Do not forget that, though the work is being carried forward in three fields of human thought and activity, the net result is one directed effort towards the production of synthesis and a great preparatory drive towards a revelation of such wonder that I cannot yet detail it. Recognition of its truth is dependent upon inner growth and illumination, and this growth is being speeded up, leading to an easier recognition of that which is on the way. Remember, revelation seldom [179] comes along the expected lines. There will be a pouring in of light upon mankind which will alter his conditions of living, change his outlook upon world affairs, and inaugurate a new age which will be distinguished by an aptitude for group synthesis and cooperation, and by new mental powers, leading to a re-orientation of the mind so that it can function with equal facility in two directions. It will be able to turn outward into the world of manifested forms, and inward into the world of synthesis, of unity and of spirit. There will be a fresh attitude towards life which will evidence itself in a better sense of values, for life will have a meaning hitherto unknown, and we shall have an interpretation of that meaning which will enrich our daily experience. Towards this end all true workers are now bending every effort.
Đừng quên rằng, mặc dù công việc đang được thực hiện trong ba lĩnh vực tư tưởng và hoạt động của con người, kết quả chung cuộc là một nỗ lực được chỉ đạo hướng tới việc tạo ra sự tổng hợp và một động lực chuẩn bị lớn hướng tới một sự mặc khải kỳ diệu đến mức tôi chưa thể trình bày chi tiết về nó. Sự công nhận chân lý của nó phụ thuộc vào sự tăng trưởng và soi sáng bên trong, và sự tăng trưởng này đang được tăng tốc, dẫn đến sự công nhận dễ dàng hơn về cái đang trên đường đến. Hãy nhớ rằng, sự mặc khải hiếm khi [179] đến theo các con đường được mong đợi. Sẽ có một sự tuôn đổ ánh sáng vào nhân loại vốn sẽ thay đổi các điều kiện sống của con người, thay đổi cách nhìn của con người về các vấn đề thế giới, và khai mạc một kỷ nguyên mới được đạc trưng bởi một khả năng tổng hợp và hợp tác nhóm, bởi các quyền năng trí tuệ mới, dẫn đến một sự tái định hướng của tâm trí để nó có thể hoạt động với sự dễ dàng như nhau theo hai hướng. Nó sẽ có thể hướng ra bên ngoài vào thế giới của các hình tướng biểu hiện, và hướng vào bên trong vào thế giới của sự tổng hợp, của sự hợp nhất và của tinh thần. Sẽ có một cách nhìn mới mẻ về cuộc sống, cách nhìn này sẽ biểu lộ qua khả năng đánh giá giá trị tốt hơn, bởi vì cuộc sống sẽ mang một ý nghĩa cho đến nay chưa từng được biết đến, và chúng ta sẽ có cách hiểu về ý nghĩa ấy để làm phong phú thêm kinh nghiệm hằng ngày của mình. Mọi người hoạt động chân chính hiện đang nỗ lực hết mình vì mục đích này.
Earlier in this treatise I referred to the areas of doubt which now exist in man’s mind, and I should like briefly to refer to the three major areas which—when cleared up—will facilitate the bringing in of the new age with its new civilisations, new sciences and new religion. There are three problems which the next few years will see well on the way towards an intelligent solution in the minds of the most conservative, but which will be regarded as definitely solved by the intuitive and illumined. These three problems might be regarded as constituting the three main objectives in the fields of science, of politics and of religion. With their solution will come the more rapid success of the world problems of government, of faith and of matter. Please note the distinction and significance of these last three words.
Trước đây trong luận thuyết này, tôi đã nhắc đến những lĩnh vực mà con người hiện đang còn hoài nghi, và giờ tôi muốn đề cập ngắn gọn đến ba lĩnh vực chính—khi chúng được làm rõ—sẽ tạo thuận lợi cho việc khai mở thời đại mới cùng với các nền văn minh mới, khoa học mới và tôn giáo mới. Trong vài năm tới, có ba vấn đề sẽ đạt được tiến triển đáng kể trên con đường đi tới giải pháp thông minh ngay cả trong tâm trí những người bảo thủ nhất, trong khi những người có trực giác và được khai sáng sẽ xem chúng như đã được giải quyết hoàn toàn. Ba vấn đề này có thể được coi là ba mục tiêu chính trong các lĩnh vực khoa học, chính trị và tôn giáo. Khi chúng được giải quyết, các vấn đề thế giới về chính quyền, về đức tin và về vật chất sẽ đạt được thành công nhanh chóng hơn. Hãy lưu ý sự khác biệt và tầm quan trọng của ba từ cuối cùng này.
THE PROBLEM OF IDEAS
VẤN ĐỀ CÁC Ý TƯỞNG
In the final analysis, the main problem of world government is the wise use of ideas. It is here that the power of [180] speech makes itself felt, just as in the department of religion or of education the power of the written word, of the printed page, is felt. In the field of politics, the masses are swayed by their orators, and never more so than now through the use of the radio. Great ideas are dinned into the ear of the public without cessation—theories as to dictatorship, communism, nazism, fascism, marxism, nationalism, and democratic ideals. Methods of rule by this or that group of thinkers are presented to the public, leaving them no time for consideration, or for clear thinking. Racial antipathies are spread, and personal preferences and illusions find expression, bringing about the deception of the unthinking. The man who has a golden tongue, the man who has the gift of playing with words and can voice with emphasis people’s grievances, the juggler in statistics, the fanatic with a certain and sure cure for social ills, and the man who loves to fan race hatreds, can ever get a following. Such men can with facility upset the balance of the community and lead a body of unthinking adherents to a transient success and power, or to obloquy and oblivion.
Xét cho cùng, vấn đề chính của chính quyền thế giới là việc sử dụng khôn ngoan các ý tưởng. Chính ở đây sức mạnh của lời nói tự thể hiện, cũng như trong lĩnh vực tôn giáo hay giáo dục, sức mạnh của từ ngữ viết, của trang sách in, được cảm nhận. Trong lĩnh vực chính trị, các đám đông bị lung lạc bởi các nhà hùng biện của họ, và chưa bao giờ như thế này thông qua việc sử dụng đài phát thanh. Các ý tưởng vĩ đại không ngừng được đập vào tai công chúng—các học thuyết về chủ nghĩa độc tài, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa dân tộc, và các lý tưởng dân chủ. Các phương pháp cai trị của nhóm tư tưởng này hay nhóm tư tưởng khác được trình bày cho công chúng, không để cho họ có thời gian cân nhắc, hay suy nghĩ trong sáng. Sự thù địch chủng tộc được lan truyền, sở thích cá nhân cùng ảo tưởng tìm thấy sự biểu lộ, mang lại sự lừa dối cho những người thiếu suy nghĩ. Người có chiếc lưỡi vàng, người có tài chơi chữ và có thể mạnh mẽ lên tiếng về những bất bình của dân chúng, kẻ tung hứng với số liệu thống kê, người cuồng tín với liệu pháp chắc chắn cho các tệ nạn xã hội, và người thích kích động sự căm ghét chủng tộc, luôn có thể thu hút được đám đông theo mình. Những người như vậy có thể dễ dàng phá vỡ sự cân bằng của cộng đồng và dẫn dắt một đám tín đồ thiếu suy xét đến sự thành công và quyền lực nhất thời, hoặc đến sự ô nhục và lãng quên.
In the aggregate of this play with ideas, and in the constant impact upon the human consciousness of the great concepts which lie back of our evolutionary process, the race is developing the power to think, to choose, and to build a sure foundation. Through the evolutionary presentation of these ideas there is a steady march towards a liberty of thought (through the old method of experiment, of discard, and of renewed effort with ever newer concepts) which will enable mankind to build true to the great thought patterns which underlie the outer structure of our world. The attentive minds of the age are constantly being made sensitive to these patterns, so that the individual mind can recognise them and wrest them out of the darkness into the light of day. Thus [181] will the true patterns be made available, to play their part in leading the race towards its destiny, towards those deeper realisations which mould the racial types, and to that synthesis of understanding which will result in a realisation of Brotherhood. Thus thoughts play their part, and the problem of ideas will be increasingly understood, until the time may come when we shall have our trained intuitives and thinkers who will be able to work directly in the world of concepts and bring through (for the use of the race) the pattern ideas upon which to build. In saying this I realise that I may be accused of romancing and of communicating the impossible; but time will demonstrate the truth of that which I predict. The world structure emerges from and is built upon certain inner thought patterns, and it is these thought patterns which are producing the present flood of governmental experiments among all nations. But today there is no training given upon the process of contacting the world of patterns and upon the true interpretation of ideas, and hence the problems. Later, when the race sees its problem with clarity, it will act with wisdom and train with care its Observers and Communicators. These will be men and women in whom the intuition has awakened at the behest of an urgent intellect; they will be people whose minds are so subordinated to the group good, and so free from all sense of separativeness, that their minds present no impediment to the contact with the world of reality and of inner truth. They will not necessarily be people who could be termed “religious” in the ordinary sense of that word, but they will be men of good will, of high mental calibre, with minds well stocked and equipped; they will be free from personal ambition and selfishness, animated by love of humanity and by a desire to help the race. Such a man is a spiritual man. [182]
Trong tổng thể của cuộc chơi với các ý tưởng này, và trong tác động liên tục lên tâm thức nhân loại của những khái niệm vĩ đại nằm đằng sau tiến trình tiến hóa của chúng ta, nhân loại đang phát triển quyền năng để suy nghĩ, để lựa chọn, và để xây dựng một nền tảng chắc chắn. Thông qua sự trình bày mang tính tiến hóa của những ý tưởng này, có một tiến trình vững chắc hướng tới sự tự do tư tưởng (thông qua phương pháp cũ của thử nghiệm, của loại bỏ, và của nỗ lực đổi mới với những khái niệm ngày càng mới hơn), điều này sẽ cho phép nhân loại xây dựng đúng theo những mô hình tư tưởng vĩ đại nằm bên dưới cấu trúc bên ngoài của thế giới chúng ta. Những tâm trí đang chăm chú của thời đại liên tục được làm cho nhạy cảm với những mô hình này, để tâm trí cá nhân có thể nhận ra chúng và giật lấy chúng ra khỏi bóng tối để đưa vào ánh sáng ban ngày. Do đó [181] các mô hình chân thực sẽ trở nên khả dụng, để đóng vai trò của chúng trong việc dẫn dắt nhân loại hướng tới vận mệnh của nó, hướng tới những sự chứng nghiệm sâu sắc hơn vốn định hình các loại hình chủng tộc, và tới sự tổng hợp của sự thấu hiểu vốn sẽ dẫn đến một sự chứng nghiệm về Tình Huynh Đệ. Như vậy các tư tưởng đóng vai trò của chúng, và vấn đề các ý tưởng sẽ ngày càng được thấu hiểu, cho đến khi thời điểm đến khi chúng ta sẽ có những nhà trực giác và tư tưởng gia được huấn luyện, những người sẽ có thể làm việc trực tiếp trong thế giới của các khái niệm, mang lại (cho nhân loại sử dụng) những ý tưởng mô hình để xây dựng dựa trên đó. Khi nói điều này, tôi nhận ra rằng tôi có thể bị cáo buộc là mơ mộng và truyền đạt những điều không thể; nhưng thời gian sẽ chứng minh sự thật của điều mà tôi tiên đoán. Cấu trúc thế giới xuất lộ từ, và được xây dựng dựa trên, những mô hình tư tưởng bên trong nào đó, và chính những mô hình tư tưởng này đang tạo ra làn sóng các thử nghiệm về chính quyền hiện nay giữa tất cả các quốc gia. Nhưng ngày nay không có sự huấn luyện nào được đưa ra về tiến trình tiếp xúc với thế giới của các mô hình và về sự diễn giải đúng đắn các ý tưởng, và do đó nảy sinh các vấn đề. Sau này, khi nhân loại nhìn thấy vấn đề của mình một cách rõ ràng, họ sẽ hành động với sự minh triết và huấn luyện cẩn thận các Nhà Quan Sát và Nhà Giao Tiếp của mình. Đây sẽ là những người mà trực giác của họ đã được đánh thức bởi một trí tuệ mãnh liệt đang tìm kiếm; họ sẽ là những người hoàn toàn đặt lợi ích chung lên trên, và hoàn toàn thoát khỏi ý thức tách biệt, đến nỗi tâm trí họ không còn rào cản nào khi tiếp xúc với thế giới thực tại và chân lý bên trong. Họ không nhất thiết phải là những người 'tôn giáo' theo nghĩa thông thường, mà sẽ là những người có thiện chí, có trí tuệ cao, với kiến thức uyên bác và tâm trí được đào tạo bài bản; họ không có tham vọng cá nhân hay sự ích kỷ, được thúc đẩy bởi tình yêu thương nhân loại và khát khao giúp đỡ chủng tộc. Một người như vậy mới thật sự là người tinh thần. [182]
THE PROBLEM OF GOD
VẤN ĐỀ VỀ THƯỢNG ĐẾ
In the world of religion we shall see the solution of the second problem, and the ridding of the human consciousness of another area of doubt. The fact of God will be established and men’s questioning in this respect will end. Such a God will not be a national or a racial God; not Christian, Hindu or Buddhist. Such a God will not be a figment of man’s creative imagination or an extension of his own consciousness, but a Deity of essential life, who is the sum total of all energies; the energy of life itself, the energy of love, the energy of intelligence, of active experience, and that energy which produces the interplay between the seen and the unseen; a God most surely transcendent, but at the same time most assuredly immanent; a God of such immensity that the Heavens proclaim Him, and so intimate that the humblest child can recognise Him.
Trong thế giới tôn giáo, chúng ta sẽ thấy giải pháp cho vấn đề thứ hai, và việc loại bỏ khỏi tâm thức con người một vùng nghi vấn khác. Sự thật về Thượng đế sẽ được thiết lập và sự thắc mắc của con người về phương diện này sẽ chấm dứt. Một Thượng đế như vậy sẽ không phải là một Thượng đế của quốc gia hay chủng tộc; không phải là Cơ đốc giáo, Ấn Độ giáo hay Phật giáo. Một Thượng đế như vậy sẽ không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng sáng tạo của con người hay một sự mở rộng của tâm thức chính y, mà là một Thượng đế của sự sống thiết yếu, Ngài là tổng thể của mọi năng lượng; năng lượng của chính sự sống, năng lượng của tình thương, năng lượng của trí tuệ, của kinh nghiệm tích cực, và năng lượng đó tạo ra sự tương tác giữa cái hữu hình và cái vô hình; một Thượng đế chắc chắn siêu việt, nhưng đồng thời cũng chắc chắn nội tại; một Thượng đế bao la đến mức các Tầng Trời tuyên xưng Ngài, và gần gũi đến mức đứa trẻ khiêm nhường nhất cũng có thể nhận ra Ngài.
How can this be? you ask. I give a simple reply to your question, and yet one so scientific and so profound in meaning that only when it is realised to be a fact in a natural process will it be appreciated with accuracy. Out of the flesh God will be seen and known, yet with the eye of the inner vision can God be seen even when a man is occupying a body of flesh. Not with the physical eye can Deity be seen, though the hallmark of divinity is everywhere. There is an eye which can be developed and used, and which will enable its possessor to see God working on the inner side of Life, within Himself and within all forms, for “when thine eye is single, thy whole body is full of light.” In that light shall we see light, and so see God. The three words: electricity, light and life, express divinity, and their synthesis is God. When we know the three as one in our own experience, then we know God. The lowest aspect we are now using, and of it we are [183] increasingly aware. The second aspect of light is on the point of revelation, through the right understanding of electrical phenomena. There lies the clue to the new age, the age of light, of illumination and of revelation. The esotericists of the world will understand a little of that to which I refer, and in their hands lies the training of humanity so that men may use that true vision and learn to utilise the “single eye.” I would have you note, however, that the majority of true esotericists are found outside, and not within, the bulk of the schools which call themselves esoteric.
Các bạn hỏi làm sao điều này có thể xảy ra? Tôi đưa ra một câu trả lời đơn giản cho câu hỏi của các bạn, nhưng lại mang ý nghĩa khoa học và sâu sắc đến mức chỉ khi nó được chứng nghiệm là một sự thật trong một tiến trình tự nhiên thì nó mới được đánh giá chính xác. Thượng đế sẽ được nhìn thấy và được biết đến Bên ngoài xác thịt, tuy nhiên với con mắt của linh thị bên trong, Thượng đế có thể được nhìn thấy ngay cả khi một người đang chiếm hữu một thể xác. Không phải với con mắt vật lý mà Thượng đế có thể được nhìn thấy, mặc dù dấu ấn của thiên tính có ở khắp mọi nơi. Có một con mắt có thể được phát triển và sử dụng, và nó sẽ cho phép người sở hữu nó nhìn thấy Thượng đế đang làm việc ở phía bên trong của Sự Sống, bên trong Bản thân Ngài và bên trong tất cả các hình tướng, vì "khi mắt ngươi duy nhất, toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng." Trong ánh sáng đó, chúng ta sẽ thấy ánh sáng, và do đó thấy Thượng đế. Ba từ: điện, ánh sáng và sự sống, diễn đạt thiên tính, và sự tổng hợp của chúng là Thượng đế. Khi chúng ta biết ba điều này là một trong kinh nghiệm của chính mình, thì chúng ta biết Thượng đế. Chúng ta hiện đang sử dụng phương diện thấp nhất, và chúng ta [183] ngày càng nhận thức về nó rõ hơn. Phương diện thứ hai của ánh sáng đang ở điểm mặc khải, thông qua sự thấu hiểu đúng đắn về các hiện tượng điện. Ở đó có manh mối cho kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ánh sáng, của sự soi sáng và của sự mặc khải. Các nhà bí truyền học của thế giới sẽ hiểu một chút về điều mà tôi đề cập đến, và trong tay họ nắm giữ sự huấn luyện nhân loại để con người có thể sử dụng tầm nhìn chân thực đó và học cách sử dụng "con mắt duy nhất." Tuy nhiên, tôi muốn các bạn lưu ý rằng đa số các nhà bí truyền học chân chính được tìm thấy bên ngoài, chứ không phải bên trong, phần lớn các trường phái tự xưng là bí truyền.
THE PROBLEM OF IMMORTALITY
VẤN ĐỀ VỀ SỰ BẤT TỬ
The third area of doubt,—doubt as to the fact of immortality—will be solved before long in the realm of science, as the result of scientific investigation. Certain scientists will accept the hypothesis of immortality as a working basis upon which to base their search, and they will enter upon that search with a willingness to learn, a readiness to accept and a desire to formulate conclusions based upon reiterated evidence. These conclusions will, in their turn, form the basis for another hypothesis. Within the next few years the fact of persistence and of the eternity of existence will have advanced out of the realm of questioning into the realm of certainty. The problem will have shifted further back. There will be no question in anyone’s mind that the discarding of the physical body will leave a man still a conscious living entity. He will be known to be perpetuating his existence in a realm lying behind the physical. He will be known to be still alive, awake and aware. This fact will be demonstrated in several ways. The development of a power within the physical eye of a human being (a power which has always been there, but which has been very little used) will reveal the etheric body, the “double,” as it is sometimes called; and men [184] will be seen occupying that body in some definite spatial area whilst their dead or disintegrating physical body has been left behind. Then again, the growth in the number of those people who have the power to use the “single eye,” sometimes called the “reawakened third eye,” will also add to the demonstration of the truth of immortality, for they will with facility see the man who has discarded his etheric body as well as his physical body. By the very weight of their numbers, and by the reputability of their position, they will carry their point. Through a discovery also in the field of photography, now being investigated, will the fact of survival be proven. Through the use of the radio by those who have passed over will communication be eventually set up, and reduced to a true science.
Vùng nghi vấn thứ ba,—nghi vấn về sự thật của sự bất tử—sẽ sớm được giải quyết trong lĩnh vực khoa học, như là kết quả của cuộc nghiên cứu khoa học. Một số nhà khoa học sẽ chấp nhận giả thuyết về sự bất tử như một cơ sở làm việc để dựa vào đó tiến hành cuộc tìm kiếm của họ, và họ sẽ bước vào cuộc tìm kiếm đó với sự sẵn lòng học hỏi, sẵn sàng chấp nhận và mong muốn hình thành các kết luận dựa trên bằng chứng được lặp đi lặp lại. Những kết luận này, đến lượt chúng, sẽ hình thành cơ sở cho một giả thuyết khác. Trong vài năm tới, sự thật về sự tồn tại dai dẳng và tính vĩnh cửu của sự tồn tại sẽ tiến từ lĩnh vực thắc mắc sang lĩnh vực chắc chắn. Vấn đề sẽ được đẩy lùi xa hơn về phía sau. Sẽ không còn câu hỏi nào trong tâm trí bất kỳ ai rằng việc loại bỏ cơ thể xác thịt sẽ còn lại một con người vẫn là một thực thể sống có ý thức. Y sẽ được biết đến là đang duy trì sự tồn tại của mình trong một cõi giới nằm phía sau cõi hồng trần. Y sẽ được biết đến là vẫn đang sống, tỉnh thức và nhận biết. Sự thật này sẽ được chứng minh theo nhiều cách. Sự phát triển của một quyền năng bên trong con mắt vật lý của con người (một quyền năng luôn ở đó, nhưng rất ít được sử dụng) sẽ tiết lộ thể dĩ thái, hay "bản sao," như nó đôi khi được gọi; và con người [184] sẽ được nhìn thấy đang chiếm hữu cơ thể đó trong một khu vực không gian xác định nào đó trong khi cơ thể xác thịt đã chết hoặc đang phân hủy của họ bị bỏ lại phía sau. Sau đó, một lần nữa, sự gia tăng số lượng những người có quyền năng sử dụng "con mắt duy nhất," đôi khi được gọi là "con mắt thứ ba được đánh thức lại," cũng sẽ thêm vào sự chứng minh cho chân lý về sự bất tử, vì họ sẽ dễ dàng nhìn thấy người đã loại bỏ thể dĩ thái cũng như thể xác của mình. Bằng chính sức nặng về số lượng của họ, và bằng uy tín về vị thế của họ, họ sẽ thuyết phục được quan điểm của mình. Thông qua một khám phá cũng trong lĩnh vực nhiếp ảnh, hiện đang được nghiên cứu, sự thật về sự tồn tại sau chết sẽ được chứng minh. Thông qua việc sử dụng radio bởi những người đã qua đời, sự giao tiếp cuối cùng sẽ được thiết lập, và được đưa về một khoa học chân chính.
Nevertheless, certain imminent happenings will do more to annihilate the veil between the seen and the unseen than any other line of activity hitherto initiated. Of this I may not speak beyond telling you that an illumination will be set up and a radiance revealed which will result in a tremendous stimulation of mankind and bring about an awakening of a new order. Man will be keyed up to a perception and to a contact which will enable him to see through, which will reveal the nature of the fourth dimension, and will blend the subjective and the objective together into a new world. Death will lose its terrors, and that particular fear will come to an end.
Tuy nhiên, một số sự kiện sắp xảy ra sẽ làm nhiều hơn để xóa bỏ bức màn giữa cái hữu hình và cái vô hình hơn bất kỳ hoạt động nào khác được khởi xướng cho đến nay. Về điều này, tôi không thể nói gì hơn ngoài việc nói với các bạn rằng một sự soi sáng sẽ được thiết lập và một sự rạng rỡ được tiết lộ, điều này sẽ dẫn đến một sự kích thích to lớn đối với nhân loại và mang lại sự thức tỉnh của một trật tự mới. Con người sẽ được nâng lên tới một nhận thức và một sự tiếp xúc cho phép y nhìn xuyên qua, điều này sẽ tiết lộ bản chất của chiều không gian thứ tư, và sẽ hòa quyện cái chủ quan và cái khách quan lại với nhau thành một thế giới mới. Cái chết sẽ mất đi sự kinh hoàng của nó, và nỗi sợ hãi cụ thể đó sẽ chấm dứt.
Men are so occupied with their demand for light, so earnest in their cry for release from the present blindness, and so anxious for relief from the surrounding chaos, that they are apt to forget that from the inner side there is also a great effort and “push” to help, on the part of the Custodians of the Plan and Their assistants. This urge on Their part to help is more active than ever before, as human beings demand more [185] potently the privilege of light. A demand from the race, plus a response from the waiting Hierarchy, must inevitably produce potent results. The urge to know and the urge to teach are assuredly related and a part of the natural process of conscious development. The next few decades will mark a happening of such profound and widespread consequences that the present era in which we live will come to be looked upon as the dark ages. Science will penetrate deeper into the realm of the intangible, and work in mediums and with apparatus hitherto unknown. The release of the potencies in an atom will mark a revolutionary era, and science will have much to discard and much to give as it works with energies and forms of life hitherto unrecognised. The spiritualists will make a discovery whereby the means of contact with those who function out of the physical body will be greatly facilitated, and a group of mediums will begin to act as intermediaries for a number of scientists on the inner side of life and those who are still in physical bodies. Through the activity of the real esoteric schools, a technique of training will be instituted which will develop the new powers that will substantiate the old truth and turn men’s beliefs into certainties. Through the stimulating and occultly scientific work of the department of religions, men will come to new knowledge and awareness, and will arrive at an uplift that will bring mankind to the Mount of Transfiguration. Through the work of the department of government, men will come to an understanding of those ideas which are needed to carry the nations the next step forward to mutual help.
Con người quá bận rộn với nhu cầu về ánh sáng của họ, quá tha thiết trong tiếng kêu cứu để được giải thoát khỏi sự mù quáng hiện tại, và quá lo lắng để được nhẹ nhõm khỏi sự hỗn loạn xung quanh, đến nỗi họ dễ quên rằng từ phía bên trong cũng có một nỗ lực và "sự thúc đẩy" lớn để giúp đỡ, về phần của các Đấng Giám Hộ Thiên Cơ và các trợ tá của Các Ngài. Sự thôi thúc muốn giúp đỡ này về phía Các Ngài đang hoạt động mạnh mẽ hơn bao giờ hết, khi con người đòi hỏi một cách [185] mạnh mẽ hơn đặc quyền về ánh sáng. Một nhu cầu từ phía nhân loại, cộng với một sự đáp ứng từ Thánh Đoàn đang chờ đợi, chắc chắn phải tạo ra những kết quả mạnh mẽ. Sự thôi thúc muốn biết và sự thôi thúc muốn dạy chắc chắn có liên quan với nhau và là một phần của tiến trình tự nhiên của sự phát triển tâm thức. Vài thập kỷ tới sẽ đánh dấu một sự kiện có những hậu quả sâu sắc và lan rộng đến mức kỷ nguyên hiện tại mà chúng ta đang sống sẽ được nhìn lại như là thời kỳ đen tối. Khoa học sẽ thâm nhập sâu hơn vào lĩnh vực của cái vô hình, và làm việc trong các môi trường và với các thiết bị cho đến nay chưa từng được biết đến. Sự giải phóng các tiềm năng trong một nguyên tử sẽ đánh dấu một kỷ nguyên cách mạng, và khoa học sẽ có nhiều điều để loại bỏ và nhiều điều để cho đi khi nó làm việc với các năng lượng và các hình thái sự sống cho đến nay chưa được công nhận. Các nhà thần linh học sẽ thực hiện một khám phá nhờ đó các phương tiện tiếp xúc với những người hoạt động bên ngoài cơ thể xác thịt sẽ được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều, và một nhóm các đồng tử sẽ bắt đầu hoạt động như những người trung gian cho một số nhà khoa học ở phía bên trong của sự sống và những người vẫn còn trong cơ thể xác thịt. Thông qua hoạt động của các trường bí truyền thực sự, một kỹ thuật huấn luyện sẽ được thiết lập, sẽ phát triển các quyền năng mới nhằm chứng minh chân lý cũ và biến niềm tin của con người thành sự chắc chắn. Thông qua công việc kích thích và khoa học huyền bí của bộ phận tôn giáo, con người sẽ đi đến tri thức và nhận thức mới, và sẽ đạt đến một sự nâng cao đưa nhân loại lên Núi Biến Hình. Thông qua công việc của bộ phận chính quyền, con người sẽ đi đến sự thấu hiểu về những ý tưởng cần thiết để đưa các quốc gia tiến bước tiếp theo tới sự giúp đỡ lẫn nhau.
I shall try to express the deepest objective of the Brotherhood, so that you can understand and cooperate. Humanity is intended to act as a power house through which certain types of divine energy can flow to the various forms of life found in the subhuman kingdoms. This flow of energy must be intelligently [186] apprehended and intelligently directed, and thus will be brought to an end conditions of decay and of death now prevalent everywhere. Thus mankind can link the higher and the lower manifestations of Life, but this will be possible only when men themselves have (within themselves) linked their higher and their lower aspects. This is, and should be, one of the objectives of all esoteric training. Men are intended to acquire the facility to function freely in either direction, and so with ease contact the life of God as it flows through those forms we call superhuman, and those which are subhuman. Such is the emerging goal.
Tôi sẽ cố gắng diễn đạt mục tiêu sâu sắc nhất của Huynh đệ Đoàn, để các bạn có thể thấu hiểu và hợp tác. Nhân loại được dự định hành động như một nhà máy điện qua đó một số loại năng lượng thiêng liêng có thể tuôn chảy đến các hình thái sự sống khác nhau được tìm thấy trong các giới dưới nhân loại. Dòng năng lượng này phải được [186] lĩnh hội một cách thông minh và được định hướng một cách thông minh, và do đó sẽ chấm dứt các điều kiện thối rữa và chết chóc hiện đang thịnh hành ở khắp mọi nơi. Như vậy nhân loại có thể liên kết các biểu hiện cao hơn và thấp hơn của Sự Sống, nhưng điều này sẽ chỉ khả thi khi bản thân con người (trong chính họ) đã liên kết các phương diện cao hơn và thấp hơn của họ. Đây là, và nên là, một trong những mục tiêu của tất cả sự huấn luyện bí truyền. Con người được dự định đạt được khả năng hoạt động tự do theo cả hai hướng, và do đó dễ dàng tiếp xúc với sự sống của Thượng đế khi nó tuôn chảy qua những hình tướng mà chúng ta gọi là siêu nhân, và những hình tướng dưới nhân loại. Đó là mục tiêu đang hiện ra.
The next few years will mark an intensive effort on the part of the hierarchy and on the part of the New Group of World Servers. There is a term set to their effort, and later this type of activity will end, and workers will enter into more extensive fields, if the work proves effective. Should the spiritually minded and intellectually constituted people of the race fail at this time to initiate the Plan, to wrest it out of the unseen and carry it into the realm of the seen, then we shall see a period of difficulty and of slower growth, but no entire collapse of the fabric of civilisation as the fear-mongers indicate. But we shall anticipate no such failure and no such setback to the carefully laid plans of the Watchers on the inner side. The word has gone out to rally all the disciples and aspirants of the world to an intensive work, and with that appeal from the Great Ones I seek to occupy myself. Everyone is needed and must go forward with hope and certainty. The hierarchy is, with concentration, working and bending every effort to make the plan a success. The New Group of World Servers are being more closely integrated, and the work they are to do is being carefully planned. In London, in New York and in Geneva are three centres of their activity, and at Darjeeling and in Tokyo there is a mustering of forces.
Vài năm tới sẽ đánh dấu một nỗ lực to lớn về phía Thánh đoàn và về phía Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Có một thời hạn được đặt ra cho nỗ lực của họ, và sau đó loại hoạt động này sẽ kết thúc, và những người làm việc sẽ bước vào các lĩnh vực rộng lớn hơn, nếu công việc chứng tỏ hiệu quả. Nếu những người có khuynh hướng tinh thần và trí tuệ của nhân loại thất bại vào lúc này trong việc khởi xướng Thiên Cơ, giành lấy nó khỏi cái vô hình và đưa nó vào lĩnh vực của cái hữu hình, thì chúng ta sẽ thấy một thời kỳ khó khăn và tăng trưởng chậm hơn, nhưng không phải là sự sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc văn minh như những kẻ gieo rắc sợ hãi chỉ ra. Nhưng chúng ta sẽ không lường trước thất bại như vậy và không lường trước sự thụt lùi như vậy đối với các kế hoạch đã được sắp đặt cẩn thận của các Đấng Canh Giữ ở phía bên trong. Lệnh đã được ban ra để tập hợp tất cả các đệ tử và người chí nguyện của thế giới vào một công việc khẩn trương, và với lời kêu gọi đó từ Các Đấng Cao Cả, tôi đang dành sức lực cho nó. Mọi người đều cần thiết và phải tiến lên với hy vọng và sự chắc chắn. Thánh đoàn đang tập trung làm việc và dốc toàn lực để làm cho Thiên Cơ thành công. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang được tích hợp chặt chẽ hơn, và công việc họ phải làm đang được lên kế hoạch cẩn thận. Tại London, tại New York và tại Geneva là ba trung tâm hoạt động của họ, và tại Darjeeling và tại Tokyo có sự tập hợp các lực lượng.
[187]
[187]
I challenge the thinkers of the world to drop their sectarianism, their nationalism, and their partisanships, and in the spirit of brotherhood to work in their particular nation, regarding it as an integral part of a great federation of nations,—a federation that now exists on the inner side but waits for the activity of the world thinkers to bring it to materialisation on the outer side. I charge them to work in the cause of religion and in the field of that particular religion in which they, by an accident of birth or by choice, are interested, regarding each religion as part of the great world religion. They must look upon the activities of their group, society or organisation as demanding their help, just in so far, and only so far, as the principles upon which they are founded and the techniques which they employ serve the general good and develop the realisation of Brotherhood.
Tôi kêu gọi các tư tưởng gia của thế giới hãy từ bỏ chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa dân tộc, và tính đảng phái của họ, và trong tinh thần huynh đệ hãy làm việc trong quốc gia cụ thể của họ, coi nó như một phần không thể thiếu của một liên bang vĩ đại các quốc gia,—một liên bang hiện đang tồn tại ở phía bên trong nhưng chờ đợi hoạt động của các tư tưởng gia thế giới để đưa nó đến sự vật chất hóa ở phía bên ngoài. Tôi giao nhiệm vụ cho họ làm việc vì sự nghiệp của tôn giáo và trong lĩnh vực của tôn giáo cụ thể mà họ, do sự tình cờ của việc sinh ra hoặc do lựa chọn, quan tâm đến, coi mỗi tôn giáo như một phần của tôn giáo thế giới vĩ đại. Họ phải coi các hoạt động của nhóm, hội hoặc tổ chức của họ như là đòi hỏi sự giúp đỡ của họ, chỉ trong chừng mực, và chỉ chừng nào, các nguyên tắc mà chúng được thành lập và các kỹ thuật mà chúng sử dụng phục vụ cho lợi ích chung và phát triển sự chứng nghiệm về Tình Huynh Đệ.
I ask you to drop your antagonisms and your antipathies, your hatreds and your racial differences, and attempt to think in terms of the one family, the one life, and the one humanity. I ask for no sentimental or devotional response to this challenge. I would remind you that hatred and separateness have brought humanity to the present sad condition. I would add to that reminder, however, the fact that there is in the world today a large enough number of liberated men to produce a change in the attitudes of mankind and in public opinion, if they measure up by an act of the will to what they know and believe.
Tôi yêu cầu các bạn từ bỏ những sự thù địch và ác cảm của các bạn, những hận thù và những khác biệt chủng tộc của các bạn, và cố gắng suy nghĩ theo khía cạnh của một gia đình duy nhất, Sự Sống Duy Nhất duy nhất, và một nhân loại duy nhất. Tôi không yêu cầu phản ứng ủy mị hoặc sùng tín đối với kêu gọi này. Tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng hận thù và chia rẽ đã đưa nhân loại đến tình trạng buồn thảm hiện tại. Tuy nhiên, tôi muốn thêm vào lời nhắc nhở đó sự thật rằng ngày nay trên thế giới có một số lượng đủ lớn những người đã giải thoát để tạo ra một sự thay đổi trong thái độ của nhân loại và trong dư luận công chúng, nếu họ đáp ứng được bằng một hành động của ý chí đối với những gì họ biết và tin tưởng.
I challenge you also to make sacrifices; to give yourself and your time and your money and your interest to carry these ideas to those around you in your own environment and to the group in which you find yourself, thus awakening your associates. I call you to a united effort to inculcate anew the ideas of brotherhood and of unity. I ask you to recognise your fellow workers in all the groups and to strengthen their [188] hands. I ask you to seal your lips to words of hatred and of criticism, and to talk in terms of brotherhood and of group relationships. I beg of you to see to it that every day is for you a new day, in which you face new opportunity. Lose sight of your own affairs, your petty sorrows, worries and suspicions, in the urgency of the task to be done, and spread the cult of unity, of love and of harmlessness.
Tôi cũng kêu gọi các bạn thực hiện những sự hy sinh; hiến dâng bản thân, thời gian, tiền bạc và sự quan tâm của các bạn để mang những ý tưởng này đến những người xung quanh trong môi trường của chính các bạn và đến nhóm mà các bạn thấy mình ở trong đó, từ đó đánh thức các cộng sự của các bạn. Tôi kêu gọi các bạn đến một nỗ lực thống nhất để khắc ghi lại những ý tưởng về tình huynh đệ và về sự hợp nhất. Tôi yêu cầu các bạn nhận ra các bạn đồng nghiệp của mình trong tất cả các nhóm và tiếp sức cho [188] họ. Tôi yêu cầu các bạn niêm kín môi mình trước những lời hận thù và chỉ trích, và nói chuyện theo khía cạnh của tình huynh đệ và các mối quan hệ nhóm. Tôi cầu xin các bạn hãy đảm bảo rằng mỗi ngày đối với các bạn là một ngày mới, trong đó các bạn đối mặt với cơ hội mới. Hãy quên đi những công việc riêng của các bạn, những nỗi buồn, lo lắng và nghi ngờ nhỏ nhặt của các bạn, trong sự cấp bách của nhiệm vụ phải làm, và lan truyền sự sùng bái sự hợp nhất, tình thương và tính vô tổn hại.
I ask you also to sever your connection with all groups which are seeking to destroy and to attack, no matter how sincere their motive. Range yourself on the side of the workers for constructive ends, who are fighting no other groups or organisations and who have eliminated the word “anti” out of their vocabulary. Stand on the side of those who are silently and steadily building for the new order—an order which is founded on love, which builds under the impulse of brotherhood, and which possesses a realisation of a brotherhood which is based on the knowledge that we are each and all, no matter what our race, the children of the One Father, and who have come to the realisation that the old ways of working must go and the newer methods must be given a chance.
Tôi cũng yêu cầu các bạn cắt đứt mối liên hệ với tất cả các nhóm đang tìm cách phá hủy và tấn công, bất kể động cơ của họ chân thành đến mức nào. Hãy đứng về phía những người làm việc vì các mục đích xây dựng, những người không chiến đấu với các nhóm hay tổ chức nào khác và những người đã loại bỏ từ "chống lại" ra khỏi từ vựng của họ. Hãy đứng về phía những người đang âm thầm và kiên định xây dựng cho trật tự mới—một trật tự được thành lập dựa trên tình thương, xây dựng dưới sự thúc đẩy của tình huynh đệ, và sở hữu một sự chứng nghiệm về tình huynh đệ dựa trên tri thức rằng mỗi người và tất cả chúng ta, bất kể chủng tộc nào, đều là con cái của Đấng Cha Duy Nhất, và những người đã đi đến sự chứng nghiệm rằng những cách làm việc cũ phải ra đi và những phương pháp mới hơn phải được trao một cơ hội.
If you cannot yourself teach or preach or write, give of your thought and of your money so that others can. Give of your hours and minutes of leisure so as to set others free to serve the Plan; give of your money so that the work of those associated with the New Group of World Servers may go forward with rapidity. Much time you waste on non-essentials. Many of you give little or nothing of time. The same is the case with money. Give as never before, and so make the physical aspects of the work possible. Some give of their very need, and the power they thereby release is great. Those on the inner side are grateful for the giving by those who can give only at great personal cost. Others give of what they can spare and only when it needs no sacrifice to give. Let that [189] condition also end, and give to the limit, with justice and understanding, so that the age of love and light may be more rapidly ushered in. I care not where or to whom you give, only that you give,—little if you have but little of time or money, much if you have much. Work and give, love and think, and aid those groups who are building and not destroying, loving and not attacking, lifting and not tearing down. Be not taken in by the specious argument that destruction is needed. It has been needed, no doubt; but the cycle of destruction is practically over, could you but realise it, and the builders must now get busy.
Nếu bản thân các bạn không thể dạy dỗ, thuyết giảng hay viết lách, hãy đóng góp tư tưởng và tiền bạc của các bạn để người khác có thể làm. Hãy đóng góp những giờ và phút rảnh rỗi của các bạn để giải phóng người khác phụng sự Thiên Cơ; hãy đóng góp tiền bạc của các bạn để công việc của những người liên kết với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể tiến triển nhanh chóng. Các bạn lãng phí nhiều thời gian vào những điều không thiết yếu. Nhiều người trong các bạn đóng góp rất ít hoặc không đóng góp gì về thời gian. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với tiền bạc. Hãy cho đi như chưa bao giờ trước đây, và như vậy làm cho các khía cạnh vật lý của công việc trở nên khả thi. Một số người cho đi từ chính sự túng thiếu của họ, và quyền năng mà họ giải phóng nhờ đó là rất lớn. Những người ở phía bên trong biết ơn sự cho đi của những người chỉ có thể cho đi với cái giá cá nhân to lớn. Những người khác cho đi những gì họ có thể dư thừa và chỉ khi việc cho đi không cần sự hy sinh nào. Hãy để [189] tình trạng đó cũng chấm dứt, và hãy cho đi đến giới hạn, với sự công bằng và thấu hiểu, để kỷ nguyên của tình thương và ánh sáng có thể được khai mở nhanh chóng hơn. Tôi không quan tâm các bạn cho ở đâu hay cho ai, chỉ cần các bạn cho đi,—ít nếu các bạn chỉ có ít thời gian hoặc tiền bạc, nhiều nếu các bạn có nhiều. Hãy làm việc và cho đi, yêu thương và suy nghĩ, và hỗ trợ những nhóm đang xây dựng chứ không phá hủy, yêu thương chứ không tấn công, nâng lên chứ không xé bỏ. Đừng bị lừa bởi lập luận có vẻ hợp lý rằng sự phá hủy là cần thiết. Không nghi ngờ gì nữa, nó đã từng cần thiết; nhưng chu kỳ phá hủy thực tế đã qua, ước gì các bạn có thể nhận ra điều đó, và những người xây dựng giờ đây phải bắt tay vào việc.
I challenge you above all to a deeper life, and I implore you for the sake of your fellow men to strengthen your contact with your own soul so that you will have done your share in making revelation possible; so that you will have served your part in bringing in the light, and will therefore be in a position to take advantage of that new light and new information, and so be better able to point the way and clear the path for the bewildered seeker at that time. Those who are not ready for the coming events will be blinded by the emerging light and bewildered by the revealing wonder; they will be swept by the living breath of God, and it is to you that we look to fit them for the event.
Trên hết, tôi kêu gọi các bạn tiến tới một đời sống sâu sắc hơn, và tôi khẩn cầu các bạn vì lợi ích của đồng loại hãy tăng cường sự tiếp xúc với linh hồn của chính các bạn để các bạn sẽ thực hiện phần việc của mình trong việc làm cho sự mặc khải trở nên khả thi; để các bạn sẽ đóng góp phần của mình trong việc mang lại ánh sáng, và do đó sẽ ở vào vị thế tận dụng ánh sáng mới và thông tin mới đó, và vì thế có khả năng tốt hơn để chỉ đường và dọn đường cho người tìm kiếm đang hoang mang vào thời điểm đó. Những người chưa sẵn sàng cho các sự kiện sắp tới sẽ bị loá mắt bởi ánh sáng đang xuất lộ và hoang mang bởi sự kỳ diệu đang hiển lộ; họ sẽ bị quét qua bởi hơi thở sống động của Thượng đế, và chính các bạn là những người mà chúng tôi trông cậy để làm cho họ thích ứng với sự kiện này.
Before we proceed further I want to touch upon the apparent contradictions which occur (and which may continue to occur) in this treatise. Sometimes a ray will be spoken of as being in manifestation. At other times it may be referred to as being out of manifestation. We may speak about its influence upon a particular kingdom in nature, and then again still another ray may be regarded as of prime importance. These discrepancies are only apparent, and their cause lies hid in the right understanding of the Law of Cycles. Until this basic [190] Law of Periodicity is comprehended (and this will not be possible until man has succeeded in developing fourth dimensional vision) it will not be easy to avoid what may look like contradictions. At one time a certain ray may be in incarnation and thus of paramount influence, and yet, at the same time, still another ray may govern the major cycle,—a cycle of which the ray under consideration may be only a temporary aspect. For instance, the seventh Ray of Ceremonial Organisation is now coming in, and the sixth Ray of Devotion is going out; yet this sixth ray is a major ray cycle and its influence will not entirely disappear for another 21,000 years. At the same time, this sixth ray might well be regarded as the sixth sub-ray of the fourth Ray of Harmony through Conflict, which has been in manifestation for several thousand years and will remain operative for another 40,000 years. Yet at the same time, this fourth ray is out of manifestation as regards its minor and cyclic influence.
Trước khi chúng ta tiến xa hơn, tôi muốn đề cập đến những mâu thuẫn rõ ràng xảy ra (và có thể tiếp tục xảy ra) trong luận thuyết này. Đôi khi một cung sẽ được nói đến như là đang biểu hiện. Vào những lúc khác, nó có thể được đề cập đến như là đang không biểu hiện. Chúng ta có thể nói về ảnh hưởng của nó đối với một giới cụ thể trong tự nhiên, và rồi lại một cung khác có thể được coi là có tầm quan trọng hàng đầu. Những sự khác biệt này chỉ là bề ngoài, và nguyên nhân của chúng nằm ẩn trong sự thấu hiểu đúng đắn về Định luật Chu kỳ. Cho đến khi [190] Định luật Chu kỳ cơ bản này được thấu hiểu (và điều này sẽ không khả thi cho đến khi con người thành công trong việc phát triển tầm nhìn chiều không gian thứ tư), sẽ không dễ để tránh những gì có vẻ như là mâu thuẫn. Tại một thời điểm, một cung nhất định có thể đang lâm phàm và do đó có ảnh hưởng tối cao, nhưng đồng thời, một cung khác vẫn có thể cai quản chu kỳ lớn,—một chu kỳ mà cung đang được xem xét có thể chỉ là một phương diện tạm thời. Ví dụ, Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ hiện đang đi vào, và Cung sáu của Lòng Sùng Tín đang đi ra; tuy nhiên Cung sáu này là một chu kỳ cung lớn và ảnh hưởng của nó sẽ không hoàn toàn biến mất trong 21.000 năm nữa. Đồng thời, Cung sáu này cũng có thể được coi là cung phụ thứ sáu của Cung bốn của Sự Hài Hòa qua Xung Đột, vốn đã biểu hiện trong vài nghìn năm và sẽ vẫn hoạt động trong 40.000 năm nữa. Tuy nhiên, đồng thời, Cung bốn này đang không biểu hiện xét về ảnh hưởng nhỏ và mang tính chu kỳ của nó.
I fully realise that this information is of a most confusing nature to the beginner in occultism, and only those students who conform to the requirement of grasping the general outline and the broad basic propositions will be able to gather out of these instructions the true, intended perspective. If the reader loses himself in the mass of possible analyses and intricacies of the imparted detail, he will not emerge into the realm of that clear vision which is intended. When he eliminates the detail and deals with the general conformation of the solar Plan, he will then be enabled to cooperate with the needed intelligence. Read therefore constructively and not critically, knowing that it is not easy to see the Plan as it exists in the minds of the Builders, Who work in the closest cooperation, conforming to the initial Plan, and yet carrying forward Their individual efforts with concentration and sustained enterprise.
Tôi hoàn toàn nhận thấy rằng những thông tin này có tính chất vô cùng gây rối đối với người mới bước vào huyền linh học, và chỉ những môn sinh đáp ứng được yêu cầu nắm được bố cục tổng quát và những đề xuất nền tảng rộng lớn mới có thể rút ra từ các chỉ dẫn này quan điểm đúng đắn mà chúng nhằm truyền đạt. Nếu người đọc lạc lối trong khối lượng các phân tích khả hữu và trong những phức tạp của các chi tiết được trao truyền, y sẽ không thể đi vào cõi của tầm nhìn minh bạch vốn được dự định dành cho y. Khi y loại bỏ chi tiết và xử lý bố cục chung của Thiên Cơ Thái dương, y sẽ có thể hợp tác với trí tuệ cần thiết. Vì vậy, hãy đọc một cách xây dựng chứ không phải phê phán, hiểu rằng không dễ để thấy được Thiên Cơ như nó tồn tại trong tư tưởng của các Đấng Kiến Tạo, Những Đấng làm việc trong sự hợp tác mật thiết nhất, tuân theo Thiên Cơ ban đầu mà vẫn triển khai các nỗ lực cá nhân của Các Ngài với sự tập trung và tinh thần kiên trì bền bỉ.
3. Three Major Propositions—Ba Mệnh Đề Chính
[191]
[191]
We have been studying the significance of the work of the seven creative Builders, as They express the life aspect and qualify the phenomenal appearance through which the One Life manifests. It is the quality in time and space that determines the phenomenal appearance, and this is the third major proposition of which the two previous are:
Chúng ta đã nghiên cứu ý nghĩa công việc của bảy Đấng Kiến Tạo sáng tạo, khi Các Ngài diễn đạt phương diện sự sống và định tính cho sự xuất hiện hiện tượng qua đó Sự sống Duy Nhất biểu hiện. Chính phẩm tính trong thời gian và không gian xác định sự xuất hiện hiện tượng, và đây là mệnh đề chính thứ ba, mà hai mệnh đề trước là:
a. Every ray Life is an expression of a solar Life, and every planet is therefore linked with every other planet, animated by energy from one or other of the seven solar systems, and actuated by a triple stream of force.
a. Mỗi Sự sống cung là một biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất thái dương, và do đó mọi hành tinh đều được liên kết với mọi hành tinh khác, được phú linh bởi năng lượng từ một hoặc khác trong bảy hệ mặt trời, và được tác động bởi một dòng mãnh lực tam phân.
b. Every one of the rays is the recipient and custodian of various energies, coming from varying sources.
b. Mỗi một trong các cung là người tiếp nhận và giám hộ của các năng lượng khác nhau, đến từ các nguồn khác nhau.
To these two we add:
Vào hai điều này chúng ta thêm:
c. It is the quality of a ray Life, in time and space, which determines the phenomenal appearance.
c. Chính phẩm tính của Sự Sống Duy Nhất cung, trong thời gian và không gian, xác định sự xuất hiện hiện tượng.
In these three propositions you have summed up the basic teaching of this Section. Here I can point out with success, I believe, the practical efficacy of a true understanding of these rather advanced occult teachings. If, for instance, you study the first proposition, you will note how a ray Life is an expression of a solar Life. Now take this broad idea and make it personally specific by referring the same proposition to an individual man, grasping the fact that every personality is intended to be an expression of a solar angel, and is consequently linked to every other solar angel in the kingdom of souls. Each is animated by the energies coming from all the seven groups of solar angels, and is likewise in touch with the life of the planet, of the solar system, and with extra-systemic [192] force also. Is this not of vital, practical import? Does it not warrant close study and consideration of the attitude of the personality towards life, and of the measure of success of the solar angel at any given point in time and space (which is all that the personality is, in the last analysis) as it builds and qualifies its phenomenal appearance? Here we can see the scientific value of the study of ideals, of concentration upon the virtues and divine qualities, and upon an intellectual analysis of the divine attributes of any of the great sons of God.
Trong ba mệnh đề này, bạn có sự tóm tắt giáo lý cơ bản của Phần này. Ở đây, tôi tin tôi có thể chỉ ra một cách thành công hiệu quả thực tiễn của một sự hiểu biết đích thực về những giáo lý huyền bí khá tiên tiến này. Chẳng hạn, nếu bạn nghiên cứu mệnh đề đầu tiên, bạn sẽ lưu ý cách một Sự sống cung là một biểu lộ của một Sự sống thái dương. Giờ hãy lấy ý tưởng rộng lớn này và làm cho nó cụ thể một cách cá nhân bằng cách áp dụng cùng mệnh đề đó cho một cá nhân con người, nắm bắt thực tế rằng mỗi phàm ngã được dự định để trở thành một biểu lộ của một thái dương thiên thần, và do đó được liên kết với mọi thái dương thiên thần khác trong vương quốc của các linh hồn. Mỗi thiên thần được thúc đẩy bởi các năng lượng đến từ tất cả bảy nhóm thái dương thiên thần, và cũng tiếp xúc với sự sống của hành tinh, của hệ thái dương, và cũng với mãnh lực ngoài hệ thống. Điều này chẳng phải có tầm quan trọng thiết yếu và thực tiễn sao? Điều đó chẳng phải đáng để khảo sát kỹ lưỡng và suy xét thái độ của phàm ngã đối với sự sống, và mức độ thành công của Thái dương Thiên Thần tại bất kỳ điểm thời gian–không gian nào (vốn là tất cả những gì phàm ngã là, xét ở phân tích cuối cùng) khi Ngài kiến tạo và định phẩm sự xuất hiện hiện tượng của y đó sao? Tại đây, chúng ta có thể thấy giá trị khoa học của việc nghiên cứu các lý tưởng, của sự tập trung vào các đức hạnh và các phẩm tính thiêng liêng, và vào việc phân tích trí tuệ các thuộc tính thiêng liêng của bất kỳ người con vĩ đại nào của Thượng đế.
Again, the second proposition states that the seven rays, being each the recipient and custodian of energies coming from the universe, bring in the basic concept of inter-relation, of inter-communication, of inter-dependence, of cooperative responsibility, and of service. These relationships, as we well know, underlie the principle of Brotherhood, which the race is just beginning to grasp and to discuss. Thus one of the major propositions which govern the building forces of the universe is of real practical application to the mental life and attitude of man today.
Một lần nữa, mệnh đề thứ hai nói rằng bảy cung, mỗi cung là người tiếp nhận và giám hộ của các năng lượng đến từ vũ trụ, mang lại khái niệm cơ bản về sự tương quan, về sự giao tiếp lẫn nhau, về sự phụ thuộc lẫn nhau, về trách nhiệm hợp tác, và về phụng sự. Những mối quan hệ này, như chúng ta biết rõ, nằm bên dưới nguyên tắc của Tình Huynh Đệ, mà nhân loại mới bắt đầu nắm bắt và thảo luận. Do đó, một trong những mệnh đề chính cai quản các lực lượng kiến tạo của vũ trụ có ứng dụng thực tiễn thực sự đối với đời sống trí tuệ và thái độ của con người ngày nay.
The first proposition relates to the ego, or solar angel, and its realisation.
Mệnh đề thứ nhất liên quan đến chân ngã, hay thái dương thiên thần, và sự chứng nghiệm nó.
The second proposition relates to the mental grasp of the “inspired” man—inspired from on high by his solar angel.
Mệnh đề thứ hai liên quan đến sự nắm bắt trí tuệ của người được "cảm hứng"—được cảm hứng từ trên cao bởi thái dương thiên thần của y.
The third proposition, which states that quality determines the appearance, is intended to control or direct the feeling or desire life of the personality, for according to the quality of his desires will be the gradually emerging appearance.
Mệnh đề thứ ba, nói rằng phẩm tính xác định hiện tướng, được dự định để kiểm soát hoặc chỉ đạo đời sống cảm xúc hay dục vọng của phàm ngã, vì hiện tướng (ngoại hình) đang dần lộ ra của y sẽ tùy theo phẩm tính của các ham muốn của y.
Man is innately and truly divine, but the quality of the solar angel only makes its presence felt slowly and during the evolutionary cycle; it demonstrates only dimly as yet, and only emerges occasionally; though the sum total of characteristics in any one life is coloured by divine quality according to the egoic capacity to control or express, it is distorted by [193] substance in the early stages almost past all recognition. These three propositions warrant careful thought and even meditation, for as they express the laws under which the seven creative Builders work, so do they express the laws under which the aspirant can now begin to work.
Con người bẩm sinh và thực sự là thiêng liêng, nhưng phẩm tính của thái dương thiên thần chỉ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận một cách chậm chạp trong suốt chu kỳ tiến hóa; cho đến nay nó chỉ biểu hiện lờ mờ, và thỉnh thoảng xuất lộ; mặc dù tổng thể các đặc điểm trong bất kỳ một kiếp sống nào được tô màu bởi phẩm tính thiêng liêng tùy theo năng lực của chân ngã để kiểm soát hoặc diễn đạt, nó bị bóp méo bởi [193] chất liệu trong các giai đoạn đầu gần như không thể nhận ra. Ba mệnh đề này đảm bảo cho sự suy nghĩ cẩn thận và thậm chí là tham thiền, vì khi chúng diễn đạt các định luật mà theo đó bảy Đấng Kiến Tạo sáng tạo làm việc, thì chúng cũng diễn đạt các định luật mà theo đó người chí nguyện giờ đây có thể bắt đầu làm việc.
4. Quality in the World of Appearances—Phẩm Tính trong Thế Giới của Những Hiện tướng Tướng
We now take up the definition of the word “quality,” which embodies the second ray aspect. This second aspect is the determining ray or the second manifesting aspect of divinity. It is the Christ or Vishnu aspect; it is the sentient consciousness aspect of deity in form. I stated also that we would consider its expression in the world of phenomena, meaning by this the world of external appearance and of tangible forms.
Bây giờ chúng ta bắt đầu định nghĩa từ "phẩm tính," vốn hiện thân cho phương diện cung hai. Phương diện thứ hai này là cung xác định hoặc phương diện biểu hiện thứ hai của thiên tính. Nó là phương diện Christ hay Vishnu; nó là phương diện tâm thức hữu tình của thượng đế trong hình tướng. Tôi cũng đã tuyên bố rằng chúng ta sẽ xem xét sự biểu hiện của nó trong thế giới hiện tượng, nghĩa là thế giới của dáng vẻ bên ngoài và của các hình tướng hữu hình.
The quality that emerges through the process of manifesting, and under the impulse of the divine Life, is love, which functions through the medium of the Law of Attraction, with the aim of producing an ultimate synthesis in consciousness. Let us not forget that the objective of our present evolutionary process is the unfoldment of conscious awareness. The entire process is directed towards that consummation.
Phẩm tính xuất lộ qua tiến trình biểu hiện, và dưới sự thúc đẩy của Sự sống thiêng liêng, là tình thương, vốn hoạt động thông qua trung gian của Định Luật Hấp Dẫn, với mục đích tạo ra một sự tổng hợp tối hậu trong tâm thức. Chúng ta đừng quên rằng mục tiêu của tiến trình tiến hóa hiện tại của chúng ta là sự khai mở của nhận thức có ý thức. Toàn bộ tiến trình được hướng tới sự thành tựu đó.
Quality, in the last analysis, is neither more nor less than the nature of that awareness, and the response in terms of quality to sentient contact. Through the gradually unfolding mechanism of contact (itself the result of active quality, determining the life of the unit cells which compose the form) the range of contacts extends indefinitely, and the response of the living entity to contact becomes more vital, more understanding in its capacity, and more synthetically comprehended. This response develops in two directions: [194]
Phẩm tính, trong phân tích cuối cùng, không hơn không kém là bản chất của nhận thức đó, và sự đáp ứng xét về mặt phẩm tính đối với tiếp xúc hữu tình. Thông qua cơ chế tiếp xúc đang dần khai mở (bản thân nó là kết quả của phẩm tính tích cực, xác định sự sống của các tế bào đơn vị cấu thành hình tướng), phạm vi của các tiếp xúc mở rộng vô hạn, và sự đáp ứng của thực thể sống đối với tiếp xúc trở nên sống động hơn, thấu hiểu hơn trong năng lực của nó, và được lĩnh hội một cách tổng hợp hơn. Sự đáp ứng này phát triển theo hai hướng: [194]
1. It leads to a comprehension of the response apparatus and to a wise use of the mechanism of contact.
1. Nó dẫn đến một sự thấu hiểu về bộ máy đáp ứng và việc sử dụng khôn ngoan cơ chế tiếp xúc.
2. It leads also to an understanding of the response of the individual consciousness to the consciousness contacted. This is brought about through the medium of the response mechanism. This other response apparatus may be either more developed or less developed than the one that does the contacting.
2. Nó cũng dẫn đến một sự thấu hiểu về sự đáp ứng của tâm thức cá nhân đối với tâm thức được tiếp xúc. Điều này được mang lại thông qua trung gian của cơ chế đáp ứng. Bộ máy đáp ứng khác này có thể phát triển hơn hoặc kém phát triển hơn so với cái đang thực hiện việc tiếp xúc.
It is this interplay between the consciousnesses using the mechanisms that confers an understanding of quality. This interplay confers an understanding of the activity underlying the appearance, and motivating it. Exoteric science enables the activity aspect of the phenomenal forms to be apprehended and studied, and all the many manifestations of the many schools of human thought, which enlarge through their researches the range of human knowledge, have the same objective. At the same time, they increase our capacity to grasp the intense activity of every form in every kingdom in nature, and of every atom and cell within those forms. Science has led us on from pinnacle to pinnacle of achievement, till today we are lost in a world of energies. We have been taught to picture to ourselves a world of vibrating points of force which constitute in the aggregate all forms of life, and which present to our astonished and bewildered intellects a planetary life which is the sum total of all known forms. Each form is a universe in itself, and all forms are alive, vibrating with divine activity. We use the word “energy” to express this activity, and beyond that we are as yet unable to pass. Energy is life, and energy is also death. Activity is to be sensed and known in the organic and in the inorganic,—a vast series of atomic lives built up into structure after structure and found to be in ceaseless motion. A vast series of living structures, built up [195] into still greater and more inclusive forms, are all found, again, to be in equally ceaseless motion. These greater structures, in their turn, are found to be vibrant organisms, and so there unfolds before man’s conscious vision nothing but life and activity, naught but motion and energy, and always a coherence, an ordered purpose, a growing synthesis, a Plan, and a Will. To this, science sets its seal, for scientific knowledge is the indication of man’s response, through the collective response apparatus of humanity as a whole, to the mechanism of awareness of the great Life in which we live and move and have our being, the planetary Logos of our Earth.
Chính sự tương tác này giữa các tâm thức sử dụng các cơ chế mang lại một sự thấu hiểu về phẩm tính. Sự tương tác này mang lại một sự thấu hiểu về hoạt động nằm bên dưới hiện tướng, và thúc đẩy nó. Khoa học ngoại môn cho phép phương diện hoạt động của các hình tướng hiện tượng được lĩnh hội và nghiên cứu, và tất cả nhiều biểu hiện của nhiều trường phái tư tưởng nhân loại, vốn mở rộng phạm vi tri thức nhân loại thông qua các nghiên cứu của họ, đều có cùng mục tiêu. Đồng thời, họ gia tăng năng lực của chúng ta để nắm bắt hoạt động mãnh liệt của mọi hình tướng trong mọi giới trong tự nhiên, và của mọi nguyên tử và tế bào bên trong các hình tướng đó. Khoa học đã dẫn dắt chúng ta đi từ đỉnh cao này đến đỉnh cao khác của thành tựu, cho đến ngày nay chúng ta lạc vào một thế giới của các năng lượng. Chúng ta đã được dạy để hình dung cho chính mình một thế giới của các điểm lực rung động vốn cấu thành trong tổng thể tất cả các hình thái sự sống, và vốn trình bày cho trí năng kinh ngạc và hoang mang của chúng ta Sự Sống Duy Nhất hành tinh vốn là tổng thể của tất cả các hình tướng đã biết. Mỗi hình tướng là một vũ trụ trong chính nó, và tất cả các hình tướng đều sống động, rung động với hoạt động thiêng liêng. Chúng ta sử dụng từ "năng lượng" để diễn đạt hoạt động này, và ngoài điều đó ra chúng ta vẫn chưa thể vượt qua. Năng lượng là sự sống, và năng lượng cũng là cái chết. Hoạt động được cảm nhận và biết đến trong cái hữu cơ và trong cái vô cơ,—một loạt rộng lớn các sự sống nguyên tử được xây dựng thành cấu trúc này sau cấu trúc khác và được tìm thấy là đang trong chuyển động không ngừng. Một loạt rộng lớn các cấu trúc sống, được xây dựng [195] thành các hình tướng lớn hơn và bao gồm hơn nữa, một lần nữa đều được tìm thấy là đang trong chuyển động không ngừng tương đương. Các cấu trúc lớn hơn này, đến lượt chúng, được tìm thấy là các sinh vật rung động, và vì thế khai mở trước tầm nhìn có ý thức của con người không gì ngoài sự sống và hoạt động, không gì ngoài chuyển động và năng lượng, và luôn luôn là một sự gắn kết, một mục đích có trật tự, một sự tổng hợp đang phát triển, một Thiên Cơ, và một Ý Chí. Đối với điều này, khoa học đóng dấu ấn của nó, vì tri thức khoa học là dấu hiệu của sự đáp ứng của con người, thông qua bộ máy đáp ứng tập thể của toàn thể nhân loại, đối với cơ chế nhận thức của Sự sống vĩ đại mà trong đó chúng ta sống và chuyển động và có sự hiện tồn của mình, Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta.
The esoteric sciences carry us within the form or forms, and enable us to penetrate to the quality aspect. Students would do well to remember that occultism may be the study of forces, and that the occultist moves in the worlds of force, but these are also the worlds of quality and of those qualifying energies which are seeking to manifest through the world of appearances. As they achieve this, they will dominate the activity of the form units which constitute the phenomenal world. There are energies which lie behind the phenomena produced by the activity of the atomic structures; these are latent and unseen and often unfelt; they are subjective. The esoteric sciences have one purpose in view, and that is to produce the gradual emergence of these energies, so that the skilled occultist can eventually work in a dual yet unified world of force, and be the creative will which guides, blends and utilises the world of appearances and the realm of qualities. These two types of active creative energies must be controlled by the creating Will or Life aspect so that they function as one.
Các khoa học bí truyền đưa chúng ta vào bên trong hình tướng hoặc các hình tướng, và cho phép chúng ta thâm nhập vào phương diện phẩm tính. Các đạo sinh nên nhớ rằng huyền bí học có thể là sự nghiên cứu về các mãnh lực, và rằng nhà huyền bí học di chuyển trong các thế giới của mãnh lực, nhưng đây cũng là các thế giới của phẩm tính và của những năng lượng định tính đang tìm cách biểu hiện thông qua thế giới của những sự xuất hiện. Khi chúng đạt được điều này, chúng sẽ chi phối hoạt động của các đơn vị hình tướng vốn cấu thành thế giới hiện tượng. Có những năng lượng nằm đằng sau các hiện tượng được tạo ra bởi hoạt động của các cấu trúc nguyên tử; những thứ này tiềm ẩn và vô hình và thường không được cảm nhận; chúng là chủ quan. Các khoa học bí truyền có một mục đích trong tầm nhìn, và đó là tạo ra sự xuất lộ dần dần của những năng lượng này, để nhà huyền bí học lành nghề cuối cùng có thể làm việc trong một thế giới lực kép nhưng thống nhất, và là ý chí sáng tạo hướng dẫn, hòa quyện và sử dụng thế giới của những sự xuất hiện và lĩnh vực của các phẩm tính. Hai loại năng lượng sáng tạo tích cực này phải được kiểm soát bởi Ý Chí sáng tạo hay phương diện Sự Sống để chúng hoạt động như một.
Therefore the aspirant is taught to turn within; to study motives; to acquaint himself with the qualities which are seeking [196] expression in the outer world through the medium of his outer mechanism. As he learns to do this, the nature of that outer world of mechanisms alters, and he increasingly becomes aware of the qualities struggling for expression behind the outer forms. Thus the range of his conscious contacts extends, and he passes (through scientific research) from an exoteric understanding of the world of phenomenal appearances to an esoteric comprehension of the world of qualities. Never forget, therefore, that this dual apprehension must be emphasized, and that as a man learns to “know himself,” he automatically learns to know the quality underlying all appearances. Look therefore for the quality everywhere. This is what we mean when we speak of seeing divinity on every hand, of recognising the note sounded by all beings, and of registering the hidden motif of all appearing. The unawakened man or woman sees the form, notes its forms of activity, and “judges by appearances.” The awakening aspirant begins to sense some of the beauties that lie unrevealed behind all forms; the awakened disciple lays the focus of his attention upon the emerging world of qualities, and becomes steadily aware of colour, of new ranges of sound, of an inner evolving and newer response apparatus which is beginning to enable him to contact the unseen, the intangible, and the unrevealed. He becomes aware of those subjective impulses which condition the quality of the life, and which are slowly and gradually revealing themselves.
Do đó, người chí nguyện được dạy quay vào bên trong; nghiên cứu các động cơ; làm quen với các phẩm tính đang tìm cách [196] biểu hiện trong thế giới bên ngoài thông qua trung gian của cơ chế bên ngoài của y. Khi y học cách làm điều này, bản chất của thế giới cơ chế bên ngoài đó thay đổi, và y ngày càng trở nên nhận thức được các phẩm tính đang đấu tranh để biểu hiện đằng sau các hình tướng bên ngoài. Như vậy phạm vi của các tiếp xúc có ý thức của y mở rộng, và y chuyển (thông qua nghiên cứu khoa học) từ một sự thấu hiểu ngoại môn về thế giới của những sự xuất hiện hiện tượng sang một sự lĩnh hội bí truyền về thế giới của các phẩm tính. Do đó, đừng bao giờ quên rằng sự lĩnh hội kép này phải được nhấn mạnh, và rằng khi một người học cách "biết mình," y tự động học cách biết phẩm tính nằm bên dưới tất cả những sự xuất hiện. Do đó hãy tìm kiếm phẩm tính ở khắp mọi nơi. Đây là những gì chúng tôi muốn nói khi chúng tôi nói về việc nhìn thấy thiên tính ở mọi nơi, về việc nhận ra âm điệu được xướng lên bởi tất cả chúng sinh, và về việc ghi nhận chủ đề ẩn giấu của tất cả sự xuất hiện. Người nam hay nữ chưa thức tỉnh nhìn thấy hình tướng, ghi nhận các hình thức hoạt động của nó, và "đánh giá qua vẻ bề ngoài." Người chí nguyện đang thức tỉnh bắt đầu cảm nhận một số vẻ đẹp nằm chưa được tiết lộ đằng sau tất cả các hình tướng; đệ tử đã thức tỉnh đặt trọng tâm sự chú ý của mình vào thế giới đang xuất lộ của các phẩm tính, và trở nên nhận biết vững chắc về màu sắc, về các phạm vi âm thanh mới, về một bộ máy đáp ứng đang tiến hóa bên trong và mới hơn vốn đang bắt đầu cho phép y tiếp xúc với cái vô hình, cái phi vật chất, và cái chưa được tiết lộ. Y trở nên nhận biết về những xung lực chủ quan vốn quy định phẩm tính của sự sống, và vốn đang từ từ và dần dần tiết lộ chính chúng.
It is this unrevealed inner beauty which lies back of the emphasis laid by the churches upon the cultivation of the virtues, and by the occultists upon the use of a seed thought in meditation. These seed thoughts and virtues serve a valuable and constructive purpose. The Biblical truism that “as a man thinketh in his heart, so is he,” is based on the same basic [197] realisation, and the distinction between the spiritual man and the man of worldly and material purpose consists in the fact that one is attempting to work with the quality aspect of the life, and the other is focussing his attention upon the appearance aspect. He may and does employ certain qualities as he so works, but they are those qualities which have been developed during the evolutionary process of the divine Life as It has cycled through the subhuman and human kingdoms.
Chính vẻ đẹp bên trong không được tiết lộ này [197] có ở đằng sau sự nhấn mạnh của các nhà thờ vào việc trau dồi các đức tính, và của các nhà huyền bí học vào việc sử dụng một tư tưởng hạt giống trong tham thiền. Những tư tưởng hạt giống và đức tính này phục vụ một mục đích có giá trị và mang tính kiến tạo. Sự thật hiển nhiên trong Kinh thánh rằng “y nghĩ trong tim như thế nào thì y sẽ như thế ấy” dựa trên cùng một sự chứng nghiệm cơ bản; và sự khác biệt giữa người tinh thần và người có mục đích trần tục và vật chất nằm ở chỗ một bên đang cố gắng làm việc với phẩm tính của sự sống, còn bên kia đang tập trung sự chú ý vào khía cạnh hình tướng. Y có thể và quả thật đã sử dụng một số phẩm tính nhất định khi y làm việc như vậy, nhưng chúng là những phẩm tính đã được phát triển trong quá trình tiến hóa của Sự sống thiêng liêng khi Nó đã xoay vòng qua các giới thấp hơn nhân loại và giới nhân loại.
Each of the kingdoms in nature has developed, or is developing, one outstanding quality, with the other divine attributes as subsidiary.
Mỗi giới trong tự nhiên đã phát triển, hoặc đang phát triển, một phẩm tính nổi bật, với các thuộc tính thiêng liêng khác là phụ trợ.
The mineral kingdom has the quality of activity primarily emphasized, and its two extremes are the tamasic quality, or the static inert nature of the mineral world, and the quality of radio-activity, of radiation which is its beautiful and divinely perfected expression. The goal for all mineral atomic forms is this radio-active condition, the power to pass through all limiting and environing substances. This is initiation, or the entering into a state of liberation, for all mineral appearances, and the organising of all forms in this kingdom under the influence of the seventh ray.
Giới kim thạch có phẩm tính hoạt động được nhấn mạnh chủ yếu, và hai thái cực của nó là phẩm tính tamas, hay bản chất trì trệ của thế giới khoáng vật, và phẩm tính phóng xạ, của sự bức xạ vốn là biểu hiện đẹp đẽ và hoàn hảo thiêng liêng của nó. Mục tiêu cho tất cả các hình tướng nguyên tử khoáng vật là điều kiện phóng xạ này, quyền năng đi qua tất cả các chất liệu hạn chế và bao quanh. Đây là điểm đạo, hay sự bước vào một trạng thái giải thoát, cho tất cả các hình tướng khoáng vật, và sự tổ chức của tất cả các hình tướng trong giới này dưới ảnh hưởng của cung bảy.
The vegetable kingdom has the quality of attractiveness, expressed in colour, and its liberation, or its highest form of activity, is demonstrated by the perfume of its highest forms of life. This perfume is connected with its sex life, which has group purpose and which calls to its aid the initiating wind and the insect world. This is not just a pictorial way of portraying truth. The very nature of perfume, its purpose and intent, is to affect those agencies which will produce the spreading and the continuity of the life of the vegetable kingdom. The “aspirants” in the vegetable kingdom, and the most evolved of its forms, have beauty and perfume, and are susceptible [198] to the hidden influences of Those to Whom is confided the initiating of the life-forms and their bringing to a desired perfection. Hence the influence of the sixth Ray of Devotion upon this kingdom, and the application of the Ray of Devotion which (symbolically expressed) “fixes the eye upon the sun; turns the life ever to the rays of warmth, and causes the blending of the colours and the glory of the perfumed radiance.”
Giới thực vật có phẩm tính hấp dẫn, được thể hiện bằng màu sắc, và sự giải thoát của nó, hay hình thức hoạt động cao nhất của nó, được thể hiện bằng hương thơm của các hình thái sự sống cao nhất của nó. Hương thơm này được kết nối với đời sống tính dục của nó, vốn có mục đích nhóm và kêu gọi sự trợ giúp của gió thụ phấn và thế giới côn trùng. Đây không chỉ là một cách mô tả chân lý bằng hình ảnh. Bản chất thực sự của hương thơm, mục đích và ý định của nó, là tác động đến những tác nhân sẽ tạo ra sự lan truyền và sự liên tục của sự sống của giới thực vật. Những "người chí nguyện" trong giới thực vật, và những hình thái tiến hóa nhất của nó, có vẻ đẹp và hương thơm, và dễ tiếp nhận [198] những ảnh hưởng ẩn kín của Các Đấng mà Các Ngài được giao phó việc điểm đạo các hình thức sự sống và đưa chúng đến một sự hoàn thiện mong muốn. Do đó có ảnh hưởng của Cung sáu của Lòng Sùng Tín lên giới này, và việc áp dụng Cung của Lòng Sùng Tín (được diễn đạt một cách tượng trưng) "dán mắt vào mặt trời; hướng sự sống mãi mãi về phía những tia nắng ấm áp, và gây ra sự hòa quyện của các màu sắc và vinh quang của sự rạng rỡ tỏa hương."
The animal kingdom has the quality of growing instinctual purpose which—in its highest form—works out as the domesticity of the more evolved animals, and their devotion to man. Behind the appearance of the animals is to be found a steady orientation towards understanding, and a consequent gravitation towards the forms of life which evidence that which they desire. Hence the influence of the fifth Ray of Concrete Knowledge, which pours through the human family upon the third kingdom in nature. Man is the initiating factor here, and to man is committed the task of leading the animal kingdom towards liberation—a liberation into the fourth kingdom, for that is the sphere of its next activity. The vegetable kingdom is liberated into another evolutionary process altogether, and its lives pass into the so-called deva, or angel, evolution. Hence the wind and the insect world are its agents, just as man and the agency of water are the initiators of the animal world. The secret of release for the animal nature is hidden in the “watery nature;” this is the blood aspect, and in the shedding of the blood, esoterically understood, lies the clue to the liberation of the animal kingdom. Hence certain initiatory processes are working out on a large scale in the shedding of blood through the slaughter of the animal form of the human being in the Great War, for instance. In the war the blood of thousands was poured out upon the soil, and from the standpoint of living [199] purpose, certain esoteric results have been achieved. This fact is a difficult one for man to understand, for his awareness is as yet primarily that of the form and not of the quality of the life. It is difficult for men to comprehend the divine purpose working out behind the evils of animal slaughter and the shedding of blood down the ages, pre-human and human. But through the “pouring out of that water which is of the colour red” there is eventuating a liberation which will initiate the life of that kingdom into new states of consciousness and of awareness. The whole problem of slaughter, whether in the animal or the human kingdom, originated in events which occurred during the original “war in heaven,” when Michael and his angels were cast down and our planetary system came into being. Until a man’s consciousness is such that he can, through an inner mechanism as yet unevolved in the majority, respond to the planetary consciousness and “enter into the secrets of the Ancient of Days,” the problem of pain, of bloodshed, of war and of suffering must remain an inscrutable mystery. It will be solved—and this is the keynote of most importance—only when man has himself changed the initiating process for the animals from that of bloodshed to that of domesticity and of mutual love. When the mentality of the race is more developed, then man can, by arbitration and the right use of speech, settle all differences, and thus change the mode of animal initiation, whether this refers to the animal kingdom or to his own animal body.
Giới thú vật có phẩm tính của mục đích bản năng đang phát triển, mà—trong hình thức cao nhất của nó—thể hiện ra như sự thuần hóa của các loài vật tiến hóa hơn, và lòng sùng tín của chúng đối với con người. Đằng sau dáng vẻ bề ngoài của các loài vật có thể tìm thấy một sự định hướng vững chắc hướng tới sự thấu hiểu, và một lực hấp dẫn hệ quả hướng tới các hình tướng sự sống thể hiện điều mà chúng khao khát. Do đó, ảnh hưởng của Cung năm của Kiến Thức Cụ Thể, vốn tuôn đổ qua gia đình nhân loại lên giới thứ ba trong tự nhiên. Con người là yếu tố khởi xướng ở đây, và con người được giao nhiệm vụ dẫn dắt giới thú vật hướng tới sự giải thoát—một sự giải thoát vào giới thứ tư, vì đó là phạm vi hoạt động tiếp theo của nó. Giới thực vật được giải thoát vào một tiến trình tiến hóa hoàn toàn khác, và sự sống của nó chuyển vào cái gọi là tiến hóa deva, hay thiên thần. Do đó gió và thế giới côn trùng là các tác nhân của nó, cũng giống như con người và tác nhân của nước là những tác nhân khởi xướng của thế giới động vật. Bí mật của sự giải thoát cho bản chất thú vật được ẩn giấu trong "bản chất nước;" đây là phương diện máu huyết, và trong sự đổ máu, được hiểu một cách huyền bí, có manh mối cho sự giải thoát của giới thú vật. Do đó, các tiến trình khai mở nhất định đang diễn ra trên quy mô lớn trong sự đổ máu thông qua việc tàn sát hình tướng động vật của con người, chẳng hạn trong Cuộc Đại Chiến. Trong cuộc chiến, máu của hàng ngàn người đã đổ xuống đất, và từ quan điểm của mục đích [199] sống, những kết quả huyền bí nhất định đã đạt được. Sự thật này là một điều khó hiểu đối với con người, vì nhận thức của y cho đến nay chủ yếu là nhận thức về hình tướng chứ không phải về phẩm tính của sự sống. Thật khó cho con người để lĩnh hội mục đích thiêng liêng đang diễn ra đằng sau những điều ác của sự giết mổ động vật và sự đổ máu qua các thời đại, tiền nhân loại và nhân loại. Nhưng thông qua "sự tuôn đổ của dòng nước có màu đỏ đó" đang diễn ra một sự giải thoát vốn sẽ khai mở sự sống của giới đó vào các trạng thái tâm thức và nhận thức mới. Toàn bộ vấn đề giết mổ, dù là trong giới thú vật hay giới nhân loại, bắt nguồn từ các sự kiện xảy ra trong "cuộc chiến trên thiên đường" ban đầu, khi Michael và các thiên thần của ngài bị ném xuống và hệ hành tinh của chúng ta ra đời. Cho đến khi tâm thức của một người đạt đến mức y có thể, thông qua một cơ chế bên trong chưa được phát triển ở đa số, đáp ứng với tâm thức hành tinh và "bước vào những bí mật của Đấng Thái Cổ," vấn đề đau đớn, đổ máu, chiến tranh và đau khổ phải vẫn là một bí ẩn khôn dò. Nó sẽ được giải quyết—và đây là chủ âm quan trọng nhất—chỉ khi con người tự mình thay đổi tiến trình khai mở cho các loài vật từ đổ máu sang thuần hóa và tình thương lẫn nhau. Khi trí năng của nhân loại phát triển hơn, thì con người có thể, bằng sự phân xử và việc sử dụng đúng đắn lời nói, giải quyết mọi khác biệt, và do đó thay đổi phương thức khai mở động vật, cho dù điều này đề cập đến giới thú vật hay cơ thể động vật của chính y.
In the fourth kingdom the emerging quality is that aspect of synthetic love or understanding which is the intuition. This intuition is a quality of mental matter and of the “chitta” or mind stuff. Man is also intended to be radio-active; the incense or the perfume of his life must ascend, and thus attract the attention of the initiating factors which wait to lead him to [200] liberation. These factors are the fire and the members of the fifth kingdom in nature. The growing purpose of his animal form must give place to the dynamic will of the spiritual entity, released from form limitations by the fire of life and of initiation. Thus he harmonises in himself all ways of approach and of release, and all achievements, and synthesises in his life the aspirations of the other three kingdoms.
Trong giới thứ tư, phẩm tính đang xuất hiện là phương diện tình thương tổng hợp hay sự thấu hiểu vốn là trực giác. Trực giác này là một phẩm tính của vật chất trí tuệ và của "chitta" hay chất liệu trí. Con người cũng được dự định trở nên phóng xạ; hương trầm hay hương thơm của cuộc đời y phải bay lên, và do đó thu hút sự chú ý của các yếu tố khởi xướng đang chờ đợi để dẫn dắt y đến [200] sự giải thoát. Những yếu tố này là lửa và các thành viên của giới thứ năm trong tự nhiên. Mục đích đang phát triển của hình tướng động vật của y phải nhường chỗ cho ý chí năng động của thực thể tinh thần, được giải phóng khỏi những giới hạn hình tướng bởi ngọn lửa của sự sống và của điểm đạo. Như vậy y hài hòa trong chính mình tất cả các con đường tiếp cận và giải thoát, và tất cả các thành tựu, và tổng hợp trong cuộc đời mình những khát vọng của ba giới khác.
Radio-activity, the perfume of the aspirant, the devotion to other human beings (the sublimation of domesticity), and the “shedding of blood” or the sacrifice of the life, the expression upon earth (the mineral kingdom) of the devotion and sex life of the vegetable kingdom, plus the sacrifice through blood of the animal kingdom, bring man to the portal of initiation. There the fire awaits him with its purifying uses, and thus earth, air, fire and water (the four elements) prepare him for the great liberation and for the release of that quality of synthetic apprehension of the underlying truth which we call the intuition. This is after all the response of the mechanism to the symbolic appeal of divine quality, expressed in the whole and seen as illumination. Thus the qualities emerge and appear in their full glory as man develops himself and unfolds within himself the needed apparatus of response, training himself to recognise the subjective realities or the divine qualities as they seek to manifest. The processes of manifestation produce results upon and in the gradually awakening consciousness of man.
Tính phóng xạ, hương thơm của người chí nguyện, lòng sùng tín đối với những con người khác (sự thăng hoa của tính thuần hóa), và "sự đổ máu" hay sự hy sinh sự sống, sự biểu hiện trên trái đất (giới kim thạch) của lòng sùng tín và đời sống tính dục của giới thực vật, cộng với sự hy sinh qua máu của giới thú vật, đưa con người đến cổng điểm đạo. Ở đó ngọn lửa chờ đợi y với những công dụng thanh lọc của nó, và như vậy đất, khí, lửa và nước (bốn nguyên tố) chuẩn bị cho y cho sự giải thoát vĩ đại và cho sự giải phóng phẩm tính lĩnh hội tổng hợp về chân lý cơ bản mà chúng ta gọi là trực giác. Rốt cuộc, đây là sự đáp ứng của cơ chế đối với lời kêu gọi biểu tượng của phẩm tính thiêng liêng, được biểu lộ trong cái toàn thể và được nhìn thấy như là sự soi sáng. Do đó, các phẩm tính xuất lộ và xuất hiện trong vinh quang trọn vẹn của chúng khi con người phát triển bản thân và khai mở bên trong mình bộ máy đáp ứng cần thiết, huấn luyện bản thân để nhận ra các thực tại chủ quan hay các phẩm tính thiêng liêng khi chúng tìm cách biểu hiện. Các tiến trình biểu hiện tạo ra kết quả trên và trong tâm thức đang dần thức tỉnh của con người.
5. Analysis of the Rays and Their Expression, from an Earlier Manuscript.—Phân Tích về Các Cung và Sự Biểu Hiện của Chúng, từ một Bản Thảo Trước Đây.
There is a vast fund of interesting knowledge as to the action and results of the ray activity in the lower kingdoms of nature, but on this point no details can be given; and [201] the following summary of what we have been told is necessarily imperfect and admits of endless amplification.
Có một kho tàng tri thức thú vị to lớn về hành động và kết quả của hoạt động cung trong các giới thấp hơn của tự nhiên, nhưng về điểm này không có chi tiết nào có thể được đưa ra; và [201] bản tóm tắt sau đây về những gì chúng ta đã được kể, chúng nhất thiết là không hoàn hảo và có thể mở rộng vô tận.
FIRST RAY OF WILL OR POWER
CUNG MỘT CỦA Ý CHÍ HAY QUYỀN NĂNG
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Strength, courage, steadfastness, truthfulness arising from absolute fearlessness, power of ruling, capacity to grasp great questions in a large-minded way, and of handling men and measures.
Sức mạnh, lòng can đảm, sự kiên định, tính chân thật nảy sinh từ sự không sợ hãi tuyệt đối, quyền năng cai trị, năng lực nắm bắt các vấn đề lớn theo cách rộng lượng, và năng lực xử lý con người và các biện pháp.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Pride, ambition, wilfulness, hardness, arrogance, desire to control others, obstinacy, anger.
Kiêu ngạo, tham vọng, ương ngạnh, cứng rắn, ngạo mạn, ham muốn kiểm soát người khác, bướng bỉnh, tức giận.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Tenderness, humility, sympathy, tolerance, patience.
Sự dịu dàng, khiêm tốn, cảm thông, khoan dung, kiên nhẫn.
This has been spoken of as the ray of power, and is correctly so called, but if it were power alone, without wisdom and love, a destructive and disintegrating force would result. When however the three characteristics are united, it becomes a creative and governing ray. Those on this ray have strong will power, for either good or evil, for the former when the will is directed by wisdom and made selfless by love. The first ray man will always “come to the front” in his own line. He may be the burglar or the judge who condemns him, but in either case he will be at the head of his profession. He is the born leader in any and every public career, one to trust and lean on, one to defend the weak and put down oppression, fearless of consequences and utterly indifferent to comment. On the other hand, an unmodified first ray can produce a man of unrelenting cruelty and hardness of nature.
Cung này đã được nói đến như là cung của quyền năng, và gọi như vậy là chính xác, nhưng nếu chỉ có quyền năng, không có minh triết và tình thương, thì sẽ là một lực lượng phá hoại và tan rã sẽ là kết quả. Tuy nhiên, khi ba đặc điểm này được hợp nhất, nó trở thành một cung sáng tạo và cai trị. Những người thuộc cung này có sức mạnh ý chí mạnh mẽ, cho dù là thiện hay ác, cho điều thiện khi ý chí được hướng dẫn bởi minh triết và trở nên vô ngã bởi tình thương. Người cung một sẽ luôn "đi lên phía trước" trong lĩnh vực của riêng mình. Y có thể là kẻ trộm hoặc vị thẩm phán kết án y, nhưng trong cả hai trường hợp, y sẽ đứng đầu nghề nghiệp của mình. Y là nhà lãnh đạo bẩm sinh trong bất kỳ và mọi sự nghiệp công cộng nào, một người để tin tưởng và dựa vào, một người bảo vệ kẻ yếu và dẹp bỏ sự áp bức, không sợ hậu quả và hoàn toàn điềm nhiên trước lời bàn tán. Mặt khác, một cung một không được điều chỉnh có thể tạo ra một người có bản chất tàn nhẫn và cứng rắn không khoan nhượng.
The first ray man often has strong feeling and affection, but [202] he does not readily express it; he will love strong contrasts and masses of colour, but will rarely be an artist; he will delight in great orchestral effects and crashing choruses, and if modified by the fourth, sixth or seventh rays, may be a great composer, but not otherwise; and there is a type of this ray which is tone-deaf, and another which is colour-blind to the more delicate colours. Such a man will distinguish red and yellow, but will hopelessly confuse blue, green and violet.
Người cung một thường có cảm xúc và tình cảm mạnh mẽ, nhưng [202] y không dễ dàng thể hiện ra. Y sẽ yêu thích những tương phản mạnh mẽ và những mảng màu lớn, nhưng hiếm khi là một nghệ sĩ; y sẽ thích thú với những hiệu ứng dàn nhạc hoành tráng và những đoạn hợp xướng vang rền, và nếu được điều chỉnh bởi cung bốn, sáu hoặc bảy, có thể là một nhà soạn nhạc vĩ đại, nhưng nếu không có thì không như thế; và có một kiểu người thuộc cung này bị điếc âm, và một kiểu khác bị mù màu với những màu tinh tế hơn. Một người như vậy sẽ phân biệt được đỏ và vàng, nhưng sẽ nhầm lẫn hoàn toàn xanh dương, xanh lá và tím.
The literary work of a first ray man will be strong and trenchant, but he will care little for style or finish in his writings. Perhaps examples of this type would be Luther, Carlyle, and Walt Whitman. It is said that in attempting the cure of disease the best method for the first ray man would be to draw health and strength from the great fount of universal life by his will power, and then pour it through the patient. This, of course, presupposes knowledge on his part of occult methods.
Tác phẩm văn học của một người cung một sẽ mạnh mẽ và sắc bén, nhưng y sẽ ít quan tâm đến phong cách hay sự trau chuốt trong các bài viết của mình. Có lẽ những ví dụ về loại này sẽ là Luther, Carlyle, và Walt Whitman. Người ta nói rằng trong việc cố gắng chữa bệnh, phương pháp tốt nhất cho người cung một sẽ là hút sức khỏe và sức mạnh từ nguồn suối vĩ đại của sự sống phổ quát bằng sức mạnh ý chí của mình, và sau đó tuôn đổ nó qua bệnh nhân. Tất nhiên, điều này giả định ý có được tri thức đối với các phương pháp huyền bí.
The characteristic method of approaching the great Quest on this ray would be by sheer force of will. Such a man would, as it were, take the kingdom of heaven “by violence.” We have seen that the born leader belongs to this ray, wholly or in part. It makes the able commander-in-chief, such as Napoleon or Kitchener. Napoleon was first and fourth rays, and Kitchener was first and seventh, the seventh ray giving him his remarkable power of organisation.
Phương pháp đặc trưng để tiếp cận Cuộc Tìm Kiếm vĩ đại trên cung này sẽ là bằng sức mạnh ý chí tuyệt đối. Một người như vậy, có thể nói, sẽ chiếm lấy vương quốc thiên đường "bằng bạo lực." Chúng ta đã thấy rằng nhà lãnh đạo bẩm sinh thuộc về cung này, toàn bộ hoặc một phần. Nó tạo nên vị tổng tư lệnh tài ba, như Napoleon hay Kitchener. Napoleon thuộc cung một và bốn, và Kitchener thuộc cung một và bảy, cung bảy mang lại cho ông khả năng tổ chức đáng chú ý.
THE SECOND RAY OF LOVE-WISDOM
CUNG HAI CỦA BÁC ÁI-MINH TRIẾT
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Calm, strength, patience and endurance, love of truth, faithfulness, intuition, clear intelligence, and serene temper.
Điềm tĩnh, sức mạnh, kiên nhẫn và bền bỉ, yêu sự thật, trung thành, trực giác, trí thông minh rõ ràng, và tính khí thanh thản.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Over-absorption in study, coldness, indifference to others, contempt of mental limitations in others. [203]
Quá say mê nghiên cứu, lạnh lùng, điềm nhiên với người khác, coi thường những hạn chế về trí tuệ ở người khác. [203]
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Love, compassion, unselfishness, energy.
Tình thương, lòng trắc ẩn, lòng vị tha, năng lượng.
This is called the ray of wisdom from its characteristic desire for pure knowledge and for absolute truth—cold and selfish, if without love, and inactive without power. When both power and love are present, then you have the ray of the Buddhas and of all great teachers of humanity,—those who, having attained wisdom for the sake of others, spend themselves in giving it forth. The student on this ray is ever unsatisfied with his highest attainments; no matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled.
Cung này được gọi là cung của minh triết do sự ham muốn đặc trưng của nó đối với tri thức thuần túy và đối với chân lý tuyệt đối—lạnh lùng và ích kỷ, nếu không có tình thương, và không hoạt động nếu không có quyền năng. Khi cả quyền năng và tình thương đều hiện diện, thì các bạn có cung của các Đức Phật và của tất cả các huấn sư vĩ đại của nhân loại,—những người, sau khi đạt được minh triết vì lợi ích của người khác, đã dành bản thân mình để ban phát nó. Đạo sinh trên cung này luôn không thỏa mãn với những thành tựu cao nhất của mình; bất kể tri thức của y lớn đến đâu, tâm trí y vẫn dán chặt vào cái chưa biết, cái bên kia, và vào những đỉnh cao chưa được leo tới.
The second ray man will have tact and foresight; he will make an excellent ambassador, and a first-rate teacher or head of a college; as a man of affairs, he will have clear intelligence and wisdom in dealing with matters which come before him, and he will have the capacity of impressing true views of things on others and of making them see things as he does. He will make a good business man, if modified by the fourth, fifth and seventh rays. The soldier on this ray would plan wisely and foresee possibilities; he would have an intuition as to the best course to pursue, and he would never lead his men into danger through rashness. He might be deficient in rapidity of action and energy. The artist on this ray would always seek to teach through his art, and his pictures would have a meaning. His literary work would always be instructive.
Người cung hai sẽ có sự khéo léo và tầm nhìn xa; y sẽ làm một đại sứ xuất sắc, và một giáo viên hạng nhất hoặc người đứng đầu một trường đại học; là một người của công việc, y sẽ có trí thông minh rõ ràng và minh triết trong việc giải quyết các vấn đề đến trước y, và y sẽ có khả năng gây ấn tượng về quan điểm đúng đắn của sự việc lên người khác và làm cho họ nhìn thấy sự việc như y thấy. Y sẽ làm một doanh nhân giỏi, nếu được điều chỉnh bởi các cung bốn, năm và bảy. Người lính trên cung này sẽ lên kế hoạch một cách khôn ngoan và thấy trước các khả năng; y sẽ có một trực giác về hướng đi tốt nhất để theo đuổi, và y sẽ không bao giờ dẫn dắt người của mình vào nguy hiểm do sự hấp tấp. Y có thể thiếu sự nhanh chóng trong hành động và năng lượng. Người nghệ sĩ trên cung này sẽ luôn tìm cách dạy dỗ thông qua nghệ thuật của mình, và các bức tranh của y sẽ có một ý nghĩa. Tác phẩm văn học của y sẽ luôn mang tính hướng dẫn.
The method of healing, for the second ray man, would be to learn thoroughly the temperament of the patient as well as to be thoroughly conversant with the nature of the disease, so as to use his will power on the case to the best advantage.
Phương pháp chữa bệnh, đối với người cung hai, sẽ là tìm hiểu kỹ lưỡng tính khí của bệnh nhân cũng như thông thạo thấu đáo bản chất của căn bệnh, để sử dụng sức mạnh ý chí của mình lên trường hợp đó một cách có lợi nhất.
The characteristic method of approaching the Path would be by close and earnest study of the teachings till they become [204] so much a part of the man’s consciousness as no longer to be merely intellectual knowledge, but a spiritual rule of living, thus bringing in intuition and true wisdom.
Phương pháp đặc trưng để tiếp cận Thánh đạo sẽ là bằng sự nghiên cứu chặt chẽ và nghiêm túc các giáo lý cho đến khi chúng trở thành [204] một phần của tâm thức con người đến mức không còn chỉ là tri thức trí tuệ đơn thuần, mà là một quy luật sống tinh thần, từ đó mang lại trực giác và minh triết chân thực.
A bad type of the second ray would be bent on acquiring knowledge for himself alone, absolutely indifferent to the human needs of others. The foresight of such a man would degenerate into suspicion, his calmness into coldness and hardness of nature.
Một loại người xấu của cung hai sẽ chỉ chăm chăm vào việc đạt được tri thức cho riêng mình, hoàn toàn điềm nhiên với những nhu cầu con người của người khác. Tầm nhìn xa của một người như vậy sẽ thoái hóa thành sự nghi ngờ, sự điềm tĩnh của y thành sự lạnh lùng và cứng rắn của bản chất.
THE THIRD RAY OF HIGHER MIND
CUNG BA CỦA THƯỢNG TRÍ
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Wide views on all abstract questions, sincerity of purpose, clear intellect, capacity for concentration on philosophic studies, patience, caution, absence of the tendency to worry himself or others over trifles.
Quan điểm rộng lớn về tất cả các câu hỏi trừu tượng, sự chân thành trong mục đích, trí tuệ rõ ràng, khả năng tập trung vào các nghiên cứu triết học, kiên nhẫn, thận trọng, không có xu hướng lo lắng cho bản thân hoặc người khác về những chuyện vặt vãnh.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Intellectual pride, coldness, isolation, inaccuracy in details, absent-mindedness, obstinacy, selfishness, overmuch criticism of others.
Kiêu ngạo trí tuệ, lạnh lùng, cô lập, không chính xác trong các chi tiết, lơ đễnh, ương ngạnh, ích kỷ, chỉ trích người khác quá nhiều.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Sympathy, tolerance, devotion, accuracy, energy and common-sense.
Cảm thông, khoan dung, sùng tín, chính xác, năng lượng và lương tri.
This is the ray of the abstract thinker, of the philosopher and the metaphysician, of the man who delights in the higher mathematics but who, unless modified by some practical ray, would hardly be troubled to keep his accounts accurately. His imaginative faculty will be highly developed, i.e., he can by the power of his imagination grasp the essence of a truth; his idealism will often be strong; he is a dreamer and a theorist, and from his wide views and great caution he sees every side [205] of a question equally clearly. This sometimes paralyses his action. He will make a good business man; as a soldier he will work out a problem in tactics at his desk, but is seldom great in the field. As an artist his technique is not fine, but his subjects will be full of thought and interest. He will love music, but unless influenced by the fourth ray he will not produce it. In all walks of life he is full of ideas, but is too impractical to carry them out.
Đây là cung của nhà tư tưởng trừu tượng, của triết gia và nhà siêu hình học, của người thích thú với toán học cao cấp, nhưng trừ khi được điều chỉnh bởi một cung thực tiển nào đó, sẽ khó có thể bận tâm giữ cho các tài khoản của mình được chính xác. Khả năng tưởng tượng của y sẽ rất phát triển, nghĩa là, y có thể bằng sức mạnh của sự tưởng tượng nắm bắt bản chất của một chân lý; chủ nghĩa lý tưởng của y thường sẽ mạnh mẽ; y là một người mơ mộng và một nhà lý thuyết, và từ những quan điểm rộng lớn và sự thận trọng tuyệt vời của mình, y nhìn thấy mọi mặt [205] của một vấn đề rõ ràng như nhau. Điều này đôi khi làm tê liệt hành động của y. Y sẽ làm một doanh nhân giỏi; là một người lính, y sẽ giải quyết một vấn đề về chiến thuật tại bàn làm việc của mình, nhưng hiếm khi vĩ đại trên chiến trường. Là một nghệ sĩ, kỹ thuật của y không tinh tế, nhưng các chủ đề của y sẽ đầy tư tưởng và thú vị. Y sẽ yêu âm nhạc, nhưng trừ khi bị ảnh hưởng bởi cung bốn, y sẽ không tạo ra nó. Trong mọi tầng lớp xã hội, y đầy ắp các ý tưởng, nhưng quá thiếu thực tế để thực hiện chúng.
One type of this ray is unconventional to a degree, slovenly, unpunctual and idle, and regardless of appearances. If influenced by the fifth ray as the secondary ray this character is, entirely changed. The third and the fifth rays make the perfectly balanced historian who grasps his subject in a large way and verifies every detail with patient accuracy. Again the third and the fifth rays together make the truly great mathematician who soars into heights of abstract thought and calculation, and who can also bring his results down to practical scientific use. The literary style of the third ray man is too often vague and involved, but if influenced by the first, fourth, fifth or seventh rays, this is changed, and under the fifth he will be a master of the pen.
Một loại người của cung này không theo quy ước đến mức độ lôi thôi, không đúng giờ và lười biếng, và bất chấp vẻ bề ngoài. Nếu bị ảnh hưởng bởi cung năm như là cung thứ cấp, nhân vật này hoàn toàn thay đổi. Cung ba và cung năm tạo nên nhà sử học cân bằng hoàn hảo, người nắm bắt chủ đề của mình một cách rộng lớn và xác minh từng chi tiết với sự chính xác kiên nhẫn. Một lần nữa, cung ba và cung năm cùng nhau tạo nên nhà toán học thực sự vĩ đại, người bay bổng vào những đỉnh cao của tư tưởng trừu tượng và tính toán, và người cũng có thể đưa kết quả của mình xuống sử dụng khoa học thực tế. Phong cách văn học của người cung ba thường quá mơ hồ và phức tạp, nhưng nếu bị ảnh hưởng bởi các cung một, bốn, năm hoặc bảy, điều này sẽ thay đổi, và dưới cung năm, y sẽ là một bậc thầy của ngòi bút.
The curing of disease by the third ray man would be by the use of drugs made of herbs or minerals belonging to the same ray as the patient whom he desires to relieve.
Việc chữa bệnh bởi người cung ba sẽ là bằng việc sử dụng các loại thuốc làm từ thảo mộc hoặc khoáng chất thuộc cùng cung với bệnh nhân mà y mong muốn làm giảm nhẹ.
The method of approaching the great Quest, for this ray type, is by deep thinking on philosophic or metaphysical lines till he is led to the realisation of the great Beyond and of the paramount importance of treading the Path that leads thither.
Phương pháp tiếp cận Cuộc Tìm Kiếm vĩ đại, đối với loại cung này, là bằng cách suy nghĩ sâu sắc về các dòng triết học hoặc siêu hình cho đến khi y được dẫn đến sự chứng nghiệm về Cái Bên Kia vĩ đại và về tầm quan trọng tối cao của việc bước đi trên Thánh đạo dẫn đến đó.
THE FOURTH RAY OF HARMONY THROUGH CONFLICT
CUNG BỐN CỦA SỰ HÀI HÒA QUA XUNG ĐỘT
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Strong affections, sympathy, physical courage, generosity, devotion, quickness of intellect and perception. [206]
Tình cảm mạnh mẽ, cảm thông, lòng can đảm thể chất, hào phóng, sùng tín, nhanh nhạy về trí tuệ và nhận thức. [206]
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Self-centredness, worrying, inaccuracy, lack of moral courage, strong passions, indolence, extravagance.
Sự tập trung vào bản thân, lo lắng, không chính xác, thiếu can đảm đạo đức, đam mê mạnh mẽ, lười biếng, hoang phí.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Serenity, confidence, self-control, purity, unselfishness, accuracy, mental and moral balance.
Sự thanh thản, tự tin, tự chủ, thanh khiết, lòng vị tha, chính xác, cân bằng tinh thần và đạo đức.
This has been called the “ray of struggle” for on this ray the qualities of rajas (activity) and tamas (inertia) are so strangely equal in proportion that the nature of the fourth ray man is torn with their combat, and the outcome, when satisfactory, is spoken of as the “Birth of Horus,” of the Christ, born from the throes of constant pain and suffering.
Cung này được gọi là "cung của sự đấu tranh" vì trên cung này các phẩm tính của rajas (hoạt động) và tamas (trì trệ) cân bằng một cách kỳ lạ về tỷ lệ đến mức bản chất của người cung bốn bị giằng xé bởi cuộc chiến của chúng, và kết quả, khi thỏa đáng, được gọi là "Sự Ra Đời của Horus," hay của Đấng Christ, được sinh ra từ những cơn đau đớn và khổ sở triền miên.
Tamas induces love of ease and pleasure, a hatred of causing pain amounting to moral cowardice, indolence, procrastination, a desire to let things be, to rest, and to take no thought of the morrow. Rajas is fiery, impatient, ever urging to action. These contrasting forces in the nature make life one perpetual warfare and unrest for the fourth ray man; the friction and the experience gained thereby may produce very rapid evolution, but the man may as easily become a ne’er-do-well as a hero.
Tamas gây ra tình yêu sự thoải mái và khoái lạc, một sự căm ghét việc gây đau đớn đến mức hèn nhát về đạo đức, lười biếng, trì hoãn, mong muốn để mọi thứ nguyên trạng, để nghỉ ngơi, và không lo nghĩ gì cho ngày mai. Rajas thì bốc lửa, thiếu kiên nhẫn, luôn thúc giục hành động. Những lực lượng tương phản này trong bản chất làm cho cuộc sống trở thành một cuộc chiến tranh và bất ổn vĩnh viễn đối với người cung bốn; sự ma sát và kinh nghiệm thu được nhờ đó có thể tạo ra sự tiến hóa rất nhanh chóng, nhưng con người cũng có thể dễ dàng trở thành một kẻ vô tích sự cũng như một anh hùng.
It is the ray of the dashing cavalry leader, reckless of risks to himself or his followers. It is the ray of the man who will lead a forlorn hope, for in moments of excitement the fourth ray man is entirely dominated by rajas; of the wild speculator and gambler, full of enthusiasm and plans, easily overwhelmed by sorrow or failure, but as quickly recovering from all reverses and misfortunes.
Đó là cung của người chỉ huy kỵ binh hăng hái, bất chấp rủi ro cho bản thân hoặc những người theo mình. Đó là cung của người sẽ dẫn đầu một hy vọng mong manh, vì trong những khoảnh khắc phấn khích, người cung bốn hoàn toàn bị chi phối bởi rajas; của nhà đầu cơ và con bạc hoang dại, đầy nhiệt huyết và kế hoạch, dễ bị choáng ngợp bởi nỗi buồn hay thất bại, nhưng cũng nhanh chóng phục hồi sau mọi đảo ngược và bất hạnh.
It is pre-eminently the ray of colour, of the artist whose colour is always great, though his drawing will often be defective. (Watts was fourth and second rays.) The fourth ray [207] man always loves colour, and can generally produce it. If untrained as an artist, a colour sense is sure to appear in other ways, in choice of dress or decorations.
Đó là cung ưu việt của màu sắc, của người nghệ sĩ có màu sắc luôn tuyệt vời, mặc dù bức vẽ của y thường sẽ bị lỗi. (Watts thuộc cung bốn và hai.) Người cung bốn [207] luôn yêu thích màu sắc, và thường có thể tạo ra nó. Nếu không được đào tạo thành nghệ sĩ, một cảm giác về màu sắc chắc chắn sẽ xuất hiện theo những cách khác, trong việc lựa chọn trang phục hoặc đồ trang trí.
In music, fourth ray compositions are always full of melody, and the fourth ray man loves a tune. As a writer or poet, his work will often be brilliant and full of picturesque word-painting, but inaccurate, full of exaggerations, and often pessimistic. He will generally talk well and have a sense of humour, but he varies between brilliant conversations and gloomy silences, according to his mood. He is a delightful and difficult person to live with.
Trong âm nhạc, các tác phẩm cung bốn luôn đầy giai điệu, và người cung bốn yêu thích một giai điệu. Là một nhà văn hay nhà thơ, tác phẩm của y thường sẽ rực rỡ và đầy những bức tranh bằng lời nói đẹp như tranh vẽ, nhưng không chính xác, đầy những sự phóng đại, và thường bi quan. Y thường sẽ nói chuyện hay và có khiếu hài hước, nhưng y thay đổi giữa những cuộc trò chuyện rực rỡ và những sự im lặng u ám, tùy theo tâm trạng của mình. Y là một người thú vị và khó sống cùng.
In healing, the best fourth ray method is massage and magnetism, used with knowledge.
Trong chữa bệnh, phương pháp cung bốn tốt nhất là xoa bóp và từ điện, được sử dụng với tri thức.
The method of approaching the Path will be by self-control, thus gaining equilibrium amongst the warring forces of the nature. The lower and extremely dangerous way is by Hatha Yoga.
Phương pháp tiếp cận Thánh đạo sẽ là bằng sự tự chủ, do đó đạt được sự cân bằng giữa các lực lượng đang chiến đấu của bản chất. Con đường thấp hơn và cực kỳ nguy hiểm là bằng Hatha Yoga.
THE FIFTH RAY OF LOWER MIND
CUNG NĂM CỦA HẠ TRÍ
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Strictly accurate statements, justice (without mercy), perseverance, common-sense, uprightness, independence, keen intellect.
Các tuyên bố cực kỳ chính xác, công lý (không có lòng thương xót), kiên trì, lương tri, chính trực, độc lập, trí tuệ sắc sảo.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Harsh criticism, narrowness, arrogance, unforgiving temper, lack of sympathy and reverence, prejudice.
Chỉ trích gay gắt, hẹp hòi, ngạo mạn, tính khí không tha thứ, thiếu cảm thông và tôn kính, định kiến.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Reverence, devotion, sympathy, love, wide-mindedness.
Sự tôn kính, sùng tín, cảm thông, tình thương, tư tưởng rộng mở.
This is the ray of science and of research. The man on this ray will possess keen intellect, great accuracy in detail, and [208] will make unwearied efforts to trace the smallest fact to its source, and to verify every theory. He will generally be extremely truthful, full of lucid explanation of facts, though sometimes pedantic and wearisome from his insistence on trivial and unnecessary verbal minutiae. He will be orderly, punctual, business-like, disliking to receive favours or flattery.
Đây là cung của khoa học và của nghiên cứu. Người trên cung này sẽ sở hữu trí tuệ sắc sảo, sự chính xác tuyệt vời trong chi tiết, và [208] sẽ nỗ lực không mệt mỏi để truy tìm sự thật nhỏ nhất đến nguồn gốc của nó, và để xác minh mọi lý thuyết. Y thường sẽ cực kỳ trung thực, đầy sự giải thích rõ ràng về các sự kiện, mặc dù đôi khi tỏ ra thông thái rởm và mệt mỏi vì sự khăng khăng của mình vào những chi tiết vụn vặt và không cần thiết. Y sẽ ngăn nắp, đúng giờ, giống như một doanh nhân, không thích nhận ân huệ hay sự tâng bốc.
It is the ray of the great chemist, the practical electrician, the first-rate engineer, the great operating surgeon. As a statesman, the fifth ray man would be narrow in his views, but he would be an excellent head of some special technical department, though a disagreeable person under whom to work. As a soldier, he would turn most readily to artillery and engineering. The artist on this ray is very rare, unless the fourth or seventh be the influencing secondary rays; even then, his colouring will be dull, his sculptures lifeless, and his music (if he composes) will be uninteresting, though technically correct in form. His style in writing or speaking will be clearness itself, but it will lack fire and point, and he will often be long-winded, from his desire to say all that can possibly be said on his subject.
Đó là cung của nhà hóa học vĩ đại, thợ điện thực hành, kỹ sư hạng nhất, bác sĩ phẫu thuật vĩ đại. Là một chính khách, người cung năm sẽ hẹp hòi trong quan điểm của mình, nhưng y sẽ là người đứng đầu xuất sắc của một bộ phận kỹ thuật đặc biệt nào đó, mặc dù là một người khó chịu khi làm việc dưới quyền. Là một người lính, y sẽ chuyển hướng dễ dàng nhất sang pháo binh và kỹ thuật. Nghệ sĩ trên cung này rất hiếm, trừ khi cung bốn hoặc bảy là các cung thứ cấp ảnh hưởng; ngay cả khi đó, màu sắc của y sẽ xỉn, các tác phẩm điêu khắc của y vô hồn, và âm nhạc của y (nếu y sáng tác) sẽ không thú vị, mặc dù đúng về mặt kỹ thuật hình thức. Phong cách viết hoặc nói của y sẽ rõ ràng, nhưng nó sẽ thiếu lửa và điểm nhấn, và y thường sẽ dài dòng, do mong muốn nói tất cả những gì có thể nói về chủ đề của mình.
In healing, he is the perfect surgeon, and his best cures will be through surgery and electricity.
Trong chữa bệnh, y là bác sĩ phẫu thuật hoàn hảo, và những cách chữa trị tốt nhất của y sẽ là thông qua phẫu thuật và điện.
For the fifth ray, the method of approaching the Path is by scientific research, pushed to ultimate conclusions, and by the acceptance of the inferences which follow these.
Đối với cung năm, phương pháp tiếp cận Thánh đạo là bằng nghiên cứu khoa học, được đẩy đến những kết luận cuối cùng, và bằng việc chấp nhận những suy luận theo sau đó.
THE SIXTH RAY OF DEVOTION
CUNG SÁU CỦA LÒNG SÙNG TÍN
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Devotion, single-mindedness, love, tenderness, intuition, loyalty, reverence.
Lòng sùng tín, nhất tâm, tình thương, sự dịu dàng, trực giác, lòng trung thành, sự tôn kính.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Selfish and jealous love, over-leaning on others, partiality, [209] self-deception, sectarianism, superstition, prejudice, over-rapid conclusions, fiery anger.
Tình yêu ích kỷ và ghen tuông, dựa dẫm quá nhiều vào người khác, thiên vị, [209] tự lừa dối, chủ nghĩa bè phái, mê tín, định kiến, kết luận quá nhanh, cơn giận dữ bốc lửa.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Strength, self-sacrifice, purity, truth, tolerance, serenity, balance and common sense.
Sức mạnh, sự hy sinh bản thân, sự thanh khiết, sự thật, khoan dung, thanh thản, cân bằng và lương tri.
This is called the ray of devotion. The man who is on this ray is full of religious instincts and impulses, and of intense personal feeling; nothing is taken equably. Everything, in his eyes, is either perfect or intolerable; his friends are angels, his enemies are very much the reverse; his view, in both cases, is formed not on the intrinsic merits of either class, but on the way the persons appeal to him, or on the sympathy or lack of sympathy which they shew to his favourite idols, whether these be concrete or abstract, for he is full of devotion, it may be to a person, or it may be to a cause.
Đây được gọi là cung của lòng sùng tín. Người ở trên cung này đầy những bản năng và xung lực tôn giáo, và tình cảm cá nhân mãnh liệt; không có gì được tiếp nhận một cách bình thản. Mọi thứ trong mắt y hoặc là hoàn hảo hoặc là không thể chịu đựng được; bạn bè của y là những thiên thần, kẻ thù của y hoàn toàn ngược lại; quan điểm của y, trong cả hai trường hợp, được hình thành không dựa trên những giá trị nội tại của một trong hai lớp người, mà dựa trên cách những người đó thu hút y, hoặc dựa trên sự cảm thông hay thiếu cảm thông mà họ thể hiện đối với những thần tượng yêu thích của y, cho dù những thần tượng này là cụ thể hay trừu tượng, vì y đầy lòng sùng tín, có thể là đối với một người, hoặc có thể là đối với một sự nghiệp.
He must always have a “personal God,” an incarnation of Deity to adore. The best type of this ray makes the saint, the worst type, the bigot or fanatic, the typical martyr or the typical inquisitor. All religious wars or crusades have originated from sixth ray fanaticism. The man on this ray is often of gentle nature, but he can always flame into fury and fiery wrath. He will lay down his life for the objects of his devotion or reverence, but he will not lift a finger to help those outside of his immediate sympathies. As a soldier, he hates fighting but often when roused in battle fights like one possessed. He is never a great statesman nor a good business man, but he may be a great preacher or orator.
Y phải luôn có một "Thượng đế cá nhân," một hoá thân của Thượng đế để tôn thờ. Loại tốt nhất của cung này tạo nên vị thánh, loại tồi tệ nhất là kẻ cố chấp hoặc người cuồng tín, người tử vì đạo điển hình hoặc quan tòa dị giáo điển hình. Tất cả các cuộc chiến tranh tôn giáo hoặc các cuộc thập tự chinh đều bắt nguồn từ sự cuồng tín của cung sáu. Người trên cung này thường có bản chất nhẹ nhàng, nhưng y luôn có thể bùng lên thành cơn thịnh nộ và cơn giận dữ bốc lửa. Y sẽ hy sinh mạng sống của mình cho các đối tượng mà y sùng tín hoặc tôn kính, nhưng y sẽ không nhấc một ngón tay để giúp đỡ những người nằm ngoài sự cảm thông trực tiếp của mình. Là một người lính, y ghét chiến đấu nhưng thường khi bị kích động trong trận chiến sẽ chiến đấu như một kẻ bị ám. Y không bao giờ là một chính khách vĩ đại hay một doanh nhân giỏi, nhưng y có thể là một nhà thuyết giáo hoặc diễn giả vĩ đại.
The sixth ray man will be the poet of the emotions (such as Tennyson) and the writer of religious books, either in poetry or prose. He is devoted to beauty and colour and all things lovely, but his productive skill is not great unless under the [210] influence of one of the practically artistic rays, the fourth or seventh. His music will always be of a melodious order, and he will often be the composer of oratories and of sacred music.
Người cung sáu sẽ là nhà thơ của những cảm xúc (như Tennyson) và là người viết các quyển sách tôn giáo, hoặc bằng thơ hoặc văn xuôi. Y sùng kính vẻ đẹp và màu sắc và tất cả những điều đáng yêu, nhưng kỹ năng sản xuất của y không lớn trừ khi dưới [210] ảnh hưởng của một trong những cung nghệ thuật thực tế, cung bốn hoặc bảy. Âm nhạc của y sẽ luôn thuộc loại du dương, và y thường sẽ là nhà soạn nhạc của các bản oratorio và âm nhạc thánh.
The method of healing for this ray would be by faith and prayer.
Phương pháp chữa bệnh cho cung này sẽ là bằng đức tin và cầu nguyện.
The way of approaching the Path would be by prayer and meditation, aiming at union with God.
Cách tiếp cận Thánh đạo sẽ là bằng cầu nguyện và tham thiền, nhằm mục đích hợp nhất với Thượng đế.
THE SEVENTH RAY OF CEREMONIAL ORDER OR MAGIC
CUNG BẢY CỦA TRẬT TỰ NGHI LỄ HAY HUYỀN THUẬT
Special Virtues:
Các Đức Hạnh Đặc Biệt:
Strength, perseverance, courage, courtesy, extreme care in details, self-reliance.
Sức mạnh, sự kiên trì, lòng can đảm, lịch sự, cực kỳ cẩn thận trong các chi tiết, sự tự lực.
Vices of Ray:
Các Tật Xấu của Cung:
Formalism, bigotry, pride, narrowness, superficial judgments, self-opinion over-indulged.
Chủ nghĩa hình thức, cố chấp, kiêu ngạo, hẹp hòi, phán xét hời hợt, tự cao tự đại quá mức.
Virtues to be acquired:
Các Đức Hạnh cần đạt được:
Realisation of unity, wide-mindedness, tolerance, humility, gentleness and love.
Sự chứng nghiệm về sự hợp nhất, tư tưởng rộng mở, khoan dung, khiêm tốn, dịu dàng và tình thương.
This is the ceremonial ray, the ray which makes a man delight in “all things done decently and in order,” and according to rule and precedent. It is the ray of the high priest and the court chamberlain, of the soldier who is a born genius in organisation, of the ideal commissary general who will dress and feed the troops in the best possible way. It is the ray of the perfect nurse for the sick, careful in the smallest detail, though sometimes too much inclined to disregard the patients” idiosyncrasies and to try and grind them in the iron mill of routine.
Đây là cung nghi lễ, cung khiến một người thích thú với "mọi việc được thực hiện một cách đúng đắn và theo trật tự," và theo đúng quy tắc và tiền lệ. Đây là cung của vị thượng tế và quan nội vụ triều đình, của người lính là thiên tài bẩm sinh về tổ chức, của viên tổng hậu cần lý tưởng người sẽ trang bị quân phục và cung cấp lương thực cho quân đội theo cách tốt nhất có thể. Đây là cung của người y tá hoàn hảo chăm sóc người bệnh, cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ nhất, mặc dù đôi khi có xu hướng bỏ qua những đặc thù cá nhân của bệnh nhân và cố gắng ép họ vào cối xay sắt của thói quen.
It is the ray of form, of the perfect sculptor, who sees and produces ideal beauty, of the designer of beautiful forms and patterns of any sort; but such a man would not be successful [211] as a painter unless his influencing ray were the fourth. The combination of four with seven would make the very highest type of artist, form and colour being both in excelsis. The literary work of the seventh ray man would be remarkable for its ultra-polished style, and such a writer would think far more of the manner than of the matter in his work, but would always be fluent both in writing and speech. The seventh ray man will often be sectarian. He will delight in fixed ceremonials and observances, in great processions and shows, in reviews of troops and warships, in genealogical trees, and in rules of precedence.
Đó là cung của hình tướng, của nhà điêu khắc hoàn hảo, người nhìn thấy và tạo ra vẻ đẹp lý tưởng, của người thiết kế những hình tướng và hoa văn đẹp đẽ thuộc bất kỳ loại nào; nhưng một người như vậy sẽ không thành công [211] như một họa sĩ trừ khi cung ảnh hưởng của y là cung bốn. Sự kết hợp của bốn với bảy sẽ tạo nên loại nghệ sĩ cao nhất, cả hình thức và màu sắc đều ở mức tuyệt hảo. Tác phẩm văn học của người cung bảy sẽ đáng chú ý vì phong cách cực kỳ trau chuốt của nó, và một nhà văn như vậy sẽ nghĩ nhiều hơn về cách thức hơn là về nội dung trong tác phẩm của mình, nhưng sẽ luôn trôi chảy cả trong viết và nói. Người cung bảy thường sẽ mang tính bè phái. Y sẽ thích thú trong các nghi lễ và sự tuân thủ cố định, trong các cuộc diễu hành và trình diễn lớn, trong các cuộc duyệt binh và tàu chiến, trong các gia phả, và trong các quy tắc về thứ bậc.
The bad type of seventh ray man is superstitious, and such a man will take deep interest in omens, in dreams, in all occult practices, and in spiritualistic phenomena. The good type of the ray is absolutely determined to do the right thing and say the right word at the right moment; hence great social success.
Loại người xấu của cung bảy là mê tín, và một người như vậy sẽ quan tâm sâu sắc đến các điềm báo, giấc mơ, tất cả các thực hành huyền bí, và các hiện tượng thần linh học. Loại người tốt của cung này hoàn toàn quyết tâm làm điều đúng và nói lời đúng vào đúng thời điểm; do đó thành công lớn trong xã hội.
In healing, the seventh ray man would rely on extreme exactness in carrying out orthodox treatment of disease. On him the practices of yoga would have no physical bad results.
Trong trị liệu, người cung bảy sẽ dựa vào sự chính xác tuyệt đối trong việc thực hiện phương pháp điều trị chính thống của bệnh tật. Đối với y, các pháp tu yoga sẽ không có hậu quả xấu về thể chất.
He will approach the Path through observance of rules of practice and of ritual, and can easily evoke and control the elemental forces.
Y sẽ tiếp cận Thánh đạo thông qua việc tuân thủ các quy tắc thực hành và nghi lễ, và có thể dễ dàng gợi lên và kiểm soát các lực lượng hành khí.
From many of the above remarks it may have been inferred that the characteristics of any given ray find closer correspondence with one of the other rays than with the rest. This is a fact. The only one which stands alone and has no close relationship with any of the others is the fourth. This brings to mind the unique position which the number four occupies in the evolutionary process. We have the fourth root race, the fourth planetary chain, the fourth planet in the chain, the fourth planetary manvantara, etc.
Từ nhiều nhận xét ở trên, có thể suy ra rằng các đặc điểm của bất kỳ cung nào cũng tìm thấy sự tương ứng chặt chẽ hơn với một trong các cung khác so với phần còn lại. Đây là một thực tế. Cung duy nhất đứng một mình và không có mối quan hệ chặt chẽ với bất kỳ cung nào khác là cung bốn. Điều này gợi nhớ đến vị trí độc nhất mà con số bốn chiếm giữ trong tiến trình tiến hóa. Chúng ta có giống dân gốc thứ tư, dãy hành tinh thứ tư, hành tinh thứ tư trong dãy, manvantara hành tinh thứ tư, v.v.
Between the third and the fifth rays there is a close relationship. [212] In the search after knowledge, for example, the most laborious and minute study of detail is the path that will be followed, whether in philosophy, the higher mathematics or in the pursuit of practical science.
Giữa cung ba và cung năm có một mối quan hệ chặt chẽ. [212] Ví dụ, trong việc tìm kiếm tri thức, sự nghiên cứu chi tiết tỉ mỉ và tốn nhiều công sức nhất là con đường sẽ được theo đuổi, cho dù trong triết học, toán học cao cấp hay trong việc theo đuổi khoa học thực tế.
The correspondence between the second and the sixth rays shews itself in the intuitive grasp of synthesised knowledge, and in the common bond of faithfulness and loyalty.
Sự tương ứng giữa cung hai và cung sáu thể hiện chính nó trong sự nắm bắt trực giác về tri thức tổng hợp, và trong mối liên kết chung của sự trung thành và lòng trung kiên.
Masterfulness, steadfastness, and perseverance are the corresponding characteristics of the first and the seventh rays.
Sự làm chủ, sự kiên định, và sự kiên trì là những đặc điểm tương ứng của cung một và cung bảy.
SECTION 2 - CHAPTER II... The Rays and the Kingdoms in Nature—Các Cung và Các Giới trong Tự Nhiên
Introductory Remarks—Nhận Xét Mở Đầu
[215]
[215]
In starting upon a consideration of the relation of the rays to the seven kingdoms I shall refer to the seven kingdoms on the upward or evolutionary arc, and not to the seven kingdoms as they can be enumerated on the involutionary or downward arc. This latter (according to the Theosophical literature) includes three kingdoms—nebulous, relatively formless, and unexpressed—and the four kingdoms as enumerated by modern science. With the involutionary arc we have nothing to do. The understanding of it is well nigh impossible to the finite mind of the average reader. Though these three involutionary kingdoms exist, and though the little known about them in the West has received written form, any real comprehension of the implied truths is entirely lacking. This is quite unavoidable. Their comprehension lies hid in the capacity to “recover” the past and to see that past as a whole.
Khi bắt đầu xem xét mối quan hệ của các cung với bảy giới, tôi sẽ đề cập đến bảy giới trên cung đi lên hay cung thăng thượng tiến hóa, chứ không phải bảy giới như chúng có thể được liệt kê trên cung đi cuống hay giáng hạ tiến hóa. Cung sau này (theo văn học Thông Thiên Học) bao gồm ba giới—mơ hồ, tương đối vô sắc tướng, và chưa được biểu đạt—và bốn giới như được liệt kê bởi khoa học hiện đại. Với cung giáng hạ, chúng ta không có việc gì để làm. Sự thấu hiểu về nó gần như là không thể đối với tâm trí hữu hạn của người đọc trung bình. Mặc dù ba giới giáng hạ này tồn tại, và mặc dù những điều ít ỏi được biết về chúng ở phương Tây đã nhận được hình thức văn bản, nhưng bất kỳ sự lĩnh hội thực sự nào về những chân lý ngụ ý đều hoàn toàn thiếu vắng. Điều này là hoàn toàn không thể tránh khỏi. Sự lĩnh hội chúng nằm ẩn trong khả năng "khôi phục" quá khứ và nhìn thấy quá khứ đó như một tổng thể.
The kingdoms which we shall consider in connection with the rays may be enumerated under the following terms:
Các giới mà chúng ta sẽ xem xét liên quan đến các cung có thể được liệt kê dưới các thuật ngữ sau:
1. The Mineral Kingdom.
VII
1. Giới Kim thạch.
VII
2. The Vegetable Kingdom.
VI
2. Giới Thực vật.
VI
3. The Animal Kingdom.
V
3. Giới Động vật.
V
4. The Kingdom of Men.
IV
4. Giới Nhân loại.
IV
5. The Kingdom of Souls.
III
5. Giới Linh hồn.
III
6. The Kingdom of Planetary Lives.
II
6. Giới các Sự sống Hành tinh.
II
7. The Kingdom of Solar Lives.
I
7. Giới các Sự sống Thái dương.
I
[216]
[216]
These kingdoms might be regarded as differentiations of the One Life, from the angle of:
Các giới này có thể được coi là những sự biến phân của Sự sống Duy Nhất, từ góc độ của:
1. Phenomenal appearance, objective manifestation, or the externalisation of the solar Logos.
1. Sắc tướng hiện tượng, biểu hiện khách quan, hay sự ngoại hiện của Thái dương Thượng đế.
2. Consciousness or sensitivity to the expression of quality, through the medium of the phenomenal appearance.
2. Tâm thức hay sự nhạy cảm đối với sự diễn đạt của phẩm tính, thông qua trung gian của sắc tướng hiện tượng.
Certain of the rays, as might be expected, are more responsible than certain others for the qualifying of any particular kingdom. Their effect is paramount in its determination. The effect of the other rays is subsidiary, but not absent. We must never forget that, in the close interrelation of forces in our solar system, no one of the seven possible forces is without effect. All of them function, qualify and motivate, but one or other will have a more vital effect than the rest. The following tabulation will give the major effect of the seven rays and the result of their influence upon the seven kingdoms with which we are concerned:
Một số cung, như có thể mong đợi, chịu trách nhiệm nhiều hơn một số cung khác đối với việc định tính bất kỳ giới cụ thể nào. Hiệu quả của chúng là tối cao trong việc xác định giới đó. Hiệu quả của các cung khác là phụ trợ, nhưng không vắng mặt. Chúng ta không bao giờ được quên rằng, trong sự tương quan chặt chẽ của các mãnh lực trong hệ mặt trời của chúng ta, không một mãnh lực nào trong bảy mãnh lực khả hữu mà không có hiệu quả. Tất cả chúng đều hoạt động, phẩm định tính chất và thúc đẩy, nhưng mãnh lực này hay mãnh lực khác sẽ có hiệu quả quan trọng hơn những mãnh lực còn lại. Bảng liệt kê sau đây sẽ đưa ra hiệu quả chính của bảy cung và kết quả ảnh hưởng của chúng lên bảy giới mà chúng ta quan tâm:
No.
Kingdom
Ray
Ray
Expression
Số
Giới
Cung
Cung
Biểu lộ
1.
Mineral
VII.
Ceremonial Organisation
Radio-Activity.
1.
Kim thạch
VII.
Tổ chức Nghi lễ
Tính phóng xạ.
I
Will or Power
The basic Reservoir of Power.
I
Ý Chí hay Quyền năng
Kho chứa Quyền năng cơ bản.
2.
Vegetable
II.
Love-Wisdom
Magnetism.
2.
Thực vật
II.
Bác Ái–Minh Triết
Từ tính.
IV.
Beauty or Harmony
Uniformity of Colour.
IV.
Vẻ đẹp hay Hòa hợp
Sự đồng nhất về Màu sắc.
VI.
Idealistic Devotion
Upward Tendency.
VI.
Sự Hiến Thân Lý tưởng
Khuynh hướng Hướng lên.
3.
Animal
III.
Adaptability
Instinct.
3.
Động vật
III.
Khả năng Thích nghi
Bản năng.
VI.
Devotion
Domesticity.
VI.
Sự Hiến Thân
Tính gia đình.
4.
Human
IV.
Harmony through Conflict
Experience. Growth.
4.
Nhân loại
IV.
Hòa hợp qua Xung đột
Kinh nghiệm. Tăng trưởng.
V.
Concrete Knowledge
Intellect.
V.
Tri thức Cụ thể
Trí tuệ.
5.
Egoic or Souls
V.
Concrete Knowledge
Personality.
5.
Chân ngã hay Linh hồn
V.
Tri thức Cụ thể
Phàm ngã.
II.
Love-Wisdom
Intuition.
II.
Bác Ái–Minh Triết
Trực giác.
6.
Planetary Lives
VI.
Devotion to Ideas
The Plan.
6.
Các Sự sống Hành tinh
VI.
Sự Hiến Thân đối với các Ý tưởng
Thiên Cơ.
III.
Active Intelligence
Creative Work.
III.
Trí tuệ Tích cực
Công việc Sáng tạo.
7.
Solar Lives
I.
Will or Power
Universal Mind.
7.
Các Sự sống Thái dương
I.
Ý Chí hay Quyền năng
Vũ Trụ Trí.
VII.
Ceremonial Magic
Synthetic Ritual.
VII.
Huyền Thuật Nghi lễ
Nghi lễ Tổng hợp.
[217]
[217]
You will note one interesting difference in this tabulation, and that is the fact that the vegetable kingdom is the expression of three rays, whereas the others are expressions of two. Through these three the vegetable kingdom has been brought to its present condition of supreme beauty and its developed symbolism of colour. The vegetable kingdom is the outstanding contribution of our Earth to the general solar plan. Each of the planets contributes a unique and specialised quota to the sum total of evolutionary products, and the unique production of our particular planetary system is the vegetable kingdom. Other planets contribute forms and appearances which are their specific offering. It is needless for me to enumerate them here, for our language has no equivalent terms, and where there is no equivalent in language there is for mankind no equivalent in consciousness. The Earth, then, contributes the vegetable kingdom, and this is possible because it is the only Kingdom in which three rays have finally succeeded in coalescing, in fusing and blending; they are also the three rays along a major line of forces, 2-4-6. When we come to a more detailed analysis of the rays and their effects on a kingdom in nature, we shall see why this has produced so unique a contribution. Its success is demonstrated in the uniformity of its production of green in the realm of colour, throughout the entire planet.
Các bạn sẽ lưu ý một sự khác biệt thú vị trong bảng liệt kê này, đó là thực tế rằng giới thực vật là biểu hiện của ba cung, trong khi các giới khác là biểu hiện của hai cung. Thông qua ba cung này, giới thực vật đã được đưa đến tình trạng vẻ đẹp tuyệt vời hiện tại của nó và biểu tượng màu sắc đã phát triển của nó. Giới thực vật là sự đóng góp nổi bật của Trái Đất chúng ta vào kế hoạch thái dương chung. Mỗi hành tinh đóng góp một phần duy nhất và chuyên biệt vào tổng thể các sản phẩm tiến hóa, và sản phẩm duy nhất của hệ hành tinh cụ thể của chúng ta là giới thực vật. Các hành tinh khác đóng góp các hình tướng và sự xuất hiện vốn là sự dâng hiến cụ thể của chúng. Tôi không cần phải liệt kê chúng ở đây, vì ngôn ngữ của chúng ta không có các thuật ngữ tương đương, và ở đâu không có sự tương đương trong ngôn ngữ thì ở đó đối với nhân loại không có sự tương đương trong tâm thức. Vì vậy, Trái Đất đóng góp giới thực vật, và điều này là khả thi bởi vì nó là Giới duy nhất trong đó cuối cùng ba cung đã thành công trong việc liên kết, dung hợp và hòa quyện; chúng cũng là ba cung dọc theo đường lực chính, 2-4-6. Khi chúng ta đi đến một sự phân tích chi tiết hơn về các cung và tác động của chúng lên một giới trong tự nhiên, chúng ta sẽ thấy tại sao điều này đã tạo ra một sự đóng góp độc đáo như vậy. Sự thành công của nó được chứng minh trong sự đồng nhất của việc tạo ra màu xanh lục trong lĩnh vực màu sắc, trên khắp toàn bộ hành tinh.
You will note also that the mineral kingdom and the kingdom [218] of solar lives (the first and seventh kingdoms) are the result of the activity of the first and the seventh rays. There is a close numerological interlocking here. These two kingdoms are respectively at the point of the greatest tenuity and the greatest density, and are produced by the will and the organising ability of the solar Deity. They embody the nebulous plan and the concretised plan. In the case of the seventh or highest kingdom (counting from below upwards) the Will aspect predominates and is the most powerful, whilst in the case of the mineral kingdom, the organisation aspect is of the most importance. This was to be anticipated, for the energy of Will is the first effect of the initiating divine activity, whilst the densest aspect of ceremonial organisation is the counterpart of the initial impulse, its concretisation, if I might so express it. The other kingdoms in nature, as can be seen in our tabulation, are not so related.
Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng giới kim thạch và giới [218] các sự sống thái dương (giới thứ nhất và thứ bảy) là kết quả hoạt động của cung một và cung bảy. Có một sự liên kết số học chặt chẽ ở đây. Hai giới này lần lượt ở tại điểm của độ thưa loãng và độ đậm đặc lớn nhất, được tạo ra bởi ý chí và khả năng tổ chức của Thái dương Thượng đế. Chúng hiện thân cho kế hoạch mơ hồ và kế hoạch đã được cụ thể hóa. Trong trường hợp giới thứ bảy hay giới cao nhất (đếm từ dưới lên trên), Phương diện Ý Chí chiếm ưu thế và mạnh mẽ nhất, trong khi ở trường hợp giới kim thạch, phương diện tổ chức có tầm quan trọng nhất. Điều này phải được dự đoán, vì năng lượng của Ý Chí là tác động đầu tiên của hoạt động thiêng liêng khởi đầu, trong khi khía cạnh đậm đặc nhất của tổ chức nghi thức là đối phần của xung động ban đầu, là sự cụ thể hóa của nó, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Các giới khác trong tự nhiên, như có thể thấy trong bảng liệt kê của chúng ta, không liên hệ như vậy.
It will be of value if we now analyse our tabulation with a measure of care and get a little clearer grasp of the effect and influence of the seven rays.
Sẽ có giá trị nếu bây giờ chúng ta phân tích bảng liệt kê của mình với một mức độ cẩn thận và nắm bắt rõ ràng hơn một chút về hiệu quả và ảnh hưởng của bảy cung.
As long as the true nature of the atom and its internal organisation remains a matter of investigation and of speculation and theory, the reader should regard what I here have to say in connection with this densest of all kingdoms as symbolically and pictorially true, but not to be taken literally. Just as the centre at the base of the spine is the last one to be aroused into full functioning activity, and is thus aroused only when the head centre is awakened and alive, so this lowest of all the kingdoms will be rightly understood only when all the seven kingdoms vibrate in unison. Until such time as this occurs, this kingdom and its life will remain an enigma, except to the initiate of high degree. All I can do is to make such suggestions as will arouse the abstract mind to activity and awaken interest to such a degree that the work of analysis and study will proceed. [219] Conclusions cannot be reached, however, and this must be realised.
Chừng nào bản chất thực sự của nguyên tử và tổ chức bên trong của nó vẫn còn là vấn đề cho việc nghiên cứu, suy đoán và lý thuyết, người đọc nên coi những gì tôi nói ở đây liên quan đến giới đậm đặc nhất trong tất cả các giới này là đúng về mặt biểu tượng và hình ảnh, nhưng không được hiểu theo nghĩa đen. Cũng giống như trung tâm ở đáy cột sống là trung tâm cuối cùng được khơi dậy vào hoạt động chức năng đầy đủ, và do đó chỉ được khơi dậy khi trung tâm đầu được đánh thức và sống động, vì vậy giới thấp nhất trong tất cả các giới này sẽ chỉ được hiểu đúng đắn khi tất cả bảy giới rung động trong sự đồng điệu. Cho đến khi điều này xảy ra, giới này và sự sống của nó sẽ vẫn là một bí ẩn, ngoại trừ đối với điểm đạo đồ cấp cao. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra những gợi ý sẽ khơi dậy trí trừu tượng vào hoạt động và đánh thức sự quan tâm đến mức công việc phân tích và nghiên cứu sẽ tiến hành. [219] Tuy nhiên, các kết luận không thể đạt được, và điều này phải được nhận ra.
Two rays are of prime importance in the Life of God as It pours through this basic substance of our planet. In the work of the seventh ray, we have earthy substance, the solid material of our planetary life, organised into the varying mineral forms. These mineral forms, in their turn, hold latent those sustaining and vitalising elements from which other forms draw their sustenance. It must be remembered that each kingdom in nature is dependent upon and draws life from the kingdom which precedes it in the time sense, during the evolutionary cycle. Each Kingdom is a reservoir of power and of vitality to the next kingdom which emerges under the divine Plan.
Hai cung có tầm quan trọng hàng đầu trong Sự Sống của Thượng đế khi Nó tuôn đổ qua chất liệu cơ bản này của hành tinh chúng ta. Trong công việc của cung bảy, chúng ta có chất liệu “đất”, vật chất rắn của sự sống hành tinh của chúng ta, được tổ chức thành các hình thức kim thạch khác nhau. Các hình thức kim thạch này, đến lượt chúng, hàm chứa một cách tiềm ẩn những yếu tố nuôi dưỡng và tiếp sinh lực, mà từ đó các hình tướng khác rút lấy sự nuôi dưỡng của chúng. Cần phải nhớ rằng mỗi giới trong tự nhiên phụ thuộc vào và rút ra sự sống từ giới đi trước nó về mặt thời gian, trong suốt chu kỳ tiến hóa. Mỗi Giới là một kho dự trữ quyền năng và sinh lực cho giới kế tiếp xuất hiện theo Thiên Cơ.
The vegetable kingdom, for instance, draws its vital strength from three sources,—the sun, the water and the earth. In the building process it is the mineral content from the two latter sources that is of prime importance. The true structure of all forms is produced by the fabric of mineral products which is gradually built upon the etheric body, and which takes shape and form under a vital etheric urge, desire or impulse. It is the magnetic quality of the etheric body which attracts to itself the minerals needed for this skeleton form.
Ví dụ, giới thực vật rút sức mạnh sống động của nó từ ba nguồn—mặt trời, nước và đất. Trong quá trình xây dựng hình thể, chính hàm lượng khoáng chất từ hai nguồn sau này có tầm quan trọng hàng đầu. Cấu trúc thực sự của tất cả các hình tướng được tạo ra bởi kết cấu các sản phẩm khoáng chất được dần dần xây dựng dựa trên thể dĩ thái, và kết cấu này có hình dạng và hình thức dưới một sự thôi thúc, dục vọng hay xung động dĩ thái sinh động. Chính phẩm tính từ tính của thể dĩ thái hút về phía nó các khoáng chất cần thiết cho hình thức bộ khung này.
The animal kingdom, in turn, draws its sustenance primarily from the sun, the water and the vegetable kingdom. The mineral content required for the skeleton structure is therefore offered in a more advanced and sublimated form, being gathered out of the offering of the vegetable kingdom instead of out of that of the mineral kingdom. Each kingdom offers sacrifice to the next succeeding kingdom in the evolutionary sequence. The Law of Sacrifice determines the nature of each kingdom. Therefore each kingdom may be regarded as a [220] laboratory wherein are prepared those forms of nutriment which are needed for the building of ever more refined structures. The human kingdom follows the same procedure, and draws its life (from the form angle) out of the animal kingdom as well as from the sun, water and the vegetable world. In the early stages of human unfoldment, animal food was, therefore, both karmically and in essence, the correct food for man; and for unevolved men, and from the standpoint of the animal form, such food is still right and proper. This brings up the whole question of vegetarianism, and I shall deal with it when we come to consider the fourth kingdom. The situation is not at all what is often thought, or as presented by the thinkers of today, and meat eating—at a certain stage of human unfoldment—incurs no evil doing.
Đến lượt mình, giới thú vật rút sự nuôi dưỡng của nó chủ yếu từ mặt trời, nước và giới thực vật. Do đó, hàm lượng khoáng chất cần thiết cho cấu trúc bộ xương được cung cấp dưới một hình thức tiến bộ và thăng hoa hơn, được thu thập từ sự dâng hiến của giới thực vật thay vì từ sự dâng hiến của giới kim thạch. Mỗi giới dâng hiến sự hy sinh cho giới kế tiếp theo trình tự tiến hóa. Định luật Hy Sinh xác định bản chất của mỗi giới. Do đó, mỗi giới có thể được coi là một [220] phòng thí nghiệm trong đó được chuẩn bị những dạng thức ăn cần thiết cho việc xây dựng các cấu trúc ngày càng tinh vi hơn. Giới nhân loại tuân theo cùng một tiến trình, và rút sự sống của nó (từ góc độ hình tướng) ra khỏi giới thú vật cũng như từ mặt trời, nước và thế giới thực vật. Do đó, trong các giai đoạn đầu của sự khai mở của con người, thức ăn động vật, cả về mặt nghiệp quả và về bản chất, là thức ăn đúng đắn cho con người; và đối với những người chưa tiến hóa, và từ quan điểm của hình tướng động vật, thức ăn như vậy vẫn đúng và thích hợp. Điều này đặt ra toàn bộ câu hỏi về việc ăn chay, và tôi sẽ xem xét nó khi chúng ta xem xét giới thứ tư. Tình hình hoàn toàn không như người ta thường nghĩ, hoặc như được trình bày bởi các tư tưởng gia ngày nay, và việc ăn thịt—ở một giai đoạn nhất định của sự khai mở của con người—không gây ra hành động xấu xa nào.
Out of the great experimental school of human existence the kingdom of souls draws sustenance and vitality, and in the interlocking and interrelation of these four divine organisms does the world of form live and move and have its being. There are certain parallels in the human organism and certain correspondences which are of interest, and they may be presented in the following manner:
Từ ngôi trường thực nghiệm vĩ đại của sự tồn tại con người, giới linh hồn rút ra sự nuôi dưỡng và sinh lực, và trong sự liên kết chặt chẽ và tương quan của bốn sinh vật thiêng liêng này, thế giới hình tướng sống, chuyển động và có sự hiện tồn của nó. Có những sự tương đồng nhất định trong cơ thể con người và những sự tương ứng nhất định rất thú vị, và chúng có thể được trình bày theo cách sau:
The human kingdom
Brain
The two head centres.
Giới nhân loại
Bộ não
Hai trung tâm ở đầu.
Vocal organs.
Các cơ quan thanh âm.
The animal kingdom
Stomach
The solar plexus.
Giới động vật
Dạ dày
Tùng thái dương.
Liver.
Gan.
The vegetable kingdom
Heart
The heart centre.
Giới thực vật
Tim
Trung tâm tim.
Lungs.
The throat centre.
Phổi.
Trung tâm cổ họng.
The mineral kingdom
Generative organs
The sacral centre.
Giới kim thạch
Các cơ quan sinh dục
Trung tâm xương cùng.
The base of spine.
Đáy cột sống.
The relation of the seven centres to the various kingdoms in nature can be here seen, and the symbolism of the human form can be noted. The seven kingdoms as a whole can also be seen as having the following relations: [221]
Mối quan hệ của bảy trung tâm với các giới khác nhau trong tự nhiên có thể được nhìn thấy ở đây, và biểu tượng của hình tướng con người có thể được ghi nhận. Bảy giới nói chung cũng có thể được xem là có các mối quan hệ sau: [221]