← Commentary_S7_733_747

The pure heart and clean mind alone permit one to attain salvation.

Trích nội dung chương

114. This can never be forgotten. Knowledge becomes a menace unless the heart is pure and mind clean. 114. Điều này không bao giờ được quên. Tri thức trở thành một mối đe dọa trừ khi trái tim thanh khiết và trí tuệ trong sạch.


The pure heart and clean mind alone permit one to attain salvation.

Chỉ trái tim thanh khiết và trí tuệ trong sạch mới cho phép con người đạt được sự cứu rỗi.

114. This can never be forgotten. Knowledge becomes a menace unless the heart is pure and mind clean.

114. Điều này không bao giờ được quên. Tri thức trở thành một mối đe dọa trừ khi trái tim thanh khiết và trí tuệ trong sạch.

This was his doctrine. So, likewise, is it taught in the Aryan Mahabharata (Sec. CXCIX. Vana Parva) which says: "Those high souled persons that do not commit sins in word, deed, heart and soul, are said to undergo ascetic austerities, and not that they suffer their bodies to be wasted by fasts and penances.

Đó là giáo lý của ông. Tương tự như vậy, điều ấy cũng được dạy trong Mahabharata Arya (Mục CXCIX. Vana Parva) có nói: "Những người có tâm hồn cao thượng không phạm tội bằng lời nói, hành động, trái tim và linh hồn, được nói là đang trải qua những khổ hạnh tu trì, chứ không phải vì họ để cho thân thể mình hao mòn bởi chay tịnh và khổ hạnh.

115. We all understand how one can commit sins in word and deed. How does one commit sins in heart and soul?

115. Tất cả chúng ta đều hiểu làm sao người ta có thể phạm tội bằng lời nói và hành động. Nhưng làm sao người ta phạm tội bằng trái tim và linh hồn?

116. The true “ascetic austerities” are not really of a physical nature.

116. Những “khổ hạnh tu trì” chân chính thực ra không thuộc bản chất thể xác.

He that hath no feeling of kindness for relatives cannot be free from sin, even if his body be pure. That hard-heartedness of his is the enemy of his asceticism.

Người nào không có lòng tử tế đối với thân quyến thì không thể thoát khỏi tội lỗi, dù thể xác của y có thanh sạch. Sự cứng lòng ấy là kẻ thù của đời sống khổ hạnh của y.

117. We are given the proper sense of proportion. One cannot be spiritual if one evades the demonstration of love and kindness in the immediate surrounding.

117. Chúng ta được trao cho ý thức về tỉ lệ đúng đắn. Người ta không thể là tinh thần nếu né tránh việc biểu lộ tình thương và lòng tử tế trong môi trường gần gũi trước mắt.

118. Thus, asceticism demands softness of heart.

118. Vì vậy, khổ hạnh đòi hỏi sự mềm mại của trái tim.

119. Asceticism is a commitment to the reception and expression of spiritual energies.

119. Khổ hạnh là một sự cam kết đối với việc tiếp nhận và biểu lộ các năng lượng tinh thần.

Asceticism, again, is not mere abstinence from the pleasures of the world. He that is always pure and decked with virtues, he that practices kindness all his life, is a Muni, even though he lead a domestic life."

Hơn nữa, khổ hạnh không chỉ đơn thuần là kiêng các thú vui của thế gian. Người nào luôn thanh khiết và được trang sức bằng các đức hạnh, người nào thực hành lòng tử tế suốt đời mình, là một Muni, dù y sống đời gia chủ."

120. These are excellent balancing thoughts. We physicalize our notions so easily and constantly forget that that from which we must abstain is more often of a psychological than a physical nature.

120. Đây là những tư tưởng quân bình tuyệt vời. Chúng ta quá dễ vật chất hóa các quan niệm của mình và liên tục quên rằng điều chúng ta phải kiêng tránh thường mang bản chất tâm lý hơn là thể xác.

—The Theosophist, Vol. XIII, p. 259.

—The Theosophist, Tập XIII, tr. 259.

What occurs on lower planes is but a reflection of higher processes, and in this thought may lie illumination.

Điều xảy ra trên các cõi thấp chỉ là một phản chiếu của các tiến trình cao hơn, và chính trong tư tưởng này có thể có sự soi sáng.

121. Understanding this, we use the principle of analogy to generalize from our better understanding of lower processes to an increased understanding of higher processes.

121. Hiểu được điều này, chúng ta dùng định luật tương đồng để khái quát hóa từ sự hiểu biết tốt hơn của mình về các tiến trình thấp đến một sự thấu hiểu gia tăng về các tiến trình cao hơn.

A man is a force centre, either for his Ego, when sufficiently evolved, or, via his Ego, of his group force; when very highly developed he can consciously be overshadowed by an exponent of a different type of force, which blends with his group, or Ray force, and produces significant results in his life on earth.

Một người là một trung tâm mãnh lực, hoặc cho chân ngã của y, khi đã tiến hóa đầy đủ, hoặc, thông qua chân ngã của y, cho mãnh lực nhóm của y; khi được phát triển rất cao, y có thể một cách hữu thức được phủ bóng bởi một vị biểu hiện của một loại mãnh lực khác, mãnh lực này hòa trộn với mãnh lực nhóm hay mãnh lực cung của y, và tạo ra những kết quả có ý nghĩa trong đời sống của y trên Trái Đất.

122. Let us look at the various ways in which a man may be overshadowed:

122. Chúng ta hãy xem những cách khác nhau mà một người có thể được phủ bóng:

a. By his own Ego, for which man acts as a force center. The process of overshadowing begins here, and it is futile for the disciple to expect to be overshadowed by one of the Great Ones until he can sense the overshadowing of his own Ego. Even to be consciously overshadowed by one’s own Ego requires sufficient evolvement.

a. Bởi chính chân ngã của mình, mà đối với chân ngã ấy con người hành động như một trung tâm mãnh lực. Tiến trình phủ bóng bắt đầu ở đây, và thật vô ích nếu đệ tử mong đợi được một trong Các Đấng Cao Cả phủ bóng cho đến khi y có thể cảm nhận sự phủ bóng của chính chân ngã mình. Ngay cả việc được chính chân ngã của mình phủ bóng một cách hữu thức cũng đòi hỏi sự tiến hóa đầy đủ.

b. By the group to which he belongs, via his Ego. He becomes then an exponent of his soul group, or ray group.

b. Bởi nhóm mà y thuộc về, thông qua chân ngã của y. Khi ấy y trở thành một vị biểu hiện của nhóm linh hồn của mình, hay nhóm cung của mình.

c. By an exponent of a different (and, presumably, higher) force

c. Bởi một vị biểu hiện của một mãnh lực khác (và có lẽ cao hơn)

123. It is interesting that the external overshadowing force does not negate or offset the force of a man’s Ego or group, but blends with this forces which are closer to a man’s own energy system.

123. Điều thú vị là mãnh lực phủ bóng từ bên ngoài không phủ nhận hay hóa giải mãnh lực của chân ngã hay nhóm của một người, mà hòa trộn với những mãnh lực này, vốn gần hơn với hệ thống năng lượng riêng của người ấy.

Again when an Ego is highly evolved he may choose during any particular incarnation to work paramountly through any one principle among the lower four;

Lại nữa, khi một chân ngã đã tiến hóa cao, y có thể chọn trong bất kỳ kiếp lâm phàm đặc biệt nào để hoạt động chủ yếu qua bất kỳ một nguyên khí nào trong bốn nguyên khí thấp;

124. The term “Ego” does not here signify a Solar Angel as a “returning Nirvani”, but the man himself.

124. Thuật ngữ “chân ngã” ở đây không có nghĩa là một Thái dương Thiên Thần như một “nirvani trở về”, mà là chính con người.

125. The Ego can express on its own plane or also work through the principles of the personality.

125. Chân ngã có thể biểu lộ trên cõi riêng của nó hoặc cũng có thể hoạt động qua các nguyên khí của phàm ngã.

126. Presumably, the principle among the lower four are prana and the etheric body, kama, kama-manas and lower manas.

126. Có lẽ các nguyên khí trong bốn nguyên khí thấp là prana và thể dĩ thái, kama, kama-manas và hạ trí.

127. The Ego can also work for maximum physical impact on the physical plane, but the physical body is not a principle.

127. Chân ngã cũng có thể hoạt động để tạo tác động hồng trần tối đa trên cõi hồng trần, nhưng thể xác không phải là một nguyên khí.

when this is the case the man's life on earth is significantly that of an embodied principle.

khi điều này xảy ra, đời sống của con người trên Trái Đất mang ý nghĩa nổi bật là đời sống của một nguyên khí nhập thể.

128. Becoming an embodied principle, therefore, is a matter of egoic choice and emphasis.

128. Do đó, việc trở thành một nguyên khí nhập thể là vấn đề của sự lựa chọn và sự nhấn mạnh của chân ngã.

129. We might wonder why none of the higher principles is mentioned. We may think that the Ego, inspired by a higher principle, works through the lower principle which is correlated tot it.

129. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao không nguyên khí cao nào được nhắc đến. Chúng ta có thể nghĩ rằng chân ngã, được cảm hứng bởi một nguyên khí cao hơn, hoạt động thông qua nguyên khí thấp tương ứng với nó.

130. In any case, the Ego’s emphasis emphasizes one of the lower four principles.

130. Dù sao đi nữa, sự nhấn mạnh của chân ngã làm nổi bật một trong bốn nguyên khí thấp.

He seems to strike one note and to sound out one tone. His work is clearly to be seen along one line.

Dường như y chỉ gõ lên một nốt và chỉ xướng ra một âm điệu. Công việc của y rõ ràng được thấy theo một đường lối duy nhất.

131. The Ego’s choice may have much to do with the quality of the vehicle through which the chosen principle is expressed. The higher the quality of the vehicle, the more easily the Ego can express through it.

131. Sự lựa chọn của chân ngã có thể liên hệ rất nhiều đến phẩm tính của vận cụ mà qua đó nguyên khí được chọn được biểu lộ. Phẩm tính của vận cụ càng cao, chân ngã càng có thể biểu lộ qua nó một cách dễ dàng hơn.

He is a fanatic of high degree, but accomplishes big things for his subrace, even though the physical brain may not be consciously aware of the egoic impulse.

Y là một kẻ cuồng tín ở mức độ cao, nhưng hoàn thành những việc lớn lao cho giống dân phụ của mình, dù bộ não hồng trần có thể không hữu thức nhận biết xung động chân ngã.

132. We are being shown the causes of one kind of noticeable imbalance.

132. Chúng ta đang được chỉ cho thấy các nguyên nhân của một loại mất quân bình dễ nhận thấy.

133. A fanatic is one who emphasizes but one direction and the expression of but one line of energy or force.

133. Kẻ cuồng tín là người chỉ nhấn mạnh một hướng duy nhất và sự biểu lộ của chỉ một đường năng lượng hay mãnh lực duy nhất.

134. It is being suggested that a man may not know or realize the cause for his own fanaticism. He may feel inclined to work only in a specific manner little realizing that it is his Ego (or Himself-as-an-Ego) which has inclined him thus.

134. Ở đây hàm ý rằng một người có thể không biết hay không chứng nghiệm được nguyên nhân của chính sự cuồng tín của mình. Y có thể cảm thấy chỉ nghiêng về việc hoạt động theo một cách thức đặc thù nào đó mà ít nhận ra rằng chính chân ngã của y (hay chính y-trong-tư-cách-một-chân-ngã) đã khiến y nghiêng theo như vậy.

135. The sixth ray may be involved in such a canalized choice; it has been called the “ray of undue emphasis” (cf. DINA I 322-323).

135. Cung sáu có thể có liên quan trong một sự lựa chọn được dẫn kênh như thế; nó đã được gọi là “cung của sự nhấn mạnh quá mức” (x. DINA I 322-323).

This process has a curious relation to the obscuration, or fading out, of the personality, for the particular principle embodied works through a corresponding permanent atom, and its spirillae become over-rapidly developed, and hence their term of service wears to a close.

Tiến trình này có một liên hệ kỳ lạ với sự che mờ, hay sự phai mờ của phàm ngã, vì nguyên khí đặc thù được nhập thể hoạt động qua một nguyên tử trường tồn tương ứng, và các loa tuyến của nó phát triển quá nhanh, và do đó thời kỳ phụng sự của chúng đi đến chỗ kết thúc.

136. This is an important piece of occult detail.

136. Đây là một chi tiết huyền bí học quan trọng.

137. That which is intensely used or over-used, may ‘burn out’ and move towards obscuration.

137. Điều gì được sử dụng mãnh liệt hay lạm dụng quá mức có thể “cháy cạn” và tiến đến sự che mờ.

138. DK is saying that intense, one-pointed emphasis may lead to obscuration and may be a signal that obscuration is drawing near.

138. Chân sư DK đang nói rằng sự nhấn mạnh mãnh liệt, nhất tâm có thể dẫn đến sự che mờ và có thể là dấu hiệu cho thấy sự che mờ đang đến gần.

139. What a man can do a Planetary Logos or Solar Logos can do. If a particular permanent atom and the plane associated with it are overemphasized, the vehicle associated with that permanent atom and plane may begin to enter obscuration.

139. Điều gì một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế có thể làm thì con người cũng có thể làm. Nếu một nguyên tử trường tồn đặc thù và cõi gắn liền với nó bị nhấn mạnh quá mức, vận cụ gắn với nguyên tử trường tồn và cõi ấy có thể bắt đầu đi vào sự che mờ.

140. DK seems to be suggesting that if one atom or principle is over-rapidly developed through excessive stimulation, the entire personality may, thereby, be pushed towards a fading out or obscuration.

140. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng nếu một nguyên tử hay nguyên khí bị phát triển quá nhanh do sự kích thích quá mức, thì toàn bộ phàm ngã vì thế có thể bị đẩy đến chỗ phai mờ hay che mờ.

141. It may be thought that a substantial degree of development must be achieved before such quasi-divine fanaticism may be undertaken by the Ego. Otherwise, balance might be entirely lost.

141. Có thể nghĩ rằng phải đạt được một mức phát triển đáng kể trước khi chân ngã có thể đảm nhận loại cuồng tín gần như thiêng liêng này. Nếu không, sự quân bình có thể bị mất hoàn toàn.

This is a fact which is nevertheless taken advantage of when a superman, or great adept, becomes the embodiment (during a rootrace) of a principle;

Tuy nhiên, đây là một sự kiện được tận dụng khi một siêu nhân, hay một chân sư vĩ đại, trở thành hiện thân (trong suốt một giống dân gốc) của một nguyên khí;

142. We learn that a sub-race or rootrace may benefit from the application of such fanaticism.

142. Chúng ta biết rằng một giống dân phụ hay giống dân gốc có thể được lợi nhờ việc áp dụng loại cuồng tín này.

143. Is DK hinting that it is more likely for an initiate or great adept to pass through such an experience of one-pointed, exclusive emphasis? It seems so. In the average man, such excessive directed influence from Ego might well lead to personality destruction.

143. Có phải Chân sư DK đang ám chỉ rằng một điểm đạo đồ hay một chân sư vĩ đại có nhiều khả năng trải qua kinh nghiệm nhấn mạnh nhất tâm, loại trừ như thế hơn không? Dường như là vậy. Ở người trung bình, ảnh hưởng được định hướng quá mức như thế từ chân ngã rất có thể sẽ dẫn đến sự hủy diệt phàm ngã.

144. We are well aware of how terribly distorted the idea of the “superman” became during the rise of Nazism.

144. Chúng ta đều biết rõ ý niệm về “siêu nhân” đã bị bóp méo khủng khiếp như thế nào trong thời kỳ chủ nghĩa Quốc xã trỗi dậy.

the vestures or sheaths of which the permanent atom is the nucleus (through the innate strength of the developed spirillae) are preserved by the aid of mantric formulas.

các y phục hay các thể mà nguyên tử trường tồn là hạt nhân của chúng (nhờ sức mạnh bẩm sinh của các loa tuyến đã phát triển) được bảo tồn nhờ sự trợ giúp của các công thức mantram.

145. DK is telling us of a method (preservation by mantric formulas) which will hold the permanent atom and its vesture in incarnation even though excessive stimulation would usually promote a fading out.

145. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về một phương pháp (bảo tồn bằng các công thức mantram) sẽ giữ nguyên tử trường tồn và y phục của nó đang lâm phàm, dù sự kích thích quá mức thường sẽ thúc đẩy sự phai mờ.

146. Mantric formulae are used as means of preservation.

146. Các công thức mantram được dùng như những phương tiện bảo tồn.

The vibration is perpetuated for a specific length of time, and for as long as the vesture or sheath may be required. A hint is here conveyed which may be of service.

Rung động được duy trì trong một thời gian xác định, và lâu chừng nào y phục hay thể còn được cần đến. Ở đây có truyền đạt một gợi ý có thể hữu ích.

147. We seem to be given a method by which to avoid the destructive effects of over-stimulation.

147. Dường như chúng ta được trao cho một phương pháp để tránh các tác động hủy diệt của sự kích thích quá mức.

148. The hint suggests that just as the threat to disintegration comes from ‘above’ (from the Ego’s exclusivistic focus), so effective means of preservation may also come from above.

148. Gợi ý này cho thấy rằng cũng như mối đe dọa tan rã đến từ “bên trên” (từ sự tập trung loại trừ của chân ngã), thì những phương tiện bảo tồn hữu hiệu cũng có thể đến từ bên trên.

149. What type of mantrams could we, as disciples, use when we are involved in some powerful, canalized emphasis? What, for us, would preserve balance?

149. Chúng ta, với tư cách là các đệ tử, có thể dùng loại mantram nào khi đang dính dự vào một sự nhấn mạnh mạnh mẽ, được dẫn kênh? Điều gì sẽ bảo tồn sự quân bình cho chúng ta?

Again, when a man has become a disciple he may, if he so wish, remain upon the astral plane and work there,

Một lần nữa, khi một người đã trở thành đệ tử, y có thể, nếu muốn, ở lại trên cõi cảm dục và làm việc tại đó,

150. This could take place in the post mortem phase, and probably does so, but the next section of text offers another alternative.

150. Điều này có thể xảy ra trong giai đoạn sau khi chết, và có lẽ thực sự xảy ra như vậy, nhưng phần văn bản kế tiếp đưa ra một khả năng khác nữa.

and—at his pleasure, and under the adjustment of karma by [Page 751] his Guru—he may take immediate physical birth.

và—tùy theo ý muốn của y, và dưới sự điều chỉnh nghiệp quả bởi [Page 751] Chân sư của y—y có thể lập tức tái sinh hồng trần.

151. Is it also possible that one may descend towards incarnation but pause on the astral plane for a certain kind of work. From that position (if his Guru makes certain arrangements) he may take immediate physical birth if he wills to.

151. Có phải cũng có thể là một người đi xuống hướng về nhập thể nhưng tạm dừng trên cõi cảm dục để làm một loại công việc nào đó? Từ vị trí ấy (nếu Chân sư của y có những sắp đặt nhất định), y có thể lập tức tái sinh hồng trần nếu y muốn như vậy.

152. Yet, from the original perspective, it is possible that after death, a man may work upon the astral plane, preserving that vehicle from the disintegration which it usually undergoes, and then, without moving still further inward to the mental and higher mental planes, the man may again move into incarnation “under the adjustment of karma by his Guru”.

152. Tuy nhiên, từ quan điểm ban đầu, có thể là sau khi chết, một người có thể làm việc trên cõi cảm dục, bảo tồn vận cụ ấy khỏi sự tan rã mà nó thường phải trải qua, rồi sau đó, không đi sâu thêm vào các cõi trí và cõi thượng trí, người ấy lại đi vào nhập thể “dưới sự điều chỉnh nghiệp quả bởi Chân sư của y”.

153. We must be careful about becoming rigid in our generalizations. There seem to be a number of ways in which a man may continue or prolong his work on one plane or another.

153. Chúng ta phải cẩn thận để không trở nên cứng nhắc trong các khái quát hóa của mình. Dường như có một số cách mà một người có thể tiếp tục hay kéo dài công việc của mình trên cõi này hay cõi khác.

A hint as to the mystery of the Bodhisattva may be found in these two thoughts, provided the student transfers the whole concept to the etheric levels of the cosmic physical plane,

Một gợi ý về huyền nhiệm của Đức Bồ Tát có thể được tìm thấy trong hai ý tưởng này, miễn là đạo sinh chuyển toàn bộ khái niệm ấy lên các cấp dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ,

154. The transference will involve the buddhic, atmic, monadic and perhaps logoic planes.

154. Sự chuyển dịch này sẽ liên quan đến các cõi Bồ đề, atma, chân thần và có lẽ cả cõi logoi.

155. Is DK suggesting that the true Bodhisattva withdraws from the lower three planes and then focusses on the buddhic plane (preserving His ‘position’ there through the use of certain mantrams—able at any point to take incarnation in the lower three worlds according to will)?

155. Có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng Đức Bồ Tát chân chính rút khỏi ba cõi thấp rồi tập trung trên cõi Bồ đề (bảo tồn “vị trí” của Ngài ở đó qua việc sử dụng một số mantram nhất định—và có thể ở bất kỳ thời điểm nào cũng nhập thể vào ba cõi thấp theo ý muốn)?

156. Normally, the Bodhisattva would ‘move on’, but may stay upon the buddhic plane for the sake of continued close work with humanity.

156. Bình thường, Đức Bồ Tát sẽ “tiến lên”, nhưng có thể lưu lại trên cõi Bồ đề vì mục đích tiếp tục công việc gần gũi với nhân loại.

157. In this case, His Guru would be Sanat Kumara.

157. Trong trường hợp này, Chân sư của Ngài sẽ là Đức Sanat Kumara.

158. It would seem that a Bodhisattva could seek release, if He wished, but, instead, insists (through sacrifice) on remaining “on call” as an expression of buddhic energy.

158. Dường như một Đức Bồ Tát có thể tìm kiếm sự giải thoát, nếu Ngài muốn, nhưng thay vào đó lại khăng khăng (qua sự hi sinh) ở lại trong tư thế “sẵn sàng đáp ứng” như một biểu hiện của năng lượng Bồ đề.

and remembers that on these levels the adept works altogether as a part of a group, and not as a separated Identity, as does the ego in the three worlds.

và nhớ rằng trên các cấp này chân sư làm việc hoàn toàn như một phần của một nhóm, chứ không như một Bản Sắc Cô Lập tách biệt, như chân ngã vẫn làm trong ba cõi giới.

159. The true Bodhisattva is an Adept.

159. Đức Bồ Tát chân chính là một chân sư.

160. A Bodhisattva emerges into usefulness as a result of group impulse.

160. Một Đức Bồ Tát xuất hiện trong tính hữu dụng như kết quả của xung động nhóm.

161. We are seeing that rather than follow the normal cycle, some human units, for special purposes, choose to sustain their involvement with a particular energy, principle or plane, all for the sake of service.

161. Chúng ta đang thấy rằng thay vì đi theo chu kỳ thông thường, một số đơn vị nhân loại, vì những mục đích đặc biệt, chọn duy trì sự dính dự của mình với một năng lượng, nguyên khí hay cõi đặc thù nào đó, tất cả đều vì mục đích phụng sự.

162. Mantrams help them accomplish this. Mantric formulations come in the second ray (as we have recently been taught) and thus have magnetic holding power.

162. Các mantram giúp họ hoàn thành điều này. Các công thức mantram thuộc cung hai (như gần đây chúng ta đã được dạy) và do đó có năng lực giữ vững từ tính.

Therefore, the energy pouring through Him may be:

Do đó, năng lượng tuôn đổ qua Ngài có thể là:

163. We are speaking of a Bodhisattva or an Adept as He sustains Himself in readiness for particularized service.

163. Chúng ta đang nói về một Đức Bồ Tát hay một chân sư khi Ngài duy trì chính mình trong trạng thái sẵn sàng cho một sự phụng sự chuyên biệt.

a. That of a particular centre in the body of the planetary Logos in its total force.

a. Năng lượng của một trung tâm đặc thù trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế trong toàn bộ mãnh lực của nó.

164. An Adept Who is an Avatar is the expression of a higher force center. Advanced Adepts may represent the “total force” of a particular center in the Planetary Logos.

164. Một chân sư là một Đấng Hoá Thân là biểu hiện của một trung tâm mãnh lực cao hơn. Các chân sư cao cấp có thể đại diện cho “toàn bộ mãnh lực” của một trung tâm đặc thù trong Hành Tinh Thượng Đế.

165. What might be the relation of the Avatar (Bodhisattva) the Christ in relation to the heart center of the Planetary Logos?

165. Đấng Hoá Thân (Đức Bồ Tát) là Đức Christ có thể có liên hệ gì với trung tâm tim của Hành Tinh Thượng Đế?

b. That of a particular set of vibrations within that centre, or a part of its vibratory force.

b. Năng lượng của một tập hợp rung động đặc thù trong trung tâm ấy, hay một phần của mãnh lực rung động của nó.

166. Some Adepts or Bodhisattvas may not express the “total force” of a center within a Planetary Logos, but only part of that force.

166. Một số chân sư hay Đức Bồ Tát có thể không biểu lộ “toàn bộ mãnh lực” của một trung tâm trong một Hành Tinh Thượng Đế, mà chỉ biểu lộ một phần của mãnh lực ấy.

167. Although we really don’t know how to do so, it is possible to subdivide the forces within any particular planetary center. As planetary centers are chakras, and as chakras have petals, the natural subdivisions of the chakra’s total energy are indicated.

167. Dù thực sự chúng ta chưa biết cách làm điều đó, vẫn có thể phân chia nhỏ các mãnh lực trong bất kỳ trung tâm hành tinh nào. Vì các trung tâm hành tinh là các luân xa, và vì các luân xa có các cánh hoa, nên các phân chia tự nhiên của tổng năng lượng luân xa được chỉ ra.

c. That of the energy of a particular principle, either one of His own higher principles which He is seeking to bring to bear upon the earth, by taking incarnation for that specific purpose, or the energy of one of the planetary logoic principles, as it pours through Him via a particular spirilla or life current in the permanent atom of the planetary Logos.

c. Năng lượng của một nguyên khí đặc thù, hoặc là một trong các nguyên khí cao của chính Ngài mà Ngài đang tìm cách đem tác động lên Trái Đất bằng cách nhập thể vì mục đích đặc thù ấy, hoặc là năng lượng của một trong các nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế, khi nó tuôn qua Ngài thông qua một đặc thù loa tuyến hay dòng sự sống trong nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng Đế.

168. We should remember that a principle and a chakra are not exactly the same. A principle is a greater energy, and a number of chakras on a particular plane may be, especially, given to the expression of that principle through a certain number of modifications, up to seven.

168. Chúng ta nên nhớ rằng một nguyên khí và một luân xa không hoàn toàn giống nhau. Một nguyên khí là một năng lượng lớn hơn, và một số luân xa trên một cõi đặc thù có thể đặc biệt được dành cho sự biểu lộ nguyên khí ấy qua một số biến thái nhất định, lên đến bảy.

169. An Adept or Bodhisattva may express a particular principle:

169. Một chân sư hay Đức Bồ Tát có thể biểu lộ một nguyên khí đặc thù:

a. It may be one of his own higher principles

a. Đó có thể là một trong các nguyên khí cao của chính ngài

b. It may be one of the principles of His Planetary Logos. This principle will reach the Avatar via a particular planetary logoic spirilla and, thus, a certain plane will be involved.

b. Đó có thể là một trong các nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế của Ngài. Nguyên khí này sẽ đến với Đấng Hoá Thân qua một loa tuyến hành tinh đặc thù của Hành Tinh Thượng Đế và, do đó, một cõi nhất định sẽ được liên hệ.

i. A planetary logoic principle comes to the Adept

i. Một nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế đến với chân sư

ii. It is transmitted via a particular permanent atom in the energy body of the Planetary Logos

ii. Nó được truyền qua một nguyên tử trường tồn đặc thù trong thể năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế

iii. It is further transmitted via a particular spirilla or life current within that particular permanent atom. We must remember that for these great Beings, spirillae are planes.

iii. Nó lại được truyền tiếp qua một loa tuyến hay dòng sự sống đặc thù trong nguyên tử trường tồn đặc thù ấy. Chúng ta phải nhớ rằng đối với các Đấng vĩ đại này, các loa tuyến là các cõi.

When these types of force are centralised in any particular adept, and He is expressing simply that extraneous force and nothing else, the effect is shown on the physical plane in the appearance of an avatar.

Khi các loại mãnh lực này được tập trung trong một chân sư đặc thù nào đó, và Ngài chỉ biểu lộ mãnh lực ngoại lai ấy mà không biểu lộ gì khác, thì hiệu quả được biểu lộ trên cõi hồng trần là sự xuất hiện của một Đấng Hoá Thân.

170. We have here a still more technical definition of an Avatar.

170. Ở đây chúng ta có một định nghĩa còn kỹ thuật hơn về một Đấng Hoá Thân.

171. We see that when divine force is canalized through a particular Adept, the effect upon the physical plane is the appearance of an Avatar.

171. Chúng ta thấy rằng khi mãnh lực thiêng liêng được dẫn kênh qua một chân sư đặc thù, hiệu quả trên cõi hồng trần là sự xuất hiện của một Đấng Hoá Thân.

172. The force expressed by an Avatar is, therefore, exclusive.

172. Do đó, mãnh lực được biểu lộ bởi một Đấng Hoá Thân là loại trừ.

173. In this respect, one things of the Ray Path, the Adepts on which practice a certain kind of occult insulation to ensure that They express only one type of energy.

173. Về phương diện này, người ta nghĩ đến Con Đường Cung, nơi các chân sư trên đó thực hành một loại cách ly huyền bí nào đó để bảo đảm rằng Các Ngài chỉ biểu lộ một loại năng lượng duy nhất.

An avatar is, but an adept is made, but frequently the force, energy, purpose or will of a cosmic Entity will utilise the vehicles of an adept in order to contact the physical planes.

Một Đấng Hoá Thân là, còn một chân sư thì được tạo thành, nhưng thường thì mãnh lực, năng lượng, mục đích hay ý chí của một Thực Thể vũ trụ sẽ sử dụng các vận cụ của một chân sư để tiếp xúc với các cõi hồng trần.

174. We are being given an important distinction. An Adept is in process. An Avatar has ‘arrived’.

174. Chúng ta đang được trao cho một sự phân biệt quan trọng. Một chân sư là đang trong tiến trình. Một Đấng Hoá Thân thì đã “đến nơi”.

175. Of His own free will and accord, an Avatar may decide to descend.

175. Do ý chí và sự tự nguyện của chính mình, một Đấng Hoá Thân có thể quyết định giáng hạ.

176. Once an Adept has achieved His Adeptship, He may revolve upon the ‘pedestal of attainment’ and descend to the place from which He came. If so, this re-descent is avataric.

176. Một khi một chân sư đã đạt được địa vị chân sư, Ngài có thể xoay chuyển trên “bệ thành tựu” và giáng xuống nơi mà Ngài đã đi ra từ đó. Nếu vậy, sự tái giáng hạ này mang tính avataric.

177. We also learn that, with a somewhat similar result to the descent of one Who is an Avatar, an Adept Who is not an Avatar may be, as it were, commissioned to offer his vehicles for the transmission of the force, energy, purpose or will of a cosmic Entity Who seeks to utilize that Adept.

177. Chúng ta cũng biết rằng, với một kết quả phần nào tương tự như sự giáng hạ của một Đấng là Đấng Hoá Thân, một chân sư không phải là Đấng Hoá Thân có thể, nói như vậy, được ủy thác để hiến dâng các vận cụ của mình cho sự truyền dẫn mãnh lực, năng lượng, mục đích hay ý chí của một Thực Thể vũ trụ đang tìm cách sử dụng vị chân sư ấy.

178. A Kumara, for instance, can utilize an Adept and express through an Adept. In a sense, this occurs in the relationship between Sanat Kumara and the Lord Maitreya.

178. Chẳng hạn, một Kumara có thể sử dụng một chân sư và biểu lộ qua một chân sư. Theo một nghĩa nào đó, điều này xảy ra trong mối liên hệ giữa Đức Sanat Kumara và Chúa Tể Maitreya.

179. An Avatar seeks not to gain anything from the sphere to which He descends. His descent is an act of pure benevolence.

179. Một Đấng Hoá Thân không tìm cách đạt được điều gì từ khối cầu mà Ngài giáng xuống. Sự giáng hạ của Ngài là một hành vi thuần túy từ tâm.

180. From this perspective, the solar angelic Host is not avataric, as it descends also to gain.

180. Từ góc nhìn này, Đạo Quân Thái dương Thiên Thần không mang tính avataric, vì họ cũng giáng xuống để đạt được điều gì đó.

This method whereby cosmic Existences make Their power felt can be seen working out on all the planes of the cosmic physical plane.

Phương pháp này nhờ đó các Hiện Hữu vũ trụ làm cho quyền năng của Các Ngài được cảm nhận có thể được thấy đang vận hành trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ.

181. We are speaking of methods whereby cosmic Existence can make Their presence felt on all planes of the cosmic physical plane.

181. Chúng ta đang nói về những phương pháp nhờ đó các Hiện Hữu vũ trụ có thể làm cho sự hiện diện của Các Ngài được cảm nhận trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ.

182. Greater energies are constantly with us through the ‘Will-to-Share” of great cosmic Existences.

182. Những năng lượng lớn lao hơn luôn ở cùng chúng ta nhờ “Ý Chí-Chia Sẻ” của các Hiện Hữu vũ trụ vĩ đại.

A striking instance of this can be seen in the case of the Kumaras, Who, under certain planetary forces,

Một ví dụ nổi bật về điều này có thể được thấy trong trường hợp các Kumara, Các Ngài, dưới những mãnh lực hành tinh nhất định,

183. Forces, presumably, which prompted the Kumaras to impulse the process of individualization…

183. Có lẽ đó là những mãnh lực đã thúc đẩy các Kumara tạo xung lực cho tiến trình biệt ngã hóa…

and through the formation of a systemic triangle,

và thông qua việc hình thành một tam giác hệ thống,

184. This is the formation of a triangle other than a Kumaric triangle. Likely, it is a triangle consisting of three Planetary Logoi, each one of which would be connected to one of the Kumaras.

184. Đây là sự hình thành một tam giác khác với tam giác Kumaric. Có lẽ đó là một tam giác gồm ba Hành Tinh Thượng Đế, mỗi vị trong số đó sẽ được nối kết với một trong các Kumara.

185. These Kumaras are the three Buddha of Activity.

185. Các Kumara này là ba Đức Phật Hoạt Động.

gave the impulse to the third kingdom

đã tạo xung lực cho giới thứ ba

186. The three Kumaras gave an impulse to the third kingdom.

186. Ba Kumara đã tạo xung lực cho giới thứ 2355§ba.

which produced the fourth by bringing it into conjunction with the fifth.

điều đã tạo ra giới thứ tư bằng cách đưa nó vào sự đồng vị với giới thứ năm.

187. The Kumaras brought the fifth and third kingdoms together to produce the fourth. Usually, we think that the Fifth Creative Hierarchy was that which was brought into conjunction with the third kingdom.

187. Các Kumara đã đưa giới thứ năm và giới thứ ba lại với nhau để tạo ra giới thứ tư. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là điều đã được đưa vào sự đồng vị với giới thứ ba.

188. The Kumaras are, however, greater Beings than the members of the Fifth Creative Hierarchy and may be considered as Directors of that Hierarchy.

188. Tuy nhiên, các Kumara là những Đấng vĩ đại hơn các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm và có thể được xem như các Đấng Điều Hành của Huyền Giai ấy.

189. One wonders what the fifth kingdom of spiritual human beings could do to produce individualization. It was not the fifth kingdom which produced the implantation of the spark of mind, but rather the Fifth Creative Hierarchy.

189. Người ta tự hỏi giới thứ năm gồm những con người tinh thần có thể làm gì để tạo ra sự biệt ngã hóa. Không phải giới thứ năm đã tạo ra việc cấy vào tia lửa trí tuệ, mà đúng hơn là Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm.

190. The Kumaras also work through the Ashrams and are, as it were, the ‘Ray-power’ vitalizing the Ashrams.

190. Các Kumara cũng hoạt động qua các ashram và, nói như vậy, là “quyền năng Cung” tiếp sinh lực cho các ashram.

These Kumaras, Sanat Kumara and [Page 752] His three pupils, having achieved the highest initiation possible in the last great cycle,

Các Kumara này, Đức Sanat Kumara và [Page 752] ba đệ tử của Ngài, đã đạt được lần điểm đạo cao nhất có thể có trong đại chu kỳ cuối cùng,

191. We are not sure which cycle is being referenced, but because it is called a “great cycle”, it is possible we are speaking of a mahamanvantara as a on “occult century”. A mahamanvantara sometimes means an inter-chain period.

191. Chúng ta không chắc chu kỳ nào đang được nói đến, nhưng vì nó được gọi là một “đại chu kỳ”, có thể chúng ta đang nói đến một mahamanvantara như một “thế kỷ huyền bí”. Một mahamanvantara đôi khi có nghĩa là một thời kỳ liên-Dãy.

192. By this, do we mean the “highest initiation possible” in the previous solar system?

192. Bởi điều này, có phải chúng ta muốn nói đến “lần điểm đạo cao nhất có thể có” trong hệ mặt trời trước không?

193. The Three Kumaras were Planetary Logoi in the last mahamanvantara. What types of initiations were open to the Planetary Logoi of that earlier period.

193. Ba Kumara là các Hành Tinh Thượng Đế trong mahamanvantara cuối cùng. Những loại điểm đạo nào đã mở ra cho các Hành Tinh Thượng Đế của thời kỳ sớm hơn ấy?

194. We are not told through what form Sanat Kumara expressed Himself, whether through a planetary scheme or otherwise. It would seem that He would have to have been treading the Path of the Planetary Logoi. Now, it seems that He is on the Path of the Solar Logoi.

194. Chúng ta không được cho biết Đức Sanat Kumara đã biểu lộ qua hình tướng nào, dù là qua một hệ hành tinh hay cách nào khác. Dường như Ngài hẳn đã phải bước trên Con đường của các Hành Tinh Thượng Đế. Giờ đây, dường như Ngài đang ở trên Con đường của các Thái dương Thượng đế.

195. We note that the Three Kumaras (the Buddhas of Activity) are “pupils” of Sanat Kumara.

195. Chúng ta lưu ý rằng Ba Kumara (các Đức Phật Hoạt Động) là “đệ tử” của Đức Sanat Kumara.

but having as yet (from Their standpoint) another step to take, offered Themselves to the planetary Logos of Their Ray as "focal points" for His force, so that thereby He might hasten and perfect His plans on Earth within the cycle of manifestation.

nhưng vì vẫn còn (theo quan điểm của Các Ngài) một bước nữa phải đi, đã hiến dâng chính mình cho Hành Tinh Thượng Đế của Cung của Các Ngài như những “điểm hội tụ” cho mãnh lực của Ngài, để nhờ đó Ngài có thể xúc tiến và hoàn thiện các kế hoạch của Ngài trên Trái Đất trong chu kỳ biểu hiện.

196. Much is here said between the lines.

196. Ở đây có rất nhiều điều được nói giữa các dòng chữ.

197. Are the Buddhas of Activity on the same ray as Sanat Kumara? It would seem that They share at least one Ray of importance and that all four of Them share at least one Ray of importance with the Planetary Logos.

197. Có phải các Đức Phật Hoạt Động ở cùng một cung với Đức Sanat Kumara không? Dường như Các Ngài chia sẻ ít nhất một Cung quan trọng, và cả bốn vị chia sẻ ít nhất một Cung quan trọng với Hành Tinh Thượng Đế.

198. We may suspect that this is the second ray, which is the soul ray of the Planetary Logos.

198. Chúng ta có thể ngờ rằng đó là cung hai, vốn là cung linh hồn của Hành Tinh Thượng Đế.

199. There is often a question whether Sanat Kumara is to be considered the Planetary Logos or a Representative of the Planetary Logos. In this instance, Sanat Kumara and the three Buddhas of Activity all offered Themselves to the Planetary Logos of Their Ray, and so the Planetary Logos must be, from this perspective, distinct from Sanat Kumara.

199. Thường có câu hỏi liệu Đức Sanat Kumara có nên được xem là Hành Tinh Thượng Đế hay là một Đấng Đại Diện của Hành Tinh Thượng Đế. Trong trường hợp này, Đức Sanat Kumara và ba Đức Phật Hoạt Động đều đã hiến dâng chính mình cho Hành Tinh Thượng Đế của Cung của Các Ngài, và vì vậy Hành Tinh Thượng Đế, từ góc nhìn này, phải là một Đấng tách biệt với Đức Sanat Kumara.

200. Do all these five Beings somehow share the same monadic ray or soul ray, even though each of the Buddhas of Activity is associated with either the first, second or third rays?

200. Có phải cả năm Đấng này bằng cách nào đó đều chia sẻ cùng một cung chân thần hay cung linh hồn, dù mỗi Đức Phật Hoạt Động lại được liên kết với cung một, hai hoặc ba?

201. Even though all four of the Kumaras (including Sanat Kumara) have offered Themselves to the Planetary Logos of Their Ray, the three Buddhas of Activity are also Pupil of Sanat Kumara and are directed by Him as well as by the Planetary Logos.

201. Dù cả bốn Kumara (kể cả Đức Sanat Kumara) đã hiến dâng chính mình cho Hành Tinh Thượng Đế của Cung của Các Ngài, ba Đức Phật Hoạt Động cũng là các đệ tử của Đức Sanat Kumara và cũng được Ngài chỉ đạo cũng như được Hành Tinh Thượng Đế chỉ đạo.

202. Perhaps the Three Buddhas are:

202. Có lẽ Ba Đức Phật là:

a. Directed by Sanat Kumara

a. Được Đức Sanat Kumara chỉ đạo

b. Directed by Sanat Kumara when the Planetary Logos is working through Sanat Kumara

b. Được Đức Sanat Kumara chỉ đạo khi Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động qua Đức Sanat Kumara

c. Directed by the Planetary Logos pure and simple

c. Được Hành Tinh Thượng Đế trực tiếp chỉ đạo

203. We can gather that all five of these beings:

203. Chúng ta có thể suy ra rằng cả năm Đấng này:

a. The Planetary Logos

a. Hành Tinh Thượng Đế

b. Sanat Kumara

b. Đức Sanat Kumara

c. The three Buddhas of Activity

c. ba Đức Phật Hoạt Động

all share one important ray in common—ether the soul or monadic ray. One of these rays (either soul or monadic) seems to be the same for all five of them, and probably the soul ray.

đều chia sẻ chung một cung quan trọng—hoặc cung linh hồn hoặc cung chân thần. Một trong hai cung này dường như là giống nhau nơi cả năm vị, và có lẽ là cung linh hồn.

204. The three Buddhas of Activity, it appears, have offered Themselves as “focal points” for the force of Sanat Kumara (apparently Their Teacher) and also, on a still higher turn of the spiral, for force of the Planetary Logos.

204. Ba Đức Phật Hoạt Động, dường như, đã hiến dâng chính mình như những “điểm hội tụ” cho mãnh lực của Đức Sanat Kumara (rõ ràng là Huấn sư của Các Ngài) và cũng vậy, trên một vòng xoắn còn cao hơn nữa, cho mãnh lực của Hành Tinh Thượng Đế.

205. Clearly, the Planetary Logos of the Ray of the three Buddhas of Activity is but One Being, and not three Beings as might have been inferred.

205. Rõ ràng, Hành Tinh Thượng Đế của Cung của ba Đức Phật Hoạt Động chỉ là Một Đấng, chứ không phải ba Đấng như người ta có thể đã suy ra.

They have demonstrated three out of the four methods.

Các Ngài đã biểu lộ ba trong bốn phương pháp.

206. We see that, given the four methods of avataric demonstration, more than one method can be used at the same time.

206. Chúng ta thấy rằng, với bốn phương pháp biểu lộ avataric, có thể dùng hơn một phương pháp cùng một lúc.

They are overshadowed by the planetary Logos, and He works directly as the Initiator (in relation to man) through Sanat Kumara, and with the three kingdoms in nature through the three Buddhas of Activity,—Sanat Kumara, being thus concerned directly with the ego on the mental plane, and His three Pupils being concerned with the other three types of consciousness, of which man is the summation.

Các Ngài được phủ bóng bởi Hành Tinh Thượng Đế, và Ngài trực tiếp hoạt động như Đấng Điểm đạo (liên hệ với con người) qua Đức Sanat Kumara, và với ba giới trong thiên nhiên qua ba Đức Phật Hoạt Động,—Đức Sanat Kumara, do đó, trực tiếp liên hệ với chân ngã trên cõi trí, còn ba Đệ tử của Ngài thì liên hệ với ba loại tâm thức khác, mà con người là tổng hợp của chúng.

207. So much occultism is being hinted in such paragraphs.

207. Quá nhiều huyền bí học đang được gợi ra trong những đoạn như thế.

208. In this section of text, the Planetary Logos is definitely differentiated from Sanat Kumara.

208. Trong phần văn bản này, Hành Tinh Thượng Đế rõ ràng được phân biệt với Đức Sanat Kumara.

209. The Planetary Logos is the true Initiator for man, though working through Sanat Kumara (Who is often considered as the Initiator).

209. Hành Tinh Thượng Đế là Đấng Điểm đạo chân chính cho con người, dù hoạt động qua Đức Sanat Kumara (Đấng thường được xem là Đấng Điểm đạo).

210. While the Planetary Logos through Sanat Kumara is the true Initiator of man, the Buddhas of Activity are the Initiators of the three lower kingdoms.

210. Trong khi Hành Tinh Thượng Đế qua Đức Sanat Kumara là Đấng Điểm đạo chân chính của con người, thì các Đức Phật Hoạt Động là các Đấng Điểm đạo của ba giới thấp.

211. The three Buddhas of Activity are overshadowed by the Planetary Logos.

211. Ba Đức Phật Hoạt Động được phủ bóng bởi Hành Tinh Thượng Đế.

212. When Sanat Kumara serves as the Initiator (with the Planetary Logos working through Him), He is concerned with that part of man which is called the “ego on the mental plane”.

212. Khi Đức Sanat Kumara phụng sự như Đấng Điểm đạo (với Hành Tinh Thượng Đế hoạt động qua Ngài), Ngài liên hệ đến phần nơi con người được gọi là “chân ngã trên cõi trí”.

213. We are being shown that all the Kumaras are overshadowed by the Planetary Logos, though each has a different function in relation to the microcosm man, who is the macrocosm for the lower three kingdoms.

213. Chúng ta đang được chỉ cho thấy rằng tất cả các Kumara đều được phủ bóng bởi Hành Tinh Thượng Đế, dù mỗi vị có một chức năng khác nhau liên hệ với tiểu thiên địa là con người, vốn là đại thiên địa đối với ba giới thấp.

At the moment of initiation (after the second Initiation) Sanat Kumara becomes the direct mouthpiece and agent of the Planetary Logos.

Vào lúc điểm đạo (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Sanat Kumara trở thành phát ngôn viên và tác nhân trực tiếp của Hành Tinh Thượng Đế.

214. The initiation in question of the third initiation.

214. Lần điểm đạo được nói đến ở đây là lần điểm đạo thứ ba.

215. When Sanat Kumara serves as the Initiator at the third initiation, He does not act in His own right alone, but as “the direct mouthpieces and agent of the Planetary Logos”.

215. Khi Đức Sanat Kumara phụng sự như Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ ba, Ngài không hành động chỉ với tư cách riêng của chính Ngài, mà như “phát ngôn viên và tác nhân trực tiếp của Hành Tinh Thượng Đế”.

216. This statement would seem to lay to rest those speculations that Sanat Kumara is the Planetary Logos, Himself.

216. Phát biểu này dường như chấm dứt những suy đoán cho rằng chính Đức Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng Đế.

217. They may at times, however, become so identified that it seems correct to speak of Them as if They were one Being.

217. Tuy nhiên, đôi khi Các Ngài có thể trở nên đồng hoá với nhau đến mức dường như đúng khi nói về Các Ngài như thể Các Ngài là một Đấng.

That great Entity speaks through Him and for one brief second (if one can use such a term in connection with a plane whereon time, as we understand it, is not) the planetary Logos of a man's Ray consciously—via His etheric brain—turns His thought upon the Initiate, and "calls him by His Name."

Thực Thể vĩ đại ấy phán qua Ngài và trong một giây ngắn ngủi (nếu có thể dùng một thuật ngữ như vậy khi liên hệ với một cõi nơi thời gian, theo như chúng ta hiểu về nó, là không có) Hành Tinh Thượng Đế của cung của một người một cách hữu thức—qua bộ não dĩ thái của Ngài—hướng tư tưởng của Ngài đến điểm đạo đồ, và “gọi y bằng Danh của Ngài.”

218. This is a magnificent and revelatory definition of initiation.

218. Đây là một định nghĩa tráng lệ và đầy mặc khải về điểm đạo.

219. It is the Planetary Logos Who is here called “that great Entity”.

219. Chính Hành Tinh Thượng Đế là Đấng ở đây được gọi là “Thực Thể vĩ đại ấy”.

220. We note that DK is not saying that on the higher mental plane time does not exist, but only that on that plane, time “as we understand it” is not.

220. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói rằng trên cõi thượng trí thời gian không tồn tại, mà chỉ nói rằng trên cõi ấy, thời gian “theo như chúng ta hiểu về nó” là không có.

221. There is another possible implication which should not be overlooked:

221. Có một hàm ý khả dĩ khác không nên bị bỏ qua:

a. Is our Planetary Logos necessarily the Planetary Logos of a man’s ray?

a. Phải chăng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta nhất thiết là Đức Hành Tinh Thượng Đế của cung của một người?

b. Or, is it that the Planetary Logos of a man’s ray (in most cases a different Planetary Logos than our Planetary Logos) in some manner manages to work through our Planetary Logos and thus reach the initiate as He stands before Sanat Kumara (though Whom our Planetary Logos works)?

b. Hay phải chăng Đức Hành Tinh Thượng Đế của cung của một người (trong đa số trường hợp là một Đức Hành Tinh Thượng Đế khác với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta) bằng cách nào đó xoay xở để hoạt động thông qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và nhờ đó tiếp cận điểm đạo đồ khi Ngài đứng trước Đức Sanat Kumara (Đấng mà qua Ngài đó Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta hoạt động)?

222. If we are talking of the third initiation, then the monadic ray is not the only ray in question (though it has become of importance). Rather the ray of the soul is still of importance at the third initiation and there are seven such rays. So our Planetary Logos cannot be the Planetary Logos of a man’s ray for all the human beings who seek initiation upon this planet—IF the ray of the soul is the ray meant by “a man’s Ray”.

222. Nếu chúng ta đang nói về lần điểm đạo thứ ba, thì cung chân thần không phải là cung duy nhất được xét đến (dù nó đã trở nên quan trọng). Đúng hơn, cung linh hồn vẫn còn quan trọng ở lần điểm đạo thứ ba và có bảy cung như thế. Vì vậy Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta không thể là Đức Hành Tinh Thượng Đế của cung của một người đối với mọi con người tìm kiếm điểm đạo trên hành tinh này—NẾU cung linh hồn là cung được hàm ý bởi “cung của một người”.

223. Or may it be the case that if a member of the Fourth Creative Hierarchy works upon this planet, one of his major rays is definitely the same as one of the major rays of the Planetary Logos of Earth?

223. Hay có thể là trường hợp rằng nếu một thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư hoạt động trên hành tinh này, thì một trong các cung chính của y nhất định cũng là một trong các cung chính của Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất?

224. We have been told that those who pass through the Earth-scheme are, for the most part, Monads on the third ray, even though the third ray is only the personality ray of our Planetary Logos.

224. Chúng ta đã được cho biết rằng những ai đi qua hệ hành tinh Địa Cầu, phần lớn là các chân thần trên cung ba, mặc dù cung ba chỉ là cung phàm ngã của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

225. We note that in the initiation process, the etheric brain of the initiating Logos is involved. We might wonder whether the pertinent statement means that the etheric brain of the man is involved (and no doubt it will be). However, it is the Planetary Logos who is implicated otherwise the word “His” would not be capitalized.

225. Chúng ta lưu ý rằng trong tiến trình điểm đạo, bộ não dĩ thái của Thượng đế điểm đạo có liên quan. Chúng ta có thể tự hỏi liệu phát biểu thích đáng ấy có nghĩa là bộ não dĩ thái của con người có liên quan hay không (và hẳn là có). Tuy nhiên, chính Đức Hành Tinh Thượng Đế mới là Đấng được hàm ý, nếu không thì từ “Ngài” đã không được viết hoa.

226. (In this Commentary, when one sees the word “Ray” or “ray”, nothing should be made of the distinction. Sometimes “Ray” is used if that capitalization is used in the text. Most often, however, the lower case “ray” is used. This is the author’s preference except when Ray Lords and Their names are being discussed.

226. (Trong phần Bình luận này, khi thấy từ “Ray” hay “ray”, không nên suy diễn gì từ sự khác biệt ấy. Đôi khi “Ray” được dùng nếu trong nguyên văn nó được viết hoa. Tuy nhiên, thường nhất là dùng “ray” viết thường. Đó là sở thích của tác giả, trừ khi đang bàn về các Đấng Chúa Tể Cung và danh xưng của Các Ngài.

227. We note that it is not so much the “Word” uttered by a Planetary Logos that reaches the initiate but that the initiate is reached by the Planetary Logos’ thought. On that level (the level of the Planetary Logos), perhaps, word and thought are identical.

227. Chúng ta lưu ý rằng không hẳn là “Linh từ” do một Đức Hành Tinh Thượng Đế thốt ra chạm đến điểm đạo đồ, mà đúng hơn điểm đạo đồ được tiếp cận bởi tư tưởng của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Ở cấp độ đó (cấp độ của Đức Hành Tinh Thượng Đế), có lẽ linh từ và tư tưởng là đồng nhất.

228. It is suggested that a significant part of the initiatory process is the calling of the initiate by his name.

228. Có điều được gợi ý rằng một phần quan trọng của tiến trình điểm đạo là việc gọi điểm đạo đồ bằng tên của y.

229. We note that the term “Initiate” is capitalized, suggesting something of the status of one who can be initiated by the Planetary Logos through Sanat Kumara. One must be, minimally, a third degree initiate.

229. Chúng ta lưu ý rằng từ “Initiate” được viết hoa, gợi ý phần nào về địa vị của một người có thể được Đức Hành Tinh Thượng Đế điểm đạo thông qua Đức Sanat Kumara. Tối thiểu, người ấy phải là một điểm đạo đồ bậc ba.

Again the Kumaras are embodied principles, but in this connection we must remember that this means that the force and energy of one of the principles of the Logos are pouring through Them via that which—to Them—corresponds to the Monad.

Một lần nữa các Kumaras là những nguyên khí nhập thể, nhưng trong mối liênhệ này chúng ta phải nhớ rằng điều đó có nghĩa là mãnh lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng đế đang tuôn qua Các Ngài thông qua điều mà—đối với Các Ngài—tương ứng với chân thần.

230. Here we are given a significant relationship between the Kumaras and our Planetary Logos. Presumably, the Logos in question is the Planetary Logos.

230. Ở đây chúng ta được cho thấy một mối liên hệ quan trọng giữa các Kumaras và Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Có lẽ Thượng đế được nói đến ở đây là Đức Hành Tinh Thượng Đế.

231. Each Kumara embodies, it seems, one of the three major principles. The Kumaras are each embodying one of the principles of the Logos.

231. Mỗi Kumara, dường như, nhập thể một trong ba nguyên khí chính. Mỗi Kumara đều đang nhập thể một trong các nguyên khí của Thượng đế.

232. It is of significance that the principle pours through the Kumara through the Kumara’s Monad.

232. Điều có ý nghĩa là nguyên khí tuôn qua Kumara thông qua chân thần của Kumara.

233. Is it suggested that the monadic ray of the Kumara and that of the Planetary Logos is the same? Perhaps not.

233. Có phải ở đây gợi ý rằng cung chân thần của Kumara và của Đức Hành Tinh Thượng Đế là cùng một cung? Có lẽ không.

234. Is it suggested that each Kumara has a distinct monadic ray and is thus receptive of one of the major three principles of the Planetary Logos (each principle being correlated with one of the major three rays)?

234. Có phải ở đây gợi ý rằng mỗi Kumara có một cung chân thần riêng biệt và do đó tiếp nhận một trong ba nguyên khí chính của Đức Hành Tinh Thượng Đế (mỗi nguyên khí tương ứng với một trong ba cung chính)?

235. From another perspective, it could be one of the principles of the Solar Logos which is making its influence felt through Their Monad—this, if the term “Logos” means Solar Logos as it so often does.

235. Từ một góc nhìn khác, có thể đó là một trong các nguyên khí của Thái dương Thượng đế đang làm cho ảnh hưởng của nó được cảm nhận thông qua chân thần của Các Ngài—điều này, nếu từ “Thượng đế” ở đây có nghĩa là Thái dương Thượng đế như nó thường có.

236. We do have to ask, however, why DK does not speak about their “Monad” rather than “…that—which to Them—corresponds to the Monad”. Planetary Logoi, Solar Logoi and Beings of the nature of the Kumaras all have Monads, so is there a blind here?

236. Tuy nhiên, chúng ta quả thật phải hỏi vì sao Chân sư DK không nói về “chân thần” của các Ngài mà lại nói “…điều mà—đối với Các Ngài—tương ứng với chân thần”. Các Hành Tinh Thượng Đế, các Thái dương Thượng đế và các Hữu thể có bản chất như các Kumaras đều có chân thần, vậy ở đây có phải là một bức màn che không?

Through Them, during Their period of incarnation and voluntary sacrifice, the great Prototype of the planetary Logos begins to make His Presence felt, and force from the constellation of the Great Bear faintly vibrates on earth.

Thông qua Các Ngài, trong thời kỳ lâm phàm và hi sinh tự nguyện của Các Ngài, Nguyên Mẫu vĩ đại của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu làm cho Sự Hiện Diện của Ngài được cảm nhận, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng Tinh mơ hồ rung động trên địa cầu.

237. Who or what is the Prototype of our Planetary Logos?

237. Ai hay điều gì là Nguyên Mẫu của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta?

238. From one perspective we could think of it as our Solar Logos. Yet what is here suggested is that the Prototype is one of the stars in the Great Bear.

238. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể nghĩ đó là Thái dương Thượng đế của chúng ta. Tuy nhiên, điều được gợi ý ở đây là Nguyên Mẫu ấy là một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh.

239. In speaking or the Kumaras, DK means all four, and is suggesting that one of the stars of the Great Bear (is it Benetnasch or Mizar) makes His Presence felt. It is quite impressive to think of the four Kumaras as conduits for the force of one of the Rishis of the Great Bear.

239. Khi nói về các Kumaras, Chân sư DK muốn nói đến cả bốn vị, và đang gợi ý rằng một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh (là Benetnasch hay Mizar?) làm cho Sự Hiện Diện của Ngài được cảm nhận. Thật ấn tượng khi nghĩ đến bốn Kumaras như những ống dẫn cho mãnh lực của một trong các Rishi của Đại Hùng Tinh.

240. The three Buddhas of Activity or Kumaras are in the process of a voluntary sacrifice.

240. Ba Đức Phật Hoạt Động hay các Kumaras đang ở trong tiến trình hi sinh tự nguyện.

241. The following excerpt gives additional information about the sacrifice of the three Buddhas of Activity:

241. Đoạn trích sau đây cho thêm thông tin về sự hi sinh của ba Đức Phật Hoạt Động:

Sanat Kumara has now moved one step ahead of Them upon the great cosmic ladder of evolution, for an aspect of the Law of Sacrifice has conditioned Them. However, within the planetary consciousness and among Those Who work out the divine purposes, there are none Who approach the Eternal Youth and these three Buddhas in point of Evolution. They work out Their plans—these four Great Lives—through the medium of the Lords of the Seven Rays. Under the Law of Analogy, They are to Sanat Kumara what the three mind aspects upon the mental plane are to the disciple and the initiate. (R&I 268)

Đức Sanat Kumara nay đã tiến lên trước Các Ngài một bước trên chiếc thang tiến hoá vũ trụ vĩ đại, vì một phương diện của Định luật Hi Sinh đã tác động lên Các Ngài. Tuy nhiên, trong tâm thức hành tinh và giữa Những Đấng đang thực hiện các mục đích thiêng liêng, không có Đấng nào sánh kịp Thanh Niên Vĩnh Cửu và ba Đức Phật này về điểm tiến hoá. Bốn Sự Sống Vĩ Đại này thực hiện các kế hoạch của Các Ngài thông qua các Đấng Chúa Tể của Bảy Cung. Theo định luật tương đồng, Các Ngài đối với Đức Sanat Kumara cũng như ba phương diện của trí tuệ trên cõi trí đối với đệ tử và điểm đạo đồ. (R&I 268)

At initiation, man becomes aware consciously of the Presence of the planetary Logos through self-induced contact with his own divine Spirit.

Khi điểm đạo, con người trở nên hữu thức về Sự Hiện Diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế thông qua sự tiếp xúc do chính mình tạo ra với Tinh thần thiêng liêng của mình.

242. We can judge that the Tibetan is speaking of the third initiation. This is the time when self-induced contact with the Spirit is possible.

242. Chúng ta có thể phán đoán rằng Chân sư Tây Tạng đang nói về lần điểm đạo thứ ba. Đây là lúc sự tiếp xúc do chính mình tạo ra với tinh thần trở nên khả hữu.

243. The Presence of the Planetary Logos is appreciated through the Presence of Sanat Kumara officiating at the third initiation.

243. Sự Hiện Diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế được cảm nhận thông qua Sự Hiện Diện của Đức Sanat Kumara chủ trì lần điểm đạo thứ ba.

244. We should notice that a man’s contact with the Monad comes through “self-induced” effort. Unless a man struggles towards the Spirit, there will body no initiation for him.

244. Chúng ta nên lưu ý rằng sự tiếp xúc của một người với chân thần đến qua nỗ lực “do chính mình tạo ra”. Trừ phi một người phấn đấu hướng về tinh thần, sẽ không có điểm đạo nào cho y.

245. Another way of seeing this is that a man has to force his was forward into the Presence of the One Initiator through Whom the Presence of the Planetary Logos makes itself felt.

245. Một cách khác để nhìn điều này là một người phải tự thúc đẩy mình tiến vào Sự Hiện Diện của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, qua Ngài Sự Hiện Diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế được cảm nhận.

At the fifth Initiation he becomes aware of the full extent of this planetary group influence, and [Page 753] of his part in the great whole.

Ở lần Điểm đạo thứ năm y trở nên hữu thức về toàn bộ phạm vi của ảnh hưởng nhóm hành tinh này, và [Page 753] về phần của y trong toàn thể vĩ đại.

246. Mention of the fifth initiation at this point confirms the thought that “initiation” in the previous section of text means the third initiation.

246. Việc nhắc đến lần điểm đạo thứ năm ở điểm này xác nhận ý nghĩ rằng “điểm đạo” trong phần văn bản trước có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba.

247. Might we say that at the fifth initiation, the initiate becomes aware of those lives upon the planet Who are members of the Kingdom of Planetary Lives?

247. Chúng ta có thể nói rằng ở lần điểm đạo thứ năm, điểm đạo đồ trở nên hữu thức về những sự sống trên hành tinh là thành viên của Giới các Sự Sống Hành tinh chăng?

248. At the fifth initiation the sense of wholeness increases greatly when compared to the third initiation.

248. Ở lần điểm đạo thứ năm, cảm thức về tính toàn thể gia tăng rất lớn so với lần điểm đạo thứ ba.

249. We have to remember that in some way difficult to understand, the Planetary Logos is a group. The mysteries of the One and the Many are many!

249. Chúng ta phải nhớ rằng theo một cách khó hiểu, Đức Hành Tinh Thượng Đế là một nhóm. Những huyền nhiệm của Đấng Duy Nhất và Số Đông thật là nhiều!

At the sixth and seventh Initiations the influence of the planetary Prototype is sensed, reaching him via the planetary Logos working through the Initiator.

Ở lần Điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, ảnh hưởng của Nguyên Mẫu hành tinh được cảm nhận, đến với y qua Đức Hành Tinh Thượng Đế hoạt động thông qua Đấng Điểm đạo.

250. This is a potent statement rich with possible implications.

250. Đây là một phát biểu mạnh mẽ, phong phú những hàm ý khả dĩ.

251. The “planetary Prototype” is one of the stars in the Great Bear or, rather, of the Logoi of the seven major stars of the Great Bear.

251. “Nguyên Mẫu hành tinh” là một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, hay đúng hơn, là một trong các Thượng đế của bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh.

252. Is it here implied that there is a difference between the Planetary Logos and the Initiator.

252. Có phải ở đây hàm ý rằng có một sự khác biệt giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế và Đấng Điểm đạo.

253. When considering Who officiates at the sixth and seventh initiations, the following section of text is necessary to consider:

253. Khi xét xem ai chủ trì lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, đoạn văn sau đây cần được xem xét:

At the sixth initiation the expression of this Existence on an intermediate plane, a Being Who must at present remain nameless, wields the Rod and administers the oath and secret. In these three expressions of hierarchical government—Sanat Kumara on the periphery of the three worlds, the Nameless One on the confines of the high planes of human evolution, and the planetary Spirit himself at the final stage—we have the three great manifestations of the Planetary Logos Himself. Through the Planetary Logos at the final great initiation flows the power of the Solar Logos, and He it is Who reveals to the initiate that the Absolute is consciousness in its fullest expression, though at the stage of human existence the Absolute must be regarded as unconsciousness. (IHS 92)

Ở lần điểm đạo thứ sáu, biểu hiện của Sự Tồn Tại này trên một cõi trung gian, một Hữu Thể hiện nay phải còn vô danh, cầm Thần Trượng và ban lời thề cùng bí mật. Trong ba biểu hiện này của chính quyền huyền giai—Đức Sanat Kumara ở chu vi của ba cõi thấp, Đấng Vô Danh ở ranh giới của các cõi cao của tiến hoá nhân loại, và chính Chân Linh Hành Tinh ở giai đoạn cuối cùng—chúng ta có ba biểu hiện lớn của chính Đức Hành Tinh Thượng Đế. Qua Đức Hành Tinh Thượng Đế ở lần điểm đạo lớn cuối cùng tuôn chảy quyền năng của Thái dương Thượng đế, và chính Ngài là Đấng mặc khải cho điểm đạo đồ rằng Tuyệt Đối là tâm thức trong biểu hiện đầy đủ nhất của nó, mặc dù ở giai đoạn tồn tại của con người, Tuyệt Đối phải được xem như vô thức. (IHS 92)

254. From what is here said, it is clear that Sanat Kumara does not officiate at the sixth and seventh initiations.

254. Từ điều được nói ở đây, rõ ràng là Đức Sanat Kumara không chủ trì lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.

255. A Nameless One officiates at the sixth, and so the Planetary Logos could work through that One at that initiation.

255. Một Đấng Vô Danh chủ trì lần thứ sáu, và như vậy Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể hoạt động thông qua Đấng ấy trong lần điểm đạo đó.

256. However, at the seventh initiation, it appears that the Planetary Logos, Himself, officiates, and that the Solar Logos works through Him.

256. Tuy nhiên, ở lần điểm đạo thứ bảy, dường như chính Đức Hành Tinh Thượng Đế chủ trì, và Thái dương Thượng đế hoạt động thông qua Ngài.

257. So we have an apparent contradiction. In such cases it is always wise to use the word “apparent”, as further pondering and the linking of other sections of text (and, better, other intuitive insights), may clarify the issue and resolve what appears to be a contradiction.

257. Vì vậy chúng ta có một mâu thuẫn bề ngoài. Trong những trường hợp như thế, luôn luôn khôn ngoan khi dùng từ “bề ngoài”, vì sự suy ngẫm thêm và việc liên kết các đoạn văn khác (và tốt hơn nữa, các linh thị trực giác khác) có thể làm sáng tỏ vấn đề và giải quyết điều có vẻ là một mâu thuẫn.

258. We might suggest that Sanat Kumara works in relation to the higher mental plane and in relation to the causal body; that the Nameless One works in relation to the atmic plane; and that the Planetary Logos or Planetary Spirit works in relation to the monadic plane.

258. Chúng ta có thể gợi ý rằng Đức Sanat Kumara hoạt động trong liên hệ với Cõi thượng trí và với thể nguyên nhân; rằng Đấng Vô Danh hoạt động trong liên hệ với cõi atma; và rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Chân Linh Hành Tinh hoạt động trong liên hệ với cõi chân thần.

The method of direct incarnation was earlier seen when the Kumaras were in physical form.

Phương pháp lâm phàm trực tiếp đã được thấy trước đó khi các Kumaras ở trong hình tướng hồng trần.

259. The suggestion is that Sanat Kumara and the Buddhas of Activity are still in physical form, if we consider the systemic ethers physical.

259. Điều được gợi ý là Đức Sanat Kumara và các Đệ tử của Ngài vẫn ở trong hình tướng hồng trần, nếu chúng ta xem các dĩ thái hệ thống là hồng trần.

This only applied to some of Them;

Điều này chỉ áp dụng cho một số vị trong Các Ngài;

260. DK is telling us that the statement does not apply to the Esoteric Kumaras Who have not descended to the same dimensional depth of immersion.

260. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng phát biểu này không áp dụng cho các Kumaras Nội Môn, những vị chưa giáng xuống cùng một độ sâu chiều kích của sự nhập chìm.

Sanat Kumara and His Pupils are in physical form, but have not taken dense physical bodies. They work on the vital etheric levels, and dwell in etheric bodies.

Đức Sanat Kumara và các Đệ tử của Ngài ở trong hình tướng hồng trần, nhưng không mang các thể xác đậm đặc. Các Ngài hoạt động trên các cấp độ dĩ thái sinh lực, và cư ngụ trong các thể dĩ thái.

261. It has long been debated whether Sanat Kumara and His Pupils are to be found only on the cosmic etheric planes or on the systemic ethers as well. What is given here and following suggests that the systemic ethers are definitely involved.

261. Từ lâu đã có tranh luận liệu Đức Sanat Kumara và các Đệ tử của Ngài chỉ hiện diện trên các cõi dĩ thái vũ trụ hay còn trên các dĩ thái hệ thống nữa. Điều được nêu ở đây và tiếp sau cho thấy các dĩ thái hệ thống chắc chắn có liên quan.

Shamballa, where They dwell, exists in physical matter as do the Kumaras, but it is matter of the higher ethers of the physical plane,

Shamballa, nơi Các Ngài cư ngụ, tồn tại trong vật chất hồng trần cũng như các Kumaras, nhưng đó là vật chất của các dĩ thái cao của cõi hồng trần,

262. Presumably, this means the systemic physical plane and not the cosmic physical plane.

262. Có lẽ điều này có nghĩa là cõi hồng trần hệ thống chứ không phải cõi hồng trần vũ trụ.

and only when man has developed etheric vision will the mystery lying beyond the be revealed.

và chỉ khi con người đã phát triển linh thị dĩ thái thì huyền nhiệm nằm bên kia mới được mặc khải.

263. What is said here is of great importance. Shamballa is usually conceived as existing on the cosmic ethers and this is true as far as it goes.

263. Điều được nói ở đây có tầm quan trọng lớn. Shamballa thường được quan niệm là tồn tại trên các dĩ thái vũ trụ và điều đó đúng trong chừng mực của nó.

264. Here its seems we are being told that Shamballa exists on the higher systemic ethers, and not only on the cosmic ethers.

264. Ở đây dường như chúng ta đang được cho biết rằng Shamballa tồn tại trên các dĩ thái hệ thống cao hơn, chứ không chỉ trên các dĩ thái vũ trụ.

265. This must necessarily be the case because etheric vision pertains to the systemic ethers and not to the cosmic ethers. The kind of vision pertaining to the cosmic ethers is entirely different and has nothing to do with the systemic physical plane and with the powers of the physical eye. Such powers are to be found in the list of higher sense (TCF 188-189)

265. Điều này tất yếu phải như vậy vì linh thị dĩ thái thuộc về các dĩ thái hệ thống chứ không thuộc về các dĩ thái vũ trụ. Loại linh thị thuộc về các dĩ thái vũ trụ hoàn toàn khác và không liên quan gì đến cõi hồng trần hệ thống và các năng lực của mắt hồng trần. Những năng lực như thế được tìm thấy trong danh sách các giác quan cao hơn (TCF 188-189)

Therefore, Sanat Kumara is the planetary logos yet He is not.

Vì vậy, Đức Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng Đế nhưng Ngài lại không phải.

266. This is somehow the most explicit (and enigmatical) statement made by the Tibetan regarding the identity of Sanat Kumara.

266. Đây theo một cách nào đó là phát biểu minh nhiên nhất (và bí ẩn nhất) mà Chân sư Tây Tạng đã đưa ra liên quan đến căn tính của Đức Sanat Kumara.

267. When we deal with this statement, we have to think of form and identity—they are different. In one way, everything manifesting through our planet is the Planetary Logos. But forms of expression vary and some forms are much closer to the archetypal form of the Planetary Logos than other forms.

267. Khi bàn đến phát biểu này, chúng ta phải nghĩ đến hình tướng và căn tính—chúng khác nhau. Theo một cách, mọi thứ biểu hiện qua hành tinh chúng ta đều là Đức Hành Tinh Thượng Đế. Nhưng các hình thức biểu đạt thì khác nhau, và một số hình thức gần với hình tướng nguyên mẫu của Đức Hành Tinh Thượng Đế hơn nhiều so với những hình thức khác.

A reflection of this method of direct incarnation can be seen when a disciple steps out of his body and permits his Guru, or a more advanced chela, to use it.

Một phản ánh của phương pháp lâm phàm trực tiếp này có thể được thấy khi một đệ tử bước ra khỏi thể của mình và cho phép Guru của mình, hay một đệ tử cao cấp hơn, sử dụng nó.

268. This was the method used during the cooperation the Initiate, Jesus, with the Christ, and perhaps of the Initiate Jesus with His disciple Apollonius of Tyana.

268. Đây là phương pháp được dùng trong sự hợp tác giữa điểm đạo đồ Đức Jesus với Đức Christ, và có lẽ giữa điểm đạo đồ Jesus với đệ tử của Ngài là Apollonius xứ Tyana.

269. Is DK suggesting that the Planetary Logos can ‘step into’ the body of Sanat Kumara and that the Being, Sanat Kumara, deliberately gives up His vehicle so that the Planetary Logos can do this?

269. Có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể ‘bước vào’ thể của Đức Sanat Kumara và rằng Hữu Thể Sanat Kumara cố ý từ bỏ vận cụ của Ngài để Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể làm điều này?

270. This would provide a very interesting angle on the Identities and interplay of these two great Beings.

270. Điều này sẽ cung cấp một góc nhìn rất thú vị về các Căn Tính và sự tương tác của hai Hữu Thể Vĩ Đại này.

The mystery of the Bodhisattvas [Footnote 51: S. D., I, 82, 83] has been touched upon by H. P. B. and until students have assimilated and studied what she has said, there is no more to add.

H. P. B. đã chạm đến huyền nhiệm của các Đức Bồ Tát [Footnote 51: S. D., I, 82, 83] và cho đến khi các đạo sinh đồng hoá và nghiên cứu điều bà đã nói, thì không có gì thêm để bổ sung.

271. It is recommended, then, that we pursue this. A search through The Secret Doctrine will reveal a number of profound references which would provide a study in itself

271. Vậy thì, điều được khuyến nghị là chúng ta theo đuổi việc này. Một cuộc tìm kiếm trong Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ phơi bày một số tham chiếu sâu sắc, tự chúng đã đủ làm thành một công trình nghiên cứu

272. One sample reference from The Secret Doctrine I, 571, will give an idea of the kind of thought required:

272. Một tham chiếu mẫu từ Giáo Lý Bí Nhiệm I, 571, sẽ cho thấy loại tư tưởng được đòi hỏi:

This is the Logos (the first), or Vajradhara, the Supreme Buddha (also called Dorjechang). As the Lord of all Mysteries he cannot manifest, but sends into the world of manifestation his heart -- the "diamond heart," Vajrasattva (Dorjesempa). This is the second logos of creation, from whom emanate the seven (in the exoteric blind the five) Dhyani Buddhas, called the Anupadaka, "the parentless." These Buddhas are the primeval monads from the world of incorporeal being, the Arupa world, wherein the Intelligences (on that plane only) have neither shape nor name, in the exoteric system, but have their distinct seven names in esoteric philosophy. These Dhyani Buddhas emanate, or create from themselves, by virtue of Dhyana, celestial Selves -- the super-human Bodhisattvas. These incarnating at the beginning of every human cycle on earth as mortal men, become occasionally, owing to their personal merit, Bodhisattvas among the Sons of Humanity, after which they may re-appear as Manushi (human) Buddhas. The Anupadaka (or Dhyani-Buddhas) are thus identical with the Brahminical Manasaputra, "mind-born sons" -- whether of Brahma or either of the other two Trimurtian Hypostases, hence identical also with the Rishis and Prajapatis. Thus, a passage is found in Anugita, which, read esoterically, shows plainly, though under another imagery, the same idea and system. It says: "Whatever entities there are in this world, moveable or immoveable, they are the very first to be dissolved (at pralaya); and next the developments produced from the elements (from which the visible Universe is fashioned); and, after these developments (evolved entities), all the elements. Such is the upperward gradation among entities. Gods, Men, Gandharvas, Pisachas, Asuras, Rakshasas, all have been created by Svabhava (Prakriti, or plastic nature), not by actions, nor by a cause" -- i.e., not by any physical cause.

Đây là Thượng đế (đấng thứ nhất), hay Vajradhara, Đức Phật Tối Thượng (cũng được gọi là Dorjechang). Là Chúa Tể của mọi Huyền Nhiệm, Ngài không thể biểu hiện, nhưng gửi vào thế giới biểu hiện trái tim của Ngài -- “trái tim kim cương,” Vajrasattva (Dorjesempa). Đây là thượng đế thứ hai của sáng tạo, từ Ngài phát xuất bảy vị (trong bức màn che ngoại môn là năm vị) Dhyani Buddhas, được gọi là Anupadaka, “vô phụ mẫu”. Các Đức Phật này là những chân thần nguyên sơ từ thế giới của hữu thể vô hình thể, thế giới Arupa, nơi các Trí Tuệ (chỉ trên cõi ấy) không có hình dạng cũng không có tên gọi trong hệ thống ngoại môn, nhưng có bảy danh xưng riêng biệt trong triết học bí truyền. Các Dhyani Buddhas này phát xuất, hay tạo ra từ chính mình, nhờ năng lực của Dhyana, các Bản Ngã thiên giới -- các Đức Bồ Tát siêu nhân. Những vị này nhập thể vào đầu mỗi chu kỳ nhân loại trên địa cầu như những con người phàm trần, và đôi khi, nhờ công đức cá nhân của mình, trở thành Đức Bồ Tát giữa các Con của Nhân Loại, sau đó các vị ấy có thể tái xuất hiện như các Đức Phật Manushi (nhân loại). Các Anupadaka (hay Dhyani-Buddhas) vì thế đồng nhất với các Manasaputra Bà-la-môn giáo, “những người con sinh ra từ trí tuệ” -- dù là của Brahma hay của một trong hai Ngôi vị Trimurtian kia, do đó cũng đồng nhất với các Rishis và Prajapatis. Vì vậy, một đoạn được tìm thấy trong Anugita, mà khi đọc theo huyền nghĩa, cho thấy rõ ràng, dù dưới một hình ảnh khác, cùng một ý tưởng và cùng một hệ thống. Đoạn ấy nói: “Bất cứ thực thể nào có trong thế giới này, động hay bất động, chúng là những thứ đầu tiên bị tan rã (vào pralaya); rồi đến những phát triển được tạo ra từ các nguyên tố (từ đó Vũ Trụ hữu hình được cấu thành); và sau những phát triển này (các thực thể đã tiến hoá), là tất cả các nguyên tố. Đó là sự phân cấp đi lên trên giữa các thực thể. Chư thần, con người, Gandharvas, Pisachas, Asuras, Rakshasas, tất cả đều đã được tạo ra bởi Svabhava (Prakriti, hay bản chất tạo hình), chứ không phải bởi hành động, cũng không phải bởi một nguyên nhân” -- nghĩa là, không phải bởi bất kỳ nguyên nhân hồng trần nào.

Apprehension of truth is ever the factor that calls for fresh revelation.

Sự lĩnh hội chân lý luôn luôn là yếu tố kêu gọi sự mặc khải mới mẻ.

273. This is to be remembered at a time when assimilation of the Teaching already given is required. Assimilation is our duty and a pressing duty at a time when a still greater revelation is imminent (2025 and after)

273. Điều này cần được ghi nhớ vào lúc việc đồng hoá Giáo Huấn đã được ban ra là điều cần thiết. Đồng hoá là bổn phận của chúng ta, và là một bổn phận cấp bách vào lúc một sự mặc khải còn lớn hơn nữa đang cận kề (2025 và sau đó)

A very interesting period will come about the year 1966 and persist to the end of the century.

Một thời kỳ rất thú vị sẽ đến vào khoảng năm 1966 và kéo dài đến cuối thế kỷ.

274. We can date the emerge of the wide-spread Hippy movement from this time—and the “Summer of Love” the very next year.

274. Chúng ta có thể xác định sự xuất hiện của phong trào Hippy lan rộng từ thời điểm này—và “Mùa Hè Tình Yêu” ngay năm sau đó.

275. The year 1966 was the year in which the Christ appropriated the “Vestures of the Buddha”—presumably the permanent atoms of the Buddhas spiritual triad, left for the use of the Christ.

275. Năm 1966 là năm Đức Christ tiếp nhận “Pháp y của Đức Phật”—có lẽ là các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần của Đức Phật, được để lại cho Đức Christ sử dụng.

276. These higher permanent atoms still allow for the expression of faculty in the lower realms usually ruled by the atomic triangle.

276. Các nguyên tử trường tồn cao hơn này vẫn cho phép biểu hiện năng lực trong các cõi thấp thường được cai quản bởi tam giác nguyên tử.

It is one for which the Great Ones are already making due preparation.

Đó là một thời kỳ mà Các Đấng Cao Cả đã và đang chuẩn bị thích đáng.

277. This book was written some forty years before the year 1966. We are given an idea of how far ahead the Great Ones plan.

277. Quyển sách này được viết trước năm 1966 khoảng bốn mươi năm. Chúng ta được cho một ý niệm về việc Các Đấng Cao Cả hoạch định xa đến mức nào.

278. Along this line, we are told that ever since the founding of the Spiritual Hierarchy some eighteen and a half million years its Members have been planning for the days which are now upon us.

278. Theo đường hướng này, chúng ta được cho biết rằng kể từ khi Thánh đoàn tinh thần được thành lập cách đây khoảng mười tám triệu rưỡi năm, các Thành viên của Thánh đoàn đã hoạch định cho những ngày hiện đang ở trước mắt chúng ta.

It concerns a centennial effort of the Lodge and of the Personages taking part therein. Each century sees a centennial effort of the Lodge along a particular line of force made to forward the ends of evolution,

Điều này liên quan đến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn và của các Đấng tham dự trong đó. Mỗi thế kỷ đều chứng kiến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn dọc theo một đường mãnh lực đặc biệt nhằm thúc đẩy các mục tiêu của tiến hoá,

279. Usually, toward the end of a century, the effort is made upon the first ray line.

279. Thông thường, vào cuối một thế kỷ, nỗ lực ấy được thực hiện trên đường cung một.

280. However, judging from the great Consciousness Movement which has transpired during the latter third of the 20th century, there would be good reason to judge that the particular line of force was the second ray.

280. Tuy nhiên, xét theo phong trào Tâm thức vĩ đại đã diễn ra trong một phần ba cuối của thế kỷ 20th, có lý do chính đáng để phán đoán rằng đường mãnh lực đặc biệt ấy là cung hai.

and the effort for the twentieth century will be upon a larger scale than has been the case for a very long time, and will involve a number of Great Ones.

và nỗ lực cho thế kỷ hai mươi sẽ ở trên một quy mô lớn hơn so với trường hợp đã có trong một thời gian rất dài, và sẽ liên quan đến một số Đấng Cao Cả.

281. With the Reappearance of the Christ imminent, there must have been good reason for an effort upon a much larger scale.

281. Với sự Tái Lâm của Đức Christ đang cận kề, hẳn phải có lý do chính đáng cho một nỗ lực trên quy mô lớn hơn nhiều.

282. We witnessed in the last thirty-five years of the 20th century a phenomenal growth of the consciousness movement, of the sense of unity, of the sense of the One Humanity (conveyed through the growth of the telecommunications network).

282. Trong ba mươi lăm năm cuối của thế kỷ 20th, chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng phi thường của phong trào tâm thức, của cảm thức hợp nhất, của cảm thức về Một Nhân Loại (được chuyển tải qua sự phát triển của mạng lưới viễn thông).

283. We must judge whether that centennial effort has been a success, yet perhaps we are not qualified to judge. Certainly, human consciousness and interdependence have made great strides.

283. Chúng ta phải phán đoán xem nỗ lực bách niên ấy có thành công hay không, tuy nhiên có lẽ chúng ta không đủ tư cách để phán đoán. Chắc chắn, tâm thức nhân loại và tính tương thuộc đã có những bước tiến lớn.

In a similar effort during the nineteenth century, H. P. B. was concerned, and a fairly large number of chelas.

Trong một nỗ lực tương tự trong thế kỷ mười chín, H. P. B. có liên quan, cùng với một số khá lớn các đệ tử.

284. This effort came at the close of the 19th century. Perhaps we can date the “push” from the time Isis Unveiled was prepared and published. The founding of the Theosophical Society and the writing of The Secret Doctrine were part of this same effort.

284. Nỗ lực này đến vào cuối thế kỷ 19th. Có lẽ chúng ta có thể xác định cú “thúc đẩy” từ lúc Isis Unveiled được chuẩn bị và xuất bản. Việc thành lập Hội Thông Thiên Học và việc viết Giáo Lý Bí Nhiệm là một phần của cùng nỗ lực này.

285. Given HPB as the ‘leader’ of this effort, there is every reason to consider that the push occurred along the first ray line.

285. Với HPB là ‘người lãnh đạo’ của nỗ lực này, hoàn toàn có lý do để xem cú thúc đẩy ấy đã xảy ra dọc theo đường cung một.

In the effort immediately ahead, [Page 754] several of the Great Ones are concerned and the Master of the Masters Himself;

Trong nỗ lực ngay phía trước, [Page 754] một số Đấng Cao Cả có liên quan và chính Chân sư của các Chân sư;

286. Here, again, we are speaking of the effort which was launched in 1966.

286. Ở đây, một lần nữa, chúng ta đang nói về nỗ lực đã được khởi động vào năm 1966.

287. It is fascinating to realize that the Christ, Himself, was intimately involved in this effort.

287. Thật hấp dẫn khi nhận ra rằng chính Đức Christ đã mật thiết tham gia vào nỗ lực này.

288. When Initiation: Human and Solar was written, it was anticipated that the Christ, Himself, might appear in the middle or later part of the 20th century. Could that possible Reappearance have been ‘scheduled’ for the time He was to appropriate the “Vestures of the Buddha”? It is possible but, probably, the appearance of atomic energy in the form of atomic weapons of mass destruction changed everything.

288. Khi Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương được viết, người ta dự đoán rằng chính Đức Christ có thể xuất hiện vào phần giữa hay phần sau của thế kỷ 20th. Có thể nào sự Tái Lâm khả dĩ ấy đã được ‘ấn định’ vào lúc Ngài sẽ tiếp nhận “Pháp y của Đức Phật”? Điều đó là có thể nhưng, có lẽ, sự xuất hiện của năng lượng nguyên tử dưới hình thức các vũ khí nguyên tử hủy diệt hàng loạt đã thay đổi mọi sự.

in Their "forthcoming" for work three out of the various methods of appearing mentioned earlier will be seen in full activity, and it is on these three that we might now touch.

trong sự “sắp đến” của Các Ngài để làm việc, ba trong số các phương pháp xuất hiện khác nhau đã được nhắc đến trước đây sẽ được thấy trong hoạt động trọn vẹn, và giờ đây chúng ta có thể chạm đến ba phương pháp ấy.