THE CAUSE OF THE WORLD CATASTROPHE—NGUYÊN NHÂN CỦA THẢM HỌA THẾ GIỚI
June 1942
Tháng Sáu 1942
We come now to the consideration of the present acute situation and world catastrophe which is rooted in world glamour, and will study the possibility of relief and cure. This possibility exists and is centred in the two great Avatars, the Buddha and the Christ.
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét tình hình gay gắt hiện nay và thảm họa thế giới vốn bén rễ trong ảo cảm thế giới, và sẽ nghiên cứu khả năng giải cứu và chữa lành. Khả năng này hiện hữu và tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân vĩ đại, Đức Phật và Đức Christ.
It is difficult to write clearly about this matter of world glamour (This message appears in the book “Glamour: A World Problem”. It is included here to preserve the historical sequence of the teaching in relation to world events.) because we are in the midst of its most concentrated expression—the worst the world has ever seen because glamour, incident to centuries of greed and selfishness, of aggression and materialism, has been focussed in a triplicity of nations. It is, therefore, easily to be seen and most effective in manifestation. Three nations express the three aspects of world glamour (illusion, glamour and maya) in an amazing manner, and their powerful assault upon the consciousness [355] of humanity is dependent not only upon the response of Germany, Japan and Italy to this ancient miasma but also upon the fact that every nation—the United Nations as well as the Totalitarian Nations—are tainted with this universal condition. The freedom of the world is consequently largely dependent upon those people in every nation who (within themselves) have moved forward out of one or other of these “glamorous illusions of mayavic impressions” of the human soul into a state of awareness wherein they can see the conflict in its wider terms, i.e., as that existing for them between the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.
Thật khó viết rõ ràng về vấn đề ảo cảm thế giới này (Thông điệp này xuất hiện trong sách “Glamour: A World Problem”. Nó được đưa vào đây để bảo toàn trình tự lịch sử của giáo huấn liên hệ đến các biến cố thế giới.) bởi vì chúng ta đang ở giữa biểu hiện tập trung nhất của nó—tồi tệ nhất mà thế giới từng thấy, vì ảo cảm, gắn liền với nhiều thế kỷ tham lam và ích kỷ, xâm lược và chủ nghĩa duy vật, đã được tập trung trong một bộ ba quốc gia. Do đó, nó dễ dàng được nhìn thấy và cực kỳ hữu hiệu trong biểu hiện. Ba quốc gia biểu lộ ba phương diện của ảo cảm thế giới (ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực) một cách đáng kinh ngạc, và cuộc tấn công mãnh liệt của họ vào tâm thức [355] nhân loại không chỉ tùy thuộc vào sự đáp ứng của Đức, Nhật và Ý đối với thứ chướng khí cổ xưa này mà còn tùy thuộc vào sự kiện rằng mọi quốc gia—các Quốc Gia Đồng Minh cũng như các Quốc Gia Toàn Trị—đều bị nhiễm tình trạng phổ quát này. Vì vậy, tự do của thế giới phần lớn tùy thuộc vào những người trong mọi quốc gia đã (trong chính mình) tiến ra khỏi một hay một dạng khác của những “ảo tưởng đầy ảo cảm của các ấn tượng ảo lực” của linh hồn con người để đi vào một trạng thái nhận biết trong đó họ có thể nhìn thấy cuộc xung đột theo những thuật ngữ rộng lớn hơn của nó, tức là như cuộc xung đột hiện hữu đối với họ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.
These people are the aspirants, the disciples and the initiates of the world. They are aware of the dualism, the essential dualism, of the conflict and are not so pre-eminently conscious of the threefold nature and the differentiated condition of the situation which underlies the realised dualism. Their approach to the problem is therefore simpler and, because of this, world direction lies largely in their hands at this time.
Những người này là các người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ của thế giới. Họ nhận biết tính nhị nguyên, tính nhị nguyên cốt yếu, của cuộc xung đột và không quá nổi bật trong việc ý thức về bản chất tam phân và tình trạng phân biệt của hoàn cảnh vốn nằm bên dưới tính nhị nguyên đã được nhận ra. Vì vậy, cách tiếp cận của họ đối với vấn đề đơn giản hơn và, do đó, sự định hướng thế giới phần lớn nằm trong tay họ vào lúc này.
It is right here that religion has, as a whole, gone astray. I refer to orthodox religion. It has been preoccupied with the Dweller on the Threshold and the eyes of the theologian have been held upon the material, phenomenal aspect of life through fear and its immediacy, and the fact of the Angel has been a theory and a point of wishful thinking. The balance is being adjusted by the humanitarian attitudes which are so largely coming into control, irrespective of any theological trend. These attitudes take their stand upon belief in the innate rightness of the human spirit, in the divinity of man and upon the indestructible nature of the soul of mankind. This inevitably brings in the concept of the PRESENCE, or of God Immanent and is the result of the needed revolt against the one-sidedness of the belief in God Transcendent. This spiritual revolution was entirely a balancing process and need cause no basic concern, for God Transcendent eternally exists, but can only be seen and known and correctly approached by God Immanent—immanent [356] in individual man, in groups and nations, in organised forms and in religion, in humanity as a whole and in the planetary Life Itself. Humanity is today (and has been for ages) battling illusion, glamour and maya. Advanced thinkers, those upon the Probationary Path, upon the Path of Discipleship, and the Path of Initiation have reached the point where materialism and spirituality, the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence, and the basic dualism of manifestation can be seen clearly defined. Because of this clarity of demarcation, the issues underlying present world events, the objectives of the present world-wide struggle, the modes and methods of re-establishing the spiritual contact so prevalent in Atlantean days and so long lost, and the recognition of the techniques which can bring in the new world era and its cultural order can be clearly noted and appraised.
Chính tại đây mà tôn giáo, xét như một toàn thể, đã đi lạc hướng. Tôi nói đến tôn giáo chính thống. Nó đã bận tâm với Kẻ Chận Ngõ và mắt của nhà thần học đã bị giữ chặt vào phương diện vật chất, hiện tượng của sự sống bởi nỗi sợ hãi và tính cấp bách của nó, còn sự kiện về Thiên Thần chỉ là một lý thuyết và một điểm của sự mong ước. Sự quân bình đang được điều chỉnh bởi các thái độ nhân đạo hiện đang phần lớn nắm quyền kiểm soát, bất kể khuynh hướng thần học nào. Những thái độ này đứng trên niềm tin vào sự đúng đắn bẩm sinh của tinh thần con người, vào thiên tính của con người và vào bản chất bất khả hủy diệt của linh hồn nhân loại. Điều này tất yếu đưa vào khái niệm về HIỆN DIỆN, hay về Thượng đế Nội Tại, và là kết quả của cuộc nổi dậy cần thiết chống lại tính phiến diện của niềm tin vào Thượng đế Siêu Việt. Cuộc cách mạng tinh thần này hoàn toàn là một tiến trình quân bình và không cần gây lo ngại căn bản nào, vì Thượng đế Siêu Việt tồn tại vĩnh cửu, nhưng chỉ có thể được nhìn thấy, được biết đến và được tiếp cận đúng đắn qua Thượng đế Nội Tại—nội tại [356] trong từng con người, trong các nhóm và quốc gia, trong các hình thức có tổ chức và trong tôn giáo, trong toàn thể nhân loại và trong chính Sự sống Hành tinh. Nhân loại ngày nay (và đã từ nhiều thời đại) đang chiến đấu với ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Các nhà tư tưởng tiến bộ, những người ở trên Con Đường Dự Bị, trên Con Đường Đệ Tử, và Con Đường Điểm Đạo đã đạt đến điểm mà chủ nghĩa duy vật và tinh thần, Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện, cùng tính nhị nguyên căn bản của biểu hiện có thể được thấy phân định rõ ràng. Chính vì sự phân định rõ ràng này mà các vấn đề nằm dưới các biến cố thế giới hiện nay, các mục tiêu của cuộc đấu tranh toàn cầu hiện tại, các phương thức và phương pháp tái lập sự tiếp xúc tinh thần vốn thịnh hành trong thời Atlantis và đã mất từ lâu, cùng sự nhận biết các kỹ thuật có thể mang lại kỷ nguyên thế giới mới và trật tự văn hóa của nó, đều có thể được ghi nhận và đánh giá rõ ràng.
All generalisations admit of error. It might, however, be said that Germany has focussed in herself world glamour—the most potent and expressive of the three aspects of glamour. Japan is manifesting the force of maya—the crudest form of material force. Italy, individualistic and mentally polarised, is the expression of world illusion. The United Nations, with all their faults, limitations, weaknesses and nationalisms, are focussing the conflict between the Dweller and the Angel, and thus the three forms of glamour and the final form of the conflict between the spiritual ideal and its material opponent are appearing simultaneously. The United Nations are, however, gradually and most decisively throwing the weight of their effort and aspiration on to the side of the Angel, thus restoring the lost balance and slowly producing on a planetary scale those attitudes and conditions which will eventually dispel illusion, dissipate glamour and devitalise the prevalent maya. This they are doing by the increased clear thinking of the general public of all the nations, bound together to conquer the three Axis Powers, by their growing ability to conceive ideas in terms of the whole, in terms of a desirable world order or federation, [357] and their capacity to discriminate between the Forces of Light and the potency of evil or materialism.
Mọi khái quát hóa đều có thể sai lầm. Tuy nhiên, có thể nói rằng Đức đã tập trung trong chính mình ảo cảm thế giới—mạnh nhất và biểu cảm nhất trong ba phương diện của ảo cảm. Nhật Bản đang biểu lộ mãnh lực của ảo lực—hình thức thô thiển nhất của mãnh lực vật chất. Ý, có tính cá nhân chủ nghĩa và phân cực trí tuệ, là biểu hiện của ảo tưởng thế giới. Các Quốc Gia Đồng Minh, với mọi lỗi lầm, giới hạn, yếu kém và chủ nghĩa dân tộc của họ, đang tập trung cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần, và như thế ba hình thức ảo cảm cùng hình thức cuối cùng của cuộc xung đột giữa lý tưởng tinh thần và đối thủ vật chất của nó đang đồng thời xuất hiện. Tuy nhiên, các Quốc Gia Đồng Minh đang dần dần và hết sức dứt khoát đặt trọng lượng nỗ lực và khát vọng của họ về phía Thiên Thần, nhờ đó khôi phục thế quân bình đã mất và chậm rãi tạo ra trên quy mô hành tinh những thái độ và điều kiện cuối cùng sẽ làm tiêu tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và làm mất sinh lực của ảo lực đang thịnh hành. Họ đang làm điều này nhờ tư duy ngày càng sáng suốt của công chúng nói chung thuộc mọi quốc gia, được liên kết với nhau để chinh phục ba Cường Quốc Trục, nhờ khả năng ngày càng tăng của họ trong việc quan niệm các ý tưởng theo thuật ngữ của toàn thể, theo thuật ngữ của một trật tự thế giới hay liên bang đáng mong muốn, [357] và nhờ năng lực phân biện giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và sức mạnh của điều ác hay chủ nghĩa duy vật.
The work being done by those who see the world stage as the arena for the conflict between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE might be itemised as follows:
Công việc đang được thực hiện bởi những người nhìn sân khấu thế giới như đấu trường cho cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN có thể được liệt kê như sau:
1. The producing of those world conditions in which the Forces of Light can overcome the Forces of Evil. This they do by the weight of their armed forces, plus their clear insight.
1. Tạo ra những điều kiện thế giới trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng có thể chiến thắng các Mãnh Lực của Ác. Họ làm điều này bằng sức nặng của lực lượng vũ trang của họ, cộng với linh thị sáng suốt của họ.
2. The educating of humanity in the distinction between
2. Giáo dục nhân loại về sự phân biệt giữa
a. Spirituality and materialism, pointing to the differing goals of the combatant forces.
a. Tinh thần và chủ nghĩa duy vật, chỉ ra các mục tiêu khác nhau của các lực lượng đang giao chiến.
b. Sharing and greed, outlining a future world wherein The Four Freedoms will be dominant and all will have that which is needed for right living-processes.
b. Chia sẻ và tham lam, phác họa một thế giới tương lai trong đó Bốn Quyền Tự Do sẽ chiếm ưu thế và mọi người đều có những gì cần thiết cho các tiến trình sống đúng đắn.
c. Light and dark, demonstrating the difference between an illumined future of liberty and opportunity and the dark future of slavery.
c. Ánh sáng và bóng tối, chứng minh sự khác biệt giữa một tương lai được soi sáng của tự do và cơ hội với một tương lai tăm tối của nô lệ.
d. Fellowship and separation, indicating a world order where racial hatreds, caste distinctions and religious differences will form no barrier to international understanding, and the Axis order of master races, determined religious attitudes, and enslaved peoples.
d. Tình huynh đệ và chia rẽ, chỉ ra một trật tự thế giới nơi hận thù chủng tộc, phân biệt giai cấp và khác biệt tôn giáo sẽ không tạo thành rào cản cho sự thấu hiểu quốc tế, và đối lập với trật tự Trục của các chủng tộc thống trị, các thái độ tôn giáo cứng nhắc và các dân tộc bị nô dịch.
e. The whole and the part, pointing to the time which is approaching (under the evolutionary urge of spirit) wherein the part or the point of life assumes its responsibility for the whole, and the whole exists for the good of the part. The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places.
e. Toàn thể và bộ phận, chỉ ra thời điểm đang đến gần (dưới xung lực tiến hoá của tinh thần) khi bộ phận hay điểm sự sống đảm nhận trách nhiệm của nó đối với toàn thể, và toàn thể tồn tại vì lợi ích của bộ phận. Phương diện tối đã được tạo ra bởi nhiều thời đại ảo cảm. Ánh sáng đang được nhấn mạnh và làm rõ bởi các người chí nguyện và đệ tử thế gian, những người bằng thái độ, hành động, trước tác và lời nói của mình đang mang ánh sáng vào những nơi tối tăm.
3. Preparing the way for the three spiritual energies which will sweep humanity into an era of comprehension, leading [358] to a focussed mental clarification of men’s minds throughout the world. These three imminent energies are
3. Chuẩn bị con đường cho ba năng lượng tinh thần sẽ cuốn nhân loại vào một kỷ nguyên thấu hiểu, dẫn [358] đến một sự minh xác trí tuệ tập trung trong trí óc con người trên khắp thế giới. Ba năng lượng sắp đến này là
a. The energy of the intuition which will gradually dispel world illusion, and produce automatically a great augmentation of the ranks of initiates.
a. Năng lượng của trực giác sẽ dần dần làm tiêu tan ảo tưởng thế giới, và tự động tạo ra một sự gia tăng lớn trong hàng ngũ các điểm đạo đồ.
b. The activity of light which will dissipate, by the energy of illumination, the world of glamour and bring many thousands on to the Path of Discipleship.
b. Hoạt động của ánh sáng sẽ làm tiêu tan, bằng năng lượng của sự soi sáng, thế giới ảo cảm và đưa nhiều ngàn người lên Con Đường Đệ Tử.
c. The energy of inspiration which will bring about, through the medium of its sweeping potency, the devitalisation or the removal, as by a wind, of the attractive power of maya or substance. This will release untold thousands on to the Path of Probation.
c. Năng lượng của cảm hứng sẽ mang lại, qua trung gian sức mạnh quét sạch của nó, sự làm mất sinh lực hay sự loại bỏ, như bởi một cơn gió, quyền năng hấp dẫn của ảo lực hay chất liệu. Điều này sẽ giải phóng vô số ngàn người lên Con Đường Dự Bị.
4. Releasing new life into the planet through the medium of every possible agency. The first step towards this release is the proving that the power of materialism is broken by the complete defeat of the Axis powers and, secondly, by the ability of the United Nations to demonstrate (when this has been done) the potency of the spiritual values by their constructive undertakings to restore world order and to lay those foundations which will guarantee a better and more spiritual way of life. These constructive attitudes and undertakings must be assumed individually by every person, and by nations as collective wholes. The first is being undertaken at this time. The second remains as yet to be done.
4. Giải phóng sự sống mới vào hành tinh qua trung gian mọi tác nhân có thể. Bước đầu tiên hướng đến sự giải phóng này là chứng minh rằng quyền năng của chủ nghĩa duy vật đã bị phá vỡ bởi sự thất bại hoàn toàn của các cường quốc Trục và, thứ hai, bởi khả năng của các Quốc Gia Đồng Minh trong việc chứng minh (khi điều này đã được thực hiện) sức mạnh của các giá trị tinh thần bằng những công cuộc xây dựng của họ nhằm khôi phục trật tự thế giới và đặt những nền móng sẽ bảo đảm một lối sống tốt đẹp hơn và tinh thần hơn. Những thái độ và công cuộc xây dựng này phải được từng cá nhân đảm nhận, và bởi các quốc gia như những toàn thể tập thể. Điều thứ nhất đang được thực hiện vào lúc này. Điều thứ hai vẫn còn phải làm.
5. Bringing home to the nations of the world the truths taught by the Buddha, the Lord of Light, and the Christ, the Lord of Love. In this connection it might be pointed out that basically:
5. Làm cho các quốc gia trên thế giới thấu hiểu những chân lý do Đức Phật, Chúa Tể của Ánh Sáng, và Đức Christ, Chúa Tể của Bác Ái, giảng dạy. Liên hệ đến điều này, có thể chỉ ra rằng về căn bản:
a. The Axis nations need to grasp the teaching of the Buddha as He enunciated it in the Four Noble Truths; they need to realise that the cause of all sorrow and woe is desire—desire for that which is material.
a. Các quốc gia Trục cần nắm được giáo huấn của Đức Phật như Ngài đã tuyên thuyết trong Tứ Diệu Đế; họ cần nhận ra rằng nguyên nhân của mọi đau khổ và bất hạnh là dục vọng—dục vọng đối với điều thuộc vật chất.
b. The United Nations need to learn to apply the Law of Love as enunciated in the life of Christ and to express the truth that “no man liveth unto himself” and no [359] nation either, and that the goal of all human effort is loving understanding, prompted by a programme of love for the whole.
b. Các Quốc Gia Đồng Minh cần học cách áp dụng Định luật Bác ái như được tuyên thuyết trong cuộc đời của Đức Christ và biểu lộ chân lý rằng “không ai sống cho riêng mình” và cũng không quốc gia nào như thế, và rằng mục tiêu của mọi nỗ lực nhân loại là sự thấu hiểu đầy bác ái, được thúc đẩy bởi một chương trình bác ái dành cho toàn thể.
If the lives and teachings of these two great Avatars can be comprehended and wrought out anew in the lives of men today, in the world of human affairs, in the realm of human thinking and in the arena of daily living, the present world order (which is today largely disorder) can be so modified and changed that a new world and a new race of men can gradually come into being. Renunciation and the use of the sacrificial will should be the keynote for the interim period after the war, prior to the inauguration of the New Age.
Nếu cuộc đời và giáo huấn của hai Đấng Hoá Thân vĩ đại này có thể được thấu hiểu và được thực hiện מחדש trong đời sống con người hôm nay, trong thế giới của các công việc nhân loại, trong lĩnh vực tư tưởng con người và trong đấu trường của đời sống hằng ngày, thì trật tự thế giới hiện nay (vốn ngày nay phần lớn là hỗn loạn) có thể được điều chỉnh và thay đổi đến mức một thế giới mới và một nhân loại mới có thể dần dần xuất hiện. Sự từ bỏ và việc sử dụng ý chí hi sinh phải là chủ âm cho giai đoạn chuyển tiếp sau chiến tranh, trước khi Kỷ Nguyên Mới được khai mở.
Students need to remember that all manifestations and every point of crisis are symbolised by the ancient symbol of the point within the circle, the focus of power within a sphere of influence or aura. So it is today with the entire problem of ending the world glamour and illusion which fundamentally lie behind the present acute situation and world catastrophe. The possibility of such a dispelling and dissipation is definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ.
Các đạo sinh cần nhớ rằng mọi biểu hiện và mọi điểm khủng hoảng đều được tượng trưng bằng biểu tượng cổ xưa là điểm trong vòng tròn, tiêu điểm của quyền năng trong một khối cầu ảnh hưởng hay hào quang. Ngày nay cũng vậy đối với toàn bộ vấn đề chấm dứt ảo cảm và ảo tưởng thế giới vốn về căn bản nằm sau tình hình gay gắt hiện nay và thảm họa thế giới. Khả năng của một sự làm tiêu tan và tan biến như thế được tập trung rõ rệt nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ.
Within the world of glamour—the world of the astral plane and of emotions—appeared a point of light. The Lord of Light, the Buddha, undertook to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion—the world of the mental plane—appeared the Christ, the Lord of Love Himself, Who embodied in Himself the power of the attractive will of God. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “And I, if I be lifted from the earth, will draw all men unto me.” (John 12:32). From the point they then will have reached, the world of spiritual perception, of truth and of divine ideas will stand revealed. The result will be the disappearing of illusion.
Trong thế giới ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và cảm xúc—đã xuất hiện một điểm ánh sáng. Chúa Tể của Ánh Sáng, Đức Phật, đã đảm nhận việc tập trung trong Chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ làm cho việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả hữu. Trong thế giới ảo tưởng—thế giới của cõi trí—đã xuất hiện Đức Christ, chính Chúa Tể của Bác Ái, Đấng hiện thân trong Chính Ngài quyền năng của ý chí hấp dẫn của Thượng đế. Ngài đã đảm nhận việc làm tiêu tan ảo tưởng bằng cách kéo về phía Ngài (nhờ sức mạnh của bác ái) trái tim của mọi người, và đã phát biểu quyết tâm này bằng những lời: “Và Ta, nếu Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta.” (John 12:32). Từ điểm mà khi ấy họ sẽ đạt đến, thế giới của tri giác tinh thần, của chân lý và của các ý tưởng thiêng liêng sẽ được mặc khải. Kết quả sẽ là sự biến mất của ảo tưởng.
[360] The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its dharma. Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. The world glamour is being steadily removed from the ways of men. These two developments have been brought about by the incoming new ideas, focussed through the world intuitives and released to the general public by the world thinkers. It has been also largely aided by the well-nigh unconscious, but none the less real, recognition of the true meaning of these Four Noble Truths by the masses. Disillusioned and de-glamoured (if I may use such a term), humanity awaits the coming revelation. This revelation will be brought about by the combined efforts of the Buddha and the Christ. All that we can foresee or foretell anent that revelation is that some potent and far-reaching results will be achieved by the merging of light and love, and by the reaction of “lighted substance to the attractive power of love.” In this sentence I have given those who can understand a profound and useful hint as to the method and purpose of the undertaking staged for the June Full Moon, 1942. I have also given a clue to the true understanding of the work of these Avatars—a thing hitherto quite unrealised. It might be added that when an appreciation of the meaning of the words “transfiguration of a human being” is gained, the realisation will come that when “the body is full of light” then “in that light shall we see Light.” This means that when the personality has reached a point of purification, of dedication and of illumination, then the attractive power of the soul (whose nature is love and understanding) can function, [361] and fusion of these two will take place. This is what the Christ proved and demonstrated.
[360] Công việc kết hợp của hai Con của Thượng đế vĩ đại này, được tập trung qua các đệ tử thế gian và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, phải và chắc chắn sẽ phá tan ảo tưởng và làm tiêu tan ảo cảm—một bên bằng sự nhận biết trực giác về thực tại bởi những trí óc được chỉnh hợp với nó, và bên kia bằng sự tuôn đổ của ánh sáng lý trí. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên để làm tiêu tan ảo cảm thế giới; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên hướng đến việc làm tiêu tan ảo tưởng. Công việc của Các Ngài nay phải được một nhân loại đủ minh triết để nhận ra dharma của mình tiếp tục một cách thông minh. Con người đang nhanh chóng bị giải ảo và do đó sẽ thấy rõ hơn. Ảo cảm thế giới đang được đều đặn dời khỏi con đường của con người. Hai sự phát triển này đã được mang lại bởi các ý tưởng mới đang đi vào, được tập trung qua các nhà trực giác thế gian và được các nhà tư tưởng thế gian giải phóng đến công chúng. Nó cũng đã được trợ giúp phần lớn bởi sự công nhận gần như vô thức, nhưng không vì thế mà kém thực, của quần chúng về ý nghĩa chân thật của Tứ Diệu Đế này. Được giải ảo và thoát ảo cảm (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như thế), nhân loại đang chờ đợi sự mặc khải sắp đến. Sự mặc khải này sẽ được mang lại bởi nỗ lực kết hợp của Đức Phật và Đức Christ. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy trước hay tiên báo liên quan đến sự mặc khải ấy là một số kết quả mạnh mẽ và sâu rộng sẽ đạt được nhờ sự hòa nhập của ánh sáng và bác ái, và nhờ phản ứng của “chất liệu được soi sáng đối với quyền năng hấp dẫn của bác ái.” Trong câu này tôi đã trao cho những ai có thể hiểu một gợi ý sâu sắc và hữu ích về phương pháp và mục đích của công việc được sắp đặt cho Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942. Tôi cũng đã trao một đầu mối cho sự thấu hiểu chân chính về công việc của các Đấng Hoá Thân này—một điều cho đến nay hoàn toàn chưa được nhận ra. Có thể thêm rằng khi đạt được sự đánh giá đúng về ý nghĩa của những lời “biến hình của một con người,” thì sẽ đi đến chỗ nhận ra rằng khi “thể đầy ánh sáng” thì “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy Ánh sáng.” Điều này có nghĩa là khi phàm ngã đã đạt đến một điểm thanh lọc, hiến dâng và soi sáng, thì quyền năng hấp dẫn của linh hồn (mà bản chất là bác ái và thấu hiểu) có thể hoạt động, [361] và sự dung hợp của hai điều này sẽ diễn ra. Đó là điều mà Đức Christ đã chứng minh và biểu lộ.
When the work of the Buddha (or of the embodied buddhic principle) is consummated in the aspiring disciple and in his integrated personality, then the full expression of the work of the Christ (the embodied principle of love) can also be consummated and both these potencies—light and love—will find radiant expression in the transfigured disciple. What is true, therefore, of the individual is true also of humanity as a whole, and today humanity (having reached maturity) can “enter into realisation” and consciously take part in the work of enlightenment and of spiritual, loving activity. The practical effects of this process will be the dissipation of glamour and the release of the human spirit from the thraldom of matter; it will produce, also, the dispelling of illusion and the recognition of truth as it exists in the consciousness of those who are polarised in the “awareness of the Christ.”
Khi công việc của Đức Phật (hay của nguyên khí Bồ đề nhập thể) được hoàn tất nơi người đệ tử chí nguyện và nơi phàm ngã tích hợp của y, thì sự biểu lộ trọn vẹn của công việc của Đức Christ (nguyên khí bác ái nhập thể) cũng có thể được hoàn tất, và cả hai mãnh lực này—ánh sáng và bác ái—sẽ tìm được sự biểu lộ rạng ngời nơi người đệ tử đã biến hình. Vì vậy, điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với toàn thể nhân loại, và ngày nay nhân loại (đã đạt đến trưởng thành) có thể “đi vào chứng nghiệm” và tham gia một cách có ý thức vào công việc giác ngộ và hoạt động tinh thần đầy bác ái. Những hiệu quả thực tiễn của tiến trình này sẽ là sự làm tiêu tan ảo cảm và giải phóng tinh thần con người khỏi ách nô lệ của vật chất; nó cũng sẽ tạo ra sự làm tiêu tan ảo tưởng và sự nhận biết chân lý như nó hiện hữu trong tâm thức của những người được phân cực trong “sự nhận biết về Đức Christ.”
This is necessarily no rapid process but is an ordered and regulated procedure, sure in its eventual success but relatively slow also in its establishment and sequential process. This process was initiated upon the astral plane by the Buddha, and on the mental plane when Christ manifested on Earth. It indicated the approaching maturity of humanity. The process has been slowly gathering momentum as these two great Beings have gathered around Them Their disciples and initiates during the past two thousand years. It has reached a point of intensive usefulness as the channel of communication between Shamballa and the Hierarchy has been opened and enlarged, and as the contact between these two great Centres and Humanity has been more firmly established.
Đây tất yếu không phải là một tiến trình nhanh chóng mà là một thủ tục có trật tự và được điều hòa, chắc chắn thành công cuối cùng nhưng cũng tương đối chậm trong việc thiết lập và tiến trình tuần tự của nó. Tiến trình này đã được Đức Phật khởi xướng trên cõi cảm dục, và trên cõi trí khi Đức Christ biểu hiện trên Trái Đất. Nó cho thấy sự trưởng thành đang đến gần của nhân loại. Tiến trình ấy đã chậm rãi tích lũy động lượng khi hai Đấng Vĩ Đại này quy tụ quanh Các Ngài các đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài trong suốt hai ngàn năm qua. Nó đã đạt đến một điểm hữu dụng mãnh liệt khi kênh giao tiếp giữa Shamballa và Thánh đoàn đã được mở ra và mở rộng, và khi sự tiếp xúc giữa hai Trung Tâm vĩ đại này với Nhân Loại đã được thiết lập vững chắc hơn.
At the June Full Moon, 1942, will come the first test as to the directness of the communication between the Centre where the Will of God holds sway, the Centre where the Love of God rules and the Centre where there is intelligent expectancy. The medium of the test will be the united effort of the Christ, of the Buddha and of those who respond to [362] Their blended influence. This test has to be carried out in the midst of the terrific onslaught of the powers of evil and will be extended over the two weeks beginning on the day of the Full Moon (May 30th, 1942) and ending on June 15th, 1942. There is a great concentration of the Spiritual Forces at this time and the use of a special Invocation (one which humanity itself may not use), but the success or failure of the test, in the last analysis, will be determined by mankind itself.
Vào Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942 sẽ đến phép thử đầu tiên về tính trực tiếp của sự giao tiếp giữa Trung Tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế ngự trị, Trung Tâm nơi Bác Ái của Thượng Đế cai quản và Trung Tâm nơi có sự mong đợi thông minh. Phương tiện của phép thử sẽ là nỗ lực hợp nhất của Đức Christ, của Đức Phật và của những người đáp ứng với [362] ảnh hưởng hòa trộn của Các Ngài. Phép thử này phải được tiến hành giữa cuộc tấn công khủng khiếp của các quyền lực ác và sẽ kéo dài trong hai tuần bắt đầu vào ngày Trăng Tròn (30 tháng Năm năm 1942) và kết thúc vào ngày 15 tháng Sáu năm 1942. Hiện nay có một sự tập trung lớn của các Mãnh Lực Tinh Thần và việc sử dụng một Khẩn Cầu đặc biệt (một Khẩn Cầu mà chính nhân loại không thể sử dụng), nhưng thành công hay thất bại của phép thử, xét đến cùng, sẽ do chính nhân loại quyết định.
You may feel, though wrongly, that not enough people know about or understand the nature of the opportunity or what is transpiring. But the success of such a test is not dependent upon the esoteric knowledge of the few, the relatively very few, to whom the facts and the information have been partially imparted. It is dependent also upon the tendency of the many who unconsciously aspire towards the spiritual realities, who seek for a new and better way of life for all, who desire the good of the whole and whose longing and desire is for a true experience of goodness, of right human relations and of spiritual enterprise among men. Their name is legion and they are to be found in every nation.
Các bạn có thể cảm thấy, dù sai lầm, rằng không đủ người biết hay hiểu bản chất của cơ hội này hoặc điều gì đang diễn ra. Nhưng thành công của một phép thử như thế không tùy thuộc vào tri thức huyền bí của số ít, số rất ít tương đối, là những người mà các sự kiện và thông tin đã được truyền đạt phần nào. Nó cũng tùy thuộc vào khuynh hướng của số đông là những người vô thức chí nguyện hướng đến các thực tại tinh thần, tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn cho mọi người, mong muốn điều thiện cho toàn thể và có khát vọng cùng ước muốn về một kinh nghiệm chân thật của thiện lành, của những tương quan nhân loại đúng đắn và của công cuộc tinh thần giữa loài người. Tên gọi của họ là vô số và họ hiện diện trong mọi quốc gia.
When the Will of God, expressed in Shamballa and focussed in the Buddha, the Love of God, expressed in the Hierarchy and focussed through the Christ, and the intelligent desire of humanity, focussed through the world disciples, the world aspirants and the men of goodwill are all brought into line—either consciously or unconsciously—then a great reorientation can and will take place. This event is something that can happen.
Khi Ý Chí của Thượng Đế, được biểu lộ trong Shamballa và được tập trung nơi Đức Phật, Bác Ái của Thượng Đế, được biểu lộ trong Thánh đoàn và được tập trung qua Đức Christ, và dục vọng thông minh của nhân loại, được tập trung qua các đệ tử thế gian, các người chí nguyện thế gian và những người thiện chí, tất cả được đưa vào một đường thẳng—dù có ý thức hay vô thức—thì một sự tái định hướng lớn lao có thể và sẽ diễn ra. Biến cố này là điều có thể xảy ra.
The first result will be the illumination of the astral plane and the beginning of the process which will dissipate glamour; the second result will be the irradiation of the mental plane and the dispelling of all past illusions and the gradual revelation of the new truths of which all past ideals and so-called formulations of truth have only been the sign-posts. Ponder on that statement. The sign-post indicates [363] the way to go; it does not reveal the goal. It is indicative but not conclusive. So with all truth up to the present time.
Kết quả đầu tiên sẽ là sự soi sáng cõi cảm dục và sự khởi đầu của tiến trình sẽ làm tiêu tan ảo cảm; kết quả thứ hai sẽ là sự chiếu rọi cõi trí và sự làm tiêu tan mọi ảo tưởng quá khứ cùng sự mặc khải dần dần của những chân lý mới mà mọi lý tưởng quá khứ và những công thức gọi là chân lý từ trước đến nay chỉ mới là những biển chỉ đường. Hãy suy ngẫm về phát biểu đó. Biển chỉ đường chỉ ra [363] con đường phải đi; nó không mặc khải mục tiêu. Nó có tính chỉ dẫn nhưng không có tính kết luận. Mọi chân lý cho đến hiện tại cũng như vậy.
The demand is, therefore, for knowers and for those whose minds and hearts are open; who are free from preconceived ideas fanatically held, and from ancient idealisms which must be recognised as only partial indications of great unrealised truths—truths which can be realised in great measure and for the first time if the lessons of the present world situation and the catastrophe of the war are duly learned and the sacrificial will is called into play.
Vì thế, điều được đòi hỏi là những thức giả và những người có trí óc và trái tim rộng mở; những người thoát khỏi các ý niệm định kiến được nắm giữ một cách cuồng tín, và khỏi những chủ nghĩa lý tưởng cổ xưa vốn phải được nhận ra chỉ là những chỉ dẫn từng phần về những chân lý lớn lao chưa được chứng nghiệm—những chân lý có thể được chứng nghiệm ở mức độ lớn và lần đầu tiên nếu những bài học của tình hình thế giới hiện nay và thảm họa chiến tranh được học một cách đúng đắn và ý chí hi sinh được vận dụng.
I have made this practical application and this immediate illustration of teaching anent glamour, illusion and maya because the whole world problem has reached a crisis today and because its clarification will be the outstanding theme of all progress—educational, religious and economic—until 2025 A.D.
Tôi đã đưa ra sự áp dụng thực tiễn này và minh họa tức thời này cho giáo huấn liên quan đến ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực bởi vì toàn bộ vấn đề thế giới ngày nay đã đạt đến một cuộc khủng hoảng và bởi vì sự minh xác của nó sẽ là chủ đề nổi bật của mọi tiến bộ—giáo dục, tôn giáo và kinh tế—cho đến năm 2025 sau Công nguyên.
Today, as humanity awaits the revelation which will embody the thoughts and dreams and constructive goal of the New Age, the demand comes for the first time from a large group of intuitively inclined people. I said not intuitives, my brothers. This group is now so large and its focus is now so real and its demand so loud that it is succeeding in focussing the massed intent of the people. Therefore, whatever revelation may emerge in the immediate future will be better “protected by the spirit of understanding” than any previous one. This is the significance of the words in the New Testament, “Every eye shall see him”; humanity as a whole will recognise the Revealing One. In past ages the Messenger from on High was only recognised by and known to a mere handful of men, and it took decades and sometimes centuries for His message to penetrate into the hearts of humanity.
Ngày nay, khi nhân loại chờ đợi sự mặc khải sẽ hiện thân các tư tưởng, giấc mơ và mục tiêu xây dựng của Kỷ Nguyên Mới, sự đòi hỏi lần đầu tiên đến từ một nhóm lớn những người có khuynh hướng trực giác. Tôi không nói là các nhà trực giác, Huynh đệ của Tôi. Nhóm này nay lớn đến mức và tiêu điểm của nó nay thực đến mức, và sự đòi hỏi của nó vang dội đến mức, nó đang thành công trong việc tập trung ý định hợp khối của con người. Vì vậy, bất kỳ sự mặc khải nào có thể xuất hiện trong tương lai gần sẽ được “tinh thần thấu hiểu” bảo vệ tốt hơn bất kỳ sự mặc khải nào trước đây. Đây là ý nghĩa của những lời trong Tân Ước, “Mọi mắt sẽ thấy Ngài”; toàn thể nhân loại sẽ nhận ra Đấng Mặc Khải. Trong các thời đại trước, Sứ Giả từ Cõi Cao chỉ được nhận ra và biết đến bởi một số rất ít người, và phải mất hàng chục năm, đôi khi hàng thế kỷ, thông điệp của Ngài mới thấm vào trái tim nhân loại.
The stress of the times also and the development of the sense of proportion, plus an enforced return to simplicity of living and requirements may save the coming revelation from too swift and quick a submergence in the fire of the Great Illusion. [364]
Sức ép của thời đại cũng như sự phát triển của ý thức về tỉ lệ, cộng với sự trở về giản dị trong đời sống và nhu cầu do hoàn cảnh ép buộc, có thể cứu sự mặc khải sắp đến khỏi bị nhấn chìm quá nhanh trong lửa của Đại Ảo Tưởng. [364]
~
~
THE INTERLUDE BETWEEN WAR AND PEACE—GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP GIỮA CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH
August 1942
Tháng Tám 1942
There is an insistent demand from the many thousands who in the past have read the pamphlets and articles which I have written, that I say something about the coming period of rehabilitation, and of what can be done (whilst the war is still in progress) to prepare for usefulness at that time. When the war broke out, I published an article entitled The Present World Crisis, and in it tried to trace the origins of the conflict and the factors which made this catastrophe possible. Later, another article appeared, called The Coming World Order, which sought to hold out to a suffering world a vision of a material and spiritual future which the hearts of men have long demanded. Thus an attempt was made to deal with both the past and the future.
Có một sự đòi hỏi mạnh mẽ từ nhiều ngàn người trước đây đã đọc các tập sách nhỏ và các bài viết mà tôi đã viết, yêu cầu tôi nói điều gì đó về giai đoạn phục hồi sắp đến, và về điều gì có thể được thực hiện (trong khi chiến tranh vẫn còn tiếp diễn) để chuẩn bị cho sự hữu dụng vào thời điểm ấy. Khi chiến tranh bùng nổ, tôi đã xuất bản một bài viết nhan đề Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới Hiện Nay, và trong đó đã cố gắng truy nguyên nguồn gốc của cuộc xung đột và những yếu tố khiến thảm họa này trở nên khả hữu. Sau đó, một bài viết khác xuất hiện, mang tên Trật Tự Thế Giới Sắp Đến, nhằm đưa ra cho một thế giới đau khổ một linh ảnh về một tương lai vật chất và tinh thần mà trái tim con người từ lâu đã đòi hỏi. Như thế, đã có một nỗ lực nhằm bàn đến cả quá khứ lẫn tương lai.
More at that time was not possible, owing to the disunity existing among those nations which today form the United Nations. There was also a lack of understanding and a selfish perspective among those nations at that time neutral. Above everything else was the fact that the issues involved had to be settled by humanity itself and it was not then possible to foretell with any accuracy what humanity would do. Even the most enlightened of men and the spiritual leaders of the race could not judge what line mankind would take or whether there were enough clear-sighted people in the world who could and would sweep the mass of men into effective opposition to the Axis Powers. The question was: Would world fear and universal selfishness dominate, or would the spirit of freedom and the love of liberty be strong enough to weld the free nations into one united and steadfast whole?
Vào thời điểm đó không thể làm hơn được, do tình trạng bất đồng tồn tại giữa các quốc gia ngày nay hợp thành Liên Hiệp Quốc. Cũng có sự thiếu thấu hiểu và một quan điểm ích kỷ nơi những quốc gia khi ấy còn trung lập. Trên hết là sự kiện rằng các vấn đề liên quan phải được chính nhân loại giải quyết và khi ấy không thể tiên đoán với độ chính xác nào nhân loại sẽ làm gì. Ngay cả những người sáng suốt nhất và các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại cũng không thể phán đoán loài người sẽ đi theo đường lối nào hay liệu có đủ những người sáng suốt trên thế giới có thể và sẽ cuốn khối quần chúng vào sự chống đối hữu hiệu đối với các Cường Quốc Trục hay không. Câu hỏi là: Liệu nỗi sợ hãi thế giới và sự ích kỷ phổ quát có chi phối không, hay tinh thần tự do và tình yêu tự do có đủ mạnh để hàn gắn các quốc gia tự do thành một toàn thể hợp nhất và kiên định không?
Today the issue is clear and the end inevitable. The free nations and the defeated and enslaved little nations are subjectively and practically unified into one intense spiritual determination to win the war; the fate of the Axis Nations is therefore unalterably settled, even though, at this time of writing, they seem to be victorious all along [365] the line. It is only the time of the final victory of right against might which remains as yet the factor of uncertainty, and this is owing to the enormous prepared strength of the aggressor nations and the unpreparedness of the democracies. This unpreparedness is being rapidly remedied.
Ngày nay vấn đề đã rõ ràng và kết cục là điều không thể tránh. Các quốc gia tự do và các quốc gia nhỏ bé đã bị đánh bại và nô dịch đang được hợp nhất một cách chủ quan và thực tiễn thành một quyết tâm tinh thần mãnh liệt duy nhất để chiến thắng cuộc chiến; vì vậy số phận của các Quốc Gia Trục đã được định đoạt không thể thay đổi, mặc dù vào lúc viết điều này, dường như họ đang chiến thắng trên khắp [365] mặt trận. Chỉ còn thời điểm của chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa trước cường quyền là vẫn còn là yếu tố bất định, và điều này là do sức mạnh chuẩn bị to lớn của các quốc gia xâm lược và sự không chuẩn bị của các nền dân chủ. Sự không chuẩn bị này đang nhanh chóng được khắc phục.
This article is an attempt to indicate the problems, and perhaps some of the solutions, which must inevitably fill the interlude between the ending of the war and the coming world order. It will be necessary to deal with this subject in a broad and general way, for the subject is too vast for us to be intelligently specific. We can, however, consider the immediate work to be done in preparation for the cessation of war and indicate the first steps which can and should be taken to initiate sound reconstruction processes. The period of rehabilitation and of reconstruction should be the deep concern today of all who love their fellowmen.
Bài viết này là một nỗ lực nhằm chỉ ra những vấn đề, và có lẽ cả một số giải pháp, vốn tất yếu sẽ lấp đầy khoảng chuyển tiếp giữa lúc chiến tranh chấm dứt và trật tự thế giới đang đến. Cần phải bàn đến đề tài này theo cách rộng và tổng quát, vì đề tài này quá bao la để chúng ta có thể đi vào chi tiết một cách thông minh. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét công việc trước mắt cần làm để chuẩn bị cho sự chấm dứt chiến tranh và chỉ ra những bước đầu tiên có thể và nên được thực hiện để khởi sự các tiến trình tái thiết lành mạnh. Giai đoạn phục hồi và tái thiết ngày nay phải là mối quan tâm sâu xa của tất cả những ai yêu thương đồng loại của mình.
There are those who will consider the study of the coming reconstruction period as premature. They believe (and rightly) that our first immediate concern is to win the war, and with this I am fully in agreement. The will-to-victory is the first and basic essential, for there will be no true reconstruction activity if the Axis nations triumph. But there are many today whose task is not that of fighting and whose place and function is perforce in the civilian aspects of the life of the nations. These can think, and talk, and work in preparation for the future. There are others who feel that only the trained expert in the fields of economic and political readjustment can approach this difficult problem with any hope of making a useful contribution. Still others feel that peace is the only thing that matters and that it should be followed by a long period of mental quiet in every country; they believe that people everywhere are too exhausted and unhappy to be ready as yet to undertake any work of rebuilding. Others again are so completely pessimistic that they despair of ever reclaiming the world, and they look sadly for a breakdown of all the civilised processes of living. There is some truth in all these points of view. The work of the experts will be sorely needed, but [366] the understanding interest and the sustaining power of those whose hearts are aflame with love can alone make their work possible. It will not be the institutionalised activities and the financial enterprise of economic and social workers and government agents which will alone be needed, but above all else, the solution must be found in the uprising of goodwill in the hearts of men. This will provide the right compassionate incentive. Most certainly the world could be rehabilitated for purely commercial and selfish reasons, and because trade interchange, buying and selling capacity and the restoration of financial stability are important factors in world restoration. But these are not the basic motives which would restore humanity to self-respecting and secure living. They will provide the motive power for many men and groups, but not the motive which can produce true constructive rebuilding of the fabric of human life.
Có những người sẽ cho rằng việc nghiên cứu giai đoạn tái thiết sắp đến là quá sớm. Họ tin rằng (và đúng như vậy) mối quan tâm trực tiếp đầu tiên của chúng ta là chiến thắng cuộc chiến, và về điều này tôi hoàn toàn đồng ý. Ý Chí-chiến thắng là điều thiết yếu đầu tiên và căn bản, vì sẽ không có hoạt động tái thiết chân chính nào nếu các quốc gia Trục chiến thắng. Nhưng ngày nay có nhiều người mà nhiệm vụ của họ không phải là chiến đấu và vị trí cùng chức năng của họ, do hoàn cảnh bắt buộc, nằm trong các phương diện dân sự của đời sống các quốc gia. Những người này có thể suy nghĩ, nói chuyện và làm việc để chuẩn bị cho tương lai. Có những người khác cảm thấy rằng chỉ những chuyên gia được đào luyện trong các lĩnh vực điều chỉnh kinh tế và chính trị mới có thể tiếp cận vấn đề khó khăn này với chút hy vọng đóng góp hữu ích. Lại có những người khác cảm thấy rằng hòa bình là điều duy nhất quan trọng và sau đó nên là một thời kỳ dài yên tĩnh về trí tuệ trong mọi quốc gia; họ tin rằng con người ở khắp nơi quá kiệt quệ và bất hạnh nên chưa sẵn sàng đảm nhận bất kỳ công việc tái thiết nào. Những người khác nữa thì bi quan hoàn toàn đến mức tuyệt vọng về khả năng phục hồi thế giới, và buồn bã chờ đợi sự sụp đổ của mọi tiến trình sống văn minh. Trong tất cả các quan điểm này đều có phần nào sự thật. Công việc của các chuyên gia sẽ rất cần thiết, nhưng [366] chỉ có sự quan tâm thấu hiểu và năng lực nâng đỡ của những người có trái tim rực cháy tình thương mới có thể làm cho công việc của họ trở nên khả thi. Điều cần thiết không chỉ là các hoạt động mang tính thể chế và nỗ lực tài chính của những người hoạt động kinh tế, xã hội và các viên chức chính quyền, mà trên hết, giải pháp phải được tìm thấy trong sự trỗi dậy của thiện chí trong lòng người. Điều này sẽ cung cấp động lực đầy từ bi đúng đắn. Chắc chắn thế giới có thể được phục hồi vì những lý do thuần túy thương mại và ích kỷ, và bởi vì trao đổi thương mại, năng lực mua bán và việc khôi phục ổn định tài chính là những yếu tố quan trọng trong việc phục hồi thế giới. Nhưng đó không phải là những động cơ căn bản có thể đưa nhân loại trở lại một đời sống tự trọng và an toàn. Chúng sẽ cung cấp động lực cho nhiều người và nhiều nhóm, nhưng không phải là động cơ có thể tạo ra sự tái thiết thực sự có tính xây dựng cho kết cấu của đời sống nhân loại.
The work of reconstruction will be the work of the intelligent men and women of goodwill, and theirs will be the task to restore new life and happiness to humanity, and it is for them I write. Please bear this in mind. I am not writing for technical experts and trained advisors to the government, but to those who have goodwill in their hearts to all men, and who, because of it, want to do their share in bringing tranquillity and peace to the world—a peace based on surer values than in the past and upon sounder planning. In the last analysis, it is not peace for which the men of goodwill are working, but for the growth of the spirit of understanding and cooperation; this alone will be strong enough to break down racial barriers, heal the wounds of war, and build a new world structure adequate to the intelligent demands of the masses.
Công việc tái thiết sẽ là công việc của những người nam và nữ thông minh có thiện chí, và nhiệm vụ của họ sẽ là khôi phục sự sống mới và hạnh phúc cho nhân loại, và chính cho họ mà tôi viết. Xin hãy ghi nhớ điều này. Tôi không viết cho các chuyên gia kỹ thuật và các cố vấn được đào luyện cho chính phủ, mà cho những người có thiện chí trong lòng đối với mọi người, và vì thế muốn góp phần của mình vào việc đem lại sự an bình và hòa bình cho thế giới—một nền hòa bình dựa trên những giá trị vững chắc hơn trước kia và trên sự hoạch định lành mạnh hơn. Xét cho cùng, điều mà những người có thiện chí đang làm việc không phải là hòa bình, mà là sự tăng trưởng của tinh thần thấu hiểu và hợp tác; chỉ điều này mới đủ mạnh để phá bỏ các rào cản chủng tộc, chữa lành các vết thương chiến tranh, và xây dựng một cấu trúc thế giới mới thích hợp với những đòi hỏi thông minh của quần chúng.
In the earlier pamphlets, I sought (along with many other thinking people) to indicate the steps which might be taken to avert the impending cataclysm. Among the most important upon which emphasis was laid was the growth of world goodwill, for goodwill is the active principle of peace. I sought also to stress international understanding, a future of shared planetary resources, and a recognition of [367] a general historically-proved guilt in relation to the war, plus those ideas which could—if developed—end the era of separativeness.
Trong các tập sách nhỏ trước đây, tôi đã tìm cách (cùng với nhiều người biết suy nghĩ khác) chỉ ra những bước có thể được thực hiện để ngăn chặn đại biến cố đang đe dọa. Trong số những điều quan trọng nhất đã được nhấn mạnh có sự tăng trưởng của thiện chí thế giới, vì thiện chí là nguyên lý hoạt động của hòa bình. Tôi cũng tìm cách nhấn mạnh sự thấu hiểu quốc tế, một tương lai trong đó các tài nguyên hành tinh được chia sẻ, và sự nhìn nhận [367] một trách nhiệm chung đã được lịch sử chứng minh liên quan đến chiến tranh, cộng với những ý tưởng mà—nếu được phát triển—có thể chấm dứt kỷ nguyên của tính chia rẽ.
In spite of all the efforts of the men of goodwill, of all the peace organisations, and the enlightened work of the world thinkers, educators and leaders, two things happened which it had been hoped might be averted. The first was a definite and focussed precipitation of the spirit of evil and of materialism through the medium of the Axis nations, using the aggression of Japan as the initial focal point and expressing itself later in full force through Germany. The second was the failure of the neutral nations, in the early stages of the war, to take the needed steps to ally themselves actively with the nations fighting totalitarianism, and their inability to realise the full horror of what lay ahead for mankind. The selfishness of humanity was even more deep-seated than was grasped, and the United Nations came into cooperative activity only after two years of war and the planned rape of many of the neutral nations. The blindness of the neutral nations definitely upset the calculations of far-sighted workers for world good and seriously delayed the ending of the war.
Bất chấp mọi nỗ lực của những người có thiện chí, của mọi tổ chức hòa bình, và công việc sáng suốt của các nhà tư tưởng, nhà giáo dục và nhà lãnh đạo thế giới, đã xảy ra hai điều mà người ta hy vọng có thể tránh được. Điều thứ nhất là sự ngưng tụ rõ rệt và tập trung của tinh thần ác và của chủ nghĩa duy vật thông qua các quốc gia Trục, dùng sự xâm lược của Nhật Bản làm tiêu điểm ban đầu và về sau biểu lộ toàn lực qua nước Đức. Điều thứ hai là sự thất bại của các quốc gia trung lập trong những giai đoạn đầu của chiến tranh, khi họ không thực hiện những bước cần thiết để chủ động liên minh với các quốc gia đang chiến đấu chống chủ nghĩa toàn trị, và sự bất lực của họ trong việc nhận ra trọn vẹn nỗi kinh hoàng đang chờ đợi nhân loại phía trước. Tính ích kỷ của nhân loại còn ăn sâu hơn người ta tưởng, và Liên Hiệp Quốc chỉ đi vào hoạt động hợp tác sau hai năm chiến tranh và sau cuộc cưỡng đoạt có kế hoạch đối với nhiều quốc gia trung lập. Sự mù quáng của các quốc gia trung lập rõ ràng đã làm đảo lộn những tính toán của các người hoạt động có tầm nhìn xa vì thiện ích thế giới và làm chậm nghiêm trọng việc chấm dứt chiến tranh.
The critical point is now passed, and the humanitarian grasp of the issues involved, and the unity existing among the Allied Nations, guarantee the inevitable defeat of the Axis Powers. Other factors also ensure the ultimate victory of the forces of right and the freedom of the world. There is not time to enlarge upon them, but they can be listed and people can then see how assuredly they guarantee the triumph of the free peoples of the world. These factors are:
Hiện nay điểm khủng hoảng đã qua, và sự nắm bắt mang tính nhân đạo đối với những vấn đề liên hệ, cùng với sự hợp nhất hiện có giữa các Quốc gia Đồng Minh, bảo đảm cho sự thất bại tất yếu của các Cường quốc Trục. Những yếu tố khác cũng bảo đảm chiến thắng cuối cùng của các mãnh lực chính nghĩa và tự do của thế giới. Không có thời gian để nói rộng về chúng, nhưng có thể liệt kê ra để mọi người thấy chúng bảo đảm chắc chắn đến mức nào cho chiến thắng của các dân tộc tự do trên thế giới. Những yếu tố ấy là:
1. The will-to-victory is steadily growing. Appeasement, pacifism and uncertainty are as steadily dying out.
1. Ý Chí-chiến thắng đang tăng trưởng đều đặn. Chính sách nhân nhượng, chủ nghĩa hòa bình và sự bất định cũng đang đều đặn tàn lụi.
2. The plight of humanity everywhere, as the result of Axis aggression, is definitely steadying public opinion and evoking an unalterable determination to end the evil initiated and carried forward by Germany and Japan, aided somewhat unwillingly by Italy. [368]
2. Tình cảnh khốn cùng của nhân loại ở khắp nơi, do kết quả của sự xâm lược của phe Trục, rõ ràng đang làm ổn định dư luận quần chúng và gợi lên một quyết tâm không thể thay đổi nhằm chấm dứt điều ác do Đức và Nhật khởi xướng rồi tiếp tục đẩy mạnh, với sự trợ giúp phần nào miễn cưỡng của Ý. [368]
3. The resources of the United Nations are vast and are now in process of mobilisation. Their massed use and their manufacturing potential are practically inexhaustible and are rapidly being organised. The man power and the resources of Germany and of her allies have reached their peak, bringing enormous present potency, but a steady decline is indicated for the future.
3. Tài nguyên của Liên Hiệp Quốc rất to lớn và hiện đang trong tiến trình huy động. Việc sử dụng tập trung các tài nguyên ấy và tiềm năng sản xuất của họ hầu như vô tận và đang nhanh chóng được tổ chức. Nhân lực và tài nguyên của Đức cùng các đồng minh của nước này đã đạt đến đỉnh điểm, mang lại sức mạnh hiện tại rất lớn, nhưng một sự suy giảm đều đặn trong tương lai đã được chỉ ra.
4. The issues in this war are being increasingly clearly realised; even the ignorant and the prejudiced recognise today that these issues can be grouped under three major positions, and this enables them to make a personal choice as to loyalties.
4. Những vấn đề cốt lõi trong cuộc chiến này đang ngày càng được nhận ra rõ ràng; ngay cả những người thiếu hiểu biết và đầy thành kiến ngày nay cũng nhận ra rằng những vấn đề ấy có thể được gom lại dưới ba lập trường chính, và điều này giúp họ có thể đưa ra lựa chọn cá nhân về lòng trung thành.
a. The democratic position, with its emphasis upon the Four Freedoms and the Atlantic Charter, ensuring right human relations and the ending of aggression.
a. Lập trường dân chủ, với sự nhấn mạnh vào Bốn Quyền Tự Do và Hiến Chương Đại Tây Dương, bảo đảm các tương quan nhân loại đúng đắn và chấm dứt xâm lược.
b. The totalitarian position, with its emphasis upon world dictatorship, the slavery of the many conquered nations, its anti-racial bias and its blatant cruelty and terrorism.
b. Lập trường toàn trị, với sự nhấn mạnh vào nền độc tài thế giới, sự nô dịch của nhiều quốc gia bị chinh phục, thiên kiến chống chủng tộc của nó và sự tàn bạo cùng khủng bố trắng trợn của nó.
c. The appeasement and the pacifist attitudes—idealistic and impractical and finding their focus today in the attitude of Gandhi. He brings into clear perspective the uncompromising, fanatical attitude which is non-realistic and which will willingly sacrifice lives, nations and the future of humanity in order to attain its object. If Gandhi were to succeed in his objective now, it would precipitate civil war in India, sacrifice all immediate hope of freedom for that country, permit the Japanese to realise an easy conquest of India, bring about a slaughtering of countless thousands, and permit Germany to join hands with Japan across Asia, with the appalling probability of a totalitarian victory.
c. Các thái độ nhân nhượng và chủ hòa—duy tâm và thiếu thực tế, hiện nay tìm thấy tiêu điểm trong thái độ của Gandhi. Ông đưa vào viễn cảnh rõ ràng thái độ không khoan nhượng, cuồng tín, phi thực tế, sẵn sàng hy sinh sinh mạng, các quốc gia và tương lai của nhân loại để đạt mục tiêu của mình. Nếu Gandhi thành công trong mục tiêu của ông ngay lúc này, điều đó sẽ làm ngưng tụ nội chiến ở Ấn Độ, hy sinh mọi hy vọng tự do trước mắt cho đất nước ấy, cho phép Nhật Bản dễ dàng chinh phục Ấn Độ, gây ra cuộc tàn sát vô số hàng ngàn người, và cho phép Đức bắt tay với Nhật xuyên qua châu Á, với xác suất kinh hoàng là một chiến thắng toàn trị.
These three points of view are today being clearly realised by men everywhere, and their decisions as to loyalties and adherences are clarified.
Ba quan điểm này ngày nay đang được con người ở khắp nơi nhận ra rõ ràng, và các quyết định của họ về lòng trung thành và sự gắn bó đang được làm sáng tỏ.
5. The spirit of freedom is triumphing in every land (even in the conquered countries, much to the bewilderment of [369] Germany), and the beauty of the human spirit is emerging everywhere, both in the conquered lands and in the nations fighting, with their backs to the wall, for human liberty.
5. Tinh thần tự do đang chiến thắng ở mọi miền đất (ngay cả tại các nước bị chinh phục, khiến [369] Đức hết sức bối rối), và vẻ đẹp của tinh thần nhân loại đang xuất hiện ở khắp nơi, cả trong các vùng đất bị chinh phục lẫn trong các quốc gia đang chiến đấu, lưng dựa vào tường, vì tự do của con người.
6. An intense interest in after-war conditions is evidenced by the utterances of leaders, politicians, lecturers and the spiritually minded men everywhere; this is testified to by the articles, pamphlets, books, speeches and plans dealing with the new world order. The forces of rehabilitation and of goodwill are rapidly mobilising; they constitute a great army within all nations, and they are an invisible army, but one which is as yet inchoate, uncertain as to method and process, though clear as to goals and principles.
6. Một mối quan tâm mãnh liệt đối với các điều kiện sau chiến tranh được chứng tỏ qua những phát biểu của các nhà lãnh đạo, chính khách, diễn giả và những người có khuynh hướng tinh thần ở khắp nơi; điều này được xác nhận qua các bài báo, tập sách nhỏ, sách, diễn văn và kế hoạch bàn về trật tự thế giới mới. Các mãnh lực phục hồi và thiện chí đang nhanh chóng được huy động; chúng tạo thành một đạo quân lớn trong mọi quốc gia, và đó là một đạo quân vô hình, nhưng cho đến nay vẫn còn chưa thành hình, chưa chắc chắn về phương pháp và tiến trình, dù rõ ràng về mục tiêu và nguyên tắc.
The above six factors ensure the defeat of the Forces of Evil and the triumph of the Forces of Light, and with these as the basis of optimism we can look ahead with sure hope to the ending of the war, to the demobilisation of the armies, to the tranquil passage of the seven seas and to the time when fear begins to die out.
Sáu yếu tố trên bảo đảm sự thất bại của các Mãnh Lực của Điều Ác và chiến thắng của các Mãnh Lực của Ánh Sáng, và với những điều này làm nền tảng cho sự lạc quan, chúng ta có thể nhìn về phía trước với niềm hy vọng chắc chắn vào sự chấm dứt chiến tranh, vào việc giải ngũ các đạo quân, vào sự qua lại yên bình trên bảy biển và vào thời điểm khi nỗi sợ bắt đầu tàn lụi.
What then will be the dangers to be offset? For what must we be prepared when the task of reconstruction confronts us? It might be useful to enumerate some of the dangers for which we must be prepared. Let us consider them in the order of their importance:
Vậy thì những nguy hiểm nào cần được hóa giải? Chúng ta phải chuẩn bị cho điều gì khi nhiệm vụ tái thiết đối diện với chúng ta? Có lẽ sẽ hữu ích nếu liệt kê một số nguy hiểm mà chúng ta phải chuẩn bị đối mặt. Hãy xem xét chúng theo thứ tự quan trọng:
1. The danger of too prompt a peace settlement. Let us work hard for a prolonged armistice, during which the heat of battle and the fires of revenge can have time to die down, the agony of mankind can be assuaged, and time be gained for calm, unhurried planning.
1. Nguy cơ của một sự dàn xếp hòa bình quá vội vàng. Hãy nỗ lực hết sức cho một cuộc đình chiến kéo dài, trong đó sức nóng của trận chiến và ngọn lửa báo thù có thời gian lắng xuống, nỗi thống khổ của nhân loại có thể được xoa dịu, và có thêm thời gian cho việc hoạch định bình tĩnh, không vội vã.
2. The danger of a return to so-called normality. The outstanding disaster which faces humanity at this time is a return to the state of affairs prior to the outbreak of war, and the rehabilitation of the old familiar world, with its imperialism (whether of empire or finance), its nationalisms and its distressed, exploited minorities, its vile distinctions and separative barriers between rich and poor, between [370] the oriental and the occidental, and between the castes and classes which are found in every land—without any exception.
2. Nguy cơ quay trở lại cái gọi là trạng thái bình thường. Tai họa nổi bật đang đối diện nhân loại vào lúc này là sự quay trở lại tình trạng trước khi chiến tranh bùng nổ, và sự phục hồi của thế giới cũ quen thuộc, với chủ nghĩa đế quốc của nó (dù là đế quốc lãnh thổ hay tài chính), các chủ nghĩa dân tộc của nó và những nhóm thiểu số đau khổ, bị bóc lột, những phân biệt đê tiện và những rào cản chia rẽ giữa giàu và nghèo, giữa [370] phương Đông và phương Tây, và giữa các đẳng cấp cùng giai cấp hiện diện ở mọi miền đất—không một ngoại lệ.
3. The dangers incident to the necessary adjustments between the nations. Any adjustment made upon the basis of historical tradition or ancient boundaries will only serve to plunge the world again into war. These adjustments must be carried out on the basis of humanity itself; the will of free peoples must be the determining factor and not the will of technical, political experts, or of some ruling class or group. In the world which is coming, the human equation will take a predominant position; human beings will determine, as far as in them lies, their own destiny and men will exercise their free will in establishing the kind of world in which they choose to live. They will decide in which country they prefer to claim citizenship and the type of government to which they choose to give allegiance. This will necessarily all take time and must be an unhurried process. It will call for a planned education of the masses in every country; and the principles of freedom, and the distinction between freedom and license, will have to be carefully taught. A new world based upon the restoration of territorial limits, historically determined, will fail to end strife, aggression and fear. A new world based on human values and right human relations can institute (slowly to be sure, but inevitably) that new civilisation which men of goodwill demand for humanity as a whole.
3. Những nguy hiểm phát sinh từ các điều chỉnh cần thiết giữa các quốc gia. Bất kỳ sự điều chỉnh nào được thực hiện trên cơ sở truyền thống lịch sử hay các biên giới cổ xưa sẽ chỉ khiến thế giới lại rơi vào chiến tranh. Những điều chỉnh này phải được tiến hành trên cơ sở chính nhân loại; ý chí của các dân tộc tự do phải là yếu tố quyết định chứ không phải ý chí của các chuyên gia kỹ thuật, chính trị, hay của một giai cấp hoặc nhóm cầm quyền nào đó. Trong thế giới đang đến, phương trình nhân loại sẽ giữ vị trí nổi trội; con người sẽ quyết định, trong mức có thể, vận mệnh của chính mình và sẽ thực thi ý chí tự do của mình trong việc thiết lập loại thế giới mà họ chọn để sống. Họ sẽ quyết định họ thích nhận quyền công dân ở quốc gia nào và loại chính quyền nào mà họ chọn để trung thành. Điều này tất yếu sẽ cần thời gian và phải là một tiến trình không vội vã. Nó sẽ đòi hỏi một nền giáo dục có kế hoạch cho quần chúng ở mọi quốc gia; và các nguyên tắc của tự do, cùng sự phân biệt giữa tự do và phóng túng, sẽ phải được giảng dạy cẩn trọng. Một thế giới mới dựa trên việc khôi phục các giới hạn lãnh thổ do lịch sử quyết định sẽ không chấm dứt được xung đột, xâm lược và sợ hãi. Một thế giới mới dựa trên các giá trị nhân bản và các tương quan nhân loại đúng đắn có thể thiết lập (chắc chắn là chậm, nhưng tất yếu) nền văn minh mới mà những người có thiện chí đòi hỏi cho toàn thể nhân loại.
4. The dangers growing out of hate, revenge and pain. These dangers will be the most difficult to avoid. A deep-seated hatred of the Nazi regime (and of the German nation as endorsing that regime) is steadily rising. This is almost inevitable, being based on the facts of Nazi activity. The task of the United Nations after the war will of necessity be—among other things—to protect the German people from the hate of those whom they have so appallingly abused. This will be no easy thing to do. Retribution and revenge must not be permitted, and yet at the same time a just payment for evil action cannot, and should not, be [371] avoided. The law ever works, and that law states that whatsoever a man or nation sows, that shall it also reap. Germany has sown evil broadcast throughout the civilised world, and for some time to come her lot must be hard and she will have to pay in sweat and toil and tears for her evil deeds. But this payment should be part of the great work of rehabilitation and not a vengeful exaction, and if this is borne in mind, no serious mistakes will be made. The German people must work strenuously to put right the evil they have done, as far as in them lies, but the next generation—at present in the cradle or at school—must not be penalised. The little children and the babies of the German race—innocent of the wrong actions of their fathers and brothers—should not be implicated in the penalties exacted. The young men of today in Germany must, by the labour of their hands and the sweat of their brows, rebuild that which they have so ruthlessly destroyed, but the unoffending, though weak, elderly people, the little children and the adolescent boys and girls must be exempt and must be trained to be citizens of a better and a finer Germany than has ever yet existed—a Germany that is a constructive part of the whole and not a menace and a terror to all right-thinking men. The arousing of the men of goodwill in every nation—men who see humanity as a whole and all men as brothers—is the only way in which this rising tide of hate can be stemmed. It will not be stemmed by telling those who have suffered at the hands of the Axis nations that they must not hate, or by exhorting people who have been the victims of traitors that they must not bear ill-will to such men as Quisling and Laval. It will be offset by a great demonstration of practical love and understanding on the part of the United Nations—a love which will work out in the form of food for the hungry, nursing for the sick, the rebuilding of the ruined cities, and the restoration of the “scorched earth.” The problems of hate and revenge will require the utmost skill in handling and will necessitate exceedingly wise action on the part of the free nations. [372]
4. Những nguy hiểm phát sinh từ hận thù, báo thù và đau khổ. Những nguy hiểm này sẽ là những điều khó tránh nhất. Một sự căm ghét ăn sâu đối với chế độ Quốc Xã (và đối với dân tộc Đức vì đã tán thành chế độ ấy) đang đều đặn dâng lên. Điều này gần như không thể tránh khỏi, vì nó dựa trên các sự kiện về hoạt động của Quốc Xã. Nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc sau chiến tranh tất yếu sẽ là—trong nhiều điều khác—bảo vệ dân Đức khỏi lòng căm ghét của những người đã bị họ ngược đãi một cách kinh hoàng. Đây sẽ không phải là điều dễ làm. Không được cho phép sự trừng phạt và báo thù, nhưng đồng thời một sự đền trả công bằng cho hành động ác không thể, và không nên, bị [371] tránh né. Định luật luôn vận hành, và định luật ấy nói rằng bất cứ điều gì một người hay một quốc gia gieo, thì chính điều ấy họ cũng sẽ gặt. Đức đã gieo rắc điều ác khắp thế giới văn minh, và trong một thời gian tới số phận của nước này phải khắc nghiệt và họ sẽ phải trả giá bằng mồ hôi, lao nhọc và nước mắt cho các hành vi ác của mình. Nhưng sự đền trả này phải là một phần của công cuộc phục hồi lớn lao chứ không phải là một sự đòi nợ báo thù, và nếu điều này được ghi nhớ thì sẽ không có những sai lầm nghiêm trọng. Dân Đức phải nỗ lực mạnh mẽ để sửa chữa điều ác mà họ đã gây ra, trong mức có thể, nhưng thế hệ kế tiếp—hiện đang nằm nôi hoặc ở trường—không được bị trừng phạt. Những trẻ nhỏ và các em bé của nhân loại Đức—vô tội đối với những hành động sai trái của cha anh chúng—không nên bị liên lụy vào những hình phạt bị áp đặt. Những thanh niên Đức ngày nay phải, bằng lao động của đôi tay và mồ hôi trên trán, xây dựng lại điều mà họ đã tàn nhẫn phá hủy, nhưng những người già vô tội dù yếu đuối, những trẻ nhỏ và các thiếu niên nam nữ phải được miễn trừ và phải được đào luyện để trở thành công dân của một nước Đức tốt đẹp và cao quý hơn bất kỳ nước Đức nào từng tồn tại—một nước Đức là phần xây dựng của toàn thể chứ không phải là mối đe dọa và kinh hoàng đối với mọi người biết suy nghĩ đúng đắn. Việc đánh thức những người có thiện chí trong mọi quốc gia—những người nhìn nhân loại như một toàn thể và mọi người như huynh đệ—là con đường duy nhất để ngăn chặn làn sóng hận thù đang dâng lên này. Nó sẽ không bị ngăn chặn bằng cách bảo những người đã chịu đau khổ dưới tay các quốc gia Trục rằng họ không được căm ghét, hay bằng cách khuyên nhủ những người là nạn nhân của kẻ phản bội rằng họ không được mang ác cảm với những người như Quisling và Laval. Nó sẽ được hóa giải bằng một sự biểu lộ lớn lao của tình thương thực tiễn và sự thấu hiểu từ phía Liên Hiệp Quốc—một tình thương sẽ được thể hiện dưới hình thức lương thực cho người đói, chăm sóc cho người bệnh, tái thiết các thành phố đổ nát, và phục hồi “vùng đất cháy.” Các vấn đề về hận thù và báo thù sẽ đòi hỏi kỹ năng xử lý cao nhất và sẽ cần đến hành động cực kỳ minh triết từ phía các quốc gia tự do. [372]
5. The danger to humanity of the effects of war upon the children and the adolescents of the nations. The children of today are the parents of the coming generations, and they have been through a shattering psychological experience. They can scarcely ever be truly normal again. They have seen the very depths of cruelty, wickedness, pain, horror, terror and uncertainty. They have been bombed, shell-shocked and machine-gunned. They have known no security and look forward today to no sure future. Millions have known no parental control; they have been separated by war from their families and frequently do not even know their own names. Even when the family unit has been preserved intact, their fathers are usually engaged in war work, either at home or abroad, and their mothers are working in factories or on the land; the children have therefore no home life or control. Malnutrition has weakened their stamina and rampant evil has undermined their morale and their standards of value. From the humanitarian and spiritual standpoint, the vital problem after the war will be the restoration of the children of the world to happiness, security, proper standards of life and conduct and some measure of understanding control. This is essentially a problem of education. Educators and psychologists of vision in every country must be mobilised and the “pattern of things to come” for the children must be intelligently determined. This will have to be done on an international scale and with the wisdom which comes from a grasp of immediate need and a far-sighted vision.
5. Nguy cơ đối với nhân loại do những ảnh hưởng của chiến tranh lên trẻ em và thanh thiếu niên của các quốc gia. Trẻ em ngày nay là cha mẹ của các thế hệ sắp đến, và chúng đã trải qua một kinh nghiệm tâm lý tàn phá. Chúng hầu như không bao giờ có thể thực sự bình thường trở lại. Chúng đã nhìn thấy tận đáy của sự tàn ác, độc ác, đau đớn, kinh hoàng, khủng bố và bất định. Chúng đã bị ném bom, bị chấn động vì pháo kích và bị súng máy bắn. Chúng không hề biết đến an toàn và ngày nay cũng không trông thấy một tương lai chắc chắn nào. Hàng triệu em không hề có sự kiểm soát của cha mẹ; chúng bị chiến tranh chia cắt khỏi gia đình và thường thậm chí không biết cả tên mình. Ngay cả khi đơn vị gia đình vẫn còn nguyên vẹn, cha của chúng thường tham gia công việc chiến tranh, hoặc trong nước hoặc ở nước ngoài, và mẹ của chúng làm việc trong nhà máy hoặc ngoài đồng; vì vậy trẻ em không có đời sống gia đình hay sự kiểm soát. Suy dinh dưỡng đã làm suy yếu sức chịu đựng của chúng và điều ác lan tràn đã phá hoại tinh thần cùng các tiêu chuẩn giá trị của chúng. Từ quan điểm nhân đạo và tinh thần, vấn đề sống còn sau chiến tranh sẽ là khôi phục cho trẻ em thế giới niềm hạnh phúc, sự an toàn, những tiêu chuẩn đúng đắn về đời sống và hạnh kiểm, cùng một mức độ kiểm soát có thấu hiểu. Đây về bản chất là một vấn đề giáo dục. Các nhà giáo dục và các nhà tâm lý học có tầm nhìn ở mọi quốc gia phải được huy động và “mô hình của những điều sắp đến” cho trẻ em phải được xác định một cách thông minh. Điều này sẽ phải được thực hiện trên quy mô quốc tế và với minh triết đến từ sự nắm bắt nhu cầu trước mắt cùng một tầm nhìn xa.
6. The dangers of re-emergence of the nationalist spirit. Intense nationalism was one of the prime movers in bringing about this war and no nation has been exempt from this spirit of national pride and from a nationalistic, separative outlook. Selfish interests have controlled the reasons for which every nation has entered this war; individual security has prompted the entry of even the most enlightened democratic nations. That to these selfish incentives they have added world need and the love of freedom is true and serves [373] to balance, though not offset, the selfish motives; that the instinct of self-preservation gave them no alternative is likewise true, but the fact remains that there would have been no war if the democratic nations had been the determining factor. That in itself gives rise to questions. Why did the powerful democracies, in the last analysis, permit this war when, united and banded together from the start, they might have arrested it in the initial stages? Also, given the existent aggressor nations, collective self-interest forced the democracies into combat, and yet this same self-interest should have made them take the steps which would have guaranteed the peace. National types, individual national interests, national cultures and national civilisations exist side by side, but instead of being regarded as contributory to one integrated whole, they have been zealously competitive and have been regarded as the peculiar and distinctive prerogatives of some one nation and as existing for the sole good of that nation. In the future, the contributory factor in life must be emphasised and developed, and the good of the entire family of nations must be substituted for the good of one nation or a group of nations. The education of the public in this ideal necessitates no loss of national identity or individual culture. That must remain and be developed to its highest spiritual goal for the enriching and the collective good of all. It is only the motive for the emphasis of any specific racial and national culture which must be changed.
6. Những nguy cơ của sự tái xuất hiện của tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Chủ nghĩa dân tộc mãnh liệt là một trong những động lực chính gây ra cuộc chiến này và không quốc gia nào được miễn khỏi tinh thần kiêu hãnh dân tộc và quan điểm dân tộc chủ nghĩa, chia rẽ ấy. Những quyền lợi ích kỷ đã chi phối các lý do khiến mọi quốc gia bước vào cuộc chiến này; sự an toàn cá nhân đã thúc đẩy ngay cả những quốc gia dân chủ sáng suốt nhất tham chiến. Việc họ đã thêm vào những động cơ ích kỷ ấy nhu cầu của thế giới và tình yêu tự do là điều đúng, và điều đó [373] giúp quân bình, dù không hóa giải, các động cơ ích kỷ; việc bản năng tự bảo tồn không cho họ lựa chọn nào khác cũng là điều đúng, nhưng sự thật vẫn là sẽ không có chiến tranh nếu các quốc gia dân chủ là yếu tố quyết định. Chính điều đó làm nảy sinh những câu hỏi. Tại sao các nền dân chủ hùng mạnh, xét cho cùng, lại để cuộc chiến này xảy ra trong khi nếu đoàn kết và liên kết với nhau ngay từ đầu, họ có thể đã chặn đứng nó từ những giai đoạn đầu? Hơn nữa, với sự hiện hữu của các quốc gia xâm lược, quyền lợi tập thể của chính mình đã buộc các nền dân chủ bước vào chiến đấu, nhưng cũng chính quyền lợi ấy lẽ ra phải khiến họ thực hiện những bước bảo đảm hòa bình. Các kiểu mẫu quốc gia, các quyền lợi quốc gia riêng biệt, các nền văn hóa quốc gia và các nền văn minh quốc gia tồn tại song song, nhưng thay vì được xem là những yếu tố đóng góp cho một toàn thể tích hợp, chúng lại bị cạnh tranh một cách sốt sắng và được xem là đặc quyền riêng biệt, đặc thù của một quốc gia nào đó và chỉ tồn tại vì lợi ích duy nhất của quốc gia ấy. Trong tương lai, yếu tố đóng góp trong đời sống phải được nhấn mạnh và phát triển, và lợi ích của toàn thể gia đình các quốc gia phải được thay thế cho lợi ích của một quốc gia hay một nhóm quốc gia. Việc giáo dục công chúng theo lý tưởng này không đòi hỏi phải mất đi bản sắc dân tộc hay văn hóa cá nhân. Điều đó phải được duy trì và phát triển đến mục tiêu tinh thần cao nhất của nó để làm phong phú và mang lại thiện ích chung cho tất cả. Chỉ có động cơ nhấn mạnh bất kỳ nền văn hóa chủng tộc và quốc gia đặc thù nào là điều phải thay đổi.
The family of nations, viewed as a unit, its correct and proper interrelation, and the shouldering of responsibility for the one, or for the weak, must be the realised goal of all national enterprise; the resources of the entire planet must be shared collectively and it must be increasingly realised that the products of the earth, the gifts of the soil, the intellectual heritage of the nations, belong to the whole of mankind and to no one nation exclusively. No nation liveth unto itself, any more than any individual can happily so live; the nation or individual who attempts so to do must [374] inevitably perish off the face of the earth. All nations have made this selfish attempt, as history, ancient and modern, goes to prove. Their tradition, their resources, their national genius, their past history, their mineral and agricultural products, their strategic position on the planet, have been used in past centuries for the benefit of the nation claiming them; they have been exploited for the increase of the power of that nation at the expense of the suffering of others. This is the sin which Germany is today committing, aided by Japan and feebly followed by Italy. Power politics, the exploitation of the weak, aggression, economic selfishness, ideals based on pure commercialism and materialistic and territorial goals colour all the past history of mankind in both hemispheres, and have laid the foundation for the present war.
Gia đình các quốc gia, được nhìn như một đơn vị, với sự tương liên đúng đắn và thích hợp của nó, và việc gánh vác trách nhiệm đối với một quốc gia, hay đối với quốc gia yếu, phải là mục tiêu được nhận thức của mọi nỗ lực quốc gia; các tài nguyên của toàn thể hành tinh phải được chia sẻ tập thể và ngày càng phải được nhận ra rằng sản phẩm của trái đất, quà tặng của đất đai, di sản trí tuệ của các quốc gia, thuộc về toàn thể nhân loại chứ không riêng một quốc gia nào. Không quốc gia nào sống cho riêng mình, cũng như không cá nhân nào có thể sống hạnh phúc như thế; quốc gia hay cá nhân nào cố làm như vậy ắt [374] tất yếu sẽ biến mất khỏi mặt đất. Mọi quốc gia đều đã thực hiện nỗ lực ích kỷ này, như lịch sử cổ đại và hiện đại chứng minh. Truyền thống của họ, tài nguyên của họ, thiên tài dân tộc của họ, lịch sử quá khứ của họ, các sản phẩm khoáng sản và nông nghiệp của họ, vị trí chiến lược của họ trên hành tinh, đã được dùng trong các thế kỷ trước vì lợi ích của quốc gia tuyên bố sở hữu chúng; chúng đã bị khai thác để gia tăng quyền lực của quốc gia ấy với cái giá là nỗi đau khổ của những quốc gia khác. Đây là tội lỗi mà ngày nay Đức đang phạm, được Nhật hỗ trợ và Ý yếu ớt noi theo. Chính trị quyền lực, bóc lột kẻ yếu, xâm lược, ích kỷ kinh tế, các lý tưởng dựa trên chủ nghĩa thương mại thuần túy và các mục tiêu duy vật cùng lãnh thổ đã nhuốm màu toàn bộ lịch sử quá khứ của nhân loại ở cả hai bán cầu, và đã đặt nền móng cho cuộc chiến hiện nay.
Some nations, particularly the great democracies, like the British Commonwealth of Nations and the United States of America, now realise that these attitudes and activities must end and that the hope of the world lies in the spread of right human relations, in economic interchange, broad unselfish international politics and the growth of the spirit of cooperation. They believe unalterably, and as a basic national policy, in the rights of the individual and that the State exists for the benefit of that individual; to that they add the belief that the State also exists for the benefit of all other states and for humanity as a whole. Other nations, such as the Axis Powers, are violently crystallising the ancient viewpoints, emphasising the worst aspects of the old and evil order, and are aggressively grasping all that they can for themselves. They regard the individual as of no value and hold that he exists only for the benefit of the State; they believe that the State is the sole unit of importance, and that only their particular state counts. They divide the family of nations into a superstate for the control of Europe and another for Asia, and regard all other states as slave states; they would perpetuate the ancient evil of force and war and would and do resort to unheard-of cruelties in the effort to raise their state to supreme eminence.
Một số quốc gia, đặc biệt là các nền dân chủ lớn như Khối Thịnh vượng chung Anh và Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, nay nhận ra rằng những thái độ và hoạt động này phải chấm dứt và niềm hy vọng của thế giới nằm trong sự lan rộng của các tương quan nhân loại đúng đắn, trong trao đổi kinh tế, trong chính trị quốc tế rộng rãi vô tư lợi và trong sự tăng trưởng của tinh thần hợp tác. Họ tin một cách bất lay chuyển, và như một chính sách quốc gia căn bản, vào các quyền của cá nhân và rằng Nhà nước tồn tại vì lợi ích của cá nhân ấy; vào đó họ thêm niềm tin rằng Nhà nước cũng tồn tại vì lợi ích của mọi nhà nước khác và của toàn thể nhân loại. Những quốc gia khác, như các Cường quốc Trục, đang kết tinh dữ dội các quan điểm cổ xưa, nhấn mạnh những phương diện tồi tệ nhất của trật tự cũ và ác, và hung hăng chộp lấy mọi thứ có thể cho riêng mình. Họ xem cá nhân là vô giá trị và cho rằng y chỉ tồn tại vì lợi ích của Nhà nước; họ tin rằng Nhà nước là đơn vị duy nhất quan trọng, và chỉ nhà nước riêng của họ mới đáng kể. Họ chia gia đình các quốc gia thành một siêu quốc gia để kiểm soát châu Âu và một siêu quốc gia khác cho châu Á, và xem mọi quốc gia khác như các quốc gia nô lệ; họ sẽ duy trì điều ác cổ xưa của bạo lực và chiến tranh và đã cũng như đang dùng đến những sự tàn ác chưa từng nghe thấy trong nỗ lực nâng nhà nước của họ lên địa vị tối thượng.
[375] This is the old order which must pass, but its dangers must be recognised. For its abolishing, the United Nations are fighting, but the difficulties are many, even though the spiritual strength of all good men is on their side and the Forces of Light are fighting to aid them. The nationalistic spirit is not dead as yet in any country. It must be helped to die. Minorities with historical backgrounds but no territorial rights are clamouring for a place to call their own and in which to build up a nation. The small nations are full of fear, wondering what place in the family of nations they will be permitted to hold, and whether the evil plans of the Germans will spare any of their citizens eventually to form a nation. The demand for national recognition is widespread; the emphasis upon humanity as the important unit is little heard.
[375] Đây là trật tự cũ phải qua đi, nhưng những nguy hiểm của nó phải được nhận ra. Vì việc xóa bỏ nó mà Liên Hiệp Quốc đang chiến đấu, nhưng những khó khăn thì rất nhiều, dù sức mạnh tinh thần của mọi người thiện lành đứng về phía họ và các Mãnh Lực của Ánh Sáng đang chiến đấu để trợ giúp họ. Tinh thần dân tộc chủ nghĩa vẫn chưa chết ở bất kỳ quốc gia nào. Nó phải được giúp để chết đi. Các nhóm thiểu số có bối cảnh lịch sử nhưng không có quyền lãnh thổ đang kêu gào đòi một nơi để gọi là của mình và trong đó xây dựng một quốc gia. Các quốc gia nhỏ đầy sợ hãi, tự hỏi họ sẽ được phép giữ vị trí nào trong gia đình các quốc gia, và liệu các kế hoạch ác độc của người Đức có chừa lại công dân nào của họ để cuối cùng hình thành một quốc gia hay không. Nhu cầu được công nhận quốc gia đang lan rộng; sự nhấn mạnh vào nhân loại như đơn vị quan trọng thì ít được nghe thấy.
Those nations impede the path of progress who live in the memory of their past history and boundaries and who look back upon what they call “a glorious past,” resting upon the recollection of national or empire rule over the weak. This is a hard saying, but the nationalistic spirit constitutes a grave peril to the world; if perpetuated in any form, except as contributory to the good of humanity as a whole, it will throw the world (after the war) back into the dark ages and leave men no better off than they were, even though there have been twenty years of travail and agony.
Những quốc gia sống trong ký ức về lịch sử và biên giới quá khứ của mình, và ngoảnh nhìn điều họ gọi là “một quá khứ huy hoàng,” dựa trên ký ức về sự cai trị quốc gia hay đế quốc đối với kẻ yếu, là những quốc gia cản trở con đường tiến bộ. Đây là một lời nói khó nghe, nhưng tinh thần dân tộc chủ nghĩa tạo thành một hiểm họa nghiêm trọng cho thế giới; nếu được duy trì dưới bất kỳ hình thức nào, ngoại trừ như một yếu tố đóng góp cho thiện ích của toàn thể nhân loại, nó sẽ đẩy thế giới (sau chiến tranh) trở lại thời kỳ tăm tối và khiến con người không khá hơn trước, dù đã có hai mươi năm đau đớn và thống khổ.
We could take the nations, one by one, and observe how this nationalistic, separative or isolationist spirit, emerging out of an historical past, out of racial complexes, out of territorial position, out of revolt and out of possession of material resources, has brought about the present world crisis and cleavage and this global clash of interests and ideals. But it would profit not. The intelligent student of history (who has no nationalistic bias) knows well the facts and is deeply concerned today with the processes which must be brought to bear to end the world strife. He knows that the efforts to attain national aggrandisement, a place in the sun, Lebensraum, financial supremacy, economic control [376] and power must end. At the same time he realises that if humanity is to get rid of these evil products of selfishness, certain basic values must be preserved. Past and present cultures and civilisations are of great value; the peculiar genius of each nation must be evoked for the enriching of the entire human family; the new civilisation must have its roots in and emerge out of the past; new ideals must come forth and be recognised, and for that the events and education of the past will have prepared the people. Humanity itself must be the goal of interest and effort, and not any particular nation or empire. All this has to be wrought out in a practical, realistic manner, divorced from visionary, mystical and impractical dreams, and all that is done must be founded on one basic recognition—human brotherhood, expressing itself in right human relations.
Chúng ta có thể lần lượt xét từng quốc gia và quan sát cách tinh thần dân tộc chủ nghĩa, chia rẽ hay biệt lập này, xuất hiện từ một quá khứ lịch sử, từ các mặc cảm chủng tộc, từ vị trí lãnh thổ, từ sự nổi dậy và từ việc sở hữu tài nguyên vật chất, đã dẫn đến cuộc khủng hoảng và chia rẽ thế giới hiện nay cùng sự xung đột toàn cầu về quyền lợi và lý tưởng này. Nhưng làm thế sẽ không ích gì. Đạo sinh thông minh của lịch sử (không có thiên kiến dân tộc chủ nghĩa) hiểu rõ các sự kiện và ngày nay hết sức quan tâm đến những tiến trình phải được áp dụng để chấm dứt xung đột thế giới. Y biết rằng những nỗ lực nhằm đạt đến sự bành trướng quốc gia, một chỗ dưới mặt trời, Lebensraum, quyền tối thượng tài chính, kiểm soát kinh tế [376] và quyền lực phải chấm dứt. Đồng thời y nhận ra rằng nếu nhân loại muốn loại bỏ những sản phẩm ác của tính ích kỷ này, thì một số giá trị căn bản phải được bảo tồn. Các nền văn hóa và văn minh quá khứ cũng như hiện tại đều rất có giá trị; thiên tài đặc thù của mỗi quốc gia phải được khơi dậy để làm phong phú cho toàn thể gia đình nhân loại; nền văn minh mới phải có gốc rễ trong quá khứ và xuất hiện từ quá khứ; những lý tưởng mới phải xuất hiện và được nhìn nhận, và vì điều đó mà các biến cố và nền giáo dục của quá khứ đã chuẩn bị con người. Chính nhân loại phải là mục tiêu của sự quan tâm và nỗ lực, chứ không phải bất kỳ quốc gia hay đế quốc riêng biệt nào. Tất cả điều này phải được thực hiện theo cách thực tiễn, hiện thực, tách khỏi những giấc mơ viễn kiến, thần bí và thiếu thực tế, và mọi điều được làm phải được đặt nền trên một sự nhìn nhận căn bản—tình huynh đệ nhân loại, biểu lộ trong các tương quan nhân loại đúng đắn.
The revolt so widely prevalent against the “vague visionings” of humanitarian dreamers is based upon the fact that out of the welter of words and the plethora of plans, little of practical value has emerged and nothing sufficiently potent to end the old and horrid ways of life. Nothing really effective had been done, prior to the war, to offset the visible and shrieking evils. Palliative measures have been tried and compromises made for the sake of peace, but the basic evils of national ambition, economic disparity, and virulent class distinctions (hereditary or financial) still remained. Religious differences were rampant, racial hatreds widespread, and the economic and political orders remained corrupt, fostering party, social and national strife.
Sự phản kháng đang lan rộng chống lại những “linh ảnh mơ hồ” của các nhà mơ mộng nhân đạo dựa trên sự kiện rằng từ mớ hỗn độn ngôn từ và vô số kế hoạch, rất ít điều có giá trị thực tiễn đã xuất hiện và không có gì đủ mạnh để chấm dứt những lối sống cũ kỹ và kinh khủng. Trước chiến tranh, không có điều gì thực sự hữu hiệu đã được làm để hóa giải những điều ác hiển nhiên và gào thét ấy. Những biện pháp xoa dịu đã được thử và những thỏa hiệp đã được thực hiện vì hòa bình, nhưng những điều ác căn bản của tham vọng quốc gia, bất bình đẳng kinh tế, và những phân biệt giai cấp độc hại (do di truyền hay tài chính) vẫn còn nguyên. Những khác biệt tôn giáo lan tràn, hận thù chủng tộc phổ biến, và các trật tự kinh tế cùng chính trị vẫn thối nát, nuôi dưỡng xung đột đảng phái, xã hội và quốc gia.
Today the war has cleared the air. The issues are clear and at least we know what has been wrong. In their demonstration of supreme selfishness, national ambition, racial hatred and utter barbarity and cruelty, plus their complete lack of all humanitarian feeling, the Axis Powers have served the race by showing us what must not, and shall not, be permitted. The democracies have awakened also to their weaknesses and to the realisation that true democracy does not as yet exist, owing to widespread political corruption, and to the ignorance and unpreparedness of the masses for [377] true self-government. Imperialistic powers, such as Great Britain, are publicly repudiating the old points of view and are forging ahead in the task of world reconstruction. The conservative reactionary is no longer popular. The small nations are realising their helplessness and their complete dependence upon their larger neighbours, and these in their turn, are recognising their responsibilities to the weak and small. People everywhere are waking up and beginning to think, and never again can they sink back into the negative condition of the past. There is faith on every hand that a new and better world order is possible and that it is even probable.
Ngày nay chiến tranh đã làm quang đãng bầu không khí. Các vấn đề đã rõ ràng và ít nhất chúng ta biết điều gì đã sai. Trong sự biểu lộ tính ích kỷ tột độ, tham vọng quốc gia, hận thù chủng tộc và sự man rợ cùng tàn ác hoàn toàn của mình, cộng với sự hoàn toàn thiếu vắng mọi tình cảm nhân đạo, các Cường quốc Trục đã phục vụ nhân loại bằng cách cho chúng ta thấy điều gì không được, và sẽ không được, cho phép. Các nền dân chủ cũng đã thức tỉnh trước những yếu kém của mình và trước sự nhận ra rằng nền dân chủ chân chính vẫn chưa tồn tại, do nạn tham nhũng chính trị lan rộng, và do sự thiếu hiểu biết cùng thiếu chuẩn bị của quần chúng đối với [377] việc tự quản chân chính. Các cường quốc đế quốc, như Anh Quốc, đang công khai bác bỏ các quan điểm cũ và đang tiến lên trong nhiệm vụ tái thiết thế giới. Người bảo thủ phản động không còn được ưa chuộng nữa. Các quốc gia nhỏ đang nhận ra sự bất lực của mình và sự lệ thuộc hoàn toàn của mình vào các láng giềng lớn hơn, và đến lượt mình, các quốc gia này đang nhận ra trách nhiệm của họ đối với kẻ yếu và nhỏ. Con người ở khắp nơi đang thức tỉnh và bắt đầu suy nghĩ, và họ sẽ không bao giờ lại chìm trở lại trạng thái tiêu cực của quá khứ. Khắp nơi đều có niềm tin rằng một trật tự thế giới mới và tốt đẹp hơn là điều có thể, và thậm chí có khả năng xảy ra.
How can we simply and clearly express the goal of this hoped-for new world order and word briefly the objective which each person and nation should hold before itself when the war ends and opportunity faces each and all? It is surely that every nation, great and small (with the minorities given equal and proportionate rights) should pursue its own individual culture and work out its own salvation as seems best to it, but that each and all should develop the realisation that they are organic parts of one corporate whole and that they must contribute to that whole all they have and are. This concept is already present in the hearts of countless thousands and carries with it great responsibility. These realisations, when intelligently developed and wisely handled, will lead to right human relations, economic stability (based on the spirit of sharing) and to a fresh orientation of man to man, of nation to nation, and of all to that supreme power to which we give the name “God.”
Làm sao chúng ta có thể diễn đạt một cách đơn giản và rõ ràng mục tiêu của trật tự thế giới mới được hy vọng này và nói ngắn gọn mục đích mà mỗi cá nhân và mỗi quốc gia nên giữ trước mắt mình khi chiến tranh chấm dứt và cơ hội đối diện với từng người và tất cả? Chắc chắn đó là điều này: mọi quốc gia, lớn hay nhỏ (với các nhóm thiểu số được trao các quyền bình đẳng và tương xứng) nên theo đuổi nền văn hóa riêng của mình và tự giải quyết vận mệnh của mình theo cách tốt nhất đối với mình, nhưng mỗi và tất cả phải phát triển sự nhận ra rằng họ là những phần hữu cơ của một toàn thể hợp nhất và rằng họ phải đóng góp cho toàn thể ấy tất cả những gì họ có và là. Khái niệm này đã hiện diện trong lòng vô số hàng ngàn người và mang theo trách nhiệm lớn lao. Những nhận thức này, khi được phát triển một cách thông minh và xử lý một cách minh triết, sẽ dẫn đến các tương quan nhân loại đúng đắn, sự ổn định kinh tế (dựa trên tinh thần chia sẻ) và một sự định hướng mới mẻ của người với người, của quốc gia với quốc gia, và của tất cả đối với quyền năng tối thượng mà chúng ta gọi là “Thượng đế.”
This is the vision and it is holding countless thousands steady in the path of duty, and for it many in every nation are prepared to work. In spite of the background of an evil past, in spite of the present world carnage, in spite of the almost overwhelming psychological problems confronting humanity, in spite of political machinations and old-time diplomacy, in spite of the improbability of any quick successes, there are thousands ready to start with the preparatory work. The number of men and women of vision [378] and of goodwill is now so large (especially among the United Nations) that there is a chance of eventual success and it is possible today to make a start. The outline of the future world structure can already be dimly seen; the failure—complete, obvious and irremediable—of the old order and the old world is everywhere recognised. The will-to-good is growing. One of the interesting things which it is helpful to recognise is that this vision is more clearly seen by the man in the street and by the intelligentsia than it is by the exclusive classes. Through the material difficulties of life, and by resultant processes of thought, men know changed conditions are necessary and that there is no alternative.
Đây là linh ảnh, và nó đang giữ cho vô số hàng ngàn người vững vàng trên con đường bổn phận, và vì nó mà nhiều người trong mọi quốc gia sẵn sàng làm việc. Bất chấp bối cảnh của một quá khứ ác độc, bất chấp cuộc tàn sát thế giới hiện nay, bất chấp những vấn đề tâm lý gần như áp đảo đang đối diện nhân loại, bất chấp những mưu đồ chính trị và nền ngoại giao kiểu cũ, bất chấp tính khó xảy ra của bất kỳ thành công nhanh chóng nào, vẫn có hàng ngàn người sẵn sàng bắt đầu công việc chuẩn bị. Số lượng những người nam và nữ có tầm nhìn [378] và có thiện chí hiện nay lớn đến mức (đặc biệt trong Liên Hiệp Quốc) mà quả thật có một cơ hội thành công cuối cùng và ngày nay có thể bắt đầu. Đường nét của cấu trúc thế giới tương lai đã có thể được thấy lờ mờ; sự thất bại—hoàn toàn, hiển nhiên và không thể cứu vãn—của trật tự cũ và thế giới cũ được nhìn nhận ở khắp nơi. Ý Chí-hướng Thiện đang tăng trưởng. Một trong những điều thú vị mà thật hữu ích khi nhận ra là linh ảnh này được người dân bình thường và giới trí thức thấy rõ hơn là các giai cấp độc quyền. Qua những khó khăn vật chất của đời sống, và bởi các tiến trình tư tưởng phát sinh từ đó, con người biết rằng những điều kiện thay đổi là cần thiết và không có lựa chọn nào khác.
The task ahead falls into two categories: First, directing mass thought and energy into right lines so that good motive and wise action can bring in the desired era of right human relations and eventual peace; secondly, educating those whose apathy and lack of vision impede progress. This latter phase of the work is well under way and a powerful, though small, group among the world leaders is voicing certain general propositions which must be regarded as imperative when world readjustment starts. Their demand is for a new governing principle in politics and in education, founded on universally recognised human rights, on the need for spiritual unity and the need to throw overboard all separative theological attitudes and dogmas in every field of thought. There is a mounting appeal not only for international understanding and cooperation, but also for class understanding. These demands are being expressed from every platform and pulpit and through the pen in every land, except in those sad lands where freedom of speech is not permitted.
Nhiệm vụ phía trước thuộc vào hai loại: thứ nhất, hướng tư tưởng và năng lượng của quần chúng vào những đường lối đúng đắn để động cơ tốt và hành động minh triết có thể đem lại kỷ nguyên mong muốn của các tương quan nhân loại đúng đắn và cuối cùng là hòa bình; thứ hai, giáo dục những người mà sự thờ ơ và thiếu tầm nhìn của họ cản trở tiến bộ. Giai đoạn sau này của công việc đang được tiến hành tốt đẹp và một nhóm mạnh mẽ, dù nhỏ, trong số các nhà lãnh đạo thế giới đang lên tiếng về một số mệnh đề tổng quát phải được xem là cấp thiết khi việc điều chỉnh thế giới bắt đầu. Yêu cầu của họ là một nguyên lý cai quản mới trong chính trị và giáo dục, đặt nền trên các quyền con người được nhìn nhận phổ quát, trên nhu cầu hợp nhất tinh thần và nhu cầu vứt bỏ mọi thái độ thần học chia rẽ cùng các giáo điều trong mọi lĩnh vực tư tưởng. Đang có một lời kêu gọi ngày càng mạnh không chỉ cho sự thấu hiểu và hợp tác quốc tế, mà còn cho sự thấu hiểu giai cấp. Những đòi hỏi này đang được phát biểu từ mọi diễn đàn và bục giảng, và qua ngòi bút ở mọi miền đất, ngoại trừ tại những vùng đất buồn thảm nơi tự do ngôn luận không được cho phép.
The average man looks on at all of this and is frequently overwhelmed by the magnitude of the unfolding task, by the diversity of opinions expressed, by the many suggestions, plans and schemes for world betterment, and by a sense of his own utter unimportance and futility in the face of this gigantic human undertaking. He asks himself many questions. Of what use am I? What can I do? How can my little voice be heard, and of what use is it when heard? What [379] part can I play in the vast arena of world affairs? How can I prove myself useful and constructive? How can I offset my ignorance of history, of society, of political and economic conditions in my own country, not to speak of other lands? Humanity is so immense, its numbers so vast and its races so many that he feels himself a helpless, insignificant unit. He has no academic or general training which would enable him really to grasp the problems or contribute to their solution. What, therefore, can the man in the street, the business man in his office, the woman in her home, and the average citizen everywhere contribute at this time and in the future to the helping of the world? It is for this type of person I write.
Người bình thường nhìn tất cả điều này và thường bị choáng ngợp bởi tầm vóc của nhiệm vụ đang mở ra, bởi sự đa dạng của các ý kiến được nêu ra, bởi nhiều đề nghị, kế hoạch và hệ thống nhằm cải thiện thế giới, và bởi cảm giác hoàn toàn không quan trọng và vô ích của chính mình trước công cuộc nhân loại khổng lồ này. Y tự hỏi mình nhiều câu hỏi. Tôi có ích gì? Tôi có thể làm gì? Làm sao tiếng nói nhỏ bé của tôi có thể được nghe thấy, và khi được nghe thì nó có ích gì? Tôi có thể đóng vai trò [379] gì trong đấu trường rộng lớn của các công việc thế giới? Làm sao tôi có thể chứng tỏ mình hữu ích và có tính xây dựng? Làm sao tôi có thể hóa giải sự thiếu hiểu biết của mình về lịch sử, về xã hội, về các điều kiện chính trị và kinh tế trong chính đất nước mình, chưa nói đến các miền đất khác? Nhân loại quá rộng lớn, số lượng quá đông và các nhân loại quá nhiều đến nỗi y cảm thấy mình là một đơn vị bất lực, không đáng kể. Y không có sự đào luyện học thuật hay tổng quát nào giúp y thực sự nắm bắt các vấn đề hay đóng góp vào giải pháp của chúng. Vậy thì người dân bình thường, doanh nhân trong văn phòng của mình, người phụ nữ trong gia đình mình, và công dân trung bình ở khắp nơi có thể đóng góp gì vào lúc này và trong tương lai cho việc giúp đỡ thế giới? Chính cho loại người này mà tôi viết.
I would start by reminding the general public of one important fact. This is that focussed, determined, enlightened public opinion is the most potent force in the world. It has no equal but has been little used. The gullibility of the average citizen, his willingness to accept what is told him if it is said loudly enough and with sufficient plausible force, is well known. The well-turned phrases of the trained politician, intent on his selfish purposes, the arguments of the silver-tongued demagogue as he exploits some pet theory at the expense of the public, and the rantings of the man with a cause, a theory or an axe to grind, all find an easy audience. Mass psychology and mob determinations have been exploited down the ages, for the unthinking and the emotional are easily swayed in any direction, and hitherto this has been turned to their own advantage by those who do not have the best interests of humanity at heart. It has been used for selfish and evil ends far more often than for good. Of this tendency the negative and helpless attitude of the German people under the Nazi rulers is the outstanding example.
Tôi muốn bắt đầu bằng cách nhắc công chúng về một sự kiện quan trọng. Đó là dư luận quần chúng tập trung, kiên định và sáng suốt là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới. Không gì sánh bằng nó nhưng nó lại ít được sử dụng. Tính cả tin của công dân trung bình, sự sẵn sàng chấp nhận điều được nói với y nếu điều đó được nói đủ lớn và với sức thuyết phục bề ngoài đủ mạnh, là điều ai cũng biết. Những câu chữ trau chuốt của chính khách được đào luyện, chăm chú vào các mục đích ích kỷ của mình, những lập luận của nhà dân túy lưỡi bạc khi y khai thác một lý thuyết ưa thích nào đó với cái giá là công chúng, và những lời hùng hổ của người có một chính nghĩa, một lý thuyết hay một mục đích riêng cần theo đuổi, tất cả đều dễ dàng tìm được thính giả. Tâm lý quần chúng và những quyết định của đám đông đã bị khai thác qua các thời đại, vì những người không suy nghĩ và giàu cảm xúc dễ bị lôi kéo theo bất kỳ hướng nào, và cho đến nay điều này đã bị những kẻ không đặt lợi ích tốt nhất của nhân loại trong tim mình xoay chuyển vì lợi ích riêng của họ. Nó đã được dùng cho những mục đích ích kỷ và ác độc thường xuyên hơn nhiều so với cho điều thiện. Ví dụ nổi bật nhất của xu hướng này là thái độ tiêu cực và bất lực của dân Đức dưới sự cai trị của Quốc Xã.
But this negative receptivity (which does not deserve the name of public opinion) can be as easily turned to good ends as bad, and to constructive measures as to destructive. A little planned direction and a wisely outlined programme with this in view can and will bring about [380] the needed change and make a sound and intelligent public opinion one of the major factors in world reconstruction. One of the most interesting features of this war period has been the direct contact which has been set up by some of the world leaders with the man in the street and the woman in the home, as witness the talks given by Roosevelt and Churchill. Those given by the Axis leaders are in a totally different category, for they have been directed to the male youth of their countries and to the man in uniform. Only the lesser leaders in Germany, for instance, talk to the people in their homes, and then only to give them orders, to foster hate and to misrepresent the truth. In all these cases, however, the value of mass opinion is recognised and the need to sway the mass mind, either bending it to the will of some leader, such as Hitler, or educating it in those principles which are of benefit to the whole.
Nhưng tính tiếp nhận tiêu cực này (không xứng đáng được gọi là dư luận quần chúng) có thể được chuyển sang những mục đích tốt cũng dễ như sang những mục đích xấu, và sang những biện pháp xây dựng cũng dễ như sang những biện pháp phá hoại. Một chút định hướng có kế hoạch và một chương trình được phác thảo minh triết với mục đích này có thể và sẽ đem lại [380] sự thay đổi cần thiết và biến một dư luận quần chúng lành mạnh và thông minh thành một trong những yếu tố chính của công cuộc tái thiết thế giới. Một trong những đặc điểm thú vị nhất của thời kỳ chiến tranh này là sự tiếp xúc trực tiếp đã được một số nhà lãnh đạo thế giới thiết lập với người dân bình thường và người phụ nữ trong gia đình, như được chứng minh qua các cuộc nói chuyện của Roosevelt và Churchill. Những cuộc nói chuyện của các lãnh đạo phe Trục thuộc một loại hoàn toàn khác, vì chúng được hướng đến thanh niên nam của các nước họ và người đàn ông mặc quân phục. Chẳng hạn, chỉ những lãnh đạo cấp thấp hơn ở Đức mới nói với người dân trong gia đình họ, và khi đó cũng chỉ để ra lệnh cho họ, nuôi dưỡng hận thù và xuyên tạc sự thật. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp này, giá trị của dư luận quần chúng đều được nhìn nhận và nhu cầu tác động lên trí tuệ quần chúng, hoặc uốn nó theo ý chí của một lãnh tụ nào đó như Hitler, hoặc giáo dục nó theo những nguyên tắc có lợi cho toàn thể.
The second point which needs to be grasped by the average citizen is that the mass is made up of individuals; that each of us, as an individual, is a definite and integral part of the whole. This is a basic and important fact and has a bearing on our subject. The first step in the rebuilding process which lies ahead of us is to reach the individual, show him his importance, indicate to him his very real sphere of influence, and then set him to work in that sphere and with what he has. In this way, his normal and natural sense of futility will disappear, and he will gradually realise that he is needed and can do much. Having grasped this for himself, he can then try to bring the same constructive attitude to those around him, and they will then do likewise.
Điểm thứ hai mà công dân trung bình cần nắm bắt là quần chúng được tạo thành từ các cá nhân; rằng mỗi chúng ta, với tư cách cá nhân, là một phần xác định và toàn vẹn của toàn thể. Đây là một sự kiện căn bản và quan trọng và có liên hệ đến đề tài của chúng ta. Bước đầu tiên trong tiến trình tái thiết đang ở trước mắt chúng ta là tiếp cận cá nhân, cho y thấy tầm quan trọng của mình, chỉ cho y phạm vi ảnh hưởng rất thực của mình, rồi đặt y vào công việc trong phạm vi ấy và với những gì y có. Bằng cách này, cảm giác vô ích bình thường và tự nhiên của y sẽ biến mất, và dần dần y sẽ nhận ra rằng mình là người cần thiết và có thể làm được nhiều điều. Khi đã nắm bắt điều này cho chính mình, y có thể cố gắng đem cùng một thái độ xây dựng ấy đến cho những người quanh mình, và rồi họ cũng sẽ làm như vậy.
May I point out here that the value of the individual is surely based on the inherent divinity of the human spirit and on the integrity of the whole. It is founded also on the knowledge, which must underlie all future reconstruction work, that at the very heart of the universe is a divine Power, call it what you will, and on the faith that love is the very law of life itself, in spite of all appearances and the record of the past.
Xin cho phép tôi chỉ ra ở đây rằng giá trị của cá nhân chắc chắn dựa trên thiên tính vốn có của tinh thần con người và trên tính toàn vẹn của toàn thể. Nó cũng được đặt nền trên tri thức—điều phải làm nền cho mọi công việc tái thiết tương lai—rằng ngay nơi trung tâm của vũ trụ có một Quyền Năng thiêng liêng, gọi là gì tùy ý, và trên đức tin rằng tình thương chính là định luật của đời sống, bất chấp mọi sắc tướng và mọi ghi chép của quá khứ.
It is essential that we be practical in our approach to [381] the subject and that the reconstruction plans involve steps which are possible and which the average man can take. The first practical attitude to be taken is to crush out hate because it is non-constructive and hindering. It blinds the vision and warps the judgment, and simply feeds the growth of fear and horror. But the love demanded of us is neither emotional nor sentimental. It is intensely practical, and expresses itself in service and cooperative activity. It seeks to aid all movements that benefit humanity and are in line with the new incoming era. Many people think that an emotional reaction and clamouring outcry of horror at what has overtaken the world indicates love and spiritual sensitivity. It is far more likely to indicate self-centredness and personal discomfort. True love has no time for these reactions, because the work of alleviation is entirely engrossing. The man who loves his fellowmen is mentally poised and intelligently working; he is mobilising all his forces for the service of the hour. A truly compassionate heart is not emotional.
Điều thiết yếu là chúng ta phải thực tiễn trong cách tiếp cận [381] đề tài này và rằng các kế hoạch tái thiết phải bao gồm những bước khả thi mà người bình thường có thể thực hiện. Thái độ thực tiễn đầu tiên cần có là dập tắt hận thù vì nó không có tính xây dựng và gây cản trở. Nó làm mù tầm nhìn và bóp méo phán đoán, và chỉ nuôi lớn sự tăng trưởng của sợ hãi và kinh hoàng. Nhưng tình thương được đòi hỏi nơi chúng ta không phải là cảm xúc hay đa cảm. Nó hết sức thực tiễn, và biểu lộ trong phụng sự và hoạt động hợp tác. Nó tìm cách hỗ trợ mọi phong trào mang lại lợi ích cho nhân loại và phù hợp với kỷ nguyên mới đang đến. Nhiều người nghĩ rằng một phản ứng cảm xúc và tiếng kêu than kinh hoàng trước điều đã giáng xuống thế giới là dấu hiệu của tình thương và sự nhạy cảm tinh thần. Điều đó rất có thể chỉ ra sự tập trung vào bản thân và sự khó chịu cá nhân. Tình thương chân thật không có thời gian cho những phản ứng ấy, vì công việc làm nhẹ bớt đau khổ đã hoàn toàn chiếm trọn. Người yêu thương đồng loại của mình thì quân bình về trí tuệ và làm việc một cách thông minh; y đang huy động mọi mãnh lực của mình cho sự phụng sự của giờ phút này. Một trái tim thực sự từ bi không xúc động theo cảm tính.
Our second step, therefore, after the recognition of individual responsibility, is to replace emotion by practical love, expressed in selfless service. The third step is to reorganise our lives so that we have time for this needed service. Most people are not getting the maximum of results out of their daily lives, and this for several reasons. Frequently they do not really desire to make the sacrifices which such service demands; often they are under the delusion that their present output of service represents their utmost possibility; again, they fancy that their health could stand no more active work, or that they require time for themselves, or they waste many valuable hours doing those things which yield no real results. If, however, the need today is as great as we are led to believe, if this is the hour of man’s extremity, if the issues are so great that the entire future of the race depends upon the outcome of the war, then the one thing that really matters is for man to play his part, to mobilise his time and all that he has and make that supreme effort which will release life and energy and make the winning of the war something immediately possible and the rebuilding [382] era a success. This he must do at any cost, even that of life itself. A spiritual paradox becomes apparent. The individual is of supreme importance, and yet at the same time what happens to him as he serves and fights for human freedom is of no individual importance at all. A brief period of organised effort and, at the end, death, is of more vital usefulness today than a futile doing of the things a man feels like doing in a leisurely way, and then meandering feebly down the years.
Vì vậy, bước thứ hai của chúng ta, sau khi nhìn nhận trách nhiệm cá nhân, là thay thế cảm xúc bằng tình thương thực tiễn, được biểu lộ trong sự phụng sự vô ngã. Bước thứ ba là tổ chức lại đời sống của chúng ta để có thời gian cho sự phụng sự cần thiết này. Phần lớn mọi người không đạt được kết quả tối đa từ đời sống hằng ngày của mình, và điều này vì nhiều lý do. Thường thì họ không thực sự muốn thực hiện những hy sinh mà sự phụng sự ấy đòi hỏi; nhiều khi họ ảo tưởng rằng sản lượng phụng sự hiện tại của họ đã là mức tối đa có thể; lại nữa, họ tưởng rằng sức khỏe của họ không thể chịu nổi công việc tích cực hơn, hoặc rằng họ cần thời gian cho chính mình, hoặc họ lãng phí nhiều giờ quý báu vào những việc không đem lại kết quả thực sự nào. Tuy nhiên, nếu nhu cầu ngày nay lớn lao như chúng ta được dẫn dắt để tin, nếu đây là giờ phút cực điểm của con người, nếu các vấn đề lớn đến mức toàn bộ tương lai của nhân loại tùy thuộc vào kết quả của chiến tranh, thì điều duy nhất thực sự quan trọng là con người phải đóng vai trò của mình, huy động thời gian và tất cả những gì mình có và thực hiện nỗ lực tối thượng sẽ giải phóng sự sống và năng lượng, khiến việc chiến thắng chiến tranh trở thành điều có thể ngay tức khắc và khiến kỷ nguyên tái thiết [382] thành công. Y phải làm điều này bằng bất cứ giá nào, kể cả giá của chính sự sống. Một nghịch lý tinh thần trở nên hiển nhiên. Cá nhân có tầm quan trọng tối thượng, nhưng đồng thời điều xảy ra với y khi y phụng sự và chiến đấu cho tự do của nhân loại lại hoàn toàn không có tầm quan trọng cá nhân nào cả. Một thời kỳ ngắn của nỗ lực có tổ chức và, ở cuối cùng, cái chết, ngày nay hữu ích sống còn hơn nhiều so với việc vô ích làm những điều một người thích làm theo cách nhàn nhã, rồi yếu ớt trôi dạt qua năm tháng.
Therefore, the development of a sense of individual responsibility, the expression of real love in service and the reorganising the life so as to get the utmost out of each day constitutes the preparatory stage for the man who seeks to participate in the reconstruction period.
Vì vậy, việc phát triển ý thức trách nhiệm cá nhân, biểu lộ tình thương chân thật trong phụng sự và tổ chức lại đời sống để tận dụng tối đa mỗi ngày tạo thành giai đoạn chuẩn bị cho người tìm cách tham gia vào thời kỳ tái thiết.
Having then done this to the best of his ability (and many have already made a good beginning) he must develop in himself and evoke in others the spirit of goodwill. This will-to-good is of immediate effectiveness, because it governs a man’s relation to his family and his household, his business or social associates, his casual acquaintances and all with whom he may come in contact. It enables him to begin the work of reconstruction right where he is and trains him in a familiar environment to practise right human relations. It is the major and potent factor which can enable the otherwise futile individual to become a focal point of constructive influence. He will then discover that, as a result of this, his sphere of constructive influence is continually enlarging.
Sau khi đã làm điều này hết sức mình (và nhiều người đã có một khởi đầu tốt), y phải phát triển trong chính mình và khơi dậy nơi người khác tinh thần thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện này có hiệu quả tức thời, vì nó chi phối mối quan hệ của một người với gia đình và hộ gia đình của mình, với các cộng sự kinh doanh hay xã hội, với những người quen biết tình cờ và với tất cả những ai y có thể tiếp xúc. Nó giúp y bắt đầu công việc tái thiết ngay nơi mình đang ở và rèn luyện y trong một môi trường quen thuộc để thực hành các tương quan nhân loại đúng đắn. Đây là yếu tố chính và mạnh mẽ có thể giúp cá nhân vốn dĩ vô ích trở thành một tiêu điểm của ảnh hưởng xây dựng. Khi đó y sẽ khám phá rằng, do kết quả của điều này, phạm vi ảnh hưởng xây dựng của y liên tục mở rộng.
These are the first four steps, and they are perhaps the most difficult, for they are non-spectacular and almost constitute spiritual platitudes. But they are the essential and unavoidable preliminaries for the man who wants to work wisely, usefully and intuitively in the future.
Đó là bốn bước đầu tiên, và có lẽ chúng là những bước khó nhất, vì chúng không ngoạn mục và gần như tạo thành những lời sáo ngữ tinh thần. Nhưng chúng là những bước chuẩn bị thiết yếu và không thể tránh cho người muốn làm việc một cách minh triết, hữu ích và trực giác trong tương lai.
To the above he can then add the following efforts and attempt to impose upon himself this suggested programme:
Vào những điều trên, y có thể thêm những nỗ lực sau đây và cố gắng áp đặt lên mình chương trình được gợi ý này:
1. Study and reflect upon the many proposals which are being made by world leaders and thinkers as to the coming world rehabilitation. It will be necessary to plan your reading [383] and to know what is being discussed. Cultivate an intelligent opinion, based on goodwill and on what you, as a result of study, feel should be done. Then discuss the ideas in your home, among your friends and in your environment without fear or favour. It will help you to do so if you regard such discussions as a service and believe that your interests and enthusiasm cannot fail to have an effect.
1. Nghiên cứu và suy ngẫm về nhiều đề nghị đang được các nhà lãnh đạo và tư tưởng gia thế giới đưa ra liên quan đến việc phục hồi thế giới sắp đến. Cần phải hoạch định việc đọc của bạn [383] và biết điều gì đang được thảo luận. Hãy nuôi dưỡng một ý kiến thông minh, dựa trên thiện chí và trên điều mà bạn, như kết quả của việc nghiên cứu, cảm thấy nên được thực hiện. Sau đó hãy thảo luận các ý tưởng ấy trong gia đình bạn, giữa bạn bè bạn và trong môi trường của bạn mà không thiên vị hay sợ hãi. Điều đó sẽ giúp bạn nếu bạn xem những cuộc thảo luận như thế là một sự phụng sự và tin rằng mối quan tâm cùng nhiệt tâm của bạn không thể không tạo ra ảnh hưởng.
2. If possible, gather people together to discuss and study the coming world order, or cooperate with those who are already doing so. Look upon this meeting together as a definite contribution to the moulding of public opinion and as a method of building up that reservoir of thought power which can be of use to those whose task it is to rebuild. If only two people cooperate with you in this matter, the effort will not be lost or futile, for you will be helping to change the content of world thought and impressing other minds, even if you do not know it.
2. Nếu có thể, hãy tập hợp mọi người lại để thảo luận và nghiên cứu trật tự thế giới sắp đến, hoặc hợp tác với những người đã làm như vậy. Hãy xem việc cùng nhau gặp gỡ này như một đóng góp xác định vào việc nhào nặn dư luận quần chúng và như một phương pháp xây dựng kho dự trữ quyền năng tư tưởng có thể hữu ích cho những người có nhiệm vụ tái thiết. Nếu chỉ có hai người hợp tác với bạn trong việc này, nỗ lực ấy cũng sẽ không mất đi hay vô ích, vì bạn sẽ giúp thay đổi nội dung của tư tưởng thế giới và gây ấn tượng lên các trí tuệ khác, ngay cả khi bạn không biết điều đó.
3. Extend your interest to many countries and try to understand the diverse problems of those countries. Many know people in these foreign lands, and lists can be made of their names and addresses. As soon as the war is over and the lines of communication are again open, you can seek to reach these people, attempt to locate them through any available agencies, and then, when found, strengthen them with the knowledge of your goodwill or interest and by cooperating with them during the period of reconstruction. No matter how slight has been your contact with them in the past, foster it by thought and prayer, and later by direct communication. Thus a great network of relationship will be set up which will serve to weld a new world into one harmonious and understanding whole.
3. Hãy mở rộng mối quan tâm của bạn đến nhiều quốc gia và cố gắng thấu hiểu những vấn đề đa dạng của các quốc gia ấy. Nhiều người biết những người ở các xứ sở nước ngoài này, và có thể lập danh sách tên cùng địa chỉ của họ. Ngay khi chiến tranh chấm dứt và các đường liên lạc lại được mở ra, bạn có thể tìm cách tiếp cận những người này, cố gắng xác định nơi ở của họ qua bất cứ cơ quan nào sẵn có, rồi khi đã tìm được, hãy tăng cường cho họ bằng sự hiểu biết về thiện chí hay mối quan tâm của bạn và bằng cách hợp tác với họ trong thời kỳ tái thiết. Dù sự tiếp xúc của bạn với họ trong quá khứ có ít ỏi đến đâu, hãy nuôi dưỡng nó bằng tư tưởng và lời cầu nguyện, rồi sau đó bằng sự liên lạc trực tiếp. Như thế, một mạng lưới quan hệ rộng lớn sẽ được thiết lập, và mạng lưới ấy sẽ giúp hàn gắn một thế giới mới thành một toàn thể hài hòa và thấu hiểu.
4. Pray constantly, and to your prayers add meditation and reflection. Behind the world pattern and structure stands its Originator, its Planner, its motivating Energy, its central Will, its living Creator, its God. Seek by prayer to reach that central Will and point of Life, thus blending yourself [384] with the sensed divine objective and identifying your will with the Divine Will. This central Will-to-Good can be reached by the man whose own will-to-good is a living, practical experience, and the more that goodwill is expressed, the more easily will you discover and cooperate with the divine Plan and follow the guiding hand of God in world affairs. The real work of reconstruction will be done by those who, in the silence of their own hearts, have walked with God and learnt His ways.
4. Hãy cầu nguyện không ngừng, và vào những lời cầu nguyện của bạn hãy thêm tham thiền và suy tư. Đằng sau mô hình và cấu trúc của thế giới là Đấng Khởi Nguyên của nó, Đấng Hoạch Định của nó, Năng Lượng thúc đẩy của nó, Ý Chí trung tâm của nó, Đấng Sáng Tạo sống động của nó, Thượng đế của nó. Hãy tìm cách qua lời cầu nguyện mà vươn tới Ý Chí trung tâm và điểm Sự Sống ấy, nhờ đó hòa nhập chính bạn [384] với mục tiêu thiêng liêng được cảm nhận và đồng hóa ý chí của bạn với Ý Chí thiêng liêng. Ý Chí-hướng Thiện trung tâm này có thể được tiếp cận bởi người mà ý chí-hướng thiện của chính y là một kinh nghiệm sống động và thực tiễn, và thiện chí càng được biểu lộ nhiều bao nhiêu, bạn càng dễ khám phá và hợp tác với Thiên Cơ thiêng liêng và đi theo bàn tay dẫn dắt của Thượng đế trong các công việc thế giới bấy nhiêu. Công việc tái thiết thực sự sẽ được thực hiện bởi những ai, trong sự im lặng của chính trái tim mình, đã đồng hành cùng Thượng đế và học biết các đường lối của Ngài.
5. Find two other people to work with you. There is a unique potency in this triple relationship. God Himself, so say all the world Scriptures, works as a Trinity of goodness, and you can, in your tiny sphere, do the same, finding two other people of like mind with you to form a goodwill triangle of light and spiritual interplay. Each of the two who cooperate with you can, in their turn, do the same, and thus a great network of goodwill can spread throughout the world. Through it the Forces of Light will be able to work and you, in your place and sphere, will have aided and helped.
5. Hãy tìm thêm hai người khác để cùng làm việc với bạn. Có một mãnh lực độc đáo trong mối liên hệ bộ ba này. Chính Thượng đế, như mọi Kinh điển trên thế giới đều nói, hoạt động như một Tam Vị của thiện lành, và bạn cũng có thể, trong phạm vi nhỏ bé của mình, làm điều tương tự, tìm thêm hai người khác đồng tâm với bạn để hình thành một tam giác thiện chí của ánh sáng và sự tương tác tinh thần. Mỗi người trong hai người hợp tác với bạn ấy, đến lượt họ, cũng có thể làm như vậy, và như thế một mạng lưới thiện chí rộng lớn có thể lan khắp thế giới. Qua đó, Các Mãnh Lực của Ánh Sáng sẽ có thể hoạt động, và bạn, trong vị trí và phạm vi của mình, sẽ góp phần trợ giúp.
6. Find out and study the methods, techniques and objectives of the various groups and organisations which are interested in world reconstruction. You may not agree with all of them or with their plans and modes of working, but all are needed. The types of men are many, the races and conditions are varied, and the problems to be solved will call for innumerable ways of working. All can play their part if based on real goodwill and if fanaticism is absent. The fanatic is a danger wherever he is found, for he sees only one side of a question and is unable to appreciate the various points of view. He will not admit that all are needed. Cooperation is the key to expressed goodwill, and in the future period of rehabilitation cooperation will be the outstanding need. Keep a record of all such groups, their leaders, objectives and programmes. It will prove useful when the war is over. Establish helpful and friendly relations with them to the best of your ability. [385]
6. Hãy tìm hiểu và nghiên cứu các phương pháp, kỹ thuật và mục tiêu của những nhóm và tổ chức khác nhau quan tâm đến việc tái thiết thế giới. Bạn có thể không đồng ý với tất cả họ hoặc với các kế hoạch và phương thức làm việc của họ, nhưng tất cả đều cần thiết. Các loại người thì rất nhiều, các nhân loại và hoàn cảnh thì đa dạng, và những vấn đề cần giải quyết sẽ đòi hỏi vô số cách làm việc. Tất cả đều có thể đóng vai trò của mình nếu được đặt trên nền tảng thiện chí chân thật và nếu không có cuồng tín. Người cuồng tín là một mối nguy ở bất cứ nơi nào y được tìm thấy, vì y chỉ thấy một mặt của vấn đề và không thể đánh giá các quan điểm khác nhau. Y sẽ không thừa nhận rằng tất cả đều cần thiết. Hợp tác là chìa khóa của thiện chí được biểu lộ, và trong giai đoạn phục hồi tương lai, sự hợp tác sẽ là nhu cầu nổi bật nhất. Hãy lưu hồ sơ về tất cả những nhóm như thế, những người lãnh đạo, mục tiêu và chương trình của họ. Điều đó sẽ tỏ ra hữu ích khi chiến tranh chấm dứt. Hãy thiết lập những mối quan hệ hữu ích và thân thiện với họ trong khả năng tốt nhất của bạn. [385]
7. Find and keep a record also of the men and women of goodwill in your environment. Be spiritually aggressive in this matter and go out to discover them. When you have found them, then be interested in what they are doing, and also endeavour to have them cooperate with you in your lines of activity. Keep a register of the names and addresses of these people, adding also their capacities and functions if any, and thus build up a mailing list. You will then be aware of a group which can be depended upon to work in a spirit of goodwill and for world reconstruction. Later, these lists can be amalgamated, if deemed desirable, and form a vast mailing list of people in every country who will work along these indicated lines and who could be reached simultaneously. They will form a body of synchronised public opinion, sufficiently strong to mould ideas, influence the masses, and aid the world leaders to right and appropriate action.
7. Cũng hãy tìm ra và lưu hồ sơ về những người nam và nữ có thiện chí trong môi trường của bạn. Hãy tích cực một cách tinh thần trong vấn đề này và bước ra để khám phá họ. Khi bạn đã tìm thấy họ, thì hãy quan tâm đến điều họ đang làm, và cũng cố gắng để họ hợp tác với bạn trong các đường hoạt động của bạn. Hãy giữ một sổ đăng ký tên và địa chỉ của những người này, đồng thời bổ sung cả năng lực và chức năng của họ nếu có, và như thế xây dựng một danh sách gửi thư. Khi đó bạn sẽ biết đến một nhóm có thể được tin cậy để làm việc trong tinh thần thiện chí và vì sự tái thiết thế giới. Về sau, những danh sách này có thể được hợp nhất, nếu thấy là mong muốn, và hình thành một danh sách gửi thư rộng lớn gồm những người ở mọi quốc gia sẽ làm việc theo những đường lối đã được chỉ ra này và có thể được tiếp cận đồng thời. Họ sẽ tạo thành một khối dư luận công chúng được đồng bộ hóa, đủ mạnh để uốn nắn các ý tưởng, ảnh hưởng đến quần chúng, và giúp các nhà lãnh đạo thế giới hành động đúng đắn và thích hợp.
8. Above everything else and growing out of all the above suggestions, plan definitely for the rehabilitation—physical, psychological and spiritual—of the children of every country. They have been the victims of wickedness. Let them be the recipients of loving goodwill instead. The problems of economic rehabilitation, of territorial boundaries, of the demobilisation of armies and the subsequent re-employment of the demobilised, and of world rebuilding are profoundly important and will call for expert aid. But the problem of the children, as earlier pointed out, underlies the whole necessity for world rebuilding, is greater than all other problems, is above all racial and national barriers, and evokes the best in every human heart. The children have prior claim upon all men.
8. Trên hết mọi điều khác, và phát sinh từ tất cả những gợi ý trên, hãy hoạch định rõ ràng cho sự phục hồi—về thể xác, tâm lý và tinh thần—của trẻ em ở mọi quốc gia. Các em đã là nạn nhân của sự độc ác. Thay vào đó, hãy để các em là những người tiếp nhận thiện chí đầy yêu thương. Những vấn đề về phục hồi kinh tế, về ranh giới lãnh thổ, về việc giải ngũ quân đội và việc tái tuyển dụng những người đã giải ngũ sau đó, và về việc tái thiết thế giới đều vô cùng quan trọng và sẽ đòi hỏi sự trợ giúp của chuyên gia. Nhưng vấn đề trẻ em, như đã được chỉ ra trước đây, nằm dưới toàn bộ nhu cầu tái thiết thế giới, lớn hơn mọi vấn đề khác, vượt lên trên mọi rào cản chủng tộc và quốc gia, và khơi dậy điều tốt đẹp nhất trong mọi trái tim con người. Trẻ em có quyền đòi hỏi ưu tiên nơi tất cả mọi người.
I would therefore appeal to all whom I can reach through this article to concentrate their major effort—mental, spiritual and practical—on preparing themselves to aid the children of Europe and the other countries which have suffered so much at the hands of the Axis Powers. This will take much time and careful planning; it will necessitate [386] enlisting the cooperation of trained experts in the field of child welfare, doctors, surgeons, nurses, psychologists and educators; it will require much money to make the preparation effective, to send a trained personnel into the destitute and ruined countries and to carry forward the work whilst there; it will take also loving, compassionate action and long patience. It nevertheless constitutes the most important opportunity confronting the men and women of goodwill; it is the foundational activity of the new world order, for that order must be brought into being for the sake of the children of today. They will inhabit this new world, express the new ideals, and hand on to their children that for which we have fought and died, the best that we have inherited, and all that we have succeeded in salvaging for them. The thought of the children in the subjugated lands did not arrest the onward march of Hitler’s soldiers; the sanctity of the home and the physical and moral needs of small children aroused no flicker of compassion in the young men trained under the Nazi system of education; the relationship of mother and child did not enter into the calculation of the German agents as they separated children from parents and set the child adrift in a world of carnage or in an institutionalised establishment. The planned cruelty must be remedied, and it must be remedied by the men and women of goodwill and loving hearts.
Vì vậy, tôi muốn kêu gọi tất cả những ai tôi có thể tiếp cận qua bài viết này hãy tập trung nỗ lực chủ yếu của mình—về trí tuệ, tinh thần và thực tiễn—vào việc chuẩn bị để giúp đỡ trẻ em châu Âu và các quốc gia khác đã chịu đau khổ quá nhiều dưới tay các Cường quốc Trục. Điều này sẽ cần rất nhiều thời gian và sự hoạch định cẩn trọng; nó sẽ đòi hỏi [386] phải tranh thủ sự hợp tác của các chuyên gia được đào tạo trong lĩnh vực phúc lợi trẻ em, các bác sĩ, phẫu thuật viên, y tá, nhà tâm lý học và nhà giáo dục; nó sẽ cần rất nhiều tiền để làm cho sự chuẩn bị có hiệu quả, để gửi nhân sự được huấn luyện đến các quốc gia khốn cùng và điêu tàn và tiếp tục công việc khi ở đó; nó cũng sẽ đòi hỏi hành động đầy yêu thương, đầy từ bi và sự kiên nhẫn lâu dài. Tuy nhiên, điều đó cấu thành cơ hội quan trọng nhất đang đối diện những người nam và nữ có thiện chí; đó là hoạt động nền tảng của trật tự thế giới mới, vì trật tự ấy phải được đưa vào hiện hữu vì lợi ích của trẻ em ngày nay. Chính các em sẽ cư ngụ trong thế giới mới này, biểu lộ những lý tưởng mới, và truyền lại cho con cháu mình điều mà chúng ta đã chiến đấu và chết vì nó, điều tốt đẹp nhất mà chúng ta đã thừa hưởng, và tất cả những gì chúng ta đã thành công cứu vãn cho các em. Ý nghĩ về trẻ em ở những vùng đất bị khuất phục đã không ngăn được bước tiến của binh lính Hitler; tính thiêng liêng của mái ấm gia đình và những nhu cầu thể xác lẫn đạo đức của trẻ nhỏ đã không khơi lên một tia thương xót nào nơi những thanh niên được đào tạo dưới hệ thống giáo dục Quốc xã; mối liên hệ giữa mẹ và con đã không đi vào sự tính toán của các nhân viên Đức khi họ tách trẻ em khỏi cha mẹ và đẩy đứa trẻ trôi dạt trong một thế giới tàn sát hoặc trong một cơ sở tập trung hóa. Sự tàn ác có kế hoạch ấy phải được chữa lành, và nó phải được chữa lành bởi những người nam và nữ có thiện chí và trái tim yêu thương.
9. Begin now to lay aside, no matter what the personality may demand, such small sums as can be spared and which can accumulate in preparation for the work of reconstruction. If we can all do this, it will enable us to take our share in the work without placing an undue load on others. Will you see to it that this sacrifice and its resulting fund be preserved inviolate in your own hands until such time in the future as you may choose to use it?
9. Hãy bắt đầu ngay từ bây giờ để dành riêng, bất kể phàm ngã có đòi hỏi điều gì, những khoản tiền nhỏ có thể tiết kiệm được và có thể tích lũy nhằm chuẩn bị cho công việc tái thiết. Nếu tất cả chúng ta đều có thể làm điều này, điều đó sẽ giúp chúng ta đảm nhận phần việc của mình mà không đặt gánh nặng quá mức lên người khác. Bạn có sẵn lòng bảo đảm rằng sự hy sinh này và quỹ phát sinh từ nó sẽ được gìn giữ nguyên vẹn trong tay chính bạn cho đến thời điểm nào đó trong tương lai khi bạn có thể chọn sử dụng nó không?
These are the practical suggestions which it would seem possible to make at this particular time. They are of a general nature and basically individual. The whole scheme of rebuilding is as yet in the formative thought stage. The [387] process to be followed today is one of self-education and the awakening of all whom we can reach. It will demand the intelligent study and consideration of methods with which to meet this need, and the discovery of those who, irrespective of nationality or religion, can be depended upon to cooperate in the various phases of the work of reconstruction. In this work of preparation, all can share.
Đó là những gợi ý thực tiễn dường như có thể đưa ra vào thời điểm đặc biệt này. Chúng có tính chất tổng quát và về căn bản là cá nhân. Toàn bộ kế hoạch tái thiết hiện vẫn còn ở giai đoạn hình thành trong tư tưởng. Tiến trình cần được theo đuổi ngày nay là một tiến trình tự giáo dục và đánh thức tất cả những ai chúng ta có thể tiếp cận. Nó sẽ đòi hỏi sự nghiên cứu và cân nhắc thông minh về những phương pháp để đáp ứng nhu cầu này, và việc khám phá ra những ai, bất kể quốc tịch hay tôn giáo, có thể được tin cậy để hợp tác trong các giai đoạn khác nhau của công việc tái thiết. Trong công việc chuẩn bị này, tất cả đều có thể chia sẻ.
To this task we are all called, and to it there are many voices calling today; there are thousands who have dreamed the same dream, seen the same vision, believed in the divine possibilities which are latent in all human hearts and who know, past all controversy, that selfishness and universal greed have brought the world to its present desperate plight. They know also that selfless sharing and cooperative understanding between all men of goodwill everywhere can rebuild a new world, bring into being a more beautiful life, and restore that which humanity itself has destroyed. The best is yet to be. We can rest back upon the realisation that the history of the human race has been one of a steady moving forward down the ages and towards the light.
Tất cả chúng ta đều được kêu gọi vào nhiệm vụ này, và hôm nay có nhiều tiếng gọi hướng về nó; có hàng ngàn người đã mơ cùng một giấc mơ, thấy cùng một linh ảnh, tin vào những khả năng thiêng liêng tiềm ẩn trong mọi trái tim con người và biết, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng tính ích kỷ và lòng tham phổ quát đã đưa thế giới đến tình trạng tuyệt vọng hiện nay. Họ cũng biết rằng sự chia sẻ vô ngã và sự thấu hiểu hợp tác giữa tất cả những người có thiện chí ở khắp nơi có thể tái thiết một thế giới mới, đưa vào hiện hữu một đời sống đẹp đẽ hơn, và phục hồi điều mà chính nhân loại đã phá hủy. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước. Chúng ta có thể an nghỉ trong sự chứng nghiệm rằng lịch sử của nhân loại đã là một sự tiến bước vững vàng qua các thời đại và hướng về ánh sáng.
~
~
AN IMMINENT SPIRITUAL EVENT—MỘT BIẾN CỐ TINH THẦN SẮP XẢY RA
March 1943
Tháng Ba 1943
We are nearing the climax of the spiritual year. The greatest Approach of all time is imminent and possible. Much depends now upon the aspirants and disciples of the world, particularly those in physical incarnation today. A major contact between Shamballa and the Hierarchy, for which initiates and Masters have, for centuries, been preparing is in process of consummation. I shall very shortly be giving you some further information on the subject in an attempt to anchor on the earth that seed of the new world religion which an earlier instruction upon the Great Approaches (“A Treatise on the Seven Rays, Vol. II (Eoteric Psychology), Pages 701-751.) indicated might be founded, and lead to a true start of a universal faith which will serve the need of [388] humanity for a long time to come. All I ask of you today is to begin now a most careful preparation for the event which is impending at the time of the Full Moon of May, so that the energies then set in motion may be aided by your directed thought and you yourselves may come more fully into the current of the downpouring life.
Chúng ta đang tiến gần đến cao điểm của năm tinh thần. Cuộc Tiếp Cận vĩ đại nhất của mọi thời đại đang cận kề và có thể xảy ra. Giờ đây, nhiều điều tùy thuộc vào những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới, đặc biệt là những người hiện đang lâm phàm trên cõi hồng trần. Một sự tiếp xúc lớn giữa Shamballa và Thánh đoàn, mà các điểm đạo đồ và các Chân sư đã chuẩn bị suốt nhiều thế kỷ, đang trong tiến trình hoàn tất. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ cung cấp cho các bạn thêm một số thông tin về chủ đề này nhằm cố gắng neo giữ trên Trái Đất hạt giống của tôn giáo thế giới mới mà một huấn thị trước đây về các Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại (“A Treatise on the Seven Rays, Vol. II (Eoteric Psychology), Pages 701-751.) đã chỉ ra rằng có thể được thiết lập, và dẫn đến một sự khởi đầu chân thực của một đức tin phổ quát sẽ đáp ứng nhu cầu của [388] nhân loại trong một thời gian dài sắp tới. Tất cả những gì tôi yêu cầu nơi các bạn hôm nay là hãy bắt đầu ngay bây giờ một sự chuẩn bị hết sức cẩn trọng cho biến cố đang sắp xảy ra vào lúc Trăng Tròn tháng Năm, để những năng lượng khi ấy được khởi động có thể được trợ giúp bởi tư tưởng được định hướng của các bạn và chính các bạn có thể đi vào đầy đủ hơn trong dòng sống đang tuôn đổ xuống.
At the coming Wesak Festival and until the Full Moon of June including the five days after that Full Moon I ask you to use both of the Invocations (pp. 144, 249), thus testifying greatly to the fusion of humanity into one great group of invocative appeal. Make a real effort to be present and in group formation at the exact time of the Full Moon of May, as far as you know it, using both Invocations and believing that you are voicing the unified will and desire of humanity itself. I will enlarge upon this in my Wesak message, but I seek to get this to you as early as possible so that my own group, in process of training, can lay the needed foundations of the work to be done.
Vào Lễ Hội Wesak sắp tới và cho đến Trăng Tròn tháng Sáu, kể cả năm ngày sau Trăng Tròn ấy, tôi yêu cầu các bạn sử dụng cả hai Khẩn Cầu (tr. 144, 249), nhờ đó làm chứng mạnh mẽ cho sự dung hợp của nhân loại thành một nhóm lớn duy nhất trong lời kêu gọi khẩn cầu. Hãy thực sự nỗ lực hiện diện và ở trong đội hình nhóm vào đúng thời điểm Trăng Tròn tháng Năm, theo như các bạn biết, sử dụng cả hai Khẩn Cầu và tin rằng các bạn đang cất lên ý chí và khát vọng hợp nhất của chính nhân loại. Tôi sẽ nói rộng hơn về điều này trong thông điệp Wesak của tôi, nhưng tôi muốn gửi điều này đến các bạn càng sớm càng tốt để nhóm riêng của tôi, hiện đang trong tiến trình huấn luyện, có thể đặt những nền móng cần thiết cho công việc phải làm.
Let me extend this concept a little further by pointing out that the invocative cry of humanity and of the Hierarchy, jointly sounded at the time of the Full Moons of May and June and particularly at the Wesak Festival, will be effective if the “cold light” of the aspirants and disciples of the world and of all selfless servers, no matter who or where they may be found, is united with the “clear light” of the initiates and of those who can function freely as souls—the Members of the Hierarchy and, to a lesser degree, all accepted disciples. This combination is the one that is desired and required. These people are relatively few in number, when compared with the world’s population, but because they are to be found focussed at “the deep centre” and are distinguished by the quality of fusion and at-one-ment, they can be enormously potent. I would, therefore, ask all of you (during the weeks prior to the Full Moon of May and that of June and for five days thereafter) to seek to “dwell ever at the centre,” to endeavour to blend the cold light of your personalities with the clear light of your soul, so as to work effectively for the five weeks of the desired period. [389]
Hãy để tôi mở rộng khái niệm này thêm một chút bằng cách chỉ ra rằng tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và của Thánh đoàn, cùng được xướng lên vào lúc Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu, và đặc biệt vào Lễ Hội Wesak, sẽ có hiệu quả nếu “ánh sáng lạnh” của những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới và của tất cả những người phụng sự vô ngã, bất kể họ là ai hay ở đâu, được hợp nhất với “ánh sáng trong sáng” của các điểm đạo đồ và của những ai có thể hoạt động tự do như các linh hồn—các Thành Viên của Thánh đoàn và, ở mức độ thấp hơn, tất cả các đệ tử được chấp nhận. Sự kết hợp này là điều được mong muốn và đòi hỏi. Những người này tương đối ít về số lượng khi so với dân số thế giới, nhưng bởi vì họ được tìm thấy tập trung tại “trung tâm sâu thẳm” và được phân biệt bởi phẩm tính dung hợp và nhất thể, họ có thể có mãnh lực vô cùng lớn. Vì vậy, tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn (trong những tuần trước Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu và trong năm ngày sau đó) hãy tìm cách “luôn luôn an trụ tại trung tâm”, cố gắng hòa trộn ánh sáng lạnh của các phàm ngã các bạn với ánh sáng trong sáng của linh hồn các bạn, để có thể hoạt động hữu hiệu trong năm tuần của giai đoạn mong muốn. [389]
~
~
A SPECIAL WESAK MESSAGE—MỘT THÔNG ĐIỆP WESAK ĐẶC BIỆT
April 1943
Tháng Tư 1943
This communication is addressed to the members of the New Group of World Servers who can be reached (there are countless numbers of whom you have no knowledge) and to the men and women of goodwill everywhere. I would ask you to see that as many receive this as possible. We are nearing the climax of the spiritual year and the time that the Sun moves northward. The greatest Approach of all time is close and possible. Much however depends upon the aspirants and the disciples in the world at this time. The past year has been one of the world’s worst experiences from the standpoint of agony and distress; the point of acutest suffering has been reached. It has, however, been the year in which the greatest spiritual Approach of all time has shown itself to be possible—an Approach for which the initiates and Masters have for centuries been preparing, and for which all the Wesak Festivals since the meeting of the Great Council in 1925 have been preparatory. I have, in past instructions, referred to the great meetings held at intervals by Those to Whom is entrusted the spiritual guidance of the planet and particularly of man. Certain facts must be assumed, such as the acceptance in the Western hemisphere of the existence of the Christ and in the Eastern, of the Buddha. It is, therefore, surely possible (given this acceptance) to assume that They and Their disciples must and do confer together upon the steps needed to guide mankind along the path of light, the path to God. To this all the world Scriptures bear witness and to this all spiritual knowers testify. I have not time today to enlarge upon this theme. I simply ask for your acceptance of the hypothesis (an hypothesis which is a fact to many millions and a proved event to many thousands) that spiritual guidance is accorded to mankind and that behind the veil which separates the visible from the invisible there stand Those Who are working strenuously—and, I might add, scientifically—to meet the present dire need.
Thông điệp này được gửi đến các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể được tiếp cận (có vô số người mà các bạn không hề biết) và đến những người nam và nữ có thiện chí ở khắp nơi. Tôi muốn yêu cầu các bạn bảo đảm rằng càng nhiều người nhận được thông điệp này càng tốt. Chúng ta đang tiến gần đến cao điểm của năm tinh thần và thời điểm Mặt Trời chuyển động về phía bắc. Cuộc Tiếp Cận vĩ đại nhất của mọi thời đại đang gần kề và có thể xảy ra. Tuy nhiên, nhiều điều tùy thuộc vào những người chí nguyện và các đệ tử trong thế giới vào lúc này. Năm vừa qua là một trong những kinh nghiệm tồi tệ nhất của thế giới xét từ quan điểm đau đớn và khốn khổ; điểm đau khổ gay gắt nhất đã đạt tới. Tuy nhiên, đó cũng là năm mà Cuộc Tiếp Cận tinh thần vĩ đại nhất của mọi thời đại đã cho thấy là có thể xảy ra—một Cuộc Tiếp Cận mà các điểm đạo đồ và các Chân sư đã chuẩn bị suốt nhiều thế kỷ, và mà mọi Lễ Hội Wesak kể từ cuộc họp của Đại Mật Nghị năm 1925 đều là sự chuẩn bị. Trong các huấn thị trước đây, tôi đã đề cập đến những cuộc họp lớn được tổ chức theo từng thời kỳ bởi Những Đấng được giao phó sự hướng dẫn tinh thần của hành tinh và đặc biệt là của con người. Một số sự kiện phải được giả định, chẳng hạn như sự chấp nhận ở Tây bán cầu về sự hiện hữu của Đức Christ và ở Đông bán cầu về Đức Phật. Vì vậy, hẳn là có thể (nếu chấp nhận điều này) giả định rằng Các Ngài và các đệ tử của Các Ngài phải và thực sự cùng nhau hội bàn về những bước cần thiết để hướng dẫn nhân loại trên con đường ánh sáng, con đường đến với Thượng đế. Tất cả Kinh điển thế giới đều làm chứng cho điều này và mọi thức giả tinh thần đều xác nhận điều này. Hôm nay tôi không có thời gian để nói rộng về chủ đề ấy. Tôi chỉ yêu cầu các bạn chấp nhận giả thuyết này (một giả thuyết là sự kiện đối với nhiều triệu người và là một biến cố đã được chứng minh đối với nhiều ngàn người) rằng sự hướng dẫn tinh thần được ban cho nhân loại và rằng đằng sau bức màn ngăn cách cái hữu hình với cái vô hình có Những Đấng đang nỗ lực hết sức—và, tôi có thể nói thêm, một cách khoa học—để đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay.
[390] Two things are occupying Their attention:
[390] Có hai điều đang chiếm lĩnh sự chú ý của Các Ngài:
1. The need to bring the present strife and warfare to an end and so release mankind from an evil past and open the door to a better future.
1. Nhu cầu chấm dứt cuộc xung đột và chiến tranh hiện nay, nhờ đó giải thoát nhân loại khỏi một quá khứ xấu ác và mở cánh cửa đến một tương lai tốt đẹp hơn.
2. The opportunity to lay the foundations for that new world religion which will suffice to meet man’s need for many centuries ahead and for which all past world religions have prepared him.
2. Cơ hội đặt nền móng cho tôn giáo thế giới mới, tôn giáo sẽ đủ để đáp ứng nhu cầu của con người trong nhiều thế kỷ sắp tới và mà mọi tôn giáo thế giới trong quá khứ đã chuẩn bị cho y.
Such, brother of mine, are two of the objectives lying before the Hierarchy at this time as it prepares for the Full Moons of May and June. Can the forces be so organised and the energies, pending distribution, so dispersed that the full measure of good can be evoked? Can the evocation of a new cycle of spiritual contact and of liberation be brought about by the action of the men and women of goodwill? Can the will-to-good of the spiritual Energies and the goodwill of humanity itself be brought together and produce those conditions in which the new world order—visioned by all who truly love their fellowmen—be enabled to function? Can the situation be so staged that the new world religion and the new approach of humanity to God are brought into being? These are the important questions which the Hierarchy is today attempting to answer.
Đó, huynh đệ của tôi, là hai trong những mục tiêu đang ở trước Thánh đoàn vào lúc này khi Thánh đoàn chuẩn bị cho Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu. Liệu các mãnh lực có thể được tổ chức như thế và các năng lượng, đang chờ phân phối, có thể được phân tán như thế để toàn bộ mức độ thiện lành có thể được gợi lên chăng? Liệu sự gợi lên của một chu kỳ mới về tiếp xúc tinh thần và giải thoát có thể được mang lại bởi hành động của những người nam và nữ có thiện chí chăng? Liệu ý chí-hướng thiện của các Năng Lượng tinh thần và thiện chí của chính nhân loại có thể được đưa lại với nhau và tạo ra những điều kiện trong đó trật tự thế giới mới—được linh ảnh bởi tất cả những ai thật sự yêu thương đồng loại—có thể được tạo điều kiện để hoạt động chăng? Liệu tình hình có thể được dàn xếp sao cho tôn giáo thế giới mới và sự tiếp cận mới của nhân loại với Thượng đế được đưa vào hiện hữu chăng? Đó là những câu hỏi quan trọng mà Thánh đoàn hôm nay đang cố gắng trả lời.
The group of spiritual workers of whom I happen to be one is faced with two major problems: the problem of the war itself with its stupefying and stunning effect upon the masses everywhere, and the problem offered by the aspirants and disciples throughout the world. Can the suffering masses of men “stand with massed intent” and with eyes directed towards God so that their cry can mount to His ears? And will the spiritually minded people and the workers for humanity make that supreme effort (rendered from an adequate “point of tension”) so that humanity may be focussed in its appeal and bring about a response from the highest available sources. Can the united effort of these two groups—one conscious of what is happening and the other unconscious—evoke reply?
Nhóm những người hoạt động tinh thần mà tôi tình cờ là một thành viên đang đối diện với hai vấn đề lớn: vấn đề của chính cuộc chiến với tác động làm tê dại và choáng váng của nó lên quần chúng ở khắp nơi, và vấn đề do những người chí nguyện và các đệ tử trên toàn thế giới đặt ra. Liệu quần chúng đau khổ của loài người có thể “đứng với ý định tập thể” và với đôi mắt hướng về Thượng đế để tiếng kêu của họ có thể vang lên đến tai Ngài chăng? Và liệu những người có tâm hướng tinh thần và những người hoạt động vì nhân loại có thực hiện nỗ lực tối thượng ấy (được thực hiện từ một “điểm tập trung nhất tâm” thích đáng) để nhân loại có thể được tập trung trong lời kêu cầu của mình và mang lại một sự đáp ứng từ những nguồn cao nhất có thể tiếp cận chăng? Liệu nỗ lực hợp nhất của hai nhóm này—một nhóm ý thức được điều đang xảy ra và nhóm kia thì không—có thể gợi lên sự đáp lời chăng?
[391] In moments of extreme urgency or crisis, the story of the Christ brings to our attention the fact that He then came in touch with His Father in Heaven. God spoke to Him in terms of recognition; God testified to the fact that He knew Him for His beloved Son. To these basic facts of the historical record, we must add the realisation that “as He is, so are we in this world” and the assurance of Christ Himself that God is also our Father. Then the door of possibility opens. We can come then to the realisation that in times of intense human urgency, stress and crisis and when the soul of man is adequately aroused to the needed point of spiritual receptivity (as was ever the case with Christ) then there can likewise come a divine recognition from the highest possible source which will suffice to bring release and liberation and to give power—power to do the right, to take those steps which are demanded by the spiritual purpose and to proceed, consequently, along the path of evolution.
[391] Trong những lúc cực kỳ khẩn cấp hay khủng hoảng, câu chuyện về Đức Christ khiến chúng ta chú ý đến sự kiện rằng khi ấy Ngài đã tiếp xúc với Cha của Ngài trên Thiên Đàng. Thượng đế đã nói với Ngài bằng những lời xác nhận; Thượng đế làm chứng cho sự kiện rằng Ngài biết Ngài là Con yêu dấu của Ngài. Vào những sự kiện căn bản này của ghi chép lịch sử, chúng ta phải thêm vào sự chứng nghiệm rằng “Ngài thế nào, chúng ta cũng như vậy trong thế gian này” và sự bảo đảm của chính Đức Christ rằng Thượng đế cũng là Cha của chúng ta. Khi đó cánh cửa của khả năng mở ra. Khi ấy chúng ta có thể đi đến sự chứng nghiệm rằng trong những thời kỳ khẩn cấp, căng thẳng và khủng hoảng dữ dội của con người, và khi linh hồn con người được khơi dậy đầy đủ đến điểm tiếp nhận tinh thần cần thiết (như luôn luôn là trường hợp của Đức Christ), thì cũng có thể có một sự xác nhận thiêng liêng từ nguồn cao nhất có thể, đủ để mang lại sự giải thoát và giải phóng và ban quyền năng—quyền năng để làm điều đúng, để thực hiện những bước được mục đích tinh thần đòi hỏi và do đó tiến bước trên con đường tiến hoá.
Let me here point out that where this is a group activity upon the physical plane there is—under the Law of Balance and of Action and Reaction—a paralleling spiritual activity. The entire world of men is today engaged in an intense activity in the material world—marching armies, factories working in shifts twenty-four hours a day, seething migrations and deportations of people, intense air activity and the organising and planned work of the hundreds of relief agencies in every country—to mention only a few of the myriad activities. The personalities of men everywhere are engaged and mentally, emotionally and physically they are all working at high pressure. The impact of circumstance and events has never been so potent. Alongside of this material activity of humanity is to be found the strenuous endeavour, the effort to think constructively, the focussed idealism, the registration of vision and the spiritual aspiration of the people of goodwill, of the disciples everywhere, plus the trained spiritual activity of the Hierarchy and of the spiritual leaders of the race upon the outer and the inner side of life. To this must be added the activity (the waiting [392] activity, if I might use so paradoxical a phrase) of that centre of life where the will of God is focussed.
Ở đây, hãy để tôi chỉ ra rằng nơi nào đây là một hoạt động nhóm trên cõi hồng trần thì ở đó—dưới Định luật Quân Bình và Hành Động cùng Phản Ứng—có một hoạt động tinh thần song hành. Toàn thể thế giới loài người ngày nay đang dấn thân vào một hoạt động mãnh liệt trong thế giới vật chất—các đạo quân hành quân, các nhà máy làm việc theo ca suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày, những cuộc di cư và trục xuất người dân sôi sục, hoạt động không quân dữ dội và công việc có tổ chức và có kế hoạch của hàng trăm cơ quan cứu trợ ở mọi quốc gia—chỉ kể vài trong vô số hoạt động. Các phàm ngã của con người ở khắp nơi đều bị cuốn vào, và về trí tuệ, cảm xúc và thể xác, tất cả họ đều đang làm việc dưới áp lực cao. Tác động của hoàn cảnh và biến cố chưa bao giờ mạnh mẽ đến thế. Song song với hoạt động vật chất này của nhân loại là nỗ lực gắng sức, cố gắng suy nghĩ một cách xây dựng, lý tưởng tập trung, sự ghi nhận linh ảnh và khát vọng tinh thần của những người có thiện chí, của các đệ tử ở khắp nơi, cộng thêm hoạt động tinh thần được huấn luyện của Thánh đoàn và của các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại ở mặt ngoài và mặt trong của đời sống. Vào đó còn phải thêm hoạt động (hoạt động chờ đợi [392], nếu tôi có thể dùng một cụm từ nghịch lý như thế) của trung tâm sự sống nơi ý chí của Thượng đế được tập trung.
There are therefore, (speaking in terms of spiritual endeavour) the following groups whose massed intent is to bring about the liberation of humanity and who are to be found everywhere in the world:
Vì vậy, có những nhóm sau đây (nói theo ngôn ngữ nỗ lực tinh thần) mà ý định tập thể của họ là mang lại sự giải thoát cho nhân loại và họ được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới:
1. The men and women of goodwill.
1. Những người nam và nữ có thiện chí.
2. The idealists and the dreamers of dreams, the visioners of a future world.
2. Những nhà lý tưởng và những người mơ mộng, những người có linh thị về một thế giới tương lai.
3. The spiritually minded people whom we call the world aspirants.
3. Những người có tâm hướng tinh thần mà chúng ta gọi là những người chí nguyện của thế giới.
4. Disciples throughout the planet.
4. Các đệ tử trên khắp hành tinh.
5. The Members of the spiritual Hierarchy of the planet, either in or out of incarnation.
5. Các Thành Viên của Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh, dù đang lâm phàm hay không.
6. The Custodians of the Will or Purpose of God, holding Themselves in readiness at Shamballa and listening for the demand for succour as it rises from mankind.
6. Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí hay Thiên Ý của Thượng đế, đang giữ mình trong tư thế sẵn sàng tại Shamballa và lắng nghe lời kêu cứu khi nó dâng lên từ nhân loại.
7. Certain great Energies of extra-planetary significance Who stand ready to intervene should the spiritual invocation or the distress of humanity reach the pitch of evocation.
7. Một số Năng Lượng vĩ đại có ý nghĩa ngoài hành tinh đang đứng sẵn để can thiệp nếu sự khẩn cầu tinh thần hay nỗi khốn khổ của nhân loại đạt đến mức độ gợi lên.
The problem is how to fuse and blend the first five groups so that the spiritual appeal can express a group integrated and united demand. Only such a united demand, focussing the “massed intent” of mankind will suffice to evoke an extra-planetary response.
Vấn đề là làm sao dung hợp và hòa trộn năm nhóm đầu tiên để lời kêu gọi tinh thần có thể biểu lộ một đòi hỏi nhóm được tích hợp và hợp nhất. Chỉ một đòi hỏi hợp nhất như thế, tập trung “ý định tập thể” của nhân loại, mới đủ để gợi lên một sự đáp ứng ngoài hành tinh.
Much of this task of unification lies in the hands of two groups: the planetary Hierarchy and the New Group of World Servers. With the work of the first group, mankind has little to do, for They can be depended upon to fulfil Their task and to shoulder Their responsibility to the full. With the work of the New Group of World Servers all of you have much to do and it is about this work that I write at this time.
Phần lớn nhiệm vụ hợp nhất này nằm trong tay hai nhóm: Thánh đoàn hành tinh và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Với công việc của nhóm thứ nhất, nhân loại ít có liên quan, vì có thể tin cậy rằng Các Ngài sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình và gánh vác trách nhiệm của mình một cách trọn vẹn. Với công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, tất cả các bạn có rất nhiều việc phải làm, và chính về công việc này mà tôi viết vào lúc này.
I shall not waste time in defining the personnel of this group. Suffice it to say that all who truly love their fellowmen [393] and who serve them with sacrifice and selfless understanding constitute this group. Along with the affiliated body of men of goodwill, the members of the New Group of World Servers must now prepare themselves for a great act of service at the time of the May and June Full Moons and throughout the weeks preceding those times.
Tôi sẽ không mất thời gian để định nghĩa thành phần của nhóm này. Chỉ cần nói rằng tất cả những ai thật sự yêu thương đồng loại [393] và phụng sự họ với sự hy sinh và thấu hiểu vô ngã đều cấu thành nhóm này. Cùng với tập thể liên kết gồm những người có thiện chí, các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian giờ đây phải chuẩn bị cho mình một hành vi phụng sự lớn lao vào lúc Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu và trong suốt những tuần trước các thời điểm ấy.
The statements which I am now going to make, I will put as briefly as possible, leaving you to ponder upon them and trusting you to understand them. What I have now to say will fall into three parts:
Những điều tôi sắp nói bây giờ, tôi sẽ trình bày càng ngắn gọn càng tốt, để các bạn tự suy ngẫm về chúng và tin tưởng rằng các bạn sẽ thấu hiểu chúng. Điều tôi phải nói bây giờ sẽ chia thành ba phần:
1. The work of the Hierarchy in the immediate future at these Full Moon Periods
1. Công việc của Thánh đoàn trong tương lai gần vào các thời kỳ Trăng Tròn này
2. The task of the New Group of World Servers today
2. Nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ngày nay
3. The New World Religion and its spiritual future.
3. Tôn giáo Thế giới Mới và tương lai tinh thần của nó.
It is necessary for you to understand the immediate spiritual possibilities which confront humanity if those of you who have vision and love humanity are to measure up to the immediate opportunity. It is necessary that you should grasp the immediate preparatory steps which you can take in relation to those possibilities and should also have a vision of the principles which must govern the new world religion, with its outstanding points of focus. I do not intend to plead with you, as in the past, or ask you for cooperation either to serve or sacrifice. I only seek to give you information, leaving you to make due application under the urge of your own souls.
Điều cần thiết là các bạn phải hiểu những khả năng tinh thần trước mắt đang đối diện nhân loại nếu những ai trong các bạn có tầm nhìn và yêu thương nhân loại muốn đáp ứng xứng đáng với cơ hội trước mắt. Điều cần thiết là các bạn phải nắm được những bước chuẩn bị trước mắt mà các bạn có thể thực hiện liên quan đến những khả năng ấy và cũng phải có một tầm nhìn về những nguyên lý phải chi phối tôn giáo thế giới mới, cùng với những điểm tập trung nổi bật của nó. Tôi không có ý định nài xin các bạn, như trong quá khứ, hay yêu cầu các bạn hợp tác để phụng sự hoặc hy sinh. Tôi chỉ tìm cách cung cấp cho các bạn thông tin, để các bạn tự mình áp dụng thích đáng dưới sự thúc đẩy của chính linh hồn mình.
The Work of the Hierarchy in the Immediate Future
Công Việc của Thánh đoàn trong Tương Lai Gần
The past history of the relations existing between the Hierarchy as a whole and humanity as a whole can be summarised in the idea of the carrying out of certain Great Approaches between Those who express the spiritual attitude and those who are frankly material in their attitude. By means of these Approaches, humanity has been brought (in consciousness) increasingly nearer to the spiritual centres of love and life and has been stimulated to make spiritual [394] progress, to awaken to the light within, to unfold the Christ consciousness and to find the Path of Light which leads to divinity. This steady trend towards increasing relationship has focussed itself throughout the historical record by means of certain great registered revelations—the result of these Approaches. Always in moments of crisis and tension, the cry of humanity has evoked response from the Hierarchy which has come, sometimes rapidly, sometimes more slowly, but always inevitably. In modern history, two such Approaches are recognised as existing on a broad human scale, i.e., the one which focussed through the coming of the Buddha to the Eastern civilisation and that which focussed through the Christ, coming to the West. Another Great Approach is now at hand but its date is dependent upon the activity of the New Group of World Servers and the spiritual tension which they can achieve.
Lịch sử quá khứ của những mối liên hệ tồn tại giữa toàn thể Thánh đoàn và toàn thể nhân loại có thể được tóm lược trong ý tưởng về việc thực hiện một số Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại giữa Những Đấng biểu lộ thái độ tinh thần và những người có thái độ hoàn toàn vật chất. Nhờ các Cuộc Tiếp Cận này, nhân loại đã được đưa đến gần hơn (trong tâm thức) với các trung tâm tinh thần của tình thương và sự sống và đã được kích thích để đạt tiến bộ [394] tinh thần, thức tỉnh với ánh sáng bên trong, khai mở tâm thức Christ và tìm ra Con Đường Ánh Sáng dẫn đến thiên tính. Khuynh hướng vững bền này hướng đến mối liên hệ ngày càng tăng đã được tập trung trong toàn bộ ghi chép lịch sử qua một số mặc khải lớn đã được ghi nhận—kết quả của các Cuộc Tiếp Cận này. Luôn luôn trong những lúc khủng hoảng và căng thẳng, tiếng kêu của nhân loại đã gợi lên sự đáp ứng từ Thánh đoàn, và sự đáp ứng ấy đã đến, đôi khi nhanh chóng, đôi khi chậm hơn, nhưng luôn luôn không thể tránh khỏi. Trong lịch sử hiện đại, hai Cuộc Tiếp Cận như thế được công nhận là đã tồn tại trên quy mô rộng lớn của nhân loại, tức là cuộc tiếp cận được tập trung qua sự xuất hiện của Đức Phật đối với nền văn minh phương Đông và cuộc tiếp cận được tập trung qua Đức Christ đến với phương Tây. Một Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại khác hiện đang ở trong tầm tay, nhưng ngày tháng của nó tùy thuộc vào hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và sự căng thẳng tinh thần mà họ có thể đạt được.
A major preparatory period to this Approach took place in 1936 and in this preparation many of you participated; it culminated at the time of the Full Moon of May that year in a worldwide use of the first Invocation which I gave you. Now, seven years later, comes the opportunity to carry forward the work then started and to achieve results which may release spiritual tides of forces and these may turn the tide of battle. I refer not here to the battle in the physical sense. The war, from the physical angle, is already won though many months may elapse before the victory in the East and in the West is completely achieved. This you realise. But—again paralleling this physical achievement—must come a spiritual victory and this could be described as the gaining of a new spiritual orientation and a new attitude towards God, to express it very simply.
Một giai đoạn chuẩn bị lớn cho Cuộc Tiếp Cận này đã diễn ra vào năm 1936, và trong sự chuẩn bị ấy nhiều người trong các bạn đã tham gia; nó đạt đỉnh điểm vào lúc Trăng Tròn tháng Năm năm đó trong việc sử dụng trên toàn thế giới Khẩn Cầu thứ nhất mà tôi đã trao cho các bạn. Giờ đây, bảy năm sau, cơ hội đến để tiếp tục công việc đã khởi sự khi ấy và đạt được những kết quả có thể giải phóng những thủy triều tinh thần của các mãnh lực, và những mãnh lực này có thể xoay chuyển dòng triều của trận chiến. Ở đây tôi không nói đến trận chiến theo nghĩa hồng trần. Cuộc chiến, xét từ góc độ hồng trần, đã được thắng rồi, dù có thể còn nhiều tháng trôi qua trước khi chiến thắng ở phương Đông và phương Tây được hoàn toàn đạt tới. Các bạn nhận ra điều này. Nhưng—một lần nữa song hành với thành tựu hồng trần này—phải đến một chiến thắng tinh thần, và điều này có thể được mô tả là việc đạt được một định hướng tinh thần mới và một thái độ mới đối với Thượng đế, nói một cách rất đơn giản.
In reverse, I might point out that the reasons for a measure of failure in 1936 can be traced to two sources. The work was relatively so successful that it called forth a powerful paralleling activity upon the part of the Forces of Evil; these were potent enough to overwhelm temporarily the Forces of Light and to bring on the war with all its attendant horrors. Secondly, the New Group of World [395] Servers, the men and women of goodwill and the aspirants everywhere relaxed their efforts; they did not hold the tension gained but slipped back into negligence; the work did not go on and this in spite of the constant effort of a few. But they were too few.
Ngược lại, tôi có thể chỉ ra rằng những lý do cho một mức độ thất bại nào đó vào năm 1936 có thể được truy nguyên về hai nguồn. Công việc đã tương đối thành công đến mức nó đã gọi ra một hoạt động song hành mạnh mẽ từ phía Các Mãnh Lực của Điều Ác; các mãnh lực này đủ mạnh để tạm thời áp đảo Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và gây ra chiến tranh với tất cả những nỗi kinh hoàng đi kèm. Thứ hai, Đoàn Người Mới [395] Phụng Sự Thế Gian, những người nam và nữ có thiện chí và những người chí nguyện ở khắp nơi đã buông lỏng nỗ lực của mình; họ đã không giữ được sự căng thẳng đã đạt được mà trượt trở lại sự lơ là; công việc đã không tiếp tục, mặc dù có nỗ lực không ngừng của một số ít người. Nhưng họ quá ít.
Now again comes opportunity and the possibility of a Great Approach which can be the consummation of the work started in 1936. The battle is on between the Forces of Light and the Forces of Evil. To end this warfare rapidly, and with success, leaving a wide open door to a better world, the Forces of Life must be called in. It is this which is engaging the attention of the Hierarchy at this time. For aiding in this endeavour the Buddha is preparing Himself and for this the Christ stands ready, focussing in Himself the desire of Humanity for that “life more abundantly” which He promised when here before, and for liberation from evil and admission into good. One of the realisations emerging out of this war is the fact that humanity has now, as a whole, been able to see and grasp more clearly than ever before, the nature of evil. Men are recoiling in horror from this display of rampant evil and even the wicked man is shocked and arrested by the unleashed wickedness which is today stalking the Earth. That realisation is good and will help the needed reorientation of mankind towards God and good.
Giờ đây cơ hội lại đến và khả năng của một Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại có thể là sự hoàn tất công việc đã khởi sự năm 1936. Trận chiến đang diễn ra giữa Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và Các Mãnh Lực của Điều Ác. Để chấm dứt nhanh chóng cuộc chiến này và với thành công, để lại một cánh cửa rộng mở cho một thế giới tốt đẹp hơn, Các Mãnh Lực của Sự Sống phải được kêu gọi vào. Chính điều này đang thu hút sự chú ý của Thánh đoàn vào lúc này. Để trợ giúp trong nỗ lực này, Đức Phật đang chuẩn bị chính Ngài, và vì điều này Đức Christ đang sẵn sàng, tập trung trong chính Ngài khát vọng của Nhân loại đối với “sự sống dồi dào hơn” mà Ngài đã hứa khi còn ở đây trước kia, và đối với sự giải thoát khỏi điều ác và sự bước vào điều thiện. Một trong những chứng nghiệm đang nổi lên từ cuộc chiến này là sự kiện rằng nhân loại giờ đây, như một toàn thể, đã có thể thấy và nắm bắt rõ ràng hơn bao giờ hết bản chất của điều ác. Con người đang rùng mình kinh hoàng trước sự phô bày của điều ác hoành hành này, và ngay cả kẻ xấu ác cũng bị chấn động và chặn lại bởi sự độc ác được tháo tung đang rình rập trên Trái Đất ngày nay. Sự chứng nghiệm ấy là tốt và sẽ giúp cho sự tái định hướng cần thiết của nhân loại hướng về Thượng đế và điều thiện.
Putting it very simply, the Hierarchy is today getting ready for a Great Approach which will have two results:
Nói một cách rất đơn giản, Thánh đoàn ngày nay đang chuẩn bị cho một Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại sẽ có hai kết quả:
1. It will bring about a closer relation between those great Lives Who embody the will of God and are the Custodians of the divine purpose, and Those Who embody the love of God and are the Custodians of the immediate Plan for humanity. This relationship can be established at the time of the May Full Moon at which time the Buddha will embody in Himself the powerful downpouring of energy—the dynamic energy of the divine will. The Christ, at the same time, will embody the outpouring dominant demand of the spiritual aspiration of mankind, plus [396] the demand of the Hierarchy for the needed aid at this time of crisis.
1. Nó sẽ mang lại một mối liên hệ gần gũi hơn giữa những Sự Sống vĩ đại đang thể hiện ý chí của Thượng đế và là Những Đấng Gìn Giữ thiên ý thiêng liêng, với Những Đấng thể hiện tình thương của Thượng đế và là Những Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ trước mắt cho nhân loại. Mối liên hệ này có thể được thiết lập vào lúc Trăng Tròn tháng Năm, khi ấy Đức Phật sẽ thể hiện trong chính Ngài sự tuôn đổ mạnh mẽ của năng lượng—năng lượng năng động của ý chí thiêng liêng. Đồng thời, Đức Christ sẽ thể hiện sự tuôn đổ của đòi hỏi chủ đạo phát xuất từ khát vọng tinh thần của nhân loại, cộng thêm [396] đòi hỏi của Thánh đoàn về sự trợ giúp cần thiết trong thời kỳ khủng hoảng này.
2. It will also bring about a closer relation between mankind and the Hierarchy. At the time of the June Full Moon, the Christ will focus in Himself the spiritual energies of the Hierarchy, plus the energy which the Buddha distributed at the time of the Wesak Festival; the New Group of World Servers will focus the spiritual demand for life and liberation, voicing the “massed intent” of humanity.
2. Nó cũng sẽ mang lại một mối liên hệ gần gũi hơn giữa nhân loại và Thánh đoàn. Vào lúc Trăng Tròn tháng Sáu, Đức Christ sẽ tập trung trong chính Ngài các năng lượng tinh thần của Thánh đoàn, cộng thêm năng lượng mà Đức Phật đã phân phối vào lúc Lễ Hội Wesak; Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ tập trung đòi hỏi tinh thần về sự sống và giải thoát, cất lên “ý định tập thể” của nhân loại.
If both aspects of this one work can be satisfactorily carried forward, then a great release can be brought about. The Lords of Liberation could be successfully invoked; the Spirit of Peace might appear as the “Rider from the Secret Place” and the new era of goodwill (based upon the will-to-good) might be inaugurated. I say “might be” because, my brothers, the success of all that could happen is dependent upon the work done by you and all men of goodwill, by the religious and spiritually minded people everywhere and by the world aspirants between the sacred season of May and June, 1943, and that of 1944.
Nếu cả hai phương diện của công việc duy nhất này có thể được tiếp tục một cách thỏa đáng, thì một sự giải phóng lớn có thể được mang lại. các Đấng Giải Thoát có thể được khẩn cầu thành công; Đấng Tinh thần Hòa Bình có thể xuất hiện như “Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Bí Mật” và kỷ nguyên mới của thiện chí (đặt trên nền tảng ý chí-hướng thiện) có thể được khai mở. Tôi nói “có thể được” vì, Huynh đệ của Tôi, sự thành công của tất cả những gì có thể xảy ra đều tùy thuộc vào công việc do các bạn và tất cả những người có thiện chí thực hiện, bởi những người có tôn giáo và tâm hướng tinh thần ở khắp nơi, và bởi những người chí nguyện của thế giới giữa mùa thiêng liêng tháng Năm và tháng Sáu năm 1943 và mùa ấy của năm 1944.
Esoterically speaking, the work of the Hierarchy is to focus the divine will-to-good as it affects humanity. The work of spiritually minded men is to evoke that will-to-good on earth through as full an expression as possible of goodwill. It is the goodwill of the masses, focussed everywhere through the United Nations who are fighting for the liberation of mankind and through the New Group of World Servers, which is sufficient to invoke the will-to-good and only this is adequate. This is an important statement and one on which I would ask you to ponder.
Nói theo huyền bí học, công việc của Thánh đoàn là tập trung ý chí-hướng thiện thiêng liêng khi nó tác động đến nhân loại. Công việc của những người có tâm hướng tinh thần là gợi lên ý chí-hướng thiện ấy trên Trái Đất qua sự biểu lộ thiện chí đầy đủ nhất có thể. Chính thiện chí của quần chúng, được tập trung ở khắp nơi qua Liên Hiệp Quốc đang chiến đấu cho sự giải thoát của nhân loại và qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là đủ để khẩn cầu ý chí-hướng thiện, và chỉ điều này mới là thích đáng. Đây là một phát biểu quan trọng và tôi muốn yêu cầu các bạn suy ngẫm về nó.
During the past six years I have given you two Stanzas of a Great Invocation. The first one ran as follows:
Trong sáu năm qua, tôi đã trao cho các bạn hai Bài kệ của một Đại Khẩn Cầu. Bài thứ nhất như sau:
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
Hãy để Các Mãnh Lực của Ánh Sáng mang sự soi sáng đến cho nhân loại.
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
Hãy để Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi.
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
Cầu mong những người có thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
Cầu mong sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Hãy để quyền năng đi cùng những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
So let it be and help us to do our part.
Nguyện điều ấy thành sự thật và giúp chúng con làm tròn phần việc của mình.
[397]This expressed the normal, largely unconscious, invocative cry of humanity. It summed up in itself the desire of all men everywhere for peace, for goodwill and cooperation. It was generally popular and was and still is very widely used. It was fairly easily understood and its outstanding note was peace. It was used as a prayer by the majority and not as a challenging demand as had been intended; it did not, therefore, prove adequately effective in arresting the onward march of evil. It does, however, preserve the form which can and will evoke eventually the Spirit of Peace. This evocation will bring to humanity that stimulation and active desire to participate in the expression of goodwill which will render world peace an effective outcome of wise action and the establishment of right human relations. Just as the Great Lord of Love and Son of God, the Christ, used as His vehicle of expression on earth, the form of the Master Jesus, so this great extra-planetary Life, the Spirit of Peace, can be enabled, on a higher turn of the spiral, to use as His vehicle of expression, the form of the Christ, the Prince of Peace; thus His stupendous energies will be stepped down through the medium of the Lord of Love and become available to the mass of men.
[397]Điều này biểu lộ tiếng kêu khẩn cầu bình thường, phần lớn là vô thức, của nhân loại. Nó tự tổng hợp trong chính nó khát vọng của mọi người ở khắp nơi đối với hòa bình, thiện chí và hợp tác. Nó được phổ biến rộng rãi và đã, cũng như vẫn đang, được sử dụng rất rộng khắp. Nó khá dễ hiểu và âm điệu nổi bật của nó là hòa bình. Nó được đa số dùng như một lời cầu nguyện chứ không phải như một đòi hỏi đầy thách thức như đã được dự định; vì vậy, nó đã không chứng tỏ đủ hiệu quả để chặn đứng bước tiến của điều ác. Tuy nhiên, nó vẫn giữ được hình thức có thể và sẽ cuối cùng gợi lên Đấng Tinh thần Hòa Bình. Sự gợi lên này sẽ mang đến cho nhân loại sự kích thích và khát vọng tích cực để tham gia vào sự biểu lộ thiện chí, điều sẽ khiến hòa bình thế giới trở thành một kết quả hữu hiệu của hành động minh triết và việc thiết lập những mối quan hệ đúng đắn giữa con người. Cũng như Chúa Tể Vĩ Đại của Tình Thương và Con của Thượng đế, Đức Christ, đã dùng hình tướng của Chân sư Jesus làm vận cụ biểu lộ của Ngài trên Trái Đất, thì Sự Sống ngoài hành tinh vĩ đại này, Đấng Tinh thần Hòa Bình, cũng có thể được tạo điều kiện, ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, dùng hình tướng của Đức Christ, Hoàng Tử Hòa Bình, làm vận cụ biểu lộ của Ngài; nhờ đó những năng lượng kỳ vĩ của Ngài sẽ được hạ thấp qua trung gian của Chúa Tể của Tình Thương và trở nên khả dụng cho quần chúng loài người.
I gave you later another Stanza of the Invocation, of great power which was suited to the conditions of war—a war which proved inevitable and unavoidable. This last Invocation was not so popular and not nearly so easily understood and for this there was very good reason. It was an invocation intended to evoke the Forces of Life just as the previous one invoked the Forces of Light and Love. It could only be successfully used by disciples, advanced thinkers and the Hierarchy itself. It was, however, given out to the public so as to familiarise them as far as possible with the concepts of liberation and life and in an effort to anchor upon Earth [398] a new point of focus through which life could be made to flow. This effort has not been totally unsuccessful.
Về sau tôi đã trao cho các bạn một Bài kệ khác của Khẩn Cầu, có mãnh lực lớn và thích hợp với những điều kiện của chiến tranh—một cuộc chiến đã chứng tỏ là không thể tránh khỏi và không thể né tránh. Khẩn Cầu sau cùng này không được phổ biến bằng và cũng không dễ hiểu gần bằng, và điều đó có lý do rất chính đáng. Đó là một khẩn cầu nhằm gợi lên Các Mãnh Lực của Sự Sống cũng như bài trước đã khẩn cầu Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và Tình Thương. Nó chỉ có thể được sử dụng thành công bởi các đệ tử, những nhà tư tưởng tiến bộ và chính Thánh đoàn. Tuy nhiên, nó đã được công bố cho công chúng để làm cho họ quen thuộc càng nhiều càng tốt với các khái niệm giải thoát và sự sống, và trong một nỗ lực nhằm neo giữ trên Trái Đất [398] một điểm tập trung mới qua đó sự sống có thể được làm cho tuôn chảy. Nỗ lực này không hoàn toàn không thành công.
At the time of the Full Moon of May and of June, it will be advisable to use both these Invocations and thus to fuse and blend into one united invocation the massed intent of humanity as a whole and the enlightened purpose of the disciples and the Hierarchy. This fusion of the two groups—Humanity and the Hierarchy—may then suffice to sound out such a potent call that life may be released on Earth instead of death and the love of God play its active part in the reconstruction of world affairs. If this can be successfully accomplished, two great revelations may then be speeded on their way:
Vào lúc Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu, sẽ là điều nên làm khi sử dụng cả hai Khẩn Cầu này và nhờ đó dung hợp và hòa trộn vào một khẩn cầu hợp nhất ý định tập thể của toàn thể nhân loại và mục đích được soi sáng của các đệ tử và Thánh đoàn. Sự dung hợp của hai nhóm này—Nhân loại và Thánh đoàn—khi ấy có thể đủ để xướng lên một lời kêu gọi mạnh mẽ đến mức sự sống có thể được giải phóng trên Trái Đất thay vì cái chết, và tình thương của Thượng đế đóng vai trò tích cực của nó trong việc tái thiết các công việc thế giới. Nếu điều này có thể được thực hiện thành công, thì hai mặc khải lớn có thể được thúc đẩy trên đường đi của chúng:
1. A revelation of light and understanding to humanity as a whole, leading them to knowledge and enabling men to see the cause of the present catastrophe, for “in that light shall we see Light.” In that light, humanity will know what to do and how to rectify past errors.
1. Một mặc khải về ánh sáng và thấu hiểu cho toàn thể nhân loại, dẫn họ đến tri thức và giúp con người thấy được nguyên nhân của thảm họa hiện nay, vì “trong ánh sáng đó chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng.” Trong ánh sáng ấy, nhân loại sẽ biết phải làm gì và làm thế nào để sửa chữa những sai lầm trong quá khứ.
2. A revelation of life and of “life more abundantly” as Christ promised when on earth. This revelation will give to the thinkers, idealists, true leaders and disciples working in the world today, that spiritual energy which leads to right activity, sound leadership and inspired and inspiring living.
2. Một mặc khải về sự sống và về “sự sống dồi dào hơn” như Đức Christ đã hứa khi còn ở trên Trái Đất. Mặc khải này sẽ ban cho những nhà tư tưởng, những nhà lý tưởng, những nhà lãnh đạo chân chính và các đệ tử đang hoạt động trong thế giới ngày nay năng lượng tinh thần dẫn đến hành động đúng đắn, sự lãnh đạo lành mạnh và đời sống đầy cảm hứng và truyền cảm hứng.
Such is another of the goals confronting the Hierarchy at this time. Such is the will of God for humanity and such is the intent and purpose of Shamballa. When the massed purpose of the Custodians of the Will of God and the massed intent of the souls of men can be synchronised, then the Great Approach will become inevitable and the Great Release will automatically follow.
Đó là một mục tiêu khác đang đối diện Thánh đoàn vào lúc này. Đó là Ý Chí của Thượng Đế đối với nhân loại và đó là ý định và thiên ý của Shamballa. Khi mục đích tập thể của Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí của Thượng đế và ý định tập thể của các linh hồn loài người có thể được đồng bộ hóa, thì Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại sẽ trở nên không thể tránh khỏi và Sự Giải Phóng Vĩ Đại sẽ tự động theo sau.
The Task of the New Group of World Servers Today
Nhiệm Vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian Ngày Nay
The immediate task of the New Group of World Servers is to focus the massed longing, aspiration, desire and intent [399] of humanity so as to bring about the needed synchronisation at the time of the Full Moon of May and of June this year, and throughout the intervening weeks from the receipt of this communication (as far as you are concerned) until July first, approximately.
Nhiệm vụ trước mắt của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là tập trung khát vọng, khát vọng tinh thần, ham muốn và ý định tập thể [399] của nhân loại để mang lại sự đồng bộ hóa cần thiết vào lúc Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu năm nay, và trong suốt những tuần xen giữa từ khi nhận được thông điệp này (đối với các bạn) cho đến khoảng ngày mồng một tháng Bảy.
This they must do through their own clear thinking on current matters, by the cultivation of a receptive spirit, based on a willingness to learn, a readiness to let old preconceptions go and fixed ideas to disappear under the impact of new truths and new inspiration, and based also on a determination at all costs to recognise truth and presented spiritual developments.
Họ phải làm điều này qua tư duy sáng suốt của chính mình về những vấn đề hiện thời, bằng cách nuôi dưỡng một tinh thần tiếp nhận, đặt trên nền tảng sự sẵn lòng học hỏi, sự sẵn sàng buông bỏ những thành kiến cũ và để những ý tưởng cố định tan biến dưới tác động của những chân lý mới và cảm hứng mới, và cũng đặt trên nền tảng quyết tâm bằng mọi giá phải nhận ra chân lý và những phát triển tinh thần được trình bày.
I would ask all of you, therefore, to have an open mind, to redouble your belief in the fact of the spiritual realities, to have faith in the will-to-good of the divine purpose and to love your fellowmen; and—upon the plane of practical affairs and living—to do two things: Carry forward your due share in this physical plane war, aiding the armed forces of the United Nations to wage war to a successful finish, knowing that there are spiritual realities for which it is worth dying if need be, and that war on evil can be waged without hate and with right purpose; secondly, plan at the same time for those practical measures which, after the war is over, will aid the period of reconstruction and help rehabilitate humanity, and lead to a saner, better, truer way of living.
Vì vậy, tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn hãy có một tâm trí cởi mở, tăng gấp đôi niềm tin của mình vào sự kiện của các thực tại tinh thần, có đức tin vào ý chí-hướng thiện của thiên ý thiêng liêng và yêu thương đồng loại; và—trên cõi của các công việc và đời sống thực tiễn—hãy làm hai điều: tiếp tục đảm nhận phần việc thích đáng của bạn trong cuộc chiến trên cõi hồng trần này, trợ giúp các lực lượng vũ trang của Liên Hiệp Quốc tiến hành chiến tranh cho đến khi kết thúc thắng lợi, biết rằng có những thực tại tinh thần đáng để chết vì chúng nếu cần, và rằng chiến tranh chống lại điều ác có thể được tiến hành mà không có hận thù và với mục đích đúng đắn; thứ hai, đồng thời hoạch định những biện pháp thực tiễn mà sau khi chiến tranh chấm dứt sẽ giúp cho thời kỳ tái thiết và giúp phục hồi nhân loại, đồng thời dẫn đến một lối sống lành mạnh hơn, tốt đẹp hơn, chân thật hơn.
I would ask you also to take those measures in your individual life and in your environment, wherever possible, which will help make the work to be done at the time of the Full Moon in May and in June successful; to use both the Invocations constantly; do not use them as prayers or employing the energy of desire but as great challenging demands, employing the power of the will as you can muster it and focus it at a point of tension. At the time of the Full Moon gather people together for an act of fusion and of cooperation, thus aiding humanity and throwing your small individual effort behind that of the Hierarchy. I would ask you to recognise that, as a part of [400] the New Group of World Servers and as a person of goodwill you can act as a mediating factor between humanity and the Hierarchy, bridging the gap between the mass of men (stunned by suffering, blind to the higher issues, and inert) and the spiritual Group which is seeking so earnestly to bring them help and life. I would have you use, with all the power which in you lies, the creative imagination as you endeavour to do this and to believe that the sincerity of your purpose and the love of your hearts can and will help make possible the Great Approach and so hasten the Great Release. I would have you (from the time you receive this communication) think deeply on what I have said, to walk silently in the light of your souls, to radiate love, to seek clarity of vision and then, when needed, to speak to others with power and understanding.
Tôi cũng muốn yêu cầu các bạn thực hiện những biện pháp trong đời sống cá nhân của mình và trong môi trường của mình, ở bất cứ nơi nào có thể, để giúp cho công việc phải làm vào lúc Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu được thành công; hãy sử dụng cả hai Khẩn Cầu một cách liên tục; đừng dùng chúng như những lời cầu nguyện hay bằng cách vận dụng năng lượng của ham muốn, mà như những đòi hỏi lớn đầy thách thức, vận dụng quyền năng của ý chí theo mức các bạn có thể tập hợp và tập trung nó tại một điểm tập trung nhất tâm. Vào lúc Trăng Tròn, hãy tập hợp mọi người lại cho một hành vi dung hợp và hợp tác, nhờ đó trợ giúp nhân loại và đặt nỗ lực cá nhân nhỏ bé của bạn phía sau nỗ lực của Thánh đoàn. Tôi muốn yêu cầu các bạn nhận ra rằng, như một phần của [400] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và như một người có thiện chí, bạn có thể hành động như một yếu tố trung gian giữa nhân loại và Thánh đoàn, bắt cầu khoảng cách giữa quần chúng loài người (bị choáng váng bởi đau khổ, mù lòa trước những vấn đề cao hơn, và trì trệ) và Nhóm tinh thần đang tha thiết tìm cách mang đến cho họ sự trợ giúp và sự sống. Tôi muốn các bạn sử dụng, với tất cả quyền năng có trong mình, Sự tưởng tượng sáng tạo khi các bạn cố gắng làm điều này, và tin rằng sự chân thành trong mục đích của các bạn và tình thương trong trái tim các bạn có thể và sẽ giúp làm cho Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại trở nên khả hữu và nhờ đó thúc đẩy Sự Giải Phóng Vĩ Đại. Tôi muốn các bạn (kể từ lúc nhận được thông điệp này) suy nghĩ sâu xa về điều tôi đã nói, lặng lẽ bước đi trong ánh sáng của các linh hồn mình, tỏa ra tình thương, tìm kiếm sự sáng tỏ của tầm nhìn, rồi khi cần, nói với người khác bằng quyền năng và thấu hiểu.
I would, finally, have you realise that in the work now being done and as a result of the Great Approach you can aid in the focussing or anchoring of the new world religion, that universal religion which will be founded on all the past, which will consummate the work of the Christ and which will open up a fresh stretch (if I may use such an expression) upon the Path of Light which leads to God.
Cuối cùng, tôi muốn các bạn nhận ra rằng trong công việc hiện đang được thực hiện và như một kết quả của Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại, các bạn có thể trợ giúp trong việc tập trung hay neo giữ tôn giáo thế giới mới, tôn giáo phổ quát ấy sẽ được xây dựng trên toàn bộ quá khứ, sẽ hoàn tất công việc của Đức Christ và sẽ mở ra một đoạn đường mới mẻ (nếu tôi có thể dùng cách diễn đạt như thế) trên Con Đường Ánh Sáng dẫn đến Thượng đế.
The New World Religion
Tôn Giáo Thế Giới Mới
All past divine revelations have brought humanity to the point where (spiritually speaking) man’s essential divinity is theologically recognised, where the brotherhood of man and the Fatherhood of God are recognised ideals and where science has demonstrated the fact of an unfolding purpose and the existence of a fundamental, intelligent Agent behind all phenomena. Step by step man has been led through prayer, the voice of desire, through worship, the recognition of deity, through affirmation of the fact of human identity of nature with the divine, to a belief in the divinity of man. Orthodox religion emphasises the divinity of the Christ, and He Himself has told us (and the New Testament in many places emphasises it) that we also are divine, all [401] of us are the Sons of God and that as He is so are we in this world and that we are able to do still greater things than Christ did because He has shown us how. Such is the religious background of the spiritual thinking in the world. Therefore, taking our stand on these truths, acknowledging the fact of our divinity and recognising the glory of all past revelations and the still more glorious promise of the future, we can begin to realise that the time has now come for the presentation of the new step in this unfolding revelation. We can realise that to our past programmes of prayer, worship and affirmation, the new religion of Invocation and Evocation can be added, in which man will begin to use his divine power and come into closer touch with the spiritual sources of all life.
Mọi mặc khải thiêng liêng trong quá khứ đã đưa nhân loại đến điểm mà (nói theo tinh thần) thiên tính cốt yếu của con người được thần học công nhận, nơi tình huynh đệ của loài người và tình phụ tử của Thượng đế là những lý tưởng được công nhận, và nơi khoa học đã chứng minh sự kiện về một thiên ý đang khai mở và sự hiện hữu của một Tác Nhân căn bản, thông minh đằng sau mọi hiện tượng. Từng bước một, con người đã được dẫn dắt qua lời cầu nguyện, tiếng nói của ham muốn, qua sự thờ phụng, sự công nhận Thượng đế, qua sự khẳng định sự kiện về bản chất đồng nhất của con người với thiêng liêng, đến niềm tin vào thiên tính của con người. Tôn giáo chính thống nhấn mạnh thiên tính của Đức Christ, và chính Ngài đã nói với chúng ta (và Tân Ước ở nhiều chỗ nhấn mạnh điều đó) rằng chúng ta cũng là thiêng liêng, rằng tất cả [401] chúng ta đều là Con của Thượng đế và rằng Ngài thế nào thì chúng ta cũng như vậy trong thế gian này, và rằng chúng ta có thể làm những việc còn lớn hơn cả những gì Đức Christ đã làm vì Ngài đã chỉ cho chúng ta cách làm. Đó là bối cảnh tôn giáo của tư tưởng tinh thần trong thế giới. Vì vậy, đứng trên những chân lý này, thừa nhận sự kiện về thiên tính của chúng ta và công nhận vinh quang của mọi mặc khải trong quá khứ cùng lời hứa còn vinh quang hơn nữa của tương lai, chúng ta có thể bắt đầu chứng nghiệm rằng thời điểm nay đã đến để trình bày bước mới trong mặc khải đang khai mở này. Chúng ta có thể chứng nghiệm rằng vào những chương trình cầu nguyện, thờ phụng và khẳng định trong quá khứ của mình, tôn giáo mới của Khẩn Cầu và Gợi Lên có thể được thêm vào, trong đó con người sẽ bắt đầu sử dụng quyền năng thiêng liêng của mình và đi vào sự tiếp xúc gần gũi hơn với các nguồn tinh thần của mọi sự sống.
This new form of the one religion will be in fact the Religion of the Great Approaches—approaches between mankind and the great spiritual Centres which operate behind the scenes, between groups of workers on the physical plane and in the three worlds of human evolution and spiritual groups upon the inner planes, such as the Ashrams of the Masters and the egoic groups with which all human beings are in subjective—though usually unknown—relation.
Hình thức mới này của tôn giáo duy nhất thực ra sẽ là Tôn Giáo của các Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại—những cuộc tiếp cận giữa nhân loại và các Trung Tâm tinh thần vĩ đại hoạt động phía sau hậu trường, giữa các nhóm người hoạt động trên cõi hồng trần và trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại với các nhóm tinh thần trên các cõi bên trong, như các ashram của các Chân sư và các nhóm chân ngã mà mọi con người đều có liên hệ chủ quan—dù thường không biết—với chúng.
The new religion will be one of Invocation and Evocation, of bringing together great spiritual energies and then stepping them down for the benefiting and the stimulation of the masses. The work of the new religion will be the distribution of spiritual energy and the protecting of humanity from energies and forces which they are not, at the particular time, fitted to receive. A little careful thought will show you how, at the coming Full Moon Festivals, these thoughts are present: the protection and liberation of humanity and the stimulation of mankind through the distribution and the transference of spiritual energy so that the right steps can be taken in any given period, leading mankind out of darkness into light, from death to immortality and from the unreal to the Real.
Tôn giáo mới sẽ là tôn giáo của Khẩn Cầu và Gợi Lên, của việc quy tụ các năng lượng tinh thần vĩ đại rồi hạ giảm chúng xuống để mang lại lợi ích và sự kích thích cho quần chúng. Công việc của tôn giáo mới sẽ là phân phối năng lượng tinh thần và bảo vệ nhân loại khỏi những năng lượng và mãnh lực mà vào thời điểm đặc biệt ấy họ chưa thích hợp để tiếp nhận. Chỉ cần suy nghĩ cẩn trọng đôi chút, bạn sẽ thấy rằng trong các Lễ Hội Trăng Tròn sắp đến, những tư tưởng này đều hiện diện: sự bảo vệ và giải thoát nhân loại, cùng sự kích thích nhân loại thông qua việc phân phối và chuyển dịch năng lượng tinh thần để những bước đi đúng đắn có thể được thực hiện trong bất kỳ giai đoạn nào, dẫn dắt nhân loại ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, từ cái chết đến sự bất tử và từ cái không thực đến Thực Tại.
I would have you, therefore, add to your mental and spiritual activity the recognition that you are participating [402] in the task of anchoring the basic tenets of the new world religion—the flower and fruition of the past and the hope of the future.
Vì vậy, tôi muốn các bạn thêm vào hoạt động trí tuệ và tinh thần của mình sự nhận biết rằng các bạn đang tham gia [402] vào nhiệm vụ neo giữ các giáo điều căn bản của tôn giáo thế giới mới—đóa hoa và thành quả của quá khứ cùng niềm hy vọng của tương lai.
More along this line, I may not write at this time. Later I will elaborate for you the greater and the lesser festivals of the spiritual year as they will gradually supersede the festivals of the present world religions in the East and in the West. (See: The Reappearance of the Christ, Chapter VI.) Much that you have learnt and gradually absorbed will then be seen fitting into the general spiritual plan. You will find that the spiritual year is divided into two periods (symbolic of spirit and matter); the period in which the Sun moves northward and the period when it travels on the southern way. You will find that the month divides itself into two periods likewise, that of the waxing and the waning moon and you will find the future emphasis laid throughout the world upon the Easter Festival, the Festival of the Risen Christ; upon the Wesak Festival, the Festival of the Buddha or of Illumination; and the June Full Moon, the Festival of Unification carried forward by the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men.
Hiện nay, tôi không thể viết thêm về đường hướng này. Về sau, tôi sẽ trình bày chi tiết hơn cho các bạn về các lễ hội lớn và nhỏ của năm tinh thần, là những lễ hội sẽ dần dần thay thế các lễ hội của những tôn giáo thế giới hiện nay ở Đông phương và Tây phương. (Xem: Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ, Chương VI.) Khi ấy, nhiều điều các bạn đã học và dần dần hấp thụ sẽ được thấy là phù hợp với kế hoạch tinh thần tổng quát. Các bạn sẽ thấy rằng năm tinh thần được chia thành hai thời kỳ (tượng trưng cho tinh thần và vật chất); thời kỳ Mặt Trời đi về phương bắc và thời kỳ Mặt Trời đi theo con đường phương nam. Các bạn cũng sẽ thấy rằng tháng cũng chia thành hai thời kỳ tương tự, thời kỳ trăng lên và trăng khuyết, và các bạn sẽ thấy trong tương lai sự nhấn mạnh trên toàn thế giới được đặt vào Lễ Phục Sinh, Lễ Hội của Đức Christ Phục Sinh; vào Lễ Wesak, Lễ Hội của Đức Phật hay của sự Soi Sáng; và vào Trăng Tròn tháng Sáu, Lễ Hội của sự Hợp Nhất do Đức Christ xúc tiến, Chân sư của mọi Chân sư và là Huấn sư của cả thiên thần lẫn loài người.
Today, however, I seek to focus your attention upon the immediate task of cooperation with the Hierarchy and strengthen you to play your part in world salvage.
Tuy nhiên, hôm nay tôi tìm cách tập trung sự chú ý của các bạn vào nhiệm vụ trước mắt là hợp tác với Thánh đoàn và tăng cường cho các bạn để đảm nhiệm phần việc của mình trong công cuộc cứu vãn thế giới.
~
~