← Externalisation of the Hierarchy

THE WORK OF RECONSTRUCTION—CÔNG VIỆC TÁI THIẾT

THE WORK OF RECONSTRUCTION—CÔNG VIỆC TÁI THIẾT

August 1941

Tháng Tám 1941

As I have studied the world disciples during the present world crisis, I see them borne down by inertia—not the inertia that comes from selfishness and self-centredness, or the inertia due to lack of understanding of the nature of the crisis, or the inertia due to sheer laziness, but an inertia based upon a deep, inner depression, to a sense of human failure and to an introspectiveness which is natural but useless at this time. Some disciples (both on the probationary path and on the path of discipleship) take refuge in the perpetuation of the activities with which they were engaged when the war started; some take refuge in a determination to wait until the crisis is over, and appear to think that any work along the old lines of spiritual endeavour is of no real use; still others take refuge in a feverish outer occupation with things which the average man who is not spiritually oriented can do as well, if not better. Some disciples and aspirants are spending their time fighting a psychic sensitivity, evoked by world conditions; many are simply overwhelmed and stunned by humanity’s pain and agony, by the horror of the moment, by anxiety over the future, and by anticipation of still worse happenings. Their imaginations are working overtime and quite uselessly. To some of these attitudes, all of you are susceptible.

Khi tôi quan sát các đệ tử thế giới trong cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, tôi thấy họ bị đè nặng bởi tính trì trệ—không phải sự trì trệ phát sinh từ ích kỷ và sự tập trung vào bản thân, hay sự trì trệ do thiếu thấu hiểu về bản chất của cuộc khủng hoảng, hay sự trì trệ do lười biếng đơn thuần, mà là một sự trì trệ dựa trên nỗi trầm uất sâu xa bên trong, trên cảm giác thất bại của nhân loại và trên một sự hướng nội vốn tự nhiên nhưng vô ích vào lúc này. Một số đệ tử (cả trên Con Đường Dự Bị lẫn trên Con Đường Đệ Tử) tìm nơi ẩn náu trong việc tiếp tục các hoạt động mà họ đã dấn thân khi chiến tranh bắt đầu; một số tìm nơi ẩn náu trong quyết tâm chờ cho đến khi khủng hoảng qua đi, và dường như nghĩ rằng bất kỳ công việc nào theo những đường lối cũ của nỗ lực tinh thần đều không thực sự hữu ích; những người khác nữa tìm nơi ẩn náu trong sự bận rộn bên ngoài đầy sốt sắng với những việc mà người bình thường không định hướng tinh thần cũng có thể làm được, nếu không muốn nói là làm tốt hơn. Một số đệ tử và người chí nguyện đang dành thời gian để chống lại một sự nhạy cảm thông linh, được khơi dậy bởi các điều kiện thế giới; nhiều người đơn giản bị áp đảo và choáng váng bởi nỗi đau và cơn hấp hối của nhân loại, bởi nỗi kinh hoàng của thời khắc này, bởi sự lo âu về tương lai, và bởi dự cảm về những biến cố còn tồi tệ hơn nữa. Sự tưởng tượng của họ đang hoạt động quá mức và hoàn toàn vô ích. Với một số trong những thái độ này, tất cả các bạn đều dễ bị ảnh hưởng.

I write today to call all world disciples and aspirants to an intensive period of preparation for future activity and [314] work. From now until the Sun moves northward, I would ask each of you to do three things:

Hôm nay tôi viết để kêu gọi tất cả các đệ tử thế giới và người chí nguyện bước vào một giai đoạn chuẩn bị chuyên sâu cho hoạt động và công việc tương lai. Từ nay cho đến khi Mặt Trời chuyển động về phương bắc, tôi muốn yêu cầu mỗi người trong các bạn làm ba điều:

First, strengthen—through meditation, prayer and clear thinking—your faith, confidence and joy, and above all else, deepen your love of humanity, carrying the love of the soul through on to the physical plane and into all your human relations.

Thứ nhất, hãy củng cố—qua tham thiền, cầu nguyện và tư tưởng sáng suốt—đức tin, sự tin cậy và niềm hoan hỉ của các bạn, và trên hết mọi điều, hãy làm sâu sắc thêm tình thương của các bạn đối với nhân loại, mang tình thương của linh hồn xuống cõi hồng trần và vào trong mọi mối quan hệ nhân loại của các bạn.

Secondly, eliminate out of your personality life, as far as you can or should, anything (mental, psychic, emotional or physical) which might hinder your future usefulness.

Thứ hai, hãy loại bỏ khỏi đời sống phàm ngã của các bạn, trong chừng mực các bạn có thể hoặc nên làm, bất cứ điều gì (về trí tuệ, thông linh, cảm xúc hay hồng trần) có thể cản trở sự hữu dụng tương lai của các bạn.

Thirdly, plan together for the work of the future. This work can be inaugurated shortly and must be started slowly, carefully, and with unreserved cooperation with me and with each other. It must be carried out steadily and undeviatingly, with no lost motion, once its outlines are determined, and it should be carried out together.

Thứ ba, hãy cùng nhau hoạch định công việc của tương lai. Công việc này có thể được khởi sự trong thời gian ngắn và phải được bắt đầu một cách chậm rãi, cẩn trọng, và với sự hợp tác vô điều kiện với tôi và với nhau. Một khi các nét chính của nó đã được xác định, nó phải được thực hiện đều đặn và không chệch hướng, không có sự lãng phí động tác nào, và nó nên được thực hiện cùng nhau.

The major need today for each and all who must sponsor the work of the future that I am seeking to do with your cooperation and understanding, is to foster the growth of the will to love and work. This effort on your part will express itself in a steadily deepening love for humanity—for all men and for each other. It will demonstrate in a constant effort to invoke the spiritual will in self-discipline and persistence; it will show itself in the intelligent carrying forward of the plan as I shall seek progressively to outline it.

Nhu cầu lớn lao hiện nay đối với từng người và tất cả những ai phải bảo trợ công việc tương lai mà tôi đang tìm cách thực hiện với sự hợp tác và thấu hiểu của các bạn, là nuôi dưỡng sự tăng trưởng của ý chí yêu thương và làm việc. Nỗ lực này từ phía các bạn sẽ biểu lộ thành một tình thương ngày càng sâu sắc đối với nhân loại—đối với mọi người và đối với nhau. Nó sẽ được chứng minh trong nỗ lực không ngừng nhằm khẩn cầu ý chí tinh thần trong tự kỷ luật và sự kiên trì; nó sẽ tự biểu lộ trong việc thông minh tiếp tục xúc tiến kế hoạch khi tôi dần dần tìm cách phác họa nó.

This work can only be carried forward by people who love their fellowmen enough and have sufficient illumination to enable them to work with me dependably for a period of five years in the face of anything which may happen; they must be people who will endeavour to permit no personality misunderstanding to hinder their usefulness and their group interrelation, and who—because they love enough—will ceaselessly subordinate everything to the task which must be done. The second thing I ask you to do is to gather out of all the past pamphlets and my later writings those plans and instructions on service which will be applicable to the changed conditions and in the immediate future. Study this carefully along with the requests and [315] suggestions in this letter, so that you may know what I, your Tibetan teacher, feel could and should be done by you in the service of the immediate future. I would ask those of you who care to do so to meet together at the time of the Full Moon in October for fellowship, united meditation, consecration and consultation. I would ask those of you who live and work at more distant points to write briefly your reactions to the suggested endeavour, indicating how you feel you can best aid in the task. I would ask all of you who associate yourselves with me in the work of the future, each day to use the very brief meditation which I outline below. It is dynamic, affirmative and—if rightly used—should link head and heart, leading thus to intelligent loving service, and it should also serve to bind you all together in the closest spiritual unity. This will aid in the vitalising of the etheric bodies of all workers, and therefore in a group vitality which will be irresistible.

Công việc này chỉ có thể được tiếp tục bởi những người yêu thương đồng loại đủ nhiều và có đủ sự soi sáng để có thể làm việc với tôi một cách đáng tin cậy trong suốt thời kỳ năm năm, bất chấp bất cứ điều gì có thể xảy ra; họ phải là những người sẽ cố gắng không để bất kỳ sự hiểu lầm nào của phàm ngã cản trở sự hữu dụng của họ và mối tương quan nhóm của họ, và những người—bởi vì họ yêu thương đủ nhiều—sẽ không ngừng đặt mọi sự dưới nhiệm vụ phải được hoàn thành. Điều thứ hai tôi yêu cầu các bạn làm là tập hợp từ tất cả các tập sách nhỏ trước đây và các trước tác sau này của tôi những kế hoạch và chỉ dẫn về phụng sự có thể áp dụng cho các điều kiện đã thay đổi và cho tương lai trước mắt. Hãy nghiên cứu điều này cẩn thận cùng với các yêu cầu và [315] gợi ý trong bức thư này, để các bạn có thể biết điều gì tôi, huấn sư Tây Tạng của các bạn, cảm thấy có thể và nên được các bạn thực hiện trong việc phụng sự tương lai trước mắt. Tôi muốn yêu cầu những ai trong các bạn muốn làm như vậy hãy gặp nhau vào lúc Trăng Tròn tháng Mười để có tình huynh đệ, tham thiền hợp nhất, thánh hiến và tham khảo ý kiến. Tôi muốn yêu cầu những ai trong các bạn sống và làm việc ở những nơi xa hơn hãy viết ngắn gọn phản ứng của mình đối với nỗ lực được đề nghị, cho biết các bạn cảm thấy mình có thể trợ giúp tốt nhất cho nhiệm vụ ấy như thế nào. Tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn, những người liên kết mình với tôi trong công việc tương lai, mỗi ngày sử dụng bài tham thiền rất ngắn mà tôi phác họa dưới đây. Nó có tính năng động, khẳng định và—nếu được sử dụng đúng cách—sẽ nối kết đầu và tim, nhờ đó dẫn đến phụng sự yêu thương một cách thông minh, và nó cũng sẽ giúp gắn kết tất cả các bạn lại với nhau trong sự hợp nhất tinh thần mật thiết nhất. Điều này sẽ hỗ trợ việc tiếp sinh lực cho các thể dĩ thái của mọi người hoạt động, và do đó tạo nên một sinh lực nhóm không thể cưỡng lại được.

Suggested Meditation

Bài tham thiền được đề nghị

Each morning, prior to starting the day’s activities, achieve an inner quiet, see the Self as the soul, place your self at the disposition of the soul, of humanity and of your group.

Mỗi buổi sáng, trước khi bắt đầu các hoạt động trong ngày, hãy đạt tới sự tĩnh lặng bên trong, thấy Bản Ngã là linh hồn, đặt bản thân bạn dưới sự sử dụng của linh hồn, của nhân loại và của nhóm bạn.

1. Then say silently and with full dynamic intent:

1. Sau đó hãy nói thầm và với trọn vẹn ý hướng năng động:

At the centre of all love I stand; from that centre, I the soul will outward move; from that centre, I the one who serves will work. May the love of the divine Self be shed abroad in my heart, through my group and throughout the world.

Tại trung tâm của mọi tình thương tôi đứng; từ trung tâm ấy, tôi là linh hồn sẽ đi ra bên ngoài; từ trung tâm ấy, tôi là người phụng sự sẽ làm việc. Cầu mong tình thương của Bản Ngã thiêng liêng được tuôn đổ trong tim tôi, qua nhóm tôi và khắp thế giới.

2. Then, focussing your attention and dedication, see the group to which you belong as a great centre of love and light, irradiating the world of men, bringing relief, light, love and healing in increasing measure.

2. Sau đó, tập trung sự chú ý và sự hiến dâng của bạn, hãy thấy nhóm mà bạn thuộc về như một trung tâm lớn của tình thương và ánh sáng, đang chiếu rạng thế giới loài người, mang đến sự cứu trợ, ánh sáng, tình thương và chữa lành với mức độ ngày càng tăng.

3. Brood then upon the plan to be carried out and upon the indicated service for the coming day. Do this as the [316] soul, keeping the personal lower self in a waiting attitude, like a servant attentive for instruction.

3. Sau đó hãy chiêm ngưỡng kế hoạch sẽ được thực hiện và sự phụng sự được chỉ định cho ngày sắp đến. Hãy làm điều này như [316] linh hồn, giữ phàm ngã thấp cá nhân trong thái độ chờ đợi, như một người hầu chăm chú đợi chỉ thị.

4. Then say:

4. Sau đó hãy nói:

The joy of the divine Self is my strength.

Niềm hoan hỉ của Bản Ngã thiêng liêng là sức mạnh của tôi.

The power of the spirit of man shall triumph.

Quyền năng của tinh thần con người sẽ chiến thắng.

The Forces of Light do control the forces of evil.

Các Mãnh Lực của Ánh Sáng kiểm soát các mãnh lực của điều ác.

The work of the Great Ones must go on.

Công việc của Các Đấng Cao Cả phải tiếp tục.

The Coming One is on the way. The Avatar approaches.

Đấng Đang Đến đang trên đường. Đấng Hoá Thân đang đến gần.

For this we must prepare.

Vì điều này chúng ta phải chuẩn bị.

5. Close with a minute of dynamic quiet.

5. Kết thúc bằng một phút tĩnh lặng năng động.

I will ask you to do this meditation every day until January 1st, 1942, when I will give you another step in this Meditation of Preparation for the Coming One. Its aim is to prepare all of you interiorly. I would ask you also to read and re-read the instruction I gave you on Avatars. (pp. 285-313.)

Tôi sẽ yêu cầu các bạn thực hiện bài tham thiền này mỗi ngày cho đến ngày 1 tháng Giêng năm 1942, khi tôi sẽ trao cho các bạn một bước khác trong Bài Tham Thiền Chuẩn Bị cho Đấng Đang Đến này. Mục đích của nó là chuẩn bị nội tâm cho tất cả các bạn. Tôi cũng muốn yêu cầu các bạn đọc và đọc lại chỉ dẫn mà tôi đã trao cho các bạn về các Đấng Hoá Thân. (tr. 285-313.)

You will constitute the initial group which I am asking to collaborate with me in the reconstruction work of the New Age. As time goes on, subsidiary groups will be indicated who can work in the various countries as focal points in the great network of light which is forming everywhere under the inspiration of the world disciples and aspirants in every land, as they work under instruction of the Hierarchy. Some of them are known to you. Many of them are not known to any of you. But they represent the working groups of all the Masters, and upon their shoulders rests the work of reconstruction, aided by the thousands and thousands of men and women of goodwill in every land.

Các bạn sẽ cấu thành nhóm ban đầu mà tôi đang yêu cầu cộng tác với tôi trong công việc tái thiết của Kỷ Nguyên Mới. Theo thời gian, các nhóm phụ sẽ được chỉ định để có thể làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau như những tiêu điểm trong mạng lưới ánh sáng lớn đang hình thành ở khắp nơi dưới sự cảm hứng của các đệ tử thế giới và người chí nguyện tại mọi quốc gia, khi họ làm việc dưới sự chỉ dẫn của Thánh đoàn. Một số trong họ các bạn biết. Nhiều người trong họ không ai trong các bạn biết. Nhưng họ đại diện cho các nhóm hoạt động của tất cả các Chân sư, và trên vai họ đặt công việc tái thiết, được hỗ trợ bởi hàng ngàn hàng vạn những người nam và nữ thiện chí ở mọi quốc gia.

The meeting upon the ocean of the two world disciples and leaders marked a crisis in world affairs. The Eight Points (see page 318) formulated by them constitute the basis of the coming world order. They were necessarily large in outline and without details as to application. It will be for a liberated humanity to work out these details, to make the necessary adjustments, and to so rearrange human life that the higher spiritual values may prevail, a simpler mode of life may be instituted, a greater freedom be established, and a wider responsibility be shouldered by every [317] man. This will take time. Some of you may not live to see the full clarification of the way that humanity must go (the “Lighted Way” of the future), but you can, all of you, aid materially in the important task of preparation, in indicating the needed world principles, in spreading the gospel of goodwill, and in establishing right human relations. The work done in thought, in love and in dedicated activity during the next three years is of paramount importance and will produce the stabilisation to take place in the last two years of the five mentioned by me above as your immediate time of cooperation.

Cuộc gặp gỡ trên đại dương của hai đệ tử và nhà lãnh đạo thế giới đã đánh dấu một cuộc khủng hoảng trong các công việc thế giới. Tám Điểm (xem trang 318) do họ hình thành cấu thành nền tảng của trật tự thế giới đang đến. Chúng nhất thiết phải lớn về nét chính và không có chi tiết về cách áp dụng. Một nhân loại được giải phóng sẽ phải triển khai những chi tiết này, thực hiện những điều chỉnh cần thiết, và tái sắp xếp đời sống con người sao cho các giá trị tinh thần cao hơn có thể thắng thế, một lối sống đơn giản hơn có thể được thiết lập, một tự do lớn hơn được xác lập, và một trách nhiệm rộng lớn hơn được mỗi [317] người gánh vác. Điều này sẽ cần thời gian. Một số trong các bạn có thể không sống để thấy sự làm sáng tỏ trọn vẹn con đường mà nhân loại phải đi (Con Đường được Soi Sáng của tương lai), nhưng tất cả các bạn đều có thể trợ giúp một cách thiết thực trong nhiệm vụ chuẩn bị quan trọng, trong việc chỉ ra các nguyên lý thế giới cần thiết, trong việc truyền bá phúc âm của thiện chí, và trong việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Công việc được thực hiện trong tư tưởng, trong tình thương và trong hoạt động hiến dâng trong ba năm tới có tầm quan trọng tối thượng và sẽ tạo ra sự ổn định sẽ diễn ra trong hai năm cuối của năm năm mà tôi đã nêu trên như là thời kỳ hợp tác trước mắt của các bạn.

You who are working in the midst of the chaos and conflict cannot and will not be able to judge accurately the measure of accomplishment. Only the Members of the Hierarchy (Masters, initiates and the disciples who are out of incarnation at this time) can get a true perspective. The working disciples in the forefront of the battle have to carry on their work in the midst of chaos, turmoil, questioning, pain, and distress. They cannot, therefore, see the picture whole. A few of the more advanced who can “live on the heights and in the valley and the depths” simultaneously can see truly, but their numbers are not large, and the Christ spoke a true word to His bewildered disciple when He said, “Blessed are they who have not seen and yet have believed.” The following of the meditation, adherence to the instructions given, persistence in the face of difficulty, and a staunch belief in the beauty of the human spirit, in the love of God, in the victory of the Forces of Light and in the approach of the Coming One—these are the attitudes which we, the workers on the inner side, ask of those we choose to carry on our work upon the outer plane.

Các bạn, những người đang làm việc giữa hỗn loạn và xung đột, không thể và sẽ không thể đánh giá chính xác mức độ thành tựu. Chỉ các Thành Viên của Thánh đoàn (các Chân sư, các điểm đạo đồ và các đệ tử hiện không lâm phàm) mới có thể có được viễn cảnh chân thực. Các đệ tử đang hoạt động ở tuyến đầu của trận chiến phải tiếp tục công việc của họ giữa hỗn loạn, náo động, nghi vấn, đau đớn và khổ sở. Vì vậy, họ không thể thấy toàn bộ bức tranh. Một vài người tiến bộ hơn, những người có thể “sống trên đỉnh cao và trong thung lũng và nơi sâu thẳm” cùng một lúc, có thể thấy đúng thật, nhưng số lượng của họ không nhiều, và Đức Christ đã nói một lời chân thật với đệ tử bối rối của Ngài khi Ngài nói: “Phước cho những ai không thấy mà vẫn tin.” Việc theo sát bài tham thiền, tuân thủ các chỉ dẫn đã cho, kiên trì trước khó khăn, và một niềm tin vững chắc vào vẻ đẹp của tinh thần con người, vào tình thương của Thượng đế, vào chiến thắng của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và vào sự tiếp cận của Đấng Đang Đến—đó là những thái độ mà chúng tôi, những người hoạt động ở phía bên trong, yêu cầu nơi những người mà chúng tôi chọn để tiếp tục công việc của chúng tôi trên cõi bên ngoài.

This letter deals with the forming of the group to carry out the plans for 1942-1945. It is being formed in the dark of the year, at the nadir point of human distress, at the most difficult moment in human history, at a point of crisis and—in the case of many of you as individuals—at the time of your deepest personal difficulty. I tell you that all of you, together, are equal to the task.

Bức thư này bàn đến việc hình thành nhóm để thực hiện các kế hoạch cho giai đoạn 1942-1945. Nó đang được hình thành trong thời điểm tối tăm của năm, tại điểm thấp nhất của nỗi khổ đau nhân loại, vào khoảnh khắc khó khăn nhất trong lịch sử loài người, tại một điểm khủng hoảng và—trong trường hợp của nhiều người trong các bạn với tư cách cá nhân—vào lúc khó khăn cá nhân sâu sắc nhất của các bạn. Tôi nói với các bạn rằng tất cả các bạn, cùng nhau, đều xứng đáng với nhiệm vụ này.

[318] I will again write to you and will indicate the practical aspects of the work. In the meantime, ponder and reflect upon what I have written here; begin the meditation and endeavour to strengthen your link with your soul and with each other. Let love—not emotion and sentiment—control your thoughts, words and deeds. I would ask you also to study carefully the indications I have given in the past as to the work which must be done, and I would ask you also to study carefully the Eight Points outlined on the high seas, and the Four Freedoms so oft discussed throughout the world.

[318] Tôi sẽ lại viết cho các bạn và sẽ chỉ ra các phương diện thực tiễn của công việc. Trong khi đó, hãy suy ngẫm và phản tỉnh về điều tôi đã viết ở đây; hãy bắt đầu bài tham thiền và cố gắng củng cố sự liên kết của các bạn với linh hồn mình và với nhau. Hãy để tình thương—không phải cảm xúc và tình cảm ủy mị—kiểm soát tư tưởng, lời nói và hành động của các bạn. Tôi cũng muốn yêu cầu các bạn nghiên cứu cẩn thận những chỉ dẫn mà tôi đã đưa ra trong quá khứ về công việc phải được thực hiện, và tôi cũng muốn yêu cầu các bạn nghiên cứu cẩn thận Tám Điểm được phác họa trên biển khơi, cùng Bốn Tự Do thường được bàn luận khắp thế giới.

Let quietness and depth characterise your inner life.

Hãy để sự tĩnh lặng và chiều sâu đặc trưng cho đời sống bên trong của các bạn.

~

~

THE EIGHT POINTS OF THE ATLANTIC CHARTER

TÁM ĐIỂM CỦA HIẾN CHƯƠNG ĐẠI TÂY DƯƠNG

August 14, 1941

Ngày 14 tháng Tám năm 1941

The President of the United States of America, Franklin D. Roosevelt, and the Prime Minister, Mr. Churchill, representing his Majesty’s Government in the United Kingdom, being met together, deem it right to make known certain common principles in the national policies of their respective countries on which they base their hopes for a better future for the world.

Tổng thống Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, Franklin D. Roosevelt, và Thủ tướng, ông Churchill, đại diện cho Chính phủ của Bệ hạ tại Vương quốc Liên hiệp, sau khi gặp nhau, cho rằng cần phải công bố một số nguyên tắc chung trong các chính sách quốc gia của hai nước tương ứng, trên đó họ đặt nền hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới.

First, their countries seek no aggrandizement, territorial or other;

Thứ nhất, các quốc gia của họ không tìm kiếm sự bành trướng, về lãnh thổ hay dưới bất kỳ hình thức nào khác;

Second, they desire to see no territorial changes that do not accord with the freely expressed wishes of the peoples concerned;

Thứ hai, họ không muốn thấy bất kỳ thay đổi lãnh thổ nào không phù hợp với nguyện vọng được bày tỏ tự do của các dân tộc liên hệ;

Third, they respect the right of all peoples to choose the form of government under which they will live; and they wish to see sovereign rights and self-government restored to those who have been forcibly deprived of them;

Thứ ba, họ tôn trọng quyền của mọi dân tộc được chọn hình thức chính quyền mà họ sẽ sống dưới đó; và họ mong muốn thấy các quyền chủ quyền và quyền tự trị được phục hồi cho những dân tộc đã bị cưỡng bức tước đoạt các quyền ấy;

Fourth, they will endeavour, with due respect for their existing obligations, to further the enjoyment by all States, great or small, victor or vanquished, of access, on equal terms, to the trade and to the raw materials of the world which are needed for their economic prosperity;

Thứ tư, họ sẽ cố gắng, với sự tôn trọng thích đáng đối với các nghĩa vụ hiện có của mình, thúc đẩy để mọi quốc gia, lớn hay nhỏ, thắng hay bại, đều được hưởng quyền tiếp cận, trên cơ sở bình đẳng, đối với thương mại và các nguyên liệu thô của thế giới cần thiết cho sự thịnh vượng kinh tế của họ;

Fifth, they desire to bring about the fullest collaboration between all nations in the economic field with the object of securing, for all, improved labour standards, economic advancement and social security. [319]

Thứ năm, họ mong muốn đem lại sự hợp tác đầy đủ nhất giữa mọi quốc gia trong lĩnh vực kinh tế với mục tiêu bảo đảm cho tất cả mọi người các tiêu chuẩn lao động được cải thiện, sự tiến bộ kinh tế và an sinh xã hội. [319]

Sixth, after the final destruction of the Nazi tyranny, they hope to see established a peace which will afford to all nations the means of dwelling in safety within their own boundaries, and which will afford assurance that all the men in all the lands may live out their lives in freedom from fear and want;

Thứ sáu, sau khi chế độ bạo ngược của Đức Quốc Xã bị tiêu diệt hoàn toàn, họ hy vọng sẽ thấy một nền hòa bình được thiết lập, nền hòa bình ấy sẽ đem lại cho mọi quốc gia phương tiện để sống an toàn trong ranh giới riêng của mình, và sẽ bảo đảm rằng mọi người ở mọi miền đất có thể sống trọn đời mình trong tự do khỏi sợ hãi và thiếu thốn;

Seventh, such a peace should enable all men to traverse the high seas and oceans without hindrance;

Thứ bảy, một nền hòa bình như thế phải giúp mọi người có thể đi lại trên biển cả và đại dương mà không bị cản trở;

Eighth, they believe that all the nations of the world, for realistic as well as spiritual reasons, must come to the abandonment of the use of force. Since no future peace can be maintained if land, sea or air armaments continue to be employed by nations which threaten, or may threaten, aggression outside of their frontiers, they believe, pending the establishment of a wider and permanent system of general security, that the disarmament of such nations is essential. They will likewise aid and encourage all other practicable measures which will lighten for peace-loving peoples the crushing burden of armaments.

Thứ tám, họ tin rằng mọi quốc gia trên thế giới, vì những lý do thực tế cũng như tinh thần, phải đi đến chỗ từ bỏ việc sử dụng vũ lực. Vì không nền hòa bình tương lai nào có thể được duy trì nếu các loại vũ trang trên bộ, trên biển hay trên không vẫn tiếp tục được sử dụng bởi những quốc gia đang đe dọa, hoặc có thể đe dọa, xâm lược ra ngoài biên giới của mình, nên họ tin rằng, trong khi chờ đợi việc thiết lập một hệ thống an ninh chung rộng lớn hơn và thường trực, việc giải trừ quân bị đối với những quốc gia như thế là điều thiết yếu. Tương tự, họ sẽ hỗ trợ và khuyến khích mọi biện pháp khả thi khác có thể làm nhẹ bớt cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình gánh nặng đè bẹp của vũ trang.

~

~

THE FOUR FREEDOMS

BỐN TỰ DO

January 6, 1941

Ngày 6 tháng Giêng năm 1941

In the future days, which we seek to make secure, we look forward to a world founded upon four essential human freedoms.

Trong những ngày tương lai mà chúng ta tìm cách làm cho được an toàn, chúng ta hướng tới một thế giới được xây dựng trên bốn quyền tự do thiết yếu của con người.

The first is freedom of speech and expression—everywhere in the world.

Thứ nhất là tự do ngôn luận và biểu đạt—ở khắp nơi trên thế giới.

The second is freedom of every person to worship God in his own way—everywhere in the world.

Thứ hai là tự do của mỗi người được thờ phụng Thượng đế theo cách riêng của ông—ở khắp nơi trên thế giới.

The third is freedom from want—which, translated into world terms, means economic understandings which will secure to every nation a healthy peacetime life for its inhabitants—everywhere in the world.

Thứ ba là tự do khỏi thiếu thốn—mà, khi được chuyển dịch sang các thuật ngữ thế giới, có nghĩa là những sự hiểu biết kinh tế sẽ bảo đảm cho mỗi quốc gia một đời sống thời bình lành mạnh cho cư dân của mình—ở khắp nơi trên thế giới.

The fourth is freedom from fear—which, translated into world terms, means a worldwide reduction of armaments to such a point and in such a thorough fashion that no nation will be in a position to commit an act of physical aggression against any neighbour—anywhere in the world.

Thứ tư là tự do khỏi sợ hãi—mà, khi được chuyển dịch sang các thuật ngữ thế giới, có nghĩa là một sự cắt giảm vũ trang trên toàn thế giới đến mức độ và theo cách thức triệt để đến nỗi không quốc gia nào còn ở vào vị thế có thể thực hiện một hành vi xâm lược hồng trần chống lại bất kỳ nước láng giềng nào—ở bất cứ nơi đâu trên thế giới.

FRANKLIN D. ROOSEVELT

FRANKLIN D. ROOSEVELT

~

~

PRACTICAL STEPS IN THE RECONSTRUCTION WORK—CÁC BƯỚC THỰC TIỄN TRONG CÔNG VIỆC TÁI THIẾT

September 1941

Tháng Chín 1941

[320] It will be obvious to you that there is little that I can say as to exact procedure until such time as humanity itself has decided the future conditions of human living. I mean exactly that, my brother. The war is not yet decided. There is a widespread feeling that God (as we call the Central Power of Life itself) will or should intervene; there is a vague demand that right should triumph and a desperate hope that something unexpected will happen that will give victory to the arms of the Forces of Light. This attitude of painful expectancy is universal among the masses—both those in the fighting countries and the neutrals also. In the neutral countries (of which the United States is the largest and the most important) there are two factors conditioning the thinking of the people:

[320] Các bạn sẽ thấy rõ rằng tôi có rất ít điều có thể nói về thủ tục chính xác cho đến khi chính nhân loại đã quyết định các điều kiện tương lai của đời sống con người. Tôi muốn nói đúng như vậy, Huynh đệ của Tôi. Chiến tranh vẫn chưa ngã ngũ. Có một cảm giác lan rộng rằng Thượng đế (như chúng ta gọi Quyền Năng Trung Tâm của chính Sự Sống) sẽ hoặc nên can thiệp; có một đòi hỏi mơ hồ rằng điều đúng phải chiến thắng và một hy vọng tuyệt vọng rằng điều gì đó bất ngờ sẽ xảy ra để đem lại chiến thắng cho vũ khí của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng. Thái độ chờ đợi đau đớn này là phổ quát trong quần chúng—cả những người ở các nước đang chiến đấu lẫn các nước trung lập. Trong các nước trung lập (mà Hoa Kỳ là nước lớn nhất và quan trọng nhất) có hai yếu tố đang tác động lên tư tưởng của người dân:

First, a deep-seated though not unnatural selfishness, which prompts the determination to take no real part in the war, except what can be done safely and at the least possible cost, and secondly, a steadily emerging cleavage between the relatively few who have vision and want actively to help the embattled Allies (the agents of the Forces of Light), and the selfish many who—for political, religious or personal reasons—will fight every effort to commit their country further than it is at this time committed, and who hope nevertheless to share in the benefits of victory.

Thứ nhất, một tính ích kỷ ăn sâu tuy không phải là không tự nhiên, thúc đẩy quyết tâm không thực sự tham gia vào chiến tranh, ngoại trừ những gì có thể làm được một cách an toàn và với cái giá thấp nhất có thể, và thứ hai, một sự phân rẽ ngày càng hiện rõ giữa số ít tương đối có tầm nhìn và muốn tích cực giúp đỡ các Đồng Minh đang chiến đấu (các tác nhân của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng), và số đông ích kỷ, những người—vì lý do chính trị, tôn giáo hay cá nhân—sẽ chống lại mọi nỗ lực khiến đất nước họ dấn thân xa hơn mức hiện nay, nhưng vẫn hy vọng được chia phần trong những lợi ích của chiến thắng.

In the last analysis, however, the world situation must be settled by humanity itself. The Hierarchy cannot interfere. Humanity has the privilege and the opportunity to take right action now. The Coming One Who is being so fervently invoked throughout the world, either by prayer, invocation or unvoiced demand, is concerned with readjustment, with the right fusion of forces and with the healing of the peoples. This worldwide invocative demand is largely prompted by a defeatist position or by a compassionate longing to see the long agony of man ended; it is seldom prompted by conviction, by the recognition of possibility or a paralleling decision to right the wrongs which lie back of the world [321] situation and which constitute the alibi of the enemy of humanity—Hitler and his associates.

Tuy nhiên, trong phân tích sau cùng, tình hình thế giới phải được chính nhân loại giải quyết. Thánh đoàn không thể can thiệp. Nhân loại có đặc quyền và cơ hội để hành động đúng đắn ngay bây giờ. Đấng Đang Đến, Đấng đang được khẩn cầu một cách tha thiết khắp thế giới, hoặc bằng cầu nguyện, khẩn cầu hay đòi hỏi không thành lời, quan tâm đến sự điều chỉnh lại, đến sự dung hợp đúng đắn của các mãnh lực và đến sự chữa lành các dân tộc. Nhu cầu khẩn cầu trên toàn thế giới này phần lớn được thúc đẩy bởi một lập trường bại trận hoặc bởi một khát vọng đầy từ bi muốn thấy cơn hấp hối lâu dài của con người chấm dứt; hiếm khi nó được thúc đẩy bởi xác tín, bởi sự nhìn nhận khả năng, hay bởi một quyết định song hành nhằm sửa chữa những sai lầm nằm phía sau tình hình thế giới [321] và cấu thành cái cớ biện minh của kẻ thù của nhân loại—Hitler và các cộng sự của ông.

The Coming One will make His appearance when the tide of battle has definitely turned and the forces of evil are being driven back to their own place. I have made no pronouncement as to time, person or place. I have simply indicated that there is a possibility (subsequent to right action) of the appearing of the One for Whom the centuries have long waited, to Whom prophecy in all lands, the rapidly developing intuition of the people, and established precedent, all bear constant witness. His hour is near, provided the needed steps in preparation are taken, and it is for that that I have approached you. I have not indicated the place of His appearing, the nature of His emergence, or the country of His choice. These are the details which concern Him and not you. Your task is to get ready for His coming. This involves right understanding and increasing labour for humanity as a result of the experience of love within your own individual consciousness. This I emphasise.

Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện khi làn sóng chiến trận đã rõ ràng đổi chiều và các mãnh lực của điều ác đang bị đẩy lùi về chỗ riêng của chúng. Tôi đã không đưa ra tuyên bố nào về thời gian, con người hay địa điểm. Tôi chỉ đơn giản chỉ ra rằng có một khả năng (sau hành động đúng đắn) về sự xuất hiện của Đấng mà các thế kỷ đã chờ đợi từ lâu, Đấng mà lời tiên tri ở mọi miền đất, trực giác đang phát triển nhanh chóng của con người, và tiền lệ đã được xác lập, tất cả đều không ngừng làm chứng. Giờ của Ngài đã gần, miễn là những bước chuẩn bị cần thiết được thực hiện, và chính vì điều đó mà tôi đã tiếp cận các bạn. Tôi không chỉ ra nơi Ngài xuất hiện, bản chất của sự xuất hiện của Ngài, hay quốc gia mà Ngài chọn. Đó là những chi tiết liên quan đến Ngài chứ không liên quan đến các bạn. Nhiệm vụ của các bạn là chuẩn bị cho sự đến của Ngài. Điều này bao hàm sự thấu hiểu đúng đắn và lao động ngày càng tăng cho nhân loại như là kết quả của kinh nghiệm về tình thương bên trong tâm thức cá nhân của chính các bạn. Điều này tôi nhấn mạnh.

I have suggested three preparatory steps to the group of aspirants with whom I am in touch:

Tôi đã gợi ý ba bước chuẩn bị cho nhóm người chí nguyện mà tôi đang liên hệ:

1. The use of the great mantram or invocation—in two parts (see pp. 144, 249). The first was used in 1936 and the second in 1940, and is still in use. The first was intended to centralise human desire, and the second was intended to utilise what mental power was available to invoke Those Who (on the inner spiritual side of life) are waiting to help. This They cannot do unless the way is made possible for Them by humanity itself. Such is the law.

1. Việc sử dụng đại mantram hay khẩn cầu—gồm hai phần (xem tr. 144, 249). Phần thứ nhất đã được dùng vào năm 1936 và phần thứ hai vào năm 1940, và hiện vẫn đang được sử dụng. Phần thứ nhất nhằm tập trung dục vọng của nhân loại, và phần thứ hai nhằm sử dụng quyền năng trí tuệ sẵn có để khẩn cầu Những Đấng đang chờ đợi để giúp đỡ (ở phía tinh thần bên trong của sự sống). Các Ngài không thể làm điều này trừ khi con đường được chính nhân loại làm cho khả hữu đối với Các Ngài. Đó là định luật.

2. A general process of educating the public in the fact and use of goodwill. A great but undeveloped potency is still locked up in mankind which, if evoked by man himself, will prove adequate to do two things:

2. Một tiến trình giáo dục công chúng nói chung về sự kiện và việc sử dụng thiện chí. Một tiềm năng lớn lao nhưng chưa được khai triển vẫn còn bị khóa kín trong nhân loại, và nếu được chính con người gợi lên, nó sẽ chứng tỏ đủ để làm hai việc:

a. Lay the foundation for a stable peace—active and positive because the result of active and positive action—after the Forces of Light have won the victory upon the physical plane.

a. Đặt nền móng cho một nền hòa bình ổn định—chủ động và tích cực vì là kết quả của hành động chủ động và tích cực—sau khi Các Mãnh Lực của Ánh Sáng đã giành chiến thắng trên cõi hồng trần.

b. Provide the subjective synthesis or network of light, [322] embodying the force of goodwill as the expression of right human relations. This will guarantee a workable world order and not an imposed tyranny or a mystical and impossible dream.

b. Cung cấp sự tổng hợp chủ quan hay mạng lưới ánh sáng, [322] thể hiện mãnh lực của thiện chí như là biểu hiện của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Điều này sẽ bảo đảm một trật tự thế giới khả thi chứ không phải một chế độ bạo ngược áp đặt hay một giấc mơ thần bí bất khả thi.

3. The realisation of a general outline of that coming world order which will be in line with humanity’s need, basic in its implications, and which will provide that structure of living interrelation which will foster latent love, intuitional understanding and the creative power in man.

3. Sự chứng nghiệm một nét đại cương chung của trật tự thế giới đang đến, phù hợp với nhu cầu của nhân loại, căn bản trong các hàm ý của nó, và sẽ cung cấp cấu trúc của sự tương quan trong đời sống nhằm nuôi dưỡng tình thương tiềm ẩn, sự thấu hiểu trực giác và quyền năng sáng tạo trong con người.

Those are the three major objectives with which I have dealt in past communications. I have also made suggestion as to modes of activity which are practical—some of them of an exoteric nature, such as the compiling of mailing lists, in every country, of those who think and express goodwill; others, such as the creation of the network of light, through the formation of triangles. It is not for me to decide the details of your outer activities. That is for you to do, and for that I have called you to assist me.

Đó là ba mục tiêu chính mà tôi đã đề cập trong các thông tri trước đây. Tôi cũng đã đưa ra gợi ý về các phương thức hoạt động mang tính thực tiễn—một số có bản chất ngoại môn, như việc lập các danh sách gửi thư, tại mọi quốc gia, gồm những người suy nghĩ và biểu lộ thiện chí; những việc khác, như việc tạo ra mạng lưới ánh sáng, thông qua sự hình thành các tam giác. Không phải việc của tôi là quyết định các chi tiết của những hoạt động bên ngoài của các bạn. Đó là việc của các bạn, và chính vì điều đó mà tôi đã kêu gọi các bạn trợ giúp tôi.

Let me recapitulate a few of the things which have been undertaken in our joint work so that you can clearly see the background of our coming effort and grasp the work as a whole.

Hãy để tôi tóm lược một vài điều đã được thực hiện trong công việc chung của chúng ta để các bạn có thể thấy rõ bối cảnh của nỗ lực sắp tới của chúng ta và nắm được công việc như một toàn thể.

1. The first activity was the writing and distribution of the occult teachings through the medium of the books which A.A.B. has assisted me to write. These will serve (when the war is over) to lead humanity forward and nearer to the time when present day occultism will be the theme of world education in some modified form. The books which have been published can be stated—without any conceit—to have no competitors, and these, rightly distributed, will serve a useful part in carrying the consciousness of man to higher levels and in making clear the divine Plan for mankind. In them also the task immediately ahead at the close of the war is clearly indicated.

1. Hoạt động đầu tiên là việc viết và phân phối các giáo huấn huyền bí học thông qua các cuốn sách mà A.A.B. đã giúp tôi viết. Những cuốn sách này sẽ phục vụ (khi chiến tranh chấm dứt) để dẫn dắt nhân loại tiến lên và đến gần hơn với thời điểm khi huyền bí học ngày nay sẽ trở thành chủ đề của nền giáo dục thế giới dưới một hình thức nào đó đã được điều chỉnh. Có thể nói—không chút tự phụ—rằng các sách đã được xuất bản không có đối thủ cạnh tranh, và những sách này, nếu được phân phối đúng cách, sẽ đóng một vai trò hữu ích trong việc nâng tâm thức con người lên các cấp độ cao hơn và làm sáng tỏ Thiên Cơ thiêng liêng cho nhân loại. Trong đó cũng chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt ngay khi chiến tranh kết thúc.

2. The founding and the work of the Arcane School. This was started by A.A.B. to train those ready for esoteric teaching and to prepare them for the stage and work of [323] Accepted Discipleship. The world today is full of groups occupied with the task of helping one or other of the groups of aspirants and seekers to be found everywhere, or with the more general undertaking of raising the mass consciousness. The Arcane School was therefore formed for two purposes:

2. Việc thành lập và công việc của Trường Arcane. Trường này được A.A.B. khởi xướng để đào luyện những người sẵn sàng cho giáo huấn nội môn và chuẩn bị họ cho giai đoạn và công việc của [323] Địa vị Đệ tử Được Chấp Nhận. Thế giới ngày nay đầy những nhóm bận rộn với nhiệm vụ giúp đỡ nhóm người chí nguyện và người tìm đạo này hay nhóm khác có thể được tìm thấy ở khắp nơi, hoặc với công việc tổng quát hơn là nâng cao tâm thức quần chúng. Vì vậy Trường Arcane đã được thành lập với hai mục đích:

a. Primarily to aid the Hierarchy in its work during the world crisis—a crisis for which the Hierarchy has been long prepared. The Arcane School was not and is not the only group with this objective, but it is definitely among the most influential.

a. Trước hết là để hỗ trợ Thánh đoàn trong công việc của mình trong cuộc khủng hoảng thế giới—một cuộc khủng hoảng mà Thánh đoàn đã chuẩn bị từ lâu. Trường Arcane không phải và cũng không phải là nhóm duy nhất có mục tiêu này, nhưng chắc chắn là một trong những nhóm có ảnh hưởng nhất.

b. To train probationary disciples to become accepted disciples, so that the Hierarchy could find those who could safely carry spiritual power and be channels of love and understanding to the world.

b. Đào luyện các đệ tử dự bị để trở thành các đệ tử được chấp nhận, để Thánh đoàn có thể tìm thấy những người có thể an toàn mang quyền năng tinh thần và là các kênh dẫn của tình thương và thấu hiểu đến với thế giới.

You can see, therefore, that the Arcane School is not so much engaged in helping the individual as in aiding the Hierarchy to salvage humanity. For this work, training is required, and the Arcane School provides this.

Vì vậy, các bạn có thể thấy rằng Trường Arcane không hẳn dấn thân vào việc giúp đỡ cá nhân cho bằng hỗ trợ Thánh đoàn cứu vớt nhân loại. Đối với công việc này, sự đào luyện là cần thiết, và Trường Arcane cung cấp điều đó.

3. The fact of the existence of the New Group of World Servers was brought to the attention of the general public, and on quite a large scale. This group is composed of aspirants, disciples and initiates, and is intermediate between the spiritual Hierarchy and the intelligent public. Its members are to be found in every country, are unorganised except by their spiritual relation to the Hierarchy and to each other, and through their effort in every field of human consciousness to lead humanity into a more spiritual way of living. They aim to foster the growth of right human relations through goodwill, and this work is still going on.

3. Sự kiện hiện hữu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã được đưa ra trước sự chú ý của công chúng nói chung, và trên một quy mô khá lớn. Nhóm này gồm những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ, và là trung gian giữa Huyền Giai Tinh Thần và công chúng thông minh. Các thành viên của nhóm được tìm thấy ở mọi quốc gia, không có tổ chức ngoại trừ bởi mối liên hệ tinh thần của họ với Thánh đoàn và với nhau, và qua nỗ lực của họ trong mọi lĩnh vực của tâm thức con người nhằm dẫn dắt nhân loại vào một lối sống tinh thần hơn. Họ nhắm đến việc nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người thông qua thiện chí, và công việc này vẫn đang tiếp tục.

4. The organising of the men and women of goodwill in every land so that eventually they can set the note of world goodwill for the new world order. Some of this work was started in 1934. Much lies ahead, demanding attention, and will have to be accomplished in a period much more difficult than the pre-war period. The nucleus of this group [324] exists, and among them the livingness of goodwill is still unimpaired.

4. Việc tổ chức những người nam và nữ thiện chí ở mọi quốc gia để cuối cùng họ có thể định âm điệu của thiện chí thế giới cho trật tự thế giới mới. Một phần công việc này đã được bắt đầu từ năm 1934. Còn rất nhiều việc phía trước đòi hỏi sự chú ý, và sẽ phải được hoàn thành trong một giai đoạn khó khăn hơn nhiều so với thời kỳ trước chiến tranh. Hạt nhân của nhóm này [324] hiện hữu, và nơi họ sức sống của thiện chí vẫn chưa hề suy giảm.

5. The effort to utilise the power of sound and of thought combined was undertaken through the use of the two great invocations which you have—as a group—distributed throughout the world. Great world prayers have been used for ages; men have been driven by desire and spiritual aspiration to pray, and have recognised the power of the divine response. The art of invocation has been, however, relatively unknown, especially in the West. It employs the dynamic will and the focussed mind, and is intended to evoke response from the Forces which will condition the new world, which can come into being at the close of this war. A focussed will or intention, a convinced mind, a dedicated desire and a planned activity are essential to success.

5. Nỗ lực sử dụng quyền năng của âm thanh và của tư tưởng kết hợp đã được thực hiện thông qua việc sử dụng hai đại khẩn cầu mà các bạn—với tư cách một nhóm—đã phân phối khắp thế giới. Những lời cầu nguyện lớn của thế giới đã được sử dụng từ bao thời đại; con người đã bị thúc đẩy bởi dục vọng và khát vọng tinh thần để cầu nguyện, và đã nhận ra quyền năng của sự đáp ứng thiêng liêng. Tuy nhiên, nghệ thuật khẩn cầu tương đối ít được biết đến, đặc biệt ở phương Tây. Nó sử dụng ý chí năng động và trí tuệ tập trung, và nhằm gợi lên sự đáp ứng từ các Mãnh Lực sẽ tác động lên thế giới mới, thế giới có thể xuất hiện khi chiến tranh này kết thúc. Một ý chí hay ý hướng tập trung, một trí tuệ xác tín, một dục vọng hiến dâng và một hoạt động có kế hoạch là những điều thiết yếu cho thành công.

6. The forming of triangles of light and goodwill, so that an inner network of people, pledged to goodwill, to the use of the power of invocation and to the growth of understanding throughout the world can be created; and a beginning has already been made. This is a potent and workable mode of procedure, once it is given an opportunity to spread.

6. Việc hình thành các tam giác ánh sáng và thiện chí, để một mạng lưới bên trong gồm những người cam kết với thiện chí, với việc sử dụng quyền năng khẩn cầu và với sự tăng trưởng của thấu hiểu trên khắp thế giới có thể được tạo ra; và một sự khởi đầu đã được thực hiện. Đây là một phương thức tiến hành mạnh mẽ và khả thi, một khi nó được trao cơ hội để lan rộng.

7. The inauguration of an effort towards definite group work. This must be group work of a new order, wherein individual activity is subordinated to the group objective and the decisions of the group in conclave; it is not work carried forward through the imposition of some one will upon a group of weaker wills. The individual and his mode of working are not regarded as of importance in the group consciousness, because it is the will of the group—unitedly dedicated to a specific objective—which is the point of major importance. This is a new procedure and something to which you can apply yourselves. In this group which I have now formed, opportunity will arise to demonstrate the practicality of this new ideal in service methods.

7. Việc khởi xướng một nỗ lực hướng tới công việc nhóm xác định. Đây phải là công việc nhóm thuộc một trật tự mới, trong đó hoạt động cá nhân được đặt dưới mục tiêu nhóm và các quyết định của nhóm trong mật nghị; đó không phải là công việc được xúc tiến bằng cách áp đặt ý chí của một người nào đó lên một nhóm những ý chí yếu hơn. Cá nhân và phương thức làm việc của y không được xem là quan trọng trong tâm thức nhóm, bởi vì chính ý chí của nhóm—được hiến dâng hợp nhất cho một mục tiêu xác định—mới là điểm có tầm quan trọng chủ yếu. Đây là một thủ tục mới và là điều mà các bạn có thể áp dụng chính mình vào đó. Trong nhóm mà nay tôi đã hình thành này, cơ hội sẽ xuất hiện để chứng minh tính thực tiễn của lý tưởng mới này trong các phương pháp phụng sự.

These are a few of the undertakings in which we have for some years been engaged, and it is suggested that all of [325] them be continued as a background to all future work and a fundamental platform.

Đó là một vài công việc mà trong một số năm qua chúng ta đã cùng dấn thân, và điều được gợi ý là tất cả [325] chúng phải được tiếp tục như một bối cảnh cho mọi công việc tương lai và như một nền tảng căn bản.

You, as individuals, in this group (or in your relations with other groups) all have your personal problems. These problems are simply your participation in world karma and constitute your needed training ground and the field of your spiritual experimentation. With them I shall not deal, for you are all adult souls and progress by defined service, not by being helped. Your task is to aid the work which the Hierarchy plans to do, to find the ways and means whereby that service can be wisely rendered, to discover the manner in which world need (not your group need) can be met, to finance that share in the work of the Brotherhood to which you have been assigned by your soul, and to do your part in developing those human attitudes which are needed if true peace is to be found in the world by 1975. If this work is soundly done, then a world unity can be established which will produce right human relations, a sound world politic, a united spiritual effort and an economic “sharing” which will bring to an end all competition and the present uneven distribution of the necessities of life.

Các bạn, với tư cách cá nhân, trong nhóm này (hay trong các mối liên hệ của các bạn với những nhóm khác) đều có những vấn đề cá nhân của mình. Những vấn đề này đơn giản là sự tham dự của các bạn vào nghiệp quả thế giới và cấu thành bãi huấn luyện cần thiết cùng lĩnh vực thử nghiệm tinh thần của các bạn. Tôi sẽ không đề cập đến chúng, vì tất cả các bạn đều là những linh hồn trưởng thành và tiến bộ bằng phụng sự xác định, chứ không phải bằng việc được giúp đỡ. Nhiệm vụ của các bạn là hỗ trợ công việc mà Thánh đoàn dự định thực hiện, tìm ra những đường lối và phương tiện nhờ đó sự phụng sự ấy có thể được trao ban một cách khôn ngoan, khám phá cách thức mà nhu cầu thế giới (không phải nhu cầu của nhóm các bạn) có thể được đáp ứng, tài trợ cho phần việc trong công tác của Huynh đệ Đoàn mà linh hồn các bạn đã giao phó cho các bạn, và làm phần việc của mình trong việc phát triển những thái độ nhân loại cần thiết nếu hòa bình chân chính sẽ được tìm thấy trong thế giới vào năm 1975. Nếu công việc này được thực hiện một cách vững chắc, thì một sự hợp nhất thế giới có thể được thiết lập, sự hợp nhất ấy sẽ tạo ra các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, một chính trị thế giới lành mạnh, một nỗ lực tinh thần hợp nhất và một sự “chia sẻ” kinh tế sẽ chấm dứt mọi cạnh tranh và sự phân phối không đồng đều hiện nay của các nhu yếu phẩm của đời sống.

In the past I have outlined for you the general programme and the hoped-for objectives. I have given you much information and have indicated need and its possible solution. I have given you practical suggestions as to procedures and methods. I have asked—as I ask today—for your cooperation, and I ask it on behalf of the Forces of Light, of the spiritual Hierarchy and of distressed humanity.

Trong quá khứ tôi đã phác họa cho các bạn chương trình tổng quát và các mục tiêu được hy vọng. Tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều thông tin và đã chỉ ra nhu cầu cùng giải pháp khả dĩ của nó. Tôi đã đưa ra cho các bạn những gợi ý thực tiễn về thủ tục và phương pháp. Tôi đã yêu cầu—như hôm nay tôi yêu cầu—sự hợp tác của các bạn, và tôi yêu cầu điều đó thay mặt cho Các Mãnh Lực của Ánh Sáng, cho Huyền Giai Tinh Thần và cho nhân loại đang đau khổ.

The present world crisis could be shortened if the spiritually minded people lived up to their inner belief and knowledge. The task of unifying the men and women of goodwill is today infinitely more difficult than it was before the war. It can only be done if each servant of the Hierarchy thinks clearly, loves intelligently and serves to the utmost. I make no plea. I have pleaded much with all of you in the past, and the effort which resulted, though not a complete failure, was not adequately strong enough to off-set the forces [326] of evil, focussed in Germany, Japan and—to a much smaller extent—in Italy.

Cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay có thể được rút ngắn nếu những người có định hướng tinh thần sống đúng với niềm tin và tri thức bên trong của họ. Nhiệm vụ hợp nhất những người nam và nữ thiện chí ngày nay khó khăn hơn vô hạn so với trước chiến tranh. Nó chỉ có thể được thực hiện nếu mỗi người phụng sự của Thánh đoàn tư duy sáng suốt, yêu thương một cách thông minh và phụng sự đến mức tối đa. Tôi không van nài. Trong quá khứ tôi đã van nài tất cả các bạn rất nhiều, và nỗ lực đã phát sinh, tuy không hoàn toàn thất bại, nhưng không đủ mạnh để hóa giải các mãnh lực [326] của điều ác, tập trung tại Đức, Nhật Bản và—ở mức độ nhỏ hơn nhiều—tại Ý.

This last statement (which I have made in other writings) has evoked resentment in the minds of those who believe that the Forces of Light must love so indiscriminately that their work on the side of evolution is negated, and that effort to promote the development of the human consciousness is rendered completely futile or should be held in abeyance until the fight is over. I would here point out that if the Forces of Light—aided by you—did nothing to influence the minds of men, the forces of materialism and of evil would triumph. Humanity would then be spiritually defeated and its evolution would be set back for an indefinite period. I would here call your attention to the words of my great Master and yours: “By their fruits ye shall know them.” I would remind you that there would be no world war today if Germany had not marched on Poland. The cause of the widespread cruelty, terror, murder and agony rests squarely on the shoulders of the seven men in Germany.

Lời phát biểu cuối cùng này (mà tôi đã đưa ra trong các trước tác khác) đã khơi dậy sự phẫn nộ trong tâm trí những người tin rằng Các Mãnh Lực của Ánh Sáng phải yêu thương một cách vô phân biệt đến nỗi công việc của các Ngài về phía tiến hoá bị phủ nhận, và nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của tâm thức con người bị làm cho hoàn toàn vô ích hoặc phải bị đình lại cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng nếu Các Mãnh Lực của Ánh Sáng—được các bạn hỗ trợ—không làm gì để ảnh hưởng đến tâm trí con người, thì các mãnh lực của chủ nghĩa vật chất và của điều ác sẽ chiến thắng. Khi đó nhân loại sẽ bị đánh bại về mặt tinh thần và sự tiến hoá của nó sẽ bị đẩy lùi trong một thời kỳ không xác định. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn chú ý đến lời của Chân sư vĩ đại của tôi và của các bạn: “Cứ xem quả thì biết cây.” Tôi muốn nhắc các bạn rằng ngày nay sẽ không có chiến tranh thế giới nếu Đức đã không tiến quân vào Ba Lan. Nguyên nhân của sự tàn ác, khủng bố, giết chóc và hấp hối lan rộng nằm trọn vẹn trên vai bảy người đàn ông ở Đức.

Had the aspirants and the disciples of the world realised the situation earlier, and had they worked more wholeheartedly, the present catastrophe could have been held within bounds; it could have been retained and the problem worked out upon the inner planes of thought and desire, and could there have been transmuted and the needed readjustments made. But they failed to understand, and the storm broke upon the physical plane.

Nếu những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới đã nhận ra tình hình sớm hơn, và nếu họ đã làm việc hết lòng hơn, thì thảm họa hiện nay có thể đã được giữ trong giới hạn; nó có thể đã được kiềm giữ và vấn đề được giải quyết trên các cõi bên trong của tư tưởng và dục vọng, và tại đó có thể đã được chuyển hoá cùng những điều chỉnh cần thiết được thực hiện. Nhưng họ đã không thấu hiểu, và cơn bão đã bùng nổ trên cõi hồng trần.

The next twelve months will be decisive in human affairs. By the end of 1942, chaos and difficulty will still be present, but the sound of the victor’s trumpets will be heard. Will the victors be the Forces of Light, under whose banners fight the Allies, or will evil triumph and greed reap the profits of aggression? Will men be led into a darkness which—though not interminable—will engulf the human soul for decades? The answers to these questions lie in the decisions and the activities of humanity itself. The Hierarchy waits.

Mười hai tháng tới sẽ có tính quyết định trong các công việc của nhân loại. Vào cuối năm 1942, hỗn loạn và khó khăn vẫn sẽ hiện diện, nhưng tiếng kèn của người chiến thắng sẽ được nghe thấy. Những người chiến thắng sẽ là Các Mãnh Lực của Ánh Sáng, dưới cờ của các Ngài các nước Đồng Minh đang chiến đấu, hay điều ác sẽ thắng thế và lòng tham sẽ gặt hái lợi nhuận của sự xâm lược? Con người sẽ bị dẫn vào một bóng tối mà—dù không vô tận—sẽ nhấn chìm linh hồn nhân loại trong nhiều thập niên? Câu trả lời cho những câu hỏi này nằm trong các quyết định và hoạt động của chính nhân loại. Thánh đoàn đang chờ đợi.

I have referred to the increased difficulty which will confront the men and women of goodwill (working under the [327] New Group of World Servers). What constitutes the difficulty, if we analyse the situation? Two major factors:

Tôi đã đề cập đến sự gia tăng khó khăn sẽ đối diện với những người nam và nữ thiện chí (làm việc dưới [327] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian). Nếu chúng ta phân tích tình hình, điều gì cấu thành khó khăn ấy? Có hai yếu tố chính:

First, the steadily mounting feeling of intense resentment (amounting to hate in the case of some groups and sections of suffering humanity), accompanied by a deep fatigue, a shattered psychological integration as the result of nerve strain, an acute fear of what the future may hold (scientifically developed by the Axis powers), and a numbing of the soul which is the result of death on every hand, loss, separation and the sight of untold pain and suffering.

Thứ nhất, cảm giác phẫn uất mãnh liệt ngày càng tăng (lên đến mức hận thù trong trường hợp một số nhóm và bộ phận của nhân loại đang đau khổ), đi kèm với sự mệt mỏi sâu sắc, một sự tích hợp tâm lý bị tan vỡ do căng thẳng thần kinh, một nỗi sợ hãi gay gắt về điều mà tương lai có thể mang đến (được các cường quốc Trục phát triển một cách khoa học), và một sự tê liệt của linh hồn là kết quả của cái chết ở khắp nơi, của mất mát, chia ly và cảnh tượng đau đớn cùng khổ đau không kể xiết.

Secondly, the widespread physical destruction, wrought by the invading and the defending armies—the destruction of great cities with their accompaniments of civilised living, the wholesale wiping out of industrial plants and the mechanics of daily life, the sinking of the ships which distribute the raw products of civilised living and the complete disorganisation of all human affairs in every country in the world—directly or indirectly—and the breaking down of the structure of well-established financial relations, plus the disruption of the ordinary means of communication. Add to this the monetary ruin of the masses of the people, and you have a true and not a sensational picture of the world state. Out of this wreckage of all that man has constructed during the centuries and out of the spoliation of all existing culture and civilisation, the new world order must be built. And, my brother, it will be built, and you can help prepare for this building of a more stable and beautiful way of life.

Thứ hai, sự tàn phá hồng trần lan rộng do các đạo quân xâm lược và phòng thủ gây ra—sự hủy diệt các thành phố lớn cùng với toàn bộ đời sống văn minh đi kèm, sự xóa sổ hàng loạt các nhà máy công nghiệp và cơ cấu của đời sống hằng ngày, việc đánh chìm các con tàu phân phối những sản phẩm thô của đời sống văn minh và sự rối loạn hoàn toàn của mọi công việc nhân loại ở mọi quốc gia trên thế giới—trực tiếp hay gián tiếp—cùng sự sụp đổ của cấu trúc các quan hệ tài chính đã được thiết lập vững chắc, cộng thêm sự gián đoạn của các phương tiện thông tin liên lạc thông thường. Hãy cộng thêm vào đó sự phá sản tiền tệ của quần chúng nhân dân, và các bạn sẽ có một bức tranh chân thực chứ không giật gân về tình trạng thế giới. Chính từ đống đổ nát của tất cả những gì con người đã xây dựng qua nhiều thế kỷ và từ sự cướp phá mọi nền văn hóa và văn minh hiện có mà trật tự thế giới mới phải được xây dựng. Và, Huynh đệ của Tôi, nó sẽ được xây dựng, và các bạn có thể giúp chuẩn bị cho việc xây dựng này của một lối sống ổn định và đẹp đẽ hơn.

This creative process begins always in the realm of intention, is impulsed by trained desire, and will be brought into objective expression by the right direction of thought, the inspiration of right ideals, and the educating of the usually unthinking masses (who are, however, today thinking as never before), so that humanity as a whole will appropriate these ideals. They then can be trusted to take the needed action. In this manner the desired conditions will take form upon the physical levels of daily existence. There are many enlightened thinkers working at this time upon these problems; they are actively moulding public opinion; [328] free minds in all countries, or their representatives in the occupied lands, are already laying the foundations of freedom, more surely and soundly than ever before; groups everywhere are organising for the rebuilding (mentally, psychically and physically) of our world and for the reconstruction of our civilisation on saner lines and safer foundations. More intimate and understanding relations are being established between religion, politics and philanthropy, and the part which science, education and economics must play in the future is being brought increasingly into the forefront of human aspiration.

Tiến trình sáng tạo này luôn luôn bắt đầu trong lĩnh vực của ý hướng, được thúc đẩy bởi dục vọng đã được đào luyện, và sẽ được đưa vào biểu hiện khách quan bằng sự định hướng đúng đắn của tư tưởng, cảm hứng của các lý tưởng đúng đắn, và việc giáo dục quần chúng vốn thường không suy nghĩ (tuy nhiên ngày nay họ đang suy nghĩ như chưa từng có trước đây), để nhân loại như một toàn thể sẽ tiếp nhận những lý tưởng này. Khi đó có thể tin cậy họ thực hiện hành động cần thiết. Theo cách này, các điều kiện mong muốn sẽ thành hình trên các cấp độ hồng trần của đời sống hằng ngày. Hiện nay có nhiều nhà tư tưởng khai sáng đang làm việc trên những vấn đề này; họ đang tích cực uốn nắn dư luận; [328] những trí tuệ tự do ở mọi quốc gia, hoặc các đại diện của họ tại các vùng đất bị chiếm đóng, đã và đang đặt nền móng cho tự do, chắc chắn và vững vàng hơn bao giờ hết; các nhóm ở khắp nơi đang tổ chức để tái thiết (về trí tuệ, thông linh và hồng trần) thế giới của chúng ta và để tái thiết nền văn minh của chúng ta trên những đường lối lành mạnh hơn và những nền tảng an toàn hơn. Những mối quan hệ mật thiết và thấu hiểu hơn đang được thiết lập giữa tôn giáo, chính trị và từ thiện, và vai trò mà khoa học, giáo dục và kinh tế phải đảm nhiệm trong tương lai đang ngày càng được đưa lên hàng đầu trong khát vọng của nhân loại.

There is therefore no need for discouragement. There is only need for determined right action and sacrificing effort. This must be based on faith in the human spirit, on a conviction that good must ultimately triumph because it always has, and a knowledge that the New Age is dawning and that nothing can frustrate its establishment. To the advent of this new era the destruction itself bears witness, because—again quoting my Master, the Christ—you cannot put new wine in old bottles. To your share in the preparatory work for the future new world I call you; to renewed activity upon the outer plane of life I call you, and again I outline to you three years work, plus two years of activity which will grow out of the three years preparation.

Vì vậy, không cần phải nản lòng. Chỉ cần hành động đúng đắn với quyết tâm và nỗ lực hy sinh. Điều này phải dựa trên niềm tin vào tinh thần con người, trên xác tín rằng điều thiện phải cuối cùng chiến thắng vì nó luôn luôn như vậy, và trên tri thức rằng Kỷ Nguyên Mới đang rạng đông và không gì có thể làm thất bại sự thiết lập của nó. Chính sự hủy diệt cũng làm chứng cho sự xuất hiện của kỷ nguyên mới này, bởi vì—xin lại trích lời Chân sư của tôi, Đức Christ—các bạn không thể đổ rượu mới vào bầu da cũ. Tôi kêu gọi các bạn góp phần vào công việc chuẩn bị cho thế giới mới tương lai; tôi kêu gọi các bạn đổi mới hoạt động trên cõi bên ngoài của sự sống, và một lần nữa tôi phác họa cho các bạn ba năm công việc, cộng thêm hai năm hoạt động sẽ phát sinh từ ba năm chuẩn bị.

Until May 1943, I suggest sound preparatory undertakings for future world activity. This must be accompanied by sound organisation, based on a long range vision of what must be done, and by experimental effort. This is the immediate work for this group and for those whom they may later choose as collaborators. Small groups must grow out of this group later, when it is duly established and functioning.

Cho đến tháng Năm năm 1943, tôi đề nghị những công việc chuẩn bị vững chắc cho hoạt động thế giới tương lai. Điều này phải đi kèm với sự tổ chức vững chắc, dựa trên tầm nhìn dài hạn về điều phải được thực hiện, và với nỗ lực thử nghiệm. Đây là công việc trước mắt của nhóm này và của những người mà sau này họ có thể chọn làm cộng tác viên. Về sau, các nhóm nhỏ phải phát sinh từ nhóm này, khi nó đã được thiết lập đúng đắn và đang hoạt động.

From May 1943, until November 1944, you should move outward into definite world experience and into a basic cooperation with any similar groups which are engaged in world salvage, primarily along the psychological line, for the psychological rehabilitation of humanity will be the major outstanding need, paralleling that of economic readjustment. [329] These two must receive prior attention by all men and women of goodwill. This group must inspire, promote and strengthen wherever and whenever possible. Such a task can only be undertaken by people who have no religious bias, no political antagonisms and no sense of exclusiveness.

Từ tháng Năm năm 1943 đến tháng Mười Một năm 1944, các bạn nên tiến ra ngoài vào kinh nghiệm thế giới xác định và vào sự hợp tác căn bản với bất kỳ nhóm tương tự nào đang dấn thân vào việc cứu vớt thế giới, chủ yếu theo đường lối tâm lý, vì sự phục hồi tâm lý của nhân loại sẽ là nhu cầu nổi bật lớn lao nhất, song song với nhu cầu điều chỉnh lại kinh tế. [329] Hai điều này phải được mọi người nam và nữ thiện chí ưu tiên chú ý. Nhóm này phải truyền cảm hứng, thúc đẩy và tăng cường ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào có thể. Một nhiệm vụ như vậy chỉ có thể được đảm nhận bởi những người không có thiên kiến tôn giáo, không có đối kháng chính trị và không có cảm giác độc quyền.

From then until the close of 1945 or the beginning of 1946, the work should consolidate, the men and women of goodwill will swing into increasing usefulness and the potency of their thought and attitude in moulding public opinion should make itself dynamically felt—if you all work as desired. It will be apparent, therefore, how important is the work that you can start now and stabilise during the next eighteen months. The major lines of action you already know, for the goodwill work done in 1936 still remains basic and its processes should be re-studied and employed. But I would make the following practical suggestions concerning the group and its planning.

Từ đó cho đến cuối năm 1945 hay đầu năm 1946, công việc nên được củng cố, những người nam và nữ thiện chí sẽ bước vào sự hữu dụng ngày càng tăng, và tiềm lực của tư tưởng và thái độ của họ trong việc uốn nắn dư luận phải tự biểu lộ một cách năng động—nếu tất cả các bạn làm việc như mong muốn. Vì vậy, sẽ rõ ràng công việc mà các bạn có thể bắt đầu ngay bây giờ và ổn định trong mười tám tháng tới quan trọng đến mức nào. Các đường lối hành động chính các bạn đã biết, vì công việc thiện chí được thực hiện năm 1936 vẫn còn là nền tảng và các tiến trình của nó nên được nghiên cứu lại và sử dụng. Nhưng tôi muốn đưa ra những gợi ý thực tiễn sau đây liên quan đến nhóm và việc hoạch định của nó.

1. Learn to know and trust each other, leaving each other free to work and plan within the group plan; develop the experience of love in your individual lives and in your group relation. Meet regularly for discussion, planning and united meditation—using the same meditation in this group as I have asked you to follow individually. Subordinate your own wishes and ideas to the group decision. Let this be uniquely a group effort.

1. Hãy học cách biết nhau và tin cậy nhau, để cho nhau tự do làm việc và hoạch định trong phạm vi kế hoạch nhóm; hãy phát triển kinh nghiệm về tình thương trong đời sống cá nhân của các bạn và trong mối liên hệ nhóm của các bạn. Hãy gặp nhau đều đặn để thảo luận, hoạch định và tham thiền hợp nhất—sử dụng trong nhóm này cùng một bài tham thiền mà tôi đã yêu cầu các bạn thực hiện riêng từng cá nhân. Hãy đặt những mong muốn và ý tưởng riêng của các bạn dưới quyết định của nhóm. Hãy để đây là một nỗ lực nhóm theo cách độc đáo.

2. Press forward with the Triangle work in every possible way and in every country open safely to contact. Plan this work along sound business lines, making a small group of you responsible for its functioning and success.

2. Hãy xúc tiến công việc Tam giác bằng mọi cách có thể và trong mọi quốc gia có thể tiếp xúc một cách an toàn. Hãy hoạch định công việc này theo những đường lối kinh doanh lành mạnh, giao cho một nhóm nhỏ trong các bạn chịu trách nhiệm về sự vận hành và thành công của nó.

3. Discover, and where possible contact, all groups which are motivated by a true love for humanity, plus a groping after and understanding of the New Age ideals of freedom, cooperation and inclusiveness. I suggest a gradual compilation of a mailing list of such groups, accompanied with samples of their literature and an analysis of their ideas. [330]

3. Khám phá, và ở đâu có thể thì tiếp xúc, với mọi nhóm được thúc đẩy bởi một tình thương chân thật đối với nhân loại, cùng với sự dò dẫm hướng tới và thấu hiểu các lý tưởng của Kỷ Nguyên Mới về tự do, hợp tác và tính bao gồm. Tôi gợi ý nên dần dần lập một danh sách thư tín của các nhóm ấy, kèm theo các mẫu tài liệu của họ và một sự phân tích các ý tưởng của họ. [330]

4. Gather together all the many proposals that have been formulated by individuals, groups of world thinkers and specialists in the different fields of world endeavour as to the New Order. Find out what is being suggested in the many different nations as to the New World Order—both good and bad. This will involve the reading of books, their digesting and analysis, the forming of a small available library, and the study and accumulation of pamphlets on the subject. By doing this, a thoughtform of great potency can be built which will influence the minds of men.

4. Tập hợp tất cả những đề nghị đã được các cá nhân, các nhóm tư tưởng gia thế giới và các chuyên gia trong những lĩnh vực nỗ lực khác nhau của thế giới đưa ra liên quan đến Trật Tự Mới. Hãy tìm hiểu xem trong nhiều quốc gia khác nhau đang có những gì được đề xuất liên quan đến Trật Tự Thế Giới Mới—cả tốt lẫn xấu. Điều này sẽ đòi hỏi việc đọc sách, tiêu hóa và phân tích chúng, hình thành một thư viện nhỏ sẵn dùng, và nghiên cứu cũng như tích lũy các tập sách mỏng về chủ đề này. Khi làm như vậy, có thể xây dựng một Hình tư tưởng có mãnh lực rất mạnh, hình tư tưởng này sẽ ảnh hưởng đến trí tuệ của con người.

5. Keep in touch with people in all countries—occupied and unoccupied—who can later be swept into constructive activity. Thus this group will be ready to vitalise people and groups everywhere with whom they are in touch—some of which were formed prior to the war and are perforce inactive. The Units of Service in the occupied countries are a case in point. Therefore keep in touch objectively and subjectively with as many people as possible, all over the world.

5. Giữ liên lạc với những người ở mọi quốc gia—bị chiếm đóng và không bị chiếm đóng—những người về sau có thể được cuốn vào hoạt động có tính xây dựng. Như vậy nhóm này sẽ sẵn sàng tiếp sinh lực cho những người và các nhóm ở khắp nơi mà họ có liên hệ—một số trong đó đã được thành lập trước chiến tranh và vì hoàn cảnh bắt buộc hiện đang bất hoạt. Các Đơn Vị Phụng Sự tại các quốc gia bị chiếm đóng là một trường hợp điển hình. Vì vậy hãy giữ liên lạc một cách khách quan và chủ quan với càng nhiều người càng tốt, trên khắp thế giới.

6. The organising of the needed financial equipment to carry forward this work must be the task of another group within this larger group of mine.

6. Việc tổ chức những phương tiện tài chính cần thiết để xúc tiến công việc này phải là nhiệm vụ của một nhóm khác bên trong nhóm lớn hơn này của tôi.

7. Leaders of spiritual, religious and esoteric groups, as well as educational groups, should be approached in the interests of world unity. A letter should be prepared inviting such leaders into a comradeship of mutual friendship and cooperation—not of coordination or fusion. A “coming together” can thus be planned for united strengthening and advice. Such letters should always be the product of group effort and suggestion, after being formulated by the smaller group assigned to its production.

7. Các nhà lãnh đạo của những nhóm tinh thần, tôn giáo và huyền bí học, cũng như các nhóm giáo dục, nên được tiếp cận vì lợi ích của sự hợp nhất thế giới. Nên chuẩn bị một bức thư mời những nhà lãnh đạo ấy bước vào một tình bằng hữu đồng chí của tình thân hữu và hợp tác hỗ tương—không phải của sự điều phối hay dung hợp. Nhờ đó có thể hoạch định một sự “cùng đến với nhau” để cùng tăng cường và cố vấn. Những bức thư như thế luôn luôn nên là sản phẩm của nỗ lực và đề nghị của nhóm, sau khi đã được nhóm nhỏ được giao nhiệm vụ này soạn thảo.

8. A clear formulation of the objectives for which this group has been formed should be drawn up for general circulation; wise business organisation should be applied from the very start; right voluntary help should be enlisted; sound financial policies should be laid down.

8. Cần soạn ra một sự phát biểu rõ ràng về những mục tiêu mà vì đó nhóm này đã được thành lập để phổ biến rộng rãi; cần áp dụng một tổ chức công việc khôn ngoan ngay từ đầu; cần huy động sự trợ giúp tự nguyện đúng đắn; cần đặt ra những chính sách tài chính lành mạnh.

9. Definite work, preparatory to any work which future [331] necessity may indicate in Europe or elsewhere, must be undertaken. It is not possible for you to undertake the rehabilitation of the entire planet! There is, however, much that you can do along the line of interpretation of ideals, of unifying and of strengthening other groups. There are also three things possible to this group:

9. Phải đảm nhận công việc xác định, chuẩn bị cho bất kỳ công việc nào mà nhu cầu tương lai [331] có thể chỉ ra tại châu Âu hay nơi khác. Các bạn không thể đảm nhận việc phục hồi toàn thể hành tinh! Tuy nhiên, có nhiều điều các bạn có thể làm theo đường lối diễn giải các lý tưởng, hợp nhất và tăng cường các nhóm khác. Cũng có ba điều mà nhóm này có thể làm:

a. The discovery and aiding of the members of the New Group of World Servers in the occupied countries and elsewhere, giving spiritual and practical material aid.

a. Khám phá và trợ giúp các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tại các quốc gia bị chiếm đóng và ở nơi khác, cung cấp sự trợ giúp tinh thần và vật chất thực tiễn.

b. Work for the rehabilitation and correct handling of the children in the devastated lands. This is an urgent need and has wide promise and great implications for the future world order. Concentration on this is desirable.

b. Làm việc cho sự phục hồi và việc xử lý đúng đắn trẻ em tại những vùng đất bị tàn phá. Đây là một nhu cầu khẩn cấp và hứa hẹn rộng lớn cùng những hàm ý to lớn đối với trật tự thế giới tương lai. Tập trung vào điều này là điều đáng mong muốn.

c. Continue with the work of finding and organising the men and women of goodwill throughout the world. It is they who will constitute the agents of this group and other New Age groups in the future. Work done by you prior to the war is thus to be continued, and along similar lines.

c. Tiếp tục công việc tìm kiếm và tổ chức những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. Chính họ sẽ cấu thành các tác nhân của nhóm này và của những nhóm Kỷ Nguyên Mới khác trong tương lai. Vì vậy công việc các bạn đã làm trước chiến tranh cần được tiếp tục, và theo những đường lối tương tự.

10. Make a close individual study of the Four Freedoms and the Eight Points of the Atlantic Pact, so that the members of this group can soundly envisage the freedoms of the New Age and can therefore think clearly, teach the new ideals correctly, and aid in this main world objective. This understanding is more important than you realise. Out of these suggestions your group plan can take shape. Having made them and having indicated to you the lines of hierarchical desire, I shall say no more. The responsibility is yours, and to you I leave the working out of these ideas. Move rapidly and as a united group with the Triangle work. It is basic in its usefulness and must be widely spread. Move with sureness, and more gradually, with the other aspects of the indicated work.

10. Hãy thực hiện một nghiên cứu cá nhân chặt chẽ về Bốn Quyền Tự Do và Tám Điểm của Hiệp Ước Đại Tây Dương, để các thành viên của nhóm này có thể hình dung một cách vững chắc các quyền tự do của Kỷ Nguyên Mới và do đó có thể suy nghĩ rõ ràng, giảng dạy đúng đắn các lý tưởng mới, và trợ giúp trong mục tiêu chính yếu này của thế giới. Sự thấu hiểu này quan trọng hơn các bạn nhận ra. Từ những gợi ý này, kế hoạch nhóm của các bạn có thể thành hình. Sau khi đã đưa ra chúng và đã chỉ cho các bạn những đường lối của ước muốn từ Thánh đoàn, tôi sẽ không nói thêm nữa. Trách nhiệm là của các bạn, và tôi để cho các bạn tự triển khai những ý tưởng này. Hãy tiến nhanh và như một nhóm hợp nhất với công việc Tam Giác. Nó là nền tảng trong tính hữu dụng của nó và phải được truyền bá rộng rãi. Hãy tiến bước một cách chắc chắn, và dần dần hơn, với các phương diện khác của công việc đã được chỉ ra.

The strength and usefulness of this group will depend upon the inner union and love with which you work together, offsetting all personality reactions. You will help each other on all levels where help is needed. Let this group [332] work silently and as the Hierarchy works—impersonally behind the scenes. Let them draw upon all available spiritual resources, dedicating all their mental, emotional and material reserves to the work of helping humanity, and let them know (past all questioning) that the Hierarchy stands.

Sức mạnh và tính hữu dụng của nhóm này sẽ tùy thuộc vào sự hợp nhất bên trong và tình thương mà các bạn cùng nhau làm việc, hóa giải mọi phản ứng của phàm ngã. Các bạn sẽ giúp đỡ nhau trên mọi cấp độ nơi cần có sự trợ giúp. Hãy để nhóm này [332] làm việc trong im lặng và như Thánh đoàn làm việc—vô ngã phía sau hậu trường. Hãy để họ rút từ mọi nguồn lực tinh thần sẵn có, hiến dâng tất cả những dự trữ trí tuệ, cảm xúc và vật chất của họ cho công việc trợ giúp nhân loại, và hãy để họ biết (vượt khỏi mọi nghi vấn) rằng Thánh đoàn vẫn đứng vững.

~

~

PREPARATION FOR FUTURE ACTIVITY AND WORK—SỰ CHUẨN BỊ CHO HOẠT ĐỘNG VÀ CÔNG VIỆC TƯƠNG LAI

October 1941

Tháng Mười 1941

Certain questions arise in the minds of all disciples anent the general position of the hierarchical effort, about the possibility of materialising the Plan, and particularly concerning the share in these plans which spiritual groups can undertake. I would have you remember that disciples learn to work with the plan by working; they learn to discover the inner expanding consciousness of humanity by the development of an increasing sensitivity to it; and they find their coworkers in the Plan by the old and tried method of trial and error. The less evolved the disciple and worker, the larger the number of trials and the greater the number of errors.

Một số câu hỏi nảy sinh trong trí tuệ của mọi đệ tử liên quan đến vị thế chung của nỗ lực từ Thánh đoàn, về khả năng hiện hình Thiên Cơ, và đặc biệt liên quan đến phần việc mà các nhóm tinh thần có thể đảm nhận trong các kế hoạch này. Tôi muốn các bạn nhớ rằng các đệ tử học cách làm việc với Thiên Cơ bằng cách làm việc; họ học cách khám phá tâm thức đang mở rộng bên trong của nhân loại bằng sự phát triển một tính nhạy cảm ngày càng tăng đối với nó; và họ tìm ra các cộng sự viên của mình trong Thiên Cơ bằng phương pháp cũ và đã được thử nghiệm là thử và sai. Đệ tử và người hoạt động càng kém tiến hóa thì số lần thử càng nhiều và số sai lầm càng lớn.

But the system works, for it is an eliminating as well as a perfecting process, and the residue which remains after due effort, can be trusted. You have those, finally, who remain and who are worthy of trust. Why does this system work? Because by its means the graces of humility, prompt obedience to soul injunction, and inner integrity are unfolded and developed. Where these are present, there will be found sureness of touch when humanity is contacted; sensitivity to the impression of the Hierarchy when that Hierarchy is seeking contact; and a right sense of proportion.

Nhưng hệ thống này có hiệu quả, vì nó vừa là một tiến trình loại bỏ vừa là một tiến trình hoàn thiện, và phần còn lại sau nỗ lực thích đáng có thể được tin cậy. Cuối cùng các bạn có những người còn ở lại và xứng đáng được tin cậy. Tại sao hệ thống này có hiệu quả? Bởi vì nhờ đó mà các đức tính khiêm nhường, sự vâng phục mau lẹ đối với mệnh lệnh của linh hồn, và sự chính trực bên trong được khai mở và phát triển. Nơi nào những điều này hiện diện, nơi đó sẽ thấy có sự chắc chắn trong tiếp xúc khi tiếp cận nhân loại; có tính nhạy cảm đối với ấn tượng của Thánh đoàn khi Thánh đoàn ấy tìm cách tiếp xúc; và có một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn.

One of the difficulties which comes to the server immersed in the thick of the undertaking is that of preserving contact with the vision. I refer to the vision itself and not to its materialisation. Perhaps I can make my meaning clear if I point out that, just as long as the contact is a vertical one, the work is fairly simple, the next step is apparent and plain, the line of activity to be followed is clear and the inspiration [333] is fresh and vital. But the moment that the consciousness of the disciple becomes inclusive horizontally (and that must take place), then the difficulty becomes great, and the disciple begins to understand—for the first time—the true significance of the words, “the Cross of the Saviour.” Yet if he can train himself to stand where the four arms meet (I am here speaking symbolically) he will discover that he stands in the place of power, and at the “midway point.” Then he can truly begin (again speaking symbolically) to look off to the four corners of the earth, both subjectively and objectively, and with reality; immediately the strain is terrific.

Một trong những khó khăn đến với người phụng sự đang dấn sâu vào giữa công việc là việc duy trì tiếp xúc với linh ảnh. Tôi nói đến chính linh ảnh ấy chứ không phải sự hiện hình của nó. Có lẽ tôi có thể làm rõ ý mình nếu chỉ ra rằng, chừng nào tiếp xúc còn là một tiếp xúc thẳng đứng, thì công việc khá đơn giản, bước kế tiếp là hiển nhiên và rõ ràng, đường lối hoạt động phải theo là minh bạch và cảm hứng [333] thì tươi mới và đầy sinh lực. Nhưng ngay khi tâm thức của đệ tử trở nên bao gồm theo chiều ngang (và điều đó phải xảy ra), thì khó khăn trở nên lớn lao, và đệ tử bắt đầu hiểu—lần đầu tiên—thâm nghĩa thực sự của những lời, “Thập Giá của Đấng Cứu Thế.” Tuy nhiên nếu y có thể tự rèn luyện để đứng ở nơi bốn cánh tay gặp nhau (ở đây tôi nói theo biểu tượng) thì y sẽ khám phá rằng y đứng ở nơi quyền năng, và tại “Điểm ở giữa.” Khi đó y có thể thực sự bắt đầu (lại nói theo biểu tượng) nhìn ra bốn góc của trái đất, cả chủ quan lẫn khách quan, và với tính chân thực; ngay lập tức sự căng thẳng trở nên khủng khiếp.

This is one of the difficulties confronting the New Group of World Servers at this time. You will remember that some little time back I spoke of the crisis with which the group is faced. How can I express in words the nature of this crisis? It is that of the invocation or the precipitation of the Plan, for those two words are synonymous. This necessarily involves a strain—the strain of prolonged inner contact and realisation, plus the effort to use skill in action and due physical plane executive ability. The New Group of World Servers is therefore today pulled two ways. Its effort must be to stand ready at the centre. The new group today stands at the very centre and must preserve and hold its position at all costs. That which signifies the most at this time is the spiritual poise and the spiritual sensitivity of the workers.

Đây là một trong những khó khăn đang đối diện với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian vào lúc này. Các bạn sẽ nhớ rằng cách đây không lâu tôi đã nói về cuộc khủng hoảng mà nhóm đang phải đối mặt. Làm sao tôi có thể diễn tả bằng lời bản chất của cuộc khủng hoảng này? Đó là cuộc khủng hoảng của sự khẩn cầu hay sự ngưng tụ Thiên Cơ, vì hai từ ấy đồng nghĩa. Điều này tất yếu bao hàm một sự căng thẳng—sự căng thẳng của tiếp xúc và chứng nghiệm nội tâm kéo dài, cộng với nỗ lực sử dụng kỹ năng trong hành động và năng lực điều hành thích đáng trên cõi hồng trần. Vì vậy ngày nay Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bị kéo theo hai hướng. Nỗ lực của nó phải là đứng sẵn sàng ở trung tâm. Ngày nay nhóm mới đứng ngay tại trung tâm và phải giữ vững vị trí của mình bằng mọi giá. Điều có ý nghĩa nhất vào lúc này là sự quân bình tinh thần và tính nhạy cảm tinh thần của những người hoạt động.

It is to this important condition that the group members must pay due attention. Disciples and spiritual workers must not be so occupied with the details of the Plan, with the production of that which will produce the externalisation of the ideas, that the spiritual training and strengthening of the workers is neglected. In the dust and turmoil and noise of the fight, grow not insensitive and hard, or so preoccupied that the needs of those with whom you work are forgotten or pass unnoticed. Let love be the keynote in all relationships, for the power which must salvage the world is the precipitation of love, and how shall that find its way onto the physical plane save through a group whose ears are attuned to its imminent emergence, and through the lives of those [334] in the group who are irradiated by love itself? It is here that there is lack—not intentionally or because of the existence of its opposing quality—but simply through world pressure and strain. In the unfoldment of goodwill in the world at the close of the war—which will be one of the major tasks of the New Group of World Servers—let love be the active force among the senior members of the group. I would like to see more of it among all of you.

Chính đối với điều kiện quan trọng này mà các thành viên nhóm phải chú ý đúng mức. Các đệ tử và những người hoạt động tinh thần không được quá bận rộn với các chi tiết của Thiên Cơ, với việc tạo ra điều sẽ đem lại sự ngoại hiện của các ý tưởng, đến nỗi việc huấn luyện và tăng cường tinh thần cho những người hoạt động bị bỏ bê. Giữa bụi bặm, hỗn loạn và tiếng ồn của cuộc chiến, đừng trở nên vô cảm và cứng rắn, hoặc quá bận tâm đến mức những nhu cầu của những người các bạn cùng làm việc bị quên lãng hay không được nhận thấy. Hãy để tình thương là chủ âm trong mọi mối liên hệ, vì quyền năng phải cứu vớt thế giới là sự ngưng tụ của tình thương, và làm sao điều đó có thể tìm được đường đi xuống cõi hồng trần nếu không qua một nhóm mà tai của họ được chỉnh hợp với sự xuất hiện sắp đến của nó, và qua đời sống của những người [334] trong nhóm được chính tình thương chiếu rạng? Chính ở đây có sự thiếu sót—không phải cố ý hay vì sự hiện hữu của phẩm tính đối nghịch của nó—mà đơn giản vì áp lực và căng thẳng của thế giới. Trong sự khai mở thiện chí trên thế giới vào lúc chiến tranh kết thúc—điều sẽ là một trong những nhiệm vụ lớn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—hãy để tình thương là mãnh lực hoạt động giữa các thành viên cao cấp của nhóm. Tôi muốn thấy điều đó nhiều hơn nơi tất cả các bạn.

As the executive side of the group work grows, and the will aspect of humanity is contacted and its power used to evoke the emerging crisis of love, an increasing number of workers with first ray qualities will be drawn into the ranks of the New Group of World Servers. This constitutes the second difficulty, and it is here that I feel the need to utter a word of warning. This coming in will greatly strengthen the work but brings with it also great problems. Much of the work done hitherto has been second ray work; its quality is gentler, its technique is that of building and teaching, and its workers are magnetic and they present, when brought together, no great problems of cohesion and of group integration. Of this aspect of work, the Arcane School is an example.

Khi phương diện điều hành của công việc nhóm phát triển, và phương diện ý chí của nhân loại được tiếp xúc và quyền năng của nó được sử dụng để gợi lên cuộc khủng hoảng đang xuất hiện của tình thương, thì ngày càng nhiều người hoạt động có phẩm tính cung một sẽ được thu hút vào hàng ngũ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Điều này tạo thành khó khăn thứ hai, và chính ở đây tôi cảm thấy cần phải thốt ra một lời cảnh báo. Sự gia nhập này sẽ tăng cường công việc rất nhiều nhưng cũng mang theo những vấn đề lớn. Phần lớn công việc đã làm cho đến nay là công việc cung hai; phẩm tính của nó dịu dàng hơn, kỹ thuật của nó là xây dựng và giảng dạy, và những người hoạt động của nó có từ tính, và khi được tập hợp lại, họ không tạo ra những vấn đề lớn về sự gắn kết và sự tích hợp nhóm. Trường Arcane là một ví dụ của phương diện công việc này.

When, however, first ray workers appear to aid in the expansion of the work and to carry it to the four quarters of the earth, then certain difficulties inevitably appear. It is the dynamic quality of the power aspect which must be guarded against, not in the sense that it must not be permitted expression, but in the sense that it must be motivated by love, harnessed to gentleness, and qualified by understanding.

Tuy nhiên, khi những người hoạt động cung một xuất hiện để trợ giúp trong việc mở rộng công việc và mang nó đến bốn phương trời của trái đất, thì một số khó khăn nhất định tất yếu xuất hiện. Chính phẩm tính năng động của phương diện quyền năng phải được đề phòng, không phải theo nghĩa là không được cho phép nó biểu lộ, mà theo nghĩa là nó phải được thúc đẩy bởi tình thương, được chế ngự bằng sự dịu dàng, và được phẩm định bởi sự thấu hiểu.

The problem, therefore, will be to integrate first ray workers into the New Group of World Servers in such a manner that the destructive aspect of the ray will not cause difficulty, produce disruption or any obliteration of the dominant love note which should be the outstanding characteristic of all workers with the Plan at this time. Otherwise, the precipitation of the crisis of love will be hindered.

Vì vậy, vấn đề sẽ là tích hợp những người hoạt động cung một vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian theo cách mà phương diện hủy diệt của cung này sẽ không gây khó khăn, không tạo ra sự gián đoạn hay bất kỳ sự xóa bỏ nào đối với âm điệu tình thương chủ đạo vốn phải là đặc tính nổi bật của mọi người hoạt động với Thiên Cơ vào lúc này. Nếu không, sự ngưng tụ của cuộc khủng hoảng tình thương sẽ bị cản trở.

I would ask for an intensification of love between all of you, and a growth of real understanding. Forget not, at [335] the same time, that love is the great attractive magnetic force, and will consequently draw to itself all that is needed at the present crisis and for the materialisation of the vision in due form on earth. This will require spiritual energy, sound business sense, skill in action and financial support. Remember that money is the consolidation of the loving, living energy of divinity, and that the greater the realisation and expression of love, the freer will be the inflow of that which is needed to carry forward the work. You are working with the energy of love and not with the energy of desire, the reflection or distortion of love. I think that if you will ponder on this, you will see the way more clearly. There are many first ray workers wielding the power of desire and thus materialising money. There are many first ray workers finding their way into the ranks of the workers among the New Group of World Servers. Unless these workers are swept by love, their first ray energy will wreck the work of the group. Yet they are needed at this time, for they have the strength to stand unmoved at the centre. It is the conjunction of the first and second ray workers which can carry the world through the coming crisis of Reconstruction, and it will be of value if this is borne in mind by all of you in all work connected with the new group. It is important integrating work.

Tôi muốn yêu cầu có một sự tăng cường tình thương giữa tất cả các bạn, và một sự tăng trưởng của thấu hiểu thực sự. Đồng thời, đừng quên rằng [335] tình thương là mãnh lực từ tính hấp dẫn vĩ đại, và do đó sẽ tự thu hút về mình tất cả những gì cần thiết cho cuộc khủng hoảng hiện tại và cho sự hiện hình của linh ảnh thành hình thức thích đáng trên trái đất. Điều này sẽ đòi hỏi năng lượng tinh thần, óc tổ chức lành mạnh, kỹ năng trong hành động và sự hỗ trợ tài chính. Hãy nhớ rằng tiền bạc là sự củng cố của năng lượng sống động đầy tình thương của thiên tính, và rằng sự chứng nghiệm và biểu lộ tình thương càng lớn bao nhiêu thì dòng tuôn đổ của điều cần thiết để xúc tiến công việc sẽ càng tự do bấy nhiêu. Các bạn đang làm việc với năng lượng của tình thương chứ không phải với năng lượng của dục vọng, là sự phản chiếu hay bóp méo của tình thương. Tôi nghĩ rằng nếu các bạn suy ngẫm về điều này, các bạn sẽ thấy con đường rõ ràng hơn. Có nhiều người hoạt động cung một đang vận dụng quyền năng của dục vọng và nhờ đó hiện hình tiền bạc. Có nhiều người hoạt động cung một đang tìm đường vào hàng ngũ những người hoạt động trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Trừ phi những người hoạt động này được tình thương cuốn đi, năng lượng cung một của họ sẽ phá hỏng công việc của nhóm. Tuy nhiên họ lại cần thiết vào lúc này, vì họ có sức mạnh để đứng bất động tại trung tâm. Chính sự kết hợp của những người hoạt động cung một và cung hai mới có thể đưa thế giới vượt qua cuộc khủng hoảng Tái Thiết sắp đến, và sẽ có giá trị nếu điều này được tất cả các bạn ghi nhớ trong mọi công việc liên hệ với nhóm mới. Đây là công việc tích hợp quan trọng.

You might ask me at this point to be specific and state if there is any significant hindrance which needs to be offset or changed, once realised. An understanding of all I have stated above will greatly help, for I have pointed out three difficulties. Add to this the realisation that a right handling of the broad issues will automatically tend to take care of the details. By this I mean that the establishing of sound inner group relations between all of the workers will produce that inner cohesion and one-pointed effort which must inevitably and surely produce the outer results and attract both the needed workers and the essential money.

Đến đây các bạn có thể hỏi tôi hãy nói cụ thể và cho biết liệu có một trở ngại đáng kể nào cần được hóa giải hay thay đổi, một khi đã được nhận ra hay không. Sự thấu hiểu tất cả những gì tôi đã trình bày ở trên sẽ giúp ích rất nhiều, vì tôi đã chỉ ra ba khó khăn. Hãy thêm vào đó sự chứng nghiệm rằng việc xử lý đúng đắn các vấn đề rộng lớn sẽ tự động có khuynh hướng chăm lo các chi tiết. Ý tôi là việc thiết lập những mối liên hệ nhóm bên trong lành mạnh giữa tất cả những người hoạt động sẽ tạo ra sự gắn kết nội tâm và nỗ lực nhất tâm, điều tất yếu và chắc chắn sẽ tạo ra các kết quả bên ngoài và thu hút cả những người hoạt động cần thiết lẫn số tiền thiết yếu.

See to it also that one department of the work is not over-emphasised in your minds to the exclusion of others, for that will produce strain, lack of balance and sometimes [336] a sense of separation, leading if continued, to disruption. Let the consciousness be developed that there is one work being done by all, and that the whole group is concerned in the entire activity. This inclusive attitude should permeate the entire organisation, and thus the departmental spirit need not enter in.

Cũng hãy lưu ý rằng một bộ phận công việc không bị nhấn mạnh quá mức trong trí tuệ các bạn đến mức loại trừ các bộ phận khác, vì điều đó sẽ tạo ra căng thẳng, thiếu quân bình và đôi khi [336] một cảm giác tách biệt, nếu tiếp tục sẽ dẫn đến gián đoạn. Hãy phát triển tâm thức rằng chỉ có một công việc đang được tất cả cùng làm, và rằng toàn thể nhóm đều liên quan đến toàn bộ hoạt động. Thái độ bao gồm này nên thấm nhuần toàn bộ tổ chức, và như vậy tinh thần cục bộ sẽ không cần chen vào.

One point I will touch upon for the clarification of your minds. The daily meditation, both personal and in relation to the group, would produce better results if the focus of attention were given to the attaining of the needed inner attitudes, the intensification of the inner spiritual life of understanding and the welding of all workers into one unity of service. A united attitude of love, of hopeful expectancy, of courage, of spiritual demand and of directed will is potent in results and will bring all that is required.

Có một điểm tôi sẽ đề cập để làm sáng tỏ trí tuệ các bạn. Việc tham thiền hằng ngày, cả cá nhân lẫn liên hệ với nhóm, sẽ tạo ra kết quả tốt hơn nếu trọng tâm chú ý được đặt vào việc đạt được những thái độ nội tâm cần thiết, sự tăng cường đời sống tinh thần nội tâm của sự thấu hiểu, và sự hàn gắn tất cả những người hoạt động thành một hợp nhất phụng sự. Một thái độ hợp nhất của tình thương, của sự mong đợi đầy hy vọng, của can đảm, của đòi hỏi tinh thần và của ý chí được định hướng là đầy mãnh lực trong kết quả và sẽ mang lại mọi điều cần thiết.

Has there not been too much attention in the past to aspects of physical plane effort, and to techniques of working? Has there not been too much consideration of how to do the work and too little consideration of the spiritual dynamics of the work itself? The need has been great and the problems many. The expansion of the work may seem necessarily to foster a departmental spirit. When such situations arise, it is necessary then to intensify the inner sense of unity. Differentiations are easy, for they follow the line of least resistance upon the physical plane. But the work is one work, and the workers constitute one group. The need now is fusion and group understanding.

Có phải trước đây đã có quá nhiều chú ý đến các phương diện của nỗ lực trên cõi hồng trần, và đến các kỹ thuật làm việc chăng? Có phải đã có quá nhiều cân nhắc về việc làm thế nào để thực hiện công việc và quá ít cân nhắc về động lực tinh thần của chính công việc ấy chăng? Nhu cầu đã rất lớn và các vấn đề thì nhiều. Sự mở rộng công việc có vẻ tất yếu nuôi dưỡng một tinh thần cục bộ. Khi những tình huống như thế phát sinh, khi ấy cần phải tăng cường ý thức hợp nhất bên trong. Sự biến phân thì dễ dàng, vì chúng đi theo con đường ít trở ngại nhất trên cõi hồng trần. Nhưng công việc là một công việc, và những người hoạt động cấu thành một nhóm. Nhu cầu hiện nay là sự dung hợp và thấu hiểu nhóm.

Is it not true that a point of fusion achieved in the daily meditation by an individual brings about right expression in the daily life and a right handling of life conditions? A point of fusion achieved in group meditation will evoke the right results and produce an instrument of service of such power that its progress will be irresistible.

Có phải không đúng rằng một điểm dung hợp đạt được trong tham thiền hằng ngày bởi một cá nhân sẽ đem lại sự biểu lộ đúng đắn trong đời sống hằng ngày và việc xử lý đúng đắn các điều kiện sống? Một điểm dung hợp đạt được trong tham thiền nhóm sẽ gợi lên những kết quả đúng đắn và tạo ra một công cụ phụng sự có mãnh lực đến mức sự tiến triển của nó sẽ không thể cưỡng lại.

The strain of the past three years has been long and great. Many of the workers are feeling it, and the need for love and strength is great. The strain ahead will be no lighter, though it will register differently and bring different problems, but you are equal to it and to the task ahead. [337] Success can crown the efforts being made, and the New Group of World Servers can measure up to the need, if there is a more conscious and definite attempt to stand in the centre—the place of loving power—and an increased ability to think in terms of group synthesis and fusion, and to choose with wisdom those who (from inner development and outer ability, for these must go together) belong to the group.

Sự căng thẳng của ba năm qua đã kéo dài và lớn lao. Nhiều người hoạt động đang cảm thấy điều đó, và nhu cầu về tình thương và sức mạnh là rất lớn. Sự căng thẳng phía trước sẽ không nhẹ hơn, dù nó sẽ được ghi nhận khác đi và đem lại những vấn đề khác, nhưng các bạn đủ sức đối diện với nó và với nhiệm vụ phía trước. [337] Thành công có thể đội triều thiên lên những nỗ lực đang được thực hiện, và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể đáp ứng được nhu cầu, nếu có một nỗ lực ý thức và xác định hơn để đứng ở trung tâm—nơi của quyền năng đầy tình thương—và một khả năng gia tăng để suy nghĩ theo thuật ngữ của tổng hợp và dung hợp nhóm, và để chọn lựa với minh triết những người mà (từ sự phát triển nội tâm và năng lực bên ngoài, vì hai điều này phải đi cùng nhau) thuộc về nhóm.

~

~

AN IMPENDING CRUCIAL DECISION—MỘT QUYẾT ĐỊNH HỆ TRỌNG SẮP ĐẾN

December 1941

Tháng Mười Hai 1941

As the last month of the present sad year is upon us, I come to you with a message. The determination and the inner purpose of humanity will be so definite during the period when the Sun will begin to move northward—from December 25th until June 22nd, 1942—that the future of humanity for many hundreds of years will be decided. From that decision will date the coming New Age; on that decision, the Hierarchy will be able to make prediction and determine action; in that decision will be discovered the point in evolution of the mass of men. I urge you to face the future with strength, to free your minds from all vestiges of doubt, and to know (in your own life and for the race) that the forces of materialism and cruelty will not triumph. Again I say to you, the Hierarchy stands. Go forward with assurance.

Khi tháng cuối cùng của năm buồn thảm hiện tại đang đến với chúng ta, tôi đến với các bạn cùng một thông điệp. Sự quyết tâm và mục đích nội tâm của nhân loại sẽ trở nên xác định đến mức trong giai đoạn khi Mặt Trời bắt đầu chuyển động về phía bắc—từ ngày 25 tháng Mười Hai đến ngày 22 tháng Sáu năm 1942—mà tương lai của nhân loại trong nhiều trăm năm sẽ được quyết định. Từ quyết định đó sẽ khởi đầu Kỷ Nguyên Mới đang đến; trên quyết định đó, Thánh đoàn sẽ có thể đưa ra dự đoán và xác định hành động; trong quyết định đó sẽ được khám phá điểm tiến hoá của quần chúng nhân loại. Tôi thúc giục các bạn đối diện tương lai với sức mạnh, giải thoát trí tuệ mình khỏi mọi tàn dư của nghi ngờ, và biết (trong chính đời sống các bạn và cho nhân loại) rằng các mãnh lực của chủ nghĩa duy vật và sự tàn ác sẽ không chiến thắng. Tôi lại nói với các bạn, Thánh đoàn vẫn đứng vững. Hãy tiến lên với sự vững tin.

A deeply rooted subjective process is taking place in the human consciousness which is evocative and producing definite effects. This needs to be recognised and the nature of invocation understood by all who seek to aid their fellowmen. As I explained elsewhere in detail (Esoteric Astrology, pages 570-575), this process of invocation falls into two stages in the life of the individual and also today in the life of humanity as a whole. The stage of aspiration, irregular and vague but gradually becoming focussed and assuming power; and the stage of mysticism with its uncomfortably recognised dualism; this merges into occultism which is the intelligent study of that which is hidden. It is because all [338] these stages are actively present today that we have the dire and widespread crisis.

Một tiến trình chủ quan ăn sâu đang diễn ra trong tâm thức con người, tiến trình này có tính gợi lên và tạo ra những hiệu quả xác định. Điều này cần được nhận biết và bản chất của sự khẩn cầu cần được thấu hiểu bởi tất cả những ai tìm cách trợ giúp đồng loại của mình. Như tôi đã giải thích chi tiết ở nơi khác (Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 570-575), tiến trình khẩn cầu này rơi vào hai giai đoạn trong đời sống của cá nhân và cũng trong đời sống của toàn thể nhân loại ngày nay. Giai đoạn của khát vọng, không đều đặn và mơ hồ nhưng dần dần trở nên tập trung và mang lấy quyền năng; và giai đoạn của thần bí học với tính nhị nguyên được nhận biết một cách khó chịu của nó; giai đoạn này hòa nhập vào huyền bí học, là sự nghiên cứu thông minh về điều bị che giấu. Chính vì tất cả [338] những giai đoạn này hiện diện một cách tích cực ngày nay mà chúng ta có cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và lan rộng.

It was the need to give a constructive trend and to focus the invoked energies which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points of time—two Stanzas or parts of a great occult mantram, the first one to help focus the aspirants from whom it met with full response; the second was also offered to the masses, but was intended to be a test and a “decision in a time of crisis,” hence made its appeal to the mentally focussed aspirants and disciples.

Chính nhu cầu phải đưa ra một khuynh hướng có tính xây dựng và tập trung các năng lượng đã được khẩn cầu đã khiến tôi, dưới sự chỉ dẫn của Thánh đoàn, công bố—vào những thời điểm cách xa nhau—hai Bài kệ hay hai phần của một mantram huyền bí vĩ đại, bài thứ nhất để giúp tập trung những người chí nguyện mà từ họ nó đã nhận được sự đáp ứng trọn vẹn; bài thứ hai cũng được cống hiến cho quần chúng, nhưng được dự định như một phép thử và một “quyết định trong thời kỳ khủng hoảng,” do đó đã kêu gọi được những người chí nguyện và đệ tử có tập trung trí tuệ.

I am explaining this because world conditions today warrant the use of both Stanzas now. The Great Invocation, as earlier used, should again be made available to the masses. The second Stanza should be used by thinkers, occultists and disciples, and by all who respond to its note. In doing this there will be need on your part of great “skill in action,” so that you may rightly and wisely distribute the two Invocations. The one will invoke the Rider from the secret place and aid in His evocation, for it is the Rider from the secret place Who is referred to and invoked in the first Invocation; the other will invoke the Lords of Liberation.

Tôi giải thích điều này vì các điều kiện thế giới ngày nay bảo đảm cho việc sử dụng cả hai Bài kệ vào lúc này. Đại Khấn Nguyện, như đã được dùng trước đây, nên lại được phổ biến cho quần chúng. Bài kệ thứ hai nên được dùng bởi các tư tưởng gia, các nhà huyền bí học và các đệ tử, và bởi tất cả những ai đáp ứng với âm điệu của nó. Khi làm điều này, phía các bạn sẽ cần có “kỹ năng trong hành động” rất lớn, để các bạn có thể phân phối đúng đắn và khôn ngoan hai Khấn Nguyện này. Một bài sẽ khẩn cầu Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật và trợ giúp trong việc gợi lên Ngài, vì chính Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật là Đấng được nói đến và được khẩn cầu trong Khấn Nguyện thứ nhất; bài kia sẽ khẩn cầu các Đấng Giải Thoát.

The blended invocation and the united call from the different levels of the human consciousness will bring a mighty appeal to bear upon the hidden Centres of the “Saving Force.” It is this united appeal which must now be organised. Thus the mass of humanity will be stimulated to move forward into light, and the new world cycle, beginning in Aquarius, will be definitely inaugurated by humanity itself.

Sự khẩn cầu hòa trộn và tiếng gọi hợp nhất từ những cấp độ khác nhau của tâm thức con người sẽ đem một lời kêu gọi mạnh mẽ tác động lên các Trung Tâm ẩn kín của “Mãnh Lực Cứu Rỗi.” Chính lời kêu gọi hợp nhất này hiện nay phải được tổ chức. Như vậy quần chúng nhân loại sẽ được kích thích để tiến vào ánh sáng, và chu kỳ thế giới mới, bắt đầu trong Bảo Bình, sẽ được chính nhân loại khai mở một cách xác định.

~

~

THE ONLY WAY TO VICTORY—CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐẾN CHIẾN THẮNG

April 1942

Tháng Tư 1942

I have been working with A.A.B. as my amanuensis since November 1919. During that period the world has seen great and significant changes, and one of the most significant has been the growth—the phenomenal growth—[339] of spiritual perception. This shows itself in the fact that, in spite of the world catastrophe, in spite of the rampant horror and evil which is stalking our planet, and in spite of human pain, terror, suspense and uncertainty, there are today two factors present in the human consciousness: the vision of a better future and a fixed, unalterable determination to make that vision fact in human experience. This better world is to be a world in which the spiritual values will control, viewing those values as that which is good and right for the whole of humanity and not simply as religious and theological interpretations. Spiritual perception has become inclusive and now concerns the physical plane as well as the metaphysical.

Tôi đã làm việc với A.A.B. với tư cách là thư ký của tôi từ tháng Mười Một năm 1919. Trong giai đoạn đó, thế giới đã chứng kiến những thay đổi lớn lao và có ý nghĩa, và một trong những thay đổi có ý nghĩa nhất là sự tăng trưởng—sự tăng trưởng phi thường—[339] của linh thị tinh thần. Điều này biểu lộ trong sự kiện là, bất chấp thảm họa thế giới, bất chấp nỗi kinh hoàng và điều ác hung hăng đang rình rập hành tinh chúng ta, và bất chấp đau khổ, kinh hoàng, căng thẳng và bất định của con người, ngày nay có hai yếu tố hiện diện trong tâm thức con người: linh ảnh về một tương lai tốt đẹp hơn và một quyết tâm cố định, không thể thay đổi để biến linh ảnh ấy thành sự kiện trong kinh nghiệm nhân loại. Thế giới tốt đẹp hơn này sẽ là một thế giới trong đó các giá trị tinh thần sẽ kiểm soát, nhìn các giá trị ấy như điều tốt và đúng cho toàn thể nhân loại chứ không chỉ như những diễn giải tôn giáo và thần học. Linh thị tinh thần đã trở nên bao gồm và hiện nay liên quan đến cõi hồng trần cũng như siêu hình.

It is not perhaps easy for you to realise the importance of this development which—again in the face of all contending forces—has enabled men to recognise that the Kingdom of God must function on Earth; that it must be externalised and that it need not be some distant point of wishful thinking but should condition man’s daily life and control all his planning for the future. For this, men are today working and fighting. They call the vision by many names: better world conditions, the new world order, world reconstruction, the new civilisation, brotherhood, fellowship, world federation, international understanding—it matters not. It is the theme of betterment, of universal welfare, of general security, of widespread opportunity, irrespective of race, colour or creed. This is the factor of importance. The underlying purposes of God are working out, and with this note I seek to begin my Wesak communication to you.

Có lẽ các bạn không dễ nhận ra tầm quan trọng của sự phát triển này, sự phát triển mà—một lần nữa trước mọi mãnh lực tranh chấp—đã khiến con người nhận ra rằng Thiên Giới phải hoạt động trên Trái Đất; rằng nó phải được ngoại hiện và rằng nó không cần phải là một điểm xa xôi của tư tưởng ước vọng mà phải tác động lên đời sống hằng ngày của con người và kiểm soát mọi kế hoạch của y cho tương lai. Vì điều này, ngày nay con người đang làm việc và chiến đấu. Họ gọi linh ảnh ấy bằng nhiều tên: những điều kiện thế giới tốt đẹp hơn, trật tự thế giới mới, tái thiết thế giới, nền văn minh mới, tình huynh đệ, tình bằng hữu, liên bang thế giới, sự thấu hiểu quốc tế—điều đó không quan trọng. Đó là chủ đề của sự cải thiện, của phúc lợi phổ quát, của an ninh chung, của cơ hội rộng khắp, bất kể nhân loại, màu da hay tín ngưỡng. Đây là yếu tố quan trọng. Những mục đích nền tảng của Thượng đế đang được triển khai, và với âm điệu này tôi tìm cách bắt đầu thông điệp Wesak của tôi gửi đến các bạn.

This is the hopeful and most important side from the angle of the Hierarchy Who view all world events from the angle of the future. There is, however, the other side. It is not necessary for me to emphasise the seriousness of the present situation. The war is not yet won. At the time of writing, in spite of sporadic successes and the staying power of the Allied Nations, and in spite of a basic trend towards ultimate victory, the powers of evil have had things very much their own way. They have triumphantly moved forward, [340] except in Russia. This was to be expected at first, because if evil is simply the dominance of matter and the negation of the spiritual values, it is obvious that on the material plane the line of least resistance is to be found for them. Their initial triumphing is, therefore, to be expected. The course of the war hitherto has demonstrated this. When the spiritually-minded people of the world, the men and women of goodwill, the idealists and the kindly, decent folk in every land can bring to bear upon the physical plane the same unified determination and the same united will-to-victory that the forces of evil have shown, then the Forces of Light will assume the upper hand and control human affairs.

Đây là mặt đầy hy vọng và quan trọng nhất theo góc nhìn của Thánh đoàn, Đấng nhìn mọi biến cố thế giới từ góc độ tương lai. Tuy nhiên, còn có mặt kia. Tôi không cần nhấn mạnh tính nghiêm trọng của tình hình hiện tại. Chiến tranh vẫn chưa thắng. Vào lúc viết những dòng này, bất chấp những thành công lẻ tẻ và sức chịu đựng của các Quốc Gia Đồng Minh, và bất chấp một xu hướng căn bản hướng tới chiến thắng cuối cùng, các quyền lực của điều ác đã có được phần lớn thuận lợi theo ý chúng. Chúng đã tiến lên một cách đắc thắng, [340] ngoại trừ ở nước Nga. Điều này lúc đầu là điều có thể chờ đợi, bởi vì nếu điều ác chỉ đơn giản là sự thống trị của vật chất và sự phủ nhận các giá trị tinh thần, thì hiển nhiên trên cõi vật chất con đường ít trở ngại nhất sẽ được tìm thấy cho chúng. Vì vậy, sự đắc thắng ban đầu của chúng là điều có thể chờ đợi. Diễn tiến của chiến tranh cho đến nay đã chứng minh điều này. Khi những người có tinh thần trên thế giới, những người nam và nữ thiện chí, những người lý tưởng và những người tử tế, nhân hậu ở mọi xứ sở có thể đem vào cõi hồng trần cùng một quyết tâm hợp nhất và cùng một ý chí-hướng tới-chiến thắng hợp nhất như các mãnh lực của điều ác đã biểu lộ, khi đó Các Mãnh Lực của Ánh Sáng sẽ chiếm ưu thế và kiểm soát các công việc của nhân loại.

The difficulty with which the Hierarchy was confronted in the effort to bring this about was due to the fact that the condition of unity of objective, of method and of interrelation had to be brought about without any infringement of the free will of the individual, group or nation. The occult law of spiritual freedom had to be recognised and protected. No such recognition or safeguarding hinders the activities of the forces of evil. The will-to-power and an organised, evil minority took control. Freedom of conscience and of action was removed, and the enforced submission of the majority to the will of a ruthless minority brought about a spurious but temporarily most effective unity. This has been lacking in the case of the United Nations, fighting for the Forces of Light and on behalf of human freedom.

Khó khăn mà Thánh đoàn phải đối diện trong nỗ lực mang lại điều này là do sự kiện rằng điều kiện hợp nhất về mục tiêu, về phương pháp và về tương quan phải được mang lại mà không có bất kỳ sự xâm phạm nào đến ý chí tự do của cá nhân, nhóm hay quốc gia. Định luật huyền bí về tự do tinh thần phải được nhận biết và bảo vệ. Không có sự nhận biết hay bảo vệ nào như thế cản trở các hoạt động của các mãnh lực của điều ác. Ý chí-quyền lực và một thiểu số có tổ chức, xấu ác đã nắm quyền kiểm soát. Tự do lương tâm và hành động đã bị loại bỏ, và sự phục tùng bị cưỡng bức của đa số trước ý chí của một thiểu số tàn nhẫn đã tạo ra một sự hợp nhất giả tạo nhưng tạm thời rất hữu hiệu. Điều này đã thiếu trong trường hợp của các Quốc Gia Liên Hiệp, đang chiến đấu cho Các Mãnh Lực của Ánh Sáng và thay mặt cho tự do của nhân loại.

Freedom, my brothers, can itself prove a limitation when it delays right action, when it centres attention upon the petty differences and the personality inclinations of people and when it serves to prevent that unity of action which can win the war. It has been necessary for the leaders of the peoples to take valuable time to bring them to a proper sense of values and to the realisation that individual and national differences and points of political and religious disagreement must all give place to the one supreme requirement—the winning of the war and the releasing of humanity from the threatened slavery, the steadily mounting fear, and the world domination of the Black Lodge.

Tự do, Huynh đệ của Tôi, tự nó có thể chứng tỏ là một giới hạn khi nó trì hoãn hành động đúng đắn, khi nó tập trung sự chú ý vào những khác biệt nhỏ nhặt và những khuynh hướng phàm ngã của con người, và khi nó phục vụ để ngăn cản sự hợp nhất hành động có thể thắng cuộc chiến. Các nhà lãnh đạo của các dân tộc đã buộc phải dành thời gian quý báu để đưa họ đến một ý thức đúng đắn về các giá trị và đến sự chứng nghiệm rằng những khác biệt cá nhân và quốc gia cùng những điểm bất đồng chính trị và tôn giáo đều phải nhường chỗ cho một đòi hỏi tối thượng duy nhất—chiến thắng cuộc chiến và giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ đang đe dọa, nỗi sợ hãi ngày càng tăng, và sự thống trị thế giới của Hắc đoàn.

[341] As I have earlier told you, an ancient conflict is again in full swing and humanity has now the opportunity to settle it once and for all, and—for ever after—be free in a sense not hitherto known. This conflict falls into three stages:

[341] Như tôi đã nói với các bạn trước đây, một cuộc xung đột cổ xưa lại đang diễn ra toàn diện và giờ đây nhân loại có cơ hội giải quyết nó một lần dứt khoát, và—mãi mãi về sau—được tự do theo một ý nghĩa chưa từng được biết đến trước đây. Cuộc xung đột này rơi vào ba giai đoạn:

1. The stage of physical warfare in which we are now engaged and from which there is no escape.

1. Giai đoạn chiến tranh hồng trần mà hiện nay chúng ta đang tham dự và không có lối thoát.

This requires the Will-to-victory.

Điều này đòi hỏi Ý Chí-hướng tới-Chiến thắng.

2. The stage of reorganising world affairs when the war is over. This should properly fall into two phases:

2. Giai đoạn tái tổ chức các công việc thế giới khi chiến tranh chấm dứt. Điều này đúng ra nên rơi vào hai pha:

a. The establishing of right human relations during a prolonged armistice, if possible. This phase will prove in many ways as difficult as the war itself, but will work out on mental and emotional levels of warfare, instead of physical.

a. Thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn trong một thời kỳ đình chiến kéo dài, nếu có thể. Pha này về nhiều phương diện sẽ chứng tỏ khó khăn như chính cuộc chiến, nhưng sẽ diễn ra trên các cấp độ chiến tranh trí tuệ và cảm xúc, thay vì hồng trần.

b. The task of rehabilitation. This will be both physical and spiritual in scope and will embrace those activities which stretch all the way from the rebuilding of blasted cities, the restoration of the scorched earth, the psychological care of the youth, the sick in mind and the bewildered, and the re-enunciation of the essential spiritual values which must guide humanity in the future.

b. Nhiệm vụ phục hồi. Điều này sẽ vừa có phạm vi hồng trần vừa có phạm vi tinh thần và sẽ bao gồm những hoạt động trải dài từ việc xây dựng lại các thành phố bị tàn phá, phục hồi vùng đất cháy sém, chăm sóc tâm lý cho giới trẻ, cho những người bệnh về trí tuệ và những người hoang mang, cho đến việc tái tuyên bố những giá trị tinh thần cốt yếu mà phải hướng dẫn nhân loại trong tương lai.

This will involve the Will-to-good.

Điều này sẽ bao hàm Ý Chí-hướng Thiện.

3. The stage wherein will come the recognition of the opportunities of peace, the right use of security, and the planned education of the youth of all lands in the principles of the new age.

3. Giai đoạn trong đó sẽ đến sự nhận biết các cơ hội của hòa bình, việc sử dụng đúng đắn sự an toàn, và nền giáo dục có kế hoạch cho giới trẻ của mọi xứ sở theo các nguyên lý của kỷ nguyên mới.

This will involve the Will-to-organise.

Điều này sẽ bao hàm Ý Chí-tổ chức.

Thus on all three levels of human living, mankind will be conditioned by a tendency towards the good, the beautiful and the true. Speaking esoterically, the personality of humanity will be integrated and reoriented towards the good [342] life, a new and better way. For the attainment of these objectives, I summon you today and all whom you can reach.

Như vậy trên cả ba cấp độ của đời sống con người, nhân loại sẽ được tác động bởi một khuynh hướng hướng tới điều thiện, điều đẹp và điều chân. Nói một cách huyền bí, phàm ngã của nhân loại sẽ được tích hợp và tái định hướng hướng tới đời sống tốt đẹp [342], một con đường mới và tốt đẹp hơn. Vì việc đạt được những mục tiêu này, hôm nay tôi triệu gọi các bạn và tất cả những ai các bạn có thể tiếp cận.

I should like to incorporate at this point part of what I said elsewhere.

Tôi muốn đưa vào đây một phần điều tôi đã nói ở nơi khác.

One thing you must constantly bear in mind. When the war is over, when this time of acute trial and tribulation have come to an end, a great spiritual awakening (of a quality and a nature quite unpredictable now) will arrive. The war will have taught humanity many lessons and will have torn the veil of self away from many eyes. Values which have been hitherto expressed and understood only by those whose “eyes are on God,” will be the goal and the desire of untold thousands; true understanding between men and between nations will be a longed-for objective, and what humanity determines to have it ever succeeds in achieving. This is an occult law, for desire is, as yet, the strongest force in the world; organised, unified desire has been the basic reason for the appalling Axis successes.

Có một điều các bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Khi chiến tranh chấm dứt, khi thời kỳ thử thách và hoạn nạn gay gắt này kết thúc, một sự thức tỉnh tinh thần lớn lao (với phẩm tính và bản chất hiện nay hoàn toàn không thể dự đoán) sẽ đến. Chiến tranh sẽ dạy cho nhân loại nhiều bài học và sẽ xé bỏ bức màn của bản ngã khỏi nhiều đôi mắt. Những giá trị cho đến nay chỉ được biểu lộ và thấu hiểu bởi những người “mắt hướng về Thượng đế,” sẽ trở thành mục tiêu và khát vọng của hàng ngàn người không kể xiết; sự thấu hiểu chân thật giữa người với người và giữa các quốc gia sẽ là một mục tiêu được khao khát, và điều gì nhân loại quyết tâm có được thì y luôn thành công trong việc đạt được. Đây là một định luật huyền bí, vì dục vọng hiện vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới; dục vọng được tổ chức, hợp nhất đã là lý do căn bản cho những thành công kinh hoàng của phe Trục.

The only factor which can successfully oppose desire is Will, using the word in its spiritual connotation and as an expression of the first great divine aspect. There has been but little of that organised, spiritual will shown by the United Nations; the Allies are animated naturally by desire for victory, desire for the arrival of the end of this all-engulfing world cataclysm, by desire for peace and the return of stability, the desire to end war once and for all and to break its constantly recurring cycle, and a steadily mounting desire to bring to a finish the terrible toll of suffering, of cruelty, of death, of starvation and of fear which is gripping humanity by the throat in the attempt to strangle out its life.

Yếu tố duy nhất có thể chống lại dục vọng một cách thành công là Ý chí, dùng từ này theo hàm nghĩa tinh thần của nó và như một biểu lộ của phương diện thiêng liêng lớn thứ nhất. Các Quốc Gia Liên Hiệp đã biểu lộ rất ít ý chí tinh thần có tổ chức ấy; các Đồng Minh dĩ nhiên được thúc đẩy bởi dục vọng chiến thắng, dục vọng mong sự chấm dứt của cơn đại hồng thủy thế giới đang cuốn trôi mọi thứ này, bởi dục vọng hòa bình và sự trở lại của ổn định, dục vọng chấm dứt chiến tranh một lần dứt khoát và phá vỡ chu kỳ tái diễn liên tục của nó, và một dục vọng ngày càng tăng nhằm chấm dứt cái giá khủng khiếp của đau khổ, tàn ác, chết chóc, đói khát và sợ hãi đang bóp nghẹt cổ họng nhân loại trong nỗ lực siết chết sự sống của nhân loại.

But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire. It is not the organised use of the will. The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man. Only this can evoke the true expression of the will. It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the [343] personality. The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good. This is not determination; it is not whipping up and stimulating desire so that it can be transmuted into will; it is not an implacable, unshakable, immovable focussing of all energies in the need to triumph (the enemies of the Forces of Light are adept at that). Victory for the United Nations does not lie in the effort to produce this focussing with better effect than the enemy. The use of the will is not expressed by an iron fixation to stand steady and not yield to evil forces. Determination, the focussing of energy and the demonstration of an all-out effort towards victory are only (where the United Nations are concerned) the expression of a one-pointed desire for peace and for an ending of the trouble. This type of effort is something which the masses can give, and which they do give on both sides in this conflict.

Nhưng trong phần lớn các trường hợp, tất cả quyết tâm này chỉ đơn giản là biểu lộ của một dục vọng cố định và hợp nhất. Nó không phải là việc sử dụng ý chí một cách có tổ chức. Bí mật của ý chí nằm trong sự nhận biết bản chất thiêng liêng của con người. Chỉ điều này mới có thể gợi lên sự biểu lộ chân chính của ý chí. Thật ra nó phải được linh hồn gợi lên, khi linh hồn chi phối trí tuệ con người và kiểm soát [343] phàm ngã. Bí mật của ý chí cũng gắn chặt với sự nhận biết bản chất bất khả chinh phục của điều thiện và tính tất yếu của chiến thắng tối hậu của điều thiện. Đây không phải là quyết tâm; đây không phải là việc quất roi và kích thích dục vọng để nó có thể được chuyển hoá thành ý chí; đây không phải là sự tập trung bất khuất, không lay chuyển, bất động của mọi năng lượng vào nhu cầu phải chiến thắng (kẻ thù của Các Mãnh Lực của Ánh Sáng rất thành thạo điều đó). Chiến thắng của các Quốc Gia Liên Hiệp không nằm ở nỗ lực tạo ra sự tập trung này hiệu quả hơn kẻ thù. Việc sử dụng ý chí không được biểu lộ bằng một sự cố chấp sắt đá để đứng vững và không nhượng bộ các mãnh lực xấu ác. Quyết tâm, sự tập trung năng lượng và sự biểu lộ một nỗ lực toàn lực hướng tới chiến thắng chỉ là (trong trường hợp các Quốc Gia Liên Hiệp) biểu lộ của một dục vọng nhất tâm đối với hòa bình và sự chấm dứt rắc rối. Loại nỗ lực này là điều mà quần chúng có thể cống hiến, và quả thực họ cống hiến ở cả hai phía trong cuộc xung đột này.

There is, however, a plus, a something else, which will swing the tide of victory on to the side of the United Nations. This will come through the effort to understand and express the quality of spiritual Will; it will be the manifestation of that energy which makes the first divine aspect of Will or Power what it is; it is that which is the distinctive feature of the Shamballa force; it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding. Hence we have the episode in Gethsemane. It is not easy for me to express its significance in words. Two thousand years have gone since Gethsemane and since Christ made His initial contact with the Shamballa force, and by this means and on behalf of humanity established a relationship which even after two thousand years is but a thin, frail line of connecting energy.

Tuy nhiên, có một yếu tố cộng thêm, một điều gì khác, sẽ xoay chuyển dòng triều chiến thắng sang phía các Quốc Gia Liên Hiệp. Điều này sẽ đến qua nỗ lực thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý chí tinh thần; đó sẽ là sự biểu lộ của năng lượng làm cho phương diện thiêng liêng thứ nhất là Ý chí hay Quyền năng trở thành chính nó; đó là điều tạo nên nét đặc trưng của mãnh lực Shamballa; đó là phẩm tính đặc biệt và riêng biệt của thiên tính khác biệt đến mức ngay cả Đức Christ cũng không thể biểu lộ nó một cách dễ dàng và thấu hiểu. Vì thế chúng ta mới có sự kiện ở Gethsemane. Tôi không dễ diễn tả ý nghĩa của nó bằng lời. Hai ngàn năm đã trôi qua kể từ Gethsemane và kể từ khi Đức Christ thực hiện tiếp xúc ban đầu của Ngài với mãnh lực Shamballa, và bằng phương tiện này cùng thay mặt cho nhân loại đã thiết lập một mối liên hệ mà ngay cả sau hai ngàn năm vẫn chỉ là một đường dây năng lượng kết nối mỏng manh, yếu ớt.

This Will force is nevertheless available for right usage, but the power to express it lies in its understanding (as far as may be possible at this midway point in human evolution), and in its group use. It is a unifying, synthetic force, but can be used as a regimenting, standardising force. May [344] I repeat those two key words to the use of this Shamballa energy: Group Use and Understanding.

Tuy nhiên, mãnh lực Ý chí này sẵn có để được sử dụng đúng đắn, nhưng quyền năng biểu lộ nó nằm trong sự thấu hiểu nó (xa đến mức có thể ở điểm giữa này trong tiến hóa nhân loại), và trong việc sử dụng nó theo nhóm. Nó là một mãnh lực hợp nhất, tổng hợp, nhưng có thể được dùng như một mãnh lực điều ngũ, tiêu chuẩn hóa. Xin [344] cho phép tôi lặp lại hai từ khóa ấy đối với việc sử dụng năng lượng Shamballa này: Sử Dụng Theo Nhóm và Thấu Hiểu.

Mankind has had much difficulty in comprehending the significance of Love. If that is so, the problem in relation to the Will will naturally be still more difficult. For the vast majority of men, true love is still only a theory. Love (as we usually interpret it) works out as kindness, but it is kindness to the form side of life, to the personalities of those around us, and fulfils itself usually in a desire to carry out our obligations and not to obstruct in any way those activities and relationships which tend to the well-being of our fellowmen. It expresses itself in a desire to end abuses and to bring about happier, material world conditions; it shows itself in mother love, in love among friends, but seldom as yet in love among groups and nations. It is the theme of the Christian teaching, just as Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion, and has been the impulse lying behind much of the good work done in the fields of philanthropy and human welfare, but factually, true love has never yet been expressed—except by the Christ.

Nhân loại đã gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu thâm nghĩa của Tình thương. Nếu đúng như vậy, thì vấn đề liên quan đến Ý chí dĩ nhiên còn khó hơn nữa. Đối với đại đa số con người, tình thương chân thật vẫn chỉ là một lý thuyết. Tình thương (như chúng ta thường diễn giải) biểu lộ thành lòng tử tế, nhưng đó là lòng tử tế đối với phương diện hình tướng của đời sống, đối với phàm ngã của những người quanh ta, và thường hoàn thành chính nó trong một ước muốn chu toàn các nghĩa vụ của chúng ta và không cản trở bằng bất kỳ cách nào những hoạt động và tương quan có khuynh hướng đem lại phúc lợi cho đồng loại. Nó biểu lộ trong ước muốn chấm dứt những lạm dụng và mang lại những điều kiện vật chất hạnh phúc hơn cho thế giới; nó biểu lộ trong tình mẹ, trong tình bạn, nhưng cho đến nay hiếm khi trong tình thương giữa các nhóm và các quốc gia. Đó là chủ đề của giáo huấn Cơ Đốc, cũng như Ý chí, được biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp đến, và đã là xung lực nằm phía sau phần lớn công việc tốt đẹp được thực hiện trong các lĩnh vực từ thiện và phúc lợi nhân loại, nhưng trên thực tế, tình thương chân thật chưa bao giờ được biểu lộ—ngoại trừ bởi Đức Christ.

You might ask why, if this is so, do you emphasise this highest aspect? Why not wait until we know more about Love and how to manifest it in our environment? Because, in its true expression, the Will today is needed as a propelling, expulsive force, and also as a clarifying, purifying agent.

Các bạn có thể hỏi tại sao, nếu đúng như vậy, tôi lại nhấn mạnh phương diện cao nhất này? Tại sao không chờ cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn về Tình thương và cách biểu lộ nó trong môi trường của mình? Bởi vì, trong biểu lộ chân thật của nó, ngày nay Ý chí cần thiết như một mãnh lực thúc đẩy, trục xuất, và cũng như một tác nhân làm sáng tỏ, thanh lọc.

The Shamballa energy is therefore that which is related to the livingness (through consciousness and form) of humanity; we need not consider its relation to the rest of the manifested world; it concerns the establishing of right human relations and is that condition of being which eventually negates the power of death. It is therefore incentive and not impulse; it is realised purpose and not the expression of desire. Desire works from and through the material form upwards; Will works downwards into form, bending form consciously to divine purpose. The one is invocative and the other is evocative. Desire, when massed and focussed, can invoke will; will, when evoked, ends desire [345] and becomes an immanent, propulsive, driving force, stabilising, clarifying, and finally destroying. It is much more than this, but this is all that man can grasp at this time and all for which he has, as yet, the mechanism of comprehension. It is this Will—aroused by invocation—which must be focussed in the light of the soul and dedicated to the purposes of light, and for the purpose of establishing right human relations; it must be used (in love) to destroy all that is hindering the free flow of human life and which is bringing death (spiritual and real) to humanity. This Will must be invoked and evoked.

Do đó, năng lượng Shamballa là năng lượng liên hệ với tính sống động (thông qua tâm thức và hình tướng) của nhân loại; chúng ta không cần xét đến mối liên hệ của nó với phần còn lại của thế giới biểu hiện; nó liên quan đến việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn và là trạng thái hiện hữu cuối cùng phủ nhận quyền lực của cái chết. Vì vậy nó là động cơ thúc đẩy chứ không phải xung lực; nó là mục đích được chứng nghiệm chứ không phải biểu lộ của dục vọng. Dục vọng hoạt động từ và xuyên qua hình tướng vật chất đi lên trên; Ý chí hoạt động đi xuống vào hình tướng, uốn hình tướng một cách có ý thức theo mục đích thiêng liêng. Một bên có tính khẩn cầu và bên kia có tính gợi lên. Dục vọng, khi được tập hợp và tập trung, có thể khẩn cầu ý chí; ý chí, khi được gợi lên, chấm dứt dục vọng [345] và trở thành một mãnh lực nội tại, thúc đẩy, đẩy tới, làm ổn định, làm sáng tỏ, và cuối cùng hủy diệt. Nó còn hơn thế nhiều, nhưng đây là tất cả những gì con người có thể nắm bắt vào lúc này và là tất cả những gì mà cho đến nay y có bộ máy để hiểu. Chính Ý chí này—được khơi dậy bởi sự khẩn cầu—phải được tập trung trong ánh sáng của linh hồn và hiến dâng cho các mục đích của ánh sáng, và cho mục đích thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn; nó phải được sử dụng (trong tình thương) để hủy diệt mọi điều đang cản trở dòng chảy tự do của sự sống nhân loại và đang mang cái chết (tinh thần và thực sự) đến cho nhân loại. Ý chí này phải được khẩn cầu và gợi lên.

There are two great handicaps to the free expression of the Will force in its true nature. One is the sensitivity of the lower nature to its impact, and its consequent prostitution to selfish ends, as in the case of the sensitive, negative German people and its use by the Axis nations for material objectives. The second is the blocking, hindering, muddled but massed opposition of the well-meaning people of the world who talk vaguely and beautifully about love but refuse to consider the techniques of the Will of God in operation. According to them, that Will is something with which they will personally have naught to do; they refuse to recognise that God works out His Will through men, just as He is ever seeking to express His Love through men; they will not believe that that Will could possibly express itself through the destruction of evil with all the material consequences of that evil. They cannot believe that a God of Love could possibly employ the first divine aspect to destroy the forms which are obstructing the free play of the divine Spirit; that Will must not infringe upon their interpretation of Love. Such people are individually of small moment and of no importance, but their massed negativity is a real detriment to the ending of this war, just as the massed negativity of the German people, and their inability to take right action when Hitler’s purposes were disclosed, made possible the great inflow of ancient and focussed evil which has brought the present catastrophe to man. Such people are like a millstone around the neck of humanity, crippling true effort, murmuring, [346] “Let us love God and each other,” but doing nothing but murmur prayers and platitudes whilst humanity is dying.

Có hai trở ngại lớn đối với sự biểu lộ tự do của mãnh lực Ý chí trong bản chất chân thật của nó. Một là tính nhạy cảm của bản chất thấp đối với tác động của nó, và hậu quả là sự đồi bại hóa nó cho những mục đích ích kỷ, như trong trường hợp của dân tộc Đức nhạy cảm, tiêu cực và việc các quốc gia phe Trục sử dụng nó cho những mục tiêu vật chất. Trở ngại thứ hai là sự chống đối ngăn chặn, cản trở, lẫn lộn nhưng tập hợp lại của những người có thiện ý trên thế giới, những người nói một cách mơ hồ và đẹp đẽ về tình thương nhưng từ chối xem xét các kỹ thuật của Ý Chí của Thượng Đế đang vận hành. Theo họ, Ý chí ấy là điều mà cá nhân họ sẽ không dính dáng gì đến; họ từ chối nhận ra rằng Thượng đế thực hiện Ý Chí của Ngài thông qua con người, cũng như Ngài luôn tìm cách biểu lộ Tình thương của Ngài thông qua con người; họ sẽ không tin rằng Ý chí ấy có thể biểu lộ qua việc hủy diệt điều ác với tất cả những hậu quả vật chất của điều ác ấy. Họ không thể tin rằng một Thượng đế của Tình thương lại có thể sử dụng phương diện thiêng liêng thứ nhất để hủy diệt những hình tướng đang cản trở sự vận hành tự do của Tinh thần thiêng liêng; Ý chí ấy không được xâm phạm cách diễn giải của họ về Tình thương. Những người như thế xét riêng lẻ thì ít quan trọng và không đáng kể, nhưng tính tiêu cực tập hợp của họ là một tổn hại thực sự đối với việc chấm dứt cuộc chiến này, cũng như tính tiêu cực tập hợp của dân tộc Đức, và sự bất lực của họ trong việc hành động đúng đắn khi các mục đích của Hitler bị phơi bày, đã khiến cho dòng tuôn đổ lớn lao của điều ác cổ xưa và tập trung có thể xảy ra, điều đã mang thảm họa hiện tại đến cho con người. Những người như thế giống như cối đá buộc quanh cổ nhân loại, làm tê liệt nỗ lực chân chính, lẩm bẩm, [346] “Hãy yêu Thượng đế và yêu nhau,” nhưng không làm gì ngoài việc lẩm bẩm những lời cầu nguyện và những sáo ngữ trong khi nhân loại đang chết dần.

You can easily appreciate the fact that the evocation of the energy of the Will and its effect upon the unprepared, materialistically minded person might and would prove a disaster. It would simply serve to focus and strengthen the lower self-will, which is the name we give to realised and determined desire. It could then create such a driving force, directed to selfish ends, that the person might become a monster of wickedness. In the history of the race, one or two advanced personalities have done this with dire results, both to themselves and to the people of their time. One such figure in ancient times was Nero; the modern example is Hitler. What, however, has made the latter so dangerously an enemy of the human family is that during the last two thousand years mankind has advanced to a point where it can also be responsive to certain aspects of this first ray force. Hitler therefore found associates and cooperators who added their receptivity to his so that an entire group became the responsive agents of the destructive energy, expressing itself in its lowest aspect. This is what has enabled them to work ruthlessly, powerfully, selfishly, cruelly, and successfully, at the destruction of all that attempted to impede their projects and desires.

Các bạn có thể dễ dàng nhận ra rằng việc gợi lên năng lượng của Ý chí và tác động của nó lên người chưa được chuẩn bị, có đầu óc duy vật, có thể và sẽ chứng tỏ là một tai họa. Nó đơn giản chỉ phục vụ để tập trung và tăng cường ý chí ích kỷ của phàm ngã, là tên gọi chúng ta dành cho dục vọng đã được chứng nghiệm và quyết định. Khi đó nó có thể tạo ra một mãnh lực thúc đẩy như vậy, được hướng đến những mục đích ích kỷ, đến nỗi người ấy có thể trở thành một quái vật của sự xấu ác. Trong lịch sử nhân loại, một hoặc hai phàm ngã tiến hóa đã làm điều này với những kết quả tai hại, cả cho chính họ lẫn cho người đương thời. Một nhân vật như thế trong thời cổ là Nero; ví dụ hiện đại là Hitler. Tuy nhiên, điều đã khiến kẻ sau trở thành một kẻ thù nguy hiểm đến thế của gia đình nhân loại là trong hai ngàn năm qua nhân loại đã tiến đến một điểm mà y cũng có thể đáp ứng với một số phương diện của mãnh lực cung một này. Vì vậy Hitler đã tìm thấy những cộng sự viên và hợp tác viên đã thêm tính tiếp nhận của họ vào tính tiếp nhận của hắn, đến nỗi cả một nhóm trở thành những tác nhân đáp ứng của năng lượng hủy diệt, biểu lộ trong phương diện thấp nhất của nó. Chính điều này đã khiến họ có thể làm việc một cách tàn nhẫn, mạnh mẽ, ích kỷ, độc ác và thành công, để hủy diệt mọi điều cố gắng cản trở các dự án và dục vọng của họ.

There is only one way in which this focussed evil will which is responsive to the Shamballa force can be overcome, and that is by the opposition of an equally focussed spiritual Will, displayed by responsive men and women of goodwill who can train themselves to be sensitive to this type of new incoming energy and can learn how to invoke and evoke it.

Chỉ có một cách mà ý chí xấu ác tập trung này, vốn đáp ứng với mãnh lực Shamballa, có thể bị vượt thắng, và đó là bằng sự đối kháng của một Ý chí tinh thần tập trung tương đương, được biểu lộ bởi những người nam và nữ thiện chí có đáp ứng, những người có thể tự rèn luyện để trở nên nhạy cảm với loại năng lượng mới đang đi vào này và có thể học cách khẩn cầu và gợi lên nó.

You can consequently see why there was more than the casual use of a current word in my mind when I talked to all of you in terms of goodwill and of the will-to-good. All the time I had in my thoughts not just kindness and good intention, but the focussed will-to-good which can and must evoke the Shamballa energy, and use it for the arresting of the forces of evil. [347]

Do đó các bạn có thể thấy tại sao trong trí tôi đã có nhiều hơn việc dùng tình cờ một từ thông dụng khi tôi nói với tất cả các bạn theo thuật ngữ thiện chí và ý chí-hướng thiện. Suốt thời gian ấy trong tư tưởng tôi không chỉ là lòng tử tế và ý định tốt, mà là ý chí-hướng thiện tập trung, có thể và phải gợi lên năng lượng Shamballa, và sử dụng nó để ngăn chặn các mãnh lực của điều ác. [347]

~

~

THE SIGNIFICANCE OF THE WESAK FESTIVAL—Ý NGHĨA CỦA LỄ HỘI WESAK

May 1942

Tháng Năm 1942

We have now reached the most important moment of the year. This year two such moments are brought together, reinforcing each other, the Full Moon of May and the Full Moon of June. I would have you bear in mind that time and energy are interchangeable terms upon the inner planes. Time is an event, and an event is a focussed expression of force of some type or kind. Two great streams of energy—one focussed through the Buddha and the other focussed through the Christ—are to be fused and blended and it is the task of the world disciples, the initiates and the accepted disciples to precipitate this combined energy on to the waiting world where its effective use will be largely dependent upon the sensitive response of the world aspirants. These are to be found in every country and their task is to react to the stream of directed energy. These are the points I would have you bear in mind as you endeavour to work through and in the ashram; in that ashram are to be found all types of disciples with all types and degrees of responsiveness.

Chúng ta nay đã đạt đến thời điểm quan trọng nhất của năm. Năm nay, hai thời điểm như thế được đưa lại gần nhau, tăng cường lẫn nhau: Trăng Tròn tháng Năm và Trăng Tròn tháng Sáu. Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng thời gian và năng lượng là những thuật ngữ có thể hoán đổi cho nhau trên các cõi bên trong. Thời gian là một biến cố, và một biến cố là sự biểu lộ tập trung của mãnh lực thuộc một loại hay một kiểu nào đó. Hai dòng năng lượng lớn—một được tập trung qua Đức Phật và dòng kia được tập trung qua Đức Christ—sẽ được dung hợp và hòa trộn, và nhiệm vụ của các đệ tử thế gian, các điểm đạo đồ và các đệ tử được chấp nhận là làm ngưng tụ năng lượng kết hợp này xuống thế giới đang chờ đợi, nơi việc sử dụng hữu hiệu nó sẽ phần lớn tùy thuộc vào sự đáp ứng nhạy bén của các người chí nguyện thế gian. Họ hiện diện trong mọi quốc gia và nhiệm vụ của họ là đáp ứng với dòng năng lượng được định hướng. Đó là những điểm tôi muốn các bạn ghi nhớ khi cố gắng hoạt động xuyên qua và trong ashram; trong ashram đó có đủ mọi loại đệ tử với mọi loại và mọi mức độ đáp ứng.

There is an increasing emphasis being given in the West by esotericists to the Full Moon of May, which is the Festival of the Buddha and is held at the time when He makes His annual contact with humanity. This emphasis, which will continue to increase for years to come, has not been brought about in order to impose recognition of the Buddha upon the Occident. There have been two main reasons why, since 1900, this effort has been made. One was the desire on the part of the Hierarchy to bring to the attention of the public the fact of the two Avatars, the Buddha and the Christ, both upon the second Ray of Love-Wisdom, Who were the first of our humanity to come forth as human-divine Avatars and to embody in Themselves certain cosmic Principles and give them form. The Buddha embodied the Principle of Light, and because of this illumination, humanity was enabled to recognise Christ, Who embodied the still greater Principle [348] of Love. The point to be borne in mind is that light is substance, and the Buddha demonstrated the consummation of substance-matter as the medium of Light, hence His title of the “Illumined One.” Christ embodied the underlying energy of Consciousness. The one demonstrated the height of the attainment of the third divine aspect; the other that of the second aspect, and these two together present one perfect Whole. The second reason was to initiate, as I have earlier said, the theme of the new world religion. This theme will eventually underlie all religious observances, colour all approaches to the divine centre of spiritual life, give the clue to all healing processes, and—using light scientifically—govern all techniques for bringing about conscious unity and relationship between a man and his soul, and between humanity and the Hierarchy.

Tại phương Tây, các nhà bí truyền học ngày càng nhấn mạnh đến Trăng Tròn tháng Năm, là Lễ Hội của Đức Phật và được cử hành vào lúc Ngài thực hiện sự tiếp xúc hằng năm với nhân loại. Sự nhấn mạnh này, vốn sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm sắp tới, không nhằm áp đặt sự công nhận Đức Phật lên phương Tây. Có hai lý do chính khiến từ năm 1900 nỗ lực này đã được thực hiện. Một là ước muốn của Thánh đoàn muốn đưa đến sự chú ý của công chúng sự kiện về hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ, cả hai đều thuộc cung hai Bác Ái – Minh Triết, là những Đấng đầu tiên của nhân loại chúng ta xuất hiện như các Đấng Hoá Thân nhân-thần và hiện thân trong Chính Các Ngài một số Nguyên khí vũ trụ rồi ban cho chúng hình tướng. Đức Phật hiện thân Nguyên khí Ánh sáng, và nhờ sự soi sáng này, nhân loại có thể nhận ra Đức Christ, Đấng hiện thân Nguyên khí còn vĩ đại hơn nữa [348] là Bác ái. Điểm cần ghi nhớ là ánh sáng là chất liệu, và Đức Phật đã chứng minh sự viên mãn của chất liệu-vật chất như là môi trường của Ánh sáng, do đó Ngài mang danh hiệu “Đấng Giác Ngộ.” Đức Christ hiện thân năng lượng nền tảng của tâm thức. Một Đấng chứng minh đỉnh cao thành tựu của phương diện thiêng liêng thứ ba; Đấng kia chứng minh đỉnh cao của phương diện thứ hai, và hai Đấng này cùng nhau trình bày một Toàn Thể hoàn hảo. Lý do thứ hai là để khởi xướng, như tôi đã nói trước đây, chủ đề của tôn giáo thế giới mới. Chủ đề này rốt cuộc sẽ làm nền cho mọi nghi thức tôn giáo, nhuộm màu mọi cách tiếp cận đến trung tâm thiêng liêng của đời sống tinh thần, trao chìa khóa cho mọi tiến trình trị liệu, và—bằng cách sử dụng ánh sáng một cách khoa học—chi phối mọi kỹ thuật nhằm mang lại sự hợp nhất và liên hệ có ý thức giữa con người và linh hồn của y, cũng như giữa nhân loại và Thánh đoàn.

The first objective has been definitely reached. Today, at the Full Moon of May, many millions everywhere will be turning their thoughts towards the Buddha, seeking to come under His influence and blessing and that of the Hierarchy at His annual, though brief, return to bless humanity. This recognition will grow until the time in the not too distant future when His term of service will be over and He will return no more, because the coming Avatar will take His place in the minds and thoughts of the peoples of the world. His task of reminding aspirants continuously of the possibility of illumination, and His work of keeping a channel open for the light to irradiate men’s minds by piercing annually through light substance to the Earth is nearly completed; the time has nearly come when “in that light we shall see Light.”

Mục tiêu thứ nhất đã được đạt tới một cách rõ rệt. Ngày nay, vào Trăng Tròn tháng Năm, nhiều triệu người ở khắp nơi sẽ hướng tư tưởng về Đức Phật, tìm cách đi vào dưới ảnh hưởng và phúc lành của Ngài cùng của Thánh đoàn trong lần trở lại hằng năm, tuy ngắn ngủi, của Ngài để ban phúc cho nhân loại. Sự công nhận này sẽ gia tăng cho đến thời điểm trong tương lai không quá xa khi thời kỳ phụng sự của Ngài chấm dứt và Ngài sẽ không còn trở lại nữa, bởi vì Đấng Hoá Thân sắp đến sẽ thay thế vị trí của Ngài trong tâm trí và tư tưởng của các dân tộc thế giới. Nhiệm vụ của Ngài là liên tục nhắc nhở những người chí nguyện về khả năng giác ngộ, và công việc của Ngài là giữ cho một kênh mở để ánh sáng chiếu rọi vào trí óc con người bằng cách hằng năm xuyên qua chất liệu ánh sáng đến Trái Đất, nay gần hoàn tất; thời điểm gần đến khi “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy Ánh sáng.”

I would ask you to ponder on these two functions which the Buddha has performed. There is a third which, in collaboration with the Christ, He has made possible; this is the establishment of a more easily achieved relation between the Hierarchy and Shamballa, thus facilitating the impress of the Will of God upon the minds of men, through the medium of the Hierarchy. This impress we interpret as yet in terms of the divine Plan. This is expressing itself at present in the [349] keen recognition by men everywhere of the need to establish right human relations, culminating in the objectives for which the United Nations are fighting. These have been voiced for humanity by two great world disciples in terms of The Four Freedoms and The Atlantic Pact. These Four Freedoms relate basically to the four aspects of the lower self, the quaternary. Enough light has been permitted to penetrate by the efforts of the Buddha, to lead to a world-wide recognition of the desirability of these formulas; and there is enough love already in the world, released by the Christ, to make possible the working out of the formulas. Rest back on that assurance and—in full practice upon the physical plane—demonstrate its truth. I said “to make possible,” for the working out lies in the hands of the New Group of World Servers and the men and women of goodwill. Will they prove adequate for the task? Will they brace themselves for the needed strenuous effort?

Tôi muốn các bạn suy ngẫm về hai chức năng này mà Đức Phật đã thực hiện. Có một chức năng thứ ba mà, trong sự cộng tác với Đức Christ, Ngài đã làm cho trở nên khả hữu; đó là việc thiết lập một mối liên hệ dễ đạt được hơn giữa Thánh đoàn và Shamballa, nhờ đó tạo thuận lợi cho sự ghi ấn của Ý Chí của Thượng Đế lên trí óc con người qua trung gian của Thánh đoàn. Sự ghi ấn này hiện chúng ta vẫn còn diễn giải theo các thuật ngữ của Thiên Cơ. Hiện nay điều này đang biểu lộ trong [349] sự nhận biết sâu sắc của con người ở khắp nơi về nhu cầu thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, đạt đỉnh trong các mục tiêu mà Liên Hiệp Quốc đang chiến đấu vì chúng. Những mục tiêu này đã được hai đệ tử thế gian lớn phát biểu cho nhân loại qua Bốn Quyền Tự Do và Hiệp Ước Đại Tây Dương. Bốn Quyền Tự Do này về căn bản liên hệ đến bốn phương diện của phàm ngã, tức bộ tứ phân. Nhờ nỗ lực của Đức Phật, đủ ánh sáng đã được cho phép xuyên nhập để dẫn đến sự công nhận trên toàn thế giới về tính đáng mong muốn của các công thức này; và nhờ Đức Christ giải phóng, đã có đủ bác ái trong thế giới để làm cho việc thực hiện các công thức ấy trở nên khả hữu. Hãy an nghỉ trong sự bảo đảm đó và—bằng sự thực hành trọn vẹn trên cõi hồng trần—chứng minh chân lý của nó. Tôi đã nói “làm cho trở nên khả hữu,” vì việc thực hiện nằm trong tay Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người nam và nữ thiện chí. Liệu họ có tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ không? Liệu họ có tự củng cố mình cho nỗ lực mãnh liệt cần thiết không?

What now is the task which the Buddha has set Himself this coming Full Moon? As far as your comprehension is concerned, it is to evoke in humanity the spirit of demand, whilst holding open for them the channel whereby that demand can reach straight through to Shamballa. This is the point to have in mind as you prepare for the Wesak Festival and attempt to participate in the Full Moon blessing—blessing for the world and not for yourself. The Buddha comes this year, embodying the force which can stimulate men everywhere to focus their “massed intent” and thus reach symbolically “the ear and the heart” of the Avatar, wresting thus from the secret place of the Most High the aid, help, and directed recognition which will bring about a phenomenal event in due and proper time. Whilst He is attempting to do this, the Christ will join in the effort by focussing in Himself the spirit of appeal as it is evoked by the stimulation being applied by the Buddha. He will embody that appeal in a great Invocation, one which cannot be given to you, but which He is prepared to use if the appeal comes forth in sufficient strength from the people of the world. Will humanity respond to the evocation of the [350] Buddha? Will their massed intent be vital enough to enable the Christ to become Himself, in a mysterious way, the very Spirit of Invocation on their behalf? These are the possibilities with which we are confronted this Full Moon of May.

Vậy nhiệm vụ mà Đức Phật đã tự đặt ra cho mình trong kỳ Trăng Tròn sắp đến này là gì? Theo mức độ thấu hiểu của các bạn, đó là khơi dậy trong nhân loại tinh thần đòi hỏi, đồng thời giữ mở cho họ kênh mà qua đó sự đòi hỏi ấy có thể vươn thẳng đến Shamballa. Đây là điểm cần ghi nhớ khi các bạn chuẩn bị cho Lễ Hội Wesak và cố gắng tham dự vào phúc lành của Trăng Tròn—phúc lành cho thế giới chứ không phải cho chính mình. Năm nay Đức Phật đến, hiện thân mãnh lực có thể kích thích con người ở khắp nơi tập trung “ý định hợp khối” của họ và nhờ đó một cách biểu tượng chạm đến “tai và tim” của Đấng Hoá Thân, từ đó giành lấy từ nơi bí mật của Đấng Tối Cao sự trợ giúp, cứu viện và sự công nhận có định hướng sẽ mang lại một biến cố phi thường vào đúng thời điểm thích hợp. Trong khi Ngài đang cố gắng làm điều này, Đức Christ sẽ tham gia nỗ lực bằng cách tập trung trong Chính Ngài tinh thần khẩn cầu như nó được khơi dậy bởi sự kích thích do Đức Phật áp dụng. Ngài sẽ hiện thân lời khẩn cầu ấy trong một Khẩn Cầu vĩ đại, một Khẩn Cầu không thể trao cho các bạn, nhưng Ngài sẵn sàng sử dụng nó nếu lời khẩn cầu phát ra đủ mạnh từ các dân tộc thế giới. Liệu nhân loại có đáp ứng với sự gợi lên của [350] Đức Phật không? Liệu ý định hợp khối của họ có đủ sinh lực để khiến Đức Christ tự mình, theo một cách huyền nhiệm, trở thành chính Tinh Thần của Khẩn Cầu thay cho họ không? Đó là những khả năng mà chúng ta đang đối diện trong Trăng Tròn tháng Năm này.

It is these which I would ask you to have in mind from now until the Wesak Moon and on until after the June Full Moon. It is at that Full Moon that the Christ can and will use this Invocation, provided the will of the people permits. At that time He will attempt to reach the Lords of Liberation and evoke Their response to the focussed will of the spiritually minded people of the world, the aspirants, disciples and initiates; They, if evoked, can give the impetus which will enable the Christ (as the Rider from the Secret Place) to come forth in response to the “massed intent” of the general public.

Đó là những điều tôi muốn các bạn ghi nhớ từ nay cho đến Trăng Wesak và tiếp tục cho đến sau Trăng Tròn tháng Sáu. Chính vào Trăng Tròn đó mà Đức Christ có thể và sẽ sử dụng Khẩn Cầu này, miễn là ý chí của con người cho phép. Vào lúc ấy Ngài sẽ cố gắng tiếp cận các Đấng Giải Thoát và gợi lên sự đáp ứng của Các Ngài đối với ý chí tập trung của những người có khuynh hướng tinh thần trên thế giới, các người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ; nếu được gợi lên, Các Ngài có thể ban xung lực giúp Đức Christ (như Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Bí Mật) xuất hiện để đáp ứng với “ý định hợp khối” của công chúng nói chung.

Do you see, therefore, the imminent and vital possibilities? Do you recognise the urgency of the opportunity? The two Full Moons form one complete cycle of work and should be prepared for in line with these statements of mine, both now and in the years which will follow. As you prepare your own hearts, remember that the Full Moon of May is the time in which the New Group of World Servers and all the esotericists and spiritually oriented people of the world must work in full cooperation with the Buddha, and that the Full Moon of June is the opportunity for the men and women of goodwill—aided by the New Group of World Servers—to arouse people everywhere to make a great appeal, and by this appeal enable the Christ to invoke for them the needed aid.

Vậy các bạn có thấy những khả năng cấp bách và sinh tử đang ở rất gần không? Các bạn có nhận ra tính khẩn thiết của cơ hội này không? Hai kỳ Trăng Tròn tạo thành một chu kỳ công việc trọn vẹn và cần được chuẩn bị phù hợp với những phát biểu này của tôi, cả bây giờ lẫn trong những năm sắp tới. Khi các bạn chuẩn bị chính trái tim mình, hãy nhớ rằng Trăng Tròn tháng Năm là thời điểm mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng tất cả các nhà bí truyền học và những người có định hướng tinh thần trên thế giới phải hoạt động trong sự hợp tác trọn vẹn với Đức Phật, và Trăng Tròn tháng Sáu là cơ hội cho những người nam và nữ thiện chí—được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trợ giúp—khơi dậy con người ở khắp nơi thực hiện một lời khẩn cầu lớn lao, và nhờ lời khẩn cầu này giúp Đức Christ khẩn cầu thay cho họ sự trợ giúp cần thiết.

One thing I would request. Set no dates for the appearing of the Coming One, the Avatar, or for any spectacular aid. If the work is rightly done, He will come at the set and appointed time and the needed aid will be forthcoming. Modes and methods are none of your concern. Regard the ancient prophecies as intrinsically right, true and correct, but recognise that their phraseology is symbolic and not to be taken literally. How the Lords of Liberation will work can only be known to the Hierarchy. Their aid will be focussed [351] upon evoking in the Hierarchy those attitudes and capacities which will make possible the inflow of energy from Shamballa. Their work is with the Hierarchy, and the reaction of humanity to Their activity will come only from the New Group of World Servers, and may even then only be registered consciously by the senior disciples and initiates.

Có một điều tôi muốn yêu cầu. Đừng ấn định ngày tháng cho sự xuất hiện của Đấng Đang Đến, Đấng Hoá Thân, hay cho bất kỳ sự trợ giúp ngoạn mục nào. Nếu công việc được thực hiện đúng đắn, Ngài sẽ đến vào thời điểm đã được ấn định và sự trợ giúp cần thiết sẽ đến. Phương thức và phương pháp không phải là điều các bạn cần quan tâm. Hãy xem các lời tiên tri cổ xưa là đúng đắn, chân thật và chính xác về bản chất, nhưng hãy nhận ra rằng cách diễn đạt của chúng mang tính biểu tượng và không nên hiểu theo nghĩa đen. Các Đấng Giải Thoát sẽ hoạt động như thế nào thì chỉ Thánh đoàn mới có thể biết. Sự trợ giúp của Các Ngài sẽ được tập trung [351] vào việc gợi lên trong Thánh đoàn những thái độ và năng lực sẽ làm cho dòng năng lượng từ Shamballa tuôn vào trở nên khả hữu. Công việc của Các Ngài là với Thánh đoàn, và phản ứng của nhân loại đối với hoạt động của Các Ngài sẽ chỉ đến từ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và ngay cả khi ấy cũng có thể chỉ được các đệ tử cao cấp và các điểm đạo đồ ghi nhận một cách có ý thức.

The work of the Avatar, the Rider from the Secret Place, will be primarily with humanity and will be for their relief and salvation.

Công việc của Đấng Hoá Thân, Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Bí Mật, trước hết sẽ là với nhân loại và sẽ nhằm giải cứu và cứu rỗi họ.

The first half of this work, focussed through the Buddha, will begin in May 1942. The second half will be started by the Christ in June 1942, but only if the invocation of the New Group of World Servers and the massed intent of the men and women of goodwill is adequately strong and adequately focussed. It will consequently be a reciprocal process of invocation and evocation, facilitated by the extreme readiness to act and to respond on the part of Those invoked by humanity, but handicapped by the lack of sensitivity and the weakness of the will of those seeking aid. It is this inadequacy which the Buddha hopes to remove when He comes to His people in May. It is the strengthening and focussing of the will which the Christ is endeavouring to foster with a special effort in June.

Nửa đầu của công việc này, được tập trung qua Đức Phật, sẽ bắt đầu vào tháng Năm năm 1942. Nửa sau sẽ được Đức Christ khởi sự vào tháng Sáu năm 1942, nhưng chỉ nếu sự khẩn cầu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và ý định hợp khối của những người nam và nữ thiện chí đủ mạnh và đủ tập trung. Do đó, đây sẽ là một tiến trình hỗ tương của Khẩn Cầu và Gợi Lên, được tạo thuận lợi bởi sự sẵn sàng cực độ để hành động và đáp ứng nơi Những Đấng được nhân loại khẩn cầu, nhưng bị cản trở bởi sự thiếu nhạy bén và sự yếu kém của ý chí nơi những người đang tìm kiếm sự trợ giúp. Chính sự bất cập này mà Đức Phật hy vọng loại bỏ khi Ngài đến với dân của Ngài vào tháng Năm. Chính sự tăng cường và tập trung ý chí mà Đức Christ đang cố gắng nuôi dưỡng bằng một nỗ lực đặc biệt trong tháng Sáu.

These two Full Moons are therefore of paramount importance and should have a definite effect subconsciously upon the minds of the New Group of World Servers and upon the hearts of the men and women of goodwill in every land, nation and group. Let your meetings, your meditation and your individual thinking be steadily focussed upon these points, and endeavour to enter into the Full Moon exercises—both of May and June—with as clear an understanding of what is taking place as you can and a clear picture of the possibilities which can come as the result of right action. Both the Full Moons should be times of effective service. The Buddha does not require invoking. He will come. But the spirit of invocation needs evoking from the masses and it is this work that aspirants everywhere can aid the Buddha in bringing out, standing thus with Him and with the [352] Hierarchy. At the time of the Full Moon of June, and in preparation for the opportunity during the entire month of May, the point of focus for all servers must be the Christ and every effort must be directed to aiding His work as Representative for the people. He will endeavour to gather into Himself all that they have of appeal, prayer and demand—voiced or unvoiced—transmitting it in an act of spiritual intent to Shamballa.

Vì vậy, hai kỳ Trăng Tròn này có tầm quan trọng tối thượng và phải tạo ra một ảnh hưởng rõ rệt ở tầng dưới ngưỡng ý thức lên trí óc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và lên trái tim của những người nam và nữ thiện chí trong mọi xứ sở, quốc gia và nhóm. Hãy để các buổi họp, sự tham thiền và tư duy cá nhân của các bạn được tập trung vững vàng vào những điểm này, và hãy cố gắng đi vào các thực hành Trăng Tròn—cả tháng Năm lẫn tháng Sáu—với sự thấu hiểu rõ nhất có thể về điều đang diễn ra và với một hình ảnh rõ ràng về những khả năng có thể đến như kết quả của hành động đúng đắn. Cả hai kỳ Trăng Tròn đều phải là những thời điểm phụng sự hữu hiệu. Đức Phật không cần được khẩn cầu. Ngài sẽ đến. Nhưng tinh thần khẩn cầu cần được gợi lên từ quần chúng, và chính trong công việc này mà những người chí nguyện ở khắp nơi có thể trợ giúp Đức Phật làm bộc lộ nó, nhờ đó đứng cùng Ngài và cùng [352] Thánh đoàn. Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu, và để chuẩn bị cho cơ hội ấy trong suốt tháng Năm, điểm tập trung của mọi người phụng sự phải là Đức Christ và mọi nỗ lực phải được hướng đến việc trợ giúp công việc của Ngài với tư cách là Đấng Đại Diện cho nhân loại. Ngài sẽ cố gắng thu hút vào Chính Ngài tất cả những gì họ có về lời khẩn cầu, lời cầu nguyện và sự đòi hỏi—được thốt ra hay không được thốt ra—rồi chuyển nó trong một hành vi ý định tinh thần đến Shamballa.

A mobilising of the Forces of Light is going on upon the inner side of life. These Forces stand ready, but the word for action must come from the Christ, and He will give that word when the people give it to Him. We are the conditioners of our own destiny. Neither the Christ nor the Hierarchy may, at this stage in human evolution, take any step vitally affecting humanity unless released into this activity by humanity itself.

Một sự huy động của các Mãnh Lực Ánh Sáng đang diễn ra ở mặt bên trong của sự sống. Các Mãnh Lực này đang sẵn sàng, nhưng linh từ hành động phải đến từ Đức Christ, và Ngài sẽ ban linh từ đó khi con người trao nó cho Ngài. Chúng ta là những kẻ định hình vận mệnh của chính mình. Ở giai đoạn này trong tiến hoá nhân loại, cả Đức Christ lẫn Thánh đoàn đều không thể thực hiện bất kỳ bước đi nào ảnh hưởng sinh tử đến nhân loại trừ phi được chính nhân loại giải phóng vào hoạt động ấy.

From April 15th till June 15th are critical weeks, spiritually and materially, and this is one of the important facts I want at this time to bring to your attention. I cannot detail to you what you should do or what should be your line of endeavour. I can give you a general idea of the hierarchical Approach and the nature of the human problem. The rest lies in your hands.

Từ ngày 15 tháng Tư đến ngày 15 tháng Sáu là những tuần lễ quyết định, cả về tinh thần lẫn vật chất, và đây là một trong những sự kiện quan trọng mà lúc này tôi muốn đưa đến sự chú ý của các bạn. Tôi không thể trình bày chi tiết cho các bạn phải làm gì hay đường lối nỗ lực của các bạn nên là gì. Tôi có thể cho các bạn một ý niệm tổng quát về Sự Tiếp Cận của Thánh đoàn và bản chất của vấn đề nhân loại. Phần còn lại nằm trong tay các bạn.

Even if the work done is entirely successful, the time of the Appearing and of divine intervention by the Forces of Light, through the medium of Their Agents, the Lords of Liberation and the Christ is dependent upon many factors beside that of right invocation. Of these you can know little, if anything. The question of right timing is one of deep esoteric significance and is basically involved here. The next three years are years of fulfilment and for that period the aspirants of the world are asked to stand steady in patient, yet convinced, expectancy. The task to be done by the Hierarchy involves not only the physical plane but also the inner planes of causes and impulses, of thought and desire. This all disciples know but are apt to forget. The critical situation upon the outer plane is only a reflection of still more critical inner conditions, and you can give acceptable [353] help if you evoke your own will and control your emotions, disciplining your personality. Thus you will be able to present a tiny focal point through which the spiritual Forces can work. Through the agency of the many tiny points of light and will, much potency can be transmitted.

Ngay cả nếu công việc được thực hiện hoàn toàn thành công, thời điểm của sự Xuất Hiện và của sự can thiệp thiêng liêng bởi các Mãnh Lực Ánh Sáng, qua trung gian các Tác Nhân của Các Ngài là các Đấng Giải Thoát và Đức Christ, vẫn còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố ngoài yếu tố khẩn cầu đúng đắn. Về những yếu tố ấy, các bạn biết rất ít, nếu có biết gì. Vấn đề thời điểm đúng là một vấn đề có ý nghĩa huyền bí sâu xa và về căn bản có liên quan ở đây. Ba năm tới là những năm hoàn thành, và trong giai đoạn đó các người chí nguyện của thế giới được yêu cầu đứng vững trong sự mong đợi kiên nhẫn nhưng đầy xác tín. Nhiệm vụ mà Thánh đoàn phải thực hiện không chỉ liên quan đến cõi hồng trần mà còn đến các cõi bên trong của nguyên nhân và xung lực, của tư tưởng và dục vọng. Tất cả các đệ tử đều biết điều này nhưng thường dễ quên. Tình thế nguy cấp trên cõi bên ngoài chỉ là phản ánh của những điều kiện bên trong còn nguy cấp hơn, và các bạn có thể đem lại sự trợ giúp được chấp nhận [353] nếu các bạn gợi lên ý chí của chính mình và kiểm soát cảm xúc của mình, rèn luyện phàm ngã của mình. Nhờ đó các bạn sẽ có thể trình hiện một điểm tập trung nhỏ bé mà qua đó các Mãnh Lực tinh thần có thể hoạt động. Qua tác nhân của nhiều điểm nhỏ bé của ánh sáng và ý chí, rất nhiều mãnh lực có thể được truyền dẫn.

It is the will-to-victory that is demanded at this time; it is the will-to-invoke that which is needed; it is the will-to-focus and through this focussing to aid in the great act of invocation for which the Christ is at this time preparing Himself; it is the will-to-goodness, to self-control and to the evocation of right action for which the Hierarchy asks today. If humanity does its part, it will find that Hierarchy more than ready to respond and do its share in bringing about world release from the Forces of Evil.

Điều được đòi hỏi vào lúc này là ý chí chiến thắng; là ý chí khẩn cầu điều cần thiết; là ý chí tập trung và qua sự tập trung này trợ giúp trong hành vi khẩn cầu vĩ đại mà hiện nay Đức Christ đang chuẩn bị cho chính Ngài; là ý chí hướng thiện, ý chí tự chủ và ý chí gợi lên hành động đúng đắn mà Thánh đoàn hôm nay yêu cầu. Nếu nhân loại làm phần việc của mình, nhân loại sẽ thấy Thánh đoàn sẵn sàng hơn cả để đáp ứng và làm phần việc của mình trong việc mang lại sự giải thoát thế giới khỏi các Mãnh Lực của Ác.

Will you ponder on this and will you cooperate in every possible way? The plans may be laid, the vision may be seen but unless everyone recognises his essential contribution and his real usefulness, nothing can be done. There are no limitations when true esoteric work is undertaken. To this end, I seek to emphasise renewed application to meditation and a constant steady use of the Invocation, particularly the one which begins by invoking the Lords of Liberation.

Các bạn có suy ngẫm về điều này và có hợp tác bằng mọi cách có thể không? Các kế hoạch có thể được đặt ra, linh ảnh có thể được nhìn thấy, nhưng trừ phi mọi người nhận ra sự đóng góp thiết yếu và tính hữu dụng thực sự của mình, sẽ không thể làm được gì. Không có giới hạn nào khi công việc huyền bí học chân chính được đảm nhận. Nhằm mục đích này, tôi tìm cách nhấn mạnh sự áp dụng mới mẻ vào tham thiền và việc sử dụng Khẩn Cầu một cách đều đặn, đặc biệt là Khẩn Cầu bắt đầu bằng việc khẩn cầu các Đấng Giải Thoát.

“This work,” Christ said, “goeth not forth save by prayer and fasting.” I call you to prayer and to meditation for both are needed today, fusing as they do the emotional and mental bodies into one aspiring whole. I call you to discipline, for that is the meaning of fasting and to the constant effort to live at the highest possible point all the time; this is so often a dream but not often a fact. Today, in the hour of the world’s need, aspirants and disciples who are willing to make at least consistent, persistent effort are needed by humanity and the Hierarchy.

“Công việc này,” Đức Christ nói, “không thể tiến hành nếu không có cầu nguyện và chay tịnh.” Tôi kêu gọi các bạn đến với cầu nguyện và tham thiền vì cả hai đều cần thiết hôm nay, bởi chúng dung hợp thể cảm dục và thể trí thành một toàn thể chí nguyện. Tôi kêu gọi các bạn đến với kỷ luật, vì đó là ý nghĩa của chay tịnh, và đến với nỗ lực không ngừng để luôn sống ở điểm cao nhất có thể; điều này thường chỉ là một giấc mơ chứ không thường là một sự kiện. Hôm nay, trong giờ phút thế giới cần đến, nhân loại và Thánh đoàn cần những người chí nguyện và đệ tử sẵn lòng thực hiện ít nhất một nỗ lực nhất quán và bền bỉ.

My brothers, I have presented the picture; I have held before you for years the vision of opportunity, service and discipleship. I have outlined to you the mechanism of service which already is in existence and which can be galvanised into activity and world usefulness. I leave the matter in your hands, asking you to remember that the united [354] interest, love, service and money of the many is far more potent than even the consecrated effort of the two or three. No one is futile or useless, unless he chooses so to be.

Huynh đệ của Tôi, tôi đã trình bày bức tranh; trong nhiều năm tôi đã giữ trước các bạn linh ảnh về cơ hội, phụng sự và địa vị đệ tử. Tôi đã phác họa cho các bạn bộ máy phụng sự vốn đã hiện hữu và có thể được kích hoạt thành hoạt động và hữu dụng cho thế giới. Tôi để vấn đề trong tay các bạn, yêu cầu các bạn nhớ rằng sự quan tâm, bác ái, phụng sự và tiền bạc hợp nhất [354] của số đông mạnh hơn rất nhiều so với ngay cả nỗ lực thánh hiến của hai hay ba người. Không ai là vô ích hay vô dụng, trừ phi y chọn như thế.

And in the meantime, paralleling your subjective work and externalising your inner endeavour must be your work for your country and for your fellowmen in humanity’s hour of need. There must be steadiness, selflessness and silence, plus courage and confidence—confidence in the strength of your own souls, confidence in the watching Hierarchy and confidence in the Plan. The end of tribulation is not yet, but it is in sight. With this thought I leave you. May the blessing of the Masters rest upon you as a group and as individuals, and may the Holy Ones Whose pupils you seek to become show you the light you seek, give you the strong aid of Their compassion and Their wisdom until you stand where the One Initiator is invoked, until you see His star shine forth.

Và trong khi đó, song hành với công việc chủ quan của các bạn và ngoại hiện nỗ lực bên trong của các bạn phải là công việc của các bạn cho đất nước mình và cho đồng loại của mình trong giờ phút nhân loại cần đến. Phải có sự vững vàng, vô ngã và im lặng, cộng với can đảm và tin tưởng—tin tưởng vào sức mạnh của chính linh hồn các bạn, tin tưởng vào Thánh đoàn đang dõi theo và tin tưởng vào Thiên Cơ. Sự chấm dứt khổ nạn vẫn chưa đến, nhưng đã ở trong tầm mắt. Với ý nghĩ đó tôi rời các bạn. Cầu mong phúc lành của các Chân sư ngự trên các bạn như một nhóm và như từng cá nhân, và cầu mong các Đấng Thiêng Liêng mà các bạn tìm cách trở thành môn sinh của Các Ngài chỉ cho các bạn ánh sáng mà các bạn tìm kiếm, ban cho các bạn sự trợ giúp mạnh mẽ từ lòng từ bi và minh triết của Các Ngài cho đến khi các bạn đứng nơi Đấng Điểm đạo Duy Nhất được khẩn cầu, cho đến khi các bạn thấy ngôi sao của Ngài chiếu sáng.

~

~