Trích nội dung chương
The "beast" must be driven back [Page 847] for his own good to run his cycle, hidden in his den and confined within safe limits until the dawning of a new system brings him conscious opportunity. “Con thú” phải bị đẩy lùi [Page 847] vì lợi ích của chính nó để nó trải qua chu kỳ của mình, ẩn trong hang của nó và bị giam giữ trong những giới hạn an toàn cho đến khi bình minh của một hệ thống mới mang đến cho nó cơ hội hữu thức.
The "beast" must be driven back [Page 847] for his own good to run his cycle, hidden in his den and confined within safe limits until the dawning of a new system brings him conscious opportunity.
“Con thú” phải bị đẩy lùi [Page 847] vì lợi ích của chính nó để nó trải qua chu kỳ của mình, ẩn trong hang của nó và bị giam giữ trong những giới hạn an toàn cho đến khi bình minh của một hệ thống mới mang đến cho nó cơ hội hữu thức.
105. A “beast” has been prematurely released into a planetary system (and perhaps, into a solar logoic system). We do not know, with certainty, whether our Solar Logos is, correspondingly, in a difficulty comparable to the difficulty in which our Planetary Logos finds Himself.
105. Một “con thú” đã bị giải phóng quá sớm vào một hệ hành tinh (và có lẽ vào một hệ thái dương thượng đế). Chúng ta không biết chắc liệu Thái dương Thượng đế của chúng ta có đang ở trong một khó khăn tương ứng với khó khăn mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang gặp phải hay không.
106. We see here the union of such topics as premature revelation, over-stimulation, rampant instinctuality, etc.
106. Ở đây chúng ta thấy sự kết hợp của những chủ đề như sự mặc khải quá sớm, sự kích thích quá mức, tính bản năng thái quá, v.v.
107. When, in the Great Invocation, we are asked to participate in sealing the “door where evil dwells” (which the Divine “Plan” must accomplish), and when we are asked in the potent meditation found under Rule X in The Rays and the Initiations, to assist in forcing streams of evil back onto the astral plane, we see that we are being asked participate in this process of ‘driving back’ which the Planetary Logos must now undertake as a result the His premature compassion He expressed on the Moon-chain. This same process may also be occurring at a solar systemic level. Our Solar Logos is not yet a sacred Solar Logos.
107. Khi trong Đại Khấn Nguyện, chúng ta được yêu cầu tham gia vào việc niêm phong “cánh cửa nơi điều ác ngự trị” (điều mà Thiên Cơ phải hoàn thành), và khi trong bài tham thiền mạnh mẽ được tìm thấy dưới Quy luật X trong Các Cung và các Điểm Đạo, chúng ta được yêu cầu trợ giúp trong việc ép các dòng điều ác trở lại cõi cảm dục, chúng ta thấy rằng mình đang được yêu cầu tham gia vào tiến trình “đẩy lùi” này mà Hành Tinh Thượng Đế hiện nay phải đảm nhận do lòng từ bi quá sớm mà Ngài đã biểu lộ trên Dãy Mặt Trăng. Tiến trình tương tự này cũng có thể đang xảy ra ở cấp độ hệ mặt trời. Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phải là một Thái dương Thượng đế thiêng liêng.
108. Much is being revealed here about the nature of evil. We hear of the “dens of evil” (on the astral plane, particularly). The use of the word “den” in relation to the “planetary Entity” (and, perhaps, its higher and solar counterpart) is not accidental.
108. Ở đây nhiều điều đang được mặc khải về bản chất của điều ác. Chúng ta nghe nói đến “những hang ổ của điều ác” (đặc biệt trên cõi cảm dục). Việc dùng từ “hang” liên hệ với “thực thể hành tinh” (và có lẽ với đối phần cao hơn và thái dương của nó) không phải là ngẫu nhiên.
109. The role of Saturn as guardian and ‘jailor’ is not to be overlooked. Saturn, in relation to, a human being, works to confine those aspects of life which cannot yet be correctly and successfully handled by the incarnating human being. We must not suppose that we human beings can manage all forces to which we may be exposed.
109. Không nên bỏ qua vai trò của Sao Thổ như người canh giữ và ‘ngục tốt’. Sao Thổ, trong liên hệ với một con người, hoạt động để giam giữ những phương diện của sự sống mà con người đang nhập thể ấy chưa thể xử lý đúng đắn và thành công. Chúng ta không được cho rằng loài người chúng ta có thể quản trị mọi mãnh lực mà mình có thể bị đặt vào tiếp xúc.
110. The use of the word “beast” suggest Mars (the number of which may be presumed as 666). Mars is the planet ruling the Creative Hierarchy of Lunar Lords and is, thus, intimately related to our Moon. This Martian function probably also has application throughout the solar system, as the Creative Hierarchies tabulated in Esoteric Astrology, 35, are not only planetary in nature, but occur throughout the solar system.
110. Việc dùng từ “con thú” gợi đến Sao Hỏa (mà con số của nó có thể được giả định là 666). Sao Hỏa là hành tinh cai quản Huyền Giai Sáng Tạo của các Chúa Tể Thái Âm và do đó liên hệ mật thiết với Mặt Trăng của chúng ta. Chức năng Sao Hỏa này có lẽ cũng được áp dụng khắp hệ mặt trời, vì các Huyền Giai Sáng Tạo được lập bảng trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, 35, không chỉ có bản chất hành tinh mà còn hiện diện khắp hệ mặt trời.
111. Right now the “beast” (in relation to our planetary scheme) has no consciousness, no awareness. His release has meant the introduction of chaos into the life of the Earth-scheme and, perhaps, within the entire solar system. We do not know whether the Solar Logos was afflicted with “premature compassion” (as our Planetary Logos was), but we do know that the Solar Logos has struggles which are comparable to those of our Planetary Logos.
111. Ngay lúc này “con thú” (liên hệ với hệ hành tinh của chúng ta) không có tâm thức, không có nhận biết. Việc giải phóng nó đã có nghĩa là đưa hỗn loạn vào đời sống của hệ hành tinh Trái Đất và có lẽ cả trong toàn bộ hệ mặt trời. Chúng ta không biết liệu Thái dương Thượng đế có bị “lòng từ bi quá sớm” chi phối hay không (như Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã bị), nhưng chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế có những cuộc đấu tranh tương tự với những cuộc đấu tranh của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.
112. Conscious opportunity comes for the “beast” in the next solar system. It (the “beast”) is a Life which is neither deva nor human and will only find rightful expression in the Will System, at which time this third form of Life can safely emerge.
112. Cơ hội hữu thức đến cho “con thú” trong hệ mặt trời kế tiếp. Nó (“con thú”) là một Sự Sống không phải thiên thần cũng không phải con người, và sẽ chỉ tìm được biểu lộ chính đáng trong Hệ Ý Chí, vào lúc đó hình thức Sự Sống thứ ba này mới có thể xuất hiện một cách an toàn.
113. It is interesting to realize that mistakes can be made by such high Beings as a Planetary Logos or a Buddha.
113. Thật thú vị khi nhận ra rằng những sai lầm có thể được tạo ra bởi những Đấng cao cả như một Hành Tinh Thượng Đế hay một Đức Phật.
114. The Universe itself, on all levels, is in a state of profound ignorance when compared to the ABSOLUTE (even though the ABSOLUTE is, technically speaking the INCOMPARALE). The density of ignorance only lessens as we ascend the Ladder of Being. Ignorance does not vanish until ABSOLUTENESS prevails ABSOLUTELY.
114. Chính vũ trụ, trên mọi cấp độ, ở trong một trạng thái vô minh sâu xa khi so với TUYỆT ĐỐI THỂ (dù về mặt kỹ thuật mà nói, TUYỆT ĐỐI THỂ là ĐẤNG KHÔNG THỂ SO SÁNH). Mật độ của vô minh chỉ giảm bớt khi chúng ta đi lên Thang Bản Thể. Vô minh không biến mất cho đến khi TÍNH TUYỆT ĐỐI ngự trị một cách TUYỆT ĐỐI.
115. As human beings, we must ask, whether there is something in us which must be “driven back” until it is safe to have it emerge?
115. Là con người, chúng ta phải tự hỏi liệu có điều gì trong chúng ta phải bị “đẩy lùi” cho đến khi việc để nó xuất hiện trở nên an toàn hay không?
116. Probably the answer is, “Yes”. Each of us has the “beast” within, and only when we have entered those series of incarnations in which the Monad is released into the soul-infused personality life, it is safe to see the “beast” emerge. Then the “beast” can be subdued and managed.
116. Có lẽ câu trả lời là “Có”. Mỗi chúng ta đều có “con thú” ở bên trong, và chỉ khi chúng ta đã bước vào chuỗi nhập thể trong đó chân thần được giải phóng vào đời sống phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì mới an toàn để thấy “con thú” xuất hiện. Khi ấy “con thú” có thể được chế ngự và quản trị.
117. Such as series of lives (and they will not be many) is the analogy in the human developmental process to the onset of the third major solar system in the developmental process of our Solar Logos.
117. Một chuỗi sự sống như thế (và chúng sẽ không nhiều) là loại suy trong tiến trình phát triển của con người đối với sự khởi đầu của đại hệ mặt trời thứ ba trong tiến trình phát triển của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
More we may not say.
Chúng ta không thể nói thêm nữa.
118. We can see why this must be the case. These are profound mysteries dealing with dangerous matters. Humanity has, at times, almost become the “beast”. This we see in times of war—ruled, interestingly, by Mars, the number of which is 666, the “Number of the Beast”.
118. Chúng ta có thể thấy vì sao điều này phải là như vậy. Đây là những huyền nhiệm sâu xa liên quan đến những vấn đề nguy hiểm. Đôi khi, nhân loại hầu như đã trở thành “con thú”. Điều này chúng ta thấy trong thời chiến—một cách thú vị, do Sao Hỏa cai quản, mà con số của nó là 666, “Con Số của Con Thú”.
It must be remembered that the mysteries of existence are as yet but little cognised by man.
Cần nhớ rằng những huyền nhiệm của sự tồn tại cho đến nay vẫn chỉ mới được con người nhận biết rất ít.
119. Continued close study of A Treatise on Cosmic Fire reveals this to be the case. We awaken to the fact that we know virtually nothing of Reality and of the any types of L/lives which express this Reality.
119. Việc tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng Luận về Lửa Vũ Trụ cho thấy đúng là như vậy. Chúng ta thức tỉnh trước sự kiện rằng chúng ta hầu như không biết gì về Thực Tại và về bất kỳ loại Sự sống/sự sống nào biểu lộ Thực Tại này.
In cases where profound mysteries lie, man is often totally unaware of it; and frequently man remains blind and deaf where no mystery is but only revelation for those who have eyes to see and ears to hear.
Trong những trường hợp có các huyền nhiệm sâu xa, con người thường hoàn toàn không biết điều đó; và thường khi con người vẫn mù và điếc ở nơi không hề có huyền nhiệm mà chỉ có sự mặc khải dành cho những ai có mắt để thấy và tai để nghe.
120. We human beings customarily live in a state of profound ignorance. There is nothing we can do about this (at least not all at once) except slowly to lift the veil which conceals ever-deeper layers of reality from our consciousness.
120. Chúng ta, những con người, theo thói quen sống trong một trạng thái vô minh sâu đậm. Chúng ta không thể làm gì về điều này (ít nhất không phải ngay tức thì) ngoài việc từ từ nâng bức màn che giấu những tầng thực tại ngày càng sâu hơn khỏi tâm thức của chúng ta.
121. DK is distinguishing between “profound mysteries” and those states of potential consciousness which only seem to be mysteries but are, in fact, revealed “for those who have eyes to see and ears to hear”.
121. Chân sư DK đang phân biệt giữa “những huyền nhiệm sâu xa” và những trạng thái tâm thức tiềm tàng chỉ dường như là huyền nhiệm nhưng thật ra là sự mặc khải “dành cho những ai có mắt để thấy và tai để nghe”.
122. Relief from the latter type of ignorance is imminently possible. We can train ourselves in occultism (which, in many respects, is equivalent to training ourselves in ever-deepening perception). Tried and true methods have been given to us.
122. Sự giải thoát khỏi loại vô minh thứ hai này là điều có thể đạt được ngay trước mắt. Chúng ta có thể tự rèn luyện mình trong huyền bí học (mà trên nhiều phương diện tương đương với việc rèn luyện bản thân trong sự tri nhận ngày càng sâu sắc hơn). Những phương pháp đã được thử nghiệm và xác chứng đã được ban cho chúng ta.
123. With respect to the “profound mysteries” only time and much evolutionary development will make revelation possible.
123. Đối với “những huyền nhiệm sâu xa”, chỉ thời gian và rất nhiều phát triển tiến hoá mới có thể làm cho sự mặc khải trở nên khả hữu.
124. Incidentally, we can see DK telling us that we must cultivate our senses—especially the subtle senses of sight and hearing.
124. Nhân tiện, chúng ta có thể thấy Chân sư DK bảo chúng ta rằng chúng ta phải trau dồi các giác quan của mình—đặc biệt là những giác quan vi tế của thị giác và thính giác.
When man has penetrated to those secrets which lie behind the lower kingdoms in nature, when he has solved the problem of the constitution of the interior of the Earth, and has from there worked his way back to knowledge of the working of the involutionary path and the lives which tread that path, then and then only will he begin to realise the strangeness of that which lies beyond his ken.
Khi con người đã thâm nhập vào những bí mật nằm phía sau các giới thấp trong thiên nhiên, khi y đã giải được vấn đề về cấu tạo phần nội tại của Trái Đất, và từ đó lần ngược trở lại để hiểu biết về sự vận hành của con đường giáng hạ tiến hoá và những sự sống bước đi trên con đường ấy, thì khi đó và chỉ khi đó y mới bắt đầu chứng nghiệm sự kỳ lạ của điều nằm ngoài tầm hiểu biết của y.
125. DK is hinting at types of knowledge which man (at his present level of ignorance) must necessarily consider very strange.
125. Chân sư DK đang gợi ý về những loại tri thức mà con người (ở cấp độ vô minh hiện nay của mình) tất yếu phải xem là hết sức kỳ lạ.
126. DK is telling us that, for humanity, reality is inconceivably strange. When studying occultism, we often are prompted to realize that “truth is [indeed] stranger than fiction”.
126. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng, đối với nhân loại, thực tại kỳ lạ đến mức không thể quan niệm được. Khi nghiên cứu huyền bí học, chúng ta thường được thúc đẩy để nhận ra rằng “quả thật chân lý còn kỳ lạ hơn hư cấu”.
127. Let us tabulate what man must do to realize the strangeness with which he is surrounded:
127. Chúng ta hãy lập bảng những gì con người phải làm để chứng nghiệm sự kỳ lạ đang bao quanh mình:
a. He must penetrate those secrets which lie behind the lower kingdoms of nature.
a. Y phải thâm nhập vào những bí mật nằm phía sau các giới thấp của thiên nhiên.
b. He must solve the problem of the interior of the Earth
b. Y phải giải được vấn đề về phần nội tại của Trái Đất
c. He must, knowing something of the nature of the interior of the Earth, more fully understand the involutionary path and the lives which tread that path.
c. Y phải, khi đã biết phần nào về bản chất của phần nội tại của Trái Đất, thấu hiểu đầy đủ hơn con đường giáng hạ tiến hoá và những sự sống bước đi trên con đường ấy.
128. A number of hints are given by DK as He tells us how to proceed. May we infer that…
128. Chân sư DK đưa ra một số gợi ý khi Ngài cho chúng ta biết phải tiến hành như thế nào. Chúng ta có thể suy ra rằng…
a. the expression of the lower kingdoms of nature, are closely related to the expression of the lives upon the involutionary path?
a. sự biểu lộ của các giới thấp trong thiên nhiên có liên hệ mật thiết với sự biểu lộ của những sự sống trên con đường giáng hạ tiến hoá chăng?
b. the true nature of the “interior of the Earth” is presently unknown to man? The “hollow Earth theory” comes to mind in this respect.
b. bản chất đích thực của “phần nội tại của Trái Đất” hiện nay con người vẫn chưa biết chăng? “Thuyết Trái Đất rỗng” gợi lên trong tâm trí về phương diện này.
As said above, the aggregate of these lives is greater than the aggregate of those lives which form the sum total of solid earth as we understand the term, even though they do not exceed the number of lives which form the gaseous portion of manifestation; this gaseous portion is found in the atmosphere, interpenetrating dense matter, and filling in a large degree the interior caverns of the planet. The microcosmic resemblance to the great Life of the planet is seen in the fact that both forms are but outer sheaths or frameworks, sheltering an inner "vault"; both forms are hollow, both have their negative and positive extremities, their poles, so to speak, and internally much proceeds affecting the outer evolutions. (TCF 897)
Như đã nói ở trên, tổng thể của các sự sống này lớn hơn tổng thể của những sự sống tạo thành toàn bộ đất rắn như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy, dù chúng không vượt quá số lượng những sự sống tạo thành phần khí của sự biểu hiện; phần khí này được tìm thấy trong khí quyển, xuyên thấm vật chất đậm đặc, và phần lớn lấp đầy các hang động bên trong hành tinh. Sự tương tự vi mô với Sự sống vĩ đại của hành tinh được thấy trong sự kiện rằng cả hai hình tướng chỉ là những lớp vỏ hay khung sườn bên ngoài, che chở một “vòm” bên trong; cả hai hình tướng đều rỗng, cả hai đều có những cực âm và cực dương của chúng, những cực của chúng, có thể nói như vậy, và bên trong có nhiều điều diễn ra tác động đến các tiến hoá bên ngoài. (TCF 897)
c. the lives which tread the involutionary path are closely connected with the interior caverns of the planet?
c. những sự sống bước đi trên con đường giáng hạ tiến hoá có liên hệ mật thiết với các hang động bên trong hành tinh chăng?
d. the evolutionary path is based upon the foundation of the involutionary path?
d. con đường tiến hoá được đặt nền trên cơ sở của con đường giáng hạ tiến hoá chăng?
129. For the human mind, as presently conditioned, it seems that the mysteries of the involutionary path are far greater than the mysteries concerning those lives who are presently treading that part of the evolutionary path which is more or less cognizable.
129. Đối với trí tuệ con người, như hiện đang bị tác động, dường như những huyền nhiệm của con đường giáng hạ tiến hoá còn lớn lao hơn rất nhiều so với những huyền nhiệm liên quan đến những sự sống hiện đang bước đi trên phần của con đường tiến hoá ít nhiều có thể nhận biết được.
130. An important point to be gathered from the foregoing section is that ‘familiarity is not reality’—that with which we are familiar is usually a poor representation of that which is real.
130. Một điểm quan trọng cần rút ra từ phần trên là ‘sự quen thuộc không phải là thực tại’—điều mà chúng ta quen thuộc thường chỉ là một biểu hiện nghèo nàn của điều là thực.
One further hint may be given, which will serve to throw a beam of light upon the problem for those who are ready, and will add to the confusion of the non-intuitive:
Có thể đưa ra thêm một gợi ý nữa, gợi ý này sẽ soi một tia sáng vào vấn đề cho những ai đã sẵn sàng, và sẽ làm tăng thêm sự rối rắm cho những người không có trực giác:
131. We note how DK works when seeking to shed more light on certain mysteries which must, necessarily, remain profound and unrevealed to any but those who are ready to understand them.
131. Chúng ta lưu ý cách Chân sư DK làm việc khi tìm cách soi sáng thêm một số huyền nhiệm mà tất yếu phải vẫn còn sâu kín và chưa được mặc khải cho bất kỳ ai ngoài những người đã sẵn sàng thấu hiểu chúng.
132. The problem with which we are concerned is to understand more of the nature of the “planetary Entity” (and ‘planetary Entities’) and of the ‘solar systemic Entity’ which is the systemic counterpart of the planetary Entity.
132. Vấn đề mà chúng ta quan tâm là hiểu thêm về bản chất của “Thực Thể Hành Tinh” (và các ‘Thực Thể Hành Tinh’) và của ‘Thực Thể hệ mặt trời’ là đối phần hệ thống của Thực Thể Hành Tinh.
—From the standpoint of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, to Whom our solar system is but a centre (which centre being one of the three truths revealed at the seventh Initiation)
—Từ quan điểm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng mà hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trung tâm đối với Ngài (mà trung tâm ấy là một trong ba chân lý được mặc khải ở lần điểm đạo thứ bảy)
133. DK seems to be speaking in terms of the Cosmic Logos in which our solar system forms a center—namely the heart center.
133. Chân sư DK dường như đang nói theo nghĩa của Thượng đế Vũ Trụ mà trong đó hệ mặt trời của chúng ta tạo thành một trung tâm—cụ thể là trung tâm tim.
134. We remember that the term "One About Whom Naught May Be Said" may have multiple meanings—the most familiar of which, for us, concern the levels of Cosmic Logos and Super-Cosmic Logos (a Being which has constellations of stars as its chakras). (cf. TCF 293)
134. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ "Đấng Bất Khả Tư Nghị" có thể có nhiều nghĩa—quen thuộc nhất đối với chúng ta là liên quan đến các cấp độ của Thượng đế Vũ Trụ và Thượng đế Siêu Vũ Trụ (một Hữu thể có các chòm sao làm các luân xa của Ngài). (xem TCF 293)
135. We have also discussed the manner in which the term “solar system” can mean a sun surrounded by planets (or, perhaps, not surrounded by planets, or even a dual-sun system), OR a system of seven major suns (really, a constellation). Both are systems and the main unit or units in both are solar.
135. Chúng ta cũng đã bàn đến cách mà thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể có nghĩa là một mặt trời được bao quanh bởi các hành tinh (hoặc có lẽ không được bao quanh bởi các hành tinh, hay thậm chí là một hệ hai mặt trời), HOẶC là một hệ gồm bảy mặt trời lớn (thật ra là một chòm sao). Cả hai đều là hệ thống và đơn vị hay các đơn vị chính trong cả hai đều mang tính thái dương.
136. Presumably, however, the Tibetan is discussing our immediate solar system consisting of our Sun, Helios, and His seven major and many more minor planets and planetoids.
136. Tuy nhiên, có lẽ Chân sư Tây Tạng đang bàn về hệ mặt trời trực tiếp của chúng ta gồm Mặt Trời của chúng ta, Helios, cùng bảy hành tinh lớn và nhiều hành tinh cùng tiểu hành tinh nhỏ hơn của Ngài.
137. We learn that there are three truths revealed at the seventh initiation. We could wonder why DK speaks of the revelations conferred at such a high initiation.
137. Chúng ta biết rằng có ba chân lý được mặc khải ở lần điểm đạo thứ bảy. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao Chân sư DK lại nói về những mặc khải được ban ở một lần điểm đạo cao đến như vậy.
138. We could also wonder at the idea that the revelation of which center our solar system represents is, thus far, unrevealed. At various points throughout the Teaching, DK seems to tell us that our solar system is a heart center within the "One About Whom Naught May Be Said"—the lesser One About Whom, so it seems.
138. Chúng ta cũng có thể ngạc nhiên trước ý tưởng rằng sự mặc khải về việc hệ mặt trời của chúng ta tượng trưng cho trung tâm nào thì cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Ở nhiều chỗ trong Giáo Huấn, Chân sư DK dường như nói với chúng ta rằng hệ mặt trời của chúng ta là một trung tâm tim trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị"—Đấng Bất Khả Tư Nghị nhỏ hơn, dường như là như vậy.
139. Of course, He does not explicitly tell us which center in the "One About Whom Naught May Be Said" is represented by our Cosmic Logos in which our Solar Logos (and His solar system) is the heart center. We have reasoned that our local Cosmic Logos represents the solar plexus center of that Great Entity.
139. Dĩ nhiên, Ngài không nói rõ rằng trung tâm nào trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị" được tượng trưng bởi Thượng đế Vũ Trụ của chúng ta, trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta (và hệ mặt trời của Ngài) là trung tâm tim. Chúng ta đã suy luận rằng Thượng đế Vũ Trụ cục bộ của chúng ta tượng trưng cho trung tâm tùng thái dương của Thực Thể Vĩ Đại ấy.
140. The seventh initiation is a highly solar initiation. In the scheme of solar initiations, it represents Mastership, and in the scheme of Sirian initiations, Transfiguration. It is fitting, then, that deep secrets about the Solar Logos and His place and position in the larger scheme of things would be revealed at this initiation.
140. Lần điểm đạo thứ bảy là một lần điểm đạo mang tính thái dương rất cao. Trong hệ thống các lần điểm đạo thái dương, nó tượng trưng cho Chân sư quả, và trong hệ thống các lần điểm đạo Sirius, là Biến hình. Vì vậy, thật thích hợp khi những bí mật sâu xa về Thái dương Thượng đế và vị trí cùng địa vị của Ngài trong sơ đồ lớn hơn của vạn vật được mặc khải ở lần điểm đạo này.
141. Below we are speaking of the organization of a center (a chakra) from which the “mysterious life” under discussion, emerged.
141. Dưới đây chúng ta đang nói về tổ chức của một trung tâm (một luân xa) mà từ đó “sự sống huyền bí” đang được bàn đến đã xuất hiện.
a. System I......was characterised by the organisation of a centre, and the mysterious life we have been speaking about was produced by the "lowest vibration of the centre."
a. Hệ I......được đặc trưng bởi sự tổ chức của một trung tâm, và sự sống huyền bí mà chúng ta đã nói đến được tạo ra bởi "rung động thấp nhất của trung tâm."
142. By “System I” is meant the previous solar system, the first of the major solar systems.
142. “Hệ I” có nghĩa là hệ mặt trời trước đây, hệ đầu tiên trong các hệ mặt trời lớn.
143. If this “centre” was organized within the ring-pass-not of the Solar Logos, then the Entity concerned is intra-systemic, and the “point in the Heavens” from which it originates may be considered an intra-systemic point.
143. Nếu “trung tâm” này được tổ chức bên trong vòng-giới-hạn của Thái dương Thượng đế, thì Thực Thể liên hệ là một thực thể nội-hệ thống, và “điểm trên Thiên giới” mà từ đó nó phát sinh có thể được xem là một điểm nội-hệ thống.
144. The “centre” concerned is the origin, apparently, of the ‘solar Entity’ (the higher analogue of the “planetary Entity”. It can be reasoned that the “planetary Entity” is an aspect of the larger ‘solar Entity’.
144. “Trung tâm” được nói đến này, dường như, là nguồn gốc của ‘Thực Thể thái dương’ (tương đồng cao hơn của “Thực Thể Hành Tinh”. Có thể suy luận rằng “Thực Thể Hành Tinh” là một phương diện của ‘Thực Thể thái dương’ lớn hơn.
145. We are presented with a picture of Entities emerging from solar centers or chakras.
145. Chúng ta được trình bày một bức tranh về các Thực Thể xuất hiện từ các trung tâm hay luân xa thái dương.
146. We remember that planets, themselves, are centers within a Solar Logos, and so it could be inferred that there is a certain planet from which the Entity under discussion emerged.
146. Chúng ta nhớ rằng chính các hành tinh là những trung tâm bên trong một Thái dương Thượng đế, và vì vậy có thể suy ra rằng có một hành tinh nào đó mà từ đó Thực Thể đang được bàn đến đã xuất hiện.
147. We must also remember that chakras/centers are E/entities in themselves.
147. Chúng ta cũng phải nhớ rằng các luân xa/trung tâm là những thực thể/thực thể tự thân.
b. System II.....is characterised by the activity in three dimensions of this centre,
b. Hệ II.....được đặc trưng bởi hoạt động trong ba chiều của trung tâm này,
148. The “centre”, we see, persists from one major solar system to the next. We might inquire whether anything resembling this centre existed in the three minor solar systems preceding the previous solar system for certainly there was elemental substance in those systems. Yet, perhaps, that substance was not then “informed” by such an Entity.
148. “Trung tâm” này, như chúng ta thấy, tồn tại từ một hệ mặt trời lớn sang hệ kế tiếp. Chúng ta có thể tự hỏi liệu có điều gì tương tự trung tâm này đã tồn tại trong ba hệ mặt trời nhỏ trước hệ mặt trời trước đó hay không, vì chắc chắn đã có chất liệu hành khí trong các hệ ấy. Tuy nhiên, có lẽ khi đó chất liệu ấy chưa được một Thực Thể như vậy “thấm nhuần”.
and the evolution of three types of consciousness, deva, human and subhuman, in all their many grades and hierarchies.
và sự tiến hoá của ba loại tâm thức, thiên thần, nhân loại và dưới nhân loại, trong mọi cấp bậc và huyền giai của chúng.
149. The three lower kingdoms of nature are considered “subhuman” but not devic.
149. Ba giới thấp của thiên nhiên được xem là “dưới nhân loại” nhưng không phải là thiên thần.
150. The “hierarchies” here mentioned are other than the Twelve Creative Hierarchies. The term “hierarchies” is used in a general sense.
150. Những “huyền giai” được nhắc đến ở đây khác với Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Thuật ngữ “huyền giai” được dùng theo nghĩa tổng quát.
151. We may infer that every center has a number of dimensions. In the previous solar system, only one (the very lowest) dimension was active—at least as regards the center under discussion.
151. Chúng ta có thể suy ra rằng mọi trung tâm đều có một số chiều kích. Trong hệ mặt trời trước, chỉ có một chiều kích (chiều thấp nhất) hoạt động—ít nhất là đối với trung tâm đang được bàn đến.
152. In the second solar system, three dimensions of the center in question became active. It appears as if the lowest dimension active in the previous solar system is one of the three active in the second.
152. Trong hệ mặt trời thứ hai, ba chiều kích của trung tâm đang xét đã trở nên hoạt động. Dường như chiều kích thấp nhất hoạt động trong hệ mặt trời trước là một trong ba chiều kích hoạt động trong hệ thứ hai.
It is the period of the balancing of the forces in the centre.
Đó là thời kỳ quân bình các mãnh lực trong trung tâm.
153. Our solar system is apparently not meant to be the period of the emergence and release of the forces in this centre.
153. Hệ mặt trời của chúng ta dường như không nhằm là thời kỳ xuất hiện và giải phóng các mãnh lực trong trung tâm này.
154. In a second ray solar system, balance can easily be achieved. We think of Libra, the third ray, and karmic balancing in relation to the matter of the dense physical plane of the Solar Logos.
154. Trong một hệ mặt trời cung hai, sự quân bình có thể dễ dàng đạt được. Chúng ta nghĩ đến Thiên Bình, cung ba, và sự quân bình nghiệp quả liên hệ đến vấn đề của cõi hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
c. System III....will be characterised by the fourth dimensional activity of the centre, and the twelve types of evolution will become four types of force. [Page 848]
c. Hệ III....sẽ được đặc trưng bởi hoạt động bốn chiều của trung tâm, và mười hai loại tiến hoá sẽ trở thành bốn loại mãnh lực. [Page 848]
155. We know that fourth dimensional activity immediately precedes the process of initiation. For instance, as the first initiation is approached, certain of the etheric chakras of man become fourth dimensional. As the second initiation is approached, this becomes so for certain of the astral chakras, etc. We cannot say that all etheric chakras become fourth dimensional in their rotation before the first initiation, and likewise of the astral chakras in relation to the second.
155. Chúng ta biết rằng hoạt động bốn chiều trực tiếp đi trước tiến trình điểm đạo. Chẳng hạn, khi lần điểm đạo thứ nhất đến gần, một số luân xa dĩ thái của con người trở nên bốn chiều. Khi lần điểm đạo thứ hai đến gần, điều này xảy ra đối với một số luân xa cảm dục, v.v. Chúng ta không thể nói rằng mọi luân xa dĩ thái đều trở nên bốn chiều trong sự quay của chúng trước lần điểm đạo thứ nhất, và tương tự như vậy đối với các luân xa cảm dục liên hệ đến lần điểm đạo thứ hai.
156. The activity of the Entity under discussion, will be truly conscious during the next solar system, “System III”. Presumably, the development of the “centre” in question has much to do with the emerging consciousness of the Entity in question. The “centre” and the “Entity” appear not to be the same, the first being the source of the second.
156. Hoạt động của Thực Thể đang được bàn đến sẽ thật sự có ý thức trong hệ mặt trời kế tiếp, “Hệ III”. Có lẽ sự phát triển của “trung tâm” đang xét có liên hệ rất nhiều đến tâm thức đang xuất hiện của Thực Thể đang xét. “Trung tâm” và “Thực Thể” dường như không phải là một, cái trước là nguồn của cái sau.
157. When energies become forces they are concretized. Since we will be entering a solar system of synthesis, the ingathering of three into one will be occurring. Perhaps among the “twelve types of evolution” there are four which are to be considered synthetic. If each of these major four ingathers a lesser three, then four major types of force will remain.
157. Khi các năng lượng trở thành các mãnh lực, chúng được cụ thể hoá. Vì chúng ta sẽ bước vào một hệ mặt trời của tổng hợp, nên sự thu về của ba vào một sẽ xảy ra. Có lẽ trong “mười hai loại tiến hoá” có bốn loại được xem là có tính tổng hợp. Nếu mỗi một trong bốn loại lớn này thu về một bộ ba nhỏ hơn, thì bốn loại mãnh lực lớn sẽ còn lại.
158. In relation to the kingdom of “Man” (Planetary Man, Solar Man, etc.) there are three Beings which are synthetic. Perhaps, in relation to the devic kingdom, towards which the Entity under discussion appears to be bridging, the number of synthetic Beings is four and not three.
158. Liên hệ đến giới “Người” (Con Người Hành Tinh, Con Người Thái Dương, v.v.) có ba Hữu thể mang tính tổng hợp. Có lẽ, liên hệ đến giới thiên thần, mà Thực Thể đang được bàn đến dường như đang bắt cầu tới đó, số Hữu thể tổng hợp là bốn chứ không phải ba.
This is next to impossible for man to understand and will seem inexplicable,
Điều này hầu như không thể để con người thấu hiểu và sẽ có vẻ không thể giải thích được,
159. Does it not?
159. Chẳng phải vậy sao?
but this hint is imparted in order that man may realise the interdependence of the various systems,
nhưng gợi ý này được truyền đạt để con người có thể chứngnghiệm sự tương thuộc của các hệ thống khác nhau,
160. In this case, the interdependence of the three major solar systems.
160. Trong trường hợp này, là sự tương thuộc của ba hệ mặt trời lớn.
and the place they hold in a greater scheme;
và vị trí mà chúng nắm giữ trong một hệ hành tinh lớn hơn;
161. By “the greater scheme” is meant the full evolutionary process of our Solar Logos.
161. “Hệ hành tinh lớn hơn” ở đây có nghĩa là toàn bộ tiến trình tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
the intent is not to give the student uncorrelated facts of no apparent use to him.
mục đích không phải là cung cấp cho đạo sinh những sự kiện rời rạc không có ích lợi bề ngoài nào đối với y.
162. The amassing of uncorrelated facts is a menace to the enlightenment of the student. When presented with a mass of detail (at first seemingly uncorrelated) our task is to begin the process of correlation. This we are attempting to do in these commentaries on A Treatise on Cosmic Fire. In relation to any fact, its meaning or place within the pattern of the whole is to be discovered.
162. Việc tích lũy những sự kiện không tương liên là một mối nguy đối với sự giác ngộ của đạo sinh. Khi được trình bày trước một khối lượng chi tiết (thoạt đầu dường như không tương liên), nhiệm vụ của chúng ta là bắt đầu tiến trình liên kết tương quan. Đây là điều chúng ta đang cố gắng thực hiện trong những phần bình luận này về Luận về Lửa Vũ Trụ. Liên hệ đến bất kỳ sự kiện nào, ý nghĩa của nó hay vị trí của nó trong mô hình của toàn thể đều cần được khám phá.
163. The use of the word “apparent” is important. The facts presented may, in fact, be of some use to the recipient of the facts, even if the necessary correlation has not yet been performed.
163. Việc dùng từ “bề ngoài” là quan trọng. Những sự kiện được trình bày thật ra có thể có một vài ích lợi đối với người tiếp nhận các sự kiện ấy, ngay cả khi sự tương liên cần thiết vẫn chưa được thực hiện.
Without the premise of our position within a vaster scheme, man's deductions will remain inaccurate.
Nếu không có tiềnđề về vị trí của chúng ta trong một hệ hành tinh bao la hơn, những suy diễn của con người sẽ vẫn không chính xác.
164. The Earth has its place within the solar systemic scheme. Of this we are customarily aware.
164. Trái Đất có vị trí của nó trong hệ hành tinh hệ mặt trời. Điều này chúng ta thường biết.
165. But we are far from accurately aware of the position of our solar system within a still larger system of seven major suns (including, as well, additional minor suns).
165. Nhưng chúng ta còn rất xa mới nhận biết chính xác vị trí của hệ mặt trời của chúng ta trong một hệ lớn hơn nữa gồm bảy mặt trời lớn (đồng thời cũng bao gồm thêm các mặt trời nhỏ hơn).
166. We are also totally unaware of the position of the body of manifestation of this Cosmic Logos within a still greater system expressing the synthetic Life of the "One About Whom Naught May Be Said".
166. Chúng ta cũng hoàn toàn không biết vị trí của thể biểu hiện của Thượng đế Vũ Trụ này trong một hệ còn lớn hơn nữa biểu lộ Sự sống tổng hợp của "Đấng Bất Khả Tư Nghị".
167. The principle emerges: when we search for meaning, we must always do so in relation to a vaster scheme, system or whole. Meaning is derived by relating the part to the whole, and in occultism, there are ever grater wholes to contend with.
167. Nguyên lý nổi lên là: khi chúng ta tìm kiếm ý nghĩa, chúng ta luôn phải làm như vậy trong liên hệ với một hệ hành tinh, hệ thống hay toàn thể bao la hơn. Ý nghĩa được rút ra bằng cách liên hệ phần với toàn thể, và trong huyền bí học, luôn luôn có những toàn thể lớn hơn nữa phải đối diện.
TCF 849-853: S7S9 Part IV
18 July – 1 August 2008
18 tháng 7 – 1 tháng 8 năm 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và chính cách trình bày cô đọng trong sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
We will now proceed with our enumeration of the groups of Egos according to their characteristics, but it might be wise to deal first with a problem which may be in some minds and see if it is not capable of solution.
Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục việc liệt kê các nhóm chân ngã theo các đặc tính của chúng, nhưng có lẽ trước hết nên bàn đến một vấn đề có thể đang có trong tâm trí một số người và xem liệu nó có thể được giải quyết hay không.
1. DK frequently works to solve problems which may have arisen in the minds of students. When doing so, He seems to work together with the students.
1. Chân sư DK thường làm việc để giải quyết những vấn đề có thể đã nảy sinh trong tâm trí các đạo sinh. Khi làm như vậy, Ngài dường như làm việc cùng nhau với các đạo sinh.
2. Of course, many of us may find that the problems which He raises have never occurred to us. Thus we may gauge the depth of our penetration into the subjects presented.
2. Dĩ nhiên, nhiều người trong chúng ta có thể thấy rằng những vấn đề Ngài nêu ra chưa từng xuất hiện với chúng ta. Như vậy chúng ta có thể đo lường độ sâu của sự thâm nhập của mình vào các chủ đề được trình bày.
3. We may question ourselves, therefore—“are we really thoughtful students”?
3. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi chính mình—“chúng ta có thật sự là những đạo sinh biết suy tư không”?
Two problems come before the mind of the thoughtful student; one concerns the position (in connection with any particular planetary scheme) of those vast groups of Egos, which are embodied by Lives, emanating from any one of the seven Rays, and associated with any of the various schemes.
Hai vấn đề xuất hiện trước trí tuệ của đạo sinh biết suy tư; một vấn đề liên quan đến vị trí (liên hệ với bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào) của những nhóm chân ngã rộng lớn ấy, được nhập thể bởi các Sự sống, phát xuất từ bất kỳ một trong bảy cung nào, và liên kết với bất kỳ hệ hành tinh nào trong số các hệ hành tinh khác nhau.
4. We learn that the vast groups of Egos are all embodied by Lives—Ray Lives which we call the Ray Lords.
4. Chúng ta biết rằng những nhóm chân ngã rộng lớn ấy đều được nhập thể bởi các Sự sống—các Sự sống cung mà chúng ta gọi là các Đấng Chúa Tể Cung.
5. From what spiritual ‘altitude’ do these emanations begin? We could reach as high as the Seven Rishis of the Great Bear (or higher) or settle for emanations from sources much closer at hand.
5. Từ “độ cao” tinh thần nào những phát xạ này bắt đầu? Chúng ta có thể vươn cao đến Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh (hay cao hơn) hoặc bằng lòng với những phát xạ từ những nguồn gần hơn nhiều.
6. There is, we may suppose, egoic-group embodiment by the Ray Lords within the Council of any particular Planetary Logos. This is an intra-planetary embodiment.
6. Có thể giả định rằng có sự nhập thể nhóm chân ngã bởi các Đấng Chúa Tể Cung trong Hội Đồng của bất kỳ Hành Tinh Thượng Đế đặc thù nào. Đây là một sự nhập thể nội-hành tinh.
7. There is also, we may suppose, a vaster embodiment (or, at least, pervasive influence within every planetary scheme) by the systemic Ray Lords (Who stand before the Throne of the Solar Logos).
7. Chúng ta cũng có thể giả định rằng có một sự nhập thể bao la hơn (hoặc ít nhất là một ảnh hưởng lan tỏa trong mọi hệ hành tinh) bởi các Đấng Chúa Tể Cung hệ thống (Các Ngài đứng trước Thánh Ngai của Thái dương Thượng đế).
8. Within any planetary scheme, different groups of Egos have different functions. These functions are differentiated largely by ray quality.
8. Trong bất kỳ hệ hành tinh nào, các nhóm chân ngã khác nhau có những chức năng khác nhau. Những chức năng này được phân biệt phần lớn bởi phẩm tính cung.
9. There are also larger groupings: for instance, all ray two Egos not only within the Earth-scheme, but within the Venus-scheme, the Mercury-scheme, the Mars-scheme, etc., etc. Groupings of Egos on the same ray, no matter what their host scheme, are all related and play a particular role within the expression of the Solar Logos and, presumably, in greatest relation to that sacred Planetary Logos which expresses principally along the same ray line as the group of Egos concerned.
9. Cũng có những nhóm lớn hơn: chẳng hạn, tất cả các chân ngã cung hai không chỉ trong hệ Địa Cầu, mà còn trong hệ Kim Tinh, hệ Thủy Tinh, hệ Hỏa Tinh, v.v. Các nhóm chân ngã trên cùng một cung, bất kể hệ hành tinh chủ của chúng là gì, đều có liên hệ với nhau và đóng một vai trò đặc thù trong sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế và, có lẽ, có liên hệ lớn nhất với Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng biểu lộ chủ yếu theo cùng đường cung với nhóm chân ngã đang xét.
10. Because every Planetary Logos expresses all seven rays (minimally through globes and chains) every systemic Ray Lord (i.e., Planetary Logos) participates intimately in the life expression of every other systemic Ray Lord. This is group consciousness at a solar systemic level.
10. Bởi vì mọi Hành Tinh Thượng Đế đều biểu lộ cả bảy cung (ít nhất qua các bầu hành tinh và các Dãy), nên mọi Đấng Chúa Tể Cung hệ thống (tức Hành Tinh Thượng Đế) đều tham dự mật thiết vào sự biểu lộ sự sống của mọi Đấng Chúa Tể Cung hệ thống khác. Đây là tâm thức nhóm ở cấp độ hệ mặt trời.
11. It is also implied that lesser Ray Lords emanate from greater Ray Lords, and that these lesser Ray Lords (all of them qualified by a certain ray) embody lesser groupings of Egos.
11. Điều này cũng hàm ý rằng các Đấng Chúa Tể Cung nhỏ hơn phát xuất từ các Đấng Chúa Tể Cung lớn hơn, và rằng các Đấng Chúa Tể Cung nhỏ hơn này (tất cả đều được định tính bởi một cung nào đó) nhập thể những nhóm chân ngã nhỏ hơn.
12. For instance, a line of emanation might be conceived as follows:
12. Chẳng hạn, một tuyến phát xạ có thể được hình dung như sau:
a. A constellational chakra within the "One About Whom Naught May Be Said"—such, for instance, as the great chakra knowns as the GB
a. Một luân xa chòm sao trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị"—chẳng hạn như luân xa lớn được biết đến là GB
b. One of the seven major stars within the Great Bear
b. Một trong bảy ngôi sao lớn trong Đại Hùng Tinh
c. One of the seven major stars within the lesser constellational chakra within the "One About Whom Naught May Be Said"—the chakra which is our local Cosmic Logos
c. Một trong bảy ngôi sao lớn trong luân xa chòm sao nhỏ hơn trong "Đấng Bất Khả Tư Nghị"—luân xa là Thượng đế Vũ Trụ cục bộ của chúng ta
d. Our particular Solar Logos, Sol or Helios
d. Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta, Sol hay Helios
e. A particular Planetary Logos within our solar system—Who is a systemic Ray Lord
e. Một Hành Tinh Thượng Đế đặc thù trong hệ mặt trời của chúng ta—Đấng là một Đấng Chúa Tể Cung hệ thống
f. One of the Kumaras within the Earth-scheme, Who is an intra-planetary Ray Lord
f. Một trong các Kumara trong hệ Địa Cầu, Đấng là một Đấng Chúa Tể Cung nội-hành tinh
g. A large group of Egos within our planetary ring-pass-not
g. Một nhóm lớn các chân ngã trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta
h. A smaller group of Egos within our planetary ring-pass-not
h. Một nhóm nhỏ hơn các chân ngã trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta
i. A small group of Egos within our planetary ring-pass-not
i. Một nhóm nhỏ các chân ngã trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta
j. An individual Ego among all the individual Egos
j. Một chân ngã cá biệt giữa tất cả các chân ngã cá biệt
13. While a number of potential steps have been omitted, the sequence of descent can suggest important relationships in the emanation process.
13. Dù một số bước tiềm năng đã bị lược bỏ, chuỗi giáng xuống này có thể gợi ra những mối liên hệ quan trọng trong tiến trình phát xạ.
The other deals with the effect produced by the "coming-in" of Egos on the mental plane which are not "bud" Egos, but are possibly very fully developed, such as disciples and initiates.
Vấn đề kia liên quan đến hiệu quả được tạo ra bởi sự "đi vào" của các chân ngã trên cõi trí vốn không phải là các chân ngã “nụ”, mà có thể đã phát triển rất đầy đủ, như các đệ tử và các điểm đạo đồ.
14. Presumably, one type of this “coming in” is happening all the time due to the process of progressive evolutionary development through the taking of repeated incarnations.
14. Có lẽ, một loại của sự “đi vào” này đang xảy ra mọi lúc do tiến trình phát triển tiến hoá tuần tự thông qua việc nhận lấy những lần nhập thể lặp đi lặp lại.
15. What DK may also be talking about, however, is the coming in of Egos on the mental plane (and in a developed state) from the Moon-chain or from other planetary schemes.
15. Tuy nhiên, điều Chân sư DK cũng có thể đang nói đến là sự đi vào của các chân ngã trên cõi trí (và trong một trạng thái phát triển) từ Dãy Mặt Trăng hoặc từ các hệ hành tinh khác.
These thoughts may be clarified if certain statements are made relating to the mental plane, and which will serve as indications as to the direction in which the solution of these problems may be sought.
Những tư tưởng này có thể được làm sáng tỏ nếu đưa ra một số phát biểu liên hệ đến cõi trí, và những phát biểu này sẽ đóng vai trò như những chỉ dẫn về phương hướng mà trong đó có thể tìm kiếm lời giải cho các vấn đề này.
16. For human beings at humanity’s present stage of development, the mental plane is all important—especially, and increasingly, the higher mental plane.
16. Đối với con người ở giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại, cõi trí là tối quan trọng—đặc biệt, và ngày càng như vậy, là Cõi thượng trí.
The mental plane is, as H. P. B. has pointed out, the vastest of all the planes with which we are concerned.
Cõi trí, như H. P. B. đã chỉ ra, là cõi bao la nhất trong tất cả các cõi mà chúng ta quan tâm đến.
17. Certainly is it is the most complexly subdivided:
17. Chắc chắn đây là cõi được phân chia phức tạp nhất:
a. The lower four subplanes (home of the concrete mind)
a. Bốn cõi phụ thấp (nơi cư ngụ của trí cụ thể)
b. The second and third subplanes (home of man’s Ego during the human phase of development)
b. Cõi phụ thứ hai và thứ ba (nơi cư ngụ của chân ngã của con người trong giai đoạn phát triển nhân loại)
c. The highest or atomic subplane (home of the lowest aspect of the spiritual triad)
c. Cõi phụ cao nhất hay cõi nguyên tử (nơi cư ngụ của phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần)
It is the key plane of the solar system.
Đó là cõi then chốt của hệ mặt trời.
18. Presumably, it is because the Solar Logos is attempting to achieve cosmic mental polarization that the fifth plane on the cosmic physical plane (the systemic mental plane) is of such great importance.
18. Có lẽ là vì Thái dương Thượng đế đang cố gắng đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ mà cõi thứ năm trên cõi hồng trần vũ trụ (cõi trí của hệ thống) lại có tầm quan trọng lớn lao đến thế.
It is the pivotal plane upon which the great Wheel turns.
Đó là cõi bản lề mà trên đó Bánh Xe lớn xoay chuyển.
19. Lines of evolution are as “great Wheels”.
19. Các tuyến tiến hoá là những “Bánh Xe lớn”.
20. From a solar systemic perspective, the entire solar system is the “great Wheel”. It is as if our solar systemic process depends upon the communication of all its parts via the systemic mental plane.
20. Từ góc nhìn hệ mặt trời, toàn bộ hệ mặt trời là “Bánh Xe lớn”. Dường như tiến trình hệ mặt trời của chúng ta phụ thuộc vào sự thông giao của mọi phần của nó qua cõi trí của hệ thống.
It is the meeting place of the three lines of evolution and has been for this reason esoterically termed "the council chamber of the Three Divinities."
Đó là nơi gặp gỡ của ba tuyến tiến hoá và vì lý do này đã được gọi một cách huyền bí là "phòng hội đồng của Ba Ngôi thiêng liêng."
21. The Council Chamber of Sanat Kumara may be inferred to be on the highest subplane of the cosmic physical plane.
21. Có thể suy ra rằng Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara nằm trên cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.
22. The systemic mental plane is a kind of reflection of this higher “Council Chamber”.
22. Cõi trí của hệ thống là một loại phản chiếu của “Phòng Hội Đồng” cao hơn này.
23. VSK notes that the phrase “the council chamber of the Three Divinities” is echoed in the Word of Power of the fifth ray: “Three Minds Unite”.
23. VSK lưu ý rằng cụm từ “phòng hội đồng của Ba Ngôi thiêng liêng” được vang vọng trong Quyền năng từ của cung năm: “Ba trí hợp nhất”.
24. When we think of the necessary union of three types of mind, we may reasonably think that the magnetic power of Venus (Whose soul is focussed upon the fifth ray) is necessarily involved in bringing about this union.
24. Khi chúng ta nghĩ đến sự hợp nhất cần thiết của ba loại trí, chúng ta có thể hợp lý mà nghĩ rằng quyền năng từ tính của Sao Kim (Đấng có linh hồn tập trung trên cung năm) tất yếu có liên quan trong việc mang lại sự hợp nhất này.
On this plane, the three Persons of the logoic Trinity meet in united work.
Trên cõi này, ba Ngôi của Tam Vị logoic gặp nhau trong công việc hợp nhất.
25. What is the “logoic Trinity”? There are three great Logoi (lesser in power than the Solar Logos, Himself, but greater in power than any of the Planetary Logoi). They are diagrammatically pictured in TCF, 1238 as three circles near the circle of the Solar Logos.
25. “Tam Vị logoic” là gì? Có ba Thượng đế lớn (nhỏ hơn về quyền năng so với chính Thái dương Thượng đế, nhưng lớn hơn về quyền năng so với bất kỳ Hành Tinh Thượng Đế nào). Các Ngài được minh họa bằng sơ đồ trong TCF, 1238 như ba vòng tròn gần vòng tròn của Thái dương Thượng đế.
26. We may think of the Third Logos as associated with the four lower subplanes of the mental plane; the Second Logos with the third and second subplanes; the First Logos with the first or atomic subplane.
26. Chúng ta có thể nghĩ đến Thượng đế thứ ba như liên kết với bốn cõi phụ thấp của cõi trí; Thượng đế thứ hai với cõi phụ thứ ba và thứ hai; Thượng đế thứ nhất với cõi phụ thứ nhất hay cõi nguyên tử.
Below two Persons may be seen associated;
Dưới đây có thể thấy hai Ngôi được liên kết;
27. Presumably, the second and third Persons.
27. Có lẽ là Ngôi thứ hai và thứ ba.
above another duality functions,
bên trên, một nhị nguyên tính khác vận hành,
28. Presumably, the first and second Persons.
28. Có lẽ là Ngôi thứ nhất và Ngôi thứ hai.
but only on this plane do the Three make an at-one-ment. [Page 849]
nhưng chỉ trên cõi này Ba Ngôi mới đạt đến sự hợp nhất. [Page 849]
29. Here we have a most interesting statement. Three aspects of divinity meet on the systemic mental plane. May we suppose that in the next solar system, these three aspects will meet on the monadic or logoic subplanes of the cosmic physical plane?
29. Ở đây chúng ta có một phát biểu hết sức thú vị. Ba phương diện của thiên tính gặp nhau trên cõi trí của hệ thống. Chúng ta có thể giả định rằng trong hệ mặt trời kế tiếp, ba phương diện này sẽ gặp nhau trên các cõi phụ chân thần hay logoic của cõi hồng trần vũ trụ chăng?
30. Perhaps we can see why the mantram “Three Minds Unite” is so especially important in this particular solar system. Ours is a second ray solar system striving to incorporate the influence of the cosmic fifth ray in order to achieve cosmic mental polarization.
30. Có lẽ chúng ta có thể thấy vì sao mantram “Ba trí hợp nhất” lại đặc biệt quan trọng trong hệ mặt trời đặc thù này. Hệ mặt trời của chúng ta là một hệ mặt trời cung hai đang nỗ lực kết hợp ảnh hưởng của cung năm vũ trụ để đạt được sự phân cực trí tuệ vũ trụ.
All the Logoi of the differing schemes are expressing Themselves upon this plane.
Tất cả Các Thượng đế của các hệ hành tinh khác nhau đều đang biểu hiện Chính Các Ngài trên cõi này.
31. DK is telling us that there is no Planetary Logos in this solar system which is not expressing itself upon the systemic mental plane.
31. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng không có Hành Tinh Thượng Đế nào trong hệ mặt trời này lại không biểu hiện chính mình trên cõi trí của hệ thống.
There are certain schemes in the system which find their lowest manifestation on this plane, and have no physical body such as the Earth, and the other dense planets.
Có những hệ hành tinh nhất định trong hệ thống lấy cõi này làm biểu hiện thấp nhất của chúng, và không có thể xác như Trái Đất và các hành tinh đậm đặc khác.
32. DK is informing us of certain planetary schemes which are not represented by any etheric-physical or astral vehicles. Naturally, the lowest globes in such schemes will have vehicles of systemic mental matter. As for the highest globes in such schemes, one can imagine that, for some, the buddhic vehicle will be the lowest and most external vehicle and for others perhaps the atmic.
32. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về một số hệ hành tinh không được biểu hiện qua bất kỳ vận cụ dĩ thái-hồng trần hay cảm dục nào. Đương nhiên, các bầu hành tinh thấp nhất trong những hệ như thế sẽ có các vận cụ bằng vật chất trí tuệ của hệ thống. Còn đối với các bầu hành tinh cao nhất trong những hệ ấy, người ta có thể hình dung rằng, với một số bầu, vận cụ Bồ đề sẽ là vận cụ thấp nhất và ngoài cùng, còn với những bầu khác có lẽ là vận cụ atma.
33. In theosophical writings, the possibility of the existence of such schemes was not discussed nor the existence of very subtle globes. Perhaps there were hints given.
33. Trong các trước tác Thông Thiên Học, khả năng tồn tại của những hệ như thế đã không được bàn đến, cũng như sự tồn tại của những bầu hành tinh rất vi tế. Có lẽ đã có những ám chỉ được đưa ra.
They exist through the medium of gaseous matter, and their spheres of manifestation are simply composed of the four cosmic ethers and the cosmic gaseous.
Chúng tồn tại thông qua môi trường của vật chất khí, và các khối cầu biểu hiện của chúng đơn giản được cấu thành bởi bốn dĩ thái vũ trụ và khí vũ trụ.
34. This is really a very important statement. DK is telling us of globes, the matter of which, goes no lower than the systemic mental plane.
34. Đây thực sự là một phát biểu rất quan trọng. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về những bầu hành tinh mà vật chất của chúng không đi xuống thấp hơn cõi trí của hệ thống.
35. While some might think that He suggests globes which are homogeneously mental, homogeneously buddhic or atmic or monadic, the theory of one homogeneous vehicle per globe does not, ultimately, make sense. All Globe-Lords are Monads and Monads have a number of principles through which they express. They cannot express exclusively through a lower principle if the principles (and the vehicles necessary for the expression of these principles) intervening between the lowest sphere of expression and the Monad itself are missing.
35. Dù một số người có thể nghĩ rằng Ngài đang gợi ý những bầu hành tinh thuần nhất là trí tuệ, thuần nhất là Bồ đề, hay atma hoặc chân thần, nhưng rốt cuộc lý thuyết mỗi bầu hành tinh chỉ có một vận cụ đồng nhất là không hợp lý. Mọi Chúa Tể Bầu Hành Tinh đều là các chân thần, và các chân thần có một số nguyên khí qua đó Các Ngài biểu hiện. Các Ngài không thể biểu hiện độc quyền qua một nguyên khí thấp nếu các nguyên khí (và các vận cụ cần thiết cho sự biểu hiện của các nguyên khí ấy) nằm giữa khối cầu biểu hiện thấp nhất và chính chân thần lại bị thiếu vắng.
36. In any case, we are speaking of planetary globes of higher and finer construction. There is no reason to believe that such subtler globes are any less important than globes which additionally have lower and dense vehicles.
36. Dù sao đi nữa, chúng ta đang nói về những bầu hành tinh có cấu tạo cao hơn và tinh tế hơn. Không có lý do gì để tin rằng những bầu hành tinh vi tế hơn như thế lại kém quan trọng hơn những bầu hành tinh vốn còn có thêm các vận cụ thấp và đậm đặc.
But all the great Lives of the solar system do possess bodies of our systemic mental matter, and therefore on that plane communication between all these Entities becomes a possibility.
Nhưng tất cả các Sự sống vĩ đại của hệ mặt trời đều sở hữu các thể bằng vật chất trí tuệ của hệ thống chúng ta, và vì vậy trên cõi đó sự giao tiếp giữa tất cả các Thực Thể này trở thành một khả năng.
37. This is the point. In order to communicate entities must share at least one medium of communication. For all Planetary Logoi, the body of systemic mental matter is such a vehicle.
37. Đây chính là điểm then chốt. Muốn giao tiếp, các thực thể phải chia sẻ ít nhất một môi trường giao tiếp. Đối với mọi Hành Tinh Thượng Đế, thể bằng vật chất trí tuệ của hệ thống là một vận cụ như thế.
38. It is the “great Lives” Who possess such vehicles, and not all lives within the solar system.
38. Chính các “Sự sống vĩ đại” sở hữu những vận cụ như vậy, chứ không phải mọi sự sống trong hệ mặt trời.
This fact is the basis of occult realisation, and the true ground for the at-one-ment.
Sự kiện này là nền tảng của sự chứng nghiệm huyền bí học, và là cơ sở đích thực cho sự hợp nhất.
39. The first level of occult realization occurs on the systemic mental plane. A later stage of realization occurs on the systemic atmic plane which, in its own way is a plane of mentality (the third subplane of the cosmic physical plane).
39. Cấp độ đầu tiên của sự chứng nghiệm huyền bí học xảy ra trên cõi trí của hệ thống. Một giai đoạn chứng nghiệm muộn hơn xảy ra trên cõi atma của hệ thống, vốn theo cách riêng của nó cũng là một cõi của trí tuệ (cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ).
40. The mental plane is the plane of vision, and “occult realization” is based upon occult vision.
40. Cõi trí là cõi của tầm nhìn, và “sự chứng nghiệm huyền bí học” được đặt nền trên tầm nhìn huyền bí học.
41. While the buddhic plane may be considered the first true plane of at-one-ment (since mental obstructions no longer exist and one has entered the cosmic etheric body) a form of at-one-ment can be supposed to exist on the systemic mental plane. The art of contemplation under Venus reveals this type of at-one-ment.
41. Dù cõi Bồ đề có thể được xem là cõi đích thực đầu tiên của sự hợp nhất (vì các chướng ngại trí tuệ không còn nữa và người ta đã đi vào thể dĩ thái vũ trụ), vẫn có thể giả định rằng một hình thức hợp nhất tồn tại trên cõi trí của hệ thống. Nghệ thuật chiêm ngưỡng dưới Sao Kim làm lộ ra loại hợp nhất này.
42. Egoic groups on the higher mental plane realize the Egoic-unity of which they are a part. While a higher type of dense physical form still conditions the Egos manifesting through Egoic groups on the higher mental plane, awareness of that form does not prevent the awareness of a fundamental unity—shall we call it the type of unity which the vibration of Venus can inspire?
42. Các nhóm chân ngã trên Cõi thượng trí chứng nghiệm sự hợp nhất chân ngã mà chúng là một phần của nó. Dù một loại hình tướng hồng trần đậm đặc cao hơn vẫn còn tác động lên các chân ngã biểu hiện qua các nhóm chân ngã trên Cõi thượng trí, sự nhận biết về hình tướng ấy không ngăn cản sự nhận biết về một hợp nhất căn bản—chúng ta có nên gọi đó là loại hợp nhất mà rung động của Sao Kim có thể truyền cảm hứng không?
43. On the higher mental plane unity is perceived in a mediated manner. On the buddhic plane, unity is perceived directly through the intuition.
43. Trên Cõi thượng trí, sự hợp nhất được tri nhận một cách gián tiếp. Trên cõi Bồ đề, sự hợp nhất được tri nhận trực tiếp qua trực giác.
Matter of the abstract levels of the mental plane enters into the composition of the vehicles for all these greater Existences and through the medium of this energised substance each can get en rapport with each, no matter what Their individual goal of attainment may be.
Vật chất của các cấp độ trí trừu tượng của cõi trí đi vào thành phần cấu tạo các vận cụ của tất cả những Hiện Hữu lớn lao hơn này và thông qua môi trường của chất liệu được tiếp sinh lực này, mỗi vị có thể đạt được sự tương thông với nhau, bất kể mục tiêu thành tựu riêng của Các Ngài là gì.
44. The “at-one-ment” mentioned above takes place upon the higher mental plane rather than the lower. The higher mental plane, while still related to the world of form from the solar logoic angle, contains, nevertheless, (through its highest subplane) the lowest plane of the true Ego or spiritual triad. It is the least obstructed level of form in the dense physical body of the Solar Logos.
44. “Sự hợp nhất” được nhắc đến ở trên diễn ra trên cõi trí cao hơn là cõi thấp. Cõi trí cao, dù vẫn liên hệ với thế giới hình tướng theo góc nhìn logoic thái dương, tuy nhiên vẫn chứa đựng (qua cõi phụ cao nhất của nó) cõi thấp nhất của chân ngã đích thực hay tam nguyên tinh thần. Đó là cấp độ hình tướng ít bị cản trở nhất trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
45. We note that DK did not say that matter of the lower mental plane enters into though composition of the vehicles for all these greater Existences.
45. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã không nói rằng vật chất của cõi trí thấp đi vào thành phần cấu tạo các vận cụ của tất cả những Hiện Hữu lớn lao hơn này.
46. So we find the mental plane as the basis of inter-planetary rapport.
46. Vì vậy, chúng ta thấy cõi trí là nền tảng của sự tương thông liên hành tinh.
47. We also learn that “energised substance” is the basis of inter-planetary communication.
47. Chúng ta cũng học được rằng “chất liệu được tiếp sinh lực” là nền tảng của sự giao tiếp liên hành tinh.
The units, therefore, in Their bodies can equally get in touch with all other Egos and groups once they have achieved the consciousness of the mental plane (causal consciousness) and know the varying group "keys," the group tones and colors.
Do đó, các đơn vị trong các thể của Các Ngài cũng có thể tiếp xúc với mọi chân ngã và nhóm khác một khi họ đã đạt được tâmthức của cõi trí (tâm thức nguyên nhân) và biết các “chìa khóa” nhóm khác nhau, các âm điệu và màu sắc của nhóm.
48. What an extraordinary statement promising a form of inter-Egoic communication extending beyond planetary ring-pass-nots!
48. Thật là một phát biểu phi thường, hứa hẹn một hình thức giao tiếp liên chân ngã vượt ra ngoài vòng-giới-hạn hành tinh!
49. Probably the first kind of egoic communication to be achieved once causal consciousness is achieved, is communication between members of one’s own egoic group. This type of communication will naturally expand to include different types of Egos within one’s own globe or chain or planetary scheme. Eventually, it will be possible, provided the right “keys”, group tones and colors are known, to communicate with egoic groups beyond the planetary ring-pass-not.
49. Có lẽ loại giao tiếp chân ngã đầu tiên đạt được sau khi tâm thức nguyên nhân được thành tựu là sự giao tiếp giữa các thành viên trong chính nhóm chân ngã của mình. Loại giao tiếp này tự nhiên sẽ mở rộng để bao gồm các loại chân ngã khác nhau trong chính bầu hành tinh, dãy hay hệ hành tinh của mình. Cuối cùng, với điều kiện biết đúng các “chìa khóa”, các âm điệu và màu sắc của nhóm, sẽ có thể giao tiếp với các nhóm chân ngã ở bên ngoài vòng-giới-hạn hành tinh.
50. One impressive fact emerges here: “keys”, group tones and colors are means of communication. When a tone is sounded in a certain “key” (musically considered) a resonance is set up with those egoic units which are conditioned primarily by that tone and its key. The same is true of the ‘color resonance’ which is induced in other and various egoic units and groups which respond primarily to the color which is sent forth through visualization or imagination (or physical representation).
50. Một sự kiện ấn tượng nổi lên ở đây: các “chìa khóa”, các âm điệu và màu sắc của nhóm là những phương tiện giao tiếp. Khi một âm điệu được xướng lên trong một “chìa khóa” nhất định (xét về âm nhạc), một sự cộng hưởng được thiết lập với những đơn vị chân ngã chủ yếu được tác động bởi âm điệu ấy và chìa khóa của nó. Điều tương tự cũng đúng với “sự cộng hưởng màu sắc” được gây ra trong các đơn vị và nhóm chân ngã khác nhau, vốn chủ yếu đáp ứng với màu sắc được phát ra qua sự hình dung hoặc sự tưởng tượng (hay biểu hiện hồng trần).
51. An intricate and potent science is here revealed, and one which will gain in power throughout the impending seventh ray/fourth ray period, during which time the fifth ray of practical and precise physical application will be in power through Aquarius.
51. Ở đây một khoa học tinh vi và mãnh liệt được mặc khải, và khoa học ấy sẽ gia tăng quyền năng trong giai đoạn cung bảy/cung bốn sắp đến, trong thời gian đó cung năm của sự ứng dụng hồng trần thực tiễn và chính xác sẽ nắm quyền qua Bảo Bình.
It will consequently be apparent to the careful student that in this fact lies the true relationship between the various groups of Egos, no matter what degree of evolution, or what ray and in which scheme they may be.
Do đó, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng chính trong sự kiện này có mối liên hệ đích thực giữa các nhóm chân ngã khác nhau, bất kể mức độ tiến hoá nào, hay thuộc cung nào và ở trong hệ hành tinh nào.
52. Relationship between groups of Egos occurs via the higher subplanes of the systemic mental plane.
52. Mối liên hệ giữa các nhóm chân ngã diễn ra qua các cõi phụ cao của cõi trí hệ thống.
53. We are given a terrific inducement for achieving causal consciousness. One is offered the possibility of entering gradually into a type of universal consciousness—the consciousness embraced by the universal mind within the Solar Logos.
53. Chúng ta được trao cho một động lực mạnh mẽ để đạt đến tâm thức nguyên nhân. Người ta được mở ra khả năng dần dần đi vào một loại tâm thức phổ quát—tâm thức được bao hàm bởi Vũ Trụ Trí trong Thái dương Thượng đế.
54. Usually, degree of evolution, difference in ray and difference in scheme would be impediments to communication between human beings, but once causal consciousness is achieved and with it the necessary knowledge of “keys”, group tones and colors, then inter-egoic communication will become increasingly unimpeded.
54. Thông thường, mức độ tiến hoá, sự khác biệt về cung và sự khác biệt về hệ hành tinh sẽ là những trở ngại đối với sự giao tiếp giữa con người, nhưng một khi tâm thức nguyên nhân được thành tựu và cùng với nó là tri thức cần thiết về các “chìa khóa”, các âm điệu và màu sắc của nhóm, thì sự giao tiếp liên chân ngã sẽ ngày càng không bị cản trở.
The basic truth here involved may be better grasped if the following occult phrases are studied:
Chân lý căn bản liên hệ ở đây có thể được nắm bắt tốt hơn nếu các cụm từ huyền bí học sau đây được nghiên cứu:
55. This is what we seek—an increasingly better grasp of the truth—first through the mind, then through the abstract mind and finally through the intuition.
55. Đây là điều chúng ta tìm kiếm—một sự nắm bắt chân lý ngày càng tốt hơn—trước hết qua trí tuệ, rồi qua trí trừu tượng và cuối cùng qua trực giác.
"Within the Hall of Ignorance kama-manas rules.
"Trong Phòng Vô Minh trí-cảm cai quản.
56. This points to the united power of the astral and mental bodies. It is not that there is no mind within the Hall of Ignorance; it is simply that the type of mind there found is unenlightened mind, and it is inextricably bound up with physical sensation and astral reaction.
56. Điều này chỉ đến quyền năng hợp nhất của thể cảm dục và thể trí. Không phải là không có trí tuệ trong Phòng Vô Minh; chỉ đơn giản là loại trí tuệ được tìm thấy ở đó là trí tuệ chưa được soi sáng, và nó gắn chặt không thể tách rời với cảm giác hồng trần và phản ứng cảm dục.
The man, weighed down by much misplaced desire,
Con người, bị đè nặng bởi quá nhiều ham muốn đặt sai chỗ,
57. Misplaced, misdirected, wrongly oriented…
57. Đặt sai chỗ, định hướng sai, hướng sai…
58. A true sense of spiritual values has not been established.
58. Một ý thức đích thực về các giá trị tinh thần vẫn chưa được thiết lập.
59. It is interesting that, occultly, desire has “weight”, is ponderous and holds one “down to earth”.
59. Thật thú vị khi, theo huyền bí học, ham muốn có “trọng lượng”, nặng nề và giữ người ta “dính xuống đất”.
seeks for the object of his heart's attention within the murky halls of densest maya.
tìm kiếm đối tượng mà trái tim y chú ý đến trong những đại sảnh mờ đục của ảo lực đậm đặc nhất.
60. It is ultimately the heart which motivates desire. The astrally polarized man is strongly conditioned by the heart center as well as by the solar plexus center.
60. Rốt cuộc chính trái tim là điều thúc đẩy ham muốn. Con người phân cực cảm xúc chịu tác động mạnh mẽ bởi trung tâm tim cũng như bởi trung tâm tùng thái dương.
61. The man in the Hall of Ignorance is blinded and driven hither and thither by the mayavic forces.
61. Con người trong Phòng Vô Minh bị làm mù và bị các mãnh lực ảo lực xô đẩy hết nơi này đến nơi khác.
He finds it there but dies ere garnering all the longed-for fruit.
Y tìm thấy nó ở đó nhưng chết trước khi thu hoạch được tất cả trái quả hằng mong ước.
62. Man does find that which he desires, only to find its acquisition wanting.
62. Con người quả thật tìm thấy điều mình ham muốn, chỉ để nhận ra rằng sự đạt được ấy vẫn thiếu thốn.
63. But desire is ceaseless and cannot easily be satisfied; hence the impulsion towards repeated incarnations in the attempt to fulfill unfulfilled desire within the lower three worlds.
63. Nhưng ham muốn thì không ngừng nghỉ và không dễ được thỏa mãn; do đó mới có xung lực hướng đến những lần lâm phàm lặp đi lặp lại trong nỗ lực hoàn thành những ham muốn chưa được thỏa mãn trong ba cõi thấp.
The serpent stings him,
Con rắn chích y,
64. This is the “sting of the Scorpion” painfully awakening man to unsuspected levels of reality and disabusing him of the glamors and illusions in which he as sheltered.
64. Đây là “vết chích của Hổ Cáp”, đau đớn đánh thức con người trước những cấp độ thực tại không ngờ tới và giải trừ cho y những ảo cảm và ảo tưởng mà trong đó y đã được che chở.
65. The sting of the serpent reveals the relative worthlessness of that which has hitherto been sought.
65. Vết chích của con rắn phơi bày tính tương đối vô giá trị của điều mà từ trước đến nay người ta vẫn tìm kiếm.
and the joy desired recedes from out his grasp.
và niềm vui mong muốn lùi xa khỏi tầm nắm bắt của y.
66. We are dealing with the polarity between Taurus and Scorpio. Taurus is the paramount sign of desire and acquisition. The detaching power of Scorpio removes that which was ignorantly grasped, thus, progressively, instilling a higher sense of values.
66. Chúng ta đang bàn đến cực tính giữa Kim Ngưu và Hổ Cáp. Kim Ngưu là dấu hiệu hoàng đạo tối thượng của ham muốn và sự thủ đắc. Quyền năng tách rời của Hổ Cáp lấy đi điều đã bị nắm giữ một cách vô minh, nhờ đó dần dần gieo vào một ý thức giá trị cao hơn.
67. In a larger sense, there is a constant interplay between Taurus and Scorpio, for each, in its own way, is both acquisitive and inclined to attachment.
67. Theo một nghĩa rộng hơn, có một sự tương tác liên tục giữa Kim Ngưu và Hổ Cáp, vì mỗi dấu hiệu, theo cách riêng của mình, vừa có tính thủ đắc vừa nghiêng về sự bám chấp.
All seeking thus the selfish fruits of karma must each despise each other;
Vì vậy, tất cả những ai tìm kiếm những quả vị ích kỷ của nghiệp quả đều phải khinh miệt lẫn nhau;
68. Hatred exists in the lower three worlds. We are in the world of lower Mars and Pluto (considered from its basest angle).
68. Hận thù tồn tại trong ba cõi thấp. Chúng ta đang ở trong thế giới của Sao Hỏa thấp và Sao Diêm Vương (xét từ góc độ thấp nhất của nó).
69. Division and cleavage rule. Under the principle of separation, scarcity is sensed, sharing is seen as foolish. One grasps for oneself alone.
69. Sự phân chia và chia cắt cai quản. Dưới nguyên lý phân ly, sự khan hiếm được cảm nhận, sự chia sẻ bị xem là ngu xuẩn. Người ta chỉ chộp lấy cho riêng mình.
70. Eventually the power of Scorpio helps the grasping individual overcome selfishness (initially at the second initiation).
70. Cuối cùng quyền năng của Hổ Cáp giúp cá nhân chộp giật vượt qua tính ích kỷ (ban đầu là ở lần điểm đạo thứ hai).
71. This despising reminds one of a similar phrase regarding the Ray Lords:
71. Sự khinh miệt này gợi nhớ đến một cụm từ tương tự liên quan đến các Đấng Chúa Tể Cung:
"The seven Brothers love each other, yet each seeketh for many aeons the path of hatred. They hate and kill each other until they find that which dieth not and is not hurt. Together then they stand and serve and through their service the seven suns burn up." (TCF 1249)
"The seven Brothers love each other, yet each seeketh for many aeons the path of hatred. They hate and kill each other until they find that which dieth not and is not hurt. Together then they stand and serve and through their service the seven suns burn up." (TCF 1249)
hence strife and greed, ill-will and hatred, death and retribution, karmic invocation and the thunderbolt of vengeance characterise this Hall. [Page 850]
do đó xung đột và tham lam, ác ý và hận thù, cái chết và sự báo ứng, sự khẩn cầu nghiệp quả và tia sét báo thù đặc trưng cho Phòng này. [Page 850]
72. Not a very pretty picture but inescapable for all. In the Hall of Ignorance it is finally learned that desire and love are not the same energies. By the time there is a concerted focus upon the second tier of petals, the rising soul is slowly learning the meaning of love, even if relatively selfish at first.
72. Không phải là một bức tranh đẹp đẽ gì, nhưng không ai tránh khỏi. Trong Phòng Vô Minh, cuối cùng người ta học được rằng ham muốn và bác ái không phải là cùng một năng lượng. Đến lúc có sự tập trung phối hợp vào tầng cánh hoa thứ hai, linh hồn đang vươn lên chậm rãi học ý nghĩa của bác ái, dù lúc đầu còn tương đối ích kỷ.
Within the Hall of Learning intellect rules and seeks to guide.
Trong Phòng Hiểu Biết trí tuệ cai quản và tìm cách hướng dẫn.
73. The Hall of Learning is loosely associated with the second tier of petals which are love petals. Desire is still strong, yet it is a more selfless type of desire beginning to approximate love.
73. Phòng Hiểu Biết được liên kết một cách tương đối lỏng với tầng cánh hoa thứ hai là các cánh hoa bác ái. Ham muốn vẫn còn mạnh, nhưng đó là một loại ham muốn vị tha hơn, bắt đầu xấp xỉ bác ái.
74. Awareness of a subjective point within the consciousness arises and man can begin his inward search for the source of that subjectivity—the soul.
74. Sự nhận biết về một điểm chủ quan trong tâm thức phát sinh và con người có thể bắt đầu cuộc tìm kiếm bên trong của mình để tìm nguồn gốc của tính chủ quan ấy—linh hồn.
Desire of a higher kind, the fruit of manas and its use, supplants the lower kamic urge.
Ham muốn thuộc loại cao hơn, là quả của manas và việc sử dụng nó, thay thế xung lực cảm dục thấp hơn.
75. The lower karmic urge is based entirely on low desire and selfishness.
75. Xung lực nghiệp quả thấp hơn hoàn toàn dựa trên ham muốn thấp và tính ích kỷ.
76. Increased use of manas helps one discriminate between the pairs of opposites and, as a result, a higher sense of values emerges. The mind has discriminated between that which is of greater value and that which is lesser in value.
76. Việc sử dụng manas nhiều hơn giúp người ta phân biện giữa các cặp đối đãi, và kết quả là một ý thức giá trị cao hơn xuất hiện. Trí tuệ đã phân biện giữa điều có giá trị lớn hơn và điều có giá trị thấp hơn.
Man weighs and balances,
Con người cân nhắc và quân bình,
77. The power of Libra is obviously strong. Even from the description of the first petal in the Hall of Learning (the fourth petal) we see this to be the case.
77. Quyền năng của Thiên Bình rõ ràng là rất mạnh. Ngay từ mô tả về cánh hoa thứ nhất trong Phòng Hiểu Biết (cánh hoa thứ tư), chúng ta đã thấy điều này là đúng.
1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realisation of his essential duality he begins to comprehend causes. (TCF 540)
1. Cánh hoa tri thức, dành cho cõi cảm dục; sự khai mở được mang lại bởi sự quân bình có ý thức các cặp đối đãi, và việc dần dần sử dụng Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người đi ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà từ quan điểm chân ngã, y hoạt động một cách mù quáng, và bắt đầu nhận thức được các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của mình; nhờ sự chứng nghiệm về nhị nguyên tính cốt yếu của mình, y bắt đầu thấu hiểu các nguyên nhân. (TCF 540)
and in the twilight Halls of Intellection seeks for the fruit of knowledge.
và trong những Phòng Minh Biện chạng vạng, tìm kiếm quả vị của tri thức.
78. There is a kind of light to be found in the Hall of Learning (the Halls of Intellection) but it is a twilight rather than the light of full day (the intuition).
78. Có một loại ánh sáng có thể tìm thấy trong Phòng Hiểu Biết (các Phòng Minh Biện), nhưng đó là ánh sáng chạng vạng hơn là ánh sáng ban ngày trọn vẹn (trực giác).
79. Mediated knowledge is found in the Halls of Intellection, rather than “straight knowledge”, “direct knowledge”.
79. Tri thức gián tiếp được tìm thấy trong các Phòng Minh Biện, hơn là “tri thức trực tiếp”, “tri thức thẳng”.
Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; (TCF 543)
Rồi loạt cánh hoa thứ hai được mở ra, trong một thời kỳ bao trùm sự tham dự một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y bước vào giới tinh thần ở lần điểm đạo thứ nhất; (TCF 543)
80. This is the period found as the man seeks to participate intelligently in the affairs of every day.
80. Đây là giai đoạn được tìm thấy khi con người tìm cách tham dự một cách thông minh vào các công việc hằng ngày.
He finds it but to realise that knowledge is not all; he dies upon the open field of knowledge, hearing a cry beat on his dying ears: Know that the knower greater is than knowledge; the One who seeks is greater than the sought.
Y tìm thấy nó nhưng chỉ để chứng nghiệm rằng tri thức không phải là tất cả; y chết trên cánh đồng rộng mở của tri thức, nghe một tiếng kêu dội vào đôi tai hấp hối của mình: Hãy biết rằng thức giả lớn hơn tri thức; Đấng tìm kiếm lớn hơn điều được tìm kiếm.
81. Here we have another vivid image of unrequited desire. The man experiences futility realizing that knowledge alone can never satisfy his deeper quest.
81. Ở đây chúng ta có một hình ảnh sống động khác về ham muốn không được đền đáp. Con người trải nghiệm sự vô ích khi nhận ra rằng chỉ riêng tri thức không bao giờ có thể thỏa mãn cuộc truy cầu sâu xa hơn của mình.
82. Knowledge is related to the lower mind. The fruits of the lower mind can never satisfy. The Knower, however, is seated within the planes of higher mind.
82. Tri thức liên hệ với hạ trí. Những quả vị của hạ trí không bao giờ có thể thỏa mãn. Tuy nhiên, thức giả lại ngự trong các cõi của thượng trí.
83. The man now seeks Himself as the soul. He seeks to transcend the concrete mind in search of the Thinker.
83. Giờ đây con người tìm kiếm Chính Mình như linh hồn. Y tìm cách vượt lên trên trí cụ thể để tìm kiếm Đấng Tư Tưởng.
Within the Hall of Wisdom the Spirit rules;
Trong Phòng Minh triết tinh thần cai quản;
84. From one perspective, the Hall of Wisdom begins when the first initiation is taken. Some see entrance into this Hall somewhat before the first initiation and some consider that full entry does not occur until the third initiation has been taken.
84. Theo một góc nhìn, Phòng Minh triết bắt đầu khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận. Một số người thấy việc bước vào Phòng này diễn ra sớm hơn đôi chút trước lần điểm đạo thứ nhất, và một số khác cho rằng sự bước vào trọn vẹn chỉ xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận.
85. But it could hardly be said that before the first initiation (or even at the first initiation) “Spirit rules”.
85. Nhưng khó có thể nói rằng trước lần điểm đạo thứ nhất (hay ngay cả ở lần điểm đạo thứ nhất) “tinh thần cai quản”.
86. Yet, increasingly the Spirit is having its impact directly upon the soul (on its own plane—the higher mental) and the soul is making its presence felt in the life of the personality (thus mediating the Spirit to the personality).
86. Tuy nhiên, ngày càng nhiều hơn, tinh thần đang tác động trực tiếp lên linh hồn (trên chính cõi của nó—Cõi thượng trí), và linh hồn đang làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận trong đời sống của phàm ngã (nhờ đó làm trung gian cho tinh thần đến với phàm ngã).
the One within the lesser ones assumes supreme control.
Đấng Duy Nhất bên trong những cái nhỏ hơn nắm quyền kiểm soát tối thượng.
87. We can call this “One” either the soul or the Spirit. The Hall of Wisdom is a lengthy experience including full soul expression and the increasing expression of the Spirit.
87. Chúng ta có thể gọi “Đấng Duy Nhất” này là linh hồn hoặc tinh thần. Phòng Minh triết là một kinh nghiệm kéo dài, bao gồm sự biểu hiện trọn vẹn của linh hồn và sự biểu hiện ngày càng tăng của tinh thần.
Death is not known within these halls, for its two great gates are passed.
Cái chết không được biết đến trong những phòng này, vì hai cánh cổng lớn của nó đã được vượt qua.
88. Presumably, we are still speaking of the experience of the Hall of Wisdom even though the plural “halls” is used.
88. Có lẽ chúng ta vẫn đang nói về kinh nghiệm của Phòng Minh triết dù số nhiều “những phòng” được dùng.
89. The Capricornian gate or door—the “doorway into life of those who know not death” is passed at true initiation. Similarly, the man begins to pass far more consciously through the lower gate, “the doorway into life of those who must know death”.
89. Cánh cổng hay cánh cửa Ma Kết—“cửa ngõ đi vào sự sống của những ai không biết đến cái chết”—được vượt qua trong điểm đạo đích thực. Tương tự, con người bắt đầu đi qua một cách hữu thức hơn nhiều cánh cổng thấp hơn, “cửa ngõ đi vào sự sống của những ai phải biết đến cái chết”.
90. From another perspective, the lower doorway is “passed” when man no longer has any need for incarnation in the lower three worlds.
90. Theo một góc nhìn khác, cánh cửa thấp hơn được “vượt qua” khi con người không còn bất kỳ nhu cầu nào phải lâm phàm trong ba cõi thấp.
Discord and strife both disappear and only harmony is seen.
Bất hòa và xung đột đều biến mất và chỉ còn sự hài hòa được thấy.
91. Wisdom is buddhi and the man is entering the “circle of buddhic life”. The buddhic plane is the plane of harmony.
91. Minh triết là Bồ đề và con người đang đi vào “vòng tròn của sự sống Bồ đề”. Cõi Bồ đề là cõi của sự hài hòa.
The knowers see themselves as One;
Các thức giả thấy mình là Một;
92. One becomes a “knower” on the buddhic plane, which is the first true plane of at-one-ment. Buddhic sight is unitive sight promoted through pure reason and love.
92. Người ta trở thành một “thức giả” trên cõi Bồ đề, vốn là cõi đích thực đầu tiên của sự hợp nhất. Thị giác Bồ đề là thị giác hợp nhất được thúc đẩy qua lý trí thuần khiết và bác ái.
93. From the time the second initiation is passed, buddhic influence is penetrating the consciousness and the human energy system increasingly.
93. Kể từ khi lần điểm đạo thứ hai được vượt qua, ảnh hưởng Bồ đề đang thâm nhập vào tâm thức và hệ thống năng lượng con người ngày càng nhiều hơn.
they recognise the field wherein knowledge grows as Brahmic dissonance and differentiation.
họ nhận ra lĩnh vực trong đó tri thức tăng trưởng như là sự bất hòa và biến phân Brahmic.
94. Such would be the concrete worlds. The realm of Vishnu is the realm of harmony, though the energy of Vishnu applied to the world of Brahma may initially cause “dissonance”. Because of love, battles are fought.
94. Đó hẳn là các thế giới cụ thể. Cõi của Vishnu là cõi của hài hòa, dù năng lượng của Vishnu áp dụng vào thế giới của Brahma lúc đầu có thể gây ra “bất hòa”. Chính vì bác ái, mà các trận chiến được tiến hành.
Knowledge they know as method, an instrument of purpose utilised by all and just a germ of eventual recognition.
Trithức được họ biết như phương pháp, một công cụ của mục đích được mọi người sử dụng và chỉ là một mầm mống của sự nhận biết rốt ráo.
95. The true value and place of knowledge is understood by those in the Hall of Wisdom.
95. Giá trị và vị trí đích thực của tri thức được những người ở trong Phòng Minh triết thấu hiểu.
96. Knowledge becomes recognition (which is another way of saying “straight knowledge”). The one who knows, in a outward sense, becomes the one who inwardly knows as the Knower.
96. Tri thức trở thành sự nhận biết (đó là một cách khác để nói “tri thức trực tiếp”). Người biết theo nghĩa bên ngoài trở thành người biết bên trong như thức giả.