← From Bethlehem to Calvary – Alice A. Bailey song ngữ_fixed

CHAPTER SEVEN - Our Immediate Goal . . . The Founding of the Kingdom – CHƯƠNG BẢY - Mục Tiêu Trước Mắt Của Chúng Ta . . . Việc Thành Lập Thiên Giới

Trích nội dung chương

[231] This initiation is divided into two halves, and of neither of them do we know very much. The detail of the Resurrection episode, or crisis, in Christ’s life is left untold by the writers of the New Testament. It was not possible for them to know more. After the Crucifixion we are told little of Christ’s own life, or what occupied Him between the time He rose again until He left the company of the Apostles, and “ascended into Heaven”—a symbolic phrase which can mean very little to any of us. The crucial initiation for humanity to understand at this time is the fourth. Only when we have mastered the significance of service and sacrifice…


[231] This initiation is divided into two halves, and of neither of them do we know very much. The detail of the Resurrection episode, or crisis, in Christ’s life is left untold by the writers of the New Testament. It was not possible for them to know more. After the Crucifixion we are told little of Christ’s own life, or what occupied Him between the time He rose again until He left the company of the Apostles, and “ascended into Heaven”—a symbolic phrase which can mean very little to any of us. The crucial initiation for humanity to understand at this time is the fourth. Only when we have mastered the significance of service and sacrifice can the fact of immortality and its true meaning be revealed to us. How Christ rose, what were the processes undergone, in exactly what body He appeared, we cannot tell. We are assured by the Apostles that it resembled the one He had previously employed, but whether it was the same body miraculously resurrected; whether it was His spiritual body, which appeared to be the same to the physical eyes of those who loved Him, or whether He had constructed an entirely new body on the same general lines as the previous one, it is not possible for us to say; neither is it possible for us to be confident that the vision of the disciples was not supernormal or that, through the intensification of His expressed divinity, Christ had so stimulated their inner vision that they saw clairvoyantly, or in another dimension. The important matter was that He did rise again, that He was seen of many, [232] and that the fact of His resurrection was credited in the minds of His friends and for the two or three centuries after His departure.

[231] Lần điểm đạo này được chia thành hai nửa, và về cả hai nửa ấy chúng ta đều biết rất ít. Chi tiết của biến cố Phục Sinh, hay cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ, không được các tác giả Tân Ước thuật lại. Họ không thể biết nhiều hơn. Sau Cuộc Đóng Đinh, chúng ta được cho biết rất ít về đời sống riêng của Đức Christ, hay điều gì đã chiếm lĩnh Ngài trong khoảng thời gian từ khi Ngài sống lại cho đến khi Ngài rời khỏi đoàn Tông đồ và “thăng lên Thiên Đàng”—một cụm từ biểu tượng có thể có rất ít ý nghĩa đối với bất cứ ai trong chúng ta. Lần điểm đạo then chốt mà nhân loại cần thấu hiểu vào lúc này là lần thứ tư. Chỉ khi chúng ta đã làm chủ thâm nghĩa của phụng sự và hi sinh, sự kiện bất tử và ý nghĩa chân thật của nó mới có thể được mặc khải cho chúng ta. Đức Christ đã sống lại như thế nào, các tiến trình Ngài đã trải qua là gì, Ngài xuất hiện chính xác trong loại thể nào, chúng ta không thể nói. Các Tông đồ bảo đảm với chúng ta rằng thể ấy giống thể Ngài đã dùng trước đó, nhưng đó có phải là cùng một thân thể được phục sinh một cách kỳ diệu; hay đó là thể tinh thần của Ngài, trông có vẻ như cùng một thể đối với đôi mắt hồng trần của những người yêu mến Ngài; hay Ngài đã kiến tạo một thân thể hoàn toàn mới theo cùng những đường nét tổng quát như thể trước đó, chúng ta không thể nói; chúng ta cũng không thể tin chắc rằng tầm nhìn của các đệ tử không phải là siêu thường, hoặc rằng, qua sự tăng cường thiên tính được biểu lộ của Ngài, Đức Christ đã kích thích linh thị bên trong của họ đến mức họ thấy bằng thông nhãn, hay trong một chiều kích khác. Điều quan trọng là Ngài đã sống lại, Ngài đã được nhiều người thấy [232], và sự kiện phục sinh của Ngài đã được tin nhận trong trí tuệ của bạn hữu Ngài và trong hai hoặc ba thế kỷ sau khi Ngài ra đi.

The psychology of the disciples is the best proof we have of the reality of their conviction that death could not hold the Saviour, and that after death He was present and living among them. It is difficult for us to gain this high achievement in consciousness which they showed. Apparently their world had come to an end upon the Cross. Christ had apparently failed them, and instead of being the divine Son of God, and King of the Jews, He was nothing but an ordinary man, convicted of treason and punished as a common malefactor. What they must have endured during the three days of His absence it is not hard for us to imagine. Hopelessness, despair, the loss of confidence in themselves and of prestige among their friends; the cause for which they had been so ready to dedicate themselves, as they tramped with Christ from place to place in the Holy Land, had ended and collapsed. Their Leader was discredited. Then something happened to alter the whole trend of their thought. All that had been lost of confidence and hope and purpose was restored, and the first few centuries of the Christian history (before theology gave a turn to interpretation, and so altered the Gospel of love into a cult of separation) reveal to us

Tâm lý của các đệ tử là bằng chứng tốt nhất chúng ta có về thực tại niềm xác tín của họ rằng cái chết không thể giữ Đấng Cứu Thế, và rằng sau cái chết Ngài hiện diện và sống giữa họ. Chúng ta khó đạt được thành tựu cao trong tâm thức mà họ đã biểu lộ. Dường như thế giới của họ đã chấm dứt trên Thập giá. Dường như Đức Christ đã làm họ thất vọng, và thay vì là Con thiêng liêng của Thượng đế, là Vua dân Do Thái, Ngài chẳng là gì ngoài một người thường, bị kết án phản quốc và bị trừng phạt như một tội phạm thông thường. Chúng ta không khó hình dung điều họ hẳn đã chịu đựng trong ba ngày Ngài vắng mặt. Sự tuyệt vọng, nỗi chán chường, sự mất niềm tin nơi chính mình và mất uy tín giữa bạn hữu; chính nghĩa mà họ đã sẵn sàng hiến mình, khi họ theo Đức Christ đi từ nơi này đến nơi khác trong Đất Thánh, đã kết thúc và sụp đổ. Vị Lãnh đạo của họ bị mất uy tín. Rồi một điều gì đó đã xảy ra, làm thay đổi toàn bộ khuynh hướng tư tưởng của họ. Tất cả những gì đã mất về niềm tin, hy vọng và mục đích đều được phục hồi, và vài thế kỷ đầu của lịch sử Cơ Đốc giáo, trước khi thần học bẻ hướng sự diễn giải và do đó biến đổi Phúc Âm của tình thương thành một giáo phái của chia rẽ, mặc khải cho chúng ta

“... a company of men and women full of confidence, enthusiasm and courage, ready to face persecution and death, eager missionaries. What has given them this new character? Not long before some of them had fled in dismay at the first threat of personal danger. When Jesus was crucified they had lost the last glimmer of hope that he might prove to be the Christ. When he was placed in the tomb, Christianity was dead and buried too. Now we meet these men and women a few weeks later and they are utterly changed. It is not that there is some faint return of hope among a few of them. All are completely certain that Jesus is indeed the Christ. What has happened to cause this transformation? Their answer is unanimous: on the third day he rose from the dead.”

“... một đoàn những người nam và nữ đầy tự tin, nhiệt thành và can đảm, sẵn sàng đối diện với bách hại và cái chết, là những nhà truyền giáo hăng hái. Điều gì đã ban cho họ tính cách mới này? Không lâu trước đó, một số người trong họ đã chạy trốn trong kinh hoàng trước mối đe dọa đầu tiên của nguy hiểm cá nhân. Khi Đức Jesus bị đóng đinh, họ đã mất tia hy vọng cuối cùng rằng Ngài có thể chứng tỏ là Đức Christ. Khi Ngài được đặt trong mộ, Cơ Đốc giáo cũng đã chết và bị chôn theo. Nay chúng ta gặp lại những người nam và nữ này vài tuần sau đó, và họ đã hoàn toàn đổi khác. Không phải chỉ có một tia hy vọng mờ nhạt trở lại nơi vài người trong họ. Tất cả đều hoàn toàn chắc chắn rằng Đức Jesus quả thật là Đức Christ. Điều gì đã xảy ra để gây nên sự chuyển đổi này? Câu trả lời của họ là nhất trí: ngày thứ ba Ngài đã sống lại từ cõi chết.”

‘THE VALLEY AND BEYOND’, BY ANTHONY C. DEANE, P. 72.

‘THUNG LŨNG VÀ BÊN KIA’, CỦA ANTHONY C. DEANE, TR. 72.

[233] “Christ is risen,” is their cry, and because He has risen the kingdom of God can go forward upon earth, and His message of love can be widely distributed. They know now, past all controversy, that He has overcome death, and that in the years that lie ahead they will see death vanquished. That they expected an immediate kingdom and that they looked to see the fact of immortality universally recognised is evident from their writings and their enthusiasm. That they were mistaken, nearly two thousand years of Christianity has proved. We are not yet citizens of a divine kingdom definitely manifesting upon earth, the fear of death is as strong as ever, and the fact of immortality is still but a source of speculation to millions. But it was their sense of time that was at fault, and their failure to understand the slow processes of nature. Evolution moves slowly, and it is only today that we are truly on the verge of the demonstration of God’s kingdom upon earth. Because this is the end of an age, we know that before long the hold death has on the human being, and the terror which the angel of death inspires, will disappear. They will vanish because we shall regard death as only another step on the way towards light and life, and shall realise that, as the Christ life expresses itself in and through human beings, they will demonstrate to themselves, and in the world, the reality of immortality.

[233] “Đức Christ đã sống lại,” là tiếng kêu của họ, và vì Ngài đã sống lại nên Thiên Giới có thể tiến tới trên Trái Đất, và thông điệp tình thương của Ngài có thể được truyền rộng. Giờ đây họ biết, vượt khỏi mọi tranh cãi, rằng Ngài đã chiến thắng cái chết, và rằng trong những năm trước mặt họ sẽ thấy cái chết bị khuất phục. Việc họ mong đợi một Thiên Giới tức thời và trông thấy sự kiện bất tử được công nhận phổ quát là điều hiển nhiên từ các trước tác và lòng nhiệt thành của họ. Việc họ đã lầm, gần hai nghìn năm Cơ Đốc giáo đã chứng minh. Chúng ta chưa phải là công dân của một Thiên Giới thiêng liêng đang biểu hiện rõ ràng trên Trái Đất, nỗi sợ chết vẫn mạnh như xưa, và sự kiện bất tử vẫn chỉ là nguồn suy đoán đối với hàng triệu người. Nhưng chính cảm thức của họ về thời gian đã sai, và họ đã không thấu hiểu các tiến trình chậm rãi của thiên nhiên. Tiến hoá chuyển động chậm, và chỉ ngày nay chúng ta mới thật sự ở trên ngưỡng của sự chứng minh Thiên Giới trên Trái Đất. Vì đây là cuối một thời đại, chúng ta biết rằng chẳng bao lâu nữa sự kìm giữ mà cái chết đặt lên con người, và nỗi kinh hoàng mà thiên thần của cái chết gây ra, sẽ biến mất. Chúng sẽ tan biến vì chúng ta sẽ xem cái chết chỉ là một bước khác trên đường hướng tới ánh sáng và sự sống, và sẽ nhận ra rằng, khi sự sống Christ biểu lộ trong và qua con người, họ sẽ chứng minh cho chính mình và trong thế giới thực tại của sự bất tử.

The key to the overcoming of death and to the processes of realising the meaning and nature of eternity and the continuity of life can with safety be revealed only when love holds sway over the human consciousness, and where the good of the whole, and not the selfish good of the individual, comes to be the supreme regard. Only through love (and service as the expression of love) can the real message of Christ be understood and men pass on towards a joyful resurrection. Love makes us humbler, and at the same time wiser. It penetrates to the heart of reality and has a faculty of discovering the truth hidden by a form. The early Christians were simple in this way because they loved one another, because [234] they loved Christ and the Christ within each other. Dr. Grensted points this out in the following words, giving us a fine summation of the attitude of the early Christians and of their approach, in those enthusiastic days, to Christ and to life in the world:

Chìa khóa để chiến thắng cái chết và để thực hiện các tiến trình chứng nghiệm ý nghĩa và bản chất của vĩnh cửu cùng tính liên tục của sự sống chỉ có thể được mặc khải an toàn khi tình thương ngự trị trên tâm thức con người, và khi điều thiện của toàn thể, chứ không phải điều thiện ích kỷ của cá nhân, trở thành mối quan tâm tối thượng. Chỉ qua tình thương, và phụng sự như biểu lộ của tình thương, thông điệp chân thật của Đức Christ mới có thể được thấu hiểu và con người mới tiến tới một sự phục sinh hoan hỉ. Tình thương làm chúng ta khiêm nhường hơn, đồng thời minh triết hơn. Nó thâm nhập đến trái tim của thực tại và có khả năng khám phá chân lý bị một hình tướng che giấu. Những tín đồ Cơ Đốc giáo sơ khai đơn sơ theo cách này vì họ yêu thương nhau, vì [234] họ yêu thương Đức Christ và Đức Christ bên trong nhau. Tiến sĩ Grensted chỉ ra điều này trong những lời sau, trao cho chúng ta một tổng kết đẹp đẽ về thái độ của các tín đồ Cơ Đốc giáo sơ khai và cách họ tiếp cận Đức Christ cùng đời sống trong thế gian, vào những ngày đầy nhiệt thành ấy:

“They spoke in plain terms of God. They did not think of Jesus of Nazareth as a crucial experiment. They knew Him as Friend and Master, and they flung their whole being into the enthusiasm of His friendship and service. Their preaching was the good news about Jesus. They assumed that men already meant something when they spoke of God, and, without challenging the inheritance which they received from Judaism, they set side by side with it the Jesus whom they had known living, and dead, and alive again. They had been through much more than a time of inexplicable miracles, healings, and voices, and a strange mastery over Nature itself, and at the end a conquest of death. If they had told the world, and us, these things alone, they would have been believed. Such stories have always found a hearing. And men would still have known nothing more of the meaning of God. But their experience had been one of such a Friendship as man had never known, of disastrous failure and a forgiveness beyond all believing, and of a new, a free, a creative life. Nothing of all this was of their own achievement. They knew they were men remade, and they knew that the mode of their remaking was love. This was a providence, a deliverance, greater and more significant than anything that the Jew had ever claimed for the Creator-God. Yet they could not think of it as other than His work, since God, as all their national tradition taught, is One. It interpreted for them, as we might put it in our more cautious way, the creative reality to which they, with all men, had looked with uncertainty and even with fear. Henceforth the central hypothesis which men call God was known as love, and everywhere He was made manifest just in so far as love had passed out from Christ to the fellowship of the Christian community.”

“Họ nói bằng những lời giản dị về Thượng đế. Họ không nghĩ đến Đức Jesus thành Nazareth như một thử nghiệm then chốt. Họ biết Ngài như Bạn Hữu và Chân sư, và họ ném trọn bản thể mình vào nhiệt tình của tình bạn và sự phụng sự Ngài. Lời rao giảng của họ là tin mừng về Đức Jesus. Họ giả định rằng con người đã có một ý nghĩa nào đó khi nói về Thượng đế, và không thách thức di sản họ nhận từ Do Thái giáo, họ đặt bên cạnh nó Đức Jesus mà họ đã biết khi sống, khi chết, và khi lại sống. Họ đã trải qua nhiều hơn một thời kỳ của những phép lạ, chữa lành và tiếng nói không thể giải thích, của một quyền chủ tể lạ lùng trên chính Thiên nhiên, và cuối cùng là sự chinh phục cái chết. Nếu họ đã nói với thế giới và với chúng ta chỉ những điều ấy thôi, họ đã được tin. Những câu chuyện như vậy luôn tìm được người lắng nghe. Và con người vẫn sẽ chẳng biết gì thêm về ý nghĩa của Thượng đế. Nhưng kinh nghiệm của họ là kinh nghiệm về một Tình Bạn mà con người chưa từng biết, về thất bại thảm hại và một sự tha thứ lớn lao đến khó tin, và về một sự sống mới, tự do, sáng tạo. Không điều nào trong tất cả điều này là thành tựu riêng của họ. Họ biết mình là những con người được làm mới, và họ biết rằng phương thức làm mới họ là tình thương. Đây là một sự quan phòng, một cuộc giải thoát, lớn lao hơn và thâm nghĩa hơn bất cứ điều gì người Do Thái từng tuyên xưng về Thượng đế-Sáng Tạo. Tuy nhiên họ không thể nghĩ về nó như điều gì khác ngoài công trình của Ngài, vì Thượng đế, như toàn bộ truyền thống dân tộc của họ dạy, là Một. Nó đã diễn giải cho họ, như chúng ta có thể nói theo cách thận trọng hơn của mình, thực tại sáng tạo mà họ, cùng mọi người, đã nhìn đến trong bất định và thậm chí trong sợ hãi. Từ đó về sau, giả thuyết trung tâm mà con người gọi là Thượng đế được biết đến như tình thương, và ở khắp nơi Ngài được biểu hiện đúng mức tình thương đã tuôn ra từ Đức Christ đến tình huynh đệ của cộng đồng tín đồ Cơ Đốc giáo.”

‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 237.

‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 237.

Christ had risen, and by His Resurrection proved that humanity had in it the seed of life, and that there was no death for the man who could follow in the steps of the Master.

Đức Christ đã sống lại, và bằng Sự Phục Sinh của Ngài chứng minh rằng nhân loại có trong mình hạt giống của sự sống, và rằng không có cái chết đối với con người có thể bước theo dấu chân của Chân sư.

[235] In the past, being wholly engrossed with consideration of the Crucifixion, we have been apt to forget the fact of the Resurrection. Yet on Easter Day, throughout the world, believers everywhere express their belief in the risen Christ and in the life beyond the grave. They have argued along many lines as to the possibility of His rising, and whether He rose as a human being or as the Son of God. They have been deeply concerned to prove that because He rose again, so shall we rise, provided we believe in Him. In order to meet the theological need of proving that God is love, we have invented a place of discipline, called by many names, such as purgatory, or the various stages of the different faiths on the road of departed spirits to heaven, because so many millions die, or have died, without ever having heard of Christ. Therefore belief in Him as an historical figure is not possible for them. We have evolved such doctrines as conditional immortality, and the atonement through the blood of Jesus, in an endeavour to glorify the personality of Jesus and safe-guard Christian believers, and to reconcile human interpretations with the truth in the Gospels. We have taught the doctrine of hell-fire and eternal punishment, and then tried to fit it in to the general belief that God is love.

[235] Trong quá khứ, vì hoàn toàn bị cuốn hút vào việc xem xét Cuộc Đóng Đinh, chúng ta thường quên sự kiện Phục Sinh. Tuy nhiên vào Ngày Phục Sinh, khắp thế giới, các tín đồ ở mọi nơi bày tỏ niềm tin của họ vào Đức Christ phục sinh và vào sự sống bên kia nấm mồ. Họ đã tranh luận theo nhiều hướng về khả năng Ngài sống lại, và liệu Ngài sống lại như một con người hay như Con của Thượng đế. Họ quan tâm sâu sắc đến việc chứng minh rằng vì Ngài đã sống lại, chúng ta cũng sẽ sống lại, miễn là chúng ta tin vào Ngài. Để đáp ứng nhu cầu thần học nhằm chứng minh rằng Thượng đế là tình thương, chúng ta đã phát minh một nơi rèn luyện, được gọi bằng nhiều tên, như luyện ngục, hoặc các giai đoạn khác nhau của các tín ngưỡng khác nhau trên con đường của các linh hồn đã khuất đến thiên đường, bởi vì quá nhiều triệu người chết, hoặc đã chết, mà chưa bao giờ nghe nói đến Đức Christ. Do đó, đối với họ, niềm tin vào Ngài như một nhân vật lịch sử là điều không thể. Chúng ta đã phát triển những giáo lý như bất tử có điều kiện, và sự chuộc tội qua máu của Đức Jesus, trong nỗ lực tôn vinh phàm ngã của Đức Jesus và bảo vệ các tín đồ Cơ Đốc giáo, cũng như dung hòa các diễn giải của con người với chân lý trong các Phúc Âm. Chúng ta đã dạy giáo lý về lửa địa ngục và hình phạt vĩnh cửu, rồi cố gắng ghép nó vào niềm tin chung rằng Thượng đế là tình thương.

Yet the truth is that Christ died and rose again because He was divinity immanent in a human body. Through the processes of evolution and initiation He demonstrated to us the meaning and purpose of the divine life present in Him and in us all. Because Christ was human, He rose again. Because He was also divine, He rose again, and in the enacting of the drama of resurrection He revealed to us that great concept of the continuity of unfoldment which it has ever been the task of the Mysteries of all time to reveal.

Tuy nhiên chân lý là Đức Christ đã chết và sống lại vì Ngài là thiên tính nội tại trong một thân thể con người. Qua các tiến trình tiến hoá và điểm đạo, Ngài đã chứng minh cho chúng ta ý nghĩa và mục đích của sự sống thiêng liêng hiện diện trong Ngài và trong tất cả chúng ta. Vì Đức Christ là con người, Ngài đã sống lại. Vì Ngài cũng là thiêng liêng, Ngài đã sống lại, và trong việc thực hiện vở kịch phục sinh, Ngài mặc khải cho chúng ta quan niệm vĩ đại về tính liên tục của sự khai mở, điều vốn luôn là nhiệm vụ của các Bí Nhiệm mọi thời đại phải mặc khải.

Again and again we have found that the three episodes related in the Gospel story are not isolated happenings in the life of Jesus of Nazareth, but that they have been repeatedly undergone in the secret places of the Temples of the Mysteries, from the dawn of time. The Saviours of the past were all [236] subjected to the processes of death in some form or other, but they all rose again or were translated to glory. In the initiation ceremonies this burial and resurrection at the end of three days was a familiar ceremonial. History tells us of many of these Sons of God who died and rose again, and finally ascended into Heaven. We find, for instance, that “the Obsequies of Adonis were celebrated in Alexandria (in Egypt) with the utmost display. His image was carried with great solemnity to a tomb, which served the purpose of rendering him the last honours. Before singing his return to life, there were mournful rites celebrated in honour of his suffering and his death. The large wound which he received was shown, just as the wound was shown which was made to Christ by the thrust of the spear. The feast of his resurrection was fixed at the 25th of March.” (‘Origin of Religious Belief’, by Dupuis, p. 161.) There is the same legend attached to the names of Tammuz, to Zoroaster, to Esculapius. To the latter, Ovid addressed the following words:

Hết lần này đến lần khác, chúng ta đã thấy rằng ba biến cố được thuật lại trong câu chuyện Phúc Âm không phải là những sự kiện cô lập trong đời sống Đức Jesus thành Nazareth, mà đã nhiều lần được trải qua trong những nơi bí mật của các Đền thờ Bí Nhiệm, từ buổi bình minh của thời gian. Các Đấng Cứu Thế trong quá khứ đều [236] chịu các tiến trình của cái chết dưới hình thức này hay hình thức khác, nhưng tất cả Các Ngài đều sống lại hoặc được chuyển vào vinh quang. Trong các nghi lễ điểm đạo, việc chôn cất và phục sinh này vào cuối ba ngày là một nghi lễ quen thuộc. Lịch sử kể cho chúng ta về nhiều Con của Thượng đế đã chết và sống lại, rồi cuối cùng thăng lên Thiên Đàng. Chẳng hạn, chúng ta thấy rằng “Tang lễ của Adonis được cử hành tại Alexandria, ở Ai Cập, với sự phô diễn hết mức. Tượng của Ngài được rước với nghi thức trọng thể đến một ngôi mộ, dùng để dâng cho Ngài những vinh dự cuối cùng. Trước khi hát mừng Ngài trở lại sự sống, các nghi thức bi thương được cử hành để tôn vinh sự đau khổ và cái chết của Ngài. Vết thương lớn mà Ngài nhận được được trưng bày, giống như vết thương do mũi giáo đâm vào Đức Christ cũng được trưng bày. Lễ phục sinh của Ngài được ấn định vào ngày 25 tháng Ba.” (‘Nguồn Gốc của Niềm Tin Tôn Giáo’, của Dupuis, tr. 161.) Cùng một huyền thoại ấy gắn với các tên Tammuz, Zoroaster, Esculapius. Với vị sau, Ovid đã ngỏ những lời sau:

“Hail, Great Physician of the world! All hail!

“Kính chào, Y Sư Vĩ Đại của thế gian! Xin kính chào!

Hail, mighty Infant who in years to come

Kính chào, Hài Nhi hùng mạnh, Đấng trong những năm sắp tới

Shall heal the nations and defraud the tomb.

Sẽ chữa lành các dân tộc và tước đoạt quyền của nấm mồ.

Swift be Thy growth, Thy triumphs unconfined

Nguyện Ngài lớn nhanh, chiến thắng của Ngài không giới hạn

Make kingdoms thicken and increase mankind.

Làm các vương quốc thêm đông và gia tăng nhân loại.

~

~

Thy daring art shall animate the dead,

Nghệ thuật táo bạo của Ngài sẽ làm người chết sống lại,

And draw the thunder on Thy guilty head;

Và kéo sấm sét xuống trên đầu có tội của Ngài;

Then shalt Thou die, but from the dark abode

Rồi Ngài sẽ chết, nhưng từ nơi cư ngụ tối tăm

Shalt rise victorious and be twice a God.”

Sẽ trỗi dậy chiến thắng và hai lần là một vị thần.”

OVID’S ‘METAMORPHOSES’, AS RENDERED BY ADDISON, QUOTED IN TAYLOR’S ‘DIEGESIS’, P. 148.

‘BIẾN HÌNH’ CỦA OVID, DO ADDISON DIỄN DỊCH, TRÍCH TRONG ‘DIEGESIS’ CỦA TAYLOR, TR. 148.

These words might have been appropriately addressed to Christ, and they serve to indicate the antiquity of the Mystery Teaching which, with unbroken continuity, has revealed the divinity in Man and shown him the Way of a Saviour. But in ancient times these mysteries were enacted in [237] secret, and the rites of initiation were administered only to those who were fitted to pass through the five great experiences from the Birth to the Resurrection. The uniqueness of Christ’s work lay in the fact that He was the first to enact the whole of the initiation ceremonial rites and ritual publicly, before the world at large, thus giving to humanity a demonstration of divinity centred in one person, so that all could see, could know, believe and follow in His steps.

Những lời này hẳn đã có thể được ngỏ một cách thích đáng với Đức Christ, và chúng cho thấy tính cổ xưa của Giáo Huấn Bí Nhiệm, vốn với tính liên tục không gián đoạn, đã mặc khải thiên tính trong Con Người và chỉ cho y Con Đường của một Đấng Cứu Thế. Nhưng thời xưa, các bí nhiệm này được thực hiện trong [237] bí mật, và các nghi thức điểm đạo chỉ được trao cho những ai đủ tư cách đi qua năm kinh nghiệm lớn từ Giáng Sinh đến Phục Sinh. Tính độc đáo trong công việc của Đức Christ nằm ở sự kiện rằng Ngài là Đấng đầu tiên thực hiện toàn bộ các nghi thức và lễ thức điểm đạo một cách công khai, trước toàn thế giới, nhờ đó trao cho nhân loại một sự chứng minh về thiên tính tập trung trong một người, để tất cả có thể thấy, có thể biết, tin và bước theo dấu chân Ngài.

The same stories are told of Hercules, of Baldur, of Mithra, of Bacchus, and of Osiris, to mention only a few of a large number. One of the early Church Fathers, Firmicus Maternus, tells us that the mysteries of Osiris bear a close resemblance to the Christian teaching, and that after the resurrection of Osiris his friends rejoice together, saying, “We have found him.” Annie Besant points out in an illuminating passage that:

Cũng những câu chuyện ấy được kể về Hercules, Baldur, Mithra, Bacchus và Osiris, chỉ nêu vài vị trong số rất nhiều. Một trong các Giáo phụ đầu tiên của Giáo hội, Firmicus Maternus, nói với chúng ta rằng các bí nhiệm của Osiris rất giống với giáo huấn Cơ Đốc giáo, và rằng sau sự phục sinh của Osiris, bạn hữu Ngài cùng vui mừng, nói rằng: “Chúng ta đã tìm thấy Ngài.” Bà Annie Besant chỉ ra trong một đoạn văn soi sáng rằng:

“In the Christian Mysteries—as in the ancient Egyptian, Chaldean, and others—there was an outer symbolism which expressed the stages through which the man was passing. He was brought into the chamber of Initiation, and was stretched on the ground with his arms extended, sometimes on a cross of wood, sometimes merely on the stone floor, in the posture of a crucified man. He was then touched with the thyrsus on the heart—the ‘spear’ of the crucifixion—and, leaving the body, he passed into the worlds beyond, the body falling into a deep trance, the death of the crucified. The body was placed in a sarcophagus of stone, and there left, carefully guarded. Meanwhile the man himself was treading first the strange obscure regions called ‘the heart of the earth,’ and thereafter the heavenly mount, where he put on the perfected bliss body, now fully organised as a vehicle of consciousness. In that he returned to the body of flesh, to re-animate it. The cross bearing that body, or the entranced and rigid body, if no cross had been used, was lifted out of the sarcophagus and placed on a sloping surface, facing the east, ready for the rising of the sun on the third day. At the moment that the rays of the sun touched the face, the Christ, the perfected Initiate or Master, re-entered the body, glorifying it by the bliss body He was wearing, changing the body of flesh by contact with the body of bliss, giving [238] it new properties, new powers, new capacities, transmuting it into His own likeness. That was the Resurrection of the Christ, and thereafter the body of flesh itself was changed, and took on a new nature.”

“Trong các Bí Nhiệm Cơ Đốc giáo—cũng như trong các Bí Nhiệm Ai Cập, Chaldea cổ đại và những nơi khác—có một biểu tượng bên ngoài diễn tả các giai đoạn mà con người đang đi qua. Y được đưa vào phòng Điểm đạo, và được đặt nằm trên đất với hai tay dang rộng, đôi khi trên một thập giá bằng gỗ, đôi khi chỉ trên sàn đá, trong tư thế của một người bị đóng đinh. Rồi y được chạm vào trái tim bằng cây trượng thyrsus—‘ngọn giáo’ của cuộc đóng đinh—và, rời khỏi thể xác, y đi vào các thế giới bên kia, thể xác rơi vào một cơn xuất thần sâu, cái chết của người bị đóng đinh. Thể xác được đặt trong một quan tài đá và để lại đó, được canh giữ cẩn mật. Trong khi đó, chính con người ấy trước hết đang bước qua những miền xa lạ, u tối, gọi là ‘trái tim của đất’, rồi sau đó là ngọn núi thiên thượng, nơi y khoác lấy thể chí phúc hoàn thiện, nay đã được tổ chức đầy đủ như một vận cụ của tâm thức. Trong thể ấy, y trở lại với thể xác bằng thịt để làm nó sống lại. Thập giá mang thể xác ấy, hoặc thể xác trong trạng thái xuất thần và cứng đờ nếu không dùng thập giá, được nâng ra khỏi quan tài đá và đặt trên một mặt nghiêng, hướng về phía đông, sẵn sàng cho mặt trời mọc vào ngày thứ ba. Vào khoảnh khắc các tia mặt trời chạm vào khuôn mặt, Đức Christ, điểm đạo đồ hoàn thiện hay Chân sư, trở lại thể xác, làm nó vinh quang bằng thể chí phúc mà Ngài đang mang, biến đổi thân thể bằng thịt qua sự tiếp xúc với thể chí phúc, ban cho [238] nó những đặc tính mới, những quyền năng mới, những năng lực mới, chuyển hoá nó theo hình ảnh của chính Ngài. Đó là Sự Phục Sinh của Đức Christ, và sau đó chính thân thể bằng thịt được biến đổi và khoác lấy một bản chất mới.”

‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, PP. 247, 248, 249.

‘CƠ ĐỐC GIÁO NỘI MÔN’, CỦA ANNIE BESANT, TR. 247, 248, 249.

Thus we find that the resurrection story is of very ancient date, and that God has always held before humanity, through the Mysteries and through His illumined Sons, the fact of immortality, as before our Christian world, through the death and resurrection of His beloved Son, Jesus Christ.

Như vậy, chúng ta thấy rằng câu chuyện phục sinh có từ rất cổ xưa, và rằng Thượng đế luôn đặt trước nhân loại, qua các Bí Nhiệm và qua các Người Con được soi sáng của Ngài, sự kiện bất tử, cũng như trước thế giới Cơ Đốc giáo của chúng ta, qua cái chết và sự phục sinh của Người Con yêu dấu của Ngài, Đức Jesus Christ.

This whole problem of death and immortality is engrossing a great deal of public attention at this time. The World War brought the fact of death before the public consciousness in a new and arresting manner. There was scarcely a family in over twenty nations which had not been bereft by death, in some form or other. The world has passed through a process of dying, and at the present time the mystery of the Resurrection is becoming a theme of major importance in men’s minds. The thought of the Resurrection is coming closer, and its significance has been the central idea of the Masonic Fraternity down the ages, forming the focal point of the work of the sublime Third Degree. In close relation to this Masonic “raising” can be placed a little-known sermon of the Buddha, in which He teaches His disciples the significance of the “five points of Friendship,” and thus links up these five points, the five crises in the life of Christ and the five points in the Masonic legend. All these references serve to show the continuity of revelation of which the Resurrection (with its subsequent Ascension) was the climaxing event for the Occident.

Toàn bộ vấn đề về cái chết và bất tử này đang thu hút rất nhiều sự chú ý của công chúng vào lúc này. Chiến Tranh Thế Giới đã đặt sự kiện cái chết trước tâm thức công chúng theo một cách mới mẻ và gây chấn động. Hầu như không có một gia đình nào trong hơn hai mươi quốc gia lại không chịu tang bởi cái chết, dưới hình thức này hay hình thức khác. Thế giới đã đi qua một tiến trình chết đi, và vào thời điểm hiện tại, bí nhiệm của Sự Phục Sinh đang trở thành một chủ đề có tầm quan trọng lớn trong trí tuệ con người. Tư tưởng về Sự Phục Sinh đang đến gần hơn, và thâm nghĩa của nó đã là ý tưởng trung tâm của Huynh Đệ Đoàn Tam Điểm qua các thời đại, tạo thành tiêu điểm của công việc thuộc Cấp Ba cao quý. Trong mối liên hệ mật thiết với việc “nâng dậy” của Tam Điểm này có thể đặt một bài thuyết giảng ít được biết đến của Đức Phật, trong đó Ngài dạy các đệ tử của Ngài thâm nghĩa của “năm điểm của Tình Bạn”, và như vậy liên kết năm điểm này, năm cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ và năm điểm trong huyền thoại Tam Điểm. Tất cả những tham chiếu này cho thấy tính liên tục của sự mặc khải mà Sự Phục Sinh, cùng với Sự Thăng Thiên sau đó, là biến cố đạt đỉnh đối với phương Tây.

The outstanding need of Christianity today is to emphasise the living, risen Christ. We have argued too long over the death of Christ, seeking to impose a narrow sectarian Christ upon the world. We have fed the fires of separation by our Christian divisions, churches, sects and “isms.” “Their name [239] is legion,” and most of them are founded upon some sectarian presentation of the dead Christ, and of the earlier aspects of His story. Let us now unite on the basis of the risen Christ—Christ alive today, Christ the source of inspiration and the founder of the kingdom of God; Christ, the cosmic Christ, eternally on the Cross, yet eternally alive; Christ, the historical Saviour, the founder of Christianity, watching over His Church; Christ, the mystic, mythic Christ, portraying upon the canvas of the Gospels the episodes of unfoldment so that all who live may know and follow; and Christ, alive today in every human heart, the guarantee of, and the urge towards divinity, which humanity so constantly exhibits. Because of the presence of Christ in man, the conviction of divinity and of man’s consequent immortality seem to be inherent in the human consciousness. It will inevitably occupy more and more of man’s attention until it is demonstrated and proven; meanwhile that something apparently persists beyond physical death has been demonstrated. The fact of immortality has not been proven as yet, though it constitutes a basic belief in the minds of millions, and where such a belief is universally found, there must indubitably be a basis for it.

Nhu cầu nổi bật của Cơ Đốc giáo ngày nay là nhấn mạnh Đức Christ sống động, phục sinh. Chúng ta đã tranh luận quá lâu về cái chết của Đức Christ, tìm cách áp đặt lên thế giới một Đức Christ giáo phái hẹp hòi. Chúng ta đã nuôi dưỡng những ngọn lửa chia rẽ bằng các phân phái, giáo hội, giáo phái và các “chủ nghĩa” Cơ Đốc giáo của mình. “Tên của chúng [239] là đạo binh,” và phần lớn trong số đó được đặt nền trên một cách trình bày giáo phái nào đó về Đức Christ đã chết, và về các phương diện trước đó của câu chuyện Ngài. Giờ đây chúng ta hãy hợp nhất trên nền tảng Đức Christ phục sinh—Đức Christ đang sống hôm nay, Đức Christ là nguồn cảm hứng và là Đấng sáng lập Thiên Giới; Đức Christ, Đức Christ vũ trụ, vĩnh cửu trên Thập giá, nhưng vẫn vĩnh cửu sống động; Đức Christ, Đấng Cứu Thế lịch sử, Đấng sáng lập Cơ Đốc giáo, trông nom Giáo hội của Ngài; Đức Christ, Đức Christ thần bí và huyền thoại, mô tả trên bức nền các Phúc Âm những biến cố của sự khai mở để tất cả những ai sống có thể biết và đi theo; và Đức Christ, sống động hôm nay trong mọi trái tim con người, là bảo chứng của thiên tính và là thôi thúc hướng tới thiên tính mà nhân loại biểu lộ hết sức thường xuyên. Vì sự hiện diện của Đức Christ trong con người, niềm xác tín về thiên tính và do đó về sự bất tử của con người dường như vốn có trong tâm thức con người. Nó chắc chắn sẽ ngày càng chiếm nhiều sự chú ý của con người cho đến khi được chứng minh và xác lập; trong khi đó, điều gì đó dường như vẫn tồn tại vượt qua cái chết hồng trần đã được chứng minh. Sự kiện bất tử vẫn chưa được chứng minh, dù nó cấu thành một niềm tin căn bản trong trí tuệ của hàng triệu người, và nơi nào một niềm tin như vậy được tìm thấy một cách phổ quát, chắc chắn phải có một nền tảng cho nó.

The entire question of immortality is closely linked with the problem of divinity and of the unseen, subjective world, which seems to underlie the tangible and visible, frequently making its presence felt. Working therefore on the premise of the unseen and invisible, it is probable that we shall eventually penetrate to it and discover that it has always been with us, but that we have been blinded and unable to recognise its presence. Always some have done so, and their note sounds forth, strengthening our belief, endorsing our hope, and guaranteeing to us the eventual experience.

Toàn bộ vấn đề bất tử gắn bó mật thiết với vấn đề thiên tính và thế giới chủ quan, vô hình, dường như nằm bên dưới cái hữu hình và khả kiến, thường làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Do đó, khi làm việc trên tiền đề về cái không thấy và vô hình, có khả năng cuối cùng chúng ta sẽ thâm nhập vào nó và khám phá rằng nó đã luôn ở cùng chúng ta, nhưng chúng ta đã bị che mắt và không thể nhận ra sự hiện diện của nó. Luôn luôn đã có một số người làm được điều đó, và âm điệu của họ vang lên, củng cố niềm tin của chúng ta, xác nhận hy vọng của chúng ta, và bảo đảm cho chúng ta kinh nghiệm cuối cùng.

How then shall we recognise truth or reality when we meet it? How shall we know that a doctrine is of God, or not? It is so easy to make mistakes, to believe what we want to believe, and to deceive ourselves in the desire to have our own ideas endorsed by other minds. The words of Dr. [240] Streeter have here a definite note of encouragement because they indicate requirements that are possible for us to follow:

Vậy chúng ta sẽ nhận ra chân lý hay thực tại như thế nào khi gặp nó? Làm sao chúng ta biết một giáo lý có thuộc về Thượng đế hay không? Rất dễ mắc sai lầm, tin điều mình muốn tin, và tự lừa dối mình trong mong muốn thấy các ý tưởng riêng được trí tuệ của những người khác xác nhận. Những lời của Tiến sĩ [240] Streeter ở đây có một âm điệu khích lệ rõ rệt, vì chúng chỉ ra những yêu cầu mà chúng ta có thể noi theo:

“Even self-deception, the last stronghold of the enemy, will lose its power in proportion as the individual conforms to certain conditions which (in the view of the biblical writers) must be fulfilled to qualify him for the reception of an authentic message from the Divine—whether at the level of the epoch-creating prophet or of the simple person rightly guided on the path of everyday duty.

“Ngay cả sự tự lừa dối, thành trì cuối cùng của kẻ thù, cũng sẽ mất quyền lực tương ứng với mức độ cá nhân tuân theo một số điều kiện nhất định mà, theo quan điểm của các tác giả Kinh Thánh, phải được hoàn thành để làm cho y đủ tư cách tiếp nhận một thông điệp xác thực từ Đấng Thiêng Liêng—dù ở cấp độ của vị tiên tri tạo ra một kỷ nguyên hay của người bình thường được hướng dẫn đúng trên con đường bổn phận hằng ngày.

“These are mainly four:

“Chủ yếu có bốn điều:

“(1) ‘I would fain be to the Eternal Goodness what his own right hand is to a man.’ Absolute devotion or surrender of the self to the Divine. ‘Here am I, send me,’ says Isaiah; and when Christ addressed to his earliest followers the words ‘Follow Me,’ we are told they left all and followed Him.

“(1) ‘Tôi ao ước được trở thành đối với Thiện Tính Vĩnh Cửu như chính bàn tay phải của một người đối với người ấy.’ Sự tận hiến tuyệt đối hay sự quy phục của bản ngã trước Đấng Thiêng Liêng. ‘Này con đây, xin sai con đi,’ Isaiah nói; và khi Đức Christ ngỏ với những môn đồ đầu tiên của Ngài lời ‘Hãy theo Ta,’ chúng ta được cho biết họ đã bỏ tất cả và đi theo Ngài.

“(2) Self-knowledge, and the consequent admission of failure. The promise ‘I will guide thee with mine eye,’ in the Psalm quoted above, is given to the man who has confessed his iniquity and thereby established a right relationship with God. The first response of Isaiah to the divine call was that flash of self-knowledge which brings home to a man a conviction of unworthiness and sin: ‘I am a man of unclean lips.’...

“(2) Sự tự biết mình, và sự thừa nhận thất bại theo sau đó. Lời hứa ‘Ta sẽ hướng dẫn ngươi bằng mắt Ta,’ trong Thi Thiên được trích ở trên, được trao cho người đã thú nhận tội lỗi mình và nhờ đó thiết lập một mối quan hệ đúng với Thượng đế. Đáp ứng đầu tiên của Isaiah trước tiếng gọi thiêng liêng là tia lóe của sự tự biết mình, điều đem về cho con người một niềm xác tín về sự bất xứng và tội lỗi: ‘Tôi là người có môi ô uế.’...

“(3) ‘Tarry ye ... until ye be clothed with power from on high’ (St. Luke XXIV.49). But this life of power, a power instinct with love and joy and peace, can only with difficulty be lived continuously except in a fellowship, within which mutual challenge, mutual encouragement and mutual confession of failure are easy....

“(3) ‘Các con hãy chờ... cho đến khi được mặc lấy quyền năng từ trên cao’ (Thánh Luke XXIV.49). Nhưng đời sống quyền năng này, một quyền năng thấm nhuần tình thương, sự hoan hỉ và bình an, chỉ có thể được sống liên tục một cách khó khăn nếu không ở trong một tình huynh đệ, trong đó việc cùng nhau thử thách, cùng nhau khích lệ và cùng nhau thú nhận thất bại là điều dễ dàng....

“(4) Entrance into such a life and such a fellowship involves some measure of suffering, sacrifice, or humiliation. ‘Whosoever doth not bear his own cross, and come after me, cannot be my disciple’ (Luke XIV.27). It is perhaps not an accident that already in the Old Testament the promise ‘Thine eyes shall hear a word behind thee, saying This is the way, walk ye in it,’ is preceded by the words ‘and though the Lord give you the bread of adversity and the water of affliction.’ ”

“(4) Việc bước vào một đời sống như thế và một tình huynh đệ như thế bao hàm một mức độ nào đó của đau khổ, hi sinh, hay hạ mình. ‘Ai không vác thập giá của mình và theo Ta thì không thể là đệ tử của Ta’ (Luke XIV.27). Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà ngay trong Cựu Ước, lời hứa ‘Tai ngươi sẽ nghe một lời phía sau ngươi, nói rằng Đây là con đường, hãy đi trong đó,’ lại được đặt trước bởi những lời ‘và dù Chúa ban cho các ngươi bánh của nghịch cảnh và nước của khổ đau.’ ”

‘THE GOD WHO SPEAKS’, BY B. H. STREETER, PP. 175, 176.

‘ĐỨC THƯỢNG ĐẾ PHÁN DẠY’, CỦA B. H. STREETER, TR. 175, 176.

It takes courage to face the fact of death, and to formulate with definiteness one’s beliefs upon the subject. It is a statistical fact that about fifty million people die every year. [241] Fifty million people are more than the entire population of Great Britain, and constitute a large group of human beings who make the great adventure. If this is so, the establishing of the verity of Christ’s Resurrection and the truth of immortality are of far greater importance than the individual may deem. We are too apt to study these problems either from the scientific angle or from a purely selfish individual one. Death is the only event which we can predict with absolute certainty, and yet it is the event about which the majority of human beings refuse to think at all until faced with the imminent and personal issue. People face death in many different ways; some bring to the adventure a feeling of self-pity, and are so occupied with what they have to leave behind, what is about to end for them, and the relinquishing of all they have gathered in life, that the true significance of the inevitable future fails to arrest their attention. Others face it with courage, making the best of what may not be evaded, and look up into the face of death with a gallant gesture because there is nothing else they can do. Their pride helps them to encounter the event. Still others refuse altogether to consider the possibility; they hypnotise themselves into a condition wherein the thought of death is refused all lodgement in their consciousness, and they will not consider its possibility, so that when it comes, it catches them unawares; they are left helpless and unable to do more than simply die. The Christian attitude, as a rule, is more definitely an acceptance of the will of God, with the resolution to regard the happening as therefore the best of happenings, even if it does not seem so from the angle of environment and circumstance. A steadfast belief in God and His predestined purpose for the individual carries them triumphantly through the gate of death, but if one told them that this was simply another form of the fatalism of the Eastern thinker, and a fixed belief in an unalterable destiny, they would regard it as untrue. They hide behind the name of God.

Cần có can đảm để đối diện với sự kiện tử vong, và để xác lập một cách dứt khoát những niềm tin của mình về đề tài ấy. Đó là một sự kiện thống kê rằng mỗi năm có khoảng năm mươi triệu người chết. [241] Năm mươi triệu người còn nhiều hơn toàn bộ dân số Đại Anh, và tạo thành một nhóm đông đảo những con người đang thực hiện cuộc phiêu lưu lớn. Nếu quả như vậy, thì việc xác lập chân lý về Sự Phục Sinh của Đức Christ và sự thật về tính bất tử có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với điều cá nhân có thể nghĩ. Chúng ta quá dễ có khuynh hướng nghiên cứu những vấn đề này hoặc từ góc độ khoa học, hoặc từ một góc độ cá nhân thuần túy ích kỷ. Cái chết là biến cố duy nhất mà chúng ta có thể tiên đoán với sự chắc chắn tuyệt đối, vậy mà đó lại là biến cố mà đa số con người nhất quyết không suy nghĩ đến, cho đến khi phải đối diện với vấn đề cận kề và riêng tư ấy. Người ta đối diện với cái chết theo nhiều cách khác nhau; một số người mang vào cuộc phiêu lưu ấy cảm giác tự thương hại, và quá bận tâm với những gì họ phải bỏ lại phía sau, với những gì sắp chấm dứt đối với họ, và với việc phải buông bỏ tất cả những gì họ đã gom góp trong đời, đến nỗi thâm nghĩa đích thực của tương lai không tránh khỏi ấy không thu hút được sự chú ý của họ. Những người khác đối diện với nó bằng can đảm, tận dụng hết mức điều không thể tránh né, và ngẩng nhìn vào khuôn mặt của cái chết bằng một cử chỉ dũng cảm, vì họ không còn điều gì khác có thể làm. Lòng kiêu hãnh giúp họ gặp gỡ biến cố ấy. Lại có những người khác hoàn toàn từ chối xem xét khả năng ấy; họ tự thôi miên mình vào một trạng thái trong đó ý nghĩ về cái chết bị từ chối mọi chỗ đứng trong tâm thức của họ, và họ sẽ không xem xét khả năng ấy, để rồi khi nó đến, nó bắt gặp họ không hề chuẩn bị; họ bị bỏ lại trong tình trạng bất lực và không thể làm gì hơn ngoài việc đơn giản là chết. Thái độ Cơ Đốc giáo, như một quy luật, rõ ràng hơn là sự chấp nhận Ý Chí của Thượng Đế, với quyết tâm xem biến cố ấy vì thế là biến cố tốt đẹp nhất, cho dù từ góc độ hoàn cảnh và môi trường nó không có vẻ như vậy. Một niềm tin kiên định vào Thượng Đế và Thiên Ý đã được tiền định của Ngài dành cho cá nhân đưa họ chiến thắng đi qua cánh cửa tử vong; nhưng nếu có ai nói với họ rằng đó chỉ là một hình thức khác của thuyết định mệnh nơi nhà tư tưởng Đông phương, và là niềm tin cố định vào một định mệnh bất khả biến, họ sẽ xem điều ấy là không đúng. Họ ẩn núp đằng sau danh xưng Thượng Đế.

Death can, however, be more than these things, and can be met in a different way. It can be made to hold a definite [242] place in life and thought, and we can prepare for it as something which cannot be evaded, but which is simply the Bringer of Changes. Thus we make the process of death a planned part of our entire life purpose. We can live with the consciousness of immortality, and it will give an added colouring and beauty to life; we can foster the awareness of our future transition, and live with the expectation of its wonder. Death thus faced, and regarded as a prelude to further living experience, takes on a different meaning. It becomes a mystical experience, a form of initiation, finding its culminating point in the Crucifixion. All previous lesser renunciations prepare us for the great renunciation; all earlier deaths are but the prelude for the stupendous episode of dying. Death brings us release—temporary perhaps, though eventually permanent—from the body nature, from existence on the physical plane and its visible experience. It is a setting free from limitation; and whether one believes (as many millions do) that death is only an interlude in a life of steadily accumulating experience, or the end of all such experience (as many other millions hold), there is no denying the fact that it marks a definite transition from one state of consciousness into another. If one believes in immortality and the soul, this transition may make for an intensification of consciousness; while if the materialistic point of view dominates, it may indicate the end of conscious existence. The crucial question is, therefore: Is that which we call the soul immortal? What is the meaning of immortality?

Tuy nhiên, cái chết có thể còn hơn những điều ấy, và có thể được gặp gỡ theo một cách khác. Nó có thể được dành cho một vị trí xác định [242] trong đời sống và tư tưởng, và chúng ta có thể chuẩn bị cho nó như một điều không thể tránh né, nhưng chỉ đơn giản là Đấng Mang Lại Những Thay Đổi. Như thế, chúng ta biến tiến trình tử vong thành một phần đã được hoạch định trong toàn bộ mục đích đời sống của mình. Chúng ta có thể sống với tâm thức về tính bất tử, và điều đó sẽ đem lại cho đời sống thêm sắc thái và vẻ đẹp; chúng ta có thể nuôi dưỡng sự nhận biết về cuộc chuyển tiếp tương lai của mình, và sống trong niềm mong đợi điều kỳ diệu của nó. Khi được đối diện như thế, và được xem như khúc dạo đầu cho kinh nghiệm sống xa hơn, cái chết mang một ý nghĩa khác. Nó trở thành một kinh nghiệm thần bí, một hình thức điểm đạo, đạt đến điểm tột đỉnh của nó trong Sự Đóng Đinh. Mọi sự từ bỏ nhỏ hơn trước đó chuẩn bị chúng ta cho sự từ bỏ lớn; mọi cái chết trước đó chỉ là khúc dạo đầu cho biến cố phi thường của sự chết. Cái chết đem lại cho chúng ta sự giải thoát—có lẽ tạm thời, dù cuối cùng là vĩnh viễn—khỏi bản chất thể xác, khỏi sự hiện hữu trên cõi hồng trần và kinh nghiệm hữu hình của nó. Đó là sự giải phóng khỏi giới hạn; và dù người ta tin rằng cái chết chỉ là một khoảng ngắt trong một đời sống của kinh nghiệm tích lũy đều đặn, như nhiều triệu người tin, hay là sự kết thúc của mọi kinh nghiệm như thế, như nhiều triệu người khác chủ trương, thì cũng không thể phủ nhận sự kiện rằng nó đánh dấu một chuyển tiếp xác định từ một trạng thái tâm thức này sang một trạng thái khác. Nếu người ta tin vào tính bất tử và linh hồn, chuyển tiếp này có thể tạo nên sự tăng cường tâm thức; còn nếu quan điểm duy vật chi phối, nó có thể chỉ ra sự kết thúc của hiện hữu có ý thức. Do đó, câu hỏi then chốt là: Điều mà chúng ta gọi là linh hồn có bất tử không? Ý nghĩa của tính bất tử là gì?

It is urgent today that we recover some form of faith in the inner subjective world, and in our relation to it. Upon this, the success of the work and message of Christ must rise or fall. These are days wherein everything is being questioned—and the fact of the soul and its immortality perhaps most of all. This is a necessary and valuable stage, provided we go on seeking answers to these questions.

Ngày nay, điều cấp bách là chúng ta phải khôi phục một hình thức đức tin nào đó vào thế giới chủ quan bên trong, và vào mối liên hệ của chúng ta với thế giới ấy. Trên điều này, sự thành công của công việc và thông điệp của Đức Christ phải đứng vững hay sụp đổ. Đây là những ngày mà mọi sự đều bị chất vấn—và có lẽ sự kiện về linh hồn cùng tính bất tử của nó bị chất vấn hơn hết. Đây là một giai đoạn cần thiết và có giá trị, miễn là chúng ta tiếp tục tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.

Many may regard these “moral disturbances” as hopeful indications of an emergence from the static condition in all [243] realms of human thought which marked the early part of the last century, and that we are today on the verge of a new era of truer spiritual values. But the newer structures of faith and conduct must have their foundations deep in the best that the past has to give. The ideals which Christ enunciated still remain the highest yet given in the continuity of revelation, and He Himself prepared us for the emergence of those truths which will mark the time of the end and the overcoming of the last enemy, whose name is Death.

Nhiều người có thể xem những “xáo trộn luân lý” này là các dấu hiệu đầy hy vọng của một sự trỗi dậy khỏi tình trạng tĩnh tại trong mọi [243] lĩnh vực tư tưởng nhân loại, vốn đánh dấu phần đầu của thế kỷ trước, và rằng ngày nay chúng ta đang ở ngưỡng cửa một kỷ nguyên mới của những giá trị tinh thần chân thật hơn. Nhưng những cấu trúc mới hơn của đức tin và hành vi phải có nền móng ăn sâu vào những gì tốt đẹp nhất mà quá khứ có thể trao lại. Các lý tưởng mà Đức Christ đã công bố vẫn còn là những lý tưởng cao nhất từng được ban ra trong dòng liên tục của sự mặc khải, và chính Ngài đã chuẩn bị chúng ta cho sự xuất hiện của những chân lý sẽ đánh dấu thời kỳ sau rốt và sự chiến thắng kẻ thù cuối cùng, tên của nó là Cái Chết.

This questioning of belief, and this wrestling with an inherent hope must go on until assurance has been gained, belief has become knowledge, and faith, certainty. Man knows incontrovertibly that there is a goal greater than his petty aims, and that a life exists which will embrace his widest reach, enabling him eventually to attain his highest, though dimly sensed, ideal. A consideration of the Resurrection may provide a greater surety, provided we keep in mind the long continuity of revelation given out by God, and realise that we can know little as yet beyond the fact that Sons of God have died and risen again, and that behind that fact lies a cause which is basic.

Việc chất vấn niềm tin này, và cuộc vật lộn với một niềm hy vọng cố hữu này phải tiếp diễn cho đến khi đạt được sự xác tín, niềm tin trở thành tri thức, và đức tin trở thành sự chắc chắn. Con người biết một cách không thể tranh cãi rằng có một mục tiêu lớn hơn những mục đích nhỏ bé của y, và rằng có một sự sống sẽ ôm trọn tầm vươn rộng nhất của y, cuối cùng giúp y đạt tới lý tưởng cao nhất mà y cảm nhận được dù còn mờ nhạt. Việc suy xét về Sự Phục Sinh có thể đem lại một bảo đảm lớn hơn, miễn là chúng ta ghi nhớ dòng liên tục lâu dài của sự mặc khải do Thượng Đế ban ra, và nhận ra rằng cho đến nay chúng ta vẫn chỉ có thể biết rất ít, ngoài sự kiện rằng Các Con của Thượng đế đã chết và đã sống lại, và rằng đằng sau sự kiện ấy có một nguyên nhân nền tảng.

The Tibetans speak of the process of death as that of “entering into the clear cold light.” (‘The Tibetan Book of the Dead’, by W. Y. Evans-Wentz, p. 29.) It is possible that death can be best regarded as the experience which frees us from the illusion of form; and this brings clearly to our minds the realisation that when we speak of death we are referring to a process which concerns the material nature, the body, with its psychical faculties and its mental processes. This therefore can be narrowed down to a query as to whether we are the body and nothing but the body, or whether the ancient scripture of India was right when it pointed out that:

Người Tây Tạng nói về tiến trình tử vong như là tiến trình “đi vào ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo.” (‘Tử Thư Tây Tạng’, của W. Y. Evans-Wentz, tr. 29.) Có thể tốt nhất nên xem cái chết như kinh nghiệm giải phóng chúng ta khỏi ảo tưởng của hình tướng; và điều này đem rõ ràng vào trí chúng ta sự nhận ra rằng khi nói về cái chết, chúng ta đang nói đến một tiến trình liên quan đến bản chất vật chất, thân thể, cùng các năng lực thông linh và các tiến trình trí tuệ của nó. Do đó, điều này có thể được thu hẹp thành một câu hỏi rằng chúng ta có phải là thân thể và không gì ngoài thân thể, hay kinh điển cổ của Ấn Độ đã đúng khi nêu rõ rằng:

“Certain is the death of what is born, and certain is the birth of what dies; therefore, deign not to grieve in a matter that is inevitable.... This lord of the body dwells ever immortal in the body of each.” (‘The Bhagavad Gita, II, 26, 29.)

“Cái gì đã sinh ra thì chắc chắn phải chết, và cái gì đã chết thì chắc chắn sẽ sinh ra; vì vậy, chớ đoái hoài sầu khổ về một điều không thể tránh khỏi.... Vị chúa tể của thân này luôn luôn bất tử cư ngụ trong thân của mỗi người.” (‘Chí Tôn Ca, II, 26, 29.)

[244] A modern Christian poet has expressed the same idea in the following beautiful words:

[244] Một thi sĩ Cơ Đốc giáo hiện đại đã diễn đạt cùng ý tưởng ấy bằng những lời đẹp đẽ sau đây:

“Death is to life as marble to the sculptor,

“Cái chết đối với sự sống như đá cẩm thạch đối với nhà điêu khắc,

Waits for the touch that lets the soul go free;

Chờ đợi cái chạm để linh hồn được tự do;

Death is that moment when the swimmer feels

Cái chết là khoảnh khắc khi người bơi cảm thấy

The swift pain of the plunge into the pool,

Cơn đau nhanh của cú lao mình xuống hồ,

Followed by laughter where the bubbles flow

Rồi tiếp theo là tiếng cười nơi những bọt nước trôi

From the divided water and the sun

Từ làn nước rẽ đôi và mặt trời

Turns them to crystal: life and light are one.”

Biến chúng thành pha lê: sự sống và ánh sáng là một.”

‘THE MODERNISTS’, BY ROBERT NORWOOD, P. 57, SOCRATES.

‘NHỮNG NGƯỜI HIỆN ĐẠI’, CỦA ROBERT NORWOOD, TR. 57, SOCRATES.

It might here be pertinent to enquire what it is that we seek to see endure. An analysis of one’s attitude to the whole question of death and immortality can frequently serve to clear one’s mind of indefiniteness and vagueness, with their base in fear, in mental inertia, and in confused thinking. The following questions therefore come to one’s mind, and warrant consideration.

Ở đây có lẽ thích hợp để hỏi điều gì là điều chúng ta tìm cách thấy nó tồn tại bền lâu. Việc phân tích thái độ của mình đối với toàn bộ vấn đề tử vong và tính bất tử thường có thể giúp làm trong sáng trí tuệ khỏi sự không xác định và mơ hồ, vốn đặt nền trên sợ hãi, quán tính trí tuệ và tư duy rối rắm. Vì vậy, những câu hỏi sau đây nảy sinh trong trí, và đáng được suy xét.

How do we know that the process of death brings about such definite changes in our consciousness that it proves fatal to us, as sentient beings, and renders futile all previous effort of thought, development and understanding? The wonder of Christ’s Resurrection, as far as His Personality was concerned, consisted in the fact that, after having passed through death and risen again, He was essentially the same Person, only with added powers. May it not be the same with ourselves? May not death simply remove limitation in the physical sense, leaving us with enhanced sensibilities and a clearer sense of values? This life has moulded us and wrought us into certain definite expressions in form and quality, and these, rightly or wrongly, constitute that which is the Self, that which is the real man, from the angle of human life. There is something in us that refuses final identification with the physical form, in spite of what science and the inexperienced may tell us. An intuitive, substantial inner Self steadily and universally repudiates annihilation, and holds firmly to the belief that the search and the goal, the values [245] perceived and for which we struggle, must somewhere, some time, in some manner, prove themselves worth while. Any other point of view argues for the utter lack of an intelligent plan in existence, and leads to the despair which St. Paul expressed in the words: “If in this life only we have hope in Christ, we are of all men most miserable.” (I Corinthians, XV, 19.) We are surely on our way towards something of value and dynamic worth; otherwise life is a futile process of aimless wanderings; of caring for a body and educating a mind which have no worth of any kind, and are of no value to God or men. This, we know, cannot be the case.

Làm sao chúng ta biết rằng tiến trình tử vong tạo ra những thay đổi xác định đến mức trong tâm thức chúng ta, khiến nó trở thành chí tử đối với chúng ta với tư cách là những sinh linh hữu cảm, và khiến mọi nỗ lực trước đó về tư tưởng, phát triển và thấu hiểu trở nên vô ích? Điều kỳ diệu của Sự Phục Sinh của Đức Christ, xét về Phàm Ngã của Ngài, nằm ở sự kiện rằng sau khi đã đi qua cái chết và sống lại, về căn bản Ngài vẫn là cùng một Người, chỉ có thêm những quyền năng. Liệu điều ấy không thể cũng đúng với chính chúng ta sao? Liệu cái chết có thể chỉ đơn giản loại bỏ giới hạn theo nghĩa hồng trần, để lại cho chúng ta những độ nhạy bén được tăng cường và một ý thức rõ ràng hơn về các giá trị chăng? Đời sống này đã khuôn đúc chúng ta và rèn luyện chúng ta thành những biểu hiện xác định nào đó trong hình tướng và phẩm tính, và những điều này, đúng hay sai, tạo thành cái là Bản Ngã, cái là con người đích thực, xét từ góc độ đời sống nhân loại. Có điều gì đó trong chúng ta từ chối sự đồng hoá cuối cùng với hình tướng hồng trần, bất chấp những gì khoa học và người thiếu kinh nghiệm có thể nói với chúng ta. Một Bản Ngã nội tại, trực giác và thực chất, đều đặn và phổ quát bác bỏ sự hủy diệt, và giữ vững niềm tin rằng cuộc tìm kiếm và mục tiêu, những giá trị [245] được nhận biết và vì đó chúng ta tranh đấu, ở đâu đó, vào lúc nào đó, theo cách nào đó, phải chứng tỏ là xứng đáng. Bất cứ quan điểm nào khác đều biện luận cho sự hoàn toàn thiếu vắng một thiên cơ thông minh trong hiện hữu, và dẫn đến nỗi tuyệt vọng mà Thánh Phao-lô đã diễn tả bằng những lời: “Nếu trong đời này mà thôi chúng ta có hy vọng nơi Đức Christ, thì chúng ta là những kẻ khốn khổ nhất trong mọi người.” (I Cô-rinh-tô, XV, 19.) Chắc chắn chúng ta đang trên đường hướng tới một điều gì có giá trị và có phẩm tính năng động; nếu không, đời sống là một tiến trình vô ích của những cuộc lang thang không mục đích; của việc chăm sóc một thân thể và giáo dục một trí tuệ vốn chẳng có bất cứ giá trị nào, và không có giá trị gì đối với Thượng Đế hay con người. Chúng ta biết rằng điều này không thể là sự thật.

It is the prolongation of value, of that which is worth while, and the continuation of the persistent, inner, divine incentive to progress, to create and to benefit others, that seem, to those who have reached the point where thought is consecutively possible, to hold the clue to the problem of immortality. The entire story of Christ goes to prove this. He had, throughout His life of consecrated service and devotion to His fellowmen, proved that He had reached the point in His evolution wherein He had somewhat to contribute to the good of the whole; He had attained altitude on the evolutionary ladder, and His humanity was lost to sight in the divinity which He expressed. He had that which was of worth to offer to God and man, and He offered it upon the Cross. It cost Him His life to make His contribution to the source of the whole body corporate, but He made it. Because of the worth of what He had achieved, and the value of the livingness of His contribution, He could demonstrate immortality. It is the immortal value which survives, and where that value exists the soul needs no more the school of human experience.

Chính sự kéo dài của giá trị, của điều xứng đáng, và sự tiếp diễn của thôi thúc thiêng liêng, nội tại, bền bỉ hướng tới tiến bộ, sáng tạo và làm lợi ích cho người khác, dường như đối với những ai đã đạt đến điểm mà tư tưởng liên tục trở nên khả hữu, nắm giữ chìa khóa cho vấn đề tính bất tử. Toàn bộ câu chuyện về Đức Christ chứng minh điều này. Suốt đời sống phụng sự thánh hiến và sùng tín đối với đồng loại, Ngài đã chứng tỏ rằng Ngài đã đạt tới điểm trong cuộc tiến hoá của Ngài, nơi Ngài có điều gì đó để đóng góp cho lợi ích của toàn thể; Ngài đã đạt đến một cao độ trên nấc thang tiến hoá, và nhân tính của Ngài khuất khỏi tầm nhìn trong thiên tính mà Ngài biểu lộ. Ngài có điều có giá trị để dâng hiến cho Thượng Đế và con người, và Ngài đã dâng hiến điều ấy trên Thập Giá. Việc đóng góp của Ngài cho nguồn của toàn bộ đoàn thể đã khiến Ngài phải trả bằng chính mạng sống, nhưng Ngài đã làm điều đó. Nhờ giá trị của điều Ngài đã thành tựu, và giá trị của sức sống trong sự đóng góp của Ngài, Ngài có thể chứng minh tính bất tử. Chính giá trị bất tử là điều tồn tại, và nơi nào giá trị ấy hiện hữu, linh hồn không còn cần đến trường học của kinh nghiệm nhân loại nữa.

This thought gives rise to the question: What is it, therefore, that we seek to see survive? What part of ourselves do we regard as desirably immortal? What in each of us warrants persistence? Surely none of us seek to see the physical body resurrected, nor are we anxious again to be trammelled [246] and confined by the present limiting vehicle in which most of us find ourselves. Its value seems inadequate for the experience of resurrection and for the gift of immortality. Nor are we desirous, surely, of seeing the same psychic nature, with its aggregate of moods and feelings and sentient reactions to environing condition, hold sway over us again. Equally surely, none of us are pleased to contemplate the old idea of a sugary heaven wherein we pass our time clothed in white robes, singing and talking upon religious matters. We have outgrown these ideas, and to them Christ Himself is a direct refutation. He rose from the dead and entered upon a life of increased active service. The “other sheep” which He had to gather must be sought and shepherded; (St. John, X, 16.) His disciples must be trained and taught; His followers must be guided and helped; the kingdom of God must be organised on earth. And still the risen Christ moves among us, often unrecognised, but busy with the task of world salvage and service. There is no heaven of peace and rest and inactivity for Christ whilst we remain unsaved; there is surely none for us who seek to follow in His footsteps.

Tư tưởng này làm nảy sinh câu hỏi: Vậy điều gì là điều chúng ta tìm cách thấy nó tồn tại? Phần nào của chính mình mà chúng ta xem là đáng mong muốn được bất tử? Điều gì trong mỗi chúng ta bảo đảm cho sự tồn tại bền bỉ? Chắc chắn không ai trong chúng ta tìm cách thấy thể xác được phục sinh, cũng chẳng lo lắng muốn lại bị trói buộc [246] và giam hãm bởi vận cụ giới hạn hiện tại trong đó phần lớn chúng ta đang thấy mình. Giá trị của nó dường như không tương xứng với kinh nghiệm phục sinh và với ân huệ bất tử. Chắc chắn chúng ta cũng không mong muốn thấy cùng một bản chất tâm lý ấy, với toàn bộ những tâm trạng, cảm xúc và phản ứng hữu cảm của nó đối với hoàn cảnh bao quanh, lại thống trị chúng ta. Cũng chắc chắn như vậy, không ai trong chúng ta hài lòng khi chiêm ngưỡng ý niệm cũ về một thiên đường ngọt lịm, nơi chúng ta dùng thời gian khoác áo trắng, ca hát và trò chuyện về các vấn đề tôn giáo. Chúng ta đã vượt qua những ý tưởng ấy, và chính Đức Christ là sự bác bỏ trực tiếp đối với chúng. Ngài đã sống lại từ cõi chết và bước vào một đời sống phụng sự tích cực gia tăng. “Những chiên khác” mà Ngài phải quy tụ cần được tìm kiếm và chăn dắt; (Thánh Gioan, X, 16.) các đệ tử của Ngài phải được rèn luyện và giáo huấn; những người theo Ngài phải được hướng dẫn và trợ giúp; Thiên Giới phải được tổ chức trên Trái Đất. Và Đức Christ phục sinh vẫn còn chuyển động giữa chúng ta, thường không được nhận ra, nhưng bận rộn với nhiệm vụ cứu độ và phụng sự thế giới. Không có thiên đường bình an, nghỉ ngơi và bất động nào dành cho Đức Christ khi chúng ta vẫn chưa được cứu; chắc chắn cũng không có thiên đường nào như thế cho chúng ta, những người tìm cách bước theo dấu chân Ngài.

When a man’s life has gained significance, then he is ready to tread the path of purification and probation in preparation for the mysteries; as his significance and influence increase he can pass, stage by stage, through the processes of initiation, and tread the path of holiness. He can be “born in Bethlehem,” because the germ of that which is dynamic and living is awakened and is gaining potency and significance, and must therefore make its appearance; he can pass through the waters of purification, and attain the mountain-top of transfiguration where that which is of worth shines forth in all its glory. Having achieved that moment of heightened experience, and that which he has of value being recognised by God as worth while, he is then, and then only, ready to offer his life upon the altar of sacrifice and of service, and can set his face to go up to Jerusalem, there to be crucified. It is the inevitable end to that which is of worth. It is the underlying [247] purpose of the whole process of perfecting, as there is now something worthy to be offered. But though this may be the end of the physical expression of worth, it is essentially the moment of the triumph of value, and the demonstration of its immortality. For that which is of value, the divine and hidden beauty which life-experience and initiation have served to reveal, cannot die. It is essentially immortal, and must live. This is the true resurrection of the body. When the consciousness of value and of worth, and the recognition of man’s reach, as well as his grasp, are considered, the life of service (leading to death) and of resurrection (leading to full citizenship in the kingdom of God) begin to gain in meaning. The body which we now have is relatively worthless; the sum total of moods and mental reactions to which we now submit is of no value to anyone but ourselves; the environment in which we live and move has in it surely nothing to warrant its endless perpetuation. In short, a continuance of the personal self in some heaven which is the extension of our own individual consciousness, and the concept of an endless eternity lived with oneself, have for most of us no allurement whatsoever. Yet an aspect of oneself longs for immortality and the sense of infinity. The “endless prolongation in time of a self’s career” has led to much confusion of thought. Few of us, if asked seriously to consider the problem and seriously to give an answer, would feel that as individuals we warrant arrangements being made for our endless persistence. A sense of truth and justice might lead us honestly to the conclusion that our value to the universe is practically nil. And yet we know that there is a value and a reason behind all our life experience, and that the phenomenal world, of which we are indubitably a part, veils or hides something of infinite value, of which we are also a part.

Khi đời sống của một người đã đạt được thâm nghĩa, bấy giờ y sẵn sàng bước trên con đường thanh luyện và dự bị để chuẩn bị cho các bí nhiệm; khi thâm nghĩa và ảnh hưởng của y gia tăng, y có thể đi qua, từng giai đoạn một, các tiến trình điểm đạo, và bước trên con đường thánh thiện. Y có thể được “sinh ra tại Bethlehem,” vì mầm mống của điều năng động và sống động đã thức tỉnh, đang đạt được quyền năng và thâm nghĩa, và do đó phải xuất hiện; y có thể đi qua các dòng nước thanh luyện, và đạt tới đỉnh núi của sự biến hình, nơi điều có giá trị chiếu rạng trong mọi vinh quang của nó. Sau khi đạt được khoảnh khắc kinh nghiệm được nâng cao ấy, và điều có giá trị nơi y được Thượng Đế công nhận là xứng đáng, thì bấy giờ, và chỉ bấy giờ, y mới sẵn sàng dâng hiến đời sống mình trên bàn thờ hi sinh và phụng sự, và có thể hướng mặt đi lên Jerusalem, để tại đó chịu đóng đinh. Đó là kết cuộc không thể tránh khỏi của điều có giá trị. Đó là mục đích nằm bên dưới [247] toàn bộ tiến trình hoàn thiện, vì lúc này có điều xứng đáng để được dâng hiến. Nhưng dù đây có thể là kết thúc của biểu hiện hồng trần của giá trị, về căn bản đó là khoảnh khắc chiến thắng của giá trị, và là sự chứng minh tính bất tử của nó. Vì điều có giá trị, vẻ đẹp thiêng liêng và ẩn tàng mà kinh nghiệm đời sống và điểm đạo đã phụng sự để mặc khải, không thể chết. Về căn bản nó bất tử, và phải sống. Đây là sự phục sinh đích thực của thể xác. Khi tâm thức về giá trị và sự xứng đáng, cùng sự nhận biết về tầm vươn cũng như khả năng nắm bắt của con người, được suy xét, thì đời sống phụng sự, dẫn đến cái chết, và đời sống phục sinh, dẫn đến quyền công dân trọn vẹn trong Thiên Giới, bắt đầu đạt được ý nghĩa. Thể xác mà chúng ta hiện có tương đối vô giá trị; tổng số những tâm trạng và phản ứng trí tuệ mà hiện nay chúng ta phục tùng không có giá trị đối với bất cứ ai ngoài chính chúng ta; môi trường trong đó chúng ta sống và chuyển động chắc chắn không có gì bảo đảm cho sự kéo dài vô tận của nó. Tóm lại, sự tiếp tục của bản ngã cá nhân trong một thiên đường nào đó vốn là sự mở rộng của tâm thức cá nhân của chính chúng ta, và quan niệm về một vĩnh cửu vô tận được sống với chính mình, đối với phần lớn chúng ta không có chút hấp dẫn nào. Tuy vậy, một phương diện của bản thân mình vẫn khao khát tính bất tử và ý thức về vô hạn. “Sự kéo dài vô tận trong thời gian của hành trình một bản ngã” đã dẫn đến nhiều rối rắm trong tư tưởng. Ít ai trong chúng ta, nếu được yêu cầu nghiêm túc suy xét vấn đề và nghiêm túc đưa ra câu trả lời, sẽ cảm thấy rằng với tư cách cá nhân, chúng ta xứng đáng để có những sắp đặt cho sự tồn tại bền bỉ vô tận của mình. Một ý thức về chân lý và công bình có thể thành thật dẫn chúng ta đến kết luận rằng giá trị của chúng ta đối với vũ trụ hầu như là không. Tuy vậy, chúng ta biết rằng có một giá trị và một lý do đằng sau mọi kinh nghiệm đời sống của mình, và rằng thế giới hiện tượng, mà không thể nghi ngờ chúng ta là một phần trong đó, che phủ hoặc ẩn giấu một điều có giá trị vô hạn, mà chúng ta cũng là một phần của điều ấy.

We seek assurance that those whom we love and value are not lost to us. We seek to share with them some state of happiness which will have in it truer values than any we [248] have known on earth; we long to prolong, in time and space, the familiar state which we love and cherish. We desire compensation for what we have endured, and the realisation that everything has had a purpose and has been worth while. It is this longing, this belief, this determination to persist, which lies behind all achievement and which is the incentive and impulse upon which we base all effort. Socrates pointed out this basic argument for immortality when he said that “no-one knows what death is, and whether it is not the greatest of all good things. Nevertheless, it is feared as if it were the supreme evil.... When death comes near to man that which is mortal in him is scattered; that which is immortal and incorruptible withdraws intact.”

Chúng ta tìm kiếm sự bảo đảm rằng những người chúng ta yêu thương và quý trọng không bị mất đối với chúng ta. Chúng ta tìm cách chia sẻ với họ một trạng thái hạnh phúc nào đó, trong đó sẽ có những giá trị chân thật hơn bất cứ điều gì chúng ta [248] đã biết trên Trái Đất; chúng ta khao khát kéo dài, trong thời gian và không gian, trạng thái quen thuộc mà chúng ta yêu mến và trân quý. Chúng ta mong muốn sự bù đắp cho những gì mình đã chịu đựng, và sự chứng nghiệm rằng mọi sự đều có mục đích và đều xứng đáng. Chính niềm khao khát này, niềm tin này, quyết tâm tồn tại bền bỉ này, nằm đằng sau mọi thành tựu và là động lực cùng xung lực trên đó chúng ta đặt nền cho mọi nỗ lực. Socrates đã nêu ra luận cứ căn bản này cho tính bất tử khi ông nói rằng “không ai biết cái chết là gì, và liệu nó có phải là điều tốt đẹp lớn nhất trong mọi điều hay không. Tuy nhiên, người ta lại sợ nó như thể nó là điều ác tối thượng.... Khi cái chết đến gần con người, điều gì hữu tử trong y bị phân tán; điều gì bất tử và không thể hư hoại thì rút lui nguyên vẹn.”

Three thoughts are of importance in considering this problem of value, which is so amazingly evidenced by Christ, and which was the true reason why He rose again. His immortality was based upon His divinity. His divinity expressed itself through human form, and in that form evidenced value, destiny, service and purpose. All of these He demonstrated perfectly, and therefore death could not hold Him, nor could the chains of the grave prevent His liberation.

Có ba tư tưởng quan trọng khi suy xét vấn đề giá trị này, điều đã được Đức Christ chứng minh một cách đáng kinh ngạc, và là lý do đích thực khiến Ngài sống lại. Tính bất tử của Ngài đặt nền trên thiên tính của Ngài. Thiên tính của Ngài tự biểu lộ qua hình tướng nhân loại, và trong hình tướng ấy chứng tỏ giá trị, định mệnh, phụng sự và mục đích. Tất cả những điều này Ngài đã chứng minh một cách hoàn hảo, và vì vậy cái chết không thể giữ Ngài, cũng như xiềng xích của mồ mả không thể ngăn cản sự giải thoát của Ngài.

The first thought is that immortality is the safeguarding of what we really care about. The factor on which we place the emphasis in our daily lives survives and functions on some level of consciousness. We must, and do, eventually attain what we demand. When we care for that which is eternal in value, then eternal life, free from the limitations of the flesh, is ours. Dean Inge tells us that “in so far as we can identify ourselves with the absolute values, we are sure of immortality.” What we really care about, then, in our highest moments, when free from the illusions of the emotional nature, determines our immortal life.

Tư tưởng thứ nhất là tính bất tử là sự bảo vệ điều chúng ta thật sự quan tâm. Yếu tố mà chúng ta đặt trọng tâm trong đời sống hằng ngày sẽ tồn tại và hoạt động trên một cấp độ tâm thức nào đó. Rốt cuộc, chúng ta phải đạt được, và quả thật sẽ đạt được, điều chúng ta đòi hỏi. Khi chúng ta quan tâm đến điều có giá trị vĩnh cửu, thì đời sống vĩnh cửu, tự do khỏi những giới hạn của xác thịt, là của chúng ta. Viện trưởng Inge nói với chúng ta rằng “trong mức độ chúng ta có thể đồng hoá mình với các giá trị tuyệt đối, chúng ta chắc chắn về tính bất tử.” Vậy điều chúng ta thật sự quan tâm, trong những khoảnh khắc cao nhất của mình, khi tự do khỏi các ảo tưởng của bản chất cảm xúc, quyết định đời sống bất tử của chúng ta.

The question then arises as to what occurs when the sense of values is distorted or temporarily nonexistent. In an attempt to meet this question millions of people have accepted [249] the Oriental doctrine of rebirth, which states the world to be the “vale of soul-making,” as Keats calls it, and which teaches that we return again and again to physical life, until the time comes when our values are properly adjusted, and we can pass through the five initiations into liberation. Much of the teaching given in the occult and esoteric books is distorted and fanciful, but that there is much to be said for the doctrine of rebirth is evident to the unprejudiced student. In the last analysis, if perfection is to be ultimately achieved, the question is merely one of time and location. The Christian may believe in a sudden perfecting through the process of death itself, or in a mental acceptance of the death of Jesus, which he calls “conversion”; he may regard death as the door into a place of discipline and development which he calls “purgatory,” where a purificatory process goes on; or he may believe that in heaven itself adjustments are made and expansions of consciousness are undergone which render him a different man from what he was before. The Oriental may believe that the earth provides adequate facilities for the training and developing processes, and that again and again we return, until we have reached perfection. The goal remains one. The objective is identical. The school is in a different place, and the consciousness is unfolded in varying localities. But that is all. Plato held that:

Bấy giờ nảy sinh câu hỏi về điều gì xảy ra khi ý thức về giá trị bị bóp méo hoặc tạm thời không hiện hữu. Trong nỗ lực trả lời câu hỏi này, hàng triệu người đã chấp nhận [249] giáo lý Đông phương về tái sinh, giáo lý xem thế giới là “thung lũng rèn luyện linh hồn,” như Keats gọi, và dạy rằng chúng ta trở lại đời sống hồng trần hết lần này đến lần khác, cho đến khi đến lúc các giá trị của chúng ta được điều chỉnh đúng đắn, và chúng ta có thể đi qua năm cuộc điểm đạo để vào giải thoát. Nhiều giáo huấn được đưa ra trong các sách huyền bí và nội môn bị bóp méo và kỳ ảo, nhưng đối với đạo sinh không thiên kiến, hiển nhiên có nhiều điều đáng nói ủng hộ giáo lý tái sinh. Trong phân tích sau cùng, nếu sự hoàn thiện rốt cuộc phải đạt được, câu hỏi chỉ đơn thuần là vấn đề thời gian và nơi chốn. Người tín đồ Cơ Đốc giáo có thể tin vào một sự hoàn thiện đột ngột qua chính tiến trình tử vong, hoặc vào một sự chấp nhận bằng trí tuệ đối với cái chết của Đức Jesus, mà y gọi là “cải đạo”; y có thể xem cái chết là cánh cửa đi vào một nơi rèn luyện và phát triển mà y gọi là “luyện ngục,” nơi một tiến trình thanh luyện đang diễn ra; hoặc y có thể tin rằng ngay trong thiên đường, các điều chỉnh được thực hiện và các mở rộng tâm thức được trải qua, khiến y trở thành một con người khác với trước kia. Người Đông phương có thể tin rằng Trái Đất cung cấp đầy đủ phương tiện cho các tiến trình rèn luyện và phát triển, và rằng chúng ta trở lại hết lần này đến lần khác cho đến khi đạt tới hoàn thiện. Mục tiêu vẫn là một. Mục đích là đồng nhất. Trường học ở một nơi khác, và tâm thức được khai mở trong những địa điểm khác nhau. Nhưng chỉ có thế. Plato chủ trương rằng:

“Confined in the body as in a prison ... the soul seeks its pristine sphere of pure rationality by pursuing the philosophic life, by thinking the universal, by loving and living according to reason. The bodily life is but an episode in the eternal career of the soul, which precedes birth and proceeds after death. Life in the flesh is a trial and a probation; death, the release and the return to the soul’s destiny; to another term of probation, or to the realm of pure reason.”

“Bị giam trong thể xác như trong một nhà tù... linh hồn tìm kiếm cõi nguyên sơ của lý tính thuần khiết bằng cách theo đuổi đời sống triết học, bằng cách tư duy về cái phổ quát, bằng cách yêu thương và sống theo lý trí. Đời sống trong xác thịt chỉ là một giai đoạn trong hành trình vĩnh cửu của linh hồn, vốn có trước khi sinh và tiếp tục sau khi chết. Đời sống trong xác thịt là một thử thách và một kỳ dự bị; cái chết là sự giải thoát và sự trở về với định mệnh của linh hồn; hoặc đến một kỳ dự bị khác, hoặc đến cõi của lý trí thuần khiết.”

In some place, consciously and willingly, we must learn to enter and work in the world of values, and so fit ourselves for citizenship in the kingdom of God. It was the demonstration of this that Christ gave.

Ở một nơi nào đó, một cách có ý thức và tự nguyện, chúng ta phải học bước vào và hoạt động trong thế giới của các giá trị, và nhờ đó làm cho mình thích hợp với quyền công dân trong Thiên Giới. Chính sự chứng minh điều này mà Đức Christ đã ban cho.

[250] The second thought which should be considered is that man’s effort, his struggle to achieve, his sense of God, innate and true, his constant effort to better conditions and to master himself as well as the natural world, must have an objective; else all that we see going on around is void, futile and senseless. It was this command of Himself and of the elements of nature, and the undeviating direction of His purpose, that led Christ from point to point and enabled Him to open the door into the kingdom and to rise from the dead, the “first fruits of them that slept.” (I Corinthians, XV, 20.)

[250] Tư tưởng thứ hai cần được suy xét là nỗ lực của con người, cuộc đấu tranh để thành tựu của y, ý thức về Thượng Đế nơi y, vốn bẩm sinh và chân thật, nỗ lực thường xuyên của y nhằm cải thiện các điều kiện và làm chủ chính mình cũng như thế giới tự nhiên, phải có một mục tiêu; nếu không, tất cả những gì chúng ta thấy đang diễn ra xung quanh đều trống rỗng, vô ích và vô nghĩa. Chính sự làm chủ này đối với chính Ngài và đối với các nguyên tố của thiên nhiên, cùng hướng đi không lệch khỏi mục đích của Ngài, đã dẫn Đức Christ từ điểm này đến điểm khác và giúp Ngài mở cánh cửa vào Thiên Giới và sống lại từ cõi chết, “hoa trái đầu mùa của những kẻ đã ngủ.” (I Cô-rinh-tô, XV, 20.)

Purpose must underlie pain. An objective must be sensed under all human activity. The idealism of the leaders of the race cannot all be hallucination. The realisation of God must have some basis in fact. Human beings are convinced that the apparent injustice of the world provides legitimate assurance of a hereafter wherein the integrity of the divine purpose will be vindicated. There is a basic belief that good and evil are in combat in man’s nature, and that good must inevitably triumph. Down the ages, man has asserted this. Humanity has evolved many theories to account for man and his future, for his preparation for the after-life, and for his reason here on earth. With the detail of these theories there is no need, or time, to deal. They are in themselves proof of the fact of immortality and of man’s divinity. He has intuited the ultimate possibility, and will not rest until he has achieved it. Whether it is plurality of lives upon our planet, leading to an ultimate perfection, or the Buddhistic theory leading to Nirvana, the goal is one. This latter theory is beautifully summarised in a book dealing with the secret doctrines of the Tibetan philosophy:

Mục đích phải nằm bên dưới đau khổ. Một mục tiêu phải được cảm nhận bên dưới mọi hoạt động của con người. Chủ nghĩa lý tưởng của các nhà lãnh đạo nhân loại không thể tất cả đều là ảo giác. Sự chứng nghiệm Thượng Đế phải có một nền tảng nào đó trong sự kiện. Con người tin chắc rằng sự bất công bề ngoài của thế giới đem lại sự bảo đảm chính đáng về một đời sau, nơi sự toàn vẹn của Thiên Ý sẽ được minh oan. Có một niềm tin căn bản rằng thiện và ác đang giao chiến trong bản chất con người, và thiện tất yếu phải chiến thắng. Qua các thời đại, con người đã khẳng định điều này. Nhân loại đã phát triển nhiều lý thuyết để giải thích về con người và tương lai của y, về sự chuẩn bị của y cho đời sau, và về lý do của y ở đây trên Trái Đất. Không cần, cũng không có thời gian, để bàn đến chi tiết của các lý thuyết ấy. Tự thân chúng là bằng chứng cho sự kiện về tính bất tử và thiên tính của con người. Y đã trực nhận khả năng tối hậu, và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi đạt được nó. Dù đó là nhiều kiếp sống trên hành tinh của chúng ta, dẫn đến một sự hoàn thiện tối hậu, hay lý thuyết Phật giáo dẫn đến Niết Bàn, mục tiêu vẫn là một. Lý thuyết sau này được tóm tắt đẹp đẽ trong một cuốn sách bàn về các giáo lý bí nhiệm của triết học Tây Tạng:

“... when the Lords of Compassion shall have spiritually civilised the Earth and made of it a Heaven, there will be revealed to the Pilgrims the Endless Path, which reaches to the Heart of the Universe. Man, then no longer man, will transcend Nature, and impersonally, yet consciously, in at-one-ment with all the Enlightened [251] Ones, help to fulfil the Law of the Higher Evolution, of which Nirvana is but the beginning.”

“... khi các Chúa Tể Từ Bi đã văn minh hóa Trái Đất về mặt tinh thần và biến nó thành một Thiên Đường, Con Đường Vô Tận, vươn tới Trái Tim của Vũ Trụ, sẽ được mặc khải cho những Người Hành Hương. Khi ấy con người, không còn là con người nữa, sẽ vượt lên trên Thiên Nhiên, và một cách phi cá nhân nhưng có ý thức, trong sự hợp nhất với tất cả các Đấng Giác Ngộ [251], giúp hoàn thành Định luật Tiến Hóa Cao Siêu, mà Niết Bàn chỉ là khởi đầu.”

‘TIBETAN YOGA AND SECRET DOCTRINES’, EDITED BY W. Y. EVANS-WENTZ, P. 12.

‘YOGA TÂY TẠNG VÀ CÁC GIÁO LÝ BÍ NHIỆM’, DO W. Y. EVANS-WENTZ BIÊN TẬP, TR. 12.

Here we have the idea of the kingdom of God appearing on earth because humanity is spiritually civilised, and the attainment of the perfection which Christ inculcated.

Ở đây chúng ta có ý tưởng về Thiên Giới xuất hiện trên Trái Đất bởi vì nhân loại đã được văn minh hóa về mặt tinh thần, và về sự đạt tới hoàn thiện mà Đức Christ đã truyền dạy.

There is also the doctrine of eternal recurrence, in which both Nietzsche and Heine believed, with its emphasis upon a ceaseless, recurrent, earthly existence by each unit of force, until a soul has been evolved. The dreary doctrine of our survival as influences perpetuated in the race to which we belong has also been developed, emphasising a selflessness which is admirable, but is also the negation of the individual. The orthodox Christian doctrines are three in number, and consist of the doctrine of eternal retribution, of universal restoration, and of conditional immortality. To these we must add the speculations of the Spiritualists, with their various spheres, corresponding somewhat to the subtle worlds, seven in number, of the Theosophists and the Rosicrucians; and also the extreme theory of annihilation, which does not find much response from the healthy-minded. The value of all these doctrines consists in attracting attention to the eternal interest of man in the hereafter, and his many speculations as to his future and his immortality.

Cũng có giáo lý về sự lặp lại vĩnh cửu, điều cả Nietzsche lẫn Heine đều tin, với sự nhấn mạnh của nó vào một hiện hữu trần thế không ngừng, tái diễn, của mỗi đơn vị mãnh lực, cho đến khi một linh hồn đã được tiến hoá. Giáo lý ảm đạm về sự tồn tại của chúng ta như những ảnh hưởng được kéo dài trong nhân loại mà chúng ta thuộc về cũng đã được phát triển, nhấn mạnh một sự vị tha đáng khâm phục, nhưng đồng thời cũng là sự phủ định cá nhân. Các giáo lý Cơ Đốc giáo chính thống có ba loại, gồm giáo lý về báo ứng vĩnh cửu, về phục hồi phổ quát, và về tính bất tử có điều kiện. Với những điều này, chúng ta phải thêm vào các suy luận của những nhà thần linh học, với các cõi khác nhau của họ, phần nào tương ứng với các thế giới vi tế, bảy về số lượng, của các nhà Thông Thiên Học và các nhà Hoa Hồng Thập Tự; và cũng cả lý thuyết cực đoan về sự hủy diệt, vốn không tìm được nhiều đáp ứng từ những người có trí tuệ lành mạnh. Giá trị của tất cả những giáo lý này nằm ở chỗ thu hút sự chú ý đến mối quan tâm vĩnh cửu của con người đối với đời sau, và đến nhiều suy luận của y về tương lai và tính bất tử của mình.

Christ died and rose again. He lives. And some people in the world today do not need to have this fact proven to them. They know He is alive, and that because He lives we shall live also. In us is the same germ of essential life which flowered forth to perfection in Him, overcoming the tendency to death inherent in the natural man. Surely, then, we can say that immortality consists for us in three stages:

Đức Christ đã chết và sống lại. Ngài sống. Và một số người trên thế giới ngày nay không cần sự kiện này được chứng minh cho họ. Họ biết Ngài đang sống, và rằng vì Ngài sống nên chúng ta cũng sẽ sống. Trong chúng ta có cùng mầm sống thiết yếu đã nở hoa đến hoàn thiện nơi Ngài, vượt thắng khuynh hướng chết vốn cố hữu trong phàm nhân tự nhiên. Vậy chắc chắn chúng ta có thể nói rằng đối với chúng ta, tính bất tử gồm ba giai đoạn:

First, as that livingness which we call the urge to evolution, the impulse to progress, to push forward, to live, and to know that one lives. This is the incentive behind man’s determination [252] to know himself an individual, with his own life cycle, his own innate purpose and his eternal future.

Thứ nhất, như sức sống mà chúng ta gọi là thôi thúc tiến hoá, xung lực tiến bộ, thúc đẩy tiến lên, sống, và biết rằng mình đang sống. Đây là động lực đằng sau quyết tâm của con người [252] muốn biết mình là một cá nhân, với chu kỳ sống riêng của mình, mục đích bẩm sinh riêng của mình và tương lai vĩnh cửu của mình.

Secondly, as that dynamic spiritual awareness which manifests in the re-orientation to eternity and the eternal values, which is the distinguishing feature of the man who is ready to take the necessary steps to demonstrate his spiritual life and to function as an immortal. Then the resurrection which lies ahead of him, and which Christ expressed, is seen to be something different from what had earlier been supposed. The following definition of the true resurrection, as it begins to dawn on the eyes of the man who is awakening to the glory of the Lord within his own heart and immanent in every form, finds place:

Thứ hai, như sự nhận biết tinh thần năng động biểu lộ trong sự tái định hướng về vĩnh cửu và các giá trị vĩnh cửu, vốn là đặc điểm phân biệt của người đã sẵn sàng thực hiện các bước cần thiết để chứng minh đời sống tinh thần của mình và hoạt động như một kẻ bất tử. Bấy giờ sự phục sinh nằm phía trước y, và điều Đức Christ đã biểu lộ, được thấy là một điều khác với những gì trước đây từng được giả định. Định nghĩa sau đây về sự phục sinh đích thực, khi nó bắt đầu ló rạng trước mắt người đang thức tỉnh trước vinh quang của Chúa trong chính trái tim mình và nội tại trong mọi hình tướng, được nêu ra:

“The resurrection is not the rise of the dead from their tombs but the passage from the death of self-absorption to the life of unselfish love, the transition from the darkness of selfish individualism to the light of universal spirit, from falsehood to truth, from the slavery of the world to the liberty of the eternal. Creation ‘groaneth and travaileth in pain’ ‘to be delivered from the bondage of corruption into the liberty of the glory of the children of God.’ ”

“Sự phục sinh không phải là sự trỗi dậy của người chết từ mồ mả, mà là sự đi qua từ cái chết của sự chỉ chăm chú vào bản thân đến đời sống của tình thương vị tha, sự chuyển tiếp từ bóng tối của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đến ánh sáng của tinh thần phổ quát, từ giả dối đến chân lý, từ sự nô lệ của thế gian đến tự do của cái vĩnh cửu. Tạo vật ‘rên xiết và quằn quại trong đau đớn’ ‘để được giải thoát khỏi xiềng xích của sự hư hoại vào tự do của vinh quang của các con của Thượng Đế.’ ”

‘THE SUPREME SPIRITUAL IDEAL’, BY S. RADHAKRISHNAN, HIBBERT JOURNAL, OCTOBER, 1936.

‘LÝ TƯỞNG TINH THẦN TỐI THƯỢNG’, CỦA S. RADHAKRISHNAN, TẠP CHÍ HIBBERT, THÁNG MƯỜI, 1936.

The third and final thought which must be emphasised is that we are resurrected to life eternal and become of the company of the immortals when we have fitted ourselves to be co-workers with Christ in the kingdom. It is when we lose the consciousness of the separative individual and become divinely aware of the whole of which we are a part that we have learnt life’s final lesson and need “no more return.” It is the death of the individual which we fear and dread, and the loss of personal consciousness. We do not realise that when the vision of the kingdom is ours, when the whole of creation shines forth before our eyes, it is that Whole which matters to us, and we lose sight of our personal selves.

Tư tưởng thứ ba và sau cùng cần được nhấn mạnh là chúng ta được phục sinh vào đời sống vĩnh cửu và trở thành thành viên của đoàn thể những người bất tử khi chúng ta đã làm cho mình thích hợp để làm đồng sự với Đức Christ trong Thiên Giới. Chính khi chúng ta đánh mất tâm thức về cá nhân chia rẽ và trở nên nhận biết một cách thiêng liêng về toàn thể mà chúng ta là một phần, thì chúng ta đã học được bài học cuối cùng của đời sống và “không cần trở lại nữa.” Chính cái chết của cá nhân là điều chúng ta sợ hãi và kinh khiếp, cùng sự mất mát tâm thức cá nhân. Chúng ta không nhận ra rằng khi tầm nhìn về Thiên Giới là của chúng ta, khi toàn thể tạo vật chiếu rạng trước mắt chúng ta, thì chính Toàn Thể ấy mới là điều quan trọng đối với chúng ta, và chúng ta không còn thấy các bản ngã cá nhân của mình nữa.

The resurrection therefore might be defined as the persistence [253] on into the future of that which is the divine aspect, and which is integrated with the life and consciousness of that sum total which we call God. That life and that consciousness flow through all parts of God’s manifestation, the natural world. The kingdoms of nature have one by one evolved, and in so doing have expressed some aspect of His life as it informs and animates His creation. One by one, they have steadily progressed from the inert consciousness and slow, heavy rhythm of the mineral kingdom, and have revealed sequentially more and more of the hidden divine nature, until we come to man whose consciousness is of a much higher order and whose divine expression is that of the self-conscious, self-determined Deity. From automatic forms of consciousness, the life of God has carried the forms of life through sentient consciousness to the instinctive consciousness of the animal; then it has progressed on into the human kingdom, wherein self-consciousness holds sway, until the higher members of that kingdom begin to show a disposition towards divinity. The faint, dim signs of a still higher kingdom can now be seen, in which self-consciousness will give place to group-consciousness, and man will know himself to be identified with the Whole, and not to be simply a self-sufficient individual. Then the life of the whole body of God can flow consciously into and through him, and the life of God becomes his life and he is resurrected into life eternal.

Do đó, sự phục sinh có thể được định nghĩa là sự tồn tại bền bỉ [253] đi vào tương lai của điều vốn là phương diện thiêng liêng, và vốn được tích hợp với sự sống và tâm thức của tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng Đế. Sự sống ấy và tâm thức ấy tuôn chảy qua mọi phần trong biểu hiện của Thượng Đế, tức thế giới tự nhiên. Các giới của thiên nhiên đã lần lượt tiến hoá, và khi làm như vậy đã biểu lộ một phương diện nào đó của sự sống Ngài khi nó thấm nhuần và làm linh hoạt tạo vật của Ngài. Từng giới một, chúng đã đều đặn tiến bộ từ tâm thức trơ ì và nhịp điệu chậm chạp, nặng nề của giới kim thạch, và đã tuần tự mặc khải ngày càng nhiều hơn bản chất thiêng liêng ẩn tàng, cho đến khi chúng ta đến với con người, tâm thức của y thuộc một trật tự cao hơn nhiều, và biểu hiện thiêng liêng của y là biểu hiện của Thượng đế tự ý thức, tự quyết định. Từ các hình thức tâm thức tự động, sự sống của Thượng Đế đã đưa các hình tướng của sự sống đi qua tâm thức hữu cảm đến tâm thức bản năng của con vật; rồi nó tiến vào giới nhân loại, nơi ngã thức nắm quyền, cho đến khi các thành viên cao hơn của giới ấy bắt đầu cho thấy một khuynh hướng hướng về thiên tính. Những dấu hiệu mờ nhạt, lờ mờ của một giới còn cao hơn nay có thể được thấy, trong đó ngã thức sẽ nhường chỗ cho tâm thức nhóm, và con người sẽ biết mình đồng hoá với Toàn Thể, chứ không chỉ đơn giản là một cá nhân tự đủ. Bấy giờ sự sống của toàn bộ thân thể Thượng Đế có thể tuôn chảy một cách có ý thức vào và qua y, và sự sống của Thượng Đế trở thành sự sống của y, và y được phục sinh vào đời sống vĩnh cửu.

Therefore the trend in human affairs at this time towards synthesis, cooperation, fusion and amalgamation is a sign of the advanced stage humanity has reached. It is a portent of promise, and indicates that the resurrection to life, to which all the Sons of God, down the ages, have testified, is now a general possibility. Humanity today, as a whole, faces towards life because its values are real, its integrity is being steadily assured, and the world indications (as manifested through the nations and groups) are oriented towards synthesis and cooperation. The present world turmoil is simply [254] the result of this process of re-orientation, and has its parallel in the process of Christian “conversion” and the adjustments incident to that happening, which usually alter and re-arrange a man’s entire life programme. The world programme is thus being re-adjusted, and the immediate result is chaos. But the new direction is assured, and nothing can arrest the progress of humanity’s entrance into life. Hence the world crisis—the readjustments, the tendency to fusion and synthesis. The new race, which is immortal, is coming into being, and yet it is the same race at a new and high point of achievement. The Great Expectation then is that Birth into the Deathless Race may be realised here and now, as it has been realised already by those of humanity who have been made Divine.

Do đó, khuynh hướng trong các sự vụ nhân loại vào lúc này hướng tới tổng hợp, hợp tác, sự dung hợp và hòa nhập là dấu hiệu của giai đoạn tiến bộ mà nhân loại đã đạt tới. Đó là điềm báo đầy hứa hẹn, và cho thấy rằng sự phục sinh vào đời sống, điều mà tất cả Các Con của Thượng đế qua các thời đại đã làm chứng, nay là một khả năng chung. Ngày nay, nhân loại xét như một toàn thể hướng mặt về sự sống, vì các giá trị của nó là thực, sự toàn vẹn của nó đang được bảo đảm đều đặn, và các dấu hiệu thế giới, như được biểu lộ qua các quốc gia và nhóm, đang định hướng về tổng hợp và hợp tác. Tình trạng hỗn loạn hiện nay của thế giới chỉ đơn giản [254] là kết quả của tiến trình tái định hướng này, và có sự tương ứng của nó trong tiến trình “cải đạo” Cơ Đốc giáo và những điều chỉnh đi kèm biến cố ấy, vốn thường làm thay đổi và sắp xếp lại toàn bộ chương trình đời sống của một người. Vì vậy, chương trình thế giới đang được tái điều chỉnh, và kết quả trước mắt là hỗn loạn. Nhưng hướng đi mới đã được bảo đảm, và không gì có thể ngăn cản sự tiến bộ của việc nhân loại bước vào sự sống. Do đó có cuộc khủng hoảng thế giới—những tái điều chỉnh, khuynh hướng hướng tới sự dung hợp và tổng hợp. Nhân loại mới, vốn bất tử, đang đi vào hiện hữu, tuy vậy đó vẫn là cùng một nhân loại ở một điểm thành tựu mới và cao. Vậy Kỳ Vọng Lớn là sự Sinh Vào Nhân Loại Bất Tử có thể được chứng nghiệm ngay tại đây và bây giờ, như đã được chứng nghiệm bởi những người thuộc nhân loại đã được làm cho Thiêng Liêng.

The kingdom of God moves on to fulfilment. The purpose of Christ’s life, death and resurrection is on the verge of achieving consummation. A new kingdom is coming into being; a fifth kingdom in nature is materialising, and already has a nucleus functioning on earth in physical bodies. Therefore let us welcome the striving and struggling of the present time, for it is a sign of resurrection. Let us understand the upheaval and the chaos, as humanity breaks out of the tomb of selfishness and individualism and comes to the place of living light and unity, for it is the resurrection. Let us penetrate into the darkness with what light we have, and see humanity stirring, the dead bones coming to life, and the wrappings and bands being discarded, as spiritual strength and life pour into the race of men, for this is the resurrection.

Thiên Giới tiến tới sự hoàn thành. Mục đích của đời sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Christ đang ở ngưỡng cửa đạt tới sự viên mãn. Một giới mới đang đi vào hiện hữu; một giới thứ năm trong thiên nhiên đang hiện hình, và đã có một hạt nhân hoạt động trên Trái Đất trong các thể xác. Vì vậy, chúng ta hãy chào đón sự cố gắng và đấu tranh của thời hiện tại, vì đó là dấu hiệu của sự phục sinh. Chúng ta hãy thấu hiểu sự chấn động và hỗn loạn, khi nhân loại thoát ra khỏi nấm mồ của ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân, và đi đến nơi của ánh sáng sống động và sự hợp nhất, vì đó là sự phục sinh. Chúng ta hãy xuyên vào bóng tối bằng ánh sáng mà mình có, và thấy nhân loại đang chuyển động, những xương khô đi vào sự sống, những tấm vải liệm và dây buộc bị vứt bỏ, khi sức mạnh tinh thần và sự sống tuôn đổ vào nhân loại, vì đây là sự phục sinh.

We are privileged to be present at a moment of great crisis for the race. We are seeing the birth of a new and deathless race—a race in which the germ of immortality will flower, and in which divinity can express itself through the transfiguration of mankind. That which is of value is coming to the fore. It has always been there, but today it can be seen, ushering in the consummation of Christ’s work, and bringing to realisation His vision.

Chúng ta có đặc ân được hiện diện vào một khoảnh khắc khủng hoảng lớn lao đối với nhân loại. Chúng ta đang thấy sự ra đời của một nhân loại mới và bất tử—một nhân loại trong đó mầm bất tử sẽ nở hoa, và trong đó thiên tính có thể tự biểu lộ qua sự biến hình của loài người. Điều có giá trị đang đi ra phía trước. Nó đã luôn luôn ở đó, nhưng ngày nay nó có thể được thấy, mở đường cho sự viên mãn công việc của Đức Christ, và đưa tầm nhìn của Ngài đến sự chứng nghiệm.

CHAPTER SEVEN - Our Immediate Goal . . . The Founding of the Kingdom – CHƯƠNG BẢY - Mục Tiêu Trước Mắt Của Chúng Ta . . . Việc Thành Lập Thiên Giới

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO

“Any given moment of life must choose between two gods, psychologically incompatible. On the one hand, the peace of the hermit, the silence of the forest, the exaltation of sacrifice, the mightiness of simplification and unity, the joy of self-abandonment, the calm of absolute contemplation, the vision of God. On the other hand, the variety and stress of life, the zest of common ends, the mastery of means, the glory of infinite enterprise, the pride of creativity and self-possession. The modern world as a whole has made its choice. But there is a better choice; namely, the choice of both. For the life of each is that it may lose itself, from time to time, in the life of the other. And this, which is obvious in things partial, is true—and even chiefly true—in things total.”

“Bất cứ khoảnh khắc nào của đời sống cũng phải chọn giữa hai vị thần, vốn không tương hợp về mặt tâm lý. Một bên là sự bình an của ẩn sĩ, sự im lặng của rừng sâu, sự cao cả của hi sinh, sức mạnh của sự giản dị hóa và hợp nhất, niềm hoan hỉ của sự tự buông bỏ, sự tĩnh lặng của chiêm ngưỡng tuyệt đối, tầm nhìn về Thượng đế. Bên kia là tính đa dạng và căng thẳng của đời sống, niềm hăng say đối với các mục tiêu chung, sự làm chủ phương tiện, vinh quang của công cuộc vô tận, niềm kiêu hãnh của sức sáng tạo và sự tự chủ. Nhìn chung, thế giới hiện đại đã chọn lựa. Nhưng có một lựa chọn tốt đẹp hơn; đó là lựa chọn cả hai. Vì đời sống của mỗi bên là để, thỉnh thoảng, có thể đánh mất chính mình trong đời sống của bên kia. Và điều này, vốn hiển nhiên trong những sự việc bộ phận, cũng đúng — và thậm chí đúng chủ yếu — trong những sự việc toàn thể.”

‘THE MEANING OF GOD IN HUMAN EXPERIENCE’, BY W.E. HOCKING, P. 427.

‘Ý NGHĨA CỦA THƯỢNG ĐẾ TRONG KINH NGHIỆM NHÂN LOẠI’, CỦA W.E. HOCKING, TR. 427.

1

1

[257] We have followed Christ from Bethlehem to Calvary, and through the Resurrection to the episode wherein He disappeared from tangible worldly view and entered the world of subjective values, therein to function as the “Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men.” We approached the subject of the five crises in His life from the angle of their world importance far more than from that of their significance to us as individuals. We have seen that there has been a revolt (and rightly so) from the emphasis laid by past theologians upon the blood sacrifice of Christ; and have arrived at the conclusion that the need of the world today is for the recognition of a risen Saviour. We have noted the fact that the uniqueness of His mission consisted in the fact that in “the fullness of time” He came to found the kingdom of God, to bring into being upon earth another kingdom of nature, and so set up the boundary line between that which is objective and illusory and that which is subjective and real. His coming marked the line of demarcation between the world of forms or symbols and that of values or of meaning. Into the latter world we are entering with great rapidity. Science, religion and philosophy are today occupied with significance, and their investigations are carrying them out of the world of appearances; governments and the allied sciences—politics and economics and sociology—are, in their turn, dealing with ideas and ideals. Even in [258] the realm of social disorders and wars—general, sporadic or civil—we see the conflict of differing ideals, and no longer wars of aggression or for the defense of property. These distinctions between the objective and the subjective, between the tangible and the intangible, the visible and the invisible, Christianity has fostered, because it was these differences which the kingdom of God and the kingdom of man presented. Christ came to give to life a meaning and a value, just as the Buddha came to make clear to us the false values upon which our modern world is based.

[257] Chúng ta đã theo Đức Christ từ Bethlehem đến Calvary, và qua sự Phục Sinh đến biến cố trong đó Ngài biến mất khỏi tầm nhìn hữu hình của thế gian và bước vào thế giới của các giá trị chủ quan, để ở đó hoạt động với tư cách là “Chân sư của mọi Chân sư và cũng là Huấn sư của các thiên thần và của con người.” Chúng ta đã tiếp cận đề tài về năm cuộc khủng hoảng trong đời Ngài từ góc độ tầm quan trọng thế giới của chúng nhiều hơn là từ góc độ thâm nghĩa của chúng đối với chúng ta như những cá nhân. Chúng ta đã thấy rằng đã có một sự phản kháng — và đúng như vậy — đối với sự nhấn mạnh mà các nhà thần học quá khứ đặt trên sự hi sinh bằng máu của Đức Christ; và đã đi đến kết luận rằng nhu cầu của thế giới ngày nay là nhận biết một Đấng Cứu Rỗi phục sinh. Chúng ta đã ghi nhận sự kiện rằng tính độc nhất trong sứ mệnh của Ngài nằm ở chỗ, vào “thời điểm viên mãn,” Ngài đã đến để thiết lập Thiên Giới, để đưa vào hiện tồn trên Trái Đất một giới khác của tự nhiên, và như thế dựng nên đường ranh giới giữa cái khách quan và hư ảo với cái chủ quan và chân thực. Sự đến của Ngài đánh dấu đường phân ranh giữa thế giới của các hình tướng hay biểu tượng và thế giới của các giá trị hay ý nghĩa. Chúng ta đang bước vào thế giới sau với tốc độ rất nhanh. Ngày nay, khoa học, tôn giáo và triết học đều bận tâm đến thâm nghĩa, và các cuộc khảo cứu của chúng đang đưa chúng ra khỏi thế giới của các sắc tướng; đến lượt mình, các chính quyền và những khoa học liên hệ — chính trị, kinh tế học và xã hội học — đang đề cập đến các ý tưởng và lý tưởng. Ngay cả trong [258] lĩnh vực của những rối loạn xã hội và chiến tranh — tổng quát, lẻ tẻ hay nội chiến — chúng ta cũng thấy xung đột của những lý tưởng khác nhau, chứ không còn là các cuộc chiến xâm lược hay nhằm bảo vệ tài sản. Những phân biệt này giữa khách quan và chủ quan, giữa hữu hình và vô hình, giữa thấy được và không thấy được, Cơ Đốc giáo đã nuôi dưỡng, bởi vì chính những khác biệt ấy được Thiên Giới và giới của con người trình bày. Đức Christ đến để ban cho đời sống một ý nghĩa và một giá trị, cũng như Đức Phật đến để làm sáng tỏ cho chúng ta những giá trị giả tạo mà thế giới hiện đại của chúng ta đặt nền trên đó.

A study of the teachings earlier given will show that every teaching, and every suffering Son of God who antedated Christ, did two things:

Việc nghiên cứu các giáo huấn đã được ban trước đây sẽ cho thấy rằng mọi giáo huấn, và mọi Con của Thượng đế chịu khổ nạn có trước Đức Christ, đều đã làm hai điều:

First of all, He prepared the way for Christ, giving out the teaching that His particular age, period and civilisation required; and secondly, He enacted in His life the teaching of the Mysteries, which however, before Christ’s time, was confined to the very few who were being prepared for initiation, or who could penetrate by right of initiation into the temples of those Mysteries.

Trước hết, Ngài chuẩn bị con đường cho Đức Christ, ban ra giáo huấn mà thời đại, giai đoạn và nền văn minh đặc thù của Ngài đòi hỏi; và thứ hai, trong đời sống của Ngài, Ngài thực hiện giáo huấn của các Bí nhiệm, vốn trước thời Đức Christ chỉ giới hạn cho rất ít người đang được chuẩn bị cho điểm đạo, hoặc những người có thể, nhờ quyền của điểm đạo, thâm nhập vào các đền thờ của những Bí nhiệm ấy.

Then the Buddha came and spoke to the multitude, telling them what was the source of their misery and discontent, and giving them, in the Four Noble Truths, a concise statement of the human situation. He outlined to them the Noble Eightfold Path governing right conduct, and gave in reality the rules which should control one upon the Path of Discipleship. Then, having Himself achieved Illumination, He entered into the “Secret Place of the Most High,” to come forth once a year, so legend tells us, in order to bless the world. That day of blessing (the day of the full moon of May) is preserved in the East as a general holiday, and in the West many hundreds also keep it as a day of spiritual remembrance.

Rồi Đức Phật đến và nói với quần chúng, cho họ biết đâu là nguồn gốc của khổ đau và bất mãn của họ, và trong Tứ Diệu Đế, Ngài ban cho họ một phát biểu cô đọng về tình trạng nhân loại. Ngài phác họa cho họ Bát Chánh Đạo cao quý, chi phối cách hành xử đúng đắn, và thực sự ban ra những quy luật phải kiểm soát một người trên Con Đường Đệ Tử. Rồi, sau khi chính Ngài đã đạt được Sự Soi Sáng, Ngài bước vào “Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao,” để mỗi năm một lần lại xuất hiện, như truyền thuyết kể lại, nhằm ban phúc cho thế giới. Ngày ban phúc ấy — ngày trăng tròn tháng Năm — được giữ gìn ở phương Đông như một ngày lễ chung, và ở phương Tây cũng có nhiều trăm người giữ ngày ấy như một ngày tưởng niệm tinh thần.

Then Christ came, and presented to the world, and made public in His life and through its critical points, the great processes of initiation (five in number) which lie ahead of [259] all who keep the rules which His great Brother laid down. He carried the teaching forward the next step, and made it available to the masses. Thus the continuity of revelation was perpetuated. The Buddha taught us the rules for disciples in preparation for the Mysteries of initiation, whilst Christ gave us the next stage, and showed us the process of initiation from the moment of the new birth into the kingdom to that of the final resurrection into life. His work was unique in its time and place, for it marked a consummation of the past, and an entrance into something utterly new, as far as humanity as a whole was concerned.

Rồi Đức Christ đến, và trình bày cho thế giới, đồng thời công khai hóa trong đời Ngài và qua các điểm khủng hoảng của đời ấy, những tiến trình lớn lao của điểm đạo — gồm năm tiến trình — đang nằm phía trước [259] tất cả những ai tuân giữ các quy luật mà Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài đã đặt ra. Ngài đưa giáo huấn tiến thêm bước kế tiếp, và làm cho nó trở nên sẵn có đối với quần chúng. Như thế, tính liên tục của sự mặc khải được duy trì. Đức Phật dạy chúng ta các quy luật dành cho đệ tử trong sự chuẩn bị cho các Bí nhiệm của điểm đạo, trong khi Đức Christ ban cho chúng ta giai đoạn kế tiếp, và chỉ cho chúng ta tiến trình điểm đạo từ khoảnh khắc của sự sinh ra mới vào Thiên Giới cho đến sự phục sinh cuối cùng vào sự sống. Công việc của Ngài là độc nhất trong thời gian và nơi chốn của nó, vì nó đánh dấu sự hoàn tất của quá khứ và sự bước vào một điều hoàn toàn mới, xét theo nhân loại như một toàn thể.

Humanity had also reached a unique stage in its development. The race had become intelligent, and the personality of man—physical, emotional and mental—had been carried forward to a definite point of integration and coordination. This, on a scale so immense, was unique. There had been isolated personalities. Now, in the Christian era, we live in an age of personalities. So high is the general level of integrated personality life that we are apt to feel we have reached an era where there are no outstanding figures. This is probably due to the fact that the general average of human development is so high that the power to stand out dominantly is much more limited. Because of this development, humanity (regarding it as a kingdom in nature) has reached a point where something new can emerge, as has always happened in analogous circumstances in other kingdoms. We can produce, and as a race give birth to, the next kingdom in nature, which Christ called the kingdom of God; this is the kingdom of souls, the kingdom of spiritual lives, and herein, uniquely, Christ emerges. He is the founder of that kingdom. He proclaimed its existence and He indicated its nature. In Himself He gave us an expression of its qualifications, and showed us the characteristics of the citizen of that kingdom.

Nhân loại cũng đã đạt tới một giai đoạn độc nhất trong sự phát triển của mình. Nhân loại đã trở nên thông minh, và phàm ngã của con người — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — đã được đưa đến một điểm tích hợp và phối hợp xác định. Điều này, trên một quy mô bao la như thế, là độc nhất. Trước kia đã có những phàm ngã cô lập. Nay, trong kỷ nguyên Cơ Đốc giáo, chúng ta sống trong một thời đại của các phàm ngã. Mức độ chung của đời sống phàm ngã tích hợp cao đến nỗi chúng ta dễ cảm thấy mình đã đạt tới một kỷ nguyên không còn những nhân vật nổi bật. Điều này có lẽ là do mức trung bình chung của sự phát triển nhân loại cao đến mức khả năng nổi bật một cách áp đảo bị giới hạn hơn nhiều. Do sự phát triển này, nhân loại — nếu xem nó như một giới trong tự nhiên — đã đạt tới một điểm nơi một điều mới có thể xuất hiện, như vẫn luôn xảy ra trong các hoàn cảnh tương đồng ở những giới khác. Chúng ta có thể tạo ra, và với tư cách là một nhân loại, sinh ra giới kế tiếp trong tự nhiên, mà Đức Christ gọi là Thiên Giới; đây là giới của các linh hồn, giới của các sự sống tinh thần, và chính ở đây, một cách độc nhất, Đức Christ xuất hiện. Ngài là vị sáng lập giới ấy. Ngài tuyên bố sự hiện hữu của nó và chỉ rõ bản chất của nó. Nơi chính Ngài, Ngài ban cho chúng ta một biểu hiện về các phẩm chất của nó, và chỉ cho chúng ta những đặc tính của công dân trong giới ấy.

Through the example of its Founder, Christianity has also had a unique mission in inaugurating the era of service. World service, world welfare, world interest, world inter-communication [260] and the importance of the general good are all products of the emphasis Christ laid upon human divinity and on the brotherhood of man, based upon the Fatherhood of God. No other religion or era has thus emphasised these points. They still remain in many ways ideals, but are slowly in process of becoming facts.

Qua gương mẫu của Đấng Sáng Lập, Cơ Đốc giáo cũng đã có một sứ mệnh độc nhất trong việc khai mở kỷ nguyên phụng sự. Phụng sự thế giới, phúc lợi thế giới, mối quan tâm đến thế giới, sự liên giao thế giới [260] và tầm quan trọng của lợi ích chung đều là sản phẩm của sự nhấn mạnh mà Đức Christ đặt trên thiên tính của con người và trên tình huynh đệ của nhân loại, dựa trên Tình Phụ Tử của Thượng đế. Không tôn giáo hay kỷ nguyên nào khác đã nhấn mạnh những điểm này như vậy. Chúng vẫn còn, theo nhiều cách, là các lý tưởng, nhưng đang chậm rãi trong tiến trình trở thành sự kiện.

Christ therefore achieved through His work the following things:

Do đó, qua công việc của Ngài, Đức Christ đã đạt được những điều sau đây: