← Commentary_S7_733_747

TCF 872-876 Part II

Trích nội dung chương

106. This is a clear indication that five of the egoic petals are fully opened at the first initiation. 106. Đây là một chỉ dẫn rõ ràng rằng năm cánh hoa chân ngã được mở hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ nhất.


106. This is a clear indication that five of the egoic petals are fully opened at the first initiation.

106. Đây là một chỉ dẫn rõ ràng rằng năm cánh hoa chân ngã được mở hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ nhất.

107. Naturally, this implies that six of the egoic petals are fully unfolded by the time the second initiation is taken, and this is usually (or almost invariably) many lives later.

107. Tự nhiên, điều này hàm ý rằng sáu cánh hoa chân ngã được khai mở hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ hai được trải qua, và điều này thường là (hoặc gần như luôn luôn là) nhiều kiếp sống về sau.

108. We see how carefully we must proceed as we attempt to untangle the sequence of petal unfoldment. There are apparently ambiguous or even contradictory references, and none of them can be dismissed. Usually, however, an interpretive key can be found to reconcile apparently contradictory references.

108. Chúng ta thấy mình phải tiến hành cẩn trọng đến mức nào khi cố gắng tháo gỡ trình tự khai mở các cánh hoa. Rõ ràng có những đoạn tham chiếu mơ hồ hoặc thậm chí mâu thuẫn, và không đoạn nào trong số đó có thể bị gạt bỏ. Tuy nhiên, thông thường vẫn có thể tìm thấy một chìa khóa diễn giải để hòa giải những đoạn tham chiếu có vẻ mâu thuẫn.

109. Returning to our theme, we find that the pre-manasic initiations are not registered in the brain of the man taking them. The bodies are relatively inchoate and so do not act as reliable transmitters of Egoic force and impression, and the substance of the brain is still unresponsive.

109. Trở lại chủ đề của chúng ta, chúng ta thấy rằng các cuộc điểm đạo tiền-manas không được ghi nhận trong bộ não của người trải qua chúng. Các thể còn tương đối chưa định hình và vì thế không hoạt động như những bộ truyền dẫn đáng tin cậy của mãnh lực và ấn tượng chân ngã, và chất liệu của não bộ vẫn chưa đáp ứng.

Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth.

Tuy nhiên, dầu sao chúng vẫn là những cuộc điểm đạo có tính chất xác định dù kém quantrọng hơn, và chúng chủ yếu bao hàm sự biểu lộ (trong đời sống phàm ngã của con người) của một sự nhận biết thông minh về các mối liên hệ nhóm của y trên Trái Đất.

110. The type of recognition suggests an interplay between the third and second aspects of divinity.

110. Loại nhận biết này gợi ý một sự tương tác giữa phương diện thứ ba và thứ hai của thiên tính.

111. If a sense of group relations is emerging, we can infer that there is unfoldment occurring in the fifth petal, as the energy of the Solar Angel will be pouring into that petal stimulating the second aspect (as one prepares for the first initiation) and is not actively interested until the fifth petal is in process of unfoldment.

111. Nếu một cảm thức về các mối liên hệ nhóm đang xuất hiện, chúng ta có thể suy ra rằng đang có sự khai mở xảy ra trong cánh hoa thứ năm, vì năng lượng của Thái dương Thiên Thần sẽ đang tuôn vào cánh hoa ấy, kích thích phương diện thứ hai (khi người ta chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất) và không có sự quan tâm tích cực cho đến khi cánh hoa thứ năm đang trong tiến trình khai mở.

112. When this type of lesser initiation occurs, how far is the human being from taking the first initiation? Perhaps not very far considering the long history of petal organization and unfoldment involving the knowledge petals.

112. Khi loại điểm đạo nhỏ này xảy ra, con người còn cách lần điểm đạo thứ nhất bao xa? Có lẽ không quá xa nếu xét đến lịch sử dài của sự tổ chức và khai mở cánh hoa liên quan đến các cánh hoa tri thức.

113. Yet the taking of the first minor initiation, does not signify that the taking of the first of the great manasic initiations is imminent.

113. Tuy nhiên, việc trải qua lần điểm đạo nhỏ thứ nhất không có nghĩa rằng việc trải qua cuộc đầu tiên trong các cuộc điểm đạo manas vĩ đại là sắp xảy ra.

This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay.

Sự nhận biết này thường có tính ích kỷ, chẳng hạn như điều mà người hoạt động công đoàn biểu lộ, nhưng nó là dấu hiệu của sự tương tác nhóm.

114. VSK states: “This illustrates the value and limitation of family, tribal, group and ‘economic or social movement’ groups (such as this union worker example), It is selfish stage, but it is a rightful stage (like all stages, one to be entered, experienced, and left behind).”

114. VSK nói: “Điều này minh họa giá trị và giới hạn của các nhóm gia đình, bộ lạc, nhóm và các nhóm ‘phong trào kinh tế hay xã hội’ (như ví dụ người hoạt động công đoàn này), Đây là giai đoạn ích kỷ, nhưng là một giai đoạn đúng đắn (giống như mọi giai đoạn, một giai đoạn phải được bước vào, trải nghiệm, và bỏ lại phía sau).”

115. Let us think of selfishness. The first major blow against selfishness is not struck until the second initiation. So we can see that selfishness follows us well into the sacrifice tier of petals and is present even when there is partial unfoldment of two of these petals.

115. Chúng ta hãy nghĩ về tính ích kỷ. Đòn đánh lớn đầu tiên chống lại tính ích kỷ chỉ được giáng xuống ở lần điểm đạo thứ hai. Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng tính ích kỷ theo chúng ta đi sâu vào tầng cánh hoa hi sinh và hiện diện ngay cả khi đã có sự khai mở từng phần của hai cánh hoa này.

116. At least, in the unfolding of the first tier of petals (as a whole) the first indications of real brotherhood are manifesting.

116. Ít nhất, trong sự khai mở của tầng cánh hoa thứ nhất (xét như một toàn thể), những chỉ dấu đầu tiên của tình huynh đệ đích thực đang biểu lộ.

A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment.

Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng để khai mở.

117. Let us proceed very carefully. DK did not say that such a minor initiation (the second in the series) occurs when the love tier of petals is unfolding or unfolded, but only when the circle is organised and ready for unfoldment. So the parallel is not exact, as with respect to the first tier of petals the unfoldment has occurred and with regard to the second tier, it has not yet occurred.

117. Chúng ta hãy tiến hành thật cẩn trọng. Chân sư DK không nói rằng một cuộc điểm đạo nhỏ như thế (cuộc thứ hai trong chuỗi) xảy ra khi tầng cánh hoa bác ái đang khai mở hay đã khai mở, mà chỉ khi vòng ấy được tổ chức và sẵn sàng để khai mở. Vì vậy sự song hành không hoàn toàn chính xác, bởi đối với tầng cánh hoa thứ nhất thì sự khai mở đã xảy ra, còn đối với tầng thứ hai thì nó chưa xảy ra.

118. Therefore, we see that the thought that the complete unfoldment of the second tier indicates the taking of the second initiation is not contradicted.

118. Do đó, chúng ta thấy rằng ý nghĩ cho rằng sự khai mở hoàn toàn của tầng thứ hai chỉ ra việc trải qua lần điểm đạo thứ hai không bị mâu thuẫn.

This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating,

Lần này Đức Chưởng Giáo Thế Gian, Chân sư và chân ngã liên hệ đang hợp tác,

119. And not the Mahachohan…

119. Và không phải Đức Mahachohan…

120. In general, petal opening occurring before initiation occurs through the agency of the Mahachohan, the Chohan of a man’s egoic group and the particular Ego concerned.

120. Nói chung, sự mở cánh hoa xảy ra trước điểm đạo diễn ra qua tác nhân của Đức Mahachohan, Chohan của nhóm chân ngã của một người và chính chân ngã liên hệ.

121. Now, however, we are becoming specific. The minor initiation administered at this time (the second in the series) occurs through the agency of the Christ (or World Teacher) the Master (Who is or will be the man’s Master) and, again, the Ego concerned. It appears that the Mahachohan is only involved at the earlier stage.

121. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đang trở nên cụ thể. Cuộc điểm đạo nhỏ được ban truyền vào lúc này (cuộc thứ hai trong chuỗi) diễn ra qua tác nhân của Đức Christ (hay Đức Chưởng Giáo Thế Gian), Chân sư (Đấng là hoặc sẽ là Chân sư của người ấy) và, một lần nữa, chân ngã liên hệ. Dường như Đức Mahachohan chỉ tham dự ở giai đoạn sớm hơn.

for these smaller initiations deal with the love nature,

vì những cuộc điểm đạo nhỏ hơn này đề cập đến bản chất bác ái,

122. Both of them do, not only the second minor initiation supervised by the Christ.

122. Cả hai cuộc đều như vậy, không chỉ cuộc điểm đạo nhỏ thứ hai do Đức Christ giám sát.

123. One wonders if the commonly perceived religious phenomenon of being “born again” has something to do with the taking of this second in a series of minor initiations.

123. Người ta tự hỏi liệu hiện tượng tôn giáo thường được cảm nhận là “được tái sinh” có liên quan gì đến việc trải qua cuộc thứ hai trong một chuỗi các cuộc điểm đạo nhỏ này hay không.

with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor, and to the negation of the lower self.

với sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và với sự nhận biết (của con người trong đời sống phàm ngã của y) về một hình thức bác ái vô ngã nào đó, và về tình thương đối với một đối tượng, một người hay một lý tưởng dẫn đến nỗ lực vị tha, và đến sự phủ nhận phàm ngã.

124. Let us tabulate the results of the taking of this second minor initiation.

124. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của việc trải qua cuộc điểm đạo nhỏ thứ hai này.

a. These minor initiations deal with the love nature

a. Những cuộc điểm đạo nhỏ này đề cập đến bản chất bác ái

b. These minor initiations deal with astral or emotional organisation

b. Những cuộc điểm đạo nhỏ này đề cập đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc

c. They deal with the recognition by the man in his personal life of some form of unselfish love

c. Chúng đề cập đến sự nhận biết của con người trong đời sống phàm ngã của y về một hình thức bác ái vô ngã nào đó

d. They deal with a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor

d. Chúng đề cập đến tình thương đối với một đối tượng, một người hay một lý tưởng dẫn đến nỗ lực vị tha

e. These minor initiations deal with some form of negation of the lower self

e. Những cuộc điểm đạo nhỏ này đề cập đến một hình thức phủ nhận phàm ngã nào đó

125. We can see that it is certainly possible for those who are not yet initiates of the first degree to ‘meet’ the Christ, the Master and the Ego. In some manner He presides over this second minor initiation.

125. Chúng ta có thể thấy rằng chắc chắn những người chưa phải là điểm đạo đồ bậc một vẫn có thể ‘gặp’ Đức Christ, Chân sư và chân ngã. Theo một cách nào đó, Ngài chủ trì cuộc điểm đạo nhỏ thứ hai này.

126. The two types of initiation concerned seem to be occurring before there is any significant unfolding of the petals of the second tier, because, it would seem, that by the time the fourth and fifth petals of the second tier are in process of unfoldment, the individual is already in the early stages of entering the spiritual kingdom (having activated the fifth spirilla and having accessed the pranic, cosmic etheric nature of the Heavenly Man).

126. Hai loại điểm đạo liên hệ dường như xảy ra trước khi có bất kỳ sự khai mở đáng kể nào của các cánh hoa thuộc tầng thứ hai, bởi vì dường như vào lúc cánh hoa thứ tư và thứ năm của tầng thứ hai đang trong tiến trình khai mở, cá nhân ấy đã ở trong các giai đoạn đầu của việc bước vào giới tinh thần (đã hoạt hóa loa tuyến thứ năm và đã tiếp cận bản chất prana, dĩ thái vũ trụ của Đấng Thiên Nhân).

127. Those taking the first and even the second of these two minor initiations have not entered the spiritual kingdom.

127. Những người trải qua cuộc thứ nhất và thậm chí cuộc thứ hai trong hai cuộc điểm đạo nhỏ này vẫn chưa bước vào giới tinh thần.

This brings us to the third group of petals or to the unfolding of the will or sacrifice petals, based on intelligent purpose and pure love.

Điều này đưa chúng ta đến nhóm cánh hoa thứ ba hay đến sự khai mở các cánh hoa ý chí hay hi sinh, dựa trên mục đích thông minh và bác ái thuần khiết.

128. It is interesting that DK did not mention the process of organising first.

128. Thật thú vị khi Chân sư DK không đề cập đến tiến trình tổ chức trước tiên.

129. We seem to be saying that when the sacrifice petals are unfolding, then intelligent purpose and pure love are demonstrating in the life. This is different from saying that one is merely working upon cultivating these qualities.

129. Dường như chúng ta đang nói rằng khi các cánh hoa hi sinh đang khai mở, thì mục đích thông minh và bác ái thuần khiết đang biểu lộ trong đời sống. Điều này khác với việc nói rằng người ta chỉ đơn thuần đang nỗ lực vun bồi những phẩm tính ấy.

130. We must remember that, as stated above, the sacrifice petals are organised in the Hall of Wisdom. It would seem correct to say that they are also unfolded in this same Hall.

130. Chúng ta phải nhớ rằng, như đã nói ở trên, các cánh hoa hi sinh được tổ chức trong Phòng Minh triết. Dường như cũng đúng khi nói rằng chúng cũng được khai mở trong chính Phòng này.

131. Here we see a parallel, or the knowledge petals are organized in the Hall of Ignorance but, close scrutiny seems to show that some of them, at least, are also unfolded to some degree during the experiences of the Hall of Ignorance.

131. Ở đây chúng ta thấy một sự song hành, tức là các cánh hoa tri thức được tổ chức trong Phòng Vô Minh, nhưng sự khảo sát kỹ lưỡng dường như cho thấy rằng ít nhất một số trong chúng cũng được khai mở ở một mức độ nào đó trong các kinh nghiệm của Phòng Vô Minh.

The force in this group calls in a different factor, that of the Manu, as well as the force of the Bodhisattva,

Mãnh lực trong nhóm này gọi vào một yếu tố khác, đó là Đức Manu, cũng như mãnh lực của Đức Bồ Tát,

132. Let us compare:

132. Chúng ta hãy so sánh:

a. Complete unfoldment of the first tier involved the force of the Mahachohan and the Ego. It may be that the Chohan of a man’s egoic group was also involved.

a. Sự khai mở hoàn toàn của tầng thứ nhất bao hàm mãnh lực của Đức Mahachohan và chân ngã. Có thể Chohan của nhóm chân ngã của một người cũng có liên quan.

b. The second minor initiation occurs when the second tier of petals are organized and “ready for unfoldment”. Presumably, this means they have been “vitalised”. The Bodhisattva and the Master are involved in this process as well as, again, the Ego.

b. Cuộc điểm đạo nhỏ thứ hai xảy ra khi tầng cánh hoa thứ hai được tổ chức và “sẵn sàng để khai mở”. Có lẽ điều này có nghĩa là chúng đã được “tiếp sinh lực”. Đức Bồ Tát và Chân sư có liên quan trong tiến trình này cũng như, một lần nữa, chân ngã.

c. The next unfoldment process calls for the intervention of the Manu and the Bodhisattva (the first Hierophant). The force of the Ego is not mentioned at first, but presumably it is involved as the Solar Angel is present during the initiation ceremonies beginning from the first and lasting, perhaps, through the fourth, at which time, the Solar Angels take their leave of the now soul-infused human personality they have been supervising.

c. Tiến trình khai mở kế tiếp đòi hỏi sự can thiệp của Đức Manu và Đức Bồ Tát (Đấng Điểm đạo thứ nhất). Mãnh lực của chân ngã lúc đầu không được nhắc đến, nhưng có lẽ nó có liên quan vì Thái dương Thiên Thần hiện diện trong các nghi lễ điểm đạo bắt đầu từ lần thứ nhất và kéo dài, có lẽ, đến lần thứ tư, vào lúc đó các Thái dương Thiên Thần rời khỏi phàm ngã nhân loại được linh hồn thấm nhuần mà các ngài đã giám sát.

d. We learn below that the Master is also involved.

d. Chúng ta sẽ biết ở dưới rằng Chân sư cũng có liên quan.

and the desired effect is produced through the full co-operation of the fully awakened Ego,

và hiệu quả mong muốn được tạo ra qua sự hợp tác trọn vẹn của chân ngã đã hoàn toàn thức tỉnh,

133. Yes, the Ego is fully involved and is fully awakened. We can question whether the Ego is really “fully awakened” even at the first degree, but perhaps it is sufficiently awakened to participate in a new and more influential manner.

133. Đúng vậy, chân ngã hoàn toàn tham dự và đã hoàn toàn thức tỉnh. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu chân ngã có thật sự “hoàn toàn thức tỉnh” ngay cả ở bậc thứ nhất hay không, nhưng có lẽ nó đã đủ thức tỉnh để tham gia theo một cách mới mẻ và có ảnh hưởng hơn.

aided by his own Master (if he is evolving in a cycle wherein hierarchical effort for humanity takes the form it does in this present one), and the Manu.

được trợ giúp bởi chính Chân sư của y (nếu y đang tiến hoá trong một chu kỳ mà nỗ lực của Thánh đoàn đối với nhân loại mang hình thức như trong chu kỳ hiện nay), và bởi Đức Manu.

134. This is interesting. We see that the candidate for initiation will be aided by his own Master only if his initiation is occurring during a cycle wherein the Spiritual Hierarchy is aiding humanity. Was this aid transpiring on the Moon-chain, for surely there were initiations to be taken on that chain—in fact the fourth was, we are told, possible.

134. Điều này thật thú vị. Chúng ta thấy rằng ứng viên điểm đạo sẽ chỉ được chính Chân sư của mình trợ giúp nếu điểm đạo của y xảy ra trong một chu kỳ mà Thánh đoàn tinh thần đang trợ giúp nhân loại. Sự trợ giúp này có diễn ra trên Dãy Mặt Trăng không, vì chắc chắn đã có những cuộc điểm đạo phải được trải qua trên dãy ấy—thật vậy, như chúng ta được cho biết, lần thứ tư là có thể.

135. There may be initiations occurring through a more natural and less interventionist process. Individualization on the Moon-chain chain occurred through such a more natural process and so, perhaps, did initiation.

135. Có thể có những cuộc điểm đạo xảy ra qua một tiến trình tự nhiên hơn và ít có sự can thiệp hơn. Sự biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng đã xảy ra qua một tiến trình tự nhiên hơn như thế và vì vậy, có lẽ điểm đạo cũng vậy.

136. We seem to be saying that the Manu is somehow involved in all the great manasic initiations. The mode of His involvement is probably specific to each initiation, and more potent at the third initiation than at the earlier two.

136. Dường như chúng ta đang nói rằng Đức Manu bằng cách nào đó có liên quan đến tất cả các cuộc điểm đạo manas vĩ đại. Phương thức tham dự của Ngài có lẽ là đặc thù cho từng cuộc điểm đạo, và mạnh hơn ở lần điểm đạo thứ ba so với hai lần đầu.

Eventually (after the second Initiation) the Lord of the World comes [Page 871] in as a factor,—the Lord of world power, fully expressing itself in love.

Cuối cùng (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Chúa Tể Thế Giới trở thành [Page 871] một yếu tố,—Đức Chúa Tể của quyền năng thế gian, biểu lộ trọn vẹn trong bác ái.

137. We must be speaking of the second Initiation of the Threshold, because if the term “second initiation” meant the fourth initiation (as it occasionally it does), the Lord of the World would be entering the process later than is generally recognized and described in so many other references.

137. Chúng ta hẳn phải đang nói về lần điểm đạo thứ hai của Ngưỡng Cửa, bởi vì nếu thuật ngữ “lần điểm đạo thứ hai” lại có nghĩa là lần điểm đạo thứ tư (như đôi khi quả có như vậy), thì Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ bước vào tiến trình này muộn hơn điều thường được nhìn nhận chung và được mô tả trong rất nhiều chỗ tham chiếu khác.

138. We are not told how soon after the third initiation this occurs. One would imagine that this emergence of the influence of the Lord of the World would occur as the third initiation is approached, but we are told that Sanat Kumara becomes a factor in the initiate’s consciousness after the second initiation, as does an orientation towards identification and Will.

138. Chúng ta không được cho biết điều này xảy ra bao lâu sau lần điểm đạo thứ ba. Người ta có thể tưởng rằng sự xuất hiện này của ảnh hưởng từ Đức Sanat Kumara sẽ xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đang được tiến gần đến, nhưng chúng ta được cho biết rằng Đức Sanat Kumara trở thành một yếu tố trong tâm thức của điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ hai, cũng như có một sự định hướng hướng về đồng hoá và Ý Chí.

The greatest problem facing aspirants and disciples prior to the third initiation is that of comprehending the nature of identification. This concerns (in the first instance) the relation of the self to the Self and of all selves to the all-inclusive SELF. (R&I 172)

Vấn đề lớn nhất đối diện với những người chí nguyện và các đệ tử trước lần điểm đạo thứ ba là việc thấu hiểu bản chất của sự đồng hoá. Điều này liên quan (trước hết) đến mối liên hệ của ngã với Chân ngã và của mọi ngã với SELF bao gồm tất cả. (R&I 172)

139. We see that during the unfoldment of the sacrifice tier, it is not only the Manu, the Bodhisattva, the Master and Ego who are involved, but the Lord of the World, Himself (however attenuated or modulated His influence).

139. Chúng ta thấy rằng trong suốt sự khai mở của tầng hi sinh, không chỉ Đức Manu, Đức Bồ Tát, Chân sư và chân ngã có liên hệ, mà còn cả Đức Chúa Tể Thế Giới, chính Ngài nữa (dù ảnh hưởng của Ngài có bị làm mỏng đi hay được điều biến đến đâu).

Speaking generally, therefore, it might be stated that egoic groups in whom the knowledge petals are being organised and unfolded come under the primary influence of the Mahachohan;

Nói chung, vì vậy, có thể phát biểu rằng các nhóm chân ngã nơi đó các cánh hoa tri thức đang được tổ chức và khai mở chịu dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Mahachohan;

140. We note that DK is describing not only individual Egos but egoic groups with certain characteristics. Such groups as described immediately above contain those who are largely in the Hall of Ignorance or just beginning to emerge from it. They live under the sway of the third aspect of divinity and thus are related to the energy wielded by the Mahachohan—the third ray.

140. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đang mô tả không chỉ các chân ngã cá nhân mà còn các nhóm chân ngã với những đặc tính nhất định. Những nhóm như được mô tả ngay trên gồm những người phần lớn còn ở trong Phòng Vô Minh hoặc chỉ mới bắt đầu thoát ra khỏi đó. Họ sống dưới quyền chi phối của phương diện thứ ba của thiên tính và do đó có liên hệ với năng lượng do Đức Mahachohan vận dụng—cung ba.

those in whom the love aspect, or the second circle of petals, is opening come under the primary influence of the Bodhisattva,

còn những người nơi đó phương diện bác ái, hay vòng cánh hoa thứ hai, đang mở ra thì chịu dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Bồ Tát,

141. We remember that as the love petals are unfolding, the individual is standing on the threshold of the Kingdom of God.

141. Chúng ta nhớ rằng khi các cánh hoa bác ái đang khai mở, cá nhân đang đứng trên ngưỡng cửa của Thiên Giới.

142. There are other influences to which Egos in such egoic groups are subject, but the influence of the Bodhisattva is primary.

142. Có những ảnh hưởng khác mà các chân ngã trong những nhóm chân ngã như thế phải chịu, nhưng ảnh hưởng của Đức Bồ Tát là chủ yếu.

with the knowledge unfoldment paralleling the work;

với sự khai mở tri thức song hành với công việc;

143. Here we see that knowledge unfoldment continues as the love petals are unfolding. It certainly cannot be said that the processes related to the love petals are devoid of knowledge. There is even a knowledge petal within the three love petals and also one within the sacrifice tier (as well as in the synthesis tier).

143. Ở đây chúng ta thấy rằng sự khai mở tri thức vẫn tiếp tục khi các cánh hoa bác ái đang khai mở. Chắc chắn không thể nói rằng các tiến trình liên hệ đến các cánh hoa bác ái lại thiếu vắng tri thức. Thậm chí còn có một cánh hoa tri thức bên trong ba cánh hoa bác ái và cũng có một cánh hoa như vậy bên trong tầng hi sinh (cũng như trong tầng tổng hợp).

144. However, it may be inferred, that when the love petals are unfolding, the three petals of the knowledge tier are already unfolded, for the love petals do not unfold unless the first of the minor initiations is taken, and it is taken well before the second tier is unfolding.

144. Tuy nhiên, có thể suy ra rằng khi các cánh hoa bác ái đang khai mở, thì ba cánh hoa của tầng tri thức đã khai mở rồi, vì các cánh hoa bác ái không khai mở trừ phi lần điểm đạo nhỏ đầu tiên đã được tiếp nhận, và điều này xảy ra khá lâu trước khi tầng thứ hai khai mở.

145. The principle is, that the unfoldment of the previous aspect continues as attention is placed upon the succeeding aspect.

145. Nguyên lý là sự khai mở của phương diện trước đó vẫn tiếp tục khi sự chú ý được đặt vào phương diện kế tiếp.

whilst those in whom the third tier is being opened come under the energy direction of the Manu, with the two other types of force co-ordinated.

trong khi những người nơi đó tầng thứ ba đang được mở ra thì chịu dưới sự chỉ đạo năng lượng của Đức Manu, với hai loại mãnh lực kia được phối hợp.

146. As the Manu is influencing the opening of the sacrifice tier of petals, knowledge and love are coordinated in support of the sacrificial unfoldment.

146. Khi Đức Manu đang ảnh hưởng đến sự mở ra của tầng cánh hoa hi sinh, tri thức và bác ái được phối hợp để hỗ trợ cho sự khai mở hi sinh.

147. Knowledge and love continue to deepen in support of the development of sacrifice.

147. Tri thức và bác ái tiếp tục đào sâu để hỗ trợ cho sự phát triển của hi sinh.

It will be apparent to the careful reader

Điều này sẽ hiển nhiên đối với độc giả cẩn trọng

148. And this we must surely become, however far we are from the desired degree of carefulness..

148. Và chắc chắn chúng ta phải trở thành như thế, dù chúng ta còn xa đến đâu so với mức độ cẩn trọng mong muốn..

that in this fact lies hid the secret of why the Mahachohan holds office longer than either of His two Brothers, holding it as He does for an entire world period.

rằng chính trong sự kiện này ẩn giấu bí mật về vì sao Đức Mahachohan giữ chức vụ lâu hơn hai Huynh Đệ của Ngài, vì Ngài giữ chức vụ ấy trong suốt một chu kỳ thế giới.

149. A world period (from one perspective) is an entire globe-period of a chain-round and can last tens of millions of years. We may wonder whether the Mahachohan is present at the beginning of the world period when the round passes through our globe.

149. Một chu kỳ thế giới (xét từ một góc độ) là trọn một chu kỳ bầu hành tinh của một cuộc tuần hoàn trong một Dãy và có thể kéo dài hàng chục triệu năm. Chúng ta có thể tự hỏi liệu Đức Mahachohan có hiện diện vào lúc bắt đầu chu kỳ thế giới khi cuộc tuần hoàn đi qua bầu hành tinh của chúng ta hay không.

150. We do see, however, that while knowledge is the focal point for the first unfoldment within the knowledge tier, it continues to be emphasized both during the unfoldment of the second tier and also during the sacrifice tier. Thus the Mahachohan has a longer period of supervision for, apparently, He supervises the unfoldment of all knowledge petals—even those found within the love tier and sacrifice tier.. The Bodhisattva and the Manu were not required during the unfoldment of the outer or knowledge tier, and that unfoldment lasted the very longest time.

150. Tuy nhiên, chúng ta quả có thấy rằng tuy tri thức là tiêu điểm cho sự khai mở đầu tiên trong tầng tri thức, nó vẫn tiếp tục được nhấn mạnh cả trong khi tầng thứ hai khai mở lẫn trong tầng hi sinh. Vì vậy Đức Mahachohan có một thời kỳ giám sát dài hơn bởi vì, dường như, Ngài giám sát sự khai mở của mọi cánh hoa tri thức—ngay cả những cánh hoa nằm trong tầng bác ái và tầng hi sinh. Đức Bồ Tát và Đức Manu không được cần đến trong khi tầng ngoài hay tầng tri thức đang khai mở, và sự khai mở ấy kéo dài lâu nhất.

The key to these cycles lies hid in the following thoughts: the Bodhisattva and the Manu change more frequently and pass on to other work owing to the fact that They each embody one type of triple force, whereas the Mahachohan is the focal point for five types of energy, each in its turn triple in nature.

Chìa khóa của các chu kỳ này ẩn giấu trong những ý tưởng sau đây: Đức BồTát và Đức Manu thay đổi thường xuyên hơn và chuyển sang công việc khác bởi vì mỗi Ngài hiện thân cho một loại mãnh lực tam phân, trong khi Đức Mahachohan là tiêu điểm của năm loại năng lượng, mỗi loại đến lượt nó lại có bản chất tam phân.

151. Here we have a division of 1-1-5. We think of the fivefold nature of the third ray, the ray of the Mahachohan.

151. Ở đây chúng ta có một sự phân chia 1-1-5. Chúng ta nghĩ đến bản chất ngũ phân của cung ba, cung của Đức Mahachohan.

152. If the Mahachohan oversees the development, expression and coordination of five rays, obviously his task would have to take a far greater length of time.

152. Nếu Đức Mahachohan giám sát sự phát triển, biểu lộ và phối hợp của năm cung, hiển nhiên nhiệm vụ của Ngài hẳn phải đòi hỏi một khoảng thời gian dài hơn rất nhiều.

153. Perhaps this is another reason why the third aspect of divinity takes so very long to manifest when compared with the manifestation of the second and first aspects.

153. Có lẽ đây là một lý do khác vì sao phương diện thứ ba của thiên tính phải mất rất lâu mới biểu hiện so với sự biểu hiện của phương diện thứ hai và thứ nhất.

154. Yet, while the first aspect seems to take the shortest amount of time to run its course, it is the Bodhisattva Who (with respect to the human kingdom, at least) has the shortest term of office.

154. Tuy nhiên, trong khi phương diện thứ nhất dường như cần thời gian ngắn nhất để hoàn tất tiến trình của nó, thì chính Đức Bồ Tát lại là Đấng (ít nhất là xét đối với giới nhân loại) có nhiệm kỳ ngắn nhất.

155. Perhaps this can be somewhat explained by this the thought that the human being spends far the longest time on the monadic ray than on any other. Once he focuses truly and completely on this monadic ray, he spends the remainder of the solar system expressing upon that ray (presumably, even if he ‘leaves’ the solar system for training of a nature more advanced than he can receive in this solar system).

155. Có lẽ điều này phần nào có thể được giải thích bằng ý tưởng rằng con người trải qua thời gian dài nhất trên cung chân thần hơn trên bất kỳ cung nào khác. Một khi y thực sự và hoàn toàn tập trung vào cung chân thần này, y sẽ trải phần còn lại của hệ mặt trời để biểu lộ trên cung ấy (có lẽ như vậy, ngay cả nếu y “rời” hệ mặt trời để được huấn luyện theo một bản chất cao siêu hơn điều y có thể tiếp nhận trong hệ mặt trời này).

TCF 872-876 Part II

17 - 31 August 2008

17 - 31 tháng Tám 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

In each case of petal unfoldment, certain types of force are generated, dealt with, assimilated, and used, at first unconsciously and finally with full intelligence.

Trong mỗi trường hợp khai mở cánh hoa, những loại mãnh lực nhất định được phát sinh, được xử lý, được đồng hoá và được sử dụng, lúc đầu một cách vô thức và sau cùng với trọn vẹn trí tuệ.

1. DK is telling us about force dynamics during petal unfoldment: There occurs—

1. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về động lực học của mãnh lực trong khi cánh hoa khai mở: Có xảy ra—

a. The generation of forces

a. Sự phát sinh các mãnh lực

b. Dealing with the forces generated

b. Việc xử lý các mãnh lực được phát sinh

c. Assimilation of the forces generated and dealt with

c. Sự đồng hoá các mãnh lực đã được phát sinh và xử lý

d. The utilization of such forces (at first unconsciously and then consciously with full intelligence)

d. Việc sử dụng các mãnh lực ấy (lúc đầu một cách vô thức rồi sau đó một cách hữu thức với trọn vẹn trí tuệ)

2. There is much unconscious, instinctive work within the fields of energy-force knowns as petals. It is a while before the individual understands consciously the forces he has begun to deal with when entering the energy-force field of a new petal.

2. Có rất nhiều công việc vô thức, bản năng trong các trường năng lượng-mãnh lực được gọi là các cánh hoa. Phải mất một thời gian trước khi cá nhân hiểu một cách hữu thức các mãnh lực mà y đã bắt đầu xử lý khi bước vào trường năng lượng-mãnh lực của một cánh hoa mới.

3. Initial human activity within the field of a petal can hardly be called petal organisation but it leads in that direction.

3. Hoạt động ban đầu của con người trong trường của một cánh hoa khó có thể được gọi là sự tổ chức cánh hoa, nhưng nó dẫn theo hướng đó.

4. Gradually, the individual becomes conscious of what he is doing in this new field. He begins to respond to the new tasks with increasing intelligence, until, finally, he expresses himself within that field with “full It intelligence”.

4. Dần dần, cá nhân trở nên hữu thức về điều y đang làm trong trường mới này. Y bắt đầu đáp ứng với những nhiệm vụ mới bằng trí tuệ ngày càng tăng, cho đến cuối cùng, y biểu lộ chính mình trong trường đó với “trọn vẹn trí tuệ”.

5. It is conscious labor within a petal-field which parallels the organization of the petal. It is the unfolded petal which indicates that intelligence is expressing with fulness within the field of a petal. This is the consummation of a long period of conscious labor.

5. Chính lao động hữu thức trong một trường cánh hoa song hành với sự tổ chức của cánh hoa. Chính cánh hoa đã khai mở cho thấy rằng trí tuệ đang biểu lộ một cách viên mãn trong trường của cánh hoa. Đây là sự hoàn tất của một thời kỳ dài lao động hữu thức.

In the Hall of Ignorance the force of the energy of Brahma (the activity and intelligence of substance) is that mostly dealt with,

Trong Phòng Vô Minh mãnh lực của năng lượng Brahma (hoạt động và trí tuệ của chất liệu) là điều chủ yếu được xử lý,

6. This substance is both physical and emotional, and to some extent mental at the later stages, for Brahma (like all the other members of the Trimurti) is threefold and encompasses all three activities. The rudimentary mind, however weak, is, active from the first.

6. Chất liệu này vừa là hồng trần vừa là cảm xúc, và ở một mức độ nào đó là trí tuệ trong các giai đoạn sau, vì Brahma (giống như mọi thành viên khác của Tam Vị) là tam phân và bao gồm cả ba hoạt động. Tuy nhiên, trí tuệ sơ khai, dù yếu đến đâu, vẫn hoạt động ngay từ đầu.

7. When the man is dealing mostly with mental substance, as he does when working within the third petal, it can be questioned whether he should be regarded as working, strictly speaking, with the Hall of Ignorance. While he may still be ignorant of the soul, he not ignorant of the mental nature which will serve as the bridge to the soul.

7. Khi con người đang xử lý chủ yếu với chất liệu trí tuệ, như y làm khi hoạt động trong cánh hoa thứ ba, thì có thể đặt câu hỏi liệu y có nên được xem là đang hoạt động, nói một cách nghiêm ngặt, trong Phòng Vô Minh hay không. Dù y có thể vẫn còn vô minh về linh hồn, y không vô minh về bản chất trí tuệ, vốn sẽ phục vụ như cây cầu dẫn đến linh hồn.

and the man has to learn the meaning of activity based on:

và con người phải học ý nghĩa của hoạt động dựa trên:

8. Notice that “meaning” is involved, though work in this outer tier is a long way from entering the World of Meaning via the soul.

8. Hãy lưu ý rằng ở đây có liên quan đến “ý nghĩa”, dù công việc trong tầng ngoài này còn cách rất xa việc bước vào Thế giới của ý nghĩa qua linh hồn.

9. We should be reminded that the third ray is the Ray of Active Intelligence.

9. Chúng ta nên nhớ rằng cung ba là Cung của Trí Tuệ Hoạt Động.

a. Inherent energy,

a. Năng lượng cố hữu,

10. We can assume this to be the energy inherent in his lower principles.

10. Chúng ta có thể giả định đây là năng lượng cố hữu trong các nguyên khí thấp của y.

b. Absorbed energy,

b. Năng lượng được hấp thu,

11. This is the energy absorbed from his environal contacts including contacts with other human beings.

11. Đây là năng lượng được hấp thu từ những tiếp xúc môi trường của y, kể cả những tiếp xúc với những con người khác.

12. Some energy is also absorbed from the Ego which sustains the personality, the soul quality, per se, is very little in evidence.

12. Một số năng lượng cũng được hấp thu từ chân ngã vốn duy trì phàm ngã; tuy nhiên, chính phẩm tính linh hồn thì biểu lộ rất ít.

c. Group energy,

c. Năng lượng nhóm,

13. This is the energy of those groups with which the man associates on the physical plane—the family, the tribe, the community.

13. Đây là năng lượng của những nhóm mà con người liên kết trên cõi hồng trần—gia đình, bộ lạc, cộng đồng.

d. Material energy or that which is hidden in physical plane matter.

d. Năng lượng vật chất hay điều được ẩn giấu trong vật chất cõi hồng trần.

14. This is a very ancient energy inherited from the first solar system.

14. Đây là một năng lượng rất cổ xưa được thừa hưởng từ hệ mặt trời thứ nhất.

In the Hall of Learning the disciple

Trong Phòng Hiểu Biết đệ tử

15. Let us note that the term “disciple” is used to indicate one who works within the Hall of Learning—at least at a certain later stage of work within that Hall.

15. Chúng ta hãy lưu ý rằng thuật ngữ “đệ tử” được dùng để chỉ người hoạt động trong Phòng Hiểu Biết—ít nhất là ở một giai đoạn sau nào đó của công việc trong Phòng ấy.

becomes aware of, and uses the energy of, the second aspect in form-building, in social relations, in family and other group affiliations.

trở nên nhận biết và sử dụng năng lượng của phương diện thứ hai trong việc xây dựng hình tướng, trong các quan hệ xã hội, trong các liên hệ gia đình và các liên hệ nhóm khác.

16. The following are all expressions of the second aspect of divinity:

16. Những điều sau đây đều là những biểu lộ của phương diện thứ hai của thiên tính:

a. Form-building.(The second ray and not the third is the ‘Ray of Form’. The third ray is the ‘Ray of Matter’.)

a. Xây dựng hình tướng. (Cung hai chứ không phải cung ba là ‘Cung của Hình Tướng’. Cung ba là ‘Cung của Vật Chất’.)

b. Social relations

b. Các quan hệ xã hội

c. Family affiliations

c. Các liên hệ gia đình

d. Group affiliations

d. Các liên hệ nhóm

e. Sexual relations (from a higher perspective than possible within the experiences first tier of petals).

e. Các quan hệ tính dục (từ một góc nhìn cao hơn điều có thể có trong những kinh nghiệm của tầng cánh hoa thứ nhất).

17. We can see the lower energies of Venus expressing themselves.

17. Chúng ta có thể thấy các năng lượng thấp của Sao Kim đang biểu lộ.

18. It should be noted that petal activity is additive and cumulative. When organizational work begins in the second tier, continuing development occurs in the earlier tier. When organizational work begins in the sacrifice tier, the continuing development occurs in the second tier and does not cease in the outer tier, howevermuch it may begin to fall somewhat below the threshold of consciousness.

18. Cần lưu ý rằng hoạt động của cánh hoa có tính cộng thêm và tích luỹ. Khi công việc tổ chức bắt đầu trong tầng thứ hai, sự phát triển tiếp tục vẫn xảy ra trong tầng trước đó. Khi công việc tổ chức bắt đầu trong tầng hi sinh, sự phát triển tiếp tục xảy ra trong tầng thứ hai và không chấm dứt trong tầng ngoài, dù cho nó có thể bắt đầu rơi phần nào xuống dưới ngưỡng của tâm thức.

19. The principle is similar to the addition of planetary rulers in relation to a sign of the zodiac powerful in an astrological chart. When the esoteric ruler begins to function, it does not mean that the orthodox ruler or exoteric planetary ruler ceases functioning, and both of these continue to function even when the influence of the hierarchical ruler emerges.

19. Nguyên lý này tương tự như việc cộng thêm các chủ tinh hành tinh liên hệ với một dấu hiệu hoàng đạo mạnh trong một lá số chiêm tinh. Khi chủ tinh nội môn bắt đầu hoạt động, điều đó không có nghĩa là chủ tinh chính thống hay chủ tinh ngoại môn ngừng hoạt động, và cả hai vẫn tiếp tục hoạt động ngay cả khi ảnh hưởng của chủ tinh huyền giai xuất hiện.

[Page 872] He comes to the true recognition of sex and its relations but as yet views this force as something to be controlled and not something to be consciously and constructively utilised.

[Page 872] Y đi đến sự nhận biết chân chính về tính dục và các mối liên hệ của nó nhưng cho đến lúc ấy vẫn xem mãnh lực này như một điều phải được kiểm soát chứ không phải một điều để được hữu thức và có tính xây dựng sử dụng.

20. Here the Saturnian approach is demonstrated—Saturn, the planet of control. This Saturnian influence is exercised in the Hall of Learning. Indeed, Saturn is both a restraining and educative planet—a planet of the first ray and the third.

20. Ở đây cách tiếp cận theo Sao Thổ được biểu hiện—Sao Thổ, hành tinh của sự kiểm soát. Ảnh hưởng Sao Thổ này được vận dụng trong Phòng Hiểu Biết. Thật vậy, Sao Thổ vừa là một hành tinh kiềm chế vừa là một hành tinh giáo dục—một hành tinh của cung một và cung ba.

21. As the second ray grows in influence, the approach to sex will become more conscious and constructive.

21. Khi cung hai tăng trưởng ảnh hưởng, cách tiếp cận đối với tính dục sẽ trở nên hữu thức hơn và có tính xây dựng hơn.

22. Work within the Hall of Learning is essentially affiliative work and subject to the Law of Attraction.

22. Công việc trong Phòng Hiểu Biết về bản chất là công việc liên kết và chịu dưới Định luật Hấp Dẫn.

23. In this Hall, man is becoming a ‘personal psyche’, though not yet the soul on its own plane.

23. Trong Phòng này, con người đang trở thành một ‘tâm hồn cá nhân’, dù chưa phải là linh hồn trên cõi riêng của nó.

In the Hall of Wisdom the initiate comes to the knowledge of the first great aspect of energy, the dynamic use of will in sacrifice, and to him is then committed the key to the three fold mystery of energy.

Trong Phòng Minh triết điểm đạo đồ đi đến tri thức về phương diện lớn thứ nhất của năng lượng, việc sử dụng năng động của ý chí trong hi sinh, và khi ấy chìa khóa của huyền nhiệm tam phân của năng lượng được giao phó cho y.

24. The one who walks within the later corridors of the Hall of Learning can be called a “disciple”—at least a probationary disciple, but one newly walking within the Hall of Wisdom can also be called a disciple.

24. Người bước đi trong những hành lang sau của Phòng Hiểu Biết có thể được gọi là một “đệ tử”—ít nhất là một đệ tử dự bị, nhưng người mới bước đi trong Phòng Minh triết cũng có thể được gọi là một đệ tử.

25. We may remember that entry into the Hall of Wisdom does not occur precisely as one takes the first initiation (as some references seem to indicate), but somewhat before, as the fourth and, especially, the fifth petals are opening. The Solar Angels is taking an active interest in the affairs of the unfolding personality and hence the growth of wisdom. At the first initiation, the fifth petal is fully unfolded and the man is unquestionably within the Hall of Wisdom.

25. Chúng ta có thể nhớ rằng việc bước vào Phòng Minh triết không xảy ra chính xác khi người ta tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất (như một số chỗ tham chiếu dường như chỉ ra), mà xảy ra sớm hơn đôi chút, khi cánh hoa thứ tư và đặc biệt là cánh hoa thứ năm đang mở ra. Các Thái dương Thiên Thần đang dành sự quan tâm tích cực đến những công việc của phàm ngã đang khai mở và do đó đến sự tăng trưởng của minh triết. Vào lần điểm đạo thứ nhất, cánh hoa thứ năm đã hoàn toàn khai mở và con người chắc chắn ở trong Phòng Minh triết.

26. The one who treads the corridors Hall of Wisdom is, at least in general, called the “initiate”. This includes the category of “probationary initiate”—the initiate of the first and second degrees.

26. Người bước trên các hành lang của Phòng Minh triết, ít nhất nói chung, được gọi là “điểm đạo đồ”. Điều này bao gồm cả loại “điểm đạo đồ dự bị”—điểm đạo đồ của cấp thứ nhất và thứ hai.

27. We have presented to us a very powerful description of how the first aspect of divinity should be used: “the dynamic use of will in sacrifice”. Too often these two—“will” and “sacrifice”—are separated.

27. Ở đây chúng ta được trình bày một mô tả rất mạnh mẽ về cách phương diện thứ nhất của thiên tính nên được sử dụng: “việc sử dụng năng động của ý chí trong hi sinh”. Quá thường xuyên hai điều này—“ý chí” và “hi sinh”—bị tách rời nhau.

28. The threefold mystery of energy naturally concerns the three types of electricity: positive, negative and equilibrizing. The three aspect of divinity are, thus, represented.

28. Huyền nhiệm tam phân của năng lượng dĩ nhiên liên quan đến ba loại điện: dương, âm và quân bình. Như vậy ba phương diện của thiên tính được biểu hiện.

Of this energy in its threefold aspect he became aware in the other two halls.

Về năng lượng này trong phương diện tam phân của nó y đã nhận biết trong hai Phòng kia.

29. As he walked the Halls of Ignorance and Learning, he became aware (at first subconsciously and then consciously) of negative electricity and equilibrizing electricity—the electricity of the lower eighteen subplanes and the electricity of the higher mental plane whereon the soul is focussed. Some measure of the highest aspect of this energy opened to him during the later phases of organizing the second tier.

29. Khi y bước qua Phòng Vô Minh và Phòng Hiểu Biết, y đã nhận biết (lúc đầu một cách tiềm thức rồi sau đó một cách hữu thức) điện âm và điện quân bình—điện của mười tám cõi phụ thấp và điện của Cõi thượng trí nơi linh hồn được tập trung. Một mức độ nào đó của phương diện cao nhất của năng lượng này đã mở ra cho y trong các giai đoạn sau của việc tổ chức tầng thứ hai.

30. As work within the sacrifice tier intensified and the sacrifice petals began to open the positive aspect of electricity was made known to him clearly and consciously, but he lacked the keys to any of the three types.

30. Khi công việc trong tầng hi sinh tăng cường và các cánh hoa hi sinh bắt đầu mở ra, phương diện dương của điện được làm cho y biết đến một cách rõ ràng và hữu thức, nhưng y thiếu các chìa khóa đối với bất kỳ loại nào trong ba loại ấy.

At the third, fourth and fifth Initiations the three keys to the three mysteries are given to him.

Vào lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, ba chìa khóa của ba huyền nhiệm được trao cho y.

31. From the time of the third initiation, the threefold Monad or Spirit becomes an influential force. The three types of electricity express through the threefold Monad, though the greatest expression of two of them is through the personality and the Ego respectively.

31. Từ thời điểm của lần điểm đạo thứ ba, Chân thần hay Tinh thần tam phân trở thành một mãnh lực có ảnh hưởng. Ba loại điện biểu lộ qua Chân thần tam phân, dù sự biểu lộ lớn nhất của hai trong số chúng lần lượt là qua phàm ngã và chân ngã.

The key to the mystery sensed in the first Hall, the mystery of Brahma, is handed to him and he can then unlock the hidden energies of atomic substance.

Chìa khóa của huyền nhiệm được cảm nhận trong Phòng thứ nhất, huyền nhiệm của Brahma, được trao cho y và khi ấy y có thể mở khóa các năng lượng ẩn giấu của chất liệu nguyên tử.

32. This, we may presume, occurs at the third initiation, the number of which correlates with the third aspect of divinity—the Brahma aspect.

32. Điều này, chúng ta có thể giả định, xảy ra vào lần điểm đạo thứ ba, con số của nó tương ứng với phương diện thứ ba của thiên tính—phương diện Brahma.

33. One may wonder whether certain great scientists who unlocked some of the secrets of atomic energy—for instance, Einstein and Bohr, were initiates of the third degree.

33. Người ta có thể tự hỏi liệu một số nhà khoa học lớn đã mở khóa vài bí mật của năng lượng nguyên tử—chẳng hạn Einstein và Bohr—có phải là những điểm đạo đồ cấp ba hay không.

34. We must remember that, from the occult point of view, atomic substance exists on all planes, though, in this context, we are concerned only with the lower three systemic planes—not including the higher mental plane.

34. Chúng ta phải nhớ rằng, từ quan điểm huyền bí học, chất liệu nguyên tử tồn tại trên mọi cõi, dù trong ngữ cảnh này, chúng ta chỉ quan tâm đến ba cõi hệ thống thấp—không bao gồm Cõi thượng trí.

35. Minimally, DK is speaking of the substance of material atoms, but by extension, He must also mean etheric atomic substance and astral atomic substance in general. The atomic substance of the lower mental plane would also be included.

35. Tối thiểu, Chân sư DK đang nói về chất liệu của các nguyên tử vật chất, nhưng theo nghĩa mở rộng, hẳn Ngài cũng muốn nói đến chất liệu nguyên tử dĩ thái và chất liệu nguyên tử cảm dục nói chung. Chất liệu nguyên tử của cõi hạ trí thấp cũng sẽ được bao gồm.

36. Thee are also secrets concerning the powers of the atomic subplanes of the etheric and astral planes, but it is unlikely the DK is indicating these.

36. Cũng có những bí mật liên quan đến các quyền năng của các cõi phụ nguyên tử của cõi dĩ thái và cõi cảm dục, nhưng khó có khả năng Chân sư DK đang chỉ đến những điều này.

The key to the mystery of sex, or of the pairs of opposites, is thrust into his hand, and he can then unlock the hidden forces within all forms.

Chìa khóa của huyền nhiệm về tính dục, hay về các cặp đối cực, được đặt vào tay y, và khi ấy y có thể mở khóa các mãnh lực ẩn giấu bên trong mọi hình tướng.

37. May we assume that this occurs at the fourth initiation?

37. Chúng ta có thể giả định rằng điều này xảy ra vào lần điểm đạo thứ tư chăng?

At the fourth initiation another of the great secrets is revealed to him. It is called "the mystery of polarity," and the clue to the significance of sex in every department of nature on all the planes is given to him. (IHS 172)

Vào lần điểm đạo thứ tư, một bí mật lớn khác được mặc khải cho y. Nó được gọi là "huyền nhiệm của cực tính", và đầu mối dẫn đến ý nghĩa của tính dục trong mọi bộ phận của bản chất trên mọi cõi được trao cho y. (IHS 172)

38. The word “thrust” cannot be accidental. It almost seems as if recognition if forced upon him.

38. Từ “đặt mạnh vào” hẳn không phải là ngẫu nhiên. Gần như có vẻ thể như sự nhận biết được ép buộc lên y.

39. The “mystery of sex” is based on the Law of Attraction and is clearly, when compared with the energies and forces animated the third aspect, a “hidden” energy or force.

39. “Huyền nhiệm của tính dục” dựa trên Định luật Hấp Dẫn và rõ ràng, khi so với các năng lượng và mãnh lực làm sinh động phương diện thứ ba, là một năng lượng hay mãnh lực “ẩn giấu”.

40. It is interesting that after the fourth initiation, the initiate need no longer incarnate in the usual way—taking physical bodies generated through the normal sex function.

40. Điều thú vị là sau lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ không còn cần phải lâm phàm theo cách thông thường nữa—tức là tiếp nhận các thể xác được tạo ra qua chức năng tính dục bình thường.

41. We may presume that at this initiation, ultimate control over the normal human sex function becomes possible, though, we are told, even Masters may marry—for a spiritual purpose.

41. Chúng ta có thể giả định rằng ở lần điểm đạo này, sự kiểm soát tối hậu đối với chức năng tính dục bình thường của con người trở nên khả hữu, dù chúng ta được cho biết rằng ngay cả các Chân sư cũng có thể kết hôn—vì một mục đích tinh thần.

The key to the mystery of sacrifice and to the secret of the Silent Watchers in the cosmos is revealed to him, and he learns to unlock the hidden energies of the will aspect.

Chìa khóa của huyền nhiệm của hi sinh và của bí mật của các Silent Watchers trong vũ trụ được mặc khải cho y, và y học cách mở khóa các năng lượng ẩn giấu của phương diện ý chí.

42. This, we may presume, occurs at the fifth initiation. It is at this initiation that the initiate ‘meets’ Sanat Kumara “face to face”.

42. Điều này, chúng ta có thể giả định, xảy ra vào lần điểm đạo thứ năm. Chính ở lần điểm đạo này mà điểm đạo đồ “gặp” Đức Sanat Kumara “mặt đối mặt”.

43. There is an inescapable implication here given: Silent Watchers are sacrificial.

43. Ở đây có một hàm ý không thể tránh khỏi được đưa ra: các Silent Watchers là những Đấng hi sinh.

44. Sanat Kumara is one of the great Silent Watchers in our solar system and, it may be presumed that His sacrifice is noteworthy in solar systemic terms—i.e., from the perspective of the Solar Logos and other Planetary Logoi.

44. Đức Sanat Kumara là một trong những Silent Watchers vĩ đại trong hệ mặt trời của chúng ta và có thể giả định rằng sự hi sinh của Ngài là điều đáng chú ý xét theo các thuật ngữ hệ mặt trời—tức là từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng Đế khác.

45. We have heard of the triple aspect of the Will at which the following excerpt from Rule XIII for Disciples and Initiates hints:

45. Chúng ta đã nghe nói đến phương diện tam phân của Ý Chí mà đoạn trích sau từ Quy luật XIII dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ có ám chỉ:

…let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway; (R&I 23)

…hãy để phương thức hoạt động tam phân với điều vốn năng động mang nhóm cùng tiến về Ba Đấng Cao Hơn nơi Ý Chí của Thượng Đế ngự trị; (R&I 23)

The dynamo of the solar system is shown to him, if it might so be expressed, and the intricacies of its mechanism revealed.

Động cơ năng lượng của hệ mặt trời được chỉ cho y thấy, nếu có thể diễn tả như vậy, và những phức tạp trong bộ máy của nó được mặc khải.

46. Can this occur at the fifth initiation? Perhaps? It almost sounds like a Chohanic revelation.

46. Điều này có thể xảy ra vào lần điểm đạo thứ năm chăng? Có lẽ? Nó gần như nghe giống một sự mặc khải Chohan.

47. Perhaps, it is at this point that some of the secrets of solar systemic mathematics are revealed—for instance the mathematical formulae which concern the approximately 100,000 year rotation of the entirely of our solar system.

47. Có lẽ, chính tại điểm này mà một số bí mật của toán học hệ mặt trời được mặc khải—chẳng hạn những công thức toán học liên quan đến sự quay khoảng 100.000 năm của toàn thể hệ mặt trời chúng ta.

The entire solar sphere, the logoic ring-pass-not, rotates upon its axis, and thus all that is included within the sphere is carried in a circular manner through the Heavens. The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. (TCF 1057)

Toàn bộ khối cầu thái dương, vòng-giới-hạn logoic, quay trên trục của nó, và như thế mọi điều được bao gồm trong khối cầu ấy được mang theo theo cách tròn xoay xuyên qua các tầng trời. Những con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay rộng lớn ấy hiện vẫn phải còn là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, và như có thể được giả định, bị kiểm soát bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, và do đó của cung một. (TCF 1057)

One of the truths less recognised, yet withal of equal importance, is that the entire solar system equally revolves upon its axis but in a cycle so vast as to be beyond the powers of ordinary man to comprehend, and which necessitates mathematical formulae [1084] of great intricacy. (TCF 1083-1084)

Một trong những chân lý ít được nhìn nhận hơn, tuy vậy cũng quan trọng ngang bằng, là toàn thể hệ mặt trời cũng quay trên trục của nó nhưng trong một chu kỳ rộng lớn đến mức vượt ngoài khả năng thấu hiểu của con người bình thường, và điều này đòi hỏi những công thức toán học [1084] cực kỳ phức tạp. (TCF 1083-1084)

48. We note that we are speaking of mysteries regarding the solar system.

48. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta đang nói về những huyền nhiệm liên quan đến hệ mặt trời.

The following are the three basic mysteries of the solar system:

Sau đây là ba huyền nhiệm căn bản của hệ mặt trời:

1. The mystery of Electricity. The mystery of Brahma. The secret of the third aspect. It is latent in the physical sun.

1. Huyền nhiệm của Điện. Huyền nhiệm của Brahma. Bí mật của phương diện thứ ba. Nó tiềm ẩn trong mặt trời hồng trần.

49. We may associate this mystery with that constellational source called the Pleiades.

49. Chúng ta có thể liên kết huyền nhiệm này với nguồn gốc chòm sao được gọi là Pleiades.

50. We see that although electricity has three aspects, as a whole it is closely related to the third aspect.

50. Chúng ta thấy rằng dù điện có ba phương diện, xét như một toàn thể nó vẫn liên hệ chặt chẽ với phương diện thứ ba.

51. A mystery is a series of energy relationships which is impenetrable to a those focused at a specified level of unless they possess the “key”.

51. Một huyền nhiệm là một chuỗi những tương quan năng lượng không thể xuyên thấu đối với những ai được tập trung ở một cấp độ nhất định, trừ phi họ sở hữu “chìa khóa”.

52. When we speak of the “physical sun” when we speak of the systemic etheric planes as well. It is doubtful that our Sun is actually “physical” in the normal understanding of that term.

52. Khi nói đến “mặt trời hồng trần”, chúng ta cũng đang nói đến các cõi dĩ thái của hệ thống. Đáng ngờ rằng Mặt Trời của chúng ta thực sự là “hồng trần” theo cách hiểu thông thường của thuật ngữ ấy.

2. The mystery of Polarity, or of the universal sex impulse. The secret of the second aspect. It is latent in the Heart of the Sun, i.e., in the subjective Sun.

2. Huyền nhiệm của Cực tính, hay của xung lực tính dục phổ quát. Bí mật của phương diện thứ hai. Nó tiềm ẩn trong Tâm của Mặt Trời, tức là trong Mặt Trời chủ quan.

53. We may presume that the solution to this mystery has much to do with the energy of the star (or of the greater constellation) known as Sirius. Our solar system with a number of other systems belongs to a group one suspects solar systems which could with reason be called the “Sirian System”.

53. Chúng ta có thể giả định rằng lời giải cho huyền nhiệm này có liên quan rất nhiều đến năng lượng của ngôi sao (hay của chòm sao lớn hơn) được gọi là Sirius. Hệ mặt trời của chúng ta cùng với một số hệ khác thuộc về một nhóm mà người ta ngờ rằng là những hệ mặt trời có thể hợp lý được gọi là “Hệ Sirius”.

54. We see that there is no solution to the “mystery of Polarity” unless one can come en rapport with the soul nature of the Solar Logos, the “subjective Sun”.

54. Chúng ta thấy rằng không có lời giải nào cho “huyền nhiệm của Cực tính” trừ phi người ta có thể đi vào tương giao với bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế, “Mặt Trời chủ quan”.

55. We also note that the “Heart of the Sun” and the “Subjective Sun” are, in this context, considered equivalent, which may not always be the case.

55. Chúng ta cũng lưu ý rằng “Tâm của Mặt Trời” và “Mặt Trời Chủ Quan” trong ngữ cảnh này được xem là tương đương, điều này có thể không phải lúc nào cũng đúng.

56. While sex, per se, is often considered related to the third aspect, we can see that, fundamentally, the Law of Attraction and the cosmic energy of Love lie behind it.

56. Trong khi tính dục, chính nó, thường được xem là liên hệ với phương diện thứ ba, chúng ta có thể thấy rằng về căn bản, Định luật Hấp Dẫn và năng lượng vũ trụ của Bác ái nằm phía sau nó.

3. The mystery of Fire itself, or the dynamic central systemic force. The secret of the first aspect. It is latent in the central spiritual sun.

3. Huyền nhiệm của Lửa tự thân, hay mãnh lực trung tâm năng động của hệ thống. Bí mật của phương diện thứ nhất. Nó tiềm ẩn trong Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

57. We may associated the Pleiades (in a larger sense and as a stellar cluster with hundreds of stars) with the Central Spiritual Sun

57. Chúng ta có thể liên kết Pleiades (theo nghĩa rộng hơn và như một cụm sao với hàng trăm ngôi sao) với Mặt trời Tinh thần Trung Ương

58. Sometimes the star Alcyone is called the “Central Spiritual Sun” and so its nature must be considered in relation to the “dynamic central systemic force”.

58. Đôi khi ngôi sao Alcyone được gọi là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” và vì vậy bản chất của nó phải được xem xét trong liên hệ với “mãnh lực trung tâm năng động của hệ thống”.

59. In this context we are speaking of the first or monadic aspect of the Solar Logos:

59. Trong ngữ cảnh này chúng ta đang nói về phương diện thứ nhất hay phương diện chân thần của Thái dương Thượng đế:

60. In each of these cases (in the case of each of the mysteries under discussion) one of the Three Logoi (representing our Solar Logos) is necessarily an Agent of one of the great mysteries.

60. Trong mỗi trường hợp này (trong trường hợp của mỗi huyền nhiệm đang được bàn đến), một trong Ba Thượng đế (đại diện cho Thái dương Thượng đế của chúng ta) tất yếu là một Tác Nhân của một trong những huyền nhiệm lớn.

61. In a larger sense, when we think of the “Central Spiritual Sun”, we think of a mighty Super-Constellational Logos expressing through a number of great constellations such as Draco, the Great Bear, the Sirian System, Orion, the Little Bear, etc. The Life of that great Being, is from our perspective, fire.

61. Theo nghĩa rộng hơn, khi chúng ta nghĩ đến “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, chúng ta nghĩ đến một Thượng đế Siêu-Chòm-Sao hùng mạnh đang biểu lộ qua một số chòm sao lớn như Draco, Đại Hùng Tinh, Hệ Sirius, Orion, Tiểu Hùng Tinh, v.v. Sự Sống của Đấng vĩ đại ấy, từ góc nhìn của chúng ta, là lửa.

These three mysteries which we have touched upon above, come in a peculiar sense under the jurisdiction of [Page 873] certain great Lords or Existences,

Ba huyền nhiệm này mà chúng ta đã chạm đến ở trên, theo một ý nghĩa đặc biệt, thuộc dưới thẩm quyền của [Page 873] một số Chúa Tể hay Thực Thể vĩ đại,

62. Perhaps we could be speaking intra-systemically. If so, then the revelation of these mysteries would come under the jurisdiction of such intra-systemic Lords or Existences.

62. Có lẽ chúng ta có thể đang nói theo nghĩa nội hệ thống. Nếu vậy, thì sự mặc khải các huyền nhiệm này sẽ thuộc dưới thẩm quyền của những Chúa Tể hay Thực Thể nội-hệ thống như thế.

63. However, we could also be speaking cosmically, and the Lords or Existences could be cosmic Beings.

63. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đang nói theo nghĩa vũ trụ, và các Chúa Tể hay Thực Thể ấy có thể là những Đấng vũ trụ.

64. Yet, from all that can be gathered from text below, the best interpretation seems planetary. We will find that a number of the Lords or Existences mentioned in this respect, while planetary, have not been discussed in the usual occult accounts of Planetary Lives.

64. Tuy vậy, từ tất cả những gì có thể thu thập được từ đoạn văn bên dưới, cách giải thích tốt nhất dường như là theo nghĩa hành tinh. Chúng ta sẽ thấy rằng một số Chúa Tể hay Thực Thể được nhắc đến trong phương diện này, tuy là hành tinh, nhưng chưa được bàn đến trong những tường thuật huyền bí học thông thường về Các Sự Sống Hành tinh.

and They have much to do with the revealing of the mystery to those prepared initiates Who come under Their influence during the final stages of the Path.

và Các Ngài có liên hệ rất nhiều với sự mặc khải huyền nhiệm cho những điểm đạo đồ đã được chuẩn bị, là những Vị đến dưới ảnh hưởng của Các Ngài trong các giai đoạn cuối cùng của Con Đường.

65. We cannot speculate on the modes of revelation involved.

65. Chúng ta không thể suy đoán về các phương thức mặc khải có liên quan.

66. Suffice it to say, the three great mysteries—of electricity, of polarity and of fire—are only revealed to initiates of high degree and cannot be understood by any human being unless identified to some degree as Spirit. Understand, in any degree, is not possible until the third initiation has been taken and, even, the understanding is minimal.

66. Chỉ cần nói rằng, ba huyền nhiệm lớn—về điện, về cực tính và về lửa—chỉ được mặc khải cho các điểm đạo đồ cấp cao và không một con người nào có thể thấu hiểu được chúng trừ phi đã đồng hoá với tinh thần ở một mức độ nào đó. Thấu hiểu, ở bất kỳ mức độ nào, là điều không thể cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận, và ngay cả khi ấy, sự thấu hiểu cũng chỉ là tối thiểu.

67. We may presume that we shall not easily ‘run out of mysteries’ as we, in our monadic nature, tread cosmic Paths to constellational destinations.

67. Chúng ta có thể giả định rằng chúng ta sẽ không dễ dàng “cạn hết các huyền nhiệm” khi chúng ta, trong bản chất chân thần của mình, bước đi trên các Con đường vũ trụ hướng đến những đích đến thuộc các chòm sao.

The mystery of electricity has three keys, each of which is held in the hands of one of the Buddhas of Activity.

Huyền nhiệm của điện có ba chìa khóa, mỗi chìa khóa được giữ trong tay một vị trong các Đức Phật Hoạt Động.

68. Is DK referring to the Buddhas of Activity as “great Lords or Existences”? So it seems. The Teacher of these Buddhas is knows as the “Lord of the World”.

68. Có phải Chân sư DK đang nói đến các Đức Phật Hoạt Động như những “Đấng Chúa Tể hay những Thực Thể” vĩ đại không? Có vẻ là như vậy. Huấn sư của các Đức Phật này được biết đến như “Chúa Tể của Thế Giới”.

69. We may presume that each of the keys is associated with one of the aspects of fire: fire by friction, solar fire, and electric fire.

69. Chúng ta có thể giả định rằng mỗi chìa khóa đều liên kết với một trong các phương diện của lửa: Lửa ma sát, Lửa Thái dương, và Lửa Điện.

70. Three kingdoms—the mineral, the vegetable and the animal are also implicated by association and each of the Buddhas has an important connection to one of them.

70. Ba giới—giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật—cũng được hàm ý qua sự liên kết, và mỗi vị Phật đều có một mối liên hệ quan trọng với một trong ba giới ấy.

Theirs is the prerogative to control the electrical forces of the physical plane, and Theirs the right to direct the three major streams of this type of force in connection with our present globe.

Đó là đặc quyền của Các Ngài để kiểm soát các mãnh lực điện của cõi hồng trần, và Các Ngài có quyền chỉ đạo ba dòng chính của loại mãnh lực này liên hệ với bầu hành tinh hiện tại của chúng ta.

71. Important occult facts are being revealed.

71. Những sự kiện huyền bí học quan trọng đang được mặc khải.

72. There are three major streams of electrical forces. The Buddhas of Activity are concerned with these three streams as they affect the physical plane.

72. Có ba dòng chính của các mãnh lực điện. Các Đức Phật Hoạt Động liên quan đến ba dòng này khi chúng tác động lên cõi hồng trần.

73. Yet our globe concerns far more than the systemic physical plane.

73. Tuy nhiên, bầu hành tinh của chúng ta liên quan đến nhiều hơn rất nhiều so với chỉ cõi hồng trần của hệ thống.

74. Is the Tibetan speaking of the systemic physical plane or of the planes (in aggregate) which the Planetary Logos considers the physical plane?—the eighteen lower systemic planes?

74. Có phải Chân sư Tây Tạng đang nói về cõi hồng trần của hệ thống hay về các cõi—gộp lại—mà Đức Hành Tinh Thượng Đế xem là cõi hồng trần?—mười tám cõi phụ thấp của hệ thống?

75. Perhaps we shall learn something about the nature of our present globe—in its physical and super-physical aspects.

75. Có lẽ chúng ta sẽ học được điều gì đó về bản chất của bầu hành tinh hiện tại của chúng ta—trong các phương diện hồng trần và siêu hồng trần của nó.

76. We note that it is a “right” and privilege to “direct the three major streams” of electricity.

76. Chúng ta lưu ý rằng đó là một “quyền” và đặc ân để “chỉ đạo ba dòng chính” của điện.

77. We must remember that the three Buddha of Activity were three Planetary Logoi in the previous solar system, and that They had reached in that system a very high degree of manasic expression.

77. Chúng ta phải nhớ rằng ba Đức Phật Hoạt Động đã là ba Hành Tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời trước, và rằng Các Ngài đã đạt đến trong hệ thống ấy một mức độ biểu lộ manas rất cao.

78. It would not seem reasonable to confine the influences of these Buddhas to the systemic physical plane alone.

78. Có vẻ không hợp lý nếu giới hạn các ảnh hưởng của các Đức Phật này chỉ trong cõi hồng trần của hệ thống mà thôi.

These three streams are concerned with atomic substance, out of which all forms are constructed.

Ba dòng này liên quan đến chất liệu nguyên tử, từ đó mọi hình tướng được kiến tạo.

79. Again, we do not know with certainty whether we are speaking of the atomic substance of the systemic physical plane or the atomic substance of all the lower eighteen subplanes.

79. Một lần nữa, chúng ta không biết chắc liệu chúng ta đang nói về chất liệu nguyên tử của cõi hồng trần của hệ thống hay chất liệu nguyên tử của toàn bộ mười tám cõi phụ thấp.

80. The term “physical plane”, above, should prevent us from summarily dismissing the possibility that DK may be talking only of the systemic physical plane.

80. Tuy nhiên, thuật ngữ “cõi hồng trần” ở trên khiến chúng ta không thể vội vàng bác bỏ khả năng rằng Chân sư DK có thể chỉ đang nói về cõi hồng trần của hệ thống.

81. Atomic substance, however, is found in all vehicles of the human being and, naturally, on all the lower eighteen subplanes.

81. Tuy nhiên, chất liệu nguyên tử hiện diện trong mọi hiện thể của con người và, dĩ nhiên, trên toàn bộ mười tám cõi phụ thấp.

82. Further, there are “forms” to be found on all the lower eighteen subplanes and all these forms are constructed by “atomic substance”.

82. Hơn nữa, có những “hình tướng” được tìm thấy trên mọi cõi phụ thấp trong mười tám cõi ấy, và tất cả các hình tướng này đều được kiến tạo bởi “chất liệu nguyên tử”.

In connection with our chain there are three mysterious Entities (of whom our three Pratyeka Buddhas are but the Earth reflections) Who perform a similar function in connection with the electrical forces of the chain.

Liên hệ với dãy của chúng ta có ba Thực Thể huyền bí (mà ba vị Pratyeka Buddha của chúng ta chỉ là những phản chiếu Địa Cầu) Đấng thực hiện một chức năng tương tự liên hệ với các mãnh lực điện của dãy.

83. We learn that the Buddhas of Activity are called Pratyeka Buddhas. In some traditions Pratyeka Buddhas are considered to be “selfish Buddhas”—those Who care only for Their own advancement and Who are not animated by compassion. I think we can dismiss this kind of thought as having its origin in a very limited perspective.

83. Chúng ta biết rằng các Đức Phật Hoạt Động được gọi là các Pratyeka Buddha. Trong một số truyền thống, các Pratyeka Buddha được xem là những “Đức Phật ích kỷ”—những Đấng chỉ quan tâm đến sự tiến bộ của riêng mình và không được thúc đẩy bởi lòng từ bi. Tôi nghĩ chúng ta có thể gạt bỏ loại quan niệm này như bắt nguồn từ một góc nhìn rất hạn hẹp.

84. The “three mysterious Entitles” are, it seems, far greater than the Buddhas of Activity. They hold sway at a chain level, whereas the Buddhas of Activity hold sway at the globe level.

84. Ba “Thực Thể huyền bí” này, dường như, vĩ đại hơn rất nhiều so với các Đức Phật Hoạt Động. Các Ngài nắm quyền ở cấp độ dãy, trong khi các Đức Phật Hoạt Động nắm quyền ở cấp độ bầu hành tinh.

85. We may assume that the influence of these Entities is not confined to the systemic physical plane, as there are so many subtle globes going to the constitution of even the more material chains.

85. Chúng ta có thể giả định rằng ảnh hưởng của các Thực Thể này không bị giới hạn trong cõi hồng trần của hệ thống, vì có quá nhiều bầu hành tinh vi tế cấu thành nên ngay cả các dãy vật chất hơn.

86. But then, even the influence of the Buddhas of Activity is, very likely, not confined to the systemic physical plane. When DK speaks of “Earth reflections”, He does not, thereby, confirm that the influence of the three Buddhas of Activity is limited to the systemic physical plane. Our globe has many layers and the Buddhas of Activity are associated with the highest layers found on the cosmic physical plane dimensions of our globe—the logoic plane.

86. Nhưng ngay cả ảnh hưởng của các Đức Phật Hoạt Động cũng rất có thể không bị giới hạn trong cõi hồng trần của hệ thống. Khi Chân sư DK nói đến “những phản chiếu Địa Cầu”, do đó Ngài không xác nhận rằng ảnh hưởng của ba Đức Phật Hoạt Động bị giới hạn trong cõi hồng trần của hệ thống. Bầu hành tinh của chúng ta có nhiều tầng lớp, và các Đức Phật Hoạt Động liên kết với những tầng cao nhất được tìm thấy trong các chiều kích cõi hồng trần vũ trụ của bầu hành tinh chúng ta—cõi logoi.

87. As Globe Lords are systemic Beings and may, from one perspective, be considered “cosmic” Beings, as are Planetary Logos, They obviously have astral bodies made of cosmic astral substance and mental bodies made of cosmic mental substance. We might be led, then, to inquire, “Just how many vehicular dimensions does a Globe Lord have”. We will surely have to think is terms that transcend the systemic physical plane!

87. Vì các Chúa Tể Bầu Hành Tinh là những Hữu thể của hệ thống và, từ một góc nhìn nào đó, có thể được xem là những Hữu thể “vũ trụ”, cũng như các Hành Tinh Thượng Đế, nên hiển nhiên Các Ngài có các thể cảm dục được tạo bằng chất liệu cảm dục vũ trụ và các thể trí được tạo bằng chất liệu trí tuệ vũ trụ. Khi đó, chúng ta có thể được dẫn đến câu hỏi: “Một Chúa Tể Bầu Hành Tinh có bao nhiêu chiều kích hiện thể?” Chắc chắn chúng ta sẽ phải suy nghĩ theo những thuật ngữ vượt khỏi cõi hồng trần của hệ thống!

88. Globes are part of our solar system, and our solar system (from the occult perspective) is considered not to ‘extend’ onto the cosmic astral plane and cosmic mental plane, yet, taking the analogy from the human being, his physical-etheric body is, in a way, his system, and yet his astral body and mental body are also a part of his system. So, then, do Globe Lords, for instance, have vehicles composed of cosmic astral matter and cosmic mental matter? The same question can be asked of Chain Lords and Planetary Logoi. The question really is this: “In what ways can our solar system be reckoned to include expressions on the cosmic astral plane and cosmic mental plane, and in what ways not?”

88. Các bầu hành tinh là một phần của hệ mặt trời chúng ta, và hệ mặt trời của chúng ta (theo quan điểm huyền bí học) được xem là không “mở rộng” lên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ; tuy nhiên, lấy sự tương đồng từ con người, thể hồng trần-dĩ thái của y, theo một cách nào đó, là hệ thống của y, và thế nhưng thể cảm dục và thể trí của y cũng là một phần của hệ thống ấy. Vậy thì, chẳng hạn, các Chúa Tể Bầu Hành Tinh có những hiện thể được cấu thành từ vật chất cảm dục vũ trụ và vật chất trí tuệ vũ trụ hay không? Cùng câu hỏi ấy có thể được đặt ra cho các Chúa Tể Dãy và các Hành Tinh Thượng Đế. Câu hỏi thực sự là thế này: “Theo những cách nào hệ mặt trời của chúng ta có thể được tính là bao gồm các biểu lộ trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, và theo những cách nào thì không?”

89. We are told that the Buddhas of Activity are “reflections” of these three greater Entities. From another perspective, we could consider all the Buddhas of Activity (are there twenty-one per chain) as emanations of these Entities.

89. Chúng ta được cho biết rằng các Đức Phật Hoạt Động là những “phản chiếu” của ba Thực Thể lớn hơn này. Từ một góc nhìn khác, chúng ta có thể xem tất cả các Đức Phật Hoạt Động (có phải là hai mươi mốt vị cho mỗi dãy không) như những phát xạ của các Thực Thể ấy.

90. Thus, the question may also arise whether each globe in our chain has certain Buddhas of Activity associated with it.

90. Vì vậy, câu hỏi cũng có thể nảy sinh rằng liệu mỗi bầu hành tinh trong dãy của chúng ta có những Đức Phật Hoạt Động nhất định liên kết với nó hay không.

91. We are led into the mysteries of subtle planetary structure. All these globes may be, in a way, interpenetrating, and yet maintain their ‘globular integrity’. This goes to the heart of the mystery of planetary structure.

91. Chúng ta được dẫn vào các huyền nhiệm của cấu trúc hành tinh vi tế. Tất cả các bầu hành tinh này có thể, theo một cách nào đó, xuyên nhập lẫn nhau, mà vẫn duy trì “tính toàn vẹn hình cầu” của chúng. Điều này chạm đến cốt lõi của huyền nhiệm về cấu trúc hành tinh.

In the scheme, the planetary Logos has also three co-operating Existences Who are the summation of His third Aspect,

Trong hệ hành tinh, Hành Tinh Thượng Đế cũng có ba Hữu thể hợp tác là tổng hợp phương diện thứ ba của Ngài,

92. Thus far we have three Buddhas, three Entities and three Existences—each three greater than the three preceding.

92. Cho đến nay chúng ta có ba Đức Phật, ba Thực Thể và ba Hữu thể—mỗi bộ ba đều lớn hơn bộ ba đứng trước.

93. By inference, we may judge the following:

93. Bằng suy luận, chúng ta có thể phán đoán điều sau:

a. That the Buddhas of Activity are the summation of the third aspect of the Globe Lord. We may infer that the Globe Lord is an entity greater than any of the Buddhas of Activity. (In this context we should consider that Sanat Kumara is the “Lord of the World”.)

a. Rằng các Đức Phật Hoạt Động là tổng hợp phương diện thứ ba của Chúa Tể Bầu Hành Tinh. Chúng ta có thể suy ra rằng Chúa Tể Bầu Hành Tinh là một thực thể lớn hơn bất kỳ vị nào trong các Đức Phật Hoạt Động. (Trong bối cảnh này, chúng ta nên xem Đức Sanat Kumara là “Chúa Tể của Thế Giới”.)

b. That the three “Entities” are the summation of the third aspect of the Chain Lord and that a Chain Lord is greater than any of the three Entities.

b. Rằng ba “Thực Thể” là tổng hợp phương diện thứ ba của Chúa Tể Dãy và rằng một Chúa Tể Dãy lớn hơn bất kỳ vị nào trong ba Thực Thể ấy.

c. Just as the “three cooperating Existences” are, as stated above, the “summation of His third Aspect”—speaking of the Planetary Logos. The Planetary Logos is greater than any of the “three cooperating Existences”

c. Cũng như ba “Hữu thể hợp tác”, như đã nói ở trên, là “tổng hợp phương diện thứ ba của Ngài”—ở đây nói về Hành Tinh Thượng Đế. Hành Tinh Thượng Đế lớn hơn bất kỳ vị nào trong ba “Hữu thể hợp tác” ấy.

94. How are all these Beings related? When the mysteries of emanation are more fully revealed to us, we may know.

94. Tất cả các Hữu thể này liên hệ với nhau như thế nào? Khi các huyền nhiệm của phát xạ được mặc khải đầy đủ hơn cho chúng ta, chúng ta có thể sẽ biết.

95. Every Globe Lord and every Chain Lord is really the Planetary Logos in essence and through emanation. Beings of the stature of those we are discussing are “mind born”.

95. Mọi Chúa Tể Bầu Hành Tinh và mọi Chúa Tể Dãy thực ra đều là Hành Tinh Thượng Đế trong bản chất và qua phát xạ. Những Hữu thể có tầm vóc như các Đấng chúng ta đang bàn đến là “do trí sinh ra”.

and who perform therefore work similar to that performed by the three aspects of Brahma in the solar system.

và do đó thực hiện công việc tương tự như công việc do ba phương diện của Brahma thực hiện trong hệ mặt trời.

96. Brahma, Vishnu and Shiva (the three Logoi subsidiary to our Solar Logos) are all triune, leading to a ninefold solar systemic structure.

96. Brahma, Vishnu và Shiva (ba Thượng đế phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế của chúng ta) đều là tam vị, dẫn đến một cấu trúc hệ mặt trời cửu phân.

97. We see that the great Beings Who represent solar systemic Brahma in triple aspect are the higher correspondences to the “three cooperating Existences” Who represent the third aspect of the Planetary Logos.

97. Chúng ta thấy rằng các Hữu thể vĩ đại đại diện cho Brahma của hệ mặt trời trong phương diện tam phân là những tương ứng cao hơn của ba “Hữu thể hợp tác” đại diện cho phương diện thứ ba của Hành Tinh Thượng Đế.

98. We can begin to infer that each of the other two aspects is also triple—on the planetary logoic level, on the chain level and on the globe level.

98. Chúng ta có thể bắt đầu suy ra rằng mỗi một trong hai phương diện kia cũng đều là tam phân—ở cấp độ logoi hành tinh, ở cấp độ dãy và ở cấp độ bầu hành tinh.

99. That is to say that the Buddhas of Activity will be complemented by three Buddhas of Love and by three Buddhas of Will (though this latter group may not yet be in full expression, especially upon a non-sacred planet such as ours).

99. Nghĩa là các Đức Phật Hoạt Động sẽ được bổ sung bởi ba Đức Phật Bác Ái và ba Đức Phật Ý Chí (mặc dù nhóm sau này có thể chưa biểu lộ đầy đủ, đặc biệt trên một hành tinh không thiêng liêng như hành tinh của chúng ta).

The mystery of this threefold type of electricity is largely connected with the lesser Builders, with the elemental essence in one particular aspect,—its lowest and most profound for men to apprehend as it concerns the secret of that which "substands" or "stands back" of all that is objective.

Huyền nhiệm của loại điện tam phân này phần lớn có liên hệ với các vị tiểu kiến tạo, với Tinh chất hành khí trong một phương diện đặc biệt,—phương diện thấp nhất và sâu xa nhất của nó đối với con người để thấuhiểu, vì nó liên quan đến bí mật của cái “nâng đỡ từ bên dưới” hay “đứng phía sau” mọi điều khách quan.

100. DK is speaking in terms highly occult.

100. Chân sư DK đang nói bằng những thuật ngữ hết sức huyền bí học.

101. By “profound”, DK seem to mean ‘profoundly difficult to understand’ or ‘deeply material’.

101. Bởi “sâu xa”, Chân sư DK dường như muốn nói là “cực kỳ khó hiểu” hoặc “rất vật chất”.

102. We have been told of “elemental essence” and of “monadic essence” (essence of the atomic subplanes).

102. Chúng ta đã được nói đến “Tinh chất hành khí” và “tinh chất chân thần” (tinh chất của các cõi phụ nguyên tử).

103. We know that the category of “lesser Builders” is also triune. There are three types of lunar pitris, the lowest of which is substance-matter of the sheaths.

103. Chúng ta biết rằng phạm trù “các vị tiểu kiến tạo” cũng là tam vị. Có ba loại thái âm tổ phụ, loại thấp nhất trong đó là chất liệu-vật chất của các thể.

a. The highest group of all receives the energy from the higher levels, and ensouls the spirillae of the three permanent atoms.

a. Nhóm cao nhất trong tất cả tiếp nhận năng lượng từ các cấp độ cao hơn, và phú linh cho các loa tuyến của ba nguyên tử trườngtồn.

b. The second group, being the positive energy that attracts, builds and forms the body of man on the three planes.

b. Nhóm thứ hai, là năng lượng dương thu hút, kiến tạo và tạo thành thân thể của con người trên ba cõi.

c. The lowest group are the negative aspect of energised substance and the matter of the three sheaths. (TCF 780)

c. Nhóm thấp nhất là phương diện âm của chất liệu được tiếp năng lượng và là vật chất của ba thể. (TCF 780)

104. In this case, DK, may be speaking of the very lowest form of pitri, i.e., of elemental essence, but if so, it would be difficult to understand why such essence would “substand” all objectivity.

104. Trong trường hợp này, Chân sư DK có thể đang nói về hình thức thấp nhất của pitri, tức là về Tinh chất hành khí, nhưng nếu vậy thì sẽ khó hiểu tại sao tinh chất ấy lại “nâng đỡ từ bên dưới” mọi tính khách quan.

105. Usually, that which substands is considered more subtle than that which is ‘substood’. But let us see. He could be referring to that which ‘stands under’ all that is seen and is, therefore, the deeply material basis of all normal objectivity.

105. Thông thường, cái nâng đỡ từ bên dưới được xem là vi tế hơn cái được “nâng đỡ”. Nhưng hãy xem. Ngài có thể đang nói đến cái “nằm bên dưới” mọi điều được thấy và do đó là nền tảng vật chất sâu đậm của mọi tính khách quan thông thường.

106. We can certainly see that threefold electricity can be seen as operative even within the level of densest objectivity (a level so commonly associated with the third aspect of divinity). Yet magnetism between the atoms of matter exists as does the electrical change of the atomic nucleus.

106. Chúng ta chắc chắn có thể thấy rằng điện tam phân có thể được xem là đang hoạt động ngay cả trong cấp độ khách quan đậm đặc nhất (một cấp độ thường được liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính). Tuy nhiên, từ điện giữa các nguyên tử của vật chất vẫn tồn tại, cũng như sự biến đổi điện của hạt nhân nguyên tử.

In a secondary sense it concerns the forces in the ethers which are those which energise and produce the activities of all atoms.

Theo một nghĩa thứ yếu, nó liên quan đến các mãnh lực trong các cõi dĩ thái, là những mãnh lực chính là những gì tiếp năng lượng và tạo ra các hoạt động của mọi nguyên tử.

107. DK seems to be suggesting that the threefold electricity under discussion is focally expressive within the densest of all levels of the cosmic physical plane—i.e., on the densest three subplanes of the systemic physical plane.

107. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng điện tam phân đang được bàn đến biểu lộ tập trung nhất trong cấp độ đậm đặc nhất của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ—tức là trên ba cõi phụ đậm đặc nhất của cõi hồng trần của hệ thống.

108. If the three streams of electricity are mostly focused on the densest of all levels, they are secondarily focussed on the etheric planes which energize and activate all dense material atoms.

108. Nếu ba dòng điện chủ yếu tập trung trên cấp độ đậm đặc nhất, thì chúng thứ yếu tập trung trên các cõi dĩ thái, là những cõi tiếp năng lượng và hoạt hóa mọi nguyên tử vật chất đậm đặc.

109. If we rise to the cosmic analogy, the threefold electrical stream would be seen to animate the lower eighteen subplanes and to work in a secondary manner on the cosmic ethers.

109. Nếu chúng ta vươn lên sự tương đồng vũ trụ, dòng điện tam phân sẽ được thấy là làm sinh động mười tám cõi phụ thấp và hoạt động theo cách thứ yếu trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

Another type deals with the electrical phenomenon which finds its expression in the light which man has somewhat harnessed, in the phenomena such as thunder storms and the manifestation of lightning, with the aurora borealis, and in the production of earthquakes and all volcanic action.

Một loại khác liên quan đến hiện tượng điện tìm thấy sự biểu lộ của nó trong ánh sáng mà con người đã phần nào chế ngự, trong các hiện tượng như giông bão và sự biểu hiện của sét, với cực quang phương bắc, và trong việc tạo ra động đất và mọi hoạt động núi lửa.

110. Let us tabulate the expressions of another type of electricity—not the threefold type of electricity of which DK has been speaking:

110. Chúng ta hãy lập bảng các biểu lộ của một loại điện khác—không phải loại điện tam phân mà Chân sư DK đã nói đến:

a. This type of electrical phenomenon finds is expression in light

a. Loại hiện tượng điện này biểu lộ trong ánh sáng

b. It finds its expression in thunderstorms and in the manifestation of lightning

b. Nó biểu lộ trong giông bão và trong sự biểu hiện của sét

c. It finds its expression in phenomena like the aurora borealis

c. Nó biểu lộ trong các hiện tượng như cực quang phương bắc

d. It finds its expression in the production of earthquakes

d. Nó biểu lộ trong việc tạo ra động đất