THE WORLD CRISIS FROM HIERARCHICAL VIEWPOINT—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI TỪ QUAN ĐIỂM CỦA THÁNH ĐOÀN
April-May 1940
Tháng Tư-Tháng Năm 1940
Another Wesak Festival will be close at hand when you receive this communication. Its urgency, imminence and finality prompt me again to attempt to awaken those of you who receive it to the present opportunity and to the spiritual urgency of this high moment in human affairs. The three Full Moon periods of April, May and June are most significant and determining, and upon what happens during the next few weeks, whilst the sun is still moving northwards, much will depend.
Một Lễ Hội Wesak khác sẽ rất gần kề khi các bạn nhận được thông điệp này. Tính khẩn cấp, tính cận kề và tính quyết định của nó lại thôi thúc tôi cố gắng đánh thức những ai trong các bạn nhận được nó trước cơ hội hiện tại và trước tính khẩn cấp tinh thần của thời điểm cao trọng này trong các công việc của nhân loại. Ba kỳ Trăng Tròn của tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu là vô cùng quan trọng và có tính quyết định, và nhiều điều sẽ tùy thuộc vào những gì xảy ra trong vài tuần tới, khi mặt trời vẫn còn đang di chuyển về phương bắc.
In this communication I would like to do two things: First of all, give you a better idea as to how the spiritual Hierarchy of our planet regards the present world crisis, and secondly, indicate to you certain major eventualities which are dependent upon three things:
Trong thông điệp này tôi muốn làm hai việc: trước hết, cho các bạn một ý niệm rõ hơn về cách Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta nhìn cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, và thứ hai, chỉ ra cho các bạn một số khả năng lớn tùy thuộc vào ba điều:
1. A possible divine intervention which may be brought about through the aspiration of all right-minded people, plus the intelligent and constant use of the [212] Great Invocation, now being used in its tens of thousands by the world aspirants in every country.
1. Một sự can thiệp thiêng liêng khả dĩ có thể được mang lại nhờ khát vọng của tất cả những người có tâm trí đúng đắn, cộng với việc sử dụng một cách thông minh và liên tục [212] Đại Khấn Nguyện, hiện đang được hàng chục ngàn người chí nguyện trên thế giới ở mọi quốc gia sử dụng.
2. The emergence of certain clear lines of demarcation between the activities of the Forces of Light and the forces of materialistic aggression.
2. Sự xuất hiện của những đường phân ranh rõ rệt giữa các hoạt động của Các Mãnh Lực của Ánh sáng và các lực lượng xâm lược duy vật.
3. The place which clear thinking, wise speech and skill in action should play in the attitude of the world disciples and the men and women of goodwill everywhere.
3. Vai trò mà tư duy sáng suốt, lời nói minh triết và kỹ năng trong hành động nên đảm nhiệm trong thái độ của các đệ tử thế giới và những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi.
I shall endeavour to speak with a reasonable brevity and clarity, and I do so with complete freedom from what you call bias. I speak in terms of humanity—without distinction of race, colour or nation; I have no particular political views, because I know that all potential theories, ideologies and governments are temporary states and conditions, controlling different groups of human beings on their way from the human state to the divine. This is a point of view oft overlooked by many of you who—temporarily and oft fanatically—belong to one or other of these ephemeral states of mind and passing human attitudes. I have no particular religious preferences, knowing as I do that all roads lead to God and that the sense of divinity is so dominant and inherent in the human heart that naught at any time can crush it out; life, experience, trial, pain and instinctive human orientation lead all men finally back into the light of God. I can and do, therefore, love all men, irrespective of nationality and present ideas, as do all with whom I am associated. Looking upon the moving screen of time with a vision which reaches into the future and is inclusive of the past (for this is the prerogative of all trained world disciples) I know that present events will play their timely part, will give place to others in due time, and that—when the immediate processes of readjustment in human values, spiritual objectives and political schemes, religious orientations and territorial syntheses are completed—the world will settle down again to the processes of daily living. The immediate opportunity and situation in which we find ourselves [213] will have proved dynamically useful or (such is the sad possibility) negatively futile. A fresh cycle of civilisation, culture and growth will have been inaugurated which will be coloured by the ancient hues of selfish desire and aggressive acquisitiveness, or by the newer and more beautiful colouring of happy and satisfactory international relationships, of religious understanding and of the much needed and demanded economic cooperation.
Tôi sẽ cố gắng nói với sự ngắn gọn và rõ ràng hợp lý, và tôi làm điều đó với sự hoàn toàn thoát khỏi điều mà các bạn gọi là thiên kiến. Tôi nói theo quan điểm của nhân loại — không phân biệt chủng tộc, màu da hay quốc gia; tôi không có quan điểm chính trị riêng biệt nào, vì tôi biết rằng mọi lý thuyết, hệ tư tưởng và chính quyền tiềm tàng đều là những trạng thái và điều kiện tạm thời, kiểm soát những nhóm người khác nhau trên con đường đi từ trạng thái nhân loại đến trạng thái thiêng liêng. Đây là một quan điểm mà nhiều người trong các bạn thường bỏ qua, những người — tạm thời và thường một cách cuồng tín — thuộc về trạng thái tâm trí phù du này hay thái độ nhân loại thoáng qua kia. Tôi không có sở thích tôn giáo riêng biệt nào, vì tôi biết rằng mọi con đường đều dẫn đến Thượng đế và rằng cảm thức về thiên tính mạnh mẽ và bẩm sinh đến mức không điều gì vào bất cứ lúc nào có thể dập tắt nó; đời sống, kinh nghiệm, thử thách, đau khổ và sự định hướng bản năng của con người cuối cùng đều dẫn mọi người trở về ánh sáng của Thượng đế. Vì vậy, tôi có thể và thật sự yêu thương mọi người, bất kể quốc tịch và các ý tưởng hiện tại của họ, cũng như tất cả những người mà tôi liên kết cùng đều như vậy. Khi nhìn lên màn ảnh chuyển động của thời gian với một tầm nhìn vươn vào tương lai và bao gồm cả quá khứ (vì đây là đặc quyền của mọi đệ tử thế giới đã được huấn luyện), tôi biết rằng các biến cố hiện tại sẽ đóng vai trò đúng lúc của chúng, rồi đến lượt sẽ nhường chỗ cho những biến cố khác, và rằng — khi các tiến trình điều chỉnh tức thời trong các giá trị nhân loại, các mục tiêu tinh thần và các mô hình chính trị, các định hướng tôn giáo và các tổng hợp lãnh thổ được hoàn tất — thế giới sẽ lại ổn định vào các tiến trình của đời sống hằng ngày. Cơ hội và tình thế trước mắt mà chúng ta đang ở trong đó [213] sẽ chứng tỏ là hữu ích một cách năng động hoặc (đó là khả năng đáng buồn) là vô ích một cách tiêu cực. Một chu kỳ mới của văn minh, văn hóa và tăng trưởng sẽ được khai mở, chu kỳ ấy hoặc sẽ được nhuốm màu bởi những sắc thái cổ xưa của dục vọng ích kỷ và tính chiếm hữu xâm lấn, hoặc bởi sắc màu mới mẻ và đẹp đẽ hơn của những quan hệ quốc tế hạnh phúc và thỏa đáng, của sự thấu hiểu tôn giáo và của sự hợp tác kinh tế rất cần thiết và được đòi hỏi.
Such a dual possibility confronts us now. One—new, right and spiritually oriented; the other, ancient, evil and undesirable. Whether man will go forward into the better way of life or permit the perpetuation of the old ways and the domination of selfish personal, national and racial interests remains yet to be determined.
Một khả năng nhị nguyên như thế hiện đang đối diện chúng ta. Một bên là mới mẻ, đúng đắn và định hướng tinh thần; bên kia là cổ xưa, xấu ác và không đáng mong muốn. Việc con người sẽ tiến lên con đường sống tốt đẹp hơn hay cho phép sự kéo dài của những lối cũ và sự thống trị của các quyền lợi ích kỷ cá nhân, quốc gia và chủng tộc vẫn còn phải được quyết định.
Two things are, however, obvious to us as we look at the present world situation; first, that the lines of demarcation between the two ways of living and the two objective attitudes are far more clearly defined than at any previous time in the history of humanity; secondly, that it is the muddled thinking of vast masses of well-meaning people (many of them not immediately implicated in the world conflict) which is largely responsible for the slowness of the final crisis and the postponement of the advancing decision.
Tuy nhiên, có hai điều hiển nhiên đối với chúng tôi khi nhìn vào tình hình thế giới hiện nay; thứ nhất, những đường phân ranh giữa hai lối sống và hai thái độ mục tiêu hiện được xác định rõ ràng hơn nhiều so với bất kỳ thời điểm nào trước đây trong lịch sử nhân loại; thứ hai, chính lối tư duy rối rắm của những khối đông đảo người thiện ý (nhiều người trong số họ không trực tiếp bị cuốn vào cuộc xung đột thế giới) là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự chậm trễ của cuộc khủng hoảng cuối cùng và sự trì hoãn của quyết định đang tiến đến.
For decades, we, the teachers of the race of men, have watched certain great world (or planetary) tendencies take shape, assume defined and pronounced outlines and become conditioning potencies. This shaping and definition was essential if the issue was to be presented with clarity to humanity, thus enabling a basic choice to be presented to the sons of men and the placing in their hands of certain determinations which could, if rightly directed, carve out for them a new and better future. Such a presentation has never before been possible, because never before has mankind been at the stage where it could grasp the situation intelligently, or been so closely and rapidly interrelated by the radio, telephone, the press and the telegraph. The needed choices can now be made in cooperation, in consultation and with open eyes. The choice is clearly before the thinking people [214] in every country, and upon their decision rests the fate of the less intelligent masses. Hence the present responsibility of the national leaders, of the representatives of the people in the governments, of the churches, and of the intelligentsia in all lands, without exception. There should be no shirking or evasion of responsibility. There is, however, much.
Trong nhiều thập niên, chúng tôi, những huấn sư của nhân loại, đã quan sát một số khuynh hướng lớn của thế giới (hay hành tinh) hình thành, mang những đường nét xác định và rõ rệt, và trở thành những mãnh lực tác động. Sự định hình và xác định này là thiết yếu nếu vấn đề phải được trình bày rõ ràng trước nhân loại, nhờ đó cho phép một sự lựa chọn căn bản được đặt ra cho những người con của nhân loại và trao vào tay họ một số quyết định mà, nếu được hướng dẫn đúng đắn, có thể khắc họa cho họ một tương lai mới và tốt đẹp hơn. Một sự trình bày như vậy chưa bao giờ có thể thực hiện trước đây, vì chưa bao giờ nhân loại ở vào giai đoạn có thể nắm bắt tình hình một cách thông minh, hoặc được liên hệ chặt chẽ và nhanh chóng đến thế bằng radio, điện thoại, báo chí và điện tín. Những lựa chọn cần thiết giờ đây có thể được thực hiện trong hợp tác, trong tham khảo và với đôi mắt mở rộng. Sự lựa chọn hiện rõ ràng trước những người biết suy nghĩ [214] ở mọi quốc gia, và số phận của những khối quần chúng kém thông minh hơn tùy thuộc vào quyết định của họ. Do đó mới có trách nhiệm hiện nay của các nhà lãnh đạo quốc gia, của các đại diện nhân dân trong chính quyền, của các giáo hội, và của giới trí thức ở mọi miền đất, không ngoại lệ. Không nên có sự trốn tránh hay né tránh trách nhiệm. Tuy nhiên, có rất nhiều điều như thế.
In past communications I have oft spoken of the Forces of Light and the Forces of Materialism, meaning by these terms the controlling trends towards brotherhood, right human relations and selfless purpose, and those which reverse these higher tendencies and bring into human affairs selfish acquisitiveness, emphasis upon material interests, brutal aggression and cruelty. The two positions are clear to the unprejudiced onlooker.
Trong những thông điệp trước đây, tôi thường nói đến Các Mãnh Lực của Ánh sáng và Các Mãnh Lực của Chủ Nghĩa Duy Vật, và qua những thuật ngữ này tôi muốn nói đến những khuynh hướng kiểm soát hướng về tình huynh đệ, những quan hệ nhân loại đúng đắn và mục đích vô ngã, cùng những khuynh hướng đảo ngược các xu hướng cao cả ấy và mang vào các công việc của nhân loại tính chiếm hữu ích kỷ, sự nhấn mạnh vào các quyền lợi vật chất, sự xâm lược tàn bạo và sự độc ác. Hai lập trường này rõ ràng đối với người quan sát không thiên kiến.
To these two groups I would add a third. This third group is taking shape in the world today with extreme definiteness and is composed of those who throw the weight of their influence and of their action on neither side; theoretically, they may advocate the higher way, but practically they do nothing to further its interests. This third group is formed internally of two groups: first, those people who are potentially weak and are therefore ridden by fear and terror, feeling that they dare not move in any way against the forces of aggression, and secondly, an intrinsically powerful group who, through selfish material interests, plus a sense of separative superiority, or distance from the seat of trouble and the domination of false values, hold aloof from the situation and shirk their evident responsibility as members of the human family. This latter group includes, among others, a number of powerful democracies and republics. Fear, terror and a sense of helpless futility govern the reactions of the one, and who can criticise? Selfishness and separativeness control the other group.
Vào hai nhóm này tôi muốn thêm một nhóm thứ ba. Nhóm thứ ba này ngày nay đang hình thành trong thế giới với tính xác định cực kỳ rõ rệt và gồm những người không đặt sức nặng của ảnh hưởng và hành động của mình về phía nào cả; về mặt lý thuyết, họ có thể chủ trương con đường cao hơn, nhưng trên thực tế họ không làm gì để thúc đẩy quyền lợi của nó. Nhóm thứ ba này bên trong gồm hai nhóm: thứ nhất, những người vốn tiềm tàng yếu đuối và vì vậy bị nỗi sợ và kinh hoàng cưỡi lên, cảm thấy rằng họ không dám hành động theo bất kỳ cách nào chống lại các lực lượng xâm lược, và thứ hai, một nhóm vốn mạnh mẽ về bản chất nhưng vì các quyền lợi vật chất ích kỷ, cộng với cảm thức ưu việt chia rẽ, hoặc vì khoảng cách xa khỏi trung tâm rắc rối và sự thống trị của các giá trị sai lầm, nên đứng ngoài tình hình và trốn tránh trách nhiệm hiển nhiên của mình với tư cách là thành viên của gia đình nhân loại. Nhóm sau này bao gồm, trong số những người khác, một số nền dân chủ và cộng hòa hùng mạnh. Sợ hãi, kinh hoàng và cảm giác vô ích bất lực chi phối phản ứng của nhóm thứ nhất, và ai có thể chỉ trích họ? Ích kỷ và chia rẽ kiểm soát nhóm còn lại.
You have, therefore, in the world at this time three groups of people who embody the three major views of the whole of humanity, plus the unthinking masses, swayed by propaganda, controlled by their governments, and the prey [215] of the loudest voices. It is of value to you to get this picture clearly in your minds, and I would like again to define them.
Do đó, vào lúc này trong thế giới có ba nhóm người hiện thân cho ba quan điểm lớn của toàn thể nhân loại, cộng với những khối quần chúng không suy nghĩ, bị tuyên truyền lôi kéo, bị chính quyền của họ kiểm soát, và là con mồi [215] của những tiếng nói lớn nhất. Việc các bạn có được bức tranh này rõ ràng trong trí là điều có giá trị, và tôi muốn một lần nữa xác định họ.
1. The ancient entrenched forces of aggression, of material acquisition and pure selfishness, working through a pronounced cruelty which reaches out and grasps what it wants, irrespective of any other rights, historical and legal possessions or the will of anyone.
1. Những lực lượng xâm lược cổ xưa đã cố thủ, của sự chiếm hữu vật chất và tính ích kỷ thuần túy, hoạt động qua một sự tàn ác rõ rệt vươn ra và chộp lấy điều nó muốn, bất kể bất kỳ quyền lợi nào khác, các sở hữu lịch sử và pháp lý hay ý chí của bất kỳ ai.
2. The forces of spiritual purpose, embodied in the will to protect the rights of others, along with individual rights; to end aggression and its consequent fear, and to throw the weight of their combined influence on to the side of the most spiritual values, of human freedom, of the right to think, and of kindness. I use the word “kindness” advisedly because it embodies the idea of kin-ship, of brotherhood and of right human relations. It is world goodwill in expression, just as the will-to-good is the basis of any possible peace—a goodwill which would negate any premature peace at this time, because the latter would give time for the Forces of Materialism to consolidate their gains and prepare the way for further aggression. Kindness, the will-to-good and peace—such should be the practical expression and the formulated intention of those who are conditioned by the Forces of Light.
2. Những lực lượng của mục đích tinh thần, được hiện thân trong ý chí bảo vệ quyền lợi của người khác cùng với quyền lợi cá nhân; chấm dứt sự xâm lược và nỗi sợ hãi do nó gây ra, và đặt sức nặng của ảnh hưởng kết hợp của họ về phía các giá trị tinh thần nhất, của tự do con người, của quyền được suy nghĩ, và của lòng tử tế. Tôi dùng từ “lòng tử tế” một cách có chủ ý vì nó bao hàm ý niệm về tình thân thuộc, về tình huynh đệ và về những quan hệ nhân loại đúng đắn. Đó là thiện chí thế giới trong biểu hiện, cũng như Ý Chí-hướng Thiện là nền tảng của bất kỳ nền hòa bình khả dĩ nào — một thiện chí sẽ phủ nhận bất kỳ nền hòa bình non sớm nào vào lúc này, vì điều sau sẽ cho Các Mãnh Lực của Chủ Nghĩa Duy Vật thời gian để củng cố những gì chúng đã giành được và chuẩn bị con đường cho sự xâm lược tiếp theo. Lòng tử tế, Ý Chí-hướng Thiện và hòa bình — đó phải là biểu hiện thực tiễn và ý hướng được xác lập của những ai được Các Mãnh Lực của Ánh sáng tác động.
3. The force of mass negativity, as expressed today by the dominated people in the strongholds of aggression and by the neutrally minded people everywhere. They are all coloured by racial fear, by the instinct to self-preservation, and by short-sighted selfish interest.
3. Mãnh lực của tính tiêu cực quần chúng, như được biểu lộ ngày nay bởi những dân chúng bị thống trị trong các thành trì của sự xâm lược và bởi những người có tâm trí trung lập ở khắp nơi. Tất cả họ đều bị nhuốm màu bởi nỗi sợ chủng tộc, bởi bản năng tự bảo tồn, và bởi quyền lợi ích kỷ thiển cận.
The problem is one of exceeding difficulty because, even though the lines of demarcation are becoming steadily more distinct, yet the exponents of these three groups are to be found in every land and among all people—in every church and in every home. No nation or group is exempt from this triplicity. It is rooted in human attitudes, and that is why this conflict is a strictly human conflict and not a European war. Every nation has its selfish, aggressive people, who believe that might is right and that men must be [216] governed by the law of the jungle, taking what they want, no matter at what cost to others. Every nation has those within its borders who see the vision of right human relations, who seek to live by the law of brotherhood, who respond to the influence of the Forces of Light and of the spiritual Hierarchy, and who desire peace, kindness and goodwill to rule world affairs and control the policies of the governments. Every nation has also within it those neutrally-minded people who fail to think clearly, who seek to place the blame upon the shoulders of all except themselves, who theorise and speculate, advise, and assign responsibility, but who refrain from any active participation in the processes of adjustment, from reasons of pride or unwillingness to pay the price. Many of them are group conscientious objectors who will eventually profit by the victory of the Forces of Light but who refuse to share in the struggle, reserving themselves for the future peace settlements, longing for the conflict to end, but doing nothing to bring that about. Many are entirely sincere, but their thinking needs adjusting.
Vấn đề cực kỳ khó khăn bởi vì, dù những đường phân ranh đang ngày càng trở nên rõ rệt hơn, nhưng những người đại diện cho ba nhóm này vẫn được tìm thấy ở mọi miền đất và giữa mọi dân tộc — trong mọi giáo hội và trong mọi gia đình. Không quốc gia hay nhóm nào được miễn khỏi bộ ba này. Nó bén rễ trong các thái độ của con người, và đó là lý do vì sao cuộc xung đột này là một cuộc xung đột nghiêm ngặt của nhân loại chứ không phải một cuộc chiến tranh châu Âu. Mọi quốc gia đều có những con người ích kỷ, xâm lược, tin rằng sức mạnh là lẽ phải và rằng con người phải được [216] cai trị bởi luật rừng, lấy điều họ muốn, bất kể cái giá mà người khác phải trả. Mọi quốc gia đều có những người trong biên giới của mình nhìn thấy linh ảnh về những quan hệ nhân loại đúng đắn, tìm cách sống theo định luật tình huynh đệ, đáp ứng với ảnh hưởng của Các Mãnh Lực của Ánh sáng và của Huyền Giai Tinh Thần, và mong muốn hòa bình, lòng tử tế và thiện chí cai quản các công việc thế giới và kiểm soát các chính sách của chính quyền. Mọi quốc gia cũng có trong mình những người có tâm trí trung lập, những người không suy nghĩ rõ ràng, tìm cách đổ lỗi lên vai tất cả mọi người trừ chính họ, lý thuyết hóa và suy đoán, khuyên bảo và quy trách nhiệm, nhưng lại tránh mọi sự tham gia tích cực vào các tiến trình điều chỉnh, vì lý do kiêu hãnh hoặc không muốn trả giá. Nhiều người trong số họ là những người phản đối chiến tranh vì lương tâm mang tính nhóm, cuối cùng sẽ hưởng lợi từ chiến thắng của Các Mãnh Lực của Ánh sáng nhưng từ chối chia sẻ cuộc đấu tranh, giữ mình lại cho các cuộc dàn xếp hòa bình tương lai, mong mỏi cuộc xung đột chấm dứt, nhưng không làm gì để mang điều đó đến. Nhiều người hoàn toàn chân thành, nhưng tư duy của họ cần được điều chỉnh.
If you will rightly grasp the reality of the statements made above, you will do your share in the mental clarification which is going on in the world. These three groups are functioning today and are in conflict. The neutrally-minded group is definitely hindering the work of the Forces of Light. These three world attitudes are to be found in every nation, as well as in the consciousness of every single individual. The realisation of this may enable you to grasp and shoulder your individual responsibility better. You will realise the need to ascertain for yourself where you stand and will refuse to be conditioned by other people’s points of view and the world-wide propaganda; you will appreciate where your nation stands and on which side, and where you, as a soul, stand. You will then be able—if you are sincere and clear-thinking—to work for that group within the whole which seems to you to embody the highest possible activity and aims, and you will relinquish that attitude of futile negativity, smug neutrality or bewildered confusion which may [217] distinguish you. You will then emerge from the glamour of propaganda and of world illusion into the clear light of your own soul, whose essential nature is love and selflessness and whose major aspiration is to bring peace and goodwill among men and to see the consummation of the mission of Christ.
Nếu các bạn nắm bắt đúng thực tại của những phát biểu trên, các bạn sẽ góp phần của mình vào sự làm sáng tỏ về mặt trí tuệ đang diễn ra trong thế giới. Ba nhóm này đang hoạt động ngày nay và đang xung đột. Nhóm có tâm trí trung lập rõ ràng đang cản trở công việc của Các Mãnh Lực của Ánh sáng. Ba thái độ thế giới này đều được tìm thấy trong mọi quốc gia, cũng như trong tâm thức của từng cá nhân. Sự nhận ra điều này có thể giúp các bạn nắm bắt và gánh vác trách nhiệm cá nhân của mình tốt hơn. Các bạn sẽ nhận ra nhu cầu phải tự xác định mình đang đứng ở đâu và sẽ từ chối để bị tác động bởi các quan điểm của người khác và bởi sự tuyên truyền toàn cầu; các bạn sẽ đánh giá được quốc gia của mình đang đứng ở đâu và đứng về phía nào, và các bạn, với tư cách một linh hồn, đang đứng ở đâu. Khi ấy các bạn sẽ có thể — nếu chân thành và suy nghĩ sáng suốt — làm việc cho nhóm nào trong toàn thể mà đối với các bạn dường như hiện thân cho hoạt động và mục tiêu cao nhất có thể, và các bạn sẽ từ bỏ thái độ tiêu cực vô ích, trung lập tự mãn hay bối rối hoang mang có thể [217] là đặc điểm của các bạn. Khi ấy các bạn sẽ thoát ra khỏi ảo cảm của tuyên truyền và của ảo tưởng thế giới để đi vào ánh sáng trong trẻo của chính linh hồn mình, mà bản chất cốt yếu là tình thương và vô ngã và khát vọng lớn lao là mang hòa bình và thiện chí đến giữa loài người và chứng kiến sự hoàn tất sứ mệnh của Đức Christ.
This will lead eventually to the disappearance of so-called neutrality upon earth—a neutrality in act, for there is never neutrality in thought.
Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến mất của cái gọi là trung lập trên trái đất — trung lập trong hành động, vì trong tư tưởng không bao giờ có trung lập.
One of the things which the spiritual leaders of humanity have sought to do is to bring clearly to the attention of men the basic duality which is found in the world today—the duality of selfish, material living and that of unselfish spiritual objectives. This is now clearly defined. The second stage of their task now lies ahead, and that is so to stimulate the vision of men everywhere that—beginning with the intelligentsia—they can consciously take their stand under one or other of the two banners, and so know what they are doing and why. The neutrally-minded waver between the two and, to date, do nothing.
Một trong những điều mà các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại đã tìm cách thực hiện là đưa một cách rõ ràng đến sự chú ý của con người nhị nguyên tính căn bản hiện diện trong thế giới ngày nay — nhị nguyên tính của đời sống ích kỷ, vật chất và của các mục tiêu tinh thần vô ngã. Điều này hiện đã được xác định rõ. Giai đoạn thứ hai của nhiệm vụ của họ giờ đây ở phía trước, và đó là kích thích tầm nhìn của con người ở khắp nơi đến mức — bắt đầu với giới trí thức — họ có thể một cách hữu thức đứng dưới lá cờ này hay lá cờ kia, và như thế biết mình đang làm gì và tại sao. Những người có tâm trí trung lập dao động giữa hai bên và cho đến nay không làm gì cả.
I would like in this connection to deal with one problem which has somewhat disturbed the least clear-thinking among those whom I have for some time taught. I have for years sought to develop in the world a group of men and women who would stand for the spiritual values, who would love all men, who would foster the spirit of goodwill, and who would stand to humanity (as far as they could) as the Hierarchy of Light, as Christ and His disciples seek to do. This has been interpreted by some of you as meaning that you must refrain from rebelling against the evil thing in your midst, and from all criticism and partisanship. You seem unable to love with steadfastness the offender and yet to rid the world of the offence. The situation might clarify if you answered to yourself one or two questions:
Trong mối liên hệ này tôi muốn bàn đến một vấn đề đã phần nào làm xáo trộn những người suy nghĩ kém sáng suốt nhất trong số những người mà tôi đã giảng dạy một thời gian. Trong nhiều năm tôi đã tìm cách phát triển trong thế giới một nhóm người nam và nữ sẽ đứng về các giá trị tinh thần, sẽ yêu thương mọi người, sẽ nuôi dưỡng tinh thần thiện chí, và sẽ đứng với nhân loại (trong chừng mực họ có thể) như Huyền Giai của Ánh sáng, như Đức Christ và các đệ tử của Ngài tìm cách làm. Điều này đã được một số người trong các bạn giải thích là có nghĩa rằng các bạn phải kiềm chế không nổi dậy chống lại điều ác ở giữa các bạn, và tránh mọi phê phán cùng mọi thiên vị. Dường như các bạn không thể yêu thương một cách kiên định kẻ phạm lỗi mà vẫn loại bỏ sự xúc phạm khỏi thế giới. Tình hình có thể trở nên sáng tỏ nếu các bạn tự trả lời cho mình một hay hai câu hỏi:
Do you believe that the Hierarchy of Light, under the leadership of Christ, is on the side of cruelty, aggression and the slaughter of the defenceless?
Các bạn có tin rằng Huyền Giai của Ánh sáng, dưới sự lãnh đạo của Đức Christ, đứng về phía sự tàn ác, xâm lược và cuộc tàn sát những người không được bảo vệ không?
[218] Do you believe that the world can be saved by a refusal to think and by the shirking of individual responsibility, thus ignoring a situation which does exist?
[218] Các bạn có tin rằng thế giới có thể được cứu bằng sự từ chối suy nghĩ và bằng việc trốn tránh trách nhiệm cá nhân, như thế phớt lờ một tình thế đang thật sự tồn tại không?
Do you feel that there are no issues and principles which are worth fighting for and dying for, if need be?
Các bạn có cảm thấy rằng không có những vấn đề và nguyên lý nào đáng để chiến đấu và hy sinh mạng sống vì chúng, nếu cần, không?
Do you stand with the Forces of Light or with the Forces of Materialism?
Các bạn đứng với Các Mãnh Lực của Ánh sáng hay với Các Mãnh Lực của Chủ Nghĩa Duy Vật?
What are you doing to aid the side which claims your allegiance, loyalty and idealism?
Các bạn đang làm gì để trợ giúp phía đòi hỏi sự trung thành, tận tụy và lý tưởng của các bạn?
Are you governed by a sense of individual futility—that weapon which the Forces of Materialism are using now so potently to stun possible opponents into helplessness?
Các bạn có bị chi phối bởi cảm giác vô ích cá nhân — thứ vũ khí mà Các Mãnh Lực của Chủ Nghĩa Duy Vật hiện đang sử dụng mạnh mẽ đến thế để làm choáng váng những đối thủ khả dĩ thành bất lực không?
A clear and searching analysis of the spiritual objectives of humanity will enable you to answer these questions. If you do not need to answer them because your position is clear in your mind, the study of the questions may enable you to serve your day and generation more ably and to present the situation more clearly to the bewildered.
Một sự phân tích rõ ràng và sâu sắc về các mục tiêu tinh thần của nhân loại sẽ giúp các bạn trả lời những câu hỏi này. Nếu các bạn không cần trả lời chúng vì lập trường của các bạn đã rõ ràng trong trí, thì việc nghiên cứu các câu hỏi ấy có thể giúp các bạn phụng sự thời đại và thế hệ của mình một cách hữu hiệu hơn và trình bày tình hình rõ ràng hơn cho những người đang hoang mang.
A horror of war and a longing for peace are no excuse for slack thinking, nor do they provide an alibi or the opportunity to shirk individual or national responsibility. The conflict is on. It is of ancient lineage. The issues are clearly marked between right and wrong, between cruelty and kindness, between aggression and freedom. To evade responsibility because of past national mistakes and historical sins and failures is an unwarranted alibi; the shirking of due participation in the struggle because every nation has certain materialistic objectives is wrong; a nation is but the sum total of its people. To refuse to think because of the general condition of fatigue in which you share is no excuse, and is unworthy of the world disciples and aspirants.
Sự kinh hoàng trước chiến tranh và khát vọng hòa bình không phải là cái cớ cho tư duy lỏng lẻo, cũng không cung cấp một lý do biện hộ hay cơ hội để trốn tránh trách nhiệm cá nhân hay quốc gia. Cuộc xung đột đang diễn ra. Nó có dòng dõi cổ xưa. Những vấn đề được đánh dấu rõ ràng giữa đúng và sai, giữa tàn ác và tử tế, giữa xâm lược và tự do. Việc né tránh trách nhiệm vì những sai lầm quốc gia trong quá khứ và những tội lỗi cùng thất bại lịch sử là một sự biện hộ không chính đáng; việc trốn tránh sự tham gia thích đáng vào cuộc đấu tranh vì mọi quốc gia đều có những mục tiêu duy vật nào đó là sai lầm; một quốc gia chỉ là tổng số dân chúng của nó. Việc từ chối suy nghĩ vì tình trạng mệt mỏi chung mà các bạn cùng chia sẻ không phải là cái cớ, và không xứng đáng với các đệ tử thế giới và những người chí nguyện.
The Hierarchy of Light is seeking to arouse men everywhere to the basic dualism underlying this conflict and to the essential significance of the issues with which humanity is faced. Hence the emphasis which I am laying upon the need to face the problem, to think clearly and intelligently about what is going on around you, and to take right and cooperative action. The whole world problem will be clarified [219] and the end of the conflict more rapidly reached when there are only two parties and not three. The recognition of this underlying dualism is necessary prior to the shifting of humanity’s consciousness away from its major preoccupation—acquisitive material desire, aggressively obtained—into soul consciousness, with its correlations, group interests, the meeting of group need, and the functioning of a steady group cooperation on a world scale. This is true of individuals, of nations and of races; as you, an individual, work out your own problem in your daily life, you are helping to solve the world problem.
Thánh Đoàn Ánh Sáng đang tìm cách khơi dậy nơi con người ở khắp nơi nhận thức về tính nhị nguyên căn bản nằm bên dưới cuộc xung đột này và về thâm nghĩa cốt yếu của những vấn đề mà nhân loại đang phải đối diện. Do đó, tôi nhấn mạnh đến nhu cầu phải đối mặt với vấn đề, phải suy nghĩ minh bạch và thông tuệ về những gì đang diễn ra quanh bạn, và phải có hành động đúng đắn và hợp tác. Toàn bộ vấn đề thế giới sẽ được làm sáng tỏ [219] và sự chấm dứt xung đột sẽ đạt đến nhanh hơn khi chỉ còn hai phe chứ không phải ba. Việc nhận ra tính nhị nguyên nền tảng này là điều cần thiết trước khi tâm thức của nhân loại được chuyển khỏi mối bận tâm chủ yếu của mình—ham muốn vật chất chiếm hữu, được giành lấy một cách hung hăng—để đi vào tâm thức linh hồn, với những tương quan của nó, những lợi ích nhóm, việc đáp ứng nhu cầu nhóm, và sự vận hành của một sự hợp tác nhóm bền vững trên quy mô thế giới. Điều này đúng với cá nhân, với các quốc gia và với các nhân loại; khi bạn, với tư cách một cá nhân, giải quyết vấn đề riêng của mình trong đời sống hằng ngày, bạn đang giúp giải quyết vấn đề thế giới.
This is the situation as the Hierarchy sees it today and with which it challenges all men and women of goodwill. They ask you to share in the conflict in some way, and remind you of the occult significance of those oft misunderstood words of Christ, “He that is not with me, is against me.”
Đó là tình hình như Thánh Đoàn nhìn thấy ngày nay và là điều mà Thánh Đoàn dùng để thách thức tất cả những người nam và nữ thiện chí. Các Ngài yêu cầu bạn tham gia vào cuộc xung đột theo một cách nào đó, và nhắc bạn về thâm nghĩa huyền bí của những lời thường bị hiểu lầm ấy của Đức Christ: “Ai không ở với ta là chống lại ta.”
In closing these remarks upon clear thinking I would add two more. There is some confusion arising out of the basic idealism which underlies the activities of many people in many countries. It is the importance of the somewhat new ideal of the good of the state as a whole versus the good of the individual and the good of humanity. The state becomes almost a divine entity in the consciousness of the idealist. This is necessarily part of the evolutionary plan, but in so far as it constitutes a problem, is too big for the individual to solve alone and unaided. Of one fundamental truth I can, however, assure you. When men everywhere—within the boundaries of their particular state and whilst upholding its authority and its civilisation—begin to think in terms of mankind, then public opinion will become so potent and so right in its inclusiveness that state policies must inevitably conform to the larger ideal, and the sacrifice of the individual and of humanity in large numbers to the individual state will no longer be possible. The part will be seen in its proper relation to the larger whole. It is this arousing of public opinion to world rights, to inclusive human interests and to international cooperation that is the true goal of all present spiritual endeavour. Eventually it will be [220] realised that the responsibility for what governments do rests squarely upon the shoulders of the individual citizens who put governments in their position of power. This is a responsibility from which no citizens of any nation are or should be exempt, and to this all national thinking of the right kind is fortunately awakening.
Để kết thúc những nhận xét này về tư duy minh bạch, tôi muốn thêm hai điều nữa. Có một sự lẫn lộn phát sinh từ chủ nghĩa lý tưởng căn bản nằm dưới các hoạt động của nhiều người ở nhiều quốc gia. Đó là tầm quan trọng của lý tưởng phần nào mới mẻ về lợi ích của toàn thể quốc gia đối lập với lợi ích của cá nhân và lợi ích của nhân loại. Quốc gia gần như trở thành một thực thể thiêng liêng trong tâm thức của người theo lý tưởng. Điều này tất yếu là một phần của Thiên Cơ tiến hoá, nhưng trong chừng mực nó cấu thành một vấn đề, thì nó quá lớn để cá nhân có thể tự mình giải quyết mà không được trợ giúp. Tuy nhiên, về một chân lý nền tảng, tôi có thể bảo đảm với bạn. Khi con người ở khắp nơi—trong ranh giới của quốc gia riêng mình và trong khi vẫn duy trì thẩm quyền cùng nền văn minh của quốc gia ấy—bắt đầu suy nghĩ theo nhân loại, thì công luận sẽ trở nên mạnh mẽ và đúng đắn trong tính bao gồm của nó đến mức các chính sách quốc gia tất yếu phải phù hợp với lý tưởng lớn hơn, và sự hi sinh cá nhân cùng nhân loại với số lượng lớn cho quốc gia cá biệt sẽ không còn có thể nữa. Bộ phận sẽ được nhìn thấy trong mối liên hệ đúng đắn của nó với toàn thể lớn hơn. Chính việc khơi dậy công luận hướng đến các quyền lợi thế giới, các lợi ích nhân loại bao gồm và sự hợp tác quốc tế mới là mục tiêu đích thực của mọi nỗ lực tinh thần hiện nay. Cuối cùng người ta sẽ [220] chứng nghiệm rằng trách nhiệm đối với những gì các chính phủ làm nằm trực tiếp trên vai những công dân cá nhân đã đặt chính phủ vào vị trí quyền lực của họ. Đây là một trách nhiệm mà không công dân nào của bất kỳ quốc gia nào được hay nên được miễn trừ, và may mắn thay, mọi tư duy quốc gia đúng đắn hiện đang thức tỉnh đối với điều này.
The second point I would briefly add is that, with the precipitation of the present world situation, the citizens of all nations are involved in a condition from which there is no escape except through right action and wide vision on their part; to this world situation they must conform their lives temporarily, patterning their activities upon the needs of their own particular nation. For those who are swept into the world conflict under one or other of the clearly defined banners, their immediate action is clear—participation in the national emergency. This is, however, wholly compatible with a subjective process of right and clear thinking, which must run parallel to the demanded outer activity and which will lay a foundation for the increasingly right action as time elapses. This will involve right action on the part of those who are fighting under the Forces of Light, and will lead to an eventual right and just peace; it will involve also right action upon the part of those who have been swept into a bewildered activity under the Forces of Materialism, leading finally to a revolt against that which is wrong and evil—for the hearts of all men and the springs of the divine life are not to be permanently directed into wrong channels of activity. The responsibility for the immediate world moves and the present gigantic national enterprises is now out of the hands and the control of the individual; the responsibility for the future, nevertheless, still lies in his hands. This shouldering of right responsibility must be preceded, however, by an interlude of clear thinking plus right action as a citizen.
Điểm thứ hai tôi muốn vắn tắt thêm vào là, với sự ngưng tụ của tình hình thế giới hiện nay, công dân của mọi quốc gia đều bị cuốn vào một tình trạng không có lối thoát ngoại trừ qua hành động đúng đắn và tầm nhìn rộng lớn từ phía họ; họ phải tạm thời điều chỉnh đời sống mình theo tình hình thế giới này, định hình các hoạt động của mình theo nhu cầu của quốc gia riêng biệt của họ. Đối với những ai bị cuốn vào cuộc xung đột thế giới dưới một trong hai ngọn cờ được xác định rõ ràng, hành động trước mắt của họ là rõ ràng—tham gia vào tình trạng khẩn cấp của quốc gia. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn tương hợp với một tiến trình chủ quan của tư duy đúng đắn và minh bạch, vốn phải song hành với hoạt động bên ngoài được đòi hỏi và sẽ đặt nền móng cho hành động ngày càng đúng đắn hơn khi thời gian trôi qua. Điều này sẽ bao hàm hành động đúng đắn từ phía những người đang chiến đấu dưới Các Mãnh Lực Ánh Sáng, và sẽ dẫn đến một nền hòa bình cuối cùng đúng đắn và công bằng; nó cũng sẽ bao hàm hành động đúng đắn từ phía những người đã bị cuốn vào một hoạt động hoang mang dưới Các Mãnh Lực Duy Vật, cuối cùng dẫn đến một cuộc nổi dậy chống lại điều sai trái và xấu ác—vì trái tim của mọi người và các nguồn mạch của sự sống thiêng liêng không thể bị dẫn dắt vĩnh viễn vào những kênh hoạt động sai lạc. Trách nhiệm đối với những chuyển động tức thời của thế giới và những công cuộc quốc gia khổng lồ hiện nay giờ đây đã vượt khỏi tay và sự kiểm soát của cá nhân; tuy nhiên, trách nhiệm đối với tương lai vẫn còn nằm trong tay y. Tuy nhiên, việc gánh vác trách nhiệm đúng đắn này phải được đi trước bởi một giai đoạn xen kẽ của tư duy minh bạch cộng với hành động đúng đắn với tư cách công dân.
The problem of those living in neutral countries is different, and along what lines it should be solved I have earlier indicated.
Vấn đề của những người sống ở các quốc gia trung lập thì khác, và tôi đã chỉ ra trước đây rằng nó nên được giải quyết theo những đường hướng nào.
[221] As for the world disciples and aspirants (among whom you range yourselves), the entire problem can be seen along still wider and more comprehensive lines. You are forced by circumstance and karma, and by the free decision of your souls, to work under one or other of the two banners or in some one of the neutral and negative countries. Your problem in all three cases is to see clearly the spiritual focus of this world crisis, to swing the weight of any influence you may have—objective or subjective, spiritual, emotional or mental—on to the side of the Forces of Light. As you do so, you must preserve an understanding attitude of steadfast love (not sentiment or emotional reaction) to men and women everywhere, without any exception or reservations in your consciousness. That action has to be taken, at times, which hurts or damages the form side of life or the physical forms, is entirely compatible with the constant preservation of soul love—a thing which it is hard for the disciple to learn and master, but which is nevertheless a governing principle in evolution. This world crisis and the present world war will, it is hoped, awaken men to the realisation that the form side of manifestation, with its aggressive selfishness, its cruel emphases and its separative tendencies, carries inevitably with it the seeds of its own eventual elimination and the unavoidable results of pain, suffering, war, disease and death. This situation is therefore of man’s own making and the result of his material nature and lack of soul control. But—the soul is eternal; its nature is inclusive love; and the whole aim of the present crisis is to shift the focus of human awareness out of the form and the material aspect of living, into the consciousness of the soul, and to do this at any cost to the hindering forms. It is against this transference of emphasis that the Forces of Materialism are today fighting.
[221] Còn đối với các đệ tử và người chí nguyện thế giới (trong số đó các bạn tự xếp mình vào), toàn bộ vấn đề có thể được nhìn thấy theo những đường hướng còn rộng lớn và bao quát hơn nữa. Các bạn bị hoàn cảnh và nghiệp quả, cũng như bởi quyết định tự do của linh hồn mình, buộc phải hoạt động dưới một trong hai ngọn cờ ấy hoặc trong một trong những quốc gia trung lập và tiêu cực. Vấn đề của các bạn trong cả ba trường hợp là phải thấy rõ tiêu điểm tinh thần của cuộc khủng hoảng thế giới này, phải dồn sức nặng của bất kỳ ảnh hưởng nào mà các bạn có thể có—khách quan hay chủ quan, tinh thần, cảm xúc hay trí tuệ—về phía Các Mãnh Lực Ánh Sáng. Khi làm như vậy, các bạn phải giữ một thái độ thấu hiểu của tình thương kiên định (không phải tình cảm hay phản ứng cảm xúc) đối với những người nam và nữ ở khắp nơi, không có bất kỳ ngoại lệ hay dè dặt nào trong tâm thức của mình. Hành động đôi khi phải được thực hiện, hành động làm tổn thương hay gây thiệt hại cho mặt hình tướng của sự sống hoặc cho các hình thể hồng trần, hoàn toàn tương hợp với việc luôn luôn duy trì tình thương của linh hồn—một điều mà đệ tử khó học và làm chủ, nhưng dẫu vậy vẫn là một nguyên lý chi phối trong tiến hoá. Cuộc khủng hoảng thế giới này và cuộc chiến tranh thế giới hiện nay, hy vọng rằng, sẽ đánh thức con người đến chỗ chứng nghiệm rằng mặt hình tướng của biểu hiện, với tính ích kỷ hung hăng, những nhấn mạnh tàn nhẫn và những khuynh hướng chia rẽ của nó, tất yếu mang theo trong chính nó những hạt giống của sự loại bỏ cuối cùng của nó cùng những kết quả không thể tránh khỏi là đau đớn, khổ đau, chiến tranh, bệnh tật và cái chết. Vì vậy, tình trạng này là do chính con người tạo ra và là kết quả của bản chất vật chất của y cùng sự thiếu kiểm soát của linh hồn. Nhưng—linh hồn là vĩnh cửu; bản chất của nó là tình thương bao gồm; và toàn bộ mục tiêu của cuộc khủng hoảng hiện nay là chuyển tiêu điểm nhận biết của con người ra khỏi hình tướng và phương diện vật chất của đời sống, đi vào tâm thức của linh hồn, và làm điều này với bất cứ giá nào đối với những hình tướng cản trở. Chính chống lại sự chuyển dịch nhấn mạnh này mà Các Mãnh Lực Duy Vật ngày nay đang chiến đấu.
For this reason, humanity is swept into a vortex of conflict, and the issue depends upon the clear thinking, wise speech and selfless intent of the world disciples, working in collaboration with all the forces for good in the world today, doing their duty as citizens of their own country but cultivating ceaselessly and unrelentingly a world-consciousness.
Vì lý do này, nhân loại bị cuốn vào một vòng xoáy xung đột, và kết quả tùy thuộc vào tư duy minh bạch, lời nói khôn ngoan và ý hướng vô ngã của các đệ tử thế giới, đang làm việc cộng tác với mọi mãnh lực thiện trong thế giới ngày nay, làm tròn bổn phận của mình với tư cách công dân của đất nước mình nhưng không ngừng và không khoan nhượng nuôi dưỡng một tâm thức thế giới.
[222] Let me now enlarge somewhat upon the possibility of divine intervention.
[222] Giờ đây, hãy để tôi khai triển thêm đôi chút về khả năng can thiệp thiêng liêng.
Hovering today within the aura of our planet are certain great spiritual Forces and Entities, awaiting the opportunity to participate actively in the work of world redemption, re-adjustment and reconstruction. Their Presence is sensed at times by the spiritually-minded people of the world, and Their reality is recognised by the mystics and occultists working in every land. Men and women express this recognition according to the trend of their religious and psychological training and their particular mental or emotional bias. The advent of Christ, or His “second coming,” is anxiously anticipated by many orthodox Christians, who regard this world war as indicating the end of the world and as preparatory to the appearance of the Christ, to bring peace on earth. Others, more orientally minded, await the appearance of an Avatar Who will transmit from God the needed world message or new type of energy. Prophecy and astrology indicate a Coming One and their many differing opinions seem to converge on Him; occultists invoke everywhere the Forces of Light and call for the appearance of that extra-planetary Potency to Whom they give the title, “Spirit of Peace.” Those with no religious or metaphysical bias recognise, however, that all times of emergency seem ever to evoke some Liberator or some man or group of men who are capable of changing world affairs and inaugurating—under the stress and strain of the times—the new and needed fresh cycle of civilisation and culture. Many refrain from specification of the requirements of such a Coming One today, because of the magnitude and planetary nature of His task, but they secretly hope and pray for His appearing. Still others regard such an idea and hope as simply a psychological fulfilment and the embodiment of the wish-life of the people—this time of humanity as a whole, for the first time in racial history. Such people are apt to feel that this embodiment has no true substance or place in the life of mankind, but wish that it had. They forget that when a thoughtform has been constructed of sufficient potency and [223] has been built over a long period of time by the people of the world, a further and final stage becomes ever possible. The form can be rendered so magnetic that it can attract an Energy which will inform it and give it active potency; it can then become a vital link between the subjective world of energy and the objective world of forces and a thing of power, of impelling and guiding activity, and therefore the expression of a Life. This thoughtform, duly informed, becomes a mediating factor, constructed by humanity but animated by the will-to-good of some great and spiritual Entity. That thoughtforms, embodying evil lives can be and are constructed is equally true, but with these we are not at this time dealing.
Đang lơ lửng ngày nay trong hào quang của hành tinh chúng ta là một số Mãnh Lực và Thực Thể tinh thần vĩ đại, đang chờ cơ hội để tham gia tích cực vào công việc cứu chuộc, tái điều chỉnh và tái thiết thế giới. Sự Hiện Diện của Các Ngài đôi khi được cảm nhận bởi những người có tinh thần trong thế giới, và thực tại của Các Ngài được các nhà thần bí và các nhà huyền bí học đang hoạt động ở mọi xứ sở nhận biết. Những người nam và nữ diễn đạt sự nhận biết này tùy theo xu hướng của sự huấn luyện tôn giáo và tâm lý của họ cùng thiên hướng trí tuệ hay cảm xúc riêng biệt của họ. Sự giáng lâm của Đức Christ, hay “sự tái lâm” của Ngài, đang được nhiều tín đồ Cơ Đốc chính thống nóng lòng mong đợi; họ xem cuộc chiến tranh thế giới này như dấu hiệu của ngày tận thế và như sự chuẩn bị cho sự xuất hiện của Đức Christ để mang hòa bình đến trần gian. Những người khác, có khuynh hướng phương Đông hơn, chờ đợi sự xuất hiện của một Đấng Hoá Thân, Đấng sẽ truyền đạt từ Thượng đế thông điệp thế giới cần thiết hay một loại năng lượng mới. Lời tiên tri và chiêm tinh học đều chỉ ra một Đấng Đang Đến và nhiều ý kiến khác nhau của họ dường như hội tụ nơi Ngài; các nhà huyền bí học ở khắp nơi khẩn cầu Các Mãnh Lực Ánh Sáng và kêu gọi sự xuất hiện của Mãnh Lực ngoài hành tinh mà họ gọi là “Đấng Tinh thần Hòa Bình.” Tuy nhiên, những người không có thiên hướng tôn giáo hay siêu hình học vẫn nhận ra rằng mọi thời kỳ khẩn cấp dường như luôn gợi lên một Đấng Giải Cứu nào đó hoặc một người hay một nhóm người có khả năng thay đổi tình hình thế giới và khai mở—dưới áp lực và căng thẳng của thời đại—chu kỳ mới mẻ và cần thiết của văn minh và văn hóa. Nhiều người tránh xác định cụ thể những đòi hỏi đối với một Đấng Đang Đến như thế ngày nay, vì tầm vóc và tính chất hành tinh của nhiệm vụ của Ngài, nhưng họ âm thầm hy vọng và cầu nguyện cho sự xuất hiện của Ngài. Những người khác nữa xem ý tưởng và hy vọng như thế chỉ đơn giản là một sự hoàn thành tâm lý và là hiện thân của đời sống ước muốn của con người—lần này là của toàn thể nhân loại, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Những người như vậy có khuynh hướng cảm thấy rằng hiện thân này không có chất liệu thực sự hay chỗ đứng nào trong đời sống nhân loại, nhưng lại mong rằng nó có. Họ quên rằng khi một Hình tư tưởng đã được kiến tạo với đủ tiềm lực và [223] đã được xây dựng trong một thời gian dài bởi con người trên thế giới, thì một giai đoạn xa hơn và cuối cùng luôn luôn trở nên khả hữu. Hình thể có thể được làm cho có từ tính đến mức nó có thể thu hút một Năng Lượng sẽ thấm nhuần nó và ban cho nó tiềm lực hoạt động; khi đó nó có thể trở thành một mối liên kết sống động giữa thế giới chủ quan của năng lượng và thế giới khách quan của các mãnh lực, và là một điều đầy quyền năng, đầy hoạt động thúc đẩy và hướng dẫn, và do đó là biểu hiện của một Sự Sống. Hình tư tưởng này, khi được thấm nhuần đúng cách, trở thành một yếu tố trung gian, do nhân loại kiến tạo nhưng được linh hoạt hóa bởi Ý Chí-hướng Thiện của một Thực Thể tinh thần vĩ đại nào đó. Việc các hình tư tưởng, hiện thân cho những sự sống xấu ác, có thể được và thực sự đang được kiến tạo cũng đúng như vậy, nhưng hiện nay chúng ta không bàn đến những điều đó.
We come now to the significant point of what I have to say today in this connection.
Giờ đây chúng ta đi đến điểm quan trọng trong điều tôi phải nói hôm nay liên quan đến vấn đề này.
A great and vital thoughtform is in process of construction upon our planet and within our planetary aura. It is being built by the power of sound, by the magnetic pull of invocation leading to eventual evocation, and by the force of desire-substance, animated by the power of thought. It is being constructed by the united efforts of the Hierarchy, of the world disciples and aspirants, of the men and women of goodwill in all nations, and also through the inchoate longings of men everywhere, of all religious beliefs, political views and group loyalties. It is safely anchored upon the physical plane, is of vast proportions upon the astral or emotional plane, but lacks vitality and power upon the mental plane. It is here, within the realm of thought substance, that the weakness of the structure of this thoughtform becomes apparent. It is already potent spiritually, owing to the scientific work of the occult Hierarchy and Their trained helpers. This spiritual life relates the thoughtform to the waiting extra-planetary Forces and can make Their work possible and effective. It is potent physically and emotionally through the work of the lovers of humanity, the well-meaning efforts of the emotionally oriented people and the agonised longings of the masses, who [224] hate war, desire quiet, and demand peace and good living conditions.
Một hình tư tưởng lớn lao và sống động đang trong tiến trình được kiến tạo trên hành tinh chúng ta và trong hào quang hành tinh của chúng ta. Nó đang được xây dựng bằng quyền năng của âm thanh, bằng sức hút từ tính của sự khẩn cầu dẫn đến sự gợi lên cuối cùng, và bằng mãnh lực của chất liệu ham muốn, được linh hoạt hóa bởi quyền năng của tư tưởng. Nó đang được kiến tạo bởi những nỗ lực hợp nhất của Thánh Đoàn, của các đệ tử và người chí nguyện thế giới, của những người nam và nữ thiện chí trong mọi quốc gia, và cũng qua những khát vọng còn mơ hồ của con người ở khắp nơi, thuộc mọi tín ngưỡng tôn giáo, quan điểm chính trị và lòng trung thành nhóm. Nó được neo giữ vững chắc trên cõi hồng trần, có quy mô to lớn trên cõi cảm dục hay cảm xúc, nhưng lại thiếu sinh lực và quyền năng trên cõi trí. Chính ở đây, trong lĩnh vực của chất liệu tư tưởng, mà sự yếu kém trong cấu trúc của hình tư tưởng này trở nên hiển nhiên. Nó đã mạnh mẽ về mặt tinh thần, nhờ công việc khoa học của Thánh Đoàn huyền bí và các trợ thủ được huấn luyện của Các Ngài. Sự sống tinh thần này liên hệ hình tư tưởng với các Mãnh Lực ngoài hành tinh đang chờ đợi và có thể làm cho công việc của Các Ngài trở nên khả thi và hữu hiệu. Nó mạnh mẽ về mặt hồng trần và cảm xúc nhờ công việc của những người yêu thương nhân loại, những nỗ lực thiện chí của những người phân cực cảm xúc và những khát vọng đau đớn của quần chúng, những người [224] ghét chiến tranh, mong muốn yên ổn, và đòi hỏi hòa bình cùng điều kiện sống tốt đẹp.
There is, however, a gap or hiatus upon the mental plane, for the minds of men are not functioning correctly. The disciples and world aspirants are not thinking with clarity, nor are they working in unity. They are evading issues or are thinking separatively or nationally or fanatically; they are not convinced of the potency of invocation or of prayer; they are failing to realise that it is possible to work ardently for those conditions which will lead to peace, and yet fight simultaneously so that those conditions may be available; they fail to love all men without exception in their longing to see their own loyalties emerge triumphant; they work doubtingly, hoping for the best but believing in the worst; they use the method of prayer and of invocation because such methods seem to have been successful in the past, and because they are told that “faith can move mountains,” but they feel inwardly quite hopeless and uninspired and are not at all sure what faith intrinsically is; they realise that a united front and a spirit of joyous certainty are psychological assets of well-nigh invincible potency, but they feel unable to arouse within themselves the slightest enthusiasm.
Tuy nhiên, có một khoảng trống hay gián đoạn trên cõi trí, vì trí tuệ của con người không vận hành đúng đắn. Các đệ tử và người chí nguyện thế giới không suy nghĩ một cách minh bạch, cũng không làm việc trong hợp nhất. Họ đang né tránh các vấn đề hoặc đang suy nghĩ một cách chia rẽ, theo quốc gia hoặc cuồng tín; họ không tin chắc vào tiềm lực của sự khẩn cầu hay của lời cầu nguyện; họ không nhận ra rằng có thể vừa nhiệt thành làm việc cho những điều kiện sẽ dẫn đến hòa bình, vừa đồng thời chiến đấu để những điều kiện ấy có thể trở nên khả dụng; họ không yêu thương mọi người không ngoại lệ trong khát vọng thấy những lòng trung thành riêng của mình chiến thắng; họ làm việc trong nghi ngờ, hy vọng điều tốt nhất nhưng lại tin vào điều tệ nhất; họ dùng phương pháp cầu nguyện và khẩn cầu vì những phương pháp ấy dường như đã thành công trong quá khứ, và vì họ được bảo rằng “đức tin có thể dời núi,” nhưng bên trong họ cảm thấy hoàn toàn vô vọng và không được cảm hứng, và hoàn toàn không chắc đức tin tự thân thực sự là gì; họ nhận ra rằng một mặt trận hợp nhất và một tinh thần xác tín hoan hỉ là những tài sản tâm lý có tiềm lực gần như bất khả chiến bại, nhưng họ cảm thấy không thể khơi dậy trong chính mình dù chỉ một chút nhiệt tình.
It is this negative and lukewarm attitude, this mental uncertainty and this failure to link up the spiritual and the physical worlds in a positive relationship which is holding back the Forces of Light and the actual presence of the Spirit of Peace, and thus negativing a possible divine intervention. It is the test of group work. The faith of many individuals is real and deep, but they stand alone; the knowledge that the few have of the nature of the waiting Forces of intervention is being negated by the faithlessness of the world disciples and aspirants, weighed down by world karma, by their own physical fatigue and by their horror of the present situation, plus the difficulties of individual circumstance.
Chính thái độ tiêu cực và hờ hững này, sự bất định trí tuệ này và sự thất bại trong việc nối kết thế giới tinh thần với thế giới hồng trần trong một mối liên hệ tích cực đang cản trở Các Mãnh Lực Ánh Sáng và sự hiện diện thực sự của Đấng Tinh thần Hòa Bình, và do đó phủ định một sự can thiệp thiêng liêng khả hữu. Đây là phép thử của công việc nhóm. Đức tin của nhiều cá nhân là chân thật và sâu sắc, nhưng họ đứng riêng lẻ; tri thức mà số ít người có về bản chất của các Mãnh Lực can thiệp đang chờ đợi đang bị phủ định bởi sự thiếu đức tin của các đệ tử và người chí nguyện thế giới, bị đè nặng bởi nghiệp quả thế giới, bởi sự mệt mỏi hồng trần của chính họ và bởi nỗi kinh hoàng của họ trước tình hình hiện nay, cộng thêm những khó khăn của hoàn cảnh cá nhân.
The problem can be most simply stated. Either the spiritual Hierarchy exists, with all its potencies of love, wisdom and skill in action, or for ages humanity has suffered [225] from hallucinations; either Christ and His group of Masters, initiates and disciples are facts in the natural processes of evolution, historically proven and known through Their spiritual activity down the ages, or men have been victims during those ages of a gigantic fraud—emanating from what and where? Either the consistency of the evolving presentation of the spiritual effort of the Hierarchy is a witness to a great reality or mankind has developed a mentality which is an instrument for the fabrication of non-existent facts, and this is in itself so paradoxical as to give the lie to the inference. Either the spiritual worlds and the three worlds of human endeavour can be related, or there is nothing to past beliefs, to ancient stories of manifesting divinity and to the constantly recurring periods of divine intervention.
Vấn đề có thể được phát biểu một cách đơn giản nhất. Hoặc là Thánh Đoàn tinh thần hiện hữu, với tất cả các tiềm lực của tình thương, minh triết và kỹ năng trong hành động của nó, hoặc là từ bao thời đại nhân loại đã phải chịu [225] những ảo giác; hoặc là Đức Christ và nhóm Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử của Ngài là những sự kiện trong các tiến trình tự nhiên của tiến hoá, được lịch sử chứng minh và được biết đến qua hoạt động tinh thần của Các Ngài suốt các thời đại, hoặc là con người trong suốt những thời đại ấy đã là nạn nhân của một sự lừa dối khổng lồ—phát xuất từ cái gì và từ đâu? Hoặc là tính nhất quán của sự trình bày đang tiến hoá về nỗ lực tinh thần của Thánh Đoàn là bằng chứng cho một thực tại vĩ đại, hoặc là nhân loại đã phát triển một trí tuệ vốn là công cụ để bịa đặt ra những sự kiện không hiện hữu, và điều này tự nó nghịch lý đến mức bác bỏ chính suy luận ấy. Hoặc là các thế giới tinh thần và ba cõi giới của nỗ lực nhân loại có thể được liên hệ, hoặc là không có gì đúng trong các niềm tin quá khứ, trong những câu chuyện cổ xưa về thiên tính biểu hiện và trong những thời kỳ can thiệp thiêng liêng liên tục tái diễn.
I would here face you with these alternatives and would ask you to consider your own position in these matters. Does the story of Easter and of the living Christ carry no truth, and is it not possible for that Risen Christ to express His power on Earth through His chosen instruments? Is there no foundation for the myth of the annual return of the Buddha, holding the door open between Shamballa and the Hierarchy so that, at need, intervention may be possible through that open door? Is it only a silly dream and a fantasy that at the time of the June Full Moon, Christ—in the closest cooperation with the Buddha—links the Hierarchy with Humanity? Is it quite impossible that when humanity awakens to the fact of this mediatorship and can then avail itself of the straight line of ascent and descent through the doors held open by the Buddha and the Christ, some stupendous appearing may be imminent and suddenly take place? May it not be possible that through the ascent of man’s aspiration and spiritual desire, and through the descent of the waiting Potencies, certain great changes may take place, for which all the past has been only preparatory and through which the Aquarian Age of brotherhood and understanding may make itself felt by virtue of these great Potencies?
Ở đây tôi muốn đặt các bạn trước những lựa chọn này và yêu cầu các bạn xem xét vị trí riêng của mình trong những vấn đề ấy. Câu chuyện về Lễ Phục Sinh và về Đức Christ hằng sống không mang chân lý nào sao, và chẳng lẽ Đấng Christ Phục Sinh ấy không thể biểu lộ quyền năng của Ngài trên Trái Đất qua những công cụ được Ngài chọn sao? Không có nền tảng nào cho huyền thoại về sự trở lại hằng năm của Đức Phật, Đấng giữ cánh cửa mở giữa Shamballa và Thánh Đoàn để, khi cần, sự can thiệp có thể trở nên khả hữu qua cánh cửa mở ấy sao? Có phải chỉ là một giấc mơ ngớ ngẩn và một điều huyễn tưởng rằng vào lúc Trăng Tròn tháng Sáu, Đức Christ—trong sự hợp tác mật thiết nhất với Đức Phật—liên kết Thánh Đoàn với Nhân Loại? Có hoàn toàn bất khả rằng khi nhân loại thức tỉnh trước sự kiện về vai trò trung gian này và khi đó có thể tận dụng đường thẳng đi lên và đi xuống qua những cánh cửa được Đức Phật và Đức Christ giữ mở, thì một sự xuất hiện kỳ vĩ nào đó có thể đang cận kề và đột ngột xảy ra? Chẳng lẽ không thể có khả năng rằng qua sự đi lên của khát vọng và ham muốn tinh thần của con người, và qua sự đi xuống của các Mãnh Lực đang chờ đợi, một số thay đổi lớn lao có thể diễn ra, mà toàn bộ quá khứ chỉ mới là sự chuẩn bị, và nhờ đó Kỷ Nguyên Bảo Bình của tình huynh đệ và thấu hiểu có thể tự biểu lộ nhờ các Mãnh Lực vĩ đại ấy?
The two Full Moons of May and June present to you [226] a new opportunity to participate in the release of the planetary Life from the thraldom of the Forces of Materialism. If you are to do your share in this work of salvage, it will necessitate certain attitudes and activities on your part which I would like briefly to touch upon, leaving you to take right and appropriate action and to follow, with all other disciples and aspirants, the indicated stages:
Hai kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu trao cho các bạn [226] một cơ hội mới để tham gia vào việc giải phóng Sự sống hành tinh khỏi ách nô lệ của Các Mãnh Lực Duy Vật. Nếu các bạn muốn góp phần của mình vào công việc cứu vãn này, điều đó sẽ đòi hỏi nơi các bạn những thái độ và hoạt động nhất định mà tôi muốn vắn tắt đề cập, để các bạn tự mình có hành động đúng đắn và thích hợp, và cùng với mọi đệ tử và người chí nguyện khác đi theo các giai đoạn đã được chỉ ra:
1. Study with care and answer with sincerity and to your own complete satisfaction the questions I put to you earlier in this communication. When you have done this, you will know where you personally stand.
1. Hãy nghiên cứu cẩn thận và trả lời một cách chân thành, sao cho chính bạn hoàn toàn thỏa đáng, những câu hỏi tôi đã đặt ra cho bạn trước đó trong thông điệp này. Khi đã làm xong điều đó, bạn sẽ biết cá nhân mình đang đứng ở đâu.
2. For the entire week prior to the May Full Moon and the June Full Moon endeavour to do the following things:
2. Trong trọn tuần lễ trước kỳ Trăng Tròn tháng Năm và kỳ Trăng Tròn tháng Sáu, hãy cố gắng làm những điều sau:
a. Link up with all disciples, aspirants and men and women of goodwill throughout the world and in all nations, using the creative imagination.
a. Dùng sự tưởng tượng sáng tạo để liên kết với tất cả các đệ tử, người chí nguyện và những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới và trong mọi quốc gia.
b. Eliminate out of your consciousness all negativity, seeing yourself clearly as ranged on the side of the Forces of Light; you are, therefore, not neutral in thought. See to it also that when taking right action in the conflict against the forces of materialism you preserve ever a spirit of love for all individuals who have been swept into the vortex of their potency.
b. Loại bỏ khỏi tâm thức của bạn mọi tính tiêu cực, thấy rõ mình đang đứng về phía Các Mãnh Lực Ánh Sáng; vì vậy, bạn không trung lập trong tư tưởng. Đồng thời cũng hãy bảo đảm rằng khi có hành động đúng đắn trong cuộc xung đột chống lại các mãnh lực duy vật, bạn luôn giữ một tinh thần tình thương đối với mọi cá nhân đã bị cuốn vào vòng xoáy tiềm lực của chúng.
c. When meditating and invoking the Forces of Light, endeavour to forget entirely all your own personal difficulties, tragedies and problems. Disciples have to learn to carry forward their work for humanity in spite of personality stresses, strains and limitations.
c. Khi tham thiền và khẩn cầu Các Mãnh Lực Ánh Sáng, hãy cố gắng quên hoàn toàn mọi khó khăn, bi kịch và vấn đề cá nhân của riêng bạn. Các đệ tử phải học cách tiếp tục công việc của mình cho nhân loại bất chấp những căng thẳng, áp lực và giới hạn của phàm ngã.
d. Prepare yourselves thus for the work of the two Full Moons, keeping your objective clearly in mind and submitting yourselves to an adequate temporary discipline.
d. Hãy chuẩn bị như thế cho công việc của hai kỳ Trăng Tròn, luôn giữ rõ mục tiêu của bạn trong tâm trí và tự đặt mình dưới một kỷ luật tạm thời thích đáng.
3. For the two days prior to the Full Moon, on the day of the Full Moon itself, and for the two succeeding days (five days) endeavour at sunrise, at noon, at five o’clock P.M., and at sunset, plus the exact time of the Full Moon in your own [227] land, to say the Great Invocation with the intent to invoke, precipitate and anchor in outer manifestation the waiting Potencies. Do this aloud when possible, and in group formation whenever feasible. It is the focussed power of your unemotional thought which will bridge the present existing gap and link more closely the two worlds of spiritual activity and of human demonstration.
3. Trong hai ngày trước Trăng Tròn, vào chính ngày Trăng Tròn, và trong hai ngày tiếp theo (năm ngày), hãy cố gắng vào lúc mặt trời mọc, giữa trưa, năm giờ chiều, và lúc mặt trời lặn, cộng thêm đúng thời điểm Trăng Tròn tại quốc gia [227] của bạn, đọc Đại Khấn Nguyện với ý hướng khẩn cầu, ngưng tụ và neo giữ trong biểu hiện bên ngoài các Mãnh Lực đang chờ đợi. Hãy làm điều này thành tiếng khi có thể, và trong đội hình nhóm bất cứ khi nào khả thi. Chính quyền năng tập trung của tư tưởng vô cảm xúc của các bạn sẽ bắt cầu qua khoảng trống hiện đang tồn tại và liên kết chặt chẽ hơn hai thế giới của hoạt động tinh thần và của sự biểu lộ nhân loại.
4. Repeat this activity for three days each and every month—the day prior to the Full Moon, the day of the Full Moon, and the succeeding day. As a preliminary exercise to these three days, you could take an earlier three days of preparation, and thus increase the effectiveness of your effort.
4. Hãy lặp lại hoạt động này trong ba ngày của mỗi tháng—ngày trước Trăng Tròn, ngày Trăng Tròn, và ngày tiếp theo. Như một bài tập chuẩn bị cho ba ngày này, các bạn có thể dành ba ngày chuẩn bị sớm hơn, và như thế gia tăng hiệu quả cho nỗ lực của mình.
Many people the world over have for years been trained to recognise two things. First, the importance of the Wesak Festival at the time of the Full Moon of May, because it not only objectively links the major Eastern religion with the major Western faith, but because it esoterically provides the key to the open door between Shamballa and the Hierarchy, between the purpose of God (still unidentified by man, owing to his relatively low stage of evolution which makes it beyond human comprehension at present) and the method of God, which is love; it provides also the link between the Buddha, temporarily embodying will-wisdom, and the Christ, embodying love-wisdom, and also between humanity, focussed in consciousness through the Christ, and the Hierarchy, focussed in consciousness through the Buddha. Owing to the stress of humanity today and the urgency of the response which that distress evokes in the Hierarchy, the synthesis of these two reactions to the world crisis can prove adequate to bring in that outside assistance which could end the conflict along right lines and bring not only relief, but illumination to the human consciousness. But again—speaking here to a representative body of aspirants and disciples—I would state that the focus and the emphasis is not yet adequate to guarantee this extra-planetary response.
Nhiều người trên khắp thế giới trong nhiều năm qua đã được huấn luyện để nhận ra hai điều. Thứ nhất, tầm quan trọng của Lễ Hội Wesak vào lúc Trăng Tròn tháng Năm, bởi vì nó không chỉ liên kết một cách khách quan tôn giáo lớn của phương Đông với đức tin lớn của phương Tây, mà còn vì về mặt huyền bí nó cung cấp chìa khóa cho cánh cửa mở giữa Shamballa và Thánh Đoàn, giữa Thiên Ý của Thượng đế (vẫn chưa được con người nhận diện, do giai đoạn tiến hoá còn tương đối thấp của y khiến điều đó hiện nay vượt ngoài sự thấu hiểu của con người) và phương pháp của Thượng đế, tức là tình thương; nó cũng cung cấp mối liên kết giữa Đức Phật, tạm thời hiện thân cho ý chí-minh triết, và Đức Christ, hiện thân cho bác ái-minh triết, và cũng giữa nhân loại, được tập trung trong tâm thức qua Đức Christ, và Thánh Đoàn, được tập trung trong tâm thức qua Đức Phật. Do áp lực của nhân loại ngày nay và tính cấp bách của sự đáp ứng mà nỗi khốn khổ ấy gợi lên trong Thánh Đoàn, sự tổng hợp của hai phản ứng này đối với cuộc khủng hoảng thế giới có thể đủ để mang đến sự trợ giúp từ bên ngoài, điều có thể chấm dứt cuộc xung đột theo những đường hướng đúng đắn và không chỉ mang lại sự cứu trợ mà còn cả sự soi sáng cho tâm thức nhân loại. Nhưng một lần nữa—nói ở đây với một tập thể đại diện của những người chí nguyện và đệ tử—tôi phải nói rằng tiêu điểm và sự nhấn mạnh vẫn chưa đủ để bảo đảm sự đáp ứng ngoài hành tinh này.
Nevertheless, it could be if, in your own life of meditation [228] and of discipline, in your speech with others and in the general tone of your intercourse with your environment, you can eliminate the negative and more selfish reactions and (for the sake of human welfare) temporarily, at least, live at your highest point of aspiration.
Tuy nhiên, điều đó có thể xảy ra nếu trong chính đời sống tham thiền [228] và kỷ luật của các bạn, trong lời nói của các bạn với người khác và trong âm điệu chung của sự giao tiếp của các bạn với môi trường xung quanh, các bạn có thể loại bỏ những phản ứng tiêu cực và ích kỷ hơn, và (vì phúc lợi của nhân loại) ít nhất là tạm thời sống ở điểm cao nhất của khát vọng mình.
Secondly, you have been trained in the belief that all the information which I have given out anent the relation of the Buddha and the Christ, and of the Hierarchy, Humanity and Shamballa, will form part of the coming new world religion and that the theme of the Great Approaches will constitute the basic fundamentals of the future spiritual teaching. This too you must have in mind, for the work you are asked to do at the coming two Full Moons, and during the less important full moons of the year, is not only related to the present emergency, but is also constructively related to the future faith of humanity. Bear this also in mind.
Thứ hai, các bạn đã được huấn luyện trong niềm tin rằng mọi thông tin tôi đã đưa ra liên quan đến mối liên hệ giữa Đức Phật và Đức Christ, và của Thánh Đoàn, Nhân Loại và Shamballa, sẽ tạo thành một phần của tôn giáo thế giới mới sắp đến và rằng chủ đề về Những Đại Tiếp Cận sẽ cấu thành những nền tảng căn bản của giáo huấn tinh thần tương lai. Điều này các bạn cũng phải ghi nhớ, vì công việc mà các bạn được yêu cầu thực hiện trong hai kỳ Trăng Tròn sắp tới, và trong những kỳ trăng tròn kém quan trọng hơn của năm, không chỉ liên hệ đến tình trạng khẩn cấp hiện nay, mà còn liên hệ một cách xây dựng đến đức tin tương lai của nhân loại. Hãy ghi nhớ điều này nữa.
You will note that what I have said concerns your mental attitudes and your emotional reactions to present world affairs. It concerns also your soul tension, your willingness to undergo soul tension, and your capacity to stand as part of the great chain of intermediaries who are today being called to the service of the race in an hour of urgency. It concerns the organising of yourself as an integrated personality in relation to your soul and to humanity; it involves the recognition of the work which you can do from the point of integration. I would ask you to ponder with care upon this paragraph, stating the possibilities of your task.
Các bạn sẽ lưu ý rằng điều tôi đã nói liên quan đến các thái độ trí tuệ và các phản ứng cảm xúc của các bạn đối với tình hình thế giới hiện nay. Nó cũng liên quan đến sự nhất tâm của linh hồn các bạn, sự sẵn lòng chịu đựng sự nhất tâm của linh hồn, và năng lực của các bạn đứng như một phần của đại chuỗi trung gian đang được kêu gọi ngày nay vào việc phụng sự nhân loại trong giờ phút khẩn cấp. Nó liên quan đến việc tổ chức chính các bạn như một Phàm ngã tích hợp trong mối liên hệ với linh hồn và với nhân loại; nó bao hàm sự nhận biết công việc mà các bạn có thể làm từ điểm tích hợp. Tôi muốn yêu cầu các bạn suy ngẫm cẩn thận về đoạn này, vì nó nêu rõ những khả năng của nhiệm vụ các bạn.
I call you to a period of clear thinking. I seek not to mould your political approach to life, but I do seek to aid you to see humanity and its welfare—not only in terms of your own nation or your own political group—but in terms of the whole, and as we, the teachers on the inner side, are forced to see it. I seek to see you free yourselves from the condition where you are swayed by propaganda of a political, national or religious kind, and deciding for yourself where you, as a soul, must stand in this world crisis and on which side you will place the emphasis of any influence you may wield; I would have you note where your highest ideals [229] will lead you and whether the springs of your life’s decisions and attitudes are truly pure and unadulterated.
Tôi kêu gọi các bạn bước vào một giai đoạn tư duy minh bạch. Tôi không tìm cách uốn nắn cách tiếp cận chính trị của các bạn đối với đời sống, nhưng tôi thực sự tìm cách giúp các bạn nhìn thấy nhân loại và phúc lợi của nó—không chỉ theo các điều kiện của quốc gia riêng hay nhóm chính trị riêng của các bạn—mà theo các điều kiện của toàn thể, và như chúng tôi, các huấn sư ở nội giới, buộc phải nhìn thấy. Tôi tìm cách giúp các bạn giải thoát mình khỏi tình trạng bị chi phối bởi tuyên truyền thuộc loại chính trị, quốc gia hay tôn giáo, và tự quyết định xem bạn, với tư cách một linh hồn, phải đứng ở đâu trong cuộc khủng hoảng thế giới này và bạn sẽ đặt sự nhấn mạnh của bất kỳ ảnh hưởng nào mình có thể vận dụng về phía nào; tôi muốn các bạn lưu ý xem những lý tưởng cao nhất của mình [229] sẽ dẫn mình đi đâu và liệu các nguồn mạch của những quyết định và thái độ trong đời sống các bạn có thực sự thuần khiết và không pha tạp hay không.
I seek to draw your attention away from the many minor issues, the many clamouring voices, and from the widespread concentration upon the unworthy pasts and the undesirable aspects of all nations (without exception), and help you to see with clarity the major dualism which underlies the present world conflict—might against right, materialism against the higher values, freedom against imprisonment, cruelty against fair dealing, liberty and safety against fear and aggression. Then, having balanced these pairs of opposites within your consciousness, decide where your loyalty, your interest and your ability to serve will be placed, and then go forward to further the ends of one or other of the two groups, at no matter what cost, but knowing where you stand and why you stand there.
Tôi tìm cách kéo sự chú ý của các bạn ra khỏi nhiều vấn đề nhỏ nhặt, nhiều tiếng nói ồn ào, và khỏi sự tập trung lan rộng vào những quá khứ không xứng đáng và những phương diện không mong muốn của mọi quốc gia (không ngoại lệ), và giúp các bạn thấy rõ tính nhị nguyên lớn lao nằm dưới cuộc xung đột thế giới hiện nay—sức mạnh chống lại lẽ phải, chủ nghĩa duy vật chống lại các giá trị cao hơn, tự do chống lại giam hãm, tàn nhẫn chống lại đối xử công bằng, tự do và an toàn chống lại sợ hãi và xâm lược. Sau đó, khi đã quân bình những cặp đối cực này trong tâm thức mình, hãy quyết định xem lòng trung thành, mối quan tâm và khả năng phụng sự của các bạn sẽ được đặt ở đâu, rồi tiến lên để thúc đẩy mục tiêu của một trong hai nhóm, bất kể giá nào, nhưng biết rõ mình đang đứng ở đâu và vì sao mình đứng ở đó.
That the will of Shamballa may be enabled to express itself through love and through the meditation of the Hierarchy, working through all disciples, aspirants and men and women of goodwill, is the earnest prayer of your fellow disciple and co-worker.
Nguyện sao ý chí của Shamballa có thể được biểu lộ qua tình thương và qua sự tham thiền của Thánh Đoàn, đang hoạt động qua mọi đệ tử, người chí nguyện và những người nam và nữ thiện chí, đó là lời cầu nguyện tha thiết của đệ tử đồng môn và người cộng tác của các bạn.
~
~
THE WORLD CRISIS TODAY—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI NGÀY NAY
June 30, 1940
Ngày 30 tháng 6 năm 1940
Events and situations change with such rapidity at this time, as humanity takes action or refrains from action (which latter course is just as determining for good or evil as is the former), that I feel again the need of writing on the world crisis, as I did last autumn, thus carrying forward my theme. I write as one who is working on the inner side today, sensing and seeing what is hidden from many of you. The exoteric outer history of events is known to all of you, and with its detail I need not deal. The action taken by the combatant nations, or withheld by the neutral nations, is also registered in your consciousness. The implications of such activity can only be truly known and appreciated by those people who today think in terms of humanity as a [230] whole, and not in terms of a particular nation, such as the good of Germany or the destiny of America. Few disciples there are at this time who can thus think synthetically or who see the vision as a whole, precipitating as that which will condition eventually the entire human family. Many there are who are awakening to the need so to do and who are finding, in their processes of readjustment, many bewildering problems. For these sincere but bewildered people, I write. I find that there is little that I can say to the provincially minded or to those with the purely parochial point of view. Their limitations of vision lie within themselves and only dire events and strenuous emergency will enable them finally to transcend the petty quibbling and quality of their lower mind, with its concrete tendency to hark back to the past and its fear to venture with faith into the future.
Các biến cố và tình huống thay đổi với tốc độ quá nhanh vào lúc này, khi nhân loại hành động hoặc không hành động (mà con đường sau này cũng có tính quyết định đối với thiện hay ác chẳng kém gì con đường trước), đến nỗi tôi lại cảm thấy cần phải viết về cuộc khủng hoảng thế giới, như tôi đã làm vào mùa thu năm ngoái, để tiếp tục chủ đề của mình. Tôi viết như một người đang hoạt động ở nội giới ngày nay, cảm nhận và thấy được những gì bị che khuất đối với nhiều bạn. Lịch sử ngoại môn bên ngoài của các biến cố thì tất cả các bạn đều biết, và tôi không cần bàn đến các chi tiết của nó. Hành động được các quốc gia tham chiến thực hiện, hoặc bị các quốc gia trung lập không thực hiện, cũng đã được ghi nhận trong tâm thức các bạn. Những hàm ý của hoạt động như thế chỉ có thể được biết và đánh giá đúng đắn bởi những người ngày nay suy nghĩ theo các điều kiện của nhân loại như một [230] toàn thể, chứ không theo các điều kiện của một quốc gia riêng biệt, như lợi ích của nước Đức hay vận mệnh của nước Mỹ. Hiện nay có rất ít đệ tử có thể suy nghĩ một cách tổng hợp như thế hoặc thấy được linh ảnh như một toàn thể, đang ngưng tụ thành điều cuối cùng sẽ tác động lên toàn bộ gia đình nhân loại. Có nhiều người đang thức tỉnh trước nhu cầu phải làm như vậy và đang gặp nhiều vấn đề rối rắm trong các tiến trình tái điều chỉnh của mình. Chính cho những người chân thành nhưng hoang mang ấy mà tôi viết. Tôi thấy rằng tôi có rất ít điều để nói với những người có đầu óc địa phương hoặc với những người có quan điểm hoàn toàn cục bộ. Những giới hạn về tầm nhìn của họ nằm trong chính họ, và chỉ những biến cố nghiêm trọng cùng tình trạng khẩn cấp căng thẳng mới có thể cuối cùng giúp họ vượt qua sự cãi vã vụn vặt và phẩm tính của hạ trí họ, với khuynh hướng cụ thể luôn ngoái nhìn về quá khứ và nỗi sợ không dám mạo hiểm bước vào tương lai với đức tin.
I have been interested in the response to my earlier article, written in April, 1940. The majority of those whom I sought to reach and with whom I have communicated for many years accepted my premises without much questioning but refrained from positive action or the use of any influence. A few resented the implications of the existent divisions between the Forces of Light (focussed through the allied nations) and the Forces of Aggression (focussed through Germany). They embody a true, but erroneously interpreted, idea of human unity. They fail to understand that—as the New Age is ushered in—there must inevitably come a judgment day (speaking symbolically) and the emergence of a clear line of demarcation between that which is new and that which is of the old age; there must appear the distinction between exoteric happenings and esoteric attitudes and between those who see a new world order, developed and brought to functioning activity by the Forces of Light, through cooperation, coordination and understanding, and a world order which will be imposed by terror, through dictatorial government, by the suppression of liberty of conscience, and by the enthronement of a race whose values are, at this time, anti-spiritual and anti-social. This judgment day is now upon humanity, and the final decision will be [231] arrived at by those whose normal inclinations and natural tendencies are on the side of law and order, and whose will-to-good is directed towards right human relations and true human welfare. These enlightened people will back their judgment with a focussed will to bring in the era wherein these values will dominate, and they are also willing to take the necessary measures to make these values possible.
Tôi đã quan tâm đến phản ứng đối với bài viết trước của tôi, được viết vào tháng Tư năm 1940. Đa số những người mà tôi tìm cách tiếp cận và với những người tôi đã liên lạc trong nhiều năm đã chấp nhận các tiền đề của tôi mà không chất vấn nhiều, nhưng lại không có hành động tích cực hay sử dụng bất kỳ ảnh hưởng nào. Một số ít phẫn nộ trước những hàm ý của sự phân chia hiện hữu giữa Các Mãnh Lực Ánh Sáng (được tập trung qua các quốc gia đồng minh) và Các Mãnh Lực Xâm Lược (được tập trung qua nước Đức). Họ hiện thân cho một ý tưởng chân thật, nhưng bị diễn giải sai, về sự hợp nhất của nhân loại. Họ không hiểu rằng—khi Kỷ Nguyên Mới được khai mở—ắt phải có một ngày phán xét (nói theo biểu tượng) và sự xuất hiện của một đường ranh giới phân định rõ ràng giữa điều gì là mới và điều gì thuộc về thời đại cũ; phải xuất hiện sự phân biệt giữa những biến cố ngoại môn và những thái độ nội môn, và giữa những người nhìn thấy một trật tự thế giới mới, được phát triển và đưa vào hoạt động bởi Các Mãnh Lực Ánh Sáng qua hợp tác, phối hợp và thấu hiểu, với một trật tự thế giới sẽ bị áp đặt bằng khủng bố, qua chính quyền độc tài, bằng sự đàn áp tự do lương tâm, và bằng việc tôn lên ngai vàng một chủng tộc mà các giá trị của nó, vào lúc này, là phản tinh thần và phản xã hội. Ngày phán xét này hiện đang ở trên nhân loại, và quyết định cuối cùng sẽ [231] được đưa ra bởi những người mà khuynh hướng bình thường và xu hướng tự nhiên đứng về phía luật pháp và trật tự, và có Ý Chí-hướng Thiện hướng đến những tương quan nhân loại đúng đắn và phúc lợi nhân loại chân chính. Những người được soi sáng này sẽ hậu thuẫn phán đoán của mình bằng một ý chí tập trung nhằm mang đến kỷ nguyên trong đó các giá trị ấy sẽ chi phối, và họ cũng sẵn lòng thực hiện những biện pháp cần thiết để làm cho các giá trị ấy trở nên khả hữu.
I would like to deal openly and frankly with the problems with which you are being confronted when you face the world as it is today and the world as it may be tomorrow—a world whose fate is still unsettled. I would present possibilities with a definite application to the reactions of such empires as those of Great Britain, France and Holland, and with indication as to how the United States of America should be expected to respond. I write as one who represents the Hierarchy, as a member of a certain standing in its ranks, and as one also who works day and night for the success of those nations in the human family who, with their backs to a wall of misunderstanding, vilification and dislike, are strenuously opposing Germany and her satellite, Italy. I refer to that group of Allies who today stand with their purpose focussed in Great Britain, driven there by the trend of events. I do this because the basic hope of right human relations, of true and lasting peace, of liberty of conscience and of free and happy homes rests upon their triumphing; they are, at this time, the point of positive attack by the Forces of Evil. It is not possible for us as yet to reach the soul of the German people within that unhappy land, so complete is the glamour under which they are labouring. The day will come when again they will be reached, and this responsibility rests upon those Germans who remain free from glamour in other lands; it will come when the forces acting through the medium of a band of evil-intentioned men have been removed. With their disappearance will come the dissipation of the clouds of evil propaganda, lying information and distorted imputations and interpretations with which the masses of people, even in neutral lands, have been deluged.
Tôi muốn đề cập một cách cởi mở và thẳng thắn đến những vấn đề mà các bạn đang phải đối diện khi nhìn vào thế giới như nó đang là hôm nay và thế giới như nó có thể là ngày mai—một thế giới mà số phận của nó vẫn chưa được định đoạt. Tôi muốn trình bày những khả năng với sự áp dụng rõ ràng vào các phản ứng của những đế quốc như Anh, Pháp và Hà Lan, và với sự chỉ dẫn về cách Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ nên được mong đợi đáp ứng. Tôi viết như một người đại diện cho Thánh Đoàn, như một thành viên có vị thế nhất định trong hàng ngũ của Thánh Đoàn, và cũng như một người làm việc ngày đêm cho sự thành công của những quốc gia trong gia đình nhân loại đang, với lưng dựa vào bức tường của sự hiểu lầm, phỉ báng và ác cảm, kiên cường chống lại nước Đức và vệ tinh của nó là nước Ý. Tôi nói đến nhóm Đồng Minh ngày nay đang đứng với mục đích của mình được tập trung tại Anh Quốc, bị xu hướng của các biến cố dồn về đó. Tôi làm điều này vì niềm hy vọng căn bản về những tương quan nhân loại đúng đắn, về nền hòa bình chân thật và bền vững, về tự do lương tâm và về những mái ấm tự do và hạnh phúc đặt nền trên chiến thắng của họ; vào lúc này, họ là điểm bị Các Mãnh Lực Ác tấn công tích cực. Hiện nay chúng tôi vẫn chưa thể tiếp cận linh hồn của dân tộc Đức trong vùng đất bất hạnh ấy, vì ảo cảm mà họ đang chịu đựng quá hoàn toàn. Sẽ đến ngày họ lại được tiếp cận, và trách nhiệm này nằm trên những người Đức vẫn còn tự do khỏi ảo cảm ở các xứ khác; điều đó sẽ đến khi các mãnh lực đang hoạt động qua trung gian của một nhóm người có ý đồ xấu ác đã bị loại bỏ. Cùng với sự biến mất của chúng sẽ đến sự làm tiêu tan những đám mây tuyên truyền xấu ác, thông tin dối trá và những sự quy kết cùng diễn giải bóp méo mà quần chúng, ngay cả ở các xứ trung lập, đã bị nhấn chìm trong đó.
[232] Would you have me at this time of planetary crisis refrain from direct speech, have me withhold from you who read my words the truth—a truth which is already apparent to those who ponder the signs of the times with an unprejudiced mind, unbiased thought and a true love of humanity? This last quality, a true love of humanity, constitutes a basic test of wrong or right action. It is phenomenally clarifying if applied at this time to the combatants. Would you have me deal with pleasant platitudes anent a future happy world, when perhaps the very possibility of such a world trembles in the balance? Would you have me present the attitude of the Hierarchy as that of a placid band of onlookers, ready to help the world when the conflict is over, but at present insulated from all action and simply waiting till the dust and clamour of battle settle, to stimulate in men’s minds the vision of a new world order wherein everyone will have a good time, where there will be no unemployment, wherein fear and terror will find no place and everyone will be happy, well fed and reasonably intelligent? Would you have me picture to you the great band of disciples, initiates and aspirants as a band of pacifists, cherishing the form side of life, afraid of death and remaining passive in the face of the death struggle of human liberty, of life, conscience and mind?
[232] Các bạn có muốn tôi, vào lúc khủng hoảng hành tinh này, tránh lời nói trực tiếp, muốn tôi giữ lại với các bạn là những người đọc lời tôi chân lý—một chân lý vốn đã hiển nhiên đối với những ai suy ngẫm về các dấu hiệu của thời đại bằng một trí tuệ không thiên kiến, tư tưởng không thành kiến và một tình thương chân thật đối với nhân loại chăng? Phẩm tính cuối cùng này, một tình thương chân thật đối với nhân loại, cấu thành một phép thử căn bản cho hành động sai hay đúng. Nếu được áp dụng vào lúc này cho các bên tham chiến, nó làm sáng tỏ một cách phi thường. Các bạn có muốn tôi nói những lời sáo rỗng dễ nghe về một thế giới hạnh phúc tương lai, khi có lẽ chính khả năng của một thế giới như thế đang run rẩy trên bàn cân chăng? Các bạn có muốn tôi trình bày thái độ của Thánh Đoàn như thái độ của một nhóm người quan sát điềm tĩnh, sẵn sàng giúp thế giới khi xung đột chấm dứt, nhưng hiện tại lại cách ly khỏi mọi hành động và chỉ đơn giản chờ cho bụi và tiếng ồn của chiến trận lắng xuống, để kích thích trong trí tuệ con người linh ảnh về một trật tự thế giới mới trong đó mọi người sẽ có khoảng thời gian vui vẻ, nơi sẽ không có thất nghiệp, nơi sợ hãi và khủng bố không có chỗ đứng và mọi người sẽ hạnh phúc, đủ ăn và khá thông minh chăng? Các bạn có muốn tôi vẽ ra cho các bạn hình ảnh đại nhóm đệ tử, điểm đạo đồ và người chí nguyện như một nhóm người chủ hòa, trân quý mặt hình tướng của sự sống, sợ chết và vẫn thụ động trước cuộc tử chiến của tự do nhân loại, của sự sống, lương tâm và trí tuệ chăng?
I tell you that this I cannot do. The Hierarchy is very different from this. Pacifism, as interpreted by you, has no place in its ranks. The destruction of form in battle (which causes so much fear to many of you) is of small importance to those who know that reincarnation is a basic law of nature and that there is no death. The forces of death are abroad today, but it is the death of liberty, the death of free speech, the death of freedom in human action, the death of truth and of the higher spiritual values. These are the vital factors in the life of humanity; the death of the physical form is a negligible factor in relation to these, and one easily righted again through the processes of rebirth and fresh opportunity.
Tôi nói với các bạn rằng tôi không thể làm điều đó. Thánh Đoàn rất khác với điều ấy. Chủ nghĩa chủ hòa, như các bạn diễn giải, không có chỗ trong hàng ngũ của Thánh Đoàn. Sự hủy diệt hình tướng trong chiến trận (điều gây ra quá nhiều sợ hãi cho nhiều bạn) ít quan trọng đối với những ai biết rằng luân hồi là một định luật căn bản của bản chất và rằng không có cái chết. Các mãnh lực của cái chết đang lan tràn ngày nay, nhưng đó là cái chết của tự do, cái chết của ngôn luận tự do, cái chết của tự do trong hành động của con người, cái chết của chân lý và của các giá trị tinh thần cao hơn. Đó mới là những yếu tố sống còn trong đời sống nhân loại; cái chết của hình thể hồng trần là một yếu tố không đáng kể so với những điều ấy, và có thể dễ dàng được sửa lại qua các tiến trình tái sinh và cơ hội mới.
I would say to those who preach a passive attitude in the face of evil and human suffering and who endorse a [233] pacifism which involves no risks: With what do you propose to fight the forces of aggression, of treachery, evil and destruction which are today stalking over our planet? What weapons do you bring to this combat? How will you begin to stem the onslaught and arrest the whirlwind? Will you use prayers for peace, and then patiently wait for the forces of good to fight your battle and for God to do the work? I tell you that your prayers and your wishes are unavailing when divorced from right and potent action. Your prayers and petitions may reach the throne of God, symbolically speaking, but then the reply comes forth: The Forces of Light will strengthen your arms and turn the tide in your favour if you stand up and fight for that which you desire. Who will arrest the progress of aggressive selfishness if the men and women of goodwill rest back upon their idealism and do naught that is practical to justify their hope or aid in the materialisation of the desired ideal.
Tôi muốn nói với những ai rao giảng một thái độ thụ động trước cái ác và nỗi khổ đau của con người, và những ai tán thành một [233] chủ nghĩa chủ hòa không bao hàm rủi ro nào: Các bạn định dùng gì để chiến đấu với các mãnh lực xâm lược, phản bội, xấu ác và hủy diệt đang ngày nay rình rập trên hành tinh chúng ta? Các bạn mang đến những vũ khí nào cho cuộc chiến này? Các bạn sẽ bắt đầu ngăn chặn cuộc tấn công và chặn đứng cơn lốc bằng cách nào? Các bạn sẽ dùng những lời cầu nguyện cho hòa bình, rồi kiên nhẫn chờ các mãnh lực thiện chiến đấu trận chiến của các bạn và chờ Thượng đế làm công việc ấy sao? Tôi nói với các bạn rằng những lời cầu nguyện và mong ước của các bạn là vô hiệu khi tách rời khỏi hành động đúng đắn và mạnh mẽ. Những lời cầu nguyện và thỉnh nguyện của các bạn có thể đạt đến ngai của Thượng đế, nói theo biểu tượng, nhưng rồi câu trả lời phát ra là: Các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ tăng cường cánh tay các bạn và xoay chuyển tình thế có lợi cho các bạn nếu các bạn đứng lên và chiến đấu cho điều mình mong muốn. Ai sẽ chặn đứng bước tiến của tính ích kỷ xâm lược nếu những người nam và nữ thiện chí chỉ dựa lưng vào chủ nghĩa lý tưởng của mình và không làm gì thực tế để biện minh cho hy vọng của mình hay trợ giúp trong việc hiện hình lý tưởng mong muốn?
There are those in the world today who (despite past national selfishness and wrong) are fearlessly and with true insight fighting humanity’s battle, and with them the Hierarchy stands, as it has ever stood on the side of liberty, right understanding and correct attitudes in human affairs. I would say to those who cry, “Peace, peace when there is no peace”: Are you going to profit by their death and sacrifice when the ultimate triumph of the Forces of Light comes to pass? Are you going to take the position that you can then live in a safe world because others gave their lives that you might do so? Are you going to issue forth from the safe security of your pacifist alibi and gratefully acknowledge what they have done and grasp your share of the gains which they have purchased at such a cost? I would warn you not to be glamoured by the false premise that you must stand by your hard-earned convictions, even at the expense of other peoples’ lives and the downfall of nations, forgetting that fear and false pride will make this argument of importance to you. Are the peace-minded people of the world going to reap the benefits of a peace for which they have paid no price? It is the people who value peace above all [234] else who are today seeking by every possible method to stop Germany.
Ngày nay có những người trên thế giới, dù bất chấp tính ích kỷ và sai lầm quốc gia trong quá khứ, đang không sợ hãi và với linh thị chân chính chiến đấu cho trận chiến của nhân loại, và Thánh Đoàn đứng cùng họ, như Thánh Đoàn luôn luôn đứng về phía tự do, sự thấu hiểu đúng đắn và những thái độ đúng đắn trong các công việc nhân loại. Tôi muốn nói với những ai kêu lên: “Hòa bình, hòa bình khi không có hòa bình”: Các bạn có định hưởng lợi từ cái chết và sự hi sinh của họ khi chiến thắng cuối cùng của Các Mãnh Lực Ánh Sáng xảy đến không? Các bạn có định giữ lập trường rằng khi ấy các bạn có thể sống trong một thế giới an toàn vì những người khác đã hiến mạng sống để các bạn có thể làm như vậy không? Các bạn có định bước ra từ sự an toàn chắc chắn của cái cớ chủ hòa của mình và biết ơn thừa nhận điều họ đã làm, rồi nắm lấy phần lợi ích mà họ đã mua bằng một giá đắt như thế không? Tôi muốn cảnh báo các bạn đừng để bị ảo cảm bởi tiền đề sai lầm rằng các bạn phải giữ vững những xác tín khó nhọc mới đạt được của mình, ngay cả với cái giá là sinh mạng của những dân tộc khác và sự sụp đổ của các quốc gia, quên rằng sợ hãi và kiêu hãnh sai lầm sẽ khiến lập luận này trở nên quan trọng đối với các bạn. Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới có định gặt hái những lợi ích của một nền hòa bình mà họ không phải trả giá gì không? Chính những người coi trọng hòa bình hơn [234] mọi thứ khác ngày nay đang tìm mọi phương cách có thể để ngăn chặn nước Đức.
Let me tell you something about the peace for which the Hierarchy works and which the spiritually minded people of the world envisage even whilst they fight, and for which they are ready to pay the ultimate price. Peace, when it comes, will be the result of right world conditions and right human relationships. It is an effect and not a cause; it is the effect of certain subjective attitudes which are not yet present in the world on a sufficiently wide scale. Against these emerging conditions Germany has assembled her potent war machine, after years of scientific and planned preparation. Today the Allies stand waiting the opportunity for the final struggle with that potent nation, prepared to institute afterwards those conditions which will guarantee peace. There is no peace on the planet anywhere today. There is no peace in the questioning hearts of those who are not actively sharing in the struggle against evil. There is no peace in any field of human endeavour. It is not to be found in the economic field, torn as it is by the conflict between labour and capital, and between great schools of economic thought; it is not to be found in the religious field, where the struggle is going on between authority (tainted with old world churchianity) and experimental religion; it is not to be found in the social order, where class is ranged against class, poor against rich, and man against his brother; it is certainly not in the political field, where party strife controls and blinds the warring groups, hiding the wider vision of world affairs and the needs of humanity as a whole. There is no peace, and peace will not come through an applied and fanatical pacifism or through the loud talking and wishful thinking of those who hate war and who at the same time swell the tide of conquest and delay true victory by their violently uttered opposing views.
Hãy để tôi nói với các bạn đôi điều về nền hòa bình mà Thánh Đoàn hoạt động vì nó và mà những người có tinh thần trên thế giới hình dung ra ngay cả trong khi họ chiến đấu, và vì nó họ sẵn sàng trả giá tối hậu. Hòa bình, khi đến, sẽ là kết quả của những điều kiện thế giới đúng đắn và những tương quan nhân loại đúng đắn. Nó là một kết quả chứ không phải một nguyên nhân; nó là kết quả của những thái độ chủ quan nhất định mà hiện nay chưa hiện diện trong thế giới trên một quy mô đủ rộng. Chống lại những điều kiện đang xuất hiện này, nước Đức đã tập hợp bộ máy chiến tranh hùng mạnh của mình, sau nhiều năm chuẩn bị khoa học và có kế hoạch. Ngày nay các nước Đồng Minh đang chờ cơ hội cho cuộc đấu tranh cuối cùng với quốc gia hùng mạnh ấy, sẵn sàng sau đó thiết lập những điều kiện sẽ bảo đảm hòa bình. Hiện nay không có hòa bình ở bất cứ đâu trên hành tinh. Không có hòa bình trong những trái tim đầy nghi vấn của những người không tích cực chia sẻ cuộc đấu tranh chống lại cái ác. Không có hòa bình trong bất kỳ lĩnh vực nỗ lực nào của con người. Không thể tìm thấy nó trong lĩnh vực kinh tế, vốn bị xé nát bởi cuộc xung đột giữa lao động và tư bản, và giữa các trường phái tư tưởng kinh tế lớn; không thể tìm thấy nó trong lĩnh vực tôn giáo, nơi cuộc đấu tranh đang diễn ra giữa quyền uy (bị nhuốm màu giáo hội chủ nghĩa của thế giới cũ) và tôn giáo thực nghiệm; không thể tìm thấy nó trong trật tự xã hội, nơi giai cấp đối đầu giai cấp, người nghèo đối đầu người giàu, và người đối đầu huynh đệ của mình; chắc chắn nó cũng không có trong lĩnh vực chính trị, nơi xung đột đảng phái kiểm soát và làm mù quáng các nhóm đang tranh chiến, che khuất tầm nhìn rộng lớn hơn về tình hình thế giới và nhu cầu của nhân loại như một toàn thể. Không có hòa bình, và hòa bình sẽ không đến qua một chủ nghĩa chủ hòa được áp dụng và cuồng tín hoặc qua những lời nói ồn ào và tư duy ước muốn của những người ghét chiến tranh nhưng đồng thời lại làm dâng cao làn sóng chinh phục và trì hoãn chiến thắng chân chính bằng những quan điểm đối lập được họ phát biểu một cách dữ dội.
I tell you that all nations hate and oppose war; even Germany, behind the imposed terror, shrinks in horror at what is being done. The same love of peace which inspires the ordinary pacifist inspires those who are today fighting [235] in order that peace may be the result of their sacrifice and the effect of the establishing of those right conditions which Germany is set to prevent. Yet many neutrally minded and pacifist people are unwilling to pay any price for what they profess so much to cherish. A complete refusal to fight on the part of the Allies and of those who are seeing with clarity the issues at stake would open the door to the world domination of the Forces of Materialism and Aggression. It is upon this that these evil forces count when they face the greatest neutral of all, the United States of America, and for which they are preparing as they disseminate their lying propaganda and plant their agents in every country and every state—preparatory to a peaceful conquest of a people who refuse sufficiently to value the spiritual issues at stake to take positive action.
Tôi nói với các bạn rằng mọi quốc gia đều ghét và chống chiến tranh; ngay cả nước Đức, đằng sau nỗi khủng bố bị áp đặt, cũng co rúm trong kinh hoàng trước những gì đang được thực hiện. Chính cùng một tình yêu hòa bình truyền cảm hứng cho người chủ hòa bình thường cũng truyền cảm hứng cho những người ngày nay đang chiến đấu [235] để hòa bình có thể là kết quả của sự hi sinh của họ và là hiệu quả của việc thiết lập những điều kiện đúng đắn mà nước Đức quyết tâm ngăn cản. Tuy nhiên, nhiều người có đầu óc trung lập và chủ hòa lại không sẵn lòng trả bất kỳ giá nào cho điều mà họ tuyên xưng là rất trân quý. Việc các nước Đồng Minh và những người thấy rõ các vấn đề đang bị đe dọa hoàn toàn từ chối chiến đấu sẽ mở cửa cho sự thống trị thế giới của Các Mãnh Lực Duy Vật và Xâm Lược. Chính vào điều này mà các mãnh lực xấu ác ấy trông cậy khi chúng đối diện với quốc gia trung lập lớn nhất trong tất cả, Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, và vì điều này mà chúng đang chuẩn bị khi phổ biến tuyên truyền dối trá của mình và cài cắm các tay sai của chúng vào mọi quốc gia và mọi tiểu bang—chuẩn bị cho một cuộc chinh phục hòa bình đối với một dân tộc không đủ coi trọng các vấn đề tinh thần đang bị đe dọa để có hành động tích cực.
And we, the teachers on the inner side, who for aeons have aided in the preparation of humanity for the coming age of peaceful cooperation and brotherhood, see all this future hope imperilled. Aggression and the rape of peaceful nations go steadily forward, as nation after nation crumbles under the iron heel of Germany, grinding the peoples of the world and sweeping them into slavery on a scale of serfdom and cruelty that the world has never before seen. As those who sought to arrest German progress succumb to treachery and pain and desert their comrades, the machine of evil marches on; neutral nations, resting back upon their peaceful intent and the claims of civilisation, are absorbed by the forces which impose the German demand for living space, and are thus denuded of liberty, of territory, and of all economic resources. And, at the same time, the greatest and most powerful neutral nation in the world arms for defence of its territorial rights, but refuses to arm for the defence of human liberty.
Và chúng tôi, các huấn sư ở nội giới, những người trong nhiều đại kiếp đã trợ giúp chuẩn bị nhân loại cho thời đại sắp đến của hợp tác hòa bình và tình huynh đệ, đang thấy toàn bộ hy vọng tương lai này bị đe dọa. Sự xâm lược và sự cưỡng đoạt các quốc gia yêu chuộng hòa bình vẫn đều đặn tiến tới, khi hết quốc gia này đến quốc gia khác sụp đổ dưới gót sắt của nước Đức, nghiền nát các dân tộc trên thế giới và cuốn họ vào cảnh nô lệ với quy mô nông nô và tàn bạo mà thế giới chưa từng thấy trước đây. Khi những người tìm cách chặn đứng bước tiến của nước Đức khuất phục trước phản bội và đau đớn và bỏ rơi đồng đội của mình, cỗ máy của cái ác vẫn tiếp tục tiến bước; các quốc gia trung lập, dựa lưng vào ý định hòa bình của mình và những đòi hỏi của văn minh, bị hấp thụ bởi các mãnh lực áp đặt yêu sách của Đức về không gian sinh tồn, và do đó bị tước mất tự do, lãnh thổ và mọi tài nguyên kinh tế. Đồng thời, quốc gia trung lập lớn nhất và hùng mạnh nhất thế giới vũ trang để phòng vệ các quyền lãnh thổ của mình, nhưng lại từ chối vũ trang để phòng vệ tự do của con người.
Do I speak too strongly to those of you who are not participating in this planetary war? I speak with clarity because I seek to arouse you to the true issues whilst there is yet time. I seek to arrest in you the idea that the western hemisphere is the seat of all civilisation, the custodian of [236] the best that there is in humanity, and that the spiritual future of humanity lies in the cherished land of liberty. Liberty is a thing of the human soul and is found throughout the entire human race. Civilisation is a universal human right and not the prerogative of one nation. I tell you that humanity is everywhere spiritually minded and that the new race, the coming civilisation, and the new age culture will be found throughout the world—the universal inheritance of the human race. But everywhere humanity is the victim of propaganda—a propaganda which can only be seen in its true light when men think in terms of human liberty; when they together take the needed steps to ensure human happiness, and learn in so doing to face world conditions as they are, not hiding their heads in a dream world of their own making. The world of the future, of which men in all lands dream, is more than a possibility if men will shoulder their just responsibilities and together make it a fact in human experience. But such a world will not be possible for many long years if Europe goes down in the crash of battle and under the impact of the German war machine. It will emerge into realisation when there are enough people in the world who think clearly, see the vision truly, act intelligently, and meet force with force, which is the only method which the forces of aggression can understand.
Tôi có nói quá mạnh với những bạn không tham gia vào cuộc chiến hành tinh này chăng? Tôi nói một cách minh bạch vì tôi tìm cách đánh thức các bạn trước những vấn đề chân thực khi vẫn còn thời gian. Tôi tìm cách ngăn chặn trong các bạn ý tưởng rằng bán cầu Tây là chỗ ngồi của toàn bộ văn minh, là người gìn giữ [236] điều tốt đẹp nhất trong nhân loại, và rằng tương lai tinh thần của nhân loại nằm trong vùng đất tự do được trân quý ấy. Tự do là một điều thuộc linh hồn con người và được tìm thấy trong toàn thể nhân loại. Văn minh là một quyền phổ quát của con người chứ không phải đặc quyền của một quốc gia. Tôi nói với các bạn rằng nhân loại ở khắp nơi đều có tinh thần và rằng nhân loại mới, nền văn minh sắp đến, và văn hóa của kỷ nguyên mới sẽ được tìm thấy trên khắp thế giới—di sản phổ quát của nhân loại. Nhưng ở khắp nơi nhân loại là nạn nhân của tuyên truyền—một thứ tuyên truyền chỉ có thể được nhìn thấy trong ánh sáng chân thực của nó khi con người suy nghĩ theo tự do của con người; khi họ cùng nhau thực hiện những bước cần thiết để bảo đảm hạnh phúc của con người, và qua đó học cách đối diện với các điều kiện thế giới như chúng đang là, chứ không giấu đầu trong một thế giới mộng tưởng do chính mình tạo ra. Thế giới tương lai mà con người ở mọi xứ sở mơ ước còn hơn cả một khả năng nếu con người gánh vác những trách nhiệm chính đáng của mình và cùng nhau biến nó thành một sự kiện trong kinh nghiệm nhân loại. Nhưng một thế giới như thế sẽ không thể có được trong nhiều năm dài nếu châu Âu sụp đổ trong cơn va chạm của chiến trận và dưới tác động của cỗ máy chiến tranh Đức. Nó sẽ đi vào chứng nghiệm khi có đủ người trên thế giới suy nghĩ minh bạch, thấy linh ảnh chân thực, hành động thông minh, và lấy mãnh lực đáp lại mãnh lực, đó là phương pháp duy nhất mà các mãnh lực xâm lược có thể hiểu.
Today the forces of evil have swept over France, Belgium, Holland, Norway, Poland, Finland and Roumania. Nothing has arrested their progress—neither truth nor armed might nor sacrifice. Today Great Britain stands with a handful of her allies upholding the banner of human liberty. With her stand France (for France is still loyal in her thousands to truth and liberty), Poland, Holland, Norway and Belgium—all represented in that small fortress of the Forces of Light which is the British Isles. Behind stand their great empires with their resources as yet untouched. Behind them again stand the spiritually minded peoples in every nation, and behind them all stands the Hierarchy of Light. In this interlude prior to the final struggle I write to those [237] who are looking on with sympathy but without sacrifice and I ask you: Where do you stand?
Ngày nay các mãnh lực xấu ác đã tràn qua Pháp, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Phần Lan và Romania. Không điều gì đã chặn đứng bước tiến của chúng—không phải chân lý, không phải sức mạnh vũ trang, cũng không phải sự hi sinh. Ngày nay Anh Quốc đứng cùng với một số ít đồng minh của mình, giương cao ngọn cờ tự do của con người. Cùng đứng với nước Anh là nước Pháp (vì nước Pháp vẫn còn trung thành trong hàng ngàn người của mình với chân lý và tự do), Ba Lan, Hà Lan, Na Uy và Bỉ—tất cả đều được đại diện trong pháo đài nhỏ bé của Các Mãnh Lực Ánh Sáng là Quần đảo Anh. Phía sau họ là những đế quốc rộng lớn của họ với các tài nguyên vẫn chưa bị đụng đến. Phía sau họ nữa là những dân tộc có tinh thần trong mọi quốc gia, và phía sau tất cả là Thánh Đoàn Ánh Sáng. Trong khoảng tạm ngưng trước cuộc đấu tranh cuối cùng này, tôi viết cho những người [237] đang nhìn với thiện cảm nhưng không có hi sinh, và tôi hỏi các bạn: Các bạn đứng ở đâu?
I bring to you some of the contrasts in this war, in all simplicity and in an effort to enable you to choose right action.
Tôi mang đến cho các bạn một số tương phản trong cuộc chiến này, với tất cả sự đơn giản và trong nỗ lực giúp các bạn chọn hành động đúng đắn.
The first great contrast might be called the way of appeasement and the way of aggression. The method of peaceful discussion was tried by the peace-loving peoples of France and Great Britain, and the way of aggression, developed for many years, is the way of Germany, of Russia, and in a lesser degree of Italy. I would remind you that it is to the eternal credit of the Allies (e’en though it lacked worldly common sense) that their preparations for war proved inadequate in the face of German preparedness. They were not one-pointed in their war effort, for the higher value of world civilisation engrossed them and the activities of their empires, which live at peace within themselves. They have made many grievous errors in the past (as have all peoples), but the way of expiation and of sacrifice is theirs, willingly accepted, and their reward is the freedom of humanity.
Sự tương phản lớn đầu tiên có thể được gọi là con đường xoa dịu và con đường xâm lược. Phương pháp thảo luận ôn hòa đã được các dân tộc yêu chuộng hòa bình của Pháp và Anh thử áp dụng, còn con đường xâm lược, được phát triển trong nhiều năm, là con đường của Đức, của Nga, và ở mức độ thấp hơn là của Ý. Tôi muốn nhắc bạn rằng chính điều này là vinh dự vĩnh cửu của phe Đồng Minh (dù thiếu sự khôn ngoan thường tình của thế gian) khi sự chuẩn bị chiến tranh của họ tỏ ra không đầy đủ trước sự chuẩn bị của Đức. Họ không nhất tâm trong nỗ lực chiến tranh của mình, vì giá trị cao hơn của nền văn minh thế giới đã cuốn hút họ cùng các hoạt động của các đế quốc của họ, vốn sống trong hòa bình nội tại. Trong quá khứ họ đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng (cũng như mọi dân tộc khác), nhưng con đường chuộc lỗi và hi sinh là của họ, được tự nguyện chấp nhận, và phần thưởng của họ là tự do của nhân loại.
I will give you another contrast, growing out of the above. This is the emphasis upon a new world order within a rapidly changing world. The Allies uphold one point of view; the Germans, another. It is for this new and better world and the bringing in of the conditions wherein peace can be possible and the new world order developed that today the men of vision fight and die. The contrast is the enforced world order, emphasised by the so-called “German super-race,” which will centralise the world around Germany, for the aggrandisement of Germany, for the expansion of the German living space and the supply of Germany’s economic need—an order enforced by terror, by cruelty and death, ignoring the needs of humanity as a whole and the rights of all other nations, and sacrificing the whole world, if need be, to the glory of Germany. With this German-enforced rule and order, her greed for territorial expansion and her ruthless acquisition of the goods and possession [238] of other nations, I would ask you to contrast the expressed aim of the Allies, reiterated again and again in the speeches of the statesmen of both France and Great Britain and summed up in the words of a great Englishman, a government official and an aspirant to right and truth:
Tôi sẽ nêu cho bạn một sự tương phản khác, phát sinh từ điều trên. Đó là sự nhấn mạnh vào một trật tự thế giới mới trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Phe Đồng Minh duy trì một quan điểm; người Đức duy trì một quan điểm khác. Chính vì thế giới mới và tốt đẹp hơn này, và vì việc thiết lập những điều kiện trong đó hòa bình có thể trở thành khả hữu và trật tự thế giới mới có thể được phát triển, mà ngày nay những người có tầm nhìn chiến đấu và chết đi. Sự tương phản ở đây là trật tự thế giới bị cưỡng bức, được nhấn mạnh bởi cái gọi là “siêu chủng tộc Đức”, sẽ tập trung thế giới quanh nước Đức, vì sự bành trướng của nước Đức, vì sự mở rộng không gian sinh tồn của người Đức và việc đáp ứng nhu cầu kinh tế của nước Đức—một trật tự được áp đặt bằng khủng bố, bằng tàn ác và cái chết, phớt lờ nhu cầu của toàn thể nhân loại và quyền lợi của mọi quốc gia khác, và hi sinh cả thế giới, nếu cần, cho vinh quang của nước Đức. Đối chiếu với quy luật và trật tự do Đức cưỡng bức này, với lòng tham mở rộng lãnh thổ và sự chiếm đoạt tàn nhẫn tài sản và sở hữu [238] của các quốc gia khác, tôi muốn bạn đối chiếu mục tiêu được tuyên bố của phe Đồng Minh, được lặp đi lặp lại trong các bài diễn văn của các chính khách cả Pháp lẫn Anh và được tóm kết trong lời của một người Anh vĩ đại, một viên chức chính phủ và một người chí nguyện hướng đến điều đúng đắn và chân lý:
“We shall use all our influence when the time comes in the building of a new world in which the nations will not permit insane armed rivalry to deny their hopes of fuller life and future confidence nor be forever overborne by grim foreboding of disaster. The new world that we seek will enlist the cooperation of all peoples on a basis of human equality, self-respect and mutual tolerance. We shall have to think out many things that lie on the route of international contacts—social, political and economic—and find means of reconciling the necessity of change in a constantly changing world with security against the disturbance of the general peace through resort to violence. To this order that we shall create, all nations have their contribution to make, and a great responsibility both in thought and action will rest upon our people. We, not less than others, have our lesson to learn from past failures and disappointments.”
“Chúng ta sẽ dùng toàn bộ ảnh hưởng của mình khi thời điểm đến trong việc xây dựng một thế giới mới, trong đó các quốc gia sẽ không cho phép sự ganh đua vũ trang điên cuồng tước mất hy vọng của họ về một đời sống đầy đủ hơn và niềm tin vào tương lai, cũng không để mình mãi mãi bị đè nặng bởi nỗi lo sợ thảm họa nghiệt ngã. Thế giới mới mà chúng ta tìm kiếm sẽ huy động sự hợp tác của mọi dân tộc trên nền tảng bình đẳng nhân loại, tự trọng và khoan dung lẫn nhau. Chúng ta sẽ phải suy nghĩ thấu đáo nhiều điều nằm trên con đường của các tiếp xúc quốc tế—xã hội, chính trị và kinh tế—và tìm ra phương tiện để hòa giải sự cần thiết của thay đổi trong một thế giới luôn thay đổi với sự bảo đảm chống lại việc làm xáo trộn nền hòa bình chung bằng cách dùng bạo lực. Đối với trật tự mà chúng ta sẽ tạo ra này, mọi quốc gia đều có phần đóng góp của mình, và một trách nhiệm lớn cả trong tư tưởng lẫn hành động sẽ đặt lên dân tộc chúng ta. Chúng ta, không kém gì những dân tộc khác, có bài học của mình cần học từ những thất bại và thất vọng trong quá khứ.”
I would have you note the recognition, by this spokesman for the Allies, of the need of change, the realisation of the coming world order and the humble statement anent past mistakes.
Tôi muốn bạn lưu ý sự thừa nhận, từ người phát ngôn này của phe Đồng Minh, về nhu cầu thay đổi, sự chứng nghiệm về trật tự thế giới sắp đến và lời phát biểu khiêm tốn liên quan đến những sai lầm trong quá khứ.
I would call your attention very briefly also to the contrast in the methods employed: cruelty versus kindness, merciless bombing and machine gunning on the one side, and the constant refraining from attack upon the enemy by the Allies, for fear of killing the defenceless; I would call your attention to the broadcast from Great Britain, warning the Germans to take cover when they hear the British planes over Germany. I would call your attention to the reticent but truthful propaganda which lays no [239] emphasis upon that which could stir up hate, and the lying information from Berlin and conquered cities. It is not my purpose to do more than indicate these contrasts which grow out of a widely differing subjective attitude to humanity. It is, however, of value for us all to face them in the process of clarifying issues. The basic contrast between freedom of speech, thought and action which distinguishes the democracies, and the cruel suppression of all liberty of thought and personal activity which controls the masses in Germany today, is too well known to require emphasising by me. But I bring these contrasts to your attention, asking you to recognise your responsibility to stand behind those who fight for liberty and to end the activity of those who are the enemies of all human freedom.
Tôi cũng muốn rất ngắn gọn thu hút sự chú ý của bạn đến sự tương phản trong các phương pháp được sử dụng: tàn ác đối lập với tử tế, ném bom và bắn súng máy không thương xót ở một bên, và sự liên tục kiềm chế không tấn công kẻ thù của phe Đồng Minh ở bên kia, vì sợ giết hại những người không có khả năng tự vệ; tôi muốn thu hút sự chú ý của bạn đến chương trình phát thanh từ Anh, cảnh báo người Đức hãy tìm nơi trú ẩn khi họ nghe máy bay Anh trên bầu trời nước Đức. Tôi muốn thu hút sự chú ý của bạn đến lối tuyên truyền kín đáo nhưng chân thật, không [239] nhấn mạnh vào điều gì có thể khơi dậy hận thù, và đối chiếu với thông tin dối trá từ Berlin và các thành phố bị chinh phục. Mục đích của tôi không phải làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những sự tương phản này, vốn phát sinh từ một thái độ chủ quan rất khác nhau đối với nhân loại. Tuy nhiên, đối với tất cả chúng ta, việc đối diện với chúng trong tiến trình làm sáng tỏ các vấn đề là điều có giá trị. Sự tương phản căn bản giữa tự do ngôn luận, tư tưởng và hành động vốn phân biệt các nền dân chủ, với sự đàn áp tàn bạo mọi tự do tư tưởng và hoạt động cá nhân đang kiểm soát quần chúng ở Đức ngày nay, đã quá nổi tiếng nên tôi không cần nhấn mạnh thêm. Nhưng tôi đưa những sự tương phản này đến sự chú ý của bạn, yêu cầu bạn nhận ra trách nhiệm của mình là đứng phía sau những người chiến đấu cho tự do và chấm dứt hoạt động của những kẻ là kẻ thù của mọi tự do nhân loại.
I would ask you to exercise your imagination in an effort to visualise a world in which there is a complete defeat of the Allies, expressing as they do the ideals for which the Forces of Light have ever stood. I would remind you of two things: First, that these Forces were defeated in the earlier phase of the conflict thousands of years ago, and secondly that—if They again go down to defeat—it will be largely due to the unpreparedness and to the pacific attitude of the neutrals of the world. Had the Allies been ready (and that in itself would have indicated attitudes similar to those now being expressed by Germany) and had the neutrals stood together from the outbreak of hostilities and proclaimed as one voice: This thing must not be—Germany would then have been arrested in her triumphant progress.
Tôi muốn yêu cầu bạn vận dụng sự tưởng tượng của mình trong nỗ lực hình dung một thế giới trong đó phe Đồng Minh hoàn toàn thất bại, trong khi họ chính là những người biểu hiện các lý tưởng mà các Lực lượng Ánh sáng từ trước đến nay vẫn luôn đứng về phía đó. Tôi muốn nhắc bạn hai điều: thứ nhất, rằng các Lực lượng này đã bị đánh bại trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột từ hàng ngàn năm trước, và thứ hai, rằng—nếu Các Ngài lại một lần nữa thất bại—thì phần lớn sẽ là do sự không chuẩn bị và thái độ hòa bình thụ động của các nước trung lập trên thế giới. Nếu phe Đồng Minh đã sẵn sàng (và bản thân điều đó đã cho thấy những thái độ tương tự như những gì nước Đức hiện đang biểu lộ) và nếu các nước trung lập đã đứng cùng nhau ngay từ khi chiến sự bùng nổ và đồng thanh tuyên bố: Điều này không được phép xảy ra—thì nước Đức hẳn đã bị chặn lại trong bước tiến chiến thắng của mình.
The Allies, however, were not prepared for the onslaught of the forces of evil; on the physical plane, their position was not impregnable. The neutrals at the same time have chosen and are still choosing the negative and weak way; and through fear, a misplaced idealism, or a separative spirit, plus the failure to grasp the acuteness of the world crisis and its significant implications, have placed humanity in a position of imminent though not inevitable disaster. These are points which require careful consideration and consequent readjustment of the attitude of those who are doing [240] nothing to further the efforts of the Forces of Light and of the men of goodwill throughout the world.
Tuy nhiên, phe Đồng Minh đã không chuẩn bị cho cuộc tấn công dữ dội của các lực lượng ác; trên cõi hồng trần, vị thế của họ không phải là bất khả xâm phạm. Đồng thời, các nước trung lập đã chọn và vẫn đang chọn con đường tiêu cực và yếu đuối; và vì sợ hãi, vì một lý tưởng sai chỗ, hoặc vì tinh thần chia rẽ, cộng thêm sự thất bại trong việc nắm bắt tính gay gắt của cuộc khủng hoảng thế giới và những hàm ý đầy thâm nghĩa của nó, họ đã đặt nhân loại vào một vị thế của thảm họa cận kề dù không phải là không thể tránh khỏi. Đây là những điểm đòi hỏi phải được xem xét cẩn trọng và do đó phải có sự điều chỉnh lại thái độ của những người đang không làm [240] gì để thúc đẩy các nỗ lực của các Lực lượng Ánh sáng và của những người thiện chí trên khắp thế giới.
What shall be done to stop the progress of aggression, of selfish nationalism and cruel attack upon the weak and the defenceless? These qualities are rampant in Germany. They are to be found in a lesser extent in many other nations and selfish nationalism is to be found in all to some degree, even when unaccompanied by militancy or paralleled by a true idealism. It is self-interest, short vision, and prejudice that basically govern neutrality and make the neutral nations, including the Americas, arm for defence but refuse to fight for human welfare. How, then, shall we awaken the world to the realities of the situation and so focus and direct a great world effort to throw off the yoke of the dictators as they seek to dominate the lands outside their own? How shall we free humanity to take its next step forward, without fear and terror and only conditioned by a world which is seeking unitedly to do that which is best for the whole, and not simply that which is best materially for the part? These are the questions with which we are today confronted. Desperately and fearfully, men are seeking a solution and turning hither and thither for help and comfort. Shall the demand, so widely prevalent at this time, for divine intervention, rise so strongly to heaven that it will perforce draw forth a response and, at the same time, deprive mankind of its right to settle its own affairs, decide its own issues and make progress by the method of trial and error, by the success of its own clear vision and its firm determination to find the right way out of the situation? Such intervention is possible, but it is not deemed desirable by the Forces of spiritual knowledge. They are therefore holding Their hand, feeling that this time humanity must be encouraged to battle to the end on behalf of its hope and its vision. Men pray for peace but will not pay the price of peace. Calmly praying and leaving the work to other men, forces or God, is the easy way, satisfying the emotional nature, but not involving clear thinking. Humanity has come of age; the child stage is over, and for [241] weal or woe, for good or ill, men must decide for themselves the way that the world, their governments and their social order must go.
Phải làm gì để ngăn chặn bước tiến của sự xâm lược, của chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và của cuộc tấn công tàn bạo vào kẻ yếu và người không có khả năng tự vệ? Những phẩm tính này đang hoành hành ở Đức. Chúng cũng có thể được tìm thấy ở mức độ thấp hơn tại nhiều quốc gia khác, và chủ nghĩa dân tộc ích kỷ thì hiện diện ở mọi nơi ở một mức độ nào đó, ngay cả khi không đi kèm tính hiếu chiến hoặc được song hành bởi một lý tưởng chân chính. Chính tư lợi, tầm nhìn ngắn và thành kiến là những gì căn bản chi phối tính trung lập và khiến các quốc gia trung lập, kể cả châu Mỹ, vũ trang để phòng vệ nhưng từ chối chiến đấu vì phúc lợi nhân loại. Vậy thì, làm sao chúng ta có thể đánh thức thế giới trước thực tại của tình hình và nhờ đó tập trung và định hướng một nỗ lực lớn của thế giới để giũ bỏ ách thống trị của các nhà độc tài khi họ tìm cách thống trị những vùng đất ngoài lãnh thổ của chính họ? Làm sao chúng ta có thể giải phóng nhân loại để thực hiện bước tiến tiếp theo của mình, không còn sợ hãi và khủng bố, và chỉ được tác động bởi một thế giới đang cùng nhau tìm cách làm điều tốt nhất cho toàn thể, chứ không chỉ đơn giản là điều tốt nhất về vật chất cho bộ phận? Đó là những câu hỏi mà ngày nay chúng ta đang phải đối diện. Trong tuyệt vọng và sợ hãi, con người đang tìm kiếm một giải pháp và quay hết hướng này đến hướng khác để tìm sự trợ giúp và an ủi. Liệu nhu cầu, hiện đang rất phổ biến vào lúc này, về sự can thiệp thiêng liêng có dâng lên trời mạnh đến mức sẽ buộc phải kéo ra một sự đáp ứng và đồng thời tước mất quyền của nhân loại trong việc tự giải quyết công việc của mình, tự quyết định các vấn đề của mình và tiến bộ bằng phương pháp thử và sai, bằng thành công của chính tầm nhìn sáng suốt của mình và quyết tâm vững chắc của mình để tìm ra lối thoát đúng đắn khỏi tình thế? Sự can thiệp như vậy là có thể, nhưng không được các Lực lượng của tri thức tinh thần xem là điều đáng mong muốn. Vì thế Các Ngài đang giữ tay lại, cảm thấy rằng lần này nhân loại phải được khuyến khích chiến đấu đến cùng vì hy vọng và tầm nhìn của mình. Con người cầu nguyện cho hòa bình nhưng không chịu trả giá cho hòa bình. Bình thản cầu nguyện và để công việc cho những người khác, cho các mãnh lực hoặc cho Thượng đế, là con đường dễ dàng, thỏa mãn bản chất cảm xúc, nhưng không bao hàm tư duy sáng suốt. Nhân loại đã trưởng thành; giai đoạn trẻ con đã qua, và [241] dù là phúc hay họa, tốt hay xấu, con người phải tự quyết định con đường mà thế giới, các chính phủ của họ và trật tự xã hội của họ phải đi.
A new world order is possible, and there are certain steps which need to be taken if the vision of this new world is to enter into the realm of accomplished fact. Certain angles of the vision I can—with the greatest brevity—point out to you; I can indicate the sign posts on the way to the future world order. I shall find myself in the position of assuring you at the same time that every step of that way will entail a fight, the overturning of that which is old and loved and the destruction of that which is inhuman, selfish and cruel; I shall have to impress upon you the prime and initial necessity to overthrow the entrenched forces of aggression as they function today through the medium of the totalitarian powers.
Một trật tự thế giới mới là điều khả hữu, và có những bước nhất định cần phải được thực hiện nếu linh ảnh về thế giới mới này muốn đi vào lĩnh vực của sự kiện đã thành tựu. Một vài góc độ của linh ảnh này tôi có thể—với sự ngắn gọn tối đa—chỉ ra cho bạn; tôi có thể chỉ ra những biển chỉ đường trên con đường dẫn đến trật tự thế giới tương lai. Đồng thời tôi sẽ ở vào vị thế phải bảo đảm với bạn rằng mỗi bước trên con đường đó sẽ kéo theo một cuộc chiến, sự lật đổ những gì cũ kỹ và được yêu mến, và sự hủy diệt những gì vô nhân đạo, ích kỷ và tàn bạo; tôi sẽ phải gây ấn tượng nơi bạn về sự cần thiết hàng đầu và khởi đầu là phải lật đổ các lực lượng xâm lược đã cố thủ khi chúng đang hoạt động ngày nay thông qua các cường quốc toàn trị.
First, I would ask you all to ponder on the vision of this new world order, preserving an open mind and realising that this new mode of living hovers over humanity and will materialise when selfishness is defeated, right human relations are correctly envisaged, and the ideal of this new world order is divorced from all nationalistic concepts and aspirations. It will not be an American world, or a French world, or a British world, or a totalitarian world. It will be the outcome of the civilisation which is passing and the culture which is the flower of that civilisation, but at the same time it will be neither of them. It will be a human world, based on right understanding of correct human relations, upon the recognition of equal educational opportunities for all men, for all races and all nations, and upon the fundamental realisation that “God hath made of one blood all the peoples upon the earth.” It will be a world in which racial distinctions and national unities will be recognised as enriching the whole and as contributing to the significance of humanity. Such distinctions and nationalities will be preserved and cultured, not in a separative isolation, but in the realisation that the many aspects of human unfoldment and differentiation produce one noble [242] whole, and that all the parts of this whole are interdependent. All will comprehend their relation to each other in one progressive, synthetic, human endeavour, and the enterprise of united living will produce an interior work which will flower forth in the production of a beauty and a richness which will distinguish humanity as a whole. In this all will share, with wisdom and a planned efficiency, offering to the planetary life and to each other that which they have to contribute. This will be made possible because the whole of mankind will be recognised as the essential unit and as being of greater spiritual importance than the part.
Trước hết, tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn suy ngẫm về linh ảnh của trật tự thế giới mới này, giữ một tâm trí cởi mở và chứng nghiệm rằng phương thức sống mới này đang lơ lửng trên nhân loại và sẽ hiện hình khi tính ích kỷ bị đánh bại, các tương quan nhân loại đúng đắn được hình dung một cách chính xác, và lý tưởng của trật tự thế giới mới này được tách rời khỏi mọi khái niệm và khát vọng dân tộc chủ nghĩa. Đó sẽ không phải là một thế giới của Mỹ, hay của Pháp, hay của Anh, hay của chủ nghĩa toàn trị. Nó sẽ là kết quả của nền văn minh đang qua đi và nền văn hóa là hoa trái của nền văn minh ấy, nhưng đồng thời nó sẽ không phải là một trong hai. Nó sẽ là một thế giới nhân loại, dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về các tương quan nhân loại chính xác, trên sự công nhận cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người nam và nữ, cho mọi nhân loại và mọi quốc gia, và trên sự chứng nghiệm căn bản rằng “Thượng đế đã tạo nên từ một dòng máu tất cả các dân tộc trên trái đất.” Đó sẽ là một thế giới trong đó các khác biệt chủng tộc và các thống nhất dân tộc sẽ được công nhận như làm phong phú cho toàn thể và như góp phần vào thâm nghĩa của nhân loại. Những khác biệt và quốc tịch ấy sẽ được bảo tồn và nuôi dưỡng, không phải trong sự cô lập chia rẽ, mà trong sự chứng nghiệm rằng nhiều phương diện của sự khai mở và biến phân của nhân loại tạo nên một toàn thể cao quý [242], và rằng mọi phần của toàn thể ấy đều phụ thuộc lẫn nhau. Mọi người sẽ hiểu mối liên hệ của mình với nhau trong một nỗ lực nhân loại tiến bộ, tổng hợp, và công cuộc sống hợp nhất sẽ tạo ra một công việc nội tại sẽ nở hoa trong việc sản sinh ra một vẻ đẹp và một sự phong phú sẽ phân biệt toàn thể nhân loại. Trong điều này mọi người sẽ cùng chia sẻ, với minh triết và một hiệu quả được hoạch định, dâng hiến cho sự sống hành tinh và cho nhau điều mà họ có để đóng góp. Điều này sẽ trở nên khả hữu vì toàn thể nhân loại sẽ được công nhận là đơn vị cốt yếu và có tầm quan trọng tinh thần lớn hơn bộ phận.
This is no idle and visionary dream. It is already happening. Embryonic movements toward this world synthesis are already being made. There is a dream of federation, of economic interdependence and of religious unity, plus social and national interrelation which is rapidly taking form, first in the minds of men, and then in experiments. There is a tie of united purpose, felt by many in the political and economic fields, which is no wish fulfilment or fantasy but indicative of an emerging reality. It is felt and recognised by thinkers everywhere, and has worked out in the field of government through the medium of the federation of the British Dominions and their relation to Great Britain, and in the federation of the United States of America. It finds itself distorted and parodied in the concept of the superstate with which the dictators of the world glamour their peoples. But the links are being forged which will draw down the vision and precipitate on earth the pattern of things as they should be in this next world cycle.
Đây không phải là một giấc mơ viển vông và đầy linh ảnh suông. Nó đã đang xảy ra rồi. Những vận động phôi thai hướng tới sự tổng hợp thế giới này đã bắt đầu được thực hiện. Có một giấc mơ về liên bang, về sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau và về sự hợp nhất tôn giáo, cộng thêm sự tương liên xã hội và quốc gia đang nhanh chóng thành hình, trước tiên trong trí tuệ con người, rồi sau đó trong các thử nghiệm. Có một mối dây của mục đích hợp nhất, được nhiều người trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế cảm nhận, không phải là sự thỏa mãn ước muốn hay ảo tưởng mà là dấu hiệu của một thực tại đang xuất hiện. Nó được các nhà tư tưởng ở khắp nơi cảm nhận và công nhận, và đã được triển khai trong lĩnh vực chính quyền thông qua liên bang của các lãnh thổ tự trị Anh và mối quan hệ của họ với Anh quốc, cũng như trong liên bang Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Nó bị bóp méo và bị nhại lại trong khái niệm siêu quốc gia mà các nhà độc tài trên thế giới dùng để ảo cảm dân chúng của họ. Nhưng những mối liên kết đang được rèn đúc, những mối liên kết sẽ kéo linh ảnh xuống và ngưng tụ trên Trái Đất mô hình của sự vật như chúng phải là trong chu kỳ thế giới kế tiếp này.
When this vision of the new world order has been grasped by the men and women of goodwill throughout the nations, and has become part of the life and mind of every disciple and aspirant, then the next step will be to study the factors which are hindering its materialisation. For this a broad tolerance and an unprejudiced mind are essential, and these qualities are rare in the average student and the small town man. Past national mistakes must be faced; [243] selfishness in the spheres of both capital and labour must be recognised; blindness, nationalistic ambitions, adherence to ancient territorial demands and assumed rights, inherited possessiveness, the refusal to relinquish past gains, disturbances in the religious and social areas of consciousness, uncertainty as to the realities of subjective and spiritual life, and the insincerities which are based on glamour and fear—all these factors are woven into the life pattern of every nation, without exception, and are exploited by the evil forces and evaded by the well-meaning but weak people of the world. These must all be seen in their true perspective. The eyes of the people who seek to work under the Forces of Light must be lifted from the world of effects into the realm of causes; there must be appreciation of the factors which have made and conditioned the modern world, and these predisposing factors must be recognised for what they are. This sizing up of the situation and this recognition of blame and responsibility must preface every attempt to bring down into active being the new world order.
Khi linh ảnh về trật tự thế giới mới này đã được những người nam và nữ thiện chí trong khắp các quốc gia nắm bắt, và đã trở thành một phần của đời sống và trí tuệ của mọi đệ tử và người chí nguyện, thì bước tiếp theo sẽ là nghiên cứu các yếu tố đang cản trở sự hiện hình của nó. Để làm điều này, một sự khoan dung rộng lớn và một tâm trí không thành kiến là điều thiết yếu, và những phẩm tính này lại hiếm thấy nơi đạo sinh trung bình và người dân thị trấn nhỏ. Những sai lầm quốc gia trong quá khứ phải được đối diện; [243] tính ích kỷ trong các lĩnh vực của cả tư bản lẫn lao động phải được nhìn nhận; sự mù quáng, các tham vọng dân tộc chủ nghĩa, sự bám chấp vào những đòi hỏi lãnh thổ cổ xưa và những quyền được giả định, tính chiếm hữu thừa hưởng, sự từ chối từ bỏ những lợi lộc quá khứ, những xáo trộn trong các lĩnh vực tôn giáo và xã hội của tâm thức, sự bất định đối với các thực tại của đời sống chủ quan và tinh thần, và những sự thiếu chân thành dựa trên ảo cảm và sợ hãi—tất cả những yếu tố này đều được dệt vào mô hình đời sống của mọi quốc gia, không ngoại lệ, và bị các lực lượng ác khai thác cũng như bị những người có thiện ý nhưng yếu đuối trên thế giới né tránh. Tất cả những điều này phải được nhìn thấy trong viễn cảnh chân thực của chúng. Đôi mắt của những người tìm cách hoạt động dưới các Lực lượng Ánh sáng phải được nâng lên khỏi thế giới của các hiệu quả để đi vào lĩnh vực của các nguyên nhân; phải có sự đánh giá đúng các yếu tố đã tạo nên và tác động lên thế giới hiện đại, và những yếu tố tiền định này phải được nhận ra đúng như bản chất của chúng. Sự lượng định tình hình này và sự nhìn nhận lỗi lầm cùng trách nhiệm này phải đi trước mọi nỗ lực nhằm đưa trật tự thế giới mới vào hiện hữu tích cực.
This new world will not come as an answer to prayer or by the passive wishful thinking and expectation of the peace-loving idealist and mystical visionary. They point the way and indicate the needed objective. It will come when the mystic and the man of vision awakens to the need of the hour and comes down from the world of dreams, of theories, and of words into the hard arena of daily and public life. He must be willing to fight for that which he desires and knows to be good and true and right, and must stand firm against those who seek to distort the vision and to arrest its appearance, arming for battle so that final disarmament may be possible.
Thế giới mới này sẽ không đến như một câu trả lời cho lời cầu nguyện hay nhờ lối mong ước thụ động và chờ đợi của nhà lý tưởng yêu chuộng hòa bình và nhà thần bí có linh ảnh. Họ chỉ ra con đường và nêu rõ mục tiêu cần thiết. Nó sẽ đến khi nhà thần bí và người có tầm nhìn thức tỉnh trước nhu cầu của thời đại và bước xuống khỏi thế giới của những giấc mơ, lý thuyết và lời nói để đi vào đấu trường khắc nghiệt của đời sống hằng ngày và công cộng. Y phải sẵn sàng chiến đấu cho điều mà y mong muốn và biết là thiện, là chân, là đúng, và phải đứng vững chống lại những kẻ tìm cách bóp méo linh ảnh và ngăn chặn sự xuất hiện của nó, vũ trang để chiến đấu hầu cho việc giải trừ vũ trang cuối cùng có thể trở thành khả hữu.
A clear vision of the future world order (in broad and general outline but not in detail), an intelligent recognition of the hindrances and impediments which block its appearance, and a willingness to take the necessary steps upon the physical plane and to pay the required price and tender the demanded sacrifices are essential attitudes, prior to the elimination of the hindrances which stand in the way of the [244] coming new world. It is a practical vision—long desired, much discussed and clearly outlined. The hindrances appear to be many, but they can all be summed up in the one word Selfishness—national, racial, political, religious and individual selfishness.
Một tầm nhìn rõ ràng về trật tự thế giới tương lai (trong những nét rộng và tổng quát chứ không phải chi tiết), một sự nhìn nhận thông minh về những cản trở và chướng ngại ngăn chặn sự xuất hiện của nó, và một sự sẵn lòng thực hiện những bước cần thiết trên cõi hồng trần, trả cái giá đòi hỏi và dâng những hi sinh được yêu cầu là những thái độ thiết yếu, trước khi loại bỏ các chướng ngại đang đứng trên đường của [244] thế giới mới sắp đến. Đây là một linh ảnh thực tiễn—đã được mong mỏi từ lâu, được bàn đến nhiều và được phác họa rõ ràng. Các chướng ngại dường như rất nhiều, nhưng tất cả đều có thể được tóm lại trong một từ duy nhất là Ích kỷ—ích kỷ quốc gia, chủng tộc, chính trị, tôn giáo và cá nhân.
The practical aspect of the mode of elimination of the hindrances can also be simply stated. The vision will appear as fact on Earth when individuals willingly submerge their personal interests in the good of the group; when the group or groups merge their interests in the national good, when nations give up their selfish purposes and aims for international good, and when this international right relation is based upon the total good of humanity itself. Thus the individual can play his part in the bigger whole, and his help is needed, and thus the sense of individual futility is negated. To the most unimportant man in the most unimportant national unit there comes the call for sacrifice and service to the group of which he is part. Eventually humanity itself is thus swung—again as an integral unit—into the service of the Planetary Life.
Phương diện thực tiễn của phương thức loại bỏ các chướng ngại cũng có thể được phát biểu một cách đơn giản. Linh ảnh sẽ xuất hiện như một sự kiện trên Trái Đất khi các cá nhân sẵn lòng dìm lợi ích cá nhân của mình vào thiện ích của nhóm; khi nhóm hay các nhóm hòa nhập lợi ích của mình vào thiện ích quốc gia; khi các quốc gia từ bỏ những mục đích và mục tiêu ích kỷ của mình vì thiện ích quốc tế; và khi tương quan quốc tế đúng đắn này được đặt nền trên thiện ích toàn thể của chính nhân loại. Như vậy cá nhân có thể đóng vai trò của mình trong toàn thể lớn hơn, và sự trợ giúp của y là cần thiết, và như vậy cảm giác vô dụng của cá nhân bị phủ nhận. Đối với người ít quan trọng nhất trong đơn vị quốc gia ít quan trọng nhất cũng có lời kêu gọi hi sinh và phụng sự cho nhóm mà y là một phần của nó. Cuối cùng, chính nhân loại nhờ đó lại được đưa—như một đơn vị toàn vẹn—vào sự phụng sự Sự sống Hành tinh.
In the above you have an attempt to portray the wider vision with its demanded, practical effort, and also an indication of the larger possibility which faces humanity. It is in truth for this the Allies fight and against which Germany today rallies her war machine.
Trong phần trên, bạn có một nỗ lực nhằm phác họa linh ảnh rộng lớn hơn cùng với nỗ lực thực tiễn được đòi hỏi của nó, và cũng có một chỉ dẫn về khả năng lớn lao hơn đang đối diện nhân loại. Thật ra, chính vì điều này mà phe Đồng Minh chiến đấu và cũng chính chống lại điều này mà nước Đức ngày nay huy động cỗ máy chiến tranh của mình.
What now of the immediate present, and what can the individual do to aid the cause of humanity and arrest the tide of evil? If he is fighting already upon the side of the Forces of Light and of the Allies, he knows his destiny and service. But what of those who question what they can do, and yet are eager to see clearly and to play their part when right vision is theirs? To them I would say the following things:
Vậy còn hiện tại trước mắt thì sao, và cá nhân có thể làm gì để trợ giúp chính nghĩa của nhân loại và ngăn chặn làn sóng ác? Nếu y đã đang chiến đấu về phía các Lực lượng Ánh sáng và phe Đồng Minh, thì y biết định mệnh và sự phụng sự của mình. Nhưng còn những người tự hỏi họ có thể làm gì, mà vẫn tha thiết muốn thấy rõ và đóng vai trò của mình khi họ có được tầm nhìn đúng đắn thì sao? Với họ tôi muốn nói những điều sau đây:
1. Eliminate prejudice, national pride, and religious antipathies out of your consciousness. The past mistakes of the Allies, as history gives them, are facts which they themselves do not deny. They stand not alone in selfishness, for [245] the same faults taint every national record. But they stand today for a new and spiritual order, based on a desire for synthesis, right methods of government and the good of the people. The unhappy past of all nations is today used as an alibi by those who do not choose to shoulder responsibility, or to sacrifice anything for the cause of humanity. A recognition of our own shortcomings and a spirit of tolerance and forgiveness are needed by all today.
1. Hãy loại bỏ thành kiến, kiêu hãnh dân tộc và những ác cảm tôn giáo ra khỏi tâm thức của bạn. Những sai lầm trong quá khứ của phe Đồng Minh, như lịch sử ghi lại, là những sự kiện mà chính họ cũng không phủ nhận. Họ không đơn độc trong tính ích kỷ, vì [245] những lỗi lầm ấy làm hoen ố hồ sơ của mọi quốc gia. Nhưng ngày nay họ đang đứng về một trật tự mới và tinh thần, dựa trên khát vọng tổng hợp, các phương pháp cai trị đúng đắn và thiện ích của dân chúng. Quá khứ bất hạnh của mọi quốc gia ngày nay đang bị dùng như một cái cớ bởi những kẻ không chọn gánh lấy trách nhiệm, hay hi sinh bất cứ điều gì cho chính nghĩa của nhân loại. Sự nhìn nhận những thiếu sót của chính chúng ta và một tinh thần khoan dung cùng tha thứ là điều ngày nay mọi người đều cần.
2. Refuse to be afraid of any results of right and positive action. Fear lies behind much of the dissenting attitudes today, and fear kills truth, hides the vision and arrests right action. The great Leader of this Christian era has warned us not to be afraid of those who kill the body, but to fear only those who seek to kill the soul. The forces of aggression are slowly and ruthlessly killing out love and hope (qualities of the soul) in the conquered lands and in Germany. This, along with the great humanitarian plea, is sufficient reason to impel all men of goodwill to take up arms on the side of the Forces of Light. I would commend this to your imaginative attention. To put it even more practically, I would ask you if you would care to have your children subjected to the educational processes of the Nazi regime—with its crushing of all humanity, its emphasis upon pride of race and its cult of cruelty? Can you then stand idly by or simply resort to prayer and talk about the beauties of peace when the little children in the appropriated lands come under the soul-killing system of Germany? Refuse, then, in their interests, to be afraid.
2. Hãy từ chối sợ hãi bất kỳ kết quả nào của hành động đúng đắn và tích cực. Sợ hãi nằm phía sau phần lớn những thái độ bất đồng ngày nay, và sợ hãi giết chết chân lý, che khuất linh ảnh và ngăn chặn hành động đúng đắn. Vị Lãnh Đạo vĩ đại của kỷ nguyên Cơ Đốc này đã cảnh báo chúng ta đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà chỉ nên sợ những kẻ tìm cách giết linh hồn. Các lực lượng xâm lược đang chậm rãi và tàn nhẫn giết chết tình thương và hy vọng (những phẩm tính của linh hồn) tại các vùng đất bị chinh phục và tại nước Đức. Điều này, cùng với lời kêu gọi nhân đạo lớn lao, là lý do đầy đủ để thúc đẩy mọi người thiện chí cầm vũ khí về phía các Lực lượng Ánh sáng. Tôi muốn khuyến nghị điều này đến sự chú ý bằng tưởng tượng của bạn. Nói một cách thực tiễn hơn nữa, tôi muốn hỏi bạn liệu bạn có muốn con cái mình bị đặt dưới các tiến trình giáo dục của chế độ Quốc Xã—với sự nghiền nát mọi tính người, sự nhấn mạnh vào kiêu hãnh chủng tộc và sự sùng bái tàn ác—hay không? Vậy thì bạn có thể đứng yên không làm gì hoặc chỉ cầu nguyện và nói về vẻ đẹp của hòa bình khi những đứa trẻ nhỏ ở các vùng đất bị chiếm đoạt đang rơi vào hệ thống giết chết linh hồn của nước Đức sao? Vậy thì, vì lợi ích của chúng, hãy từ chối sợ hãi.
3. Having sensed the vision, recognised the hindrances, and dealt with innate prejudice and fear, it will then become apparent to you what (in the face of this dangerous crisis) you must do. It is not for me to tell you what it is. The details are for you to decide; the methods which you must employ will become clear to you; the humanitarian issues will become increasingly plain to you; you will then range yourself on the side of the Forces of Light, and will uphold the hands of those who are fighting for world peace and security, preparatory to the inauguration of the new world [246] order. This you will do with no thought of self. You will face life truly and sincerely, with a fully dedicated sacrifice of time, self, money and, if need be, of life. You will realise dynamically that the attitude of the passive onlooker is not that of the agent of the Forces of Light or of a lover of humanity.
3. Sau khi đã cảm nhận linh ảnh, nhận ra các chướng ngại, và xử lý thành kiến bẩm sinh cùng nỗi sợ, thì điều bạn phải làm (trước cuộc khủng hoảng nguy hiểm này) sẽ trở nên hiển nhiên với bạn. Tôi không phải là người nói cho bạn biết điều đó là gì. Chi tiết là để bạn tự quyết định; các phương pháp mà bạn phải sử dụng sẽ trở nên rõ ràng với bạn; các vấn đề nhân đạo sẽ ngày càng sáng tỏ đối với bạn; khi đó bạn sẽ đứng về phía các Lực lượng Ánh sáng, và sẽ nâng đỡ tay những người đang chiến đấu cho hòa bình và an ninh thế giới, như sự chuẩn bị cho việc khai mở trật tự thế giới mới [246]. Bạn sẽ làm điều này mà không nghĩ đến bản thân. Bạn sẽ đối diện đời sống một cách chân thật và chân thành, với sự hi sinh trọn vẹn thời gian, bản thân, tiền bạc và, nếu cần, cả mạng sống. Bạn sẽ chứng nghiệm một cách năng động rằng thái độ của kẻ đứng ngoài thụ động không phải là thái độ của tác nhân của các Lực lượng Ánh sáng hay của người yêu thương nhân loại.
4. You will also learn to keep your mind free from hate, refusing to hate the deluded sinner even when imposing upon him the penalty of his sin. Hate and separation must cease, and they will cease as the individual aspirant stamps them out in his own life. The great error of the neutrally minded and of the pacifist is his refusal to identify himself constructively with human pain. Even when he reacts with violent emotion over the suffering, for instance, of little children in this great war, and of the defenceless refugee, he does not truly care enough to do anything about the situation, involving as it does sacrifice. This sounds harsh, but is a needed statement of fact. Sympathy which does not produce positive action of some kind becomes a festering sore.
4. Bạn cũng sẽ học cách giữ cho trí tuệ mình không có hận thù, từ chối ghét bỏ kẻ tội lỗi bị mê lầm ngay cả khi áp đặt lên y hình phạt của tội lỗi y. Hận thù và chia rẽ phải chấm dứt, và chúng sẽ chấm dứt khi người chí nguyện cá nhân dập tắt chúng trong chính đời sống của mình. Sai lầm lớn của người có đầu óc trung lập và của người chủ hòa là y từ chối đồng hoá với nỗi đau của nhân loại theo cách xây dựng. Ngay cả khi y phản ứng bằng cảm xúc mãnh liệt trước nỗi khổ, chẳng hạn, của những đứa trẻ nhỏ trong cuộc đại chiến này, và của người tị nạn không có khả năng tự vệ, y vẫn không thật sự quan tâm đủ để làm điều gì đó đối với tình hình, bởi điều đó đòi hỏi hi sinh. Điều này nghe có vẻ khắc nghiệt, nhưng là một phát biểu sự thật cần thiết. Lòng cảm thông không tạo ra hành động tích cực dưới một hình thức nào đó sẽ trở thành một vết thương mưng mủ.
Thus, by thought and word and deed, the lover of humanity will enter the battle against evil; with complete self-forgetfulness, he will take up the cause of humanity, hiding not behind the sense of futility and seeking no alibi in a misinterpreted idealism. He will face the facts of the present situation in the light which streams from the vision itself. He will then press forward into the age of right human relations, of spiritual unity and shared resources with complete confidence because his sense of values is adjusted. He knows that humanity has a divine mission which must be carried out on the wings of love, through understanding action, selfless service and the willingness to die in battle if that is the only way in which his brother can be served and freed.
Như vậy, bằng tư tưởng, lời nói và hành động, người yêu thương nhân loại sẽ bước vào cuộc chiến chống lại điều ác; với sự quên mình hoàn toàn, y sẽ đảm nhận chính nghĩa của nhân loại, không ẩn nấp sau cảm giác vô dụng và không tìm cớ trong một lý tưởng bị diễn giải sai. Y sẽ đối diện các sự kiện của tình hình hiện tại trong ánh sáng tuôn chảy từ chính linh ảnh ấy. Khi đó y sẽ tiến bước vào kỷ nguyên của các tương quan nhân loại đúng đắn, của sự hợp nhất tinh thần và của tài nguyên được chia sẻ với sự tin tưởng trọn vẹn vì ý thức về giá trị của y đã được điều chỉnh. Y biết rằng nhân loại có một sứ mệnh thiêng liêng phải được thực hiện trên đôi cánh của tình thương, qua hành động đầy thấu hiểu, sự phụng sự vô ngã và sự sẵn lòng chết trong chiến trận nếu đó là cách duy nhất mà huynh đệ của y có thể được phụng sự và giải thoát.
Having now presented the attitude towards the present world crisis which seems to me consistent with all that I have taught in the past and in line with the teaching of the [247] Hierarchy, and having made clear the basic dualism which underlies this conflict, and pointed out the lines of demarcation which are clearly emerging, I now call upon all of you to stand with the Forces of Light.
Sau khi giờ đây đã trình bày thái độ đối với cuộc khủng hoảng thế giới hiện tại mà theo tôi là phù hợp với tất cả những gì tôi đã giảng dạy trong quá khứ và phù hợp với giáo huấn của [247] Thánh đoàn, và sau khi đã làm rõ tính nhị nguyên căn bản nằm dưới cuộc xung đột này, cũng như chỉ ra những đường ranh giới đang hiện ra rõ rệt, giờ đây tôi kêu gọi tất cả các bạn hãy đứng cùng các Lực lượng Ánh sáng.
These are difficult and terrible days. Men and women are needed who have the courage and the insight to stand with steadfastness and to take the steps which are needed—no matter what they may be—to bring this war to an end. Vast sections of humanity can do no more than acquiesce in the unhappy fate which has overtaken them. They are unable to think or pray or even to summon faith to their aid. They feel without hope. For them, you must think; for them, you must pray; for them, you must have faith and—above all else at this time—for them you must act. The work of reconstruction lies in the future. The demand today is for the building of a bulwark of defence around humanity; then—having fulfilled every physical plane requirement—to stand immovable. But you must stand with faces turned towards the enemy of the souls of men, ready to do battle, literally and physically, ready to take every needed step to drive the enemy back, and ready to sacrifice to the uttermost so that he may advance no further.
Đây là những ngày khó khăn và khủng khiếp. Cần có những người nam và nữ có can đảm và linh thị để đứng vững vàng và thực hiện những bước cần thiết—dù đó là gì đi nữa—để chấm dứt cuộc chiến này. Những bộ phận rộng lớn của nhân loại không thể làm gì hơn ngoài việc cam chịu số phận bất hạnh đã ập xuống họ. Họ không thể suy nghĩ hay cầu nguyện hay thậm chí triệu tập đức tin để trợ giúp mình. Họ cảm thấy không còn hy vọng. Thay cho họ, bạn phải suy nghĩ; thay cho họ, bạn phải cầu nguyện; thay cho họ, bạn phải có đức tin và—trên hết vào lúc này—thay cho họ, bạn phải hành động. Công việc tái thiết nằm trong tương lai. Nhu cầu ngày nay là xây dựng một bức thành phòng thủ quanh nhân loại; rồi sau đó—sau khi đã hoàn thành mọi đòi hỏi của cõi hồng trần—hãy đứng bất lay chuyển. Nhưng bạn phải đứng với khuôn mặt hướng về kẻ thù của linh hồn con người, sẵn sàng chiến đấu, theo nghĩa đen và trên phương diện hồng trần, sẵn sàng thực hiện mọi bước cần thiết để đẩy lùi kẻ thù, và sẵn sàng hi sinh đến mức tận cùng để y không thể tiến xa hơn nữa.
Your work will, therefore, be of a threefold nature. On the levels of mental consciousness, your vision of the need and of the future will be clear, inspiring you and enabling you to be a source of strength to all around you; your faith will see behind the obvious to the “substance of things hoped for, the evidence of things not seen,” as the initiate, Paul, expresses it; your thought will then be anchored in right action, soul directed. On the emotional side of life, you will find no time for idle tears or for vague, sympathetic talk, because you will be completely identified with what is going on and all emotional energy will be directed to the pursuit of every available mode of practically alleviating the pain. The heart energy will be occupied with the task of giving understanding help so that there is no scope for the usual emotional solar plexus reactions. On the physical plane you will not be occupied with the problem of what to do, [248] because every physical effort, time, and personality emphasis will be directed to the shouldering of your due share in arresting the forces of aggression from any further advance. This might mean fighting in the ranks of the Allied Armies, or it might mean driving an ambulance under Red Cross auspices; raising funds to succour the refugees; speaking on public platforms or to groups upon the issues at stake, or participating in some form of national effort to bring aid and strength to the Allies. Whatever it is, it will call for all that is in you and all that you are, integrated and directed to a sustained, substantial, one-pointed effort.
Vì vậy, công việc của bạn sẽ có tính tam phân. Trên các cấp độ của tâm thức trí tuệ, tầm nhìn của bạn về nhu cầu và về tương lai sẽ rõ ràng, truyền cảm hứng cho bạn và giúp bạn trở thành một nguồn sức mạnh cho tất cả những người quanh bạn; đức tin của bạn sẽ nhìn xuyên qua cái hiển nhiên để thấy “chất liệu của những điều được hy vọng, bằng chứng của những điều không thấy được,” như điểm đạo đồ Paul đã diễn tả; khi đó tư tưởng của bạn sẽ được neo trong hành động đúng đắn, do linh hồn chỉ đạo. Về mặt đời sống cảm xúc, bạn sẽ không còn thời gian cho những giọt nước mắt vô ích hay những lời nói cảm thông mơ hồ, vì bạn sẽ hoàn toàn đồng hoá với những gì đang diễn ra và toàn bộ năng lượng cảm xúc sẽ được hướng vào việc theo đuổi mọi phương cách sẵn có để làm dịu nỗi đau một cách thực tiễn. Năng lượng tim sẽ bận rộn với nhiệm vụ trao sự trợ giúp đầy thấu hiểu để không còn chỗ cho những phản ứng cảm xúc thông thường của tùng thái dương. Trên cõi hồng trần, bạn sẽ không bận tâm với vấn đề phải làm gì, [248] vì mọi nỗ lực hồng trần, thời gian và sự nhấn mạnh phàm ngã sẽ được hướng vào việc gánh lấy phần trách nhiệm chính đáng của bạn trong việc ngăn chặn các lực lượng xâm lược tiến xa hơn nữa. Điều này có thể có nghĩa là chiến đấu trong hàng ngũ các quân đội Đồng Minh, hoặc có thể có nghĩa là lái xe cứu thương dưới sự bảo trợ của Hội Hồng Thập Tự; quyên góp quỹ để cứu trợ người tị nạn; diễn thuyết trên diễn đàn công cộng hoặc trước các nhóm về những vấn đề đang bị đe dọa, hoặc tham gia vào một hình thức nỗ lực quốc gia nào đó để mang sự trợ giúp và sức mạnh đến cho phe Đồng Minh. Dù đó là gì, nó cũng sẽ đòi hỏi tất cả những gì ở trong bạn và tất cả những gì bạn là, được tích hợp và hướng vào một nỗ lực bền bỉ, thực chất, nhất tâm.
It will throw your will-to-good behind every attempt to frustrate the activities of the evil alliance which you may find in your environment; it will lead you to work with watchfulness for the good of your own country, whilst at the same time swelling the tide of the national effort to end war through the tangible victory of the Forces of Light. Ponder on these words.
Điều đó sẽ đặt Ý Chí-hướng Thiện của bạn phía sau mọi nỗ lực nhằm làm thất bại các hoạt động của liên minh ác mà bạn có thể thấy trong môi trường của mình; nó sẽ dẫn bạn đến chỗ làm việc với sự tỉnh thức vì thiện ích của chính đất nước bạn, đồng thời làm dâng cao làn sóng nỗ lực quốc gia nhằm chấm dứt chiến tranh qua chiến thắng hữu hình của các Lực lượng Ánh sáng. Hãy suy ngẫm về những lời này.
The goodwill effort of the world, which I sought earlier to inaugurate and to synthesise, has passed through a negative stage and through an interlude wherein it was not possible to work actively. The needs of the New Group of World Servers calls it now into a renewed positive activity. The rediscovery and the immediate sustaining of the members of this group must be undertaken anew. In all lands they must be reached, if possible, and rehabilitated with wisdom, and re-established subjectively. They must be aided objectively and again inspired to work in order that they may form the nucleus of the Forces of Reconstruction when the Forces of Light have won the victory over the forces of aggression. This is the first point which I would ask you to consider doing.
Nỗ lực thiện chí của thế giới, mà trước đây tôi đã tìm cách khai mở và tổng hợp, đã đi qua một giai đoạn tiêu cực và một quãng xen giữa trong đó không thể hoạt động tích cực. Nhu cầu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nay kêu gọi nó bước vào một hoạt động tích cực được đổi mới. Việc tái khám phá và ngay lập tức nâng đỡ các thành viên của nhóm này phải được thực hiện lại. Ở mọi quốc gia, nếu có thể, họ phải được tiếp cận, được phục hồi với minh triết, và được tái lập một cách chủ quan. Họ phải được trợ giúp một cách khách quan và lại được truyền cảm hứng để hoạt động hầu họ có thể tạo thành hạt nhân của Các Lực lượng Tái Thiết khi các Lực lượng Ánh sáng đã giành chiến thắng trước các lực lượng xâm lược. Đây là điểm đầu tiên mà tôi muốn yêu cầu bạn cân nhắc thực hiện.
The second thing is to begin the dynamic use of another Stanza of the Great Invocation. That which you have hitherto used has now served its immediate purpose, though it can again be called into use after the war is over. I give you now another set of phrases which can (if rightly used) invoke the Forces of the Divine Will on to the side of the [249] Forces of Light. It is not easy to give an adequate translation or paraphrase of this power-mantram, nor is it easy to step it down sufficiently so that it can be safely used by all, yet at the same time preserve its challenging, dynamic quality. The following sentences will suffice, however, and if used by you with focussed intention and with the attitude of a sacrificial personality (held silently dedicated in the light of the soul), much power may be generated. Along the lines of power which you may thus succeed in setting up may come that which is needed to release humanity from the thraldom of evil, provided the nature of the sacrificial will is somewhat understood by you.
Điều thứ hai là bắt đầu sử dụng một cách năng động một Bài kệ khác của Đại Khấn Nguyện. Điều mà cho đến nay bạn đã sử dụng nay đã phục vụ mục đích trước mắt của nó, dù sau khi chiến tranh kết thúc nó có thể lại được dùng đến. Giờ đây tôi trao cho bạn một tập hợp cụm từ khác, những cụm từ có thể (nếu được dùng đúng) khẩn cầu các Lực lượng của Ý Chí thiêng liêng đứng về phía [249] các Lực lượng Ánh sáng. Không dễ để đưa ra một bản dịch hay diễn giải đầy đủ về quyền năng mantram này, cũng không dễ để hạ thấp nó đủ mức để mọi người đều có thể dùng một cách an toàn, mà đồng thời vẫn giữ được phẩm tính đầy thách thức và năng động của nó. Tuy nhiên, những câu sau đây là đủ, và nếu được bạn sử dụng với ý định tập trung và với thái độ của một phàm ngã hi sinh (được giữ trong sự thánh hiến thầm lặng dưới ánh sáng của linh hồn), thì nhiều mãnh lực có thể được tạo ra. Dọc theo những đường mãnh lực mà nhờ đó bạn có thể thành công thiết lập, điều cần thiết để giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ của điều ác có thể đến, miễn là bản chất của ý chí hi sinh được bạn phần nào thấu hiểu.
Let the Lords of Liberation issue forth.
Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
Let Them bring succour to the sons of men.
Cầu xin Các Ngài mang cứu trợ đến cho những người con của nhân loại.
Let the Rider from the secret Place come forth,
Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi bí mật xuất hiện,
And coming, save.
Và khi đến, cứu vớt.
Come forth, O Mighty One.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
~
~
Let the souls of men awaken to the Light,
Cầu xin linh hồn con người thức tỉnh trước Ánh sáng,
And may they stand with massed intent.
Và cầu xin họ đứng lên với ý định tập thể.
Let the fiat of the Lord go forth:
Cầu xin phán lệnh của Chúa Tể được ban ra:
The end of woe has come!
Sự khổ đau đã chấm dứt!
Come forth, O Mighty One.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
The hour of service of the Saving Force has now arrived.
Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến.
Let it be spread abroad, O Mighty One.
Cầu xin nó được lan truyền rộng khắp, hỡi Đấng Đại Hùng.
~
~
Let Light and Love and Power and Death
Cầu xin Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng và Cái Chết
Fulfil the purpose of the Coming One.
Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.
The Will to save is here,
Ý chí cứu vớt đang hiện diện,
The Love to carry forth the work is widely spread abroad.
Tình thương để tiếp tục công việc đang được lan truyền rộng khắp.
The Active Aid of all who know the truth is also here.
Sự Trợ Giúp Tích Cực của tất cả những ai biết chân lý cũng đang hiện diện.
Come forth, O Mighty One and blend these three.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng và dung hợp ba điều này.
Construct a great defending wall.
Hãy kiến tạo một bức tường phòng thủ vĩ đại.
The rule of evil now must end.
Sự cai trị của điều ác nay phải chấm dứt.
If, therefore, you will say these three stanzas with a focussed affirmative will, a great potency may be released for [250] the salvaging of humanity and the immediate defeat of the forces of aggression. But I would reiterate that the use of these words must be accompanied by the dedication of your personality life to the cause of humanity, and by the transmutation of your personal will into the sacrificial will of the soul.
Vì vậy, nếu bạn đọc ba bài kệ này với một ý chí khẳng định tập trung, một mãnh lực lớn có thể được giải phóng để [250] cứu vớt nhân loại và đánh bại ngay lập tức các lực lượng xâm lược. Nhưng tôi xin nhắc lại rằng việc sử dụng những lời này phải đi kèm với sự hiến dâng đời sống phàm ngã của bạn cho chính nghĩa của nhân loại, và với sự chuyển hoá ý chí cá nhân của bạn thành ý chí hi sinh của linh hồn.
Finally, I would ask you to get in touch as soon as you can with the headquarters of the goodwill work and indicate also your willingness to cooperate to the fullest extent with the Forces of Light. This will serve practically to focus your effort. I would ask you also to make it possible to disseminate this article on the widest scale that is possible, so that the use of the new Invocation may be widespread. There are many to whom it could be sent, and it would arouse them anew to fresh activity and hopeful effort. I would ask you to use this new Invocation with faith, for it blends into a magnetic unity the forces of the divine Will-to-Good, the Love which underlies the efforts of the Hierarchy, and the Intelligent Activity of humanity, thus creating a reservoir of power into which the energy of the three divine centres can pour and upon which the Forces of Light can draw. The saying of this Invocation is not a substitute for the physical plane effort on your part; it is complementary to that, and the more you are serving upon the physical plane, the more effective will be your use of the new Invocation.
Sau cùng, tôi muốn yêu cầu bạn hãy liên lạc càng sớm càng tốt với trụ sở công tác thiện chí và cũng cho biết sự sẵn lòng của bạn trong việc hợp tác đến mức tối đa với các Lực lượng Ánh sáng. Điều này sẽ phục vụ một cách thực tiễn cho việc tập trung nỗ lực của bạn. Tôi cũng muốn yêu cầu bạn làm cho bài viết này có thể được phổ biến ở quy mô rộng nhất có thể, để việc sử dụng Đại Khấn Nguyện mới này được lan rộng. Có nhiều người mà nó có thể được gửi đến, và nó sẽ đánh thức họ một lần nữa để bước vào hoạt động mới mẻ và nỗ lực đầy hy vọng. Tôi muốn yêu cầu bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện mới này với đức tin, vì nó dung hợp trong một hợp nhất từ tính các lực lượng của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng, Tình thương làm nền cho các nỗ lực của Thánh đoàn, và Hoạt Động Thông Minh của nhân loại, nhờ đó tạo ra một hồ chứa mãnh lực mà vào đó năng lượng của ba trung tâm thiêng liêng có thể tuôn đổ và trên đó các Lực lượng Ánh sáng có thể rút dùng. Việc đọc Đại Khấn Nguyện này không thay thế cho nỗ lực trên cõi hồng trần của bạn; nó bổ sung cho điều đó, và bạn càng phụng sự trên cõi hồng trần bao nhiêu thì việc bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện mới càng hữu hiệu bấy nhiêu.
I said earlier that the war could have been averted from expression on the physical plane had the disciples and aspirants of the world measured up to their opportunity and responsibilities. The Great Invocation was rendered relatively powerless, from the angle of dynamic usefulness, because the majority of those who used it turned it into a peace prayer. It was instead a great spiritually militant invocative demand. This must not happen with this Stanza of Invocation. It is a demand; it is also an authoritative affirmation of existent fact; it sets in motion agencies and forces hitherto quiescent, and these can change the face of the world battlefield; it invokes the Prince of Peace, but He [251] carries a sword, and the effects of His activity may prove surprising to those who see only the needs of the form aspect of humanity.
Trước đây tôi đã nói rằng chiến tranh có thể đã được ngăn không cho biểu hiện trên cõi hồng trần nếu các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới đã đáp ứng đúng cơ hội và trách nhiệm của mình. Đại Khấn Nguyện đã trở nên tương đối bất lực, xét từ góc độ tính hữu dụng năng động, vì đa số những người sử dụng nó đã biến nó thành một lời cầu nguyện cho hòa bình. Thay vào đó, nó là một lời khẩn cầu chiến đấu tinh thần vĩ đại. Điều này không được phép xảy ra với Bài kệ Khẩn Cầu này. Nó là một lời yêu cầu; nó cũng là một sự khẳng định có thẩm quyền về một sự kiện hiện hữu; nó đặt vào chuyển động những tác nhân và mãnh lực từ trước đến nay vẫn yên lặng, và những điều này có thể thay đổi bộ mặt của chiến trường thế giới; nó khẩn cầu Hoàng Tử Hòa Bình, nhưng Ngài [251] mang một thanh gươm, và các hiệu quả của hoạt động của Ngài có thể gây ngạc nhiên cho những ai chỉ nhìn thấy các nhu cầu của phương diện hình tướng của nhân loại.
That strength and enlightenment may be yours and the power to stand and the ability to fight for the release of humanity is the prayer and the appeal of your brother, the Tibetan.
Nguyện cầu sức mạnh và sự soi sáng thuộc về bạn, cùng quyền năng để đứng vững và khả năng chiến đấu cho sự giải phóng của nhân loại, đó là lời cầu nguyện và lời kêu gọi của huynh đệ của bạn, Chân sư Tây Tạng.
~
~