← Commentary_S7_733_747

TCF 868-871 S7S11 Part I

Trích nội dung chương

89. We note that we, as disciples and aspirants must “wear down” the ‘opposition’. The Will-to-Persist, thus, counts for much. 89. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta, với tư cách đệ tử và người chí nguyện, phải “bào mòn” sự ‘đối kháng’. Vì vậy, Ý Chí-Kiên Trì có giá trị rất lớn.


88. Fire wears away and burns away obstacles to vision and to empowerment.

88. Lửa bào mòn và đốt cháy những chướng ngại đối với linh thị và đối với sự trao quyền.

89. We note that we, as disciples and aspirants must “wear down” the ‘opposition’. The Will-to-Persist, thus, counts for much.

89. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta, với tư cách đệ tử và người chí nguyện, phải “bào mòn” sự ‘đối kháng’. Vì vậy, Ý Chí-Kiên Trì có giá trị rất lớn.

"The Rules are these: purity, serenity, fervent aspiration, spiritual reading, and perfect obedience to the Master."

"Các quy luật là thế này: thanh khiết, sự tĩnh lặng, khát vọng mãnh liệt, đọc sách tinh thần, và sự vâng phục hoàn hảo đối với Chân sư."

90. Fervent aspiration does not involve agitation, but rather serenity.

90. Khát vọng mãnh liệt không bao hàm sự kích động, mà đúng hơn là sự tĩnh lặng.

91. The Master is the soul/Solar Angel as well as the Master in the heart. As we progress along the Path of Occultism we encounter two Masters (both of which are truly our Masters). One is the Solar Angel and the other is the Master of the Ashram with which we are destined to be affiliated.

91. Chân sư là linh hồn/Thái dương Thiên Thần cũng như Chân sư trong tim. Khi chúng ta tiến bước trên Con Đường Huyền Bí Học, chúng ta gặp hai Chân sư (cả hai đều thật sự là Chân sư của chúng ta). Một là Thái dương Thiên Thần và một là Chân sư của ashram mà chúng ta được định mệnh sẽ liên kết với.

"The perfection of the powers of the bodily vesture comes through the wearing away of impurities, and through fervent aspiration."

"Sự hoàn thiện các năng lực của y phục thân thể đến qua việc bào mòn các ô uế, và qua khát vọng mãnh liệt."

92. “Wearing away” and burning away are parallel processes. The persistent will of the second ray is needed as well s the dynamic will of the first ray.

92. “Bào mòn” và đốt cháy là những tiến trình song song. Ý chí bền bỉ của cung hai là cần thiết cũng như ý chí năng động của cung một.

—Yoga Sutras of Patanjali, Book II, 1, 2, 32, 43 (C. Johnston's Edition).

—Kinh Yoga của Patanjali, Quyển II, 1, 2, 32, 43 (Bản của C. Johnston).

Two more characteristics of this stage might here be enumerated.

Có thể liệt kê thêm hai đặc điểm nữa của giai đoạn này ở đây.

93. We are enumerating the beneficial results of the processes described.

93. Chúng ta đang liệt kê những kết quả có lợi của các tiến trình đã được mô tả.

The aspirant has an appreciation of the occult value of money in service.

Người chí nguyện có sự đánh giá đúng về giá trị huyền bí của tiền bạc trong phụng sự.

94. This is one of the first and major tests.

94. Đây là một trong những thử thách đầu tiên và lớn lao.

He seeks nothing for himself, save that which may equip him for the work to be done, and he looks upon money, and that which money can purchase, as something which is to be used for others and a means to bring about the fruition of the Master's plans as he senses those plans.

Y không tìm kiếm gì cho mình, ngoại trừ điều có thể trang bị cho y đối với công việc phải làm, và y nhìn tiền bạc, cùng những gì tiền bạc có thể mua được, như một điều phải được dùng cho người khác và như một phương tiện để đem lại sự thành tựu các kế hoạch của Chân sư theo như y cảm nhận các kế hoạch ấy.

95. Obviously the heart must be involved. If the aspirant is motivate only by energies below the diaphragm, then, he cannot display the necessary selflessness with respect to money.

95. Hiển nhiên tim phải được dự phần. Nếu người chí nguyện chỉ được thúc đẩy bởi các năng lượng dưới cơ hoành, thì y không thể biểu lộ tính vô ngã cần thiết đối với tiền bạc.

96. Much careful searching of motives is needed with regard to this requirement.

96. Cần phải tra xét động cơ rất cẩn thận đối với đòi hỏi này.

The occult significance of money is little appreciated, yet one of the greatest tests as to the position of a man upon the probationary path is that which concerns his attitude to and his handling of that which all men seek in order to gratify desire.

Ý nghĩa huyền bí của tiền bạc ít được đánh giá, tuy nhiên một trong những thử thách lớn nhất về vị trí của một người trên Con Đường Dự Bịlà điều liên quan đến thái độ của y đối với và cách y xử lý điều mà mọi người đều tìm kiếm để thỏa mãn dục vọng.

97. In a coming Age in which the principle of sharing will be paramount, the necessary unselfish attitudes will be cultivated.

97. Trong một Kỷ Nguyên sắp đến, trong đó nguyên khí chia sẻ sẽ là tối thượng, những thái độ vô ngã cần thiết sẽ được vun bồi.

98. This attitude will grow as the sense of identification transfers from the individual to the group.

98. Thái độ này sẽ tăng trưởng khi cảm thức đồng hoá chuyển từ cá nhân sang nhóm.

Only he who desires naught for himself can be a recipient of financial bounty, and a dispenser of the riches of the universe.

Chỉ người nào không mong muốn gì cho mình mới có thể là người tiếp nhận phúc lộc tài chính, và là người phân phát những sự giàu có của vũ trụ.

99. Many Masters have been such recipients. Their spiritual values and the behavior based on such values were sufficient to attract to them great resources for the helping of humanity and the world.

99. Nhiều Chân sư đã là những người tiếp nhận như thế. Các giá trị tinh thần của Các Ngài và cách ứng xử dựa trên những giá trị ấy đủ để thu hút đến với Các Ngài những nguồn lực lớn lao nhằm giúp đỡ nhân loại và thế giới.

In other cases where riches increase, they bring with them naught but sorrow and distress, discontent and misuse.

Trong những trường hợp khác, khi của cải gia tăng, chúng không mang theo gì ngoài buồn khổ và đau đớn, bất mãn và lạm dụng.

100. Few believe this to be the case until bitter experience teaches them otherwise.

100. Ít ai tin điều này là đúng cho đến khi kinh nghiệm cay đắng dạy cho họ điều ngược lại.

At this stage also the aspirant's life becomes an "instrument of destruction" in the occult sense of the term. Wherever he goes the force which flows through him from the higher planes, and from his own inner God, produces at times peculiar results upon his environment. It acts as a stimulator of both the good and the evil.

Ở giai đoạn này nữa, đời sống của người chí nguyện trở thành một "khí cụ hủy diệt" theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ này. Bất cứ nơi nào y đi đến, mãnh lực tuôn qua y từ các cõi cao hơn, và từ Thượng đế nội tại của chính y, đôi khi tạo ra những kết quả đặc biệt đối với môi trường của y. Nó hoạt động như một tác nhân kích thích cả điều thiện lẫn điều ác.

101. The aspirant does not seek actively to destroy. It is simply the energy pouring through him which wields destruction.

101. Người chí nguyện không chủ động tìm cách hủy diệt. Chỉ đơn giản là năng lượng tuôn qua y vận dụng sự hủy diệt.

102. Notice that disciples and even initiates are often called “aspirants”.

102. Hãy lưu ý rằng các đệ tử và ngay cả các điểm đạo đồ cũng thường được gọi là “người chí nguyện”.

The lunar Pitris who form the bodies of his brothers and his own body are likewise stimulated, their activity is increased, and their power greatly aggravated.

Các thái âm tổ phụ tạo thành các thể của các huynh đệ y và thể của chính y cũng được kích thích; hoạt động của họ gia tăng, và quyền năng của họ bị làm trầm trọng thêm rất nhiều.

103. Again, he does not purposefully stimulate the lunar pitris in himself or in others. Rather, when he is conscious of wielding stimulation, he seeks to stimulate their soul. The lunar side-effects happen nonetheless.

103. Một lần nữa, y không cố ý kích thích các thái âm tổ phụ trong chính mình hay trong người khác. Đúng hơn, khi y có ý thức về việc vận dụng sự kích thích, y tìm cách kích thích linh hồn của họ. Tuy nhiên, các tác dụng phụ thuộc về thái âm vẫn xảy ra.

This fact is used by Those Who work on the inner side to bring about certain desired ends.

Sự kiện này được sử dụng bởi Những Đấng hoạt động ở mặt bên trong để đem lại một số cứu cánh mong muốn.

104. When a necessary disruption of the status quo is required, an aspirant may be sent where the disruption is required. He may, under certain circumstances, exert a beneficently disturbing influence.

104. Khi cần có một sự phá vỡ cần thiết đối với nguyên trạng, một người chí nguyện có thể được gửi đến nơi cần sự phá vỡ ấy. Trong một số hoàn cảnh nhất định, y có thể gây ra một ảnh hưởng gây xáo trộn nhưng có lợi.

This it is also which oft times temporarily causes the downfall of advanced souls. They cannot stand the force pouring into them, or upon them, [Page 867] and through the temporary over-stimulation of their centres and vehicles they go astray.

Chính điều này cũng thường tạm thời gây nên sự sa ngã của các linh hồn tiến hóa cao. Họ không thể chịu đựng được mãnh lực tuôn vào họ, hay đổ xuống trên họ, [Page 867] và qua sự kích thích quá mức tạm thời các trung tâm và các vận cụ của họ, họ đi lạc đường.

105. These are sections of text which first appeared in IHS. Apparently, the Tibetan considers them worth repeating.

105. Đây là những đoạn văn bản lần đầu xuất hiện trong IHS. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng xem chúng đáng để lặp lại.

106. It is always necessary to handle overstimulation. It is actually a greater danger than insufficient stimulation. The Path of Occultism is, among other things, a path of control. Loss of control (especially when one is “playing with fire”) is an menace.

106. Luôn luôn cần phải xử lý sự kích thích quá mức. Thực ra đó là một nguy hiểm lớn hơn sự kích thích không đủ. Con Đường Huyền Bí Học, trong nhiều điều khác, là một con đường của sự kiểm soát. Sự mất kiểm soát (đặc biệt khi người ta đang “đùa với lửa”) là một mối nguy.

This can be seen working out in groups as well as in individuals.

Điều này có thể thấy diễn ra trong các nhóm cũng như trong các cá nhân.

107. Groups can lose control as well as individuals. An individual or group which is out of control are considered by the Masters to be hazards.

107. Các nhóm cũng có thể mất kiểm soát như các cá nhân. Một cá nhân hay nhóm mất kiểm soát được các Chân sư xem là những mối nguy hại.

108. The behavior of aspirants and disciples is often full of surprises—even to the Master. One must watch oneself closely, attentive to the “inner monitor” if untoward responses are to be avoided.

108. Hành vi của những người chí nguyện và các đệ tử thường đầy bất ngờ—ngay cả đối với Chân sư. Người ta phải quan sát chính mình chặt chẽ, chú ý đến “người giám sát bên trong”, nếu muốn tránh những đáp ứng không thích đáng.

But, inversely, if the lunar Lords of the lower self have been earlier subjugated and brought under control, then the effect of the force and energy contacted is to stimulate the response of the physical brain consciousness and the head centres to egoic contact.

Nhưng ngược lại, nếu các nguyệt tinh quân của phàm ngã đã được khuất phục từ trước và được đặt dưới sự kiểm soát, thì hiệu quả của mãnh lực và năng lượng được tiếp xúc là kích thích đáp ứng của tâm thức bộ não hồng trần và các trung tâm đầu đối với tiếp xúc chân ngã.

109. We must learn to subdue the opposition. We know that the lunar lords will rebel when confronted with egoic energy (especially if they are untrained, unpurified and unsubdued). Thus, our task is indicated.

109. Chúng ta phải học cách khuất phục sự đối kháng. Chúng ta biết rằng các nguyệt tinh quân sẽ phản loạn khi đối diện với năng lượng chân ngã (đặc biệt nếu chúng không được huấn luyện, không được thanh luyện và không bị khuất phục). Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta đã được chỉ ra.

110. We wish for the lunar forces to become translucent and eventually non-resistant to the descent of egoic force.

110. Chúng ta mong muốn các mãnh lực thái âm trở nên trong suốt và cuối cùng không còn kháng cự đối với sự giáng xuống của mãnh lực chân ngã.

111. The alignment here required is between soul, mind and brain.

111. Sự chỉnh hợp được đòi hỏi ở đây là giữa linh hồn, trí tuệ và bộ não.

Then the otherwise destructive force becomes a factor for good and helpful stimulation,

Khi đó mãnh lực vốn nếu không sẽ có tính hủy diệt trở thành một yếu tố của điều thiện và của sự kích thích hữu ích,

112. We must not refrain from invoking egoic force for fear that the lunar vehicles will rebel and obstruct. We must set about the task (as soon as may be possible) of disciplining the potentially disruptive, rebellious forces.

112. Chúng ta không được ngần ngại khẩn cầu mãnh lực chân ngã chỉ vì sợ rằng các vận cụ thái âm sẽ phản loạn và cản trở. Chúng ta phải bắt tay vào nhiệm vụ (ngay khi có thể) là rèn luyện các mãnh lực có khả năng gây xáo trộn và phản loạn ấy.

and can be used by Those Who know how, to lead men on to further illumination.

và có thể được sử dụng bởi Những Đấng biết cách để dẫn dắt con người đến sự soi sáng hơn nữa.

113. Apparently destructive forces, under the right conditions, can be highly stimulative. In the pursuit of occultism, we learn the meaning of the “two edged sword”. We cannot always choose to deal with gentle energies. Rapid progress requires that we learn to handle all kinds of subtle energies.

113. Những mãnh lực có vẻ hủy diệt, trong những điều kiện đúng đắn, có thể có tính kích thích rất cao. Trong việc theo đuổi huyền bí học, chúng ta học ý nghĩa của “thanh gươm hai lưỡi”. Chúng ta không phải lúc nào cũng có thể chọn chỉ đề cập đến những năng lượng dịu nhẹ. Sự tiến bộ nhanh chóng đòi hỏi chúng ta phải học cách xử lý mọi loại năng lượng vi tế.

All these stages have to work out on all the three lower planes and in the three bodies; this they do according to the particular Ray and subray.

Tất cả các giai đoạn này phải được triển khai trên cả ba cõi thấp và trong ba thể; điều này chúng thực hiện tùy theo cung và cung phụ đặc thù.

114. In this case we are speaking of the monadic ray and the egoic ray. These two rays are focussed above the three lower planes (in this context considered the eighteen lower subplanes) and are thence directed into the three lower worlds.

114. Trong trường hợp này chúng ta đang nói về cung chân thần và cung chân ngã. Hai cung này được tập trung ở trên ba cõi thấp (trong ngữ cảnh này được xem là mười tám cõi phụ thấp) và từ đó được hướng vào ba cõi thấp.

115. The ray of the Ego and one of its subraces (the personality ray) is also of great importance in the training of the three bodies.

115. Cung của Chân ngã và một trong các cung phụ của nó (cung phàm ngã) cũng rất quan trọng trong việc huấn luyện ba thể.

In this fashion the work of the disciple is carried forward, and his testing and training carried out until the two circles of petals are unfolded, and the third is organised.

Theo cách này công việc của đệ tử được tiếp tục, và sự thử thách cùng huấn luyện của y được tiến hành cho đến khi hai vòngcánh hoa được khai mở, và vòng thứ ba được tổ chức.

116. We may presume that the text indicates that the period of the second initiation has been reached.

116. Chúng ta có thể giả định rằng bản văn cho thấy thời kỳ của lần điểm đạo thứ hai đã đạt đến.

117. However, were this the case, we would imagine that some unfoldment of the seventh and eighth petals would have occurred. Some unfoldment of the seventh petal occurs through the touch of the Rod at the first initiation and through the strenuous, abnormal effort of the disciple. And some unfoldment of the eighth petal occurs through the touch of the Rod at the second initiation and through an intensification of fiery effort.

117. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, chúng ta sẽ hình dung rằng đã có một mức độ khai mở nào đó của cánh hoa thứ bảy và thứ tám. Một phần khai mở của cánh hoa thứ bảy xảy ra qua sự chạm của Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ nhất và qua nỗ lực căng thẳng, khác thường của đệ tử. Và một phần khai mở của cánh hoa thứ tám xảy ra qua sự chạm của Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ hai và qua sự tăng cường nỗ lực rực lửa.

118. We may assume that the Tibetan does not cover all contingencies with every statement concerning the unfoldment of the petals.

118. Chúng ta có thể giả định rằng Chân sư Tây Tạng không bao quát mọi khả năng trong mỗi phát biểu liên quan đến sự khai mở các cánh hoa.

119. To say that the third tier is organized does not mean that there is no petal unfoldment in the third tier. There may be organization and petal unfoldment.

119. Nói rằng vòng thứ ba được tổ chức không có nghĩa là không có sự khai mở cánh hoa trong vòng thứ ba. Có thể có sự tổ chức và sự khai mở cánh hoa.

Thus he is brought, through right direction of energy and wise manipulation of force currents, to the Portal of Initiation,

Như thế y được đưa, qua sự định hướng đúng đắn của năng lượng và sự vận dụng khôn ngoan các dòng mãnh lực, đến Cổng Điểm Đạo,

120. If DK is discussing bringing the candidate to the Portal of Initiation (before the first initiation) and is indicating that two tiers of petals must be “unfolded” if this is the case, we may gather that the two tiers are not completely and perfectly unfolded, for if they were the second initiation would have been taken, and the disciple would long before have passed through the “Portal of Initiation”.

120. Nếu DK đang bàn về việc đưa ứng viên đến Cổng Điểm Đạo (trước lần điểm đạo thứ nhất) và cho thấy rằng hai vòng cánh hoa phải được “khai mở” nếu đúng như vậy, thì chúng ta có thể suy ra rằng hai vòng ấy không được hoàn toàn và trọn vẹn khai mở, vì nếu như thế thì lần điểm đạo thứ hai đã được tiếp nhận, và đệ tử từ lâu đã đi qua “Cổng Điểm Đạo”.

121. This may simply be an indication that the second tier is coming close to completed unfoldment but that such unfoldment is not yet achieved.

121. Điều này có thể chỉ đơn giản là một dấu hiệu cho thấy vòng thứ hai đang tiến gần đến sự khai mở hoàn tất nhưng sự khai mở ấy vẫn chưa đạt được.

122. The minor discrepancies between what DK appears to be saying in different references must be carefully analyzed.

122. Những sai biệt nhỏ giữa điều DK dường như đang nói trong các tham chiếu khác nhau phải được phân tích cẩn thận.

and graduates out of the Hall of Learning76 into the great Hall of Wisdom—that Hall wherein he gradually becomes "aware" of forces, and powers, latent in his own Ego and egoic group.

và tốt nghiệp ra khỏi Phòng Hiểu Biết76 để đi vào Đại Phòng Minh triết—Phòng mà trong đó y dần dần trở nên “nhận biết” các mãnh lực và quyền năng tiềm ẩn trong chính chân ngã và nhóm chân ngã của mình.

123. This entry into the Hall of Wisdom occurs, generically, at the first initiation.

123. Việc đi vào Phòng Minh triết này, một cách tổng quát, xảy ra vào lần điểm đạo thứ nhất.

124. However, there are references which suggest that entry into that Hall occurs well before the first initiation—even as the fourth and fifth petal are being unfolded.

124. Tuy nhiên, có những dẫn chiếu gợi ý rằng việc đi vào Phòng ấy xảy ra từ rất lâu trước lần điểm đạo thứ nhất—ngay khi cánh hoa thứ tư và thứ năm đang được khai mở.

The fifth or spiritual kingdom is entered when the units of the fourth kingdom have succeeded in vitalizing the fifth spirilla in all the atoms of the threefold lower man; when they [Page 698] have unfolded three of the egoic petals and are in process of unfolding the fourth and fifth and when they are becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man.(TCF 697-698)

Giới thứ năm hay giới tinh thần được bước vào khi các đơn vị của giới thứ tư đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của phàm ngã tam phân thấp; khi họ [Page 698] đã khai mở ba cánh hoa chân ngã và đang trong tiến trình khai mở cánh thứ tư và thứ năm, và khi họ đang trở nên hữu thức về prana lực của Đấng Thiên Nhân.(TCF 697-698)

It is the Hall wherein he gains the right to use the force of the egoic group, for he can now be trusted to wield it only for the helping of humanity.

Đó là Phòng trong đó y đạt được quyền sử dụng mãnh lực của nhóm chân ngã, vì giờ đây y có thể được tin cậy là chỉ vận dụng nó để trợ giúp nhân loại.

125. He has used some of the powers of his Ego prior to initiation. Initiation brings with it group consciousness and thus access to the force of the egoic group.

125. Y đã sử dụng một số quyền năng của chân ngã mình trước khi điểm đạo. Điểm đạo mang theo tâm thức nhóm và do đó đem lại sự tiếp cận với mãnh lực của nhóm chân ngã.

Footnote 76:

Cước chú 76:

The three Halls through which the soul of man must progress are spoken of in The Voice of the Silence, pp. 19, 20.

Ba Phòng mà linh hồn con người phải tiến qua được nói đến trong Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 19, 20.

1st Hall..Hall of Ignorance...infant humanity…Physical plane.

Phòng thứ nhất..Phòng Vô Minh...nhân loại ấu thơ…cõi hồng trần.

126. Corresponding to the organization of the outer tier of petals.

126. Tương ứng với sự tổ chức vòng cánh hoa bên ngoài.

2nd Hall..Hall of Learning...average man........astral plane.

Phòng thứ hai..Phòng Hiểu Biết...con người trung bình........cõi cảm dục.

127. Corresponding to the unfolding of the knowledge tier of petals and the organization of some of the petals of the love tier.

127. Tương ứng với sự khai mở tầng cánh hoa tri thức và sự tổ chức một số cánh hoa của tầng bác ái.

3rd Hall..Hall of Wisdom...spiritual man........mental plane.

Phòng thứ ba..Phòng Minh triết...con người tinh thần........cõi trí.

128. Corresponding to the complete unfoldment of the fifth and sixth petals and later of the seventh, eighth and ninth petals, and stages beyond.

128. Tương ứng với sự khai mở hoàn toàn cánh hoa thứ năm và thứ sáu, và về sau là cánh thứ bảy, thứ tám và thứ chín, cùng các giai đoạn vượt lên trên.

The longest time is spent in the Hall of Ignorance.

Thời gian dài nhất được trải qua trong Phòng Vô Minh.

129. This is easily understood. The organization of the knowledge tier takes the longest time and so does its unfoldment. More time is spend building the foundation through the utilization of the third aspect of divinity than in erecting the superstructure upon it.

129. Điều này dễ hiểu. Việc tổ chức tầng tri thức mất thời gian lâu nhất và sự khai mở của nó cũng vậy. Người ta dành nhiều thời gian hơn để xây nền móng qua việc sử dụng phương diện thứ ba của thiên tính hơn là để dựng phần thượng tầng trên đó.

The later period in the Hall of Learning is called the Probationary Path.

Giai đoạn sau trong Phòng Hiểu Biết được gọi là Con Đường Dự Bị.

130. It would seem that only the later stages of the Hall of Learning can rightly be called the Path of Probation. The Tibetan may be making a general statement and may not be attempting the strictest accuracy.

130. Có vẻ như chỉ những giai đoạn sau của Phòng Hiểu Biết mới có thể được gọi đúng là Con Đường Dự Bị. Chân sư Tây Tạng có thể đang đưa ra một phát biểu tổng quát và có thể không cố đạt đến độ chính xác nghiêm ngặt nhất.

131. The Hall of Learning begins with the organization of the love tier, yet until the love tier is completely organized, there is no true treading of the Path of Probation.

131. Phòng Hiểu Biết bắt đầu với sự tổ chức tầng bác ái, nhưng cho đến khi tầng bác ái được tổ chức hoàn toàn thì chưa có sự thực sự bước đi trên Con Đường Dự Bị.

[certain Moon chain Egos] will stand ready before the close of the round [the next round] to pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second. (TCF 842)

[certain Moon chain Egos] sẽ sẵn sàng, trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn [cuộc tuần hoàn kế tiếp], để bước lên Con Đường Dự Bị, sau khi đã khai mở một tầng cánh hoa và tổ chức tầng thứ hai. (TCF 842)

In the Hall of Wisdom the Initiate approaches the central mystery of Being.

Trong Phòng Minh triết, điểm đạo đồ tiếp cận huyền nhiệm trung tâm của Bản Thể.

132. It is the center of the Jewel in the Lotus which is the objective of understanding and contact in the Hall of Wisdom.

132. Chính trung tâm của Ngọc trong Hoa Sen là mục tiêu của sự thấu hiểu và tiếp xúc trong Phòng Minh triết.

133. The “central mystery of Being” is found in the Spirit or Monad and the representation of the Monad is the Jewel in the Lotus:

133. “Huyền nhiệm trung tâm của Bản Thể” được tìm thấy trong Tinh thần hay Chân thần, và biểu tượng của Chân thần là Ngọc trong Hoa Sen:

After the fourth Initiation, he becomes a sharer in, and can be trusted with some part of the energy of the planetary Logos

Sau lần điểm đạo thứ tư, y trở thành người cùng chia sẻ, và có thể được tin cậy với một phần nào đó của năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế

134. This, because he has truly entered the spiritual triad and can polarize on the buddhic plane.

134. Điều này là vì y đã thực sự đi vào Tam nguyên tinh thần và có thể phân cực trên cõi Bồ đề.

135. He is also sufficiently responsive to atma to be impressed with the Divine Plan.

135. Y cũng đủ đáp ứng với atma để được ghi khắc bởi Thiên Cơ.

and thus be enabled to carry forward the plans of that Logos for evolution.

và nhờ đó có thể xúc tiến các kế hoạch của Thượng đế ấy cho tiến hoá.

136. It is in the spiritual triad that the Divine Plan is worked out. At the fourth degree the man is a Triad (a true soul) and is no longer imprisoned within the causal body.

136. Chính trong Tam nguyên tinh thần mà Thiên Cơ được triển khai. Ở cấp thứ tư, con người là một Tam nguyên tinh thần (một linh hồn đích thực) và không còn bị giam hãm trong thể nguyên nhân nữa.

TCF 868-871 S7S11 Part I

17 - 31 August 2008

17 - 31 tháng Tám 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và các tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

[Page 868]

[Page 868]

(e.) Initiation and the Petals. In considering the connection of the petals and their unfoldment through initiation, there is little which it is permissible to give out at this time [circa 1925] for the information of the general public.

(e.) Điểm đạo và các Cánh Hoa. Khi xem xét mối liên hệ của các cánh hoa và sự khai mở của chúng qua điểm đạo, có rất ít điều được phép tiết lộ vào lúc này [khoảng năm 1925] để cung cấp cho công chúng nói chung.

1. VSK states and queries: This may still be true, close to one hundred years later? Or do we, how could we, have any more information? Why would it not be permissible? What would make it so?

1. VSK nêu và hỏi: Điều này có thể vẫn còn đúng, gần một trăm năm sau chăng? Hay chúng ta, làm sao chúng ta, có thể có thêm thông tin nào nữa? Tại sao điều đó lại không được phép? Điều gì sẽ khiến nó trở thành như vậy?

2. May it be suggested that there are many intricacies in the process and that too much of a technical nature would be revealed about the accessing of energy?

2. Có thể gợi ý rằng có nhiều điều phức tạp trong tiến trình này và rằng quá nhiều điều mang tính kỹ thuật sẽ bị tiết lộ về việc tiếp cận năng lượng chăng?

3. We are not only speaking of the unfoldment of the petals but of their relations to each other. There are probably lines of connection between certain petals and others, such that development in one leads to a reflexive type of development in the other or others.

3. Chúng ta không chỉ nói về sự khai mở của các cánh hoa mà còn về các mối liên hệ của chúng với nhau. Có lẽ có những đường nối giữa một số cánh hoa này với những cánh hoa khác, đến mức sự phát triển ở một cánh dẫn đến một loại phát triển phản xạ ở cánh kia hay các cánh kia.

4. Perhaps we may expect greater revelation when the third installment of the Teaching begins to be presented after 2025.

4. Có lẽ chúng ta có thể mong đợi sự mặc khải lớn hơn khi phần thứ ba của Giáo Huấn bắt đầu được trình bày sau năm 2025.

All that is possible is to give certain statements, containing:

Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một số phát biểu, bao gồm:

a. Hints as to the right direction of the energy,

a. Những gợi ý về hướng đi đúng của năng lượng,

5. This is a crucial study in the development of the would-be occultist.

5. Đây là một nghiên cứu then chốt trong sự phát triển của người muốn trở thành nhà huyền bí học.

6. “Energy follow thought and the eye directs the energy”.

6. “Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt định hướng năng lượng”.

b. Suggestions as to the basic mysteries which man has to solve,

b. Những gợi ý về các huyền nhiệm căn bản mà con người phải giải quyết,

7. One of the foremost of these is simply the “mystery of the soul” inevitably related to the “Mystery of the Solar Angel”.

7. Một trong những huyền nhiệm hàng đầu trong số này đơn giản là “huyền nhiệm của linh hồn”, tất yếu liên hệ với “Huyền Nhiệm của Thái dương Thiên Thần”.

8. Capricorn is among the most mysterious of signs and is related to the “Secret of the Soul”.

8. Ma Kết là một trong những dấu hiệu hoàng đạo huyền nhiệm nhất và có liên hệ với “Bí Mật của Linh Hồn”.

c. Indications as to certain correspondences,

c. Những chỉ dẫn về một số tương ứng,

9. Through the cognition of these we gain an understanding of the larger patterns.

9. Qua sự nhận biết những điều này, chúng ta đạt được sự thấu hiểu về các mô hình lớn hơn.

d. Practical points for constructive thinking.

d. Những điểm thực tiễn cho tư duy xây dựng.

10. We are to become proficient in “constructive thinking”—thinking which builds in line with the Divine Plan.

10. Chúng ta phải trở nên thành thạo trong “tư duy xây dựng”—lối tư duy kiến tạo phù hợp với Thiên Cơ.

Students must remember that the aim of all truly occult teachers is not to give information but to train their pupils in the use of thought energy.

Các đạo sinh phải nhớ rằng mục tiêu của mọi huấn sư huyền bí học chân chính là không cung cấp thông tin mà là huấn luyện học trò của mình trong việc sử dụng năng lượng tư tưởng.

11. This, of course, is a vitally important thought. Yet, it cannot be denied that Master DK has given massive amounts of information through His numerous books.

11. Dĩ nhiên, đây là một tư tưởng cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Chân sư DK đã cung cấp một khối lượng thông tin đồ sộ qua nhiều quyển sách của Ngài.

12. The information given, however, is not for amassing but for application in service. Naturally, organization and correlation of the information must precede successful impartation and utilization in service.

12. Tuy nhiên, thông tin được trao ra không phải để tích lũy mà để áp dụng trong phụng sự. Đương nhiên, việc tổ chức và liên kết thông tin phải đi trước sự truyền đạt thành công và việc sử dụng nó trong phụng sự.

13. As well, the information given is meant to build new patterns of thought in the chela’s consciousness. The juxtaposition of certain related items of knowledge tends to the realization of the certain energy patterns to which those items of thought are related.

13. Hơn nữa, thông tin được trao ra nhằm xây dựng những mô hình tư tưởng mới trong tâm thức của đệ tử. Sự đặt cạnh nhau của một số mục tri thức có liên hệ có khuynh hướng dẫn đến sự chứng nghiệm những mô hình năng lượng nhất định mà các mục tư tưởng ấy có liên hệ.

14. A student rightly trained in the use of thought energy can become a co-creator in the task of manifesting the Divine Plan.

14. Một đạo sinh được huấn luyện đúng đắn trong việc sử dụng năng lượng tư tưởng có thể trở thành một đồng sáng tạo viên trong công việc biểu hiện Thiên Cơ.

It will therefore be apparent why this method of instruction is the one invariably used. It is the method which involves the dropping of a hint on the part of the Teacher, and the correlation perhaps of certain correspondences, coupled with a suggestion as to the sources of light.

Do đó, sẽ hiển nhiên vì sao phương pháp giảng dạy này là phương pháp luôn luôn được sử dụng. Đó là phương pháp bao hàm việc huấn sư đưa ra một gợi ý, và có lẽ liên kết một số tương ứng nhất định, cùng với một gợi ý về các nguồn ánh sáng.

15. This is the method which suggests or implies the gestalt but does not close it. The gaps in knowledge which temporarily prevent the complete configuring of the pattern of knowledge act as stimuli to the evocation of the student’ intuition.

15. Đây là phương pháp gợi ra hay hàm ý toàn thể cấu hình nhưng không khép kín nó. Những khoảng trống trong tri thức, vốn tạm thời ngăn cản việc cấu hình trọn vẹn mô hình tri thức, hoạt động như những kích thích để gợi lên trực giác của đạo sinh.

16. Let us tabulate the method:

16. Chúng ta hãy lập bảng phương pháp này:

a. The Teacher drops hints

a. Huấn sư đưa ra các gợi ý

b. The Teacher correlates certain correspondences but not all. Some correlations are left to the student.

b. Huấn sư liên kết một số tương ứng nhất định nhưng không phải tất cả. Một số sự liên kết được để lại cho đạo sinh.

c. The Teacher suggests the sources of light—the directions in which the light to be shed upon the hints and upon important correspondences may be found.

c. Huấn sư gợi ý các nguồn ánh sáng—những hướng mà trong đó có thể tìm thấy ánh sáng sẽ được rọi lên các gợi ý và lên những tương ứng quan trọng.

17. In this way, the Teacher exercises the faculties of the students rather than doing everything for them, thus producing ‘spiritual weaklings’ (as Master Morya has suggested).

17. Bằng cách này, huấn sư rèn luyện các năng lực của đạo sinh thay vì làm mọi thứ cho họ, nhờ đó không tạo ra những ‘kẻ yếu đuối tinh thần’ (như Chân sư Morya đã gợi ý).

It involves, on the part of the pupil, the following recognitions:

Điều đó đòi hỏi, về phía học trò, những sự nhận biết sau đây:

a. That the hint may be worth following.

a. Rằng gợi ý ấy có thể đáng để theo đuổi.

18. It is easy not to notice. Important hints may be ‘dropped’ and yet remain unrecognized, or if recognized, the potential value of the hint may not be anticipated and, therefore, the will to follow the hint may not be activated.

18. Rất dễ không nhận ra. Những gợi ý quan trọng có thể được ‘đưa ra’ mà vẫn không được nhận biết, hoặc nếu được nhận biết thì giá trị tiềm tàng của gợi ý có thể không được dự đoán, và vì thế ý chí theo đuổi gợi ý có thể không được kích hoạt.

b. That meditation is the pathway to the source of light, and that the hint dropped is the "seed" for meditation.

b. Rằng tham thiền là con đường dẫn đến nguồn ánh sáng, và rằng gợi ý được đưa ra là “hạt giống” cho tham thiền.

19. Meditation is an act of spiritual progression. It leads to light, to Light and eventually to the Greatest Light—the “unfettered enlightenment” of Shamballa.

19. Tham thiền là một hành vi tiến triển tinh thần. Nó dẫn đến ánh sáng, đến Ánh Sáng và cuối cùng đến Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất—“giác ngộ không bị trói buộc” của Shamballa.

20. Every seed is an ‘impelling unit of energy’. From the seed may grow the bridge to the Light.

20. Mỗi hạt giống là một ‘đơn vị năng lượng thúc đẩy’. Từ hạt giống có thể mọc lên cây cầu dẫn đến Ánh Sáng.

c. That facts, ill-assorted and uncorrelated, are menaces to knowledge and no help.

c. Rằng các sự kiện, nếu sắp xếp lộn xộn và không được liên kết, là những mối đe dọa đối với tri thức và không giúp ích gì.

21. It is not that the accumulation of facts is deleterious. Rather, the menace to knowledge comes if the accumulated facts remain “ill-assorted and uncorrelated”.

21. Không phải là việc tích lũy sự kiện là có hại. Đúng hơn, mối đe dọa đối với tri thức xuất hiện nếu các sự kiện đã tích lũy vẫn “sắp xếp lộn xộn và không được liên kết”.

22. Our task is to sort, organize and correlate accumulated facts, just as Master DK has done. The many hints He ‘drops’ indicate correlations which He has long ago made. Those correlations, for the most part, lie ahead for us. He does not, however, always reveal the correlations which await us. It is our task meditatively to bridge towards those correlated patterns of revelation (however vague or uncorrelated they may be for us when we begin treading the lighted path towards them).

22. Nhiệm vụ của chúng ta là sắp xếp, tổ chức và liên kết các sự kiện đã tích lũy, đúng như Chân sư DK đã làm. Nhiều gợi ý mà Ngài ‘đưa ra’ chỉ ra những sự liên kết mà Ngài đã thực hiện từ lâu. Phần lớn những sự liên kết ấy còn ở phía trước đối với chúng ta. Tuy nhiên, Ngài không phải lúc nào cũng tiết lộ những sự liên kết đang chờ đợi chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là, qua tham thiền, bắt cầu đến những mô hình mặc khải đã được liên kết ấy (dù khi chúng ta bắt đầu bước trên Con Đường được Soi Sáng hướng về chúng, chúng có thể vẫn còn mơ hồ hay chưa được liên kết đối với chúng ta).

23. Mental digestion and assimilation are, thus, necessary.

23. Vì vậy, sự tiêu hóa và đồng hóa trí tuệ là cần thiết.

d. That every aspect of truth, progressively grasped, has to be assimilated, and welded into the experience of the student.

d. Rằng mọi phương diện của chân lý, được nắm bắt dần dần, đều phải được nắm bắt, đồng hóa, và hàn gắn vào kinh nghiệm của đạo sinh.

24. We are given three important directives: grasp, assimilate and weld.

24. Chúng ta được trao ba chỉ dẫn quan trọng: nắm bắt, đồng hóa và hàn gắn.

25. Grasping and welding are Vulcanian acts. Assimilation belongs to Mercury and Venus.

25. Nắm bắt và hàn gắn là những hành vi thuộc Vulcan. Đồng hóa thuộc về Sao Thủy và Sao Kim.

26. That which is relatively ‘low’ in our nature has to undergo constructive change due to the impact of that which is ‘high’. All higher substances taken-in must work their way ‘down’ in good order and with transformative effect upon the lower substances they touch.

26. Điều tương đối ‘thấp’ trong bản chất chúng ta phải trải qua sự thay đổi có tính xây dựng do tác động của điều ‘cao’. Mọi chất liệu cao hơn được tiếp nhận phải vận hành dần ‘đi xuống’ một cách trật tự và với hiệu quả chuyển đổi lên những chất liệu thấp hơn mà chúng chạm tới.

e. That unless the correspondences agree in an atomic, personal, planetary and cosmic fashion, they are not to be trusted.

e. Rằng trừ phi các tương ứng phù hợp theo cách nguyên tử, cá nhân, hành tinh và vũ trụ, chúng không đáng được tin cậy.

27. Analogy and correspondence are not the “last word” regarding truth but they can be unusually valuable. Yet, trustworthy correspondences must be thoroughgoing. If they do not work out on all the levels emphasized by DK in this treatise (the atomic, the individual, the planetary and solar/cosmic) they cannot be relied upon.

27. Tương đồng và tương ứng không phải là “lời cuối cùng” về chân lý nhưng chúng có thể đặc biệt có giá trị. Tuy nhiên, những tương ứng đáng tin cậy phải thật triệt để. Nếu chúng không vận hành trên mọi cấp độ được DK nhấn mạnh trong bộ luận này (nguyên tử, cá nhân, hành tinh và thái dương/vũ trụ) thì không thể dựa vào chúng.

28. This statement forces us to question how we arrive at truth, and at the trustworthy premises which are intended to lead us into ever greater Truth.

28. Phát biểu này buộc chúng ta phải tự hỏi làm thế nào chúng ta đi đến chân lý, và đến những tiền đề đáng tin cậy vốn được dự định dẫn chúng ta vào Chân Lý ngày càng lớn hơn.

29. We are asked to verify the correspondences we use as a basis for our thought and our apprehension of reality. This will require patient, rigorous thought and the testimony of the intuition.

29. Chúng ta được yêu cầu kiểm chứng các tương ứng mà chúng ta dùng làm nền tảng cho tư tưởng và cho sự lĩnh hội thực tại của mình. Điều này sẽ đòi hỏi tư duy kiên nhẫn, nghiêm ngặt và chứng từ của trực giác.

f. That much information is withheld until the student is a disciple, and still more until he is a pledged initiate.

f. Rằng nhiều thông tin bị giữ lại cho đến khi đạo sinh là một đệ tử, và còn nhiều hơn nữa cho đến khi y là một điểm đạo đồ đã tuyên thệ.

30. The stage of “pledged disciple” is omitted.

30. Giai đoạn “đệ tử đã tuyên thệ” bị bỏ qua.

31. It is also clear that one can be a student well before one is a disciple. Simply to study a great Teaching does not make one a disciple.

31. Cũng rõ ràng rằng một người có thể là một đạo sinh từ rất lâu trước khi là một đệ tử. Chỉ đơn giản nghiên cứu một Giáo Huấn vĩ đại không làm cho một người trở thành đệ tử.

32. Once the pledge is given, it is retained through various stages. The pledge is only intensified as initiations are sequentially ‘passed’.

32. Một khi lời tuyên thệ đã được trao ra, nó được giữ vững qua nhiều giai đoạn khác nhau. Lời tuyên thệ chỉ được tăng cường khi các lần điểm đạo được ‘vượt qua’ tuần tự.

33. DK does not seem to be talking of a “probationary initiate”, but of the true third degree initiate, who maintains and intensifies his pledge.

33. DK dường như không nói về một “điểm đạo đồ dự bị”, mà nói về điểm đạo đồ đích thực cấp ba, người duy trì và tăng cường lời tuyên thệ của mình.

The reason for this is to be found in the [Page 869] fact that all knowledge concerns energy, its application, and its use or misuse.

Lý do của điều này được tìm thấy trong sự kiện ở [Page 869] rằng mọi tri thức đều liên quan đến năng lượng, sự áp dụng của nó, và việc sử dụng hay lạm dụng nó.

34. Growth of knowledge is growth in the capacity to apply energy, using it either correctly or incorrectly. When energy is misused much damage to the outworking of the Plan may result. It is better to withhold knowledge until a disciple or initiate can be trusted, than to run the risk of damage to the expression of the Divine Plan on our planet.

34. Sự tăng trưởng của tri thức là sự tăng trưởng trong năng lực áp dụng năng lượng, dùng nó hoặc đúng hoặc sai. Khi năng lượng bị lạm dụng, có thể gây ra nhiều tổn hại cho sự triển khai của Thiên Cơ. Tốt hơn là giữ lại tri thức cho đến khi một đệ tử hay điểm đạo đồ có thể được tin cậy, hơn là chấp nhận nguy cơ gây tổn hại cho sự biểu hiện của Thiên Cơ trên hành tinh chúng ta.

Let us now continue with our consideration of the petals and Initiation.

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc xem xét các cánh hoa và Điểm đạo.

Each of the three circles of lotus petals is closely connected with one of the three Halls. This has been earlier referred to. Much of the work connected with the first tier of petals is part of the experience in the Hall of Ignorance.

Mỗi một trong ba vòng cánh hoa sen đều liên hệ chặt chẽ với một trong ba Phòng. Điều này đã được nhắc đến trước đây. Phần lớn công việc liên hệ với tầng cánh hoa thứ nhất là một phần của kinh nghiệm trong Phòng Vô Minh.

35. Close connection, however, may not indicate that identicality. There are correlations between the Halls and the tiers which may be more complex than initially meets the eye.

35. Tuy nhiên, liên hệ chặt chẽ có thể không hàm ý sự đồng nhất. Có những tương quan giữa các Phòng và các tầng có thể phức tạp hơn điều thoạt nhìn thấy được.

36. We have already seen that the 777 incarnations (breaking into units of 700, 70 and 7) do not directly correlate with the processes to be found within the three tiers of petals.

36. Chúng ta đã thấy rằng 777 lần nhập thể (chia thành các đơn vị 700, 70 và 7) không tương ứng trực tiếp với các tiến trình được tìm thấy trong ba tầng cánh hoa.

37. We have to proceed carefully. Not all the work connected with the first tier of petals is experienced in the Hall of Ignorance.

37. Chúng ta phải tiến hành cẩn thận. Không phải mọi công việc liên hệ với tầng cánh hoa thứ nhất đều được trải nghiệm trong Phòng Vô Minh.

38. The term “work” is to be noted as it signifies the focused effort for which the man is responsible. Unfoldment follows after laborious “work”.

38. Cần lưu ý thuật ngữ “công việc” vì nó biểu thị nỗ lực tập trung mà con người phải chịu trách nhiệm. Sự khai mở đến sau “công việc” nhọc nhằn.

39. The following excerpt must be linked up with the thought given in the preceding section of text:

39. Đoạn trích sau đây phải được liên kết với tư tưởng được nêu trong phần văn bản trước đó:

These three petals are organised and vitalised in the Hall of Ignorance, but remain unopened and only begin to unfold as the second circle is organised. (TCF 822)

Ba cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Vô Minh, nhưng vẫn chưa mở ra và chỉ bắt đầu khai mở khi vòng thứ hai được tổ chức. (TCF 822)

40. When one organizes and vitalizes the petals of the second tier, has he stepped out of the Hall of Ignorance? It would seem so. Yet, it cannot be questioned that for such Egos as Brahmic Lotuses (who certainly are at work within the Hall of Ignorance) the first knowledge petal is, indeed, unfolded! So then, is it true or not that Brahmic Lotuses (and other lower forms of human expression) are actually at work in the second tier (in which the factor of discrimination, requiring a rather developed mentality) is exercised? It would seem that they are not that advanced.

40. Khi một người tổ chức và tiếp sinh lực cho các cánh hoa của tầng thứ hai, y đã bước ra khỏi Phòng Vô Minh chưa? Có vẻ là như vậy. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng đối với những chân ngã như Hoa Sen Brahma (những chân ngã chắc chắn đang hoạt động trong Phòng Vô Minh), cánh hoa tri thức thứ nhất quả thực đã được khai mở! Vậy thì, có đúng hay không rằng Hoa Sen Brahma (và những hình thức biểu hiện nhân loại thấp hơn khác) thực sự đang hoạt động trong tầng thứ hai (trong đó yếu tố phân biện, đòi hỏi một trí tuệ khá phát triển, được vận dụng)? Có vẻ như họ chưa tiến xa đến thế.

41. Or is it possible to organize and vitalize the love petals of the egoic lotus without leaving the Hall of Ignorance? It would seem that it is not possible as work within the second tier does require a degree of advancement which is not found within those working within the Hall of Ignorance.

41. Hay có thể nào tổ chức và tiếp sinh lực cho các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã mà không rời khỏi Phòng Vô Minh? Có vẻ như điều đó không thể, vì công việc trong tầng thứ hai quả thật đòi hỏi một mức tiến bộ không thấy nơi những người đang hoạt động trong Phòng Vô Minh.

42. Maybe we cannot use broad and general strokes to represent the intricacies of this process of moving from the Hall of Ignorance into the Hall of Learning.

42. Có lẽ chúng ta không thể dùng những nét phác rộng và khái quát để biểu thị những điều phức tạp của tiến trình chuyển từ Phòng Vô Minh sang Phòng Hiểu Biết.

43. Probably each petal in the Hall of Learning has some correlation with the corresponding petal in the knowledge tier, in which case development within the petal in the knowledge tier would cause (at a certain point of sufficiency) a reflexive stirring of some kind in the corresponding petals in the Hall of Learning.

43. Có lẽ mỗi cánh hoa trong Phòng Hiểu Biết có một tương quan nào đó với cánh hoa tương ứng trong tầng tri thức, trong trường hợp ấy sự phát triển trong cánh hoa của tầng tri thức sẽ gây ra (ở một điểm đầy đủ nào đó) một sự khuấy động phản xạ thuộc loại nào đó trong các cánh hoa tương ứng ở Phòng Hiểu Biết.

The act of organising and preparing for unfoldment is the most important stage, and that with which man is the most concerned.

Hành vi tổ chức và chuẩn bị cho sự khai mở là giai đoạn quan trọng nhất, và là điều mà con người quan tâm nhiều nhất.

44. Here we have a sentence of the utmost importance. It indicates the process at which a man truly labors. The focussed desire and effort of the human being (the focused will later) is directed (consciously or unconsciously) at organising and preparing for the unfoldment of the petals. Work within the energy fields represented by the petals is largely reflected in petal organization, and one may presume, by a degree of vitalization—though other forces like the Solar Angel and the representatives of the second aspect of divinity are largely responsible for vitalization. As well, the Rod of Initiation is a tremendous source of vitalization.

44. Ở đây chúng ta có một câu cực kỳ quan trọng. Nó chỉ ra tiến trình mà tại đó con người thực sự lao động. Dục vọng và nỗ lực tập trung của con người (về sau là ý chí tập trung) được hướng đến (một cách hữu thức hay vô thức) việc tổ chức và chuẩn bị cho sự khai mở của các cánh hoa. Công việc trong các trường năng lượng được biểu thị bởi các cánh hoa phần lớn được phản ánh trong sự tổ chức cánh hoa, và có thể giả định là, ở một mức độ nào đó, bằng sự tiếp sinh lực—dù những mãnh lực khác như Thái dương Thiên Thần và các đại diện của phương diện thứ hai của thiên tính phần lớn chịu trách nhiệm về việc tiếp sinh lực. Ngoài ra, Thần Trượng Điểm đạo là một nguồn tiếp sinh lực vô cùng mạnh mẽ.

45. Labor precedes accomplishment. Labor is represented by organisation. Accomplishment by unfoldment. There is a difference between learning to play the piano and playing it like a virtuoso.

45. Lao động đi trước thành tựu. Lao động được biểu thị bằng sự tổ chức. Thành tựu bằng sự khai mở. Có một khác biệt giữa việc học chơi dương cầm và chơi nó như một bậc nghệ sĩ điêu luyện.

46. We all realize that there comes a point in the process of labor when something additional seems to take over—shall we call it a propulsive, integrative factor? Something additional seems to work for the man and he does not need to think about every step forward. He progresses as if borne along by the integrative interplay of the generated energies. There is an analogy here related to “entering the Stream”. At the second initiation a man is borne along and carried forward by the spiritual energy of the group and of the Ashram. He need not take every step forward through his own individual labors. He is assisted by the forward movement of the beneficent energy-current he has entered—the “Stream”.

46. Tất cả chúng ta đều nhận ra rằng có một điểm trong tiến trình lao động khi dường như có điều gì đó bổ sung tiếp quản—chúng ta có nên gọi đó là một yếu tố thúc đẩy, tích hợp chăng? Dường như có điều gì đó bổ sung làm việc thay cho con người và y không cần phải nghĩ về từng bước tiến lên. Y tiến bộ như thể được mang đi bởi sự tương tác tích hợp của các năng lượng đã được tạo ra. Ở đây có một tương đồng liên hệ với việc “đi vào Dòng”. Ở lần điểm đạo thứ hai, con người được mang đi và được đưa tiến lên bởi năng lượng tinh thần của nhóm và của ashram. Y không cần phải tự mình thực hiện từng bước tiến lên bằng những lao động cá nhân riêng lẻ. Y được trợ giúp bởi chuyển động tiến tới của dòng năng lượng từ thiện mà y đã đi vào—“Dòng”.

The act of petal opening is of briefer duration, and is produced by the pouring in of solar heat or fire, and thus bringing about a fresh access of energy.

Hành vi mở cánh hoa có thời lượng ngắn hơn, và được tạo ra bởi sự tuôn vào của nhiệt hay lửa thái dương, nhờ đó đem lại một sự tiếp cận năng lượng mới.

47. Again, a statement of vital importance. That which effects the opening of petals is minimally “solar heat or fire”, the source of which can be considered the Solar Angels or the forces of the second aspect of divinity. The Rod of Initiation also, at first, distributes solar fire.

47. Một lần nữa, đây là một phát biểu có tầm quan trọng sống còn. Điều tạo ra sự mở của các cánh hoa, ở mức tối thiểu, là “nhiệt hay lửa thái dương”, mà nguồn của nó có thể được xem là các Thái dương Thiên Thần hay các mãnh lực của phương diện thứ hai của thiên tính. Thần Trượng Điểm đạo cũng, lúc đầu, phân phối Lửa Thái dương.

48. From what is here said, it would appear that the man, individually, is not responsible of the actual opening of the petal. He does not force them open, as it were (though his “strenuous effort” evidence later when in the sacrifice tier surely assists in the process). He simply properly prepares the field towards which an access of solar energy is attracted. The solar heat or fire effects the opening, just as flowers in bud or with folded petals open to the rays of the sun.

48. Từ những gì được nói ở đây, có vẻ như con người, xét riêng từng cá nhân, không chịu trách nhiệm về sự mở thực sự của cánh hoa. Y không cưỡng ép chúng mở ra, có thể nói như vậy (dù “nỗ lực mãnh liệt” của y được chứng tỏ về sau khi ở trong tầng hi sinh chắc chắn có hỗ trợ tiến trình). Y chỉ đơn giản chuẩn bị đúng đắn trường mà về đó một sự tiếp cận của năng lượng thái dương được thu hút. Nhiệt hay lửa thái dương tạo ra sự mở, cũng như những bông hoa đang nụ hay có cánh khép lại mở ra trước tia nắng mặt trời.

49. It is significant that “petal opening” is of briefer opening than petal organization (and, presumably, than petal vitalization). This fact gives us some sense of how long it takes to prepare for the unfoldment of petals and sheds light upon the whole process of egoic lotus unfoldment from start to completion. One day we will be capable of ascertaining the timing of the various stages of petal and tier unfoldment and this will help us gauge with accuracy the duration of the various evolutionary stages of the human being. Such knowledge will also help us understand the stage at which a person finds himself and how long he may expect to continue within the process of that stage.

49. Điều đáng chú ý là “sự mở cánh hoa” có thời lượng ngắn hơn sự tổ chức cánh hoa (và có lẽ cũng ngắn hơn sự tiếp sinh lực cánh hoa). Sự kiện này cho chúng ta một cảm nhận nào đó về việc cần bao lâu để chuẩn bị cho sự khai mở các cánh hoa và soi sáng toàn bộ tiến trình khai mở hoa sen chân ngã từ đầu đến cuối. Một ngày nào đó chúng ta sẽ có khả năng xác định thời điểm của các giai đoạn khác nhau trong sự khai mở cánh hoa và tầng cánh hoa, và điều này sẽ giúp chúng ta đo lường chính xác thời lượng của các giai đoạn tiến hoá khác nhau của con người. Tri thức ấy cũng sẽ giúp chúng ta hiểu giai đoạn mà một người đang ở trong đó và y có thể mong đợi còn tiếp tục trong tiến trình của giai đoạn ấy bao lâu nữa.

50. All this goes to the answering of important questions:

50. Tất cả điều này góp phần trả lời những câu hỏi quan trọng:

a. Who am I?

a. Tôi là ai?

b. Where am I in my process of evolutionary unfoldment?

b. Tôi đang ở đâu trong tiến trình khai mở tiến hoá của mình?

c. What is my next step ahead?

c. Bước kế tiếp của tôi là gì?

This is produced in our earth scheme through the co-operation of the Mahachohan, of the Chohan of a man's egoic group, and the particular Ego concerned.

Điều này được tạo ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta qua sự hợp tác của Đức Mahachohan, của Chohan của nhóm chân ngã của một người, và của chính chân ngã liên hệ.

51. Here we learn of three forces (other than the force of the Rod of Initiation) which are responsible for petal unfoldment.

51. Ở đây chúng ta biết được ba mãnh lực (ngoài mãnh lực của Thần Trượng Điểm đạo) chịu trách nhiệm về sự khai mở cánh hoa.

52. These are:

52. Đó là:

a. The Mahachohan

a. Đức Mahachohan

b. The Chohan of a man’s egoic group.

b. Chohan của nhóm chân ngã của một người.

c. The particular Ego concerned (thus implicating the Solar Angel or Solar Pitris which constitute a man’s Ego)

c. Chính chân ngã liên hệ (do đó bao hàm Thái dương Thiên Thần hay các thái dương tổ phụ cấu thành chân ngã của một người)

53. We note that these are the Agencies responsible for petal unfoldment “in our earth scheme” and not on other planets, though there may be parallels.

53. Chúng ta lưu ý rằng đây là những Tác Nhân chịu trách nhiệm về sự khai mở cánh hoa “trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta” chứ không phải trên các hành tinh khác, dù có thể có những tương đồng.

54. To them we must add the forces generally expressing through the second aspect of divinity.

54. Vào đó chúng ta còn phải thêm các mãnh lực nói chung biểu hiện qua phương diện thứ hai của thiên tính.

55. The Mahachohan wields the third aspect of divinity, an energy related to the devic substance of which the petals are constructed. The Solar Angels are substantially related to the egoic lotus, but their substance underlies the substance of the elemental essence and devas of the higher mental plane.

55. Đức Mahachohan vận dụng phương diện thứ ba của thiên tính, một năng lượng liên hệ với chất liệu thiên thần mà từ đó các cánh hoa được cấu tạo. Các Thái dương Thiên Thần có liên hệ về mặt chất liệu với hoa sen chân ngã, nhưng chất liệu của các Ngài nằm bên dưới chất liệu của tinh chất hành khí và các thiên thần của cõi thượng trí.

56. The Chohan of a man’s egoic group naturally wields the energy of the second aspect of divinity, for a Chohan is an exponent of monadic energy from the second subplane—the systemic monadic plane.

56. Chohan của nhóm chân ngã của một người dĩ nhiên vận dụng năng lượng của phương diện thứ hai của thiên tính, vì một Chohan là một vị biểu hiện năng lượng chân thần từ cõi phụ thứ hai—cõi chân thần của hệ thống.

57. The Ego naturally wields solar fire.

57. Chân ngã dĩ nhiên vận dụng Lửa Thái dương.

58. That which we must understand is that it is largely the force of the second aspect of divinity which induces petal unfoldment but that the unfoldment of the earlier petals is also much aided by the force of the Mahachohan.

58. Điều chúng ta phải hiểu là phần lớn chính mãnh lực của phương diện thứ hai của thiên tính gây ra sự khai mở cánh hoa, nhưng sự khai mở của các cánh hoa đầu tiên cũng được trợ giúp rất nhiều bởi mãnh lực của Đức Mahachohan.

The following tabulation may be found helpful:

Bảng sau đây có thể thấy là hữu ích:

59. This tabulation must appear as something of a generalization. We find that there are many references to be compared if we are to understand the dynamics of organization, vitalization and unfoldment (to name the three most prominent process in the gradual opening of the egoic lotus).

59. Bảng này hẳn phải được xem như một sự khái quát hóa nào đó. Chúng ta thấy rằng có nhiều dẫn chiếu cần được so sánh nếu muốn hiểu động lực của sự tổ chức, tiếp sinh lực và khai mở (để nêu ba tiến trình nổi bật nhất trong sự mở dần của hoa sen chân ngã).

I. Knowledge Petals. First circle.

I. Các cánh hoa tri thức. Vòng thứ nhất.

a. Organised in the Hall of Ignorance.

a. Được tổ chức trong Phòng Vô Minh.

60. As previously stated, during the passage through the Hall of Ignorance, it appears that some types of lotuses have at least one petal open and, some of them, another opening or opened.

60. Như đã nói trước đây, trong khi đi qua Phòng Vô Minh, có vẻ như một số loại hoa sen có ít nhất một cánh hoa mở ra và một số trong đó có thêm một cánh khác đang mở hoặc đã mở.

61. So we might presume that during the experiences of the Hall of Ignorance, at least some degree of petal unfoldment is to be expected.

61. Vì vậy chúng ta có thể giả định rằng trong các kinh nghiệm của Phòng Vô Minh, ít nhất cũng phải có một mức độ khai mở cánh hoa nào đó được mong đợi.

62. We might ask, are ‘Atlantean Lotuses’ with two petals opening to be considered as laboring in the Hall of Ignorance. It would seem so.

62. Chúng ta có thể hỏi, liệu ‘Hoa Sen Atlantis’ với hai cánh hoa đang mở có được xem là đang lao động trong Phòng Vô Minh hay không. Có vẻ là như vậy.

63. So much depends on how we define the term “ignorance”. Probably the best definition in this context is ‘ignorance of the soul”—yet even very primitive Lemurian man was, we are told The Secret Doctrine, aware of the presence of his indwelling ‘God’ or Solar Angel.

63. Rất nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa thuật ngữ “vô minh”. Có lẽ định nghĩa tốt nhất trong bối cảnh này là ‘vô minh về linh hồn’—thế nhưng ngay cả con người Lemuria rất nguyên thủy cũng, như chúng ta được cho biết trong Giáo Lý Bí Nhiệm, đã nhận biết sự hiện diện của ‘Thượng đế’ nội tại hay Thái dương Thiên Thần của mình.

b. Guided by the force and energy of the Mahachohan.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Mahachohan.

64. This is reasonable. Both the third tier of petals and the Mahachohan are related to the third ray.

64. Điều này là hợp lý. Cả tầng thứ ba của các cánh hoa lẫn Đức Mahachohan đều liên hệ với cung thứ ba.

c. The third group of solar Pitris affected.

c. Nhóm thứ ba của các thái dương tổ phụ bị tác động.

65. It is in this section of text that DK seems to differentiate between “solar Pitris”, “solar Lords” and “solar Angels”.

65. Chính trong phần này của bản văn mà Chân sư DK dường như phân biệt giữa “thái dương tổ phụ”, “nhật tinh quân” và “Thái dương Thiên Thần”.

66. We must determine if there is a hint underlying this apparent differentiation. It may be, only apparent or something of a deep nature concerning distinctions to be made within the rank of the Fifth Creative Hierarchy may be indicated.

66. Chúng ta phải xác định xem có một gợi ý nào nằm bên dưới sự phân biệt bề ngoài này hay không. Có thể đó chỉ là bề ngoài, hoặc cũng có thể một điều gì đó có bản chất sâu xa liên quan đến những phân biệt cần được thực hiện trong hàng ngũ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm đang được chỉ ra.

67. If the outer tier of petals concern the third group of Solar Pitris, then it would seem that there is a second group and a first group, presumably related to the second tier and the first tier. If this were the case, then the term “solar Pitris” would apply to all those angelic forces which informed the petals and tiers of the egoic lotus.

67. Nếu vòng ngoài của các cánh hoa liên quan đến nhóm thứ ba của các thái dương tổ phụ, thì dường như có một nhóm thứ hai và một nhóm thứ nhất, có lẽ liên hệ lần lượt với tầng thứ hai và tầng thứ nhất. Nếu đúng như vậy, thì thuật ngữ “thái dương tổ phụ” sẽ áp dụng cho tất cả những mãnh lực thiên thần đã thấm nhuần các cánh hoa và các tầng của Hoa Sen Chân Ngã.

II. Love Petals. Second circle.

II. Các cánh hoa bác ái. Vòng thứ hai.

a. Organised in the Hall of Learning.

a. Được tổ chức trong Phòng Hiểu Biết.

68. If this is the case, then the petals of the knowledge tier are unfolding as the second circle of petals are being organized.

68. Nếu đúng như vậy, thì các cánh hoa của tầng tri thức đang khai mở trong khi vòng cánh hoa thứ hai đang được tổ chức.

69. It is clear that the man is organizing as he is learning.

69. Rõ ràng là con người đang tổ chức khi y đang học hỏi.

70. He is also supported by the capacity to perform those skills which were being learned during his passage through the Hall of Ignorance.

70. Y cũng được nâng đỡ bởi khả năng thực hiện những kỹ năng đã được học trong khi đi qua Phòng Vô Minh.

b. Guided by the force of the Bodhisattva.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực của Đức Bồ Tát.

71. This tier of petals consists, of course, of love petals and so its processes are guided by the energy of love—the energy of the Bodhisattva.

71. Tầng cánh hoa này dĩ nhiên gồm các cánh hoa bác ái và vì thế các tiến trình của nó được hướng dẫn bởi năng lượng bác ái—năng lượng của Đức Bồ Tát.

c. The second group of solar Lords affected.

c. Nhóm thứ hai của các nhật tinh quân bị tác động.

72. It appears that “solar Lords” are being differentiated from “solar Pitris”, and yet the same reasoning applies as above. If it is the second group of “solar Lords” who are affected, then, presumably, there is a first and third group of such beings—assigned, it would seem, to the first and third tier respectively.

72. Dường như “nhật tinh quân” đang được phân biệt với “thái dương tổ phụ”, tuy nhiên cùng một lối lý luận như trên vẫn áp dụng được. Nếu đó là nhóm thứ hai của các “nhật tinh quân” bị tác động, thì hẳn là có một nhóm thứ nhất và thứ ba của các hữu thể như thế—dường như được phân cho tầng thứ nhất và tầng thứ ba tương ứng.

73. We may be forced to conclude that “solar Pitris”, “solar Lords” and “solar Angels” are all equivalent terms. Yet the mind cannot help but think that the Fifth Creative Hierarchy is a hierarchy after all, and must have within it beings of various ranks. Do these names indicate such ranks—that is the question.

73. Chúng ta có thể buộc phải kết luận rằng “thái dương tổ phụ”, “nhật tinh quân” và “Thái dương Thiên Thần” đều là những thuật ngữ tương đương. Tuy nhiên, trí tuệ không thể không nghĩ rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm rốt cuộc vẫn là một huyền giai và hẳn phải có trong đó những hữu thể thuộc nhiều cấp bậc khác nhau. Liệu những danh xưng này có chỉ ra các cấp bậc ấy chăng—đó là câu hỏi.

III. Will or Sacrifice Petals. Third circle.

III. Các cánh hoa ý chí hay hi sinh. Vòng thứ ba.

a. Organised in the Hall of Wisdom.

a. Được tổ chức trong Phòng Minh triết.

74. This seems to be saying that when one works within the last tier, one is working within the Hall of Wisdom. And yet there is indication that work within the Hall of Wisdom contains some second tier unfoldment processes.

74. Điều này dường như muốn nói rằng khi người ta hoạt động trong tầng cuối cùng, thì người ấy đang hoạt động trong Phòng Minh triết. Tuy nhiên, vẫn có chỉ dấu cho thấy công việc trong Phòng Minh triết bao hàm một số tiến trình khai mở của tầng thứ hai.

The fifth or spiritual kingdom is entered when the units of the fourth kingdom have succeeded in vitalizing the fifth spirilla in all the atoms of the threefold lower man; [presumably the fifth spirilla of both the physical permanent atom and the astral permanent atom. The mental unit has no fifth spirilla] when they [Page 698] have unfolded three of the egoic petals and are in process of unfolding the fourth and fifth and when they are becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man.(TCF 697-698)

Giới thứ năm hay giới tinh thần được bước vào khi các đơn vị của giới thứ tư đã thành công trong việc tiếp sinh lực cho loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của phàm ngã tam phân; [có lẽ là loa tuyến thứ năm của cả nguyên tử trường tồn hồng trần lẫn nguyên tử trường tồn cảm dục. Đơn vị hạ trí không có loa tuyến thứ năm] khi họ [Page 698] đã khai mở ba cánh hoa chân ngã và đang trong tiến trình khai mở cánh hoa thứ tư và thứ năm, và khi họ đang trở nên hữu thức về mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân.(TCF 697-698)

75. It would seem that to enter the fifth or spiritual kingdom is to enter the Hall of Wisdom (the terms are usually equivalent), and yet we see man entering the fifth kingdom as he is unfolding the fourth and fifth petals. As the fourth and fifth petals are unfolding, can we say that the third tier or parts of the third tier are being organized? This is possible.

75. Dường như bước vào giới thứ năm hay giới tinh thần là bước vào Phòng Minh triết (các thuật ngữ này thường tương đương), tuy nhiên chúng ta thấy con người bước vào giới thứ năm khi y đang khai mở cánh hoa thứ tư và thứ năm. Khi cánh hoa thứ tư và thứ năm đang khai mở, liệu chúng ta có thể nói rằng tầng thứ ba hay những phần của tầng thứ ba đang được tổ chức không? Điều này là có thể.

76. Of course, again we must be careful. Is becoming conscious of the pranic force of the Heavenly Man the same as entering the fifth or spiritual kingdom? We can be sure that the spiritual kingdom is entered by the time the fifth petal is completely unfolded, for this unfoldment is equivalent to having taken the first initiation. But can it justifiably be said that that fifth kingdom is being entered as the fourth and fifth petal are simply unfolding?

76. Dĩ nhiên, một lần nữa chúng ta phải cẩn trọng. Việc trở nên hữu thức về mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân có đồng nghĩa với việc bước vào giới thứ năm hay giới tinh thần không? Chúng ta có thể chắc chắn rằng giới tinh thần được bước vào vào lúc cánh hoa thứ năm được khai mở hoàn toàn, vì sự khai mở này tương đương với việc đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Nhưng liệu có thể nói một cách chính đáng rằng giới thứ năm ấy đang được bước vào khi cánh hoa thứ tư và thứ năm chỉ mới đang khai mở hay không?

77. Yet, the pranic forces of the Heavenly Man are (since the Heavenly Man has His chakras on the cosmic ethers) to be considered as cosmic etheric, and thus related minimally to buddhi (the principle found expressing through the lowest of the cosmic ethers) with its second aspect and its definite relation to the Solar Angels.

77. Tuy nhiên, các mãnh lực prana của Đấng Thiên Nhân là (vì Đấng Thiên Nhân có các luân xa của Ngài trên các dĩ thái vũ trụ) cần được xem là dĩ thái vũ trụ, và do đó liên hệ tối thiểu với Bồ đề (nguyên khí được biểu lộ qua cõi thấp nhất của các dĩ thái vũ trụ) với phương diện thứ hai của nó và mối liên hệ xác định của nó với các Thái dương Thiên Thần.

78. Let us consider the following reference:

78. Chúng ta hãy xem xét đoạn trích dẫn sau:

In this fashion the work of the disciple is carried forward, and his testing and training carried out until the two circles of petals are unfolded, and the third is organised. Thus he is brought, through right direction of energy and wise manipulation of force currents, to the Portal of Initiation, and graduates out of the Hall of Learning76 into the great Hall of Wisdom—that Hall wherein he gradually becomes "aware" of forces, and powers, latent in his own Ego and egoic group. (TCF 867)

Theo cách này công việc của đệ tử được tiếp tục, và sự thử thách cùng huấn luyện của y được thực hiện cho đến khi hai vòng cánh hoa được khai mở, và vòng thứ ba được tổ chức. Như vậy y được đưa, qua sự định hướng đúng đắn của năng lượng và sự vận dụng khôn ngoan các dòng mãnh lực, đến Cổng Điểm Đạo, và tốt nghiệp khỏi Phòng Hiểu Biết76 để đi vào Phòng Minh triết vĩ đại—Phòng mà trong đó y dần dần trở nên "nhận biết" các mãnh lực và quyền năng tiềm tàng trong chính chân ngã và nhóm chân ngã của mình. (TCF 867)

79. If we consider this carefully, we may judge that when the two circles of petals are unfolded or well-nigh unfolded, then the third tier is completely organized.

79. Nếu xem xét điều này cẩn thận, chúng ta có thể phán đoán rằng khi hai vòng cánh hoa được khai mở hoặc gần như được khai mở, thì tầng thứ ba được tổ chức hoàn toàn.

80. The “Portal of Initiation”, however, is the portal of the first initiation, and it is at this point that, according to the reference above, two circles of petals are unfolded and the third organized.

80. Tuy nhiên, “Cổng Điểm Đạo” là cổng của lần điểm đạo thứ nhất, và chính tại điểm này, theo đoạn trích dẫn trên, hai vòng cánh hoa được khai mở và vòng thứ ba được tổ chức.

81. Yet, from another perspective, the taking of the first initiation is the same as entering the fifth kingdom of nature the Kingdom of Souls.

81. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, việc trải qua lần điểm đạo thứ nhất cũng chính là bước vào giới thứ năm của thiên nhiên, Thiên Giới của các linh hồn.

82. At the first initiation, the seventh petal must be touched by the Rod of Initiation, for the sacrifice petals are unfolded to a great extent through the application of the Rod. Thus, if initiation begins, the Rod must be applied. Even the first initiation, with the initial application of the Bodhisattva’s Rod, has a definite relation to the sacrifice tier and thus, minimally, to the seventh petal.

82. Ở lần điểm đạo thứ nhất, cánh hoa thứ bảy hẳn phải được chạm đến bởi Thần Trượng Điểm đạo, vì các cánh hoa hi sinh được khai mở ở mức độ lớn qua việc áp dụng Thần Trượng. Do đó, nếu điểm đạo bắt đầu, Thần Trượng hẳn phải được áp dụng. Ngay cả lần điểm đạo thứ nhất, với sự áp dụng ban đầu Thần Trượng của Đức Bồ Tát, cũng có mối liên hệ xác định với tầng hi sinh và vì thế, ở mức tối thiểu, với cánh hoa thứ bảy.

83. This would mean that as the first initiation is about to be taken, the seventh petal is probably unfolded to at least some degree (as the initiate is initiate before he is initiated) and so it would seem that more than the organization of the sacrifice tier is indicated by the time that two circles of petals are unfolded.

83. Điều này có nghĩa là khi lần điểm đạo thứ nhất sắp được trải qua, cánh hoa thứ bảy có lẽ đã được khai mở ít nhất ở một mức độ nào đó (vì điểm đạo đồ là điểm đạo đồ trước khi y được điểm đạo) và do đó dường như vào lúc hai vòng cánh hoa được khai mở thì điều được chỉ ra là nhiều hơn việc chỉ tổ chức tầng hi sinh.

84. Perhaps complete organization of the sacrifice tier does not preclude the unfoldment of some of the sacrifice petals.

84. Có lẽ việc tổ chức hoàn toàn tầng hi sinh không loại trừ sự khai mở của một số cánh hoa hi sinh.

85. In fact, it is reasonable to hypothesize that the second initiation is taken as the sixth petal is completely unfolded, in which case, the seventh petal (following the impact of the Rod a significant number of lives earlier) would be quite unfolded.

85. Thật vậy, hợp lý khi giả định rằng lần điểm đạo thứ hai được trải qua khi cánh hoa thứ sáu được khai mở hoàn toàn, trong trường hợp đó, cánh hoa thứ bảy (sau tác động của Thần Trượng từ một số lượng đáng kể kiếp sống trước đó) sẽ được khai mở khá nhiều.

86. Thus, again, with anything resembling the complete unfoldment of the second tier, far more than organization only is indicated with respect to the sacrifice tier.

86. Vì vậy, một lần nữa, với bất cứ điều gì gần giống như sự khai mở hoàn toàn của tầng thứ hai, điều được chỉ ra đối với tầng hi sinh là nhiều hơn rất nhiều so với việc chỉ tổ chức.

87. We can see how intricate the matter seems to be become. Nothing will substitute for direct accurate sight of the process of unfoldment. Until we have such sight, we must speculate as intelligently and imaginatively as we can on inference.

87. Chúng ta có thể thấy vấn đề dường như trở nên phức tạp đến mức nào. Không gì có thể thay thế cho linh thị trực tiếp và chính xác về tiến trình khai mở. Cho đến khi có được linh thị ấy, chúng ta phải suy đoán một cách thông minh và giàu sự tưởng tượng nhất có thể dựa trên suy luận.

b. Guided by the force and energy of the Manu.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Manu.

88. The Manu wields the first aspect of divinity which is correlated to the sacrifice petals.

88. Đức Manu vận dụng phương diện thứ nhất của thiên tính, phương diện tương ứng với các cánh hoa hi sinh.

c. The first group of solar Angels affected.

c. Nhóm thứ nhất của các Thái dương Thiên Thần bị tác động.

89. We are presented with the same issue and questions. Are there a second and third group of “solar Angels” and, if so, how are they focussed within the egoic lotus?

89. Chúng ta lại được đặt trước cùng một vấn đề và những câu hỏi ấy. Có chăng một nhóm thứ hai và thứ ba của các “Thái dương Thiên Thần”, và nếu có, chúng được tập trung như thế nào trong Hoa Sen Chân Ngã?

At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals),

Ở giai đoạn mà chúng ta đang xem xét (giai đoạn tổ chức và khai mở tầng cánh hoa thứ nhất),

90. I.e., life within in the Hall of Ignorance and transition out of the Hall of Ignorance—for we find the Tibetan differentiating concerning the results of “organisation” and “unfoldment” when speaking of the first tier.

90. Tức là đời sống trong Phòng Vô Minh và sự chuyển tiếp ra khỏi Phòng Vô Minh—vì chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng có sự phân biệt liên quan đến kết quả của “sự tổ chức” và “sự khai mở” khi nói về tầng thứ nhất.

the egoic influence felt at the beginning is but small,

ảnh hưởng chân ngã được cảm nhận lúc ban đầu chỉ là rất nhỏ,

91. Yet the influence is felt, or there would not be petal unfoldment. Yet, the Ego does not, thus far, take an “active interest” in the affairs of the personality it is supervising. This does not happen until the fifth petal is beginning to open. Obviously, this opening occurs before the first initiation, yet, withal, at the antechamber of the Hall of Wisdom.

91. Tuy nhiên, ảnh hưởng ấy được cảm nhận, nếu không thì đã không có sự khai mở cánh hoa. Tuy nhiên, cho đến lúc này, chân ngã chưa có “sự quan tâm tích cực” đến các công việc của phàm ngã mà nó đang giám sát. Điều này không xảy ra cho đến khi cánh hoa thứ năm bắt đầu mở ra. Rõ ràng sự mở ra này xảy ra trước lần điểm đạo thứ nhất, nhưng dù sao cũng ở tiền sảnh của Phòng Minh triết.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. (TCF 543)

Chân ngã không có sự quan tâm tích cực đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong dãy thứ hai bắt đầu mở ra. (TCF 543)

but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the [Page 870] ego during the activities of the personal life,

nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ hoạt động và sống động nhờ năng lượng được tích lũy và chứa đựng trong [Page 870] chân ngã trong các hoạt động của đời sống phàm ngã,

92. Here we are told how it is that petals become “active and alive”. It is through the energy stored up in the Ego as a result of the activities of the personal life. At least “personal life” is the basis of such activation though, no doubt, the supervising Solar Angel/Solar Angels are involved.

92. Ở đây chúng ta được cho biết bằng cách nào các cánh hoa trở nên “hoạt động và sống động”. Đó là nhờ năng lượng được tích trữ trong chân ngã như là kết quả của các hoạt động của đời sống phàm ngã. Ít nhất thì “đời sống phàm ngã” là nền tảng của sự hoạt hóa như thế, dù chắc chắn Thái dương Thiên Thần/các Thái dương Thiên Thần giám sát cũng có liên quan.

a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations.

khi ấy một hình thức điểm đạo diễn ra, là sự phản chiếu (trên một cõi thấp hơn) của các cuộc điểm đạo manas vĩ đại.

93. We are learning of a type of initiation which occurs when the three knowledge petals become “sufficiently active and alive”. This indicates a stage of unfoldment for all of them, though whether we can call it complete or perfected unfoldment is still to be questioned.

93. Chúng ta đang tìm hiểu về một loại điểm đạo xảy ra khi ba cánh hoa tri thức trở nên “đủ hoạt động và sống động”. Điều này chỉ ra một giai đoạn khai mở của tất cả chúng, dù liệu chúng ta có thể gọi đó là sự khai mở hoàn toàn hay viên mãn hay không vẫn còn cần được đặt câu hỏi.

94. With regard to the “great manasic initiations”, all the initiations from the first to the fifth can be called “great manasic initiations”. We might question whether the sixth initiation can be called “manasic”, for it occurs, from one perspective, ‘above’ the level of atma which is the highest manasic field upon the cosmic physical plane.

94. Liên quan đến “các cuộc điểm đạo manas vĩ đại”, tất cả các cuộc điểm đạo từ lần thứ nhất đến lần thứ năm đều có thể được gọi là “các cuộc điểm đạo manas vĩ đại”. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu lần điểm đạo thứ sáu có thể được gọi là “manas” hay không, vì từ một góc nhìn nào đó, nó xảy ra ‘bên trên’ cấp độ atma, vốn là trường manas cao nhất trên cõi hồng trần vũ trụ.

The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold.

Năng lượng trong vòng cánh hoa ngoài làm cho nó bung tách khỏi vòng kế tiếp, và khai mở.

95. Shall we pay attention to the sequence? Is it necessary that a tier “spring apart” first if all the petals within it are to become completely unfolded.

95. Chúng ta có nên chú ý đến trình tự này không? Có cần thiết rằng một tầng trước hết phải “bung tách” nếu tất cả các cánh hoa trong đó muốn được khai mở hoàn toàn không?

96. Perhaps any degree of unfoldment is incomplete unless there has been this springing apart.

96. Có lẽ bất kỳ mức độ khai mở nào cũng chưa hoàn chỉnh nếu chưa có sự bung tách này.

This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached.

Năng lượng tam phân này trở nên tương tác và do đó một giai đoạn rất xác định được đạt đến.

97. Not only are the three knowledge petals unfolded, but, with the knowledge tier springing apart, the three knowledge petals become “interactive”. This represents a type of synthesis and represents a further stage to mere unfoldment. Three become as one. We have a trinitization of the knowledge tier.

97. Không chỉ ba cánh hoa tri thức được khai mở, mà cùng với việc tầng tri thức bung tách, ba cánh hoa tri thức trở nên “tương tác”. Điều này biểu thị một loại tổng hợp và biểu thị một giai đoạn vượt xa sự khai mở đơn thuần. Ba trở thành một. Chúng ta có một sự trinitization của tầng tri thức.

This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter.

Chuỗi điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần do giai đoạn còn tương đối chưa định hình của các thể, và sự không đáp ứng của vật chất não bộ.

98. We have a series of initiations, so we shall surely look for more than one. May we presume that when the second tier of petals springs apart and becomes interactive than another one in the series of initiations occurs? We might think so, but discover later that an exact analogy does not hold good.

98. Chúng ta có một chuỗi điểm đạo, vì vậy chắc chắn chúng ta sẽ tìm kiếm nhiều hơn một cuộc. Liệu chúng ta có thể giả định rằng khi tầng cánh hoa thứ hai bung tách và trở nên tương tác thì một cuộc khác trong chuỗi điểm đạo này xảy ra không? Chúng ta có thể nghĩ như vậy, nhưng rồi sau đó khám phá rằng một phép tương đồng chính xác không đứng vững.

99. Does the series consist of only two initiations? It would be a small series, but so it seems.

99. Chuỗi này chỉ gồm hai cuộc điểm đạo thôi sao? Đó sẽ là một chuỗi nhỏ, nhưng dường như là như vậy.

100. We may reason that, should the second tier spring apart, it would mean, that both the second and third petals of the love tier would be completely unfolded, and this would certainly indicate the first initiation and most probably the second.

100. Chúng ta có thể lý luận rằng, nếu tầng thứ hai bung tách, điều đó có nghĩa là cả cánh hoa thứ hai lẫn thứ ba của tầng bác ái đều sẽ được khai mở hoàn toàn, và điều này chắc chắn sẽ chỉ ra lần điểm đạo thứ nhất và rất có thể là lần điểm đạo thứ hai.

101. The following shows that when the fifth petal is opened, the first initiation is taken.

101. Điều sau đây cho thấy rằng khi cánh hoa thứ năm được mở ra, lần điểm đạo thứ nhất được trải qua.

On the buddhic plane, when flashing forth at initiation,

Trên cõi Bồ đề, khi lóe sáng ra lúc điểm đạo,

102. And by this, the first initiation is meant…

102. Và bởi điều này, lần điểm đạo thứ nhất được hàm ý…

this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan,

con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của chân ngã trên năm cung dưới quyền Đức Mahachohan,

103. For at initiation, the ray of the Bodhisattva comes strongly into influence.

103. Vì vào lúc điểm đạo, cung của Đức Bồ Tát đi vào ảnh hưởng một cách mạnh mẽ.

and the assimilation of all that is to be learned upon them, and the attainment—not only of full self-consciousness,

và sự đồng hóa tất cả những gì phải được học trên các cung ấy, và sự đạt được—không chỉ ngã thức trọn vẹn,

104. This self-consciousness is strictly individual, and relates to the cycle of lives spent with the Ego focussed on the third subplane of the higher mental plane.

104. Ngã thức này hoàn toàn có tính cá nhân biệt lập, và liên hệ đến chu kỳ các kiếp sống được trải qua khi chân ngã tập trung trên cõi phụ thứ ba của Cõi thượng trí.

but also of the consciousness of the group wherein a man is found.

mà còn cả tâm thức của nhóm mà một người thuộc vào.

105. Consciousness of one’s group (at least increasing consciousness thereof) is the gift of the first initiation.

105. Tâm thức về nhóm của mình (ít nhất là tâm thức ngày càng tăng về điều đó) là món quà của lần điểm đạo thứ nhất.

It infers the full unfoldment of five of the egoic petals, leaving four to open before the final initiation. (TCF 696)

Điều này hàm ý sự khai mở trọn vẹn của năm cánh hoa chân ngã, còn lại bốn cánh sẽ mở ra trước lần điểm đạo cuối cùng. (TCF 696)