← Externalisation of the Hierarchy

CALL TO A UNITED ACT OF SERVICE—LỜI KÊU GỌI CHO MỘT HÀNH ĐỘNG PHỤNG SỰ HỢP NHẤT

CALL TO A UNITED ACT OF SERVICE—LỜI KÊU GỌI CHO MỘT HÀNH ĐỘNG PHỤNG SỰ HỢP NHẤT

November 1939

Tháng Mười Một 1939

The situation is serious. Sea and air and land are arrayed against the Forces of Light; they are the agents of material substance and can be used potently against the spiritual Forces. The forces of the air are, however, increasingly on our side. The Members of the Hierarchy are hard put to it to turn the tide in favour of that true and more spiritual civilisation which is on the way. This civilisation will be a combination of the best which has hitherto been produced and that which is new and, as yet, dimly sensed by the best of the world thinkers. The tide must be turned in favour of that which we call righteousness.

Tình hình thật nghiêm trọng. Biển, không trung và đất liền đang được huy động chống lại các Mãnh Lực của Ánh Sáng; chúng là các tác nhân của chất liệu vật chất và có thể được dùng một cách mạnh mẽ chống lại các Mãnh Lực tinh thần. Tuy nhiên, các mãnh lực của không trung ngày càng đứng về phía chúng ta. Các Thành viên của Thánh Đoàn đang phải hết sức cố gắng để xoay chuyển cục diện theo hướng có lợi cho nền văn minh chân chính và tinh thần hơn đang trên đường xuất hiện. Nền văn minh này sẽ là sự kết hợp giữa những gì tốt đẹp nhất đã từng được tạo ra cho đến nay và điều mới mẻ mà hiện giờ những nhà tư tưởng ưu tú nhất của thế giới mới chỉ cảm nhận lờ mờ. Cục diện phải được xoay chuyển theo hướng có lợi cho điều mà chúng ta gọi là chính nghĩa.

The seeds of evil are in every country; those who war against that which is good are numerous in every land, whether they war with aggressive and planned intent, whether they preserve an attitude of passivity and acceptance, or a planned neutrality, as in America, or are actively fighting for that which is against the material forces.

Hạt giống của điều ác có trong mọi quốc gia; những kẻ gây chiến chống lại điều thiện thì đông đảo ở mọi xứ sở, dù họ chiến đấu với ý đồ xâm lược và có kế hoạch, dù họ giữ thái độ thụ động và chấp nhận, hay một sự trung lập có tính toán như ở Mỹ, hoặc đang tích cực chiến đấu cho điều chống lại các mãnh lực vật chất.

The World Crisis was, as you know, inevitable, but physical warfare could have been avoided if right psychological methods had been employed, and it could have been cured if a process of transmutation and of transference had been correctly carried forward, and if the spirit of sacrifice had also been demonstrated by the world aspirants. The need for group sacrifice has not met with adequate response, except in those cases where it has been imposed by governments upon their nationals. Such is the sorry history of what is taking place today.

Như các bạn biết, Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới là điều không thể tránh khỏi, nhưng chiến tranh hồng trần đã có thể tránh được nếu những phương pháp tâm lý đúng đắn được sử dụng, và nó đã có thể được chữa lành nếu một tiến trình chuyển hoá và chuyển dịch được tiến hành đúng cách, và nếu tinh thần hi sinh cũng đã được các người chí nguyện thế giới biểu lộ. Nhu cầu về hi sinh nhóm đã không nhận được đáp ứng đầy đủ, ngoại trừ trong những trường hợp nó bị các chính phủ áp đặt lên công dân của họ. Đó là lịch sử đáng buồn của những gì đang diễn ra hôm nay.

What can be done at the present moment to arrest defeat and the overwhelming of the Forces of Light? Here I refer not to the outer physical victory. True victory will not be indicated unless the higher values which should govern human civilisation emerge with clarity and power. I would here like to emphasise the fact that the tide must be definitely turned before the close of the year if a prolonged conflict is to be avoided. I would ask you, therefore, to participate [172] in the subjective focussing and rallying of the world thinkers, and particularly the heads of organisations, groups and churches of all kinds and temperaments who can swing their many adherents into a uniform and united activity.

Hiện nay có thể làm gì để ngăn chặn thất bại và sự áp đảo các Mãnh Lực của Ánh Sáng? Ở đây tôi không nói đến chiến thắng hồng trần bên ngoài. Chiến thắng chân chính sẽ không được chứng tỏ trừ phi những giá trị cao hơn, vốn phải chi phối nền văn minh nhân loại, xuất hiện với sự rõ ràng và mãnh lực. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh sự kiện rằng cục diện nhất định phải được xoay chuyển trước khi năm nay kết thúc nếu muốn tránh một cuộc xung đột kéo dài. Vì vậy, tôi yêu cầu các bạn tham gia [172] vào việc tập trung chủ quan và tập hợp các nhà tư tưởng thế giới, đặc biệt là những người đứng đầu các tổ chức, nhóm và giáo hội thuộc mọi loại và mọi khí chất, những người có thể đưa nhiều người theo họ vào một hoạt động đồng nhất và hợp nhất.

The Masters of the Wisdom have no time today to do the task Themselves; Their hands are full, combating the forces of materialism. These forces are active in every country; the Hierarchy in its consciousness does not isolate Germany, even though these forces have chosen that sad land for their major point of departure and enterprise; in Germany They have Their people working as elsewhere. The Masters of the Wisdom are active in dispelling the depressions and terrors which settle down upon all Their workers in the arena of the world today, as these workers struggle to stand steady under the fierce impact of wrong thinking and of world-wide despair; these workers are likewise sensitive (owing to their point of integrated development) to the agony of mind, the tension of emotion and the ravages of physical pain which are felt by all those upon whom the War has had its dire effects, and upon whom it has laid the hand of suffering. Such a sensitivity and such a sympathetic response are apt to produce a condition of negativity and a psychic preoccupation with the immediate situation among all workers, and thus render them deaf to the call of their actual duty or else liable to become distraught by the dual effort of being effective in service, whilst at the same time fighting off emotional reactions. The capacity of the worker to respond, therefore, to the inner voices and to serve dispassionately and selflessly is seriously handicapped.

Các Chân sư Minh Triết ngày nay không có thời gian để tự mình làm công việc ấy; tay Các Ngài đã đầy việc trong cuộc chiến chống các mãnh lực của chủ nghĩa duy vật. Những mãnh lực này hoạt động trong mọi quốc gia; Thánh Đoàn trong tâm thức của mình không cô lập nước Đức, dù các mãnh lực ấy đã chọn xứ sở đáng buồn đó làm điểm xuất phát và hoạt động chủ yếu của chúng; tại Đức, Các Ngài có những người của mình đang làm việc cũng như ở nơi khác. Các Chân sư Minh Triết đang hoạt động để làm tiêu tan những nỗi u uất và kinh hoàng đè nặng lên tất cả những người hoạt động của Các Ngài trong đấu trường thế giới hôm nay, khi những người hoạt động này cố gắng đứng vững dưới tác động dữ dội của tư tưởng sai lầm và sự tuyệt vọng toàn cầu; những người hoạt động này cũng nhạy cảm (do điểm phát triển tích hợp của họ) với nỗi thống khổ của trí tuệ, sự căng thẳng của cảm xúc và sự tàn phá của đau đớn thể xác mà tất cả những ai bị Chiến Tranh gây hậu quả thảm khốc đều cảm nhận, và lên những ai nó đã đặt bàn tay đau khổ. Sự nhạy cảm như vậy và đáp ứng đầy cảm thông như vậy dễ tạo ra một tình trạng tiêu cực và một sự bận tâm thông linh với tình hình trước mắt nơi mọi người hoạt động, và do đó khiến họ điếc trước tiếng gọi của bổn phận thực sự của mình, hoặc khiến họ dễ trở nên rối loạn bởi nỗ lực kép là vừa hữu hiệu trong phụng sự, vừa đồng thời chống lại các phản ứng cảm xúc. Vì vậy, năng lực đáp ứng của người hoạt động đối với những tiếng nói bên trong và phụng sự một cách vô tư, vô ngã bị cản trở nghiêm trọng.

I challenge all workers and all members of the New Group of World Servers to leave their personal problems behind. This is a time of crisis and such problems must be solved through complete self-forgetfulness. I ask you to work anew with fresh ardour in joyful service, forgetting past weaknesses and failures in the urgency of that which I ask all to do for the world. There has been much lack of joy in the service rendered to the world lately. When I speak thus, I refer not to happiness, which is a personality reaction, [173] but to that joyous confidence in the law and in the Hierarchy which lies behind the Biblical words, “The joy of the Lord is our strength.” “Rise up and fight, Arjuna,” preserving the flame of love intact, permitting no breath of hate to disturb the serenity of love or upset that inner poise which will enable you to sound forth the clarion note of world understanding, that will rally all men and women of goodwill to the aid of the Hierarchy. This will bring to an end all hatred, separativeness and aggression, which are the three major sins of humanity. All men have hated; all men have been separative in both thought and action; all have been and many still are materialistic, full of pride and the desire to gain that which is not their own by right. This spirit of acquisitiveness belongs to no one group; it has been a universal and general fault, and has produced the present disastrous economic situation, thus precipitating the world into war, hate and cruelty.

Tôi thách thức mọi người hoạt động và mọi thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hãy để lại phía sau những vấn đề cá nhân của mình. Đây là thời kỳ khủng hoảng và những vấn đề ấy phải được giải quyết bằng sự quên mình hoàn toàn. Tôi yêu cầu các bạn hãy làm việc lại với nhiệt tâm mới trong sự phụng sự hoan hỉ, quên đi những yếu kém và thất bại trong quá khứ trước tính cấp bách của điều tôi yêu cầu tất cả cùng làm cho thế giới. Gần đây đã có quá nhiều thiếu vắng niềm vui trong sự phụng sự dành cho thế giới. Khi tôi nói như vậy, tôi không nói đến hạnh phúc, vốn là một phản ứng của phàm ngã, [173] mà nói đến sự tin tưởng hoan hỉ vào định luật và vào Thánh Đoàn, điều nằm sau những lời trong Kinh Thánh: “Sự vui mừng của Chúa là sức mạnh của chúng ta.” “Hãy đứng dậy và chiến đấu, Arjuna,” giữ nguyên ngọn lửa bác ái, không cho một hơi thở nào của hận thù làm xáo trộn sự tĩnh lặng của tình thương hay làm mất quân bình nội tâm vốn sẽ giúp các bạn cất lên tiếng kèn hiệu của sự thấu hiểu thế giới, tiếng gọi sẽ tập hợp mọi những người nam và nữ thiện chí đến trợ giúp Thánh Đoàn. Điều này sẽ chấm dứt mọi hận thù, tính chia rẽ và sự xâm lược, là ba tội lỗi lớn của nhân loại. Mọi người đều đã từng hận thù; mọi người đều đã từng chia rẽ trong cả tư tưởng lẫn hành động; mọi người đều đã từng và nhiều người vẫn còn duy vật, đầy kiêu ngạo và ham muốn chiếm lấy điều không thuộc về mình một cách chính đáng. Tinh thần tham chiếm này không thuộc riêng nhóm nào; đó là một lỗi lầm phổ quát và chung, và đã tạo ra tình trạng kinh tế tai hại hiện nay, do đó đẩy thế giới vào chiến tranh, hận thù và tàn bạo.

The fusion of many minds into one directed activity is today of supreme importance; this has been symbolised in the union which now exists between two great nations, France and Great Britain. Unity of directed thought and purpose is the guarantee of inevitable and future success. The power of massed thought is omnipotent. The potency of focussed and directed mental activity is unpredictable. If you accept this premise and this statement, then act upon it.

Sự dung hợp của nhiều trí tuệ thành một hoạt động có định hướng ngày nay có tầm quan trọng tối cao; điều này đã được tượng trưng bằng sự liên minh hiện đang tồn tại giữa hai quốc gia lớn là Pháp và Anh. Sự hợp nhất của tư tưởng và mục đích có định hướng là sự bảo đảm cho thành công tất yếu trong tương lai. Quyền năng của tư tưởng tập thể là toàn năng. Năng lực của hoạt động trí tuệ được tập trung và định hướng là không thể dự đoán. Nếu các bạn chấp nhận tiền đề và phát biểu này, thì hãy hành động theo đó.

The Spirit of Peace is hovering close to humanity, seeking opportunity to make His Presence felt. The Spirit of Peace is not an abstract concept but a potent Individual, wielding forces hitherto unfamiliar to our planet. Great Forces are awaiting the hour when They can function as the Liberators and the Deliverers of mankind. But the door to Their entrance must be opened by humanity itself and it will be opened by a united act of the will, expressed through some formula of words and expressed in sound. It will be brought about by an activity performed simultaneously by all men and women of goodwill and by all the world aspirants and disciples. The door will not open unless the act of invocation is backed by the focussed will. The [174] directed determination of the man or the group who is using the suggested formula, prayer or invocation is essential.

Đấng Tinh thần Hòa Bình đang lơ lửng gần nhân loại, tìm kiếm cơ hội để làm cho Hiện Diện của Ngài được cảm nhận. Đấng Tinh thần Hòa Bình không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một Cá Thể đầy quyền năng, vận dụng những mãnh lực từ trước đến nay còn xa lạ với hành tinh chúng ta. Những Mãnh Lực vĩ đại đang chờ đợi giờ phút Các Ngài có thể hoạt động như những Đấng Giải Phóng và Cứu Độ nhân loại. Nhưng cánh cửa cho sự đi vào của Các Ngài phải do chính nhân loại mở ra, và nó sẽ được mở ra bằng một hành động hợp nhất của ý chí, được biểu lộ qua một công thức ngôn từ và được biểu lộ trong âm thanh. Điều đó sẽ được thực hiện bằng một hoạt động do mọi những người nam và nữ thiện chí và mọi người chí nguyện và đệ tử thế giới cùng thực hiện đồng thời. Cánh cửa sẽ không mở ra trừ phi hành động khẩn cầu được hậu thuẫn bởi ý chí tập trung. Sự [174] quyết tâm có định hướng của người hay nhóm đang sử dụng công thức, lời cầu nguyện hay khẩn cầu được gợi ý là điều thiết yếu.

I would ask you to call as many people as you can reach through the medium of every available channel to a definite activity upon the coming Christmas day, if possible, and again at the time of the full moon of January, thus making two great appeals to the Forces of Peace and Light, so that they may help humanity. I would ask you to get in touch with leaders and workers—important and unimportant—in every land, asking them to associate themselves in their own way and with their own people, and to do this on as large a scale as possible—as large, at least, as that of your effort in May, 1936.

Tôi muốn yêu cầu các bạn kêu gọi càng nhiều người càng tốt mà các bạn có thể tiếp cận qua mọi kênh sẵn có đến một hoạt động xác định vào ngày Giáng Sinh sắp tới, nếu có thể, và một lần nữa vào lúc trăng tròn tháng Giêng, như vậy tạo nên hai lời kêu cầu lớn tới các Mãnh Lực của Hòa Bình và Ánh Sáng để các Ngài có thể giúp đỡ nhân loại. Tôi muốn yêu cầu các bạn liên lạc với các nhà lãnh đạo và người hoạt động—quan trọng và không quan trọng—ở mọi xứ sở, yêu cầu họ liên kết theo cách riêng của họ và với dân chúng của họ, và làm điều này trên quy mô lớn nhất có thể—ít nhất cũng lớn như nỗ lực của các bạn vào tháng Năm năm 1936.

The times are ripe for a response to these ideas; the recognised pain and distress of the world will open both hearts and purses. The idea of a Christmas appeal and call to prayer and to invocation of the Prince of Peace will be potent in evoking a desirable reaction, and will serve also to blend into closer unity all who recognise the work the Hierarchy is attempting to do. I would ask you to call for help from all sides, and to let these ideas work out into the world on the basis of their usefulness and opportuneness. Omit from this appeal none that you know, for through them millions can be reached and swung into the desired activity.

Thời cơ đã chín muồi cho một đáp ứng đối với những ý tưởng này; nỗi đau và khốn khổ được nhìn nhận của thế giới sẽ mở cả trái tim lẫn hầu bao. Ý tưởng về một lời kêu gọi Giáng Sinh và lời mời cầu nguyện cùng khẩn cầu Hoàng Tử Hòa Bình sẽ có sức mạnh trong việc gợi lên phản ứng mong muốn, và cũng sẽ giúp kết hợp chặt chẽ hơn tất cả những ai nhận ra công việc mà Thánh Đoàn đang cố gắng thực hiện. Tôi muốn yêu cầu các bạn kêu gọi sự trợ giúp từ mọi phía, và để những ý tưởng này tự triển khai vào thế giới trên cơ sở tính hữu dụng và tính đúng lúc của chúng. Đừng bỏ sót ai trong lời kêu gọi này mà các bạn biết, vì qua họ hàng triệu người có thể được tiếp cận và được đưa vào hoạt động mong muốn.

To those of you who can appreciate and use the Great Invocation, I would suggest its renewed and earnest use. This alternative invocation might, however, be suggested and found useful:

Với những ai trong các bạn có thể trân trọng và sử dụng Đại Khấn Nguyện, tôi gợi ý việc dùng lại nó một cách tha thiết và nghiêm túc. Tuy nhiên, lời khẩn cầu thay thế này có thể được đề nghị và thấy là hữu ích:

“O Lord of Light and Love, come forth and rule the world.

“Lạy Chúa Tể của Ánh Sáng và Tình Thương, xin xuất hiện và cai quản thế giới.

May the Prince of Peace appear and end the warring of the nations.

Nguyện cho Hoàng Tử Hòa Bình xuất hiện và chấm dứt chiến tranh giữa các quốc gia.

May the reign of Light and Love and Justice be begun.

Nguyện cho triều đại của Ánh Sáng, Tình Thương và Công Lý được bắt đầu.

Let there be peace on earth, and let it begin with us.”

Nguyện cho hòa bình hiện hữu trên địa cầu, và nguyện nó bắt đầu từ chúng con.”

THE COMING WORLD ORDER—TRẬT TỰ THẾ GIỚI SẮP ĐẾN

April 1940

Tháng Tư 1940

This analysis of world conditions is being written in America, where there is, as yet, relative physical safety and [175] time for the re-adjustment of views, and the opportunity also to give direction—along with embattled Britain and her Allies—to a world sorely needing guidance and vision. There is great confusion of voices. Those who know the least speak ever the loudest and apportion the blame for events with facility. There is much mental distress everywhere, occasioned by the war and also by the desire of the well-intentioned to stress their particular solutions of the world problem.

Bản phân tích này về các điều kiện thế giới được viết tại Mỹ, nơi hiện vẫn còn sự an toàn hồng trần tương đối và [175] thời gian để điều chỉnh lại quan điểm, cũng như cơ hội để cùng với nước Anh đang chiến đấu và các nước Đồng minh của bà, định hướng cho một thế giới đang rất cần sự hướng dẫn và tầm nhìn. Có một sự hỗn loạn lớn của các tiếng nói. Những người biết ít nhất lại luôn nói to nhất và dễ dàng quy trách nhiệm cho các biến cố. Khắp nơi có nhiều khổ sở trí tuệ, do chiến tranh gây ra và cũng do mong muốn của những người có thiện ý muốn nhấn mạnh các giải pháp riêng của họ cho vấn đề thế giới.

It is necessary, therefore, to speak with directness, to indicate the inherent dangers of the present situation, to present its amazing opportunity to bring about needed changes, and to point out the lines of demarcation between the right and the wrong ways of living, between a vision of the new world order and the retrograde plans of the so-called “new order” with which the totalitarian powers seek to bewilder humanity.

Vì vậy, cần phải nói một cách trực tiếp, chỉ ra những nguy hiểm cố hữu của tình hình hiện nay, trình bày cơ hội kỳ diệu của nó để tạo ra những thay đổi cần thiết, và vạch ra những đường ranh giới giữa lối sống đúng và sai, giữa linh ảnh về trật tự thế giới mới và những kế hoạch thoái bộ của cái gọi là “trật tự mới” mà các cường quốc toàn trị tìm cách dùng để làm mê hoặc nhân loại.

We start with the premise that two opposing world visions confront humanity and that two world orders are presented to mankind. Between these man must choose, and his choice will determine the future.

Chúng ta bắt đầu với tiền đề rằng hai linh ảnh thế giới đối nghịch đang đối diện nhân loại và rằng hai trật tự thế giới đang được trình ra trước loài người. Giữa hai điều này con người phải chọn, và sự lựa chọn của y sẽ quyết định tương lai.

The years 1941 and 1942 will be years of crisis and of tension. Those who perceive the risks, the opportunity, and the important decision to be made are struggling with almost frantic haste to awaken the masses to the uniqueness of this moment. What mankind decides during the next twelve months will condition the future as no other human decision has ever before done in the history of mankind.

Các năm 1941 và 1942 sẽ là những năm khủng hoảng và căng thẳng. Những ai nhận thấy các nguy cơ, cơ hội và quyết định quan trọng cần được đưa ra đang vật lộn với sự vội vã gần như cuống cuồng để đánh thức quần chúng trước tính độc nhất của thời điểm này. Điều mà nhân loại quyết định trong mười hai tháng tới sẽ tác động lên tương lai theo cách chưa từng có một quyết định nào khác của con người từng làm trong lịch sử nhân loại.

There have been points of crisis before in history, but not one that involved the entire planetary population. There have been periods of danger, difficulty, war, famine and distress, but none which conditioned the lives of untold millions as does the present. Time and again there has been the emergence of leaders, conquerors, dictators and world figures, but they have hitherto come at a time when their influence was limited by world communications and by national limitations; therefore their power was not universal and their progress was arrested by the conditions of the [176] period in which they lived. Today, the entire planet is involved and all the nations of the world are definitely affected.

Trước đây trong lịch sử đã từng có những điểm khủng hoảng, nhưng chưa từng có điểm nào liên quan đến toàn bộ dân số hành tinh. Đã từng có những thời kỳ nguy hiểm, khó khăn, chiến tranh, đói kém và khốn khổ, nhưng chưa từng có thời kỳ nào tác động lên đời sống của hàng triệu người không kể xiết như hiện nay. Hết lần này đến lần khác đã xuất hiện những nhà lãnh đạo, những kẻ chinh phục, những nhà độc tài và những nhân vật thế giới, nhưng cho đến nay họ xuất hiện vào thời mà ảnh hưởng của họ bị giới hạn bởi thông tin liên lạc thế giới và bởi những giới hạn quốc gia; vì vậy quyền lực của họ không mang tính phổ quát và bước tiến của họ bị ngăn lại bởi các điều kiện của [176] thời kỳ mà họ sống. Ngày nay, toàn bộ hành tinh đều bị cuốn vào và mọi quốc gia trên thế giới đều bị ảnh hưởng rõ rệt.

There is the setting up of barriers in a futile effort to keep out of trouble and avoid war; dominant groups are swinging many nations under their banners so that they are either associated with the totalitarian powers or with those nations which are opposing them. The nations which are not actually belligerents are equally active in the task of endeavouring to preserve their national integrity.

Các rào cản đang được dựng lên trong một nỗ lực vô ích nhằm tránh rắc rối và né chiến tranh; các nhóm thống trị đang lôi kéo nhiều quốc gia dưới cờ của họ để các quốc gia ấy либо liên kết với các cường quốc toàn trị, либо với những quốc gia đang chống lại họ. Những quốc gia chưa thực sự tham chiến cũng tích cực như nhau trong nhiệm vụ cố gắng bảo toàn sự toàn vẹn quốc gia của mình.

The conflict today is a world conflict. The following groups of people are involved:

Cuộc xung đột hôm nay là một cuộc xung đột thế giới. Những nhóm người sau đây đều bị cuốn vào:

1. The fighting aggressor nations, ruled by ambitious dictators.

1. Các quốc gia xâm lược đang chiến đấu, bị cai trị bởi những nhà độc tài đầy tham vọng.

2. The nations which are seeking to defend themselves and the liberties of humanity.

2. Các quốc gia đang tìm cách tự vệ và bảo vệ các quyền tự do của nhân loại.

3. The neutral nations, seeing the issues involved and faced with the immediate necessity to take sides.

3. Các quốc gia trung lập, nhìn thấy những vấn đề liên quan và đang đối diện với nhu cầu cấp bách phải chọn phe.

The momentum of this struggle is gaining daily. Fresh areas of the world are being swept into the conflict every week. The real issues, the impending economic results and the political implications are emerging with growing clarity in every land and—make no mistake—even in those lands which lie numbed and suffering under the heel of the conqueror. Among them there is a silent and at present voiceless revolt. The inner speechless revolt in itself constitutes a menace to world peace and, if evoked into full expression, may plunge the world still deeper into conflict.

Động lực của cuộc đấu tranh này đang tăng lên từng ngày. Mỗi tuần những khu vực mới của thế giới lại bị cuốn vào xung đột. Những vấn đề thực sự, các hậu quả kinh tế sắp tới và các hàm ý chính trị đang xuất hiện ngày càng rõ ở mọi xứ sở và—đừng nhầm lẫn—ngay cả ở những xứ sở đang tê liệt và đau khổ dưới gót chân của kẻ chinh phục. Trong số họ có một cuộc nổi dậy âm thầm và hiện giờ chưa có tiếng nói. Bản thân cuộc nổi dậy câm lặng bên trong ấy đã là một mối đe dọa đối với hòa bình thế giới và, nếu được khơi dậy thành biểu hiện đầy đủ, có thể đẩy thế giới chìm sâu hơn nữa vào xung đột.

Facing humanity today are two major dangers. These are: first, the conflict will be so prolonged that humanity will be completely exhausted, and thus a stalemate will be reached and a situation will arise which will bring to an end all civilised relationships and all hope of an ordered life of beauty, peace and culture. Secondly, the nations not yet involved will fail to see the realities of the situation and will not come to the assistance of those fighting for the preservation of national and individual freedom. If this [177] should prove to be the case, then—without so intending and yet inevitably—they will stand on the side of evil and share in the responsibility of engineering world disaster.

Hiện nay nhân loại đang đối diện với hai nguy cơ lớn. Đó là: thứ nhất, cuộc xung đột sẽ kéo dài đến mức nhân loại hoàn toàn kiệt quệ, và như vậy sẽ đạt đến một thế bế tắc, tạo ra một tình trạng chấm dứt mọi quan hệ văn minh và mọi hy vọng về một đời sống có trật tự, đẹp đẽ, hòa bình và văn hóa. Thứ hai, các quốc gia chưa bị cuốn vào sẽ không thấy được thực tại của tình hình và sẽ không đến trợ giúp những nước đang chiến đấu để bảo tồn tự do quốc gia và cá nhân. Nếu [177] điều này xảy ra, thì—dù không có ý như vậy nhưng tất yếu—họ sẽ đứng về phía điều ác và chia sẻ trách nhiệm gây ra thảm họa thế giới.

Today, there are no more than two parties in the world—those who are on the side of right human relations and those who are on the side of selfish and cruel power politics. The totalitarian powers are on the march—ruthless, selfish, cruel and aggressive; the powers which are battling for human liberty and for the rights of the defenceless little nations are standing with their backs to the wall, facing the strongest display of human might that the world has ever seen. The nations which are not yet physically involved are preparing for some form of action and for defence—defence against the dictator powers but not against the fighting democracies.

Ngày nay, trên thế giới không còn quá hai phe—những người đứng về phía các tương quan nhân loại đúng đắn và những người đứng về phía nền chính trị quyền lực ích kỷ và tàn nhẫn. Các cường quốc toàn trị đang tiến bước—tàn nhẫn, ích kỷ, độc ác và xâm lược; các cường quốc đang chiến đấu cho tự do của con người và cho quyền của những quốc gia nhỏ bé không được bảo vệ đang đứng lưng dựa tường, đối diện với sự phô bày sức mạnh con người lớn nhất mà thế giới từng thấy. Những quốc gia chưa bị cuốn vào về mặt hồng trần đang chuẩn bị cho một hình thức hành động nào đó và cho sự phòng vệ—phòng vệ chống lại các cường quốc độc tài chứ không phải chống lại các nền dân chủ đang chiến đấu.

The battle today is being fought out on the land, on the sea, and in the air. From the economic standpoint, every country is involved, and ruin stalks in the wake of war; the stopping of imports or of exports in many lands is bringing about the financial ruin of thousands; the pressure of economic disaster, the fear of famine and pestilence and the constant risk of becoming actively a part of the war faces every country not yet actually in the fighting line. The fear of defeat, of death and injury, and of the loss of all possessions is added to these problems, where the nations at war are concerned.

Trận chiến hôm nay đang được tiến hành trên đất liền, trên biển và trên không. Xét từ quan điểm kinh tế, mọi quốc gia đều bị cuốn vào, và sự tàn phá đang theo sau chiến tranh; việc ngưng nhập khẩu hay xuất khẩu ở nhiều xứ sở đang gây ra sự phá sản tài chính cho hàng ngàn người; áp lực của thảm họa kinh tế, nỗi sợ đói kém và dịch bệnh, và nguy cơ thường trực trở thành một phần tích cực của chiến tranh đang đối diện với mọi quốc gia chưa thực sự ở tuyến chiến đấu. Nỗi sợ thất bại, chết chóc và thương tích, cùng sự mất mát mọi tài sản được cộng thêm vào những vấn đề này, đối với các quốc gia đang có chiến tranh.

Humanity must face up to these facts. No matter how people may evade the truth, no matter how they may escape into a dream world of wishful thinking, the fact remains—inevitable and undeniable—that the world is at war and everyone is involved.

Nhân loại phải đối diện với những sự kiện này. Dù người ta có né tránh sự thật thế nào, dù họ có trốn vào một thế giới mộng tưởng của ước muốn viển vông ra sao, sự kiện vẫn còn đó—không thể tránh và không thể phủ nhận—rằng thế giới đang có chiến tranh và mọi người đều bị cuốn vào.

The Goodwill Work

Công Việc Thiện Chí

Prior to September, 1939, the objectives of our world-wide work, over a period of nine years, were the spreading of world goodwill, the discovery of the men and women of goodwill throughout the world, and the endeavour to teach the meaning of the will-to-good. This is the main task of [178] the New Group of World Servers. We inculcated a non-separative attitude and the need for right human relations. We endeavoured to make clear that differing forms of government and varying ideological systems were right and possible, provided that human beings lived together in goodwill and recognised their blood brotherhood.

Trước tháng Chín năm 1939, các mục tiêu của công việc toàn cầu của chúng ta, trong suốt chín năm, là truyền bá thiện chí thế giới, tìm ra những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới, và cố gắng dạy ý nghĩa của Ý Chí-hướng Thiện. Đây là nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng tôi đã hun đúc một thái độ không chia rẽ và nhu cầu về những tương quan nhân loại đúng đắn. Chúng tôi đã cố gắng làm sáng tỏ rằng những hình thức chính quyền khác nhau và những hệ thống ý thức hệ khác nhau đều đúng và khả hữu, miễn là con người sống với nhau trong thiện chí và nhận ra tình huynh đệ cùng huyết thống của mình.

Then humanity made its decision to fight, and the war broke out: one group, the instigators of the war, fighting to acquire material power, the glory of a nation and the subjugation of the defenceless; and the other, fighting to preserve its own liberty of action, the preservation of its integrity, the right of the little nations and the spiritual values. Immediately, the issue was abundantly clear in the minds of those who were in touch with human affairs; immediately certain nations took sides against the forces of aggression; immediately, other nations, biased by similar distorted ideologies and equally selfish purposes, stood with the aggressor nation; immediately, panic swept the remaining nations, who took refuge in short-sighted neutrality and defence programmes—a neutrality and programmes which have proved quite futile to protect them.

Rồi nhân loại đã đưa ra quyết định chiến đấu, và chiến tranh bùng nổ: một nhóm, những kẻ khởi xướng chiến tranh, chiến đấu để giành quyền lực vật chất, vinh quang của một quốc gia và sự khuất phục những kẻ không được bảo vệ; còn nhóm kia chiến đấu để bảo vệ quyền tự do hành động của mình, bảo tồn sự toàn vẹn của mình, quyền của các quốc gia nhỏ và các giá trị tinh thần. Ngay lập tức, vấn đề đã hoàn toàn rõ ràng trong tâm trí những ai tiếp xúc với các công việc nhân loại; ngay lập tức một số quốc gia đã đứng về phía chống lại các mãnh lực xâm lược; ngay lập tức những quốc gia khác, bị thiên lệch bởi những ý thức hệ méo mó tương tự và những mục đích ích kỷ tương đương, đã đứng với quốc gia xâm lược; ngay lập tức, sự hoảng loạn quét qua các quốc gia còn lại, những nước này tìm nơi trú ẩn trong sự trung lập thiển cận và các chương trình phòng vệ—một sự trung lập và những chương trình đã tỏ ra hoàn toàn vô ích trong việc bảo vệ họ.

Where, then, should the New Group of World Servers stand? What should the men and women of goodwill do? Should they side with the totalitarian powers because in so doing they will bring the conflict more rapidly to an end, or should they stand on the side of the neutral powers, frantically pursuing ineffective peace programmes, policies of appeasement, and play into the hands of the totalitarian powers?

Vậy thì Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải đứng ở đâu? Những người nam và nữ thiện chí phải làm gì? Họ có nên đứng về phía các cường quốc toàn trị vì làm như vậy sẽ chấm dứt xung đột nhanh hơn, hay họ nên đứng về phía các cường quốc trung lập, đang cuống cuồng theo đuổi những chương trình hòa bình không hiệu quả, những chính sách nhân nhượng, và như thế tiếp tay cho các cường quốc toàn trị?

Humanity having decided to fight out the battle physically, there was nothing left to do but issue a challenge to the men and women of goodwill to take their stand on the side of such action as would release humanity through the destruction of the evil forces. These had determined to prove that might was right. Therefore, the forces fighting for progress and civilisation had to meet force with force.

Một khi nhân loại đã quyết định giải quyết trận chiến bằng phương tiện hồng trần, thì không còn gì khác để làm ngoài việc đưa ra một lời thách thức đối với những người nam và nữ thiện chí là hãy đứng về phía hành động nào sẽ giải phóng nhân loại bằng cách tiêu diệt các mãnh lực ác. Những mãnh lực này đã quyết tâm chứng minh rằng sức mạnh là lẽ phải. Vì vậy, các mãnh lực chiến đấu cho tiến bộ và văn minh đã phải lấy lực đối lực.

The challenge was taken up by the democracies who [179] stand for human rights and liberty. Because of the decision to fight on the side of spiritual progress, the spiritual forces of the planet had no alternative but to align themselves on the side of the allied democracies, and endeavour to awaken the neutral nations to the issue. They ranged themselves against the leaders of the aggressor nations, though not against their poor deluded or subdued peoples. They too must be liberated by the allied democracies.

Lời thách thức ấy đã được các nền dân chủ tiếp nhận, những nước [179] đứng cho quyền con người và tự do. Vì quyết định chiến đấu về phía tiến bộ tinh thần, các mãnh lực tinh thần của hành tinh không có lựa chọn nào khác ngoài việc chỉnh hợp về phía các nền dân chủ đồng minh, và cố gắng đánh thức các quốc gia trung lập trước vấn đề. Các mãnh lực ấy xếp hàng chống lại các nhà lãnh đạo của các quốc gia xâm lược, dù không chống lại những dân tộc đáng thương bị mê lầm hay bị khuất phục của họ. Họ cũng phải được các nền dân chủ đồng minh giải phóng.

On the basis of an active will-to-good, the men and women of goodwill, acting under the inspiration of the New Group of World Servers, had no alternative but to take their stand with the spiritual forces and join the struggle for the liberation of humanity from totalitarian ambitions and the intentions of a group of evil men. But the spirit of goodwill must be, steadily and unchangingly, the motivating impulse. No hate must be allowed to enter in. The greatest good of the greatest number lies today in the release of the nations from the domination of the totalitarian powers.

Trên cơ sở của một Ý Chí-hướng Thiện tích cực, những người nam và nữ thiện chí, hành động dưới cảm hứng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, không có lựa chọn nào khác ngoài việc đứng về phía các mãnh lực tinh thần và tham gia cuộc đấu tranh để giải phóng nhân loại khỏi những tham vọng toàn trị và những ý đồ của một nhóm người ác. Nhưng tinh thần thiện chí phải luôn luôn và không thay đổi là xung lực thúc đẩy. Không được để hận thù xâm nhập. Điều thiện lớn nhất cho số đông nhất ngày nay nằm ở việc giải phóng các quốc gia khỏi sự thống trị của các cường quốc toàn trị.

The Pacifist Position

Lập Trường Hòa Bình Chủ Nghĩa

The second point upon which I would touch is the arguments brought out by the pacifists of the world. All true and good people are pacifically minded and all hate war. This is a fact which the academic idealist and pacifist often forgets. Such people tell us that two wrongs do not make a right; and to meet murder with murder (which is their definition of war) is sinful; that war is evil (which no one denies) and that one must not take part in it. They contend that thinking thoughts of peace and of love can put the world straight and end the war. Such people, fighting the existent fact of war, usually do little or nothing concrete to right the wrongs which are responsible for the war, and permit their defence—personal, municipal, national and international—to be undertaken by others. The sincerity of these people cannot be questioned.

Điểm thứ hai mà tôi muốn đề cập đến là những luận điểm do những người theo chủ nghĩa hòa bình trên thế giới đưa ra. Mọi người chân chính và thiện lương đều có khuynh hướng hòa bình và đều ghét chiến tranh. Đây là một sự kiện mà nhà lý tưởng học hàn lâm và người theo chủ nghĩa hòa bình thường quên mất. Những người như vậy nói với chúng ta rằng hai điều sai không tạo thành một điều đúng; và đáp lại giết người bằng giết người (đó là định nghĩa của họ về chiến tranh) là tội lỗi; rằng chiến tranh là điều ác (điều mà không ai phủ nhận) và rằng người ta không được tham gia vào nó. Họ cho rằng nghĩ những tư tưởng hòa bình và tình thương có thể sửa lại thế giới và chấm dứt chiến tranh. Những người như vậy, chống lại sự kiện hiện hữu là chiến tranh, thường làm rất ít hoặc không làm gì cụ thể để sửa chữa những sai trái gây ra chiến tranh, và để cho sự phòng vệ của họ—cá nhân, đô thị, quốc gia và quốc tế—được người khác đảm nhận. Không thể nghi ngờ sự chân thành của những người này.

It should be remembered, in countering these ideas and in justifying the fighting spirit of the Christian democracies, [180] that it is motive that counts. War can be and is mass murder, where the motive is wrong. It can be sacrifice and right action, where the motive is right. The slaying of a man in the act of killing the defenceless is not regarded as murder. The principle remains the same, whether it is killing an individual who is murdering, or fighting a nation which is warring on the defenceless. The material means, which evil uses for selfish ends, can also be employed for good purposes. The death of the physical body is a lesser evil than the setting back of civilisation, the thwarting of the divine purposes of the human spirit, the negating of all spiritual teaching, and the control of men’s minds and liberties. War is always evil, but it can be the lesser of two evils, as is the case today.

Cần nhớ, khi phản bác những ý tưởng này và khi biện minh cho tinh thần chiến đấu của các nền dân chủ Cơ Đốc, [180] rằng chính động cơ mới là điều quan trọng. Chiến tranh có thể là và quả thực là giết người hàng loạt, khi động cơ sai. Nó có thể là hi sinh và hành động đúng đắn, khi động cơ đúng. Việc giết một người đang trong hành vi sát hại những kẻ không được bảo vệ không bị xem là giết người. Nguyên tắc vẫn như nhau, dù là giết một cá nhân đang giết người, hay chiến đấu với một quốc gia đang gây chiến với những kẻ không được bảo vệ. Những phương tiện vật chất mà điều ác dùng cho những mục đích ích kỷ cũng có thể được sử dụng cho những mục đích thiện. Cái chết của thể xác là điều ác nhỏ hơn so với việc kéo lùi nền văn minh, cản trở các mục đích thiêng liêng của tinh thần con người, phủ nhận mọi giáo huấn tinh thần, và kiểm soát trí tuệ cùng tự do của con người. Chiến tranh luôn là điều ác, nhưng nó có thể là điều ác nhỏ hơn trong hai điều ác, như trường hợp hiện nay.

The present war, if carried forward to a successful completion by the defeat of the totalitarian powers, constitutes a far lesser evil than the subjugation of many nations to the unparalleled cupidity, the appalling educational process and the defiance of all recognised spiritual values by the Axis powers. If the totalitarian powers should conquer, it would mean years of turmoil and revolt; their victory would result in untold misery.

Cuộc chiến hiện nay, nếu được tiến hành đến chỗ hoàn tất thành công bằng sự đánh bại các cường quốc toàn trị, là một điều ác nhỏ hơn rất nhiều so với việc nhiều quốc gia bị khuất phục trước lòng tham vô song, tiến trình giáo dục kinh hoàng và sự thách thức mọi giá trị tinh thần được công nhận của các cường quốc Trục. Nếu các cường quốc toàn trị chiến thắng, điều đó sẽ có nghĩa là nhiều năm hỗn loạn và nổi dậy; chiến thắng của họ sẽ dẫn đến khổ đau không kể xiết.

It is no doubt an undeniable spiritual truth that right thought can change and save the world, but it is also true that there are not enough people able to think to do this work. Also, there is not enough time in which to do it. The thoughts of peace are mainly founded upon a stubborn idealism that loves the ideal more than humanity. They are based also upon an unrecognised fear of war and upon an individual inertia which prefers the dream world of wishful thinking to the shouldering of responsibility for the security of humanity.

Không nghi ngờ gì, đó là một chân lý tinh thần không thể phủ nhận rằng tư tưởng đúng đắn có thể thay đổi và cứu thế giới, nhưng cũng đúng là không có đủ người có khả năng suy nghĩ để làm công việc này. Ngoài ra, cũng không có đủ thời gian để làm điều đó. Những tư tưởng về hòa bình chủ yếu dựa trên một chủ nghĩa lý tưởng cố chấp yêu lý tưởng hơn yêu nhân loại. Chúng cũng dựa trên một nỗi sợ chiến tranh không được nhận ra và trên một tính trì trệ cá nhân thích thế giới mộng tưởng của ước muốn viển vông hơn là gánh lấy trách nhiệm đối với sự an toàn của nhân loại.

Thus briefly have I sought to make the position of the New Group of World Servers clear as it fights for the rights of man, for the spiritual future of humanity, and for the new world order. What I have now to say will fall into four parts: [181]

Tóm lại như vậy, tôi đã cố gắng làm sáng tỏ lập trường của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian khi đoàn này chiến đấu cho quyền của con người, cho tương lai tinh thần của nhân loại, và cho trật tự thế giới mới. Điều tôi sắp nói bây giờ sẽ chia thành bốn phần: [181]

I. The world as it exists today. The present situation is the result of past tendencies, of underlying pressures and of human decisions.

I. Thế giới như hiện tồn ngày nay. Tình hình hiện nay là kết quả của những khuynh hướng quá khứ, của những áp lực nền tảng và của các quyết định của con người.

II. The new world order. This we will contrast with the old order and with the so-called “new order” of the totalitarian powers.

II. Trật tự thế giới mới. Chúng ta sẽ đối chiếu điều này với trật tự cũ và với cái gọi là “trật tự mới” của các cường quốc toàn trị.

III. Some problems involved. Four major world problems will call for discussion and these we must consider.

III. Một số vấn đề liên quan. Bốn vấn đề lớn của thế giới sẽ cần được bàn đến và chúng ta phải xem xét chúng.

IV. The task ahead. We will then deal with the interlude until peace is achieved plus some suggestions for the coming period of reconstruction.

IV. Nhiệm vụ phía trước. Khi đó chúng ta sẽ đề cập đến giai đoạn chuyển tiếp cho đến khi hòa bình đạt được cùng với một số gợi ý cho thời kỳ tái thiết sắp tới.

I. THE WORLD TODAY

I. THẾ GIỚI NGÀY NAY

What are the causes which have produced present world conditions? What are the underlying pressures which are producing the present chaos or those which can produce eventual order? Before there can be correction, there must be appreciation of error; there must be understanding of the predisposing causes producing the necessity; there must be realisation of the general guilt and a shared responsibility for the evil conditions; there must be determination to make restitution, and to cease from evil doing.

Những nguyên nhân nào đã tạo ra các điều kiện thế giới hiện nay? Những áp lực nền tảng nào đang tạo ra tình trạng hỗn loạn hiện nay hoặc những áp lực nào có thể tạo ra trật tự cuối cùng? Trước khi có thể sửa chữa, phải có sự nhận thức về sai lầm; phải có sự thấu hiểu những nguyên nhân tiền định tạo ra nhu cầu; phải có sự chứng nghiệm về tội lỗi chung và trách nhiệm chia sẻ đối với các điều kiện xấu xa; phải có quyết tâm hoàn nguyên, và chấm dứt việc làm điều ác.

The tendency to fasten the war on Hitler and his gang of evil men should not blind us to the causes which have made his evil work possible. He is mainly a precipitating agency, for through him world selfishness and cruelty have been brought to a focus. But, as Christ has said: “Woe unto the world because of offences! for it must needs be that offences come; but woe to that man by whom the offence cometh.” (Matthew 18:7.) The causes of this rampant evil are inherent in humanity itself.

Khuynh hướng quy trách cuộc chiến cho Hitler và bọn người ác của hắn không nên làm chúng ta mù quáng trước những nguyên nhân đã khiến công việc tà ác của hắn trở nên khả hữu. Hắn chủ yếu là một tác nhân ngưng tụ, vì qua hắn mà tính ích kỷ và sự tàn bạo của thế giới đã được gom lại thành một tiêu điểm. Nhưng, như Đức Christ đã nói: “Khốn cho thế gian vì những cớ vấp phạm! vì những cớ vấp phạm tất phải đến; nhưng khốn cho kẻ bởi đó mà cớ vấp phạm đến.” (Matthew 18:7.) Những nguyên nhân của sự ác hoành hành này vốn cố hữu trong chính nhân loại.

Ancient and untrammelled selfishness has ever been a characteristic of man; the desire for power and for possession has ever motivated men and nations; cruelty, lust, and sacrifice of the higher values to the lower have been deeply rooted human habits for ages. Of these ancient habits of thought and behaviour all peoples and all nations are guilty. Steadily, [182] as the world grew closer, the lines of cleavage and the antagonism of the nations increased, and thus the present war (beginning in 1914) is the inevitable result of wrong thought, selfish goals and ancient hatreds. Individualistic interest, separative aims and aggressive desire march towards their inevitable finale—war and chaos.

Tính ích kỷ cổ xưa và không bị kiềm chế từ lâu vẫn là một đặc tính của con người; lòng ham muốn quyền lực và chiếm hữu từ lâu vẫn thúc đẩy những người nam và nữ cùng các quốc gia; sự tàn bạo, dục vọng, và việc hi sinh các giá trị cao hơn cho những giá trị thấp hơn đã là những thói quen nhân loại ăn sâu từ bao thời đại. Về những thói quen tư tưởng và hành vi cổ xưa ấy, mọi dân tộc và mọi quốc gia đều có tội. Đều đặn, [182] khi thế giới trở nên gần gũi hơn, các đường phân rẽ và sự đối kháng giữa các quốc gia gia tăng, và do đó cuộc chiến hiện nay (bắt đầu vào năm 1914) là kết quả tất yếu của tư tưởng sai lầm, những mục tiêu ích kỷ và những hận thù cổ xưa. Quyền lợi cá nhân chủ nghĩa, những mục tiêu chia rẽ và ham muốn xâm lược đang tiến bước tới kết cục tất yếu của chúng—chiến tranh và hỗn loạn.

The economic situation also provides a symbol of this condition. The nations divide themselves into the “Haves” and the “Have Nots,” and thus bring in the present era of gangsterism. Organised gangs in the United States came into being as an expression of these tendencies in national life. In the international world, three nations are now playing the same part. The allied nations and the United States are recognising the menace of national and international gangsterism and are endeavouring to crush it. But—and this is the point of importance—these conditions have been made possible by humanity as a whole.

Tình hình kinh tế cũng cung cấp một biểu tượng cho trạng thái này. Các quốc gia tự chia mình thành “những kẻ có” và “những kẻ không có,” và do đó đưa vào kỷ nguyên hiện tại của chủ nghĩa du đãng. Những băng nhóm có tổ chức tại Hoa Kỳ đã xuất hiện như một biểu hiện của các khuynh hướng ấy trong đời sống quốc gia. Trong thế giới quốc tế, hiện nay ba quốc gia đang đóng cùng một vai trò. Các quốc gia đồng minh và Hoa Kỳ đang nhận ra mối đe dọa của chủ nghĩa du đãng quốc gia và quốc tế và đang nỗ lực đập tan nó. Nhưng—và đây là điểm quan trọng—những điều kiện này đã trở nên khả hữu bởi toàn thể nhân loại.

Materialism and Spirituality

Chủ nghĩa duy vật và tinh thần

There are today three major human trends: First of all, a trend towards a spiritual and free way of life; secondly, a trend towards intellectual unfoldment; and lastly, a potent trend towards material living and aggression. At present, the last of these innate tendencies is in the saddle, with the second, the intellectual attitude, throwing its weight upon the side of the material goals. A relatively small group is throwing the weight of human aspiration upon the side of the spiritual values. The war between the pairs of opposites—materialism and spirituality—is raging fiercely. Only as men turn away from material aggression and towards spiritual objectives will the world situation change, and men—motivated by goodwill—force the aggressors back to their own place and release humanity from fear and force. We are today reaping the results of our own sowing. The recognition of the cause of the problem provides humanity with the opportunity to end it. The time has arrived in which it is possible to institute those changes [183] in attitude which will bring an era of peace and goodwill, founded on right human relations.

Ngày nay có ba xu hướng lớn của nhân loại: trước hết là một xu hướng hướng tới một lối sống tinh thần và tự do; thứ hai là một xu hướng hướng tới sự khai mở trí tuệ; và sau cùng là một xu hướng mạnh mẽ hướng tới đời sống vật chất và sự xâm lược. Hiện nay, xu hướng cuối cùng trong các xu hướng bẩm sinh này đang chiếm ưu thế, còn xu hướng thứ hai, thái độ trí tuệ, thì đang dồn sức nặng của nó về phía các mục tiêu vật chất. Một nhóm tương đối nhỏ đang dồn sức nặng của khát vọng nhân loại về phía các giá trị tinh thần. Cuộc chiến giữa các cặp đối cực—chủ nghĩa duy vật và tinh thần—đang diễn ra dữ dội. Chỉ khi những người nam và nữ quay lưng khỏi sự xâm lược vật chất và hướng tới các mục tiêu tinh thần thì tình hình thế giới mới thay đổi, và những người nam và nữ—được thúc đẩy bởi thiện chí—mới đẩy lùi những kẻ xâm lược về đúng chỗ của chúng và giải phóng nhân loại khỏi sợ hãi và bạo lực. Ngày nay chúng ta đang gặt hái kết quả của chính điều mình đã gieo. Việc nhận ra nguyên nhân của vấn đề đem lại cho nhân loại cơ hội để chấm dứt nó. Thời điểm đã đến khi có thể thiết lập những thay đổi [183] trong thái độ, những thay đổi sẽ mang lại một kỷ nguyên hòa bình và thiện chí, đặt nền trên những tương quan nhân loại đúng đắn.

These two forces—materialism and spirituality—face each other. What will be the outcome? Will men arrest the evil and initiate a period of understanding, cooperation and right relationship, or will they continue the process of selfish planning and of economic and militant competition? This question must be answered by the clear thinking of the masses and by the calm and unafraid challenges of the democracies.

Hai lực này—chủ nghĩa duy vật và tinh thần—đang đối diện nhau. Kết quả sẽ ra sao? Những người nam và nữ sẽ ngăn chặn điều ác và khởi xướng một thời kỳ thấu hiểu, hợp tác và tương quan đúng đắn, hay họ sẽ tiếp tục tiến trình hoạch định ích kỷ và cạnh tranh kinh tế cùng quân sự? Câu hỏi này phải được trả lời bằng tư duy sáng suốt của quần chúng và bằng những thách thức bình tĩnh, không sợ hãi của các nền dân chủ.

On all sides the need for a new world order is being recognised. The totalitarian powers are talking of the “new order in Europe”; the idealists and thinkers are unfolding schemes and plans which vision entirely new conditions that will bring the old bad order to an end. There is a constant demand for the Allies to state their peace aims and indicate clearly what adjustments will be made after the war, because a vision of the future world policy will help humanity through the present crisis.

Khắp nơi, nhu cầu về một trật tự thế giới mới đang được thừa nhận. Các cường quốc toàn trị đang nói về “trật tự mới ở châu Âu”; các nhà lý tưởng và tư tưởng gia đang triển khai những đề án và kế hoạch hình dung những điều kiện hoàn toàn mới sẽ chấm dứt trật tự cũ xấu xa. Có một đòi hỏi liên tục rằng các nước Đồng minh phải tuyên bố các mục tiêu hòa bình của mình và chỉ rõ những điều chỉnh nào sẽ được thực hiện sau chiến tranh, bởi vì một linh ảnh về chính sách thế giới tương lai sẽ giúp nhân loại vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay.

Historical Background

Bối cảnh lịch sử

Throughout the Middle Ages, the rule of powerful monarchs, the spread of empires and the march of national conquerors were outstanding characteristics. A relatively small number of people were involved. The Church of the time had immense power in all European countries; it controlled the education of the people, but laid no foundation for right political thought. The history of the past is the history of many forms of government. Races and nations have come and gone. Political regimes and religious forms have played their part, have persisted or disappeared. The sorry history of humanity has been one of kings and potentates, rulers and warriors, presidents and dictators—rising into power at the expense of their own or other nations. Conquerors come and go—Akbar, Genghis Khan, the Pharaohs, Alexander the Great, Caesar, Charlemagne, William the Conqueror, Napoleon, Hitler and Mussolini. These have all upset the rhythm [184] of their times and have come to power through aggression and slaughter. As the nations grew more closely interrelated, their influence and their field of expression increased. The growing means of communication brought this about; Great Britain knew nothing of the movements of Alexander; the peoples of America knew naught about Genghis Khan; but the sound of the marching armies of Napoleon was heard over a far wider area, and the triumphs of Hitler—diplomatic and military—are known throughout the world.

Suốt thời Trung Cổ, sự cai trị của các quân vương quyền lực, sự lan rộng của các đế quốc và bước tiến của những kẻ chinh phục quốc gia là những đặc điểm nổi bật. Chỉ có một số tương đối ít người liên quan. Giáo hội thời đó có quyền lực to lớn ở mọi quốc gia châu Âu; nó kiểm soát việc giáo dục dân chúng, nhưng không đặt nền tảng nào cho tư tưởng chính trị đúng đắn. Lịch sử quá khứ là lịch sử của nhiều hình thức chính quyền. Các nhân loại và các quốc gia đã đến rồi đi. Các chế độ chính trị và các hình thức tôn giáo đã đóng vai trò của mình, đã tồn tại hoặc biến mất. Lịch sử đáng buồn của nhân loại là lịch sử của các vua chúa và bạo chúa, những người cai trị và chiến binh, tổng thống và nhà độc tài—vươn lên nắm quyền bằng cái giá của chính quốc gia mình hay của các quốc gia khác. Những kẻ chinh phục đến rồi đi—Akbar, Thành Cát Tư Hãn, các Pharaoh, Alexander Đại Đế, Caesar, Charlemagne, William Kẻ Chinh Phục, Napoleon, Hitler và Mussolini. Tất cả những kẻ này đã làm đảo lộn nhịp điệu [184] của thời đại họ và đã lên nắm quyền bằng xâm lược và tàn sát. Khi các quốc gia trở nên liên hệ chặt chẽ hơn, ảnh hưởng và phạm vi biểu hiện của họ gia tăng. Các phương tiện liên lạc ngày càng phát triển đã tạo ra điều đó; Đại Anh quốc không biết gì về các cuộc hành quân của Alexander; các dân tộc châu Mỹ không biết gì về Thành Cát Tư Hãn; nhưng tiếng bước quân hành của các đạo quân Napoleon đã được nghe trên một vùng rộng lớn hơn nhiều, và những chiến thắng của Hitler—về ngoại giao và quân sự—được biết đến trên khắp thế giới.

The totalitarian powers have turned the world into one armed camp—for offence or defence. Motivating all these conquerors was lust for gold, lust for land, lust for power, lust for personal triumph. The modern dictators are no exception. They bring nothing new.

Các cường quốc toàn trị đã biến thế giới thành một trại vũ trang—để tấn công hay phòng thủ. Thúc đẩy tất cả những kẻ chinh phục này là lòng tham vàng, tham đất đai, tham quyền lực, tham chiến thắng cá nhân. Các nhà độc tài hiện đại không phải là ngoại lệ. Họ không mang lại điều gì mới.

World Anarchy

Tình trạng vô chính phủ của thế giới

The history of the world has been built around the theme of war; its points of crisis have been the great battles. The thought of revenge motivates some nations; the demand for the righting of ancient historical wrongs influences others; the restitution of lands, earlier held, directs the acts of others. For instance: the ancient glory of the Roman Empire must be restored—at the expense of the helpless little peoples; the culture of France must be paramount and French security must outweigh all other considerations; British imperialism has in the past outraged other nations; German hegemony and “living space” must dominate Europe, and the German superman must be the arbiter of human life; American isolationism would leave humanity defenceless in its hour of need and hand men over to the rule of Hitler; Russia, in her silence, cannot be trusted; Japan is upsetting the balance of power in Asia. Such is the picture today. Anarchy rules the world; famine stalks the inhabitants of Europe; the civilian population of cities, the women and children, are in grave danger of injury and death and are forced to live underground; pestilence appears; there is no safety on land or sea or in the air; the [185] nations are on the verge of financial ruin; science has turned to the invention of the instruments of death; the populations of cities and entire districts are shifted from one part of a country to another; families and homes are broken up; there is intense fear, hopeless looking into the future, bewildered questioning, suicide and murder; the smoke of countless fires blackens the skies; the seas are strewn with dead and with wrecked vessels; the thunder of guns and the noise of exploding bombs are heard in approximately twenty countries; war rises up from the waters, marches over the lands and descends from the skies.

Lịch sử thế giới được xây dựng quanh chủ đề chiến tranh; những điểm khủng hoảng của nó là các trận chiến lớn. Tư tưởng báo thù thúc đẩy một số quốc gia; đòi hỏi sửa lại những bất công lịch sử cổ xưa ảnh hưởng đến những quốc gia khác; việc hoàn nguyên những vùng đất từng nắm giữ trước đây chi phối hành động của những quốc gia khác nữa. Thí dụ: vinh quang cổ xưa của Đế quốc La Mã phải được khôi phục—bằng cái giá của những dân tộc nhỏ bé bất lực; văn hóa Pháp phải là tối thượng và an ninh của Pháp phải vượt trên mọi cân nhắc khác; chủ nghĩa đế quốc Anh trong quá khứ đã xúc phạm các quốc gia khác; quyền bá chủ của Đức và “không gian sinh tồn” phải thống trị châu Âu, và siêu nhân Đức phải là kẻ phân xử đời sống con người; chủ nghĩa biệt lập của Mỹ sẽ để mặc nhân loại không được bảo vệ trong giờ phút cần thiết và trao con người cho sự cai trị của Hitler; nước Nga, trong sự im lặng của mình, không thể được tin cậy; Nhật Bản đang làm đảo lộn thế cân bằng quyền lực ở châu Á. Đó là bức tranh ngày nay. Tình trạng vô chính phủ cai trị thế giới; nạn đói rình rập cư dân châu Âu; dân thường ở các thành phố, phụ nữ và trẻ em, đang ở trong hiểm nguy nghiêm trọng bị thương tích và tử vong và bị buộc phải sống dưới lòng đất; dịch bệnh xuất hiện; không có sự an toàn trên đất liền, trên biển hay trên không; các quốc gia [185] đang ở bên bờ vực phá sản tài chính; khoa học đã quay sang phát minh những công cụ của cái chết; dân cư các thành phố và cả những khu vực rộng lớn bị chuyển từ phần này của một quốc gia sang phần khác; gia đình và mái ấm bị tan vỡ; có nỗi sợ hãi dữ dội, cái nhìn tuyệt vọng vào tương lai, những câu hỏi hoang mang, tự sát và giết người; khói của vô số đám cháy làm đen bầu trời; biển cả đầy xác chết và tàu thuyền đắm; tiếng đại bác và tiếng bom nổ được nghe thấy ở khoảng hai mươi quốc gia; chiến tranh trỗi dậy từ mặt nước, tiến qua đất liền và giáng xuống từ bầu trời.

It is to this situation that the old order has brought humanity. It is to this disaster that man’s cruelty and selfishness have tended; no nations are exempt from this criticism, and all are more rapidly moved by selfish purpose than by the spirit of sacrifice.

Chính vào tình trạng này mà trật tự cũ đã đưa nhân loại đến. Chính tới thảm họa này mà sự tàn bạo và ích kỷ của con người đã dẫn tới; không quốc gia nào được miễn khỏi lời phê phán này, và tất cả đều bị thúc đẩy nhanh hơn bởi mục đích ích kỷ hơn là bởi tinh thần hi sinh.

Even idealistic America can only be aroused into action by an appeal to her self-interest and security.

Ngay cả nước Mỹ đầy lý tưởng cũng chỉ có thể được đánh thức để hành động bằng một lời kêu gọi hướng tới quyền lợi và an ninh của chính mình.

For our encouragement let us recognise that the same humanity which has brought about these terrible conditions can also create the new world, the new order and the new way of life. The selfish, wicked past can give way to a future of understanding, of cooperation, of right human relations and of good. Separativeness must be superseded by unity. The combination of totalitarian aggressors, of allied democracies and of anxious neutral nations must be changed into a world which is characterised by one endeavour—the establishing of those relations which will produce the happiness and peace of the whole, and not only of the part.

Để khích lệ chúng ta, hãy nhận ra rằng chính cùng một nhân loại đã tạo ra những điều kiện khủng khiếp này cũng có thể tạo ra thế giới mới, trật tự mới và lối sống mới. Quá khứ ích kỷ, xấu xa có thể nhường chỗ cho một tương lai của sự thấu hiểu, hợp tác, tương quan nhân loại đúng đắn và điều thiện. Tính chia rẽ phải được thay thế bởi sự hợp nhất. Sự kết hợp của những kẻ xâm lược toàn trị, của các nền dân chủ đồng minh và của các quốc gia trung lập đầy lo âu phải được chuyển thành một thế giới được đặc trưng bởi một nỗ lực duy nhất—thiết lập những tương quan sẽ tạo ra hạnh phúc và hòa bình cho toàn thể, chứ không chỉ cho một phần.

II. THE NEW WORLD ORDER

II. TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI

I assume that my readers recognise some intelligent or spiritual direction of humanity. I care not by what name they call that guiding Purpose. Some may call it the Will of God; others, the inevitable trends of the evolutionary process; still others may believe in the spiritual forces of the planet; others may regard it as the spiritual Hierarchy of the [186] planet, or the great White Lodge; many millions speak of the guidance of Christ and His disciples. Be that as it may, there is a universal recognition of a guiding Power, exerting pressure throughout the ages, which appears to be leading all towards an ultimate good.

Tôi giả định rằng độc giả của tôi thừa nhận một sự chỉ đạo nào đó, có trí tuệ hoặc tinh thần, đối với nhân loại. Tôi không quan tâm họ gọi Mục Đích hướng dẫn ấy bằng tên gì. Một số người có thể gọi đó là Ý Chí của Thượng Đế; những người khác gọi là các xu hướng tất yếu của tiến trình tiến hoá; những người khác nữa có thể tin vào các mãnh lực tinh thần của hành tinh; những người khác có thể xem đó là Thánh Đoàn tinh thần của [186] hành tinh, hay Thánh đoàn; nhiều triệu người nói đến sự hướng dẫn của Đức Christ và các đệ tử của Ngài. Dù là thế nào đi nữa, vẫn có một sự thừa nhận phổ quát về một Quyền Năng hướng dẫn, gây áp lực qua các thời đại, dường như đang dẫn dắt tất cả tới một điều thiện tối hậu.

Some definite direction has led man from the stage of primeval man to that evolutionary point where a Plato, a Shakespeare, a da Vinci, a Beethoven can appear. Some power has evoked man’s capacity to formulate ideas, to produce systems of theology, of science and of government; some inner motivating power has given man the ability to create beauty, to discover the secrets of nature; some realisation of divine responsibility lies behind the philanthropy, the educational systems, and the welfare movements throughout the world. The progress of the human spirit has been one of irresistible unfoldment, of a developing appreciation of reality, beauty and wisdom. Instinct has developed into intellect; intellect is beginning to unfold into intuition. The significance of God, the registering of man’s divine potentialities, and the increasing capacity to understand and to share in the thought processes of others—all these indicate progress and unfoldment.

Một sự chỉ đạo xác định nào đó đã dẫn dắt con người từ giai đoạn người nguyên thủy đến điểm tiến hoá mà ở đó một Plato, một Shakespeare, một da Vinci, một Beethoven có thể xuất hiện. Một quyền năng nào đó đã gợi lên nơi con người khả năng hình thành các ý tưởng, tạo ra các hệ thống thần học, khoa học và chính quyền; một quyền năng thúc đẩy bên trong nào đó đã ban cho con người khả năng sáng tạo cái đẹp, khám phá những bí mật của bản chất; một sự chứng nghiệm nào đó về trách nhiệm thiêng liêng nằm phía sau hoạt động từ thiện, các hệ thống giáo dục và các phong trào phúc lợi trên khắp thế giới. Sự tiến bộ của tinh thần nhân loại là một sự khai mở không thể cưỡng lại, một sự phát triển trong việc trân trọng thực tại, cái đẹp và minh triết. Bản năng đã phát triển thành trí tuệ; trí tuệ đang bắt đầu khai mở thành trực giác. Thâm nghĩa của Thượng đế, sự ghi nhận các tiềm năng thiêng liêng của con người, và năng lực ngày càng tăng để thấu hiểu và chia sẻ trong các tiến trình tư tưởng của người khác—tất cả những điều này đều chỉ ra sự tiến bộ và sự khai mở.

This picture of the beauty of the human spirit must be placed beside the earlier picture of man’s selfishness and cruelty, of man’s inhumanity to man. Both pictures are true, but only the one of beauty is eternal; the other is but transient. Man is a composite of higher and lower expressions, and behind all the wars and difficulties which accompany man’s progress through the ages lies this major factor—an ancient persistent fight between man’s spiritual aspiration and his material desires. This condition is today brought to a focus in the conflict raging between the totalitarian powers and the nations which are fighting for the rights of the human spirit and for the freedom of humanity.

Bức tranh về vẻ đẹp của tinh thần nhân loại này phải được đặt bên cạnh bức tranh trước đó về tính ích kỷ và sự tàn bạo của con người, về sự vô nhân đạo của con người đối với con người. Cả hai bức tranh đều đúng, nhưng chỉ bức tranh về vẻ đẹp là vĩnh cửu; bức tranh kia chỉ là tạm thời. Con người là một tổng hợp của những biểu hiện cao và thấp, và đằng sau mọi cuộc chiến tranh và khó khăn đi kèm với sự tiến bộ của con người qua các thời đại là yếu tố lớn này—một cuộc chiến dai dẳng cổ xưa giữa khát vọng tinh thần của con người và những ham muốn vật chất của y. Tình trạng này ngày nay được gom lại thành một tiêu điểm trong cuộc xung đột đang diễn ra giữa các cường quốc toàn trị và các quốc gia đang chiến đấu cho các quyền của tinh thần nhân loại và cho tự do của nhân loại.

My use of the word spiritual has nothing to do with the use of this word as the orthodox religions use it, except in so far as the religious expression is a part of the general spirituality of mankind. Everything is spiritual which tends [187] towards understanding, towards kindness, towards that which is productive of beauty and which can lead man on to a fuller expression of his divine potentialities. All is evil which drives man deeper into materialism, which omits the higher values of living, which endorses selfishness, which sets up barriers to the establishing of right human relations, and which feeds the spirit of separateness, of fear, of revenge.

Việc tôi dùng từ tinh thần không liên quan gì đến cách các tôn giáo chính thống dùng từ này, ngoại trừ trong chừng mực biểu hiện tôn giáo là một phần của tinh thần chung của nhân loại. Mọi điều đều là tinh thần nếu nó hướng [187] tới sự thấu hiểu, tới lòng tử tế, tới điều gì tạo ra cái đẹp và có thể dẫn con người tới một biểu hiện đầy đủ hơn của các tiềm năng thiêng liêng của y. Mọi điều đều là ác nếu nó đẩy con người sâu hơn vào chủ nghĩa duy vật, nếu nó loại bỏ các giá trị cao hơn của đời sống, nếu nó tán thành tính ích kỷ, nếu nó dựng lên các rào cản đối với việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, và nếu nó nuôi dưỡng tinh thần chia rẽ, sợ hãi, báo thù.

On the basis of these distinctions, it is surely apparent that God is on the side of the allied nations, for it cannot be supposed that Christ is on the side of Hitler and the rule of cruel aggression. The spiritual Hierarchy of the planet is throwing the weight of its strength against the Axis powers just in so far as the spiritually minded peoples of the world can collaborate, for there can be no coercion of man’s free will. No one is afraid of the allied nations; the situation has not been precipitated by the Allies; their methods are not the methods of lying propaganda and the terrorising of the weak and the defenceless. Facts prove these points, and it is this recognition which lies behind the constant aid of the United States. The way of living and the spiritual objects of the democracies are recognised by all, and it is these which are threatened by the totalitarian concepts of life. Through the democracies humanity speaks.

Dựa trên những phân biệt này, hiển nhiên là Thượng đế đứng về phía các quốc gia đồng minh, vì không thể giả định rằng Đức Christ đứng về phía Hitler và sự cai trị bằng xâm lược tàn bạo. Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh đang dồn sức mạnh của mình chống lại các cường quốc Trục trong chừng mực mà các dân tộc có tinh thần trên thế giới có thể cộng tác, vì không thể có sự cưỡng bách đối với ý chí tự do của con người. Không ai sợ các quốc gia đồng minh; tình hình không bị làm cho bùng phát bởi Đồng minh; các phương pháp của họ không phải là các phương pháp tuyên truyền dối trá và khủng bố những kẻ yếu đuối, không được bảo vệ. Sự kiện chứng minh những điểm này, và chính sự nhận thức ấy nằm phía sau sự trợ giúp liên tục của Hoa Kỳ. Cách sống và các mục tiêu tinh thần của các nền dân chủ được mọi người thừa nhận, và chính những điều này đang bị đe dọa bởi các quan niệm toàn trị về đời sống. Qua các nền dân chủ, nhân loại lên tiếng.

The Axis World Order

Trật tự thế giới của phe Trục

The totalitarian order must go because it is contrary to the spiritual vision. The world order, as visioned by Hitler, is based upon the subjection of the weak to the rule of a super-Germany; it is one in which the life of the little nations will be allowed to go on just in so far as they serve the need of Germany. The lesser Axis powers are permitted existence only because they benefit German aims—Italy, to give Germany scope in the Mediterranean; Japan, to handle the Asiatic problem which is too large for Germany to handle alone. It is an order whose intention is that the best of all industrial and agricultural products shall go to Germany and the unwanted residue to the little nations. It is an order [188] in which the educational processes will be controlled by the dominant super-race. All departments of knowledge will be subordinated to the glorification of Germany. Germany will be portrayed as the seed of all world glory, and as the ruthless saviour of mankind; the beauties of war, of struggle and of physical strength will be emphasised, and these so-called admirable objectives of the human spirit will be developed to produce a race of men in whom the “effeminate” beauties of loving kindness and wise consideration for others will find no place.

Trật tự toàn trị phải ra đi vì nó trái với linh ảnh tinh thần. Trật tự thế giới, như Hitler hình dung, dựa trên sự khuất phục của kẻ yếu dưới sự cai trị của một nước Đức siêu cường; đó là một trật tự trong đó đời sống của các quốc gia nhỏ sẽ chỉ được phép tiếp diễn trong chừng mực họ phục vụ nhu cầu của Đức. Các cường quốc Trục nhỏ hơn chỉ được phép tồn tại vì chúng có lợi cho các mục tiêu của Đức—Ý, để cho Đức phạm vi hoạt động ở Địa Trung Hải; Nhật Bản, để xử lý vấn đề châu Á vốn quá lớn để một mình Đức xử lý. Đó là một trật tự có chủ ý rằng phần tốt nhất của mọi sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp sẽ về Đức, còn phần thừa không mong muốn sẽ dành cho các quốc gia nhỏ. Đó là một trật tự [188] trong đó các tiến trình giáo dục sẽ bị kiểm soát bởi siêu chủng tộc thống trị. Mọi ngành tri thức sẽ bị đặt dưới sự tôn vinh nước Đức. Đức sẽ được mô tả như hạt giống của mọi vinh quang thế giới, và như đấng cứu tinh tàn nhẫn của nhân loại; vẻ đẹp của chiến tranh, của đấu tranh và của sức mạnh thể xác sẽ được nhấn mạnh, và những mục tiêu được gọi là đáng ngưỡng mộ này của tinh thần nhân loại sẽ được phát triển để tạo ra một chủng người trong đó những vẻ đẹp “ủy mị” của lòng nhân ái yêu thương và sự quan tâm khôn ngoan đến người khác sẽ không có chỗ đứng.

I would call your attention to the teaching now being given to the German youth. Might is right. The German belongs to the super-race, and all other races are inferior. Only a chosen aristocracy should be permitted the privilege of education and of rule. The masses of the people are no more than cattle and exist only to be slaves of the superior race. War is to men what childbirth is to women. War is a natural process and therefore eternally right. All sources of supply must be controlled by Germany, and consequently even those nations at present neutral must be brought under the German sphere of influence. The totalitarian powers will dominate the economic system of the world and control all imports and exports. The standard of living in both hemispheres will be lowered; everything will be related to the good of Germany, and no other nation will be considered. Christian teaching and Christian ethics must necessarily be eliminated, because Germany regards Christianity and its divine Founder as effeminate and weak, as emphasising the softer qualities of human nature, and as responsible for the decadence of all nations, except Germany. Christianity must also be overthrown because it is based on Jewish sources; the rule of Christ must come to an end, because only the rule of force is right.

Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của các bạn đến giáo huấn hiện đang được truyền dạy cho thanh niên Đức. Sức mạnh là lẽ phải. Người Đức thuộc về siêu chủng tộc, và mọi chủng tộc khác đều thấp kém. Chỉ một tầng lớp quý tộc được chọn mới nên được phép có đặc quyền giáo dục và cai trị. Quần chúng nhân dân không hơn gì súc vật và chỉ tồn tại để làm nô lệ cho chủng tộc thượng đẳng. Chiến tranh đối với đàn ông cũng như sinh nở đối với phụ nữ. Chiến tranh là một tiến trình tự nhiên và vì thế vĩnh viễn đúng. Mọi nguồn cung ứng phải do Đức kiểm soát, và do đó ngay cả những quốc gia hiện đang trung lập cũng phải bị đưa vào phạm vi ảnh hưởng của Đức. Các cường quốc toàn trị sẽ thống trị hệ thống kinh tế của thế giới và kiểm soát mọi nhập khẩu và xuất khẩu. Mức sống ở cả hai bán cầu sẽ bị hạ thấp; mọi thứ sẽ được quy về lợi ích của Đức, và không quốc gia nào khác sẽ được xét đến. Giáo huấn Cơ Đốc và đạo đức Cơ Đốc tất yếu phải bị loại bỏ, vì Đức xem Cơ Đốc giáo và Đấng Sáng Lập thiêng liêng của nó là ủy mị và yếu đuối, là nhấn mạnh những phẩm tính mềm mại hơn của bản chất con người, và là nguyên nhân của sự suy đồi của mọi quốc gia, ngoại trừ Đức. Cơ Đốc giáo cũng phải bị lật đổ vì nó dựa trên các nguồn gốc Do Thái; sự cai trị của Đức Christ phải chấm dứt, vì chỉ có sự cai trị bằng vũ lực mới là đúng.

In the world order of the Axis powers, the individual has no rights; he has no freedom except in so far as he serves the state; there will be no liberty of thought or conscience, all issues will be decided by the state, and the private citizen [189] will have no right to an opinion. Men will be drafted like slaves into the service of the state.

Trong trật tự thế giới của các cường quốc Trục, cá nhân không có quyền gì; y không có tự do ngoại trừ trong chừng mực y phục vụ nhà nước; sẽ không có tự do tư tưởng hay lương tâm, mọi vấn đề sẽ do nhà nước quyết định, và công dân cá nhân [189] sẽ không có quyền có ý kiến. Những người nam và nữ sẽ bị trưng dụng như nô lệ vào việc phục vụ nhà nước.

Such is the picture of the order which the Axis powers are preparing to impose upon the world, and to this their own words testify. Only insight into the true nature of this crisis, a determination to face the facts, and fearlessness will suffice to defeat Hitler. This conquering fearlessness must be based on a recognition of the spiritual values involved, on a belief in God, and on a commonsense which is determined to establish security, right human relations and liberty.

Đó là bức tranh về trật tự mà các cường quốc Trục đang chuẩn bị áp đặt lên thế giới, và chính lời nói của họ làm chứng cho điều đó. Chỉ có sự thấu suốt vào bản chất thật của cuộc khủng hoảng này, một quyết tâm đối diện với sự kiện, và lòng vô úy mới đủ để đánh bại Hitler. Lòng vô úy chiến thắng này phải dựa trên sự nhận ra các giá trị tinh thần liên quan, trên niềm tin vào Thượng đế, và trên một lương tri quyết tâm thiết lập an ninh, những tương quan nhân loại đúng đắn và tự do.

It is important that people face up to the facts immediately. They must realise what is the nature of the world order which Hitler is preparing to enforce, and what lies ahead of humanity if the Axis powers triumph. It is essential that the little children of the world be rescued from this overshadowing evil and from the false education to which they will be subjected if the totalitarian powers hold Europe in their grasp. The intensive culture given to the youth of Germany during the past twenty years has proved the effects of environing mental attitudes. These boys who roll their tanks and fly their planes over the countries of Europe and who wage war on women and children are the product of an educational system, and are therefore the victims of an evil process. The children of Germany must be rescued from the future which Hitler plans, as well as the children of other countries; the women of Germany must be set free from fear, as must the women in other lands; the population of Germany must also be liberated from the evil rule of Hitler. This is recognised by the allied nations. Make no mistake. The German is as dear to the heart of humanity, to God, to Christ and to all right thinking people as are any other people. The German must be rescued from Hitler’s world order as much as the Pole, the Jew, the Czech or any captive nation. In effecting this freedom, the allied nations and the neutral powers must preserve the spirit of goodwill, even when using force, which is the only means of conquest the totalitarian powers understand. [190]

Điều quan trọng là mọi người phải lập tức đối diện với các sự kiện. Họ phải nhận ra bản chất của trật tự thế giới mà Hitler đang chuẩn bị cưỡng bách thi hành, và điều gì đang chờ phía trước nhân loại nếu các cường quốc Trục chiến thắng. Điều thiết yếu là những trẻ nhỏ của thế giới phải được cứu khỏi điều ác đang phủ bóng này và khỏi nền giáo dục sai lạc mà chúng sẽ phải chịu nếu các cường quốc toàn trị nắm châu Âu trong tay. Nền giáo dưỡng chuyên sâu dành cho thanh niên Đức trong hai mươi năm qua đã chứng minh các tác động của những thái độ trí tuệ bao quanh. Những chàng trai đang lăn xe tăng và lái máy bay qua các quốc gia châu Âu và đang tiến hành chiến tranh chống lại phụ nữ và trẻ em này là sản phẩm của một hệ thống giáo dục, và vì thế là nạn nhân của một tiến trình tà ác. Trẻ em Đức phải được cứu khỏi tương lai mà Hitler hoạch định, cũng như trẻ em của các quốc gia khác; phụ nữ Đức phải được giải thoát khỏi sợ hãi, cũng như phụ nữ ở các xứ khác; dân chúng Đức cũng phải được giải phóng khỏi sự cai trị tà ác của Hitler. Điều này được các quốc gia đồng minh thừa nhận. Đừng nhầm lẫn. Người Đức cũng thân yêu đối với trái tim của nhân loại, đối với Thượng đế, đối với Đức Christ và đối với mọi người có tư duy đúng đắn như bất kỳ dân tộc nào khác. Người Đức phải được cứu khỏi trật tự thế giới của Hitler cũng như người Ba Lan, người Do Thái, người Czech hay bất kỳ quốc gia bị giam cầm nào. Khi thực hiện sự giải phóng này, các quốc gia đồng minh và các cường quốc trung lập phải giữ gìn tinh thần thiện chí, ngay cả khi dùng đến vũ lực, vốn là phương tiện chinh phục duy nhất mà các cường quốc toàn trị hiểu được. [190]

Steps Towards the New World Order

Những bước tiến tới trật tự thế giới mới

In contradistinction to the totalitarian world order, what should the rest of the world plan? Towards what world objectives should the democracies work? Utopian schemes, idealistic forms of government and cultural living processes have ever been the playthings of the human mind, down through the centuries. But these Utopias have been so far ahead of possibility that their presentation seems useless. They are most of them wholly impractical.

Đối lập với trật tự thế giới toàn trị, phần còn lại của thế giới nên hoạch định điều gì? Các nền dân chủ nên hướng tới những mục tiêu thế giới nào? Những đề án không tưởng, những hình thức chính quyền lý tưởng và những tiến trình sinh hoạt văn hóa từ lâu vẫn là trò chơi của trí tuệ con người qua các thế kỷ. Nhưng những không tưởng này đã vượt quá xa khả năng thực hiện đến nỗi việc trình bày chúng dường như vô ích. Phần lớn chúng hoàn toàn không thực tế.

Certain immediate possibilities and attainable objectives can, however, be worked out, given a definite will-to-good and patience on the part of humanity.

Tuy nhiên, một số khả năng trước mắt và những mục tiêu có thể đạt được có thể được triển khai, nếu nhân loại có một Ý Chí-hướng Thiện xác định và sự kiên nhẫn.

Certain major and spiritual premises should lie back of all efforts to formulate the new world order. Let me state some of them:

Một số tiền đề lớn và tinh thần phải nằm phía sau mọi nỗ lực hình thành trật tự thế giới mới. Hãy để tôi nêu ra một vài điều trong số đó:

1. The new world order must meet the immediate need and not be an attempt to satisfy some distant, idealistic vision.

1. Trật tự thế giới mới phải đáp ứng nhu cầu trước mắt chứ không phải là một nỗ lực nhằm thỏa mãn một linh ảnh lý tưởng xa vời nào đó.

2. The new world order must be appropriate to a world which has passed through a destructive crisis and to a humanity which is badly shattered by the experience.

2. Trật tự thế giới mới phải thích hợp với một thế giới đã trải qua một cuộc khủng hoảng tàn phá và với một nhân loại bị tan tác nặng nề bởi kinh nghiệm ấy.

3. The new world order must lay the foundation for a future world order which will be possible only after a time of recovery, of reconstruction, and of rebuilding.

3. Trật tự thế giới mới phải đặt nền móng cho một trật tự thế giới tương lai, chỉ có thể khả hữu sau một thời kỳ phục hồi, tái thiết và xây dựng lại.

4. The new world order will be founded on the recognition that all men are equal in origin and goal but that all are at differing stages of evolutionary development; that personal integrity, intelligence, vision and experience, plus a marked goodwill, should indicate leadership. The domination of the proletariat over the aristocracy and bourgeoisie, as in Russia, or the domination of an entrenched aristocracy over the proletariat and middle classes, as has been until lately the case in Great Britain, must disappear. The control of labour by capital or the control of capital by labour must also go. [191]

4. Trật tự thế giới mới sẽ được đặt nền trên sự thừa nhận rằng mọi người đều bình đẳng về nguồn gốc và mục tiêu nhưng tất cả đang ở những giai đoạn phát triển tiến hoá khác nhau; rằng sự chính trực cá nhân, trí tuệ, tầm nhìn và kinh nghiệm, cộng với một thiện chí nổi bật, phải là dấu hiệu của năng lực lãnh đạo. Sự thống trị của giai cấp vô sản đối với tầng lớp quý tộc và tư sản, như ở Nga, hay sự thống trị của một tầng lớp quý tộc cố thủ đối với giai cấp vô sản và tầng lớp trung lưu, như cho đến gần đây vẫn là trường hợp ở Đại Anh quốc, phải biến mất. Sự kiểm soát lao động bởi tư bản hay sự kiểm soát tư bản bởi lao động cũng phải chấm dứt. [191]

5. In the new world order, the governing body in any nation should be composed of those who work for the greatest good of the greatest number and who at the same time offer opportunity to all, seeing to it that the individual is left free. Today the men of vision are achieving recognition, thus making possible a right choice of leaders. It was not possible until this century.

5. Trong trật tự thế giới mới, cơ quan cai trị ở bất kỳ quốc gia nào phải gồm những người hoạt động vì lợi ích lớn nhất của số đông nhất và đồng thời đem lại cơ hội cho mọi người, bảo đảm rằng cá nhân vẫn được tự do. Ngày nay những người có tầm nhìn đang được công nhận, nhờ đó làm cho việc lựa chọn đúng các nhà lãnh đạo trở nên khả hữu. Điều đó chưa thể có trước thế kỷ này.

6. The new world order will be founded on an active sense of responsibility. The rule will be “all for one and one for all.” This attitude among nations will have to be developed. It is not yet present.

6. Trật tự thế giới mới sẽ được đặt nền trên một ý thức trách nhiệm tích cực. Quy luật sẽ là “tất cả vì một và một vì tất cả.” Thái độ này giữa các quốc gia sẽ phải được phát triển. Nó chưa hiện diện.

7. The new world order will not impose a uniform type of government, a synthetic religion and a system of standardisation upon the nations. The sovereign rights of each nation will be recognised and its peculiar genius, individual trends and racial qualities will be permitted full expression. In one particular only should there be an attempt to produce unity, and that will be in the field of education.

7. Trật tự thế giới mới sẽ không áp đặt một loại hình chính quyền đồng nhất, một tôn giáo tổng hợp và một hệ thống tiêu chuẩn hóa lên các quốc gia. Các quyền chủ quyền của mỗi quốc gia sẽ được thừa nhận và thiên tài đặc thù, các khuynh hướng cá biệt và các phẩm tính chủng tộc của quốc gia ấy sẽ được phép biểu hiện đầy đủ. Chỉ trong một phương diện mới nên có nỗ lực tạo ra sự hợp nhất, và đó sẽ là trong lĩnh vực giáo dục.

8. The new world order will recognise that the produce of the world, the natural resources of the planet and its riches, belong to no one nation but should be shared by all. There will be no nations under the category “haves” and others under the opposite category. A fair and properly organised distribution of the wheat, the oil and the mineral wealth of the world will be developed, based upon the needs of each nation, upon its own internal resources and the requirements of its people. All this will be worked out in relation to the whole.

8. Trật tự thế giới mới sẽ thừa nhận rằng sản vật của thế giới, các tài nguyên thiên nhiên của hành tinh và sự giàu có của nó, không thuộc về riêng quốc gia nào mà phải được chia sẻ bởi tất cả. Sẽ không có những quốc gia thuộc loại “những kẻ có” và những quốc gia khác thuộc loại đối nghịch. Một sự phân phối công bằng và được tổ chức đúng đắn về lúa mì, dầu mỏ và tài sản khoáng sản của thế giới sẽ được phát triển, dựa trên nhu cầu của mỗi quốc gia, trên các nguồn lực nội tại của chính quốc gia ấy và các nhu cầu của dân chúng. Tất cả điều này sẽ được triển khai trong tương quan với toàn thể.

9. In the preparatory period for the new world order there will be a steady and regulated disarmament. It will not be optional. No nation will be permitted to produce and organise any equipment for destructive purposes or to infringe the security of any other nation. One of the first tasks of any future peace conference will be to regulate this matter and gradually see to the disarming of the nations.

9. Trong thời kỳ chuẩn bị cho trật tự thế giới mới sẽ có một sự giải trừ quân bị đều đặn và được điều tiết. Điều đó sẽ không phải là tùy chọn. Không quốc gia nào sẽ được phép sản xuất và tổ chức bất kỳ trang bị nào cho các mục đích hủy diệt hay xâm phạm an ninh của bất kỳ quốc gia nào khác. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của bất kỳ hội nghị hòa bình tương lai nào sẽ là điều tiết vấn đề này và dần dần bảo đảm việc giải trừ quân bị của các quốc gia.

[192] These are the simple and general premises upon which the new world order must begin its work. These preliminary stages must be kept fluid and experimental; the vision of possibility must never be lost, and the foundations must be preserved inviolate, but the intermediate processes and the experimentations must be carried forward by men who, having the best interests of the whole at heart, can change the detail of organisation whilst preserving the life of the organism.

[192] Đây là những tiền đề đơn giản và tổng quát mà trên đó trật tự thế giới mới phải bắt đầu công việc của mình. Những giai đoạn sơ bộ này phải được giữ linh động và có tính thử nghiệm; linh ảnh về khả năng không bao giờ được đánh mất, và các nền tảng phải được giữ gìn bất khả xâm phạm, nhưng các tiến trình trung gian và các thử nghiệm phải được tiến hành bởi những người, với lợi ích tốt nhất của toàn thể trong tim, có thể thay đổi chi tiết tổ chức trong khi vẫn bảo tồn sự sống của cơ thể.

Right Human Relations

Những tương quan nhân loại đúng đắn

The objective of their work can be summed up thus: the new world order will facilitate the establishing of right human relations, based on justice, on the recognition of inherited rights, on opportunity for all—irrespective of race, colour or creed—on the suppression of crime and selfishness through right education, and on the recognition of divine potentialities in man as well as the recognition of a divine directing Intelligence in Whom man lives, and moves and has his being.

Mục tiêu công việc của họ có thể được tóm lược như sau: trật tự thế giới mới sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, dựa trên công lý, trên sự thừa nhận các quyền thừa hưởng, trên cơ hội cho mọi người—bất kể nhân loại, màu da hay tín ngưỡng—trên việc ngăn chặn tội ác và tính ích kỷ bằng giáo dục đúng đắn, và trên sự thừa nhận các tiềm năng thiêng liêng trong con người cũng như sự thừa nhận một Trí Tuệ chỉ đạo thiêng liêng, trong Đấng ấy con người sống, vận động và hiện hữu.

The difficulties confronting the nations when the war is over may seem insuperable but—given vision, goodwill and patience—they can be solved. Assuming that humanity will not rest until the aggressor nations are subdued, it will be necessary for the conquering democracies to be generous, merciful, understanding and attentive to the voice of the people as a whole. It is that voice (usually sound in its pronouncements) which must be evoked, recognised and listened to, and not the voices of the separative exponents of any ideology, of any form of government, religion or party. The objective of those who are entrusted with the straightening out of the world is not the imposition of democracy upon the entire world or to force Christianity upon a world of diversified religions. It is surely to foster the best elements in any national government to which the people may subscribe, or which they intelligently endorse. Each nation should recognise that its form of government may be suited [193] to it and quite unsuited to another nation; it should be taught that the function of each nation is the perfecting of its national life, rhythm and machinery, so that it can be an efficient co-partner with all other nations.

Những khó khăn đối diện các quốc gia khi chiến tranh kết thúc có thể dường như không thể vượt qua nhưng—nếu có tầm nhìn, thiện chí và kiên nhẫn—chúng có thể được giải quyết. Giả định rằng nhân loại sẽ không nghỉ cho đến khi các quốc gia xâm lược bị khuất phục, thì các nền dân chủ chiến thắng sẽ cần phải rộng lượng, từ bi, thấu hiểu và chú ý đến tiếng nói của toàn thể dân chúng. Chính tiếng nói ấy (thường là lành mạnh trong các phán đoán của nó) phải được gợi lên, được thừa nhận và được lắng nghe, chứ không phải tiếng nói của những người chủ trương chia rẽ của bất kỳ hệ tư tưởng nào, bất kỳ hình thức chính quyền, tôn giáo hay đảng phái nào. Mục tiêu của những người được giao phó việc chỉnh đốn thế giới không phải là áp đặt nền dân chủ lên toàn thế giới hay cưỡng bách Cơ Đốc giáo lên một thế giới có nhiều tôn giáo khác nhau. Chắc chắn đó là nuôi dưỡng những yếu tố tốt nhất trong bất kỳ chính quyền quốc gia nào mà dân chúng có thể chấp nhận, hay mà họ tán thành một cách sáng suốt. Mỗi quốc gia nên nhận ra rằng hình thức chính quyền của mình có thể thích hợp [193] với mình và hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia khác; quốc gia ấy nên được dạy rằng chức năng của mỗi quốc gia là hoàn thiện đời sống quốc gia, nhịp điệu và bộ máy của mình, để có thể là một đối tác hữu hiệu với mọi quốc gia khác.

It is equally essential that the new world order should develop in humanity a sense of divinity and of relationship to God, yet with no emphasis upon racial theologies and separative creeds. The essentials of religious and political beliefs must be taught and a new simplicity of life inculcated. Today, these are lost in the emphasis laid upon material possession, upon things and upon money. The problem of money will have to be faced; the problem of the distribution of wealth—whether natural or human—will need careful handling and a compromise reached between those nations which possess unlimited resources and those who have few or none; the problem of the varying forms of national government must be faced with courage and insight; the restoration—psychological, spiritual and physical—of mankind must constitute a primary responsibility. The sense of security must be put on a firm basis—the basis of right relationship, and not the basis of force. Men must feel secure because they are seeking to develop international goodwill and can trust each other, and are not therefore dependent upon the strength of their armies and fleets.

Điều cũng thiết yếu không kém là trật tự thế giới mới phải phát triển trong nhân loại một ý thức về thiên tính và về mối liên hệ với Thượng đế, nhưng không nhấn mạnh vào các thần học chủng tộc và các tín điều chia rẽ. Những điều cốt yếu của niềm tin tôn giáo và chính trị phải được giảng dạy và một sự đơn giản mới trong đời sống phải được inculcated. Ngày nay, những điều này bị đánh mất trong sự nhấn mạnh đặt lên sự sở hữu vật chất, lên các thứ và lên tiền bạc. Vấn đề tiền bạc sẽ phải được đối diện; vấn đề phân phối của cải—dù là tự nhiên hay nhân lực—sẽ cần được xử lý cẩn trọng và phải đạt được một sự thỏa hiệp giữa những quốc gia sở hữu nguồn lực vô hạn và những quốc gia có ít hoặc không có; vấn đề các hình thức chính quyền quốc gia khác nhau phải được đối diện với can đảm và thấu suốt; sự phục hồi—về tâm lý, tinh thần và hồng trần—của nhân loại phải là một trách nhiệm hàng đầu. Ý thức an ninh phải được đặt trên một nền tảng vững chắc—nền tảng của tương quan đúng đắn, chứ không phải nền tảng của vũ lực. Những người nam và nữ phải cảm thấy an toàn vì họ đang tìm cách phát triển thiện chí quốc tế và có thể tin cậy lẫn nhau, và do đó không phụ thuộc vào sức mạnh của quân đội và hạm đội của mình.

The recognition of a spiritual Hierarchy which is working through the New Group of World Servers must steadily grow in some form or another. This will happen when the world statesmen and the rulers of the different nations and governing bodies—political and religious—are men of vision, spiritually motivated and selflessly inspired.

Sự thừa nhận một Thánh Đoàn tinh thần đang hoạt động qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải đều đặn tăng trưởng dưới hình thức này hay hình thức khác. Điều này sẽ xảy ra khi các chính khách thế giới và những người cai trị các quốc gia khác nhau cùng các cơ quan cai trị—chính trị và tôn giáo—là những người có tầm nhìn, được thúc đẩy bởi tinh thần và được cảm hứng một cách vô ngã.

The future world order will be the effective expression of a fusion of the inner spiritual way of life and the outer civilised and cultural way of acting; this is a definite possibility because humanity, in its upper brackets, has already developed the power to live in the intellectual and physical worlds simultaneously. Many today are living in the spiritual world also. Tomorrow there will be many more. [194]

Trật tự thế giới tương lai sẽ là biểu hiện hữu hiệu của một sự dung hợp giữa lối sống tinh thần bên trong và lối hành động văn minh và văn hóa bên ngoài; đây là một khả năng xác định vì nhân loại, trong các tầng lớp cao hơn của mình, đã phát triển quyền năng sống đồng thời trong các thế giới trí tuệ và hồng trần. Nhiều người ngày nay cũng đang sống trong thế giới tinh thần. Ngày mai sẽ có nhiều người hơn nữa. [194]

III. SOME PROBLEMS INVOLVED

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

The new world order will be confronted with many problems. These problems will not be solved by the imposition of a solution by means of force, as in the Axis world order. They will be solved by right educational processes and by understanding the objectives of the true world order. They fall roughly into four categories: the racial problem, the economic problem, the problem of government, and the religious problem.

Trật tự thế giới mới sẽ phải đối diện với nhiều vấn đề. Những vấn đề này sẽ không được giải quyết bằng việc áp đặt một giải pháp bằng vũ lực, như trong trật tự thế giới của phe Trục. Chúng sẽ được giải quyết bằng các tiến trình giáo dục đúng đắn và bằng việc thấu hiểu các mục tiêu của trật tự thế giới chân chính. Chúng đại thể thuộc vào bốn loại: vấn đề chủng tộc, vấn đề kinh tế, vấn đề chính quyền, và vấn đề tôn giáo.

The Racial Problem

Vấn đề chủng tộc

There is no way of solving the racial problem by legislation, segregation, or by the effort to produce national blocs, as in the case in Germany today when she proclaims Germany as the super-race. Such efforts will only produce insuperable barriers. With very few exceptions, there are no pure races. Germany in particular, by its place at the crossroads of Europe, is definitely the fusion of many strains. Tides of emigration, marching armies throughout the centuries, and modern travel have inextricably mixed and fused all the races. It may therefore be assumed that any attempt to isolate a race or to enforce so-called “racial purity” is foredoomed to failure. The only solution of this problem is the basic recognition that all men are brothers; that one blood pours through human veins; that we are all the children of the one Father and that our failure to recognise this fact is simply an indication of man’s stupidity. Historical backgrounds, climatic conditions and widespread inter-marriage have made the different races what they are today. Essentially, however, humanity is one—the heir of the ages, the product of many fusions, conditioned by circumstances and enriched by the processes of evolutionary development. This basic unity must now be recognised.

Không có cách nào giải quyết vấn đề chủng tộc bằng luật pháp, bằng sự phân ly, hay bằng nỗ lực tạo ra các khối quốc gia, như trường hợp ở Đức ngày nay khi nước này tuyên bố Đức là siêu chủng tộc. Những nỗ lực như thế chỉ tạo ra những rào cản không thể vượt qua. Ngoại trừ rất ít trường hợp, không có chủng tộc thuần chủng. Đặc biệt, Đức, do vị trí ở ngã tư châu Âu, rõ ràng là sự dung hợp của nhiều dòng giống. Những làn sóng di cư, những đạo quân hành tiến qua các thế kỷ, và sự đi lại hiện đại đã trộn lẫn và dung hợp mọi chủng tộc một cách không thể gỡ rối. Vì vậy có thể giả định rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm cô lập một chủng tộc hay cưỡng bách cái gọi là “sự thuần khiết chủng tộc” đều đã được định trước là thất bại. Giải pháp duy nhất cho vấn đề này là sự thừa nhận căn bản rằng mọi người đều là huynh đệ; rằng cùng một dòng máu chảy trong huyết quản con người; rằng tất cả chúng ta đều là con của một Cha duy nhất và việc chúng ta không nhận ra sự kiện này chỉ đơn giản là một dấu hiệu của sự ngu xuẩn của con người. Bối cảnh lịch sử, điều kiện khí hậu và hôn phối rộng khắp đã làm cho các chủng tộc khác nhau trở thành như ngày nay. Tuy nhiên, về bản chất, nhân loại là một—người thừa kế của các thời đại, sản phẩm của nhiều sự dung hợp, được tác động bởi hoàn cảnh và được làm phong phú bởi các tiến trình phát triển tiến hoá. Sự hợp nhất căn bản này giờ đây phải được thừa nhận.

The major racial problem has, for many centuries, been the Jewish, which has been brought to a critical point by Germany. This problem is also capable of solution if properly recognised for what it is, and if coupled with an effort by [195] the Jews themselves to solve it, and to be cooperative in the world efforts to adjust their problem. This they have not yet done because the average Jew is lonely and unsettled, able to do little to put himself right before the world. Instinctively and intellectually, the Jew is separative; intuitively he has vision, but at the same time he possesses no sense of fusion with other peoples.

Vấn đề chủng tộc lớn nhất, trong nhiều thế kỷ, là vấn đề Do Thái, và nó đã bị Đức đẩy tới một điểm khủng hoảng. Vấn đề này cũng có thể được giải quyết nếu được nhận ra đúng như bản chất của nó, và nếu đi kèm với một nỗ lực của [195] chính người Do Thái để giải quyết nó, và để hợp tác trong những nỗ lực của thế giới nhằm điều chỉnh vấn đề của họ. Họ chưa làm điều đó vì người Do Thái trung bình cô đơn và bất ổn, ít có khả năng tự đặt mình vào vị trí đúng đắn trước thế giới. Theo bản năng và trí tuệ, người Do Thái có tính chia rẽ; theo trực giác y có linh ảnh, nhưng đồng thời y không có ý thức dung hợp với các dân tộc khác.

There is no scientific and hitherto unknown mode of solving racial problems. It is finally a question of right thinking, decent behaviour, and simple kindness. The question will not be solved by inter-marriage, or by isolating groups for occupation of special areas, or by any man-made ideas of superiority or inferiority. Right human relations will come by a mutual recognition of mistakes, by sorrow for wrong action in the past, and by restitution, if possible. It will come when nations can be educated to appreciate the good qualities of other nations and to comprehend the part they play in the whole picture. It will be developed when the sense of racial superiority is killed; when racial differences and racial quarrels are relegated to the unholy past and only a future of cooperation and of understanding is actively developed; it will make its presence felt when the living standards of right relation (sought by the enlightened people of every race) become the habitual attitude of the masses and when it is regarded as contrary to the best interests of any nation to spread those ideas which tend to erect racial or national barriers, arouse hatreds or foster differences and separation. Such a time will surely come. Humanity will master the problem of right human relations and attitudes.

Không có phương thức khoa học và chưa từng biết nào để giải quyết các vấn đề chủng tộc. Cuối cùng, đó là vấn đề của tư duy đúng đắn, hành xử tử tế, và lòng nhân hậu đơn giản. Vấn đề sẽ không được giải quyết bằng hôn phối hỗn hợp, hay bằng việc cô lập các nhóm để chiếm giữ những khu vực đặc biệt, hay bằng bất kỳ ý tưởng nào do con người tạo ra về sự ưu việt hay thấp kém. Những tương quan nhân loại đúng đắn sẽ đến bằng sự thừa nhận lẫn nhau về những sai lầm, bằng nỗi buồn vì hành động sai trái trong quá khứ, và bằng hoàn nguyên, nếu có thể. Nó sẽ đến khi các quốc gia có thể được giáo dục để trân trọng những phẩm tính tốt đẹp của các quốc gia khác và thấu hiểu phần họ đóng trong toàn cảnh. Nó sẽ được phát triển khi ý thức về sự ưu việt chủng tộc bị tiêu diệt; khi những khác biệt chủng tộc và những cuộc cãi vã chủng tộc bị đẩy về quá khứ bất thánh và chỉ một tương lai của hợp tác và thấu hiểu được tích cực phát triển; nó sẽ làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận khi các tiêu chuẩn sống của tương quan đúng đắn (được những người giác ngộ của mọi chủng tộc tìm kiếm) trở thành thái độ thường xuyên của quần chúng và khi việc truyền bá những ý tưởng có khuynh hướng dựng lên các rào cản chủng tộc hay quốc gia, khơi dậy hận thù hay nuôi dưỡng khác biệt và chia rẽ được xem là trái với lợi ích tốt nhất của bất kỳ quốc gia nào. Một thời như thế chắc chắn sẽ đến. Nhân loại sẽ làm chủ vấn đề những tương quan và thái độ nhân loại đúng đắn.

It is inevitable that racial differences, national quarrels and caste distinction exist, but it is equally imperative that they disappear. The world is one world. Humanity is one unit in the evolutionary process. Differences are man-made and engender hatreds and separation. When the children of the various races are taught from their earliest years that there are no differences, that all men are brothers, and that the apparent distinctions are essentially superficial, then [196] future generations will approach the problem of world interrelations unhandicapped by prejudice, by pride of race, or by instilled historical resentments. By right education little children can be taught right attitudes and will respond, for a child sees and recognises no differences, and the truth of the Biblical promise that “a little child shall lead them” will be proven scientifically true. In the new world order this educational process will be started.

Điều tất yếu là những khác biệt chủng tộc, những tranh chấp quốc gia và sự phân biệt đẳng cấp tồn tại, nhưng cũng tuyệt đối cần thiết là chúng phải biến mất. Thế giới là một thế giới duy nhất. Nhân loại là một đơn vị trong tiến trình tiến hoá. Những khác biệt là do con người tạo ra và sinh ra hận thù cùng chia rẽ. Khi trẻ em của các chủng tộc khác nhau được dạy từ những năm đầu đời rằng không có khác biệt nào, rằng mọi người đều là huynh đệ, và rằng những phân biệt bề ngoài về bản chất chỉ là hời hợt, thì [196] các thế hệ tương lai sẽ tiếp cận vấn đề các tương quan thế giới mà không bị cản trở bởi thành kiến, bởi niềm kiêu hãnh chủng tộc, hay bởi những oán hận lịch sử được gieo cấy. Bằng giáo dục đúng đắn, trẻ nhỏ có thể được dạy những thái độ đúng đắn và sẽ đáp ứng, vì một đứa trẻ không thấy và không nhận ra khác biệt nào, và chân lý của lời hứa trong Kinh Thánh rằng “một trẻ nhỏ sẽ dẫn dắt họ” sẽ được chứng minh là đúng một cách khoa học. Trong trật tự thế giới mới, tiến trình giáo dục này sẽ được khởi sự.

The Economic Problem

Vấn đề kinh tế

This problem is basically far less difficult of solution. Sound commonsense can solve it. There are adequate resources for the sustenance of human life, and these science can increase and develop. The mineral wealth of the world, the oil, the produce of the fields, the contribution of the animal kingdom, the riches of the sea, and the fruits and the flowers are all offering themselves to humanity. Man is the controller of it all, and they belong to everyone and are the property of no one group, nation or race. It is solely due to man’s selfishness that (in these days of rapid transportation) thousands are starving whilst food is rotting or destroyed; it is solely due to the grasping schemes and the financial injustices of man’s making that the resources of the planet are not universally available under some wise system of distribution. There is no justifiable excuse for the lack of the essentials of life in any part of the world. Such a state of lack argues short-sighted policy and the blocking of the free circulation of necessities for some reason or other. All these deplorable conditions are based on some national or group selfishness and on the failure to work out some wise impartial scheme for the supplying of human need throughout the world.

Về căn bản, vấn đề này ít khó giải quyết hơn nhiều. Lương tri lành mạnh có thể giải quyết nó. Có đủ tài nguyên để duy trì sự sống con người, và khoa học có thể gia tăng và phát triển chúng. Tài sản khoáng sản của thế giới, dầu mỏ, sản vật đồng ruộng, sự đóng góp của giới động vật, sự giàu có của biển cả, cùng hoa trái và hoa lá đều đang hiến mình cho nhân loại. Con người là kẻ kiểm soát tất cả điều đó, và chúng thuộc về mọi người chứ không phải là tài sản của bất kỳ nhóm, quốc gia hay chủng tộc nào. Chỉ vì tính ích kỷ của con người mà (trong những ngày vận chuyển nhanh chóng này) hàng ngàn người đang chết đói trong khi thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hủy bỏ; chỉ vì những mưu đồ tham lam và những bất công tài chính do con người tạo ra mà các tài nguyên của hành tinh không được phổ biến rộng rãi dưới một hệ thống phân phối khôn ngoan nào đó. Không có lý do chính đáng nào cho sự thiếu thốn những nhu yếu phẩm của đời sống ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Một tình trạng thiếu thốn như thế cho thấy chính sách thiển cận và sự ngăn chặn lưu thông tự do của các nhu yếu phẩm vì lý do này hay lý do khác. Tất cả những điều kiện đáng thương này đều dựa trên một sự ích kỷ quốc gia hay nhóm nào đó và trên sự thất bại trong việc xây dựng một kế hoạch khôn ngoan, vô tư nào đó để cung ứng nhu cầu của con người trên khắp thế giới.

What then must be done, apart from the education of the coming generations in the need for sharing, for a free circulation of all the essential commodities? The cause of this evil way of living is very simple. It is a product of past wrong educational methods, of competition and the facility with which the helpless and weak can be exploited. [197] No one group is responsible as certain fanatical ideologists might lead the ignorant to suppose. Our period is simply one in which human selfishness has come to its climax and must either destroy humanity or be brought intelligently to an end.

Vậy thì phải làm gì, ngoài việc giáo dục các thế hệ sắp tới về nhu cầu chia sẻ, về sự lưu thông tự do của mọi hàng hóa thiết yếu? Nguyên nhân của lối sống xấu xa này rất đơn giản. Nó là sản phẩm của những phương pháp giáo dục sai lầm trong quá khứ, của sự cạnh tranh và của sự dễ dàng mà người bất lực và yếu đuối có thể bị bóc lột. [197] Không một nhóm nào phải chịu trách nhiệm, như một số nhà ý thức hệ cuồng tín có thể khiến người thiếu hiểu biết tưởng như vậy. Thời kỳ của chúng ta chỉ đơn giản là thời kỳ mà tính ích kỷ của con người đã lên đến đỉnh điểm và hoặc phải hủy diệt nhân loại hoặc phải được chấm dứt một cách sáng suốt.

Three things will end this condition of great luxury and extreme poverty, of gross over-feeding of the few and the starvation of the many, plus the centralisation of the world’s produce under the control of a handful of people in each country. These are: first, the recognition that there is enough food, fuel, oil and minerals in the world to meet the need of the entire population. The problem, therefore, is basically one of distribution. Secondly, this premise of adequate supply handled through right distribution must be accepted, and the supplies which are essential to the health, security and happiness of mankind must be made available. Third, that the entire economic problem and the institution of the needed rules and distributing agencies should be handled by an economic league of nations. In this league, all the nations will have their place; they will know their national requirements (based on population and internal resources, etc.) and will know also what they can contribute to the family of nations; all will be animated by the will to the general good—a will-to-good that will probably at first be based on expediency and national need but which will be constructive in its working out.

Ba điều sẽ chấm dứt tình trạng xa hoa lớn lao và nghèo đói cực độ này, tình trạng ăn uống quá mức thô bạo của số ít và nạn đói của số đông, cộng với sự tập trung sản vật thế giới dưới sự kiểm soát của một nhúm người ở mỗi quốc gia. Đó là: thứ nhất, sự thừa nhận rằng trên thế giới có đủ lương thực, nhiên liệu, dầu mỏ và khoáng sản để đáp ứng nhu cầu của toàn thể dân số. Vì vậy, về căn bản, vấn đề là vấn đề phân phối. Thứ hai, tiền đề về nguồn cung đầy đủ được xử lý qua sự phân phối đúng đắn này phải được chấp nhận, và những nguồn cung thiết yếu cho sức khỏe, an ninh và hạnh phúc của nhân loại phải được làm cho sẵn có. Thứ ba, toàn bộ vấn đề kinh tế và việc thiết lập những quy luật cùng các cơ quan phân phối cần thiết phải được xử lý bởi một liên minh kinh tế các quốc gia. Trong liên minh này, mọi quốc gia sẽ có vị trí của mình; họ sẽ biết các nhu cầu quốc gia của mình (dựa trên dân số và tài nguyên nội tại, v.v.) và cũng sẽ biết họ có thể đóng góp gì cho gia đình các quốc gia; tất cả sẽ được sinh động hóa bởi ý chí hướng tới thiện ích chung—một Ý Chí-hướng Thiện mà lúc đầu có lẽ sẽ dựa trên tính thiết thực và nhu cầu quốc gia nhưng sẽ có tính xây dựng trong quá trình triển khai.

Certain facts are obvious. The old order has failed. The resources of the world have fallen into the hands of the selfish, and there has been no just distribution. Some nations have had too much, and have exploited their surplus; other nations have had too little, and their national life and their financial situation have been crippled thereby. At the close of this war all the nations will be in financial difficulties. All nations will require re-building; all will have to attend actively to the settlement of the future economic life of the planet and its adjustment upon sounder lines.

Một số sự kiện là hiển nhiên. Trật tự cũ đã thất bại. Các tài nguyên của thế giới đã rơi vào tay những kẻ ích kỷ, và đã không có sự phân phối công bằng. Một số quốc gia có quá nhiều, và đã khai thác phần dư thừa của mình; những quốc gia khác có quá ít, và đời sống quốc gia cùng tình trạng tài chính của họ vì thế bị tê liệt. Khi cuộc chiến này kết thúc, mọi quốc gia sẽ ở trong khó khăn tài chính. Mọi quốc gia sẽ cần được tái thiết; tất cả sẽ phải tích cực chú ý đến việc ổn định đời sống kinh tế tương lai của hành tinh và điều chỉnh nó trên những đường hướng lành mạnh hơn.

This period of adjustment offers the opportunity to effect drastic and deeply needed changes and the establishing [198] of a new economic order, based on the contribution of each nation to the whole, the sharing of the fundamental necessities of life and the wise pooling of all resources for the benefit of everybody, plus a wise system of distribution. Such a plan is feasible.

Thời kỳ điều chỉnh này đem lại cơ hội để thực hiện những thay đổi triệt để và rất cần thiết, và thiết lập [198] một trật tự kinh tế mới, dựa trên sự đóng góp của mỗi quốc gia cho toàn thể, sự chia sẻ những nhu yếu phẩm căn bản của đời sống và sự gom chung khôn ngoan mọi tài nguyên vì lợi ích của mọi người, cộng với một hệ thống phân phối khôn ngoan. Một kế hoạch như thế là khả thi.

The solution here offered is so simple that, for that very reason, it may fail to make an appeal. The quality required by those engineering this change of economic focus is so simple also—the will-to-good—that again it may be over-looked, but without simplicity and goodwill little can be effected after the world war. The great need will be for men of vision, of wide sympathy, technical knowledge and cosmopolitan interest. They must possess also the confidence of the people. They must meet together and lay down the rules whereby the world can be adequately fed; they must determine the nature and extent of the contribution which any one nation must make; they must settle the nature and extent of the supplies which should be given to any nation, and so bring about those conditions which will keep the resources of the world circulating justly and engineer those preventive measures which will offset human selfishness and greed.

Giải pháp được đưa ra ở đây đơn giản đến mức, chính vì lý do đó, nó có thể không tạo được sức hấp dẫn. Phẩm tính cần có nơi những người thiết kế sự thay đổi trọng tâm kinh tế này cũng đơn giản như vậy—Ý Chí-hướng Thiện—nên một lần nữa nó có thể bị bỏ qua, nhưng không có sự đơn giản và thiện chí thì sau cuộc thế chiến sẽ ít điều có thể được thực hiện. Nhu cầu lớn lao sẽ là những người có tầm nhìn, có lòng cảm thông rộng lớn, có tri thức kỹ thuật và mối quan tâm quốc tế. Họ cũng phải có được sự tin cậy của dân chúng. Họ phải gặp nhau và đặt ra những quy luật nhờ đó thế giới có thể được nuôi dưỡng đầy đủ; họ phải xác định bản chất và mức độ đóng góp mà bất kỳ quốc gia nào phải thực hiện; họ phải quyết định bản chất và mức độ các nguồn cung nên được trao cho bất kỳ quốc gia nào, và như thế tạo ra những điều kiện sẽ giữ cho các tài nguyên của thế giới lưu thông một cách công bằng và thiết lập những biện pháp phòng ngừa sẽ hóa giải tính ích kỷ và lòng tham của con người.

Can such a group of men be found? I believe it can. Everywhere there are deep students of human nature, scientific investigators with wide human sympathies, and conscientious men and women who have for long—under the old and cruel system—wrestled with the problem of human pain and need.

Liệu có thể tìm thấy một nhóm người như thế không? Tôi tin là có thể. Khắp nơi đều có những người nghiên cứu sâu sắc về bản chất con người, những nhà điều tra khoa học với lòng cảm thông nhân loại rộng lớn, và những người nam và nữ tận tâm, từ lâu—dưới hệ thống cũ và tàn nhẫn—đã vật lộn với vấn đề đau khổ và nhu cầu của con người.

The new era of simplicity must come in. The new world order will inaugurate this simpler life based on adequate food, right thought, creative activity and happiness. These essentials are only possible under a right economic rule. This simplification and this wise distribution of the world’s resources must embrace the high and the low, the rich and the poor, thus serving all men alike.

Kỷ nguyên mới của sự đơn giản phải đến. Trật tự thế giới mới sẽ khai mở lối sống đơn giản hơn này, dựa trên thực phẩm đầy đủ, tư duy đúng đắn, hoạt động sáng tạo và hạnh phúc. Những điều cốt yếu này chỉ có thể có dưới một quy luật kinh tế đúng đắn. Sự đơn giản hóa này và sự phân phối khôn ngoan các tài nguyên của thế giới phải bao trùm cả cao lẫn thấp, giàu lẫn nghèo, nhờ đó phụng sự mọi người như nhau.

The Problem Of Government

Vấn đề chính quyền

Coming now to the realm of government, under the new world order, one is faced with a very complex situation. [199] Certain great ideological regimes have divided the world into opposing groups. There are the great democracies, under which certain of the few remaining monarchies find a place; there are the totalitarian powers in which the ancient dictatorships and autocracies of the past are summed up. There is nothing new in the Axis policies. They are essentially reactionary groups, for tyrants, cruelty and the exploitation of the weak are part of ancient history. The democracies, with all their present ineffectiveness, have in them the germ of that which is truly new, for they are the expression of an upward surging towards self-rule and self-mastery by humanity as a whole. There is also the communistic ideal which is a curious blend of individualism, dictatorship, the ancient conflict between labour and capital, the Sermon on the Mount, and the worst aspects of revolution and exploitation. The lines which it will follow, even in the immediate future, are unpredictable. There are other countries and peoples whose governments are conditioned by their environment and who at present play no real determining part in world events, except in so far as a greater power uses them. Again, there are peoples and tribes who still pursue their little lives, unaffected by the turmoil to be found in the more highly civilised parts of the world.

Giờ đây, khi đi vào lĩnh vực chính quyền dưới trật tự thế giới mới, người ta phải đối diện với một tình hình rất phức tạp. [199] Một số chế độ ý thức hệ lớn đã chia thế giới thành những nhóm đối nghịch. Có các nền dân chủ lớn, trong đó một số ít chế độ quân chủ còn sót lại tìm được chỗ đứng; có các cường quốc toàn trị, trong đó các chế độ độc tài và chuyên chế cổ xưa của quá khứ được tổng hợp lại. Không có gì mới trong các chính sách của phe Trục. Về bản chất, chúng là những nhóm phản động, vì bạo chúa, sự tàn bạo và việc bóc lột kẻ yếu là một phần của lịch sử cổ xưa. Các nền dân chủ, với tất cả sự kém hiệu quả hiện nay của chúng, chứa trong mình mầm mống của điều gì đó thật sự mới, vì chúng là biểu hiện của một làn sóng dâng lên hướng tới tự trị và tự chủ của toàn thể nhân loại. Cũng có lý tưởng cộng sản, là một sự pha trộn kỳ lạ giữa chủ nghĩa cá nhân, độc tài, cuộc xung đột cổ xưa giữa lao động và tư bản, Bài Giảng Trên Núi, và những phương diện tệ hại nhất của cách mạng và bóc lột. Những đường hướng mà nó sẽ theo, ngay cả trong tương lai gần, là điều không thể dự đoán. Có những quốc gia và dân tộc khác mà chính quyền của họ bị tác động bởi môi trường của họ và hiện nay không đóng vai trò quyết định thực sự nào trong các biến cố thế giới, ngoại trừ trong chừng mực một cường quốc lớn hơn sử dụng họ. Lại nữa, có những dân tộc và bộ lạc vẫn tiếp tục những đời sống nhỏ bé của mình, không bị ảnh hưởng bởi cơn hỗn loạn có thể thấy ở những phần văn minh hơn của thế giới.

Behind all this diversity of governmental methods, certain clear outlines are emerging which indicate wider fusions and a tendency to bring about certain syntheses. Various basic trends of thought are appearing which, in the new world order, will unfold into that major synthesis so much desired by the spiritual Hierarchy of the planet, and which, whilst preserving the large national and racial outlines, will produce an underlying and subjective state of mind which will end the age of separateness. Desire is today being evoked for the Federated States of Europe, modelled on the lines of the British Commonwealth of Nations or the United States of America; there is talk of a new order in Asia, of the Good Neighbour policy in America, of a Federal Union of the democratic nations; there is also the steady spread of the Soviet Socialist Republics. Certain major groupings [200] would seem possible and probably advisable. They might be divided as follows:

Đằng sau tất cả sự đa dạng của các phương pháp chính quyền này, một số đường nét rõ ràng đang xuất hiện, cho thấy những sự dung hợp rộng lớn hơn và một khuynh hướng đưa đến một số tổng hợp. Nhiều xu hướng tư tưởng căn bản đang xuất hiện, những xu hướng mà trong trật tự thế giới mới sẽ khai mở thành sự tổng hợp lớn lao mà Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh rất mong muốn, và sự tổng hợp này, trong khi vẫn bảo tồn những đường nét lớn của quốc gia và chủng tộc, sẽ tạo ra một trạng thái tâm thức nền tảng và chủ quan, chấm dứt thời đại chia rẽ. Ngày nay đang được gợi lên khát vọng về Các Quốc Gia Liên Bang Châu Âu, được mô phỏng theo đường hướng của Khối Thịnh vượng chung Anh hay Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; có lời bàn về một trật tự mới ở châu Á, về chính sách Láng giềng Tốt ở châu Mỹ, về một Liên bang của các quốc gia dân chủ; cũng có sự lan rộng đều đặn của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Một số nhóm lớn [200] dường như là khả hữu và có lẽ đáng khuyến nghị. Chúng có thể được phân chia như sau:

1. A Federal Union of the great democracies after the war. This might include the British Empire as a whole, the United States, the Scandinavian countries and certain northern European nations, including Germany.

1. Một Liên bang của các nền dân chủ lớn sau chiến tranh. Liên bang này có thể bao gồm toàn bộ Đế quốc Anh, Hoa Kỳ, các quốc gia Scandinavia và một số quốc gia Bắc Âu, kể cả Đức.

2. A Union of the Latin countries, including France, Spain, all the Mediterranean countries, the Balkan countries (except one or two which might be absorbed into the U.S.S.R.), and South America.

2. Một Liên minh các quốc gia La-tinh, bao gồm Pháp, Tây Ban Nha, tất cả các quốc gia Địa Trung Hải, các quốc gia Balkan (ngoại trừ một hay hai quốc gia có thể bị sáp nhập vào U.S.S.R.), và Nam Mỹ.

3. The United Soviet Socialist Republics and certain Asiatic nations working in collaboration with them, such as China, and later Japan.

3. Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết và một số quốc gia châu Á hợp tác với họ, như Trung Quốc, và sau này là Nhật Bản.

These three great blocs would not be antagonistic blocs but simply geographical spheres of influence. They would all three work in the closest unity and economic relation. Each nation within the three blocs would preserve its sovereign independence, but between these independent nations and between these blocs there would be identity of purpose, unity of effort and the recognition of the economic control of a league of nations. This league, being formed of the representatives of all the nations and its inner governing body being chosen by the three blocs, would control all sources of supply, distribute all such supplies and determine all economic policies.

Ba khối lớn này sẽ không phải là những khối đối kháng mà chỉ đơn giản là những phạm vi ảnh hưởng địa lý. Cả ba sẽ cùng hoạt động trong sự hợp nhất chặt chẽ nhất và trong mối liên hệ kinh tế mật thiết. Mỗi quốc gia trong ba khối sẽ duy trì nền độc lập có chủ quyền của mình, nhưng giữa các quốc gia độc lập này và giữa các khối này sẽ có sự đồng nhất về mục đích, sự hợp nhất trong nỗ lực và sự thừa nhận quyền kiểm soát kinh tế của một liên minh các quốc gia. Liên minh này, được hình thành từ các đại diện của mọi quốc gia và có cơ quan điều hành nội bộ do ba khối lựa chọn, sẽ kiểm soát mọi nguồn cung ứng, phân phối mọi nguồn cung ấy và quyết định mọi chính sách kinh tế.

With the details of these future adjustments I shall not deal. They must be wrought out by the men and women of goodwill in the crucible of experiment and experience. Only universal disaster could have brought men to a state of mind wherein such propositions and solutions could be presented. The general recognition that the old order has lamentably failed is most valuable.

Tôi sẽ không bàn đến các chi tiết của những điều chỉnh tương lai này. Chúng phải được những người nam và nữ thiện chí thực hiện trong lò nung của thử nghiệm và kinh nghiệm. Chỉ có tai họa phổ quát mới có thể đưa con người đến một trạng thái tâm trí trong đó những đề nghị và giải pháp như thế có thể được trình bày. Sự thừa nhận rộng rãi rằng trật tự cũ đã thất bại một cách đáng buồn là điều vô cùng có giá trị.

The Religious Problem

Vấn Đề Tôn Giáo

When we come to consider religion in the new world order, we are faced with a far more complicated problem [201] and yet, at the same time, with a far easier one. The reason for this is that the subject of religion is one which is studied and somewhat understood by the majority of men. On theological interpretations there are wide differences; on a widespread recognition of a universal divine Intelligence or of God (by whatever name the all-embracing Life may be called) there is a general similarity of reaction. Forms of religion are so different, and the theological adherents are so fierce in their loyalties and partisanships, that the emergence of a world religion is necessarily of profound difficulty. But that emergence is very close at hand and the differences are relatively superficial. The new world religion is nearer than many think, and this is due to two things: first, the theological quarrels are mainly over non-essentials, and secondly, the younger generation is basically spiritual but quite uninterested in theology.

Khi chúng ta bắt đầu xem xét tôn giáo trong trật tự thế giới mới, chúng ta đối diện với một vấn đề phức tạp hơn nhiều [201] nhưng đồng thời cũng dễ hơn nhiều. Lý do là vì chủ đề tôn giáo là một chủ đề được đa số con người nghiên cứu và phần nào thấu hiểu. Về các cách giải thích thần học thì có những khác biệt rất lớn; nhưng về sự thừa nhận rộng rãi một Trí Tuệ thiêng liêng phổ quát hay Thượng đế (dù Sự sống bao trùm tất cả ấy được gọi bằng bất cứ danh xưng nào) thì lại có một sự tương đồng chung trong phản ứng. Các hình thức tôn giáo khác biệt đến mức như vậy, và những người theo thần học lại mãnh liệt trong lòng trung thành và tính đảng phái của họ đến mức sự xuất hiện của một tôn giáo thế giới tất yếu là điều vô cùng khó khăn. Nhưng sự xuất hiện ấy đã rất gần kề và những khác biệt ấy tương đối chỉ là bề mặt. Tôn giáo thế giới mới gần hơn nhiều người nghĩ, và điều này là do hai nguyên nhân: thứ nhất, các cuộc tranh cãi thần học chủ yếu xoay quanh những điều không cốt yếu, và thứ hai, thế hệ trẻ về căn bản là tinh thần nhưng hoàn toàn không quan tâm đến thần học.

The intelligent youth of all countries are rapidly repudiating orthodox theology, state ecclesiasticism and the control of the church. They are neither interested in man-made interpretations of truth nor in past quarrels between the major world religions. At the same time, they are profoundly interested in the spiritual values and are earnestly seeking verification of their deep-seated unvoiced recognitions. They look to no bible or system of so-called inspired spiritual knowledge and revelation, but their eyes are on the undefined larger wholes in which they seek to merge and lose themselves, such as the state, an ideology, or humanity itself. In this expression of the spirit of self-abnegation may be seen the appearance of the deepest truth of all religion and the justification of the Christian message. Christ, in His high place, cares not whether men accept the theological interpretations of scholars and churchmen, but He does care whether the keynote of His life of sacrifice and service is reproduced among men; it is immaterial to Him whether the emphasis laid upon the detail and the veracity of the Gospel story is recognised and accepted, for He is more interested that the search for truth and for subjective spiritual experience should persist; He knows that within [202] each human heart is found that which responds instinctively to God, and that the hope of ultimate glory lies hid in the Christ-consciousness.

Thanh niên thông minh ở mọi quốc gia đang nhanh chóng bác bỏ thần học chính thống, giáo hội quốc gia và sự kiểm soát của giáo hội. Họ không quan tâm đến những cách giải thích chân lý do con người tạo ra, cũng không quan tâm đến những cuộc tranh cãi trong quá khứ giữa các tôn giáo lớn của thế giới. Đồng thời, họ thật sự quan tâm sâu sắc đến các giá trị tinh thần và đang tha thiết tìm kiếm sự xác chứng cho những nhận biết sâu kín nhưng không thốt nên lời của mình. Họ không hướng đến bất kỳ kinh thánh hay hệ thống nào của cái gọi là tri thức tinh thần và sự mặc khải được linh hứng, nhưng ánh mắt họ hướng về những toàn thể lớn lao chưa xác định mà trong đó họ tìm cách hòa nhập và đánh mất chính mình, như quốc gia, một hệ tư tưởng, hay chính nhân loại. Trong biểu hiện này của tinh thần tự xả thân, có thể thấy sự xuất hiện của chân lý sâu xa nhất trong mọi tôn giáo và sự biện minh cho thông điệp Ki-tô giáo. Đức Christ, ở cương vị cao cả của Ngài, không quan tâm việc con người có chấp nhận những cách giải thích thần học của các học giả và giáo sĩ hay không, nhưng Ngài thật sự quan tâm đến việc chủ âm của đời sống hy sinh và phụng sự của Ngài có được tái hiện giữa loài người hay không; đối với Ngài, việc sự nhấn mạnh đặt trên chi tiết và tính chân thực của câu chuyện Phúc Âm có được thừa nhận và chấp nhận hay không là điều không quan trọng, vì Ngài quan tâm nhiều hơn đến việc cuộc tìm kiếm chân lý và kinh nghiệm tinh thần chủ quan phải được tiếp tục; Ngài biết rằng bên trong [202] mỗi trái tim con người đều có điều gì đó đáp ứng theo bản năng với Thượng đế, và rằng niềm hy vọng về vinh quang tối hậu được ẩn giấu trong tâm thức Christ.

Therefore, in the new world order, spirituality will supersede theology; living experience will take the place of theological acceptances. The spiritual realities will emerge with increasing clarity and the form aspect will recede into the background; dynamic, expressive truth will be the keynote of the new world religion. The living Christ will assume His rightful place in human consciousness and see the fruition of His plans, sacrifice and service, but the hold of the ecclesiastical orders will weaken and disappear. Only those will remain as guides and leaders of the human spirit who speak from living experience, and who know no creedal barriers; they will recognise the onward march of revelation and the new emerging truths. These truths will be founded on the ancient realities but will be adapted to modern need and will manifest progressively the revelation of the divine nature and quality. God is now known as Intelligence and Love. That the past has given us. He must be known as Will and Purpose, and that the future will reveal.

Do đó, trong trật tự thế giới mới, tinh thần sẽ thay thế thần học; kinh nghiệm sống động sẽ thay chỗ cho sự chấp nhận thần học. Những thực tại tinh thần sẽ xuất hiện ngày càng rõ ràng hơn và phương diện hình tướng sẽ lùi vào hậu cảnh; chân lý năng động và biểu đạt sẽ là chủ âm của tôn giáo thế giới mới. Đức Christ hằng sống sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của Ngài trong tâm thức nhân loại và chứng kiến sự kết quả của các kế hoạch, sự hy sinh và sự phụng sự của Ngài, nhưng sự kềm giữ của các giáo quyền sẽ suy yếu và biến mất. Chỉ những ai còn lại như những người hướng dẫn và lãnh đạo tinh thần nhân loại là những người nói từ kinh nghiệm sống động và không biết đến những rào cản tín điều; họ sẽ thừa nhận bước tiến không ngừng của sự mặc khải và những chân lý mới đang xuất hiện. Những chân lý này sẽ được đặt nền trên các thực tại cổ xưa nhưng sẽ được thích nghi với nhu cầu hiện đại và sẽ biểu lộ dần dần sự mặc khải về bản chất và phẩm tính thiêng liêng. Thượng đế hiện nay được biết đến như Trí Tuệ và Tình thương/Bác ái. Quá khứ đã trao cho chúng ta điều đó. Ngài phải được biết đến như Ý Chí và Mục Đích, và tương lai sẽ mặc khải điều ấy.

When the racial problem has disappeared through the recognition of the one Life, when the economic problem has been solved by the nations working cooperatively together, when the problem of right government within each nation has been determined by the free will of their respective peoples, and the spirit of true religion is unobstructed by ancient forms and interpretations, then we shall see a world in process of right experience, right human relations and a spiritual moving forward to reality.

Khi vấn đề chủng tộc đã biến mất nhờ sự thừa nhận một Sự sống duy nhất, khi vấn đề kinh tế đã được giải quyết bởi các quốc gia cùng hợp tác với nhau, khi vấn đề cai trị đúng đắn trong mỗi quốc gia đã được quyết định bởi ý chí tự do của các dân tộc tương ứng của họ, và tinh thần của tôn giáo chân chính không còn bị cản trở bởi các hình thức và cách giải thích cổ xưa, thì khi ấy chúng ta sẽ thấy một thế giới đang trong tiến trình đạt đến kinh nghiệm đúng đắn, những quan hệ nhân loại đúng đắn và một sự tiến bước tinh thần hướng đến thực tại.

A study of these four lines of human living will show how truly Germany is today the focal point of the world situation. In that unhappy nation, the racial problem has attained such importance that the entire world is affected. From the economic angle, Hitler has said that Germany has been forced to fight in order to preserve the life, economically speaking, of her people; factually, the economic life of Germany was not as critically threatened as that of many [203] smaller nations. The problem of government has also been brought to a critical point by German activity and conquest and by the emphasis laid by the Axis powers upon the relation of the state to the individual. The attitude of the German rulers to religion is recognised as one of pronounced antagonism. Thus the four major world problems are today being precipitated by Germany into the arena of action; they are evoking enquiry everywhere; the attention of men in every land is now focussed on these problems, and solution is inevitable when the war is over. When these problems are rightly approached by the men and women of goodwill, then we shall see a “world planning” for the production of harmonious living such as never before has been possible.

Một nghiên cứu về bốn đường lối sinh hoạt nhân loại này sẽ cho thấy nước Đức ngày nay thật sự là tiêu điểm của tình hình thế giới như thế nào. Trong quốc gia bất hạnh ấy, vấn đề chủng tộc đã đạt đến tầm quan trọng đến mức toàn thế giới đều bị ảnh hưởng. Xét từ góc độ kinh tế, Hitler đã nói rằng nước Đức bị buộc phải chiến đấu để bảo toàn sự sống, xét về mặt kinh tế, của dân chúng mình; trên thực tế, đời sống kinh tế của nước Đức không bị đe dọa nghiêm trọng bằng nhiều quốc gia nhỏ hơn [203]. Vấn đề cai trị cũng đã bị đẩy đến một điểm khủng hoảng bởi hoạt động và sự chinh phục của Đức cũng như bởi sự nhấn mạnh mà các cường quốc Trục đặt lên mối liên hệ giữa quốc gia và cá nhân. Thái độ của những người cai trị Đức đối với tôn giáo được thừa nhận là một thái độ đối kháng rõ rệt. Như vậy, bốn vấn đề lớn của thế giới ngày nay đang được nước Đức đẩy vào đấu trường hành động; chúng đang khơi dậy sự khảo cứu ở khắp nơi; sự chú ý của con người ở mọi miền đất hiện nay đang tập trung vào các vấn đề này, và giải pháp là điều không thể tránh khỏi khi chiến tranh kết thúc. Khi những vấn đề này được những người nam và nữ thiện chí tiếp cận một cách đúng đắn, khi ấy chúng ta sẽ thấy một “sự hoạch định thế giới” nhằm tạo ra một đời sống hài hòa như trước đây chưa từng có thể thực hiện được.

It is for humanity to solve its serious problems on the basis of brotherhood, and so bring in a way of living which will provide adequate supply of the necessities of life through the proper organising of time, labour and goods. This will lead to an interplay between the citizen and the state which will evoke the service of the individual and the right protection of the state. Humanity will then be free for the experiment of spiritual living, and this will express itself through awakened human lives. Can more be asked for or expected than this? Such a way of life can be made possible if the men and women of goodwill, of intelligence and of idealism can begin the task of inaugurating the new world order.

Nhân loại phải tự giải quyết những vấn đề nghiêm trọng của mình trên nền tảng tình huynh đệ, và như thế đưa vào một lối sống sẽ cung cấp đầy đủ các nhu yếu phẩm của đời sống thông qua việc tổ chức đúng đắn thời gian, lao động và hàng hóa. Điều này sẽ dẫn đến một sự tương tác giữa công dân và quốc gia, điều sẽ khơi dậy sự phụng sự của cá nhân và sự bảo vệ đúng đắn của quốc gia. Khi ấy nhân loại sẽ được tự do cho cuộc thử nghiệm đời sống tinh thần, và điều này sẽ biểu lộ qua những đời sống con người đã thức tỉnh. Có thể đòi hỏi hay mong đợi điều gì hơn thế nữa không? Một lối sống như vậy có thể trở thành khả hữu nếu những người nam và nữ thiện chí, có trí tuệ và có lý tưởng có thể bắt đầu nhiệm vụ khai mở trật tự thế giới mới.

IV. THE TASK AHEAD

IV. NHIỆM VỤ PHÍA TRƯỚC

This brings us now to the practical aspects of the subject and to the answering of the following question: Given the possibility of the new world order, what can be done to bring it into being at this time, in the midst of the conflict?

Điều này giờ đây đưa chúng ta đến các phương diện thực tiễn của chủ đề và đến việc trả lời câu hỏi sau đây: Với khả năng của trật tự thế giới mới, có thể làm gì để đưa nó vào hiện hữu vào lúc này, giữa cuộc xung đột?

The period into which we are now entering divides itself into two parts:

Thời kỳ mà chúng ta hiện đang bước vào tự chia thành hai phần:

1. The present period of the war itself, until the defeat of Germany and the end of the actual fighting. [204]

1. Thời kỳ hiện tại của chính cuộc chiến, cho đến khi nước Đức bị đánh bại và cuộc chiến thực sự chấm dứt. [204]

2. The period after the guns have ceased roaring. The needed peace, reconstruction and rebuilding will then have to be determined.

2. Thời kỳ sau khi tiếng súng đã ngừng gầm vang. Khi ấy nền hòa bình cần thiết, công cuộc tái thiết và xây dựng lại sẽ phải được xác định.

It is with these periods that we must concern ourselves. They are, and will be, times of great difficulty and of painful conflict and adjustment. The task of restoring the world to harmony and order is a stupendous one. The educating of people everywhere in the necessity for new ideals of right living, for the new rhythms and the new “sharing” will not be easy. The work of healing the wounds of humanity, of rebuilding the shattered civilisation, of instituting disarmament, of recognising national, material and psychological needs, and of rescuing and restoring the happiness of the little children of the world and planning their future security will take the best that is in the men and women of goodwill; it will call for the wise guidance of the New Group of World Servers and will engage the attention of intelligent people and understanding minds in every nation.

Chính với những thời kỳ này mà chúng ta phải quan tâm. Chúng là, và sẽ là, những thời kỳ vô cùng khó khăn và của xung đột cùng điều chỉnh đau đớn. Nhiệm vụ khôi phục thế giới trở lại hài hòa và trật tự là một nhiệm vụ khổng lồ. Việc giáo dục con người ở khắp nơi về sự cần thiết của những lý tưởng mới về đời sống đúng đắn, về những nhịp điệu mới và sự “chia sẻ” mới sẽ không dễ dàng. Công việc chữa lành những vết thương của nhân loại, xây dựng lại nền văn minh bị tan nát, thiết lập giải trừ quân bị, thừa nhận các nhu cầu quốc gia, vật chất và tâm lý, và cứu vớt cũng như khôi phục hạnh phúc cho những trẻ thơ bé nhỏ của thế giới và hoạch định sự an toàn tương lai của chúng sẽ đòi hỏi điều tốt đẹp nhất nơi những người nam và nữ thiện chí; nó sẽ cần đến sự hướng dẫn minh triết của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và sẽ thu hút sự chú ý của những người thông minh và những trí tuệ thấu hiểu ở mọi quốc gia.

The first preliminary is for the men and women of goodwill to decide once and for all with which of the two forces, battling together, they will take their stand, mentally and spiritually, even if they are not called upon by their country to do so physically. I write at this time for those who take their stand on the side of the constructive forces which are fighting for the democratic values and the freedom of the peoples. I would here remind you that among the people in Germany and Italy there are thousands who also silently take their stand with those struggling for victory over the Axis powers. This must never be forgotten, for such people exist in their multitudes under totalitarian rule. The Forces of Light are found in every land but are at present only able to express themselves effectively in the countries ranged against Germany.

Điều sơ bộ đầu tiên là những người nam và nữ thiện chí phải quyết định một lần dứt khoát rằng, giữa hai lực lượng đang chiến đấu với nhau, họ sẽ đứng về phía lực lượng nào về mặt trí tuệ và tinh thần, ngay cả khi quốc gia của họ không kêu gọi họ làm như vậy về mặt thể xác. Tôi viết vào lúc này cho những ai đứng về phía các lực lượng xây dựng đang chiến đấu cho các giá trị dân chủ và tự do của các dân tộc. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng giữa dân chúng ở Đức và Ý có hàng ngàn người cũng âm thầm đứng về phía những ai đang đấu tranh để chiến thắng các cường quốc Trục. Điều này không bao giờ được quên, vì những người như thế tồn tại rất đông dưới chế độ toàn trị. Các Mãnh Lực của Ánh sáng hiện diện ở mọi miền đất nhưng hiện nay chỉ có thể biểu lộ hữu hiệu tại các quốc gia đang đứng chống lại nước Đức.

The men and women of goodwill, associated with the New Group of World Servers, should seek intelligently to understand the current problem, and to study the world situation from all possible angles. Intelligent understanding, [205] love of one’s fellowmen and sound commonsense are prerequisites of all demanded service. Men should cultivate these qualities, divorcing them from all sentimental emotion and dealing factually with circumstance and environing conditions. It must be realised that the task to be done will take time, and the men and women of goodwill must brace themselves for sustained effort, for opposition, and for that dead lethargy and sick inertia which afflicts the masses of the people in every land. The immediate activities are two in number:

Những người nam và nữ thiện chí, liên kết với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nên cố gắng một cách thông minh để thấu hiểu vấn đề hiện tại và nghiên cứu tình hình thế giới từ mọi góc độ có thể. Sự thấu hiểu thông minh, [205] tình thương đối với đồng loại và lẽ thường lành mạnh là những điều kiện tiên quyết của mọi sự phụng sự được đòi hỏi. Con người nên vun bồi những phẩm tính này, tách chúng khỏi mọi cảm xúc đa cảm và đề cập đến hoàn cảnh cùng các điều kiện môi trường một cách thực tế. Phải nhận ra rằng nhiệm vụ cần làm sẽ đòi hỏi thời gian, và những người nam và nữ thiện chí phải tự chuẩn bị cho nỗ lực bền bỉ, cho sự chống đối, và cho tình trạng trì trệ chết lặng cùng quán tính bệnh hoạn đang làm khổ quần chúng ở mọi miền đất. Các hoạt động trước mắt có hai việc:

1. The finding of those people in every country who react to the vision of the new world order and who are the men and women of goodwill.

1. Tìm ra những người ở mọi quốc gia đáp ứng với tầm nhìn về trật tự thế giới mới và là những người nam và nữ thiện chí.

2. The presentation of the future possibilities, by them, to the masses of people in all lands.

2. Do chính họ trình bày những khả năng tương lai ấy cho quần chúng ở mọi miền đất.

I would here remind you that members of the New Group of World Servers and men and women of goodwill must be sought for in every department of life. They will be found among the adherents of all the current ideologies and in political and scientific circles, among the world educators and philanthropists, among the creative workers, the industrialists, in ordinary homes and in the ranks of labour.

Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người nam và nữ thiện chí phải được tìm kiếm trong mọi lĩnh vực của đời sống. Họ sẽ được tìm thấy giữa những người theo mọi hệ tư tưởng hiện hành và trong các giới chính trị và khoa học, giữa các nhà giáo dục thế giới và các nhà từ thiện, giữa những người hoạt động sáng tạo, các nhà công nghiệp, trong những gia đình bình thường và trong hàng ngũ lao động.

The New Group of World Servers

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian

The New Group of World Servers is not a new organisation which is forming in the world. It is simply a loose linking together of all men of constructive peace aims and goodwill who lay the emphasis upon the prior need of establishing right human relations before any lasting peace is possible. This group in no way interferes with the allegiance and loyalties of any man. It is a banding together of all who seek to express the spirit of Christ and who are free from the spirit of hatred and revenge. The challenge of this group to the world is to drop all antagonisms and antipathies, all hatred and racial differences, and attempt to live in terms of the one family, the one life, and the one humanity.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không phải là một tổ chức mới đang hình thành trong thế giới. Nó chỉ đơn giản là một sự liên kết lỏng lẻo của tất cả những người có mục tiêu hòa bình mang tính xây dựng và thiện chí, những người nhấn mạnh đến nhu cầu ưu tiên là thiết lập những quan hệ nhân loại đúng đắn trước khi bất kỳ nền hòa bình lâu bền nào có thể có được. Nhóm này hoàn toàn không can thiệp vào sự trung thành và lòng tận tụy của bất kỳ ai. Đó là sự kết hợp của tất cả những ai tìm cách biểu lộ tinh thần của Đức Christ và những người thoát khỏi tinh thần hận thù và báo thù. Thách thức mà nhóm này đưa ra cho thế giới là từ bỏ mọi đối kháng và ác cảm, mọi hận thù và khác biệt chủng tộc, và cố gắng sống theo một gia đình duy nhất, một Sự sống duy nhất và một nhân loại duy nhất.

[206] The New Group of World Servers believes that (through the agency of goodwill) the new world order can be firmly established on Earth. Today, in the interim period of the war, preparation for reconstruction can go forward simultaneously with the effort to defeat the totalitarian powers.

[206] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tin rằng, thông qua tác nhân của thiện chí, trật tự thế giới mới có thể được thiết lập vững chắc trên Trái Đất. Ngày nay, trong thời kỳ chuyển tiếp của chiến tranh, việc chuẩn bị cho tái thiết có thể tiến hành đồng thời với nỗ lực đánh bại các cường quốc toàn trị.

The men and women of goodwill must not be energised into activity with the note of sacrifice. The war has exacted much of that from them. The clarion note of joy through goodwill activity must be sent out. Let the beauty of what can be, the glory of the vision and the spiritual, scientific and physical rebuilding of humanity be held before them, inspiring them to renewed effort.

Những người nam và nữ thiện chí không được khơi động vào hoạt động bằng nốt hy sinh. Chiến tranh đã đòi hỏi nơi họ quá nhiều điều đó rồi. Phải phát đi tiếng kèn vang của sự hoan hỉ qua hoạt động thiện chí. Hãy đặt trước mắt họ vẻ đẹp của điều có thể thành tựu, vinh quang của tầm nhìn và công cuộc tái thiết nhân loại về mặt tinh thần, khoa học và hồng trần, để truyền cảm hứng cho họ nỗ lực trở lại.

Through the work earlier done all over the world by the men of vision and of goodwill, there exist today many thousands of people in Europe, America and elsewhere who are waiting for the guidance which will start them into right activity. In every land the men and women of goodwill are to be found, ready to respond to a clear call and intelligent organisation in the service of reconstruction. Let them be found.

Nhờ công việc đã được những người có tầm nhìn và thiện chí thực hiện trước đây trên khắp thế giới, ngày nay có nhiều ngàn người ở châu Âu, châu Mỹ và những nơi khác đang chờ đợi sự hướng dẫn sẽ khởi động họ vào hoạt động đúng đắn. Ở mọi miền đất đều có thể tìm thấy những người nam và nữ thiện chí, sẵn sàng đáp ứng một lời kêu gọi rõ ràng và một sự tổ chức thông minh trong công cuộc phụng sự tái thiết. Hãy tìm ra họ.

The message to be taught prior to any future peace consists of the following three clear and practical truths:

Thông điệp cần được giảng dạy trước bất kỳ nền hòa bình tương lai nào gồm ba chân lý rõ ràng và thực tiễn sau đây:

1. That the errors and mistakes of past centuries, culminating in the present world war, are the joint errors and mistakes of humanity as a whole. This recognition will lead to the establishing of the principle of sharing, so needed in the world today.

1. Rằng những sai lầm và lỗi lầm của các thế kỷ đã qua, lên đến đỉnh điểm trong cuộc chiến tranh thế giới hiện nay, là những sai lầm và lỗi lầm chung của toàn thể nhân loại. Sự thừa nhận này sẽ dẫn đến việc thiết lập nguyên lý chia sẻ, điều rất cần thiết trong thế giới ngày nay.

2. That there are no problems and conditions which cannot be solved by the will-to-good. Goodwill nourishes the spirit of understanding and fosters the manifestation of the principle of cooperation. This cooperative spirit is the secret of all right human relations and the enemy of competition.

2. Rằng không có vấn đề hay hoàn cảnh nào không thể được giải quyết bằng Ý Chí-hướng Thiện. Thiện chí nuôi dưỡng tinh thần thấu hiểu và thúc đẩy sự biểu lộ của nguyên lý hợp tác. Tinh thần hợp tác này là bí quyết của mọi quan hệ nhân loại đúng đắn và là kẻ thù của sự cạnh tranh.

3. That there is a blood relationship between men which, when recognised, dissolves all barriers and ends the spirit of separativeness and hate. The peace and happiness of each is the concern, therefore, of all. [207] This develops the principle of responsibility and lays the foundation of right corporate action.

3. Rằng có một mối liên hệ huyết thống giữa con người với nhau, mà khi được thừa nhận, sẽ làm tan biến mọi rào cản và chấm dứt tinh thần chia rẽ và hận thù. Vì vậy, hòa bình và hạnh phúc của mỗi người là mối quan tâm của tất cả. [207] Điều này phát triển nguyên lý trách nhiệm và đặt nền tảng cho hành động tập thể đúng đắn.

These are the basic beliefs of the men and women of goodwill and provide the incentive to all service and action. These three practical and scientific truths embody the three basic facts and the initial acceptance of all world servers. They are contrary to no world position, subversive of no government or religious attitude and are innate in the consciousness of all men, evoking immediate response. Their acceptance will “heal” international sores.

Đó là những niềm tin căn bản của những người nam và nữ thiện chí và cung cấp động lực cho mọi sự phụng sự và hành động. Ba chân lý thực tiễn và khoa học này bao hàm ba sự kiện căn bản và sự chấp nhận ban đầu của mọi Người Phụng Sự Thế Gian. Chúng không trái với bất kỳ lập trường thế giới nào, không lật đổ bất kỳ chính quyền hay thái độ tôn giáo nào và vốn bẩm sinh trong tâm thức của mọi người, khơi dậy sự đáp ứng tức thì. Sự chấp nhận chúng sẽ “chữa lành” những vết thương quốc tế.

I call on all the men and women of goodwill in the world to study the principles of the new world order. I call upon them, as they fight for justice and the rights of the little nations and the future of the children of all nations, to begin to educate those whom they can reach, in right attitudes and in that foresighted vision which will make the mistakes of the past impossible in the future.

Tôi kêu gọi tất cả những người nam và nữ thiện chí trên thế giới nghiên cứu các nguyên lý của trật tự thế giới mới. Tôi kêu gọi họ, trong khi chiến đấu cho công lý và quyền lợi của các quốc gia nhỏ bé cùng tương lai của trẻ em thuộc mọi quốc gia, hãy bắt đầu giáo dục những người mà họ có thể tiếp cận, về những thái độ đúng đắn và về tầm nhìn xa trông rộng sẽ khiến những sai lầm của quá khứ không thể tái diễn trong tương lai.

One basic divine attribute is not yet as strong as it should be in humanity—the attribute of forgiveness. It is still associated with magnanimity. It is not seen to be essentially a condition of future relation between all nations, based upon a recognition of our common humanity. Germany, under her misguided and evil rulers, needs forgiveness. All the great Powers have also sinned in some degree and all have grievously erred in the past. Germany has precipitated the evil which has come upon the world, but she has within herself the seeds of her own punishment; these seeds will not come to fruition if excessive punishment is inflicted from outside.

Một thuộc tính thiêng liêng căn bản vẫn chưa mạnh nơi nhân loại như lẽ ra phải thế — thuộc tính tha thứ. Nó vẫn còn được gắn với lòng quảng đại. Người ta chưa thấy rằng về bản chất nó là một điều kiện của mối quan hệ tương lai giữa mọi quốc gia, dựa trên sự thừa nhận nhân tính chung của chúng ta. Nước Đức, dưới những nhà cai trị lầm lạc và xấu ác của mình, cần được tha thứ. Tất cả các cường quốc lớn cũng đã phạm lỗi ở một mức độ nào đó và tất cả đều đã sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Nước Đức đã làm kết tủa điều ác đã giáng xuống thế giới, nhưng trong chính mình nước ấy có những hạt giống của sự trừng phạt riêng; những hạt giống này sẽ không kết quả nếu sự trừng phạt quá mức bị áp đặt từ bên ngoài.

Three recognitions will save the world when the guns cease firing:

Ba sự thừa nhận sẽ cứu thế giới khi tiếng súng ngừng nổ:

1. The recognition of joint responsibility for past world conditions. The truth that “all have sinned” must be faced.

1. Sự thừa nhận trách nhiệm chung đối với các điều kiện thế giới trong quá khứ. Chân lý rằng “mọi người đều đã phạm lỗi” phải được đối diện.

2. The recognition that, though the German people weakly acquiesced in the rule of Hitler, they are basically the victims of an organised deception. Since [208] 1914 they have been told only lies. The future new world order will inaugurate an era of truthful propaganda and national and international information.

2. Sự thừa nhận rằng, dù dân tộc Đức đã yếu đuối thuận theo sự cai trị của Hitler, về căn bản họ là nạn nhân của một sự lừa dối có tổ chức. Từ [208] năm 1914, họ chỉ được nghe những lời dối trá. Trật tự thế giới mới trong tương lai sẽ khai mở một kỷ nguyên tuyên truyền chân thật và thông tin quốc gia cũng như quốc tế.

3. The recognition that the past has gone with all its evils, and that a future of unlimited possibilities for good and for constructive changes lies ahead. The future must be developed by all nations in the closest collaboration.

3. Sự thừa nhận rằng quá khứ đã qua đi cùng với mọi điều ác của nó, và rằng một tương lai với những khả năng vô hạn cho điều thiện và cho những thay đổi mang tính xây dựng đang ở phía trước. Tương lai phải được mọi quốc gia phát triển trong sự cộng tác chặt chẽ nhất.

These three points must be constantly presented to the public in the simplest language, because it is the inert mass of unthinking people who will constitute the hardest problem. Appeal must be made to the best that is in them, because the immediate task ahead is the development of those right attitudes without which no peace can be lasting and justice will not be possible. Peace must not be imposed by those who hate war. Peace must be a natural outcome and expression of the human spirit, and of a determination to change the world attitude into one of right human relations.

Ba điểm này phải được trình bày liên tục trước công chúng bằng ngôn ngữ đơn giản nhất, vì chính khối quần chúng trì trệ và không suy nghĩ sẽ tạo thành vấn đề khó khăn nhất. Phải kêu gọi điều tốt đẹp nhất nơi họ, vì nhiệm vụ trước mắt là phát triển những thái độ đúng đắn mà nếu không có chúng thì không nền hòa bình nào có thể lâu bền và công lý sẽ không thể có được. Hòa bình không được áp đặt bởi những người ghét chiến tranh. Hòa bình phải là kết quả tự nhiên và là biểu hiện của tinh thần nhân loại, và của quyết tâm chuyển đổi thái độ thế giới thành thái độ của những quan hệ nhân loại đúng đắn.

This is no impossible idealistic dream, but an immediate possibility, given the spirit of forgiveness and goodwill. Patience will be required, because the nervous strain of war and pain and anxiety, fear and underfeeding will have to be reckoned with. Human beings will be the same as before the war, except for exhaustion and a willingness on the part of the majority to accept almost any terms which will allow them to live quietly again, free from the immediate fear of bombs and starvation and ruin. The great need will be for slow action, leaving time for the needed healing processes and adjustment before the final peace terms are settled by the nations, sitting in conclave. Nations will have to shift from a war footing to settled peace activities, and from the organised tensions of war to the comparative relaxations of peace. Disarmament must go forward as an initial move, but in such a manner that the question of unemployment is not unduly aggravated. The “turning of the cannon into ploughshares” must be carried out with judgment, and only wide international planning can take care [209] of this stupendous process. The settling of national boundaries and spheres of influence will be one of the utmost difficulty and can only be satisfactorily determined if goodwill is actively present and consciously used, and when the wishes of the people involved are consulted in a non-partisan spirit. The emphasis upon past historical boundaries as a determining factor is ever dangerous. Wise and slow action will here be needed and proper consideration of population desires. It is not the restoration of the ancient landmarks which is desirable, but the restoration of national and racial spheres of influence in accordance with the present situation.

Đây không phải là một giấc mơ duy tâm bất khả thi, mà là một khả năng trước mắt, nếu có tinh thần tha thứ và thiện chí. Sẽ cần đến sự kiên nhẫn, vì phải tính đến sự căng thẳng thần kinh do chiến tranh, đau đớn và lo âu, sợ hãi và thiếu ăn. Con người sẽ vẫn như trước chiến tranh, ngoại trừ sự kiệt quệ và sự sẵn lòng của đa số chấp nhận gần như bất kỳ điều kiện nào cho phép họ lại được sống yên ổn, thoát khỏi nỗi sợ bom đạn, đói khát và đổ nát trước mắt. Nhu cầu lớn lao sẽ là hành động chậm rãi, để lại thời gian cho các tiến trình chữa lành và điều chỉnh cần thiết trước khi các điều khoản hòa bình cuối cùng được các quốc gia ngồi trong mật nghị quyết định. Các quốc gia sẽ phải chuyển từ tư thế chiến tranh sang các hoạt động hòa bình ổn định, và từ những căng thẳng có tổ chức của chiến tranh sang sự thư giãn tương đối của hòa bình. Giải trừ quân bị phải được tiến hành như một bước đầu tiên, nhưng theo cách không làm trầm trọng quá mức vấn đề thất nghiệp. Việc “biến đại bác thành lưỡi cày” phải được thực hiện với sự phán đoán sáng suốt, và chỉ có sự hoạch định quốc tế rộng lớn mới có thể đảm đương [209] tiến trình khổng lồ này. Việc giải quyết các biên giới quốc gia và các phạm vi ảnh hưởng sẽ là một trong những việc khó khăn nhất và chỉ có thể được xác định một cách thỏa đáng nếu thiện chí hiện diện một cách tích cực và được sử dụng một cách hữu thức, và khi nguyện vọng của những dân chúng liên hệ được tham khảo trong một tinh thần vô tư. Sự nhấn mạnh vào các biên giới lịch sử quá khứ như một yếu tố quyết định luôn luôn nguy hiểm. Ở đây sẽ cần đến hành động minh triết và chậm rãi cùng sự cân nhắc thích đáng đối với nguyện vọng của dân cư. Điều đáng mong muốn không phải là khôi phục những mốc giới cổ xưa, mà là khôi phục các phạm vi ảnh hưởng quốc gia và chủng tộc phù hợp với tình hình hiện tại.

It is not the imposition of any particular ideology upon the world, or its removal, which is of importance, but the establishing of those world conditions which will give all the nations adequate food, the necessities of life, and opportunity then to express themselves, and to make their unique contribution to the welfare of the whole family of nations.

Điều quan trọng không phải là áp đặt bất kỳ hệ tư tưởng riêng biệt nào lên thế giới, hay loại bỏ nó, mà là thiết lập những điều kiện thế giới sẽ cung cấp cho mọi quốc gia đầy đủ lương thực, các nhu yếu phẩm của đời sống, và cơ hội để rồi tự biểu lộ và đóng góp độc đáo của mình cho phúc lợi của toàn thể gia đình các quốc gia.

The working details will have to be developed by all peoples in the closest collaboration. Men of vision, and not just politicians; world servers, and not just military leaders; and humanitarians, and not just the rulers of nations, must determine these tremendous issues. As they do so they must be able to count upon the support of the men and women of goodwill in every land. To sum up:

Các chi tiết thực hiện sẽ phải được mọi dân tộc phát triển trong sự cộng tác chặt chẽ nhất. Những người có tầm nhìn, chứ không chỉ các chính trị gia; những người phụng sự thế giới, chứ không chỉ các nhà lãnh đạo quân sự; và những nhà nhân đạo, chứ không chỉ những người cai trị các quốc gia, phải quyết định những vấn đề trọng đại này. Khi làm như vậy, họ phải có thể trông cậy vào sự ủng hộ của những người nam và nữ thiện chí ở mọi miền đất. Tóm lại:

The interim between the present time and the final adjustment falls into two major periods and the practical work in each can be clearly defined:

Khoảng chuyển tiếp giữa hiện tại và sự điều chỉnh cuối cùng rơi vào hai thời kỳ lớn và công việc thực tiễn trong mỗi thời kỳ có thể được xác định rõ ràng:

1. The interim between today and the cessation of war. This must be used in the following ways:

1. Khoảng chuyển tiếp giữa hôm nay và sự chấm dứt chiến tranh. Khoảng này phải được sử dụng theo những cách sau:

a. To educate and stabilise all men and women of goodwill.

a. Giáo dục và làm ổn định tất cả những người nam và nữ thiện chí.

b. To discover the workers, humanitarians and those men and women of understanding and vision who will respond to the principles here given.

b. Tìm ra những người hoạt động, những nhà nhân đạo và những người nam và nữ có sự thấu hiểu và tầm nhìn, những người sẽ đáp ứng với các nguyên lý được nêu ra ở đây.

c. To prepare these men and women to work in unison for justice and right human relations in all countries after the cessation of the war. [210]

c. Chuẩn bị những người nam và nữ này để cùng làm việc trong sự hợp nhất vì công lý và những quan hệ nhân loại đúng đắn ở mọi quốc gia sau khi chiến tranh chấm dứt. [210]

2. The interim between the end of the physical fighting and the final peace settlement. It is to be hoped—for the sake of justice—that this interlude will cover several years of rehabilitation and education. During these interludes between the past and the new world order, the men and women of goodwill can actively aid the statesmen of all nations by intelligent cooperation, in the planned focussing of enlightened public opinion, and in defining and teaching the real meaning of right human relations.

2. Khoảng chuyển tiếp giữa lúc chấm dứt chiến sự hồng trần và việc dàn xếp hòa bình cuối cùng. Hy vọng rằng — vì lợi ích của công lý — khoảng xen này sẽ bao gồm vài năm phục hồi và giáo dục. Trong những khoảng chuyển tiếp giữa quá khứ và trật tự thế giới mới này, những người nam và nữ thiện chí có thể tích cực trợ giúp các chính khách của mọi quốc gia bằng sự hợp tác thông minh, trong việc tập trung có kế hoạch dư luận công chúng đã được soi sáng, và trong việc xác định cũng như giảng dạy ý nghĩa thực sự của những quan hệ nhân loại đúng đắn.

It is with the first interlude that we are now concerned.

Chính với khoảng chuyển tiếp thứ nhất mà hiện nay chúng ta đang quan tâm.

It is desirable to get into immediate touch with those whose names are already known to you, and set them to work and let them—in their turn—find others, and guide them also into the way of reconstruction. Let all these names and addresses be gathered together in central and national mailing lists, but let them also be kept in both New York and London, for it is the task of the English speaking peoples to rebuild the world with the help of all other nations. There must, therefore, be some measure of centralisation of the work and some way in which these people can be reached and swept into cooperative activity.

Điều mong muốn là lập tức liên lạc với những người mà tên tuổi của họ đã được các bạn biết đến, giao việc cho họ và để họ — đến lượt mình — tìm ra những người khác, và cũng hướng dẫn họ vào con đường tái thiết. Hãy tập hợp tất cả những tên tuổi và địa chỉ này vào các danh sách gửi thư trung ương và quốc gia, nhưng cũng hãy lưu giữ chúng ở cả New York và London, vì nhiệm vụ của các dân tộc nói tiếng Anh là xây dựng lại thế giới với sự trợ giúp của mọi quốc gia khác. Do đó, phải có một mức độ tập trung hóa nào đó trong công việc và phải có một phương cách để những người này có thể được tiếp cận và được cuốn vào hoạt động hợp tác.

With goodwill to all, with a staunch belief in the divine possibilities of human beings and in the future resurrection of humanity, with an exalted recognition of God, with an acknowledgment of the fundamental values of Christ’s teaching, and with a joyful determination to go forward with the work of reconstruction, I call upon those who respond to this vision immediately to set to work.

Với thiện chí dành cho tất cả, với niềm tin kiên định vào những khả năng thiêng liêng của con người và vào sự phục sinh tương lai của nhân loại, với sự thừa nhận cao cả về Thượng đế, với sự công nhận các giá trị căn bản trong giáo huấn của Đức Christ, và với quyết tâm hoan hỉ tiến lên trong công cuộc tái thiết, tôi kêu gọi những ai đáp ứng với tầm nhìn này hãy lập tức bắt tay vào việc.

I call you to no organisational loyalties, but only to love your fellowmen, be they German, American, Jewish, British, French, Negro or Asiatic. I call you from your dreams of vague beauty, impossible Utopias and wishful thinking to face life as it is today; and then to begin, in the place where you are, to make it better. I call you to the experiment of right human relations, beginning with your own personal relations to your family and friends, and then [211] to the task of educating those you contact so that they also start a similar work. It is the work of attaining right individual relations, right group relations, right intergroup relations, right national relations and right international relations. I call you to the realisation that in this work no one is futile or useless, but that all have a place of practical value. I call you to recognise that goodwill is a dynamic energy which can bring about world changes of a fundamental kind, and that its mode of expression is through the activity of the individual man and woman and through their massed intent. The massed power of goodwill, the dynamic effect of intelligent and active understanding, and the potency of a trained and alive public opinion which desires the greatest good of the greatest number, are beyond belief. This dynamic power has never been employed. It can, today, save the world.

Tôi không kêu gọi các bạn đến với bất kỳ lòng trung thành tổ chức nào, mà chỉ kêu gọi các bạn yêu thương đồng loại của mình, dù họ là người Đức, người Mỹ, người Do Thái, người Anh, người Pháp, người da đen hay người Á châu. Tôi kêu gọi các bạn rời khỏi những giấc mơ về vẻ đẹp mơ hồ, những Utopia bất khả thi và những ước vọng viển vông để đối diện với đời sống như nó đang là hôm nay; rồi bắt đầu, ngay tại nơi các bạn đang ở, làm cho nó tốt đẹp hơn. Tôi kêu gọi các bạn đến với cuộc thử nghiệm những quan hệ nhân loại đúng đắn, bắt đầu bằng chính những quan hệ cá nhân của các bạn với gia đình và bạn bè, rồi [211] đến nhiệm vụ giáo dục những người các bạn tiếp xúc để họ cũng bắt đầu một công việc tương tự. Đó là công việc đạt đến những quan hệ cá nhân đúng đắn, những quan hệ nhóm đúng đắn, những quan hệ liên nhóm đúng đắn, những quan hệ quốc gia đúng đắn và những quan hệ quốc tế đúng đắn. Tôi kêu gọi các bạn chứng nghiệm rằng trong công việc này không ai là vô ích hay vô dụng, mà tất cả đều có một vị trí mang giá trị thực tiễn. Tôi kêu gọi các bạn thừa nhận rằng thiện chí là một năng lượng năng động có thể mang lại những thay đổi thế giới thuộc loại căn bản, và phương thức biểu lộ của nó là qua hoạt động của từng người nam và nữ riêng lẻ và qua ý hướng tập thể của họ. Quyền năng tập thể của thiện chí, hiệu quả năng động của sự thấu hiểu thông minh và tích cực, và mãnh lực của một dư luận công chúng được huấn luyện và sống động, mong muốn điều thiện lớn nhất cho số đông nhất, vượt ngoài sức tin. Quyền năng năng động này chưa bao giờ được sử dụng. Ngày nay, nó có thể cứu thế giới.

~

~