← Externalisation of the Hierarchy

1. Upon the point achieved in racial evolution. This today warrants the building of a better vehicle for human and racial expression.

This Shamballa energy now for the first time is making its impact upon humanity directly and is not stepped down, as [108] has hitherto been the case, through transmission via the Hierarchy of Masters. This change of direction constituted a somewhat dangerous experiment as it necessarily stimulated the personalities of men, particularly those whose personalities were along the line of will or power and in whom the love aspect of divinity was not sufficiently expressing itself; it was, however, permitted because it was realised that it would not affect the man in the street or the masses who would remain unresponsive to it, though it might greatly stimulate and intensify the mental and more potent type of man.

Năng lượng Shamballa này hiện nay lần đầu tiên đang tạo tác động trực tiếp lên nhân loại và không còn được giảm hạ, như từ trước đến nay [108] vẫn là trường hợp, qua sự truyền dẫn thông qua Thánh đoàn các Chân sư. Sự đổi hướng này cấu thành một thử nghiệm phần nào nguy hiểm vì tất yếu nó kích thích các phàm ngã của con người, đặc biệt là những người có phàm ngã theo đường lối ý chí hay quyền lực và nơi họ phương diện bác ái của thiên tính chưa biểu lộ đầy đủ; tuy nhiên, điều đó đã được cho phép vì người ta nhận ra rằng nó sẽ không ảnh hưởng đến người bình thường ngoài đường phố hay quần chúng, những người sẽ vẫn không đáp ứng với nó, mặc dù nó có thể kích thích và tăng cường mạnh mẽ kiểu người trí tuệ hơn và mãnh lực hơn.

The effects of this widespread stimulation have been all that was anticipated and the so-called “evil results” of the Shamballa force upon ambitious and powerful personalities in all countries and all schools of thought have, nevertheless, been offset to some extent by the growth of the sense of relationship everywhere and by the spread of the Christ energy which generates at-one-ment, loving understanding and goodwill.

Các hiệu quả của sự kích thích lan rộng này đều đúng như đã được dự liệu, và những cái gọi là “kết quả xấu” của mãnh lực Shamballa trên các phàm ngã đầy tham vọng và quyền lực ở mọi quốc gia và mọi trường phái tư tưởng, tuy vậy, đã được hóa giải phần nào bởi sự tăng trưởng của ý thức về liên hệ ở khắp nơi và bởi sự lan tỏa của năng lượng Christ, năng lượng tạo ra sự hợp nhất, sự thấu hiểu đầy bác ái và thiện chí.

You might here rightly enquire how this can be so when humanity is overwhelmed by a ghastly world war at this time. I would remind you that the Hierarchy is guided in its conclusions by the mass light and by the inner subjective oft unexpressed reactions of the multitude and never by the outer happenings upon the physical plane. The fate of the form life and of outer organisations is deemed of small importance compared with the sensed inner spiritual development. That development must necessarily outrun the outer manifestation. Humanity is today further advanced spiritually and mentally than might appear from external happenings. The first result of such development is eventually the destruction of the outer form because it is proving inadequate to the pulsing, inner, spiritual life; then, secondly, comes the building of the new and more adequate outer expression. This accounts for the world crisis at this time. The cause is based upon four major factors upon which I would like somewhat to enlarge: [109]

Ở đây, bạn có thể hoàn toàn đúng khi hỏi làm sao điều này có thể như vậy khi nhân loại hiện đang bị một cuộc thế chiến khủng khiếp nhấn chìm. Tôi xin nhắc bạn rằng Thánh đoàn được hướng dẫn trong các kết luận của mình bởi ánh sáng của quần chúng và bởi những phản ứng nội tại chủ quan, thường không được biểu lộ, của số đông, chứ không bao giờ bởi các biến cố bên ngoài trên cõi hồng trần. Số phận của sự sống hình tướng và của các tổ chức bên ngoài được xem là ít quan trọng so với sự phát triển tinh thần nội tại được cảm nhận. Sự phát triển đó tất yếu phải vượt trước biểu hiện bên ngoài. Nhân loại ngày nay đã tiến bộ hơn về tinh thần và trí tuệ so với điều có thể thấy từ các biến cố bên ngoài. Kết quả đầu tiên của sự phát triển như thế rốt cuộc là sự hủy diệt hình tướng bên ngoài vì nó tỏ ra không thích hợp với sự sống tinh thần nội tại đang rung động; rồi đến thứ hai là việc xây dựng biểu hiện bên ngoài mới và thích hợp hơn. Điều này giải thích cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Nguyên nhân dựa trên bốn yếu tố chính mà tôi muốn khai triển đôi chút: [109]

1. Upon the point achieved in racial evolution. This today warrants the building of a better vehicle for human and racial expression.

1. Dựa trên điểm đã đạt được trong tiến hoá của nhân loại. Điều này ngày nay bảo đảm cho việc xây dựng một vận cụ tốt hơn cho sự biểu lộ của con người và của nhân loại.

2. Upon the karmic causes which—as far as present humanity is concerned—can be traced back to an ancient conflict upon old Atlantis.

2. Dựa trên các nguyên nhân nghiệp quả mà—xét theo nhân loại hiện nay—có thể truy nguyên về một cuộc xung đột cổ xưa trên Atlantis xưa.

3. Upon the coming into incarnation of certain potent personalities whose dharma or destiny it is to bring about great evolutionary changes.

3. Dựa trên việc một số phàm ngã đầy mãnh lực đang lâm phàm, mà dharma hay định mệnh của họ là đem lại những thay đổi tiến hoá lớn lao.

4. Upon certain planetary happenings, connected with the life of the One “in Whom we live and move and have our being.” These involve the impact upon our planet of Forces and Energies which will be instrumental in altering the existing civilisation and culture, in climaxing karmic necessity and in thus engineering release, presenting humanity with that stage in the experience of the disciple which we call “the meeting of the Dweller on the Threshold with the Angel of the Presence,” and inducing as a consequence a certain planetary initiation.

4. Dựa trên một số biến cố hành tinh, liên hệ với sự sống của Đấng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Những điều này bao hàm sự tác động lên hành tinh chúng ta của các Mãnh lực và Năng lượng sẽ là công cụ làm thay đổi nền văn minh và văn hóa hiện hữu, đưa nhu cầu nghiệp quả đến cao điểm và như thế tạo ra sự giải thoát, đặt trước nhân loại giai đoạn trong kinh nghiệm của đệ tử mà chúng ta gọi là “cuộc gặp gỡ của Kẻ Chận Ngõ với Thiên Thần của Hiện Diện,” và do đó dẫn đến một điểm đạo hành tinh nào đó.

These four stages of the Law of Cause and Effect (as it affects humanity at this time) might be called:

Bốn giai đoạn này của Định luật Nhân Quả (khi nó ảnh hưởng đến nhân loại vào lúc này) có thể được gọi là:

1. The perfecting of form expression...Law of Evolution

1. Sự hoàn thiện biểu hiện hình tướng... Định luật Tiến hoá

2. The precipitation of karma.........Law of Cause and Effect

2. Sự ngưng tụ nghiệp quả......... Định luật Nhân Quả

3. The achievement of personality..... Law of Polar Opposites

3. Sự thành tựu của phàm ngã..... Định luật Các Cực Đối Lập

(The Dweller on the Threshold)

(Kẻ Chận Ngõ)

4. The attainment of planetary initiation.Law of Initiation

4. Sự đạt đến điểm đạo hành tinh.. Định luật Điểm đạo

You may perhaps think at this point that I am being academic and that the world stress at this time is such that love, sympathy and kind words are needed far more than [110] learned, historical retrospection and suggested hypotheses. I seek, however, to foster in you the spirit of understanding. Such true comprehension necessitates head knowledge as well as heart reaction. The disciples of the world today must endeavour to see why and to what end the present terrible happenings have occurred. A clear expression and statement of causes is needed—free from emotional bias and partisan emphasis. What is happening today is not the result of immediate occurrences. When I say “immediate,” I refer to all happenings which have occurred within the Christian era. I want you to attempt to regard the present crisis as being caused or initiated by events which are of so ancient an origin that modern, orthodox historians have no record of them.

Có lẽ lúc này bạn nghĩ rằng tôi đang trở nên hàn lâm và rằng áp lực của thế giới hiện nay là như thế nên tình thương, cảm thông và những lời tử tế cần thiết hơn nhiều so với [110] sự hồi cố lịch sử uyên bác và những giả thuyết được nêu ra. Tuy nhiên, tôi tìm cách nuôi dưỡng trong bạn tinh thần thấu hiểu. Sự thấu hiểu chân chính như thế đòi hỏi tri thức của đầu óc cũng như phản ứng của trái tim. Các đệ tử của thế giới ngày nay phải cố gắng thấy được vì sao và nhằm mục đích gì mà những biến cố khủng khiếp hiện nay đã xảy ra. Cần có một sự trình bày và phát biểu rõ ràng về các nguyên nhân—không bị thiên lệch cảm xúc và nhấn mạnh phe phái. Điều đang xảy ra ngày nay không phải là kết quả của những biến cố gần đây. Khi tôi nói “gần đây,” tôi muốn nói đến mọi biến cố đã xảy ra trong kỷ nguyên Cơ Đốc. Tôi muốn bạn cố gắng nhìn cuộc khủng hoảng hiện nay như được gây ra hay khởi phát bởi những biến cố có nguồn gốc cổ xưa đến mức các sử gia chính thống hiện đại không hề có ghi chép nào về chúng.

Only two points of view will serve truly to clarify what is happening at this time.

Chỉ có hai quan điểm mới thực sự giúp làm sáng tỏ điều đang xảy ra vào lúc này.

First of all, a recognition that modern academic history constitutes only one page in a vast historical record and that the initiating events of which we are in search and which are working out as effects in the planetary life at this time belong to an age so distant that no modern historian recognises its episodes. Information anent this ancient period must be sought in the many world Scriptures, in ancient monuments, in the science of symbols, in the racial myths, and in inherited and transmitted legends.

Trước hết, cần nhận ra rằng lịch sử hàn lâm hiện đại chỉ cấu thành một trang trong hồ sơ lịch sử bao la, và rằng những biến cố khởi đầu mà chúng ta đang tìm kiếm và hiện đang biểu lộ thành các hiệu quả trong sự sống hành tinh vào lúc này thuộc về một thời đại xa xôi đến nỗi không một sử gia hiện đại nào thừa nhận các tình tiết của nó. Thông tin liên quan đến thời kỳ cổ xưa này phải được tìm trong nhiều Kinh điển thế giới, trong các di tích cổ, trong khoa học biểu tượng, trong các huyền thoại của nhân loại, và trong các truyền thuyết được thừa hưởng và truyền lại.

Secondly, that a study of the microcosm, man, will be found to hold, as always, the key to the study of human affairs as a whole. Just as the aspirants and disciples are at this time being tested and tried and subjected to the working out of inexplicable conflicts and drastic changes in their lives, so the same is true of the world aspirant, Humanity.

Thứ hai, việc nghiên cứu tiểu thiên địa là con người sẽ được thấy là luôn luôn nắm giữ chìa khóa cho việc nghiên cứu toàn bộ các vấn đề nhân loại. Cũng như những người chí nguyện và các đệ tử hiện nay đang bị thử thách và khảo nghiệm, và bị đặt dưới sự vận hành của những xung đột khó giải thích cùng những thay đổi quyết liệt trong đời sống của họ, thì điều đó cũng đúng với người chí nguyện của thế giới là Nhân loại.

To the above two reasons another might perhaps be added which will have significance and meaning to esotericists and to all who have in any way grasped the teaching I have attempted to give you in my books anent the three world centres—Humanity, the Hierarchy and Shamballa. This world crisis is related to the approach or the relation [111] of the Hierarchy to Humanity. That great spiritual centre of force, the Human Kingdom, has now reached a point of such potency and of such a high vibratory activity that it is shaken to its very depths; all its evolutionary grades and groups are responding to the stimulation, generated within the centre itself and also stimulated by Forces emanating from the hierarchical centre and from Shamballa.

Vào hai lý do trên, có lẽ có thể thêm một lý do nữa, lý do sẽ có thâm nghĩa và ý nghĩa đối với các nhà bí truyền học và với tất cả những ai bằng cách nào đó đã nắm bắt được giáo huấn mà tôi đã cố gắng trao cho bạn trong các sách của tôi liên quan đến ba trung tâm thế giới—Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa. Cuộc khủng hoảng thế giới này liên hệ với sự tiếp cận hay mối liên hệ [111] của Thánh đoàn với Nhân loại. Trung tâm mãnh lực tinh thần vĩ đại ấy, giới nhân loại, nay đã đạt đến một điểm có mãnh lực lớn lao và có hoạt động rung động cao đến nỗi nó bị rung chuyển đến tận nền sâu nhất; mọi cấp độ tiến hoá và mọi nhóm của nó đều đang đáp ứng với sự kích thích, được phát sinh bên trong chính trung tâm ấy và cũng được kích thích bởi các Mãnh lực phát xuất từ trung tâm thánh đoàn và từ Shamballa.

This precipitates a crisis which has had no parallel in human history but which finds a faint reflection in the crisis which overtook the animal kingdom and which resulted in the formation of a new kingdom in nature—the human. As I have earlier told you, this present world crisis, if met correctly and rightly controlled, will result in the manifestation of the fifth or spiritual kingdom upon earth. This (as you know) will be brought about by the at-one-ing of the two centres—the human centre and the Hierarchy. One of the major planetary syntheses is taking place or, perhaps I should say, can take place. (I am wording this with care and would call your attention to my wording.)

Điều này làm ngưng tụ một cuộc khủng hoảng chưa từng có song song nào trong lịch sử nhân loại, nhưng có một phản ánh mờ nhạt trong cuộc khủng hoảng đã ập đến giới động vật và dẫn đến sự hình thành một giới mới trong thiên nhiên—giới nhân loại. Như tôi đã nói với bạn trước đây, cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay này, nếu được đối diện đúng đắn và được kiểm soát đúng cách, sẽ dẫn đến sự biểu lộ của giới thứ năm hay giới tinh thần trên trái đất. Điều này (như bạn biết) sẽ được mang lại bởi sự hợp nhất của hai trung tâm—trung tâm nhân loại và Thánh đoàn. Một trong những tổng hợp hành tinh chủ yếu đang diễn ra hoặc, có lẽ tôi nên nói, có thể diễn ra. (Tôi dùng từ rất cẩn trọng và muốn bạn lưu ý đến cách dùng từ của tôi.)

It might serve a useful purpose if I enlarged somewhat upon the four stages of the early causes, mentioned above. In so doing, I can give you some idea of the underlying purpose of all the present happenings and some understanding of the predisposing conditions which are to be found, lying far back in the night of time. If I can do this adequately and if you can read and study with understanding and an open mind, some of your natural bewilderment may disappear and you may then be able to help others to live calmly through this crisis and to preserve an attitude of patience, goodwill, balance and compassion. Let us, therefore, consider these four points because, in so doing, we shall cover the field sufficiently—I believe—to bring at least some measure of light to you. Later I will try to explain the significance of the Great Invocation and to give you some idea of the nature of the Forces invoked and of the esoteric meaning which these words (used so frequently by you) are intended to convey. [112]

Sẽ có ích nếu tôi khai triển đôi chút về bốn giai đoạn của các nguyên nhân ban đầu đã được nêu trên. Khi làm như vậy, tôi có thể cho bạn một vài ý niệm về mục đích nền tảng của mọi biến cố hiện nay và một ít thấu hiểu về các điều kiện tiền định vốn nằm rất xa về trước trong đêm tối của thời gian. Nếu tôi có thể làm điều này một cách đầy đủ và nếu bạn có thể đọc và nghiên cứu với sự thấu hiểu và một tâm trí cởi mở, thì phần nào sự bối rối tự nhiên của bạn có thể tan biến và khi đó bạn có thể giúp người khác sống bình tĩnh qua cuộc khủng hoảng này và giữ được thái độ kiên nhẫn, thiện chí, quân bình và từ bi. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét bốn điểm này bởi vì khi làm như thế, chúng ta sẽ bao quát lĩnh vực này đủ mức—tôi tin vậy—để đem đến cho bạn ít nhất một phần ánh sáng nào đó. Sau này tôi sẽ cố gắng giải thích ý nghĩa của Đại Khấn Nguyện và cho bạn một vài ý niệm về bản chất của các Mãnh lực được khẩn cầu và về ý nghĩa huyền bí mà những lời này (được bạn dùng rất thường xuyên) nhằm chuyển tải. [112]

The Cause of the Present Crisis

Nguyên Nhân của Cuộc Khủng Hoảng Hiện Nay

It is well known to you that the great Law of Rebirth is the controlling and major law in all the processes of manifestation. It governs the exoteric expression of a solar Logos or of a human being, and the object of this constantly recurring process is to bring an increasingly perfect form to the expanding service of the soul. For the first time since its inception, the human family is in a position to note for itself the processes of the rebirth of a civilisation as an expression of spiritual culture at a particular point in evolution. Hence the magnitude of this crisis as it assumes its place in the human consciousness. Many lesser crises, initiating specific tribal, national and racial experiments in the renewal of form have gone on and have been registered by some group within a nation or by a nation itself (if advanced enough). Such a national registration took place for the first time in connection with the French Revolution. Such registrations of evolutionary intent have taken place with increasing clarity and understanding during the past two hundred years. Such crises have taken place in practically every nation in modern times and have been recognised to some degree, and upon them historians have enlarged and philosophers speculated. But the crisis today is far vaster, embracing as it does the majority of nations in both hemispheres. No nation remains at this time unaffected and the results are and must be registered in some aspect of the national life.

Bạn đã biết rõ rằng Định luật Tái Sinh vĩ đại là định luật kiểm soát và chủ yếu trong mọi tiến trình biểu hiện. Nó chi phối sự biểu lộ ngoại môn của một Thái dương Thượng đế hay của một con người, và mục tiêu của tiến trình liên tục tái diễn này là đem một hình tướng ngày càng hoàn hảo hơn vào sự phụng sự đang mở rộng của linh hồn. Lần đầu tiên kể từ khi khởi đầu, gia đình nhân loại ở vào vị thế có thể tự mình ghi nhận các tiến trình tái sinh của một nền văn minh như một biểu hiện của văn hóa tinh thần tại một điểm tiến hoá nhất định. Do đó mới có tầm vóc của cuộc khủng hoảng này khi nó chiếm vị trí của mình trong tâm thức nhân loại. Nhiều cuộc khủng hoảng nhỏ hơn, khởi đầu những thử nghiệm bộ lạc, quốc gia và nhân loại đặc thù trong việc đổi mới hình tướng, đã diễn ra và đã được một nhóm nào đó trong một quốc gia hay bởi chính một quốc gia ghi nhận (nếu đủ tiến bộ). Sự ghi nhận ở tầm quốc gia như thế lần đầu tiên đã diễn ra liên hệ với Cách mạng Pháp. Những sự ghi nhận về ý định tiến hoá như thế đã diễn ra với sự rõ ràng và thấu hiểu ngày càng tăng trong hai trăm năm qua. Những cuộc khủng hoảng như thế đã xảy ra trong hầu như mọi quốc gia thời hiện đại và đã được nhận ra ở một mức độ nào đó, và các sử gia đã khai triển về chúng còn các triết gia thì suy đoán về chúng. Nhưng cuộc khủng hoảng ngày nay rộng lớn hơn nhiều, vì nó bao trùm đa số các quốc gia ở cả hai bán cầu. Hiện nay không một quốc gia nào không bị ảnh hưởng và các kết quả đang được và phải được ghi nhận trong một phương diện nào đó của đời sống quốc gia.

Owing to the factual interrelation between nations everywhere and to the rapidity of intercommunication, the present crisis is the first major international crisis in human affairs and covers a period of twenty-eight years (from 1914 till 1942). These are interesting numbers, for 28 is 4 x 7, which are the years of a complete personality cycle. I do not wish you to infer from the above that the period of active combat and conflict must necessarily be prolonged until 1942. Such is not the case. The early termination of the conflict or its indefinite extension lies in the keeping of [113] humanity itself; men must increasingly determine their own fate as they emerge from the stage of adolescence into that of maturity, responsibility and achievement. This period of twenty-eight years is, however, of paramount importance and upon the next three years much depends.

Do mối liên hệ thực tế giữa các quốc gia ở khắp nơi và do tốc độ thông tin liên lạc nhanh chóng, cuộc khủng hoảng hiện nay là cuộc khủng hoảng quốc tế lớn đầu tiên trong các vấn đề nhân loại và bao trùm một thời kỳ hai mươi tám năm (từ 1914 đến 1942). Đây là những con số thú vị, vì 28 là 4 x 7, tức là số năm của một chu kỳ phàm ngã trọn vẹn. Tôi không muốn bạn suy ra từ điều trên rằng thời kỳ chiến đấu và xung đột tích cực nhất thiết phải kéo dài đến năm 1942. Điều đó không phải như vậy. Việc chấm dứt sớm cuộc xung đột hay sự kéo dài vô định của nó nằm trong tay [113] chính nhân loại; con người ngày càng phải tự quyết định số phận của mình khi họ bước ra khỏi giai đoạn thiếu niên để đi vào giai đoạn trưởng thành, trách nhiệm và thành tựu. Tuy nhiên, thời kỳ hai mươi tám năm này có tầm quan trọng tối thượng, và rất nhiều điều tùy thuộc vào ba năm kế tiếp.

Again I tell you that even the Hierarchy itself, with all its knowledge, vision and understanding and with all its resources, cannot coerce and cannot forecast what mankind will do. It can and does stimulate to right action; it can and does indicate possibility and responsibility; it can and does send out its teachers and disciples to educate and lead the race; but at no point and in no situation does it command or assume control. It can and does bring good out of evil, illuminating situations and indicating the solution of a problem, but further than this the Hierarchy cannot go. If it assumed authoritative control, a race of automatons would be developed and not a race of responsible, self-directed, aspiring men. This must surely be apparent to you and may serve to answer the question which is uppermost in the minds of the unthinking, occult students today: Why could not the Hierarchy have prevented this catastrophe? Unquestionably the Masters of the Wisdom with Their knowledge and Their command of forces could have interfered, but in so doing They would have broken an occult law and hindered the true development of mankind. This They will never do. At all costs, man must learn to stand and act alone. Instead, having done all that was permissible, They now stand beside suffering and bewildered humanity and—with the deepest compassion and love—will help men to right the wrongs they have initiated, to learn the needed lessons and to come through this crisis (which they have themselves precipitated) enriched thereby, and purified in the fires of adversity. These are not platitudes but eternal truths.

Tôi lại nói với bạn rằng ngay cả chính Thánh đoàn, với tất cả tri thức, tầm nhìn và sự thấu hiểu của mình cùng với mọi nguồn lực của mình, cũng không thể cưỡng bách và không thể tiên đoán nhân loại sẽ làm gì. Thánh đoàn có thể và thực sự kích thích hành động đúng; có thể và thực sự chỉ ra khả năng và trách nhiệm; có thể và thực sự gửi ra các huấn sư và đệ tử của mình để giáo dục và dẫn dắt nhân loại; nhưng không ở điểm nào và trong hoàn cảnh nào mà Thánh đoàn ra lệnh hay nắm quyền kiểm soát. Thánh đoàn có thể và thực sự rút điều thiện từ điều ác, soi sáng các tình huống và chỉ ra giải pháp của một vấn đề, nhưng vượt quá điều này thì Thánh đoàn không thể đi xa hơn. Nếu Thánh đoàn nắm quyền kiểm soát có tính uy quyền, thì một nhân loại những kẻ tự động sẽ được phát triển chứ không phải một nhân loại gồm những người có trách nhiệm, tự định hướng và đầy khát vọng. Điều này hẳn phải rõ ràng với bạn và có thể giúp trả lời câu hỏi đang nổi bật trong tâm trí của những đạo sinh huyền bí học thiếu suy nghĩ ngày nay: Tại sao Thánh đoàn không thể ngăn chặn thảm họa này? Không nghi ngờ gì, các Chân sư Minh triết với tri thức của Các Ngài và quyền chỉ huy các mãnh lực của Các Ngài đã có thể can thiệp, nhưng khi làm như vậy Các Ngài sẽ vi phạm một định luật huyền bí và cản trở sự phát triển chân chính của nhân loại. Điều này Các Ngài sẽ không bao giờ làm. Bằng mọi giá, con người phải học cách đứng vững và hành động một mình. Thay vào đó, sau khi đã làm mọi điều được phép, Các Ngài nay đứng bên cạnh nhân loại đang đau khổ và hoang mang, và—với lòng từ bi và tình thương sâu xa nhất—sẽ giúp con người sửa chữa những sai lầm mà họ đã khởi tạo, học những bài học cần thiết và đi qua cuộc khủng hoảng này (mà chính họ đã làm ngưng tụ) với sự phong phú hơn nhờ đó, và được thanh luyện trong những ngọn lửa nghịch cảnh. Đây không phải là những lời sáo rỗng mà là những chân lý vĩnh cửu.

This world crisis, with all its horror and suffering, is—in the last analysis—the result of successful evolutionary processes. We are ready to recognise that when a man’s life cycle has been run and he has learnt the lessons which the [114] experience of any particular life has been intended to teach, his physical body and the inner form aspects (making the sum total of his personality expression) will begin to deteriorate; destructive agencies within the form itself will become active and eventually death will take place, resulting in the liberation of the indwelling life in order that a new and better form may be built. This, we perforce accept either blindly or intelligently, regarding it as a natural and unavoidable process, but normal and inevitable. We are apt, however, to forget that what is true of the individual is true of humanity. Cycles of civilisation such as that we call our modern civilisation are analogous to a particular, individual, human incarnation with its inception, its progress and growth, its useful maturity and its ensuing deterioration and subsequent death or the passing away of the form.

Cuộc khủng hoảng thế giới này, với tất cả nỗi kinh hoàng và đau khổ của nó, xét đến cùng là kết quả của những tiến trình tiến hoá thành công. Chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng khi chu kỳ đời sống của một người đã hoàn tất và y đã học được những bài học mà [114] kinh nghiệm của một đời sống cụ thể nhằm dạy cho y, thì thể xác của y và các phương diện hình tướng bên trong (tạo nên tổng thể biểu hiện phàm ngã của y) sẽ bắt đầu suy thoái; các tác nhân hủy diệt bên trong chính hình tướng sẽ trở nên hoạt động và cuối cùng cái chết sẽ xảy ra, dẫn đến sự giải thoát của sự sống ngự bên trong để một hình tướng mới và tốt hơn có thể được xây dựng. Điều này, chúng ta buộc phải chấp nhận hoặc một cách mù quáng hoặc một cách thông minh, xem đó là một tiến trình tự nhiên và không thể tránh khỏi, nhưng bình thường và tất yếu. Tuy nhiên, chúng ta thường quên rằng điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với nhân loại. Những chu kỳ văn minh như chu kỳ mà chúng ta gọi là nền văn minh hiện đại của mình tương tự với một lần nhập thể cá nhân của con người, với sự khởi đầu, tiến trình và tăng trưởng, sự trưởng thành hữu ích, rồi sự suy thoái tiếp theo và cái chết sau đó hay sự qua đi của hình tướng.

Forms are ever open to attack. A strong subjective life and spiritual detachment are the two safeguards. Where the form is more potent than the life, danger is imminent; where attachment to the material aspect or organisation is present, spiritual values are lost.

Các hình tướng luôn luôn mở ra cho sự tấn công. Một sự sống chủ quan mạnh mẽ và sự tách rời tinh thần là hai sự bảo vệ. Nơi nào hình tướng mạnh hơn sự sống, ở đó nguy hiểm cận kề; nơi nào có sự bám chấp vào phương diện vật chất hay tổ chức, ở đó các giá trị tinh thần bị đánh mất.

Today we are watching the death of a civilisation or cycle of incarnation of humanity. In all fields of human expression, crystallisation and deterioration had set in. Worn-out religious dogmas and the grip of theology and the orthodox churches have no longer sufficed to hold the allegiance of the potent, inner, spiritual life; humanity is deeply spiritual and innately religious but needs today a new form with which to clothe the ancient verities. Old political schools have been deemed inadequate and new ideologies bear witness to the strength of the life which is seeking more adequate expression; the educational systems, having served their purpose, are fast being recognised as inadequate to meet the need of the demanding life of the race; there is everywhere a cry for change and for those new forms in the religious, political, educational and economic life of the race which will allow of freer and better spiritual expression. Such a change is rapidly coming and is regarded by some as death—terrible and to be avoided if possible. It is [115] indeed death but it is beneficent and needed. It is this realisation of the passing of a civilisation which gives rise to the recurrent and foreboding cry, “This is the death of civilisation; it must not be”; “This is the end of the order, and the old order must be saved”; “This is the destruction of the old and loved values, and it must not be permitted.”

Ngày nay chúng ta đang chứng kiến cái chết của một nền văn minh hay một chu kỳ nhập thể của nhân loại. Trong mọi lĩnh vực biểu hiện của con người, sự kết tinh và suy thoái đã xuất hiện. Những giáo điều tôn giáo đã cũ kỹ và sự kềm giữ của thần học cùng các giáo hội chính thống không còn đủ để giữ lòng trung thành của sự sống tinh thần nội tại đầy mãnh lực; nhân loại có tính tinh thần sâu sắc và bẩm sinh có tính tôn giáo nhưng ngày nay cần một hình tướng mới để khoác lên các chân lý muôn đời. Những trường phái chính trị cũ đã bị xem là không thích hợp và các hệ tư tưởng mới làm chứng cho sức mạnh của sự sống đang tìm kiếm một biểu hiện thích hợp hơn; các hệ thống giáo dục, sau khi đã phụng sự mục đích của chúng, đang nhanh chóng được nhận ra là không thích hợp để đáp ứng nhu cầu của sự sống đòi hỏi nơi nhân loại; ở khắp nơi đều có tiếng kêu đòi thay đổi và đòi những hình tướng mới trong đời sống tôn giáo, chính trị, giáo dục và kinh tế của nhân loại, những hình tướng sẽ cho phép sự biểu lộ tinh thần tự do hơn và tốt đẹp hơn. Một sự thay đổi như thế đang đến rất nhanh và được một số người xem là cái chết—khủng khiếp và cần tránh nếu có thể. Quả thật đó là [115] cái chết nhưng là cái chết có ích và cần thiết. Chính sự nhận ra sự qua đi của một nền văn minh này làm phát sinh tiếng kêu lặp đi lặp lại và đầy điềm gở: “Đây là cái chết của văn minh; điều đó không được xảy ra”; “Đây là sự chấm dứt của trật tự, và trật tự cũ phải được cứu”; “Đây là sự hủy diệt những giá trị cũ và được yêu quý, và điều đó không được phép.”

That humanity is bringing about this needed change in unnecessary, cruel and painful ways is indeed true, just as it is true today that human beings by their wrong thinking, foolish habits of physical living and undesirable emotional attitudes do precipitate a final, physical breakdown and eventually death. Nevertheless, for the progress of the soul of the individual and the soul of humanity, death is inevitable, good and necessary; it is also a practice with which we are all most familiar in our own experience and in watching it in others. But we need to remember that the worst death of all (as far as humanity is concerned) would be if a form of civilisation or a body form became static and eternal; if the old order never altered and the old values were never transmuted into higher and better ones, that would indeed be a disaster.

Việc nhân loại đang tạo ra sự thay đổi cần thiết này bằng những cách không cần thiết, tàn nhẫn và đau đớn quả thật là đúng, cũng như ngày nay đúng là các con người do tư tưởng sai lầm, những thói quen sống hồng trần ngu xuẩn và những thái độ cảm xúc không mong muốn mà làm ngưng tụ một sự suy sụp hồng trần cuối cùng và rốt cuộc là cái chết. Tuy nhiên, đối với sự tiến bộ của linh hồn cá nhân và linh hồn nhân loại, cái chết là điều tất yếu, tốt lành và cần thiết; nó cũng là một thực hành mà tất cả chúng ta đều rất quen thuộc trong kinh nghiệm của chính mình và khi quan sát nó nơi người khác. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng cái chết tệ hại nhất trong mọi cái chết (xét theo nhân loại) sẽ là nếu một hình tướng văn minh hay một hình thể trở nên tĩnh tại và vĩnh cửu; nếu trật tự cũ không bao giờ thay đổi và các giá trị cũ không bao giờ được chuyển hoá thành những giá trị cao hơn và tốt hơn, thì đó quả thật sẽ là một tai họa.

We need to bear in mind also that the forces of destruction or death are two-fold: first, the rapidly emerging and developing life with its demand for more room for expression and fuller experience, and its spiritual aspiration for change and progress; and secondly, the reactionary forces and the conservative attitudes which adhere to the well-known and the familiar, and which hate the new, the untried and the unknown. Both of these produce the great and divine transition from the past into the future, and from the old into the new, from experience into fruition and then into experience again. The realities are eternal and undying; the forms are ephemeral and temporary; the soul is persistent and deathless; the form is changing and doomed to die. The processes of evolution have in the past and will in the future prove successful in bringing forms to birth, to maturity and to death.

Chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng các mãnh lực hủy diệt hay cái chết có hai mặt: thứ nhất, sự sống đang nhanh chóng xuất hiện và phát triển với đòi hỏi có thêm không gian để biểu lộ và kinh nghiệm đầy đủ hơn, cùng khát vọng tinh thần của nó đối với sự thay đổi và tiến bộ; và thứ hai, các mãnh lực phản động và các thái độ bảo thủ bám chặt vào điều quen biết và quen thuộc, và ghét cái mới, cái chưa được thử nghiệm và cái chưa biết. Cả hai điều này tạo ra cuộc chuyển tiếp vĩ đại và thiêng liêng từ quá khứ sang tương lai, và từ cái cũ sang cái mới, từ kinh nghiệm đến kết quả viên mãn rồi lại đến kinh nghiệm. Các thực tại là vĩnh cửu và bất diệt; các hình tướng là phù du và tạm thời; linh hồn là bền bỉ và bất tử; hình tướng thì thay đổi và bị định phải chết. Các tiến trình tiến hoá trong quá khứ đã và trong tương lai sẽ chứng tỏ thành công trong việc đưa các hình tướng đến sinh ra, trưởng thành và chết đi.

But (and this is the interesting and significant point) [116] humanity is for the first time aware of process. It has for the first time chosen intelligently to observe what is going on and to relate it to experience and to environment. This in itself indicates a stage of true and much to be desired development. Reasoning, analysis and the presentation of differing viewpoints are going on in every country on a large scale with varying results, based on differences of temperament, of tradition, of development and of training.

Nhưng (và đây là điểm thú vị và có ý nghĩa) [116] nhân loại lần đầu tiên ý thức được tiến trình. Lần đầu tiên, nhân loại đã chọn một cách thông minh để quan sát điều đang diễn ra và liên hệ nó với kinh nghiệm và môi trường. Điều này tự nó cho thấy một giai đoạn phát triển chân chính và rất đáng mong muốn. Sự lý luận, phân tích và trình bày các quan điểm khác nhau đang diễn ra ở mọi quốc gia trên quy mô lớn với những kết quả khác nhau, dựa trên sự khác biệt về khí chất, truyền thống, phát triển và đào luyện.

This stage of death and of birth (for the two are proceeding simultaneously) can be easily grasped by the esotericist as he studies the world war in its two distinctive periods: 1914 to 1918, and 1939 until 1942. The first stage (if you could see the situation as it truly is) was most definitely the death stage; the second stage, in which we now find ourselves, is literally the stage of birth—the birth pangs of the new order and of the new civilisation through which humanity’s sense of life can express itself. The mother dies in order that the child may live; the form is sacrificed to the life. But today, the form aspect, the Mother or matter aspect, is dying consciously, and just as consciously the child, the infant civilisation, is coming into being. This is the new thing and it is in this that we are all participating. It is the death of the personality of humanity and the coming in of the soul.

Giai đoạn chết và sinh này (vì cả hai đang diễn ra đồng thời) có thể được nhà bí truyền học nắm bắt dễ dàng khi y nghiên cứu cuộc thế chiến trong hai thời kỳ phân biệt của nó: 1914 đến 1918, và 1939 đến 1942. Giai đoạn thứ nhất (nếu bạn có thể thấy tình hình như nó thực sự là) rõ ràng nhất là giai đoạn chết; giai đoạn thứ hai, trong đó hiện nay chúng ta đang ở, theo nghĩa đen là giai đoạn sinh—những cơn đau đẻ của trật tự mới và của nền văn minh mới qua đó ý thức về sự sống của nhân loại có thể biểu lộ. Người mẹ chết để đứa con có thể sống; hình tướng được hi sinh cho sự sống. Nhưng ngày nay, phương diện hình tướng, Mẹ hay phương diện vật chất, đang chết một cách có ý thức, và cũng một cách có ý thức như thế, đứa con, nền văn minh sơ sinh, đang đi vào hiện hữu. Đây là điều mới mẻ và chính trong đó mà tất cả chúng ta đang tham dự. Đó là cái chết của phàm ngã của nhân loại và sự đi vào của linh hồn.

Such a dying is ever a painful process. Pain has always been the purifying agent, employed by the Lords of Destiny, to bring about liberation. The accumulated pain of the present war and the inherited pain of the earlier stage (begun in 1914) is bringing about a salutary and changing world consciousness. The Lord of Pain has descended from His throne and is treading the ways of earth today, bringing distress, agony and terror to those who cannot interpret His ends, but bringing also a re-stimulation of the instinct to self-preservation which—in its higher aspect—is the instinct to immortality; it tends to focus humanity’s attention upon the life aspect and not upon the form. The names of the Lords of Karma signify, symbolically and from the angle of their inner meaning, Relationship, Enlightenment, Pain [117] and Return. Ponder on this. They are all peculiarly active at this time, and in their activity lies the hope of humanity.

Một sự chết như thế luôn luôn là một tiến trình đau đớn. Đau khổ từ lâu vẫn là tác nhân thanh luyện, được các Đấng Chúa Tể của Định Mệnh sử dụng để đem lại sự giải thoát. Nỗi đau tích lũy của cuộc chiến hiện nay và nỗi đau được thừa hưởng từ giai đoạn trước đó (bắt đầu năm 1914) đang đem lại một tâm thức thế giới lành mạnh và đang thay đổi. Chúa Tể của Đau Khổ đã bước xuống khỏi ngai của Ngài và đang đi trên những nẻo đường của trái đất ngày nay, mang đến khốn khổ, thống khổ và kinh hoàng cho những ai không thể diễn giải mục đích của Ngài, nhưng cũng mang đến một sự tái kích thích bản năng tự bảo tồn mà—trong phương diện cao hơn của nó—là bản năng bất tử; nó có khuynh hướng tập trung sự chú ý của nhân loại vào phương diện sự sống chứ không phải vào hình tướng. Tên gọi của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, theo biểu tượng và từ góc độ ý nghĩa nội tại của các Ngài, là Liên Hệ, Giác Ngộ, Đau Khổ [117] và Trở Về. Hãy suy ngẫm về điều này. Tất cả các Ngài đều đặc biệt hoạt động vào lúc này, và trong hoạt động của các Ngài có niềm hy vọng của nhân loại.

Ancient Karmic Events

Những Biến Cố Nghiệp Quả Cổ Xưa

It is not my intention to explain or elaborate the subject of Karma. This occult yet fundamentally exoteric theme, the Law of Cause and Effect, evokes a general recognition when called by this name. When called the Law of Karma, it is immediately regarded as mysterious, Oriental and new. Called (as it sometimes is) the Law of Retribution, an entirely erroneous connotation has become attached to it. Today, the karma of humanity is descending upon it. I would remind you, however, that the continuous emphasis laid upon the malevolent aspects of karma conveys a wrong impression and negates the full grasp of the truth. There is as much good karma as there is bad; even in the present world situation, the good karma emanating from the soul of humanity balances the evil which comes from the material aspect and is continuously over-emphasised. It is the rhythm of matter in contradistinction to the rhythm of the soul, and these constitute the initiating causes of the present conflict, both in individual lives and in the general world situation. When this is properly grasped, the true picture may emerge in your hearts and minds with greater clarity.

Tôi không có ý định giải thích hay khai triển chủ đề Nghiệp Quả. Chủ đề huyền bí nhưng về căn bản lại ngoại môn này, Định luật Nhân Quả, khơi dậy một sự thừa nhận chung khi được gọi bằng tên ấy. Khi được gọi là Định luật Nghiệp Quả, nó lập tức bị xem là huyền bí, phương Đông và mới lạ. Khi được gọi (như đôi khi vẫn gọi) là Định luật Báo Ứng, một hàm ý hoàn toàn sai lầm đã gắn liền với nó. Ngày nay, nghiệp quả của nhân loại đang giáng xuống trên chính nó. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc bạn rằng sự nhấn mạnh liên tục đặt lên các phương diện ác hại của nghiệp quả tạo ra một ấn tượng sai lầm và phủ nhận sự nắm bắt trọn vẹn chân lý. Có nghiệp tốt nhiều như có nghiệp xấu; ngay cả trong tình hình thế giới hiện nay, nghiệp tốt phát xuất từ linh hồn nhân loại cũng cân bằng điều ác đến từ phương diện vật chất và điều này liên tục bị nhấn mạnh quá mức. Đó là nhịp điệu của vật chất đối lập với nhịp điệu của linh hồn, và chúng cấu thành các nguyên nhân khởi đầu của cuộc xung đột hiện nay, cả trong đời sống cá nhân lẫn trong tình hình thế giới nói chung. Khi điều này được nắm bắt đúng đắn, bức tranh chân thực có thể hiện ra trong tim và trí bạn với sự rõ ràng lớn hơn.

In my effort to make clear the picture, I shall have to overlook many essential details; I shall also be forced to take the always debatable position of making statements which cannot be checked and which find their sole arguments (as far as the average thinker is concerned) in deduction from the effects produced by causes that do not appear to the occultly unenlightened. In time to come, man will develop that mental attitude which will consider causes of greater importance than effects; he will then learn to consider with care the first steps taken in initiating any line of action, pondering upon and deducing the probable effects before committing himself to any specific deed. Only through pain, [118] error and consequent price-paying will this salutary stage be reached.

Trong nỗ lực làm sáng tỏ bức tranh, tôi sẽ phải bỏ qua nhiều chi tiết thiết yếu; tôi cũng sẽ buộc phải giữ lập trường luôn luôn có thể tranh luận là đưa ra những phát biểu không thể kiểm chứng và chỉ tìm được lập luận duy nhất của chúng (xét theo nhà tư tưởng trung bình) trong sự suy diễn từ các hiệu quả do những nguyên nhân không hiện ra đối với người chưa được soi sáng về huyền bí học tạo ra. Trong tương lai, con người sẽ phát triển thái độ trí tuệ coi các nguyên nhân quan trọng hơn các hiệu quả; khi đó y sẽ học cách xem xét cẩn trọng những bước đầu tiên được thực hiện khi khởi xướng bất kỳ đường lối hành động nào, suy ngẫm và suy diễn các hiệu quả có thể xảy ra trước khi dấn thân vào bất kỳ hành động cụ thể nào. Chỉ qua đau khổ, [118] sai lầm và cái giá phải trả kéo theo mà giai đoạn lành mạnh này mới đạt được.

Today, all that is taking place is due, first of all, to the essential duality of man; in the second place, it is due to certain major lines of cleavage which were brought about by this essential dualism in an early stage of human history, and thirdly, to the growing tendency towards synthesis which the inflow of the Shamballa force is producing at this time. This is the simplest statement I find it possible to make anent this complex problem. With broad generalities I cover the past, indicate the effects which are now being experienced in the present, and forecast the future.

Ngày nay, mọi điều đang diễn ra trước hết là do tính nhị nguyên tính cốt yếu của con người; thứ hai, là do một số đường phân rẽ lớn đã được tạo ra bởi tính nhị nguyên cốt yếu này trong một giai đoạn sớm của lịch sử nhân loại; và thứ ba, là do khuynh hướng ngày càng tăng hướng tới tổng hợp mà dòng tuôn đổ của mãnh lực Shamballa đang tạo ra vào lúc này. Đây là phát biểu đơn giản nhất mà tôi thấy có thể đưa ra liên quan đến vấn đề phức tạp này. Bằng những khái quát rộng, tôi bao quát quá khứ, chỉ ra các hiệu quả hiện đang được kinh nghiệm trong hiện tại, và báo trước tương lai.

It was the coming into incarnation of the spiritually self-conscious human being which is the inciting cause of the present conflict. Had the sons of God not “come in unto the daughters of men” (which is the Biblical and symbolic way of expressing the great relationship between spirit and matter which was established in the human kingdom), had the spiritual entities which are humanity itself not taken unto themselves material forms, and had the positive spiritual element not attached itself to the negative material aspect, the present world conflict would not be taking place. But the divine plan of evolution was based upon the production of this relationship between spiritually conscious man and the form aspect, and thus the great Law of Duality came into action, bringing about the “fall of the angels,” as they descended from their sinless and free state of existence in order to develop full divine awareness upon earth, through the medium of material incarnation and the use of the principle of mind. This was the divine plan, emanating from the Mind of God and swept into activity and progressive unfoldment by an act of His Will. At its inception, there took place the original “war in the heavens,” when the sons of God who responded to the divine urge to experience, to serve and to sacrifice, separated themselves from the sons of God who responded to no such inspiration but who chose to stay in their original and high state of being. To this truth, Christ Himself bore witness in the story of [119] the Prodigal Son and his relationship to his elder brother, who had not left the Father’s home. It is obvious, is it not, from this parable, where the approbation of the Father lay; a careful study of this story and an intuitive understanding of its implications may evoke some day a response to the “sin of experience,” as it has been called, and a comprehension of the two major laws governing the process: the Law of Evolution and the Law of Rebirth. Here lies the prime initiating cause of what is taking place today.

Chính việc con người có ngã thức tinh thần đi vào lâm phàm là nguyên nhân kích động của cuộc xung đột hiện nay. Nếu các con của Thượng đế đã không “đến cùng các con gái của loài người” (đó là cách diễn đạt Kinh Thánh và biểu tượng về mối liên hệ lớn lao giữa tinh thần và vật chất đã được thiết lập trong giới nhân loại), nếu các thực thể tinh thần là chính nhân loại đã không khoác lấy cho mình các hình tướng vật chất, và nếu yếu tố tinh thần tích cực đã không gắn mình với phương diện vật chất tiêu cực, thì cuộc xung đột thế giới hiện nay đã không xảy ra. Nhưng thiên cơ tiến hoá thiêng liêng được đặt nền trên việc tạo ra mối liên hệ này giữa con người có tâm thức tinh thần và phương diện hình tướng, và như thế Định luật Nhị nguyên tính vĩ đại đã đi vào hoạt động, đem lại “sự sa ngã của các thiên thần,” khi họ đi xuống từ trạng thái hiện hữu vô tội và tự do của mình để phát triển sự nhận biết thiêng liêng trọn vẹn trên trái đất, qua trung gian của sự nhập thể vật chất và việc sử dụng nguyên khí trí tuệ. Đây là thiên cơ thiêng liêng, phát xuất từ Trí của Thượng đế và được cuốn vào hoạt động cùng sự khai mở tiến bộ bởi một hành động của Ý Chí của Ngài. Khi khởi đầu, đã diễn ra “cuộc chiến trên thiên giới” nguyên thủy, khi các con của Thượng đế đáp ứng với thôi thúc thiêng liêng hướng đến kinh nghiệm, phụng sự và hi sinh, đã tách mình khỏi các con của Thượng đế không đáp ứng với cảm hứng như thế mà chọn ở lại trong trạng thái hiện hữu nguyên thủy và cao cả của mình. Chính chân lý này, Đức Christ đã làm chứng trong câu chuyện về [119] Người Con Hoang Đàng và mối liên hệ của y với người anh cả, người đã không rời khỏi nhà Cha. Từ dụ ngôn này, hiển nhiên phải không, sự tán thành của người Cha nằm ở đâu; một nghiên cứu cẩn trọng câu chuyện này và một sự thấu hiểu trực giác về các hàm ý của nó có thể một ngày nào đó khơi dậy một đáp ứng đối với “tội lỗi của kinh nghiệm,” như nó đã được gọi, và một sự hiểu biết về hai định luật chính chi phối tiến trình: Định luật Tiến hoá và Định luật Tái Sinh. Chính trong đó có nguyên nhân khởi đầu chủ yếu của điều đang diễn ra ngày nay.

The second cause arose slowly out of the first. Matter and spirit, focussed in the human family and expressing their basic qualities and essential nature, were eternally in conflict. In the early stages and during the long Lemurian cycle, infant humanity steadily evolved and yet in spite of this the lines of cleavage, though present, were not recognised. The latent spark of mind served only to bring a relative enlightenment to the five senses and their purely physical application. The physical life was strong; the deductive or self-registering life was practically nil. The life of humanity was then focussed within the physical body, thus fortifying and stimulating the animal nature and developing the physical organism and the various internal organs through the unfoldment of the five senses; man became primarily a selfish and a fighting animal with, however, at times, vague tendencies towards something dimly sensed as better and with moments of high grade desire which was not aspiration and the urge to progress, as we know it, but their embryonic forms.

Nguyên nhân thứ hai nảy sinh chậm chạp từ nguyên nhân thứ nhất. Vật chất và tinh thần, được tập trung trong gia đình nhân loại và biểu lộ các phẩm tính căn bản cùng bản chất cốt yếu của chúng, đã vĩnh viễn ở trong xung đột. Trong các giai đoạn đầu và trong chu kỳ Lemuria dài lâu, nhân loại sơ sinh tiến hoá đều đặn, nhưng mặc dù vậy các đường phân rẽ, tuy hiện diện, vẫn không được nhận ra. Tia lửa trí tuệ tiềm ẩn chỉ phục vụ để đem lại một sự soi sáng tương đối cho năm giác quan và sự ứng dụng thuần hồng trần của chúng. Sự sống hồng trần rất mạnh; sự sống suy diễn hay tự ghi nhận hầu như bằng không. Khi ấy sự sống của nhân loại được tập trung trong thể xác, do đó củng cố và kích thích bản chất động vật và phát triển cơ thể hồng trần cùng các cơ quan nội tạng khác nhau qua sự khai mở của năm giác quan; con người trở thành chủ yếu là một con vật ích kỷ và hiếu chiến, tuy nhiên đôi khi có những khuynh hướng mơ hồ hướng về một điều gì đó được cảm nhận lờ mờ là tốt đẹp hơn và có những lúc ham muốn ở cấp độ cao, tuy chưa phải là khát vọng và cũng chưa phải là thôi thúc tiến bộ như chúng ta biết, mà chỉ là những hình thức phôi thai của chúng.

It is not possible for modern man to vision or understand such a state of consciousness, for he has left it too far behind. The focus of the life force was also in the region of the adrenal glands, producing animal courage and resistance to shock. But the dualism of man’s essential nature was, as always, present and the lines of cleavage gradually appeared; slowly yet steadily, the pioneering souls (a very small minority) shifted their consciousness gradually higher into the solar plexus and a recognition of the factor of desire for that which was material and a capacity for emotional reaction [120] began to develop. Hitherto, in Lemurian times, desire and instinct were identical. Ponder on this, for it is interesting because it concerns a state of consciousness of which modern man knows practically nothing. But, in Atlantean times, the lines of demarcation between what constituted purely physical life and that which—though still material—could be the goal of effort and thus acquired, began to control the purely animal nature; man began to be acquisitive and to surround himself with that which he wanted. The lines of cleavage between the instinctual animal and acquisitive man began to be more clearly defined.

Con người hiện đại không thể có linh ảnh hay thấu hiểu một trạng thái tâm thức như thế, vì y đã bỏ nó lại quá xa phía sau. Trọng tâm của lực sống khi ấy cũng ở vùng các tuyến thượng thận, tạo ra lòng can đảm động vật và sức chống chịu trước chấn động. Nhưng tính nhị nguyên của bản chất cốt yếu của con người, như mọi khi, vẫn hiện diện và các đường phân rẽ dần dần xuất hiện; chậm rãi nhưng đều đặn, các linh hồn tiên phong (một thiểu số rất nhỏ) dần dần chuyển tâm thức của mình lên cao hơn vào tùng thái dương, và sự nhận biết yếu tố ham muốn đối với điều thuộc vật chất cùng năng lực phản ứng cảm xúc [120] bắt đầu phát triển. Cho đến lúc đó, trong thời Lemuria, ham muốn và bản năng là đồng nhất. Hãy suy ngẫm điều này, vì nó thú vị bởi nó liên quan đến một trạng thái tâm thức mà con người hiện đại hầu như không biết gì. Nhưng trong thời Atlantis, các đường ranh giới giữa điều cấu thành đời sống thuần hồng trần và điều mà—dù vẫn còn vật chất—có thể là mục tiêu của nỗ lực và do đó có thể đạt được, bắt đầu kiểm soát bản chất thuần động vật; con người bắt đầu có tính chiếm hữu và bao quanh mình bằng những gì y muốn. Các đường phân rẽ giữa con vật bản năng và con người chiếm hữu bắt đầu được xác định rõ hơn.

Gradually the mental element unfolded among these pioneers just as the intuitive element is today unfolding among the mental types; men began to acquire some form of mental perception and to bring what little mind they had to the processes of increasing their material possessions. The stage of civilisation (which is basically a recognition of group relation) began. A period of urban existence superseded that of a pure nomadic and agricultural existence. Men began to congregate together for their greater material comfort and protection, and the rhythmic processes of concentration and their world-wide extension began. These cycles are similar to the inbreathing and the outbreathing of the physical organism of man. Some day a study will be made of these basic and controlling factors of human existence, dispersion or decentralisation, and community life or the expression of the herd instinct on a higher or lower turn of the spiral of existence. The past few hundred years have seen a major problem arise in the present tendency of humanity to collect together in great cities and to congregate in vast herds, leaving the countryside denuded of its population and creating serious problems of sustenance, of health and also of crime. Right before our eyes this rhythm is today changing and a serious problem is being solved; cities are being evacuated and—as men and women are driven forth for one reason or another into the country—the lords of evolution are forcing the breaking up of the rhythm of concentration and substituting for it the rhythm [121] of dispersion. This will do much for the race and will facilitate the unfoldment of a subjective synthesis which will greatly enrich humanity and give new values to living.

Dần dần yếu tố trí tuệ khai mở nơi những người tiên phong này cũng như ngày nay yếu tố trực giác đang khai mở nơi các kiểu người trí tuệ; con người bắt đầu đạt được một hình thức tri giác trí tuệ nào đó và đem chút ít trí tuệ mình có vào các tiến trình gia tăng tài sản vật chất của mình. Giai đoạn văn minh (vốn về căn bản là sự nhận biết liên hệ nhóm) bắt đầu. Một thời kỳ tồn tại đô thị thay thế cho thời kỳ tồn tại thuần du mục và nông nghiệp. Con người bắt đầu tụ họp lại với nhau để có sự tiện nghi vật chất và sự bảo vệ lớn hơn, và các tiến trình nhịp điệu của sự tập trung cùng sự mở rộng của chúng trên toàn thế giới bắt đầu. Những chu kỳ này tương tự như sự hít vào và thở ra của cơ thể hồng trần của con người. Một ngày nào đó sẽ có sự nghiên cứu về những yếu tố căn bản và kiểm soát này của sự tồn tại nhân loại, sự phân tán hay phi tập trung vào bản thân, và đời sống cộng đồng hay sự biểu lộ của bản năng bầy đàn ở một vòng xoắn cao hơn hay thấp hơn của sự tồn tại. Vài trăm năm qua đã chứng kiến một vấn đề lớn nảy sinh trong khuynh hướng hiện nay của nhân loại là tụ tập trong các thành phố lớn và quần tụ thành những bầy đàn khổng lồ, bỏ lại vùng nông thôn trống vắng dân cư và tạo ra những vấn đề nghiêm trọng về sinh kế, sức khỏe và cả tội phạm. Ngay trước mắt chúng ta, nhịp điệu này ngày nay đang thay đổi và một vấn đề nghiêm trọng đang được giải quyết; các thành phố đang được di tản và—khi những người nam và nữ bị đẩy ra nông thôn vì lý do này hay lý do khác—các chúa tể của tiến hoá đang buộc phải phá vỡ nhịp điệu tập trung và thay thế nó bằng nhịp điệu [121] phân tán. Điều này sẽ làm được nhiều điều cho nhân loại và sẽ tạo thuận lợi cho sự khai mở của một tổng hợp chủ quan, điều sẽ làm phong phú lớn lao cho nhân loại và đem lại những giá trị mới cho đời sống.

The lines of cleavage between the animal, instinctual nature and some form of desire (embryonic aspiration) steadily grew during Atlantean times and this early civilisation began to demonstrate its own note and to set new standards of material comfort and of selfish control on an increasingly large scale as the urban existence developed. It is perhaps difficult for us to visualise a world as densely populated then as is the modern world but so it was. The animal nature, being dominant, the tendency was towards sexual relationship and the production of large families, just as it is among the lower orders in our civilised areas today, for the peasantry and the slum dwellers produce more children than do the intelligentsia. In those far-off times, the only people who had any true measure of intelligence were the disciples and initiates; they guided and guarded infant humanity, much as modern parents guide and guard their children, and as the state assumes responsibility for the welfare of the nation. The Hierarchy was, in those days, present upon the earth as the priest-kings and they acted as focal points of attractive energy, drawing to themselves those in whom the more intangible values were slowly assuming a vague control, thus making the lines of cleavage between materialism and spirituality still more clear and definite.

Các đường phân rẽ giữa bản chất động vật, bản năng và một hình thức ham muốn nào đó (khát vọng phôi thai) đã tăng trưởng đều đặn trong thời Atlantis, và nền văn minh sơ kỳ này bắt đầu biểu lộ chủ âm riêng của nó và đặt ra những tiêu chuẩn mới về tiện nghi vật chất và sự kiểm soát ích kỷ trên một quy mô ngày càng lớn khi đời sống đô thị phát triển. Có lẽ chúng ta khó hình dung một thế giới khi ấy đông dân như thế giới hiện đại, nhưng quả thật là như vậy. Vì bản chất động vật chiếm ưu thế, khuynh hướng là hướng tới quan hệ tính dục và sinh ra các gia đình đông con, cũng như ngày nay nơi các tầng lớp thấp hơn trong các khu vực văn minh của chúng ta, vì nông dân và cư dân khu ổ chuột sinh nhiều con hơn giới trí thức. Trong những thời xa xưa ấy, những người duy nhất có bất kỳ mức độ trí tuệ chân chính nào là các đệ tử và các điểm đạo đồ; họ hướng dẫn và bảo vệ nhân loại sơ sinh, cũng như cha mẹ hiện đại hướng dẫn và bảo vệ con cái mình, và như nhà nước nhận trách nhiệm về phúc lợi của quốc gia. Thánh đoàn, vào những ngày ấy, hiện diện trên trái đất như các vị vua-tư tế và các Ngài hành động như những tiêu điểm của năng lượng hấp dẫn, thu hút về mình những người nơi họ các giá trị vô hình hơn đang dần dần nắm quyền kiểm soát mơ hồ, do đó làm cho các đường phân rẽ giữa chủ nghĩa vật chất và tinh thần càng rõ ràng và xác định hơn.

We must remember that the spirituality of that time was of a very different quality from that which now goes under that name. It was in the nature of an aspiration towards a sensed hereafter, for a satisfying beauty and for emotional completion. There was no thought—as we know thought—in this attitude but only a reaching out after a sensed unattainable and for that which was desirable. This was fostered in the people by the Hierarchy through the gift of various inventions and by the use of the instinctual masses of men in building great and beautiful cities and stupendous structures, the remnants of which persist until [122] today. This was done under the expert guidance of the initiates and adepts who employed their knowledge of the nature of matter and energy to produce much that today man is gropingly endeavouring to discover and make possible. All that the modern processes of civilisation have made possible, and much more than that which today comes under the name of scientific discovery were known in old Atlantis, but they were not developed by men themselves but given to them as a free gift, much as people today give to a child beautiful and wonderful things which the child uses and enjoys but which he does not understand in any way. Great and beautiful cities, full of temples and great buildings (of which the Chaldean and Babylonian remains are the degenerate remnants, and the modern skyscraper the child) were everywhere to be found. Most of our modern scientific knowledge was possessed by these priest-kings and constituted in the eyes of the masses a form of wonderful magic. Sanitation, hygiene, means of transportation and air machines were developed and of a very high order; these were not the result however of man’s achievement but gifts from the Hierarchy, developed or constructed under a wise guidance. There was command of air and water because the guides of the race knew how to control and master the forces of nature and of the elements, but none of it was the result of human understanding, knowledge or effort. The minds of men were undeveloped and not adequate to such a task, any more than is the mind of a little child.

Chúng ta phải nhớ rằng tính tinh thần của thời đó có phẩm tính rất khác với điều ngày nay được gọi bằng tên ấy. Nó mang bản chất của một khát vọng hướng tới một đời sau được cảm nhận, hướng tới một vẻ đẹp thỏa mãn và một sự hoàn tất cảm xúc. Trong thái độ này không có tư tưởng—như chúng ta biết về tư tưởng—mà chỉ có sự vươn tới một điều được cảm nhận là không thể đạt tới và hướng tới điều đáng mong muốn. Điều này được Thánh đoàn nuôi dưỡng trong dân chúng qua việc ban tặng nhiều phát minh khác nhau và qua việc sử dụng quần chúng bản năng của loài người trong việc xây dựng những thành phố lớn và đẹp cùng những công trình đồ sộ, tàn tích của chúng vẫn còn tồn tại cho đến [122] ngày nay. Điều này được thực hiện dưới sự hướng dẫn chuyên môn của các điểm đạo đồ và các chân sư, những vị đã dùng tri thức của mình về bản chất của vật chất và năng lượng để tạo ra nhiều điều mà ngày nay con người đang lần mò cố gắng khám phá và thực hiện. Tất cả những gì các tiến trình văn minh hiện đại đã làm cho trở nên khả hữu, và còn nhiều hơn thế nữa so với điều ngày nay mang tên khám phá khoa học, đều đã được biết ở Atlantis xưa, nhưng chúng không do chính con người phát triển mà được ban cho họ như một tặng phẩm miễn phí, cũng như ngày nay người ta trao cho một đứa trẻ những vật đẹp đẽ và kỳ diệu mà đứa trẻ sử dụng và thích thú nhưng hoàn toàn không hiểu. Những thành phố lớn và đẹp, đầy đền đài và những công trình vĩ đại (mà các di tích Chaldea và Babylon là những tàn dư suy đồi, còn nhà chọc trời hiện đại là đứa con) có thể được tìm thấy ở khắp nơi. Phần lớn tri thức khoa học hiện đại của chúng ta đã được các vị vua-tư tế này sở hữu và trong mắt quần chúng nó cấu thành một hình thức huyền thuật kỳ diệu. Vệ sinh, y tế, phương tiện vận chuyển và máy bay đã được phát triển và ở trình độ rất cao; tuy nhiên, đó không phải là kết quả của thành tựu con người mà là những tặng phẩm từ Thánh đoàn, được phát triển hay xây dựng dưới sự hướng dẫn minh triết. Có sự làm chủ không khí và nước vì các vị hướng đạo của nhân loại biết cách kiểm soát và chế ngự các mãnh lực của thiên nhiên và của các nguyên tố, nhưng không điều nào trong đó là kết quả của sự thấu hiểu, tri thức hay nỗ lực của con người. Trí tuệ của con người chưa phát triển và không đủ cho một nhiệm vụ như thế, cũng như trí tuệ của một đứa trẻ nhỏ vậy.

The cleavage between the two groups (the one expressing the forces of materialism and the other the energy of light) grew gradually wider until towards the close of the Atlantean Age it was so wide, and the lines of demarcation between the two schools of life and thought were so clear, that a crisis was precipitated in the then civilised world of which the present conflict is a definite effect. Let us also hope that it constitutes a climax which will never again occur. Then took place the great war between the Lords of Form and the Lords of Being, or between the Forces of Matter and the Great White Lodge. A careful study of [123] volume two of The Secret Doctrine will prove enlightening to students, if they will study with particular care pages 275-466. To our understanding, this account may seem vague and obscure, but the issues at the time were clear. The Forces of Light triumphed because the Hierarchy was forced to intervene potently, and, with the aid of certain great Lives extraneous to our planetary life, They brought the Atlantean civilisation to an abrupt end after a long period of chaos and disaster. This took place through the medium of a culminating catastrophe which wiped hundreds of thousands of human beings off the face of the earth. This historical event has been preserved for us in the universal legend of the great flood.

Sự phân rẽ giữa hai nhóm (một nhóm biểu lộ các mãnh lực của chủ nghĩa vật chất và nhóm kia biểu lộ năng lượng của ánh sáng) dần dần rộng ra cho đến gần cuối Thời Đại Atlantis, nó đã rộng đến mức, và các đường ranh giới giữa hai trường phái đời sống và tư tưởng đã rõ đến mức, một cuộc khủng hoảng đã được làm ngưng tụ trong thế giới văn minh khi ấy mà cuộc xung đột hiện nay là một hiệu quả rõ rệt. Chúng ta cũng hãy hy vọng rằng nó cấu thành một cao điểm sẽ không bao giờ tái diễn nữa. Khi ấy đã diễn ra cuộc chiến lớn giữa các Chúa Tể của Hình Tướng và các Chúa Tể của Bản Thể, hay giữa các Mãnh lực của Vật Chất và Thánh đoàn. Một nghiên cứu cẩn trọng [123] quyển hai của Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ soi sáng cho các đạo sinh, nếu họ nghiên cứu đặc biệt cẩn thận các trang 275-466. Theo sự hiểu biết của chúng ta, tường thuật này có thể có vẻ mơ hồ và tối nghĩa, nhưng các vấn đề khi ấy thì rõ ràng. Các Mãnh lực Ánh sáng đã chiến thắng vì Thánh đoàn buộc phải can thiệp mạnh mẽ, và với sự trợ giúp của một số Sự sống vĩ đại ở ngoài sự sống hành tinh của chúng ta, Các Ngài đã chấm dứt nền văn minh Atlantis một cách đột ngột sau một thời kỳ dài hỗn loạn và tai họa. Điều này diễn ra qua trung gian của một thảm họa cực điểm đã quét hàng trăm ngàn con người khỏi mặt đất. Biến cố lịch sử này đã được lưu giữ cho chúng ta trong truyền thuyết phổ quát về trận đại hồng thủy.

Those who survived are symbolically spoken of in the Bible as those who were saved in Noah’s ark, and in the ancient writings it is expressed in the following terms:

Những người sống sót được nói đến một cách biểu tượng trong Kinh Thánh như những người được cứu trong con tàu của Noah, và trong các trước tác cổ điều đó được diễn đạt bằng những lời sau:

“Like as a dragon snake uncoils slowly its body, so the sons of men, led on by the Sons of Wisdom, opened their folds and spreading out like a running stream of sweet waters.... Many of the faint-hearted among them perished on their way. But most were saved.”

“Như một con rắn rồng từ từ tháo cuộn thân mình, các con của loài người, được dẫn dắt bởi các Con của Minh Triết, đã mở các nếp gấp của họ và lan ra như một dòng nước ngọt đang chảy.... Nhiều kẻ nhát đảm trong số họ đã chết trên đường đi. Nhưng phần lớn đã được cứu.”

A close study of the tale as given in The Secret Doctrine will reveal the state of immature development (from the angle of our modern standards) and of the basically emotional and physical focus of the humanity of the period; it will show also man’s magical ability to subdue and control the subhuman kingdoms and the elemental forces of the planet. These are two angles which have been but little studied.

Một nghiên cứu kỹ câu chuyện như được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ cho thấy trạng thái phát triển chưa trưởng thành (xét theo tiêu chuẩn hiện đại của chúng ta) và sự tập trung về căn bản vào cảm xúc và hồng trần của nhân loại thời kỳ ấy; nó cũng sẽ cho thấy khả năng huyền thuật của con người trong việc khuất phục và kiểm soát các giới dưới nhân loại và các mãnh lực hành khí của hành tinh. Đây là hai góc độ ít được nghiên cứu.

Emphasis has, however, been rightly placed upon divine interference and intervention; this succeeded in salvaging an ethically sound minority (the word “spiritual” would not yet apply, except relatively) and in destroying those who were wrongly focussed or oriented and, therefore, dedicated to the life of material aspiration and perception.

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh đã được đặt đúng chỗ vào sự can thiệp và can dự thiêng liêng; điều này đã thành công trong việc cứu vãn một thiểu số lành mạnh về mặt đạo đức (từ “tinh thần” vẫn chưa thể áp dụng, trừ theo nghĩa tương đối) và trong việc hủy diệt những kẻ bị tập trung hay định hướng sai, và do đó tận hiến cho đời sống của khát vọng và tri giác vật chất.

[124] This nucleus which was saved, formed the basis of our present root race, the Aryan. The whole theme of the Old Testament is built around the development and growth of this nucleus. Symbolically speaking, the inhabitants of the ark and their descendants and the Jewish race stand for the salvaged remnant of humanity—salvaged in spite of themselves and in face of stupendous difficulties by the Great White Lodge.

[124] Hạt nhân được cứu này đã hình thành nền tảng cho giống dân gốc hiện nay của chúng ta, giống dân Arya. Toàn bộ chủ đề của Cựu Ước được xây dựng quanh sự phát triển và tăng trưởng của hạt nhân này. Nói theo biểu tượng, những cư dân của con tàu và con cháu của họ cùng chủng tộc Do Thái tượng trưng cho phần còn lại của nhân loại đã được cứu vớt—được cứu bất chấp chính họ và trước những khó khăn to lớn bởi Thánh đoàn.

Two points warrant attention here. The first and least important from the standpoint of the soul is the disappearance off the earth of practically all signs of the wonderful Atlantean civilisation except for those few archaeological treasures which intrigue and interest modern research workers, plus those dim memories of ancient scientific achievement which lead the modern student to investigation and invention, and which incite him to discovery and the production of what we call the triumphs of modern science.

Có hai điểm đáng được chú ý ở đây. Điểm thứ nhất và ít quan trọng hơn xét từ quan điểm của linh hồn là sự biến mất khỏi trái đất của hầu như mọi dấu vết của nền văn minh Atlantis kỳ diệu, ngoại trừ một vài báu vật khảo cổ gây tò mò và thu hút các nhà nghiên cứu hiện đại, cộng với những ký ức mờ nhạt về thành tựu khoa học cổ xưa dẫn dắt đạo sinh hiện đại đến sự khảo cứu và phát minh, và kích thích y khám phá và tạo ra điều mà chúng ta gọi là những chiến thắng của khoa học hiện đại.

The second point is that for the good of humanity, the Hierarchy withdrew into the background, leaving man to find his own way out of the mirage and illusion of materialism in right ways and eventually to bring to an end the ancient cleavages. War must be brought to its final consummation and expression with a view to its final discarding as a means of arriving at desired ends.

Điểm thứ hai là vì lợi ích của nhân loại, Thánh đoàn đã rút vào hậu trường, để con người tự tìm lối thoát khỏi ảo ảnh và ảo tưởng của chủ nghĩa vật chất bằng những cách đúng đắn và cuối cùng chấm dứt các sự phân rẽ cổ xưa. Chiến tranh phải được đưa đến sự hoàn tất và biểu lộ cuối cùng của nó nhằm loại bỏ nó như một phương tiện để đạt đến các mục đích mong muốn.

The Modern Era

Thời Đại Hiện Đại

I would like to pause here and remind you of one or two points which should be recognised as we approach this modern era in which all these culminating effects are taking place. Let me state them concisely and clearly.

Tôi muốn dừng lại ở đây và nhắc bạn về một hay hai điểm cần được nhận ra khi chúng ta tiếp cận thời đại hiện đại này, trong đó mọi hiệu quả cực điểm này đang diễn ra. Hãy để tôi phát biểu chúng một cách ngắn gọn và rõ ràng.

The lines of cleavage between materialism and spirituality (as we now understand the terms) have become increasingly clear. Two things have tended to bring this about. First, the pronouncement of the Ten Commandments. These, though negative in their form and dogmatic in their attitude, have made the issues and the required attitudes adequately clear. Owing to the relatively low stage of the [125] universal human intelligence at the time that they were given (for the Biblical dates are not correct and the date of their pronouncement is far older than is thought) they were expressed by the formula, “Thou shalt not,” thus turning human attention to the material expression of material tendencies. In days to come, the Ten Commandments will be expressed in a reversed form of which the Sermon on the Mount and the Beatitudes are the embryonic form.

Các đường phân rẽ giữa chủ nghĩa vật chất và tính tinh thần (như hiện nay chúng ta hiểu các thuật ngữ ấy) đã ngày càng trở nên rõ ràng. Có hai điều đã có khuynh hướng đem lại điều này. Thứ nhất, là sự công bố Mười Điều Răn. Những điều này, tuy mang tính phủ định trong hình thức và giáo điều trong thái độ, đã làm cho các vấn đề và các thái độ được đòi hỏi trở nên đủ rõ. Do giai đoạn tương đối thấp của [125] trí tuệ nhân loại phổ quát vào thời điểm chúng được ban ra (vì niên đại Kinh Thánh không đúng và ngày công bố chúng cổ xưa hơn nhiều so với người ta nghĩ) chúng đã được diễn đạt bằng công thức “Ngươi chớ,” do đó hướng sự chú ý của con người đến biểu hiện vật chất của các khuynh hướng vật chất. Trong những ngày sắp tới, Mười Điều Răn sẽ được diễn đạt dưới một hình thức đảo ngược mà Bài Giảng trên Núi và các Mối Phúc là hình thức phôi thai.

Second, the Hierarchy withdrew in order that humanity, on reaching maturity and years of discretion, should not be handicapped and hindered by coercion and undue safeguarding but should express its major divine characteristics. Of these, free will and the discriminating use of the mind are the outstanding qualities. There was no free will in Atlantean days. There is a tendency to free will (note that term) today and we call it liberty and independence, freedom of thought and the right of the individual to determine the issues which control or should control the group of which he is a part. These are all attributes and qualities of free will but not the divine principle of free will per se. Of that we know as yet but little. Only the disciples of the world and the initiates know the true significance and implications of freedom of choice, and the right use of the will, and this because they are motivated by group good and the need of the majority.

Thứ hai, Thánh đoàn đã rút lui để nhân loại, khi đạt đến trưởng thành và tuổi biết suy xét, không bị làm cho tàn tật và cản trở bởi sự cưỡng bách và sự bảo vệ quá mức, mà có thể biểu lộ các đặc tính thiêng liêng chủ yếu của mình. Trong số đó, ý chí tự do và việc sử dụng trí tuệ một cách phân biện là những phẩm tính nổi bật. Không có ý chí tự do trong thời Atlantis. Ngày nay có một khuynh hướng hướng tới ý chí tự do (hãy lưu ý thuật ngữ đó) và chúng ta gọi nó là tự do và độc lập, tự do tư tưởng và quyền của cá nhân được quyết định các vấn đề kiểm soát hay nên kiểm soát nhóm mà y là một phần trong đó. Tất cả những điều này đều là các thuộc tính và phẩm tính của ý chí tự do nhưng chưa phải là nguyên khí thiêng liêng của chính ý chí tự do. Về điều đó, cho đến nay chúng ta biết rất ít. Chỉ các đệ tử của thế giới và các điểm đạo đồ mới biết ý nghĩa và hàm ý chân thực của tự do lựa chọn, và việc sử dụng đúng đắn ý chí, và điều này là vì họ được thúc đẩy bởi thiện ích của nhóm và nhu cầu của đa số.

The test to which humanity was to be subjected and which is today the controlling factor was whether—given mental development and knowledge—it would consecrate that knowledge and its scientific and mental attainment to group good or to selfish ends, to material issues or to spiritual incentives and impulses. This ancient conflict has now been carried through into another field of human expression, that of the mind and—as the race has progressed and the personalities of human beings have reached a high stage of integration and achievement—the conflict has become acute, the issues clearer and the ranging of the opponents into two clearly defined groups is now so complete that the final struggle has become possible.

Phép thử mà nhân loại phải chịu và hiện nay là yếu tố kiểm soát là liệu—khi đã có sự phát triển trí tuệ và tri thức—nhân loại có thánh hiến tri thức ấy cùng thành tựu khoa học và trí tuệ của mình cho thiện ích của nhóm hay cho các mục đích ích kỷ, cho các vấn đề vật chất hay cho các động cơ và xung lực tinh thần. Cuộc xung đột cổ xưa này nay đã được đưa sang một lĩnh vực biểu lộ khác của con người, đó là lĩnh vực trí tuệ, và—khi nhân loại đã tiến bộ và các phàm ngã của con người đã đạt đến một giai đoạn cao của sự tích hợp và thành tựu—cuộc xung đột đã trở nên gay gắt, các vấn đề rõ ràng hơn và sự xếp hàng của các đối thủ vào hai nhóm được xác định rõ nay đã hoàn tất đến mức cuộc đấu tranh cuối cùng đã trở nên khả hữu.

[126] Intelligent appreciation of the situation and a general capacity to present to the mind the underlying conditions has now been achieved by the bulk of the intelligent people upon the planet and, though the point of view is necessarily coloured by national traditions, inherited ideas and policies as well as by environmental control and bias, the race has gone a long way towards its final emancipation. There is, therefore, a certain measure of free will displayed, and this constitutes an entirely new factor and a most satisfactory development. But I would remind you of a most important point and that is that the masses of the people—the middle classes, the bourgeoisie and the proletariat (I use these words in their general sense and simply because of their significance and meaning)—are still victims of authority, of control, and remain relatively unthinking and childlike. This means that the true conflict is between a small minority to whom the issues are illuminatingly clear and who have definitely ranged themselves on one side or other of the embattled forces. A mere handful of men, the direct descendants or rather the reincarnations of the leaders in the ancient Atlantean conflict, are now on earth, directing the forces of light or of darkness and bringing into being a direct line-up of millions of men whose will is that of their leaders.

[126] Sự đánh giá thông minh về tình hình và một năng lực chung trong việc trình bày cho trí tuệ các điều kiện nền tảng nay đã được phần lớn những người thông minh trên hành tinh đạt tới, và mặc dù quan điểm tất yếu bị nhuốm màu bởi các truyền thống quốc gia, các ý tưởng và chính sách được thừa hưởng cũng như bởi sự kiểm soát và thiên lệch của môi trường, nhân loại đã đi một chặng đường dài hướng tới sự giải phóng cuối cùng của mình. Do đó, có một mức độ ý chí tự do nào đó được biểu lộ, và điều này cấu thành một yếu tố hoàn toàn mới và là một sự phát triển rất đáng thỏa mãn. Nhưng tôi muốn nhắc bạn về một điểm hết sức quan trọng, đó là quần chúng—giai cấp trung lưu, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản (tôi dùng những từ này theo nghĩa tổng quát và chỉ vì thâm nghĩa và ý nghĩa của chúng)—vẫn còn là nạn nhân của quyền uy, của sự kiểm soát, và vẫn tương đối thiếu suy nghĩ và trẻ con. Điều này có nghĩa là cuộc xung đột thực sự là giữa một thiểu số nhỏ mà đối với họ các vấn đề sáng tỏ một cách soi sáng và những người này đã dứt khoát đứng về bên này hay bên kia của các mãnh lực đang giao chiến. Chỉ một nắm nhỏ người, là hậu duệ trực tiếp hay đúng hơn là các tái sinh của những nhà lãnh đạo trong cuộc xung đột Atlantis cổ xưa, hiện đang ở trên trái đất, chỉ huy các mãnh lực ánh sáng hay bóng tối và đưa vào hiện hữu một sự xếp hàng trực tiếp của hàng triệu người mà ý chí của họ là ý chí của các nhà lãnh đạo của họ.

The lines of cleavage have grown steadily until now they can be expressed in terms of a humanity which is oriented towards the higher spiritual and altruistic values and whose keynotes are sacrifice, group good and world understanding, and those whose focus is predominantly material and whose aims are selfish, animated by ambition and the spirit of acquisition.

Các đường phân rẽ đã tăng trưởng đều đặn cho đến nay chúng có thể được diễn đạt bằng những thuật ngữ của một nhân loại được định hướng về các giá trị tinh thần và vị tha cao hơn, mà các chủ âm của nó là hi sinh, thiện ích của nhóm và sự thấu hiểu thế giới, và những kẻ có trọng tâm chủ yếu là vật chất và mục tiêu là ích kỷ, được sinh động bởi tham vọng và tinh thần chiếm hữu.

It was the acuteness of this situation, and the wide extent of the cleavage, which induced the watching Hierarchy to permit a direct inflow of the Shamballa force (in spite of its attendant risks) to pour into the world. The objective was to stimulate the free will of the masses; the result upon them has been relatively good as it has led to the formulation and expression of the great world ideologies—Fascism, [127] Democracy and Communism as well as that peculiarly distorted blend of Fascism and Communism which goes by the name of Hitlerism or Nazism. All these ideologies are fostered by the desire of the masses for the betterment of the condition in which the populace in any country lives and it has become focussed, expressive and creative by the force of the Shamballa influence. But another result of this inflow of the will-to-power has been to stimulate a certain group of outstanding personalities in many lands so that they have assumed control of the masses and can thus determine the policies and methods—religious, political and social—of the different nations. In every nation a relatively small group of people decide all important issues and determine all major national activities. This they do either by force, terror and deception or by persuasion, fair words and the application of ideological motives. Of this situation in the world the Lords of Destiny are availing themselves in order to bring the ancient conflict to an end and so enable humanity to pass into the new Aquarian Age relatively free and with a clearer understanding of right human aims, right relationships and man’s predestined future.

Chính sự gay gắt của tình thế này, và mức độ rộng lớn của sự phân rẽ, đã khiến Thánh đoàn đang quan sát cho phép một luồng trực tiếp của mãnh lực Shamballa (bất chấp những nguy cơ đi kèm) tuôn đổ vào thế giới. Mục tiêu là kích thích ý chí tự do của quần chúng; kết quả nơi họ tương đối tốt vì đã dẫn đến việc hình thành và biểu lộ các hệ tư tưởng lớn của thế giới—Chủ nghĩa Phát xít, [127] Dân chủ và Chủ nghĩa Cộng sản, cũng như sự pha trộn méo mó đặc biệt giữa Chủ nghĩa Phát xít và Chủ nghĩa Cộng sản mang tên Hitlerism hay Nazism. Tất cả các hệ tư tưởng này đều được nuôi dưỡng bởi khát vọng của quần chúng muốn cải thiện tình trạng sống của dân chúng trong bất cứ quốc gia nào, và đã trở nên tập trung, biểu lộ và sáng tạo nhờ mãnh lực của ảnh hưởng Shamballa. Nhưng một kết quả khác của luồng tuôn đổ này của ý chí-quyền lực là kích thích một nhóm phàm ngã nổi bật nào đó ở nhiều xứ sở, khiến họ nắm quyền kiểm soát quần chúng và do đó có thể quyết định các chính sách và phương pháp—tôn giáo, chính trị và xã hội—của các quốc gia khác nhau. Trong mọi quốc gia, một nhóm người tương đối nhỏ quyết định mọi vấn đề quan trọng và định đoạt mọi hoạt động lớn của quốc gia. Họ làm điều này hoặc bằng vũ lực, khủng bố và lừa dối, hoặc bằng thuyết phục, lời lẽ tốt đẹp và việc vận dụng các động cơ ý thức hệ. Các Đấng Chúa Tể của Định Mệnh đang tận dụng tình trạng này trên thế giới để chấm dứt cuộc xung đột cổ xưa và nhờ đó giúp nhân loại bước vào Kỷ nguyên Bảo Bình mới một cách tương đối tự do và với sự thấu hiểu rõ ràng hơn về các mục tiêu đúng đắn của con người, các mối quan hệ đúng đắn và tương lai tiền định của con người.

It will serve no purpose for me to trace the relation of the present world conflict and the present world leaders to the conflict and the leaders in Atlantean times. Suffice it to say that many of the same personalities (on a higher turn of the spiral) are again playing their various parts in the great drama. It is no service to you and to your mental grip upon the situation for me to emphasise the details of that great war and its modern correspondences; it is of no value for me to compare the old methods and the modern usages whereby one side or the other carries forward the struggle for supremacy. You are in no position to verify what I say or to check the accuracy of my statements. The point which is, however, of major importance is for you to arrive at a clear understanding of what is at stake and a just appreciation of the values involved and also a correct grasp of the ideals animating the two groups of opponents.

Việc tôi truy nguyên mối liên hệ giữa cuộc xung đột thế giới hiện nay và các nhà lãnh đạo thế giới hiện nay với cuộc xung đột và các nhà lãnh đạo trong thời Atlantis sẽ không phục vụ mục đích nào. Chỉ cần nói rằng nhiều phàm ngã giống nhau ấy (ở một vòng xoắn cao hơn) lại đang đóng những vai trò khác nhau của họ trong vở kịch lớn. Việc tôi nhấn mạnh các chi tiết của cuộc chiến lớn đó và những tương ứng hiện đại của nó không giúp ích gì cho bạn và cho sự nắm bắt bằng trí tuệ của bạn đối với tình hình; việc tôi so sánh các phương pháp cũ và các cách thức hiện đại nhờ đó bên này hay bên kia tiếp tục cuộc đấu tranh giành quyền tối thượng cũng không có giá trị gì. Bạn không ở vào vị thế có thể kiểm chứng điều tôi nói hay xác nhận độ chính xác của các phát biểu của tôi. Tuy nhiên, điểm có tầm quan trọng chủ yếu là bạn phải đi đến một sự thấu hiểu rõ ràng về điều gì đang bị đặt vào thế nguy cấp, một sự đánh giá công bằng về các giá trị liên hệ, và cũng là một sự nắm bắt đúng đắn các lý tưởng đang thúc đẩy hai nhóm đối thủ.

In Atlantean days, it was stated that the battle was between [128] the Forces of Darkness (the so-called “Black Lodge of Adepts”) and the Forces of Light (the so-called Great White Lodge, the Hierarchy of Masters). That was then approximately true, for the conflict was between two small groups and the masses of the people were simply the blind and miserable victims of the fight and of the situation.

Trong thời Atlantis, người ta nói rằng trận chiến diễn ra giữa [128] Các Mãnh Lực Bóng Tối (cái gọi là “Hắc đoàn của các chân sư”) và Các Mãnh Lực Ánh Sáng (cái gọi là Thánh đoàn, Thánh đoàn các Chân sư). Khi ấy điều đó gần đúng, vì cuộc xung đột là giữa hai nhóm nhỏ và quần chúng chỉ đơn giản là những nạn nhân mù quáng và khốn khổ của cuộc chiến và của tình thế.

Today, it is not possible to make such a clear distinction between the forces engaged, nor is it properly admissible. No nation or group of nations can be classed in a broad generalisation as either black or white. Bear this in mind. Only those with no vision and an intolerant and prejudiced spirit will speak thus. All nations have within them those who belong in their thousands to the category of those who are swayed by the Forces of Light and who, therefore, respond normally and easily to the concept of goodwill, to the desire for right relationship between all men and to the ideal of true international and world understanding. In all nations there are those to whom this position makes no appeal at all and they are still in darkness and blinded to the true issues. This is a statement of fact. Those who seek to see the establishment of goodwill and understanding are in the majority but are—as I pointed out in earlier writings—relatively futile to control the situation as yet or to force their leaders to follow the mass will-to-good. They are either inspired or protected by the Hierarchy of Light and it is with them that the task of stimulating the free expression of this goodwill must be carried forward when the conflict ends.

Ngày nay, không thể đưa ra một sự phân biệt rõ ràng như thế giữa các mãnh lực đang tham chiến, và điều đó cũng không thực sự được phép. Không một quốc gia hay nhóm quốc gia nào có thể được xếp, bằng một sự khái quát rộng, là đen hay trắng. Hãy ghi nhớ điều này. Chỉ những ai không có tầm nhìn và có tinh thần bất khoan dung cùng thành kiến mới nói như vậy. Mọi quốc gia đều có trong mình hàng ngàn người thuộc loại bị Các Mãnh Lực Ánh Sáng chi phối và vì thế đáp ứng một cách bình thường và dễ dàng với khái niệm thiện chí, với khát vọng về mối quan hệ đúng đắn giữa mọi người và với lý tưởng về sự thấu hiểu chân chính giữa các quốc gia và trên toàn thế giới. Trong mọi quốc gia cũng có những người mà lập trường này hoàn toàn không hấp dẫn họ, và họ vẫn còn ở trong bóng tối và bị che mù trước các vấn đề thực sự. Đây là một phát biểu sự kiện. Những người tìm cách thấy thiện chí và sự thấu hiểu được thiết lập là đa số nhưng—như tôi đã chỉ ra trong các trước tác trước đây—vẫn còn tương đối bất lực trong việc kiểm soát tình hình hoặc buộc các nhà lãnh đạo của họ đi theo ý chí-hướng thiện của quần chúng. Họ hoặc được Thánh đoàn Ánh Sáng truyền cảm hứng hoặc được bảo vệ, và chính với họ mà nhiệm vụ kích thích sự biểu lộ tự do của thiện chí này phải được tiếp tục khi cuộc xung đột chấm dứt.

As for the other group, they are those who through inclination or ancient karma are the descendants of the Lords of darkness; their actions and ideals make possible the activity of the forces of materialism. I would have you note that phrasing. Even the most dangerous of them are nevertheless conscious of some form or another of idealism, but they are misguided and full of response to the will-to-power (power upon the physical plane and through the medium of form activity). This is stimulated by the inflow of the Shamballa energy. Because of these reactions and tendencies, they constitute focal points for those Lives and [129] Energies which are inherent in matter itself and whose influence and work are dedicated to the preservation of form, and of that which is. They endeavour constantly to negate the new and to hold back the evolution and development of the human consciousness. Forget not that the real issue is in the field of consciousness and that the struggle is between form and the life within the form, and between progress, leading to the liberation of the human spirit, and reactionary activity, leading to the imprisonment of the human consciousness and the restriction of its free expression.

Còn về nhóm kia, họ là những người do khuynh hướng hoặc nghiệp quả cổ xưa mà là hậu duệ của các chúa tể bóng tối; hành động và lý tưởng của họ khiến cho hoạt động của các mãnh lực duy vật trở nên khả hữu. Tôi muốn bạn lưu ý cách diễn đạt đó. Ngay cả những người nguy hiểm nhất trong số họ, tuy vậy, vẫn có ý thức về một hình thức lý tưởng nào đó, nhưng họ bị lầm lạc và đầy sự đáp ứng với ý chí-quyền lực (quyền lực trên cõi hồng trần và thông qua trung gian của hoạt động hình tướng). Điều này được kích thích bởi luồng tuôn đổ của năng lượng Shamballa. Vì những phản ứng và khuynh hướng này, họ tạo thành các điểm tập trung cho những Sự Sống và [129] Năng Lượng vốn cố hữu trong chính vật chất và có ảnh hưởng cùng công việc được hiến dâng cho việc bảo tồn hình tướng, và điều đang hiện hữu. Họ không ngừng cố gắng phủ nhận cái mới và kìm hãm sự tiến hoá và phát triển của tâm thức con người. Đừng quên rằng vấn đề thực sự nằm trong lĩnh vực tâm thức và cuộc đấu tranh là giữa hình tướng và sự sống bên trong hình tướng, giữa tiến bộ dẫn đến sự giải thoát tinh thần con người, và hoạt động phản động dẫn đến sự giam hãm tâm thức con người và sự hạn chế biểu lộ tự do của nó.

I would pause here and solemnly beg you not to make the lines of cleavage wider by placing yourself, and all who follow your form of ideology, upon the side of the Forces of Light and all other people and their ideologies, with which you may not agree, upon the side of the Forces of Darkness. The issue is, in the last analysis, the right to express the will-to-good, the right to express human relationships, untrammelled by territorial barriers and national habits of thought; it involves the right and the felt necessity to shew love to all beings and thus stamp out all hate and separateness. It concerns the right of all nations to live at peace with their neighbours and harmoniously with each other and to express the true and subjective synthesis of humanity, and not place national possessions, frontiers, culture, power and ambition before the general good and the happiness of the world of men. This is the real and underlying issue. All the national challenges and patriotic calls are simply the attempts of the leaders everywhere to hold the people to a particular line of thought and of action. To make the world safe for democracy, to gain room to live, to defend the rights of little nations, to preserve the balance of power, to meet force with force, to restore ancient and historical boundaries, to impose some culture deemed desirable, to prevent economic destruction, to conserve national stakes and interests are all the talking points of the leaders today. But the real issue is the intangible one of Direction. Which way will humanity go? [130] Will it go the way of selflessness, expressed in a willingness to act always in the interests of all, thus promoting world understanding and world unity, or the way of selfishness and aggression, expressed in an intense nationalism, thus sacrificing the true and larger values of liberty, independence and freedom to think. This selfishness may show itself through active aggression or an active neutrality. Those nations who participate in no way in this struggle will lose much and—enhancing their own selfish struggle and clouding the real issue in beautiful words—will help to prolong the struggle and hold back their own people from useful opportunity.

Tôi muốn dừng lại ở đây và tha thiết cầu xin bạn đừng làm cho các đường phân rẽ rộng thêm bằng cách đặt chính mình, và tất cả những ai theo hình thức ý thức hệ của bạn, về phía Các Mãnh Lực Ánh Sáng, còn tất cả những người khác và các hệ tư tưởng của họ, mà bạn có thể không đồng ý, về phía Các Mãnh Lực Bóng Tối. Xét đến cùng, vấn đề là quyền biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện, quyền biểu lộ các mối quan hệ nhân loại không bị trói buộc bởi các rào cản lãnh thổ và các thói quen tư tưởng quốc gia; nó bao hàm quyền và nhu cầu được cảm nhận là phải biểu lộ tình thương đối với mọi chúng sinh và nhờ đó dập tắt mọi hận thù và chia cách. Nó liên quan đến quyền của mọi quốc gia được sống hòa bình với các nước láng giềng và hài hòa với nhau, và biểu lộ sự tổng hợp chân thực và chủ quan của nhân loại, chứ không đặt tài sản quốc gia, biên giới, văn hóa, quyền lực và tham vọng lên trước lợi ích chung và hạnh phúc của thế giới loài người. Đây là vấn đề thực sự và căn bản. Tất cả những thách thức quốc gia và những lời kêu gọi ái quốc chỉ đơn giản là những nỗ lực của các nhà lãnh đạo ở khắp nơi nhằm giữ dân chúng theo một đường lối tư tưởng và hành động nhất định. Làm cho thế giới an toàn cho dân chủ, giành không gian để sinh tồn, bảo vệ quyền của các quốc gia nhỏ, duy trì thế cân bằng quyền lực, lấy vũ lực đáp lại vũ lực, khôi phục các biên giới cổ xưa và lịch sử, áp đặt một nền văn hóa được cho là đáng mong muốn, ngăn ngừa sự hủy hoại kinh tế, bảo tồn các quyền lợi và lợi ích quốc gia—tất cả đều là những luận điểm mà các nhà lãnh đạo ngày nay nêu ra. Nhưng vấn đề thực sự là vấn đề vô hình của Sự Định Hướng. Nhân loại sẽ đi theo hướng nào? [130] Nhân loại sẽ đi theo con đường vô ngã, được biểu lộ trong sự sẵn lòng luôn hành động vì lợi ích của tất cả, nhờ đó thúc đẩy sự thấu hiểu thế giới và sự hợp nhất thế giới, hay con đường ích kỷ và xâm lược, được biểu lộ trong một chủ nghĩa dân tộc mãnh liệt, nhờ đó hy sinh các giá trị chân thực và lớn lao hơn của tự do, độc lập và tự do tư tưởng. Sự ích kỷ này có thể biểu lộ qua sự xâm lược tích cực hoặc sự trung lập tích cực. Những quốc gia không tham gia theo bất cứ cách nào vào cuộc đấu tranh này sẽ mất mát nhiều và—khi làm tăng thêm cuộc đấu tranh ích kỷ của chính mình và che mờ vấn đề thực sự bằng những lời đẹp đẽ—sẽ giúp kéo dài cuộc đấu tranh và ngăn cản chính dân tộc mình khỏi những cơ hội hữu ích.

I would point out here also that as in all families, business and organisations there are those who are the focal points of authority and the designers of the planned activities, so within that group or organised body which goes by the name of humanity there are similar focal points or those who plan, direct and produce the outer happenings and events. They are in the period of personality achievement—that time in which human beings, having achieved integration and a blended expression of feeling and perception and mind, are actively and effectively working upon the physical plane. These focal points are used to bring about two major changes in the world; the first is the fusion and blending of peoples and minorities so that coordinated empires and cultural nations are appearing everywhere and, secondly, the changing of frontiers and the altering of boundaries so that a complete re-adjustment of the map of the world in Asia, Europe and Africa can take place.

Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây rằng cũng như trong mọi gia đình, doanh nghiệp và tổ chức đều có những người là các điểm tập trung của quyền lực và là những người thiết kế các hoạt động có kế hoạch, thì trong nhóm hay cơ thể có tổ chức mang tên nhân loại cũng có những điểm tập trung tương tự, hay những người hoạch định, chỉ đạo và tạo ra các biến cố và sự kiện bên ngoài. Họ đang ở trong giai đoạn thành tựu của phàm ngã—thời kỳ mà trong đó con người, sau khi đã đạt được sự tích hợp và một sự biểu lộ hòa trộn của cảm xúc, tri giác và trí tuệ, đang hoạt động tích cực và hữu hiệu trên cõi hồng trần. Những điểm tập trung này được sử dụng để đem lại hai thay đổi lớn trong thế giới; thứ nhất là sự dung hợp và hòa trộn các dân tộc và các nhóm thiểu số để các đế quốc phối hợp và các quốc gia văn hóa đang xuất hiện khắp nơi, và thứ hai là việc thay đổi biên giới và điều chỉnh ranh giới để một sự tái điều chỉnh hoàn toàn bản đồ thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi có thể diễn ra.

It will be apparent to you that three major methods or modes of producing these fusions can be noted. Great Britain, the United States of America and the Union of Socialist Soviet Republics (the U.S.S.R.) are working out the principle of federation, of relation and of the fusion of bodies into concentrated wholes, responding to the same inspiration but employing their own specialised methods to bring about the desired ends. Be not surprised by my [131] including Russia in this triplicity. Their ideology is fundamentally as sound as that in the other groups, but the difference lies in the factors of personality and the mode of applying the ideology. The control of powerful and dangerous personalities, and the use of the methods of force and cruelty have been avoided in the first two groups of nations, and the reason is based upon the different source of the inspiration producing the effects. Another reason is to be found in the placing of power in the hands of those who are historically unprepared to rule and of those whose past unfoldment has as yet brought them only to the nursery stage of evolution.

Bạn sẽ thấy rõ rằng có thể nhận ra ba phương pháp hay cách thức lớn để tạo ra những sự dung hợp này. Đại Anh, Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết (U.S.S.R.) đang triển khai nguyên lý liên bang, quan hệ và sự dung hợp các cơ thể thành những toàn thể tập trung, đáp ứng cùng một cảm hứng nhưng sử dụng các phương pháp chuyên biệt riêng của họ để đạt đến các mục tiêu mong muốn. Đừng ngạc nhiên vì tôi [131] đưa nước Nga vào bộ ba này. Hệ tư tưởng của họ về căn bản cũng lành mạnh như trong các nhóm kia, nhưng sự khác biệt nằm ở các yếu tố phàm ngã và phương thức áp dụng hệ tư tưởng. Việc kiểm soát bởi các phàm ngã quyền lực và nguy hiểm, và việc sử dụng các phương pháp vũ lực và tàn bạo, đã được tránh trong hai nhóm quốc gia đầu tiên, và lý do dựa trên nguồn cảm hứng khác nhau tạo ra các hiệu quả ấy. Một lý do khác nằm ở việc trao quyền lực vào tay những người về mặt lịch sử chưa sẵn sàng để cai quản và những người mà sự khai mở trong quá khứ cho đến nay mới chỉ đưa họ đến giai đoạn nhà trẻ của tiến hoá.

Nevertheless in these three groups there is much of interest to be noted. One of them, Great Britain, represents a fusion, the foundations of which have been laid in a long historical past of preparation for government; another, that of the U.S.A. represents a fusion which is unfolding and developing in the present which is new in its experiments, though employing factors from every nation in Europe; the U.S.S.R. in its turn represents a coming fusion or future synthesis. In these three, you have an interesting and immediate expression of the three divine aspects, each of which inspires and colours the embryonic civilisation. Great Britain expresses the will-to-power but on account of age and experience, dearly bought, this is today mellowed by justice and a growing understanding of human need. This, in its turn, is the result of the control for many centuries in the past by the aristocracy, with its paternalism, conservatism and its method of slow adjustment. The U.S.A. expresses the will-to-love, which shows itself in an ability to absorb vastly divergent elements and yet to present equal opportunity to all. This is brought about very largely because the control is, in this federation of states, in the hands of the bourgeoisie, with its financial goals, its power to determine living conditions, and its quick and sympathetic touch upon life. Its method is not that of slow adjustment but of quick assimilation. It is in that country also that people are most sensitive [132] to the influence of the Hierarchy. The U.S.S.R. expresses the will-to-create and to produce new conditions and a new order—planned and determined and foreseen. This has been brought about through cruelty very often, by a willingness to compromise and to change or lower the original ideal. This, in its turn, is brought about by the activity of the proletariat with its inability to govern, its desire to retaliate, and its ignorance of tradition and of inherited procedures.

Tuy nhiên, trong ba nhóm này có nhiều điều đáng chú ý. Một nhóm, Đại Anh, tượng trưng cho một sự dung hợp mà nền tảng của nó đã được đặt trong một quá khứ lịch sử lâu dài chuẩn bị cho việc cai trị; một nhóm khác, Hoa Kỳ, tượng trưng cho một sự dung hợp đang khai mở và phát triển trong hiện tại, mới mẻ trong các thử nghiệm của mình, dù sử dụng các yếu tố từ mọi quốc gia ở châu Âu; đến lượt mình, U.S.S.R. tượng trưng cho một sự dung hợp đang đến hay một sự tổng hợp của tương lai. Trong ba nhóm này, bạn có một biểu lộ thú vị và tức thời của ba phương diện thiêng liêng, mỗi phương diện truyền cảm hứng và tô màu cho nền văn minh phôi thai. Đại Anh biểu lộ ý chí-quyền lực nhưng do tuổi đời và kinh nghiệm, phải trả giá đắt mới có được, ngày nay điều này đã được làm dịu bởi công lý và sự thấu hiểu ngày càng tăng về nhu cầu của con người. Điều này, đến lượt nó, là kết quả của sự kiểm soát trong nhiều thế kỷ trước đây bởi giới quý tộc, với tính gia trưởng, tính bảo thủ và phương pháp điều chỉnh chậm rãi của họ. Hoa Kỳ biểu lộ ý chí-yêu thương, thể hiện trong khả năng hấp thụ những yếu tố cực kỳ dị biệt mà vẫn đem lại cơ hội bình đẳng cho tất cả. Điều này phần lớn được tạo ra vì quyền kiểm soát, trong liên bang các tiểu bang này, nằm trong tay giai cấp tư sản, với các mục tiêu tài chính, quyền lực quyết định điều kiện sống, và sự tiếp xúc nhanh nhạy, cảm thông với đời sống. Phương pháp của họ không phải là điều chỉnh chậm mà là đồng hóa nhanh. Cũng chính ở quốc gia đó mà con người nhạy cảm nhất [132] với ảnh hưởng của Thánh đoàn. U.S.S.R. biểu lộ ý chí-sáng tạo và tạo ra những điều kiện mới cùng một trật tự mới—được hoạch định, quyết định và thấy trước. Điều này thường được thực hiện qua sự tàn bạo, bằng sự sẵn lòng thỏa hiệp và thay đổi hay hạ thấp lý tưởng ban đầu. Điều này, đến lượt nó, được tạo ra bởi hoạt động của giai cấp vô sản với sự bất lực trong cai trị, khát vọng trả đũa, và sự thiếu hiểu biết về truyền thống cùng các thủ tục được thừa hưởng.

A most interesting experiment is, therefore, working out in these three groups of interrelated elements and differing national ideals. The U.S.S.R. will eventually place its emphasis and direct its major interest upon Asia, bringing about great changes on that continent, as far as the Pacific. The other, Great Britain, through its successful demonstration of the principle of federation, can affect major changes in Europe if there is an awakened insight, a true and sympathetic justice and wise patience. The U.S.A. has a similar task to perform for the Americas, calling for statesmanship of a high order and a spirit of understanding.

Vì vậy, một thí nghiệm hết sức thú vị đang được triển khai trong ba nhóm gồm các yếu tố liên hệ lẫn nhau và các lý tưởng quốc gia khác biệt này. U.S.S.R. cuối cùng sẽ đặt trọng tâm và hướng mối quan tâm chính của mình vào châu Á, đem lại những thay đổi lớn trên lục địa đó, xa đến tận Thái Bình Dương. Nhóm kia, Đại Anh, thông qua sự chứng minh thành công nguyên lý liên bang, có thể tạo ra những thay đổi lớn ở châu Âu nếu có linh thị được thức tỉnh, một công lý chân thực và cảm thông, cùng sự kiên nhẫn minh triết. Hoa Kỳ có một nhiệm vụ tương tự phải thực hiện đối với châu Mỹ, đòi hỏi nghệ thuật chính trị ở cấp độ cao và một tinh thần thấu hiểu.

It will also be apparent to you if you have rightly understood the above suggestions that the Shamballa force is working through that community of federated nations called the British Empire and is expressing the will-towards-synthesis and the will to just and legal procedure. It is the force of the Hierarchy which can express itself increasingly through the United States of America, for an intuitive recognition of subjective realities and a real sense of the higher values can and frequently do control the impulses governing this group of federated states. The will-to-be of Humanity with its almost extravagant emphasis upon human values and the will-to-rule creatively is the contribution of the U.S.S.R., that great federation of republics. Thus the influence of the three great world centres about which I have earlier written can be seen expressing itself through these three groups of nations. At the same time, the Shamballa force is active in all of them, for it produces federation and synthesis. Its first great expression or demonstration [133] of the spirit of fusion took place in the 18th and 19th centuries, and led to the formation of such countries as Italy and Germany which were created out of many smaller states, duchies and kingdoms. A history of the trend towards fusion in the modern world would prove a most illuminating study. It would be found that the first faint indications were felt around 1575 A.D. This was due to the fact that permission for the inflow of this force was given when demanded at the Centennial Conference of the Hierarchy, held in 1425. I referred to this conference in my earlier writings. (A Treatise on White Magic, pp. 401-433. A Treatise on the Seven Rays”, Vol.I (Esoteric Psychology), pp. 170-189.)

Bạn cũng sẽ thấy rõ, nếu đã hiểu đúng các gợi ý trên, rằng mãnh lực Shamballa đang hoạt động thông qua cộng đồng các quốc gia liên bang được gọi là Đế quốc Anh và đang biểu lộ ý chí-hướng-tới-tổng-hợp cùng ý chí đối với thủ tục công bằng và hợp pháp. Chính mãnh lực của Thánh đoàn có thể ngày càng biểu lộ qua Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, vì một sự nhận biết trực giác về các thực tại chủ quan và một ý thức thực sự về các giá trị cao hơn có thể, và thường xuyên, kiểm soát các xung lực chi phối nhóm các tiểu bang liên bang này. Ý chí-hiện-hữu của Nhân loại với sự nhấn mạnh gần như quá mức vào các giá trị nhân loại và ý chí cai quản một cách sáng tạo là đóng góp của U.S.S.R., liên bang cộng hòa vĩ đại ấy. Như vậy, có thể thấy ảnh hưởng của ba trung tâm lớn của thế giới mà tôi đã viết trước đây đang biểu lộ qua ba nhóm quốc gia này. Đồng thời, mãnh lực Shamballa hoạt động trong tất cả họ, vì nó tạo ra liên bang và tổng hợp. Biểu lộ lớn đầu tiên hay sự chứng minh [133] đầu tiên của tinh thần dung hợp của nó đã diễn ra trong các thế kỷ 18 và 19, và dẫn đến sự hình thành những quốc gia như Ý và Đức, được tạo nên từ nhiều tiểu bang, công quốc và vương quốc nhỏ hơn. Một lịch sử về xu hướng hướng tới dung hợp trong thế giới hiện đại sẽ là một nghiên cứu hết sức soi sáng. Người ta sẽ thấy rằng những dấu hiệu mờ nhạt đầu tiên được cảm nhận vào khoảng năm 1575 sau Công nguyên. Điều này là do sự cho phép luồng mãnh lực này tuôn vào đã được ban ra khi được yêu cầu tại Hội nghị Bách niên của Thánh đoàn, tổ chức năm 1425. Tôi đã đề cập đến hội nghị này trong các trước tác trước đây của tôi. (Luận về Chánh Thuật, tr. 401-433. “Luận về Bảy Cung”, Tập I (Tâm Lý Học Nội Môn), tr. 170-189.)

In the second group of changing ideologies and of reaction to mass need, you will find France, Germany, Italy, Spain and Portugal, all of whom have altered their ancient policies, changed their forms of government and reacted gradually and slowly to the Shamballa force. They have, however, reacted to that force through the medium of certain great and outstanding personalities who were peculiarly sensitive to the will-to-power and the will-to-change and who (during the past 150 years) have altered the character of their national life, and emphasised increasingly the wider human values. The men who inspired the initiating French revolution; the great conqueror, Napoleon; Bismarck, the creator of a nation; Mussolini, the regenerator of his people; Hitler who lifted a distressed people upon his shoulders; Lenin, the idealist, Stalin and Franco are all expressions of the Shamballa force and of certain little understood energies. These have wrought significant changes in their day and generation and altered the face of Europe, incidentally affecting Asia and conditioning attitudes and policies in America.

Trong nhóm thứ hai của các hệ tư tưởng đang thay đổi và của sự đáp ứng với nhu cầu của quần chúng, bạn sẽ thấy Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tất cả đều đã thay đổi các chính sách cổ xưa của mình, thay đổi các hình thức chính quyền và đáp ứng dần dần, chậm rãi với mãnh lực Shamballa. Tuy nhiên, họ đã đáp ứng với mãnh lực đó thông qua trung gian của một số phàm ngã lớn và nổi bật, những người đặc biệt nhạy cảm với ý chí-quyền lực và ý chí-thay đổi, và những người ấy (trong 150 năm qua) đã làm thay đổi tính chất của đời sống quốc gia họ, và ngày càng nhấn mạnh các giá trị nhân loại rộng lớn hơn. Những người đã truyền cảm hứng cho cuộc cách mạng Pháp khởi đầu; nhà chinh phục vĩ đại Napoleon; Bismarck, người tạo dựng một quốc gia; Mussolini, người tái sinh dân tộc mình; Hitler, người đã nâng một dân tộc khốn khổ lên trên vai mình; Lenin, nhà lý tưởng, Stalin và Franco—tất cả đều là những biểu lộ của mãnh lực Shamballa và của một số năng lượng ít được hiểu biết. Những năng lượng này đã tạo ra những thay đổi có ý nghĩa trong thời đại và thế hệ của họ, và làm thay đổi bộ mặt châu Âu, đồng thời ảnh hưởng đến châu Á và tác động lên các thái độ cùng chính sách ở châu Mỹ.

The results even when dangerous and terrible, have developed two vital characteristics in humanity. One has been the widespread development of the discriminating faculty, and secondly, a tendency to dispersion with its [134] consequences of diffusing civilised and cultural values and the diverse gifts of the many people to the world soul. The drift of people to the colonies from Great Britain, the drift of the people from every nation in Europe to America, North and South, the dispersal of people within national boundaries as the result of war and expediency such as the evacuation of cities has brought about today, the removal of people out of Italy and of groups of people within Russia, and the constant moving onwards of the wandering Jews indicate a breaking down, upon a world-wide scale, of all outer boundaries and the institution of a process of blending and amalgamation such as the world has never seen before. It constitutes an educational system of untold value, leading as it does to the constant necessity to readjust viewpoints, to change modes of living, to intermarriage and so-called illicit relations. The outer change is producing an inner synthesis and outer dispersion, and cleavages are working out interiorly in closer relations and a more tolerant spirit of understanding. The power to consider, to choose, to think and to discriminate is rapidly developing among all classes everywhere as a result of the many cataclysmic happenings, the presentation of many changing circumstances and the many points of view and theories of government and of religion; these grow naturally out of new contacts and the rapid presentation of events through the medium of the press and the radio.

Các kết quả, ngay cả khi nguy hiểm và khủng khiếp, đã phát triển hai đặc tính thiết yếu nơi nhân loại. Một là sự phát triển rộng khắp của năng lực phân biện, và thứ hai là một khuynh hướng phân tán với [134] hậu quả là khuếch tán các giá trị văn minh và văn hóa cùng những tặng phẩm đa dạng của nhiều dân tộc vào linh hồn thế giới. Sự di chuyển của dân chúng đến các thuộc địa từ Đại Anh, sự di chuyển của dân chúng từ mọi quốc gia ở châu Âu sang châu Mỹ, Bắc và Nam, sự phân tán dân chúng trong phạm vi biên giới quốc gia do chiến tranh và sự tiện lợi như việc sơ tán các thành phố ngày nay, việc di chuyển dân chúng ra khỏi nước Ý và các nhóm dân trong nước Nga, cùng sự tiến bước không ngừng của những người Do Thái phiêu bạt cho thấy sự phá vỡ, trên quy mô toàn thế giới, mọi ranh giới bên ngoài và việc thiết lập một tiến trình hòa trộn và hợp nhất mà thế giới chưa từng thấy trước đây. Điều đó tạo thành một hệ thống giáo dục có giá trị không thể kể xiết, vì nó dẫn đến nhu cầu thường xuyên phải điều chỉnh lại quan điểm, thay đổi lối sống, hôn nhân dị chủng và những quan hệ gọi là bất hợp pháp. Sự thay đổi bên ngoài đang tạo ra một sự tổng hợp bên trong và sự phân tán bên ngoài, còn các phân rẽ đang được giải quyết nội tại thành những quan hệ gần gũi hơn và một tinh thần thấu hiểu khoan dung hơn. Năng lực cân nhắc, lựa chọn, suy nghĩ và phân biện đang phát triển nhanh chóng trong mọi giai tầng ở khắp nơi do nhiều biến cố mang tính đại hồng thủy, sự xuất hiện của nhiều hoàn cảnh thay đổi và nhiều quan điểm cùng lý thuyết về chính quyền và tôn giáo; những điều này nảy sinh tự nhiên từ các tiếp xúc mới và sự trình hiện nhanh chóng của các sự kiện qua trung gian báo chí và radio.

It is this that is of importance from the standpoint of evolution and the growth of the world consciousness. The physical plane happenings are incidental and of no permanent lasting power.

Chính điều này mới quan trọng từ quan điểm của tiến hoá và sự tăng trưởng của tâm thức thế giới. Những biến cố trên cõi hồng trần chỉ là phụ thuộc và không có quyền năng bền vững lâu dài.

The physical plane events and precipitations are carried forward and made possible through focal points of energy who are the world dictators, the world statesmen, and the outstanding human beings in all lands as well as by groups which are actively working in every country for their own ends or—as is more often the case—under the influence of some group ideal or wisdom plus personal ambition, personal will-to-power and personal aggrandisement. [135] We call these people dictators, demagogues, inspired leaders, or just and wise men, according to our peculiar ideology, tradition, attitudes to our fellowmen and our particular political, economic and religious training. But all these leaders are simply human beings and like other men—idealistic, mistaken, lovers of their country, egoists, impressionable, foolish, cunning, powerful, focussed on some goal or ambition, with clear vision and at the same time myopic reactions, cruel or wise as the case may be—but, in the last analysis, highly developed personalities. They are being used to engineer great and needed changes and to alter the face of civilisation. The wrong methods employed and the evil things done are the fault of humanity as a whole, and of the habits of thought which have made mankind selfish and cruel and cause this great and universal spirit of the will-to-change to manifest so powerfully and cruelly.

Các sự kiện và sự ngưng tụ trên cõi hồng trần được thúc đẩy và trở nên khả hữu thông qua các điểm tập trung năng lượng là những nhà độc tài thế giới, những chính khách thế giới, và những con người nổi bật ở mọi xứ sở, cũng như bởi các nhóm đang hoạt động tích cực trong mọi quốc gia vì mục đích riêng của họ hoặc—như thường xảy ra hơn—dưới ảnh hưởng của một lý tưởng nhóm hay minh triết nào đó cộng với tham vọng cá nhân, ý chí-quyền lực cá nhân và sự đề cao cá nhân. [135] Chúng ta gọi những người này là các nhà độc tài, các nhà mị dân, các lãnh tụ được truyền cảm hứng, hay những người công chính và minh triết, tùy theo hệ tư tưởng riêng, truyền thống, thái độ đối với đồng loại và sự huấn luyện chính trị, kinh tế và tôn giáo đặc thù của chúng ta. Nhưng tất cả những nhà lãnh đạo này chỉ đơn giản là những con người và giống như những người khác—duy tâm, sai lầm, yêu nước, vị ngã, dễ bị ảnh hưởng, ngu xuẩn, xảo quyệt, quyền lực, tập trung vào một mục tiêu hay tham vọng nào đó, có tầm nhìn rõ ràng và đồng thời có những phản ứng cận thị, tàn nhẫn hay minh triết tùy trường hợp—nhưng, xét đến cùng, là những phàm ngã phát triển cao. Họ đang được sử dụng để điều hành những thay đổi lớn và cần thiết và để làm thay đổi bộ mặt của nền văn minh. Những phương pháp sai lầm được sử dụng và những điều ác đã làm là lỗi của toàn thể nhân loại, và của những thói quen tư tưởng đã khiến loài người trở nên ích kỷ và tàn nhẫn, và làm cho tinh thần to lớn và phổ quát này của ý chí-thay đổi biểu lộ mạnh mẽ và tàn bạo đến thế.

Blame not the personalities involved or the men who produce these events before which we stand today bewildered and appalled. They are only the product of the past and the victims of the present. At the same time, they are the agents of destiny, the creators of the new order and the initiators of the new civilisation; they are the destroyers of what must be destroyed before humanity can go forward along the Lighted Way. They are the embodiment of the personality of humanity. Blame yourselves, therefore, for what is today transpiring and seek not to evade responsibility by placing it upon the shoulders of spectacular men or any statesmen, dictator or upon any group. Look not to one person or to one group of persons and accuse them of causing the present world condition. Look not also to any one person or group to bring liberation or to find a solution of the world problem. That is for humanity itself to do. Humanity must take action and will do so, when the right time comes. To recognise joint responsibility, joint mistakes, ancient errors of judgment, wrong attitudes and habits of thought, world-wide selfish purpose and intent, a universal spirit of aggression which, down the ages, has [136] influenced first one nation and then another, the tendency last century to crystallise and become static, the reactionary forces on every hand—these are universal qualities and no nation and no race is free of guilt or has entirely clean hands. Also, no one national group is purely wrong and evil or purely good and unselfish. There are mixed motives everywhere. Nationalism, aggression, selfishness and cruelty in all countries face a desire for world understanding, peaceful relations, and an unselfish and beneficent spirit also in all countries. The Forces of Light find their adherents and their workers in every country though some are subjected to greater handicaps in expression than others. So also do the Forces of Materialism. And in between these two great groups stand the masses—waiting for the emergence of fresh opportunity and new revelations.

Đừng đổ lỗi cho các phàm ngã liên hệ hay cho những người tạo ra các biến cố mà trước đó ngày nay chúng ta đứng bối rối và kinh hoàng. Họ chỉ là sản phẩm của quá khứ và là nạn nhân của hiện tại. Đồng thời, họ là những tác nhân của định mệnh, những người tạo ra trật tự mới và những người khởi xướng nền văn minh mới; họ là những kẻ hủy diệt điều phải bị hủy diệt trước khi nhân loại có thể tiến bước trên Con Đường được Soi Sáng. Họ là hiện thân của phàm ngã của nhân loại. Vì vậy, hãy tự trách mình về những gì đang diễn ra hôm nay và đừng tìm cách trốn tránh trách nhiệm bằng cách đặt nó lên vai những con người nổi bật hay bất cứ chính khách, nhà độc tài hay nhóm nào. Cũng đừng nhìn vào một người hay một nhóm người nào để buộc tội họ gây ra tình trạng thế giới hiện nay. Cũng đừng nhìn vào bất cứ một người hay nhóm nào để đem lại giải thoát hay tìm ra giải pháp cho vấn đề thế giới. Điều đó là việc của chính nhân loại. Nhân loại phải hành động và sẽ hành động khi thời điểm thích hợp đến. Nhận ra trách nhiệm chung, sai lầm chung, những lỗi phán đoán cổ xưa, những thái độ và thói quen tư tưởng sai lầm, mục đích và ý đồ ích kỷ trên toàn thế giới, một tinh thần xâm lược phổ quát mà qua các thời đại đã [136] ảnh hưởng trước hết đến quốc gia này rồi đến quốc gia khác, khuynh hướng của thế kỷ trước là kết tinh và trở nên tĩnh tại, các mãnh lực phản động ở khắp nơi—đó là những phẩm tính phổ quát và không quốc gia nào, không nhân loại nào thoát khỏi tội lỗi hay hoàn toàn sạch tay. Cũng vậy, không một nhóm quốc gia nào hoàn toàn sai lầm và xấu ác hay hoàn toàn tốt lành và vô ngã. Ở khắp nơi đều có những động cơ pha trộn. Chủ nghĩa dân tộc, sự xâm lược, ích kỷ và tàn nhẫn ở mọi quốc gia đang đối diện với khát vọng về sự thấu hiểu thế giới, các quan hệ hòa bình, và một tinh thần vô ngã và nhân từ cũng hiện diện trong mọi quốc gia. Các Mãnh Lực Ánh Sáng tìm thấy những người ủng hộ và những người hoạt động của mình trong mọi quốc gia, dù một số người bị đặt dưới những trở ngại biểu lộ lớn hơn những người khác. Các Mãnh Lực Duy Vật cũng vậy. Và ở giữa hai nhóm lớn này là quần chúng—đang chờ đợi sự xuất hiện của cơ hội mới và những mặc khải mới.

It is the universality of these conditions and the clear-cut issues that have made this period one of planetary opportunity and planetary initiation. Initiation is essentially a moving out from under ancient controls into the control of more spiritual and increasingly higher values. Initiation is an expansion of consciousness which leads to a growing recognition of the inner realities. It is equally the recognition of a renewed sense of the need for change and the wise engineering of these needed changes so that real progress can be made; the consciousness is expanded and becomes more generously and divinely inclusive and there is a fresh and more potent control by the soul as it assumes increasingly the direction of the life of the individual, of a nation and of the world.

Chính tính phổ quát của những điều kiện này và những vấn đề rõ rệt ấy đã khiến giai đoạn này trở thành một thời kỳ cơ hội hành tinh và điểm đạo hành tinh. Điểm đạo về bản chất là một sự bước ra khỏi sự kiểm soát cổ xưa để đi vào sự kiểm soát của những giá trị tinh thần hơn và ngày càng cao hơn. Điểm đạo là một sự mở rộng tâm thức dẫn đến sự nhận biết ngày càng tăng về các thực tại bên trong. Nó cũng là sự nhận biết một cảm thức mới về nhu cầu thay đổi và việc điều hành minh triết những thay đổi cần thiết này để tiến bộ thực sự có thể được thực hiện; tâm thức được mở rộng và trở nên bao gồm hơn một cách quảng đại và thiêng liêng, và có một sự kiểm soát mới mẻ và mạnh mẽ hơn của linh hồn khi linh hồn ngày càng đảm nhận sự chỉ đạo đời sống của cá nhân, của một quốc gia và của thế giới.

In the last analysis, and from the standpoint of the Hierarchy, the present conflict between the personality of humanity (expressing the material values as the dominating factor in life experience) and the soul of humanity (expressing the spiritual values as the dominating factor in human affairs) is identical with the conflict which takes place within a human being’s consciousness when he has reached the stage of discipleship and is faced with the problem of the pairs of opposites. This conflict is expressed in many [137] ways according to the point of view and the background of thought. It can be called the conflict between Christ and anti-Christ but not as those who usually employ those phrases understand them. No one nation is expressive of the spirit of anti-Christ, just as no one nation expresses the spirit of Christ. Christ and anti-Christ are the dualities of spirituality and materialism, both in the individual and in humanity as a whole. Or you can speak of God and the Devil with the same basic implications. For what is man himself but an expression of divinity (God) in a material form (the Devil), and what is matter but the medium through which divinity must eventually manifest in all its glory? But when that takes place, matter will no longer be a controlling factor but simply a medium of expression.

Xét đến cùng, và từ quan điểm của Thánh đoàn, cuộc xung đột hiện nay giữa phàm ngã của nhân loại (biểu lộ các giá trị vật chất như yếu tố chi phối trong kinh nghiệm sống) và linh hồn của nhân loại (biểu lộ các giá trị tinh thần như yếu tố chi phối trong các công việc của con người) đồng nhất với cuộc xung đột diễn ra trong tâm thức của một con người khi y đã đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử và đối diện với vấn đề các cặp đối đãi. Cuộc xung đột này được biểu lộ theo nhiều [137] cách tùy theo quan điểm và nền tảng tư tưởng. Nó có thể được gọi là cuộc xung đột giữa Đức Christ và phản-Christ nhưng không theo cách những người thường dùng các cụm từ ấy hiểu. Không một quốc gia nào biểu lộ tinh thần phản-Christ, cũng như không một quốc gia nào biểu lộ tinh thần của Đức Christ. Đức Christ và phản-Christ là các nhị nguyên tính của tinh thần và duy vật, cả trong cá nhân lẫn trong toàn thể nhân loại. Hoặc bạn có thể nói về Thượng đế và Quỷ dữ với cùng những hàm ý căn bản. Vì chính con người là gì nếu không phải là một biểu lộ của thiên tính (Thượng đế) trong một hình tướng vật chất (Quỷ dữ), và vật chất là gì nếu không phải là môi trường mà qua đó thiên tính cuối cùng phải biểu lộ trong tất cả vinh quang của nó? Nhưng khi điều đó diễn ra, vật chất sẽ không còn là một yếu tố kiểm soát mà chỉ đơn giản là một phương tiện biểu lộ.

The battle is therefore on between the form side of life and the soul. The Dweller on the Threshold (the threshold of divinity, my brothers) is humanity itself with its ancient habits of thought, its selfishness and greed. Humanity today stands face to face with the Angel of the Presence—the Soul Whose nature is love and light and inclusive understanding. The great problem today is which of these two will emerge the victor out of the conflict, and which of these two great agencies of life will determine humanity’s future and indicate the way which humanity will decide to go.

Vì vậy, trận chiến đang diễn ra giữa phương diện hình tướng của sự sống và linh hồn. Kẻ Chận Ngõ (ngưỡng cửa của thiên tính, Huynh đệ của Tôi) chính là nhân loại với những thói quen tư tưởng cổ xưa, sự ích kỷ và lòng tham của mình. Nhân loại ngày nay đang đứng đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện—Linh Hồn mà bản chất là tình thương, ánh sáng và sự thấu hiểu bao gồm. Vấn đề lớn ngày nay là trong hai bên này, bên nào sẽ xuất hiện như kẻ chiến thắng từ cuộc xung đột, và trong hai tác nhân lớn của sự sống này, tác nhân nào sẽ quyết định tương lai của nhân loại và chỉ ra con đường mà nhân loại sẽ quyết định đi theo.

The issues at stake are clear to all right-thinking people. Intolerance and an intense national pride and self-satisfaction can blind men to the facts of the case today, but there are enough people thinking clearly to make the future of right decision more probable than at any previous time in the history of the race.

Những vấn đề đang bị đặt vào thế nguy cấp đều rõ ràng đối với mọi người suy nghĩ đúng đắn. Sự bất khoan dung và lòng kiêu hãnh dân tộc mãnh liệt cùng sự tự mãn có thể làm mù mắt con người trước các sự kiện của tình hình ngày nay, nhưng có đủ số người đang suy nghĩ sáng suốt để khiến tương lai của quyết định đúng đắn có nhiều khả năng hơn bất cứ thời điểm nào trước đây trong lịch sử nhân loại.

Preparation for World Goodwill

Chuẩn Bị cho Thiện Chí Thế Giới

The causes of the present war are ancient. This historical sequence of the predisposing factors can be clearly traced in the exoteric records of all nations as well as in the esoteric records of the Hierarchy. The inherent human [138] qualities which have led to the development of the present war are well known. All who are conscious of and observers of the war within their own natures, between personality selfishness and the selflessness of the soul, are aware of the implications and the correspondences. Where then lies the solution? What must be done to arrest the fires of hate and of aggression, of revenge and of fear? What also must be done to prepare for that time when the rebuilding of the world of men and the inauguration of the new and better civilisation arrives? With this we might now briefly deal.

Nguyên nhân của cuộc chiến hiện nay là cổ xưa. Chuỗi lịch sử của các yếu tố tiền định này có thể được truy ra rõ ràng trong các ghi chép ngoại môn của mọi quốc gia cũng như trong các ghi chép nội môn của Thánh đoàn. Những phẩm tính cố hữu của con người [138] đã dẫn đến sự phát triển của cuộc chiến hiện nay đều đã được biết rõ. Tất cả những ai có ý thức và quan sát cuộc chiến trong chính bản chất mình, giữa sự ích kỷ của phàm ngã và tính vô ngã của linh hồn, đều nhận thức được những hàm ý và những tương ứng. Vậy thì giải pháp nằm ở đâu? Phải làm gì để chặn đứng những ngọn lửa hận thù và xâm lược, trả thù và sợ hãi? Cũng phải làm gì để chuẩn bị cho thời điểm mà việc tái thiết thế giới loài người và khai mở nền văn minh mới và tốt đẹp hơn sẽ đến? Giờ đây chúng ta có thể bàn ngắn gọn về điều này.

As regards active participation in the work to be done in preparing the world for the expression of goodwill, there is little to be done of an active exoteric nature at this time; it is necessary to wait with patience and to see what is going to happen and along what lines the activity of the nations will run. But there is very much to be done of an esoteric and a preparatory nature and it is this which I seek to impress upon your minds.

Về sự tham gia tích cực vào công việc phải làm để chuẩn bị thế giới cho sự biểu lộ của thiện chí, hiện nay có rất ít điều có thể làm theo tính chất ngoại môn tích cực; cần phải kiên nhẫn chờ đợi và xem điều gì sẽ xảy ra và hoạt động của các quốc gia sẽ diễn ra theo những đường hướng nào. Nhưng có rất nhiều điều phải làm theo tính chất nội môn và chuẩn bị, và chính điều này tôi tìm cách khắc sâu vào tâm trí các bạn.

Up to date and in spite of appearances, the Forces of Light are victorious and are definitely holding things steady. It is for this reason that nothing has yet quenched the spirit of goodwill and of sympathetic understanding which exists among the peoples of all nations, not excluding Germany; this has been the outstanding significant characteristic of the present conflict. There is little hate or vindictiveness to be found, and this fact constitutes the difference between this war and the last, in 1914. It indicates a triumph for the Forces of Light and in it lies the hope of the future. It is here, however, that the time factor must be considered, for a prolonged war may cause a change in this desirable attitude, and much drastic experience may produce deep psychological and unavoidable changes in human thought and action. This must be consciously offset. It has not yet occurred but it could happen and if it does much pain, terror, fearful anticipation, suffering and the agony entailed by the sight of suffering might eventually turn this goodwill into a [139] dynamic spirit of hate and revenge unless it is definitely and consciously offset. Groups who are adhering to the principles of the Forces of Light, who are bending every effort to end the spirit of aggression and to rid the world of the focal points for material influence and power, must yet carry forward the task of binding men and women of every nation together in a spirit of loving understanding; they must interpret nation to nation in terms of brotherhood and of the new order.

Cho đến nay và bất chấp bề ngoài, Các Mãnh Lực Ánh Sáng đang chiến thắng và chắc chắn đang giữ cho mọi sự ổn định. Chính vì lý do này mà chưa có gì dập tắt được tinh thần thiện chí và sự thấu hiểu cảm thông đang tồn tại giữa các dân tộc của mọi quốc gia, không loại trừ nước Đức; đây là đặc tính nổi bật và có ý nghĩa của cuộc xung đột hiện nay. Có rất ít hận thù hay lòng báo oán được tìm thấy, và sự kiện này tạo nên sự khác biệt giữa cuộc chiến này và cuộc chiến trước, vào năm 1914. Nó cho thấy một chiến thắng của Các Mãnh Lực Ánh Sáng và trong đó có niềm hy vọng của tương lai. Tuy nhiên, chính ở đây mà yếu tố thời gian phải được xét đến, vì một cuộc chiến kéo dài có thể gây ra sự thay đổi trong thái độ đáng mong muốn này, và nhiều kinh nghiệm khắc nghiệt có thể tạo ra những thay đổi tâm lý sâu sắc và không thể tránh khỏi trong tư tưởng và hành động của con người. Điều này phải được hóa giải một cách hữu thức. Điều đó chưa xảy ra nhưng có thể xảy ra, và nếu xảy ra thì nhiều đau đớn, kinh hoàng, sự chờ đợi đầy sợ hãi, đau khổ và nỗi thống khổ do chứng kiến đau khổ gây ra cuối cùng có thể biến thiện chí này thành một [139] tinh thần hận thù và trả thù năng động, trừ phi nó được hóa giải một cách rõ rệt và hữu thức. Những nhóm đang gắn bó với các nguyên lý của Các Mãnh Lực Ánh Sáng, đang dốc mọi nỗ lực để chấm dứt tinh thần xâm lược và giải thoát thế giới khỏi các điểm tập trung của ảnh hưởng và quyền lực duy vật, vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ kết nối những người nam và nữ của mọi quốc gia lại với nhau trong một tinh thần thấu hiểu đầy thương yêu; họ phải diễn giải quốc gia với quốc gia theo các thuật ngữ của tình huynh đệ và của trật tự mới.

This is no easy thing to do at this time. The astral or emotional bodies of human beings (which constitute the astral body of humanity as a whole) are today in a state of chaos, and are swept by ancient desires, ancient and deep-seated selfish attitudes and by ancient hatreds. The task is also complicated by the activity of the mental processes of man which is characterised by pronounced and developed illusions, by separative attitudes and by specious arguments. But there are, at the same time, enough people in the world who are responsive to the spirit of goodwill, of tolerant understanding, and animated by a desire for permanent right human relations.

Đây không phải là điều dễ làm vào lúc này. Các thể cảm dục hay cảm xúc của con người (vốn cấu thành thể cảm dục của toàn thể nhân loại) ngày nay đang ở trong tình trạng hỗn loạn, và bị cuốn đi bởi những ham muốn cổ xưa, những thái độ ích kỷ cổ xưa và ăn sâu, cùng những hận thù cổ xưa. Nhiệm vụ cũng bị làm cho phức tạp bởi hoạt động của các tiến trình trí tuệ của con người, vốn được đặc trưng bởi những ảo tưởng rõ rệt và phát triển, bởi những thái độ chia rẽ và bởi những lý lẽ ngụy biện. Nhưng đồng thời, trên thế giới vẫn có đủ số người đáp ứng với tinh thần thiện chí, sự thấu hiểu khoan dung, và được thúc đẩy bởi khát vọng về những mối quan hệ nhân loại đúng đắn và bền vững.

I have earlier suggested to you (A Treatise on the Seven Rays, Vol.II (Esoteric Psychology), page 647.) that it should be possible to have—at a later date—a world-wide recognition of a Day of Forgetfulness, of Forgiveness and of Fulfilment of the Biblical injunction to “forget the things which lie behind and to press forward” into the New Age, the new relationships and the new civilisation. For that time we can all begin to plan, and to work for that psychological moment wherein this idea can be presented. It will come immediately after the cessation of hostilities. But today and in every land, where possible, the peoples must be educated in this expression of human synthesis and human interrelation.

Trước đây tôi đã gợi ý với các bạn (“Luận về Bảy Cung”, Tập II (Tâm Lý Học Nội Môn), trang 647.) rằng về sau nên có thể có—một sự công nhận trên toàn thế giới về một Ngày Quên Lãng, Tha Thứ và Hoàn Thành lời huấn thị trong Kinh Thánh là “quên đi những điều ở phía sau và tiến bước” vào Kỷ nguyên Mới, những mối quan hệ mới và nền văn minh mới. Chúng ta đều có thể bắt đầu hoạch định và làm việc cho thời điểm tâm lý mà trong đó ý tưởng này có thể được trình bày. Nó sẽ đến ngay sau khi chiến sự chấm dứt. Nhưng ngày nay và ở mọi xứ sở, ở đâu có thể, dân chúng phải được giáo dục trong sự biểu lộ này của tổng hợp nhân loại và tương liên nhân loại.

It involves, however, an emphasising of the values to which I have referred earlier in this article. This is humanity’s [140] joint responsibility because of humanity’s general mistakes, and the ancient wrong attitudes and controls. It involves, consequently, a stepping down from the position of critics and assigners of responsibility to that of a joint shouldering of the stupendous task of changing present conditions and of instituting those reversals of policy which will make a united world order possible and beautiful. This is no easy task. It is one which calls all men and women of goodwill in the world today and challenges them to prepare whilst the conflict is on for what can be done when it is over.

Tuy nhiên, điều đó bao hàm việc nhấn mạnh các giá trị mà tôi đã đề cập trước đó trong bài viết này. Đây là [140] trách nhiệm chung của nhân loại vì những sai lầm chung của nhân loại, và những thái độ cùng sự kiểm soát sai lầm cổ xưa. Do đó, nó bao hàm việc bước xuống khỏi vị trí của những người chỉ trích và quy trách nhiệm để đi vào vị trí cùng nhau gánh vác nhiệm vụ to lớn là thay đổi các điều kiện hiện tại và thiết lập những sự đảo ngược chính sách sẽ làm cho một trật tự thế giới hợp nhất trở nên khả hữu và tốt đẹp. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Đó là nhiệm vụ kêu gọi tất cả những người nam và nữ thiện chí trên thế giới ngày nay và thách thức họ chuẩn bị, trong khi cuộc xung đột vẫn đang diễn ra, cho điều có thể được thực hiện khi nó chấm dứt.

I have given much in the past which can provide a platform of objectives and of methods. Nothing that I have outlined is now abrogated; only fulfilment is postponed. For seven critical years, it lay in the hands of the spiritually minded men of the world, in the hands of the Churches in all lands and of the men of goodwill and of the world aspirants so to work that the present conflict could have been avoided. But the spirit of Christ was lost in clerical organisation; emphasis has been laid upon technical theology; the spirit of goodwill was not expressed dynamically and practically, but theoretically and negatively; the aspirants of the world had no true sense of values but were content to give a little time to the spiritual life and to other people, but much time was lost in individual, personal aims. A spirit of inertia settled down upon the better inclined and upon the more understanding people; nothing that we could do served to arouse them to powerful action or to sacrifice personal temporary values to the lasting and universal values. The individual remained more important to himself than did the good of the whole.

Trước đây tôi đã đưa ra nhiều điều có thể cung cấp một nền tảng về mục tiêu và phương pháp. Không điều gì tôi đã phác họa nay bị bãi bỏ; chỉ có sự hoàn thành là bị trì hoãn. Trong bảy năm quyết định, điều đó nằm trong tay những người có tinh thần trên thế giới, trong tay các Giáo hội ở mọi xứ sở và những người thiện chí cùng những người chí nguyện của thế giới, để làm việc sao cho cuộc xung đột hiện nay có thể đã được tránh khỏi. Nhưng tinh thần của Đức Christ đã bị đánh mất trong tổ chức giáo quyền; sự nhấn mạnh đã được đặt vào thần học kỹ thuật; tinh thần thiện chí đã không được biểu lộ một cách năng động và thực tiễn, mà chỉ về mặt lý thuyết và tiêu cực; những người chí nguyện của thế giới không có ý thức chân thực về các giá trị mà bằng lòng dành một ít thời gian cho đời sống tinh thần và cho người khác, nhưng nhiều thời gian đã bị mất vào các mục tiêu cá nhân, riêng tư. Một tinh thần trì trệ đã phủ xuống những người có khuynh hướng tốt hơn và những người thấu hiểu hơn; không điều gì chúng tôi có thể làm đã đủ để đánh thức họ đến hành động mạnh mẽ hay hy sinh những giá trị cá nhân tạm thời cho những giá trị bền vững và phổ quát. Đối với chính mình, cá nhân vẫn quan trọng hơn lợi ích của toàn thể.

Be not over-distressed, my brothers. You are not alone in this but part of a vast number, if that is to you any real satisfaction.

Đừng quá đau buồn, Huynh đệ của Tôi. Bạn không đơn độc trong điều này mà là một phần của một số lượng rất lớn, nếu điều đó đem lại cho bạn chút an ủi thực sự nào.

But a renewed opportunity lies in front of you and it is of a practical nature, falling into definite spheres of work and of planned activity. You are asked, first of all, to [141] prepare for the great opportunity which will come at the close of this conflict, and

Nhưng một cơ hội mới đang ở trước mặt bạn và nó có tính thực tiễn, rơi vào những lĩnh vực công việc xác định và hoạt động có kế hoạch. Trước hết, các bạn được yêu cầu [141] chuẩn bị cho cơ hội lớn sẽ đến khi cuộc xung đột này kết thúc, và

1. To explain clearly to all people the cause which produces the opportunity and which is dedicated to the ending of the present state of affairs.

1. Giải thích rõ ràng cho mọi người nguyên nhân tạo ra cơ hội ấy và nguyên nhân ấy được hiến dâng cho việc chấm dứt tình trạng hiện nay.

2. To engineer some dramatic and universal event which will serve as the inspiration and the inauguration of the new era of goodwill and of right human relations.

2. Điều hành một biến cố đầy kịch tính và phổ quát nào đó sẽ phục vụ như nguồn cảm hứng và sự khai mở của kỷ nguyên mới của thiện chí và các mối quan hệ nhân loại đúng đắn.

Secondly, to keep up a steady process of right thought, right interpretation of current events and a right preparation whilst the war lasts, so that any weakening of the gained spirit of goodwill can be immediately offset, and so that understanding can grow in potency and not suffer obscuration. In order to bring this about, the following activities are suggested beginning with those which concern the individual worker.

Thứ hai, duy trì một tiến trình ổn định của tư tưởng đúng đắn, sự diễn giải đúng đắn các biến cố hiện thời và sự chuẩn bị đúng đắn trong khi chiến tranh còn kéo dài, để bất cứ sự suy yếu nào của tinh thần thiện chí đã đạt được có thể được hóa giải ngay lập tức, và để sự thấu hiểu có thể tăng trưởng về sức mạnh mà không bị che mờ. Để thực hiện điều này, các hoạt động sau đây được gợi ý, bắt đầu với những hoạt động liên quan đến người hoạt động cá nhân.

1. A close personal watch over every word said or written, so that nothing said or written by any of you will have in it hate or bias of the wrong kind and your minds and hearts will be kept clear of all undesirable reactions. This is the personal and practical thing to do and the difficult task set before each of you who read my words.

1. Theo dõi cá nhân chặt chẽ đối với mọi lời nói hay viết ra, để không điều gì được bất cứ ai trong các bạn nói hay viết chứa đựng hận thù hay thiên kiến sai lầm, và để tâm trí cùng trái tim các bạn được giữ cho trong sáng khỏi mọi phản ứng không mong muốn. Đây là điều cá nhân và thực tiễn phải làm, và là nhiệm vụ khó khăn đặt ra trước mỗi người trong các bạn đang đọc lời tôi.

2. Study and apprehend clearly the issues which lie behind this conflict, so that there is no inner wavering as to the rightness of the side on which your interests lie—the side of the Forces of Light. Parallel this with an understanding appreciation of the problem of those who are bewildered by the emphasis and the dynamic activities of those through whom the Forces of materialism are working. At the same time, also, kill out all hateful criticism in your minds.

2. Nghiên cứu và nắm bắt rõ ràng những vấn đề nằm sau cuộc xung đột này, để không có sự dao động nội tâm nào về tính đúng đắn của phía mà quyền lợi của bạn gắn liền—phía của Các Mãnh Lực Ánh Sáng. Song song với điều này là một sự đánh giá thấu hiểu đối với vấn đề của những người bị bối rối bởi sự nhấn mạnh và các hoạt động năng động của những người mà qua họ các Mãnh Lực Duy Vật đang hoạt động. Đồng thời, cũng hãy diệt trừ mọi sự chỉ trích đầy hận thù trong tâm trí các bạn.

3. Endeavour to use the following formula or mantram every day. It is a modernised and mystically worded version [142] of the one which was used widely in Atlantean days during the period of the ancient conflict of which the present is an effect. For many of you this mantram will be in the nature of a recovery of an old and well-known form of words:

3. Hãy cố gắng sử dụng công thức hay mantram sau đây mỗi ngày. Đây là một phiên bản hiện đại hóa và được diễn đạt theo lối thần bí [142] của công thức đã được dùng rộng rãi trong thời Atlantis trong giai đoạn của cuộc xung đột cổ xưa mà cuộc xung đột hiện nay là một kết quả. Đối với nhiều người trong các bạn, mantram này sẽ có tính chất của sự phục hồi một hình thức ngôn từ cũ và quen thuộc:

“The sons of men are one and I am one with them. I seek to love not hate: I seek to serve and not exact due service. I seek to heal, not hurt.

“Những người con của nhân loại là một và tôi là một với họ. Tôi tìm cách yêu thương chứ không hận thù; tôi tìm cách phụng sự chứ không đòi hỏi sự phụng sự chính đáng. Tôi tìm cách chữa lành, chứ không làm tổn thương.

“Let pain bring due reward of light and love. Let the soul control the outer form and life and all events, and bring to light the love which underlies the happenings of the time. Let vision come and insight; let the future stand revealed. Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone. Let love prevail. Let all men love.”

“Cầu mong đau khổ mang lại phần thưởng xứng đáng của ánh sáng và tình thương. Cầu mong linh hồn kiểm soát hình tướng bên ngoài và đời sống cùng mọi biến cố, và đưa ra ánh sáng tình thương làm nền tảng cho những sự việc của thời đại. Cầu mong linh thị và minh tri kiến xuất hiện; cầu mong tương lai đứng ra mặc khải. Cầu mong sự hợp nhất bên trong được chứng minh và các phân rẽ bên ngoài biến mất. Cầu mong tình thương ngự trị. Cầu mong mọi người yêu thương.”

These words may seem inadequate, but said with power and an understanding of their significance and with the potency of the mind and heart behind them, they can prove unbelievably potent in the life of the one who says them. They will produce also an effect in his environment, and the accumulated effects in the world, as you spread the knowledge of the formula, will be great and effective. It will change attitudes, enlighten the vision and lead the aspirant to fuller service and to a wider cooperation based upon sacrifice. My brothers, you cannot evade the sacrifice in the long run, even if you have evaded it until now.

Những lời này có thể có vẻ không đầy đủ, nhưng nếu được nói ra với mãnh lực và với sự thấu hiểu về ý nghĩa của chúng, cùng với năng lực của trí tuệ và trái tim ở phía sau, chúng có thể chứng tỏ mạnh mẽ đến khó tin trong đời sống của người nói ra chúng. Chúng cũng sẽ tạo ra một hiệu quả trong môi trường của y, và những hiệu quả tích lũy trong thế giới, khi các bạn truyền bá sự hiểu biết về công thức này, sẽ lớn lao và hữu hiệu. Nó sẽ thay đổi các thái độ, soi sáng tầm nhìn và dẫn người chí nguyện đến sự phụng sự đầy đủ hơn và sự hợp tác rộng lớn hơn dựa trên hy sinh. Huynh đệ của Tôi, về lâu dài bạn không thể né tránh sự hy sinh, dù cho đến nay bạn đã né tránh nó.

4. Then apply yourselves to the spreading of the use of the Great Invocation and help to carry forward the plan for distribution. The Great Invocation, as you will see in the next article which I am writing for your information, is a potent solar instrument designed to bring about changes and needed readjustments. It is so powerful that when it was suggested for general use in the world of men some opposition was evoked among the members of the Hierarchy because They feared its potent effects upon the unready, and undeveloped people. Its use has, however, been justified [143] and it is desired that its usefulness should be very greatly increased and its use far more widely spread.

4. Sau đó hãy áp dụng chính mình vào việc truyền bá việc sử dụng Đại Khấn Nguyện và giúp tiếp tục kế hoạch phân phối. Đại Khấn Nguyện, như bạn sẽ thấy trong bài viết kế tiếp mà tôi đang viết để cung cấp thông tin cho các bạn, là một công cụ thái dương mạnh mẽ được thiết kế để đem lại những thay đổi và những sự điều chỉnh cần thiết. Nó mạnh mẽ đến mức khi được đề nghị sử dụng rộng rãi trong thế giới loài người, đã gợi lên một số phản đối trong các thành viên của Thánh đoàn vì Các Ngài e ngại những hiệu quả mạnh mẽ của nó đối với những người chưa sẵn sàng và chưa phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng nó đã được chứng minh là chính đáng [143] và mong muốn rằng tính hữu ích của nó phải được gia tăng rất nhiều và việc sử dụng nó phải được truyền bá rộng rãi hơn nữa.

5. I would have you in your own way prepare for a major spiritual effort which is to take place when this conflict has worn itself out and some measure of peace and calm has come about. Each of you has your own sphere of influence and of contacts and each of you is in touch with similarly minded or enquiring people, with groups and churches, clubs, organisations and societies which are pledged to some form of effort towards human betterment, of goodwill effort, and of endeavour of some kind towards human welfare. Now is the time for much work to be done with the leaders and senior workers in such groups and with people who can be prepared by each of you for active effort when the right time comes. To this task I call each of you. Later you can swing these people into active goodwill work and to effort which will tend to world understanding and fusion. You can with them bring about the healing of the wounds of humanity which will be greatly needed and for which you can now prepare. You can get in touch with such people, keep records of names and addresses and capacity to serve and help, establish group contacts and so systematise your work that when the call goes out (as it did in 1936) there will be found available to the organisers a wealth of ready contacts and of interested and prepared people who will then work intelligently to establish the new order.

5. Tôi muốn các bạn, theo cách riêng của mình, chuẩn bị cho một nỗ lực tinh thần lớn sẽ diễn ra khi cuộc xung đột này đã tự hao mòn và một mức độ hòa bình cùng bình lặng nào đó đã xuất hiện. Mỗi người trong các bạn có phạm vi ảnh hưởng và tiếp xúc riêng, và mỗi người trong các bạn đều tiếp xúc với những người cùng chí hướng hay đang tìm hiểu, với các nhóm và giáo hội, câu lạc bộ, tổ chức và hội đoàn đã cam kết với một hình thức nỗ lực nào đó hướng tới sự cải thiện của con người, nỗ lực thiện chí, và một loại cố gắng nào đó hướng tới phúc lợi nhân loại. Bây giờ là lúc phải làm nhiều việc với các nhà lãnh đạo và những người hoạt động cao cấp trong các nhóm như thế, và với những người mà mỗi người trong các bạn có thể chuẩn bị cho nỗ lực tích cực khi thời điểm thích hợp đến. Tôi kêu gọi mỗi người trong các bạn vào nhiệm vụ này. Về sau các bạn có thể đưa những người này vào công việc thiện chí tích cực và vào nỗ lực có xu hướng dẫn đến sự thấu hiểu và dung hợp thế giới. Cùng với họ, các bạn có thể đem lại sự chữa lành những vết thương của nhân loại, điều sẽ rất cần thiết và cho điều đó các bạn có thể chuẩn bị ngay từ bây giờ. Các bạn có thể liên hệ với những người như thế, lưu giữ hồ sơ tên tuổi, địa chỉ và năng lực phụng sự cùng giúp đỡ, thiết lập các tiếp xúc nhóm và hệ thống hóa công việc của mình để khi lời kêu gọi được phát ra (như đã xảy ra năm 1936), những người tổ chức sẽ thấy sẵn có một kho tàng các tiếp xúc đã sẵn sàng và những người quan tâm, đã được chuẩn bị, rồi khi ấy sẽ làm việc một cách thông minh để thiết lập trật tự mới.

6. The instructions in my earlier pamphlets remain as before and should be carefully followed in preparation for a campaign at the close of hostilities. Mailing lists can be gradually brought alive by judicious correspondence and new lists can be compiled; the Great Invocation can be increasingly used if the method outlined by me is studied and rightly organised by each of you, and so the goodwill already present in the world can be brought to a point of dynamic livingness, ready for later use. But, my brothers, nothing can be done unless you do it. [144]

6. Những chỉ dẫn trong các tập sách nhỏ trước đây của tôi vẫn giữ nguyên như trước và cần được cẩn thận tuân theo để chuẩn bị cho một chiến dịch vào lúc chiến sự chấm dứt. Các danh sách gửi thư có thể dần dần được làm sống động bằng thư từ khôn khéo và các danh sách mới có thể được biên soạn; Đại Khấn Nguyện có thể ngày càng được sử dụng nếu phương pháp tôi đã phác họa được nghiên cứu và được mỗi người trong các bạn tổ chức đúng đắn, và như vậy thiện chí vốn đã hiện diện trong thế giới có thể được đưa đến một điểm sống động năng động, sẵn sàng cho việc sử dụng về sau. Nhưng, Huynh đệ của Tôi, không điều gì có thể được thực hiện trừ phi các bạn làm điều đó. [144]

THE GREAT INVOCATION

ĐẠI KHẤN NGUYỆN

Stanza One

Bài kệ Một

Let the Forces of Light bring illumination to all mankind.

Cầu mong Các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho toàn thể nhân loại.

Let the Spirit of Peace be spread abroad.

Cầu mong Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi.

May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.

Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong một tinh thần hợp tác.

May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.

Cầu mong sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này.

Let power attend the efforts of the Great Ones.

Cầu mong quyền năng đi cùng những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.

So let it be and help us to do our part.

Cầu mong điều ấy được thành tựu và giúp chúng ta làm phần việc của mình.

OCTOBER 1939

THÁNG MƯỜI 1939

In my last article, I suggested giving you some facts anent the Great Invocation and some explanation of its significance and meanings. These may enable the occult students in the world today to use it with greater fervour and with greater understanding and, consequently, with greater success.

Trong bài viết trước, tôi đã gợi ý sẽ cung cấp cho các bạn một số sự kiện liên quan đến Đại Khấn Nguyện và một số giải thích về ý nghĩa và các tầng nghĩa của nó. Những điều này có thể giúp các đạo sinh huyền bí học trên thế giới ngày nay sử dụng nó với nhiệt tâm lớn hơn và với sự thấu hiểu lớn hơn, và do đó với thành công lớn hơn.

There are several such mantric formulas and Words of Power in use by such students but they fail to accomplish very much because the person using them has no real understanding of their import and purpose and is usually so focussed in his emotional, aspirational, astral nature that all that he says and does (in connection with such Words of Power) is entirely innocuous and futile. Words of Power, ancient mantrams (such as the Lord’s Prayer) and the Great Invocation are only effective if used upon the mental plane and with the power of a controlled mind—focussed on their intent and meaning—behind the spoken effort. They then become potent. When said with the power of the soul as well as with the directed attention of the mind, they automatically become dynamically effective.

Có một số công thức mantram và Quyền năng từ như thế được các đạo sinh ấy sử dụng nhưng chúng không đạt được bao nhiêu vì người sử dụng chúng không có sự thấu hiểu thực sự về tầm quan trọng và mục đích của chúng, và thường quá tập trung trong bản chất cảm xúc, chí nguyện, cảm dục của mình đến nỗi mọi điều y nói và làm (liên quan đến những Quyền năng từ như thế) hoàn toàn vô hại và vô hiệu. Các Quyền năng từ, các mantram cổ xưa (như Kinh Lạy Cha) và Đại Khấn Nguyện chỉ hữu hiệu nếu được sử dụng trên cõi trí và với quyền năng của một trí tuệ được kiểm soát—tập trung vào ý định và ý nghĩa của chúng—ở phía sau nỗ lực được phát ngôn. Khi ấy chúng trở nên mạnh mẽ. Khi được nói ra với quyền năng của linh hồn cũng như với sự chú tâm có định hướng của trí tuệ, chúng tự động trở nên hữu hiệu một cách năng động.

Students all the world over have for years used the Sacred Word, and have sounded the O.M. with great diligence. I would like here to ask: With what results? I myself will reply. With practically no results except a slight stimulation of the aspiration and a small awakening of the creative imagination. This means that the results achieved have had effect only within the aura of the person concerned and have not penetrated into his environment or produced any recognisable effects. The O.M. is potent and [145] dynamically effective when rightly used and will produce changes, destroy that which must be eliminated or ended, and will build in, by attraction and consolidation that which is desired into the fabric of the group life, producing incidentally (though none the less certainly) needed changes and the wise reconstruction of the individual life. Ponder upon this.

Trong nhiều năm, các đạo sinh khắp thế giới đã sử dụng Linh từ Thiêng liêng, và đã xướng O.M. với sự chuyên cần lớn. Ở đây tôi muốn hỏi: Với kết quả gì? Chính tôi sẽ trả lời. Hầu như không có kết quả gì ngoại trừ một sự kích thích nhẹ đối với khát vọng và một sự thức tỉnh nhỏ của sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này có nghĩa là các kết quả đạt được chỉ có tác dụng trong hào quang của người liên hệ và không thâm nhập vào môi trường của y hay tạo ra bất kỳ hiệu quả có thể nhận biết nào. O.M. là mạnh mẽ và [145] hữu hiệu một cách năng động khi được sử dụng đúng đắn, và sẽ tạo ra những thay đổi, hủy diệt điều phải bị loại bỏ hay chấm dứt, và sẽ xây dựng vào, bằng sự hấp dẫn và củng cố, điều được mong muốn vào kết cấu của đời sống nhóm, đồng thời tạo ra (dù không kém phần chắc chắn) những thay đổi cần thiết và sự tái thiết minh triết của đời sống cá nhân. Hãy suy ngẫm về điều này.

If the above is true of the O.M. and of its group effects, it is infinitely more true of the Great Invocation. Words of Power (and this is true also of the O.M.) are all of second ray origin. This is the ray of the manifestation of consciousness. They are, therefore, intended for soul use because the soul is the expression of the second aspect of divinity, and only the soul can really employ these Words and sounds and thus produce the desired results which are always in line with the divine Plan. It is frequently forgotten that they must be used by the soul in a dynamic manner, involving the serious recognition of the will aspect. The Great Invocation, the O.M. and all such Words of Power must go forth from the soul (whose nature is love and whose purpose is solely group good), backed by or “occultly propelled forth” (to use a translation of an almost untranslatable occult idea) by the dynamic will aspect, and carried outwards as an integrated thoughtform upon a stream of living, illumined mental substance. This process therefore brings into activity the will, the love and the intelligence of the man who is using these words and formulas. Frequently, however, an hiatus occurs even when a man has integrated these three controlling factors within himself as far as he is able to do so at his particular point in evolution. All that he has succeeded in doing is the retaining of the created thoughtform upon the mental plane; he fails to make its presence felt upon the physical plane and to achieve the desired results because his brain (the lower receiving and distributing centre within the head) is incapable of the needed dual activity—retaining awareness of the intent, meaning and purpose of the formula being used and, at the same time, carrying on the task of sending forth the potency, [146] hidden yet conveyed by the Words or sounds. These two activities must be carried on simultaneously by the soul on its own plane through the medium of the mind and the brain. Here again is one of the objectives of all meditation work but one which is not emphasised as it is a sequential happening and not an objective. Effectiveness is, therefore, dependent upon a grasp of the above facts and a developed and trained integration between soul, mind, desire, brain and the spoken Word or sound.

Nếu điều trên là đúng đối với O.M. và các hiệu quả nhóm của nó, thì điều đó còn đúng hơn vô hạn đối với Đại Khấn Nguyện. Các Quyền năng từ (và điều này cũng đúng với O.M.) đều có nguồn gốc từ cung hai. Đây là cung của sự biểu hiện của tâm thức. Vì vậy, chúng được dành cho linh hồn sử dụng, bởi vì linh hồn là biểu hiện của phương diện thứ hai của thiên tính, và chỉ linh hồn mới thực sự có thể sử dụng các Linh từ và âm thanh này, nhờ đó tạo ra những kết quả mong muốn vốn luôn phù hợp với Thiên Cơ thiêng liêng. Người ta thường quên rằng chúng phải được linh hồn sử dụng một cách năng động, bao hàm sự thừa nhận nghiêm túc phương diện ý chí. Đại Khấn Nguyện, O.M. và mọi Quyền năng từ như thế phải phát ra từ linh hồn (mà bản chất là bác ái và mục đích chỉ duy nhất là thiện ích nhóm), được hậu thuẫn hay “được phóng ra một cách huyền bí” (dùng một bản dịch của một ý niệm huyền bí hầu như không thể dịch được) bởi phương diện ý chí năng động, và được mang ra bên ngoài như một hình tư tưởng tích hợp trên một dòng chất liệu trí tuệ sống động, được soi sáng. Vì vậy, tiến trình này đưa vào hoạt động ý chí, bác ái và trí tuệ của con người đang sử dụng các từ ngữ và công thức này. Tuy nhiên, thường xảy ra một khoảng gián đoạn ngay cả khi một người đã tích hợp ba yếu tố kiểm soát này trong chính mình đến mức y có thể làm được ở điểm tiến hoá riêng của mình. Tất cả những gì y đã thành công làm được chỉ là giữ hình tư tưởng đã tạo ra trên cõi trí; y không làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần và không đạt được các kết quả mong muốn, bởi vì bộ não của y (trung tâm tiếp nhận và phân phối thấp hơn trong đầu) không có khả năng thực hiện hoạt động kép cần thiết—vừa duy trì nhận biết về ý định, ý nghĩa và mục đích của công thức đang được sử dụng, vừa đồng thời tiếp tục nhiệm vụ phát ra mãnh lực, [146] ẩn tàng nhưng được chuyên chở bởi các Linh từ hay âm thanh. Hai hoạt động này phải được linh hồn tiến hành đồng thời trên cõi riêng của nó qua trung gian của trí tuệ và bộ não. Ở đây lại là một trong những mục tiêu của mọi công việc tham thiền, nhưng là mục tiêu không được nhấn mạnh vì đó là một diễn tiến tuần tự chứ không phải một mục tiêu. Vì vậy, hiệu quả tùy thuộc vào sự nắm bắt các sự kiện trên và vào một sự tích hợp đã phát triển và được rèn luyện giữa linh hồn, trí tuệ, dục vọng, bộ não và Linh từ hay âm thanh được phát ra.

What I am here telling you refers not only to the use of the Great Invocation but also to the daily and constant use of the Sacred Word by occult students and aspirants in their daily meditation. They could change their lives, reorient their life purpose and focus, and achieve spiritual unfoldment and expansion if they could use the OM as it should be used. The Great Invocation, rightly used by the many hundred thousand people who have already attempted to use it, could reorient the consciousness of humanity, stabilise men in spiritual being, disrupt and rebuild the planetary thoughtform which men have created in the past and which has had (and is having) such disastrous and cataclysmic results, and open the door into the New Age, thus ushering in the new and better civilisation. This could be done so rapidly, that the needed changes would come about almost overnight; the present reign of horror would end and the race of men could settle down to a life of group goodwill, individual harmlessness and right human relations.

Điều tôi đang nói với các bạn ở đây không chỉ liên quan đến việc sử dụng Đại Khấn Nguyện mà còn liên quan đến việc sử dụng hằng ngày và liên tục Linh từ Thiêng liêng bởi các đạo sinh huyền bí học và những người chí nguyện trong bài tham thiền hằng ngày của họ. Họ có thể thay đổi đời sống mình, định hướng lại mục đích và điểm tập trung của đời sống mình, và đạt được sự khai mở và mở rộng tinh thần nếu họ có thể sử dụng OM như nó cần phải được sử dụng. Đại Khấn Nguyện, nếu được sử dụng đúng đắn bởi nhiều trăm ngàn người đã từng cố gắng dùng nó, có thể định hướng lại tâm thức của nhân loại, làm cho những người nam và nữ ổn định trong bản thể tinh thần, phá vỡ rồi tái kiến tạo hình tư tưởng hành tinh mà con người đã tạo ra trong quá khứ và đã gây ra (và đang gây ra) những kết quả tai hại và mang tính đại biến động như thế, đồng thời mở cánh cửa đi vào Kỷ Nguyên Mới, nhờ đó khai mở nền văn minh mới và tốt đẹp hơn. Điều này có thể được thực hiện nhanh đến mức những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra gần như chỉ sau một đêm; triều đại kinh hoàng hiện nay sẽ chấm dứt và nhân loại có thể an định vào một đời sống của thiện chí nhóm, tính vô tổn hại cá nhân và những tương quan nhân loại đúng đắn.

Nevertheless, for your encouragement, I would state that the use of it has materially hastened world events, even though it has definitely stirred up a great deal of the trouble and brought it into manifestation upon the physical plane. The basically selfish purpose (even if unrecognised) of those who have used the Great Invocation has served to stimulate the selfish purposes of the forces of materialism. I would ask you: How many used the Great Invocation in a purely detached, spiritually potent and fully understanding manner? The merest handful. How many sent forth the Great Invocation in a spirit of pure love and with a completely [147] unbiased attitude? Very few indeed. How many sounded it out through the medium of a controlled mind, with a recognition and deep belief that it embodied the will of the planetary Logos and must, therefore, become dynamically effective upon the physical plane? Hardly more than a tiny handful. Most of those who used it were intrigued by its novelty, or felt it to be comprehensive though in an unrealisable manner, or considered it must be occultly effective because they heard that it emanated from a member of the Hierarchy, was used by the occult Hierarchy of the planet, and was endorsed by those they trusted, or because—foremost reason of all—anything that could make the world nicer, more comfortable, happier and provide eventually easier living conditions must be at least tried; it did not take long to say and was probably well worth doing. But the dynamic power behind the effort in individual cases has often been personal self-interest, distress at the existing terrible and unhappy world conditions and an emotional reaction at pain and horror and fear. In many ways, this has been a normal reaction to world tension and was to be expected. The standard that I have indicated above is, I well know, too high and too impossible for the average aspirant, and most people are average. But the world need is such that they must now swing out of the normal and, for the sake of service, heighten their consciousness and work more definitely from a higher plane of awareness.

Tuy nhiên, để khích lệ các bạn, tôi muốn nói rằng việc sử dụng nó đã thúc đẩy đáng kể các biến cố thế giới, mặc dù nó chắc chắn cũng đã khuấy động rất nhiều rắc rối và đưa chúng biểu hiện trên cõi hồng trần. Mục đích căn bản ích kỷ (dù không được nhận ra) của những người đã sử dụng Đại Khấn Nguyện đã phục vụ cho việc kích thích các mục đích ích kỷ của các lực lượng duy vật. Tôi muốn hỏi các bạn: Có bao nhiêu người đã sử dụng Đại Khấn Nguyện theo cách hoàn toàn tách rời, đầy mãnh lực tinh thần và với sự thấu hiểu trọn vẹn? Chỉ là một nhúm rất nhỏ. Có bao nhiêu người đã phát ra Đại Khấn Nguyện trong tinh thần bác ái thuần khiết và với một thái độ hoàn toàn [147] vô tư? Quả thật là rất ít. Có bao nhiêu người đã xướng nó qua trung gian của một trí tuệ được kiểm soát, với sự nhận biết và niềm tin sâu xa rằng nó thể hiện ý chí của Hành Tinh Thượng đế và vì vậy phải trở nên hữu hiệu một cách năng động trên cõi hồng trần? Hầu như không hơn một nhúm rất nhỏ. Phần lớn những người sử dụng nó bị hấp dẫn bởi tính mới lạ của nó, hoặc cảm thấy nó bao quát dù theo một cách không thể chứng nghiệm, hoặc cho rằng nó hẳn phải hữu hiệu một cách huyền bí vì họ nghe nói rằng nó phát xuất từ một thành viên của Thánh đoàn, được Huyền Giai huyền bí của hành tinh sử dụng, và được những người họ tin cậy tán thành, hoặc bởi vì—lý do hàng đầu hơn hết—bất cứ điều gì có thể làm cho thế giới dễ chịu hơn, thoải mái hơn, hạnh phúc hơn và cuối cùng đem lại điều kiện sống dễ dàng hơn thì ít nhất cũng phải được thử; nói nó cũng không mất bao lâu và có lẽ rất đáng làm. Nhưng quyền năng năng động đứng sau nỗ lực trong các trường hợp cá nhân thường là tư lợi cá nhân, sự đau khổ trước những điều kiện thế giới khủng khiếp và bất hạnh hiện có, và phản ứng cảm xúc trước đau đớn, kinh hoàng và sợ hãi. Theo nhiều cách, đây là một phản ứng bình thường trước sự căng thẳng của thế giới và là điều có thể dự đoán. Tiêu chuẩn mà tôi đã nêu trên, tôi biết rõ, là quá cao và quá bất khả đối với người chí nguyện trung bình, mà phần lớn mọi người đều là trung bình. Nhưng nhu cầu của thế giới là như vậy nên giờ đây họ phải vươn ra khỏi cái bình thường và, vì mục đích phụng sự, nâng cao tâm thức của mình và làm việc rõ rệt hơn từ một cõi nhận biết cao hơn.

I am seeking today all over the world for a group of aspirants and disciples who can and will use the Great Invocation in the right way and who will be willing, consequently, to be trained to do so. In this way there will be a group upon the physical plane and in everyday life who will be able to combine their efforts with those of the Hierarchy and thus produce an effective use of the Great Invocation with its stupendous results.

Ngày nay, trên khắp thế giới, tôi đang tìm kiếm một nhóm người chí nguyện và đệ tử có thể và sẽ sử dụng Đại Khấn Nguyện theo đúng cách, và do đó sẽ sẵn lòng được huấn luyện để làm như vậy. Bằng cách này sẽ có một nhóm trên cõi hồng trần và trong đời sống hằng ngày có thể kết hợp nỗ lực của họ với nỗ lực của Thánh đoàn và nhờ đó tạo ra việc sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách hữu hiệu với những kết quả phi thường của nó.

I would remind you that for the purpose of developing human will and human freedom of action, motivated by group consciousness, the Hierarchy chooses to produce the desired unfoldments and changes upon the physical plane [148] only through the medium of a conscious and awakening humanity. Such a humanity (and it is rapidly coming to this state of awareness through joint pain and suffering) will be impressed by and responsive to the directed thought of the guiding Elder Brothers of the race, but will be free at all times to reject that impression and to proceed as they personally may choose. There is no authoritative control over the minds of men assumed or cultivated by the Hierarchy; all aspirants and disciples are free to choose a different way to the one suggested if they so prefer, or if they are unconvinced of the advisability of the indicated method of work, or fear the arduous task of carrying forward the stage of the plan which has been indicated to them, or if they shirk the discipline implied and required by those who seek to make man correctly responsive to spiritual contact and teaching and so able rightly to interpret the intent of the Hierarchy.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng, nhằm mục đích phát triển ý chí con người và tự do hành động của con người, được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm, Thánh đoàn chọn tạo ra những sự khai mở và thay đổi mong muốn trên cõi hồng trần [148] chỉ qua trung gian của một nhân loại hữu thức và đang thức tỉnh. Một nhân loại như thế (và nhân loại đang nhanh chóng tiến đến trạng thái nhận biết này qua đau đớn và khổ đau chung) sẽ được ghi nhận ấn tượng bởi và đáp ứng với tư tưởng được định hướng của các Huynh Trưởng dẫn dắt nhân loại, nhưng luôn luôn tự do bác bỏ ấn tượng đó và tiến hành theo cách mà cá nhân họ có thể chọn. Không có sự kiểm soát có thẩm quyền nào đối với trí tuệ con người được Thánh đoàn giả định hay nuôi dưỡng; mọi người chí nguyện và đệ tử đều tự do chọn một con đường khác với con đường được gợi ý nếu họ thích như vậy, hoặc nếu họ không bị thuyết phục về tính thích đáng của phương pháp làm việc đã được chỉ ra, hoặc sợ nhiệm vụ gian khổ là tiếp tục giai đoạn của kế hoạch đã được chỉ cho họ, hoặc nếu họ né tránh kỷ luật được hàm ý và đòi hỏi bởi những người tìm cách làm cho con người đáp ứng đúng đắn với sự tiếp xúc và giáo huấn tinh thần, nhờ đó có thể diễn giải đúng ý định của Thánh đoàn.

Ability to use the Great Invocation so that it may be effective can be developed if those who are working along the lines of true meditation can make a beginning by the right use of the Sacred Word, which does not require such a sustained effort in occult concentration. They must learn to breathe it forth in the manner I have indicated above when speaking of the Great Invocation, and must also learn to gauge its results in their individual lives, thus viewing those lives from the angle of the trained spiritual Observer.

Khả năng sử dụng Đại Khấn Nguyện sao cho nó có thể hữu hiệu có thể được phát triển nếu những người đang làm việc theo đường lối tham thiền chân chính có thể bắt đầu bằng việc sử dụng đúng đắn Linh từ Thiêng liêng, vốn không đòi hỏi một nỗ lực tập trung huyền bí bền bỉ như vậy. Họ phải học cách thở nó ra theo cách tôi đã chỉ ra ở trên khi nói về Đại Khấn Nguyện, và cũng phải học cách đo lường các kết quả của nó trong đời sống cá nhân của mình, nhờ đó nhìn đời sống ấy từ góc độ của Nhà Quan Sát tinh thần đã được rèn luyện.

I would like to touch briefly and for a few minutes upon the significance of the entire process and method of invocation.

Tôi muốn đề cập ngắn gọn trong ít phút đến ý nghĩa của toàn bộ tiến trình và phương pháp khẩn cầu.

Much has been said and written in the past by the curious investigator and by those engaged in magical work of any kind anent the use of invocation as it applies to elemental forces and subhuman agents, with the consequent evocation of active agents and responsible energies of some kind or another upon the physical plane. What is oft forgotten is that this process consists entirely of the production of contact and subsequent control of the forces of earth, water, fire and air. This is one of the aims of the magical [149] workers but it concerns material nature and the control of substance and, in the realm of the lower occultism, is allied to the invocation and evocation of money, good health and the tangible material results as practised in the realm of mysticism by many schools of thought. Note this, for it holds a clue to the relation of occultism and mysticism upon the lower levels of consciousness and indicates the need of both groups to shift their focus of interest and their emphasis on to the higher and more spiritual values. The control of the natural forces and the evocation of the desired material rewards will arrive normally and inevitably but as secondary effects; they will depend also upon the karma or destiny of man recognised and considered, and the man will escape the danger of being himself controlled and motivated by the forces of materialism, letting in—as this condition must—much that is evil and dangerous.

Trong quá khứ, nhà khảo cứu hiếu kỳ và những người dấn thân vào công việc huyền thuật dưới bất kỳ hình thức nào đã nói và viết rất nhiều về việc sử dụng sự khẩn cầu khi nó được áp dụng cho các mãnh lực hành khí và các tác nhân dưới nhân loại, với sự gợi lên tiếp theo của các tác nhân hoạt động và các năng lượng có trách nhiệm thuộc loại này hay loại khác trên cõi hồng trần. Điều thường bị quên là tiến trình này hoàn toàn bao gồm việc tạo ra sự tiếp xúc và sự kiểm soát tiếp theo đối với các lực của đất, nước, lửa và khí. Đây là một trong những mục tiêu của những người hoạt động huyền thuật [149] nhưng nó liên quan đến bản chất vật chất và sự kiểm soát chất liệu, và trong lĩnh vực huyền bí học thấp hơn, nó liên kết với sự khẩn cầu và gợi lên tiền bạc, sức khỏe tốt và các kết quả vật chất hữu hình như được thực hành trong lĩnh vực thần bí học bởi nhiều trường phái tư tưởng. Hãy lưu ý điều này, vì nó nắm giữ một đầu mối về mối liên hệ giữa huyền bí học và thần bí học trên các cấp độ thấp của tâm thức và chỉ ra nhu cầu của cả hai nhóm phải chuyển điểm tập trung quan tâm và sự nhấn mạnh của họ sang các giá trị cao hơn và tinh thần hơn. Sự kiểm soát các lực tự nhiên và sự gợi lên các phần thưởng vật chất mong muốn sẽ đến một cách bình thường và tất yếu, nhưng như những hiệu quả thứ yếu; chúng cũng sẽ tùy thuộc vào nghiệp quả hay số mệnh của con người được nhận biết và cân nhắc, và con người sẽ thoát khỏi nguy cơ bị chính các lực lượng duy vật kiểm soát và thúc đẩy, qua đó—như tình trạng này tất phải làm—đưa vào nhiều điều xấu xa và nguy hiểm.

The invocation, evocation and resultant activity of the Hierarchy and of those Forces, Energies and Beings Who are not controlled by matter in any way, or by substance (the lower pole of manifestation) but Who are related to the positive spiritual pole is a new activity, and as yet relatively an untried experiment on the part of humanity and the formulas unknown. Of what use was it to impart the formulas to humanity when it was as yet controlled by the lower values and unable to lay hold upon the soul aspect and to function on that level of consciousness whereon the soul is found. Only those can use the formulas effectively who live, work, think and feel as souls, which means ever in group terms.

Sự khẩn cầu, gợi lên và hoạt động kết quả của Thánh đoàn và của những Mãnh lực, Năng lượng và Đấng không bị vật chất kiểm soát theo bất kỳ cách nào, hay bởi chất liệu (cực thấp của biểu hiện), mà có liên hệ với cực tinh thần dương tính, là một hoạt động mới, và cho đến nay vẫn còn là một thử nghiệm tương đối chưa được nhân loại thực hiện, còn các công thức thì chưa được biết đến. Có ích gì khi truyền đạt các công thức cho nhân loại trong khi nhân loại vẫn còn bị các giá trị thấp hơn kiểm soát và không thể nắm bắt phương diện linh hồn cũng như hoạt động trên cấp độ tâm thức nơi linh hồn được tìm thấy? Chỉ những ai sống, làm việc, suy nghĩ và cảm nhận như các linh hồn, nghĩa là luôn luôn theo các thuật ngữ nhóm, mới có thể sử dụng các công thức một cách hữu hiệu.

Today, however, there are those in every land who are rapidly becoming aware of the soul as a controlling factor in consciousness, who respond to world affairs and conditions increasingly as souls, and who can, therefore, be trained to work upon the physical plane. When this is so, it becomes possible to impart certain of these Words of Power and mantrams and to institute that new and potent activity which will bring the Hierarchy and Humanity into conscious and direct cooperation, as well as Shamballa and certain great [150] Forces which are interplanetary or solar, and also great cosmic Energies. It is now possible to discover those who—being free within themselves and who are learning rapidly to be detached and selfless—can institute and carry forward the task of invoking these higher spiritual forces, thus reinforcing the efforts of the Great White Lodge. It is this process of spiritual invocation which will motivate the new and coming world religion. This is not magical invocation, as man understands it, and which is concerned with the invocation and control of the substantial and elemental forces of the manifested world, but the invocation which will evoke contact with the spiritual Lives and the divine embodied Energies as well as with the Hierarchy (which is Their intermediary) in order to bring about the manifestation on earth of the soul of humanity and the qualities of the subjective and inner divine life which all outer forms veil. This is now for the first time possible in the life of the planet.

Tuy nhiên, ngày nay có những người ở mọi quốc gia đang nhanh chóng trở nên nhận biết linh hồn như một yếu tố kiểm soát trong tâm thức, những người ngày càng đáp ứng với các sự vụ và điều kiện thế giới như các linh hồn, và vì vậy có thể được huấn luyện để làm việc trên cõi hồng trần. Khi điều này xảy ra, việc truyền đạt một số Quyền năng từ và mantram này trở nên khả thi, và thiết lập hoạt động mới và đầy mãnh lực đó, hoạt động sẽ đưa Thánh đoàn và Nhân loại vào sự hợp tác hữu thức và trực tiếp, cũng như đưa Shamballa và một số [150] Mãnh lực lớn mang tính liên hành tinh hay thái dương, và cả các Năng lượng vũ trụ vĩ đại, vào đó. Giờ đây có thể tìm ra những người—vì được tự do trong chính mình và đang nhanh chóng học cách tách rời và vô ngã—có thể khởi xướng và tiếp tục nhiệm vụ khẩn cầu các lực tinh thần cao hơn này, nhờ đó tăng cường các nỗ lực của Thánh đoàn. Chính tiến trình khẩn cầu tinh thần này sẽ thúc đẩy tôn giáo thế giới mới đang đến. Đây không phải là sự khẩn cầu huyền thuật như con người hiểu, vốn liên quan đến việc khẩn cầu và kiểm soát các lực chất liệu và hành khí của thế giới biểu hiện, mà là sự khẩn cầu sẽ gợi lên sự tiếp xúc với các Sự Sống tinh thần và các Năng lượng thiêng liêng nhập thể cũng như với Thánh đoàn (là trung gian của Các Ngài), nhằm đem lại sự biểu hiện trên trái đất của linh hồn nhân loại và các phẩm tính của sự sống thiêng liêng chủ quan và bên trong mà mọi hình tướng bên ngoài đều che phủ. Điều này hiện nay lần đầu tiên trở nên khả thi trong đời sống của hành tinh.

The objective of these processes of invocation is threefold:

Mục tiêu của các tiến trình khẩn cầu này là tam phân:

1. To invoke the soul of humanity and so bring about its freer expression upon the physical plane. This can be brought about in two ways:

1. Khẩn cầu linh hồn của nhân loại và nhờ đó đem lại sự biểu hiện tự do hơn của nó trên cõi hồng trần. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách:

a. The stimulation of the souls of men everywhere by the increased inflow of the Christ principle of love, which will express itself in world understanding, goodwill, cooperation, and peace.

a. Kích thích các linh hồn của con người ở khắp nơi bằng sự tuôn đổ gia tăng của nguyên khí Christ của bác ái, nguyên khí sẽ biểu hiện thành sự thấu hiểu thế giới, thiện chí, hợp tác và hòa bình.

b. The setting up of a vibration within humanity itself of such potency that it will magnetically attract a response from the waiting, watching Hierarchy and bring about a much closer and likewise conscious rapport between the two planetary centres, the Hierarchy and Humanity.

b. Thiết lập trong chính nhân loại một rung động có mãnh lực đến mức nó sẽ thu hút bằng từ tính một sự đáp ứng từ Thánh đoàn đang chờ đợi và quan sát, và đem lại một mối tương giao gần gũi hơn nhiều và cũng hữu thức giữa hai trung tâm hành tinh, Thánh đoàn và Nhân loại.

This is called the invocation of the Great White Lodge. Much of this invocation of the Christ principle is carried forward by true believers in all lands (Christian and non-Christian) who address themselves to the Christ, no matter under what name they recognise Him and then, with love in their hearts to Him and their fellowmen, seek to ameliorate [151] world conditions, end hatred and misery and demonstrate goodwill everywhere. This refers to the first stage of evoking the response to love and understanding in human hearts and minds as the result of the invocation of the Christ and of the Christ principle. Ponder on these words and see on every hand the process going forward. Esoteric students are apt to overestimate the effectiveness of the work that they are doing. The focussed aspiration and the unselfish struggle to serve which characterises millions of people in the world who do pray to, follow and seek to invoke the great spiritual head of the Hierarchy, the Master of all Masters, the Christ, has now reached a point of true and real effectiveness. It may be, and usually is, untinged by much mental activity or intellectual perception of the implications or the scientific nature of their procedure but is, for that very reason, potent. Esoteric and occult students demonstrate almost unavoidably a divided focus, owing to the activity of the mind and their failure as yet to blend perfectly both soul and personality. This leads to the dissipation of energy and oft renders their good intent futile. But, out of these groups are rapidly emerging those who can work in the right way and the results will be increasingly effective.

Điều này được gọi là sự khẩn cầu Thánh đoàn. Phần lớn sự khẩn cầu nguyên khí Christ này được thực hiện bởi những tín đồ chân chính ở mọi quốc gia (Cơ Đốc giáo và phi Cơ Đốc giáo), những người hướng mình đến Đức Christ, bất kể họ nhận biết Ngài dưới danh xưng nào, rồi với bác ái trong tim dành cho Ngài và cho đồng loại, tìm cách cải thiện [151] các điều kiện thế giới, chấm dứt hận thù và khốn khổ, và biểu lộ thiện chí ở khắp nơi. Điều này liên quan đến giai đoạn đầu tiên của việc gợi lên sự đáp ứng đối với bác ái và thấu hiểu trong tim và trí tuệ con người như là kết quả của sự khẩn cầu Đức Christ và nguyên khí Christ. Hãy suy ngẫm về những lời này và nhìn thấy tiến trình đang diễn ra ở khắp nơi. Các đạo sinh huyền bí học có khuynh hướng đánh giá quá cao hiệu quả của công việc mà họ đang làm. Khát vọng tập trung và cuộc đấu tranh vô ngã để phụng sự, vốn đặc trưng cho hàng triệu người trên thế giới đang cầu nguyện với, đi theo và tìm cách khẩn cầu vị thủ lãnh tinh thần vĩ đại của Thánh đoàn, Chân sư của mọi Chân sư, Đức Christ, nay đã đạt đến một điểm hữu hiệu chân thật và thực sự. Điều đó có thể, và thường là, không pha trộn nhiều hoạt động trí tuệ hay nhận thức trí năng về các hàm ý hoặc bản chất khoa học của thủ tục của họ, nhưng chính vì lý do đó mà lại đầy mãnh lực. Các đạo sinh bí truyền và huyền bí học hầu như không tránh khỏi việc biểu lộ một điểm tập trung bị phân đôi, do hoạt động của trí tuệ và do họ chưa thể dung hợp hoàn hảo cả linh hồn lẫn phàm ngã. Điều này dẫn đến sự làm tiêu tan năng lượng và thường khiến thiện ý của họ trở nên vô hiệu. Nhưng từ các nhóm này đang nhanh chóng xuất hiện những người có thể làm việc theo đúng cách, và các kết quả sẽ ngày càng hữu hiệu.

The evocation of the Hierarchy through right invocation is proceeding also rapidly, producing much activity and response from the Hierarchy of Light.

Sự gợi lên Thánh đoàn qua sự khẩn cầu đúng đắn cũng đang tiến triển nhanh chóng, tạo ra nhiều hoạt động và đáp ứng từ Thánh đoàn Ánh sáng.

2. To set up a closer relation with the third, major divine centre on our planet, Shamballa. From that centre, the will of God goes forth and the power of God becomes the messenger of His will. Hitherto that highest form of spiritual energy has only reached humanity (as I have before told you) via the Hierarchy. Today, it is deemed desirable that it should be ascertained whether there are enough selfless and group-conscious people upon the planet to warrant a direct inflow of that higher energy to humanity, thus producing upon the physical plane a hastening of the divine plan and a more rapid working out of that which is to be. This direct contact can be produced if the Great Invocation [152] is used by the world aspirants and disciples in collaboration with the Hierarchy. Hence the emphasis I have laid upon all of you using this Great Invocation as souls and as those who are in touch in some small measure with the Hierarchy. When the note of humanity and the note of the Hierarchy are synchronised by the use of the Great Invocation, there will come a dynamic and immediate response from Shamballa, and that will rapidly take place which the Hierarchy and the world disciples desire to see.

2. Thiết lập một mối liên hệ gần gũi hơn với trung tâm thiêng liêng lớn thứ ba trên hành tinh chúng ta, Shamballa. Từ trung tâm đó, Ý Chí của Thượng Đế phát ra và quyền năng của Thượng Đế trở thành sứ giả của Ý Chí Ngài. Cho đến nay, hình thức năng lượng tinh thần cao nhất đó chỉ đến được với nhân loại (như tôi đã nói với các bạn trước đây) qua Thánh đoàn. Ngày nay, người ta cho là đáng mong muốn phải xác định xem có đủ số người vô ngã và có tâm thức nhóm trên hành tinh để bảo đảm cho một sự tuôn đổ trực tiếp của năng lượng cao hơn đó vào nhân loại hay không, nhờ đó tạo ra trên cõi hồng trần [152] một sự thúc đẩy nhanh hơn của Thiên Cơ thiêng liêng và một sự triển khai mau lẹ hơn của điều sẽ phải là. Sự tiếp xúc trực tiếp này có thể được tạo ra nếu Đại Khấn Nguyện được các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng trong sự cộng tác với Thánh đoàn. Do đó mà tôi đã nhấn mạnh việc tất cả các bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện này như các linh hồn và như những người có tiếp xúc ở một mức độ nào đó với Thánh đoàn. Khi chủ âm của nhân loại và chủ âm của Thánh đoàn được đồng bộ hóa bằng việc sử dụng Đại Khấn Nguyện, sẽ có một sự đáp ứng năng động và tức thời từ Shamballa, và điều mà Thánh đoàn và các đệ tử thế giới mong muốn thấy sẽ nhanh chóng diễn ra.

The primary result of the correct use of the Great Invocation (as far as humanity is concerned) is acceleration. As I have also earlier pointed out, such an acceleration carries with it its own risks, and consequently we have the appearance of the truly terrific problems and the dire happenings which have for many years overtaken the aspirants and the disciples in the world. They are by this process learning the work of world salvage and becoming gradually fitted for the post of world saviour and to be absorbers of evil karma. You might here quite correctly point out that all the world is now suffering and that the past twenty-five years have been those of a general and most unhappy world karma. Wherein then lies the distinction between the pain and suffering of the world in general and that of aspirants and disciples in particular? I would reply that aspirants and disciples are conscious of this karma and its results in all three vehicles simultaneously—in the mind as well as in the emotional body with resultant physical reactions. This produces an intensification, retrospection and anticipation which the larger group does not register, involving as it does the entire personality. To this, in the case of the disciple in particular, must be added sensitivity and the ability to tune in and to absorb world pain, world reactions, and world conditions, thereby greatly increasing that which they may have individually to bear. The capacity to shoulder and register group pain as well as to bear his own personal karma greatly aggravates the disciple’s task.

Kết quả chủ yếu của việc sử dụng đúng đắn Đại Khấn Nguyện (xét theo phương diện nhân loại) là sự gia tốc. Như tôi cũng đã chỉ ra trước đây, một sự gia tốc như vậy mang theo những rủi ro riêng của nó, và do đó chúng ta có sự xuất hiện của những vấn đề thực sự khủng khiếp và những biến cố thảm khốc đã ập đến các người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Qua tiến trình này, họ đang học công việc cứu vớt thế giới và dần dần trở nên thích hợp với cương vị cứu tinh thế giới và trở thành những người hấp thụ nghiệp quả xấu. Ở đây, các bạn hoàn toàn có thể chỉ ra rằng toàn thế giới hiện đang đau khổ và hai mươi lăm năm qua là những năm của một nghiệp quả thế giới chung và hết sức bất hạnh. Vậy thì sự khác biệt giữa đau đớn và khổ đau của thế giới nói chung với của các người chí nguyện và đệ tử nói riêng nằm ở đâu? Tôi xin trả lời rằng các người chí nguyện và đệ tử ý thức được nghiệp quả này và các kết quả của nó trong cả ba vận cụ cùng một lúc—trong trí tuệ cũng như trong thể cảm dục, với các phản ứng hồng trần phát sinh. Điều này tạo ra một sự tăng cường, hồi cố và dự cảm mà nhóm lớn hơn không ghi nhận, vì nó liên quan đến toàn bộ phàm ngã. Thêm vào đó, trong trường hợp của đệ tử nói riêng, còn phải kể đến tính nhạy cảm và khả năng chỉnh hợp và hấp thụ đau khổ của thế giới, các phản ứng của thế giới và các điều kiện của thế giới, nhờ đó làm gia tăng rất nhiều điều mà cá nhân họ có thể phải gánh chịu. Năng lực gánh vác và ghi nhận đau khổ của nhóm cũng như chịu đựng nghiệp quả cá nhân của chính mình làm cho nhiệm vụ của đệ tử trở nên nặng nề hơn rất nhiều.

When, therefore, I call the world aspirants and disciples to the use of the Great Invocation, I call them also to the [153] “fellowship of Christ’s sufferings”; this is ever preliminary to the resurrection or to the release of the human consciousness into higher realms of spiritual awareness. The Forces which are contacted by the use of this Great Invocation, in conjunction with trained hierarchical effort, are thereby attracted or magnetically impelled to respond and then potent energies can be sent direct to the waiting planetary centre, Humanity. Two effects of an immediate nature are consequently induced over a specific period of time:

Vì vậy, khi tôi kêu gọi các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng Đại Khấn Nguyện, tôi cũng kêu gọi họ bước vào [153] “sự thông công trong những đau khổ của Đức Christ”; điều này luôn luôn là bước chuẩn bị cho sự phục sinh hay cho sự giải phóng tâm thức con người vào các lĩnh vực cao hơn của nhận biết tinh thần. Các Mãnh lực được tiếp xúc nhờ việc sử dụng Đại Khấn Nguyện này, kết hợp với nỗ lực Thánh đoàn đã được huấn luyện, do đó bị thu hút hay bị thôi thúc bằng từ tính để đáp ứng, và rồi các năng lượng đầy mãnh lực có thể được gửi trực tiếp đến trung tâm hành tinh đang chờ đợi là Nhân loại. Vì vậy, trong một khoảng thời gian nhất định, hai hiệu quả có tính tức thời được tạo ra:

a. The energy of the Will of God serves to awaken the illumined but latent will-to-good in men and this, once dynamically awakened, will flower forth as goodwill. There is so much of this which remains latent and unexpressed because the will to demonstrate goodwill activity has not been aroused; it will be automatically aroused in the general public once the world disciples have invoked and evoked the inflow of this higher dynamic energy. Humanity awaits this and its arrival is dependent upon the efforts of those who know what should be done and who should now make their spiritual theories facts in outer expression. Nothing can arrest the eventual progress of this will-to-good and its planned activity any more than a bud which has started to unfold its petals in the light of the sun and subject to the proper stimulation can revert again to the condition of a tightly closed bud, potential but unexpressed. The expression of what has been potential will be the result of the impact of first ray force, of the will-to-good at this time, induced by the efforts of the world disciples.

a. Năng lượng của Ý Chí của Thượng Đế phục vụ để đánh thức ý chí-hướng Thiện được soi sáng nhưng còn tiềm ẩn trong con người, và điều này, một khi được đánh thức một cách năng động, sẽ nở hoa thành thiện chí. Có quá nhiều điều như thế vẫn còn tiềm ẩn và không được biểu lộ vì ý chí biểu lộ hoạt động thiện chí chưa được khơi dậy; nó sẽ tự động được khơi dậy trong công chúng nói chung một khi các đệ tử thế giới đã khẩn cầu và gợi lên sự tuôn đổ của năng lượng năng động cao hơn này. Nhân loại đang chờ đợi điều này, và sự xuất hiện của nó tùy thuộc vào nỗ lực của những người biết điều gì cần phải làm và giờ đây phải biến các lý thuyết tinh thần của mình thành sự kiện trong biểu hiện bên ngoài. Không gì có thể ngăn cản sự tiến triển cuối cùng của ý chí-hướng Thiện này và hoạt động đã được hoạch định của nó, cũng như một nụ hoa đã bắt đầu hé mở cánh dưới ánh sáng mặt trời và dưới sự kích thích thích hợp thì không thể quay trở lại tình trạng của một nụ khép kín chặt chẽ, tiềm năng nhưng chưa biểu lộ. Sự biểu lộ của điều vốn là tiềm năng sẽ là kết quả của tác động của mãnh lực cung một, của ý chí-hướng Thiện vào lúc này, được gây ra bởi các nỗ lực của các đệ tử thế giới.

b. The second effect will be the forming or constitution of a planetary triangle or recognisable triad which will be the correspondence between the three planetary centres to the spiritual triad of Monad, Soul and Personality (the atma-buddhi-manas of the theosophical literature). Hitherto the word alignment has best described the planetary situation; there has been a straight line along which energy has poured from Shamballa to the [154] Hierarchy and from the Hierarchy to Humanity, but this has meant no direct interplay between Humanity and Shamballa. If the Great Invocation can be rendered effective, humanity can then set up a direct relationship with Shamballa. The resultant triangle of force-relationship will promote the circulation of spiritual energies between the three centres from point to point so that there will be a triple relation. A planetary process of give and take between all three will then be established, and the emphasis upon giving will be far more pronounced.

b. Hiệu quả thứ hai sẽ là sự hình thành hay cấu tạo của một tam giác hành tinh hay một tam nguyên tinh thần có thể nhận biết, sẽ là sự tương ứng giữa ba trung tâm hành tinh với Tam Nguyên Tinh Thần của chân thần, linh hồn và phàm ngã (atma-buddhi-manas trong văn liệu Thông Thiên Học). Cho đến nay, từ chỉnh hợp mô tả đúng nhất tình hình hành tinh; đã có một đường thẳng dọc theo đó năng lượng tuôn đổ từ Shamballa đến [154] Thánh đoàn và từ Thánh đoàn đến Nhân loại, nhưng điều này không có nghĩa là có sự tương tác trực tiếp giữa Nhân loại và Shamballa. Nếu Đại Khấn Nguyện có thể được làm cho hữu hiệu, khi đó nhân loại có thể thiết lập một mối liên hệ trực tiếp với Shamballa. Tam giác tương quan lực phát sinh sẽ thúc đẩy sự lưu thông các năng lượng tinh thần giữa ba trung tâm từ điểm này sang điểm khác để sẽ có một mối liên hệ tam phân. Khi đó, một tiến trình hành tinh của cho và nhận giữa cả ba sẽ được thiết lập, và sự nhấn mạnh vào cho đi sẽ rõ rệt hơn nhiều.

You will now see a little of the occult objective which lay behind the words which I asked you all to repeat in connection with the Great Invocation:

Giờ đây các bạn sẽ thấy phần nào mục tiêu huyền bí nằm sau những lời mà tôi đã yêu cầu tất cả các bạn lặp lại liên quan đến Đại Khấn Nguyện:

We know, O Lord of Life and Love,

Chúng con biết, ôi Chúa Tể của Sự sống và Bác ái,

about the need;

về nhu cầu;

Touch our hearts anew with love,

Xin chạm lại trái tim chúng con bằng bác ái,

that we too may love and give.

để chúng con cũng có thể yêu thương và cho đi.

It is this thought of the free circulation of energy between the three world centres which motivates this mantric sentence. A study of this will show you how the implication and significance of apparently simple words may be far deeper and far more wide-reaching in effect than you have been able to conceive. A recognition of this and a creative impassioned use of the imagination may serve to add greater potency to your thought and to your personal will-to-good as you use the Great Invocation and its subsidiary mantram. The keynote of the first aspect is Sacrifice, and of the second, Love. The words therefore “that we too may love and give” can produce a contact between the two.

Chính tư tưởng về sự lưu thông tự do của năng lượng giữa ba trung tâm thế giới thúc đẩy câu mantram này. Nghiên cứu điều này sẽ cho các bạn thấy hàm ý và ý nghĩa của những từ ngữ có vẻ đơn giản có thể sâu xa hơn và có hiệu quả rộng lớn hơn nhiều so với điều các bạn có thể hình dung. Sự nhận biết điều này và việc sử dụng sự tưởng tượng một cách sáng tạo, đầy nhiệt thành có thể giúp tăng thêm mãnh lực cho tư tưởng của các bạn và cho ý chí-hướng Thiện cá nhân của các bạn khi các bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện và mantram phụ thuộc của nó. Chủ âm của phương diện thứ nhất là Hi sinh, và của phương diện thứ hai là Bác ái. Vì vậy, những lời “để chúng con cũng có thể yêu thương và cho đi” có thể tạo ra một sự tiếp xúc giữa hai phương diện ấy.

A clue also to the significance of pain and of suffering will gradually emerge in the world consciousness as study is made of the above statements. Suffering is the most effective and most rapid way of evoking world understanding and of burning away the barriers which human beings have set up to the expression of the will-to-good. One of the most beneficent results of the inflow of the Shamballa force through [155] the focussed demand of the aspirants and world disciples will be the intelligent recognition of the uses of pain and suffering. It is this truth—distorted and selfishly misapplied and interpreted—which has led certain types of people and certain types of governing bodies among the nations to take the position that the greater the suffering inflicted (as, for instance, in war time) and the greater the process of terrorism, the quicker the end which is desirable and right; they hold often that the more dire the effects of planned conditions, the more rapidly will the correct consummation be achieved. It is not, however, the duty or right of man to turn first ray force to selfish ends or material objectives; responsibility cannot be veiled behind specious and distorted half truths and evil cannot be done in order that good may come. What is applied by the Lord of the World in Shamballa under the motivation of love, wisdom and selflessness with a sure touch and a judgment as to times and seasons cannot be so used by those motivated by personality objectives, either on an individual or a personality scale (for nations as well as individuals have personalities). Ponder on this and seek enlightenment from the soul.

Một đầu mối về ý nghĩa của đau đớn và khổ đau cũng sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức thế giới khi người ta nghiên cứu các phát biểu trên. Khổ đau là con đường hữu hiệu nhất và nhanh nhất để gợi lên sự thấu hiểu thế giới và để đốt cháy các rào cản mà con người đã dựng lên đối với sự biểu lộ của ý chí-hướng Thiện. Một trong những kết quả từ thiện nhất của sự tuôn đổ mãnh lực Shamballa qua [155] lời đòi hỏi tập trung của các người chí nguyện và các đệ tử thế giới sẽ là sự nhận biết thông minh về công dụng của đau đớn và khổ đau. Chính chân lý này—bị bóp méo và bị áp dụng, diễn giải một cách ích kỷ—đã khiến một số loại người và một số loại cơ quan cai trị trong các quốc gia giữ lập trường rằng càng gây ra nhiều đau khổ (chẳng hạn trong thời chiến) và tiến trình khủng bố càng lớn thì mục đích mong muốn và đúng đắn sẽ càng nhanh đạt được; họ thường cho rằng các hậu quả của những điều kiện được hoạch định càng khủng khiếp thì sự hoàn tất đúng đắn sẽ càng nhanh được thực hiện. Tuy nhiên, không phải là bổn phận hay quyền của con người khi chuyển mãnh lực cung một sang các mục đích ích kỷ hay các mục tiêu vật chất; trách nhiệm không thể được che đậy sau những nửa sự thật có vẻ hợp lý nhưng bị bóp méo, và điều ác không thể được làm ra để điều thiện có thể đến. Điều được Đức Chúa Tể Thế Giới áp dụng tại Shamballa dưới động cơ bác ái, minh triết và vô ngã, với sự chuẩn xác chắc chắn và sự phán đoán về thời điểm và chu kỳ, không thể được sử dụng như thế bởi những ai bị thúc đẩy bởi các mục tiêu của phàm ngã, dù ở quy mô cá nhân hay quy mô phàm ngã (vì các quốc gia cũng như các cá nhân đều có phàm ngã). Hãy suy ngẫm về điều này và tìm kiếm sự soi sáng từ linh hồn.

3. When the Great Invocation is thus rightly used and the world centres are consequently consciously interrelated, then certain extra-planetary Energies can be called in by the Ruler of Shamballa to aid in the re-adjustments required for the New Age and its coming civilisation. These Forces—spiritual and potent in nature—exist in two categories: solar Forces which are inter-planetary and cosmic Forces which enter into our solar system via Jupiter as the transmitter of divine energies from Virgo and Aquarius which Jupiter esoterically governs. Virgo is esoterically the mother of the Christ child and is, therefore, the emanator of energies which nourish and aid the growth of the Christ consciousness; Aquarius is the coming expression of the group consciousness which is the first and immediate revelation of the ever present Christ consciousness on a large scale in humanity. Jupiter also, exoterically and from the angle of orthodox [156] astrology, rules Sagittarius, the sign of discipleship, and also Pisces, the sign of the world saviours. The implications will, therefore, be obvious to real students.

3. Khi Đại Khấn Nguyện được sử dụng đúng đắn như vậy và các trung tâm thế giới do đó được liên hệ với nhau một cách hữu thức, thì một số Năng lượng ngoài hành tinh có thể được chủ tinh của Shamballa kêu gọi để trợ giúp trong các sự điều chỉnh cần thiết cho Kỷ Nguyên Mới và nền văn minh đang đến của nó. Các Mãnh lực này—mang bản chất tinh thần và đầy mãnh lực—tồn tại trong hai loại: các Mãnh lực thái dương mang tính liên hành tinh và các Mãnh lực vũ trụ đi vào hệ mặt trời của chúng ta qua Sao Mộc như là đấng truyền dẫn các năng lượng thiêng liêng từ Xử Nữ và Bảo Bình mà Sao Mộc một cách huyền bí cai quản. Xử Nữ về mặt huyền bí là mẹ của hài nhi Christ và vì vậy là đấng phát xạ các năng lượng nuôi dưỡng và trợ giúp sự tăng trưởng của tâm thức Christ; Bảo Bình là biểu hiện sắp đến của tâm thức nhóm, vốn là sự mặc khải đầu tiên và trực tiếp của tâm thức Christ luôn hiện diện trên quy mô lớn trong nhân loại. Sao Mộc cũng, theo ngoại môn và từ góc độ của [156] chiêm tinh học chính thống, cai quản Nhân Mã, dấu hiệu của địa vị đệ tử, và cả Song Ngư, dấu hiệu của các cứu tinh thế giới. Vì vậy, các hàm ý sẽ hiển nhiên đối với các đạo sinh chân chính.

In considering these great Energies, there is little you can do beyond accepting—if you care to do so—my statements anent them, regarding them as interesting and simply explanatory hypotheses. There is little that you can do (or I either) to arrive at first hand knowledge of the facts along this line. Few even of the Members of the Hierarchy are conscious of the impact of force from extra-solar centres or reservoirs of spiritual force. Only the group of Contemplatives in the Hierarchy which are given the exoteric name of Nirmanakayas are responsive to Their influence in any conscious manner and then only when that influence has been stepped down by certain powerful agencies in Shamballa. It is not necessary for me or for you to say more anent Them though I shall touch upon Them again later in this article.

Khi xem xét các Năng lượng vĩ đại này, các bạn hầu như không thể làm gì ngoài việc chấp nhận—nếu các bạn muốn làm như vậy—những phát biểu của tôi về chúng, coi chúng như những giả thuyết thú vị và chỉ có tính giải thích. Có rất ít điều các bạn có thể làm (và tôi cũng vậy) để đạt tới tri thức trực tiếp về các sự kiện theo đường hướng này. Ngay cả rất ít Thành viên của Thánh đoàn cũng ý thức được tác động của mãnh lực từ các trung tâm ngoài thái dương hay các kho chứa mãnh lực tinh thần. Chỉ có nhóm các Đấng Chiêm Ngưỡng trong Thánh đoàn, những vị được gọi theo ngoại môn là các Nirmanakayas, mới đáp ứng với ảnh hưởng của Các Ngài theo một cách hữu thức nào đó, và ngay cả như vậy cũng chỉ khi ảnh hưởng đó đã được giảm xuống bởi một số tác nhân đầy quyền năng trong Shamballa. Tôi hay các bạn không cần nói thêm gì về Các Ngài, mặc dù sau này trong bài viết này tôi sẽ lại đề cập đến Các Ngài.

Prior to taking up the Great Invocation sentence by sentence, I would like briefly to touch upon the needed procedure as you attempt to say it correctly and effectively:

Trước khi bắt đầu xét Đại Khấn Nguyện từng câu một, tôi muốn ngắn gọn đề cập đến thủ tục cần thiết khi các bạn cố gắng đọc nó một cách đúng đắn và hữu hiệu:

Forget not, first of all, the necessary process of alignment wherein you do two things:

Trước hết, đừng quên tiến trình chỉnh hợp cần thiết, trong đó các bạn làm hai việc:

1. Endeavour consciously (which for most of you at present means imaginatively) to align or link soul, mind and brain so that there is a direct and free inflow from the higher Self to the lower.

1. Cố gắng một cách hữu thức (điều này đối với phần lớn các bạn hiện nay có nghĩa là bằng sự hình dung) chỉnh hợp hay nối kết linh hồn, trí tuệ và bộ não để có một sự tuôn đổ trực tiếp và tự do từ Bản Ngã Cao Siêu xuống phàm ngã.

2. Endeavour to realise or register your relation to the Hierarchy, via your own group of disciples (if you know which it is) or in relation to whichever one of the Great Ones or Masters appeals the most to your heart and mind. If neither makes any appeal to your consciousness, the same results will be achieved if you seek to link up with the Christ.

2. Cố gắng chứng nghiệm hay ghi nhận mối liên hệ của các bạn với Thánh đoàn, qua nhóm đệ tử riêng của các bạn (nếu các bạn biết đó là nhóm nào) hoặc trong mối liên hệ với bất kỳ một Đấng Cao Cả hay Chân sư nào hấp dẫn nhất đối với tim và trí tuệ của các bạn. Nếu cả hai điều đó đều không hấp dẫn tâm thức của các bạn, thì cũng sẽ đạt được cùng kết quả nếu các bạn tìm cách nối kết với Đức Christ.

I might here point out that the difference between the linking up that you can effectively do and that which is done by a Member of the Hierarchy itself is that you link up [157] via the Hierarchy and then through the medium of the Great Invocation reach forth to Shamballa whereas the initiates and the Masters link Themselves directly with Shamballa and use the Great Invocation in a manner totally different to that in which you use it. There is for you and the average aspirant no direct contact, and that is definitely fortunate for you. I may not further elucidate.

Ở đây, tôi có thể chỉ ra rằng sự khác biệt giữa sự nối kết mà các bạn có thể thực hiện một cách hữu hiệu và sự nối kết được thực hiện bởi chính một Thành viên của Thánh đoàn là ở chỗ các bạn nối kết [157] qua Thánh đoàn rồi qua trung gian của Đại Khấn Nguyện vươn tới Shamballa, trong khi các điểm đạo đồ và các Chân sư nối kết trực tiếp với Shamballa và sử dụng Đại Khấn Nguyện theo một cách hoàn toàn khác với cách các bạn sử dụng nó. Đối với các bạn và người chí nguyện trung bình, không có sự tiếp xúc trực tiếp, và điều đó rõ ràng là may mắn cho các bạn. Tôi không thể làm sáng tỏ thêm.

The second thing which you do is then to focus yourself in as high a consciousness as you are capable of achieving. Then you aim at complete self-forgetfulness and when that has been gained you direct your attention to the dual activity of the true disciple to which I earlier referred, i.e., the task of emphasising a significant understanding of the implications and meanings of the words said and of the results to be achieved. There comes next the sending forth of the words with their hidden potency and this must be done by you as a soul, using the mind and the brain as agents.

Điều thứ hai các bạn làm là sau đó tập trung chính mình vào một tâm thức cao nhất mà các bạn có khả năng đạt được. Rồi các bạn nhắm đến sự quên mình hoàn toàn, và khi điều đó đã đạt được, các bạn hướng sự chú ý của mình đến hoạt động kép của đệ tử chân chính mà tôi đã nói đến trước đây, tức là nhiệm vụ nhấn mạnh một sự thấu hiểu có ý nghĩa về các hàm ý và ý nghĩa của những lời được nói ra và về các kết quả cần đạt được. Tiếp theo là việc phát ra các lời với mãnh lực ẩn tàng của chúng, và điều này phải được các bạn thực hiện như một linh hồn, sử dụng trí tuệ và bộ não như các tác nhân.

Integration, conscious activity, and the expression of the work to be done upon the physical plane will cover the entire story. These rightly carried forward will prove effective. Would it clarify matters for you if I state that:

Sự tích hợp, hoạt động hữu thức, và sự biểu lộ công việc cần được thực hiện trên cõi hồng trần sẽ bao quát toàn bộ câu chuyện. Nếu được tiến hành đúng đắn, những điều này sẽ chứng tỏ là hữu hiệu. Liệu điều này có làm sáng tỏ vấn đề cho các bạn không nếu tôi nói rằng:

1. Integration is a correspondence in consciousness to the Inhalation of the breath. This is the withdrawing of the consciousness to as high a point as possible.

1. Sự tích hợp là một sự tương ứng trong tâm thức với sự Hít vào của hơi thở. Đây là sự rút tâm thức về một điểm cao nhất có thể.

2. Conscious activity corresponds to the right use of the Interlude between inhalation and exhalation. It involves the recognition of the forces contacted and their purpose.

2. Hoạt động hữu thức tương ứng với việc sử dụng đúng đắn Khoảng Dừng giữa hít vào và thở ra. Nó bao hàm sự nhận biết các mãnh lực được tiếp xúc và mục đích của chúng.

3. Right expression corresponds to the period of Exhalation. This is the sending forth of the forces contacted by an act of the will in order that they may produce the desired ends.

3. Sự biểu lộ đúng đắn tương ứng với giai đoạn Thở ra. Đây là việc phát ra các mãnh lực đã được tiếp xúc bằng một hành động của ý chí để chúng có thể tạo ra các mục đích mong muốn.

Forget not that this has to be a group endeavour and must be carried forward in cooperation with the Hierarchy. It involves also the recognition that the soul is one and that there is no such thing as my soul—only our soul.

Đừng quên rằng đây phải là một nỗ lực nhóm và phải được tiến hành trong sự hợp tác với Thánh đoàn. Nó cũng bao hàm sự nhận biết rằng linh hồn là một và không có cái gọi là linh hồn của tôi—chỉ có linh hồn của chúng ta.

In considering the five sentences which form what might [158] be called the mandate of the Great Invocation (see page 144), I would like, first of all, to point out a few underlying and basic ideas.

Khi xem xét năm câu tạo thành điều có thể [158] được gọi là mệnh lệnh của Đại Khấn Nguyện (xem trang 144), trước hết tôi muốn chỉ ra một vài ý tưởng nền tảng và căn bản.

This Great Invocation has been used by the Hierarchy ever since the year 1425 A.D. though it is thousands of years older than that. Owing, however, to the unreadiness of humanity to cooperate in its use, the results have been delayed and are regarded as “hovering.” I know not how else to express the results already achieved. Today, they can precipitate, if right cooperation can be extended by humanity, and such cooperation now seems immediately possible.

Đại Khấn Nguyện này đã được Thánh đoàn sử dụng kể từ năm 1425 sau Công nguyên, mặc dù nó cổ xưa hơn thế hàng ngàn năm. Tuy nhiên, do nhân loại chưa sẵn sàng hợp tác trong việc sử dụng nó, các kết quả đã bị trì hoãn và được xem là “lơ lửng.” Tôi không biết phải diễn đạt các kết quả đã đạt được bằng cách nào khác. Ngày nay, chúng có thể ngưng tụ, nếu nhân loại có thể mở rộng sự hợp tác đúng đắn, và sự hợp tác như thế hiện nay dường như có thể xảy ra ngay lập tức.

The first phase, Let the Forces of Light bring illumination to mankind, definitely invokes potencies which are to be found upon monadic levels of consciousness and upon what is occultly called the second plane of divine manifestation. These Forces include the Lord of the World and the Representatives of the seven sacred planets Who are spoken of in the Christian Bible as the “seven Spirits before the Throne of God.” They include also the three Agents of the Divine Triplicity Who are known, esoterically and in the East as the three Kumaras, or the three Buddhas of Activity.

Giai đoạn đầu tiên, Cầu xin các Mãnh lực Ánh sáng đem soi sáng đến cho nhân loại, rõ ràng khẩn cầu các quyền năng được tìm thấy trên các cấp độ tâm thức chân thần và trên điều được gọi một cách huyền bí là cõi thứ hai của biểu hiện thiêng liêng. Các Mãnh lực này bao gồm Đức Chúa Tể Thế Giới và các Đại Diện của bảy hành tinh thiêng liêng, những Đấng được nói đến trong Kinh Thánh Cơ Đốc là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế.” Chúng cũng bao gồm ba Tác Nhân của Bộ Ba thiêng liêng, những Đấng được biết đến, về mặt huyền bí và ở phương Đông, là ba Kumaras, hay ba Đức Phật Hoạt Động.

What do these names and these great Individualities mean to you and to average humanity? Nothing at all and this is necessarily so. They remain but names and possible hypothetical expressions of divinity until after the third initiation when the conscious recognition of the Monad becomes possible; then Forces and Energies, personified for us in these great and stupendous Lives, can be demonstrated as having true existence. On the way to these fundamental recognitions, Their three Representatives within the limits of the Hierarchy must be accepted and known to be correspondingly functioning Activities. These Three are, the Manu, the focal point of the first Ray of Will or Power; the Christ, the head of the Hierarchy and the representative of the second Ray of Love-Wisdom; and the Lord of Civilisation, the expression of the third Ray of Active Intelligence. [159] This knowledge is achieved during the process of training for the first three initiations. Therefore, all that I here tell you must be regarded as possible of verification, and as being testified to by all the world Scriptures and by the initiates of all lands, but it must necessarily remain personally unverified by you until a much later date in your unfoldment.

Những danh xưng này và những Cá Thể vĩ đại này có ý nghĩa gì đối với các bạn và đối với nhân loại trung bình? Hoàn toàn không có gì cả, và điều này tất nhiên là như vậy. Chúng chỉ còn là những danh xưng và những biểu hiện giả định có thể có của thiên tính cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, khi sự nhận biết hữu thức về chân thần trở nên khả thi; khi đó các Mãnh lực và Năng lượng, được nhân cách hóa đối với chúng ta trong các Sự Sống vĩ đại và phi thường này, có thể được chứng minh là có sự tồn tại thực sự. Trên con đường đi đến những sự nhận biết căn bản này, ba Đại Diện của Các Ngài trong giới hạn của Thánh đoàn phải được chấp nhận và được biết là những Hoạt Động tương ứng đang vận hành. Ba Đấng này là Đức Manu, tiêu điểm của Cung một của Ý Chí hay Quyền năng; Đức Christ, thủ lãnh của Thánh đoàn và là đại diện của Cung hai của Bác Ái – Minh Triết; và Chúa Tể của Văn Minh, biểu hiện của Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. [159] Tri thức này đạt được trong tiến trình huấn luyện cho ba lần điểm đạo đầu tiên. Vì vậy, tất cả những gì tôi nói với các bạn ở đây phải được xem là có thể kiểm chứng, và như được chứng thực bởi mọi Kinh điển thế giới và bởi các điểm đạo đồ ở mọi quốc gia, nhưng tất yếu vẫn phải là điều chưa được chính các bạn kiểm chứng cho đến một ngày muộn hơn nhiều trong sự khai mở của các bạn.

The Spirit of Peace Who is invoked in the second phrase, Let the Spirit of Peace be spread abroad, is that mysterious and divine Entity with Whom the Christ came into touch and Whose influence played through Him at the time that He earned the right to be called the “Prince of Peace.” As I have elsewhere told you in my earlier writings, the Christ embodied in Himself the cosmic principle of love, the expression of which in manifestation will work out as “glory to God, peace on earth and goodwill towards men.” To this the angels testified at His birth. When He expressed this principle of love in His life and world service, He definitely linked up our planet and humanity (in particular) with the Source of the light, love and life to which we refer in this second phrase. This was the world salvation which He brought—a fact which is as yet little realised and which will not be widely recognised until this powerful Invocation has taken due effect.

Đấng Tinh thần Hòa Bình, Đấng được khẩn cầu trong cụm từ thứ hai, Cầu xin Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi, là Thực Thể huyền nhiệm và thiêng liêng mà Đức Christ đã tiếp xúc và ảnh hưởng của Ngài đã vận hành qua Đức Christ vào lúc Ngài xứng đáng được gọi là “Hoàng Tử Hòa Bình.” Như tôi đã nói với các bạn ở nơi khác trong các trước tác trước đây của tôi, Đức Christ đã hiện thân trong chính Ngài nguyên khí vũ trụ của bác ái, mà biểu hiện của nó trong sự hiển lộ sẽ được triển khai thành “vinh quang cho Thượng đế, hòa bình trên trái đất và thiện chí đối với loài người.” Các thiên thần đã làm chứng cho điều này vào lúc Ngài giáng sinh. Khi Ngài biểu lộ nguyên khí bác ái này trong đời sống và công cuộc phụng sự thế giới của Ngài, Ngài đã rõ ràng nối kết hành tinh chúng ta và nhân loại (đặc biệt là nhân loại) với Nguồn của ánh sáng, bác ái và sự sống mà chúng ta nhắc đến trong cụm từ thứ hai này. Đây là sự cứu rỗi thế giới mà Ngài đã mang đến—một sự kiện cho đến nay vẫn ít được nhận ra và sẽ không được thừa nhận rộng rãi cho đến khi Khấn Nguyện đầy quyền năng này phát huy tác dụng thích đáng.

When the world aspirants and disciples use this Invocation, the first phrase takes the consciousness to the Hierarchy of Light, which is the intermediate centre between Humanity and Shamballa. It serves then to emphasise and establish a close rapport, blending and fusing the human and the hierarchical centres. When this has taken place, the Hierarchy can then use this Great Invocation with greater potency and can carry the relation to a higher state still and produce a blending with the Shamballa centre, where the Forces of Light are found as embodied Presences and where Their focussed energy serves to provide great reservoirs of light and love. These have hitherto not been made available for planetary distribution, owing to the lack of established relation between the three centres: Humanity, Hierarchy and [160] Shamballa. That relation is now becoming somewhat established; the inflow of light and love to humanity is now possible if the disciples and aspirants of the world can be led to make the needed effort to stand in spiritual being and, from that poised attentive attitude, to invoke these great Entities. It was to this possibility that the story in the New Testament refers where reference is made to the pool which was stirred at times by the Angel and thus a condition was produced which led to the healing of the sick. The Angel of the Presence, the soul of humanity, as embodied in the Hierarchy and those who are consciously endeavouring to function as souls can now stir these reservoirs of force and light upon etheric levels in Shamballa so that a definite “healing of the nations” can take place.

Khi các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng Khấn Nguyện này, cụm từ thứ nhất đưa tâm thức đến Thánh đoàn Ánh sáng, là trung tâm trung gian giữa Nhân loại và Shamballa. Khi đó nó phục vụ để nhấn mạnh và thiết lập một mối tương giao gần gũi, dung hợp và hòa nhập các trung tâm nhân loại và Thánh đoàn. Khi điều này đã diễn ra, Thánh đoàn khi đó có thể sử dụng Đại Khấn Nguyện này với mãnh lực lớn hơn và có thể nâng mối liên hệ lên một trạng thái cao hơn nữa và tạo ra một sự dung hợp với trung tâm Shamballa, nơi các Mãnh lực Ánh sáng được tìm thấy như những Hiện Diện nhập thể và nơi năng lượng tập trung của Các Ngài phục vụ để cung cấp những kho chứa lớn của ánh sáng và bác ái. Cho đến nay, những kho này chưa được đưa vào sử dụng cho sự phân phối hành tinh, do thiếu mối liên hệ được thiết lập giữa ba trung tâm: Nhân loại, Thánh đoàn và [160] Shamballa. Mối liên hệ đó hiện nay đang phần nào được thiết lập; sự tuôn đổ của ánh sáng và bác ái vào nhân loại hiện nay là điều có thể, nếu các đệ tử và người chí nguyện của thế giới có thể được dẫn dắt để thực hiện nỗ lực cần thiết nhằm đứng vững trong bản thể tinh thần và, từ thái độ chú tâm quân bình đó, khẩn cầu các Thực Thể vĩ đại này. Chính đến khả năng này mà câu chuyện trong Tân Ước đã nhắc đến khi nói về hồ nước thỉnh thoảng được Thiên Thần khuấy động và nhờ đó tạo ra một điều kiện dẫn đến việc chữa lành người bệnh. Thiên Thần của Hiện Diện, linh hồn của nhân loại, như được nhập thể trong Thánh đoàn và trong những người đang hữu thức cố gắng hoạt động như các linh hồn, giờ đây có thể khuấy động các kho chứa mãnh lực và ánh sáng này trên các cấp độ dĩ thái trong Shamballa để một sự “chữa lành các quốc gia” rõ rệt có thể diễn ra.

When the thought behind the Great Invocation can be carried high enough in the consciousness of those using it through a joint effort of the world disciples and the Hierarchy of Light—as well as being reinforced by the Forces of Light—then the Spirit of Peace can be invoked.

Khi tư tưởng đứng sau Đại Khấn Nguyện có thể được nâng đủ cao trong tâm thức của những người sử dụng nó qua nỗ lực chung của các đệ tử thế giới và Thánh đoàn Ánh sáng—cũng như được tăng cường bởi các Mãnh lực Ánh sáng—thì Đấng Tinh thần Hòa Bình có thể được khẩn cầu.

On a lower turn of the spiral, you will note that the Wesak Festival enacts a similar invocation and process. It is a re-enacting and training process. There and at that time, the three Representatives of Shamballa within the Hierarchy—the Manu, the Christ and the Mahachohan—invoke the Buddha, Who in His turn is the transmitter of still higher Forces. He is invoked by a special mantram and transmits the appeal to the One Whose agent He is. If this Great Invocation which we are studying can be rightly said, the three great planetary centres can be related in a similar manner. The Lord of Civilisation, the Master R., representing humanity, the Christ representing the Hierarchy and the Lord of the World, linked through the Manu and representing Shamballa can be brought into a close relation so that the result will be the setting up of such a potent vibration and note that the Spirit of Peace will be invoked and contacted. By the voiced appeal His attention will be forced to turn itself towards our planet. The consequences will be significant and potent but as to the form which they [161] will take it is impossible for me to say. Perhaps it will lead to some peculiar and powerful demonstration of the meaning of peace as the expression of universal and planetary love; perhaps it will produce the sending of an Avatar or Messenger of Peace to lead the nations to right action; perhaps some happening will take place of such significance that its import will be immediately recognised by humanity as a whole, leading them to take all the needed steps to restore right human relations. The nature of the activities which the Spirit of Peace will institute is not our responsibility. Our duty is to learn rightly to contact the Hierarchy, via our own souls; rightly to use the Great Invocation as souls, and rightly to render ourselves responsive to and sensitive to the resultant effects. Ponder on the above.

Ở một vòng xoắn thấp hơn của đường xoắn ốc, các bạn sẽ nhận thấy rằng Lễ Hội Wesak diễn lại một sự khẩn cầu và tiến trình tương tự. Đó là một tiến trình tái diễn và huấn luyện. Tại đó và vào thời điểm ấy, ba Đại Diện của Shamballa trong Thánh đoàn—Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan—khẩn cầu Đức Phật, Đấng đến lượt Ngài là đấng truyền dẫn các Mãnh lực còn cao hơn nữa. Ngài được khẩn cầu bằng một mantram đặc biệt và truyền lời thỉnh cầu đến Đấng mà Ngài là tác nhân. Nếu Đại Khấn Nguyện mà chúng ta đang nghiên cứu có thể được đọc đúng đắn, ba trung tâm hành tinh lớn có thể được liên hệ theo một cách tương tự. Chúa Tể của Văn Minh, Chân sư R., đại diện cho nhân loại, Đức Christ đại diện cho Thánh đoàn, và Đức Chúa Tể Thế Giới, được nối kết qua Đức Manu và đại diện cho Shamballa, có thể được đưa vào một mối liên hệ gần gũi đến mức kết quả sẽ là việc thiết lập một rung động và chủ âm đầy mãnh lực đến nỗi Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ được khẩn cầu và tiếp xúc. Bằng lời thỉnh cầu được phát ra, sự chú ý của Ngài sẽ buộc phải hướng về hành tinh chúng ta. Các hậu quả sẽ có ý nghĩa và đầy mãnh lực, nhưng về hình thức mà chúng [161] sẽ mang lấy thì tôi không thể nói. Có lẽ điều đó sẽ dẫn đến một sự biểu lộ đặc biệt và mạnh mẽ nào đó về ý nghĩa của hòa bình như là biểu hiện của bác ái phổ quát và hành tinh; có lẽ nó sẽ tạo ra việc gửi đến một Đấng Hoá Thân hay Sứ Giả Hòa Bình để dẫn dắt các quốc gia đến hành động đúng đắn; có lẽ sẽ xảy ra một biến cố có ý nghĩa đến mức tầm quan trọng của nó sẽ được toàn thể nhân loại nhận ra ngay lập tức, khiến họ thực hiện mọi bước cần thiết để phục hồi những tương quan nhân loại đúng đắn. Bản chất của các hoạt động mà Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ khởi xướng không phải là trách nhiệm của chúng ta. Bổn phận của chúng ta là học cách tiếp xúc đúng đắn với Thánh đoàn, qua chính linh hồn của mình; sử dụng đúng đắn Đại Khấn Nguyện như các linh hồn; và làm cho mình đáp ứng đúng đắn và nhạy cảm với các hiệu quả phát sinh. Hãy suy ngẫm về điều trên.

It might, therefore, be noted that the Forces of Light express Themselves through the Hierarchy of Light and Their major effect is the illumination of the minds of men with love and light. This precipitates upon the mental plane. The personality or the form aspect of humanity is thereby pervaded and illumined. Thus the third great planetary centre, Humanity, becomes creative and magnetic, and two divine aspects—intelligence and love—will reach fruition upon the physical plane, making it possible for the first aspect and the will of God (understood by humanity as the Plan) to be consciously carried forward on earth in conformity with the activity instituted at Shamballa. The will of God is purpose and this is, for the first time, to be recognised consciously by man.

Vì vậy, có thể lưu ý rằng các Mãnh lực Ánh sáng biểu lộ chính Các Ngài qua Thánh đoàn Ánh sáng và hiệu quả chính của Các Ngài là soi sáng trí tuệ con người bằng bác ái và ánh sáng. Điều này ngưng tụ trên cõi trí. Phàm ngã hay phương diện hình tướng của nhân loại nhờ đó được thấm nhuần và soi sáng. Như vậy, trung tâm hành tinh lớn thứ ba, Nhân loại, trở nên sáng tạo và từ tính, và hai phương diện thiêng liêng—trí tuệ và bác ái—sẽ đạt đến thành tựu trên cõi hồng trần, khiến cho phương diện thứ nhất và Ý Chí của Thượng Đế (được nhân loại hiểu là Thiên Cơ) có thể được thực hiện một cách hữu thức trên trái đất phù hợp với hoạt động được khởi xướng tại Shamballa. Ý Chí của Thượng Đế là mục đích, và đây là điều lần đầu tiên sẽ được con người nhận biết một cách hữu thức.

The Spirit of Peace will, when the right time comes, vitalise the responsiveness of humanity, via the influence of the Hierarchy, to the will of God which has for basic intent the bringing of peace on earth. What is peace? It is essentially the establishing of right human relations, of synthetic rapport with its resultant cooperation, of correct interplay between the three planetary centres and an illumined, loving understanding of the will of God as it affects humanity and works out divine intent. It is for this reason that the Christ, Who established for the first time in planetary history a [162] contact between the Hierarchy, Humanity, Shamballa and the Spirit of Peace in His Own high place, in His first recorded utterance said that He must be about His Father’s business and then at the end of His life, reiterated the same thought in the words: “Father, not my will but Thine be done,” thus carrying the thought up to the highest plane for He addressed the Father, the first Aspect of Divinity. He then focussed in Himself the two major divine attributes and aspects—will and love (atma-buddhi)—and because of this, His consciousness became extra-planetary as is the consciousness of the Lord of the World, and He could then touch certain heights of awareness and contact certain solar Agencies which had never before been contacted by man. This achievement enabled Him to put Humanity in touch with the Spirit of Peace. He thus Himself became the Light of the World and the Prince of Peace.

Đấng Tinh thần Hòa Bình, khi thời điểm thích hợp đến, sẽ tiếp sinh lực cho khả năng đáp ứng của nhân loại, qua ảnh hưởng của Thánh đoàn, đối với Ý Chí của Thượng Đế, vốn có ý định căn bản là đem lại hòa bình trên trái đất. Hòa bình là gì? Về bản chất, đó là việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, một mối tương giao tổng hợp với kết quả là sự hợp tác, một sự tương tác đúng đắn giữa ba trung tâm hành tinh, và một sự thấu hiểu được soi sáng, đầy bác ái về Ý Chí của Thượng Đế khi nó tác động đến nhân loại và triển khai ý định thiêng liêng. Chính vì lý do này mà Đức Christ, Đấng lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh đã thiết lập một [162] sự tiếp xúc giữa Thánh đoàn, Nhân loại, Shamballa và Đấng Tinh thần Hòa Bình trong địa vị cao cả của chính Ngài, trong lời phát biểu đầu tiên được ghi lại của Ngài đã nói rằng Ngài phải lo công việc của Cha Ngài, và rồi vào cuối đời Ngài, lặp lại cùng một tư tưởng trong những lời: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha,” nhờ đó nâng tư tưởng lên cõi cao nhất vì Ngài đã hướng đến Đức Cha, Phương diện thứ nhất của thiên tính. Khi đó Ngài đã tập trung trong chính mình hai thuộc tính và phương diện thiêng liêng chủ yếu—ý chí và bác ái (atma-buddhi)—và vì điều này, tâm thức của Ngài trở thành ngoài hành tinh như tâm thức của Đức Chúa Tể Thế Giới, và khi đó Ngài có thể chạm đến một số đỉnh cao của nhận biết và tiếp xúc với một số Tác Nhân thái dương mà trước đây con người chưa từng tiếp xúc. Thành tựu này đã giúp Ngài đặt Nhân loại vào sự tiếp xúc với Đấng Tinh thần Hòa Bình. Nhờ đó chính Ngài đã trở thành Ánh Sáng của Thế Gian và Hoàng Tử Hòa Bình.

In this manner, Shamballa and the Hierarchy were brought into a close relationship and two great streams of force were blended and a definite interplay set up between them. The Buddha, through His achievement of illumination, established the first major link with the Forces of Light. The Christ, through His ability to express the will of God in love and as world salvage, established the first major link with the Spirit of Peace.

Theo cách này, Shamballa và Thánh đoàn được đưa vào một mối liên hệ gần gũi và hai dòng mãnh lực lớn được hòa trộn, đồng thời một sự tương tác rõ rệt được thiết lập giữa chúng. Đức Phật, qua thành tựu giác ngộ của Ngài, đã thiết lập mối liên kết lớn đầu tiên với các Mãnh lực Ánh sáng. Đức Christ, qua khả năng biểu lộ Ý Chí của Thượng Đế trong bác ái và như sự cứu vớt thế giới, đã thiết lập mối liên kết lớn đầu tiên với Đấng Tinh thần Hòa Bình.

If you will study the above information with care, you will find that the importance of the Wesak Festival at the time of the full moon of May will assume increasing importance in your minds. It is the festival at which three factors of importance to humanity are brought into relation:

Nếu các bạn nghiên cứu cẩn thận thông tin trên, các bạn sẽ thấy tầm quan trọng của Lễ Hội Wesak vào lúc trăng tròn tháng Năm sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong trí tuệ các bạn. Đó là lễ hội mà tại đó ba yếu tố quan trọng đối với nhân loại được đưa vào mối liên hệ:

1. The Buddha, the embodiment or agent of the Forces of Light can then be contacted and that which They seek to transmit to humanity can be consciously appropriated.

1. Đức Phật, hiện thân hay tác nhân của các Mãnh lực Ánh sáng, khi đó có thể được tiếp xúc và điều mà Các Ngài tìm cách truyền đạt cho nhân loại có thể được tiếp nhận một cách hữu thức.

2. The Christ, the embodiment of the love and the will of God and the agent of the Spirit of Peace, can also be contacted and humanity can be trained to appropriate this extra-planetary type of energy. [163]

2. Đức Christ, hiện thân của bác ái và Ý Chí của Thượng Đế và là tác nhân của Đấng Tinh thần Hòa Bình, cũng có thể được tiếp xúc và nhân loại có thể được huấn luyện để tiếp nhận loại năng lượng ngoài hành tinh này. [163]

3. Through the Christ and the Buddha, humanity can now establish a close relationship with Shamballa and then make its own contribution—as a world centre—to the planetary life. Pervaded by light and controlled by the Spirit of Peace, the expression of humanity’s will-to-good can emanate powerfully from this third planetary centre. Humanity will then for the first time enter upon its destined task as the intelligent, loving intermediary between the higher states of planetary consciousness, the super-human states and the sub-human kingdoms. Thus humanity will become eventually the planetary saviour.

3. Qua Đức Christ và Đức Phật, nhân loại giờ đây có thể thiết lập một mối liên hệ gần gũi với Shamballa và rồi đóng góp phần riêng của mình—như một trung tâm thế giới—vào sự sống hành tinh. Được thấm nhuần bởi ánh sáng và được Đấng Tinh thần Hòa Bình kiểm soát, sự biểu lộ của ý chí-hướng Thiện của nhân loại có thể phát xạ đầy quyền năng từ trung tâm hành tinh thứ ba này. Khi đó, lần đầu tiên nhân loại sẽ bước vào nhiệm vụ đã được định sẵn của mình như là trung gian thông minh, đầy bác ái giữa các trạng thái cao hơn của tâm thức hành tinh, các trạng thái siêu nhân và các giới dưới nhân loại. Như vậy, cuối cùng nhân loại sẽ trở thành vị cứu tinh hành tinh.

If you will have these thoughts in mind, the first three phrases of the Great Invocation will assume great significance. Let me put some of these significances in tabular form:

Nếu các bạn giữ những tư tưởng này trong trí, ba cụm từ đầu tiên của Đại Khấn Nguyện sẽ mang một ý nghĩa lớn lao. Hãy để tôi trình bày một số ý nghĩa này dưới dạng bảng:

Let the Forces of Light bring illumination to mankind

Cầu xin các Mãnh lực Ánh sáng đem soi sáng đến cho nhân loại

Intermediary The Hierarchy. Soul consciousness

Trung gian Thánh đoàn. Tâm thức linh hồn

Agent The Buddha

Tác nhân Đức Phật

Expression Light. Understanding. The illumined mind

Biểu hiện Ánh sáng. Sự thấu hiểu. Trí tuệ được soi sáng

Planes of emphasis The second or monadic plane

Các cõi được nhấn mạnh Cõi thứ hai hay cõi chân thần

The buddhic or intuitional plane

Cõi Bồ đề hay cõi trực giác

The mental plane

Cõi trí

Focal point The head centre

Điểm tập trung Trung tâm đầu

Planetary centre The Hierarchy

Trung tâm hành tinh Thánh Đoàn

Let the Spirit of Peace be spread abroad

Hãy để Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi

Intermediary Shamballa. Spiritual consciousness

Trung gian Shamballa. Tâm thức tinh thần

Agent The Christ

Tác nhân Đức Christ

Expression The will of God as love and peace

Biểu hiện Ý Chí của Thượng Đế như tình thương và hòa bình

Sentient response

Đáp ứng hữu cảm

Planes of emphasis The logoic or first plane

Các cõi được nhấn mạnh Cõi logoic hay cõi thứ nhất

The buddhic, or intuitional plane

Cõi Bồ đề, hay cõi trực giác

The astral or emotional plane

Cõi cảm dục hay cõi cảm xúc

Focal point The heart centre

Điểm tập trung Trung tâm tim

Planetary centre Shamballa

Trung tâm hành tinh Shamballa

May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation [164]

Nguyện cho những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác [164]

Intermediary Humanity itself. Self-consciousness

Trung gian Bản thân nhân loại. Ngã thức

Agent The Lord of Civilisation

Tác nhân Chúa Tể của Văn Minh

Expression Intelligent love, dedicated to the Plan

Biểu hiện Tình thương thông tuệ, hiến dâng cho Thiên Cơ

Creativity

Sáng tạo

The will-to-good

Ý Chí-hướng Thiện

Planes of emphasis The atmic or plane of spiritual will

Các cõi được nhấn mạnh Cõi atma hay cõi ý chí tinh thần

The mental plane

Cõi trí

The physical plane

Cõi hồng trần

Focal point The throat centre

Điểm tập trung Trung tâm cổ họng

Planetary centre Humanity

Trung tâm hành tinh Nhân loại

Thus all the great centres are linked and all the planes are interrelated; the past has contributed its finished work; the present is evoking its just and right development; the future of wonder and of divine possibility appears—its results contingent upon a spirit of right understanding and invocation. Three statements in the New Testament begin now to demonstrate their profound esoteric significance and their amazing living potency:

Như vậy mọi trung tâm lớn đều được nối kết và mọi cõi đều tương liên; quá khứ đã đóng góp công trình đã hoàn tất của nó; hiện tại đang gợi lên sự phát triển đúng đắn và chính đáng của nó; tương lai của điều kỳ diệu và của khả năng thiêng liêng đang xuất hiện—kết quả của nó tùy thuộc vào một tinh thần thấu hiểu đúng đắn và khẩn cầu. Ba phát biểu trong Tân Ước giờ đây bắt đầu chứng minh ý nghĩa huyền bí sâu xa và năng lực sống động kỳ diệu của chúng:

[table 164]

[table 164]

The three aspects of divinity in man achieve practical expression through the influence of the Great Invocation, both in living usefulness and true comprehension—true at least in so far as man’s present point in evolution permits of his correct apprehension of significance. Goodwill, as the practical and possible expression of love demonstrates on earth, evoking right relationship; light, as the expression of the Hierarchy pours into the human consciousness, irradiating all dark places and evoking a response from all [165] forms of life in the three worlds of manifestation, and in the three subhuman kingdoms through the medium of the human; peace, as the expression of the will of Shamballa produces balance, equilibrium, synthesis and understanding, plus a spirit of invocation which is basically an action, producing reaction. This demonstrates as the first great creative and magical work of which humanity is capable, swinging, as it does, all the three divine aspects into a simultaneous activity in line with the will of God.

Ba phương diện của thiên tính trong con người đạt được biểu hiện thực tiễn qua ảnh hưởng của Đại Khấn Nguyện, cả trong tính hữu dụng sống động lẫn trong sự thấu hiểu chân chính—ít nhất là chân chính trong chừng mực mà điểm tiến hoá hiện nay của con người cho phép y lĩnh hội đúng đắn thâm nghĩa. Thiện chí, như biểu hiện thực tiễn và khả hữu của tình thương được chứng minh trên địa cầu, gợi lên tương quan đúng đắn; ánh sáng, như biểu hiện của Thánh Đoàn tuôn vào tâm thức nhân loại, chiếu rạng mọi nơi tối tăm và gợi lên một đáp ứng từ mọi [165] hình tướng sự sống trong ba cõi thấp của biểu hiện, và trong ba giới dưới nhân loại qua trung gian của con người; hòa bình, như biểu hiện của ý chí Shamballa tạo ra sự quân bình, thăng bằng, tổng hợp và thấu hiểu, cùng với một tinh thần khẩn cầu vốn căn bản là một hành động, tạo ra phản ứng. Điều này chứng minh công trình sáng tạo và huyền thuật lớn đầu tiên mà nhân loại có khả năng thực hiện, vì nó đưa cả ba phương diện thiêng liêng vào một hoạt động đồng thời phù hợp với Ý Chí của Thượng Đế.

We come now to the last two phrases which summarise the effects—synthetic and eternal (and consequently lasting) which the establishment of direct relationship with Shamballa will produce in the two other planetary centres, the Hierarchy and Humanity. I refer to effects which will express themselves as a group activity, motivated by the essential values of selflessness and persistent effort (which is sustained concentration, in the last analysis) and thereby producing conditions for which the Lord of the World, the Ancient of Days, has long waited. The patience and sustaining love of Shamballa is infinite.

Giờ đây chúng ta đến với hai cụm từ cuối cùng, những cụm từ tóm lược các hiệu quả—tổng hợp và vĩnh cửu (và do đó bền lâu)—mà việc thiết lập mối liên hệ trực tiếp với Shamballa sẽ tạo ra trong hai trung tâm hành tinh kia là Thánh Đoàn và Nhân loại. Tôi muốn nói đến những hiệu quả sẽ biểu lộ như một hoạt động nhóm, được thúc đẩy bởi các giá trị cốt yếu của tính vô ngã và nỗ lực bền bỉ (mà xét đến cùng là sự tập trung duy trì), và nhờ đó tạo ra những điều kiện mà Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, đã chờ đợi từ lâu. Sự kiên nhẫn và tình thương nâng đỡ của Shamballa là vô hạn.

The fourth phrase runs: May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time. As you know, the word “forgiveness” is a curious and unusual one and signifies (according to the best derivative sources) simply “to give for.” Forgiveness is not therefore, a synonym for pardon though the word has been distorted in theological circles to mean this, so little has the Church understood the basic, motivating power behind divine expression in our solar system. Theologians ever think in terms of the human mind and not in terms of the divine mind. Forgiveness is sacrifice, and is the giving up of one’s self, even of one’s very life, for the sake of others and for the good of the whole group. This spirit of sacrifice is ever found when the Shamballa force is rightly contacted, even in the smallest degree, and the underlying impulse behind the loving will of God is sensed and understood, accompanied as this always is with the desire to participate in that will and its spirit of divine sacrifice. Manifestation is itself the Great Forgiveness. The [166] stupendous Lives—outside manifested existence—entered into manifestation in order to give Themselves for the lesser lives and forms of existence in order that these lesser lives might be enabled to proceed onward towards a goal which is known to Deity alone, and thus eventually reach high places of spiritual expression. Achievement is ever followed by sacrifice and the giving of the greater for the lesser. This is an aspect of the Law of Evolution. Such is the note and theme of the entire creative process and is the basic meaning of the phrase, “God is Love,” for love signifies giving and sacrifice, at least in this solar system.

Cụm từ thứ tư là: Nguyện cho sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này. Như các bạn biết, từ “tha thứ” là một từ lạ và bất thường, và theo những nguồn gốc từ nguyên tốt nhất, nó chỉ đơn giản có nghĩa là “cho vì”. Vì vậy, tha thứ không phải là từ đồng nghĩa với sự khoan thứ, mặc dù trong giới thần học từ này đã bị bóp méo để mang nghĩa ấy; Giáo hội đã hiểu quá ít về mãnh lực căn bản, thúc đẩy đằng sau biểu hiện thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta. Các nhà thần học luôn suy nghĩ theo thuật ngữ của trí tuệ con người chứ không theo thuật ngữ của trí tuệ thiêng liêng. Tha thứ là hi sinh, và là sự cho đi chính mình, thậm chí cả chính sự sống của mình, vì người khác và vì lợi ích của toàn nhóm. Tinh thần hi sinh này luôn được tìm thấy khi mãnh lực Shamballa được tiếp xúc đúng đắn, dù chỉ ở mức nhỏ nhất, và khi xung lực nền tảng đằng sau ý chí đầy bác ái của Thượng đế được cảm nhận và thấu hiểu, luôn đi kèm với ước muốn tham dự vào ý chí đó và tinh thần hi sinh thiêng liêng của nó. Bản thân biểu hiện chính là Sự Tha Thứ Vĩ Đại. Các [166] Sự Sống kỳ vĩ—ở ngoài sự tồn tại biểu hiện—đã đi vào biểu hiện để hiến dâng Chính Các Ngài cho những sự sống và hình tướng tồn tại nhỏ hơn, hầu cho những sự sống nhỏ hơn ấy có thể được giúp tiến bước về một mục tiêu mà chỉ Thượng đế biết, và nhờ đó cuối cùng đạt đến những đỉnh cao của biểu hiện tinh thần. Thành tựu luôn được tiếp theo bởi hi sinh và sự cho đi của cái lớn hơn vì cái nhỏ hơn. Đây là một phương diện của Định luật tiến hoá. Đó là âm điệu và chủ đề của toàn bộ tiến trình sáng tạo và là ý nghĩa căn bản của cụm từ “Thượng đế là Tình thương”, vì tình thương hàm ý sự cho đi và hi sinh, ít nhất trong hệ mặt trời này.

It is for this reason that the esoteric teaching emphasises the fact that the soul of man is a Lord of Sacrifice and of loving persistent Devotion—the two outstanding qualities of the Shamballa Lives, sustaining life and giving. This is lasting devotion to the good of the whole or the expression of the spirit of synthesis and sacrifice in order again that all lesser lives (such as those embodied in the personality of man) may rise to the “resurrection which is in Christ,” through the crucifixion or sacrifice of the soul upon the Cross of Matter.

Chính vì lý do đó mà giáo huấn huyền bí nhấn mạnh sự kiện rằng linh hồn con người là một Chúa Tể của Hi Sinh và của sự Sùng kính đầy bác ái, bền bỉ—hai phẩm tính nổi bật của các Sự Sống Shamballa, nâng đỡ sự sống và cho đi. Đây là sự sùng kính bền lâu đối với lợi ích của toàn thể, hay biểu hiện của tinh thần tổng hợp và hi sinh để một lần nữa mọi sự sống nhỏ hơn (như những sự sống được hiện thân trong phàm ngã con người) có thể vươn lên tới “sự phục sinh trong Đức Christ”, qua sự đóng đinh hay hi sinh của linh hồn trên Thập Giá của Vật Chất.

It is this thought again which gives significance to the life of Christ on earth for He re-enacted for us an eternal process, externalising it in such a way that it became the symbol of the motive of the entire manifested universe and the impulse which should direct each of us—crucifixion and death, resurrection and life, and the consequent salvation of the whole.

Chính tư tưởng này lại đem ý nghĩa cho cuộc đời của Đức Christ trên địa cầu, vì Ngài đã tái hiện cho chúng ta một tiến trình vĩnh cửu, ngoại hiện nó theo cách khiến nó trở thành biểu tượng cho động cơ của toàn thể vũ trụ biểu hiện và cho xung lực phải hướng dẫn mỗi chúng ta—đóng đinh và cái chết, phục sinh và sự sống, và kết quả là sự cứu rỗi của toàn thể.

It is this thought which is embodied in the challenge of this fourth phrase of the Great Invocation, and means literally, “May all men everywhere respond to the keynote of the universe and give themselves for others.”

Chính tư tưởng này được hàm chứa trong thách thức của cụm từ thứ tư của Đại Khấn Nguyện, và theo nghĩa đen có nghĩa là: “Nguyện cho mọi người ở khắp nơi đáp ứng với chủ âm của vũ trụ và hiến mình vì người khác.”

And, is not this in a faint and dim manner, the present keynote of human effort? In spite of a real inability to think truly, effectively and intuitively, the mass of men in all lands are responding clearly and definitely to this note of sacrifice. Leaders of the great nations everywhere are using this note and call to sacrifice in their appeals at this time to [167] their peoples. Men in Germany were called to battle by their leaders with the challenge of sacrifice and told that they must give their lives in order that Germany may live. A study of the speeches by the German leaders will be found to contain this note. The other group, whom you call the Allies (because they stand more specifically for the good of the whole and not for the good of the separated nation or unit) are also calling the masses of their people to fight for the good of civilisation and for the preservation of those values which are next upon the evolutionary scale and essential to the general good. The wording of these calls and the objectives expressed may differ in formulation but the theme is the same and the effect is to call forth the spirit of sacrifice in the nations. Though the motives behind such a call may be mixed and the leaders guided as much by expediency and selfish, national interests as by the general good, yet they know that the note which will evoke an immediate response from the unit and the individual is fundamentally the good of the larger unit (the nation or the group of nations). Therefore, forgiveness or sacrifice in order to save others is increasingly the recognised needed keynote at this time and in this recognition lies much to justify the sorry story of past evolutionary processes and methods. When it is recognised that the “giving-for” involves right living upon the physical plane and not (as is so often thought) the dying of the physical body then we shall see a revitalised world. It is the living Christ (the living world Saviour) Who saves humanity. It is the sacrifice, day by day, in the process of daily living which can save the world of men—the sacrifice of selfish personal interests for the good of the whole and the giving up of one’s practical life to the salvage of the world. It is living in order that others too may live which is the theme of the New Testament. When, therefore, the mode of sacrifice enters into the realm of the subtler and subjective values and the true meaning of forgiveness is intellectually, practically and spiritually comprehended, the New Age will be abundantly realised with its truly human civilisation and a culture which will embody [168] the realities of the esoteric teaching, as well as the best of the externalised past. Then and only then will the new esotericism be revealed to a race of men who have made aspiration a fact in their outer experience. The attitude of the masses in the present conflict is the guarantee of this and the proof also of the success of Christ’s mission.

Và chẳng phải đây, dù chỉ một cách mờ nhạt, chính là chủ âm hiện nay của nỗ lực nhân loại sao? Mặc cho sự bất lực thực sự trong việc suy nghĩ chân chính, hữu hiệu và trực giác, quần chúng ở mọi xứ sở đang đáp ứng rõ ràng và dứt khoát với âm điệu hi sinh này. Các nhà lãnh đạo của những quốc gia lớn ở khắp nơi đang dùng âm điệu và lời kêu gọi hi sinh này trong những lời hiệu triệu hiện nay gửi tới [167] dân chúng của họ. Những người ở Đức đã được các lãnh đạo của họ kêu gọi ra trận bằng thách thức hi sinh và được bảo rằng họ phải hiến mạng sống mình để nước Đức có thể sống. Nghiên cứu các bài diễn văn của các lãnh đạo Đức sẽ thấy có âm điệu này. Nhóm kia, mà các bạn gọi là Đồng minh (vì họ đứng một cách đặc biệt hơn cho lợi ích của toàn thể chứ không phải cho lợi ích của quốc gia hay đơn vị tách biệt), cũng đang kêu gọi quần chúng của họ chiến đấu vì lợi ích của nền văn minh và vì sự bảo tồn những giá trị đang ở nấc kế tiếp trên thang tiến hoá và thiết yếu cho lợi ích chung. Cách diễn đạt của những lời kêu gọi này và các mục tiêu được nêu ra có thể khác nhau về hình thức, nhưng chủ đề thì giống nhau và hiệu quả là khơi dậy tinh thần hi sinh trong các quốc gia. Dù động cơ đằng sau lời kêu gọi ấy có thể pha tạp và các nhà lãnh đạo được dẫn dắt bởi tính cơ hội và quyền lợi ích kỷ quốc gia cũng nhiều như bởi lợi ích chung, tuy nhiên họ biết rằng âm điệu sẽ gợi lên đáp ứng tức thì từ đơn vị và cá nhân về căn bản là lợi ích của đơn vị lớn hơn (quốc gia hay nhóm quốc gia). Vì vậy, tha thứ hay hi sinh để cứu người khác ngày càng được nhìn nhận là chủ âm cần thiết vào lúc này, và chính trong sự nhìn nhận này có nhiều điều để biện minh cho câu chuyện đáng buồn của các tiến trình và phương pháp tiến hoá trong quá khứ. Khi người ta nhận ra rằng “cho vì” bao hàm sống đúng đắn trên cõi hồng trần chứ không phải (như thường được nghĩ) là cái chết của thể xác, thì chúng ta sẽ thấy một thế giới được tiếp sinh lực. Chính Đức Christ hằng sống (Đấng Cứu Thế của thế giới hằng sống) cứu rỗi nhân loại. Chính sự hi sinh, ngày này qua ngày khác, trong tiến trình sống hằng ngày mới có thể cứu thế giới loài người—sự hi sinh những quyền lợi cá nhân ích kỷ vì lợi ích của toàn thể và sự từ bỏ đời sống thực tiễn của mình để cứu vớt thế giới. Sống để những người khác cũng có thể sống là chủ đề của Tân Ước. Vì vậy, khi phương thức hi sinh đi vào lĩnh vực của những giá trị tinh tế hơn và chủ quan hơn, và ý nghĩa chân thật của sự tha thứ được thấu hiểu về mặt trí tuệ, thực tiễn và tinh thần, thì Kỷ Nguyên Mới sẽ được chứng nghiệm dồi dào với nền văn minh thực sự nhân bản của nó và một nền văn hóa sẽ thể hiện [168] các thực tại của giáo huấn huyền bí, cũng như những gì tốt đẹp nhất của quá khứ đã được ngoại hiện. Khi đó và chỉ khi đó, huyền bí học mới mới được mặc khải cho một nhân loại đã biến khát vọng thành một sự kiện trong kinh nghiệm bên ngoài của họ. Thái độ của quần chúng trong cuộc xung đột hiện nay là sự bảo đảm cho điều này và cũng là bằng chứng về thành công của sứ mệnh của Đức Christ.

The result of what is happening today must, sooner or later, produce an at-one-ment between all nations and peoples. At-one-ment is ever (under evolutionary law) the consequence of sacrifice. Of this, Christ’s sacrifice was the symbol and the guarantee, impulsed as His life and activities were by the Spirit of Peace. As He made “of twain, one new man, so making peace” (Ephesians 2:15) so today out of the duality of soul and body, humanity is achieving the same ends and the result of this final stage of the Piscean Age will be the fusion in consciousness of soul and body. The Aquarian Age will demonstrate an increasing expression of this at-one-ment, wrought out in the crucifixion of humanity at the present time. The difference between this coming stage and that of the past is that, in the past, the soul has sought this development and at-one-ment and (from the angle of evolution) it has been slowly and gradually attained, but in the future, it will be consciously sought, achieved and recognised by man upon the physical plane as a result of the present period of “giving-for” the whole, of the best which the individual can give.

Kết quả của những gì đang xảy ra hôm nay, sớm hay muộn, phải tạo ra một sự hợp nhất giữa mọi quốc gia và dân tộc. Sự hợp nhất luôn luôn là (dưới định luật tiến hoá) hệ quả của hi sinh. Về điều này, sự hi sinh của Đức Christ là biểu tượng và sự bảo chứng, vì đời sống và hoạt động của Ngài được thúc đẩy bởi Đấng Tinh thần Hòa Bình. Cũng như Ngài đã làm cho “hai bên thành một người mới, nhờ đó tạo nên hòa bình” (Ê-phê-sô 2:15), thì ngày nay từ nhị nguyên tính của linh hồn và thể xác, nhân loại đang đạt đến cùng mục đích ấy, và kết quả của giai đoạn cuối cùng này của Kỷ Nguyên Song Ngư sẽ là sự dung hợp trong tâm thức của linh hồn và thể xác. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng minh một biểu hiện ngày càng tăng của sự hợp nhất này, được thực hiện qua sự đóng đinh của nhân loại vào thời điểm hiện nay. Sự khác biệt giữa giai đoạn sắp tới này và giai đoạn quá khứ là ở chỗ, trong quá khứ, linh hồn đã tìm kiếm sự phát triển và sự hợp nhất này và (xét từ góc độ tiến hoá) nó đã đạt được một cách chậm chạp và dần dần; nhưng trong tương lai, nó sẽ được con người tìm kiếm một cách có ý thức, đạt được và nhìn nhận trên cõi hồng trần như kết quả của giai đoạn hiện nay của việc “cho vì” toàn thể, của điều tốt đẹp nhất mà cá nhân có thể cho đi.

I would point out that just as the energies released by use of the first three phrases of the Invocation relate to the Head, Shamballa; to the Heart, the Hierarchy; and to the Throat centre, Humanity; so the right use of this fourth phrase will bring into conscious, functioning activity the centre between the eyebrows, the ajna centre in individual man and in humanity as whole. This centre begins to become active and to function dynamically, governing and directing the individual energies, once any real measure of personality integration has been achieved. It is, as you know, the fourth centre found above the diaphragm [169] in the human body and the phrase which awakens it (both individually and in the group) is this fourth phrase. There is, therefore, a numerical relationship. When used wisely and intelligently by human beings, many of the blended potencies which the first three phrases have made available are invoked and so made available to the individual as well as to the group. They can then be focussed for his use in the ajna centre. In many ways, therefore, this fourth phrase of the Great Invocation is of paramount importance to the individual as well as to humanity, invoking as it does great and vital potencies and indicating process (Sacrifice) and purpose, plus the identification of the unit and the group with the basic intent of manifestation.

Tôi muốn chỉ ra rằng cũng như các năng lượng được giải phóng nhờ sử dụng ba cụm từ đầu của Khấn Nguyện liên hệ với Đầu, Shamballa; với Tim, Thánh Đoàn; và với trung tâm Cổ Họng, Nhân loại; thì việc sử dụng đúng đắn cụm từ thứ tư này sẽ đưa vào hoạt động hữu thức và chức năng trung tâm giữa hai chân mày, trung tâm ajna trong con người cá nhân và trong toàn thể nhân loại. Trung tâm này bắt đầu trở nên hoạt động và vận hành một cách năng động, cai quản và chỉ đạo các năng lượng cá nhân, một khi đã đạt được bất kỳ mức độ tích hợp phàm ngã thực sự nào. Như các bạn biết, đây là trung tâm thứ tư nằm phía trên cơ hoành [169] trong thể người, và cụm từ đánh thức nó (cả nơi cá nhân lẫn trong nhóm) chính là cụm từ thứ tư này. Vì vậy, có một tương quan số học. Khi được con người sử dụng một cách khôn ngoan và thông tuệ, nhiều năng lực dung hợp mà ba cụm từ đầu đã làm cho khả dụng sẽ được khẩn cầu và nhờ đó trở nên khả dụng cho cá nhân cũng như cho nhóm. Khi ấy chúng có thể được tập trung để y sử dụng trong trung tâm ajna. Vì thế, theo nhiều cách, cụm từ thứ tư này của Đại Khấn Nguyện có tầm quan trọng tối thượng đối với cá nhân cũng như đối với nhân loại, vì nó khẩn cầu những năng lực lớn lao và thiết yếu, đồng thời chỉ ra tiến trình (Hi sinh) và mục đích, cùng với sự đồng hoá của đơn vị và nhóm với ý định căn bản của biểu hiện.

The fifth phrase, Let power attend the efforts of the Great Ones, is definitely related to the effect in the Hierarchy of a constructive use of the Great Invocation, just as the previous one is related to the effect in humanity. This effect in the Hierarchy is a relatively new one and is due to the participation of humanity in the process of invocation, thus producing new effects and contacts. It is the united effort of the two great centres which is of such paramount importance and upon which I desire to have you concentrate. Its utterance by man throws the weight of human appeal and desire behind the age-old efforts of the Hierarchy and this is now, for the first time, truly possible on a large scale. For aeons, the Hierarchy has struggled alone to help and lift humanity and to stimulate the potency of the human planetary centre so that its vibratory activity would eventually be sufficiently powerful to swing it into the radius or magnetic field of hierarchical activity. This long task has at last achieved success. The Hierarchy and humanity are at last en rapport. This is the higher reflection or correspondence to what goes on within the consciousness of a human being who—having reached the stage of discipleship—is at the point of blending the light of the personality (as it is expressed through the ajna centre and its externalisation, the pituitary body) and the light of the soul (as it is, in its turn, expressed [170] by the light in the head, or by the head centre and its externalisation, the pineal gland).

Cụm từ thứ năm, Nguyện cho quyền năng đi kèm những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả, rõ ràng liên hệ với hiệu quả trong Thánh Đoàn của việc sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách xây dựng, cũng như cụm từ trước liên hệ với hiệu quả trong nhân loại. Hiệu quả này trong Thánh Đoàn là một điều tương đối mới và là do sự tham gia của nhân loại vào tiến trình khẩn cầu, nhờ đó tạo ra những hiệu quả và tiếp xúc mới. Chính nỗ lực hợp nhất của hai trung tâm lớn này có tầm quan trọng tối thượng như vậy, và đó là điều tôi muốn các bạn tập trung vào. Việc con người xướng lên cụm từ này đặt sức nặng của lời kêu cầu và khát vọng nhân loại đằng sau những nỗ lực lâu đời của Thánh Đoàn, và điều này giờ đây lần đầu tiên thực sự có thể thực hiện trên quy mô lớn. Trong nhiều đại kiếp, Thánh Đoàn đã đơn độc phấn đấu để giúp đỡ và nâng cao nhân loại, và để kích thích năng lực của trung tâm hành tinh nhân loại sao cho hoạt động rung động của nó cuối cùng đủ mạnh để đưa nó vào trong bán kính hay từ trường của hoạt động phân cấp. Công việc lâu dài này cuối cùng đã thành công. Thánh Đoàn và nhân loại cuối cùng đã tương thông. Đây là sự phản chiếu cao hơn hay tương ứng với điều diễn ra trong tâm thức của một con người mà—sau khi đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử—đang ở điểm dung hợp ánh sáng của phàm ngã (như được biểu lộ qua trung tâm ajna và sự ngoại hiện của nó là tuyến yên) với ánh sáng của linh hồn (như đến lượt nó được biểu lộ [170] bởi ánh sáng trong đầu, hay bởi trung tâm đầu và sự ngoại hiện của nó là tuyến tùng quả).

You will, therefore, note afresh the practical significance of these fourth and fifth phrases of the Great Invocation. One serves to arouse humanity (as a planetary centre) to activity and realisation and the other serves to aid the Hierarchy in its ancient efforts so that the two are then related to each other’s magnetic fields and produce a blending and a synthesis which will lead to a fuller expression of the soul of divinity through the medium of humanity. Ponder on this statement.

Vì vậy, các bạn sẽ lại lưu ý ý nghĩa thực tiễn của các cụm từ thứ tư và thứ năm này của Đại Khấn Nguyện. Một cụm từ giúp khơi dậy nhân loại (như một trung tâm hành tinh) đi vào hoạt động và chứng nghiệm, còn cụm từ kia giúp Thánh Đoàn trong những nỗ lực cổ xưa của mình, để rồi cả hai được liên hệ với từ trường của nhau và tạo ra một sự dung hợp và tổng hợp sẽ dẫn đến biểu hiện đầy đủ hơn của linh hồn của thiên tính qua trung gian nhân loại. Hãy suy ngẫm về phát biểu này.

In the esoteric teaching, this takes place in the life of the individual when—by an act of the will—the centre at the base of the spine is aroused and the fire and the light of the personal threefold life (one aspect of which is often called the kundalini fire) is carried upwards and merged with the power and the light of the soul. The major approach of the two basic energies of form and soul (as an expression of spirit) are thereby related within the human being; the “marriage in the heavens” takes place and the task of the creative process of incarnation or individual manifestation is on the way to completion. Within the planetary life, the same process goes on. The life of humanity as a whole (which is intelligent form life) and the life of the Hierarchy (which is the life of the soul), under impulse from the Spirit or will aspect as symbolised in Shamballa, are fused and blended and then a new departure in the evolutionary process becomes possible. The kingdom of God, which is the kingdom of souls, and the human kingdom as mutually expressive and interrelated, are perfectly synthesised and anchored on earth. The glory of the One can then be faintly seen, which is the glory of Shamballa. The Dweller upon the threshold of divinity and the Angel of the Presence then stand face to face.

Trong giáo huấn huyền bí, điều này diễn ra trong đời sống cá nhân khi—bằng một hành động của ý chí—trung tâm ở đáy cột sống được khơi dậy và lửa cùng ánh sáng của đời sống tam phân cá nhân (một phương diện của nó thường được gọi là lửa kundalini) được mang lên trên và hòa nhập với quyền năng và ánh sáng của linh hồn. Nhờ đó, sự tiếp cận chủ yếu của hai năng lượng căn bản là hình tướng và linh hồn (như một biểu hiện của tinh thần) được liên hệ trong con người; “cuộc hôn phối trên thiên giới” diễn ra và nhiệm vụ của tiến trình sáng tạo của sự nhập thể hay biểu hiện cá nhân đang trên đường hoàn tất. Trong sự sống hành tinh, cùng một tiến trình cũng diễn ra. Sự sống của toàn thể nhân loại (là sự sống hình tướng thông tuệ) và sự sống của Thánh Đoàn (là sự sống của linh hồn), dưới xung lực từ phương diện Tinh thần hay ý chí như được tượng trưng trong Shamballa, được dung hợp và hòa trộn, và khi ấy một khởi đầu mới trong tiến trình tiến hoá trở nên khả hữu. Thiên Giới, là giới của các linh hồn, và giới nhân loại như những biểu hiện hỗ tương và tương liên, được tổng hợp hoàn hảo và neo chặt trên địa cầu. Khi ấy vinh quang của Đấng Duy Nhất có thể được thấy lờ mờ, đó là vinh quang của Shamballa. Kẻ Chận Ngõ trên ngưỡng cửa của thiên tính và Thiên Thần của Hiện Diện khi ấy đứng đối diện nhau.

This is the situation today. Tomorrow they will blend and synthesise and the glory of God will appear on earth. The second great Approach will have been achieved. [171]

Đó là tình hình hôm nay. Ngày mai chúng sẽ dung hợp và tổng hợp, và vinh quang của Thượng đế sẽ xuất hiện trên địa cầu. Cuộc Tiếp Cận lớn thứ hai sẽ đã được thành tựu. [171]