THE NEW WORLD RELIGION—TÔN GIÁO THẾ GIỚI MỚI
May 1943
Tháng Năm 1943
In the first part of my message under this title (see: The Reappearance of the Christ, Chapter VI) I had much to say about the form into which the great world religions in the East and in the West have crystallised and its consequent deterioration. It will be essential, therefore, to look at and appreciate the fundamental truths which that form has preserved, even whilst hiding them. It will be valuable for us to realise that within the churches men of God and disciples of the Christ have ever worked, laboured and suffered. They have seen and agonised over the distortions [403] and the misrepresentations. They have been hindered by the organisation, oft despised by the theologians, and have remained simple in the midst of learning. They have been loving and universal in their individual consciousness, among the separative and fanatical. They are the glory of the church—oft hated when alive and oft canonised after death. Their glory lies in the fact that they testify to the progress of the spiritual man and express in fullness what is in every evolving man; they are the flower of evolution and the tried representatives of God. In the indictment of the churches, given earlier, let us not forget the Christians found within those churches.
Trong phần đầu của thông điệp của tôi dưới nhan đề này (xem: Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ, Chương VI) tôi đã nói nhiều về hình tướng mà các tôn giáo lớn của thế giới ở Đông phương và Tây phương đã kết tinh vào đó và sự suy thoái tất yếu phát sinh từ đó. Vì vậy, điều thiết yếu là phải nhìn vào và trân trọng những chân lý căn bản mà hình tướng ấy đã bảo tồn, ngay cả khi che giấu chúng. Sẽ là điều quý giá nếu chúng ta nhận ra rằng trong các giáo hội, những người của Thượng đế và các đệ tử của Đức Christ luôn luôn làm việc, lao nhọc và chịu khổ. Họ đã thấy và đau đớn trước những sự bóp méo [403] và xuyên tạc. Họ đã bị tổ chức ngăn trở, thường bị các nhà thần học khinh miệt, và vẫn giữ được sự đơn sơ giữa học vấn uyên bác. Trong tâm thức cá nhân, họ đầy bác ái và tính bao gồm giữa những kẻ chia rẽ và cuồng tín. Họ là vinh quang của giáo hội—thường bị căm ghét khi còn sống và thường được phong thánh sau khi chết. Vinh quang của họ nằm ở chỗ họ làm chứng cho sự tiến bộ của con người tinh thần và biểu lộ trọn vẹn điều hiện diện trong mọi con người đang tiến hoá; họ là đóa hoa của tiến hoá và là những đại diện đã được thử luyện của Thượng đế. Trong bản cáo trạng đối với các giáo hội đã được nêu trước đây, chúng ta đừng quên những tín đồ Cơ Đốc ở trong các giáo hội ấy.
I would remind you that I write as one who believes in the great spiritual realities and who regards the unfolding spirit of man as the unshatterable evidence of the existence of “the One in Whom we live and move and have our being.” I speak as one who believes in and loves the Christ and who knows Him to be the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men. I am one who looks to the Christ as the supreme expression of divinity upon Earth and who knows the extent of His sacrificial work for humanity, the wonder of the revelation which He brought, the imminence of His return and of His coming Assumption of spiritual rule in the hearts of men everywhere. I know that He has no pleasure in the great stone temples which man has built whilst His people are left without practical guidance or reasonable light upon their affairs; and I know too that He feels, with an aching heart, that the simplicity which He taught, and the simple Way to God which He emphasised have disappeared in the fogs of theology and the discussions of churchmen throughout the centuries. I know that He realises that the words He spoke have been lost in the labyrinths of the ecclesiastical minds which have sought to interpret them, and that the simple teaching of the Approach to God which He taught has been superseded by the pomp and ceremony of elaborate rituals.
Tôi xin nhắc các bạn rằng tôi viết như một người tin vào những thực tại tinh thần vĩ đại và xem tinh thần đang khai mở của con người là bằng chứng không thể lay chuyển về sự hiện hữu của “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Tôi nói như một người tin nơi và yêu mến Đức Christ, và biết Ngài là Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả thiên thần lẫn loài người. Tôi là người hướng về Đức Christ như biểu hiện tối thượng của thiên tính trên Trái Đất và biết mức độ công việc hi sinh của Ngài cho nhân loại, sự kỳ diệu của mặc khải mà Ngài đã mang đến, sự cận kề của việc Ngài trở lại và việc Ngài sắp đảm nhận quyền cai quản tinh thần trong lòng con người ở khắp nơi. Tôi biết rằng Ngài không vui thích gì nơi những đền thờ bằng đá lớn lao mà con người đã xây dựng trong khi dân của Ngài bị bỏ mặc không có sự hướng dẫn thực tiễn hay ánh sáng hợp lý cho các vấn đề của họ; và tôi cũng biết rằng với trái tim đau nhức, Ngài cảm thấy sự đơn giản mà Ngài đã dạy, cùng Con Đường đơn sơ đến với Thượng đế mà Ngài đã nhấn mạnh, đã biến mất trong màn sương của thần học và những cuộc tranh luận của giới giáo sĩ suốt bao thế kỷ. Tôi biết rằng Ngài nhận ra những lời Ngài đã nói đã bị lạc mất trong mê cung của những đầu óc giáo hội vốn tìm cách diễn giải chúng, và giáo huấn đơn giản về Sự Tiếp Cận Thượng đế mà Ngài đã dạy đã bị thay thế bởi sự phô trương và nghi lễ cầu kỳ.
To sum up: Because of the divergences of the many exoteric faiths, the multiplicity of the sects and cults in both [404] the Orient and Occident, and the quarrels of theologians over words, phrases and interpretations, the sons of God—in process of development—are left without the needed help to contact the Christ and His great group of disciples, the spiritual leaders of humanity; the way to Christ, the living, loving Expression of God, is not made clear to the seeker. Together, the two great Sons of God present to mankind—the One in the East and the Other in the West—a complete and perfect representation of Deity; by Their lives and words They guarantee to man the possibilities always latent in the human spirit.
Tóm lại: Vì những dị biệt của nhiều tín ngưỡng ngoại môn, sự đa tạp của các giáo phái và giáo đoàn ở cả [404] Đông phương lẫn Tây phương, và những cuộc tranh cãi của các nhà thần học về từ ngữ, cụm từ và cách diễn giải, nên các con của Thượng đế—đang trong tiến trình phát triển—bị bỏ mặc không có sự trợ giúp cần thiết để tiếp xúc với Đức Christ và nhóm đệ tử vĩ đại của Ngài, những nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại; con đường đến với Đức Christ, Biểu Hiện sống động và đầy bác ái của Thượng đế, không được làm cho rõ ràng đối với người tìm đạo. Cùng nhau, hai Con lớn của Thượng đế hiện diện trước nhân loại—Một ở Đông phương và Một ở Tây phương—mang đến một biểu hiện trọn vẹn và hoàn hảo của Thượng đế; bằng đời sống và lời nói của Các Ngài, Các Ngài bảo đảm cho con người những khả năng luôn tiềm tàng trong tinh thần nhân loại.
Today the Christ and the Buddha wait until the hour strikes. Then Their united effort, plus the invocative appeal of all who truly know and truly love, will bring humanity the new revelation for which they wait.
Ngày nay Đức Christ và Đức Phật đang chờ cho đến khi giờ điểm. Khi ấy, nỗ lực hợp nhất của Các Ngài, cộng với lời khẩn cầu của tất cả những ai thật sự biết và thật sự yêu thương, sẽ mang đến cho nhân loại sự mặc khải mới mà họ đang chờ đợi.
The new world religion must be based upon those truths which have stood the test of the ages. This I said elsewhere and enumerated four of those truths:
Tôn giáo thế giới mới phải được đặt nền trên những chân lý đã đứng vững trước thử thách của các thời đại. Điều này tôi đã nói ở nơi khác và đã liệt kê bốn chân lý ấy:
1. The Fact of God
1. Sự kiện về Thượng đế
2. Man’s Relationship to God
2. Mối liên hệ của con người với Thượng đế
3. The Fact of Immortality and Eternal Persistence
3. Sự kiện về tính bất tử và sự tồn tại vĩnh cửu
4. The Continuity of Revelation and the Divine Approaches.
4. Tính liên tục của mặc khải và các Sự Tiếp Cận thiêng liêng.
These four facts are basic realities and truths which have conditioned the masses of men for aeons. Human unhappiness is founded primarily upon man’s inability to live fully in the consciousness of these four fundamental realisations. But they are steadily taking shape in human thinking, and for them the United Nations fights.
Bốn sự kiện này là những thực tại và chân lý căn bản đã tác động lên quần chúng nhân loại suốt nhiều đại kiếp. Sự bất hạnh của con người chủ yếu bắt nguồn từ việc con người không thể sống trọn vẹn trong tâm thức về bốn chứng nghiệm căn bản này. Nhưng chúng đang dần dần thành hình trong tư duy nhân loại, và vì chúng mà Liên Hiệp Quốc chiến đấu.
Two more great and foundational facts are also part of the human state of awareness.
Hai sự kiện lớn và nền tảng khác cũng là một phần trong trạng thái nhận biết của con người.
5. The fact of our relationship with each other. This is as much a foundational spiritual fact as is God Himself, because it is linked with our knowledge of Him as Father.
5. Sự kiện về mối liên hệ của chúng ta với nhau. Đây cũng là một sự kiện tinh thần nền tảng không kém gì chính Thượng đế, bởi vì nó gắn liền với tri thức của chúng ta về Ngài như Cha.
[405] This relationship we call “brotherhood” and it expresses itself (or should I say, it will eventually express itself?) through human fellowship and right human relations. For this we work, and humanity is moving towards that relationship—and that in spite of the fact of war.
[405] Mối liên hệ này chúng ta gọi là “tình huynh đệ”, và nó biểu lộ (hay tôi nên nói, cuối cùng sẽ biểu lộ?) qua tình bằng hữu nhân loại và những tương quan nhân loại đúng đắn. Vì điều này mà chúng ta làm việc, và nhân loại đang tiến tới mối liên hệ ấy—bất chấp thực tế chiến tranh.
6. The fact of the Path to God. Awareness of this has been preserved for us down the ages by those who knew God and whom the world called mystics, occultists and saints. Opening out before aspiring men stretches the Way. The history of the human soul is the history of the search for that Way and its discovery by the persistent.
6. Sự kiện về Con Đường đến với Thượng đế. Nhận biết này đã được gìn giữ cho chúng ta qua các thời đại bởi những người biết Thượng đế và được thế gian gọi là các nhà thần bí, các nhà huyền bí học và các vị thánh. Trải rộng trước mắt những người chí nguyện là Con Đường. Lịch sử của linh hồn con người là lịch sử của cuộc tìm kiếm Con Đường ấy và sự khám phá ra nó bởi những người kiên trì.
In every race and nation, in every climate and part of the world, and throughout the endless reaches of time itself, back into the limitless past, men have found the Path to God; they have trodden it and accepted its conditions, endured its disciplines, rested back in confidence upon its realities, received its rewards and found their goal. Arrived there, they have “entered into the joy of the Lord,” participated in the mysteries of the kingdom of heaven, dwelt in the glory of the divine Presence, and then returned to the ways of men, to serve. The testimony to the existence of this Path is the priceless treasure of all the great religions and its witnesses are those who have transcended all forms and all theologies, and have penetrated into the world of meaning which all symbols veil.
Trong mọi nhân loại và quốc gia, trong mọi khí hậu và mọi miền của thế giới, và xuyên suốt những khoảng thời gian vô tận, ngược về quá khứ vô biên, con người đã tìm thấy Con Đường đến với Thượng đế; họ đã bước đi trên đó và chấp nhận các điều kiện của nó, chịu đựng các kỷ luật của nó, an nghỉ trong niềm tin nơi các thực tại của nó, nhận lấy phần thưởng của nó và tìm thấy mục tiêu của mình. Khi đến nơi, họ đã “đi vào niềm hoan hỉ của Chúa”, tham dự vào các huyền nhiệm của thiên quốc, cư ngụ trong vinh quang của Hiện Diện thiêng liêng, rồi trở lại những nẻo đường của loài người để phụng sự. Chứng từ về sự hiện hữu của Con Đường này là kho tàng vô giá của mọi tôn giáo lớn, và các chứng nhân của nó là những người đã vượt lên trên mọi hình tướng và mọi thần học, và đã thâm nhập vào Thế giới của ý nghĩa mà mọi biểu tượng đều che phủ.
These truths are part of all that the past gives to man. They are our eternal heritage, and connected with them there is no new revelation but only participation and understanding. These are the facts which the World Teachers have brought to us, suited to our need and capacity at any given time. They are the inner structure of the One Truth upon which all the world theologies have been built, including the Christian doctrines and dogmas built around the Person of Christ and His teaching.
Những chân lý này là một phần của tất cả những gì quá khứ trao cho con người. Chúng là di sản vĩnh cửu của chúng ta, và liên hệ với chúng không có mặc khải mới nào, mà chỉ có sự tham dự và thấu hiểu. Đây là những sự kiện mà các Đức Chưởng Giáo đã mang đến cho chúng ta, phù hợp với nhu cầu và khả năng của chúng ta trong bất kỳ thời kỳ nào. Chúng là cấu trúc nội tại của Chân Lý Duy Nhất mà trên đó mọi nền thần học thế giới đã được xây dựng, kể cả các giáo lý và tín điều Cơ Đốc được dựng lên quanh Con Người của Đức Christ và giáo huấn của Ngài.
Dimly sensed by the evolving human consciousness hovers another emerging truth of a larger nature—larger [406] because related to the Whole and not just to individual man and his personal salvation. It is an extension of the individual approach to truth. Let us call it the truth of the Great Cyclic Approaches of the divine to the human of which all world Teachers and Saviours were the symbol and the guarantee. At certain great moments, down the ages, God drew nearer to His people and humanity (blindly and unconscious of their objective) at the same time made great efforts to draw near to God. On the part of God, this was intentional, conscious and deliberate; on the part of man, it was largely unconscious, forced upon him by the tragedy of circumstance, by desperate need and by the driving urge of the collective soul. These Great Approaches can be traced down the centuries, and each time one took place it meant a clearer understanding of divine purpose, a new and fresh revelation, the institution of some form of a new religion and the sounding of a note which produced a new civilisation and culture, or a fresh recognition of relationship between God and man or man and his brother.
Một chân lý khác đang xuất hiện, có tính chất rộng lớn hơn, đang lơ lửng mơ hồ trong tâm thức nhân loại đang tiến hoá—rộng lớn [406] hơn vì liên hệ đến Toàn Thể chứ không chỉ đến cá nhân con người và sự cứu rỗi riêng của y. Đó là sự mở rộng của sự tiếp cận chân lý nơi cá nhân. Chúng ta hãy gọi nó là chân lý về những Sự Tiếp Cận Chu Kỳ Vĩ Đại của thiêng liêng đến với nhân loại, mà mọi Đức Chưởng Giáo và Đấng Cứu Thế của thế giới đều là biểu tượng và bảo chứng. Vào những thời điểm lớn lao nhất định qua các thời đại, Thượng đế đã đến gần dân của Ngài hơn, và đồng thời nhân loại (mù quáng và không ý thức được mục tiêu của mình) cũng đã nỗ lực lớn lao để đến gần Thượng đế. Về phía Thượng đế, điều này là có chủ ý, có ý thức và có cân nhắc; về phía con người, phần lớn là vô thức, bị ép buộc bởi bi kịch của hoàn cảnh, bởi nhu cầu tuyệt vọng và bởi thôi thúc mạnh mẽ của linh hồn tập thể. Những Sự Tiếp Cận Vĩ Đại này có thể được truy nguyên qua các thế kỷ, và mỗi lần một sự tiếp cận như vậy diễn ra, nó đều có nghĩa là một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về Thiên Ý, một mặc khải mới mẻ, việc thiết lập một hình thức tôn giáo mới nào đó, và sự xướng lên một âm điệu tạo ra một nền văn minh và văn hóa mới, hoặc một sự nhận biết mới về mối liên hệ giữa Thượng đế và con người hay giữa con người với huynh đệ của mình.
A new definition of God was given us when the Buddha taught that God was Light and showed us the way of illumination, and when Christ revealed to us that God was Love through His life and service on earth. Today the knowledge aspect of illumination is being comprehended, but the inner meaning of love is only now dimly sensed. Yet light and love have been revealed to the world by two great Sons of God in two Approaches. A new Approach is on the Way, bringing us the next needed truth. We ask ourselves: What will it be? For it, the knowers and lovers of God and of their fellowmen are prepared; for it, the masses of men wait.
Một định nghĩa mới về Thượng đế đã được ban cho chúng ta khi Đức Phật dạy rằng Thượng đế là Ánh sáng và chỉ cho chúng ta con đường soi sáng, và khi Đức Christ mặc khải cho chúng ta rằng Thượng đế là Bác ái qua đời sống và sự phụng sự của Ngài trên trần thế. Ngày nay, phương diện tri thức của sự soi sáng đang được thấu hiểu, nhưng ý nghĩa nội tại của bác ái chỉ mới được cảm nhận một cách mơ hồ. Tuy nhiên, ánh sáng và bác ái đã được hai Con lớn của Thượng đế mặc khải cho thế giới trong hai Sự Tiếp Cận. Một Sự Tiếp Cận mới đang trên đường đến, mang lại cho chúng ta chân lý kế tiếp cần thiết. Chúng ta tự hỏi: đó sẽ là gì? Những người biết Thượng đế và yêu mến Thượng đế cùng đồng loại của mình đã chuẩn bị cho nó; quần chúng nhân loại đang chờ đợi nó.
Some of these Approaches have been of a major nature, affecting humanity as a whole, and some of them are of less importance affecting only a relatively small part of mankind—a nation or a group. Those Who come as the Revealers of the love of God come from that spiritual centre to which the Christ gave the name “the Kingdom of God.” Here dwell the “spirits of just men made perfect”; here [407] the spiritual Guides of the race are to be found and here the spiritual Executives of God’s plans live and work and oversee human and planetary affairs. It is called by many names by many people. It is spoken of as the Spiritual Hierarchy, as the Abode of Light, as the centre where the Masters of the Wisdom are to be found, as the Great White Lodge. From it come those who act as Messengers of the Wisdom of God, Custodians of the truth as it is in Christ, and Those Whose task it is to save the world, to impart the next revelation and to demonstrate divinity. All the world Scriptures bear witness to the existence of this centre of spiritual energy. This spiritual Hierarchy has been steadily drawing nearer to humanity as men have become more conscious of divinity and more fitted for contact with the divine.
Một số Sự Tiếp Cận này có tính chất trọng đại, ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, và một số khác ít quan trọng hơn, chỉ ảnh hưởng đến một phần tương đối nhỏ của nhân loại—một quốc gia hay một nhóm. Những Đấng đến như các Đấng Mặc Khải tình thương của Thượng đế đến từ trung tâm tinh thần mà Đức Christ đã gọi là “Thiên Giới.” Tại đây cư ngụ “linh hồn của những người công chính đã được hoàn thiện”; tại đây [407] có thể tìm thấy các Đấng Hướng Dẫn tinh thần của nhân loại, và tại đây các Đấng Điều Hành tinh thần của các kế hoạch của Thượng đế sống, làm việc và giám sát các công việc của nhân loại và hành tinh. Nơi này được nhiều người gọi bằng nhiều tên. Nó được nói đến như Huyền Giai Tinh Thần, như Nơi Cư Ngụ của Ánh sáng, như trung tâm nơi các Chân sư Minh Triết hiện diện, như Thánh đoàn. Từ đó đi ra những Đấng hành động như các Sứ Giả của Minh Triết của Thượng đế, những Đấng Gìn Giữ chân lý như nó hiện hữu trong Đức Christ, và những Đấng có nhiệm vụ cứu thế giới, truyền đạt mặc khải kế tiếp và biểu lộ thiên tính. Tất cả các Kinh điển thế giới đều làm chứng cho sự hiện hữu của trung tâm năng lượng tinh thần này. Huyền Giai Tinh Thần này đã đều đặn tiến gần hơn đến nhân loại khi con người trở nên ý thức hơn về thiên tính và thích hợp hơn cho sự tiếp xúc với thiêng liêng.
Behind this spiritual centre of Love and Light another centre is to be found, for which the West has no name but which is called in the East by the name Shamballa. Perhaps the Western name is Shangri-Lha—a name which is finding recognition everywhere and which stands for a centre of happiness and purpose. Shamballa or Shangri-Lha is the place where the Will of God is focussed and from which His divine purposes are directed. From it the great political movements and the destiny of races and nations and their progress are determined, just as the religious movements, the cultural unfoldments and spiritual ideas are sent forth from the hierarchical centre of Love and Light. Political and social ideologies and world religions, the Will of God and the Love of God, the Purpose of divinity and the plans whereby that purpose is brought into activity all focus through that centre of which we are each consciously a part, Humanity itself. There are, therefore, three great spiritual centres on the planet: Shamballa, the spiritual Hierarchy, and Humanity.
Đằng sau trung tâm tinh thần của Bác ái và Ánh sáng này còn có một trung tâm khác, mà Tây phương không có tên gọi nhưng ở Đông phương được gọi là Shamballa. Có lẽ tên gọi ở Tây phương là Shangri-Lha—một tên gọi đang được công nhận ở khắp nơi và tượng trưng cho một trung tâm của hạnh phúc và mục đích. Shamballa hay Shangri-Lha là nơi Ý Chí của Thượng Đế được tập trung và từ đó các mục đích thiêng liêng của Ngài được chỉ đạo. Từ đó các phong trào chính trị lớn, vận mệnh của các giống dân và quốc gia cùng sự tiến bộ của họ được quyết định, cũng như các phong trào tôn giáo, các sự khai mở văn hóa và các ý tưởng tinh thần được phát ra từ trung tâm phẩm tính của Bác ái và Ánh sáng. Các hệ tư tưởng chính trị và xã hội cùng các tôn giáo thế giới, Ý Chí của Thượng Đế và Tình thương của Thượng đế, Mục Đích của thiên tính và các kế hoạch nhờ đó mục đích ấy được đưa vào hoạt động, tất cả đều hội tụ qua trung tâm mà mỗi chúng ta đều là một phần có ý thức của nó, tức chính Nhân loại. Do đó, có ba trung tâm tinh thần lớn trên hành tinh: Shamballa, Huyền Giai Tinh Thần, và Nhân loại.
There is definite Biblical testimony to this highest of all centres, Shamballa. At moments of crisis in the earthly life of Christ we read that a Voice spoke to Him, the Voice of the Father was heard by Him, affirming His Sonship and setting the seal of approval upon His acts and work. At that [408] moment a great fusion of the two spiritual centres—the Hierarchy and Shamballa, the Kingdom of God and the world of Spirit—was brought about, and thus spiritual energy was released on Earth. We need to remember that the work of all World Saviours and Teachers is to act primarily as distributors of divine energy and as channels for spiritual force. This outpouring manifests either as the impulse behind a world religion, the incentive behind some new political ideology, or the principle of some scientific discovery of importance to the growth of the human spirit. Thus do religions, governments and civilisations find their motivation. History has demonstrated that again and again these developments are the results of the appearance and the activity of some great man at an advanced stage of development. Those who come forth as Teachers, Saviours or Founders of a new religion come forth from the Hierarchy and are of the highest order of spiritual perfection. Those who convey to man the purposes of God through new ideological concepts are not as yet of so high an order, because man is not yet ready for the highest presentation. Much has yet to be learnt and mastered by man, and spiritual unfoldment always outpaces the outer expression of human relationships and the social order; hence the world religions come first and produce the conditions which make the work of the rulers possible. Those who come forth from the spiritual centre, Shamballa, are of great power, however, and the thread of Their influence can be traced throughout history in great declarations and pronouncements such as the Magna Charta, the Declaration of Independence and the Atlantic Charter. Those who come forth from Shamballa or the Hierarchy for the release and the guidance of humanity are evoked by human desire and demand, for there is a spiritual interplay existing between Humanity and the Hierarchy, and between both and Shamballa.
Có chứng cứ Kinh Thánh rõ ràng về trung tâm cao nhất trong mọi trung tâm này, Shamballa. Vào những thời điểm khủng hoảng trong cuộc đời trần thế của Đức Christ, chúng ta đọc thấy rằng một Tiếng Nói đã phán với Ngài, Tiếng Nói của Cha đã được Ngài nghe thấy, xác nhận Con tính của Ngài và đóng ấn chấp thuận lên các hành động và công việc của Ngài. Vào [408] thời điểm ấy, một sự dung hợp lớn của hai trung tâm tinh thần—Thánh đoàn và Shamballa, Thiên Giới và thế giới của Tinh thần—đã được thực hiện, và nhờ đó năng lượng tinh thần đã được giải phóng trên Trái Đất. Chúng ta cần nhớ rằng công việc của mọi Đấng Cứu Thế và Đức Chưởng Giáo là trước hết hành động như những Đấng phân phối năng lượng thiêng liêng và như những kênh dẫn cho mãnh lực tinh thần. Lần tuôn đổ này biểu lộ hoặc như xung lực đứng sau một tôn giáo thế giới, hoặc như động lực đứng sau một hệ tư tưởng chính trị mới nào đó, hoặc như nguyên khí của một khám phá khoa học có tầm quan trọng đối với sự tăng trưởng của tinh thần nhân loại. Như thế, các tôn giáo, các chính quyền và các nền văn minh tìm thấy động cơ của mình. Lịch sử đã chứng minh rằng hết lần này đến lần khác, những phát triển ấy là kết quả của sự xuất hiện và hoạt động của một vĩ nhân nào đó ở một giai đoạn phát triển cao. Những Đấng xuất hiện như các Huấn sư, các Đấng Cứu Thế hay những Đấng Sáng Lập một tôn giáo mới đều xuất hiện từ Thánh đoàn và thuộc cấp độ hoàn thiện tinh thần cao nhất. Những Đấng truyền đạt cho con người các mục đích của Thượng đế qua những khái niệm hệ tư tưởng mới thì chưa thuộc cấp độ cao như vậy, vì con người chưa sẵn sàng cho sự trình bày cao nhất. Con người còn phải học và làm chủ rất nhiều, và sự khai mở tinh thần luôn vượt trước biểu hiện bên ngoài của các tương quan nhân loại và trật tự xã hội; vì thế các tôn giáo thế giới đến trước và tạo ra những điều kiện khiến công việc của các nhà cai trị trở nên khả thi. Tuy nhiên, những Đấng xuất hiện từ trung tâm tinh thần Shamballa có quyền năng lớn, và sợi dây ảnh hưởng của Các Ngài có thể được truy nguyên trong suốt lịch sử qua những tuyên ngôn và công bố lớn như Đại Hiến Chương, Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Chương Đại Tây Dương. Những Đấng xuất hiện từ Shamballa hay từ Thánh đoàn để giải phóng và hướng dẫn nhân loại đều được gợi lên bởi khát vọng và nhu cầu của con người, vì có một sự tương tác tinh thần tồn tại giữa Nhân loại và Thánh đoàn, và giữa cả hai với Shamballa.
Such Messengers embody divine intention. The response of mankind to Their messages is dependent upon the point in evolution which has been attained by man. Back in the early history of the race these Approaches were rare indeed. [409] Countless ages passed between them. Today, owing to the greatly increased power of the human mind and the growing sensitivity of the human soul to the spiritual values as they express themselves through major world ideologies, these Approaches of the divine to the human can become more frequent and are taking on a new form. Man’s inner realisation of his own innate spiritual potency and the unfoldment of his sense of relationship are bringing about an effort on his part—consciously undertaken—to make true progress towards the good, the true and the beautiful, and this in spite of the fact of the war and the misery and suffering present upon our Earth. It has therefore become possible to synchronise the Approach of the divine to the human and to instruct the masses of men in the technique of thus invoking the Approach. This attitude of humanity will lead to a new revelation, to the new world religion and to new attitudes in the relation of man to God (religion) and of man to man (government or social relationships).
Những Sứ Giả như thế hiện thân cho ý định thiêng liêng. Sự đáp ứng của nhân loại đối với thông điệp của Các Ngài tùy thuộc vào điểm tiến hoá mà con người đã đạt tới. Trong thời kỳ đầu của lịch sử nhân loại, những Sự Tiếp Cận này quả thật rất hiếm. [409] Vô số thời đại đã trôi qua giữa chúng. Ngày nay, nhờ quyền năng của trí tuệ con người đã tăng lên rất nhiều và nhờ linh hồn con người ngày càng nhạy bén với các giá trị tinh thần khi chúng biểu lộ qua các hệ tư tưởng lớn của thế giới, những Sự Tiếp Cận của thiêng liêng đến với nhân loại có thể trở nên thường xuyên hơn và đang mang lấy một hình thức mới. Sự chứng nghiệm nội tâm của con người về tiềm năng tinh thần bẩm sinh của chính mình và sự khai mở ý thức về mối liên hệ đang đưa đến một nỗ lực nơi con người—được thực hiện một cách có ý thức—nhằm thật sự tiến bộ hướng tới điều thiện, điều chân và điều mỹ, bất chấp thực tế chiến tranh cùng nỗi khốn khổ và đau thương hiện diện trên Trái Đất của chúng ta. Do đó, nay đã có thể đồng bộ hóa Sự Tiếp Cận của thiêng liêng đến với nhân loại và hướng dẫn quần chúng về kỹ thuật khẩn cầu Sự Tiếp Cận ấy. Thái độ này của nhân loại sẽ dẫn đến một mặc khải mới, đến tôn giáo thế giới mới và đến những thái độ mới trong mối liên hệ của con người với Thượng đế (tôn giáo) và của con người với con người (chính quyền hay các tương quan xã hội).
Two major Approaches are to be found in the past history of the race, and both are of such significance that it would be well to note them here. They lie so far back in human history that we have only myth and monument to indicate their happening.
Có thể tìm thấy hai Sự Tiếp Cận lớn trong lịch sử quá khứ của nhân loại, và cả hai đều có ý nghĩa đến mức nên được ghi nhận ở đây. Chúng nằm quá xa trong lịch sử nhân loại đến nỗi chúng ta chỉ còn thần thoại và di tích để chỉ ra việc chúng đã xảy ra.
The first great Approach of the divine to man caused the appearance of the human soul and the adding of another kingdom in nature to the three (mineral, vegetable and animal) already existing. The kingdom of man appeared on Earth.
Sự Tiếp Cận lớn đầu tiên của thiêng liêng đến với con người đã gây ra sự xuất hiện của linh hồn con người và việc thêm một giới khác trong thiên nhiên vào ba giới đã hiện hữu (kim thạch, thực vật và động vật). Giới nhân loại đã xuất hiện trên Trái Đất.
Aeons passed away whilst primitive man continued to evolve, and when the second great Approach took place and the Spiritual Hierarchy of our planet drew nearer to humanity; the spiritual Way to God was opened for those who consciously can move forward, who can definitely demonstrate the Christ spirit, and who earnestly seek enlightenment and liberation. The true appeal of Christ’s words: “Ye shall know the truth and the truth shall make you free” urges them to move forward into the light, through the gate of initiation and on to that path which “shineth [410] ever more and more until the perfect day.” At the time of the second great Approach, the fact of the existence of the Spiritual Hierarchy, of the open door to initiation and of the Way of Sacrifice first dawned on the human consciousness; from that moment men have found the Way and have moved out of the human kingdom into the spiritual; they have transformed their human consciousness into divine awareness. The kingdom of man and the kingdom of God were brought into relationship. Religion became a factor in the development of the human spirit and God drew nearer to His Own. God Transcendent first conditioned man’s concept of Deity. Then God as the national controller took possession of man’s mind, and the Jehovah concept (as depicted in the Jewish dispensation) appeared; next God was seen as the perfected human being, and the divine God-man walked the Earth in the person of the Christ. Today, we have a rapidly growing emphasis on God Immanent in every human being. Such have been the results of the second great Approach and such have been the results of the work of the world Saviours and Teachers down the ages, culminating in the work of Christ, Who summed up in Himself the unfoldments of the past and the hope of the future.
Nhiều đại kiếp trôi qua trong khi con người nguyên thủy tiếp tục tiến hoá, và khi Sự Tiếp Cận lớn thứ hai diễn ra, Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta đã tiến gần hơn đến nhân loại; Con Đường tinh thần đến với Thượng đế đã được mở ra cho những ai có thể tiến bước một cách có ý thức, những ai có thể biểu lộ rõ rệt tinh thần Christ, và những ai tha thiết tìm kiếm giác ngộ và giải thoát. Sức kêu gọi chân thực trong lời của Đức Christ: “Các ngươi sẽ biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát các ngươi” thúc đẩy họ tiến vào ánh sáng, qua cổng điểm đạo và lên con đường “chiếu sáng [410] càng lúc càng hơn cho đến ngày toàn hảo.” Vào thời điểm của Sự Tiếp Cận lớn thứ hai, sự kiện về sự hiện hữu của Huyền Giai Tinh Thần, cánh cửa mở vào điểm đạo và Con Đường Hi sinh lần đầu tiên ló rạng trong tâm thức nhân loại; từ thời điểm ấy, con người đã tìm thấy Con Đường và đã đi ra khỏi giới nhân loại vào giới tinh thần; họ đã chuyển hóa tâm thức nhân loại của mình thành nhận biết thiêng liêng. Giới nhân loại và Thiên Giới đã được đưa vào mối liên hệ. Tôn giáo trở thành một yếu tố trong sự phát triển của tinh thần nhân loại và Thượng đế đã đến gần hơn với những người thuộc về Ngài. Thượng đế Siêu Việt trước hết đã tác động lên quan niệm của con người về Thượng đế. Sau đó Thượng đế như Đấng cai quản quốc gia đã chiếm lĩnh trí tuệ con người, và quan niệm Jehovah (như được mô tả trong thời kỳ Do Thái giáo) đã xuất hiện; kế đó Thượng đế được thấy như con người hoàn thiện, và Thượng đế-người thiêng liêng đã bước đi trên Trái Đất trong con người của Đức Christ. Ngày nay, chúng ta có một sự nhấn mạnh đang tăng nhanh vào Thượng đế Nội Tại trong mỗi con người. Đó là những kết quả của Sự Tiếp Cận lớn thứ hai và đó là những kết quả của công việc của các Đấng Cứu Thế và Đức Chưởng Giáo qua các thời đại, đạt đến đỉnh cao trong công việc của Đức Christ, Đấng đã tổng hợp trong chính Ngài những sự khai mở của quá khứ và niềm hy vọng của tương lai.
A third great Approach is now possible and will take place once the world war is over and man—purified by fire and suffering—has set his house in order and is ready, therefore, for a new revelation. For this coming revelation the work of the Buddha and of the Christ has been preparatory. They embodied in Themselves two lesser Approaches, and through Their united effort, humanity throughout the world has been prepared to play its part in this third Approach.
Một Sự Tiếp Cận lớn thứ ba nay đã có thể xảy ra và sẽ diễn ra một khi chiến tranh thế giới chấm dứt và con người—được thanh luyện bởi lửa và đau khổ—đã sắp xếp lại nhà mình cho ngăn nắp và do đó sẵn sàng cho một mặc khải mới. Đối với mặc khải sắp đến này, công việc của Đức Phật và của Đức Christ đã mang tính chuẩn bị. Các Ngài đã hiện thân trong chính mình hai Sự Tiếp Cận nhỏ hơn, và nhờ nỗ lực hợp nhất của Các Ngài, nhân loại trên khắp thế giới đã được chuẩn bị để đảm nhiệm phần việc của mình trong Sự Tiếp Cận thứ ba này.
The Buddha came embodying in Himself a great divine principle or quality. He was the Conveyor of Enlightenment to the world; He was the Lord of Light. As is always the case, He re-enacted in Himself, for the instruction of His disciples, the processes of illumination and became the “Illumined One.” We are told in the scriptures of India that He achieved illumination under the tree, just as Christ achieved the liberation of the human spirit upon the tree [411] set up on Golgotha. Light, wisdom, reason, as divine yet human attributes, were focussed in the Buddha. He proved the possibility of all men achieving this illumination and of walking in the light. He challenged the people to tread the Path of Illumination, of which wisdom, mental perception and intuition are the aspects.
Đức Phật đã đến, hiện thân trong chính Ngài một nguyên khí hay phẩm tính thiêng liêng vĩ đại. Ngài là Đấng Chuyển Tải sự Giác Ngộ đến cho thế giới; Ngài là Chúa Tể của Ánh sáng. Như vẫn luôn xảy ra, Ngài đã tái hiện trong chính mình, để giáo huấn các đệ tử của Ngài, các tiến trình của sự soi sáng và trở thành “Đấng Được Soi Sáng.” Kinh điển Ấn Độ kể cho chúng ta rằng Ngài đã đạt được sự soi sáng dưới gốc cây, cũng như Đức Christ đã đạt được sự giải thoát của tinh thần nhân loại trên cây thập giá [411] được dựng lên tại Golgotha. Ánh sáng, minh triết, lý trí, như những thuộc tính vừa thiêng liêng vừa nhân loại, đã được tập trung nơi Đức Phật. Ngài đã chứng minh khả năng để mọi người đạt được sự soi sáng này và bước đi trong ánh sáng. Ngài đã thách thức con người bước trên Con Đường Soi Sáng, mà minh triết, tri giác trí tuệ và trực giác là các phương diện của nó.
Then came the next great Teacher, the Christ. He embodied in Himself a still greater divine principle or aspect, that of Love, whilst at the same time embracing within Himself all that the Buddha had of Light. Christ was the expression of both Light and Love.
Rồi đến Đức Chưởng Giáo vĩ đại kế tiếp, Đức Christ. Ngài hiện thân trong chính mình một nguyên khí hay phương diện thiêng liêng còn lớn hơn nữa, đó là Bác ái, đồng thời bao hàm trong chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về Ánh sáng. Đức Christ là biểu hiện của cả Ánh sáng lẫn Bác ái.
Through Their work, therefore, there is now possible a deeper reaction to, and a broader comprehension of the work and influence of those great Lives Who are waiting today to help humanity. The work of these two Sons of God produced among many results the following:
Do đó, nhờ công việc của Các Ngài, nay đã có thể có một phản ứng sâu sắc hơn đối với công việc và ảnh hưởng của những Sự Sống vĩ đại đang chờ đợi hôm nay để giúp đỡ nhân loại, cũng như một sự thấu hiểu rộng lớn hơn về công việc và ảnh hưởng ấy. Công việc của hai Con của Thượng đế này đã tạo ra, trong nhiều kết quả, những điều sau đây:
1. They embodied in Themselves certain cosmic principles, and by Their work and sacrifice certain divine potencies poured through and upon the race, stimulating intelligence into wisdom and emotion into love. The Buddha, when He achieved illumination, “let in” a flood of light upon life and world problems. He formulated this revelation into the Four Truths. His group of disciples erected a structure of truth which (by the power of collective thought) has flooded mankind with light.
1. Các Ngài đã hiện thân trong chính mình một số nguyên khí vũ trụ, và nhờ công việc cùng sự hi sinh của Các Ngài, một số tiềm lực thiêng liêng đã tuôn đổ xuyên qua và lên nhân loại, kích thích trí thông minh thành minh triết và cảm xúc thành bác ái. Đức Phật, khi đạt được sự soi sáng, đã “mở vào” một dòng thác ánh sáng tràn lên sự sống và các vấn đề của thế giới. Ngài đã định thức mặc khải này thành Tứ Diệu Đế. Nhóm đệ tử của Ngài đã dựng lên một cấu trúc chân lý mà (nhờ quyền năng của tư tưởng tập thể) đã tràn ngập nhân loại bằng ánh sáng.
2. Through the message of the Buddha, man has for the first time grasped the cause of His constant distaste and dissatisfaction and has learnt that the Way of Release is to be found in detachment, dispassion and discrimination. Where these are present, there is rapid release from the wheel of rebirth.
2. Qua thông điệp của Đức Phật, lần đầu tiên con người đã nắm bắt được nguyên nhân của sự chán ghét và bất mãn thường trực của mình và đã học được rằng Con Đường Giải Thoát được tìm thấy trong sự tách rời, vô dục và phân biện. Nơi nào những điều này hiện diện, nơi đó có sự giải thoát nhanh chóng khỏi bánh xe tái sinh.
3. Through the message of the Christ, three concepts emerge into the racial consciousness:
3. Qua thông điệp của Đức Christ, ba khái niệm xuất hiện trong tâm thức của nhân loại:
a. The value of the individual and the necessity for tensity of effort on his part.
a. Giá trị của cá nhân và sự cần thiết của nỗ lực nhất tâm nơi y.
b. The opportunity which was to be presented to humanity [412] to take a tremendous step forward and undergo the new birth or the first initiation.
b. Cơ hội sẽ được trao cho nhân loại [412] để tiến một bước lớn lao và trải qua sự tái sinh hay lần điểm đạo thứ nhất.
c. The method whereby this next step could be taken in the new age, voiced for us in the words “love your neighbour as yourself.” Individual effort, group opportunity and men’s identification with each other—such is the message of the Christ.
c. Phương pháp nhờ đó bước kế tiếp này có thể được thực hiện trong kỷ nguyên mới, được phát biểu cho chúng ta trong lời “hãy yêu người lân cận như chính mình.” Nỗ lực cá nhân, cơ hội nhóm và sự đồng hoá của con người với nhau—đó là thông điệp của Đức Christ.
In the message of the Buddha we have the three methods whereby the personality can be changed and prepared to be a conscious expression of divinity. Through detachment, the brain consciousness or state of awareness (embodying physical recognition of inner causes) is withdrawn or abstracted from the things of the senses and from the calls of the lower nature. Detachment is in reality the imposition of a new rhythm or habit reaction upon the cells of the brain which renders the brain unaware of the lure of the world of sensory perception. Through dispassion, the emotional nature is rendered immune from the appeal of the senses and desire fails to deter the soul from its rightful task. Through discrimination, the mind learns to select the good, the beautiful and the true, and to substitute these for the sense of “identification with the personality,” which is so characteristic of the majority of men. Personality holds so many in thrall. This has to go. These three attitudes, when correctly and sanely held, will organise the personality, bring in the rule of wisdom, and prepare the disciple for initiation.
Trong thông điệp của Đức Phật, chúng ta có ba phương pháp nhờ đó phàm ngã có thể được thay đổi và chuẩn bị để trở thành một biểu hiện có ý thức của thiên tính. Qua sự tách rời, tâm thức não bộ hay trạng thái nhận biết (hiện thân cho sự nhận biết hồng trần về các nguyên nhân bên trong) được rút ra hay trừu xuất khỏi những sự vật của giác quan và khỏi những tiếng gọi của bản chất thấp. Thực ra, sự tách rời là việc áp đặt một nhịp điệu mới hay phản ứng theo thói quen mới lên các tế bào não, khiến bộ não không còn nhận biết sức quyến rũ của thế giới tri giác giác quan. Qua vô dục, bản chất cảm xúc trở nên miễn nhiễm trước sức hấp dẫn của các giác quan và dục vọng không còn ngăn cản linh hồn khỏi nhiệm vụ chính đáng của nó. Qua phân biện, trí tuệ học cách chọn điều thiện, điều mỹ và điều chân, và thay thế chúng cho cảm thức “đồng hoá với phàm ngã”, vốn là đặc trưng của đa số con người. Phàm ngã đang trói buộc biết bao người. Điều này phải chấm dứt. Ba thái độ này, khi được duy trì một cách đúng đắn và lành mạnh, sẽ tổ chức phàm ngã, đưa vào sự cai quản của minh triết, và chuẩn bị đệ tử cho điểm đạo.
Then follows the work of the Christ, resulting in an understanding of the value of the individual and his self-initiated effort at release and illumination, with the objective of group goodwill. We learn to perfect ourselves in order to have somewhat to sacrifice to the group, and thus enrich the group with our individual contribution. This is the first result of the activity of the Christ Principle in the life of the individual. Personality fades out in the glory of the soul, which (like the rising sun) blots out the darkness and irradiates the lower nature. This is the second [413] result, and is a group activity. The word goes forth to the initiates of the future: Lose sight of self in group endeavour. Forget the self in group activity. Pass through the portal to initiation in group formation and let the personality life be lost in the group life.
Tiếp theo là công việc của Đức Christ, dẫn đến sự thấu hiểu về giá trị của cá nhân và nỗ lực tự khởi xướng của y để đạt giải thoát và soi sáng, với mục tiêu là thiện chí nhóm. Chúng ta học cách hoàn thiện chính mình để có điều gì đó hi sinh cho nhóm, và nhờ vậy làm phong phú nhóm bằng sự đóng góp cá nhân của mình. Đây là kết quả đầu tiên của hoạt động của Nguyên Khí Christ trong đời sống cá nhân. Phàm ngã mờ dần trong vinh quang của linh hồn, linh hồn ấy (như mặt trời mọc) xóa tan bóng tối và chiếu rạng bản chất thấp. Đây là kết quả thứ hai [413] và là một hoạt động nhóm. Linh từ được phát ra cho các điểm đạo đồ của tương lai: Hãy đánh mất cái thấy về bản ngã trong nỗ lực nhóm. Hãy quên bản ngã trong hoạt động nhóm. Hãy đi qua cánh cổng vào điểm đạo trong đội hình nhóm và để đời sống phàm ngã bị mất đi trong đời sống nhóm.
The final result of the work of the Christ is to be found in our identification with the whole: individuality, initiation, and identification—these are the terms in which the message of the Christ can be summarised. He said, when on Earth: “I and my Father are One,” and in these words epitomised His entire message. I, the individual, through initiation, am identified with Deity. Therefore we have:
Kết quả cuối cùng của công việc của Đức Christ được tìm thấy trong sự đồng hoá của chúng ta với toàn thể: cá thể tính, điểm đạo và đồng hoá—đó là những thuật ngữ mà trong đó thông điệp của Đức Christ có thể được tóm lược. Khi ở trên Trái Đất, Ngài đã nói: “Ta và Cha Ta là Một”, và trong những lời ấy Ngài đã tóm tắt toàn bộ thông điệp của mình. Tôi, cá nhân, qua điểm đạo, được đồng hoá với Thượng đế. Vì vậy chúng ta có:
1. The Buddha.. the method. Detachment, Dispassion, Discrimination.
1. Đức Phật.. phương pháp. Sự tách rời, Vô dục, Phân biện.
2. The Christ... the result.. Individualism, Initiation, Identification.
2. Đức Christ... kết quả.. Cá nhân tính, Điểm đạo, Đồng hoá.
It is interesting to note that the work of the Buddha is expressed in words all beginning with the fourth letter of the alphabet, the letter D. The sense of personality is achieved; the quaternary is transcended, and the Buddha gave us the reason for this transmutation and the rules. The work of the Christ is expressed for us in words beginning with the ninth letter of the alphabet, the letter I, and this number is the number of initiation. These things happen not idly but all have their underlying purpose.
Điều thú vị là công việc của Đức Phật được diễn tả bằng những từ đều bắt đầu bằng chữ cái thứ tư của bảng mẫu tự, chữ D. Cảm thức phàm ngã được đạt tới; bộ tứ được vượt qua, và Đức Phật đã ban cho chúng ta lý do của sự chuyển hoá này cùng các quy luật. Công việc của Đức Christ được diễn tả cho chúng ta bằng những từ bắt đầu bằng chữ cái thứ chín của bảng mẫu tự, chữ I, và con số này là con số của điểm đạo. Những điều này không xảy ra một cách vô cớ mà tất cả đều có mục đích nền tảng của chúng.
I have here very briefly and inadequately outlined the nature of two great Approaches and two minor. These have prepared humanity for the third great Approach which will bring the new revelation, with its realised consequences, of a new heaven and a new earth. I would ask the orthodox theologian how he interprets the words “a new heaven”? May it not signify an entirely new conception as to the world of spiritual realities and perhaps of the very nature of God Himself? May it not be possible that our present ideas of God as the Universal Mind, as Love and as Will, may be enriched by a new idea and quality for which we have as yet no name or word and of which we have as yet [414] no faintest understanding? Each of the three present concepts as to the divine nature—the Trinity—have been entirely new when first sequentially presented to humanity.
Ở đây tôi chỉ vừa rất ngắn gọn và chưa đầy đủ phác họa bản chất của hai Sự Tiếp Cận lớn và hai Sự Tiếp Cận nhỏ. Chúng đã chuẩn bị nhân loại cho Sự Tiếp Cận lớn thứ ba, sẽ mang đến mặc khải mới, với những hệ quả được chứng nghiệm của một trời mới và một đất mới. Tôi muốn hỏi nhà thần học chính thống rằng ông diễn giải những lời “một trời mới” như thế nào? Chẳng lẽ điều đó không thể hàm ý một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới của các thực tại tinh thần và có lẽ về chính bản chất của Thượng đế sao? Chẳng lẽ không thể nào những ý tưởng hiện nay của chúng ta về Thượng đế như Trí Tuệ Vũ Trụ, như Bác ái và như Ý Chí, sẽ được làm phong phú thêm bởi một ý tưởng và phẩm tính mới mà hiện nay chúng ta chưa có tên hay từ ngữ nào để gọi, và về điều đó chúng ta hiện vẫn [414] chưa có lấy sự thấu hiểu mơ hồ nhất sao? Mỗi một trong ba quan niệm hiện nay về bản chất thiêng liêng—Ba Ngôi—đều hoàn toàn mới khi lần đầu tiên được tuần tự trình bày cho nhân loại.
What this third major Approach will bring to humanity we do not and cannot know. It will bring about as definite results as did the two earlier Approaches. For some years now the spiritual Hierarchy has been drawing nearer to mankind, and this is responsible for the great concepts of freedom which are so close to the hearts of men everywhere today and for which humanity is now fighting. As the Members of the Hierarchy approach closer to us, the dream of brotherhood, of fellowship, of world cooperation and of a peace (based upon right human relations) becomes clearer in our minds. As They draw nearer we vision a new and vital world religion, a universal faith, at-one in its basic idealism with the past but different in its mode of expression.
Sự Tiếp Cận lớn thứ ba này sẽ mang đến cho nhân loại điều gì thì chúng ta không biết và cũng không thể biết. Nó sẽ đem lại những kết quả xác định cũng như hai Sự Tiếp Cận trước đã làm. Trong một số năm nay, Huyền Giai Tinh Thần đã tiến gần hơn đến nhân loại, và điều này chịu trách nhiệm cho những khái niệm lớn về tự do đang rất gần gũi với trái tim con người ở khắp nơi ngày nay và vì đó mà nhân loại hiện đang chiến đấu. Khi các Thành Viên của Thánh đoàn tiến gần hơn đến chúng ta, giấc mơ về tình huynh đệ, về tình bằng hữu, về hợp tác thế giới và về một nền hòa bình (đặt trên những tương quan nhân loại đúng đắn) trở nên rõ ràng hơn trong trí chúng ta. Khi Các Ngài tiến gần hơn, chúng ta hình dung một tôn giáo thế giới mới và sống động, một đức tin phổ quát, đồng nhất trong lý tưởng căn bản với quá khứ nhưng khác trong phương thức biểu hiện.
I have cited earlier the foundational truths upon which the new world religion will rest. I would suggest that the theme of the coming religion will be that of the great Approaches themselves; that it will emphasise anew God’s love for man as evidenced in these divine Approaches, and also man’s response to God as the word goes forth: “Draw near to God and He will draw near to you”; that it will—in its rites and ceremonies—be concerned with the invocative and evocative side of spiritual appeal.
Trước đây tôi đã nêu những chân lý nền tảng mà trên đó tôn giáo thế giới mới sẽ đặt nền. Tôi xin gợi ý rằng chủ đề của tôn giáo sắp đến sẽ là chính những Sự Tiếp Cận lớn; rằng nó sẽ nhấn mạnh lại tình thương của Thượng đế đối với con người như được chứng minh trong những Sự Tiếp Cận thiêng liêng này, và cả sự đáp ứng của con người đối với Thượng đế khi linh từ được phát ra: “Hãy đến gần Thượng đế và Ngài sẽ đến gần bạn”; rằng nó sẽ—trong các nghi thức và lễ nghi của mình—quan tâm đến phương diện khẩn cầu và gợi lên của lời kêu gọi tinh thần.
Man invokes the divine Approach in two ways: by means of the inchoate, voiceless appeal or invocative cry of the masses, and also by the planned, defined invocation of the spiritually oriented aspirants, the intelligently convinced worker, disciple and initiate—by all, in fact, who form the New Group of World Servers.
Con người khẩn cầu Sự Tiếp Cận thiêng liêng theo hai cách: bằng lời kêu gọi hay tiếng kêu khẩn cầu chưa định hình, không lời của quần chúng, và cũng bằng sự khẩn cầu có kế hoạch, xác định của những người chí nguyện có định hướng tinh thần, người hoạt động được thuyết phục bằng trí tuệ, đệ tử và điểm đạo đồ—nói đúng ra là của tất cả những ai tạo thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
The science of invocation and evocation will take the place of what we now call prayer and worship. Be not disturbed by the use of the word “science.” It is not the cold and heartless intellectual thing so oft depicted. It is in reality the intelligent organisation of spiritual energy and of the forces of love, and when effective, will evoke the response of spiritual Beings Who can again walk openly [415] among men and thus establish a close relation and a constant communication between humanity and the spiritual Hierarchy.
Khoa học về khẩn cầu và gợi lên sẽ thay thế điều mà hiện nay chúng ta gọi là cầu nguyện và thờ phượng. Đừng bận tâm vì việc dùng từ “khoa học”. Nó không phải là điều lạnh lùng và vô cảm của trí tuệ như thường được mô tả. Thực ra, đó là sự tổ chức thông minh của năng lượng tinh thần và của các mãnh lực bác ái, và khi hữu hiệu, nó sẽ gợi lên sự đáp ứng của các Đấng tinh thần, những Đấng có thể lại công khai bước đi [415] giữa loài người và nhờ đó thiết lập một mối liên hệ gần gũi và một sự giao tiếp thường xuyên giữa nhân loại và Huyền Giai Tinh Thần.
It will be obvious to you that as humanity, through its most advanced units, prepares for this next great Approach it must accept with faith and conviction (faith for the masses, and conviction for the knowers and the New Group of World Servers) the premises stated above:
Hiển nhiên với các bạn là khi nhân loại, thông qua những đơn vị tiến bộ nhất của mình, chuẩn bị cho Sự Tiếp Cận lớn kế tiếp này, nhân loại phải chấp nhận bằng đức tin và xác tín (đức tin cho quần chúng, và xác tín cho những người biết và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian) những tiền đề đã nêu ở trên:
1. The fact of God (God Transcendent)
1. Sự kiện về Thượng đế (Thượng đế Siêu Việt)
2. Man’s relationship to the divine (God Immanent)
2. Mối liên hệ của con người với thiêng liêng (Thượng đế Nội Tại)
3. The fact of immortality
3. Sự kiện về tính bất tử
4. The Brotherhood of man (God in expression)
4. Tình huynh đệ của con người (Thượng đế trong biểu hiện)
5. The existence of the Way to God
5. Sự hiện hữu của Con Đường đến với Thượng đế
6. The historicity of the two great Approaches and the possibility of a third and imminent Approach.
6. Tính lịch sử của hai Sự Tiếp Cận lớn và khả năng của một Sự Tiếp Cận thứ ba đang cận kề.
It is here that the churches, if regenerated, can concentrate their efforts, cease perpetuating the outer and visible form, and begin to deal with the reality underlying all dogmas and doctrines. Upon these inner assurances man must take his stand, and a study of them will reveal that the majority of the unthinking masses (an immense majority) do accept them hopefully and with desire, though without any definite understanding, and that a steadily increasing minority also accept them with a full convinced awareness—an awareness that is the result of the transformation of hope into self-proven fact. In between these two extremes is a large group of questioning people; they are not part of the unintelligent mass, nor are they yet either occultists, mystics or even aspirants. They question and seek conviction; they repudiate faith as unintelligent, but long for a substitute; they are constantly emerging out of the mass of men and constantly moving forward in consciousness through the following of spiritual techniques, eventually taking their stand among those who can say with St. Paul: “I know Whom I have believed.” It is with these techniques that the true religious teaching should primarily concern itself.
Chính ở đây mà các giáo hội, nếu được tái sinh, có thể tập trung nỗ lực của mình, ngừng duy trì hình tướng bên ngoài và hữu hình, và bắt đầu đề cập đến thực tại nằm dưới mọi tín điều và giáo lý. Trên những bảo chứng nội tại này, con người phải đứng vững, và việc nghiên cứu chúng sẽ cho thấy rằng đa số quần chúng không suy nghĩ (một đa số rất lớn) quả thực chấp nhận chúng với hy vọng và khát vọng, dù không có sự thấu hiểu rõ rệt nào, và rằng một thiểu số ngày càng tăng cũng chấp nhận chúng với một nhận biết hoàn toàn xác tín—một nhận biết là kết quả của việc chuyển hóa hy vọng thành sự kiện được chính mình chứng minh. Ở giữa hai cực đoan này là một nhóm lớn những người đang chất vấn; họ không thuộc về quần chúng thiếu trí tuệ, nhưng họ cũng chưa phải là các nhà huyền bí học, các nhà thần bí hay ngay cả những người chí nguyện. Họ chất vấn và tìm kiếm xác tín; họ bác bỏ đức tin vì cho là thiếu trí tuệ, nhưng lại khao khát một điều thay thế; họ không ngừng nổi lên từ khối quần chúng và không ngừng tiến lên trong tâm thức qua việc theo đuổi các kỹ thuật tinh thần, cuối cùng đứng vào hàng ngũ những người có thể nói như Thánh Paul: “Tôi biết Đấng mà tôi đã tin.” Chính với những kỹ thuật này mà giáo huấn tôn giáo chân chính trước hết nên quan tâm.
As we look ahead into the world of tomorrow and begin [416] to question what structure the faith of humanity should assume and what building the skill of the knowers will erect to house the religious spirit of man, three more fundamental truths appear to be emerging as necessary adjuncts to the revealed body of truth:
Khi chúng ta nhìn về phía trước vào thế giới của ngày mai và bắt đầu [416] tự hỏi đức tin của nhân loại nên mang lấy cấu trúc nào và kỹ năng của những người biết sẽ dựng nên tòa nhà nào để chứa đựng tinh thần tôn giáo của con người, thì ba chân lý căn bản nữa dường như đang xuất hiện như những phần bổ sung cần thiết cho thân thể chân lý đã được mặc khải:
1. The demonstrated existence of a Spiritual Hierarchy, the life-purpose of which is the good of humanity. The Members of the Hierarchy are seen to be the Custodians of the divine Plan and expressions of the Love of God.
1. Sự hiện hữu được chứng minh của một Huyền Giai Tinh Thần mà mục đích sống của nó là thiện ích của nhân loại. Các Thành Viên của Thánh đoàn được thấy là những Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ và là những biểu hiện của Tình thương của Thượng đế.
2. The development of the Science of Invocation and Evocation as a means and method of approach to divinity. This will grow out of the ancient habits of prayer as used by the masses, and the practice of meditation as developed by the mystics and occultists. Prayer and meditation are the preliminary steps to this emerging science, and what is vaguely called “worship” is the group effort to establish some form of united approach to the spiritual Hierarchy, functioning under the guidance and control of the Christ and related to the highest spiritual centre, Shamballa, through its most advanced individuals, just as humanity is related to the Hierarchy by its spiritually minded people.
2. Sự phát triển của Khoa học về Khẩn Cầu và Gợi Lên như một phương tiện và phương pháp tiếp cận thiêng liêng. Điều này sẽ phát triển từ những thói quen cầu nguyện cổ xưa như được quần chúng sử dụng, và từ thực hành tham thiền như được các nhà thần bí và các nhà huyền bí học phát triển. Cầu nguyện và tham thiền là những bước sơ khởi dẫn đến khoa học đang xuất hiện này, và điều được gọi một cách mơ hồ là “thờ phượng” là nỗ lực nhóm nhằm thiết lập một hình thức tiếp cận hợp nhất nào đó đến Huyền Giai Tinh Thần, đang hoạt động dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Đức Christ và liên hệ với trung tâm tinh thần cao nhất, Shamballa, qua những cá nhân tiến bộ nhất của nó, cũng như nhân loại liên hệ với Thánh đoàn qua những người có tâm trí tinh thần của mình.
3. The realisation that the starry heavens, the solar system and the planetary spheres are all of them the manifestations of great spiritual Lives and that the interrelation between these embodied Lives is as real and effectual as is the relation between members of the human family.
3. Sự chứng nghiệm rằng bầu trời đầy sao, hệ mặt trời và các khối cầu hành tinh đều là những biểu hiện của các Sự Sống tinh thần vĩ đại, và rằng mối tương liên giữa những Sự Sống hiện thân này cũng thực và hữu hiệu như mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình nhân loại.
The spiritual Hierarchy of the planet, the ability of mankind to contact its Members and to work in cooperation with Them, and the existence of the greater Hierarchy of spiritual energies of which our tiny planetary sphere is a part—these are the three truths upon which the coming world religion may be based.
Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh, khả năng của nhân loại trong việc tiếp xúc với các Thành Viên của nó và làm việc hợp tác với Các Ngài, cùng sự hiện hữu của Huyền Giai lớn hơn của các năng lượng tinh thần mà khối cầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta là một phần trong đó—đó là ba chân lý mà trên đó tôn giáo thế giới sắp đến có thể được đặt nền.
Relationship to God, through Christ, has ever been the teaching of the spiritual leaders of the world, no matter by what name they called Him. In the future we shall draw closer and more intelligently to the living substance of [417] Reality and be more definite in our apprehension of this hitherto vaguely sensed relationship. We shall know and see and understand. We shall not just believe, have hope and try to comprehend. We shall speak openly of the Hierarchy and of its Members and Their work. The hierarchical nature of all spiritual Lives, and the fact of the great “chain of hierarchies” stretching all the way up from the mineral kingdom through the human and the kingdom of God to apparently remote spiritual groups, will be emphasised. Then there will open for the spiritual Lives what has been called “the Way of the Higher Evolution.” Much along these lines has been given out during the past two centuries. The fact of the existence of the Hierarchy is consciously recognised by hundreds of thousands today, though still denied by the orthodox; the general public are familiar with the idea of the existence of the Masters, and either gullibly accept the mass of futile and idiotic information handed out by many today or fight furiously against the spread of this teaching. Others are open-minded enough to investigate whether the teaching is true and to follow the techniques suggested, in the hope that hypothesis may turn to fact. This last group is steadily increasing in number and upon their accumulating evidence belief can be translated into knowledge. So many know the truth today; so many people of integrity and worth are cooperating consciously with Members of this Hierarchy that the very foundations of the ecclesiastical antagonisms and the belittling comments of the concrete minded are of no avail. What the orthodox theologian and the narrow doctrinaire have to offer no longer satisfies the intelligent seeker or suffices to answer his questions; he is shifting his allegiances into wider and more spiritual areas. He is moving out from under doctrinal authority into direct personal, spiritual experience and coming under the direct authority which contact with Christ and His disciples, the Masters, gives.
Mối liên hệ với Thượng đế, thông qua Đức Christ, luôn luôn là giáo huấn của các nhà lãnh đạo tinh thần của thế giới, bất kể họ gọi Ngài bằng tên gì. Trong tương lai, chúng ta sẽ đến gần hơn và một cách thông minh hơn với chất liệu sống động của [417] Thực Tại và sẽ xác định hơn trong sự nắm bắt của mình về mối liên hệ từ trước đến nay chỉ được cảm nhận mơ hồ này. Chúng ta sẽ biết, sẽ thấy và sẽ thấu hiểu. Chúng ta sẽ không chỉ tin, hy vọng và cố gắng hiểu nữa. Chúng ta sẽ công khai nói về Thánh đoàn, về các Thành Viên của Thánh đoàn và công việc của Các Ngài. Bản chất có tính huyền giai của mọi Sự Sống tinh thần, và sự kiện về “chuỗi huyền giai” vĩ đại trải dài từ giới kim thạch qua giới nhân loại và Thiên Giới đến những nhóm tinh thần dường như xa xôi, sẽ được nhấn mạnh. Khi ấy sẽ mở ra cho các Sự Sống tinh thần điều đã được gọi là “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.” Nhiều điều theo đường hướng này đã được công bố trong hai thế kỷ qua. Sự kiện về sự hiện hữu của Thánh đoàn ngày nay được hàng trăm ngàn người ý thức công nhận, dù vẫn bị giới chính thống phủ nhận; công chúng nói chung đã quen thuộc với ý tưởng về sự hiện hữu của các Chân sư, và hoặc nhẹ dạ chấp nhận khối thông tin vô ích và ngớ ngẩn mà nhiều người hiện nay đưa ra, hoặc chống đối dữ dội sự lan truyền của giáo huấn này. Những người khác đủ cởi mở để khảo sát xem giáo huấn ấy có đúng không và theo đuổi các kỹ thuật được gợi ý, với hy vọng rằng giả thuyết có thể trở thành sự kiện. Nhóm sau này đang đều đặn gia tăng về số lượng, và trên bằng chứng tích lũy của họ, niềm tin có thể được chuyển thành tri thức. Ngày nay có quá nhiều người biết chân lý; có quá nhiều người liêm chính và có giá trị đang hợp tác một cách có ý thức với các Thành Viên của Thánh đoàn này đến nỗi chính nền tảng của những đối kháng giáo hội và những lời bình phẩm hạ thấp của những người có trí cụ thể đều trở nên vô hiệu. Điều mà nhà thần học chính thống và người giáo điều hẹp hòi đưa ra không còn thỏa mãn người tìm đạo thông minh hay đủ để trả lời các câu hỏi của y nữa; y đang chuyển lòng trung thành của mình sang những lĩnh vực rộng lớn hơn và tinh thần hơn. Y đang bước ra khỏi quyền uy giáo điều để đi vào kinh nghiệm tinh thần trực tiếp, cá nhân và đi vào dưới quyền uy trực tiếp mà sự tiếp xúc với Đức Christ và các đệ tử của Ngài, các Chân sư, mang lại.
In considering our second point, the Science of Invocation and Evocation, we are also moving forward into the area of mental understanding. The grasping nature of [418] many of the prayers of men, based as they are upon desire for something, has long disturbed the intelligent; the vagueness of the meditation taught and practised in the East and in the West, and its emphatically selfish note (personal liberation and personal knowledge) are likewise causing a revolt. The demand today is for group work, group good, group knowledge, group contact with the divine, group salvation, group understanding and group relationship to God and the Spiritual Hierarchy. All this indicates progress.
Khi xem xét điểm thứ hai của chúng ta, Khoa học về Khẩn Cầu và Gợi Lên, chúng ta cũng đang tiến vào lĩnh vực của sự thấu hiểu trí tuệ. Bản chất chụp lấy [418] của nhiều lời cầu nguyện của con người, vì chúng dựa trên ham muốn một điều gì đó, từ lâu đã làm người thông minh bận tâm; tính mơ hồ của sự tham thiền được dạy và thực hành ở Đông phương và Tây phương, cùng sắc thái nhấn mạnh vào tính ích kỷ của nó (giải thoát cá nhân và tri thức cá nhân), cũng đang gây nên một sự phản kháng. Nhu cầu ngày nay là công việc nhóm, thiện ích nhóm, tri thức nhóm, sự tiếp xúc nhóm với thiêng liêng, sự cứu rỗi nhóm, sự thấu hiểu nhóm và mối liên hệ nhóm với Thượng đế và Huyền Giai Tinh Thần. Tất cả điều này cho thấy sự tiến bộ.
At this point it should be useful to repeat part of what I said elsewhere concerning future developments along this line. (The Reappearance of the Christ, pages 152-159.)
Đến đây, sẽ hữu ích nếu lặp lại một phần điều tôi đã nói ở nơi khác liên quan đến những phát triển tương lai theo đường hướng này. (Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ, các trang 152-159.)
This new invocative work will be the keynote of the coming world religion and will fall into two parts. There will be the invocative work of the masses of the people, trained by the spiritually minded people of the world (working in the churches, whenever possible, under an enlightened clergy) to accept the fact of the approaching spiritual energies, focussed through the spiritual Hierarchy, and to voice their spiritual demand for light, liberation and understanding. There will also be the trained, scientific work of appeal and invocation as practised by those who have trained their minds through right meditation, who know the uses of sound, of formulas and of invocation, and who can work consciously, focussing the invocative cry of the masses and at the same time using certain great formulas of words which will later be given to the race, as The Lord’s Prayer was given by the Christ and The Great Invocation has been given in this day and age.
Công việc khẩn cầu mới này sẽ là chủ âm của tôn giáo thế giới sắp đến và sẽ chia thành hai phần. Sẽ có công việc khẩn cầu của quần chúng, được huấn luyện bởi những người có tâm trí tinh thần của thế giới (làm việc trong các giáo hội, bất cứ khi nào có thể, dưới một hàng giáo phẩm được soi sáng) để chấp nhận sự kiện về các năng lượng tinh thần đang đến gần, được tập trung qua Huyền Giai Tinh Thần, và để cất lên nhu cầu tinh thần của họ về ánh sáng, giải thoát và thấu hiểu. Cũng sẽ có công việc kêu gọi và khẩn cầu được huấn luyện, có tính khoa học, như được thực hành bởi những người đã rèn luyện trí tuệ của mình qua tham thiền đúng đắn, những người biết cách sử dụng âm thanh, các công thức và sự khẩn cầu, và những người có thể làm việc một cách có ý thức, tập trung tiếng kêu khẩn cầu của quần chúng đồng thời sử dụng một số công thức ngôn từ lớn lao nhất định mà về sau sẽ được ban cho nhân loại, như Kinh Lạy Cha đã được Đức Christ ban cho và Đại Khấn Nguyện đã được ban cho trong thời đại ngày nay.
This new religious science (for which prayer, meditation and ritual have laid the foundation) will train its students to present, at certain stated periods throughout the year, the voiced demand of the people of the world for relationship with God and with each other. This work, when rightly carried forward, will evoke response from the waiting Hierarchy; through this response, the belief of the masses will gradually be changed into the conviction of the knowers. In this way humanity will be transformed and spiritualised. [419] Then will begin, as the ages pass away, the regeneration of material nature, with the two spiritual centres—the Hierarchy and Humanity—working together in full consciousness and understanding. The Kingdom of God will be functioning on Earth.
Khoa học tôn giáo mới này (mà cầu nguyện, tham thiền và nghi lễ đã đặt nền móng) sẽ huấn luyện các đạo sinh của nó trình bày, vào những thời kỳ nhất định trong năm, nhu cầu được cất thành lời của các dân tộc trên thế giới về mối liên hệ với Thượng đế và với nhau. Công việc này, khi được xúc tiến đúng đắn, sẽ gợi lên sự đáp ứng từ Thánh đoàn đang chờ đợi; nhờ sự đáp ứng này, niềm tin của quần chúng sẽ dần dần được chuyển thành xác tín của những người biết. Bằng cách ấy, nhân loại sẽ được chuyển đổi và được tinh thần hóa. [419] Khi đó, theo dòng thời đại trôi qua, sẽ bắt đầu sự tái sinh của bản chất vật chất, với hai trung tâm tinh thần—Thánh đoàn và Nhân loại—cùng làm việc trong đầy đủ tâm thức và thấu hiểu. Thiên Giới sẽ hoạt động trên Trái Đất.
It will be apparent to you that I can indicate only the broad general outlines of the new world religion. The expansion of the human consciousness which will take place as a result of the coming great Approach will enable man to grasp not only his relation to the spiritual Life of our planet, the “One in Whom we live and move and have our being,” but will also give him a glimpse of the relation of our planet to the circle of planetary lives moving within the orbit of the Sun, and the still greater circle of spiritual Influences which contact our solar system as it pursues its orbit in the Heavens (the twelve constellations of the zodiac). Astronomical and astrological investigation has demonstrated this relationship and the influences exerted, but there is still speculation and much foolish claiming and interpretation. Yet the churches have ever recognised this relationship, and the Bible has testified to it. “The stars in their courses fought against Sisera”; “Who can withstand the sweet influences of the Pleiades?”; and many other passages bear out this contention of the Knowers. Many church festivals are fixed by reference to the moon or a zodiacal constellation. Investigation will prove this to be increasingly the case, and when the ritual of the new world religion is universally established this will be one of the important factors considered.
Hiển nhiên với các bạn là tôi chỉ có thể nêu ra những nét đại cương rộng lớn của tôn giáo thế giới mới. Sự mở rộng của tâm thức nhân loại sẽ diễn ra như kết quả của Sự Tiếp Cận lớn sắp đến sẽ giúp con người nắm bắt không chỉ mối liên hệ của mình với Sự Sống tinh thần của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu,” mà còn cho y một thoáng thấy về mối liên hệ của hành tinh chúng ta với vòng tròn các sự sống hành tinh đang chuyển động trong quỹ đạo của Mặt Trời, và vòng tròn còn lớn hơn nữa của các Ảnh Hưởng tinh thần tiếp xúc với hệ mặt trời của chúng ta khi nó theo đuổi quỹ đạo của mình trong các tầng trời (mười hai chòm sao hoàng đạo). Nghiên cứu thiên văn và chiêm tinh đã chứng minh mối liên hệ này và những ảnh hưởng được tác động, nhưng vẫn còn sự suy đoán và nhiều lời khẳng định cùng diễn giải ngu xuẩn. Tuy nhiên, các giáo hội luôn luôn công nhận mối liên hệ này, và Kinh Thánh đã làm chứng cho nó. “Các ngôi sao trong quỹ đạo của chúng đã chiến đấu chống Sisera”; “Ai có thể chống lại những ảnh hưởng dịu ngọt của chòm Pleiades?”; và nhiều đoạn khác xác nhận luận điểm này của các thức giả. Nhiều lễ hội của giáo hội được ấn định bằng cách tham chiếu đến mặt trăng hay một chòm sao hoàng đạo. Nghiên cứu sẽ chứng minh điều này ngày càng rõ hơn, và khi nghi lễ của tôn giáo thế giới mới được thiết lập một cách phổ quát, đây sẽ là một trong những yếu tố quan trọng được xem xét.
The establishing of certain major festivals in relation to the moon, and in a lesser degree to the zodiac, will bring a strengthening of the spirit of invocation and the resultant inflow of responsive influences. The truth lying behind all invocation is based upon the power of thought, particularly in its telepathic nature, rapport and aspect. The unified invocative thought of the masses and the focussed, directed thought of the New Group of World Servers constitute an outgoing stream of energy. This will reach telepathically [420] those spiritual Beings Who are sensitive and responsive to such impacts. Their evoked response, sent out as spiritual energy, will in turn reach humanity, after having been stepped down into thought energy, and in that form will make its due impact upon the minds of men, convincing them and carrying inspiration and revelation. Thus has it ever been in the history of the spiritual unfoldment of the world and in the procedure followed in writing the world Scriptures.
Việc thiết lập một số đại lễ liên hệ với mặt trăng, và ở mức độ thấp hơn với hoàng đạo, sẽ đem lại sự tăng cường tinh thần khẩn cầu và sự tuôn đổ theo sau của các ảnh hưởng đáp ứng. Chân lý nằm sau mọi sự khẩn cầu được đặt nền trên quyền năng của tư tưởng, đặc biệt trong bản chất, sự giao cảm và phương diện viễn cảm của nó. Tư tưởng khẩn cầu hợp nhất của quần chúng và tư tưởng tập trung, có định hướng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cấu thành một dòng năng lượng tuôn ra. Dòng này sẽ vươn tới bằng viễn cảm [420] những Đấng tinh thần nhạy cảm và đáp ứng với các tác động như thế. Đáp ứng được gợi lên của Các Ngài, được phát ra như năng lượng tinh thần, đến lượt nó sẽ vươn tới nhân loại, sau khi đã được hạ xuống thành năng lượng tư tưởng, và dưới hình thức đó sẽ tạo nên tác động thích đáng lên tâm trí con người, thuyết phục họ và mang đến cảm hứng cùng sự mặc khải. Từ trước đến nay vẫn luôn như vậy trong lịch sử sự khai mở tinh thần của thế giới và trong tiến trình được noi theo khi viết nên các Thánh Kinh của thế giới.
Secondly, the establishing of a certain uniformity in the world religious rituals will aid men everywhere to strengthen each other’s work and enhance powerfully the thought currents directed to the waiting Spiritual Lives. At present, the Christian religion has its great festivals, the Buddhist keeps his different set of spiritual events, and the Hindu has still another list of holy days. In the future world, when organised, all men of spiritual inclination and intention everywhere will keep the same holy days. This will bring about a pooling of spiritual resources and a united spiritual effort, plus a simultaneous spiritual invocation. The potency of this will be apparent.
Thứ hai, việc thiết lập một sự đồng nhất nào đó trong các nghi lễ tôn giáo của thế giới sẽ giúp con người ở khắp nơi tăng cường công việc của nhau và làm mạnh thêm một cách đầy quyền năng các dòng tư tưởng hướng tới các Sự Sống Tinh thần đang chờ đợi. Hiện nay, tôn giáo Cơ Đốc có các đại lễ của mình; Phật tử giữ một hệ thống khác về các biến cố tinh thần; và Ấn giáo lại có một danh sách ngày thánh khác nữa. Trong thế giới tương lai, khi được tổ chức, mọi người ở khắp nơi có khuynh hướng và chủ đích tinh thần sẽ cùng giữ những ngày thánh như nhau. Điều này sẽ mang lại sự gom chung các tài nguyên tinh thần và một nỗ lực tinh thần hợp nhất, cộng thêm một sự khẩn cầu tinh thần đồng thời. Hiệu lực của điều này sẽ hiển nhiên.
Let me indicate the possibilities of such spiritual events, and prophesy the nature of the coming world-wide Festivals. There will be three such major Festivals each year, concentrated in three consecutive months, and leading therefore to a prolonged spiritual effort which will affect the remainder of the year. These will be:
Hãy để tôi chỉ ra những khả năng của các biến cố tinh thần như thế, và tiên báo bản chất của các Đại Lễ toàn cầu sắp đến. Mỗi năm sẽ có ba Đại Lễ chính như vậy, tập trung trong ba tháng liên tiếp, và do đó dẫn đến một nỗ lực tinh thần kéo dài sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của năm. Đó sẽ là:
1. The Festival of Easter. This is the festival of the risen, living Christ, the Teacher of all men and the Head of the Spiritual Hierarchy. He is the Expression of the Love of God. On this day the Spiritual Hierarchy which He guides and directs will be recognised, and the nature of God’s love will be emphasised. This festival is determined always by the date of the first Full Moon of spring, and is the great Western and Christian festival.
1. Đại Lễ Phục Sinh. Đây là đại lễ của Đức Christ phục sinh, hằng sống, Huấn sư của mọi người và là Đầu của Huyền Giai Tinh Thần. Ngài là Biểu Hiện của Tình Thương của Thượng đế. Vào ngày này, Huyền Giai Tinh Thần mà Ngài hướng dẫn và chỉ đạo sẽ được thừa nhận, và bản chất của tình thương của Thượng đế sẽ được nhấn mạnh. Đại lễ này luôn luôn được xác định theo ngày Trăng Tròn đầu tiên của mùa xuân, và là đại lễ lớn của phương Tây và của Cơ Đốc giáo.
2. The Festival of Wesak. This is the festival of the Buddha, the spiritual Intermediary between the highest [421] spiritual centre, Shamballa, and the Hierarchy. The Buddha is the Expression of the Wisdom of God, the Embodiment of Light, and the Indicator of the divine Purpose. This will be fixed annually in relation to the Full Moon of May, as is at present the case. It is the great Eastern festival.
2. Đại Lễ Wesak. Đây là đại lễ của Đức Phật, Đấng Trung Gian tinh thần giữa trung tâm tinh thần cao nhất [421] là Shamballa và Thánh đoàn. Đức Phật là Biểu Hiện của Minh Triết của Thượng đế, là Hiện Thân của Ánh Sáng, và là Đấng Chỉ Báo Thiên Ý. Đại lễ này sẽ được ấn định hằng năm theo Trăng Tròn tháng Năm, như hiện nay vẫn vậy. Đây là đại lễ lớn của phương Đông.
3. The Festival of Goodwill. This will be the festival of the spirit of humanity—aspiring towards God, seeking conformity with the Will of God and dedicated to the expression of right human relation. This will be fixed annually in relation to the Full Moon of June. It will be a day whereon the spiritual and divine nature of mankind will be recognised. On this festival, for two thousand years, the Christ has represented humanity and has stood before the Hierarchy and in the sight of Shamballa as the God-Man, the Leader of His people and “the Eldest in a great family of brothers” (Romans VIII:29). Each year at that time He has preached the last sermon of the Buddha before the assembled Hierarchy. This will therefore be a festival of deep invocation and appeal, of a basic aspiration towards fellowship, of human and spiritual unity, and will represent the effect in the human consciousness of the work of the Buddha and of the Christ.
3. Đại Lễ Thiện Chí. Đây sẽ là đại lễ của tinh thần nhân loại—khát vọng hướng về Thượng đế, tìm cách phù hợp với Ý Chí của Thượng Đế và hiến mình cho sự biểu lộ các tương quan nhân loại đúng đắn. Đại lễ này sẽ được ấn định hằng năm theo Trăng Tròn tháng Sáu. Đây sẽ là ngày mà bản chất tinh thần và thiêng liêng của nhân loại được thừa nhận. Trong đại lễ này, suốt hai ngàn năm qua, Đức Christ đã đại diện cho nhân loại và đứng trước Thánh đoàn và trước mắt Shamballa như Thượng đế-Người, Vị Lãnh Đạo dân của Ngài và là “Người Anh Cả trong một đại gia đình huynh đệ” (La Mã VIII:29). Mỗi năm vào thời điểm đó, Ngài đã thuyết giảng bài pháp cuối cùng của Đức Phật trước Thánh đoàn tề tựu. Vì vậy, đây sẽ là một đại lễ của sự khẩn cầu và thỉnh nguyện sâu xa, của một khát vọng căn bản hướng tới tình huynh đệ, của sự hợp nhất nhân loại và tinh thần, và sẽ biểu thị hiệu quả trong tâm thức con người của công việc của Đức Phật và của Đức Christ.
These three festivals are already being kept throughout the world, though they are not as yet related to each other, and as part of the unified spiritual Approach of humanity. The time is coming when all three festivals will be kept simultaneously throughout the world, and by their means a great spiritual unity will be achieved and the effects of the great Approach so close to us at this time will be stabilised by the united invocation of humanity throughout the planet.
Ba đại lễ này đã được cử hành khắp thế giới, dù hiện chưa liên hệ với nhau và chưa là một phần của Sự Tiếp Cận tinh thần hợp nhất của nhân loại. Thời điểm đang đến khi cả ba đại lễ sẽ được cử hành đồng thời trên khắp thế giới, và nhờ đó một sự hợp nhất tinh thần lớn lao sẽ được thành tựu, còn các hiệu quả của Sự Tiếp Cận vĩ đại hiện đang rất gần chúng ta sẽ được ổn định nhờ sự khẩn cầu hợp nhất của nhân loại trên toàn hành tinh.
The remaining full moons will constitute lesser festivals, but will be recognised to be also of vital importance. They will establish the divine attributes in the consciousness of man, just as the major festivals establish the three divine aspects. These aspects and qualities will be arrived at and determined by a close study of the nature of a particular [422] constellation or constellations influencing those months. For instance, Capricorn (December) will call attention to the first initiation, the birth of the Christ in the cave of the heart, and indicate the training needed to bring about that great spiritual event in the life of the individual man. I give this one instance to you in order to indicate the possibilities for spiritual unfoldment that could be given through an understanding of these influences, and in order to revivify the ancient faiths by expanding them into their larger undying relationships.
Các kỳ trăng tròn còn lại sẽ cấu thành những đại lễ nhỏ hơn, nhưng cũng sẽ được thừa nhận là có tầm quan trọng thiết yếu. Chúng sẽ thiết lập các thuộc tính thiêng liêng trong tâm thức con người, cũng như các đại lễ chính thiết lập ba phương diện thiêng liêng. Các phương diện và phẩm tính này sẽ đạt được và được xác định nhờ sự nghiên cứu kỹ lưỡng về bản chất của một [422] chòm sao hay các chòm sao đặc biệt ảnh hưởng đến những tháng ấy. Thí dụ, Ma Kết (tháng Mười Hai) sẽ hướng sự chú ý đến lần điểm đạo thứ nhất, sự giáng sinh của Đức Christ trong hang động của tim, và chỉ ra sự huấn luyện cần thiết để mang lại biến cố tinh thần lớn lao ấy trong đời sống của từng con người cá nhân. Tôi đưa ra cho bạn một thí dụ này để chỉ ra những khả năng khai mở tinh thần có thể được ban cho qua sự thấu hiểu các ảnh hưởng này, và để làm sống lại các đức tin cổ xưa bằng cách mở rộng chúng vào những tương quan lớn lao hơn và bất diệt của chúng.
We have, therefore, the following:
Vì vậy, chúng ta có điều sau đây:
[table 422]
[table 422]
The remaining nine Full Moons will be concerned with the divine characteristics and their development in mankind.
Chín kỳ Trăng Tròn còn lại sẽ liên quan đến các đặc tính thiêng liêng và sự phát triển của chúng trong nhân loại.
Thus the twelve festivals will constitute a revelation of divinity. They will present a means of bringing about relationship, first of all during three months with the three great spiritual centres, the three expressions of the divine Trinity. The minor festivals will emphasise the inter-relation of the Whole, thus lifting the divine presentation out of the individual and the personal into that of the universal divine Purpose; the relationship of the Whole to the part and of the part to that Whole will be thereby fully expressed.
Như vậy, mười hai đại lễ sẽ cấu thành một sự mặc khải về thiên tính. Chúng sẽ trình bày một phương tiện để tạo nên tương quan, trước hết là trong ba tháng với ba trung tâm tinh thần lớn, ba biểu hiện của Tam Vị thiêng liêng. Các đại lễ nhỏ sẽ nhấn mạnh sự tương liên của Toàn Thể, nhờ đó nâng sự trình bày thiêng liêng ra khỏi cái cá nhân và riêng tư để đi vào Thiên Ý phổ quát; tương quan của Toàn Thể với bộ phận và của bộ phận với Toàn Thể ấy nhờ đó sẽ được biểu lộ đầy đủ.
Humanity will therefore invoke the spiritual power of the Kingdom of God, the Hierarchy; the Hierarchy will respond, and God’s plans will then be worked out on Earth. The Hierarchy, on a higher turn of the spiral, will invoke the centre of God’s Will, Shamballa or Shangri-Lha, thus invoking the Purpose of God. Thus will the Will of God be implemented by Love and manifested intelligently; for this mankind is ready, and for this the Earth waits. [423]
Do đó, nhân loại sẽ khẩn cầu quyền năng tinh thần của Thiên Giới, tức Thánh đoàn; Thánh đoàn sẽ đáp ứng, và khi ấy các kế hoạch của Thượng đế sẽ được thực hiện trên Trái Đất. Thánh đoàn, trên một vòng xoắn cao hơn, sẽ khẩn cầu trung tâm của Ý Chí của Thượng đế, là Shamballa hay Shangri-Lha, nhờ đó khẩn cầu Mục Đích của Thượng đế. Như vậy, Ý Chí của Thượng Đế sẽ được thực thi bằng Tình Thương và được biểu lộ một cách thông tuệ; nhân loại đã sẵn sàng cho điều này, và Trái Đất đang chờ đợi điều này. [423]
~
~
FACTORS IN THE WORLD SITUATION—CÁC YẾU TỐ TRONG TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
April 1944
Tháng Tư 1944
I have written to the world aspirants for many Wesaks now. I have again and again brought to your attention and theirs the close relation which is being established between the world of men and the world of souls. I have again and again pointed out that, under the Law of Evolution, certain great fusions, at-one-ments or great Approaches are taking place. I have indicated that the present activity of our planetary Logos is bringing certain major adjustments within the planetary sphere of influence and that these primarily affect the human kingdom. I have called to your notice the urgency of the incoming life, producing tension, spiritual recognitions of a far-reaching nature, the immediate overthrow of false Gods and standards, and the destruction of outworn and crystallised interpretations (called doctrines) of the spiritual realities. By these means, the way is cleared for a new and simple recognition of divinity which will satisfy not only the heart of the simplest person, but which will meet the need of the most intelligent. I have talked in terms of the union of Eastern and Western thought and of the need for the great civilisations—nurtured under the influence of Shri Krishna, the Buddha and the Christ—to be brought closer together. I have said (and I here re-affirm) that He Who comes will make this union possible and effective. This event will evoke world-wide recognition.
Tôi đã viết cho những người chí nguyện của thế giới vào nhiều kỳ Wesak rồi. Hết lần này đến lần khác tôi đã lưu ý bạn và họ về mối liên hệ chặt chẽ đang được thiết lập giữa thế giới loài người và thế giới các linh hồn. Hết lần này đến lần khác tôi đã chỉ ra rằng, dưới Định luật Tiến hoá, một số sự dung hợp lớn lao, những sự hợp nhất hay những Sự Tiếp Cận vĩ đại đang diễn ra. Tôi đã cho thấy rằng hoạt động hiện nay của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang mang lại một số điều chỉnh lớn trong phạm vi ảnh hưởng hành tinh và rằng những điều này trước hết tác động đến giới nhân loại. Tôi đã kêu gọi sự chú ý của bạn đến tính cấp bách của sự sống đang đi vào, tạo ra căng thẳng, những sự thừa nhận tinh thần có tầm ảnh hưởng sâu rộng, sự lật đổ tức thời các thần tượng và tiêu chuẩn giả dối, và sự phá hủy những cách giải thích đã lỗi thời và kết tinh (được gọi là giáo điều) về các thực tại tinh thần. Bằng những phương tiện này, con đường được dọn sạch cho một sự thừa nhận mới mẻ và đơn giản về thiên tính, điều sẽ thỏa mãn không chỉ trái tim của người đơn sơ nhất mà còn đáp ứng nhu cầu của người thông tuệ nhất. Tôi đã nói đến sự hợp nhất tư tưởng Đông và Tây và đến nhu cầu phải đưa các nền văn minh lớn—được nuôi dưỡng dưới ảnh hưởng của Shri Krishna, Đức Phật và Đức Christ—đến gần nhau hơn. Tôi đã nói (và ở đây tôi tái khẳng định) rằng Đấng Đang Đến sẽ làm cho sự hợp nhất này trở nên khả hữu và hữu hiệu. Biến cố này sẽ khơi dậy sự thừa nhận trên toàn thế giới.
I have stated also that we are reaching a climaxing period in human history; in this period the Lords of Karma are unusually active; the Law of Cause and Effect is bringing the results of past activities, the subjective thinking and the secret impulses to the surface, and exacting penalty and the planned cleaning of the slate of human history. When He Whom all disciples serve was on Earth two thousand years ago, He said that secret things would be made plain; by this emergence of the good and of the bad into prominence, men will arrive at knowledge, at understanding, and will be forced to take those steps which will be needed to [424] build a new and better world, based on the Law of Love and not on the Law of Separateness and hate. This is what is happening today.
Tôi cũng đã nói rằng chúng ta đang tiến đến một giai đoạn cao trào trong lịch sử nhân loại; trong giai đoạn này các Đấng Nghiệp Quả hoạt động mạnh một cách khác thường; Định luật Nhân Quả đang đưa các kết quả của những hoạt động quá khứ, của tư tưởng chủ quan và của những xung lực bí mật lên bề mặt, đồng thời đòi hỏi sự trừng phạt và sự tẩy sạch có kế hoạch trang sử nhân loại. Khi Đấng mà mọi đệ tử phụng sự còn ở trên Trái Đất cách đây hai ngàn năm, Ngài đã nói rằng những điều bí mật sẽ được phơi bày; nhờ sự nổi bật của cả điều thiện lẫn điều ác này, con người sẽ đạt đến tri thức, đến sự thấu hiểu, và sẽ bị buộc phải thực hiện những bước cần thiết để [424] xây dựng một thế giới mới và tốt đẹp hơn, đặt nền trên Định luật Bác ái chứ không phải trên Định luật Chia Rẽ và hận thù. Đó chính là điều đang xảy ra ngày nay.
I have said also that the Forces of Light are nearing the Earth and that the Hierarchy is coming steadily closer to mankind.
Tôi cũng đã nói rằng Các Mãnh Lực của Ánh Sáng đang đến gần Trái Đất và rằng Thánh đoàn đang đều đặn tiến gần hơn đến nhân loại.
These basic events, these subjective happenings and these spiritual determinations—under the Law of Action and Reaction—have evoked a more rapid response from the Forces of Evil (present in our planetary life) than from humanity. Certain great Forces or embodied Energies of darkness and of evil organised themselves and took the needed steps (so they believed) to prevent humanity from stepping onward into light. They availed themselves of the weaknesses, the selfishness and the self-interest of man; just as good can stimulate the latent goodness in mankind into expression, so evil can evoke greater evil from those susceptible from innate weakness, and from the unthinking and emotional: the Forces of Light work only with men’s souls. Lies, false teaching, evil propaganda, a war of nerves, the culture of fear, the organisation of groups and of isolated workers in every nation pledged to undermine righteousness and distort the truth, went rapidly forward. Great and fundamental truths were twisted to meet the ends of the evil workers.
Những biến cố căn bản này, những diễn biến chủ quan này và những quyết định tinh thần này—dưới Định luật Tác Động và Phản Ứng—đã khơi dậy một đáp ứng nhanh hơn từ Các Mãnh Lực của Ác Tính (hiện diện trong sự sống hành tinh của chúng ta) so với từ nhân loại. Một số Mãnh Lực lớn hay các Năng Lượng của bóng tối và của điều ác đã tự tổ chức và thực hiện những bước cần thiết (theo như chúng tin tưởng) để ngăn cản nhân loại tiến bước vào ánh sáng. Chúng đã lợi dụng những yếu đuối, tính ích kỷ và tư lợi của con người; cũng như điều thiện có thể kích thích điều thiện tiềm ẩn trong nhân loại đi vào biểu lộ, thì điều ác cũng có thể khơi dậy điều ác lớn hơn nơi những ai dễ bị tác động do yếu đuối bẩm sinh, và nơi những người thiếu suy nghĩ và thiên về cảm xúc: Các Mãnh Lực của Ánh Sáng chỉ làm việc với linh hồn của con người. Dối trá, giáo huấn sai lạc, tuyên truyền độc ác, chiến tranh thần kinh, việc nuôi dưỡng sợ hãi, việc tổ chức các nhóm và những người hoạt động riêng lẻ trong mọi quốc gia cam kết phá hoại chính nghĩa và bóp méo chân lý, đã nhanh chóng tiến triển. Những chân lý lớn lao và căn bản đã bị xuyên tạc để phục vụ mục đích của những kẻ hoạt động cho điều ác.
The doctrine, for instance, of the super-race was interpreted to mean the superiority of the German nation and culture to all in the West, whilst the divinity of the Sons of Heaven (the Japanese race) was emphasised to all in the East. The bewildered peoples of both nations were led to believe that they had a great and spiritual mission to dominate the world.
Chẳng hạn, giáo lý về siêu chủng tộc đã được diễn giải thành sự vượt trội của quốc gia và văn hóa Đức đối với mọi dân tộc ở phương Tây, trong khi thiên tính của các Con của Thiên Đàng (chủng tộc Nhật Bản) được nhấn mạnh với mọi người ở phương Đông. Các dân tộc hoang mang của cả hai quốc gia đã bị dẫn dắt để tin rằng họ có một sứ mệnh lớn lao và tinh thần là thống trị thế giới.
This was the first result of the approach of the Kingdom of God to the earth, or rather to the physical plane. In that kingdom men of all races will demonstrate their divinity; the kingdom of souls will be recognised as the universal home and race of all men. Separative nationalities will, in that kingdom, have no place or recognition.
Đó là kết quả đầu tiên của sự tiếp cận của Thiên Giới đến trái đất, hay đúng hơn là đến cõi hồng trần. Trong giới ấy, con người thuộc mọi chủng tộc sẽ biểu lộ thiên tính của mình; giới các linh hồn sẽ được thừa nhận là quê hương và chủng tộc phổ quát của mọi người. Những quốc tịch chia rẽ sẽ không có chỗ đứng hay sự thừa nhận nào trong giới ấy.
[425] The Forces of Evil sought for those leaders and groups who are the materialistic correspondence to the spiritual leaders and those who seek to guide humanity along right lines. They took possession (and I use this word with deliberation) of the evil men who led the Axis Powers—Hitler, Tojo, Goebbels, Ribbentrop, Himmler and—to a much lesser degree—Mussolini, Hess, Goering and others. They completely overpowered the minds of these men, already distorted with ambition and sadistic inclinations. Who, you ask, do I mean by “they”? I mean those intelligent evil, unloving, hateful Individualities who are to the world of selfish and material focus what the Hierarchy of Masters, working under the Christ, are to struggling human aspirants. The power of these evil forces is enormous, for they recognise no restrictions or ordinary decent, human limitations; they work through violence, coercion, cruelty, hate, terror and lies; they aim to subjugate the human consciousness through the complete control of men’s minds, through the withholding of good and the promulgation of evil. They stimulate the brains of men through the extent of their evil and magical knowledge; I mean this literally and physically. The Great White Lodge, working under the inspiration of the Christ and of Shamballa, functions necessarily under certain spiritual restrictions. Coercion is not permitted; the minds of men must be and are left free; the stimulation of the souls of men is permitted, because it results in the stimulation of the expression of love and of understanding, leading to right human relations. These spiritual restrictions greatly slow down the progress of the Forces of Light; it should interest you to remember that the length of the war was partly dependent upon the inability of the Armies of the Lord to commit the crimes for which the Axis Powers have been responsible. The physical activities of the Forces of Light do recognise certain limitations, and of this the Forces of Evil take constant advantage. The bombing of massed populations was started by Hitler and could have been ended by him immediately if he so chose.
[425] Các Mãnh Lực của Ác Tính đã tìm kiếm những lãnh tụ và những nhóm là đối phần duy vật của các lãnh tụ tinh thần và của những người tìm cách hướng dẫn nhân loại theo những đường lối đúng đắn. Chúng đã chiếm hữu (và tôi dùng từ này một cách có chủ ý) những kẻ ác đã lãnh đạo các Cường Quốc Trục—Hitler, Tojo, Goebbels, Ribbentrop, Himmler và—ở mức độ thấp hơn nhiều—Mussolini, Hess, Goering cùng những kẻ khác. Chúng hoàn toàn chế ngự tâm trí của những người này, vốn đã bị bóp méo bởi tham vọng và những khuynh hướng bạo dâm. Bạn hỏi tôi muốn nói ai khi nói “chúng”? Tôi muốn nói đến những Cá Thể ác độc, vô tình thương, đầy hận thù nhưng thông minh, là những kẻ đối với thế giới tập trung vào ích kỷ và vật chất cũng giống như Thánh đoàn các Chân sư, đang làm việc dưới quyền Đức Christ, đối với những người chí nguyện nhân loại đang tranh đấu. Quyền lực của các mãnh lực ác độc này là vô cùng lớn, vì chúng không thừa nhận bất kỳ hạn chế nào hay những giới hạn nhân bản bình thường và đứng đắn; chúng hoạt động qua bạo lực, cưỡng ép, tàn nhẫn, hận thù, khủng bố và dối trá; chúng nhắm đến việc khuất phục tâm thức con người qua sự kiểm soát hoàn toàn tâm trí con người, qua việc ngăn chặn điều thiện và phổ biến điều ác. Chúng kích thích bộ não con người bằng mức độ tri thức ác độc và huyền thuật của chúng; tôi nói điều này theo nghĩa đen và theo nghĩa vật lý. Thánh đoàn, hoạt động dưới cảm hứng của Đức Christ và của Shamballa, tất yếu vận hành dưới một số hạn chế tinh thần nhất định. Sự cưỡng ép không được phép; tâm trí con người phải được và đang được để tự do; sự kích thích linh hồn con người được cho phép, bởi vì điều đó dẫn đến sự kích thích biểu lộ của tình thương và sự thấu hiểu, đưa đến các tương quan nhân loại đúng đắn. Những hạn chế tinh thần này làm chậm rất nhiều tiến trình của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng; bạn nên thấy thú vị khi nhớ rằng thời gian kéo dài của cuộc chiến một phần tùy thuộc vào việc các Đạo Quân của Chúa không thể phạm những tội ác mà các Cường Quốc Trục đã phải chịu trách nhiệm. Các hoạt động hồng trần của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng có thừa nhận một số giới hạn nhất định, và Các Mãnh Lực của Ác Tính liên tục lợi dụng điều này. Việc ném bom vào các quần thể dân cư đông đúc đã do Hitler khởi xướng và lẽ ra có thể được ông chấm dứt ngay lập tức nếu ông muốn.
[426] There is another aspect of this matter to which I would like to call your attention. These restrictions which the Forces of Light recognise have also an undesirable effect where the unintelligent and well-meaning are concerned, and where those who are emotionally polarised interpret the Law of Love. The United Nations, working for human liberation and freedom (and therefore working under the Law of Love, rightly understood) is prevented from following the lines of indiscriminate cruelty which characterised the German and Japanese techniques: torture, starvation, lying propaganda, misuse of prisoners, the dissemination of a terror campaign. These are not permitted by the rules of the Brothers of Humanity. From a purely physical angle, this can be interpreted as putting the “Armies of the Lord” at a disadvantage. It is this right attitude on the part of the Forces of Light which has an undesirable effect upon the appeasers and pacifists of the world. These would, for humanitarian reasons and from love of the forms through which humanity functions, bring the war to an immediate end.
[426] Có một phương diện khác của vấn đề này mà tôi muốn lưu ý bạn. Những hạn chế mà Các Mãnh Lực của Ánh Sáng thừa nhận cũng có một tác động không mong muốn đối với những người thiếu thông tuệ nhưng có thiện ý, và đối với những người phân cực cảm xúc khi họ diễn giải Định luật Bác ái. Các Quốc Gia Đồng Minh, đang hoạt động cho sự giải phóng và tự do của nhân loại (và do đó hoạt động dưới Định luật Bác ái, được hiểu đúng), bị ngăn không được đi theo những đường lối tàn bạo bừa bãi vốn đặc trưng cho các kỹ thuật của Đức và Nhật: tra tấn, bỏ đói, tuyên truyền dối trá, ngược đãi tù nhân, phát động chiến dịch khủng bố. Những điều này không được các quy luật của các Huynh Đệ của Nhân Loại cho phép. Từ góc độ thuần túy hồng trần, điều này có thể được diễn giải như đặt “Đạo Quân của Chúa” vào thế bất lợi. Chính thái độ đúng đắn này của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng lại gây ra một tác động không mong muốn đối với những người chủ trương nhân nhượng và những người chủ hòa trên thế giới. Vì những lý do nhân đạo và do tình yêu đối với các hình tướng mà qua đó nhân loại vận hành, họ muốn chấm dứt chiến tranh ngay lập tức.
In their well-meaning blindness they would sacrifice the future of humanity and the lives of millions of people at a later date for a temporary cessation of hostilities. I would emphasise to you that the Forces of Evil must be defeated now; the evil leaders must be wrenched from their high place, and the complete defeat and annihilation of those responsible for launching this horror on humanity is an absolute necessity and bounden duty, if security, well-being and a new order of happier living is to be the lot of coming generations. A temporary ending of the war would only give time for the Forces of Evil to reorganise, and the future war would be infinitely worse than this one. This the intelligent humanitarian is saying, and this is the opinion of the Hierarchy. The Hierarchy stands firmly on the side of those who demand a war to a finish, and the reasons are the ultimate saving of millions of lives and the preservation of certain basic spiritual values.
Trong sự mù quáng đầy thiện ý của mình, họ sẽ hy sinh tương lai của nhân loại và sinh mạng của hàng triệu người vào một ngày sau đó để đổi lấy một sự ngưng chiến tạm thời. Tôi muốn nhấn mạnh với bạn rằng Các Mãnh Lực của Ác Tính phải bị đánh bại ngay bây giờ; những lãnh tụ ác độc phải bị giật khỏi địa vị cao của chúng, và sự đánh bại hoàn toàn cùng sự tiêu diệt những kẻ chịu trách nhiệm phát động nỗi kinh hoàng này lên nhân loại là một điều tuyệt đối cần thiết và là bổn phận bắt buộc, nếu an ninh, phúc lợi và một trật tự mới của đời sống hạnh phúc hơn sẽ là số phận của các thế hệ mai sau. Một sự chấm dứt chiến tranh tạm thời chỉ cho Các Mãnh Lực của Ác Tính thời gian để tái tổ chức, và cuộc chiến tương lai sẽ tồi tệ hơn vô hạn so với cuộc chiến này. Đó là điều mà nhà nhân đạo thông tuệ đang nói, và đó là quan điểm của Thánh đoàn. Thánh đoàn đứng vững vàng về phía những ai đòi hỏi một cuộc chiến đến cùng, và lý do là để cứu vớt tối hậu hàng triệu sinh mạng và bảo tồn một số giá trị tinh thần căn bản.
The issue is far more serious spiritually than you know; [427] the work of the Hierarchy is handicapped not only by the restrictions under which the Forces of Light must work, but also by the work and utterances of the silly little men with small vision who see not the future possibilities if the war came to an inconclusive finish, and who (for the present comfort of the present generation) would sacrifice the children of tomorrow and later generations. The work of the Hierarchy is handicapped by the attitudes of men with no perspective and much selfishness, of no cruelty but of stupid thinking. These men—in the houses of legislature in the various United Nations, in Parliament, in Congress, and in the churches—plead for the cessation of the war before victory is won and before the enemies of humanity are beaten to their knees in supplication for mercy and in a demand for peace. They see the end of business as they have known it; they see the familiar landmarks of their comfortable world disappearing; they dislike the results of the war as it affects them; or they cannot bear the general suffering and prompted by pity they demand an immediate peace. Others are prompted by isolationism and the desire to withdraw from participation in the misery of war; others hate those whose duty it is to carry the war to a successful climax, or see their particular ambitions threatened by the conditionings of a changing world. They would sacrifice future generations, as I have said above, to their short-sighted policy and feeble judgment. They spread disunity, therefore, and shackle the hands of those administering in high places. Their efforts prolong the war, dishearten the fighting forces, break down national and military morale, and lay a poor foundation for the work of the post-war world. There are many of these in every nation, there are too many in the United States of America; there are none in the U.S.S.R., and hence her triumphant march forward.
Vấn đề về mặt tinh thần nghiêm trọng hơn nhiều so với bạn biết; [427] công việc của Thánh đoàn bị cản trở không chỉ bởi những hạn chế mà Các Mãnh Lực của Ánh Sáng phải làm việc dưới đó, mà còn bởi công việc và lời lẽ của những kẻ nhỏ bé ngu xuẩn với tầm nhìn hạn hẹp, những kẻ không thấy các khả năng tương lai nếu chiến tranh kết thúc mà không ngã ngũ, và những kẻ (vì sự tiện nghi hiện tại của thế hệ hiện nay) sẽ hy sinh con cái của ngày mai và các thế hệ về sau. Công việc của Thánh đoàn bị cản trở bởi thái độ của những người không có viễn kiến và đầy ích kỷ, không tàn nhẫn nhưng suy nghĩ ngu xuẩn. Những người này—trong các cơ quan lập pháp của nhiều Quốc Gia Đồng Minh, trong Quốc hội, trong Nghị viện, và trong các giáo hội—kêu gọi chấm dứt chiến tranh trước khi chiến thắng đạt được và trước khi kẻ thù của nhân loại bị quật ngã quỳ gối van xin lòng thương xót và đòi hòa bình. Họ thấy sự chấm dứt của công việc kinh doanh như họ từng biết; họ thấy những mốc quen thuộc của thế giới tiện nghi của họ đang biến mất; họ không thích những kết quả của chiến tranh khi nó ảnh hưởng đến họ; hoặc họ không chịu nổi nỗi đau khổ chung và vì lòng thương hại mà đòi hòa bình ngay lập tức. Những người khác bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa biệt lập và mong muốn rút lui khỏi việc tham dự vào nỗi khốn khổ của chiến tranh; những người khác nữa ghét những ai có bổn phận đưa chiến tranh đến cao trào thắng lợi, hoặc thấy những tham vọng riêng của mình bị đe dọa bởi những tác động định hình của một thế giới đang thay đổi. Như tôi đã nói ở trên, họ sẽ hy sinh các thế hệ tương lai cho chính sách thiển cận và phán đoán yếu ớt của mình. Vì vậy, họ gieo rắc sự bất hòa và trói tay những người đang điều hành ở địa vị cao. Những nỗ lực của họ kéo dài chiến tranh, làm nản lòng lực lượng chiến đấu, phá vỡ tinh thần quốc gia và quân đội, và đặt một nền móng tồi cho công việc của thế giới hậu chiến. Có nhiều người như thế trong mọi quốc gia, và có quá nhiều ở Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; không có ai như thế ở Liên Xô, và do đó mới có cuộc tiến quân chiến thắng của nước này.
You have, consequently, in the world today:
Do đó, ngày nay trên thế giới có:
1. The Forces of Evil, working through Germany and Japan. To date, they are holding their own and they are not yet defeated. They are terrorising the world. Within [428] their own national borders they do not possess enough people with courage, understanding, or with the ability to think clearly, who hate evil and who can hold to a vision. There is little in either nation to bring assistance to the Forces of Light. The Germans were deceived from the beginning, and a widespread national deception, backed by a terror campaign, argues a general weakness, lack of courage and a natural predilection for evil guidance. The tendency to be led along aggressive, selfish and evil lines has been characteristic of the German mentality for a great length of time. This negative nation, with its arrogant psychology (one of the great paradoxes of the ages), must be taught the ways of positive good, and a courageous championing of righteousness must take the place of the present negative acceptance of evil. With humility and intelligence must the German nation be taught to take a proper place in the community of nations. The Japanese nation, in spite of its great age, must go back into the nursery state; it must be taught, as children are taught, to be social and not anti-social, and it will be long before it will be safe to trust this nation. The Italian nation presents no greater problem than does any other nation in the world. It is normal, as are the United Nations; the German nation and the Japanese race are not normal, and must be brought back to normality by careful, kindly, but firm handling, and by applied educational processes.
1. Các Mãnh Lực của Ác Tính, đang hoạt động qua Đức và Nhật. Cho đến nay, chúng vẫn đang giữ vững thế của mình và chưa bị đánh bại. Chúng đang khủng bố thế giới. Trong [428] biên giới quốc gia của chính mình, chúng không có đủ người can đảm, thấu hiểu, hay có khả năng suy nghĩ rõ ràng, những người ghét điều ác và có thể giữ vững một tầm nhìn. Trong cả hai quốc gia hầu như không có gì có thể đem lại trợ giúp cho Các Mãnh Lực của Ánh Sáng. Người Đức đã bị lừa dối ngay từ đầu, và một sự lừa dối quốc gia lan rộng, được hậu thuẫn bởi một chiến dịch khủng bố, cho thấy một sự yếu đuối chung, thiếu can đảm và một khuynh hướng tự nhiên ưa thích sự dẫn dắt của điều ác. Khuynh hướng bị dẫn dắt theo những đường lối xâm lược, ích kỷ và ác độc đã là đặc trưng của tâm thức Đức trong một thời gian rất dài. Quốc gia thụ động này, với tâm lý kiêu ngạo của nó (một trong những nghịch lý lớn của các thời đại), phải được dạy về những con đường của điều thiện tích cực, và sự bênh vực chính nghĩa một cách can đảm phải thay thế cho sự chấp nhận thụ động điều ác hiện nay. Quốc gia Đức phải được dạy, với khiêm nhường và thông tuệ, để đảm nhận một vị trí đúng đắn trong cộng đồng các quốc gia. Quốc gia Nhật Bản, bất chấp tuổi đời rất lớn của mình, phải quay trở lại tình trạng nhà trẻ; quốc gia này phải được dạy, như trẻ em được dạy, để có tính xã hội chứ không phản xã hội, và sẽ còn lâu mới có thể an toàn để tin cậy quốc gia này. Quốc gia Ý không đặt ra vấn đề lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Quốc gia này là bình thường, cũng như các Quốc Gia Đồng Minh; quốc gia Đức và chủng tộc Nhật không bình thường, và phải được đưa trở lại trạng thái bình thường bằng sự xử lý cẩn trọng, tử tế nhưng cứng rắn, và bằng các tiến trình giáo dục được áp dụng.
2. The Forces of Light. I would here correct an impression which exists among esotericists. By this phrase, (the Forces of Light), they are apt to mean that the Hierarchy is literally fighting against the Axis nations. This is not so in the physical sense. The Hierarchy works—as you well know—with the souls of men and with those minds which are so oriented and disposed that they react to soul impression. When I use the expression “the Forces of Light” I mean those enlightened nations upon whom the light of Freedom shines and who will refuse, at all costs, to relinquish that light. There is no freedom in Germany or in [429] Japan. In a lesser sense and for a brief time, there was no freedom in Italy, but Italy must be counted among the enlightened nations, for it could not be held in duress. The Forces of Light comprise those nations (working through their armies and in the diplomatic arena) who are today fighting for the freedom of humanity, for the eternal rights of man, for liberty of conscience, for the position of the individual in any nation, and for freedom of religion or the right of man’s self-chosen approach to the spiritual realities. Behind these nations stands the Hierarchy. Freedom is the birthright of mankind, and free will is the highest of the divine characteristics. Freedom is misinterpreted and misused by many, owing to the point in evolution of the mass of humanity, but it is a fundamental, divine principle; and where principles are involved the Hierarchy knows no compromise. There is no spiritual principle behind any of the activities of the Axis Powers, behind German activity or Japanese aggression. Therefore, the Hierarchy does not stand with power or strength behind any of their efforts.
2. Các Mãnh Lực của Ánh Sáng. Ở đây tôi muốn sửa lại một ấn tượng đang tồn tại trong giới nhà bí truyền học. Với cụm từ này, (Các Mãnh Lực của Ánh Sáng), họ thường có khuynh hướng hiểu rằng Thánh đoàn đang thực sự chiến đấu chống lại các quốc gia Trục. Điều này không đúng theo nghĩa hồng trần. Thánh đoàn hoạt động—như bạn biết rõ—với linh hồn con người và với những tâm trí được định hướng và sắp đặt sao cho đáp ứng với sự gây ấn tượng của linh hồn. Khi tôi dùng cụm từ “Các Mãnh Lực của Ánh Sáng”, tôi muốn nói đến những quốc gia được soi sáng mà trên đó ánh sáng của Tự Do đang chiếu rọi và những quốc gia ấy sẽ không từ bỏ ánh sáng đó bằng bất cứ giá nào. Không có tự do ở Đức hay ở [429] Nhật. Theo nghĩa thấp hơn và trong một thời gian ngắn, Ý cũng không có tự do, nhưng Ý phải được kể vào số các quốc gia được soi sáng, vì quốc gia này không thể bị giữ mãi trong sự cưỡng bức. Các Mãnh Lực của Ánh Sáng bao gồm những quốc gia (đang hoạt động qua quân đội của họ và trên đấu trường ngoại giao) hiện đang chiến đấu cho tự do của nhân loại, cho các quyền vĩnh cửu của con người, cho tự do lương tâm, cho vị thế của cá nhân trong bất kỳ quốc gia nào, và cho tự do tôn giáo hay quyền tiếp cận các thực tại tinh thần theo cách tự chọn của con người. Đằng sau những quốc gia này là Thánh đoàn. Tự do là quyền bẩm sinh của nhân loại, và tự do ý chí là đặc tính thiêng liêng cao nhất. Tự do bị nhiều người diễn giải sai và lạm dụng, do điểm tiến hoá của đại đa số nhân loại, nhưng đó là một nguyên lý thiêng liêng căn bản; và ở đâu có nguyên lý liên hệ, ở đó Thánh đoàn không biết đến sự thỏa hiệp. Không có nguyên lý tinh thần nào đứng sau bất kỳ hoạt động nào của các Cường Quốc Trục, đằng sau hoạt động của Đức hay sự xâm lược của Nhật. Vì vậy, Thánh đoàn không đứng đằng sau bất kỳ nỗ lực nào của chúng bằng quyền năng hay sức mạnh.
3. Humanity as a whole. The men, women and children of the world are all implicated in and affected by this universal war. The effects reach into the most isolated village, the most extensive desert and the highest mountain top, as well as into the cities and congested areas of all the nations. No one is exempt from the consequences of this present catastrophe. The bulk of humanity are universal and innocent sufferers. The majority scarcely realise what it is all about; they view this great historical climax from the purely self-centred angle and from the point of view of how it affects them as individuals and their nation as a whole. An increasing number are coming to realise that this war must be fought to a successful finish because there is no peace or hope or right world relationships as long as two nations—one in the Western hemisphere and the other in the Eastern—can precipitate disaster upon countless millions. A minority are realising that the war has precipitated the condensed evil of the ages and that humanity is faced with the opportunity [430] of erasing past errors, ancient selfishness and ingrained wickedness, and of inaugurating a new and better world. In this new world there will be freedom of approach to God, opportunity for individual expression, freedom to live in right relations and scope for creative living. A few—a very few—know that this is a climaxing point in an ancient conflict between Christ with His Hierarchy of Masters, and “spiritual wickedness in high places.” A mere handful of knowers and disciples know, past all controversy and discussion, that, heading up those unhappy lands—Germany and Japan—are ancient leaders who have again sought to bring planetary disaster and to deflect the ends and the aims of the Great White Lodge.
3. Nhân loại như một toàn thể. Những người nam và nữ cùng trẻ em trên thế giới đều bị cuốn vào và bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh toàn cầu này. Các ảnh hưởng của nó vươn đến ngôi làng biệt lập nhất, sa mạc rộng lớn nhất và đỉnh núi cao nhất, cũng như đến các thành phố và khu vực đông đúc của mọi quốc gia. Không ai được miễn khỏi các hậu quả của thảm họa hiện nay này. Phần lớn nhân loại là những nạn nhân phổ quát và vô tội. Đa số hầu như không nhận ra tất cả chuyện này là gì; họ nhìn cao trào lịch sử lớn lao này từ góc độ hoàn toàn tập trung vào bản thân và từ quan điểm nó ảnh hưởng đến họ như những cá nhân và đến quốc gia của họ như một toàn thể ra sao. Một số ngày càng tăng đang nhận ra rằng cuộc chiến này phải được chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn vì sẽ không có hòa bình, hy vọng hay các tương quan thế giới đúng đắn chừng nào còn hai quốc gia—một ở Tây bán cầu và một ở Đông bán cầu—có thể giáng tai họa xuống vô số triệu người. Một thiểu số đang nhận ra rằng cuộc chiến đã làm ngưng tụ điều ác của các thời đại và rằng nhân loại đang đối diện với cơ hội [430] xóa bỏ những sai lầm quá khứ, tính ích kỷ cổ xưa và sự gian ác ăn sâu, đồng thời khai mở một thế giới mới và tốt đẹp hơn. Trong thế giới mới này sẽ có tự do tiếp cận Thượng đế, cơ hội biểu lộ cá nhân, tự do sống trong các tương quan đúng đắn và phạm vi cho đời sống sáng tạo. Một số ít—rất ít—biết rằng đây là một điểm cao trào trong cuộc xung đột cổ xưa giữa Đức Christ cùng Thánh đoàn các Chân sư của Ngài, và “sự gian ác tinh thần ở những nơi cao.” Chỉ một nắm rất nhỏ các thức giả và đệ tử biết, vượt ngoài mọi tranh cãi và bàn luận, rằng đứng đầu những vùng đất bất hạnh ấy—Đức và Nhật—là những lãnh tụ cổ xưa đã lại tìm cách mang đến tai họa hành tinh và làm chệch hướng các mục tiêu và mục đích của Thánh đoàn.
Among all these are thousands who stand bewildered, sensing the truth but feeling helpless in the face of the gigantic horror which the evil gang now ruling Germany has precipitated upon humanity. They tend to right thinking but are still the prey of the unscrupulous and the selfish. When their thinking has been guided into right lines through a process of right presentation of the situation, they will constitute a powerful asset to the Forces of Light.
Giữa tất cả những hạng người ấy có hàng ngàn người đứng trong hoang mang, cảm nhận chân lý nhưng thấy bất lực trước nỗi kinh hoàng khổng lồ mà bọn ác đảng hiện đang cai trị nước Đức đã giáng xuống nhân loại. Họ có khuynh hướng suy nghĩ đúng đắn nhưng vẫn là con mồi của những kẻ vô lương tâm và ích kỷ. Khi tư tưởng của họ được hướng dẫn vào những đường lối đúng đắn qua một tiến trình trình bày đúng đắn về tình hình, họ sẽ cấu thành một tài sản mạnh mẽ cho Các Mãnh Lực của Ánh Sáng.
Such is the situation with which the Hierarchy and humanity is today faced. The strength of the Forces of Light is growing; the power of the Forces of Darkness may be waning but is still vastly strong—upon the physical plane. Their main hold is upon the minds of men and that is exceedingly potent and unweakened, for it is aided by the mild, unthinking person, by the bewildered, the pacifist, the appeaser and the isolationist. The idealism of this group is turned to the aid of Germany by the skilful evil workers. The German armies are still unbeaten; central Europe is a mighty fortress, dominated by the arch enemy of mankind, sitting on his mountain-top. There, symbolically, he is to be found, the initiator into evil conditions, and into slavery. The armies of the Lord stand poised, and victory will be theirs when there is complete unity of purpose, concentrated attention upon right human relations, and a [431] spread of idealistic aspiration to all who are fighting this battle for freedom. For this unity of purpose all the enlightened people of the world must work. It is not yet adequately present.
Đó là tình hình mà Thánh đoàn và nhân loại đang phải đối diện ngày nay. Sức mạnh của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng đang tăng lên; quyền lực của Các Mãnh Lực của Bóng Tối có thể đang suy giảm nhưng trên cõi hồng trần vẫn còn vô cùng mạnh. Chỗ bám chính của chúng là trên tâm trí con người và điều đó cực kỳ mạnh mẽ và chưa suy yếu, vì được trợ giúp bởi người hiền lành, thiếu suy nghĩ, bởi người hoang mang, người chủ hòa, người chủ trương nhân nhượng và người theo chủ nghĩa biệt lập. Chủ nghĩa lý tưởng của nhóm này bị những kẻ hoạt động ác độc khéo léo xoay chuyển để trợ giúp nước Đức. Quân đội Đức vẫn chưa bị đánh bại; Trung Âu là một pháo đài hùng mạnh, bị kẻ thù lớn của nhân loại thống trị, đang ngồi trên đỉnh núi của hắn. Ở đó, theo biểu tượng, có thể tìm thấy hắn, kẻ điểm đạo vào những điều kiện ác độc và vào sự nô lệ. Các đạo quân của Chúa đang đứng sẵn, và chiến thắng sẽ thuộc về họ khi có sự hợp nhất hoàn toàn về mục đích, sự chú tâm tập trung vào các tương quan nhân loại đúng đắn, và [431] sự lan rộng của khát vọng lý tưởng đến tất cả những ai đang chiến đấu trận chiến này vì tự do. Vì sự hợp nhất mục đích này mà tất cả những người được soi sáng trên thế giới phải làm việc. Điều đó vẫn chưa hiện diện đầy đủ.
Let us now turn to the work of the Hierarchy and to the event for which all initiates and disciples are now preparing—the coming Wesak Festival.
Giờ đây, chúng ta hãy chuyển sang công việc của Thánh đoàn và sang biến cố mà mọi điểm đạo đồ và đệ tử hiện đang chuẩn bị—Đại Lễ Wesak sắp đến.
~
~
THE TASK OF IMPLEMENTING THE WILL-TO-GOOD—NHIỆM VỤ THỰC THI Ý CHÍ-HƯỚNG THIỆN
May 1944
Tháng Năm 1944
How is the Hierarchy working at this time? In what manner are the Masters aiding the work of the Forces of Light? Can something of moment and of lasting significance happen at this coming May Full Moon? How do the Masters look at the world situation? What are Their plans? Can these plans be materialised? And what can the individual disciple, initiate and world disciple accomplish in the face of humanity’s dilemma?
Thánh đoàn đang hoạt động như thế nào vào lúc này? Các Chân sư đang trợ giúp công việc của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng theo cách nào? Liệu điều gì đó quan trọng và có ý nghĩa lâu dài có thể xảy ra vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm sắp đến này không? Các Chân sư nhìn tình hình thế giới như thế nào? Các kế hoạch của Các Ngài là gì? Những kế hoạch này có thể được hiện hình không? Và đệ tử cá nhân, điểm đạo đồ và đệ tử thế giới có thể hoàn thành được gì trước tình thế tiến thoái lưỡng nan của nhân loại?
These are all normal and intelligent questions and can be answered partially, though not fully, owing to three reasons:
Đó đều là những câu hỏi bình thường và thông tuệ, và có thể được trả lời phần nào, dù không thể đầy đủ, vì ba lý do:
1. The outcome of the coming climaxing conflict depends on humanity itself. A greater effort is required, particularly in America—an effort to see the issues clearly, to understand the causes of this war, and a determination to take those steps—through propaganda and discussion—which will clarify the minds of the masses. Into these age-long causes I cannot here go; there is not time to do more than enumerate certain of them
1. Kết quả của cuộc xung đột cao trào sắp đến tùy thuộc vào chính nhân loại. Cần có một nỗ lực lớn hơn, đặc biệt tại Hoa Kỳ—một nỗ lực để thấy rõ các vấn đề, để thấu hiểu các nguyên nhân của cuộc chiến này, và một quyết tâm thực hiện những bước cần thiết—qua tuyên truyền và thảo luận—để làm sáng tỏ tâm trí quần chúng. Tôi không thể ở đây đi sâu vào những nguyên nhân lâu đời này; không có thời gian để làm gì hơn ngoài việc liệt kê một số nguyên nhân:
a. Universal and ancient selfishness, materialism, aggression, and national prides. Of these faults all nations have been guilty.
a. Tính ích kỷ phổ quát và cổ xưa, chủ nghĩa duy vật, sự xâm lược và lòng kiêu hãnh dân tộc. Mọi quốc gia đều đã phạm những lỗi này.
b. A sense of separateness of which the border issue between such nations as Russia and Poland is symbolic. The need of humanity and its general well-being comes [432] eternally first. Nations and their ephemeral disputes are of secondary interest.
b. Một ý thức chia rẽ mà vấn đề biên giới giữa những quốc gia như Nga và Ba Lan là biểu tượng. Nhu cầu của nhân loại và phúc lợi chung của nó [432] mãi mãi phải được đặt lên hàng đầu. Các quốc gia và những tranh chấp phù du của họ chỉ là mối quan tâm thứ yếu.
c. A tendency—centuries old—among the Germanic peoples to dominate, to take what is not their own, to regard themselves as unique, superior, and as embodying a super-race; there is also a fixed determination, on behalf of their own interests, to plunge other nations and races into war. Today they have achieved a planetary war.
c. Một khuynh hướng—đã có từ nhiều thế kỷ—trong các dân tộc Germanic là thống trị, chiếm lấy những gì không thuộc về mình, xem mình là độc nhất, vượt trội, và là hiện thân của một siêu chủng tộc; cũng có một quyết tâm cố định, vì lợi ích riêng của họ, là đẩy các quốc gia và chủng tộc khác vào chiến tranh. Ngày nay họ đã tạo ra một cuộc chiến tranh hành tinh.
2. There are factors present in this battle between evil and good which are so deeply esoteric and hidden from the understanding of the most advanced human being that it is useless for me to enlarge upon their existence. They are concerned with the ability of the mind, or of the mind principle, to react to truth or to lies; the mystery of this reaction is hidden in the evolutionary process itself. A point can be reached in human development where acceptance of deception is impossible and clear thinking is normal. The potency of glamour (which holds so many people in prison) is related to this mystery. Glamour holds not those who are mentally and emotionally undeveloped; they are complete realists and see life in its bare outlines and baldly. The highly developed are not subject to glamour; they also think realistically but this time with true mental perception and not instinctively. The thinking man, in his process of training, but who is still largely governed by his emotions, is exceedingly prone to glamour, and very often to the glamour of a sentimental so-called loving attitude. These people do not realise that love is a process of determining action on the basis of the ultimate good of the individual or the group, and that the immediate reactions of the personality are secondary. In this conflict the Hierarchy is concerned with the final issue, with the future welfare and the ultimate well-being of humanity. They are not so concerned with the immediate suffering and pain of the personalities involved. Is this a hard saying? A tiny replica of this correct attitude can be found in the influence, words and actions of those wise parents, those far-sighted guides [433] of youth, who see the need of discipline if their children are in the future to be rightly oriented, and to live correctly. The temporary discomfort of the discipline and the rebellion of the children do not in any way condition such parents. They see ahead.
2. Có những yếu tố hiện diện trong trận chiến giữa điều ác và điều thiện này sâu kín về mặt huyền bí đến mức bị che giấu khỏi sự thấu hiểu của ngay cả con người tiến hóa nhất, nên tôi có nói rộng thêm về sự hiện hữu của chúng cũng vô ích. Chúng liên quan đến khả năng của trí tuệ, hay của nguyên khí trí tuệ, trong việc đáp ứng với chân lý hay với dối trá; bí nhiệm của sự đáp ứng này được che giấu trong chính tiến trình tiến hoá. Có thể đạt đến một điểm trong sự phát triển của con người mà ở đó việc chấp nhận lừa dối là điều không thể và tư duy sáng suốt là điều bình thường. Hiệu lực của ảo cảm (đang giam giữ rất nhiều người) có liên hệ với bí nhiệm này. Ảo cảm không giữ được những người chưa phát triển về trí tuệ và cảm xúc; họ hoàn toàn thực tế và nhìn đời trong những nét phác trần trụi và đơn giản. Những người phát triển cao không bị ảo cảm chi phối; họ cũng suy nghĩ thực tế nhưng lần này bằng tri giác trí tuệ chân chính chứ không phải theo bản năng. Con người biết suy nghĩ, trong tiến trình được huấn luyện nhưng vẫn còn phần lớn bị cảm xúc chi phối, lại cực kỳ dễ bị ảo cảm, và rất thường là ảo cảm của một thái độ đa cảm được gọi là yêu thương. Những người này không nhận ra rằng tình thương là một tiến trình xác định hành động trên cơ sở thiện ích tối hậu của cá nhân hay của nhóm, và rằng các phản ứng tức thời của phàm ngã chỉ là thứ yếu. Trong cuộc xung đột này, Thánh đoàn quan tâm đến kết cục cuối cùng, đến phúc lợi tương lai và sự an lành tối hậu của nhân loại. Các Ngài không quá quan tâm đến đau khổ và nỗi đau tức thời của các phàm ngã liên hệ. Điều này có phải là một lời khó chấp nhận chăng? Một bản sao thu nhỏ của thái độ đúng đắn này có thể được tìm thấy trong ảnh hưởng, lời nói và hành động của những bậc cha mẹ khôn ngoan, những người hướng dẫn [433] thanh thiếu niên có viễn kiến, là những người thấy nhu cầu của kỷ luật nếu con cái họ trong tương lai phải được định hướng đúng đắn và sống đúng đắn. Sự khó chịu tạm thời của kỷ luật và sự phản kháng của con cái không hề tác động lên những bậc cha mẹ như thế. Họ nhìn thấy phía trước.
3. The conflict at present involving humanity has its source not only in human weakness and selfishness, but in a situation which has existed for ages between the Great White Lodge of Masters and the Lodge of Black Adepts. This started in Atlantean times and must now be fought out to a finish. With the details of this struggle (fought on mental levels) you have no concern, except in so far as you and the rest of mankind react to lies or to truth. Two streams of mental energy or of thought-directed ideas impinge powerfully at this time upon the human consciousness. One is embodied in the lying propaganda emanating from the Axis Powers and affecting potently not only their own peoples but the selfish politicians, the intolerant and the racially conditioned people, and the well-intentioned but short-sighted appeasers and pacifists. The second stream is embodied in the idealism, the humanitarianism, and the clear presentation of the factual situation which characterise the best minds in every nation and which condition the thinking of the leaders of the United Nations; this stream has, for instance, conditioned the attitude and the changed orientation of the U.S.S.R., and has brought them to a position of cooperation and to a relinquishing of some of their separative ideas.
3. Cuộc xung đột hiện đang cuốn nhân loại vào không chỉ bắt nguồn từ sự yếu đuối và ích kỷ của con người, mà còn từ một tình trạng đã tồn tại từ nhiều thời đại giữa Thánh đoàn các Chân sư và Hắc đoàn của các chân sư hắc đạo. Điều này đã bắt đầu từ thời Atlantis và nay phải được giải quyết đến cùng. Bạn không cần quan tâm đến các chi tiết của cuộc đấu tranh này (được chiến đấu trên các cấp độ trí tuệ), ngoại trừ trong chừng mực bạn và phần còn lại của nhân loại đáp ứng với dối trá hay với chân lý. Hai dòng năng lượng trí tuệ hay các ý tưởng được tư tưởng định hướng đang tác động mạnh mẽ vào tâm thức con người lúc này. Một dòng được hiện thân trong tuyên truyền dối trá phát ra từ các Cường Quốc Trục và tác động mạnh không chỉ lên chính dân chúng của họ mà còn lên các chính trị gia ích kỷ, những người bất khoan dung và những người bị điều kiện hóa bởi chủng tộc, cùng những người chủ trương nhân nhượng và chủ hòa có thiện ý nhưng thiển cận. Dòng thứ hai được hiện thân trong chủ nghĩa lý tưởng, tinh thần nhân đạo, và sự trình bày sáng tỏ về tình hình thực tế vốn đặc trưng cho những trí tuệ ưu tú nhất trong mọi quốc gia và đang tác động lên tư duy của các lãnh đạo Quốc Gia Đồng Minh; chẳng hạn, dòng này đã tác động lên thái độ và sự chuyển hướng của Liên Xô, đưa họ đến vị thế hợp tác và từ bỏ một số ý tưởng chia rẽ của mình.
The leader of the conflict against evil in high places is the Christ, the Head of the Hierarchy. What is the attitude of the Christ at this time? In all reverence, and as one of His humblest friends and personal workers, I am permitted to tell you a little of His position as He nears the great event in May of this year. He knows Himself to be the inner spiritual Commander of the Armies of the Lord. His is the responsibility of awakening the souls of men to their presented opportunity and to the need of bringing [434] to an end this ancient conflict between the Lords of Evil and the Messengers of Light. His has been the problem of teaching humanity that, in order to demonstrate true love and to provide scope and opportunity for a civilisation in which love, brotherhood and right human relations are governing factors, those essential steps must be taken which will accomplish this.
Vị lãnh đạo cuộc xung đột chống lại điều ác ở những nơi cao là Đức Christ, Đầu của Thánh đoàn. Thái độ của Đức Christ vào lúc này là gì? Với tất cả lòng tôn kính, và như một trong những người bạn khiêm nhường nhất cùng những người hoạt động riêng của Ngài, tôi được phép nói với bạn đôi điều về vị thế của Ngài khi Ngài tiến gần đến biến cố lớn lao vào tháng Năm năm nay. Ngài biết mình là Vị Chỉ Huy tinh thần nội tại của các Đạo Quân của Chúa. Trách nhiệm của Ngài là đánh thức linh hồn con người trước cơ hội đang được trình ra cho họ và trước nhu cầu phải chấm dứt [434] cuộc xung đột cổ xưa này giữa các Chúa Tể của Ác Tính và các Sứ Giả của Ánh Sáng. Vấn đề của Ngài là dạy cho nhân loại rằng, để biểu lộ tình thương chân chính và tạo ra phạm vi cùng cơ hội cho một nền văn minh trong đó tình thương, tình huynh đệ và các tương quan nhân loại đúng đắn là những yếu tố chi phối, thì phải thực hiện những bước thiết yếu sẽ hoàn thành điều đó.
He said when He was on earth two thousand years ago, “I came not to bring peace, but a sword.” The sword of the spirit is wielded by the Hierarchy, and by its means cosmic evil is arrested; the sword of discrimination is wielded by the initiates and the disciples of the world, and by its means the distinction between good and evil, with a consequent presentation of free choice between the two, has been laid before humanity, and the lines of demarcation have been made abundantly clear in this world war. It had been the hope of the Christ and the longing of all the Masters that men would see clearly and make free and right choice, so that—without physical plane warfare—they would bring about the needed changes and the ending of wrong conditions. But the conflict descended on to the physical plane and the sword of material war (symbolically speaking) was taken up by humanity.
Khi còn ở trên trái đất cách đây hai ngàn năm, Ngài đã nói: “Ta đến không phải để đem hòa bình, mà là gươm.” Thanh gươm của tinh thần được Thánh đoàn sử dụng, và nhờ đó điều ác vũ trụ bị ngăn chặn; thanh gươm của sự phân biện được các điểm đạo đồ và các đệ tử của thế giới sử dụng, và nhờ đó sự phân biệt giữa thiện và ác, cùng với việc trình ra cho nhân loại sự lựa chọn tự do giữa hai điều ấy, đã được đặt trước nhân loại, và những ranh giới phân định đã được làm cho hết sức rõ ràng trong cuộc chiến tranh thế giới này. Đức Christ và tất cả các Chân sư đã hy vọng và khát mong rằng con người sẽ thấy rõ và thực hiện sự lựa chọn tự do và đúng đắn, để—không cần chiến tranh trên cõi hồng trần—họ sẽ mang lại những thay đổi cần thiết và chấm dứt những điều kiện sai lầm. Nhưng cuộc xung đột đã giáng xuống cõi hồng trần và thanh gươm của chiến tranh vật chất (nói theo biểu tượng) đã được nhân loại cầm lấy.
Forget not (particularly those of you who are outraged by physical conflict through your pacifist inclinations) that, in the West, it was Germany which first of all took the sword in hand, marching into Poland and bringing misery, devastation and cruelty to a smaller and much weaker nation, thus forcing France and Great Britain to fulfil their pledged obligations to that little nation and to declare war upon the aggressor. It was Japan who brought war into the Eastern hemisphere. The Forces of Light were left with no alternative but to fight in defense of freedom.
Đừng quên (đặc biệt là những ai phẫn nộ trước xung đột hồng trần vì khuynh hướng chủ hòa của mình) rằng, ở phương Tây, chính nước Đức là kẻ đầu tiên cầm gươm, tiến vào Ba Lan và mang khốn khổ, tàn phá và tàn bạo đến cho một quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn nhiều, do đó buộc Pháp và Anh phải thực hiện những cam kết đã hứa với quốc gia nhỏ bé ấy và tuyên chiến với kẻ xâm lược. Chính Nhật Bản đã mang chiến tranh vào Đông bán cầu. Các Mãnh Lực của Ánh Sáng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chiến đấu để bảo vệ tự do.
Prior to the war, the Hierarchy did what it could to change the trend of human living and thinking, awakening the consciences of the intelligent, stimulating the activity of the humanitarians and impressing the minds of Their disciples in order to arouse goodwill, a driving desire for [435] right human relations and peaceful conditions. But the movement was not strong enough; the sword appeared on earth and mankind was plunged into war.
Trước chiến tranh, Thánh đoàn đã làm những gì có thể để thay đổi xu hướng sống và suy nghĩ của con người, đánh thức lương tri của những người thông tuệ, kích thích hoạt động của những nhà nhân đạo và gây ấn tượng lên tâm trí các đệ tử của Các Ngài nhằm khơi dậy thiện chí, một khát vọng mãnh liệt về [435] các tương quan nhân loại đúng đắn và những điều kiện hòa bình. Nhưng phong trào ấy không đủ mạnh; thanh gươm đã xuất hiện trên trái đất và nhân loại bị đẩy vào chiến tranh.
Since then the work of impressing the minds of the world disciples and of those whom they can influence has been along the lines of clarifying the issues, making plain that for which we fight, and arousing men and women to take such action as will, once and for all, end the possibility of a similar world cataclysm.
Từ đó đến nay, công việc gây ấn tượng lên tâm trí các đệ tử thế giới và những người mà họ có thể ảnh hưởng đã đi theo các đường lối làm sáng tỏ các vấn đề, làm rõ điều mà chúng ta chiến đấu vì nó, và khơi dậy những người nam và nữ thực hiện những hành động sẽ chấm dứt một lần và mãi mãi khả năng xảy ra một đại biến động thế giới tương tự.
The activities of our Master, the Christ, fall into three categories:
Các hoạt động của Chân sư chúng ta, Đức Christ, thuộc vào ba loại:
1. Stiffening the will to fight on behalf of the spiritual issues and for the great humanitarian aims of the Hierarchy.
1. Làm cứng rắn ý chí chiến đấu vì các vấn đề tinh thần và vì những mục tiêu nhân đạo lớn lao của Thánh đoàn.
2. Impressing the minds of diplomats, thinkers and lovers of mankind to work out now certain post-war plans which will entirely change our present civilisation and bring about the new.
2. Gây ấn tượng lên tâm trí các nhà ngoại giao, các nhà tư tưởng và những người yêu nhân loại để ngay từ bây giờ xây dựng một số kế hoạch hậu chiến sẽ hoàn toàn thay đổi nền văn minh hiện tại của chúng ta và mang lại nền văn minh mới.
3. Arousing the minds of the masses and turning them—each in his own place and manner—into a more religious channel. The growth of spiritual desire and aspiration is phenomenal today, could you but see the indications as the workers on the inner side do.
3. Khơi dậy tâm trí quần chúng và hướng họ—mỗi người theo vị trí và cách thức riêng của mình—vào một kênh tôn giáo hơn. Sự tăng trưởng của khát vọng và khát mong tinh thần ngày nay thật phi thường, nếu bạn có thể thấy những dấu hiệu như những người hoạt động ở mặt bên trong thấy.
Our Master, the Christ, is also at this time carrying forward three major activities. I can tell you briefly what they are, but only the disciples of the world will grasp the true implications.
Chân sư chúng ta, Đức Christ, cũng đang tiến hành ba hoạt động lớn vào lúc này. Tôi có thể nói ngắn gọn cho bạn biết đó là gì, nhưng chỉ các đệ tử của thế giới mới nắm được những hàm ý chân thực.
He is, first of all, occupied with the process of deflecting the will-energy, emanating from Shamballa, in such a way that it will not be seized upon and misused by the Axis Powers in order to stiffen their peoples into increased opposition to the Forces of Light. It must be rechannelled and used to stiffen the purpose of the United Nations to carry the war to a finish of victory and of triumph, to increase the will-to-unity of all the allied peoples and to make firm the intention of the post-war planners that freedom, educational facilities, truth and right living shall be [436] the lot of the incoming generation. This necessitates on the part of the Christ a concentration for which we have no equivalent word and a purely spiritual endeavour (a monadic effort) of which we have no faintest idea.
Trước hết, Ngài đang bận rộn với tiến trình làm chệch hướng năng lượng ý chí phát ra từ Shamballa theo cách sao cho nó sẽ không bị các Cường Quốc Trục nắm lấy và lạm dụng nhằm làm cứng rắn dân chúng của chúng trong sự chống đối gia tăng đối với Các Mãnh Lực của Ánh Sáng. Nó phải được chuyển kênh và dùng để làm cứng rắn mục đích của các Quốc Gia Đồng Minh là đưa chiến tranh đến thắng lợi hoàn toàn, gia tăng ý chí-hướng tới-hợp nhất của tất cả các dân tộc đồng minh và làm vững chắc ý định của những người hoạch định hậu chiến rằng tự do, phương tiện giáo dục, chân lý và đời sống đúng đắn sẽ [436] là phần của thế hệ đang đến. Điều này đòi hỏi nơi Đức Christ một sự tập trung mà chúng ta không có từ tương đương và một nỗ lực thuần túy tinh thần (một nỗ lực chân thần) mà chúng ta không có ý niệm mơ hồ nhất.
Secondly, He is working within the confines of the Hierarchy itself, preparing His disciples, the Masters, for certain great post-war events. For the war will end. The Restoration of the Mysteries, the initiation of those disciples who have stood firm and unafraid during the war, the enlargement of Their ashrams, owing to the almost unforeseen development of the spiritual sense among the world aspirants who would not normally have become disciples during this incarnation, and also the externalisation of Their ashrams during the next one hundred years, preparatory to the reappearance of the Hierarchy upon earth, are some of His present hierarchical responsibilities. These involve a tremendous expenditure of force, of second ray energy, just as His first activity demands an unusual expenditure of first ray power—something which even He, in His high place, is only now learning to handle, as a pledged Disciple of Sanat Kumara.
Thứ hai, Ngài đang làm việc trong chính phạm vi của Thánh đoàn, chuẩn bị các đệ tử của Ngài, tức các Chân sư, cho một số biến cố hậu chiến lớn lao. Vì chiến tranh sẽ kết thúc. Sự Khôi Phục các Mầu Nhiệm, việc điểm đạo cho những đệ tử đã đứng vững và không sợ hãi trong chiến tranh, sự mở rộng các ashram của Các Ngài do sự phát triển gần như không lường trước được của cảm quan tinh thần nơi những người chí nguyện thế giới vốn bình thường sẽ không trở thành đệ tử trong lần nhập thể này, và cả sự ngoại hiện các ashram của Các Ngài trong một trăm năm tới, để chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Thánh đoàn trên trái đất, là một số trách nhiệm hiện nay của Ngài trong Thánh đoàn. Những điều này bao hàm một sự tiêu hao mãnh lực khổng lồ, của năng lượng cung hai, cũng như hoạt động thứ nhất của Ngài đòi hỏi một sự tiêu hao khác thường của quyền năng cung một—điều mà ngay cả Ngài, ở địa vị cao của mình, cũng chỉ mới đang học cách xử lý, với tư cách là một Đệ tử đã tuyên thệ của Đức Sanat Kumara.
His third activity is the effort to offset the growing hate in the world, to strengthen the trend towards unity, and to show people everywhere the danger of separateness. A growing and (from the worldly point of view) reasonable hatred of the German people and of the Japanese is steadily rising. This hate they have brought upon themselves. Hate ever lacks discrimination. The great Law of Spiritual Retribution requires that justice be meted out, but hatred will close the eyes of justice. The law must be administered, and the world will see the expression of that same law, stated in the words, “Whatsoever a man soweth, that shall he also reap.” But the materialistic law of hate and of separation must be negated and offset. The problem with which the Christ is faced is wellnigh—from the human angle—insoluble. He will require the united effort of all men of goodwill to stem the rising tide of hate—the floodgates of which were opened by Germany when she began her attacks upon the [437] Jews; she is now in danger of drowning in the waters which she has set loose. There is also a rising tendency to separation among certain of the Allied Nations, with which the Christ must deal. Several of them are as houses divided against themselves. Such are Poland, France, Yugoslavia and Greece. How can their differences be reconciled?
Hoạt động thứ ba của Ngài là nỗ lực hóa giải lòng hận thù đang gia tăng trên thế giới, tăng cường xu hướng hướng tới hợp nhất, và chỉ cho con người ở khắp nơi thấy mối nguy của sự chia rẽ. Một lòng hận thù ngày càng tăng và (theo quan điểm thế gian) hợp lý đối với dân tộc Đức và người Nhật đang đều đặn dâng lên. Chính họ đã tự chuốc lấy lòng hận thù ấy. Hận thù luôn thiếu sự phân biện. Đại Định luật Báo Ứng Tinh Thần đòi hỏi công lý phải được thi hành, nhưng hận thù sẽ làm mù mắt công lý. Định luật phải được thi hành, và thế giới sẽ thấy sự biểu lộ của chính định luật ấy, được phát biểu trong lời: “Ai gieo gì thì gặt nấy.” Nhưng định luật duy vật của hận thù và chia rẽ phải bị phủ định và hóa giải. Vấn đề mà Đức Christ đang đối diện gần như—từ góc độ con người—không thể giải quyết. Ngài sẽ cần đến nỗ lực hợp nhất của tất cả những người thiện chí để ngăn chặn làn sóng hận thù đang dâng lên—mà cửa cống của nó đã được nước Đức mở ra khi bắt đầu các cuộc tấn công vào [437] người Do Thái; giờ đây chính nước Đức đang có nguy cơ bị nhấn chìm trong những dòng nước mà mình đã thả ra. Cũng có một khuynh hướng chia rẽ đang gia tăng giữa một số Quốc Gia Đồng Minh mà Đức Christ phải xử lý. Một số quốc gia trong đó giống như những ngôi nhà tự chia rẽ chống lại chính mình. Đó là Ba Lan, Pháp, Nam Tư và Hy Lạp. Làm sao những khác biệt của họ có thể được hòa giải?
The hate of those who have suffered at the hands of the Axis Powers, or as a result of war conditions, must be offset. How can this be done? Such are some of the problems with which the Christ is wrestling. He must work through His disciples, and They must be trained. He must work through the stimulation of the hearts of the intelligent people and of the humanitarians everywhere. He must pour out the life-giving energy of the Christ-life on a wide scale throughout the entire world, and do so in the midst of those conditions wherein human receptivity and sensitivity are at their lowest point, owing to the numbness which comes through intense suffering. He stands in His place unmoved and unafraid, with clear perception of the truth and spiritual insight into the true situation. In collaboration with His great Brother, the Buddha, He is preparing for the next step.
Lòng hận thù của những người đã chịu đau khổ dưới tay các Cường Quốc Trục, hay do các điều kiện chiến tranh, phải được hóa giải. Làm sao điều này có thể được thực hiện? Đó là một số vấn đề mà Đức Christ đang vật lộn. Ngài phải làm việc qua các đệ tử của Ngài, và họ phải được huấn luyện. Ngài phải làm việc qua sự kích thích trái tim của những người thông tuệ và những nhà nhân đạo ở khắp nơi. Ngài phải tuôn đổ năng lượng ban sự sống của sự sống Christ trên quy mô rộng khắp toàn thế giới, và làm như vậy giữa những điều kiện mà trong đó tính tiếp nhận và tính nhạy cảm của con người ở mức thấp nhất, do sự tê liệt đến từ đau khổ dữ dội. Ngài đứng vững ở vị trí của mình, bất động và vô úy, với tri giác sáng tỏ về chân lý và linh thị tinh thần về tình hình chân thực. Trong sự cộng tác với Người Anh Vĩ Đại của Ngài là Đức Phật, Ngài đang chuẩn bị cho bước kế tiếp.
Today the Hierarchy is facing a climaxing activity. From the Full Moon of May, 1944, until the Full Moon of May, 1945, the Members of the Hierarchy will unitedly be putting forth Their maximum effort to close the door upon the Forces of Evil, to direct the Shamballa energy (now let loose upon the world) so that its destructive aspect may be transmuted or directed towards the stimulation which will result in the rebuilding of the world. This will then affect not only the Members of the Hierarchy, but all on Earth who respond to hierarchical impression. Have the following statement in mind:
Ngày nay Thánh đoàn đang đối diện với một hoạt động cao trào. Từ kỳ Trăng Tròn tháng Năm 1944 đến kỳ Trăng Tròn tháng Năm 1945, các Thành Viên của Thánh đoàn sẽ hợp nhất đưa ra nỗ lực tối đa của Các Ngài để đóng cánh cửa trước Các Mãnh Lực của Ác Tính, để định hướng năng lượng Shamballa (nay đã được giải phóng lên thế giới) sao cho phương diện phá hủy của nó có thể được chuyển hoá hoặc được hướng về sự kích thích sẽ dẫn đến việc tái thiết thế giới. Khi ấy điều này sẽ không chỉ ảnh hưởng đến các Thành Viên của Thánh đoàn, mà còn đến tất cả những ai trên Trái Đất đáp ứng với sự gây ấn tượng của Thánh đoàn. Hãy ghi nhớ phát biểu sau đây:
The focussed and concentrated work of the Hierarchy at the time of the Full Moon of May, 1944 is—by Their united effort, Their blended thought and Their illumined will power, under the trained guidance of [438] the Buddha and the Christ—to withdraw the energy of the will-to-separation and aggression (a distortion of first ray energy) away from the Forces of Evil and channel it again, via the Hierarchy; it will then demonstrate as the Will-to-Good, and this will express itself via the men of goodwill on Earth. This requires a great Act of Absorption by the Hierarchy.
Công việc tập trung và nhất tâm của Thánh đoàn vào thời điểm Trăng Tròn tháng Năm 1944 là—bằng nỗ lực hợp nhất của Các Ngài, tư tưởng dung hợp của Các Ngài và quyền năng ý chí được soi sáng của Các Ngài, dưới sự hướng dẫn đã được huấn luyện của [438] Đức Phật và Đức Christ—rút năng lượng của ý chí-hướng-tới-chia-rẽ và xâm lược (một sự bóp méo của năng lượng cung một) ra khỏi Các Mãnh Lực của Ác Tính và chuyển kênh nó trở lại, qua Thánh đoàn; khi ấy nó sẽ biểu lộ như Ý Chí-hướng Thiện, và điều này sẽ biểu lộ qua những người thiện chí trên Trái Đất. Điều này đòi hỏi một Đại Hành Vi Hấp Thụ của Thánh đoàn.
The Buddha will start the process at the time of His appearance, through the use of a great first ray mantram. This can be used only by someone of His initiate standing and in collaboration with the Lord of the World. He will thereby deflect the Shamballa force which the Adepts of the Black Lodge have turned loose into the Axis nations; this has been made possible by their receptivity to the will-to-power. He will “corral” it (if I may use such a colloquial and inappropriate term) and will place it at the disposal of the Christ. The reception and the acceptance of this first ray energy will require a tremendous effort upon the part of the Christ, the Custodian of the energy of the second Ray of Love-Wisdom. It is for this “reception” that He started to prepare at the time of the April Full Moon.
Đức Phật sẽ khởi sự tiến trình này vào lúc Ngài xuất hiện, qua việc sử dụng một mantram vĩ đại của cung một. Điều này chỉ có thể được sử dụng bởi một Đấng có cấp độ điểm đạo như Ngài và trong sự cộng tác với Đức Chúa Tể Thế Giới. Nhờ đó, Ngài sẽ làm chệch hướng mãnh lực Shamballa mà các chân sư của Hắc đoàn đã thả vào các quốc gia Trục; điều này trở nên khả hữu do sự tiếp nhận của họ đối với ý chí hướng đến quyền lực. Ngài sẽ “gom giữ” nó lại (nếu tôi có thể dùng một từ ngữ thông tục và không thích hợp như vậy) và sẽ đặt nó dưới quyền sử dụng của Đức Christ. Việc tiếp nhận và chấp nhận năng lượng cung một này sẽ đòi hỏi một nỗ lực to lớn nơi Đức Christ, Đấng Gìn Giữ năng lượng của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Chính cho sự “tiếp nhận” này mà Ngài đã bắt đầu chuẩn bị vào kỳ Trăng Tròn tháng Tư.
I have told you elsewhere that this direct impact of the Shamballa energy upon humanity very seldom occurs. It has been loosed only three times during the entire history of the human kingdom. At other times, it makes its impact directly upon the Hierarchy, and is then transmuted or stepped down so that humanity can take it. The three times it has been directed, unimpeded and untransmuted, towards humanity are:
Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác rằng sự va chạm trực tiếp này của năng lượng Shamballa lên nhân loại rất hiếm khi xảy ra. Nó chỉ được phóng thích ba lần trong toàn bộ lịch sử của giới nhân loại. Vào những lúc khác, nó tác động trực tiếp lên Thánh đoàn, rồi sau đó được chuyển hoá hoặc hạ thấp cường độ để nhân loại có thể tiếp nhận. Ba lần mà nó đã được hướng đến nhân loại một cách không bị ngăn trở và không được chuyển hoá là:
1. At the time of the individualisation of animal-man when the mind principle was implanted. This was the birth hour of the human soul.
1. Vào thời kỳ biệt ngã hóa của người thú khi nguyên khí trí tuệ được cấy vào. Đó là giờ khai sinh của linh hồn con người.
2. In Atlantean days when the power of the Black Lodge was so great that defeat faced the Hierarchy and the destruction of the human soul. Shamballa then interfered, and the world of that time was [439] destroyed. This period is recognised in modern history as the time of the Great Flood.
2. Trong thời Atlantis khi quyền lực của Hắc đoàn lớn đến mức sự thất bại đe dọa Thánh đoàn và sự hủy diệt linh hồn con người. Khi ấy Shamballa đã can thiệp, và thế giới thời đó đã bị [439] hủy diệt. Giai đoạn này được lịch sử hiện đại nhìn nhận là thời kỳ Đại Hồng Thủy.
3. Today, once again, the Powers of Darkness are attempting to destroy humanity and the spiritual values. The power of Shamballa was let loose, destroying old forms—political, social and religious—but at the same time this power was seized upon by the evil forces to destroy the souls of men, to precipitate war and to destroy the cities and all our centres of civilisation and culture. The first phase or form of destruction was directed by the disciples, the aspirants and the clear thinking people of the world, and this was needed and very good. The old social, political and religious forms were stultifying the human soul and handicapping all progress. The second phase or form of destruction was directed by evil, and was focussed through those nations who had succumbed to the glamour of superiority, to the temptation of material aggression and to intolerant racial hatreds, implemented by cruelty and barbarism.
3. Ngày nay, một lần nữa, các Quyền Lực Bóng Tối đang tìm cách hủy diệt nhân loại và các giá trị tinh thần. Quyền năng của Shamballa đã được phóng thích, hủy diệt các hình tướng cũ—chính trị, xã hội và tôn giáo—nhưng đồng thời quyền năng này đã bị các mãnh lực tà ác chộp lấy để hủy diệt linh hồn con người, thúc đẩy chiến tranh và phá hủy các thành phố cùng mọi trung tâm văn minh và văn hóa của chúng ta. Giai đoạn hay hình thức hủy diệt thứ nhất được hướng dẫn bởi các đệ tử, những người chí nguyện và những người có tư duy sáng suốt trên thế giới, và điều này là cần thiết và rất tốt. Các hình thức xã hội, chính trị và tôn giáo cũ đang làm trì trệ linh hồn con người và cản trở mọi tiến bộ. Giai đoạn hay hình thức hủy diệt thứ hai được hướng dẫn bởi điều ác, và được tập trung qua những quốc gia đã khuất phục trước ảo cảm về tính ưu việt, trước cám dỗ của sự xâm lược vật chất và những hận thù chủng tộc bất khoan dung, được thực thi bằng tàn bạo và man rợ.
The time has now come when this divine energy must express itself through the second aspect of the will-to-good, and not through the first aspect, the will-to-power. Mankind has had to be shown that it is not yet ready for power, because the will-to-good is not adequately strong to balance this first aspect of the will.
Nay đã đến lúc năng lượng thiêng liêng này phải biểu lộ qua phương diện thứ hai của ý chí hướng thiện, chứ không phải qua phương diện thứ nhất là ý chí hướng đến quyền lực. Nhân loại đã phải được cho thấy rằng họ chưa sẵn sàng cho quyền lực, bởi vì ý chí hướng thiện chưa đủ mạnh để quân bình phương diện thứ nhất này của ý chí.
This then is the task of the Christ and of the Buddha at the time of the May Full Moon—to channel and redirect the Shamballa force. If They can do this, the result will be a new realisation and accomplishment of the will-to-good by the New Group of World Servers, under the receptive guidance of the world disciples and a responsive activity of the men and women of goodwill.
Vậy đây là nhiệm vụ của Đức Christ và Đức Phật vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm—chuyển dẫn và tái định hướng mãnh lực Shamballa. Nếu Các Ngài có thể làm được điều này, kết quả sẽ là một sự chứng nghiệm mới và sự thực hiện mới về ý chí hướng thiện bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, dưới sự hướng dẫn tiếp nhận của các đệ tử thế giới và hoạt động đáp ứng của những người nam và nữ thiện chí.
Therefore, get this clearly in mind, so that your cooperation can be intelligent and rightly directed.
Vì vậy, hãy ghi điều này thật rõ trong trí, để sự hợp tác của các bạn có thể thông minh và được hướng dẫn đúng đắn.
First, at the time of the May Full Moon, the Buddha [440] will sound out a great mantram and become the “absorbing Agent” of the first ray force. He will use the magnetic power of the second ray to attract this force to Himself and will hold it steady, prior to redirecting it. The Christ will then—on behalf of the Hierarchy—become the “receiving Agent” of this potent energy, and the seven groups of Masters Who work with the human and sub-human kingdoms will (in response to His demand) become the “directing Agents” for the sevenfold expression of this force.
Thứ nhất, vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm, Đức Phật [440] sẽ xướng lên một mantram vĩ đại và trở thành “Tác Nhân hấp thụ” của mãnh lực cung một. Ngài sẽ dùng quyền năng từ tính của cung hai để thu hút mãnh lực này về phía Ngài và giữ nó ổn định trước khi tái định hướng nó. Khi ấy Đức Christ—thay mặt cho Thánh đoàn—sẽ trở thành “Tác Nhân tiếp nhận” của năng lượng mãnh liệt này, và bảy nhóm Chân sư đang làm việc với các giới người và dưới-người sẽ (đáp lại yêu cầu của Ngài) trở thành các “Tác Nhân chỉ đạo” cho sự biểu lộ thất phân của mãnh lực này.
Second, at the time of the June Full Moon, the Hierarchy, under the guidance of the Christ, will let loose this will-to-good upon humanity, producing seven great results, according to the seven subrays of this first Ray of Will or Power:
Thứ hai, vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu, Thánh đoàn, dưới sự hướng dẫn của Đức Christ, sẽ phóng thích ý chí hướng thiện này lên nhân loại, tạo ra bảy kết quả lớn, tùy theo bảy cung phụ của cung một này của Ý Chí hay Quyền Lực:
1. Power will be given to the disciples of the world and the initiates among men, so that they can direct efficiently and wisely the coming process of rebuilding.
1. Quyền năng sẽ được ban cho các đệ tử thế giới và các điểm đạo đồ trong nhân loại, để họ có thể hướng dẫn một cách hữu hiệu và minh triết tiến trình tái thiết sắp đến.
2. The will-to-love will stimulate the men of goodwill everywhere so that hatred will gradually be overcome and men will seek to live together cooperatively. This will take some time, but the inner urge is there and subject to stimulation.
2. Ý Chí-Yêu Thương sẽ kích thích những người thiện chí ở khắp nơi để hận thù dần dần được vượt qua và con người sẽ tìm cách sống cùng nhau trong hợp tác. Điều này sẽ cần thời gian, nhưng sự thôi thúc bên trong đã có đó và có thể được kích thích.
3. The will-to-action will lead intelligent people throughout the world to inaugurate those activities which will lay the foundation for a new, better and happier world.
3. Ý Chí-hành động sẽ dẫn dắt những người thông minh trên khắp thế giới khởi xướng những hoạt động sẽ đặt nền móng cho một thế giới mới, tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn.
4. The will-to-cooperate will steadily increase also. Men will desire and demand right human relations—a result more general than that produced by the activity of the first three aspects of this ray, but which will be a natural outcome of this activity.
4. Ý Chí-hợp tác cũng sẽ tăng trưởng vững chắc. Con người sẽ mong muốn và đòi hỏi những tương quan nhân loại đúng đắn—một kết quả tổng quát hơn kết quả do hoạt động của ba phương diện đầu của cung này tạo ra, nhưng sẽ là kết quả tự nhiên của hoạt động ấy.
5. The will-to-know and to think correctly and creatively will become an outstanding characteristic of the masses. Knowledge is the first step towards wisdom.
5. Ý Chí-hiểu biết và suy nghĩ đúng đắn, sáng tạo sẽ trở thành một đặc tính nổi bật của quần chúng. Tri thức là bước đầu tiên hướng đến minh triết.
6. The will-to-persist (which is an aspect of devotion and idealism) will become a human characteristic—a sublimation of the basic instinct of self-preservation. This will [441] lead to a persistent belief in the ideals presented by the Hierarchy, and the demonstration of immortality.
6. Ý Chí-kiên trì (vốn là một phương diện của tận tụy và lý tưởng) sẽ trở thành một đặc tính của con người—một sự thăng hoa của bản năng căn bản tự bảo tồn. Điều này sẽ [441] dẫn đến một niềm tin bền bỉ vào các lý tưởng do Thánh đoàn trình bày, và sự chứng minh tính bất tử.
7. The will-to-organise will further a building process which will be carried forward under the direct inspiration of the Hierarchy. The medium will be the potency of the will-to-good of the New Group of World Servers and the responsive goodwill of mankind.
7. Ý Chí-tổ chức sẽ thúc đẩy một tiến trình kiến tạo sẽ được tiến hành dưới cảm hứng trực tiếp của Thánh đoàn. Trung gian sẽ là tiềm lực của ý chí hướng thiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và thiện chí đáp ứng của nhân loại.
I have expressed in these few simple terms the results of the planned determination of the two Great Lords which must take shape and emerge at the time of the May and June Full Moons. What they succeed in doing will take years to demonstrate, but the end is inevitable once the right direction of the will-to-good has been achieved. This demonstration is dependent, however, upon two things:
Tôi đã diễn đạt bằng vài từ ngữ đơn giản này những kết quả của quyết tâm có kế hoạch của hai Đấng Cao Cả, điều phải thành hình và xuất hiện vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu. Điều Các Ngài thành công thực hiện sẽ cần nhiều năm mới biểu lộ, nhưng cứu cánh là điều không thể tránh khỏi một khi sự định hướng đúng đắn của ý chí hướng thiện đã đạt được. Tuy nhiên, sự biểu lộ này tùy thuộc vào hai điều:
1. The focussed work of the Christ and of the Hierarchy during the coming year, until May 1945.
1. Công việc nhất tâm của Đức Christ và của Thánh đoàn trong năm sắp tới, cho đến tháng Năm năm 1945.
2. The reflective thinking and careful planning of the New Group of World Servers during the same period.
2. Sự suy tư phản chiếu và hoạch định cẩn trọng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong cùng thời kỳ.
Much outer activity upon a planetary scale will not be possible till 1945, but much can then become possible if hierarchical requirements are met. A year of preparation for the tremendous task of implementing the will-to-good and of producing a better civilisation and way of life is short indeed.
Nhiều hoạt động bên ngoài trên quy mô hành tinh sẽ chưa thể thực hiện cho đến năm 1945, nhưng khi ấy nhiều điều có thể trở nên khả hữu nếu các đòi hỏi của Thánh đoàn được đáp ứng. Một năm chuẩn bị cho nhiệm vụ to lớn là thực thi ý chí hướng thiện và tạo ra một nền văn minh cùng một lối sống tốt đẹp hơn quả thật là ngắn ngủi.
The Christ has gone into retreat for a month and cannot be reached even by the Masters until May 5th. He is in closest consultation with the Buddha and with the Lord of the World. This great Triangle of Potencies—the Lord of Will or Power, the Lord of Wisdom, and the Lord of Love—are today entirely preoccupied with the task of bringing the war to an end, and therefore with the task of neutralising the destroyer aspect of the first ray. This They will do by implementing the will-to-good by means of the wisdom of which the Buddha is the experienced Custodian, and also by laying down those plans whereby the Christ may—via the Hierarchy and the New Group of World [442] Servers—bring about that “loving understanding” (esoterically understood and bearing little resemblance to what is usually understood by those words) in the hearts of men. When this Triangle of Energies has synchronised its efforts, then at the May Full Moon, the great task of leading humanity into the light of a new day can be begun.
Đức Christ đã lui vào tĩnh tu trong một tháng và ngay cả các Chân sư cũng không thể tiếp cận Ngài cho đến ngày 5 tháng Năm. Ngài đang tham vấn mật thiết nhất với Đức Phật và với Đức Chúa Tể Thế Giới. Tam Giác vĩ đại của các Tiềm Lực này—Đấng Chúa Tể của Ý Chí hay Quyền Lực, Đấng Chúa Tể của Minh Triết, và Đấng Chúa Tể của Bác Ái—ngày nay hoàn toàn chuyên chú vào nhiệm vụ chấm dứt chiến tranh, và do đó vào nhiệm vụ trung hòa phương diện hủy diệt của cung một. Điều này Các Ngài sẽ làm bằng cách thực thi ý chí hướng thiện nhờ minh triết mà Đức Phật là Đấng Gìn Giữ đầy kinh nghiệm, và cũng bằng cách đặt ra những kế hoạch nhờ đó Đức Christ có thể—qua Thánh đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế [442] Gian—mang lại “sự thấu hiểu đầy bác ái” ấy (được hiểu theo nghĩa huyền bí và rất ít giống với điều người ta thường hiểu qua những từ ấy) trong lòng người. Khi Tam Giác Năng Lượng này đã đồng bộ hóa các nỗ lực của mình, thì vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm, nhiệm vụ lớn lao là dẫn dắt nhân loại vào ánh sáng của một ngày mới có thể được bắt đầu.
In the meantime, the Masters and Their ashrams are likewise getting ready to implement these plans and are endeavouring to inspire Their disciples with the same vision and objectives, so that they too may be prepared to play their due part.
Trong khi đó, các Chân sư và các ashram của Các Ngài cũng đang chuẩn bị để thực thi các kế hoạch này và đang cố gắng truyền cảm hứng cho các đệ tử của Các Ngài cùng một tầm nhìn và những mục tiêu ấy, để họ cũng có thể sẵn sàng đảm nhận phần việc thích đáng của mình.
Such, my brothers, is the situation as regards the position of humanity and the intentions and work of the Hierarchy. What then is the work which you can and must do?
Đó, Huynh đệ của Tôi, là tình hình liên quan đến vị thế của nhân loại và các ý định cùng công việc của Thánh đoàn. Vậy thì công việc mà bạn có thể và phải làm là gì?
I have for years indicated certain lines of activity which we, the Teachers and Guides on the inner side of life, would have all aspirants and disciples follow. The plans outlined by me during the past ten years are definitely a part of the hierarchical programme and are being presented in their specific forms by the other Masters. There is little that I can add. There is nothing which I tell you at this time that you do not already know. Do I need to ask you to work individually and in the place where you are for national and world unity? Must I plead with you to do what you can to heal divisions, and thus render effective that basic integrity which should unite the three major world powers through which the Hierarchy is attempting to work? Do I need to enjoin the necessity to counteract hate with justice, understanding and mercy? Have I to continue explaining the need for the complete triumph of the Forces of Light, for the triumphant progress of the armies of the United Nations, and for that triumph to be won first of all on spiritual levels and then carried through—with commonsense and persistence—on to the physical side of life, as well as in the intervening mental world? Do I need to ask for the control of emotions in the general interest, and for the consecration of time, energy and money to the enormous task of human salvage?
Trong nhiều năm, tôi đã chỉ ra một số đường lối hoạt động mà chúng tôi, các Huấn sư và Đấng Hướng Dẫn ở mặt bên trong của sự sống, muốn tất cả những người chí nguyện và các đệ tử noi theo. Những kế hoạch do tôi phác họa trong mười năm qua rõ ràng là một phần của chương trình của Thánh đoàn và đang được các Chân sư khác trình bày dưới những hình thức chuyên biệt của các Ngài. Tôi có rất ít điều để thêm vào. Không có gì tôi nói với các bạn lúc này mà các bạn chưa biết. Tôi có cần phải yêu cầu các bạn làm việc riêng lẻ và tại nơi các bạn đang ở cho sự hợp nhất quốc gia và thế giới không? Tôi có phải khẩn cầu các bạn làm những gì có thể để hàn gắn chia rẽ, và nhờ đó làm cho sự toàn vẹn căn bản vốn phải hợp nhất ba cường quốc lớn của thế giới—qua đó Thánh đoàn đang tìm cách hoạt động—trở nên hữu hiệu không? Tôi có cần phải nhấn mạnh sự cần thiết phải đối trị hận thù bằng công lý, thấu hiểu và lòng thương xót không? Tôi có phải tiếp tục giải thích nhu cầu về sự chiến thắng hoàn toàn của các Mãnh Lực Ánh Sáng, về bước tiến chiến thắng của quân đội các Quốc Gia Đồng Minh, và về việc chiến thắng ấy trước hết phải đạt được trên các cấp độ tinh thần rồi sau đó được thực hiện—với lương tri và sự kiên trì—trên phương diện hồng trần của sự sống, cũng như trong thế giới trí tuệ trung gian không? Tôi có cần phải yêu cầu sự kiểm soát cảm xúc vì lợi ích chung, và sự thánh hiến thời gian, năng lượng và tiền bạc cho nhiệm vụ to lớn là cứu vớt nhân loại không?
[443] On these points I shall not dwell. Nothing is here gained by reiteration except the growing burden of a responsibility which you can shoulder to your eternal happiness or discard to your shame and eventual karmic reaction. Only this will I say: Get rid of selfishness, provincialism and insularity. Think in terms of the one humanity. Let your lives count in the scale of useful and needed service. Leave off saying and thinking those things which are critical of others—other people and other allied nations. See the issues of this conflict clearly, and let no false and glamorous sentiment lead you to favour weakness towards the Axis Powers at this unique and critical moment. The form or forms of their tyranny must be broken and due payment made in all justice and discrimination to an outraged world. But the souls that implemented that tyranny must—through sore trial and right spiritual direction—be again led to walk in the light. The children of the Axis nations must not be penalised for the wickedness or the weakness of their fathers; they must be educated in new and better ways and loved into right understanding of their relationships.
[443] Về những điểm này tôi sẽ không bàn thêm. Ở đây, việc lặp lại không đem lại điều gì ngoài gánh nặng ngày càng tăng của một trách nhiệm mà các bạn có thể gánh vác để đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu của mình hoặc gạt bỏ để chuốc lấy sự hổ thẹn và phản ứng nghiệp quả về sau. Chỉ điều này tôi muốn nói: Hãy loại bỏ tính ích kỷ, tính cục bộ và tính biệt lập. Hãy suy nghĩ theo một nhân loại duy nhất. Hãy để đời sống của các bạn có giá trị trên cán cân của sự phụng sự hữu ích và cần thiết. Hãy thôi nói và nghĩ những điều chỉ trích người khác—những con người khác và những quốc gia đồng minh khác. Hãy nhìn rõ các vấn đề của cuộc xung đột này, và đừng để bất kỳ tình cảm sai lầm và đầy ảo cảm nào dẫn các bạn đến chỗ thiên vị sự mềm yếu đối với các Cường Quốc Trục trong thời khắc độc nhất và nghiêm trọng này. Hình thức hay các hình thức bạo quyền của họ phải bị phá vỡ và sự đền trả thích đáng phải được thực hiện trong tất cả công lý và phân biện đối với một thế giới bị xúc phạm. Nhưng những linh hồn đã thực thi bạo quyền ấy phải—qua thử thách đau đớn và sự hướng dẫn tinh thần đúng đắn—được dẫn dắt trở lại để bước đi trong ánh sáng. Con cái của các quốc gia Trục không được bị trừng phạt vì sự độc ác hay yếu đuối của cha ông chúng; chúng phải được giáo dục theo những đường lối mới và tốt đẹp hơn, và được yêu thương để đi đến sự thấu hiểu đúng đắn về các tương quan của mình.
For two complete generations there must be a peace which will be unbroken because behind it and protecting it will stand the Armies of the Lord. At the close of that time, if the educational work done has been adequate, sane, wise and sound, then these Armies can rest from their labours and the sword be turned into the ploughshare. If this programme of supervision, education and spiritual direction is not thus enforced, the war that would then take place would wipe out humanity—as happened once before in human history.
Trong hai thế hệ trọn vẹn phải có một nền hòa bình không bị phá vỡ vì đằng sau nó và bảo vệ nó sẽ là các Đạo Quân của Chúa Tể. Khi kết thúc thời kỳ ấy, nếu công việc giáo dục đã được thực hiện đầy đủ, lành mạnh, minh triết và vững chắc, thì các Đạo Quân này có thể nghỉ ngơi sau lao nhọc của mình và thanh gươm sẽ được đổi thành lưỡi cày. Nếu chương trình giám sát, giáo dục và hướng dẫn tinh thần này không được thực thi như thế, thì cuộc chiến tranh khi ấy xảy ra sẽ quét sạch nhân loại—như đã từng xảy ra một lần trước đây trong lịch sử loài người.
I would here refer you to a parable, spoken in terms of far-sighted vision and warning by the Christ centuries ago, anent the man who cleaned house, casting out the devils; when it was all swept and garnished, it remained empty (as symbol of unused opportunity and ignored responsibility) and then, as the Lord of Light put it, “the last state of that man was worse than the first.” The sweeping and cleansing has been going on for five long years, the final stages of [444] this destroying but cleansing process are now being taken. Then, my brothers, what?
Ở đây tôi muốn nhắc các bạn đến một dụ ngôn, được Đức Christ nói ra từ nhiều thế kỷ trước bằng ngôn ngữ của linh thị xa rộng và lời cảnh báo, liên quan đến người đã quét dọn nhà cửa, trục xuất ma quỷ; khi mọi sự đã được quét sạch và trang hoàng, nó vẫn trống rỗng (như biểu tượng của cơ hội không được sử dụng và trách nhiệm bị phớt lờ), và rồi, như Chúa Tể Ánh Sáng đã nói, “tình trạng sau cùng của người ấy còn tệ hơn lúc đầu.” Việc quét dọn và thanh tẩy đã diễn ra suốt năm năm dài, các giai đoạn cuối cùng của [444] tiến trình hủy diệt nhưng thanh tẩy này hiện đang được tiến hành. Rồi sau đó, Huynh đệ của Tôi, điều gì sẽ đến?
I have told you over the years what we seek to have you do: Rally to the aid of the New Group of World Servers, hard pressed in this day of battle. Spread goodwill—to humanity as a whole, learning steadily to think in terms of that whole; uphold those activities which benefit the whole and do not favour one particular nation, even if it is your own. Work today for victory and for the annihilation of evil. Work tomorrow for justice and for the restoration of security. When there is security, readjustment, the obliteration of the aggressor leaders, protection and restoration of the weak and the oppressed, plus right living conditions and wise education for the youth of the world, then peace will come but not till then. Let the soporific of beautiful peace talk die out and let sane methods of establishing goodwill and right human relations precede the discussion of peace. The world talked itself into a dreamy state of idealistic rhapsody about peace between the first phase of this world war and the present one. This must not again occur and it is the task of the intelligent humanitarian to prevent it.
Trong nhiều năm qua tôi đã nói với các bạn điều chúng tôi tìm cách khiến các bạn làm: Hãy tập hợp để trợ giúp Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đang bị dồn ép nặng nề trong ngày chiến đấu này. Hãy lan truyền thiện chí—đến toàn thể nhân loại, đồng thời học cách suy nghĩ ngày càng vững chắc theo toàn thể ấy; hãy nâng đỡ những hoạt động mang lợi ích cho toàn thể và không thiên vị một quốc gia riêng biệt nào, ngay cả khi đó là quốc gia của chính các bạn. Hôm nay hãy làm việc cho chiến thắng và cho sự tiêu diệt điều ác. Ngày mai hãy làm việc cho công lý và cho sự phục hồi an ninh. Khi có an ninh, sự điều chỉnh lại, sự xóa bỏ các lãnh tụ xâm lược, sự bảo vệ và phục hồi những người yếu đuối và bị áp bức, cộng với những điều kiện sống đúng đắn và nền giáo dục minh triết cho tuổi trẻ thế giới, khi ấy hòa bình sẽ đến, nhưng không phải trước đó. Hãy để thứ thuốc mê của những lời nói đẹp đẽ về hòa bình lắng xuống và hãy để những phương pháp lành mạnh nhằm thiết lập thiện chí và những tương quan nhân loại đúng đắn đi trước việc thảo luận về hòa bình. Thế giới đã tự nói mình vào một trạng thái mộng tưởng đầy cảm hứng lý tưởng về hòa bình giữa giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới này và giai đoạn hiện nay. Điều đó không được phép tái diễn và nhiệm vụ của nhà nhân đạo thông minh là ngăn chặn nó.
For the work to be done during the next twelve months (and then continued during the ensuing years), I make one last appeal. Stand with fixed intent, implementing the massed intent of the unthinking, the terrified and the distressed and weak. Cooperate with the New Group of World Servers in every land. Let the Full Moons of May and June constitute high points of spiritual attainment which can and will condition your daily life and service during the ensuing year. Let nothing deter you. Nothing from any quarter causes the Christ to deviate from His planned purpose; just in so far as His purposes coincide with your soul purpose, move outward into a wider field of service. If you feel no response to world need and no call to serve, then beware and seek a deeper measure of soul contact and spiritual relationship. Every word spoken or written at this time by an aspirant or a disciple is of a definite potency—either good or bad.
Đối với công việc phải làm trong mười hai tháng tới (và sau đó tiếp tục trong những năm tiếp theo), tôi đưa ra một lời kêu gọi cuối cùng. Hãy đứng vững với ý định cố định, thực thi ý định tập thể của những người không suy nghĩ, những người kinh hãi, những người đau khổ và yếu đuối. Hãy hợp tác với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ở mọi quốc gia. Hãy để các kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu tạo thành những đỉnh cao của thành tựu tinh thần, có thể và sẽ tác động lên đời sống và sự phụng sự hằng ngày của các bạn trong năm tiếp theo. Đừng để điều gì ngăn trở các bạn. Không điều gì từ bất cứ phía nào khiến Đức Christ lệch khỏi mục đích đã hoạch định của Ngài; chừng nào các mục đích của Ngài còn trùng hợp với mục đích linh hồn của các bạn, hãy tiến ra ngoài vào một lĩnh vực phụng sự rộng lớn hơn. Nếu các bạn không cảm thấy đáp ứng với nhu cầu của thế giới và không nghe thấy tiếng gọi phụng sự, thì hãy cẩn trọng và tìm kiếm một mức độ tiếp xúc linh hồn và tương quan tinh thần sâu xa hơn. Mỗi lời được nói ra hay viết ra vào lúc này bởi một người chí nguyện hay một đệ tử đều có một tiềm lực xác định—hoặc tốt hoặc xấu.
You know about the New Group of World Servers. The [445] work of the men and women of goodwill has been presented to you. The request for the forming of triangles of light and of goodwill has been placed clearly before you. The need for clear thinking is plain. The Hierarchy asks for your aid and your support in the arena of world affairs. I have myself laid my plans before you. There the programme must be left to be carried out by you if you choose. For a quarter of a century (since 1919) I have taught you. I ask now for your cooperation in our mutual responsibility—the helping of humanity.
Các bạn biết về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Công [445] việc của những người nam và nữ thiện chí đã được trình bày cho các bạn. Lời yêu cầu thành lập các tam giác ánh sáng và thiện chí đã được đặt ra rõ ràng trước các bạn. Nhu cầu về tư duy sáng suốt là điều hiển nhiên. Thánh đoàn yêu cầu sự trợ giúp và nâng đỡ của các bạn trong đấu trường của các công việc thế giới. Chính tôi đã đặt các kế hoạch của mình trước các bạn. Ở đó chương trình phải được để cho các bạn thực hiện nếu các bạn chọn. Trong một phần tư thế kỷ (từ năm 1919) tôi đã dạy các bạn. Nay tôi yêu cầu sự hợp tác của các bạn trong trách nhiệm chung của chúng ta—giúp đỡ nhân loại.
May He Whom we all love and serve, the Master of all Masters and the undying Friend of Mankind shed His light upon your way and evoke your trust, your understanding and your help in His task—climaxing this year—of leading humanity into the light of a new day.
Nguyện xin Đấng mà tất cả chúng ta đều yêu mến và phụng sự, Chân sư của mọi Chân sư và Người Bạn bất diệt của Nhân Loại, chiếu ánh sáng của Ngài lên con đường của các bạn và gợi lên nơi các bạn niềm tin cậy, sự thấu hiểu và sự trợ giúp trong nhiệm vụ của Ngài—đạt đến cao điểm trong năm nay—là dẫn dắt nhân loại vào ánh sáng của một ngày mới.
~
~