← Commentary_S7_733_747

TCF 863-867: S7S10 Part III

Trích nội dung chương

110. We recall that, somewhat above, DK said man had to deal with four centers—head, heart, throat and base of the spine center. 110. Chúng ta nhớ rằng ở phần trên một chút, Chân sư DK đã nói con người phải xử lý bốn trung tâm—trung tâm đầu, tim, cổ họng và đáy cột sống.


110. We recall that, somewhat above, DK said man had to deal with four centers—head, heart, throat and base of the spine center.

110. Chúng ta nhớ rằng ở phần trên một chút, Chân sư DK đã nói con người phải xử lý bốn trung tâm—trung tâm đầu, tim, cổ họng và đáy cột sống.

111. If, however, the head center is divided into two parts, (the crown and the ajna center) we may have the five of which DK is now speaking.

111. Tuy nhiên, nếu trung tâm đầu được chia thành hai phần, (trung tâm đỉnh đầu và trung tâm ajna) thì chúng ta có thể có năm trung tâm mà Chân sư DK hiện đang nói đến.

and if he wishes safely to follow along the line of the true psychic unfoldment:

và nếu y muốn an toàn bước theo đường lối của sự khai mở thông linh chân chính:

112. The awakening of the centers is a process of psychic unfoldment.

112. Sự đánh thức các trung tâm là một tiến trình khai mở thông linh.

113. The psyche on the higher mental plane is unfolding step by step, pari passu, with the awakening of the chakras within the physical ethers and the astral ethers.

113. Tâm hồn trên Cõi thượng trí đang khai mở từng bước, song hành với sự đánh thức các luân xa trong các dĩ thái hồng trần và các dĩ thái cảm dục.

114. Several facts are now listed which indicate that the number of chakras with which a man must work are five. These facts all stress the importance of the number five.

114. Giờ đây một số sự kiện được liệt kê cho thấy rằng số luân xa mà một người phải làm việc cùng là năm. Tất cả những sự kiện này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của số năm.

The fact that the energy starts from the fifth plane, the mental, where man is concerned,

Sự kiện rằng năng lượng khởi đi từ cõi thứ năm, cõi trí, xét nơi con người,

115. In one sense, chakric energy starts from the Ego on the higher mental plane, but in another sense from the Monad.

115. Theo một nghĩa, năng lượng luân xa khởi đi từ Chân ngã trên Cõi thượng trí, nhưng theo một nghĩa khác thì từ chân thần.

116. At the moment we are considering the relationship between the energy of the egoic lotus and that of the energy centers on three levels—the levels o the personality vehicles.

116. Hiện tại chúng ta đang xét mối liên hệ giữa năng lượng của Hoa Sen Chân Ngã và năng lượng của các trung tâm năng lượng trên ba cấp độ—các cấp độ của những hiện thể phàm ngã.

The fact that it is through the agency of the fifth principle that man can consciously work at his own unfoldment,

Sự kiện rằng chính nhờ tác nhân của nguyên khí thứ năm mà con người có thể làm việc một cách có ý thức cho sự khai mở của chính mình,

117. It is via the mind that man may work at his own unfoldment. It requires the self-conscious and intelligent application of the will via the mind of a human being is take his own spiritual unfoldment into hand.

117. Chính qua trí tuệ mà con người có thể làm việc cho sự khai mở của mình. Cần có sự vận dụng có ý thức về ngã thức và thông tuệ của ý chí qua trí tuệ của một con người để y tự mình nắm lấy sự khai mở tinh thần của mình.

The fact that the path of evolution is for man a fivefold one, covering the five planes of human unfoldment; and is divided into five stages as regards the Ego,

Sự kiện rằng con đường tiến hoá đối với con người là một con đường ngũ phân, bao trùm năm cõi của sự khai mở nhân loại; và được chia thành năm giai đoạn xét theo Chân ngã,

118. Human unfoldment occurs on the five planes of human and super-human evolution. A Master (who has focussed His consciousness on the atmic plane) is still a human being. A Chohan of the sixth initiation is not.

118. Sự khai mở của con người diễn ra trên năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại. Một Chân sư (Đấng đã tập trung tâm thức của Ngài trên cõi atma) vẫn là một con người. Một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu thì không còn như vậy.

“They are no longer men as are the Masters but having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest.” (R&I 21)

“Họ không còn là con người như các Chân sư nữa mà vì đã vượt qua giai đoạn nhỏ bé ấy, đã liên kết Chính Mình với Đại Hội Đồng ở cõi cao nhất.” (R&I 21)

119. Can these five stages concern the five divisions of the egoic lotus—the knowledge petals, the love petals, the sacrifice petals, the synthesis petals and the Jewel in the Lotus?

119. Liệu năm giai đoạn này có thể liên quan đến năm phân bộ của Hoa Sen Chân Ngã—các cánh hoa tri thức, các cánh hoa bác ái, các cánh hoa hi sinh, các cánh hoa tổng hợp và Ngọc trong Hoa Sen chăng?

120. Can the fivefold path of evolution concern development on the etheric-physical plane, the astral plane, the mental plane, the buddhic plane, and the atmic plane?

120. Liệu con đường tiến hoá ngũ phân có thể liên quan đến sự phát triển trên cõi dĩ thái-hồng trần, cõi cảm dục, cõi trí, cõi Bồ đề và cõi atma chăng?

The fact that although this is the second solar system from the standpoint of the egoic cycles of the Logos, [Page 861] or His second major egoic cycle, yet it is the fifth when viewed from another angle, that of the lesser cycles.

Sự kiện rằng mặc dù đây là hệ mặt trời thứ hai xét từ quan điểm các chu kỳ chân ngã của Thượng đế, [Page 861] hay chu kỳ chân ngã lớn thứ hai của Ngài, nhưng nó lại là thứ năm khi được nhìn từ một góc độ khác, tức góc độ của các chu kỳ nhỏ hơn.

121. This is a point which has been frequently emphasized in these commentaries. It may be thought that, in the evolution of the Solar Logos, there is a correspondence to the Lemurian, Atlantean, Early Aryan, Middle Aryan and Later Aryan stages of consciousness. Our present solar system (the second major solar system, during which our Solar Logos is in His “second major egoic cycle”) can be considered a correspondence to the Later Aryan phase of development.

121. Đây là một điểm đã được nhấn mạnh thường xuyên trong các phần bình giải này. Người ta có thể nghĩ rằng, trong sự tiến hoá của Thái dương Thượng đế, có một đối phần với các giai đoạn tâm thức Lemuria, Atlantis, Arya sơ kỳ, Arya trung kỳ và Arya hậu kỳ. Hệ mặt trời hiện tại của chúng ta (hệ mặt trời lớn thứ hai, trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đang ở trong “chu kỳ chân ngã lớn thứ hai” của Ngài) có thể được xem là một đối phần với giai đoạn phát triển Arya hậu kỳ.

122. “Lesser cycles”, from this point of view, are also solar systems.

122. “Các chu kỳ nhỏ hơn”, xét từ quan điểm này, cũng là các hệ mặt trời.

123. We may consider the previous solar system as the system in which the intelligent personality of the Solar Logos was developed. That solar system should then be considered as representing the first major egoic cycle of the Solar Logos. The development of the human personality is an egoic achievement.

123. Chúng ta có thể xem hệ mặt trời trước đây là hệ trong đó phàm ngã thông tuệ của Thái dương Thượng đế đã được phát triển. Khi ấy hệ mặt trời đó nên được xem là phàm ngã của Thái dương Thượng đế. Hệ mặt trời ấy khi đó nên được xem là tượng trưng cho chu kỳ chân ngã lớn thứ nhất của Thái dương Thượng đế. Sự phát triển của phàm ngã con người là một thành tựu của chân ngã.

It corresponds to the fifth period in human evolution, that in which man treads the Path.

Nó tương ứng với giai đoạn thứ năm trong tiến hoá của con người, giai đoạn mà con người bước trên Con Đường.

124. From this perspective, the five major stages of human evolution are those in which the following aspects of the human being are sequentially developed: the etheric-physical body, the astral body, the lower mental body, the personality and finally, the Ego.

124. Từ góc nhìn này, năm giai đoạn lớn của tiến hoá con người là những giai đoạn trong đó các phương diện sau của con người lần lượt được phát triển: thể dĩ thái-hồng trần, thể cảm dục, thể hạ trí, phàm ngã và cuối cùng là Chân ngã.

125. A man treads the Path when he is cultivating soul expression in the three worlds.

125. Một người bước trên Con Đường khi y đang vun bồi sự biểu lộ của linh hồn trong ba cõi giới.

The Logos is now treading the cosmic Path.

Thượng đế hiện đang bước trên Con Đường vũ trụ.

126. As our Logos is an initiate of the second degree (cosmically considered) He is, of course, treading the Path. The third cosmic initiation is His goal.

126. Vì Thượng đế của chúng ta là một điểm đạo đồ bậc hai (xét theo vũ trụ), nên dĩ nhiên Ngài đang bước trên Con Đường. Mục tiêu của Ngài là lần điểm đạo vũ trụ thứ ba.

The fact that the fifth spirilla is in process of awakening.

Sự kiện rằng loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được đánh thức.

127. The awakening of five spirillae in man correspond to the fact that he is to work principally through five chakras.

127. Sự đánh thức năm loa tuyến nơi con người tương ứng với sự kiện rằng y phải làm việc chủ yếu qua năm luân xa.

This has to be effected before the interplay of energy between the egoic lotus and the etheric centres becomes so powerful as to awaken man's physical brain, and cause him to become aware of the inner currents.

Điều này phải được thực hiện trước khi sự tương tác năng lượng giữa Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái trở nên mạnh mẽ đến mức đánh thức bộ não hồng trần của con người, và khiến y nhận biết được các dòng chảy bên trong.

128. We have an important piece of occult information. The process of awakening the fifth spirilla makes it possible for soul currents to be registered in the physical brain. Before that time, he cannot be conscious of soul energy within his normal consciousness.

128. Chúng ta có một mẩu thông tin huyền bí quan trọng. Tiến trình đánh thức loa tuyến thứ năm khiến cho các dòng chảy của linh hồn có thể được ghi nhận trong bộ não hồng trần. Trước thời điểm đó, y không thể có ý thức về năng lượng linh hồn trong tâm thức thông thường của mình.

129. Before a man awakens in his physical brain to the inner currents there is interplay of energy between the egoic lotus and the etheric centers, but it is not of sufficient intensity to awaken physical brain recognition of this interplay.

129. Trước khi một người thức tỉnh trong bộ não hồng trần của mình đối với các dòng chảy bên trong, vẫn có sự tương tác năng lượng giữa Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái, nhưng nó không đủ cường độ để đánh thức sự nhận biết của bộ não hồng trần về sự tương tác này.

This takes place usually when the fifth petal [love love] is organised.

Điều này thường xảy ra khi cánh hoa thứ năm [love love] được tổ chức.

130. The fifth petal is fully opened at the first initiation, but, apparently, the awakening of the fifth spirilla occurs somewhat before that time. It is as a man begins to tread the Path of Probation that we may find the fifth petal organized, and maybe the sixth as well.

130. Cánh hoa thứ năm được mở ra hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ nhất, nhưng dường như sự đánh thức loa tuyến thứ năm xảy ra sớm hơn đôi chút. Chính khi một người bắt đầu bước trên Con Đường Dự Bị mà chúng ta có thể thấy cánh hoa thứ năm được tổ chức, và có lẽ cả cánh thứ sáu nữa.

131. We should be very careful to differentiate between the stages of petal unfoldment and petal organization. The organization of the fifth petal occurs before its unfoldment and it is only as the fifth petal is fully unfolded that a man is an initiate of the first degree.

131. Chúng ta phải hết sức cẩn trọng để phân biệt giữa các giai đoạn khai mở cánh hoa và tổ chức cánh hoa. Sự tổ chức của cánh hoa thứ năm xảy ra trước sự khai mở của nó, và chỉ khi cánh hoa thứ năm được khai mở hoàn toàn thì một người mới là một điểm đạo đồ bậc một.

132. The organization of the fifth petal occurs upon the Path of Probation, which obviously, from this account, begins before the first initiation is taken.

132. Sự tổ chức của cánh hoa thứ năm xảy ra trên Con Đường Dự Bị, điều này hiển nhiên, theo tường thuật này, bắt đầu trước khi lần điểm đạo thứ nhất được tiếp nhận.

This whole question can also be viewed in a larger manner from the standpoint of the five Kumaras.

Toàn bộ vấn đề này cũng có thể được nhìn theo một cách rộng lớn hơn từ quan điểm của năm Kumara.

133. Here it appears that we are speaking of the intra-planetary Kumaras, such as Sanat Kumara and the three Buddhas of Activity.

133. Ở đây dường như chúng ta đang nói về các Kumara nội hành tinh, như Đức Sanat Kumara và ba Đức Phật Hoạt Động.

It must be remembered that the aggregate of the etheric centres of any particular group of men form the force centres or minute "energy units" in the larger petals of their group centre.

Phải nhớ rằng tổng thể các trung tâm dĩ thái của bất kỳ nhóm người đặc thù nào tạo thành các trung tâm lực hay những “đơn vị năng lượng” nhỏ bé trong các cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm của họ.

134. Structurally, how are these minute “energy units” related to these large petals? We know there are points of devic life within the petals of the egoic lotus. Perhaps we can consider an analogy. These aggregates of etheric centers of a particular group of men are as the points of devic life when compared to the “larger petals of their group centre”.

134. Về mặt cấu trúc, những “đơn vị năng lượng” nhỏ bé này liên hệ thế nào với những cánh hoa lớn ấy? Chúng ta biết có những điểm sự sống thiên thần trong các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Có lẽ chúng ta có thể xét một phép tương đồng. Những tổng thể các trung tâm dĩ thái của một nhóm người đặc thù này giống như các điểm sự sống thiên thần khi so với “những cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm của họ”.

135. It appears that we have to have a vision of centers within still larger centers; petals within still greater petals; lotuses within still greater lotuses.

135. Dường như chúng ta phải có một linh ảnh về các trung tâm bên trong những trung tâm còn lớn hơn nữa; các cánh hoa bên trong những cánh hoa còn lớn hơn nữa; các hoa sen bên trong những hoa sen còn lớn hơn nữa.

These again form petals in some particular planetary centre, and the aggregate of these petals form those larger centres of energy which we call "planetary centres." These in their turn form centres of force for the Logos.

Đến lượt chúng, những cánh hoa này lại tạo thành các cánh hoa trong một trung tâm hành tinh đặc thù nào đó, và tổng thể các cánh hoa này tạo thành những trung tâm năng lượng lớn hơn mà chúng ta gọi là “các trung tâm hành tinh”. Đến lượt chúng, những trung tâm này tạo thành các trung tâm lực cho Thượng đế.

136. For clarity let us tabulate. We note that we do not begin with the individual but only with a “particular group of men”.

136. Để rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không bắt đầu với cá nhân mà chỉ với một “nhóm người đặc thù”.

a. The aggregate of the etheric centres of any particular group of men form the force centres or minute "energy units" in the larger petals of their group centre

a. Tổng thể các trung tâm dĩ thái của bất kỳ nhóm người đặc thù nào tạo thành các trung tâm lực hay những “đơn vị năng lượng” nhỏ bé trong các cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm của họ

b. The larger petals of this group center form petals in some particular planetary centre

b. Những cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm này tạo thành các cánh hoa trong một trung tâm hành tinh đặc thù nào đó

c. The petals in some planetary center in their aggregate form those larger centres of energy we call “planetary centres”. It seems as if the “planetary centres” are greater in scope than the type of “planetary centre” discussed immediately before (in point “c.”)

c. Các cánh hoa trong một trung tâm hành tinh nào đó, trong hình thức tổng hợp của chúng, tạo thành những trung tâm năng lượng lớn hơn mà chúng ta gọi là “các trung tâm hành tinh”. Có vẻ như “các trung tâm hành tinh” có phạm vi lớn hơn loại “trung tâm hành tinh” được bàn đến ngay trước đó (ở điểm “c.”)

d. These “planetary centres” form centers of force for the Logos.

d. Những “trung tâm hành tinh” này tạo thành các trung tâm mãnh lực cho Thượng đế.

Yet the mystery in connection with this is so profound that unless the student carefully guards himself from too mathematical and material a concept, he will go astray.

Tuy nhiên, huyền nhiệm liên quan đến điều này sâu xa đến mức nếu đạo sinh không cẩn thận tự giữ mình khỏi một quan niệm quá toán học và vật chất, y sẽ lạc lối.

137. It is here that the intuition is required. One cannot successfully depict these interrelationships along strictly mathematical lines nor arrange them in patterns familiar to the concrete mind.

137. Chính ở đây trực giác là điều cần thiết. Người ta không thể mô tả thành công những tương quan liên hệ này theo những đường lối toán học nghiêm ngặt, cũng không thể sắp xếp chúng thành những mô hình quen thuộc với trí cụ thể.

The etheric centres of man are not on the same plane as the etheric centres of a planetary Logos.

Các trung tâm dĩ thái của con người không ở trên cùng một cõi với các trung tâm dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế.

138. This is clear. The systemic ethers are involve in the first case and the cosmic ethers in the second.

138. Điều này rõ ràng. Trong trường hợp thứ nhất là các dĩ thái hệ thống được bao hàm, còn trong trường hợp thứ hai là các dĩ thái vũ trụ.

His centres

Các trung tâm của Ngài

139. And, by analogy, not all of them…

139. Và, theo phép loại suy, không phải tất cả trong số chúng…

are on the plane of the fourth cosmic ether, the systemic buddhic plane, and it is only when man has taken the final initiation that his energy becomes incorporated into that of the planetary centre on its own plane.

đều ở trên cõi của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề hệ thống, và chỉ khi nào con người đã trải qua lần điểm đạo cuối cùng thì năng lượng của y mới được hợp nhất vào năng lượng của trung tâm hành tinh trên chính cõi của nó.

140. Is the “final initiation” the fourth? If so, at that time, the buddhic plane would become accessible to the initiate. It would seem that man could definitely be incorporated into a kind of planetary center at that time.

140. “Lần điểm đạo cuối cùng” có phải là lần thứ tư không? Nếu vậy, vào lúc đó cõi Bồ đề sẽ trở nên khả tiếp cận đối với điểm đạo đồ. Có vẻ như khi ấy con người chắc chắn có thể được hợp nhất vào một loại trung tâm hành tinh nào đó.

141. But something more may perhaps be implied. Human Monads are incorporated into the planetary centers of a Planetary Logos, and Monads are found upon the second cosmic subplane—the monadic (not on the buddhic plane).

141. Nhưng có lẽ còn một điều gì hơn nữa được hàm ý. Các Chân thần nhân loại được hợp nhất vào các trung tâm hành tinh của một Chân Linh Hành Tinh, và các chân thần được tìm thấy trên cõi phụ vũ trụ thứ hai—cõi chân thần (không phải trên cõi Bồ đề).

142. There are planetary centers on the monadic plane (analogize from Chart Vehicle, TCF 344) and they are, it would seem, prototypical to the centers found upon the systemic buddhic plane.

142. Có những trung tâm hành tinh trên cõi chân thần (suy theo Biểu đồ Vận cụ, TCF 344) và dường như chúng là nguyên mẫu của các trung tâm được tìm thấy trên cõi Bồ đề hệ thống.

143. In this case, the “final initiation” mentioned above could be considered the sixth at which point the man becomes a Chohan.

143. Trong trường hợp này, “lần điểm đạo cuối cùng” được nhắc đến ở trên có thể được xem là lần thứ sáu, tại đó con người trở thành một Chohan.

144. DK seems to be telling us that when considering the incorporation of lesser centers into greater ones, it is necessary to factor in changes of plane.

144. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng khi xét đến việc hợp nhất các trung tâm nhỏ hơn vào các trung tâm lớn hơn, cần phải tính đến những thay đổi về cõi.

145. The members of the atomic triangle, for instance, are not on the same plane as the causal body and yet they are incorporated within it.

145. Chẳng hạn, các thành viên của tam giác nguyên tử không ở trên cùng một cõi với thể nguyên nhân, thế nhưng chúng vẫn được hợp nhất bên trong nó.

The etheric centres of the planetary Logos are transmitters and transmuters of force, and bear the same relation to Him as do the physical centres to a human being.

Các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế là những bộ truyền dẫn và chuyển hoá mãnh lực, và có cùng mối liên hệ với Ngài như các trung tâm thể xác đối với một con người.

146. When DK speaks of the physical centers of a human being, He does not seem to be indicating the etheric centers.

146. Khi Chân sư DK nói về các trung tâm thể xác của một con người, Ngài dường như không muốn chỉ các trung tâm dĩ thái.

All the dense physical centres, such as the mouth, for instance, [Page 862] are transmitters of some type of energy arising in the human brain or will.

Tất cả các trung tâm hồng trần đậm đặc, chẳng hạn như miệng, [Page 862] đều là những bộ truyềndẫn của một loại năng lượng nào đó phát sinh trong bộ não hay ý chí của con người.

147. DK is speaking of the origin of the physical organs of man.

147. Chân sư DK đang nói về nguồn gốc của các cơ quan thể xác của con người.

148. It would seem that the etheric centers of a Planetary Logos are to Him as the strictly physical centers of a human being are to that human being.

148. Có vẻ như các trung tâm dĩ thái của một Hành Tinh Thượng Đế đối với Ngài cũng giống như các trung tâm thuần túy thể xác của một con người đối với chính con người ấy.

149. There is, of course, an analogy between a human being and a Planetary Logos, but the Planetary Logos, on His own level, is, it would seem, further developed than the average man on his level.

149. Dĩ nhiên có một phép loại suy giữa con người và một Hành Tinh Thượng Đế, nhưng Hành Tinh Thượng Đế, trên cấp độ riêng của Ngài, dường như phát triển hơn con người trung bình trên cấp độ của y.

The understanding of force, of force transmission, and of the effects of liberated force upon the higher planes is the secret of occult knowledge. Force or energy flows in from the Ego.

Sự thấu hiểu về mãnh lực, về sự truyền dẫn mãnh lực, và về các hiệu quả của mãnh lực được giải phóng trên các cõi cao hơn là bí mật của tri thức huyền bí. Mãnh lực hay năng lượng tuôn vào từ chân ngã.

150. Here it is evident that DK is not differentiating very strictly between force and energy. They both flow in from the Ego.

150. Ở đây rõ ràng là Chân sư DK không phân biệt quá nghiêm ngặt giữa mãnh lực và năng lượng. Cả hai đều tuôn vào từ chân ngã.

151. Occultism is very much the study of energy and force and the transmission of energy and force on various planes and to various planes.

151. Huyền bí học phần lớn là sự nghiên cứu năng lượng và mãnh lực, cùng sự truyền dẫn năng lượng và mãnh lực trên nhiều cõi khác nhau và đến nhiều cõi khác nhau.

It works through the etheric centres and produces results on the three planes, varying according to the age of the soul.

Nó hoạt động qua các trung tâm dĩ thái và tạo ra kết quả trên ba cõi, thay đổi tùy theo tuổi của linh hồn.

152. Here the obvious is stated. Force or energy from the Ego affects the planes in the three lower worlds, and the effect varies with the age of the soul—the greater the age of the soul the greater the impact.

152. Ở đây điều hiển nhiên được nêu ra. Mãnh lực hay năng lượng từ chân ngã tác động đến các cõi trong ba cõi thấp, và hiệu quả thay đổi theo tuổi của linh hồn—tuổi của linh hồn càng lớn thì tác động càng mạnh.

As yet, through lack of alignment, this egoic force does not reach the physical brain as fully as it later will, but it does reach the astral centres, and is frequently the cause of much of that lack of emotional control everywhere to be seen.

Hiện nay, do thiếu sự chỉnh hợp, mãnh lực chân ngã này chưa đạt đến bộ não thể xác đầy đủ như về sau nó sẽ đạt đến, nhưng nó quả thật đạt đến các trung tâm cảm dục, và thường là nguyên nhân của phần lớn tình trạng thiếu kiểm soát cảmxúc có thể thấy ở khắp nơi.

153. This is interesting. Egoic force impacting the astral centers causing disturbance and lack of emotional control! The cause of the disturbance remains unknown because that force does not reach the brain.

153. Điều này thật thú vị. Mãnh lực chân ngã tác động lên các trung tâm cảm dục gây ra xáo trộn và thiếu kiểm soát cảm xúc! Nguyên nhân của sự xáo trộn vẫn không được biết đến vì mãnh lực ấy không đạt đến bộ não.

The astral substance is as yet insufficiently organised, and when aroused by egoic energy moves violently.

Chất liệu cảm dục hiện vẫn chưa được tổ chức đầy đủ, và khi được năng lượng chân ngã khơi dậy thì chuyển động dữ dội.

154. It appears that correct organization with a vehicle leads to better assimilation by that vehicle. Therefore the organization of the astral body is indispensable.

154. Có vẻ như sự tổ chức đúng đắn của một vận cụ dẫn đến sự đồng hoá tốt hơn của vận cụ ấy. Vì vậy, việc tổ chức thể cảm dục là điều không thể thiếu.

155. This type of arousal seems to occur independently of the ray type of the Ego, but one can imagine that the impact of first, fourth and sixth ray egoic energy would have a more disturbing impact on the astral body.

155. Loại khơi dậy này dường như xảy ra độc lập với loại cung của chân ngã, nhưng người ta có thể hình dung rằng tác động của năng lượng chân ngã cung một, cung bốn và cung sáu sẽ gây ảnh hưởng xáo trộn hơn lên thể cảm dục.

Astral substance is played upon by two counter streams of force: first, the egoic, and secondly, that vibration set up through countless ages on the physical plane,

Chất liệu cảm dục chịu tác động của hai dòng mãnh lực đối nghịch: thứ nhất là dòng chân ngã, và thứ hai là rung động được thiết lập qua vôsố thời đại trên cõi hồng trần,

156. It is of interest to note that vibrations set up on the physical plane affect the astral vehicle. Perhaps this is also true of vibrations set up in the mind.

156. Điều đáng chú ý là những rung động được thiết lập trên cõi hồng trần lại ảnh hưởng đến vận cụ cảm dục. Có lẽ điều này cũng đúng với những rung động được thiết lập trong trí tuệ.

157. We are dealing with what may be called “cross currents”, and such always cause disturbance.

157. Chúng ta đang bàn đến điều có thể gọi là những “dòng chảy giao cắt”, và những điều như thế luôn gây xáo trộn.

which is latent in substance itself, and is the result of an earlier solar system.

vốn tiềm ẩn trong chính chất liệu, và là kết quả của một hệ mặt trời trước đây.

158. What we learn is that within the astral body there is a conflict of forces representing the second and the previous solar system.

158. Điều chúng ta học được là bên trong thể cảm dục có một sự xung đột của các mãnh lực đại diện cho hệ mặt trời thứ hai và hệ mặt trời trước đó.

This it is which produces the violent action and reaction to be seen in every life.

Chính điều này tạo ra hànhđộng và phản động dữ dội có thể thấy trong mọi cuộc đời.

159. We have a very interesting description of the origin of emotional violence. The contest between egoic and substantial energy (in this case, energy from the previous solar system) is to blame

159. Chúng ta có một mô tả rất thú vị về nguồn gốc của bạo lực cảm xúc. Cuộc tranh chấp giữa năng lượng chân ngã và năng lượng của chất liệu (trong trường hợp này là năng lượng từ hệ mặt trời trước) là nguyên nhân.

It is not possible to give more data concerning the unfoldment of the petals and their connection with the etheric centres.

Không thể cung cấp thêm dữ kiện nào về sự khai mở của các cánh hoa và mối liên hệ của chúng với các trung tâm dĩ thái.

160. Yet, much has been given if we could only piece it together.

160. Tuy vậy, nhiều điều đã được ban cho nếu chúng ta chỉ có thể ghép nối chúng lại với nhau.

TCF 863-867: S7S10 Part III

1 – 17 August 2008

1 – 17 tháng Tám 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

Three hints of practical import anent this stupendous subject may however be given which, if duly pondered upon, may carry illumination to those who are ready.

Tuy nhiên, có thể đưa ra ba gợi ý có tầm quan trọng thực tiễn liên quan đến chủ đề kỳ vĩ này mà, nếu được suy ngẫm đúng mức, có thể mang lại sự soi sáng cho những ai đã sẵn sàng.

1. Here we enter upon some quite esoteric material deserving careful pondering.

1. Ở đây chúng ta bước vào một số chất liệu khá huyền bí, xứng đáng được suy ngẫm cẩn trọng.

The first is that the etheric centres become active in a fourth dimensional sense (or become wheels turning upon themselves) when the aspirant has complied with certain details.

Gợi ý thứ nhất là các trung tâm dĩ thái trở nên hoạt động theo ý nghĩa chiều thứ tư (hay trở thành những bánh xe tự xoay quanh chính mình) khi người chí nguyện đã tuân thủ một số chi tiết nhất định.

2. We must gather the other information given on fourth dimensional activity. One point of importance is that before the first three initiations, the etheric, astral and mental centers, respectively, become active in a fourth dimensional manner—the etheric centers (at least some of them) before the first initiation; the astral centers (at least some of them) before the second initiation; and the mental centers (at least some of them) before the third initiation.

2. Chúng ta phải tập hợp những thông tin khác đã được đưa ra về hoạt động chiều thứ tư. Một điểm quan trọng là trước ba lần điểm đạo đầu tiên, các trung tâm dĩ thái, cảm dục và trí tuệ lần lượt trở nên hoạt động theo cách thức chiều thứ tư—các trung tâm dĩ thái (ít nhất là một số trong chúng) trước lần điểm đạo thứ nhất; các trung tâm cảm dục (ít nhất là một số trong chúng) trước lần điểm đạo thứ hai; và các trung tâm trí tuệ (ít nhất là một số trong chúng) trước lần điểm đạo thứ ba.

Before initiation, all the centres will be rotating in fourth-dimensional order, but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. (LOM 75)

Trước điểm đạo, tất cả các trung tâm sẽ quay theo trật tự chiều thứ tư, nhưng sau điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—được thấy bằng thông nhãn—có vẻ đẹp hiếm có. Lửa Kundalini khi ấy được đánh thức và đang tiến triển theo những vòng xoắn cần thiết. Đến lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm xúc cũng được đánh thức tương tự, và đến lần điểm đạo thứ ba thì những trung tâm trên cõi trí được chạm đến. Khi ấy điểm đạo đồ có thể đứng trong Hiện Diện của Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. (LOM 75)

He must work upon the unfoldment of the fifth and sixth petals, or the final two in the second circle and must endeavour to bring about two things in connection with his threefold lower nature:

Y phải làm việc để khai mở cánh hoa thứ năm và thứ sáu, tức hai cánh cuối cùng trong vòng thứ hai và phải cố gắng mang lại hai điều liên quan đến bản chất thấp tam phân của mình:

3. This will mean that he must work at organizing these petals. He cannot, himself, unfold the petals, but they will unfold if he works, strenuously within the field of activity encompassed by the petals indicated.

3. Điều này có nghĩa là y phải làm việc để tổ chức các cánh hoa này. Chính y không thể khai mở các cánh hoa, nhưng chúng sẽ khai mở nếu y nỗ lực mạnh mẽ trong phạm vi hoạt động được bao hàm bởi các cánh hoa đã nêu.

4. We note that we are speaking of the “aspirant”. If the individual concerned is working at the unfoldment of the fifth and sixth petals, the developmental phase indicated is definitely before the first initiation, because at the first initiation the fifth petal is completely unfolded.

4. Chúng ta lưu ý rằng ở đây đang nói về “người chí nguyện”. Nếu cá nhân liên hệ đang làm việc để khai mở cánh hoa thứ năm và thứ sáu, thì giai đoạn phát triển được chỉ ra chắc chắn là trước lần điểm đạo thứ nhất, bởi vì ở lần điểm đạo thứ nhất cánh hoa thứ năm được khai mở hoàn toàn.

(2) The period between egoic Cycles. Herein is hid the mystery of the 777 incarnations and concerns the relation of the unit to his group on the egoic plane, prior to the unfoldment of the fifth petal. It concerns man in the period between the savage stage and that of the disciple, when he is an average man but still in the two Halls. (TCF 738)

(2) Giai đoạn giữa các Chu Kỳ chân ngã. Chính trong đây ẩn giấu huyền nhiệm của 777 lần nhập thể và liên quan đến mối tương quan của đơn vị với nhóm của y trên cõi chân ngã, trước khi cánh hoa thứ năm khai mở. Điều này liên quan đến con người trong giai đoạn giữa tình trạng man dã và tình trạng đệ tử, khi y là một người trung bình nhưng vẫn còn ở trong hai Phòng. (TCF 738)

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan, and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness, but also of the consciousness of the group wherein a man is found. It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. (TCF 696)

Trên cõi Bồ đề, khi lóe sáng ra vào lúc điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của chân ngã trên năm cung dưới quyền Đức Mahachohan, và sự đồng hoá tất cả những gì phải học trên các cung ấy, cùng sự đạt được—không chỉ ngã thức trọn vẹn, mà còn cả tâm thức của nhóm trong đó con người được tìm thấy. Nó hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, để lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng. (TCF 696)

[Page 863]

[Page 863]

a. He must align his three bodies so that there is a direct channel of contact formed between the Ego and the physical brain.

a. Y phải chỉnh hợp ba thể của mình để một kênh tiếp xúc trực tiếp được hình thành giữa chân ngã và bộ não thể xác.

5. The usual disciplines of occult meditation will be required. This is something the aspirant must do.

5. Những kỷ luật thông thường của tham thiền huyền bí sẽ là cần thiết. Đây là điều mà người chí nguyện phải làm.

b. He must strive to bring about a stabilisation of both the astral body and the mind, and must aim at that emotional equilibrium which is produced by the conscious "balancing of forces."

b. Y phải cố gắng mang lại sự ổn định cho cả thể cảm dục lẫn trí tuệ, và phải nhắm đến sự quân bình cảm xúc được tạo ra bởi sự “cân bằng các mãnh lực” một cách hữu thức.

6. This will require the energy of the sign Libra. Some of this kind of activity is accomplished utilizing the potencies of the fourth petal which is correlated to some extent with Libra.

6. Điều này sẽ đòi hỏi năng lượng của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình. Một phần hoạt động thuộc loại này được hoàn thành bằng cách sử dụng các tiềm lực của cánh hoa thứ tư, vốn có tương quan ở một mức độ nào đó với Thiên Bình.

7. The disciplines of raja yoga will be required in the induction of the necessary stabilization.

7. Những kỷ luật của raja yoga sẽ cần thiết để tạo ra sự ổn định cần thiết ấy.

He must study the laws of transmutation and be a student of that divine alchemy which will result in a knowledge of how to transmute the lower force into the higher,

Y phải nghiên cứu các định luật chuyển hoá và là một đạo sinh của thuật luyện kim thiêng liêng, điều sẽ dẫn đến tri thức về cách chuyểnhoá mãnh lực thấp thành mãnh lực cao,

8. Here the fulfillment of the thirteenth Rule for Applicants will be useful.

8. Ở đây, việc hoàn thành Quy luật thứ mười ba dành cho Người Thỉnh Cầu sẽ hữu ích.

Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn that inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation, or the secret lost of alchemy; and lastly the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic. (IHS 207)

Có bốn điều mà đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho huyền nhiệm thâm sâu nhất ấy: thứ nhất, các định luật của cái phát xạ; năm ý nghĩa của từ điện hoá tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là sự chuyển hoá, hay bí mật đã mất của thuật luyện kim; và sau cùng là chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền đạt, hay danh xưng chân ngã ẩn kín. (IHS 207)

9. Utilization of the seventh ray and of the potencies of the planet Uranus will also be necessary.

9. Việc sử dụng cung bảy và các tiềm lực của hành tinh Sao Thiên Vương cũng sẽ là cần thiết.

of how to transfer his consciousness into the higher vehicles, and of how to manipulate energy currents so that his own nature is transformed.

về cách chuyển dịch tâmthức của mình vào các vận cụ cao hơn, và về cách điều khiển các dòng năng lượng để bản chất riêng của mình được chuyển đổi.

10. Let us tabulate:

10. Chúng ta hãy lập bảng:

a. The aspirant must study the laws of transmutation

a. Người chí nguyện phải nghiên cứu các định luật chuyển hoá

b. He must become a student of divine alchemy

b. Y phải trở thành một đạo sinh của thuật luyện kim thiêng liêng

c. He must learn how to transfer his consciousness into higher vehicles

c. Y phải học cách chuyển dịch tâm thức của mình vào các vận cụ cao hơn

d. He must learn how to manipulate energy currents so that his own nature is transformed

d. Y phải học cách điều khiển các dòng năng lượng để bản chất riêng của mình được chuyển đổi

He will then become a channel for the light of the Ego, and for the illumination of buddhi to pour through for the saving of the race,

Khi ấy y sẽ trở thành một kênh cho ánh sáng của chân ngã, và cho sự soisáng của Bồ đề tuôn qua để cứu rỗi nhân loại,

11. If the aspirant becomes a channel for the light of the Ego, the illumination of buddhi will automatically pour it, because the Solar Angels which substand and inform the Ego are rooted in buddhi.

11. Nếu người chí nguyện trở thành một kênh cho ánh sáng của chân ngã, thì sự soi sáng của Bồ đề sẽ tự động tuôn qua, bởi vì các Thái dương Thiên Thần làm nền và thấm nhuần chân ngã đều bén rễ trong Bồ đề.

This is why the Sons of Wisdom, embodying the buddhic principle, the life force, or love aspect, are nevertheless known on the fifth plane as the self-conscious principles; (TCF 684)

Đây là lý do vì sao các Con của Minh Triết, hiện thân nguyên khí Bồ đề, mãnh lực sự sống, hay phương diện bác ái, tuy vậy vẫn được biết đến trên cõi thứ năm như những nguyên khí tự ý thức; (TCF 684)

and the lighting of those who stumble in dark places.

và soi sáng cho những ai đang vấp ngã trong những nơi tối tăm.

12. This is graphic and shows us the value of throwing light upon the Path—our own Path and that of others. Unless this occurs the ”blind” will lead the blind and they both will fall into a ditch.

12. Điều này thật sinh động và cho chúng ta thấy giá trị của việc rọi ánh sáng lên Con Đường—Con Đường của chính chúng ta và của người khác. Nếu điều này không xảy ra thì “người mù” sẽ dẫn người mù và cả hai sẽ cùng rơi xuống hố.

He must demonstrate the laws of radioactivity in his own life on the physical plane.

Y phải biểu lộ các định luật của tính phóng xạ trong chính đời sống của mình trên cõi hồngtrần.

13. He must learn the “laws of that which radiates”. Minimally, the soul must radiate through his form, increasingly.

13. Y phải học “các định luật của cái phát xạ”. Tối thiểu, linh hồn phải ngày càng bức xạ qua hình tướng của y.

His life must begin to radiate, and to have a magnetic effect upon others.

Đời sống của y phải bắt đầu bức xạ, và có một hiệu quả từ tính lên người khác.

14. The right kind of radiation produces magnetism. The two go together as we learn even from an exoteric study of electricity.

14. Loại bức xạ đúng đắn tạo ra từ điện. Hai điều này đi cùng nhau như chúng ta học được ngay cả từ việc nghiên cứu điện học ngoại môn.

By this I mean he will begin to influence that which is imprisoned in others, for he will reach—through his own powerful vibrations—the hidden centre in each one.

Bởi điều này tôi muốn nói rằng y sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến điều đang bị giam hãm trong người khác, vì y sẽ chạm tới—qua những rung động mạnh mẽ của chính mình—trung tâm ẩn kín trong mỗi người.

15. The radiant aspirant will not stimulate directly the personality of others, but will touch their souls. Through him the inner spiritual life of others will be released. This may cause personality disturbance in the life of those he reaches, but such disturbance will be a secondary effect of a stimulation of their spiritual center.

15. Người chí nguyện bức xạ sẽ không kích thích trực tiếp phàm ngã của người khác, mà sẽ chạm đến linh hồn của họ. Qua y, đời sống tinh thần nội tại của người khác sẽ được giải phóng. Điều này có thể gây ra xáo trộn phàm ngã trong đời sống của những người mà y chạm đến, nhưng sự xáo trộn ấy sẽ là một hiệu quả thứ yếu của sự kích thích trung tâm tinh thần của họ.

16. Note in the three injunctions following, that the personal nature is never stimulated:

16. Hãy lưu ý rằng trong ba huấn lệnh tiếp theo, bản chất cá nhân không bao giờ được kích thích:

Rule I. Enter thy brother's heart and see his woe. Then speak. Let the words spoken convey to him the potent force he needs to loose his chains. Yet loose them not thyself. Thine is the work to speak with understanding. The force received by him will aid him in his work.

Quy luật I. Hãy đi vào trái tim huynh đệ của con và thấy nỗi khổ của huynh đệ. Rồi hãy nói. Hãy để những lời được nói ra chuyển đến cho huynh đệ mãnh lực mạnh mẽ mà huynh đệ cần để tháo xiềng xích của mình. Tuy nhiên, đừng tự mình tháo chúng. Công việc của con là nói với sự thấu hiểu. Mãnh lực mà huynh đệ nhận được sẽ trợ giúp huynh đệ trong công việc của chính mình.

Rule II. Enter thy brother's mind and read his thoughts, but only when thy thoughts are pure. Then think. Let the thoughts thus created enter thy brother's mind and blend with his. Yet keep detached thyself, for none have the right to sway a brother's mind. The only right there is, will make him say: "He loves. He standeth by. He knows. He thinks with me and I am strong to do the right." Learn thus to speak. Learn thus to think.

Quy luật II. Hãy đi vào trí tuệ của huynh đệ con và đọc những tư tưởng của huynh đệ, nhưng chỉ khi những tư tưởng của con thanh khiết. Rồi hãy suy nghĩ. Hãy để những tư tưởng được tạo ra như thế đi vào trí tuệ của huynh đệ con và hòa lẫn với tư tưởng của huynh đệ. Tuy nhiên, hãy giữ mình tách rời, vì không ai có quyền chi phối trí tuệ của một huynh đệ. Quyền duy nhất hiện hữu là quyền khiến huynh đệ nói: “Anh ấy yêu thương. Anh ấy đứng bên cạnh. Anh ấy biết. Anh ấy suy nghĩ cùng tôi và tôi mạnh mẽ để làm điều đúng.” Hãy học nói như thế. Hãy học suy nghĩ như thế.

Rule III. Blend with thy brother's soul and know him as he is. Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere the blending feeds the fuel of his lower life. Then focus on the plan. Thus will he see the part that he and you and all men play. Thus will he enter into life and know the work accomplished.

Quy luật III. Hãy hòa nhập với linh hồn của huynh đệ con và biết huynh đệ như huynh đệ thật sự là. Điều này chỉ có thể được thực hiện trên cõi linh hồn. Ở nơi khác, sự hòa nhập sẽ nuôi thêm nhiên liệu cho đời sống thấp của huynh đệ. Rồi hãy tập trung vào Thiên Cơ. Như thế huynh đệ sẽ thấy phần việc mà huynh đệ, con và mọi người đều đảm nhiệm. Như thế huynh đệ sẽ đi vào sự sống và biết công việc đã được hoàn thành.

A note, appended to these three rules says:

Một ghi chú được đính kèm vào ba quy luật này nói rằng:

"These three energies—of speech, of thought, and of purpose—when wielded with understanding by the chela and blended with the awakening forces of his brother whom he seeks to aid, are the three energies with which all adepts work. (TWM, 320)

“Ba năng lượng này—của lời nói, của tư tưởng, và của mục đích—khi được đệ tử vận dụng với sự thấu hiểu và hòa trộn với các mãnh lực đang thức tỉnh của huynh đệ mà y tìm cách trợ giúp, là ba năng lượng mà mọi chân sư đều làm việc cùng. (TWM, 320)

I do not mean by this the physical or magnetic effect that many quite unevolved souls have upon others.

Bởi điều này tôi không muốn nói đến hiệu quả thể xác hay từ tính mà nhiều linh hồn còn khá chưa tiến hoá có trên người khác.

17. DK is not speaking of animal magnetism.

17. Chân sư DK không nói về từ lực động vật.

I refer to that spiritual radiation that is only responded to and realised by those who themselves are becoming aware of the spiritual centre within the heart.

Tôi muốn nói đến sự bức xạ tinh thần chỉ được đáp ứng và chứng nghiệm bởi những ai chính họ đang trở nên nhận biết trung tâm tinh thần bên trong trái tim.

18. It is not the personality vehicles that are attracted, but rather the “spiritual centre”.

18. Không phải các vận cụ phàm ngã bị thu hút, mà đúng hơn là “trung tâm tinh thần”.

19. DK speaks of this centre as “within the heart”, but let us also remember that in occultism, by the “heart” is often meant the “soul”.

19. Chân sư DK nói về trung tâm này như ở “bên trong trái tim”, nhưng chúng ta cũng hãy nhớ rằng trong huyền bí học, “trái tim” thường được hiểu là “linh hồn”.

20. Here there may be an occult allusion to a hidden aspect of the heart center, per se.

20. Ở đây có thể có một ám chỉ huyền bí đến một phương diện ẩn kín của chính trung tâm tim.

At this stage the man is recognised as one who can speak occultly "heart to heart."

Ở giai đoạn này con người được nhìn nhận như một người có thể nói một cách huyền bí “tim với tim”.

21. His heart chakra will stimulate or move the heart chakra of others, but this also means that the aspirant is learning how to speak ‘soul to soul’.

21. Luân xa tim của y sẽ kích thích hay làm chuyển động luân xa tim của người khác, nhưng điều này cũng có nghĩa là người chí nguyện đang học cách nói “linh hồn với linh hồn”.

22. The radiant aspirant is speaking from essence to essence.

22. Người chí nguyện bức xạ đang nói từ tinh túy đến tinh túy.

23. The one who truly loves and cares for his brother as he essentially is, can speak “heart to heart”.

23. Người thật sự yêu thương và quan tâm đến huynh đệ của mình như huynh đệ thật sự là, có thể nói “tim với tim”.

He becomes a stimulator of the heart centre in his brother, and one who arouses men into activity for others.

Y trở thành người kích thích trung tâm tim nơi huynh đệ mình, và là người khơi dậy con người vào hoạt động vì người khác.

24. So we must ask—“Can we reach the heart center of others?” Only if we speak as a soul will this be possible.

24. Vì vậy chúng ta phải hỏi—“Chúng ta có thể chạm đến trung tâm tim của người khác không?” Chỉ khi chúng ta nói như một linh hồn thì điều này mới có thể xảy ra.

25. We note that the man does not seek to arouse others on behalf of himself, but for the sake of others. Speaking “heart to heart” as he does, he has become an altruist.

25. Chúng ta lưu ý rằng con người không tìm cách khơi dậy người khác vì chính mình, mà vì lợi ích của người khác. Nói “tim với tim” như thế, y đã trở thành một người vị tha.

26. All of the processes described above have to do with the work to unfold the fifth and sixth petals.

26. Tất cả các tiến trình được mô tả ở trên đều liên quan đến công việc khai mở cánh hoa thứ năm và thứ sáu.

27. Note the following important piece of occult information concerned with linking up with the heart center of others. DK is telling us about certain requirements which must be fulfilled by those who are truly members of the New Group of World Servers:

27. Hãy lưu ý mẩu thông tin huyền bí quan trọng sau đây liên quan đến việc liên kết với trung tâm tim của người khác. Chân sư DK đang nói với chúng ta về một số yêu cầu phải được hoàn thành bởi những ai thật sự là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian:

1. He must have the heart centre awakened, and be so outgoing in his "behaviour" that the heart is rapidly linked up with the heart centres of at least eight other people. Groups of nine awakened aspirants can then be occultly absorbed in the heart centre of the planetary Logos. Through it, His life can flow and the group members can contribute their quota of energy to the life influences circulating throughout His body. The above piece of information is only of interest to those who are spiritually awakened, and will mean little or nothing to those who are asleep. (EP II 197)

1. Y phải có trung tâm tim được đánh thức, và phải hướng ngoại đến mức trong “hành vi” của mình, trái tim nhanh chóng được nối kết với các trung tâm tim của ít nhất tám người khác. Khi ấy các nhóm gồm chín người chí nguyện đã thức tỉnh có thể được hấp thu một cách huyền bí vào trung tâm tim của Hành Tinh Thượng Đế. Qua đó, sự sống của Ngài có thể tuôn chảy và các thành viên trong nhóm có thể đóng góp phần năng lượng của mình vào những ảnh hưởng sự sống đang lưu chuyển khắp thân thể của Ngài. Mẩu thông tin trên chỉ đáng quan tâm đối với những ai đã thức tỉnh về tinh thần, và sẽ có rất ít hoặc không có ý nghĩa gì đối với những ai còn đang ngủ. (EP II 197)

The second hint is that as the aspirant becomes progressively radioactive, and as the energy of the inner God demonstrates more and more through the lower personality,

Gợi ý thứ hai là khi người chí nguyện dần dần trở nên có tính phóng xạ, và khi năng lượng của Thượng đế nội tại ngày càng biểu lộ nhiều hơn qua phàm ngã thấp,

28. The true “inner God” resides within the Jewel in the Lotus at the heart of the egoic lotus.

28. “Thượng đế nội tại” đích thực ngự bên trong Ngọc trong Hoa Sen ở trung tâm của hoa sen chân ngã.

…when the work of unfoldment is accomplished, the seventh principle [Page 141] at the Heart of the Lotus can stand revealed. (IHS 140-141)

…khi công việc khai mở được hoàn tất, nguyên khí thứ bảy [Page 141] tại Tâm của Hoa Sen có thể đứng lộ ra. (IHS 140-141)

the "heat radiations" become so powerful that very definite results are produced of a personal, and also [Page 864] of an environal, nature.

các “bức xạ nhiệt” trở nên mạnh mẽ đến mức tạo ra những kết quả rất xác định có tính cách cá nhân, và cũng [Page 864] có tính cách môi trường xung quanh.

29. The term “heat” indicates, among other things, “spiritual energy”.

29. Thuật ngữ “nhiệt” chỉ, trong số những điều khác, “năng lượng tinh thần”.

30. “Heat” is spiritual energy working through the personality. The aspirant, through the changes effected within his nature, becomes a force in his immediate environment.

30. “Nhiệt” là năng lượng tinh thần hoạt động qua phàm ngã. Người chí nguyện, qua những thay đổi được tạo ra trong bản chất của mình, trở thành một mãnh lực trong môi trường trực tiếp của y.

A few of these results might be enumerated as follows:

Một vài kết quả trong số này có thể được liệt kê như sau:

31. We are speaking of the result of the release of “heat radiations”.

31. Chúng ta đang nói về kết quả của việc giải phóng “các bức xạ nhiệt”.

The etheric web, separating the lower physical consciousness of the brain from the astral plane begins to undergo a lengthy process of destruction, and the first "rents" in the web occur.

Mạng dĩ thái, vốn ngăn cách tâm thức hồng trần thấp của bộ não với cõi cảm dục, bắt đầu trải qua một tiếntrình hủy diệt kéo dài, và những “vết rách” đầu tiên trong mạng bắt đầu xuất hiện.

32. This is a technical piece of information applying to the process of rending the etheric web.

32. Đây là một mẩu thông tin kỹ thuật áp dụng cho tiến trình xé rách mạng dĩ thái.

33. There are webs on different planes, but the webs here discussed separate the consciousness of the dense physical brain from the astral plane.

33. Có những mạng trên các cõi khác nhau, nhưng những mạng được bàn đến ở đây ngăn cách tâm thức của bộ não thể xác đậm đặc với cõi cảm dục.

34. The beginning of this process of destruction is occurring before the first initiation, when work is occurring on the unfoldment of the fifth and sixth petals.

34. Sự khởi đầu của tiến trình hủy diệt này xảy ra trước lần điểm đạo thứ nhất, khi công việc đang diễn ra trên sự khai mở cánh hoa thứ năm và thứ sáu.

The etheric web, separating the lower physical consciousness of the brain from the astral plane begins to undergo a lengthy process of destruction, and the first "rents" in the web occur. (TCF 864)

Mạng dĩ thái, vốn ngăn cách tâm thức hồng trần thấp của bộ não với cõi cảm dục, bắt đầu trải qua một tiếntrình hủy diệt kéo dài, và những “vết rách” đầu tiên trong mạng bắt đầu xuất hiện. (TCF 864)

It is through these that the student becomes aware of the inner planes, becomes conscious in the physical brain of the inner happenings, and can (if a disciple) make his contacts with his Ego and (via that ego) with his Guru74 [a spiritual teacher]. This marks a very important development.

Chính qua những vết rách này mà đạo sinh trở nên nhận biết các cõi bên trong, trở nên hữu thức trong bộ não thể xác về những diễnbiến bên trong, và có thể (nếu là một đệ tử) tạo ra những tiếp xúc với chân ngã của mình và (qua chân ngã đó) với Guru của mình74 [một huấn sư tinh thần]. Điều này đánh dấu một sự phát triển rất quan trọng.

35. Let us tabulate the results of the process of rending the etheric web:

35. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của tiến trình xé rách mạng dĩ thái:

a. The etheric web is in process of being rent

a. Mạng dĩ thái đang trong tiến trình bị xé rách

b. The student becomes aware of the inner planes

b. Đạo sinh trở nên nhận biết các cõi bên trong

c. The student becomes aware in the physical brain of inner happenings

c. Đạo sinh trở nên nhận biết trong bộ não thể xác về những diễn biến bên trong

d. The student (if a disciple) makes contact within his Ego

d. Đạo sinh (nếu là đệ tử) tạo được tiếp xúc bên trong chân ngã của mình

e. The disciple via his Ego makes contact with his Guru

e. Đệ tử qua chân ngã của mình tạo được tiếp xúc với Guru của mình

f. The higher head center increases its activity and becomes capable of receiving flashes of illumination.

f. Trung tâm đầu cao hơn gia tăng hoạt động và trở nên có khả năng tiếp nhận những tia chớp soi sáng.

g. As mentioned below: The various triangles become vivified and proceed to increased activity in due geometrical progression

g. Như được nhắc đến bên dưới: các tam giác khác nhau được tiếp sinh lực và tiến đến hoạt động gia tăng theo cấp số nhân hình học

h. The centre between the shoulder blades, the converging point for certain fires, becomes active.

h. Trung tâm giữa hai bả vai, điểm hội tụ của một số loại lửa, trởnên hoạt động.

The higher head centre increases its activity and becomes capable of receiving flashes of illumination from the higher planes.

Trung tâm đầu cao hơn gia tăng hoạt động và trở nên có khảnăng tiếp nhận những tia chớp soi sáng từ các cõi cao hơn.

36. It is clear that these flashes of illumination do not come from the astral plane. So the rending of the etheric web brings through increasing mental illumination as well, and energy impacts from planes beyond.

36. Rõ ràng là những tia chớp soi sáng này không đến từ cõi cảm dục. Vì vậy, việc xé rách mạng dĩ thái cũng mang lại sự soi sáng trí tuệ ngày càng tăng, cùng những tác động năng lượng từ các cõi vượt cao hơn.

This happens only occasionally at first but with increasing frequency as the years progress, and the "rents" become more numerous.

Điều này lúc đầu chỉ xảy ra thỉnh thoảng nhưng với tầnsuất ngày càng tăng khi năm tháng trôi qua, và các “vết rách” trở nên nhiều hơn.

37. The greater the progressive disintegration, the greater the influence of the higher planes upon the consciousness of the physical brain.

37. Sự tan rã tiến triển càng lớn thì ảnh hưởng của các cõi cao hơn lên tâm thức của bộ não thể xác càng mạnh.

The various triangles become vivified and proceed to increased activity in due geometrical progression,

Các tam giác khác nhau được tiếp sinh lực và tiến đến hoạt động gia tăng theo cấp số nhân hình học,

38. These are the triangles within the etheric body.

38. Đây là những tam giác bên trong thể dĩ thái.

39. According to the ray of the Monad, this geometrical progression occurs.

39. Theo cung của chân thần, sự tiến triển theo cấp số nhân hình học này xảy ra.

whilst the centre between the shoulder blades, the converging point for certain fires, becomes active.

trong khi trung tâm giữa hai bả vai, điểm hội tụ của một số loại lửa, trởnên hoạt động.

40. We may recall that by the time of the first initiation, this center between the shoulder blades becomes active. By the time of the second initiation, they rise as far as the head.

40. Chúng ta có thể nhớ lại rằng vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, trung tâm giữa hai bả vai này trở nên hoạt động. Đến thời điểm lần điểm đạo thứ hai, chúng vươn lên đến tận đầu.

When the threefold basic fire and the threefold pranic fire meet and merge, then evolution proceeds with greatly increased velocity. This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man's ray. (TCF 123-124)

Khi lửa căn bản tam phân và lửa prana tam phân gặp nhau và hòa nhập, khi ấy tiến hoá diễn ra với tốc độ gia tăng rất lớn. Điều này được thực hiện một cách xác định vào lần điểm đạo thứ nhất khi sự phân cực trở nên cố định trong một hay một trung tâm nào khác trong ba trung tâm cao hơn,—trung tâm nào tùy thuộc vào cung của một người. (TCF 123-124)

Suffice it to point out that the fires at the lower centres,—those below the diaphragm—have, by the time the second initiation is reached, usually mounted to the centre between the shoulder blades;…(TCF 886)

Chỉ cần nêu ra rằng các ngọn lửa ở những trung tâm thấp hơn,—những trung tâm dưới cơ hoành—đến thời điểm đạt đến lần điểm đạo thứ hai, thường đã dâng lên đến trung tâm giữa hai bả vai;…(TCF 886)

41. It appears that in this section of text we are speaking the efforts of aspirants and of a time before the first initiation when the process of activating the shoulder center is begun.

41. Có vẻ như trong phần văn bản này, chúng ta đang nói về những nỗ lực của những người chí nguyện và về một thời kỳ trước lần điểm đạo thứ nhất, khi tiến trình hoạt hóa trung tâm vai được bắt đầu.

This marks a definite stage in the process of transferring the fires into the higher centres.

Điều này đánh dấu một giai đoạn xác định trong tiến trình chuyểndịch các ngọn lửa vào các trung tâm cao hơn.

42. We began this section by discussing the attempt to unfold the fifth and sixth petals. We also discussed the continuous rending of the etheric web. The activation of the center between the shoulder blades indicates that we are nearing the first initiation. Definite chakric transferences have been effected by that time.

42. Chúng ta đã bắt đầu phần này bằng việc bàn đến nỗ lực khai mở cánh hoa thứ năm và thứ sáu. Chúng ta cũng đã bàn đến sự xé rách liên tục của màng dĩ thái. Sự hoạt hóa trung tâm giữa hai xương bả vai cho thấy rằng chúng ta đang tiến gần đến lần điểm đạo thứ nhất. Vào lúc đó, những sự chuyển dịch luân xa xác định đã được thực hiện.

43. If, however, we are to consider the center between the shoulder blades as one of the “pranic centers”, we would expect its activation, to a sufficient degree, even in the early days of evolution.

43. Tuy nhiên, nếu chúng ta xem trung tâm giữa hai xương bả vai là một trong những “trung tâm prana”, thì chúng ta sẽ chờ đợi sự hoạt hóa của nó, ở một mức độ đầy đủ, ngay cả trong những ngày đầu của tiến hoá.

Roughly speaking, this period of the transference of the heat or energy of the lower centres into the higher may be divided into two parts:

Nói một cách khái quát, thời kỳ chuyển dịch nhiệt hay năng lượng của các trung tâm thấp vào các trung tâm cao hơn này có thể được chia thành hai phần:

44. We are aware that during the first initiation process the energy of the sacral center is transferred to the throat center (via the solar plexus center and the heart).

44. Chúng ta biết rằng trong tiến trình điểm đạo thứ nhất, năng lượng của trung tâm xương cùng được chuyển dịch đến trung tâm cổ họng (qua trung tâm tùng thái dương và tim).

45. During the processes of the second initiation, the energy of the solar plexus center is transferred to the heart center.

45. Trong các tiến trình của lần điểm đạo thứ hai, năng lượng của trung tâm tùng thái dương được chuyển dịch đến trung tâm tim.

first, that in which the centres in the lower part of the body (those below the diaphragm) are transferred into the centres in the higher part of the torso.

thứ nhất, đó là phần trong đó các trung tâm ở phần dưới của thể (những trung tâm ở dưới cơ hoành) được chuyển dịch vào các trung tâm ở phần cao hơn của thân mình.

46. This is a transference from sub-diaphragmatic centers to super-diaphragmatic centers, though not yet into the head centers.

46. Đây là một sự chuyển dịch từ các trung tâm dưới cơ hoành đến các trung tâm trên cơ hoành, dù chưa đi vào các trung tâm đầu.

These centres in the torso are three in number, the heart, the throat, and the centre between the shoulder blades.

Ba trung tâm này trong thân mình là tim, cổ họng, và trung tâm giữa hai xương bả vai.

47. The center between the shoulder blades is a minor center but is mentioned in the same breath with two major centers.

47. Trung tâm giữa hai xương bả vai là một trung tâm phụ nhưng lại được nhắc đến cùng lúc với hai trung tâm chính.

48. Usually one considers that only two centers are found within the torso (heart and throat) just as one can often consider that only three centers are found below the diaphragm (base of the spine, sacral center and solar plexus) if we do not include the spleen, which is, however, often included in various enumerations.

48. Thông thường người ta cho rằng chỉ có hai trung tâm nằm trong thân mình (tim và cổ họng), cũng như người ta thường có thể cho rằng chỉ có ba trung tâm nằm dưới cơ hoành (đáy cột sống, trung tâm xương cùng và tùng thái dương) nếu chúng ta không kể đến lá lách, tuy nhiên lá lách thường vẫn được bao gồm trong nhiều cách liệt kê khác nhau.

We must here note that the throat centre is situated in the lower part of the throat, and properly belongs to the torso and not to the head.

Ở đây chúng ta phải lưu ý rằng trung tâm cổ họng nằm ở phần dưới của cổ họng, và đúng ra thuộc về thân mình chứ không thuộc về đầu.

49. This is important as the position of the throat center must be distinguished from that of the alta major center which is not part of the torso.

49. Điều này quan trọng vì vị trí của trung tâm cổ họng phải được phân biệt với vị trí của trung tâm alta major, vốn không phải là một phần của thân mình.

50. From this we may understand that the throat is meant to come under the control of the second aspect of divinity just as the sub-diaphragmatic centers are allied to the third aspect of divinity and the centers in the head generically to the first.

50. Từ đây chúng ta có thể hiểu rằng cổ họng được dự định đặt dưới sự kiểm soát của phương diện thứ hai của thiên tính, cũng như các trung tâm dưới cơ hoành liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính và các trung tâm trong đầu nói chung liên kết với phương diện thứ nhất.

It should also be stated here that the centre between the shoulder blades is not a "sacred" centre, but is of a temporary nature, and is created by the aspirant himself during the process of transference. [Page 865]

Cũng nên nói thêm ở đây rằng trung tâm giữa hai xương bả vai không phải là một trung tâm "thiêng liêng", mà có tính chất tạm thời, và được chính người chí nguyện tạo ra trong tiến trình chuyểndịch. [Page 865]

51. If this is the case, then is this center between the shoulder blades actually to be considered the higher of the pranic centers (which definitely exists very early in process of human evolution)? (cf. TCF 170)

51. Nếu đúng như vậy, thì phải chăng trung tâm giữa hai xương bả vai này thực sự được xem là trung tâm cao hơn của các trung tâm prana (vốn chắc chắn hiện hữu rất sớm trong tiến trình tiến hoá của con người)? (x. TCF 170)

1. The pranic triangle.

1. Tam giác prana.

a. The shoulder centre.

a. Trung tâm vai.

b. The centre near the diaphragm.

b. Trung tâm gần cơ hoành.

c. The spleen. (TCF 170)

c. Lá lách. (TCF 170)

52. Perhaps, we are actually speaking of two different centers located between the shoulder blades, neither of which centers is the heart center, also between the shoulder blades.

52. Có lẽ thực ra chúng ta đang nói đến hai trung tâm khác nhau nằm giữa hai xương bả vai, và không trung tâm nào trong số đó là trung tâm tim, vốn cũng nằm giữa hai xương bả vai.

The second stage is that in which the energy of the lower six centres:

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó năng lượng của sáu trung tâm thấp:

a. The throat,

a. Cổ họng,

b. The heart,

b. Tim,

c. The solar plexus,

c. Tùng thái dương,

d. The spleen,

d. Lá lách,

e. The organs of generation,

e. Các cơ quan sinh sản,

f. The base of the spine,

f. Đáy cột sống,

are—in due order according to a man's ray and subray—

được—theo đúng thứ tự tùy theo cung và cung phụ của một người—

53. By ray and subray are meant the monadic ray and the egoic ray.

53. Bởi cung và cung phụ ở đây được hiểu là cung chân thần và cung chân ngã.

54. Note that we do not use the words “sacral center” in this context. DK often calls the sacral center the “organs of generation”, seeming to indicate very physical organs and not an etheric center.

54. Lưu ý rằng trong ngữ cảnh này chúng ta không dùng các từ “trung tâm xương cùng”. DK thường gọi trung tâm xương cùng là “các cơ quan sinh sản”, dường như để chỉ các cơ quan rất hồng trần chứ không phải một trung tâm dĩ thái.

One major centre is here omitted because it is primarily related to the physical body and its expression of life perpetuation. That is the sacral centre. Just as the physical body is regarded by true esotericists as not a principle so the sacral centre is regarded as "a necessary evocation between that which is high and that which is low, and between that which is sounded forth from the centre in the throat and that which replies to a deeply sounded note." (EA 428)

Ở đây một trung tâm chính bị bỏ qua vì nó chủ yếu liên hệ với thể xác và sự biểu lộ của sự duy trì sự sống của nó. Đó là trung tâm xương cùng. Cũng như thể xác được các nhà bí truyền học chân chính xem là không phải một nguyên khí, thì trung tâm xương cùng cũng được xem là "một sự gợi lên cần thiết giữa cái ở trên cao và cái ở dưới thấp, và giữa cái được xướng ra từ trung tâm cổ họng và cái đáp lại một âm điệu được xướng lên từ sâu thẳm." (EA 428)

55. Probably the transference is made from centers in the torso to centers in the head center. For instance, after the energy of the organs of generation is transferred to the throat center, from there, we can imagine, it is transferred to the corresponding center in the head. Yet, in the head, we may presume, that there is a higher center corresponding not only to the throat center but also to the sacral center.

55. Có lẽ sự chuyển dịch được thực hiện từ các trung tâm trong thân mình đến các trung tâm trong trung tâm đầu. Chẳng hạn, sau khi năng lượng của các cơ quan sinh sản được chuyển dịch đến trung tâm cổ họng, từ đó, chúng ta có thể hình dung, nó được chuyển dịch đến trung tâm tương ứng trong đầu. Tuy nhiên, trong đầu, chúng ta có thể giả định rằng có một trung tâm cao hơn tương ứng không chỉ với trung tâm cổ họng mà còn với cả trung tâm xương cùng.

56. We may ask whether the highest head center itself has a correspondence within itself!

56. Chúng ta có thể hỏi liệu chính trung tâm đầu cao nhất có một sự tương ứng bên trong chính nó hay không!

57. Since, we are told, the spleen has a correspondence within the head (useful in healing) perhaps the center(s) between the shoulder blades has a higher correspondence as well. Perhaps, all centers below the diaphragm and in the torso have corresponding centers within the head. It would appear that within the head (or greater head center) is a higher correspondence to any center found elsewhere in the body.

57. Vì như chúng ta được cho biết, lá lách có một sự tương ứng trong đầu (hữu ích trong trị liệu), nên có lẽ trung tâm hay các trung tâm giữa hai xương bả vai cũng có một sự tương ứng cao hơn. Có lẽ mọi trung tâm dưới cơ hoành và trong thân mình đều có các trung tâm tương ứng trong đầu. Có vẻ như trong đầu (hay trung tâm đầu lớn hơn) có một sự tương ứng cao hơn đối với bất kỳ trung tâm nào được tìm thấy ở nơi khác trong thể.

58. If this were the case, however, there would be a clear line of demarcation between the many higher correspondences of lower centers within the head and the seven major centers, the “major seven”.

58. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, thì sẽ có một ranh giới phân định rõ ràng giữa nhiều sự tương ứng cao hơn của các trung tâm thấp trong đầu và bảy trung tâm chính, tức “bảy trung tâm lớn”.

transferred into the correspondences within the head centre.

được chuyểndịch vào các sự tương ứng trong trung tâm đầu.

59. Each of the usual chakras has a correspondence with the head center, or within the head.

59. Mỗi luân xa thông thường đều có một sự tương ứng với trung tâm đầu, hay ở trong đầu.

60. We can ask whether the higher seven head centers are to be found within the head center or in some other location in the head. Perhaps any location within the head is considered to be within the head centre.

60. Chúng ta có thể hỏi liệu bảy trung tâm đầu cao hơn có được tìm thấy trong trung tâm đầu hay ở một vị trí nào khác trong đầu. Có lẽ bất kỳ vị trí nào trong đầu cũng được xem là trong trung tâm đầu.

These seven head centres are the reflection in the microcosm of those "mansions prepared in the Heavens" which receive the sevenfold energy of the monad.

Bảy trung tâm đầu này là sự phản chiếu trong tiểu thiên địa của những "nơi cư ngụ được chuẩn bị trên các cõi Trời" tiếp nhận năng lượng thất phân của chân thần.

61. The seven higher head centers have direct connection with the Monad. The energy of the Monad, it appears, is directed to them and is lodged within them.

61. Bảy trung tâm đầu cao hơn có liên hệ trực tiếp với chân thần. Có vẻ như năng lượng của chân thần được hướng đến chúng và được lưu giữ trong chúng.

62. If these centers, as a whole, are ruled by Vulcan, and if Vulcan is directly related to Shamballa and, hence, the Monad, then we can easily see the relation of the seven higher head centers to the Monad.

62. Nếu các trung tâm này, xét như một toàn thể, được Vulcan cai quản, và nếu Vulcan liên hệ trực tiếp với Shamballa và do đó với chân thần, thì chúng ta có thể dễ dàng thấy mối liên hệ của bảy trung tâm đầu cao hơn với chân thần.

63. Is the “mansion prepared in the Heavens” a chakra within the Planetary Logos? The sevenfold energy of the Monad is the energy expressed through seven principles. As the principles are regathered, the lower into higher, perhaps, they all return to their emanating source the Monad, which resides within one of seven highest planetary centers upon the monadic plane (a plane within the seven cosmic ethers).

63. “Nơi cư ngụ được chuẩn bị trên các cõi Trời” có phải là một luân xa trong Hành Tinh Thượng Đế không? Năng lượng thất phân của chân thần là năng lượng được biểu lộ qua bảy nguyên khí. Khi các nguyên khí được thu hồi lại, cái thấp vào cái cao, có lẽ tất cả chúng đều trở về nguồn phát xạ của mình là chân thần, vốn ngự trong một trong bảy trung tâm hành tinh cao nhất trên cõi chân thần (một cõi nằm trong bảy dĩ thái vũ trụ).

64. Just as the Monad returns to one of seven centers upon the monadic plane (cf. a higher correspondence in Chart V, 344) so the energy of the lesser centers is directed upward to the higher seven major centers in the head.

64. Cũng như chân thần trở về một trong bảy trung tâm trên cõi chân thần (x. một sự tương ứng cao hơn trong Biểu đồ V, 344), thì năng lượng của các trung tâm nhỏ hơn cũng được hướng lên bảy trung tâm chính cao hơn trong đầu.

These [the seven head centres] are the chambers prepared by the lower energy which are to be the recipients of "soul or the higher psychic energy."

Những [the seven head centres] này là những buồng được năng lượng thấp hơn chuẩn bị để trở thành những nơi tiếp nhận "linh hồn hay năng lượng thông linh cao hơn."

65. We have also been told (in the last Commentary, S7S10 Part II) of eight, twelvefold centers on the higher mental plane. It would appear that these eight are aligned with the seven above (seven planetary centers on the monadic plane) and seven below—found within the head or (perhaps more properly) within the greater head center.

65. Chúng ta cũng đã được cho biết (trong phần Cổ Luận cuối cùng, S7S10 Phần II) về tám trung tâm mười hai cánh trên Cõi thượng trí. Có vẻ như tám trung tâm này được chỉnh hợp với bảy trung tâm ở trên (bảy trung tâm hành tinh trên cõi chân thần) và bảy trung tâm ở dưới—được tìm thấy trong đầu hoặc (có lẽ đúng hơn) trong trung tâm đầu lớn hơn.

66. Does it appear that the seven centers (or are there eight corresponding to the eight upon the mental plane) within the head center receive the soul or higher psychic energy even more than they receive monadic energy? It would seem so.

66. Có phải dường như bảy trung tâm (hay có tám trung tâm tương ứng với tám trung tâm trên cõi trí) trong trung tâm đầu tiếp nhận linh hồn hay năng lượng thông linh cao hơn thậm chí còn nhiều hơn là tiếp nhận năng lượng chân thần không? Có vẻ là như vậy.

67. How is it that the lower can prepare the higher?

67. Làm sao cái thấp hơn lại có thể chuẩn bị cái cao hơn?

68. Perhaps these head centers are stimulated (thus “prepared”) by the ascent of energy from below. Yet, we should not assume that these head centers were created by the rising of energy from centers below.

68. Có lẽ các trung tâm đầu này được kích thích (và do đó “được chuẩn bị”) bởi sự đi lên của năng lượng từ bên dưới. Tuy nhiên, chúng ta không nên giả định rằng các trung tâm đầu này đã được tạo ra bởi sự dâng lên của năng lượng từ các trung tâm bên dưới.

[Hint Three] The final hint which can be given, may be summed up in the words that as the aspirant progresses,75 he not only balances the pairs of opposites, but the secret of his brother's heart becomes revealed to him.

[Hint Three] Gợi ý cuối cùng có thể được đưa ra có thể được tóm lược trong lời rằng khi người chí nguyện tiến bộ,75 y không những quân bình các cặp đối lập, mà bí mật của trái tim huynh đệ mình cũng được mặc khải cho y.

69. We can correlate these developments with the energy of the sign Libra. The balancing of the pairs of opposites is a Libran process and the revelation of the secret of a brother’s heart arises from loving relationship—again largely indicated by Libra.

69. Chúng ta có thể liên hệ những phát triển này với năng lượng của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình. Sự quân bình các cặp đối lập là một tiến trình của Thiên Bình, và sự mặc khải bí mật của trái tim một huynh đệ phát sinh từ mối liên hệ yêu thương—một lần nữa phần lớn được Thiên Bình biểu thị.

70. Unless soul and personality are balanced, the revelation of the secret of a brother’s heart will not come. Lack of soul emphasis results only in continuing blindness. But if the personality is not considered, then the personality cannot be known, and there are many secrets which still reside within the personality nature. Thus it is that psychologists in the New Age must have a sensitive and receptive solar plexus center.

70. Trừ phi linh hồn và phàm ngã được quân bình, sự mặc khải bí mật của trái tim một huynh đệ sẽ không đến. Sự thiếu nhấn mạnh vào linh hồn chỉ dẫn đến tình trạng mù lòa tiếp diễn. Nhưng nếu phàm ngã không được xét đến, thì phàm ngã không thể được biết, và còn nhiều bí mật vẫn cư ngụ trong bản chất phàm ngã. Vì thế mà các nhà tâm lý học trong Kỷ Nguyên Mới phải có một trung tâm tùng thái dương nhạy bén và tiếp nhận.

Group 8.—The head, heart, solar plexus and throat centres. This group of disciples will be the first to use four centres in their work as they are in a curious sense, the mediators of thought between the other groups. They are peculiarly a linking group. (DINA I, 41)

Nhóm 8.—Các trung tâm đầu, tim, tùng thái dương và cổ họng. Nhóm đệ tử này sẽ là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm trong công việc của họ vì theo một nghĩa kỳ lạ, họ là những người trung gian của tư tưởng giữa các nhóm khác. Họ đặc biệt là một nhóm liên kết. (DINA I, 41)

He becomes an acknowledged force in the world, and is recognised as one who can be depended upon to serve.

Y trở thành một mãnh lực được thừa nhận trong thế giới, và được công nhận là người có thể được tin cậy để phụng sự.

71. Recognition comes not by demand but as a result of energy expressed.

71. Sự công nhận đến không phải do đòi hỏi mà là kết quả của năng lượng được biểu lộ.

72. The world gives testimony confirming the emergence of a true disciple or initiate. The disciple or initiate never proclaims himself.

72. Thế giới làm chứng, xác nhận sự xuất hiện của một đệ tử hay điểm đạo đồ chân chính. Đệ tử hay điểm đạo đồ không bao giờ tự xưng mình.

Men turn to him for assistance and help along his recognised line,

Con người tìm đến y để được trợ giúp và giúp đỡ theo đường lối đã được công nhận của y,

73. We do not serve along all lines.

73. Chúng ta không phụng sự theo mọi đường lối.

Certain attitudes of mind are easy for one ray type and difficult for [Page 129] another, and hence the changing personality shifts from ray to ray, from life to life, until all the qualities are developed and expressed. Certain souls, by their ray destiny, are found in certain fields of activity, and a particular field of endeavour remains relatively the same for many life expressions. A governor or statesman has learnt facility in his craft through much experience in that field. A world Teacher has been teaching for age-long cycles. A world Saviour has been, for many lives, at the task of salvaging. (EPI 128-129)

Một số thái độ trí tuệ thì dễ đối với một loại cung này và khó đối với [Page 129] loại cung khác, và vì thế phàm ngã thay đổi chuyển từ cung này sang cung khác, từ đời này sang đời khác, cho đến khi mọi phẩm tính đều được phát triển và biểu lộ. Một số linh hồn, do định mệnh cung của mình, được tìm thấy trong những lĩnh vực hoạt động nhất định, và một lĩnh vực nỗ lực đặc thù vẫn tương đối giống nhau qua nhiều biểu hiện sự sống. Một nhà cai trị hay chính khách đã học được sự thành thạo trong nghề của ông qua nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đó. Một Đức Chưởng Giáo thế gian đã giảng dạy qua những chu kỳ dài lâu. Một Đấng Cứu Thế thế gian đã, qua nhiều đời sống, đảm nhận công việc cứu vớt. (EPI 128-129)

and he begins to sound forth his note so as to be heard not only in human but in deva ranks as well.

và y bắt đầu xướng lên âm điệu của mình để được nghe thấy không chỉ trong hàng ngũ nhân loại mà cả trong hàng ngũ thiên thần nữa.

74. Progressive developments within the human energy system results in the sounding forth of a man’s note. Let us say that correct and uninhibited alignment promotes this sounding.

74. Những phát triển tiến bộ trong hệ thống năng lượng của một người dẫn đến việc xướng lên âm điệu của người ấy. Chúng ta hãy nói rằng sự chỉnh hợp đúng đắn và không bị ngăn trở thúc đẩy sự xướng lên này.

75. Devas respond to sound and are naturally affected by the sounding of the note. We are constantly affecting the Deva Kingdom through sound. This type of effect may occur without the realization of the disciple concerned.

75. Các thiên thần đáp ứng với âm thanh và tự nhiên bị ảnh hưởng bởi việc xướng lên âm điệu. Chúng ta không ngừng tác động lên giới thiên thần qua âm thanh. Loại tác động này có thể xảy ra mà không có sự chứng nghiệm của đệ tử liên hệ.

76. At first, as regards the Deva Kingdom, it is the Army of the Voice that hears.

76. Lúc đầu, xét về giới thiên thần, chính Đạo Quân của Âm Thanh là bên nghe thấy.

This he does, at [Page 866] this stage, through the pen in literature, through the spoken word in lecturing and teaching, through music, painting and art.

Ở giai đoạn này, y làm điều này qua [Page 866] ngòi bút trong văn chương, qua lời nói trong diễn giảng và giảng dạy, qua âm nhạc, hội họa và nghệ thuật.

77. We are speaking of the development of the aspirant. He is becoming a true server. We note that there are many possible lines of expression for the developing server.

77. Chúng ta đang nói về sự phát triển của người chí nguyện. Y đang trở thành một người phụng sự chân chính. Chúng ta lưu ý rằng có nhiều đường lối biểu lộ khả dĩ cho người phụng sự đang phát triển.

He reaches the hearts of men in some way or another, and becomes a helper and server of his race.

Y chạm đến trái tim con người bằng cách này hay cách khác, và trở thành một người trợ giúp và phụng sự cho nhân loại của mình.

78. We note that the man must reach the heart of others. It does not suffice to reach the mind only.

78. Chúng ta lưu ý rằng con người phải chạm đến trái tim của người khác. Chỉ chạm đến trí tuệ thôi thì không đủ.

79. We see that the many technical developments have a positive effect on a disciple’s capacity for service.

79. Chúng ta thấy rằng nhiều phát triển kỹ thuật có ảnh hưởng tích cực lên năng lực phụng sự của một đệ tử.

Footnote 75: Aspirant:

Chú thích 75: Người chí nguyện:

"The practices which make for union with the Soul are: fervent aspiration, spiritual reading, and complete obedience to the Master.

"Những thực hành dẫn đến sự hợp nhất với linh hồn là: khát vọng mãnh liệt, đọc sách tinh thần, và hoàn toàn vâng phục Chân sư.

80. Quotations for The Yoga Sutras are apt here. There is definitely a place of continued aspiration as the disciple advances towards greater usefulness.

80. Những trích dẫn từ Kinh Yoga rất thích hợp ở đây. Chắc chắn có một chỗ cho khát vọng liên tục khi đệ tử tiến đến sự hữu dụng lớn hơn.

The word which I have rendered "fervent aspiration" means primarily "fire";

Từ mà tôi đã dịch là "khát vọng mãnh liệt" trước hết có nghĩa là "lửa";

81. In the developing disciple, the intensity of the fire is always increasing, especially the intensity of spiritual fire.

81. Trong đệ tử đang phát triển, cường độ của lửa luôn gia tăng, đặc biệt là cường độ của lửa tinh thần.

and, in the Eastern teaching, it means the fire which gives life and light, and at the same time the fire which purifies.

và trong giáo huấn phương Đông, nó có nghĩa là ngọn lửa ban sự sống và ánh sáng, đồng thời cũng là ngọn lửa thanh luyện.

82. We rely upon the transmuted fires of the solar plexus center to provide the type of aspiration required.

82. Chúng ta dựa vào các ngọn lửa đã được chuyển hoá của trung tâm tùng thái dương để cung cấp loại khát vọng cần thiết.

83. The heart also has its aspiration.

83. Tim cũng có khát vọng của nó.

84. From a larger point of view, every center has its upreaching tendency and, hence, its ‘aspiration’.

84. Từ một quan điểm rộng lớn hơn, mọi trung tâm đều có khuynh hướng vươn lên của nó và do đó có ‘khát vọng’ của nó.

We have, therefore, as our first practice, as the first of the means of spiritual growth, that fiery quality of the will

Vì vậy, như thực hành đầu tiên của chúng ta, như phương tiện đầu tiên của sự tăng trưởng tinh thần, chúng ta có phẩm tính rực lửa của ý chí

85. Note how fiery aspiration and will are combined. The sixth and first rays are often related.

85. Hãy lưu ý cách khát vọng rực lửa và ý chí được kết hợp. Cung sáu và cung một thường có liên hệ với nhau.

86. Master Morya, a great first ray Master, advises us to “strive fierily”.

86. Chân sư Morya, một Chân sư cung một vĩ đại, khuyên chúng ta “hãy nỗ lực một cách rực lửa”.

which enkindles and illumines, and, at the same time, the steady practice of purification, the burning away of all known impurities."

vốn làm bừng cháy và soi sáng, đồng thời là sự thực hành thanh luyện bền bỉ, đốt cháy mọi ô uế đã biết."

87. The life of discipleship is based upon a profound and persistent spiritual aspiration and the persistent appropriation of the spiritual will.

87. Đời sống địa vị đệ tử được đặt nền trên một khát vọng tinh thần sâu xa và bền bỉ cùng sự chiếm hữu bền bỉ ý chí tinh thần.

"Their aim is, to bring soul-vision, and to wear away hindrances."

"Mục tiêu của họ là mang đến linh thị của linh hồn, và bào mòn các chướng ngại."