Trích nội dung chương
It is the dim sensing of this failure and the realisation of these facts that has brought so many groups to believe in the cure of disease by thought power and to ascribe the appearance of disease to wrong thinking. But in reality, humanity must some day learn that it is only the higher consciousness of the soul, working through the mind, that can finally solve this difficult problem. Chính cảm nhận mơ hồ về sự thất bại này và việc nhận biết những sự thật ấy đã khiến nhiều nhóm tin rằng có thể chữa bệnh bằng quyền năng tư tưởng và quy sự xuất hiện của bệnh tật cho tư duy sai lầm. Nhưng trên thực tế, một ngày nào đó nhân loại phải học được…
It is the dim sensing of this failure and the realisation of these facts that has brought so many groups to believe in the cure of disease by thought power and to ascribe the appearance of disease to wrong thinking. But in reality, humanity must some day learn that it is only the higher consciousness of the soul, working through the mind, that can finally solve this difficult problem.
Chính cảm nhận mơ hồ về sự thất bại này và việc nhận biết những sự thật ấy đã khiến nhiều nhóm tin rằng có thể chữa bệnh bằng quyền năng tư tưởng và quy sự xuất hiện của bệnh tật cho tư duy sai lầm. Nhưng trên thực tế, một ngày nào đó nhân loại phải học được rằng chỉ tâm thức cao hơn của linh hồn, hoạt động thông qua thể trí, mới có thể giải quyết dứt điểm vấn đề khó khăn này.
We cannot consequently affirm that disease, as a general rule, has any relation to thought. It is simply the misuse of the forces of the etheric, the astral and of the dense physical levels. The majority of people are helpless to do anything about it, as the forces which constitute the physical body, for instance, and which pass through and play upon it, are inherited from a very ancient past, are a constituent part of the environment and of the group life into which they are integrated and which they share with all their fellowmen. Such force-matter is coloured with the results of ancient wrong rhythms, misused forces and inherited qualities. Soul energy, expressed through right thinking, can cure diseases to which man is prone. It is failure to think and to register [95] and express the higher states of consciousness which leads to wrong rhythms. Consequently, I repeat that disease is not the result of thought.
Do đó, chúng ta không thể khẳng định rằng, theo quy luật chung, bệnh tật có bất kỳ mối liên hệ nào với tư tưởng. Nó đơn giản là sự sử dụng sai các mãnh lực thuộc những cấp độ dĩ thái, cảm dục và hồng trần đậm đặc. Phần lớn con người bất lực, không thể làm gì để thay đổi điều đó, vì chẳng hạn, những mãnh lực cấu thành thể xác, xuyên qua và tác động lên nó, là di sản từ một quá khứ rất xa xưa, là thành phần cấu tạo của môi trường và sự sống nhóm mà họ được tích hợp vào và cùng chia sẻ với mọi người đồng loại. Vật chất-mãnh lực ấy nhuốm màu những kết quả của các nhịp điệu sai lầm xa xưa, các mãnh lực bị sử dụng sai và những phẩm tính được thừa hưởng. Năng lượng linh hồn, biểu hiện qua tư duy đúng đắn, có thể chữa những bệnh mà con người dễ mắc phải. Chính việc không suy nghĩ, không ghi nhận [95] và không biểu hiện những trạng thái tâm thức cao hơn dẫn đến các nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, Tôi nhắc lại rằng bệnh tật không phải là kết quả của tư tưởng.
C. Frustrated Idealism.
C. Chủ Nghĩa Lý Tưởng Không Thành.
There are, however, certain diseases which appear in the physical mechanism and which are definitely rooted in the fact that activity (which is the result of thinking specifically) has been coloured and conditioned by the emotional life of the individual, and the emotional life is a fruitful source of disease and of establishing wrong rhythms. It is therefore the predominance of the astral force, and not of the mental energy, which really causes the physical trouble. I am not referring here to the diseases of the nervous system and of the brain, which are the result of overstimulation and of the impact of energy (often from the mind and the soul) upon an instrument unfitted to handle it. These we will consider later. I refer simply to the following sequence of events in the psychological life and the consequent resultant activities:
Tuy nhiên, có những bệnh xuất hiện trong bộ máy thể chất rõ ràng bắt nguồn từ việc hoạt động (vốn là kết quả trực tiếp của tư duy) đã chịu sự nhuốm màu và định hình của đời sống cảm xúc cá nhân; mà đời sống cảm xúc lại là nguồn dồi dào gây bệnh tật và thiết lập những nhịp điệu sai lầm. Vì vậy, chính sự lấn át của mãnh lực cảm dục, chứ không phải năng lượng trí tuệ, mới thực sự gây ra rối loạn thể chất. Ở đây, Tôi không nói đến những bệnh của hệ thần kinh và bộ não, vốn là kết quả của sự kích thích quá mức và tác động của năng lượng (thường từ thể trí và linh hồn) lên một khí cụ không đủ khả năng xử lý nó. Chúng ta sẽ xem xét những bệnh ấy sau. Tôi chỉ nói đến chuỗi sự kiện sau đây trong đời sống tâm lý và những hoạt động phát sinh từ đó:
Disease is a form of activity.
Bệnh tật là một hình thức hoạt động.
1. Mental activity and energy produces (through the power of thought) certain registration of plans, idealisms and ambitions.
1. Hoạt động và năng lượng trí tuệ tạo ra (thông qua quyền năng tư tưởng) sự ghi nhận nhất định về các kế hoạch, lý tưởng và tham vọng.
2. This energy, blended with astral energy, becomes dominated and controlled by astral reactions of an undesirable kind, such as worry over non-accomplishment, the failure to materialise the plans, etc. The life becomes consequently embittered.
2. Năng lượng này, khi hoà trộn với năng lượng cảm dục, chịu sự thống trị và kiểm soát của những phản ứng cảm dục không mong muốn, như lo lắng về việc không đạt thành quả, không biến được kế hoạch thành hiện thực, v.v. Vì thế, đời sống trở nên cay đắng.
3. Disease then appears in the physical body, according to the predisposing tendencies of the body and its inherent, inherited weaknesses.
3. Khi ấy, bệnh tật xuất hiện trong thể xác, tuỳ theo những khuynh hướng dễ mắc bệnh của thể xác và những điểm yếu vốn có, được thừa hưởng của nó.
[96]
[96]
You will note that, in reality, the mental body, and the power of thought, have in no case been the cause of trouble. It has been caused by the obliteration of the original thought and its stepping down to the level of emotionalism. When this stepping down and eventual control by astral forces does not take place, and the thought remains clear and untouched upon the mental plane, there may be trouble of another kind, due to a failure to “carry through” the thought into effective action upon the physical plane. This failure produces not only the cleavage in the personality so well known to the practicing psychologist, but also a cutting off of a much needed stream of energy. As a consequence, the physical body is devitalised and falls heir to bad health. When the thought can be carried through to the physical brain and there becomes a directing agent of the life force, you will usually have a condition of good health, and this has proved true whether the individual thought has been good or bad, rightly motivated or wrongly oriented. It is simply the effect of integration, because saints and sinners, the selfish and the unselfish and all kinds of people, can achieve integration and a thought-directed life.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng trên thực tế, trong mọi trường hợp, thể trí và quyền năng tư tưởng đều không phải là nguyên nhân gây rắc rối. Rắc rối phát sinh do tư tưởng ban đầu bị xoá mờ và hạ xuống cấp độ cảm xúc. Khi sự hạ thấp này và sự kiểm soát cuối cùng của các mãnh lực cảm dục không xảy ra, còn tư tưởng vẫn sáng rõ và nguyên vẹn trên cõi trí, có thể xuất hiện một loại khó khăn khác, do không “triển khai đến cùng” tư tưởng thành hành động hữu hiệu trên cõi hồng trần. Thất bại này không chỉ tạo ra sự chia cắt trong phàm ngã mà các nhà tâm lý học thực hành rất quen thuộc, mà còn cắt đứt một dòng năng lượng rất cần thiết. Hệ quả là thể xác mất sinh khí và rơi vào tình trạng sức khoẻ kém. Khi tư tưởng có thể được truyền đến bộ não hồng trần và tại đó trở thành tác nhân định hướng sinh lực, thông thường sẽ có tình trạng sức khoẻ tốt; điều này đã được chứng minh là đúng, dù tư tưởng của cá nhân là tốt hay xấu, có động cơ đúng đắn hay định hướng sai lầm. Đó đơn giản là tác dụng của sự tích hợp, bởi những bậc thánh và kẻ tội lỗi, người ích kỷ và người vị tha, cùng mọi hạng người đều có thể đạt được sự tích hợp và một đời sống do tư tưởng định hướng.
The second question asks whether an individual or a group can heal by thought power.
Câu hỏi thứ hai là liệu một cá nhân hay một nhóm có thể trị liệu bằng quyền năng tư tưởng hay không.
Most certainly the generalisation can be made that an individual and a group can heal and that thought can play its potent part in the healing process, but not thought alone and unaided. Thought can be the directing agency of forces and energies which can disrupt and dispel disease, but the process must be aided by the power to visualise, by an ability to work with particular forces as is deemed advisable, by an understanding of the rays and their types of energies, and also by a capacity to handle light substance, as it is called. To these powers must be added the ability to be en rapport with the one to be healed, plus a loving heart. In [97] fact, once these conditions are met, too much use of the thinking faculty and too potent a use of the mind processes can arrest and hinder the healing work. Thought has to condition the initial incentive, bringing the intelligence of the man to bear upon the problem of healing and a comprehension of the nature of the one to be healed; but once it has aided in focussing the attention of the healer and the healing group, it should become a steady but subconscious directive agent and nothing more than that.
Chắc chắn có thể khái quát rằng một cá nhân và một nhóm đều có thể trị liệu, và tư tưởng có thể đóng vai trò mạnh mẽ trong tiến trình trị liệu, nhưng không phải chỉ bằng tư tưởng đơn độc, không có sự hỗ trợ. Tư tưởng có thể là tác nhân định hướng các mãnh lực và năng lượng có khả năng phá vỡ và xua tan bệnh tật, nhưng tiến trình này phải có sự hỗ trợ của quyền năng hình dung, khả năng làm việc với những mãnh lực cụ thể theo cách xét thấy thích hợp, sự thấu hiểu các cung và những loại năng lượng của chúng, cũng như khả năng xử lý cái gọi là chất liệu ánh sáng, Bên cạnh những quyền năng này còn phải có khả năng hoà điệu với người cần trị liệu, cùng một trái tim yêu thương. Trên [97] thực tế, một khi những điều kiện này được đáp ứng, việc sử dụng quá nhiều năng lực tư duy và vận dụng quá mạnh các tiến trình của thể trí có thể làm đình trệ và cản trở công việc trị liệu. Tư tưởng phải định hình động lực ban đầu, đưa trí thông minh của con người vào việc giải quyết vấn đề trị liệu và thấu hiểu bản chất của người cần trị liệu; nhưng một khi nó đã giúp tập trung sự chú ý của nhà trị liệu và nhóm trị liệu, nó cần trở thành một tác nhân chỉ đạo ổn định nhưng thuộc tiềm thức, và chỉ như vậy mà thôi.
The healing is accomplished, when possible, by the use of energy rightly directed and by detailed visualisation; love also plays a great part, as does the mind in the early stage. Perhaps I should say that a loving heart is one of the most potent of all the energies employed.
Khi có thể, việc trị liệu được thực hiện bằng cách sử dụng năng lượng được định hướng đúng đắn và hình dung chi tiết; tình thương cũng đóng vai trò lớn, cũng như thể trí ở giai đoạn đầu. Có lẽ Tôi nên nói rằng một trái tim yêu thương là một trong những năng lượng mạnh mẽ nhất được sử dụng.
I have brought these two questions to your attention because I am anxious for your minds to be clear upon these problems before you start any group work in healing.
Tôi đưa hai câu hỏi này ra để các bạn chú ý, bởi Tôi rất mong thể trí các bạn sáng rõ về những vấn đề này trước khi bắt đầu bất kỳ công việc trị liệu nhóm nào.
Thought neither cures disease nor causes it. Thought must be employed in the processes, but it is not the sole or the most important agent. It is on this point that many groups and healers go astray. The mind can direct energy and this energy can, in its turn, produce overstimulation of the brain and of the body cells and so cause nervous trouble and sometimes brain disease, but the mind itself and thinking, per se, cannot cause disease and trouble in the physical body. As the race learns to think clearly and definitely, and as the laws of thought begin to control the racial consciousness, disease—as we now know it—will be greatly lessened and more and more people will achieve integration. Where there is integration there is the free play of force and of energy throughout the material body. The problems of stimulation will, however, steadily increase with the growing sensitivity of the physical man and the developing focus of his consciousness in the mind nature. This will go on until [98] man learns how to handle the higher energies and to recognise the need for a rhythmic life, paying attention to the Law of Periodicity.
Tư tưởng không chữa bệnh cũng không gây bệnh. Phải sử dụng tư tưởng trong các tiến trình, nhưng nó không phải là tác nhân duy nhất hay quan trọng nhất. Chính ở điểm này mà nhiều nhóm và nhà trị liệu đi sai đường. Thể trí có thể định hướng năng lượng, và đến lượt mình, năng lượng này có thể gây kích thích quá mức bộ não và các tế bào cơ thể, từ đó gây rối loạn thần kinh và đôi khi bệnh ở não; nhưng chính thể trí và chính việc tư duy không thể gây bệnh tật và rối loạn trong thể xác. Khi nhân loại học cách suy nghĩ rõ ràng và xác định, và khi các định luật tư tưởng bắt đầu kiểm soát tâm thức nhân loại, bệnh tật—như chúng ta biết hiện nay—sẽ giảm đi rất nhiều, và ngày càng có thêm nhiều người đạt được sự tích hợp. Ở đâu có sự tích hợp, ở đó mãnh lực và năng lượng lưu chuyển tự do khắp thân thể vật chất. Tuy nhiên, những vấn đề kích thích sẽ không ngừng gia tăng cùng với tính nhạy cảm ngày càng cao của con người hồng trần và sự phát triển của trọng tâm tâm thức trong bản chất trí tuệ. Điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi [98] con người học được cách xử lý những năng lượng cao hơn và nhận ra nhu cầu sống có nhịp điệu, chú ý đến Định luật Chu Kỳ.
In healing work, certain rules should be mastered and followed by the healer. I have given three important rules already. Briefly they are as follows, and I am dividing the first one into its component parts for the sake of clarity.
Trong công việc trị liệu, nhà trị liệu cần nắm vững và tuân theo một số quy luật. Tôi đã đưa ra ba quy luật quan trọng. Tóm lược lại như sau, và để làm rõ, Tôi chia quy luật thứ nhất thành các phần cấu thành.
1. a. The healer must seek to link his soul, his heart, his brain, and his hands. Thus can he pour the vital force with healing power upon his patient. This is magnetic work.
1. a. Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, trái tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ đó, y có thể tuôn sinh lực mang quyền năng trị liệu lên bệnh nhân của mình. Đây là công việc từ tính.
b. The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power.
b. Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, trái tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó.
2. The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must achieve that dispelling radiance which shows itself in every man once he has linked the centres in the head. When this magnetic field has been established, the radiance then goes forth.
2. Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự rạng ngời có khả năng xua tan ấy, vốn biểu lộ nơi mỗi người một khi y đã nối kết các trung tâm trong đầu. Khi trường từ tính này đã được thiết lập, sự rạng ngời liền toả ra.
3. Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from which the trouble comes. Let him relate the cause and the effect, and know the point exact through which relief must come.
3. Hãy để nhà trị liệu tự rèn luyện để biết trạng thái nội tâm về tư tưởng hay dục vọng của người tìm đến nhờ y giúp đỡ. Nhờ đó, y có thể biết nguồn gốc của rắc rối. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giảm nhẹ phải đến.
I would here give you, as a group, another rule, making four major rules:
Ở đây, Tôi muốn trao cho các bạn, với tư cách một nhóm, thêm một quy luật nữa, thành bốn quy luật chính:
RULE FOUR
QUY LUẬT BỐN
The healer and the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.
Nhà trị liệu và nhóm trị liệu phải kiềm giữ ý chí. Phải sử dụng tình thương, không phải ý chí.
This last rule is of great importance. The concentrated will of any individual and the directed will of a united group [99] should never be employed. The free will of the individual must never be subjected to the impact of a powerfully focussed group or individual; it is far too dangerous a procedure to be permitted. Will energy (particularly that of a number of people simultaneously playing upon the subtle and physical bodies of the one to be healed) can greatly increase the trouble instead of curing it. It can stimulate the disease itself to dangerous proportions and disrupt instead of cooperating with nature’s healing forces, and can even eventually kill the person concerned by so increasing the disease that the patient’s normal resistance can prove futile. I would ask you, therefore, in any group work of healing, to keep the will (and even keen desire) in abeyance. Only initiates of high degree are permitted to cure by the power of the will, focussed in the WORD OF POWER, and this only because they can test the capacity of the patient, the tension of the disease, and know also whether or no it is the will of the soul that the disease should be cured.
Quy luật cuối cùng này hết sức quan trọng. Tuyệt đối không được sử dụng ý chí tập trung của bất kỳ cá nhân nào hay ý chí có định hướng của một nhóm hợp nhất [99]. Tuyệt đối không được đặt ý chí tự do của cá nhân dưới tác động của một nhóm hay một cá nhân tập trung mạnh mẽ; đó là một phương thức quá nguy hiểm để có thể cho phép. Năng lượng ý chí (đặc biệt khi nhiều người đồng thời tác động lên các thể tinh tế và thể xác của người cần trị liệu) có thể làm rối loạn gia tăng nghiêm trọng thay vì chữa khỏi. Nó có thể kích thích chính bệnh tật đến mức nguy hiểm, gây rối loạn thay vì hợp tác với các mãnh lực trị liệu của tự nhiên, và cuối cùng thậm chí có thể giết chết người liên quan vì làm bệnh trầm trọng đến mức sức đề kháng bình thường của bệnh nhân trở nên vô hiệu. Vì vậy, trong bất kỳ công việc trị liệu nhóm nào, Tôi yêu cầu các bạn tạm gác ý chí (và cả dục vọng mãnh liệt) sang một bên. Chỉ những điểm đạo đồ cấp cao mới được phép chữa bệnh bằng quyền năng ý chí, tập trung trong QUYỀN NĂNG TỪ, và điều này chỉ vì các vị có thể đánh giá khả năng của bệnh nhân, mức độ căng thẳng của bệnh tật, đồng thời biết việc chữa khỏi bệnh có phù hợp với ý chí của linh hồn hay không.
We have covered much ground of importance in this section and it will warrant your careful study. In the next one we will take up the peculiar problems of the disciple; I would ask you, in preparation for this, to study with attention, the teaching which I gave earlier on the diseases of the mystics. (A Treatise on the Seven Rays, Vol II, Pages 520-625) Much said there need not be repeated by me, but should be incorporated in our teachings on healing. I suggest that you read them and know something of the problems themselves, both theoretically and from an understanding of yourself. You should be aware of some of these difficulties in your own experience, at least to some degree.
Chúng ta đã đề cập nhiều nội dung quan trọng trong phần này, và các bạn cần nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến những vấn đề đặc thù của người đệ tử; để chuẩn bị, Tôi yêu cầu các bạn nghiên cứu cẩn thận giáo huấn mà Tôi đã đưa ra trước đây về những bệnh của các nhà thần bí. (Luận về Bảy Cung, Tập II, Trang 520-625) Tôi không cần nhắc lại nhiều điều đã nói ở đó, nhưng cần đưa chúng vào giáo huấn của chúng ta về trị liệu. Tôi đề nghị các bạn đọc những điều ấy và tìm hiểu phần nào về chính những vấn đề đó, cả trên phương diện lý thuyết lẫn thông qua sự thấu hiểu bản thân. Ít nhất ở một mức độ nào đó, các bạn hẳn nhận biết một số khó khăn này trong kinh nghiệm của chính mình.
The Sacred Art of Healing
Nghệ Thuật Trị Liệu Thiêng Liêng
I do not intend, in this treatise, to deal with the pathology of disease, with its systems and their maleficent indications. [100] These are fully covered in any ordinary medical treatise and textbook and I, my brothers, am no trained physician or medical authority, nor have I the time to be engrossed with the technicalities. What I am concerned with is to give the world some idea of the true and occult causes of disease and their hidden origins, and with the work of healing, as it is carried on and sanctioned by the Great White Lodge.
Trong khảo luận này, Tôi không có ý định bàn đến bệnh lý học, các hệ thống của nó cùng những dấu hiệu có hại của chúng. [100] Bất kỳ khảo luận hay giáo trình y học thông thường nào cũng đã trình bày đầy đủ những điều này; và, các huynh đệ của Tôi, Tôi không phải là một bác sĩ được đào tạo hay một chuyên gia y học, cũng không có thời gian để mải mê với những chi tiết kỹ thuật. Điều Tôi quan tâm là cung cấp cho thế giới một ý niệm về những nguyên nhân chân thực và huyền bí của bệnh tật cùng nguồn gốc ẩn giấu của chúng, và về công việc trị liệu như Thánh đoàn đang thực hiện và chuẩn thuận.
The work is, in reality, that of the judicious use of energy, applied with love and science. All that I tell you is the result of experiment. Such healing falls into two categories:
Trên thực tế, công việc này là sử dụng năng lượng một cách sáng suốt, vận dụng với tình thương và khoa học. Tất cả những gì Tôi nói với các bạn đều là kết quả của thực nghiệm. Việc trị liệu như vậy chia thành hai loại:
1. In magnetic healing, the healer, or the healing group. does two things:
1. Trong trị liệu từ tính, nhà trị liệu hoặc nhóm trị liệu thực hiện hai việc:
a. He attracts to the healing centre that type of energy which will counteract the disease.
a. Y thu hút đến trung tâm trị liệu loại năng lượng có khả năng đối kháng bệnh tật.
This is necessarily a vast subject and one of deep scientific import. Certain types of ray force can be used with certain types of disease, necessitating the use of certain specific centres for the distribution. These we shall consider and outline when we come to the section entitled The Seven Modes of Healing.
Đây tất nhiên là một chủ đề rộng lớn và có ý nghĩa khoa học sâu sắc. Có thể sử dụng một số loại mãnh lực cung cho một số loại bệnh, đòi hỏi phải dùng những trung tâm chuyên biệt nhất định để phân phối các mãnh lực ấy. Chúng ta sẽ xem xét và phác thảo những điều này khi đến phần có nhan đề Bảy Phương Pháp Chữa Lành.
b. He attracts to himself and absorbs those forces which are producing the disease, drawing it forth from the patient.
b. Y thu hút vào mình và hấp thu những mãnh lực đang gây ra bệnh, rút bệnh ra khỏi bệnh nhân.
This latter process necessitates a careful guarding of the healer from all contamination by the disease, so that the forces can find no place in his body. There must also be the supplying of fresh energy to the patient, in order to take the place of that which has been withdrawn. This process sets up a definite interplay between the healer and the patient. There is consequently some real [101] danger in this work of occult healing, and for this reason the healers in training should bear in mind that they will work as a group and not as individuals. The free circulation of force produces good health in the individual or group. The free circulation of force between a healer or a healing group and the person to be healed can produce the cure of disease, provided it is the destiny of the man to be healed at any given time and his cooperation is given when possible, though this is not really essential. It facilitates more rapid results in many cases. In others, the patient’s anxiety can negate the desired effects.
Tiến trình sau này đòi hỏi phải bảo vệ cẩn thận người chữa lành khỏi mọi sự lây nhiễm bệnh, để các mãnh lực ấy không tìm được chỗ trú trong cơ thể y. Đồng thời, phải cung cấp năng lượng mới cho bệnh nhân để thay thế phần đã rút ra. Tiến trình này thiết lập một sự tương tác rõ rệt giữa người chữa lành và bệnh nhân. Do đó, công việc chữa lành huyền bí này có một mối nguy hiểm thực sự [101], và vì lý do ấy, những người chữa lành đang được huấn luyện cần ghi nhớ rằng họ sẽ làm việc theo nhóm chứ không riêng lẻ. Sự lưu chuyển tự do của mãnh lực tạo ra sức khỏe tốt cho cá nhân hoặc nhóm. Sự lưu chuyển tự do của mãnh lực giữa một người chữa lành hoặc một nhóm chữa lành với người cần được chữa lành có thể chữa khỏi bệnh, với điều kiện vận mệnh của người ấy cho phép y được chữa lành vào thời điểm đó và y hợp tác khi có thể, dù sự hợp tác này thực ra không thiết yếu. Trong nhiều trường hợp, nó giúp đạt kết quả nhanh hơn. Trong những trường hợp khác, sự lo âu của bệnh nhân có thể triệt tiêu những tác dụng mong muốn.
2. In radiatory healing, the process is simpler and safer for the healer simply gathers power into himself and then radiates it out on to the patient in the form of a steadily outflowing stream of radiant energy. This stream of energy should be directed to the centre nearest to the location of the disease.
2. Trong việc chữa lành bằng bức xạ, tiến trình đơn giản và an toàn hơn, vì người chữa lành chỉ thu gom quyền năng vào mình rồi bức xạ quyền năng ấy đến bệnh nhân dưới dạng một dòng năng lượng rạng ngời liên tục tuôn ra. Dòng năng lượng này cần được hướng đến trung tâm gần vị trí mắc bệnh nhất.
In this work there is no risk to the healer, but if the element of will enters into his thought or the stream of energy projected is too strong, there may be danger to the patient. The impact of the force which is being radiated upon him may not only produce nervous tension, but may lead to an increase in the power of the disease and its intensification by stimulating the atoms and cells involved in the activity of the force responsible for the trouble. For this reason beginners must avoid any concentration upon the disease itself or the area in the physical body involved and carefully keep all thought in abeyance, once the preliminary work has been done, for energy ever follows thought and goes where the thought is focussed. [102]
Trong công việc này, người chữa lành không gặp nguy cơ nào, nhưng nếu yếu tố ý chí đi vào tư tưởng của y hoặc dòng năng lượng được phóng chiếu quá mạnh, bệnh nhân có thể gặp nguy hiểm. Tác động của mãnh lực đang bức xạ lên bệnh nhân không chỉ có thể gây căng thẳng thần kinh, mà còn có thể làm bệnh mạnh lên và trầm trọng hơn do kích thích các nguyên tử và tế bào tham gia vào hoạt động của mãnh lực gây ra chứng bệnh ấy. Vì lý do này, người mới bắt đầu phải tránh mọi sự tập trung vào chính căn bệnh hoặc vùng thể xác mắc bệnh, và phải cẩn thận giữ cho mọi tư tưởng lắng yên sau khi đã hoàn tất công việc sơ bộ, vì năng lượng luôn đi theo tư tưởng và đi đến nơi tư tưởng tập trung. [102]
The healers have to determine the effectiveness of what they are attempting and the potency of their united group work and of the force which they can wield. They have also to discover their ability to keep the will in the background and to send the healing radiance out upon a stream of love-energy. Have ever in mind that love is energy and that it is a substance as real as dense matter. That substance can be used to drive out diseased tissue and provide a healthy substitute in place of the diseased material which has been eliminated.
Những người chữa lành phải xác định hiệu quả của điều họ đang cố gắng thực hiện, cũng như sức mạnh của công việc nhóm hợp nhất và của mãnh lực mà họ có thể vận dụng. Họ cũng phải khám phá khả năng giữ ý chí ở phía sau và gửi ánh bức xạ chữa lành ra ngoài trên một dòng năng lượng bác ái. Hãy luôn ghi nhớ rằng bác ái là năng lượng và là một chất liệu có thực như vật chất đậm đặc. Có thể dùng chất liệu ấy để đẩy mô bệnh ra ngoài và cung cấp mô lành thay cho phần vật chất bệnh đã được loại bỏ.
They will, therefore, in the first cycle of work, attempt the radiatory method. It is simpler and far more easily mastered. Later, they can experiment with the method of magnetic healing.
Vì vậy, trong chu kỳ làm việc đầu tiên, họ sẽ thử phương pháp bức xạ. Phương pháp này đơn giản hơn và dễ thành thạo hơn nhiều. Về sau, họ có thể thử nghiệm phương pháp chữa lành bằng từ tính.
You will now see the purpose of the rules anent the modes of healing which I gave early in this series of instructions. You will realise why, in this radiatory work, the linking process involves the soul, the brain and the entire aura or the magnetic field of individual or group activity. The mind is not mentioned or involved, and the brain acts solely as the focussing point of the love and the healing force to be projected into the stream of energy which issues from the ajna centre.
Giờ đây, các bạn sẽ thấy mục đích của những quy luật về các phương pháp chữa lành mà Tôi đã đưa ra ở đầu loạt huấn thị này. Các bạn sẽ nhận ra vì sao trong công việc bức xạ này, tiến trình liên kết bao gồm linh hồn, bộ não và toàn bộ hào quang hay trường từ tính của hoạt động cá nhân hoặc nhóm. Thể trí không được nhắc đến hay tham gia, và bộ não chỉ hoạt động như điểm tập trung của bác ái và mãnh lực chữa lành sẽ được phóng chiếu vào dòng năng lượng phát ra từ trung tâm ajna.
The healer will, therefore, keep all the forces focussed in the head, and his attention must be concentrated there also. The heart will be automatically involved, as he will be using the energy of love—at first entirely.
Vì vậy, người chữa lành sẽ giữ mọi mãnh lực tập trung trong đầu, và sự chú ý của y cũng phải tập trung tại đó. Trái tim sẽ tự động tham gia, vì y sẽ sử dụng năng lượng bác ái—lúc đầu hoàn toàn chỉ dùng năng lượng ấy.
Let us now tabulate the rules under which all healing groups must work. I would like to interpolate here that it is not always necessary or possible to meet and work together in group formation. This work can be carried forward efficiently and potently, if the members work as a subjective group; each should then follow the instructions each day [103] and as if he were working in his group in tangible form. This real linking is brought about by imagining himself as in the presence of his brothers. If they were to meet as a group upon the physical plane, it would be hard to prevent the dissipation of force through discussion, through the ordinary pleasantries of meeting, and through the physical interplay between personalities. It would be inevitable that there would be too much conversation, and the work done would not be adequately effective. From the physical standpoint, they work alone; from the true inner standpoint, they work in the closest cooperation.
Giờ đây, chúng ta hãy lập bảng những quy luật mà mọi nhóm chữa lành phải tuân theo khi làm việc. Tôi muốn xen vào đây rằng không phải lúc nào cũng cần thiết hoặc có thể gặp nhau và cùng làm việc trong một đội hình nhóm. Công việc này có thể tiến hành hiệu quả và mạnh mẽ nếu các thành viên làm việc như một nhóm chủ quan; khi ấy, mỗi người cần làm theo các huấn thị hằng ngày [103] như thể đang làm việc trong nhóm hiện diện dưới hình thức hữu hình. Sự liên kết thực sự này hình thành khi mỗi người tưởng tượng mình đang hiện diện cùng các huynh đệ. Nếu họ gặp nhau thành nhóm trên cõi hồng trần, sẽ khó tránh việc mãnh lực bị tiêu tán qua thảo luận, qua những lời xã giao thông thường khi gặp gỡ, và qua sự tương tác trên cõi hồng trần giữa các phàm ngã. Chắc chắn sẽ có quá nhiều trò chuyện, và công việc thực hiện sẽ không đạt hiệu quả thích đáng. Xét từ phương diện hồng trần, họ làm việc một mình; xét từ phương diện nội tại chân thực, họ làm việc trong sự hợp tác mật thiết nhất.
Here are the first rules which I would have the student master:
Sau đây là những quy luật đầu tiên mà Tôi muốn đạo sinh nắm vững:
Preliminary Rules for Radiatory Healing
Những Quy Luật Sơ Bộ cho Việc Chữa Lành bằng Bức Xạ
1. By an act of the will, after making your own quick, conscious alignment, link up as a soul with the souls of your group brothers. Then link up with their minds, and then with their emotional natures. Do this by the use of the imagination, realising that energy follows thought and that the linking process is inevitable, if correctly done. You can then function as a group. Then forget about the group relation and concentrate upon the work to be done.
1. Bằng một hành động của ý chí, sau khi nhanh chóng thực hiện sự chỉnh hợp của chính mình một cách có ý thức, hãy liên kết với tư cách một linh hồn với linh hồn của các huynh đệ trong nhóm. Sau đó, liên kết với thể trí của họ, rồi với bản chất cảm xúc của họ. Hãy thực hiện điều này bằng sự tưởng tượng, nhận biết rằng năng lượng đi theo tư tưởng và tiến trình liên kết chắc chắn sẽ diễn ra nếu thực hiện đúng cách. Khi ấy, các bạn có thể hoạt động như một nhóm. Sau đó, hãy quên mối quan hệ nhóm và tập trung vào công việc cần làm.
2. Within yourself, then, link soul and brain and gather together the forces of love that are to be found in your aura and focus yourself and all that you have to offer within the head, picturing yourself as a radiant centre of energy or a point of vivid light. This light is to be projected upon the patient through the ajna centre between the eyes.
2. Tiếp đó, trong chính mình, hãy liên kết linh hồn với bộ não, thu gom những mãnh lực bác ái có trong hào quang của các bạn, rồi tập trung bản thân cùng tất cả những gì mình có thể hiến dâng vào trong đầu, hình dung mình như một trung tâm năng lượng rạng ngời hoặc một điểm ánh sáng sống động. Ánh sáng này sẽ được phóng chiếu đến bệnh nhân qua trung tâm ajna ở giữa hai mắt.
3. Then say the following group mantram:
3. Sau đó, hãy đọc mantram nhóm sau đây:
“With purity of motive, inspired by a loving heart, we offer ourselves for this work of healing. This offer we make as a group and to the one we seek to heal.”
“Với động cơ thanh khiết, được một trái tim đầy tình thương truyền cảm hứng, chúng tôi hiến mình cho công việc chữa lành này. Chúng tôi thực hiện sự hiến dâng này với tư cách một nhóm và dành cho người mà chúng tôi tìm cách chữa lành.”
[104]
[104]
As you do this, visualise the linking process going on. See it as moving lines of living light substance, linking you to your brothers on the one hand, and to the patient on the other. See these lines going out from you to the heart centre of the group and to the patient. But work ever from the ajna centre until instructed to do differently. In this way, the ajna centre and the heart centre of all the persons involved will be closely interrelated. You see here where the value of visualisation comes in. It is in reality the etheric externalisation of the creative imagination. Think this last sentence out.
Khi làm như vậy, hãy hình dung tiến trình liên kết đang diễn ra. Hãy thấy nó như những đường chất liệu ánh sáng sống động đang chuyển động, liên kết các bạn với các huynh đệ ở một phía và với bệnh nhân ở phía kia. Hãy thấy những đường này đi từ các bạn đến trung tâm tim của nhóm và đến bệnh nhân. Nhưng hãy luôn làm việc từ trung tâm ajna cho đến khi được chỉ dẫn làm khác đi. Bằng cách này, trung tâm ajna và trung tâm tim của tất cả những người tham gia sẽ liên hệ mật thiết với nhau. Ở đây, các bạn thấy được giá trị của sự hình dung. Thực ra, đó là sự ngoại hiện trên cõi dĩ thái của sự tưởng tượng sáng tạo. Hãy suy xét kỹ câu cuối này.
4. Then use thought, directed thought, for a brief moment and think of the one you seek to heal, linking up with him, and focussing your attention on him so that he becomes a reality in your consciousness and close to you. When you are aware what the physical difficulty is, then simply recall it to your mind and then dismiss it. Forget now the details of the work, such as the group, yourself and the difficulty of the patient, and concentrate upon the type of force you are going to handle, which is, in this case and for the present, second ray force, the force of love. What I am here giving out is an adaptation of the second ray method of healing, arranged for beginners.
4. Sau đó, hãy dùng tư tưởng, tư tưởng có định hướng, trong một khoảnh khắc ngắn và nghĩ đến người mà các bạn tìm cách chữa lành, liên kết với người ấy và tập trung sự chú ý vào y để y trở thành một thực tại trong tâm thức các bạn và gần gũi với các bạn. Khi biết khó khăn về thể xác là gì, chỉ cần nhớ lại nó trong thể trí rồi gạt nó sang một bên. Giờ đây, hãy quên những chi tiết của công việc, như nhóm, chính mình và khó khăn của bệnh nhân, rồi tập trung vào loại mãnh lực mà các bạn sắp vận dụng; trong trường hợp này và vào lúc này, đó là mãnh lực cung hai, mãnh lực bác ái. Điều Tôi đang truyền đạt ở đây là một hình thức điều chỉnh của phương pháp chữa lành cung hai, dành cho người mới bắt đầu.
5. Feel a deep love pouring into you. Regard it as substantial light which you can and will manipulate. Then send it out as a stream of radiant light from the ajna centre and direct it through the medium of your hands to the patient. In doing this, hold the hands before the eyes, palms outward and with the hacks of the hands next to the eyes and about six inches away from the face. In this way, the stream which is issuing from the ajna centre, becomes divided into two and pours out through the two hands. It is thus directed on to the patient. Visualise it as pouring out [105] and sense the patient receiving it. As you do this, say aloud in a low voice:
5. Hãy cảm nhận một tình thương sâu đậm đang tuôn vào các bạn. Hãy xem đó là ánh sáng có chất liệu mà các bạn có thể và sẽ điều khiển. Sau đó, gửi ánh sáng ấy ra ngoài thành một dòng ánh sáng rạng ngời từ trung tâm ajna và hướng nó qua hai bàn tay đến bệnh nhân. Khi làm như vậy, hãy giữ hai bàn tay trước mắt, lòng bàn tay hướng ra ngoài, mu bàn tay hướng về phía mắt và cách mặt khoảng sáu inch. Bằng cách này, dòng năng lượng phát ra từ trung tâm ajna chia làm hai và tuôn ra qua hai bàn tay. Nhờ đó, nó được hướng đến bệnh nhân. Hãy hình dung nó đang tuôn ra [105] và cảm nhận bệnh nhân đang tiếp nhận nó. Khi làm như vậy, hãy đọc thành tiếng bằng giọng nhỏ:
“May the love of the One Soul, focussed in this group, radiate upon you, my brother, and permeate every part of your body—healing, soothing, strengthening; and dissipating all that hinders service and good health.”
“Cầu mong tình thương của Linh Hồn Duy Nhất, tập trung trong nhóm này, bức xạ đến bạn, hỡi huynh đệ của tôi, và thấm vào mọi phần cơ thể bạn—chữa lành, xoa dịu, tăng cường sức lực; và làm tiêu tan tất cả những gì cản trở việc phụng sự và sức khỏe tốt.”
Say this slowly and deliberately, believing in the results. See that no thought-power or will-power enters into the stream of healing energy, but only a concentrated radiating love. The use of the visualising faculty and of the creative imagination, plus a sense of deep and steadfast love, will keep the mind and the will in abeyance.
Hãy đọc chậm rãi và có chủ đích, tin tưởng vào kết quả. Hãy bảo đảm rằng không có quyền năng tư tưởng hay quyền năng ý chí nào đi vào dòng năng lượng chữa lành, mà chỉ có tình thương bức xạ được tập trung. Việc sử dụng năng lực hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo, cùng với một tình thương sâu đậm và bền vững, sẽ giữ cho thể trí và ý chí lắng yên.
I would emphasise the urgent necessity for complete silence and reticence in relation to all healing work. Never let it be known by anyone that you are working in this manner, and never mention to anyone the names of those you are seeking to aid. Do not discuss the patient under treatment even among yourselves. If this basic rule of silence is not kept, it will indicate that you are not yet ready for this work and should discontinue it. This injunction is far more important than you can realise; for speech and discussion not only tend to deflect and dissipate force, but violate a fundamental rule which all healers are trained to keep, and even the medical profession on the physical plane follows the same general procedure.
Tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải hoàn toàn giữ im lặng và kín đáo đối với mọi công việc chữa lành. Đừng bao giờ để bất kỳ ai biết rằng các bạn đang làm việc theo cách này, và đừng bao giờ nhắc với bất kỳ ai tên của những người mà các bạn đang tìm cách giúp đỡ. Đừng bàn luận về bệnh nhân đang được chữa trị, ngay cả giữa các bạn với nhau. Nếu không giữ quy luật im lặng căn bản này, điều đó sẽ cho thấy các bạn chưa sẵn sàng cho công việc này và nên ngừng lại. Huấn lệnh này quan trọng hơn nhiều so với mức các bạn có thể nhận ra; vì lời nói và sự bàn luận không chỉ có khuynh hướng làm chệch hướng và tiêu tán mãnh lực, mà còn vi phạm một quy luật căn bản mà mọi người chữa lành đều được huấn luyện để tuân giữ; ngay cả ngành y trên cõi hồng trần cũng tuân theo cùng một cách thức chung như vậy.
Three Major Laws of Health
Ba Định Luật Chính về Sức Khỏe
There are three major laws of health and seven minor laws. These work out in the three worlds, which is all that concerns you at this time. In all teaching to be given in the immediate future, the main emphasis will eventually be laid upon the technique of the etheric body, for that is the next step forward. The three major laws are: [106]
Có ba định luật chính và bảy định luật phụ về sức khỏe. Những định luật này vận hành trong ba cõi giới, và đó là tất cả những gì liên quan đến các bạn vào lúc này. Trong mọi giáo huấn sẽ được truyền dạy trong tương lai gần, cuối cùng trọng tâm sẽ đặt vào kỹ thuật của thể dĩ thái, vì đó là bước tiến kế tiếp. Ba định luật chính là: [106]
1. The law controlling the will to live, a manifestation of the first aspect of the Logos, will or power.
1. Định luật chi phối ý chí sống, một biểu hiện của phương diện thứ nhất của Thượng đế, ý chí hay quyền năng.
2. The law controlling equality of rhythm, a manifestation of the second aspect of the Logos, love or wisdom.
2. Định luật chi phối sự đồng đều của nhịp điệu, một biểu hiện của phương diện thứ hai của Thượng đế, bác ái hay minh triết.
3. The law controlling crystallisation, a manifestation of the third aspect of the Logos, the activity or foundational aspect.
3. Định luật chi phối sự kết tinh, một biểu hiện của phương diện thứ ba của Thượng đế, phương diện hoạt động hay nền tảng.
These three governing factors or laws manifest themselves through the three major divisions of the human entity.
Ba yếu tố hay định luật chi phối này biểu hiện qua ba bộ phận chính của thực thể con người.
1. The will aspect manifests through the organs of respiration. Another of its expressions is the faculty of sleep. In both of these you have a repetition or an analogy in the microcosm of Logoic manifestation and Logoic pralaya.
1. Phương diện ý chí biểu hiện qua các cơ quan hô hấp. Một biểu hiện khác của nó là khả năng ngủ. Trong cả hai điều này, các bạn thấy sự lặp lại hay sự tương đồng trong tiểu thiên địa với sự biểu hiện của Thượng đế và Giai kỳ qui nguyên của Thượng đế.
2. The love aspect shows itself through the heart, the circulatory system and the nervous system. This is in many ways most important for you to understand, for it controls paramountly the etheric body and its assimilation of prana or vitality. This prana works through both the blood and the nerves, for the life force uses the blood stream and psychic force works through the nervous system. These two departments of the human organism are those which cause the greatest amount of trouble at this time and will even more in the future. The race learns through suffering, and only dire need drives man to seek solution and relief. From the present standpoint of healing, man forms again a lesser trinity of importance:
2. Phương diện bác ái biểu lộ qua tim, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh. Xét trên nhiều phương diện, điều này hết sức quan trọng để các bạn thấu hiểu, vì nó chi phối chủ yếu thể dĩ thái và sự đồng hóa prana hay sinh lực của thể ấy. Prana này hoạt động qua cả máu lẫn dây thần kinh, vì mãnh lực sự sống sử dụng dòng máu, còn mãnh lực thông linh hoạt động qua hệ thần kinh. Hai bộ phận này của cơ thể con người hiện đang gây ra nhiều rối loạn nhất, và trong tương lai sẽ còn gây ra nhiều hơn nữa. Nhân loại học hỏi qua đau khổ, và chỉ nhu cầu cấp bách mới thúc đẩy con người tìm kiếm giải pháp và sự giải thoát khỏi khổ đau. Theo quan điểm chữa lành hiện nay, một lần nữa, con người tạo thành một bộ ba nhỏ hơn có tầm quan trọng:
a. The dense physical body, of which science and medicine know much. [107]
a. Thể xác đậm đặc, mà khoa học và y học đã biết nhiều về nó. [107]
b. The etheric body, which is the next field of endeavour, of experiment and of discovery.
b. Thể dĩ thái, là lĩnh vực kế tiếp của nỗ lực, thử nghiệm và khám phá.
c. The astral body which, simultaneously with the etheric, is the next object for scientific control. The science of psychology will work here.
c. Thể cảm dục, đồng thời với thể dĩ thái, là đối tượng kế tiếp cần được kiểm soát một cách khoa học. Khoa học tâm lý sẽ hoạt động trong lĩnh vực này.
3. The activity aspect, which manifests primarily through the organs of assimilation and elimination. I seek here to emphasise one point. Just as our solar system is developing the love aspect, which is the second aspect, and just as the human being is polarised in the astral body, which is the reflection of that second aspect, so the second of the three above mentioned departments of the human organism, the etheric, is the one of paramount importance. Up to date it has been the transmitter primarily of astral energy to the physical body. This is now in process of changing.
3. Phương diện hoạt động, biểu hiện chủ yếu qua các cơ quan đồng hóa và bài tiết. Ở đây, Tôi muốn nhấn mạnh một điểm. Cũng như hệ mặt trời của chúng ta đang phát triển phương diện bác ái, tức phương diện thứ hai, và cũng như con người phân cực trong thể cảm dục, vốn là sự phản chiếu của phương diện thứ hai ấy, thì bộ phận thứ hai trong ba bộ phận của cơ thể con người vừa nêu, tức thể dĩ thái, cũng có tầm quan trọng hàng đầu. Cho đến nay, thể này chủ yếu truyền năng lượng cảm dục đến thể xác. Điều này hiện đang thay đổi.
The whole trend of medical science should now be awake to the concrete facts of the dense physical body and moving towards the study of vitalisation and circulation, for these two are closely related. The nervous system is controlled principally today from the astral body, via the etheric, and the basis of all nervous trouble lies hidden in the emotional body wherein humanity at this time is polarised. The circulatory system of the physical body is controlled principally from the etheric body. When you have an etheric body that is not functioning properly and does not transmit prana sufficiently, and when you have an astral or emotional body that is not adequately or properly controlled, you have in these two the source of the majority of the diseases and nervous and mental conditions that are annually increasing. The reflex action of inadequate circulation upon the physical brain (again due to the etheric body) leads to mental strain and eventual collapse. From this you can see the importance of the etheric vehicle.
Giờ đây, toàn bộ định hướng của khoa học y học cần nhận thức rõ những sự kiện cụ thể của thể xác đậm đặc và tiến tới việc nghiên cứu sự tiếp sinh lực và sự tuần hoàn, vì hai điều này có quan hệ mật thiết. Hiện nay, hệ thần kinh chủ yếu chịu sự kiểm soát từ thể cảm dục, qua thể dĩ thái, và nền tảng của mọi rối loạn thần kinh nằm ẩn trong thể cảm xúc, nơi nhân loại hiện đang phân cực. Hệ tuần hoàn của thể xác chủ yếu chịu sự kiểm soát từ thể dĩ thái. Khi thể dĩ thái hoạt động không đúng và không truyền đủ prana, đồng thời thể cảm dục hay thể cảm xúc không được kiểm soát đầy đủ hoặc đúng cách, thì chính hai thể này là nguồn gốc của phần lớn bệnh tật cùng những tình trạng rối loạn thần kinh và trí tuệ đang gia tăng hằng năm. Tác động ngược của sự tuần hoàn không đầy đủ lên bộ não thể xác (một lần nữa do thể dĩ thái) dẫn đến căng thẳng trí tuệ và cuối cùng là suy sụp. Từ đó, các bạn có thể thấy tầm quan trọng của hiện thể dĩ thái.
[108]
[108]
The first aspect, which has for its expression and field of control the organs of respiration and the faculty of sleep, when not functioning properly, produces death, insanity and some of the diseases of the brain.
Phương diện thứ nhất, có các cơ quan hô hấp và khả năng ngủ làm phương tiện biểu hiện và phạm vi kiểm soát, khi hoạt động không đúng sẽ gây ra cái chết, chứng điên và một số bệnh về não.
The third aspect, when not functioning properly, causes stomach troubles, bowel complaints and the various diseases that are located beneath and below the solar plexus in the abdomen.
Phương diện thứ ba, khi hoạt động không đúng, gây ra những rối loạn dạ dày, các chứng bệnh đường ruột và những bệnh khác nhau nằm ở vùng bụng phía dưới tùng thái dương.
You see, therefore, how medical science must eventually seek solution in a simplification of methods and a return from a complexity of drugs and operations to an understanding of the right use of the energies which pour through from the inner man, via the etheric body, to the physical.
Vì vậy, các bạn thấy khoa học y học cuối cùng phải tìm giải pháp trong việc đơn giản hóa các phương pháp và từ sự phức tạp của thuốc men và phẫu thuật trở về với sự thấu hiểu cách sử dụng đúng những năng lượng tuôn từ con người nội tại, qua thể dĩ thái, đến thể xác.
The following suggestions may help:
Những gợi ý sau đây có thể hữu ích:
1. By the development of goodwill, which is the will of good intention and motive, will come the healing of diseases of the respiratory tract, lungs and throat, the stabilising of the cells of the brain, the cure of insanities and obsessions, and an attainment of equilibrium and of rhythm. Longevity will ensue, for death should be the recognition by the soul of work consummated and pralaya earned. It will only take place later at long and separated periods, and will be controlled by the will of the man. He will cease to breathe when he has finished his work, and then will send the atoms of his body into pralaya. That is the sleep of the physical, the end of manifestation, and the occult significance of this is not yet comprehended.
1. Qua sự phát triển thiện chí, tức ý chí của ý định và động cơ tốt lành, các bệnh về đường hô hấp, phổi và cổ họng sẽ được chữa lành, các tế bào não sẽ ổn định, các chứng điên và ám ảnh sẽ được chữa khỏi, và trạng thái quân bình cùng nhịp điệu sẽ được thiết lập. Tuổi thọ sẽ kéo dài, vì cái chết nên là sự nhận biết của linh hồn rằng công việc đã hoàn tất và đã xứng đáng bước vào Giai kỳ qui nguyên. Về sau, cái chết sẽ chỉ xảy ra sau những khoảng thời gian dài, cách xa nhau, và sẽ do ý chí con người kiểm soát. Y sẽ ngừng thở khi đã hoàn thành công việc, rồi đưa các nguyên tử của cơ thể mình vào Giai kỳ qui nguyên. Đó là giấc ngủ của thể xác, là sự kết thúc của biểu hiện, và ý nghĩa huyền bí của điều này vẫn chưa được thấu hiểu.
2. By a comprehension of the laws of vitality—and in this phrase are comprehended the laws governing prana, radiation and magnetism—will come the healing of the diseases in the blood, of the arteries and veins, of certain nervous complaints, lack of vitality, senile decay, poor circulation and similar ills. This too will result in the [109] prolongation of life. The laws of electrical energy will also be better understood in this connection.
2. Qua sự lĩnh hội các định luật về sinh lực—và cụm từ này bao hàm những định luật chi phối prana, bức xạ và từ điện—các bệnh về máu, động mạch và tĩnh mạch, một số chứng bệnh thần kinh, tình trạng thiếu sinh lực, sự suy thoái do tuổi già, tuần hoàn kém và những chứng bệnh tương tự sẽ được chữa lành. Điều này cũng sẽ dẫn đến việc [109] kéo dài sự sống. Trong mối liên hệ này, các định luật về năng lượng điện cũng sẽ được thấu hiểu rõ hơn.
3. By the understanding of right methods of assimilation and elimination will come the healing of diseases connected with the bodily tissues, the stomach and bowels and the male and female organs of generation. It will some day be understood that these latter are only another system of assimilation and elimination, centred this time in the feminine aspect or woman, for again remember that this is the second or love system. The order is thus:
3. Qua sự thấu hiểu những phương pháp đồng hóa và bài tiết đúng đắn, các bệnh liên quan đến mô cơ thể, dạ dày, đường ruột và các cơ quan sinh sản nam nữ sẽ được chữa lành. Một ngày kia, người ta sẽ thấu hiểu rằng những cơ quan sau cùng này chỉ là một hệ thống đồng hóa và bài tiết khác, lần này tập trung trong phương diện nữ tính hay người nữ, vì xin nhắc lại rằng đây là hệ thống thứ hai, hay hệ thống bác ái. Trình tự như sau:
a. The first system was masculine.
a. Hệ thống thứ nhất mang nam tính.
b. The present system, the second, is feminine.
b. Hệ thống hiện tại, hệ thống thứ hai, mang nữ tính.
c. The third system will be hermaphroditic.
c. Hệ thống thứ ba sẽ mang tính lưỡng tính.
E’en though the evolving human Hierarchy is masculine or positive, yet that is no guarantee that all that is found in the present system is masculine too. The fact is that the negative faculty or the feminine aspect dominates, even though this may be unrecognised by you. Let me demonstrate and give some indication by figures of this hypothesis:
Dù Huyền Giai nhân loại đang tiến hoá mang nam tính hay dương tính, điều đó cũng không bảo đảm rằng mọi thứ trong hệ thống hiện tại đều mang nam tính. Thực tế là năng lực âm tính hay phương diện nữ tính chiếm ưu thế, dù các bạn có thể chưa nhận ra điều này. Hãy để Tôi minh họa và đưa ra vài chỉ dấu bằng số liệu cho giả thuyết này:
1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads.
1. Trong hệ mặt trời thứ nhất, có một dòng tiến hoá chủ đạo, gồm một trăm nghìn triệu chân thần.
2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system. [110]
2. Trong hệ thống hiện tại, hệ thống thứ hai, có hai dòng tiến hoá chủ đạo, nhân loại và thiên thần; như đã nói trước đây, có sáu mươi nghìn triệu chân thần nhân loại. Cộng thêm vào đó dòng tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 nghìn triệu, các bạn sẽ có đủ hai trăm nghìn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của Tôi rằng đây là một hệ thống mang nữ tính. [110]
3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos.
3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm nghìn triệu cần thiết mà sự hoàn thiện đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân.
Our discussion has necessarily been sketchy for all that I am here attempting to do is to give indications as to the lines along which the new art of healing must eventually run, and to give certain hints which will point the way to the cause of the prevalent diseases, and so enable the wise to negate effects. This brevity and this system of imparting knowledge through the medium of hints is essentially occult, and will be the only mode of dealing with this relatively dangerous subject until such time as a sound medical, surgical and neurological training of a technical nature is combined with an equally sound psychological understanding, plus a measure of spiritual vision. The ideal physician and surgeon is the man who is also a metaphysician; to the lack of this combination much of the present difficulty and confusion can be ascribed. The metaphysical header today is so engrossed by that which is not the body that he is far less useful to the sick, diseased and damaged human being than is the practical physician. The average metaphysician, no matter by what label he calls himself, has a closed mind; he overemphasises the divine possibilities to the exclusion of the material or physical probabilities. Complete spiritual healing will be divinely possible ultimately; but this is not materially possible at certain given moments in time and space and with people at widely differing points on the ladder of evolution. Right timing and a sound knowledge of the working of the Law of Karma, plus a large measure of intuitive perception, are essential to the high art of spiritual healing. To this must be added the knowledge that the form nature and the physical [111] body are not essentially the major considerations or of the vast importance that some may think.
Cuộc thảo luận của chúng ta tất nhiên chỉ có tính phác thảo, vì tất cả những gì Tôi đang cố gắng làm ở đây là chỉ ra những đường hướng mà nghệ thuật chữa lành mới cuối cùng phải đi theo, và đưa ra một số gợi ý chỉ đường đến nguyên nhân của những căn bệnh phổ biến, nhờ đó giúp người có minh triết triệt tiêu các hệ quả. Sự ngắn gọn này và cách truyền đạt tri thức qua những gợi ý này về bản chất là huyền bí, và sẽ là cách duy nhất để đề cập đến chủ đề tương đối nguy hiểm này, cho đến khi sự đào tạo chuyên môn vững chắc về y khoa, ngoại khoa và thần kinh học kết hợp với sự thấu hiểu tâm lý vững chắc tương đương, cùng một mức độ linh thị tinh thần. Người thầy thuốc và bác sĩ phẫu thuật lý tưởng là người đồng thời cũng là một nhà siêu hình học; phần lớn khó khăn và sự rối ren hiện nay có thể quy về việc thiếu sự kết hợp ấy. Ngày nay, người chữa lành theo siêu hình học quá mải mê với những gì không thuộc thân thể, đến nỗi họ ít hữu ích cho người ốm đau, bệnh tật và tổn thương hơn nhiều so với người thầy thuốc thực hành. Nhà siêu hình học trung bình, bất kể tự gọi mình bằng danh xưng nào, đều có một thể trí khép kín; họ quá nhấn mạnh những khả năng thiêng liêng đến mức loại trừ những khả năng có thể xảy ra về mặt vật chất hay thể xác. Cuối cùng, việc chữa lành tinh thần hoàn toàn sẽ có thể thực hiện được về phương diện thiêng liêng; nhưng về mặt vật chất, điều này không thể thực hiện vào một số thời điểm nhất định trong thời gian và không gian, cũng như với những người ở các điểm rất khác nhau trên thang tiến hoá. Thời điểm thích hợp và tri thức vững chắc về sự vận hành của Định luật Nghiệp Quả, cùng với khả năng nhận thức trực giác ở mức độ cao, là những điều thiết yếu đối với nghệ thuật chữa lành tinh thần cao cả. Cần bổ sung vào đó tri thức rằng bản chất hình tướng và thể xác [111] về căn bản không phải là những điều đáng quan tâm nhất hay có tầm quan trọng lớn lao như một số người có thể nghĩ.
Various cultists and healers usually take the position that it is of major importance that the physical vehicle be rendered free from disease and clutched away from the processes of death. It might, however, be desirable (and it often is) that the disease be permitted to do its work and death open the door to the escape of the soul from imprisonment. The time comes inevitably to all incarnated beings when the soul demands liberation from the body and from form life, and nature has her own wise ways of doing this. Disease and death must be recognised as liberating factors when they come as the result of right timing by the soul. It must be realised by students that the physical form is an aggregate of atoms, built into organisms and finally into a coherent body, and that this body is held together by the will of the soul. Withdraw that will onto its own plane or (as it is occultly expressed) “let the soul’s eye turn in another direction” and, in this present cycle, disease and death will inevitably supervene. This is not mental error, or failure to recognise divinity, or succumbing to evil. It is, in reality, the resolution of the form nature into its component parts and basic essence. Disease is essentially an aspect of death. It is the process by which the material nature and the substantial form prepares itself for separation from the soul.
Những người theo các giáo phái và những người chữa lành thường cho rằng điều quan trọng hàng đầu là phải làm cho hiện thể hồng trần thoát khỏi bệnh tật và giằng nó khỏi các tiến trình của cái chết. Tuy nhiên, có thể nên để bệnh tật thực hiện công việc của nó và để cái chết mở cánh cửa cho linh hồn thoát khỏi cảnh giam cầm (và điều này thường là như vậy). Đối với mọi sinh linh đang nhập thể, tất yếu sẽ đến lúc linh hồn đòi hỏi sự giải thoát khỏi thân thể và đời sống hình tướng, và thiên nhiên có những cách thức minh triết riêng để thực hiện điều này. Cần nhìn nhận bệnh tật và cái chết là những yếu tố giải thoát khi chúng đến vào thời điểm thích hợp do linh hồn định đoạt. Các đạo sinh phải nhận ra rằng hình tướng hồng trần là một tập hợp các nguyên tử, được tổ chức thành các cơ quan và cuối cùng thành một cơ thể gắn kết, và ý chí của linh hồn giữ cơ thể này gắn kết với nhau. Khi ý chí ấy rút về cõi riêng của nó, hoặc (theo cách diễn đạt huyền bí) “để con mắt linh hồn quay sang một hướng khác”, thì trong chu kỳ hiện tại, bệnh tật và cái chết tất yếu sẽ xảy đến. Đây không phải là sai lầm trong tư tưởng, hay không nhận biết thiên tính, hay khuất phục trước điều ác. Thực ra, đó là sự phân rã của bản chất hình tướng thành các thành phần cấu tạo và tinh chất căn bản của nó. Bệnh tật về bản chất là một phương diện của cái chết. Đó là tiến trình mà qua đó bản chất vật chất và hình tướng bằng chất liệu tự chuẩn bị để tách khỏi linh hồn.
It must be borne in mind however that where there is illness or discomfort or disease which is not related to the final dissolution, the causes thereof are to be found in many factors; they can be found in the surroundings, for a number of diseases are environmental and epidemic; in the tuning in of the individual to streams of poison emanating from world hate, or from psychological complexes with some of which we have already dealt, and in the diseases [112] (if I might so call them) which are indigenous to the matter of which humanity has chosen to construct its physical vehicle, isolating it and separating it from the general substance of manifestation, and thus creating a type of matter which is consecrated to the task of forming the outer expression of the inward reality. This constitutes, therefore, a unique and peculiar aspect of the universal substance, perfected to a certain point in the last solar system and of a necessarily higher order than the substance which vibrates creatively to the call of the three subhuman kingdoms in nature.
Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng khi tình trạng đau ốm, khó chịu hay bệnh tật không liên quan đến sự tan rã cuối cùng, nguyên nhân của chúng nằm trong nhiều yếu tố; có thể tìm thấy chúng trong môi trường xung quanh, vì một số bệnh thuộc về môi trường và có tính dịch tễ; trong việc cá nhân bắt nhịp với những dòng độc hại phát ra từ lòng thù hận của thế gian, hoặc từ các phức cảm tâm lý mà chúng ta đã đề cập đến một số; và trong những căn bệnh [112] (nếu Tôi có thể gọi như vậy) vốn có sẵn trong vật chất mà nhân loại đã chọn để cấu tạo hiện thể hồng trần của mình, cô lập và tách nó khỏi chất liệu chung của sự biểu hiện, qua đó tạo ra một loại vật chất được thánh hiến cho nhiệm vụ hình thành sự biểu lộ bên ngoài của thực tại bên trong. Vì vậy, điều này tạo thành một phương diện độc đáo và đặc thù của chất liệu vũ trụ, đã được hoàn thiện đến một mức độ nhất định trong hệ mặt trời trước và tất nhiên thuộc một cấp cao hơn chất liệu rung động một cách sáng tạo trước lời kêu gọi của ba giới dưới nhân loại trong thiên nhiên.
The Causes of Disease Summarised
Tóm Lược các Nguyên Nhân của Bệnh Tật
In every occult consideration of disease it must be accepted as a basic proposition that all disease is a result of the misuse of force in some earlier life or in this. This is fundamental. In connection with this I would remind you of some statements I have earlier made on this matter.
Trong mọi sự xem xét bệnh tật theo quan điểm huyền bí, phải chấp nhận như một tiền đề căn bản rằng mọi bệnh tật đều là kết quả của việc sử dụng sai mãnh lực trong một kiếp sống trước hoặc trong kiếp này. Đây là điều nền tảng. Liên quan đến điều này, Tôi muốn nhắc các bạn nhớ một số phát biểu mà Tôi đã đưa ra trước đây về vấn đề này.
1. Ninety per cent of the causes of disease are to be found in the etheric and astral bodies. Wrong use of mental energy and misapplied desire are paramount factors, yet with the bulk of humanity still in the Atlantean stages of consciousness, only five per cent of the prevalent diseases are due to mental causes. The percentage varies with the development of the race and its evolution. Disease is therefore the working out into manifestation of undesirable, subjective conditions—vital, emotional and mental.
1. Chín mươi phần trăm nguyên nhân bệnh tật nằm trong thể dĩ thái và thể cảm dục. Việc sử dụng sai năng lượng trí tuệ và vận dụng sai dục vọng là những yếu tố hàng đầu, nhưng vì phần lớn nhân loại vẫn còn ở những giai đoạn tâm thức Atlantis, chỉ năm phần trăm các bệnh phổ biến là do nguyên nhân trí tuệ. Tỉ lệ này thay đổi theo sự phát triển và tiến hoá của nhân loại. Vì vậy, bệnh tật là sự biểu hiện ra ngoài của những tình trạng chủ quan không mong muốn—về sinh lực, cảm xúc và trí tuệ.
2. Everything concerning the health of man can be approached from three angles:
2. Mọi điều liên quan đến sức khỏe con người đều có thể tiếp cận từ ba góc độ:
a. That of the personality life...of this we are learning much. [113]
a. Góc độ đời sống phàm ngã...về điều này, chúng ta đang học hỏi được nhiều. [113]
b. That of humanity as a whole..this is beginning to be appreciated.
b. Góc độ nhân loại như một tổng thể...điều này đang bắt đầu được nhận thức đúng mức.
c. That of the planetary life....of this we can know little.
c. Góc độ sự sống hành tinh....về điều này, chúng ta chỉ có thể biết rất ít.
3. All disease is caused by lack of harmony between form and life, between soul and personality; this lack of harmony runs through all the kingdoms in nature.
3. Mọi bệnh tật đều do thiếu sự hài hòa giữa hình tướng và sự sống, giữa linh hồn và phàm ngã; sự thiếu hài hòa này xuyên suốt mọi giới trong thiên nhiên.
4. The bulk of diseases are of:
4. Phần lớn bệnh tật có:
a. Group origin.
a. Nguồn gốc nhóm.
b. The result of infection.
b. Nguồn gốc là sự lây nhiễm.
c. Malnutrition, physically, subjectively and occultly understood.
c. Nguồn gốc là sự thiếu dinh dưỡng, hiểu theo nghĩa hồng trần, chủ quan và huyền bí.
5. Diseases for the masses, for the average citizen, for the intelligentsia and for disciples differ widely and have differing fields of expression.
5. Bệnh tật của quần chúng, của người dân trung bình, của giới trí thức và của các đệ tử khác nhau rất nhiều và có những phạm vi biểu hiện khác nhau.
a. The three major groups of diseases for the first two classes are:
a. Ba nhóm bệnh chính của hai tầng lớp đầu tiên là:
Tuberculosis.
Bệnh lao.
The social diseases.
Các bệnh xã hội.
Cancer.
Ung thư.
b. The two major diseases for the intelligentsia and for disciples are:
b. Hai bệnh chính của giới trí thức và của các đệ tử là:
Heart complaints.
Các chứng bệnh tim.
Nervous diseases.
Các bệnh thần kinh.
6. Disease is a fact in nature. When this is accepted, men will begin to work with the Law of Liberation, with right thought, leading to right attitudes and orientation, and with the principle of nonresistance. Of this nonresistance, the overpowering willingness to die which is so frequently a characteristic of the final stage immediately preceding death is the lowest manifestation. It is nonresistance which psychologically governs coma. [114]
6. Bệnh tật là một sự kiện trong thiên nhiên. Khi chấp nhận điều này, con người sẽ bắt đầu làm việc với Định luật Giải Thoát, với tư tưởng đúng đắn dẫn đến những thái độ và định hướng đúng đắn, cùng nguyên khí không kháng cự. Sự sẵn lòng chết mãnh liệt, vốn thường là đặc điểm của giai đoạn cuối ngay trước cái chết, là biểu hiện thấp nhất của sự không kháng cự này. Chính sự không kháng cự chi phối trạng thái hôn mê về mặt tâm lý. [114]
7. The Law of Cause and Effect, or of Karma, governs all disease. This embraces individual, group, national and total human karma.
7. Định luật Nhân Quả, hay Nghiệp Quả, chi phối mọi bệnh tật. Điều này bao gồm nghiệp quả cá nhân, nhóm, quốc gia và toàn thể nhân loại.
If you will pause at this point and review what I have re-stated, and if you will reread and reflect upon the four Laws and the four Rules you will possess the needed groundwork upon which to proceed with our future studies, beginning with the diseases incident to the life of discipleship. Some of this I have already dealt with in the second volume of A Treatise on the Seven Rays (pages 520-625). There the approach was largely from the angle of the mystic, whereas I am here going to touch upon the problems of the accepted disciple.
Nếu tại đây các bạn dừng lại và xem xét những gì Tôi vừa trình bày lại, đồng thời đọc lại và suy ngẫm về bốn Định luật và bốn Quy luật, các bạn sẽ có nền tảng cần thiết để tiếp tục những nghiên cứu sắp tới của chúng ta, bắt đầu với những bệnh tật gắn liền với đời sống đệ tử. Tôi đã đề cập đến một phần điều này trong quyển hai của bộ Luận về Bảy Cung (trang 520-625). Ở đó, cách tiếp cận phần lớn là từ góc độ của nhà thần bí, còn ở đây Tôi sẽ đề cập đến những vấn đề của người đệ tử được chấp nhận.
4. DISEASES DUE TO THE LIFE OF DISCIPLESHIP – 4. NHỮNG BỆNH TẬT DO ĐỜI SỐNG ĐỆ TỬ
Earlier I told you that disease originated in the four following causes:
Trước đây, Tôi đã nói với các bạn rằng bệnh tật bắt nguồn từ bốn nguyên nhân sau:
1. It is the result of blocking the free life of the soul.
1. Đó là kết quả của việc ngăn trở sự sống tự do của linh hồn.
2. It is caused by three influences or sources of contamination:
2. Đó là do ba ảnh hưởng hay nguồn lây nhiễm:
a. Ancient mistakes, so-called sins and errors of the individual concerned, committed in this life or another earlier incarnation.
a. Những sai lầm xưa cũ, những điều gọi là tội lỗi và lỗi lầm của cá nhân liên quan, phạm phải trong kiếp này hoặc trong một kiếp nhập thể trước.
b. Human taints and predispositions, inherited in common with all the rest of humanity.
b. Những yếu tố bất tịnh và khuynh hướng của con người, được thừa hưởng chung với toàn thể nhân loại.
c. Planetary evil, incident to the point achieved by the planetary Logos and conditioned by planetary Karma.
c. Điều ác hành tinh, gắn liền với mức độ mà Hành Tinh Thượng đế đã đạt đến và chịu ảnh hưởng của Nghiệp Quả hành tinh.
3. It is conditioned by the forces emanating from the plane upon which the man’s consciousness is primarily focussed. [115]
3. Bệnh tật chịu ảnh hưởng của các mãnh lực phát ra từ cõi mà tâm thức con người chủ yếu tập trung vào. [115]
4. The five major types of disease, with their allied and subsidiary effects, can and do produce results where the disciple is concerned; he is not immune until after the third initiation.
4. Năm loại bệnh chính, cùng những tác động liên đới và phụ thuộc của chúng, có thể và thực sự tạo ra những hệ quả đối với người đệ tử; y chỉ miễn nhiễm sau lần điểm đạo thứ ba.
A. The Diseases of Mystics.
A. Những Bệnh Tật của các Nhà Thần Bí.
However, the disciple is seldom tubercular (except when karmically conditioned), nor is he prone to succumb to the social diseases except as they may affect him physically through his sacrificial life of service. Contagion can affect him but not seriously so. Cancer may claim him as a victim, but he is more liable to succumb to heart complaints and to nervous trouble of some kind or another. The straight mystic succumbs more to purely psychological situations connected with the integrated personality, and therefore incident to his being focussed largely on the astral plane. The disciple is more prone to mental difficulties and to those complaints which are concerned with energy and are due to fusion—either completed or in process—of soul and personality.
Tuy nhiên, người đệ tử hiếm khi mắc bệnh lao (trừ khi có sự chi phối của nghiệp quả), cũng không dễ mắc các bệnh xã hội, ngoại trừ khi chúng có thể tác động đến thể xác y qua đời sống phụng sự hi sinh của y. Sự lây nhiễm có thể ảnh hưởng đến y nhưng không nghiêm trọng. Ung thư có thể khiến y trở thành nạn nhân, nhưng y dễ mắc các chứng bệnh tim và một loại rối loạn thần kinh nào đó hơn. Nhà thần bí thuần túy dễ chịu tác động của những tình trạng hoàn toàn thuộc tâm lý gắn liền với phàm ngã tích hợp, và do đó gắn liền với việc y phần lớn tập trung trên cõi cảm dục. Người đệ tử dễ gặp những khó khăn về trí tuệ hơn, cùng những chứng bệnh liên quan đến năng lượng và do sự dung hợp—đã hoàn tất hoặc đang diễn ra—giữa linh hồn và phàm ngã.
The first cause which I listed earlier in this treatise was summed up in the statement that disease is the result of the blocking of the free life and the inpouring energy of the soul. This blockage is brought about by the mystic when he succumbs to his own thoughtforms, created constantly in response to his mounting aspiration. These become barriers between him and the free life of the soul and block his contact and the consequent resulting inflow of soul energy.
Nguyên nhân thứ nhất mà Tôi đã liệt kê trước đây trong khảo luận này được tóm tắt trong phát biểu rằng bệnh tật là kết quả của việc ngăn trở sự sống tự do và năng lượng tuôn vào của linh hồn. Nhà thần bí tạo ra sự ngăn trở này khi y khuất phục trước những hình tư tưởng của chính mình, vốn liên tục được tạo ra để đáp ứng khát vọng ngày càng tăng của y. Chúng trở thành những rào cản giữa y và sự sống tự do của linh hồn, ngăn trở sự tiếp xúc của y và dòng năng lượng linh hồn tuôn vào vốn là kết quả của sự tiếp xúc ấy.
The disciple reverses the entire situation and falls a victim (prior to the third initiation) to the terrific inflow of soul energy—the energy of the second aspect—coming to him from: [116]
Người đệ tử đảo ngược toàn bộ tình thế và trở thành nạn nhân (trước lần điểm đạo thứ ba) của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào mãnh liệt—năng lượng của phương diện thứ hai—đến với y từ: [116]
a. His own soul, with which centre of energy fusion is rapidly taking place.
a. Linh hồn của chính y, trung tâm năng lượng mà sự dung hợp với nó đang diễn ra nhanh chóng.
b. His group or the Ashram with which he, as an accepted disciple, is affiliated.
b. Nhóm của y hoặc ashram mà y liên kết với tư cách một đệ tử được chấp nhận.
c. His Master, with Whom he has spiritual relation and to Whose vibratory influence he is ever susceptible.
c. Chân sư của y, Đấng mà y có quan hệ tinh thần và luôn nhạy cảm với ảnh hưởng rung động của Ngài.
d. The Hierarchy, the energy of which can reach him through the medium of all the three above factors.
d. Thánh đoàn, mà năng lượng có thể đến với y qua cả ba yếu tố nêu trên.
All these streams of energy have a definite effect upon the centres of the disciple, according to his ray and his specific polarisation in this incarnation. As each centre is related to one or other of the glands, and these in their turn condition the blood stream, and also have a specific effect upon the organic structure within the range of their vibratory influence (i.e. the stomach, close to the solar plexus, and the heart, close to the heart centre, etc.), you will see how it is possible that the major diseases from which a disciple can suffer (which are unique and confined primarily to advanced humanity) will be the result of overstimulation or the inflow of energy to one particular centre, producing excessive and localised trouble.
Tất cả những dòng năng lượng này đều có tác động rõ rệt lên các trung tâm của người đệ tử, tùy theo cung và sự phân cực cụ thể của y trong kiếp nhập thể này. Vì mỗi trung tâm liên hệ với một tuyến nào đó, và đến lượt các tuyến này tác động lên dòng máu, đồng thời cũng có tác động cụ thể lên cấu trúc các cơ quan nằm trong phạm vi ảnh hưởng rung động của chúng (tức dạ dày gần tùng thái dương, tim gần trung tâm tim, v.v.), các bạn sẽ thấy vì sao những bệnh chính mà người đệ tử có thể mắc phải (vốn đặc thù và chủ yếu chỉ có ở bộ phận nhân loại tiến bộ) có thể là kết quả của sự kích thích quá mức hoặc dòng năng lượng tuôn vào một trung tâm cụ thể, gây ra rối loạn quá mức và cục bộ.
To these conditions the mystic is not so prone unless he is rapidly becoming the practical mystic or occultist. This is a definite transitional cycle between the mystical attitude and that more definite position which the occultist assumes. I shall not therefore deal with the diseases to which mystics fall heir, except that I would like to point out one interesting fact: The mystic is ever conscious of duality. He is the seeker in search of light, of the soul, of the beloved, of that higher something which he senses as existing and as that which can be found. He strives after recognition of and by the divine: he is the follower of the [117] vision, a disciple of the Christ, and this conditions his thinking and his aspiration. He is a devotee and one who loves the apparently unattainable—the Other than himself.
Nhà thần bí không dễ mắc những tình trạng này, trừ khi y đang nhanh chóng trở thành một nhà thần bí thực hành hay nhà huyền bí học. Đây là một chu kỳ chuyển tiếp rõ rệt giữa thái độ thần bí và lập trường xác định hơn mà nhà huyền bí học đảm nhận. Vì vậy, Tôi sẽ không bàn đến những bệnh tật mà các nhà thần bí phải chịu, ngoại trừ việc muốn chỉ ra một sự kiện thú vị: Nhà thần bí luôn có ý thức về nhị nguyên. Y là người tìm kiếm ánh sáng, linh hồn, đấng yêu dấu, một điều gì đó cao hơn mà y cảm nhận là đang hiện hữu và có thể tìm thấy. Y nỗ lực nhận biết điều thiêng liêng và được điều thiêng liêng nhận biết: y là người đi theo [117] linh ảnh, một đệ tử của Đức Christ, và điều này định hình tư tưởng cùng khát vọng của y. Y là một người sùng tín và yêu mến điều dường như không thể đạt tới—Đấng Khác với chính mình.
Only when he becomes the occultist does the mystic learn that all the time the magnet which attracted him, and the dualism which coloured his life and thoughts and which gave motive to all he sought to do, was his true self, that one Reality. He recognises then that assimilation into and identification with that one reality enables duality to be transmuted into unity and the sense of search to be transformed into the effort to become what he essentially is—a Son of God, one with all Sons of God. Having accomplished that, he finds himself one with the ONE in Whom we live and move and have our being.
Chỉ khi trở thành nhà huyền bí học, nhà thần bí mới học được rằng từ trước đến nay, nam châm thu hút y và tính nhị nguyên nhuốm màu đời sống cùng tư tưởng của y, đem lại động cơ cho mọi điều y tìm cách thực hiện, chính là bản ngã chân thực của y, Thực Tại duy nhất ấy. Khi đó, y nhận ra rằng việc hòa nhập vào và đồng hoá với thực tại duy nhất ấy cho phép chuyển hoá nhị nguyên thành nhất thể và chuyển đổi cảm thức tìm kiếm thành nỗ lực trở nên điều mà về bản chất y vốn là—một Con của Thượng đế, hợp nhất với tất cả những Người Con của Thượng đế. Khi đã hoàn thành điều đó, y thấy mình hợp nhất với ĐẤNG DUY NHẤT mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu.
Next, I would point out that the lowest expression of the mystical condition, and one with which we are becoming increasingly familiar, is that which is called a “split personality”; when this condition is present, the personal lower self expresses itself through a basic condition of duality and two persons express themselves, apparently, instead of the integrated personality-soul. This necessarily creates a dangerous psychological condition and one which warrants trained scientific handling. That is largely lacking at this time, as so few trained psychologists and psychiatrists recognise the fact of the soul. I mention this as it is of value today, and will be increasingly so in the later years when it will be necessary to trace and comprehend the analogies existing in the human consciousness to great unexplored areas of awareness. The split personality and the mystic are two aspects of one whole—the aspect which is right, and along the line of high spiritual unfoldment, and the aspect which is a reflection and a distortion of that grade of development which precedes that of trained occultist. There are many conditions prevalent in humanity [118] at this time which can be subjected to the same reasoning, and one of the modes of healing which will be worked out later is the discovery of the higher correspondences to the lower difficulties and diseases, and the recognition that they are but distortions of a great reality. This leads to the transference of the attention of the one under the care of the healer to that recognised higher aspect.
Tiếp theo, Tôi muốn chỉ ra rằng biểu hiện thấp nhất của trạng thái thần bí, và là điều chúng ta đang ngày càng quen thuộc hơn, chính là tình trạng gọi là “phàm ngã phân liệt”; khi tình trạng này hiện diện, phàm ngã cá nhân biểu lộ qua một trạng thái nhị nguyên căn bản, và dường như có hai con người biểu lộ thay vì phàm ngã–linh hồn tích hợp. Điều này tất nhiên tạo ra một tình trạng tâm lý nguy hiểm, đòi hỏi sự xử lý khoa học của người được đào tạo. Hiện nay, điều đó còn thiếu rất nhiều, vì có quá ít nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần được đào tạo thừa nhận sự kiện về linh hồn. Tôi đề cập đến điều này vì nó có giá trị hiện nay, và sẽ ngày càng có giá trị trong những năm về sau, khi cần truy tìm và thấu hiểu những sự tương đồng hiện hữu trong tâm thức con người với những lĩnh vực nhận biết rộng lớn chưa được khám phá. Phàm ngã phân liệt và nhà thần bí là hai phương diện của một tổng thể—phương diện đúng đắn, đi theo đường hướng khai mở tinh thần cao cả, và phương diện là sự phản chiếu và biến dạng của cấp độ phát triển đi trước cấp độ của nhà huyền bí học đã được huấn luyện. Hiện nay, nhiều tình trạng phổ biến trong nhân loại [118] có thể được xem xét theo cùng một lập luận, và một trong những phương pháp chữa lành sẽ được phát triển về sau là khám phá những tương ứng cao hơn của các khó khăn và bệnh tật thấp hơn, đồng thời nhận biết rằng chúng chỉ là những biến dạng của một thực tại vĩ đại. Điều này dẫn đến việc chuyển sự chú ý của người đang được người chữa lành chăm sóc sang phương diện cao hơn đã được nhận biết ấy.
The whole Science of Integration is involved in this matter. This science, if properly understood, will open up an entirely new field of psychological approach to disease, whether physiological or nervous. A small beginning has already been made along this line by spiritually minded psychologists and educators. The system of helping people psychologically is definitely along these new lines, and might be expressed as follows: the average psychologist employs the method (when dealing with nervous cases, with those on the borderland, and with neurotically inclined people) of discovering the deep-seated complexes, the scars, the ancient shocks or the fears which lie behind the experience of the present and which have made the man what he is today. These conditioning factors can usually be traced back to the subconscious by the process of unearthing the past, of taking into consideration the present environment, of reckoning with heredity, and of studying the effects of education—either academic or based upon life itself. Then the factor which has been a major handicap, and which has turned the man into a psychological problem, is brought (with his assistance, if possible) to the surface of his consciousness, is then intelligently explained and related to the existing condition, and the man is consequently brought to an understanding of his personality, its problems and its impending opportunity.
Toàn bộ Khoa Học Tích Hợp có liên quan đến vấn đề này. Nếu được thấu hiểu đúng đắn, khoa học này sẽ mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới trong cách tiếp cận bệnh tật về mặt tâm lý, dù là bệnh sinh lý hay thần kinh. Một bước khởi đầu nhỏ theo hướng này đã được các nhà tâm lý học và nhà giáo dục có khuynh hướng tinh thần thực hiện. Phương thức giúp đỡ con người về mặt tâm lý rõ ràng đang đi theo những đường hướng mới này, và có thể diễn đạt như sau: nhà tâm lý học trung bình sử dụng phương pháp (khi xử lý các trường hợp thần kinh, những người ở trạng thái ranh giới và những người có khuynh hướng loạn thần kinh) khám phá những phức cảm ăn sâu, những vết thương, những cú sốc xa xưa hay những nỗi sợ nằm sau trải nghiệm hiện tại và đã khiến con người trở thành như hôm nay. Thông thường, có thể truy những yếu tố định hình này về tiềm thức bằng tiến trình khai quật quá khứ, xem xét môi trường hiện tại, tính đến tính di truyền và nghiên cứu các tác động của giáo dục—dù là giáo dục học đường hay từ chính cuộc sống. Sau đó, yếu tố từng là trở ngại lớn và đã biến người ấy thành một vấn đề tâm lý được đưa lên bề mặt tâm thức của y (với sự trợ giúp của y, nếu có thể), rồi được giải thích một cách sáng suốt và liên hệ với tình trạng hiện có; nhờ đó, người ấy đi đến sự thấu hiểu phàm ngã của mình, những vấn đề và cơ hội sắp tới của nó.
The spiritual technique, however, is entirely different. The personality problem and the process of delving into [119] the subconscious are ignored, because the conditions which are undesirable are regarded as the result of lack of soul contact and of soul control. The patient (if I might so call him) is taught to take his eyes, and consequently his attention, away from himself, his feelings, his complexes and his fixed ideas and undesirable thoughts, and to focus them upon the soul, the divine Reality within the form, and the Christ consciousness. This could well be called the process of scientific substitution of a fresh dynamic interest for that which has hitherto held the stage; it brings into functioning activity a cooperative factor whose energy sweeps through the lower life of the personality and carries away wrong psychological tendencies, undesirable complexes, leading to erroneous approaches to life. This eventually regenerates the mental or thought life, so that the man is conditioned by right thinking under the impulse or the illumination of the soul. This produces the “dynamic expulsive power of a new affection”; the old idées fixes, the old depressions and miseries, the hindering and handicapping ancient desires—these all disappear, and the man stands free as a soul and master of his life processes.
Tuy nhiên, kỹ thuật tinh thần hoàn toàn khác. Vấn đề phàm ngã và tiến trình đào sâu vào [119] tiềm thức được gác sang một bên, vì những tình trạng không mong muốn được xem là kết quả của việc thiếu sự tiếp xúc với linh hồn và thiếu sự kiểm soát của linh hồn. Bệnh nhân (nếu Tôi có thể gọi y như vậy) được dạy chuyển ánh mắt, và do đó cả sự chú ý, ra khỏi chính mình, những cảm xúc, phức cảm, ý tưởng cố hữu và tư tưởng không mong muốn của mình, rồi tập trung vào linh hồn, Thực Tại thiêng liêng bên trong hình tướng và tâm thức Christ. Có thể gọi đây là tiến trình thay thế một cách khoa học điều từ trước đến nay chiếm vị trí trung tâm bằng một mối quan tâm mới đầy sức sống; tiến trình ấy đưa vào hoạt động một yếu tố hợp tác mà năng lượng của nó quét qua đời sống thấp của phàm ngã và cuốn đi những khuynh hướng tâm lý sai lạc, những phức cảm không mong muốn dẫn đến những cách tiếp cận đời sống sai lầm. Cuối cùng, điều này tái sinh đời sống trí tuệ hay tư tưởng, để tư duy đúng đắn dưới xung động hoặc sự soi sáng của linh hồn định hình con người. Điều này tạo ra “quyền năng tống xuất mãnh liệt của một tình cảm mới”; những ý tưởng cố hữu xưa cũ, những nỗi trầm uất và khổ sở cũ, những dục vọng xa xưa gây cản trở và chướng ngại—tất cả đều biến mất, và con người đứng vững trong tự do với tư cách một linh hồn và người làm chủ các tiến trình sống của mình.
I have discussed these two conditions at length because it is essential that another law anent healing be understood before we proceed any further. The discussion about the split personality, the problems of the mystic and the new mode of approach to disease (from the soul angle and the realm of causes, instead of from the personality angle and the realm of effects) can clarify this law in your minds and indicate at least its reasonableness and its valuable application to human need.
Tôi đã thảo luận dài về hai tình trạng này vì điều thiết yếu là phải thấu hiểu thêm một định luật về chữa lành trước khi chúng ta tiến xa hơn. Việc thảo luận về phàm ngã phân liệt, những vấn đề của nhà thần bí và phương thức mới tiếp cận bệnh tật (từ góc độ linh hồn và lĩnh vực nguyên nhân, thay vì từ góc độ phàm ngã và lĩnh vực hệ quả) có thể làm sáng tỏ định luật này trong thể trí các bạn và ít nhất cho thấy tính hợp lý cùng giá trị ứng dụng của nó đối với nhu cầu con người.
LAW IV
ĐỊNH LUẬT IV
Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful and the true. It is but a distorted [120] refection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction. Upon this point the eyes of the personality are focussed, and this leads to disease.
Bệnh tật, cả về thể chất lẫn tâm lý, đều bắt nguồn từ điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Đó chỉ là một sự phản chiếu méo mó [120] của những khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, khi tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra một điểm ma sát trong chất liệu của những lớp vỏ bao bọc mình. Đôi mắt của phàm ngã tập trung vào Điểm này, và điều ấy dẫn đến bệnh tật.
The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force, and all is well.
Nghệ thuật của người chữa lành liên quan đến việc nâng đôi mắt đang tập trung xuống dưới hướng lên linh hồn, Đấng Chữa Lành bên trong hình tướng. Khi ấy, con mắt tinh thần, hay con mắt thứ ba, điều khiển mãnh lực chữa lành và mọi sự đều ổn thỏa.
B. Diseases of Disciples.
B. Những Bệnh Tật của các Đệ Tử.
We will divide what we have to say anent the diseases of disciples into two parts: the specific problems of all disciples, and the difficulties incident to soul contact.
Chúng ta sẽ chia những điều cần nói về bệnh tật của các đệ tử thành hai phần: những vấn đề đặc thù của mọi đệ tử, và những khó khăn gắn liền với sự tiếp xúc linh hồn.
We need here to remember that all disciples are susceptible to the major categories of disease. They are attempting to be one with all humanity, and this includes, therefore, all the ills to which flesh is heir. They may not, however, succumb to the frailties of the ordinary man, and should remember that diseases of the heart and of the nerves constitute their major problem. In this connection it might be pointed out that the disciples are found in two major groups: Those who live above the diaphragm and who are, therefore, prone to heart diseases, to thyroid and throat troubles, and those who are in process of transferring the energies of the centres below the diaphragm into the centres above the diaphragm. Most of these at this time are transferring solar plexus energies into the heart, and the world agony is profoundly hastening the process. Stomachic, liver and respiratory troubles accompany this transference.
Ở đây, chúng ta cần nhớ rằng mọi đệ tử đều có thể mắc các nhóm bệnh chính. Họ đang cố gắng hợp nhất với toàn thể nhân loại, và do đó, điều này bao gồm mọi bệnh tật mà thân xác phải chịu. Tuy nhiên, họ có thể không khuất phục trước những yếu đuối của người bình thường, và cần nhớ rằng các bệnh về tim và thần kinh tạo thành vấn đề chính của họ. Về điều này, có thể chỉ ra rằng các đệ tử thuộc hai nhóm chính: Những người sống trên cơ hoành và vì vậy dễ mắc bệnh tim, những rối loạn tuyến giáp và cổ họng; và những người đang trong tiến trình chuyển dịch năng lượng của các trung tâm dưới cơ hoành lên những trung tâm trên cơ hoành. Phần lớn những người thuộc nhóm sau hiện đang chuyển dịch năng lượng tùng thái dương vào tim, và nỗi thống khổ của thế giới đang thúc đẩy tiến trình này một cách sâu sắc. Những rối loạn dạ dày, gan và hô hấp đi kèm sự chuyển dịch này.
1. The Specific Problems of Disciples.
1. Những Vấn Đề Đặc Thù của các Đệ Tử.
These special problems are, as you know, peculiar to those who have lifted themselves in consciousness out of the life of the personality into that of the soul. They [121] are primarily related to energy, its inflow, its assimilation or non-assimilation, and its rightly directed use. The other ills to which all flesh is heir at this time in human evolution (for it must be remembered that diseases vary according to the point in evolution and are also cyclic in their appearance), and to which disciples can and do succumb, are not dealt with here; suffice it to say that the three major diseases of humanity to which reference has been made take their toll of disciples, particularly in bringing about the liberation of the soul from its vehicle. They are, however—little as it may appear—controlled in these cases from soul levels, and the departure is planned to take place as a result of soul decision, and not as a result of the efficiency of the disease. The reason that these three major diseases, indigenous to the planetary life in which we live and move and have our being, have this power over disciples is that disciples are themselves an integral part of the planetary life, and in the earlier stages of their recognition of this unity they are prone to fall a ready prey to the disease. This is a fact little known or realised, but explains why disciples and advanced people are susceptible to these diseases.
Như các bạn biết, những vấn đề đặc biệt này chỉ xảy ra với những người đã nâng tâm thức mình từ đời sống phàm ngã lên đời sống linh hồn. Chúng [121] chủ yếu liên quan đến năng lượng, dòng năng lượng đi vào, sự đồng hóa hay không đồng hóa năng lượng, và việc sử dụng năng lượng theo hướng đúng đắn. Những bệnh tật khác mà mọi thân xác đều phải chịu vào thời điểm này trong tiến hoá nhân loại (vì cần nhớ rằng bệnh tật thay đổi tùy theo điểm tiến hoá và cũng xuất hiện theo chu kỳ), và các đệ tử có thể mắc phải và thực sự vẫn mắc phải, không được bàn đến ở đây; chỉ cần nói rằng ba căn bệnh chính của nhân loại đã được đề cập cũng gây tổn thất cho các đệ tử, đặc biệt qua việc giải phóng linh hồn khỏi hiện thể của nó. Tuy nhiên, trong những trường hợp này—dù bề ngoài ít cho thấy điều đó—các căn bệnh ấy chịu sự kiểm soát từ các cấp độ linh hồn, và sự ra đi đã được dự định sẽ diễn ra do quyết định của linh hồn, chứ không phải do sức tác hại của bệnh tật. Lý do ba căn bệnh chính này, vốn có trong sự sống hành tinh mà chúng ta sống, vận động và hiện hữu trong đó, có quyền lực như vậy đối với các đệ tử là vì chính các đệ tử cũng là một phần không thể tách rời của sự sống hành tinh; trong những giai đoạn đầu nhận biết sự hợp nhất này, họ dễ trở thành nạn nhân của bệnh tật. Đây là một sự thật ít người biết đến hay nhận ra, nhưng nó giải thích vì sao các đệ tử và những người tiến hoá cao lại dễ mắc những căn bệnh này.
We could divide these problems into four categories:
Chúng ta có thể chia những vấn đề này thành bốn loại:
1. Those which are connected with the blood or with the life aspect, for “the blood is the life.” These have specific effect upon the heart, but usually of a functional nature only. Organic disease of the heart arises in more deeply seated causes.
1. Những vấn đề liên quan đến máu hay phương diện sự sống, vì “máu là sự sống”. Chúng có tác động đặc thù lên tim, nhưng thường chỉ về mặt chức năng. Bệnh tim thực thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa hơn.
2. Those which are a direct effect of energy, playing upon and through the nervous system, via the directing brain.
2. Những vấn đề là tác động trực tiếp của năng lượng, tác động lên và xuyên qua hệ thần kinh, thông qua bộ não chỉ huy.
3. Those which are related to the respiratory system and have an occult source.
3. Những vấn đề liên quan đến hệ hô hấp và có nguồn gốc huyền bí.
4. Those which are specifically due to the receptivity or the non-receptivity, to the functioning or the non-functioning, [122] and to the influence of the centre. Necessarily, these fall into seven groups, affecting seven major areas of the body. For the average disciple, before there is complete soul control and monadic direction, the major directing agent, via the brain, is the vagus nerve, along which the energies (entering via the head centre) are distributed to the rest of the body. A definite science of the centres and their relation to kundalini has been built up by a certain powerful esoteric school in the orient. It has in it much truth, but also much error.
4. Những vấn đề đặc biệt phát sinh do khả năng tiếp nhận hay không tiếp nhận, sự hoạt động hay không hoạt động, [122] và ảnh hưởng của trung tâm. Tất nhiên, chúng được chia thành bảy nhóm, tác động lên bảy vùng chính của cơ thể. Đối với đệ tử trung bình, trước khi có sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn và sự chỉ đạo của chân thần, tác nhân chỉ huy chính, thông qua bộ não, là dây thần kinh phế vị; dọc theo dây này, các năng lượng (đi vào qua trung tâm đầu) được phân phối đến phần còn lại của cơ thể. Một trường phái nội môn hùng mạnh ở phương Đông đã xây dựng một ngành khoa học rõ rệt về các trung tâm và mối liên hệ của chúng với kundalini. Trong đó có nhiều chân lý, nhưng cũng có nhiều sai lầm.