quan trọng nhất mà con người sở hữu; nó không chỉ giúp năm giác quan hoạt động đúng đắn và nhờ đó cung cấp năm điểm tiếp xúc chính với thế giới hữu hình, mà còn cho phép con người ghi nhận một cách nhạy bén các thế giới tinh tế hơn; khi linh hồn tiếp năng lượng và kiểm soát thể dĩ thái, các cảnh giới tinh thần cũng rộng mở.
The etheric body is a potent receiver of impressions, which are conveyed to the human consciousness through the medium of the awakened centres. There is, for instance, no true clairvoyance until either the solar plexus or the ajna centre is awakened. These transmitted impressions and information become the incentive whereby conscious activity is initiated. There are many words used to describe these forces and their actuating effects: such as impulses, incentives, influences, potencies, desires, aspirations, and many such terms which are only synonyms for force or energy and thus convey the same general idea. All of these words refer to forms of activity of the etheric body, but only as the physical body registers them and acts under their impression. The whole theme of motivating force is one of great interest.
Thể dĩ thái là bộ phận tiếp nhận ấn tượng mạnh mẽ; các trung tâm đã thức tỉnh truyền những ấn tượng ấy đến tâm thức con người. Chẳng hạn, không có thông nhãn thực sự cho đến khi trung tâm tùng thái dương hoặc trung tâm ajna thức tỉnh. Những ấn tượng và thông tin được truyền đến này trở thành động lực khởi phát hoạt động có ý thức. Người ta dùng nhiều từ để mô tả những mãnh lực này và tác động thúc đẩy của chúng, như xung lực, động lực, ảnh hưởng, quyền năng, dục vọng, khát vọng, cùng nhiều thuật ngữ tương tự, vốn chỉ là những từ đồng nghĩa với mãnh lực hay năng lượng và do đó truyền đạt cùng một ý tưởng chung. Tất cả những từ này đều chỉ các hình thức hoạt động của thể dĩ thái, nhưng chỉ trong chừng mực thể xác ghi nhận chúng và hành động dưới ấn tượng của chúng. Toàn bộ chủ đề về mãnh lực thúc đẩy rất đáng quan tâm.
The vastness of the subject is, however, so real that only little by little can humanity grasp the situation and come to the realisation that man is essentially (through his etheric body) an integral part of a great and vibrant Whole; only in time will he learn that, through the processes of evolution, can he hope to register all the different areas of divine expression. Only when the etheric body is swept into [84] activity under the influence and through the “impressed forces” of the soul, the mind, and temporarily, of the astral body, can man become aware of all worlds, all phenomena, and all states of consciousness, and so achieve that omniscience which is the birth right of all the sons of God.
Tuy nhiên, chủ đề này thực sự rộng lớn đến mức nhân loại chỉ có thể từng chút một nắm bắt tình hình và nhận ra rằng, về bản chất, con người (thông qua thể dĩ thái của mình) là một phần không thể tách rời của một Toàn Thể vĩ đại và rung động; chỉ theo thời gian, y mới học được rằng thông qua các tiến trình tiến hoá, y có thể hy vọng ghi nhận mọi lĩnh vực biểu hiện thiêng liêng khác nhau. Chỉ khi thể dĩ thái được cuốn vào [84] hoạt động dưới ảnh hưởng và thông qua những “mãnh lực tạo ấn tượng” của linh hồn, thể trí và, trong một thời gian, của thể cảm dục, con người mới có thể nhận biết mọi thế giới, mọi hiện tượng và mọi trạng thái tâm thức, qua đó đạt đến tính toàn tri vốn là quyền bẩm sinh của tất cả những người con của Thượng đế.
But, during the period wherein this state of being is in process of achievement, the lack of development, the failure to register, the life work of awakening and organising the various centres and of then correctly relating them to each other, produces much difficulty. It is this condition which is the fruitful source of those difficulties which, when carried down into the physical body, produce disease of various kinds, the many tensions and congestions, the overstimulation of the centres in one part of the etheric vehicle and their underdevelopment in another, plus the unequal unfoldment and wrong balance of the centres.
Nhưng trong thời kỳ đang tiến tới trạng thái hiện tồn này, sự thiếu phát triển, việc không ghi nhận được, công việc suốt đời nhằm đánh thức và tổ chức các trung tâm khác nhau rồi thiết lập mối liên hệ đúng đắn giữa chúng, gây ra nhiều khó khăn. Tình trạng này là nguồn dồi dào của những khó khăn mà khi truyền xuống thể xác sẽ gây ra nhiều loại bệnh tật, nhiều căng thẳng và ứ đọng, sự kích thích quá mức các trung tâm ở một phần của hiện thể dĩ thái và sự kém phát triển của chúng ở phần khác, cộng với sự khai mở không đồng đều và tình trạng mất cân bằng giữa các trung tâm.
Much is said today in modern medical investigation anent the “imbalance” of the endocrine glands, and many physical difficulties are ascribed to this frequent imbalance. But behind this condition of the glandular system lies the basic imbalance of the centres themselves. Only when there is a right understanding of force and its reception and consequent use, will right balance be achieved and the human endocrine system control the physical man in the manner that is intended.
Ngày nay, nghiên cứu y học hiện đại nói nhiều đến sự “mất cân bằng” của các tuyến nội tiết, và nhiều vấn đề thể chất được quy cho tình trạng mất cân bằng thường gặp này. Nhưng đằng sau tình trạng ấy của hệ tuyến là sự mất cân bằng căn bản của chính các trung tâm. Chỉ khi có sự thấu hiểu đúng đắn về mãnh lực, việc tiếp nhận và sử dụng nó sau đó, mới có thể đạt được sự cân bằng đúng đắn và hệ nội tiết của con người mới kiểm soát con người hồng trần theo cách vốn đã được định sẵn.
There is much need today for the study of the following problems:
Ngày nay, rất cần nghiên cứu những vấn đề sau:
1. The problem of the right reception of force through the appropriate centre. An instance of this might be found in the correct control of the solar plexus centre as the one in which astral sensitivity can be registered and properly handled.[85]
1. Vấn đề tiếp nhận mãnh lực đúng đắn qua trung tâm thích hợp. Một ví dụ là sự kiểm soát đúng đắn trung tâm tùng thái dương, nơi có thể ghi nhận và xử lý thích đáng tính nhạy cảm cảm dục.[85]
2. The problem of the right relation of a particular centre to its related gland, permitting the free play of the force pouring through the centre to the allied glandular correspondence, thus conditioning its peculiar hormone and eventually conditioning the blood stream. If you grasp this sequence of contact, you will understand more clearly the occult significance of the words in the Old Testament that “the blood is the life.” It is the vitality coming from the etheric body which works through into the blood stream, via the centre which is responsive to one of the seven peculiar types of force, and its allied gland. It will be apparent, therefore, that there is a close relation between:
2. Vấn đề về mối liên hệ đúng đắn giữa một trung tâm cụ thể với tuyến có liên hệ với nó, cho phép mãnh lực tự do tuôn qua trung tâm đến tuyến tương ứng, qua đó tác động lên nội tiết tố đặc thù của tuyến ấy và cuối cùng tác động lên dòng máu. Nếu nắm bắt được chuỗi tiếp xúc này, các bạn sẽ thấu hiểu rõ hơn thâm nghĩa huyền bí của lời trong Cựu Ước rằng “máu là sự sống.” Chính sinh khí đến từ thể dĩ thái tác động vào dòng máu, thông qua trung tâm đáp ứng với một trong bảy loại mãnh lực đặc thù và tuyến có liên hệ với trung tâm ấy. Vì vậy, rõ ràng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa:
a. The etheric body as a transmitter of a vast aggregate of energies and forces.
a. Thể dĩ thái, với vai trò bộ phận truyền dẫn một tập hợp rộng lớn các năng lượng và mãnh lực.
b. The endocrine system whose various glands are in reality the externalisation or materialisation of the centres, major and minor.
b. Hệ nội tiết, với những tuyến khác nhau thực sự là sự ngoại hiện hay hiện hình của các trung tâm chính và phụ.
c. The heart, which is the centre of life as the brain is the centre of consciousness. From the heart, the blood circulates and is controlled. Thus these three great systems are related.
c. Tim, là trung tâm sự sống, cũng như bộ não là trung tâm tâm thức. Từ tim, máu lưu chuyển và chịu sự kiểm soát. Như vậy, ba hệ thống lớn này có liên hệ với nhau.
d. The entire glandular system to the nervous system through the medium of the network of nerves and the “nadis” which underlie this network. These nadis are the threads of life force which underlie every part of the body and particularly the nervous system in all its aspects.
d. Toàn bộ hệ tuyến với hệ thần kinh, thông qua mạng lưới dây thần kinh và những “đường dẫn sinh lực” nằm bên dưới mạng lưới này. Những đường dẫn ấy là các sợi sinh lực nằm bên dưới mọi bộ phận của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh trong mọi phương diện của nó.
To these problems and relationships another might be added. This is the interrelation which must be established between all the centres, permitting the free play of force in correct rhythm throughout the physical vehicle.
Có thể bổ sung một vấn đề nữa vào những vấn đề và mối liên hệ này. Đó là mối tương quan cần thiết lập giữa tất cả các trung tâm, cho phép mãnh lực lưu chuyển tự do theo nhịp điệu đúng đắn khắp hiện thể hồng trần.
[86]
[86]
You have, therefore, certain great interlocking directorates which control or fail to control the physical body. Where there is lack of control it is due to the failure to establish right relations within the body, or to lack of development. These interlocking groups are:
Vì vậy, các bạn có một số hệ thống điều hành lớn liên kết với nhau, kiểm soát hoặc không kiểm soát được thể xác. Ở đâu thiếu sự kiểm soát, nguyên nhân là do không thiết lập được những mối liên hệ đúng đắn bên trong cơ thể, hoặc do thiếu phát triển. Những nhóm liên kết với nhau này là:
1. That of the etheric body, which works primarily through its seven major centres but also through many other centres.
1. Nhóm thuộc thể dĩ thái, hoạt động chủ yếu thông qua bảy trung tâm chính, nhưng cũng thông qua nhiều trung tâm khác.
2. That of the endocrine system, which works primarily through the seven major glandular groups, but also through many other less important glands.
2. Nhóm thuộc hệ nội tiết, hoạt động chủ yếu thông qua bảy nhóm tuyến chính, nhưng cũng thông qua nhiều tuyến khác ít quan trọng hơn.
3. That of the nervous system (the sympathetic and the cerebro-spinal) with a peculiar emphasis laid upon the vagus nerve with its effect upon the heart and consequently upon the blood stream.
3. Nhóm thuộc hệ thần kinh (hệ giao cảm và hệ não tuỷ), đặc biệt nhấn mạnh đến dây thần kinh phế vị với tác động của nó lên tim và do đó lên dòng máu.
All these points have to be considered and correlated in any system of occult healing, and the technical matter to be covered is, in the last analysis, less intricate than the vast system built up by orthodox medicine and surgery. It is because of the lack of coordination of these three systems that the healing art is at this time failing to achieve all that it desires. It has done much, but must move another step onto the etheric plane before the real clue to disease and its cure can be ascertained.
Mọi điểm này đều phải được xem xét và liên hệ với nhau trong bất kỳ hệ thống trị liệu huyền bí nào; xét đến tận cùng, những vấn đề kỹ thuật cần đề cập ít phức tạp hơn hệ thống đồ sộ mà y học và phẫu thuật chính thống đã xây dựng. Chính vì thiếu sự phối hợp giữa ba hệ thống này mà nghệ thuật trị liệu hiện nay chưa đạt được tất cả những gì nó mong muốn. Nó đã làm được nhiều điều, nhưng phải tiến thêm một bước vào cõi dĩ thái trước khi có thể xác định manh mối thực sự về bệnh tật và cách chữa trị.
For instance, lack of vitality and the common subnormal conditions with which we are so familiar, indicate the inertia of the etheric body and its lack of vitality. The results of this inertness of the vital body can be both physical and psychological, because the glands in the physical body will not function normally and, as is well known, they condition the physical expression of man as well as his emotional and mental states, in so far as those are able or not able to [87] find expression through the medium of the physical vehicle. The glands do not condition the inner man or his states of consciousness, but they can and do prevent those inner states finding manifestation outwardly. In the reverse situation, too powerful an etheric body and the overstimulation of the centres concerned, may put too great a strain upon the nervous system and produce, as a consequence, definite nervous trouble, migraine, mental and emotional imbalance and, in some cases, lead to insanity.
Chẳng hạn, sự thiếu sinh khí và những tình trạng dưới mức bình thường phổ biến mà chúng ta rất quen thuộc cho thấy tính trì trệ và sự thiếu sinh khí của thể dĩ thái. Những hệ quả của tính trì trệ này trong thể sinh lực có thể vừa thuộc thể chất vừa thuộc tâm lý, bởi các tuyến trong thể xác sẽ không hoạt động bình thường; và như mọi người đều biết, chúng tác động lên sự biểu hiện hồng trần của con người cũng như các trạng thái cảm xúc và trí tuệ của y, trong chừng mực những trạng thái ấy có thể hay không thể [87] biểu hiện qua hiện thể hồng trần. Các tuyến không tác động lên con người bên trong hay các trạng thái tâm thức của y, nhưng chúng có thể và thực sự ngăn những trạng thái bên trong ấy biểu hiện ra ngoài. Trong tình trạng ngược lại, một thể dĩ thái quá mạnh và sự kích thích quá mức các trung tâm liên quan có thể gây sức căng quá lớn lên hệ thần kinh, từ đó tạo ra những rối loạn thần kinh rõ rệt, chứng đau nửa đầu, sự mất cân bằng trí tuệ và cảm xúc, và trong một số trường hợp dẫn đến loạn trí.
I have elaborated this matter somewhat because the relation of the etheric body to the physical body and its receptivity to the inner energies most decidedly condition the man. It will be necessary for us to have this ever in mind as we study the causes of the diseases arising in the mental body, or due to the activity of the soul in the life of the disciple, or as we investigate the processes whereby a man is prepared for initiation. The etheric body must always, and invariably does, act as the transmitting agent of the inner energies to the outer plane, and the physical body has to learn to respond to and recognise that which is transmitted. The effectiveness of the transmission and the resultant physical activity depend always upon the centres, which, in their turn, condition the glands; these, later, determine the nature and the expressed consciousness of the man. If the centres are awakened and receptive, there will be found a physical apparatus which will be responsive to the forces flowing through. If the centres are asleep, and thus little force can be transmitted, you will find a physical apparatus which will be equally slow and unresponsive. If the centres below the diaphragm are awakened and those above are not, you will have a man whose consciousness will be focussed in the animal and the emotional natures, and much of his physical disease will lie below the diaphragm also. You will see, therefore, how intricate and complex [88] this whole matter is—so complex that it will only be truly understood when human beings regain the lost power to “see the light” of the etheric body and of its seven major centres and, through a developed sense of touch in the hands and fingers, to ascertain the rate of vibration in the various centres. When these two means of knowledge are available, the entire subject of the etheric body will take on a new importance and be correctly understood.
Tôi đã trình bày vấn đề này khá chi tiết, bởi mối liên hệ của thể dĩ thái với thể xác và khả năng tiếp nhận những năng lượng bên trong của nó tác động hết sức rõ rệt lên con người. Chúng ta cần luôn ghi nhớ điều này khi nghiên cứu các nguyên nhân bệnh tật phát sinh trong thể trí, hoặc do hoạt động của linh hồn trong đời sống của người đệ tử, hay khi khảo sát những tiến trình chuẩn bị cho con người bước vào điểm đạo. Thể dĩ thái phải luôn đóng vai trò tác nhân truyền dẫn các năng lượng bên trong ra cõi bên ngoài, và nó luôn luôn làm như vậy; còn thể xác phải học cách đáp ứng và nhận biết những gì được truyền đến. Hiệu quả truyền dẫn và hoạt động thể chất phát sinh từ đó luôn phụ thuộc vào các trung tâm; đến lượt mình, các trung tâm tác động lên các tuyến; rồi các tuyến quyết định bản chất và tâm thức biểu lộ của con người. Nếu các trung tâm thức tỉnh và có khả năng tiếp nhận, bộ máy thể chất sẽ đáp ứng với những mãnh lực tuôn qua. Nếu các trung tâm ngủ yên, khiến chỉ có thể truyền dẫn rất ít mãnh lực, các bạn sẽ thấy bộ máy thể chất cũng chậm chạp và kém đáp ứng tương tự. Nếu các trung tâm dưới cơ hoành thức tỉnh còn những trung tâm phía trên chưa thức tỉnh, tâm thức con người sẽ tập trung trong bản chất động vật và cảm xúc, và phần lớn bệnh tật thể chất của y cũng sẽ nằm dưới cơ hoành. Vì vậy, các bạn sẽ thấy toàn bộ vấn đề này tinh vi và phức tạp [88] đến mức nào—phức tạp đến nỗi chỉ khi con người lấy lại khả năng đã mất để “thấy ánh sáng” của thể dĩ thái và bảy trung tâm chính của nó, đồng thời thông qua xúc giác đã phát triển ở bàn tay và các ngón tay để xác định tần số rung động trong những trung tâm khác nhau, thì mới thực sự thấu hiểu được vấn đề. Khi có được hai phương tiện nhận biết này, toàn bộ chủ đề về thể dĩ thái sẽ mang một tầm quan trọng mới và được thấu hiểu đúng đắn.
3. CAUSES ARISING IN THE MENTAL BODY – 3. NHỮNG NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TRONG THỂ TRÍ
I started this section of our study with the causes arising in the astral and etheric bodies because they are the major sources of trouble, owing to the fact that the bulk of humanity is astrally focussed, just as the bulk of the forms in the animal kingdom are etherically focussed. The forces pouring into the animal kingdom come predominantly from etheric levels and from the dense physical levels of life. The higher animals, however, owing to the development brought about through their contact with human beings, are becoming susceptible to forces coming from the astral plane, and they thus develop actions and reactions which are not purely instinctual.
Tôi bắt đầu phần nghiên cứu này bằng những nguyên nhân phát sinh trong thể cảm dục và thể dĩ thái vì chúng là những nguồn gây rối loạn chủ yếu, do phần lớn nhân loại tập trung trong cảm dục, cũng như phần lớn các hình tướng trong giới động vật tập trung trong dĩ thái. Những mãnh lực tuôn vào giới động vật chủ yếu đến từ các cấp độ dĩ thái và các cấp độ hồng trần đậm đặc của sự sống. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển do tiếp xúc với con người, các động vật bậc cao đang trở nên nhạy cảm với những mãnh lực đến từ cõi cảm dục, và vì thế chúng phát triển những hành động và phản ứng không hoàn toàn thuộc bản năng.
Today, owing to the development of the mind in the Aryan race, certain difficulties may arise in the physical body. Their origin is not basically mental but primarily due to the fact that the mental body is the transmitter (when active and rightly aligned) of soul energy and this soul energy, pouring into the physical body, can produce certain conditions of overstimulation and difficulties connected with the nervous system. But it is the transmitted energy which causes the trouble and not the factor arising from the mind itself. I will elaborate this a little later. [89]
Ngày nay, do sự phát triển của thể trí trong giống dân Arya, một số khó khăn có thể phát sinh trong thể xác. Về căn bản, nguồn gốc của chúng không thuộc trí tuệ, mà chủ yếu do thể trí là bộ phận truyền dẫn năng lượng linh hồn (khi hoạt động và được chỉnh hợp đúng đắn), và năng lượng linh hồn này khi tuôn vào thể xác có thể tạo ra một số tình trạng kích thích quá mức cùng những khó khăn liên quan đến hệ thần kinh. Nhưng chính năng lượng được truyền dẫn gây ra rắc rối, chứ không phải yếu tố phát sinh từ chính thể trí. Tôi sẽ trình bày kỹ hơn điều này ở phần sau. [89]
A. Wrong Mental Attitudes.
A. Những Thái Độ Trí Tuệ Sai Lầm.
I would like to deal, first of all, with the basic premise that disease and physical liabilities are not the result of wrong thought. They are far more likely to be the result of no thought at all, or are caused by the failure to follow those fundamental laws which govern the Mind of God. One interesting instance of this failure is the fact that man does not follow the basic Law of Rhythm, which governs all the processes of nature, and man is a part of nature. It is to this failure to work with the Law of Periodicity that we can trace much of the difficulty inherent in the use and the misuse of the sex urge. Instead of man being governed by the cyclic manifestation of the sex impulse, and his life, therefore, being ruled by a definite rhythm, there exists at this time no such thing, except in the cycles through which the female passes, and little attention is paid to these. The male, however, is not governed by any such cycles, and has broken in also on the rhythm to which the female body should be subordinated, and which—rightly understood—would determine the use of the sex relationship, including naturally the male impulse also. This failure to live by the Law of Periodicity and to subordinate the appetites to cyclic control is one of the major causes of disease; and as these laws are given form on the mental plane, one might legitimately say that their infringement has a mental basis. This might be the case if the race were working mentally, but it is not. It is in the modern world of today that there is beginning a widespread infringement of these mental laws, particularly of the Law of Cycles, which determines the tides, controls world events and should also condition the individual and so establish rhythmic life habits—one of the major predisposing incentives to good health.
Trước hết, Tôi muốn bàn đến tiền đề căn bản rằng bệnh tật và những yếu kém thể chất không phải là kết quả của tư tưởng sai lầm. Khả năng cao hơn nhiều là chúng phát sinh từ việc hoàn toàn không suy nghĩ, hoặc do không tuân theo những định luật căn bản chi phối Trí của Thượng đế. Một ví dụ đáng chú ý về sự không tuân thủ này là việc con người không tuân theo Định luật Nhịp Điệu căn bản, vốn chi phối mọi tiến trình của tự nhiên, trong khi con người là một phần của tự nhiên. Chúng ta có thể truy nguyên phần lớn những khó khăn vốn có trong việc sử dụng và lạm dụng thôi thúc tình dục về sự không vận hành theo Định luật Chu Kỳ này. Thay vì con người chịu sự chi phối của biểu hiện theo chu kỳ của xung lực tình dục, và do đó đời sống được điều hành theo một nhịp điệu xác định, hiện nay điều ấy không tồn tại, ngoại trừ những chu kỳ mà phụ nữ trải qua, nhưng người ta cũng ít chú ý đến chúng. Tuy nhiên, nam giới không chịu sự chi phối của bất kỳ chu kỳ nào như vậy, và còn phá vỡ cả nhịp điệu mà cơ thể phụ nữ lẽ ra phải tuân theo; nếu thấu hiểu đúng đắn, nhịp điệu này sẽ quyết định việc thực hiện quan hệ tình dục, dĩ nhiên bao gồm cả xung lực của nam giới. Việc không sống theo Định luật Chu Kỳ và không đặt những ham muốn dưới sự kiểm soát của chu kỳ là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh tật; và vì những định luật này được định hình trên cõi trí, người ta có thể nói một cách hợp lý rằng sự vi phạm chúng có cơ sở thuộc trí tuệ. Điều này có thể đúng nếu nhân loại đang hoạt động bằng trí tuệ, nhưng thực tế chưa phải vậy. Chính trong thế giới hiện đại ngày nay đang bắt đầu có sự vi phạm rộng khắp những định luật trí tuệ này, đặc biệt là Định luật về các Chu Kỳ, vốn quyết định thuỷ triều, kiểm soát các biến cố thế giới và cũng cần tác động lên cá nhân, qua đó thiết lập những thói quen sống có nhịp điệu—một trong những yếu tố thuận lợi chủ yếu cho sức khoẻ tốt.
[90]
[90]
By breaking this Law of Rhythm, man has disorganised the forces which, rightly used, tend to bring the body into a sound and healthy condition; by so doing, he has laid the foundation for that general debility and those inherent organic tendencies which predispose a man to ill health and which permit entrance into the system of those germs and bacteria which produce the outer forms of malignant disease. When humanity regains an understanding of the right use of time (which determines the Law of Rhythm on the physical plane), and can determine the proper cycles for the various manifestations of the life force upon the physical plane, then what was earlier an instinctual habit will become the intelligent usage of the future. This will constitute an entirely new science, and the rhythm of the natural processes and the establishing, as habits, the correct cycles of physical functioning, will bring about a new era of health and of sound physical conditions for the entire race. I used the word “establishing,” for as the focus of racial attention shifts into the region of the higher values the physical vehicle will gain enormously, and good health—through right rhythmic living, plus correct thinking and soul contact—will become permanently established.
Bằng việc phá vỡ Định luật Nhịp Điệu này, con người đã làm rối loạn những mãnh lực mà nếu sử dụng đúng đắn sẽ có xu hướng đưa cơ thể đến tình trạng khoẻ mạnh, lành lặn; qua đó, y đã đặt nền móng cho sự suy nhược toàn thân và những khuynh hướng vốn có trong các cơ quan khiến con người dễ mắc bệnh, đồng thời cho phép những mầm bệnh và vi khuẩn gây ra các dạng biểu hiện bên ngoài của bệnh ác tính xâm nhập cơ thể. Khi nhân loại lấy lại sự thấu hiểu về cách sử dụng thời gian đúng đắn (vốn quyết định Định luật Nhịp Điệu trên cõi hồng trần), và có thể xác định những chu kỳ thích hợp cho các biểu hiện khác nhau của sinh lực trên cõi hồng trần, thì điều trước đây là thói quen bản năng sẽ trở thành cách sử dụng sáng suốt trong tương lai. Điều này sẽ hình thành một ngành khoa học hoàn toàn mới; nhịp điệu của các tiến trình tự nhiên và việc thiết lập những chu kỳ đúng đắn của hoạt động thể chất thành thói quen sẽ mang lại một kỷ nguyên mới về sức khoẻ và tình trạng thể chất lành mạnh cho toàn thể nhân loại. Tôi dùng từ “thiết lập”, bởi khi trọng tâm chú ý của nhân loại chuyển sang lĩnh vực những giá trị cao hơn, hiện thể hồng trần sẽ được lợi vô cùng, và sức khoẻ tốt—thông qua lối sống có nhịp điệu đúng đắn, cộng với tư duy đúng đắn và sự tiếp xúc với linh hồn—sẽ được thiết lập bền vững.
There are, therefore, very few ills to which flesh is heir which are mentally based. It is exceedingly difficult to establish what they are. There are two reasons for this statistical failure:
Vì vậy, trong những bệnh tật mà thân xác phải gánh chịu, rất ít bệnh có cơ sở thuộc trí tuệ. Việc xác định đó là những bệnh nào hết sức khó khăn. Có hai lý do khiến việc thống kê này không thành công:
1. The fact that very few, relatively speaking of the race are mentally polarised and therefore thinking.
1. Thực tế là, xét về tỷ lệ trong nhân loại, rất ít người phân cực trí tuệ và do đó thực sự suy nghĩ.
2. The fact that the bulk of diseases are etheric or astral.
2. Thực tế là phần lớn bệnh tật thuộc dĩ thái hoặc cảm dục.
Another factor producing this difficulty is that the thinking and the emotional reactions of man are so closely interrelated that it is not easy at this stage in evolution to [91] separate feeling and thought, or to say that such or such ills arise in the astral or the mental body, or that certain ills are due to wrong feeling and others to wrong thinking. Speaking in terms of the entire human family, the thinking that is done in the world of today, is done by the relatively few. The rest are occupied with feeling, with sensuous perception and with the many and differing aspects of emotionalism such as irritability, worry, acute anxiety, aspiration towards some desired end or goal, depression, plus the dramatic life of the senses and of the “I in the centre” consciousness. Few live in the world of thought and fewer still in the world of reality. When they do, the result is inevitably a better average of health, because there is better integration, and as a result a freer play of the life forces throughout the vehicles of expression.
Một yếu tố khác gây ra khó khăn này là tư duy và những phản ứng cảm xúc của con người liên hệ chặt chẽ với nhau đến mức, ở giai đoạn tiến hoá hiện nay, không dễ [91] tách biệt cảm xúc với tư tưởng, hoặc nói rằng bệnh này hay bệnh kia phát sinh trong thể cảm dục hay thể trí, hoặc một số bệnh là do cảm xúc sai lầm còn những bệnh khác là do tư duy sai lầm. Xét toàn thể gia đình nhân loại, chỉ một số tương đối ít người thực hiện việc suy nghĩ trong thế giới ngày nay. Những người còn lại bận rộn với cảm xúc, với tri giác giác quan và với nhiều phương diện khác nhau của tính thiên về cảm xúc, như cáu kỉnh, lo lắng, âu lo gay gắt, khát vọng hướng đến một kết quả hay mục tiêu mong muốn nào đó, chán nản, cộng với đời sống đầy kịch tính của các giác quan và của tâm thức “cái tôi ở trung tâm”. Ít người sống trong thế giới tư tưởng, và còn ít hơn nữa sống trong thế giới thực tại. Khi họ làm được như vậy, kết quả tất yếu là mức sức khoẻ trung bình tốt hơn, bởi sự tích hợp tốt hơn và nhờ đó các mãnh lực sự sống lưu chuyển tự do hơn qua các hiện thể biểu hiện.
B. Mental Fanaticism. The Dominance of Thoughtforms.
B. Sự Cuồng Tín Trí Tuệ. Sự Thống Trị của các Hình Tư Tưởng.
I would point out here that the diseases and difficulties which arise from what I have called wrong mental attitudes, fanaticisms and frustrated idealisms and thwarted hopes, fall into three categories, and a study of these will show you that, in the last analysis, they are not of mental origin at all, but primarily are the result of emotionalism entering in.
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng những bệnh tật và khó khăn phát sinh từ điều Tôi gọi là những thái độ trí tuệ sai lầm, những sự cuồng tín, những lý tưởng không thành và những hy vọng bị ngăn trở, thuộc ba loại; nghiên cứu chúng sẽ cho các bạn thấy rằng, xét đến tận cùng, chúng hoàn toàn không có nguồn gốc từ trí tuệ, mà chủ yếu là kết quả của yếu tố cảm xúc xen vào.
1. Those incident to the imposed physical plane activity and work which find their incentive in these mental conditions. They lead, for instance, to furious activity and overwork, due to the determination not to be frustrated but to make the plan work. The result is frequently the breaking down of the nervous system, which could have been avoided had the mental condition been changed and right rhythm on the physical plane achieved. But it was the work of a physical nature which caused the trouble far more than the mental condition. [92]
1. Những bệnh tật và khó khăn đi kèm với hoạt động và công việc bị thúc ép trên cõi hồng trần, vốn lấy động lực từ những tình trạng trí tuệ này. Chẳng hạn, chúng dẫn đến hoạt động điên cuồng và làm việc quá sức, do quyết tâm không chịu thất bại mà phải làm cho kế hoạch thành công. Kết quả thường là sự suy sụp của hệ thần kinh, điều lẽ ra có thể tránh được nếu tình trạng trí tuệ thay đổi và đạt được nhịp điệu đúng đắn trên cõi hồng trần. Nhưng chính công việc mang tính thể chất gây ra rắc rối nhiều hơn hẳn tình trạng trí tuệ. [92]
2. Those brought about by the state of rebellion which colours all the life, and the registering of violent emotional reactions. These may be based upon a mental realisation of the Plan, for instance, plus a recognition that those plans are not materialising, owing often to the inadequacy of the physical equipment; but the basic cause of the disease is the emotional rebellion, and therefore not the mental condition. Bitterness, disgust, hatred and a sense of frustration can and do produce many of the prevalent toxic conditions and a state of general poisoning and ill health from which many people habitually suffer. Their vision is bigger than their accomplishment, and this causes emotional suffering. The cure for this condition is to be found in the simple word acceptance. This is not a negative state of settling down to a submissive nonactive life, but it is a positive acceptance (in thought and in practical expression) of a condition which seems at present unavoidable. This leads to an avoidance of the waste of time in attempting the impossible and to right effort to carry forward that which is possible.
2. Những bệnh tật và khó khăn do trạng thái phản kháng nhuốm màu toàn bộ đời sống và sự ghi nhận những phản ứng cảm xúc dữ dội gây ra. Chẳng hạn, chúng có thể dựa trên sự nhận biết Thiên Cơ bằng trí tuệ, cộng với việc nhận ra rằng những kế hoạch ấy không thành hiện thực, thường do bộ máy thể chất không đủ khả năng; nhưng nguyên nhân căn bản của bệnh tật là sự phản kháng về cảm xúc, vì vậy không phải tình trạng trí tuệ. Sự cay đắng, chán ghét, thù hận và cảm giác thất vọng có thể và thực sự gây ra nhiều tình trạng nhiễm độc phổ biến cùng trạng thái nhiễm độc toàn thân và sức khoẻ kém mà nhiều người thường xuyên chịu đựng. Tầm nhìn của họ lớn hơn những gì họ thực hiện được, và điều này gây đau khổ về cảm xúc. Phương thuốc cho tình trạng này nằm trong một từ đơn giản: chấp nhận. Đây không phải trạng thái tiêu cực cam phận trong một đời sống phục tùng, bất động, mà là sự chấp nhận tích cực (trong tư tưởng và trong biểu hiện thực tế) một tình trạng hiện nay dường như không thể tránh khỏi. Điều này giúp tránh lãng phí thời gian vào việc cố thực hiện điều bất khả thi và dẫn đến nỗ lực đúng đắn để thúc đẩy những gì có thể làm được.
3. Those difficulties which are caused by the failure of the physical apparatus to measure up to the demands of the thought life of the individual. These are, naturally and usually, a part of the physical inheritance, and where this is the case there is normally nothing much to do, though where the aspiration is real and persistent, a great deal might be accomplished in bringing about improvement and laying the ground for better functioning in another life cycle.
3. Những khó khăn do bộ máy thể chất không đáp ứng nổi những đòi hỏi trong đời sống tư tưởng của cá nhân. Dĩ nhiên và thông thường, chúng là một phần di sản thể chất; trong trường hợp ấy, thường không có nhiều điều có thể làm, dù khi khát vọng chân thực và bền bỉ, người ta có thể đạt được nhiều điều nhằm cải thiện tình trạng và đặt nền móng cho hoạt động tốt hơn trong một chu kỳ sống khác.
It is necessary here that I should deal, as briefly as possible, with the problem of mental healing and with the teaching that all disease is the product of wrong thought. You are starting out to work, and I would have clear thinking on this point. The two problems which I have posited [93] are closely related. We could express them in the form of two questions:
Ở đây, Tôi cần bàn đến vấn đề trị liệu bằng trí tuệ và giáo lý cho rằng mọi bệnh tật đều là sản phẩm của tư tưởng sai lầm, một cách ngắn gọn nhất có thể. Các bạn đang bắt đầu công việc, và Tôi muốn các bạn suy nghĩ rõ ràng về điểm này. Hai vấn đề Tôi đã đặt ra [93] liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta có thể diễn đạt chúng dưới hình thức hai câu hỏi:
1. Is disease the result of thought?
1. Bệnh tật có phải là kết quả của tư tưởng không?
2. Can the power of thought produce healing effects when used by an individual or a group?
2. Quyền năng tư tưởng có thể tạo ra tác dụng trị liệu khi một cá nhân hoặc một nhóm sử dụng nó không?
In view of the fact that many diseases are, as I have told you, latent in the very material of the planet itself, it is obvious that human thought is not responsible for disease. It antedates the arrival of humanity upon the planet. There is disease in the mineral world, in the vegetable kingdom, and also among animals, even in their wild states and in their natural habitat, uncontaminated by man. Hence, man cannot be held responsible for this, nor is it the result of human wrong thinking. It provides no answer to the question to say that it must therefore be due to the wrong thinking of the planetary Logos or of the solar Logos. This is only a begging of the question and an evasion of the issue.
Xét thực tế rằng, như Tôi đã nói với các bạn, nhiều bệnh tật tiềm ẩn ngay trong vật chất của chính hành tinh, rõ ràng tư tưởng con người không chịu trách nhiệm về bệnh tật. Bệnh tật đã có trước khi nhân loại xuất hiện trên hành tinh. Có bệnh tật trong thế giới kim thạch, trong giới thực vật, và cả ở động vật, ngay khi chúng sống hoang dã trong môi trường tự nhiên chưa bị con người làm ô nhiễm. Vì thế, không thể quy trách nhiệm về điều này cho con người, và đó cũng không phải kết quả của tư duy sai lầm của nhân loại. Nói rằng vì vậy bệnh tật hẳn phải do tư duy sai lầm của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế cũng không trả lời được câu hỏi. Đó chỉ là lấy điều cần chứng minh làm tiền đề và né tránh vấn đề.
I would here remind you of the two definitions of the causes of disease which I earlier gave. Let me call them to your careful attention:
Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn về hai định nghĩa nguyên nhân bệnh tật mà Tôi đã đưa ra trước đó. Xin các bạn chú ý kỹ đến chúng:
“All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms.”
“Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi Giới.”
“Disease is the product of and subject to three influences. First, a man’s past wherein he pays the price of ancient error. Second, his inheritance wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin. Thirdly, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on those forms. Those three influences are called the Ancient Law of evil Sharing. This must give place some day to that new Law of Ancient Dominating Good. This law will be brought into activity by the spiritual will of man.”
“Bệnh tật là sản phẩm của ba ảnh hưởng và chịu sự chi phối của chúng. Thứ nhất, quá khứ của con người, trong đó y trả giá cho những sai lầm xa xưa. Thứ hai, di sản của y, trong đó y cùng toàn thể nhân loại chia sẻ những dòng năng lượng ô nhiễm có nguồn gốc từ nhóm. Thứ ba, y cùng mọi hình tướng tự nhiên chia sẻ điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên những hình tướng ấy. Ba ảnh hưởng đó được gọi là Định luật Cổ Xưa về sự Chia Sẻ Điều Ác. Một ngày nào đó, định luật này phải nhường chỗ cho Định luật mới về Điều Thiện Cổ Xưa Thống Ngự. Ý chí tinh thần của con người sẽ đưa định luật này vào hoạt động.”
[94]
[94]
If you analyse the four causes of disease here given, you will note that disease will eventually be controlled by the release of the soul in all forms, and that this will be done by the active use by man of his spiritual will. We could word this otherwise and say that when soul energy and the right use of the will (which in the individual is the reflection and the agent of the will energy of the soul) is released and rightly directed by the mind, then disease can be handled and brought eventually to an end. It is therefore by the imposition of a higher energy and of a higher rhythm upon the lower forces that disease can be controlled. Disease is therefore the result in the physical body of the failure to bring in these higher energies and rhythms, and that, in its turn, is dependent upon the point in evolution.
Nếu phân tích bốn nguyên nhân bệnh tật được nêu ở đây, các bạn sẽ nhận thấy rằng cuối cùng bệnh tật sẽ được kiểm soát nhờ giải phóng linh hồn trong mọi hình tướng, và con người sẽ thực hiện điều này bằng cách tích cực sử dụng ý chí tinh thần của mình. Chúng ta có thể diễn đạt khác đi và nói rằng khi năng lượng linh hồn cùng việc sử dụng ý chí đúng đắn (ở cá nhân, ý chí là sự phản ánh và là tác nhân của năng lượng ý chí của linh hồn) được giải phóng và được thể trí định hướng đúng đắn, thì có thể xử lý bệnh tật và cuối cùng chấm dứt nó. Vì vậy, bằng cách áp đặt một năng lượng cao hơn và một nhịp điệu cao hơn lên các mãnh lực thấp, người ta có thể kiểm soát bệnh tật. Do đó, bệnh tật là kết quả xuất hiện trong thể xác khi không đưa được những năng lượng và nhịp điệu cao hơn này vào; đến lượt mình, việc ấy phụ thuộc vào điểm tiến hoá.