Trích nội dung chương
These thoughts bring us directly to the central problem of sin which is (in the last analysis) the problem of man’s essential duality, before he has made the at-one-ment for which Christ stood. When man, before he awakens to his dual nature, does that which is wrong and sinful, we cannot and do not regard him as a sinner—unless we are old-fashioned [202] enough to believe in the doctrine that every man is irretrievably lost unless he is “saved” in the orthodox sense of the term. To St. James, sin is acting against knowledge, and he says “To him that knoweth to do good, and doeth it not, to him it is sin.” (St. James, IV, 17.) There we have…
These thoughts bring us directly to the central problem of sin which is (in the last analysis) the problem of man’s essential duality, before he has made the at-one-ment for which Christ stood. When man, before he awakens to his dual nature, does that which is wrong and sinful, we cannot and do not regard him as a sinner—unless we are old-fashioned [202] enough to believe in the doctrine that every man is irretrievably lost unless he is “saved” in the orthodox sense of the term. To St. James, sin is acting against knowledge, and he says “To him that knoweth to do good, and doeth it not, to him it is sin.” (St. James, IV, 17.) There we have a real definition of sin. It is to act against light and knowledge, and with deliberation to do that which we know is wrong and undesirable. Where there is no such knowledge there can be no sin; therefore animals are regarded as free from sin, and men acting in equal ignorance should likewise be so regarded. But the moment a man becomes aware that he is two persons in one form, that he is God and man, then responsibility steadily increases, sin becomes possible, and it is here that the mystery aspect of sin enters in. It consists in the relation between the “hidden man of the heart” (I St. Peter, III, 4.) and the outer, tangible man. Each has its own life and its own field of experience. Each therefore remains a mystery to the other. The at-one-ment consists in resolving the relationship between these two, and when the wishes of the “hidden man” are violated, the sin occurs.
Những tư tưởng này đưa chúng ta trực tiếp đến vấn đề trung tâm của tội lỗi, mà xét đến cùng là vấn đề về tính nhị nguyên thiết yếu của con người, trước khi y đã thực hiện sự hiệp nhất mà Đức Christ đại diện. Khi con người, trước khi thức tỉnh với bản chất kép của mình, làm điều sai trái và tội lỗi, chúng ta không thể và cũng không xem y là kẻ tội lỗi — trừ phi chúng ta cổ hủ [202] đến mức tin vào giáo lý rằng mọi người đều hư mất không thể cứu vãn trừ khi y được “cứu rỗi” theo nghĩa chính thống của thuật ngữ. Đối với Thánh Giacôbê, tội lỗi là hành động chống lại tri thức, và ông nói: “Kẻ nào biết làm điều lành mà không làm, thì đối với kẻ ấy đó là tội.” (Thánh Giacôbê, IV, 17.) Ở đó chúng ta có một định nghĩa thật về tội lỗi. Đó là hành động chống lại ánh sáng và tri thức, và cố ý làm điều mà chúng ta biết là sai trái và không đáng mong muốn. Nơi nào không có tri thức như thế thì không thể có tội lỗi; vì vậy loài vật được xem là không có tội, và những người hành động trong sự vô minh tương tự cũng nên được xem như vậy. Nhưng ngay khoảnh khắc một người trở nên ý thức rằng y là hai con người trong một hình tướng, rằng y là Thượng đế và con người, thì trách nhiệm tăng lên đều đặn, tội lỗi trở nên khả hữu, và chính ở đây phương diện huyền nhiệm của tội lỗi bước vào. Nó nằm trong mối quan hệ giữa “con người ẩn giấu của trái tim” (Thư thứ nhất của Thánh Phêrô, III, 4.) và con người bên ngoài, hữu hình. Mỗi bên có đời sống riêng và lĩnh vực kinh nghiệm riêng. Vì vậy mỗi bên vẫn là một huyền nhiệm đối với bên kia. Sự hiệp nhất nằm ở việc giải quyết mối quan hệ giữa hai bên này, và khi các ước muốn của “con người ẩn giấu” bị vi phạm, tội lỗi xảy ra.
When these two aspects of man are united and function together as a unity, and when the spiritual man controls the activities of the carnal man, sin becomes impossible, and man moves on towards greatness.
Khi hai phương diện này của con người được hợp nhất và hoạt động cùng nhau như một nhất thể, và khi con người tinh thần kiểm soát các hoạt động của con người xác thịt, tội lỗi trở nên bất khả, và con người tiến tới sự cao cả.
The word “transgression” signifies the walking across a boundary; it involves the displacing of a landmark, as it is called in Masonry, or the infringement of one of the basic principles of living. There are certain things which are recognised by all as having a controlling relation to man. Such a compilation of principles as the Ten Commandments might be cited as a case in point. They constitute the boundary which ancient custom, ordained right habits, and the social order have imposed upon the race. To step across these boundaries, which man, from experience, has himself instituted, and to which God has accorded divine recognition, [203] is to transgress, and for every transgression there is an inevitable penalty. We pay the price of ignorance every time, and thereby learn not to sin; we are penalised when we do not keep the rules, and in time we learn not to transgress them. Instinctively we keep certain rules; probably because we have often paid the price, and certainly because we care too much about our reputations and public opinion to transgress them now. There are boundaries across which the average right-minded citizen does not step. When he does, he joins the large group of sinners. Controlled action in every department of human life is the ideal, and this action must be based on right motive, be actuated by unselfish purpose, and be carried forward in the strength of the inner spiritual man, the “hidden man of the heart.”
Từ “vi phạm” biểu thị việc bước qua một ranh giới; nó bao hàm việc dời một mốc giới, như cách gọi trong Hội Tam Điểm, hoặc xâm phạm một trong những nguyên lý căn bản của sự sống. Có một số điều được mọi người công nhận là có mối quan hệ kiểm soát đối với con người. Một tập hợp các nguyên lý như Mười Điều Răn có thể được nêu như một trường hợp điển hình. Chúng cấu thành ranh giới mà tập tục cổ xưa, những thói quen đúng đắn đã được thiết lập, và trật tự xã hội đã áp đặt lên nhân loại. Bước qua những ranh giới này, mà con người, từ kinh nghiệm, đã tự thiết lập, và được Thượng đế ban sự công nhận thiêng liêng, [203] là vi phạm, và đối với mỗi sự vi phạm đều có một hình phạt tất yếu. Mỗi lần chúng ta trả giá cho vô minh, và nhờ đó học cách không phạm tội; chúng ta bị phạt khi không giữ các quy luật, và theo thời gian chúng ta học cách không vi phạm chúng. Theo bản năng, chúng ta giữ một số quy luật; có lẽ vì chúng ta đã nhiều lần trả giá, và chắc chắn vì chúng ta quan tâm quá nhiều đến danh tiếng của mình và dư luận công chúng nên nay không vi phạm chúng. Có những ranh giới mà người công dân trung bình có tâm trí đúng đắn không bước qua. Khi y làm vậy, y gia nhập nhóm lớn những kẻ tội lỗi. Hành động được kiểm soát trong mọi lĩnh vực của đời sống con người là lý tưởng, và hành động này phải đặt nền trên động cơ đúng đắn, được thúc đẩy bởi mục đích vị tha, và được tiến hành trong sức mạnh của con người tinh thần nội tại, “con người ẩn giấu của trái tim.”
“Iniquity” is a word with a seemingly innocuous meaning. It signifies simply an unevenness, an inequality. An iniquitous man is therefore technically an unbalanced man, one who tolerates some unevennesses in his daily life. A definition such as this is broadly inclusive, and even if we do not regard ourselves as sinners and transgressors, we surely come under the category of those whose lives show certain inequalities in conduct. We are not always the same. We are fluid in our expression of living. We are some days one thing and some days another, and because of this lack of balance and of equilibrium, we are iniquitous people in the true sense of the word. These things are good to remember, for they prevent that dire sin, self-satisfaction.
“Bất chính” là một từ có ý nghĩa dường như vô hại. Nó chỉ đơn giản biểu thị sự không đồng đều, sự không cân bằng. Do đó, về mặt kỹ thuật, một người bất chính là một người mất quân bình, một người dung thứ một số sự không đồng đều trong đời sống hằng ngày của mình. Một định nghĩa như thế có tính bao gồm rộng rãi, và ngay cả nếu chúng ta không xem mình là những kẻ tội lỗi và những kẻ vi phạm, chắc chắn chúng ta vẫn thuộc về loại những người mà đời sống biểu lộ một số sự không nhất quán trong hành vi. Chúng ta không phải lúc nào cũng như nhau. Chúng ta linh động trong biểu lộ sống của mình. Có ngày chúng ta là một điều, có ngày lại là điều khác, và vì sự thiếu cân bằng và quân bình này, chúng ta là những người bất chính theo nghĩa chân thật của từ này. Những điều này đáng được ghi nhớ, vì chúng ngăn ngừa tội lỗi ghê gớm ấy: sự tự mãn.
The question of evil is too large to elucidate at length, but it might be defined simply as adherence to that which we should have outgrown, the grasping of that which we should have left behind. Evil is, for the bulk of us, simply and solely an effort to identify ourselves with the form life when we have a capacity for soul consciousness; and righteousness is the steady turning of the thought and life towards the soul, leading to those activities which are spiritual and harmless and helpful. This sense of evil and this reaction to good is again latent in the relationship between the two [204] halves of man’s nature—the spiritual and the strictly human. When we turn the light of our awakened consciousness into the lower nature, and then with deliberation do, “in the light,” those things which are determined and vitalised from the lower levels of our existence, we are throwing the weight of our knowledge on the side of evil, and are retrogressing. It is not always expedient from the point of view of the “carnal man” to do, or to reject, certain things, and when we choose the lower, and do it, making a specific choice, then the evil which is in us is dominating.
Vấn đề điều ác quá rộng lớn để làm sáng tỏ dài dòng, nhưng có thể định nghĩa đơn giản là sự bám chặt vào điều mà lẽ ra chúng ta đã phải vượt qua, sự nắm giữ điều mà lẽ ra chúng ta đã phải bỏ lại phía sau. Đối với phần đông chúng ta, điều ác chỉ đơn giản và duy nhất là một nỗ lực đồng hóa mình với sự sống hình tướng khi chúng ta có khả năng đạt đến tâm thức linh hồn; và sự công chính là việc đều đặn xoay tư tưởng và đời sống về phía linh hồn, dẫn đến những hoạt động tinh thần, vô tổn hại và hữu ích. Ý thức về điều ác này và phản ứng này đối với điều thiện lại tiềm tàng trong mối quan hệ giữa hai [204] nửa của bản chất con người — phần tinh thần và phần thuần túy nhân loại. Khi chúng ta hướng ánh sáng của tâm thức đã thức tỉnh vào bản chất thấp, rồi cố ý làm, “trong ánh sáng”, những điều được quyết định và tiếp sinh lực từ các cấp độ thấp hơn của hiện tồn chúng ta, chúng ta đang đặt sức nặng tri thức của mình về phía điều ác, và đang thụt lùi. Từ quan điểm của “con người xác thịt”, không phải lúc nào cũng thuận tiện để làm, hoặc từ chối, một số điều, và khi chúng ta chọn cái thấp hơn và thực hiện nó, bằng một lựa chọn cụ thể, thì điều ác trong chúng ta đang thống trị.
It is gradually dawning on the human consciousness that a separative attitude has in it the elements of sin and of evil. When we are separative in our attitudes or do anything which produces separation, we are transgressing a fundamental law of God. What we are really doing is breaking the Law of Love, which knows no separation, but sees only unity and synthesis, brotherhood and interrelation everywhere. Herein lies our major problem. Our study in connection with sin and evil will, as Dr. Grensted tells us, serve....
Tâm thức con người đang dần nhận ra rằng một thái độ chia rẽ chứa trong nó các yếu tố của tội lỗi và điều ác. Khi chúng ta có thái độ chia rẽ hoặc làm bất cứ điều gì tạo ra sự chia rẽ, chúng ta đang vi phạm một định luật căn bản của Thượng đế. Điều chúng ta thật sự đang làm là phá vỡ Định luật Tình thương, vốn không biết đến sự chia rẽ, mà chỉ thấy sự hợp nhất và tổng hợp, tình huynh đệ và sự tương quan ở khắp nơi. Chính trong điều này có vấn đề chính yếu của chúng ta. Nghiên cứu của chúng ta liên quan đến tội lỗi và điều ác, như Tiến sĩ Grensted cho chúng ta biết, sẽ phục vụ....
“in the main to reveal the fundamental character of our problem as resulting from a failure of faith and a refusal of love. The psychologists do not escape from this view of sin when they deal with it as moral disease, for their one hope of treating such moral disease successfully rests in an attempt to awaken the latent personal resources of the ego, through processes in themselves personal. Where, as in certain of the major psychoses, this appeal cannot be made, there is no human hope of a cure. The key to psychological healing lies in the transference and there is the closest possible parallel between this and the Christian way of forgiveness. Both methods are wholly personal, both depend upon a readjustment of relationships which begins at priest or physician and passes out into every relationship of the social environment.” [Italics are mine. A.A.B.]
“chủ yếu để mặc khải đặc tính căn bản của vấn đề chúng ta như phát sinh từ sự thất bại của đức tin và sự khước từ tình thương. Các nhà tâm lý học không thoát khỏi quan điểm này về tội lỗi khi họ đề cập đến nó như một bệnh lý đạo đức, vì hy vọng duy nhất của họ trong việc điều trị thành công bệnh lý đạo đức như thế đặt trên một nỗ lực đánh thức các nguồn lực cá nhân tiềm tàng của cái tôi, qua những tiến trình tự chúng mang tính cá nhân. Nơi nào, như trong một số rối loạn tâm thần lớn, lời kêu gọi này không thể được thực hiện, nơi đó không có hy vọng chữa lành nào của con người. Chìa khóa của việc chữa lành tâm lý nằm trong sự chuyển di, và có sự tương đồng gần gũi nhất có thể giữa điều này và con đường tha thứ của Cơ Đốc giáo. Cả hai phương pháp đều hoàn toàn mang tính cá nhân, cả hai đều tùy thuộc vào một sự điều chỉnh lại các mối quan hệ, bắt đầu nơi linh mục hoặc thầy thuốc và lan ra mọi mối quan hệ của môi trường xã hội.” [Chữ nghiêng là của tôi. A.A.B.]
‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 199.
‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 199.
The sense of responsibility for one’s actions grows as one progresses from stage to stage upon the Path of Evolution. [205] In the early stages there is little or no responsibility. There is little or no knowledge, no sense of relationship to God, and very little sense of relationship to humanity. It is this sense of separateness, this emphasis upon personal and individual good, which is of the nature of sin. Love is unity, at-one-ment and synthesis. Separateness is hatred, aloneness and division. But man, being divine in nature, has to love, and the trouble has been that he has loved wrongly. In the early stages of his development he places his love in the wrong direction, and turning his back on the love of God, which is of the very nature of his own soul, he loves that which is connected with the form side of life, and not with the life side of form.
Ý thức trách nhiệm đối với các hành động của mình tăng trưởng khi người ta tiến từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trên Con Đường Tiến Hóa. [205] Trong các giai đoạn đầu, có rất ít hoặc không có trách nhiệm. Có rất ít hoặc không có tri thức, không có ý thức về mối quan hệ với Thượng đế, và rất ít ý thức về mối quan hệ với nhân loại. Chính ý thức về sự tách biệt này, sự nhấn mạnh này vào điều tốt cá nhân và riêng tư, mang bản chất của tội lỗi. Tình thương là sự hợp nhất, sự hiệp nhất và tổng hợp. Sự tách biệt là thù ghét, đơn độc và chia rẽ. Nhưng con người, vì có bản chất thiêng liêng, phải yêu thương, và rắc rối là y đã yêu sai lầm. Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, y đặt tình thương của mình sai hướng, và quay lưng lại với tình thương của Thượng đế, vốn chính là bản chất của linh hồn y, y yêu điều gắn liền với mặt hình tướng của sự sống, chứ không phải với mặt sự sống của hình tướng.
Sin is therefore a definite infringement of the Law of Love, as we show it in our relation with God or with our brother, a son of God. It is the doing of those things from purely selfish interest which brings suffering to those we have in our immediate surroundings, or to the group with which we may be affiliated—a family group, a social group, a business group, or just the group of human beings with whom our general destiny casts us.
Vì vậy, tội lỗi là một sự xâm phạm rõ ràng Định luật Tình thương, như chúng ta biểu lộ nó trong mối quan hệ của mình với Thượng đế hoặc với huynh đệ của mình, một người Con của Thượng đế. Đó là việc làm những điều do lợi ích hoàn toàn ích kỷ, gây đau khổ cho những người ở ngay quanh chúng ta, hoặc cho nhóm mà chúng ta có thể liên kết — một nhóm gia đình, một nhóm xã hội, một nhóm kinh doanh, hoặc chỉ là nhóm những con người mà vận mệnh chung của chúng ta đưa chúng ta đến với họ.
This brings us to the realisation that, in the last analysis, sin signifies wrong relation to other human beings. It was the sense of this wrong relation which in the early days of man’s history gave rise to the sacrifice of worldly goods upon the altar, for primitive man seemed to feel that by making an offering to God he succeeded in making redemption of his character possible with his fellowmen.
Điều này đưa chúng ta đến nhận thức rằng, xét đến cùng, tội lỗi biểu thị mối quan hệ sai lầm với những con người khác. Chính ý thức về mối quan hệ sai lầm này trong những ngày đầu của lịch sử con người đã làm phát sinh việc hiến dâng của cải thế gian trên bàn thờ, vì con người nguyên thủy dường như cảm thấy rằng bằng cách dâng lễ vật lên Thượng đế, y đã thành công trong việc làm cho sự cứu chuộc tính cách của mình trở nên khả hữu với đồng loại.
It is beginning to dawn upon the race today that the only real sin is to hurt another human being. Sin is the misuse of our relationships with each other, and there is no evading these relationships. They exist. We live in a world of men, and our lives are spent in contact with other human beings. The way in which we handle this daily problem demonstrates either our divinity or our erring lower nature. Our task in life is to express divinity. And that divinity manifests itself [206] in the same way that the divinity of Christ expressed itself; in harmless living and ceaseless service to our fellowmen; in a careful watchfulness over words and deeds lest in any way we should “offend one of these little ones”; (St. Luke, XVII, 2.) in the sharing with Christ of the urgency which He felt to meet the world’s need and to act the part of a saviour to men. It is gloriously true that this basic concept of Deity is beginning to grip humanity.
Ngày nay, nhân loại bắt đầu nhận ra rằng tội lỗi thật sự duy nhất là làm tổn thương một con người khác. Tội lỗi là sự lạm dụng các mối quan hệ của chúng ta với nhau, và không thể né tránh các mối quan hệ này. Chúng hiện hữu. Chúng ta sống trong một thế giới của con người, và đời sống của chúng ta trôi qua trong tiếp xúc với những con người khác. Cách chúng ta xử lý vấn đề hằng ngày này chứng minh hoặc thiên tính của chúng ta, hoặc bản chất thấp sai lầm của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta trong đời là biểu lộ thiên tính. Và thiên tính ấy biểu lộ [206] theo cùng cách mà thiên tính của Đức Christ đã biểu lộ; trong đời sống vô tổn hại và sự phụng sự không ngừng đối với đồng loại; trong sự canh chừng cẩn trọng lời nói và hành động để bằng bất cứ cách nào chúng ta cũng không “làm vấp phạm một trong những kẻ bé nhỏ này”; (Thánh Luca, XVII, 2.) trong việc chia sẻ với Đức Christ tính khẩn thiết mà Ngài cảm thấy để đáp ứng nhu cầu của thế giới và đảm nhiệm vai trò một vị cứu tinh cho con người. Thật vinh quang thay khi đúng là khái niệm căn bản này về Thượng đế đang bắt đầu nắm giữ nhân loại.
Christ’s major task was the establishing of God’s kingdom upon earth. He showed us the way in which humanity could enter that kingdom—by subjecting the lower nature to the death of the cross, and rising by the power of the indwelling Christ. Each one of us has to tread the way of the cross alone, and enter God’s kingdom by right of achievement. But the way is found in service to our fellowmen, and Christ’s death, viewed from one angle, was the logical outcome of the service which He had rendered. Service, pain, difficulty and the cross—such are the rewards of the man who puts humanity first and himself second. But having done so, he discovers that the door into the kingdom is flung wide open and that he can enter in. But he has first to suffer. It is the Way.
Nhiệm vụ chính yếu của Đức Christ là thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất. Ngài đã chỉ cho chúng ta cách nhân loại có thể bước vào giới ấy — bằng cách đặt bản chất thấp dưới cái chết của thập giá, và trỗi dậy nhờ quyền năng của Đức Christ nội tại. Mỗi người trong chúng ta phải một mình bước trên con đường thập giá, và bước vào Thiên Giới bằng quyền của thành tựu. Nhưng con đường được tìm thấy trong sự phụng sự đồng loại, và cái chết của Đức Christ, nhìn từ một góc độ, là kết quả hợp lý của sự phụng sự mà Ngài đã thực hiện. Phụng sự, đau khổ, khó khăn và thập giá — đó là các phần thưởng của người đặt nhân loại lên trước và bản thân mình ở sau. Nhưng khi đã làm như vậy, y khám phá rằng cánh cửa vào Thiên Giới mở rộng, và y có thể bước vào. Nhưng trước hết y phải chịu đau khổ. Đó là Con Đường.
It is through supreme service and sacrifice that we become followers of Christ and earn the right to enter into His kingdom, because we do not enter alone. This is the subjective element in all religious aspiration, and this all the sons of God have grasped and taught. Man triumphs through death and sacrifice.
Chính qua phụng sự và hy sinh tối thượng mà chúng ta trở thành những người theo Đức Christ và giành được quyền bước vào Thiên Giới của Ngài, bởi vì chúng ta không bước vào một mình. Đây là yếu tố chủ quan trong mọi khát vọng tôn giáo, và điều này tất cả các Con của Thượng đế đều đã nắm bắt và giảng dạy. Con người chiến thắng qua cái chết và sự hy sinh.
That superhuman Spirit, Christ, did this perfectly. In Him was no sin because He had perfectly transcended the ephemeral lower self. His personality was subordinated to His divinity. The laws of transgression touched Him not, because He crossed no boundaries and infringed no principles. He embodied in Himself the principle of love and therefore it was not possible for Him, at the stage in evolution [207] which He had reached, to hurt a human being. He was perfectly balanced and had achieved that equilibrium which released Him from all lower impacts and set Him free to ascend to the throne of God. For Him there was no holding on to the lower and to that which was humanly desirable but divinely rejected. Evil therefore passed Him by, and he had no traffic with it. “He was in all points tempted like as we are, yet without sin.” (Hebrews, IV, 15.) He knew no separateness. Rich men, publicans, fishermen, learned professors, harlots and simple folk were all His friends, and the “great heresy of separateness” was completely overcome by His all-inclusive spirit. Thus He fulfilled the law of the past, emphasised the type for the humanity of the future, and entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow His steps—an example of sacrifice unto the death, of service rendered ceaselessly, of self-forgetfulness, and of a heroism that led Him from point to point upon the way, and from altitude to altitude, until no bonds could hold Him (not even the barriers of death). He remains the eternal God-Man, the Saviour of the world. In perfection He fulfilled the will of God, and said to us the words which give us a simple rule with a great reward: “If any man will do his will, he shall know of the doctrine, whether it be of God.” (St. John, VII, 17.)
Đấng Tinh thần siêu nhân ấy, Đức Christ, đã thực hiện điều này một cách hoàn hảo. Trong Ngài không có tội lỗi vì Ngài đã hoàn toàn vượt lên trên phàm ngã phù du. Phàm ngã của Ngài được đặt dưới thiên tính của Ngài. Các luật của sự vi phạm không chạm đến Ngài, vì Ngài không vượt qua ranh giới nào và không xâm phạm nguyên lý nào. Ngài hiện thân trong chính Ngài nguyên lý tình thương, và vì vậy, ở giai đoạn tiến hóa [207] mà Ngài đã đạt đến, Ngài không thể làm tổn thương một con người. Ngài hoàn toàn cân bằng và đã đạt được sự quân bình giải phóng Ngài khỏi mọi tác động thấp và làm Ngài tự do thăng lên ngai của Thượng đế. Đối với Ngài, không có sự bám giữ vào điều thấp và vào điều đáng mong muốn theo nhân tính nhưng bị bác bỏ theo thiên tính. Vì vậy điều ác đi ngang qua Ngài, và Ngài không giao thiệp gì với nó. “Ngài đã chịu cám dỗ trong mọi phương diện như chúng ta, nhưng không phạm tội.” (Thư gửi tín hữu Do Thái, IV, 15.) Ngài không biết đến sự tách biệt. Người giàu, người thu thuế, ngư phủ, các giáo sư uyên bác, kỹ nữ và những người đơn sơ đều là bạn của Ngài, và “Đại Tà thuyết về sự chia rẽ” đã được vượt qua hoàn toàn bởi tinh thần bao gồm tất cả của Ngài. Như thế Ngài đã hoàn thành luật của quá khứ, nhấn mạnh kiểu mẫu cho nhân loại tương lai, và vì chúng ta bước vào bên trong bức màn, để lại cho chúng ta một gương mẫu hầu chúng ta theo dấu chân Ngài — một gương mẫu về hy sinh cho đến chết, về phụng sự được thực hiện không ngừng, về sự quên mình, và về một chủ nghĩa anh hùng đã dẫn Ngài từ điểm này đến điểm khác trên con đường, và từ cao độ này đến cao độ khác, cho đến khi không xiềng xích nào có thể giữ Ngài, ngay cả những rào chắn của cái chết. Ngài vẫn là Thượng đế-Người vĩnh cửu, Đấng Cứu Thế của thế gian. Trong sự hoàn hảo, Ngài đã hoàn thành Ý Chí của Thượng Đế, và nói với chúng ta những lời ban cho chúng ta một quy luật đơn giản với một phần thưởng lớn lao: “Nếu ai muốn làm theo ý muốn của Ngài, người ấy sẽ biết giáo lý này có phải bởi Thượng đế hay không.” (Thánh Gioan, VII, 17.)
The simplicity of this instruction is almost baffling. We are told simply to do God’s will and then truth will be revealed to us. There were times in Christ’s life, as in the Garden of Gethsemane, when He fought with Himself to do God’s will. There were moments when His human flesh quailed before the prospect which opened up before Him. He therefore knew the difficulty of this simple rule.
Sự đơn giản của lời chỉ dạy này gần như làm chúng ta bối rối. Chúng ta chỉ đơn giản được bảo hãy làm theo Ý Chí của Thượng Đế, rồi chân lý sẽ được mặc khải cho chúng ta. Đã có những thời điểm trong đời Đức Christ, như trong Vườn Gethsemane, khi Ngài đấu tranh với chính mình để làm theo Ý Chí của Thượng Đế. Đã có những khoảnh khắc khi xác thịt nhân loại của Ngài run sợ trước viễn cảnh mở ra trước Ngài. Vì vậy Ngài biết sự khó khăn của quy luật đơn giản này.
3
3
In turning our attention to the story of the Crucifixion it is obvious that there is no need to recount the details of it. [208] It is so well known and so familiar that the words in which it is couched are apt to mean little. The tale of Christ’s triumphant entry into Jerusalem, of His gathering the disciples together into the upper room, and there sharing with them the communion of bread and of wine and of the desertion of those who supposedly loved Him, with His subsequent agony in the Garden of Gethsemane, is as familiar to us as our own names, and much less arresting. That is the tragedy of Christ. He did so much, and we have recognised so little. It has taken us twenty centuries to begin to understand Him and His mission and career. The Crucifixion itself was only an anticipated and expected consummation of that career. No other end was possible. It was predetermined from the beginning, and really dated from the time when, after the Baptism initiation, He started out to serve humanity, and to teach and preach the good tidings of the kingdom of God. That was His theme, and we have forgotten it and have preached the Personality of Jesus Christ—one theme which He Himself ignored and which seemed to Him of small importance in view of the greater values involved. This again is the tragedy of Christ. He has one set of values and the world has another.
Khi hướng sự chú ý của chúng ta đến câu chuyện Đóng Đinh, rõ ràng không cần kể lại các chi tiết của nó. [208] Nó quá nổi tiếng và quá quen thuộc đến nỗi những lời trong đó nó được diễn đạt dễ trở nên ít ý nghĩa. Câu chuyện về việc Đức Christ khải hoàn vào Jerusalem, về việc Ngài quy tụ các đệ tử trong căn phòng trên lầu, và tại đó chia sẻ với họ lễ hiệp thông bằng bánh và rượu, rồi về sự bỏ rơi của những người được cho là yêu mến Ngài, cùng cơn thống khổ tiếp theo của Ngài trong Vườn Gethsemane, quen thuộc với chúng ta như chính tên mình, và kém gây chấn động hơn nhiều. Đó là bi kịch của Đức Christ. Ngài đã làm quá nhiều, còn chúng ta nhận ra quá ít. Chúng ta đã mất hai mươi thế kỷ mới bắt đầu thấu hiểu Ngài cùng sứ mệnh và sự nghiệp của Ngài. Chính sự Đóng Đinh chỉ là sự viên mãn đã được dự liệu và mong đợi của sự nghiệp ấy. Không thể có kết thúc nào khác. Nó đã được định trước từ ban đầu, và thật sự bắt đầu từ lúc, sau lần điểm đạo Rửa Tội, Ngài khởi sự phụng sự nhân loại, dạy dỗ và rao giảng tin mừng về Thiên Giới. Đó là chủ đề của Ngài, còn chúng ta đã quên nó và đã rao giảng Phàm ngã của Đức Jesus Christ — một chủ đề mà chính Ngài đã bỏ qua và dường như đối với Ngài chỉ có tầm quan trọng nhỏ bé trước những giá trị lớn lao hơn liên hệ. Đây lại là bi kịch của Đức Christ. Ngài có một hệ giá trị, còn thế gian có một hệ khác.
We have made of the Crucifixion a tragedy, whereas the real tragedy was our failure to recognise its true significance. The agony in the Garden of Gethsemane was based upon the fact that He was not understood. Many men have died violent deaths. In this, Christ was in no wise different from thousands of other far-seeing men and reformers, down the ages. Many people have passed through the Gethsemane experience and prayed with the same fervour as Christ that God’s will might be done. Many men have been deserted by those who might have been expected to understand and participate in the work and service visioned. In none of these respects was Christ really unique. But His suffering was based upon His unique vision. The lack of comprehension of the people, and the distorted interpretations which future theologians would give to His message must surely have been a part of [209] the pre-vision, as likewise the knowledge that the emphasis accorded to Him as the Saviour of the world would retard for centuries the materialising of the kingdom of God on earth, which it was His mission to found. Christ came that all mankind might have “life ... more abundantly.” (St. John, X, 10.) We have so interpreted His words that only the “saved” are credited with having taken the necessary steps towards that life. But the abundant life is surely not a life to be lived hereafter, in some distant heaven where those who are believers shall enjoy an exclusive life of happiness, whilst the rest of God’s children are left outside. The Cross was intended to indicate the line of demarcation between the kingdom of men and the kingdom of God, between one great kingdom in nature which had reached maturity, and another kingdom in nature which could now enter upon its cycle of activity. The human kingdom had evolved to the point where it had produced the Christ and those other children of God whose lives bore constant testimony to the divine nature.
Chúng ta đã biến sự Đóng Đinh thành một bi kịch, trong khi bi kịch thật sự là sự thất bại của chúng ta trong việc nhận ra thâm nghĩa chân thật của nó. Cơn thống khổ trong Vườn Gethsemane đặt nền trên sự kiện rằng Ngài không được thấu hiểu. Nhiều người đã chết những cái chết bạo lực. Trong điều này, Đức Christ tuyệt nhiên không khác hàng ngàn người có tầm nhìn xa và các nhà cải cách khác qua các thời đại. Nhiều người đã đi qua kinh nghiệm Gethsemane và cầu nguyện với cùng nhiệt thành như Đức Christ rằng Ý Chí của Thượng Đế được thực hiện. Nhiều người đã bị bỏ rơi bởi những người lẽ ra có thể được trông đợi là thấu hiểu và tham dự vào công việc cùng sự phụng sự đã được hình dung. Trong không phương diện nào như thế Đức Christ thật sự độc nhất. Nhưng nỗi đau khổ của Ngài đặt nền trên tầm nhìn độc nhất của Ngài. Sự thiếu thấu hiểu của dân chúng, và những diễn giải méo mó mà các nhà thần học tương lai sẽ gán cho thông điệp của Ngài, chắc chắn phải là một phần của [209] linh ảnh tiên tri, cũng như sự biết rằng sự nhấn mạnh dành cho Ngài như Đấng Cứu Thế của thế gian sẽ trì hoãn qua nhiều thế kỷ việc hiện hình Thiên Giới trên Trái Đất, vốn là sứ mệnh Ngài đến để thiết lập. Đức Christ đã đến để toàn thể nhân loại có “sự sống... dồi dào hơn.” (Thánh Gioan, X, 10.) Chúng ta đã diễn giải lời Ngài đến mức chỉ những người “được cứu rỗi” mới được công nhận là đã thực hiện các bước cần thiết hướng tới sự sống ấy. Nhưng sự sống dồi dào chắc chắn không phải là một đời sống sẽ được sống về sau, trong một thiên đường xa xôi nào đó, nơi những người tin sẽ hưởng một đời sống hạnh phúc độc quyền, trong khi phần còn lại của con cái Thượng đế bị bỏ lại bên ngoài. Thập Giá được dự định để chỉ ra đường phân giới giữa giới của con người và Thiên Giới, giữa một giới lớn trong thiên nhiên đã đạt tới sự trưởng thành, và một giới khác trong thiên nhiên nay có thể bước vào chu kỳ hoạt động của nó. Giới nhân loại đã tiến hóa đến điểm nó đã sản sinh ra Đức Christ và những người con khác của Thượng đế, mà đời sống của họ liên tục làm chứng cho bản chất thiêng liêng.
Christ assumed the ancient symbol and burden of the cross, and, taking His stand beside all the previous crucified Saviours, embodied in Himself the immediate and the cosmic, the past and the future, rearing the Cross on the hill outside Jerusalem (the name of which signifies the “vision of peace”), thus calling attention to the kingdom which He died to establish. The work had been completed, and in that strange little country called the Holy Land, a narrow strip of territory between the two hemispheres, the East and the West, the Orient and the Occident, Christ mounted the Cross and fixed the boundary between the kingdom of God and the kingdoms of the world, between the world of men and the world of Spirit. Thus He brought to a climax the ancient Mysteries, which had prophesied the coming of that kingdom, and instituted the Mysteries of the kingdom of God.
Đức Christ đã đảm nhận biểu tượng cổ xưa và gánh nặng của thập giá, và, đứng bên cạnh tất cả các Đấng Cứu Thế bị đóng đinh trước đó, Ngài hiện thân trong chính Ngài điều tức thời và điều vũ trụ, quá khứ và tương lai, dựng Thập Giá trên ngọn đồi bên ngoài Jerusalem, tên gọi ấy biểu thị “tầm nhìn của hòa bình”, qua đó kêu gọi sự chú ý đến Thiên Giới mà Ngài đã chết để thiết lập. Công việc đã hoàn tất, và trong xứ sở nhỏ bé lạ thường ấy được gọi là Thánh Địa, một dải lãnh thổ hẹp giữa hai bán cầu, phương Đông và phương Tây, Đông phương và Tây phương, Đức Christ đã lên Thập Giá và xác lập ranh giới giữa Thiên Giới và các vương quốc của thế gian, giữa thế giới của con người và thế giới của Tinh thần. Như thế Ngài đưa các Bí Nhiệm cổ xưa, vốn đã tiên tri sự xuất hiện của Thiên Giới ấy, đến cao điểm, và thiết lập các Bí Nhiệm của Thiên Giới.
The effort to carry out to perfection the will of God brought to an end the most complete life that had been lived on earth. The attempt to found the kingdom, preordained [210] for all time, and the antagonism it evoked, brought Christ to the place of crucifixion. The hardness of men’s hearts, the weakness of their love, and their failure to see the vision, broke the heart of the Saviour of the world—a Saviour because He opened the door into the kingdom.
Nỗ lực thực hiện đến mức hoàn hảo Ý Chí của Thượng Đế đã kết thúc đời sống trọn vẹn nhất từng được sống trên Trái Đất. Nỗ lực thiết lập Thiên Giới, đã được tiền định [210] cho mọi thời, và sự đối kháng mà nó khơi dậy, đã đưa Đức Christ đến nơi đóng đinh. Sự cứng cỏi của trái tim con người, sự yếu ớt của tình thương họ, và sự thất bại của họ trong việc thấy tầm nhìn, đã làm tan nát trái tim của Đấng Cứu Thế của thế gian — một Đấng Cứu Thế vì Ngài đã mở cánh cửa vào Thiên Giới.
It is time that the Church woke up to its true mission, which is to materialise the kingdom of God on earth, today, here and now. The time is past wherein we can emphasise a future and coming kingdom. People are no longer interested in a possible heavenly state or a probable hell. They need to learn that the kingdom is here, and must express itself on earth; it consists of those who do the will of God at any cost, as Christ did, and who can love one another as Christ loved us. The way into that kingdom is the way that Christ trod. It involves the sacrifice of the personal self for the good of the world, and the service of humanity instead of the service of one’s own desires. In the course of enunciating these new truths concerning love and service Christ lost his life. Canon Streeter tells us that “the significance and value of the death of Christ springs from its inner quality. It is the expression in external act of a freely chosen self-dedication, ungrudging, and without reserve, to the highest service of God and man. The suffering incidental to such self-offering is morally creative.” (‘The Buddha and the Christ’, by B. H. Streeter, p. 215.)
Đã đến lúc Giáo hội phải thức tỉnh trước sứ mệnh đích thực của mình, đó là hiện hình Thiên Giới trên trái đất, hôm nay, tại đây và ngay bây giờ. Thời kỳ chúng ta có thể nhấn mạnh đến một Thiên Giới tương lai và sắp đến đã qua rồi. Con người không còn quan tâm đến một trạng thái thiên đàng khả hữu hay một địa ngục có thể có. Họ cần học biết rằng Thiên Giới đang ở đây, và phải biểu lộ trên trái đất; Thiên Giới ấy gồm những người thực hiện Ý Chí của Thượng Đế bằng mọi giá, như Đức Christ đã làm, và những người có thể thương yêu nhau như Đức Christ đã thương yêu chúng ta. Con đường vào Thiên Giới ấy là con đường mà Đức Christ đã bước đi. Nó bao hàm sự hi sinh cái ngã cá nhân vì lợi ích của thế giới, và sự phụng sự nhân loại thay vì phụng sự các dục vọng riêng của mình. Trong khi công bố những chân lý mới này về tình thương và phụng sự, Đức Christ đã mất mạng sống của Ngài. Giáo sĩ Streeter nói với chúng ta rằng “thâm nghĩa và giá trị của cái chết của Đức Christ phát sinh từ phẩm tính bên trong của nó. Đó là sự biểu hiện trong hành động bên ngoài của một sự tự hiến được tự do chọn lựa, không miễn cưỡng và không dè giữ, cho sự phụng sự cao cả nhất đối với Thượng Đế và con người. Nỗi đau khổ đi kèm với sự tự hiến như thế có tính sáng tạo về mặt đạo đức.” (‘Đức Phật và Đức Christ’, của B. H. Streeter, tr. 215.)
Is it not, perhaps, a fact that the Crucifixion of Christ, with its great preceding events—the communion and the Gethsemane experience—is a tragedy which has its basis in the conflict between love and hate? It is not the intention of this book to belittle the world event which took place upon Calvary. But today as one looks back upon that event, a certain truth begins to emerge, and this is that we have interpreted that sacrifice and that death in purely selfish terms. We are concerned with our individual interest in the matter. We have emphasised the importance of our individual salvation and feel it to be of tremendous importance. But the world view and what Christ was destined to [211] do for humanity down the ages, and the attitude of God towards human beings from the earliest times, through the period of Christ’s life in Palestine and on until the present time, are subordinated to the factor of our belief or non-belief in the efficacy of the Crucifixion upon Calvary to save our individual souls. Yet in His conversation with the repentant thief Christ admitted him into the kingdom of God on the basis of his recognition of divinity. Christ had not yet died, and the blood sacrifice of Christ had not yet been made. It was almost as if Christ had foreseen the turn which theology would give to His death, and endeavoured to offset it by making the recognition of the dying thief one of the outstanding events at His death. He made no reference to the remission of sins through His blood as the reason for that admission.
Có lẽ nào việc Đức Christ chịu Đóng Đinh, cùng với những biến cố trọng đại đi trước—tiệc thánh và kinh nghiệm tại vườn Gethsemane—lại là một bi kịch có nền tảng trong cuộc xung đột giữa tình thương và hận thù chăng? Quyển sách này không có ý hạ thấp biến cố thế giới đã xảy ra trên đồi Calvary. Nhưng ngày nay, khi nhìn lại biến cố ấy, một chân lý nào đó bắt đầu hiện ra, đó là chúng ta đã diễn giải sự hi sinh và cái chết ấy bằng những thuật ngữ hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta quan tâm đến lợi ích cá nhân của mình trong vấn đề này. Chúng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cứu rỗi cá nhân và cảm thấy điều đó có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Nhưng quan điểm thế giới, điều Đức Christ đã được định sẵn để [211] thực hiện cho nhân loại qua các thời đại, và thái độ của Thượng Đế đối với con người từ những thời kỳ sớm nhất, xuyên qua giai đoạn đời sống của Đức Christ tại Palestine và tiếp tục cho đến hiện nay, đều bị đặt thấp hơn yếu tố niềm tin hay sự không tin của chúng ta vào hiệu lực của việc Đóng Đinh trên đồi Calvary để cứu rỗi các linh hồn cá nhân của chúng ta. Thế nhưng, trong cuộc đối thoại với người trộm biết ăn năn, Đức Christ đã thâu nhận y vào Thiên Giới trên cơ sở sự nhận biết thiên tính của y. Đức Christ khi ấy chưa chết, và sự hi sinh bằng máu của Đức Christ khi ấy chưa được thực hiện. Gần như Đức Christ đã thấy trước hướng đi mà thần học sẽ gán cho cái chết của Ngài, và đã cố gắng hóa giải điều đó bằng cách làm cho sự nhận biết của người trộm sắp chết trở thành một trong những biến cố nổi bật khi Ngài chết. Ngài không hề nhắc đến việc xóa tội nhờ máu của Ngài như lý do cho sự thâu nhận ấy.
The real issue was the issue between love and hate. Only St. John, the beloved Apostle, the one closest to Jesus, really understood; and in his Epistles the emphasis is entirely upon love, and the usual orthodox interpretation is nowhere to be found. Just love and hate; the desire to live as children of God and the inclination to live as ordinary human beings: herein lies the distinction between the citizen of the kingdom of God and a member of the human family. It was love which Christ endeavoured to express, but it is hate and separation and war, culminating in the World War, which have characterised the official rendering of His teaching, down the age. Christ died in order to bring to our notice that the way into the kingdom of God was the way of love and of service. He served and loved and wrought miracles, and gathered together the poor and the hungry. He fed them, and sought in every possible way to call attention to the principle of love as the major characteristic of divinity, only to find that this life of loving service brought Him trouble and eventually the death of the Cross.
Vấn đề thực sự là vấn đề giữa tình thương và hận thù. Chỉ Thánh John, vị Tông đồ được yêu mến, người gần gũi nhất với Đức Jesus, mới thật sự thấu hiểu; và trong các Thư của ông, trọng tâm hoàn toàn đặt vào tình thương, còn lối diễn giải chính thống quen thuộc thì không thấy đâu cả. Chỉ là tình thương và hận thù; ước muốn sống như con cái của Thượng Đế và khuynh hướng sống như những con người bình thường: chính trong đó có sự phân biệt giữa công dân của Thiên Giới và một thành viên của gia đình nhân loại. Chính tình thương là điều Đức Christ đã cố gắng biểu lộ, nhưng hận thù, chia rẽ và chiến tranh, đạt đến cao điểm trong Thế Chiến, mới là những gì đã đặc trưng cho sự trình bày chính thức giáo huấn của Ngài qua các thời đại. Đức Christ đã chết để đưa chúng ta nhận thấy rằng con đường vào Thiên Giới là con đường của tình thương và phụng sự. Ngài đã phụng sự, đã thương yêu, đã làm các phép lạ, và đã quy tụ những người nghèo cùng những kẻ đói khát. Ngài đã nuôi họ, và tìm mọi cách có thể để kêu gọi sự chú ý đến nguyên khí tình thương như đặc tính chính yếu của thiên tính, để rồi nhận ra rằng đời sống phụng sự đầy tình thương ấy đã đem đến cho Ngài phiền não và cuối cùng là cái chết trên Thập Giá.
We have fought for the theological doctrine of the Virgin Birth. We have fought over the doctrines whereby men shall be saved. We have fought over the subject of baptism, and [212] over the atonement. We have fought over the fact and the denial of immortality, and what man must do in order to be raised from the dead. We have regarded half the world as lost and only the Christian believer as saved, yet all the time Christ has told us that love is the way into the kingdom, and that the fact of the presence of divinity in each of us makes us eligible for that kingdom. We have omitted to realise that the “vicarious atonement is the harmonising of the disharmony of others by the power of a spiritual presence, which brings about the great transmutation; evil is absorbed and transmuted into good or equilibrised.” (‘Some Mystical Adventures’, by G. R. S. Mead, p. 161.) This constitutes the endeavour of Christ, and the fact of His Presence is the harmonising medium in life. Men are not saved by belief in the formulation of a theological dogma, but by the fact of His living Presence, of the living immediate Christ. It is the realisation of the fact of the presence of God in the human heart which is the basis of the mystical vision, while the knowledge that one is a son of God gives one the strength to follow the Saviour’s footsteps from Bethlehem to Calvary. That which will eventually reorganise our human life is the presence in the world of those who know Christ as their example, and recognise that they possess the same divine life, just as the affirmation of the basic law of the kingdom of God, the Law of Love, will finally save the world. It is the substitution of the life of Christ for the life of the world, the flesh and the devil, which will inject a meaning and a value into life.
Chúng ta đã tranh đấu vì giáo lý thần học về Sự Sinh Ra bởi Đồng Trinh. Chúng ta đã tranh cãi về các giáo lý nhờ đó con người sẽ được cứu rỗi. Chúng ta đã tranh cãi về vấn đề phép rửa, và [212] về sự chuộc tội. Chúng ta đã tranh cãi về sự thật và sự phủ nhận tính bất tử, và về điều con người phải làm để được nâng dậy từ cõi chết. Chúng ta đã xem một nửa thế giới là hư mất và chỉ người tín hữu Cơ Đốc là được cứu, thế nhưng suốt thời gian ấy Đức Christ đã nói với chúng ta rằng tình thương là con đường vào Thiên Giới, và rằng sự kiện về sự hiện diện của thiên tính trong mỗi người chúng ta khiến chúng ta đủ tư cách vào Thiên Giới ấy. Chúng ta đã không nhận ra rằng “sự chuộc tội thay thế là sự điều hòa điều bất hòa của người khác bằng quyền năng của một sự hiện diện tinh thần, vốn đem lại cuộc chuyển hoá lớn lao; điều ác được hấp thu và chuyển hoá thành điều thiện hoặc được quân bình hóa.” (‘Một Vài Cuộc Phiêu Lưu Thần Bí’, của G. R. S. Mead, tr. 161.) Điều này cấu thành nỗ lực của Đức Christ, và sự kiện về Sự Hiện Diện của Ngài là phương tiện điều hòa trong đời sống. Con người không được cứu rỗi nhờ niềm tin vào công thức của một giáo điều thần học, mà nhờ sự kiện về Sự Hiện Diện sống động của Ngài, về Đức Christ sống động đang hiện diện. Chính sự nhận biết sự kiện về sự hiện diện của Thượng Đế trong trái tim con người là nền tảng của linh ảnh thần bí, trong khi sự hiểu biết rằng mình là một người con của Thượng Đế ban cho người ấy sức mạnh để bước theo dấu chân của Đấng Cứu Thế từ Bethlehem đến Calvary. Điều cuối cùng sẽ tái tổ chức đời sống nhân loại của chúng ta là sự hiện diện trong thế giới của những người biết Đức Christ như gương mẫu của mình, và nhận ra rằng họ sở hữu cùng một sự sống thiêng liêng, cũng như sự xác nhận định luật căn bản của Thiên Giới, Định luật Tình Thương, cuối cùng sẽ cứu thế giới. Chính sự thay thế đời sống của Đức Christ cho đời sống của thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ đưa thâm nghĩa và giá trị vào đời sống.
A sense of the failure of love constitutes the outstanding problem in the agony in the Garden; it was this sense of travail with world forces which enabled Christ to join the company of all His brothers. Men had failed Him, just as men fail us. In the moment when He most needed understanding, and all the strength which companionship gives, His nearest and dearest either deserted Him or slept, unaware of His agony of mind. “The Promethean conflict is the [213] strife which takes place in the human mind between the yearning for understanding, and the nearer more immediate pull of those living affections and desires which are conditioned upon the goodwill and the support of fellow beings; desires for the happiness of loved ones; for the alleviation of pain and disappointment in minds that cannot understand the inner dream; and for the warm reassurance of mundane honours. This conflict is the rock upon which the religious mind founders and is split against itself.” (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, pp. 85,86.) Upon this rock Christ did not founder, but He had His moments of intensest agony, finding relief only in the realisation of the Fatherhood of God and its corollary, the brotherhood of man. “Father,” He said. It was this sense of unity with God and His fellowmen which led Him to institute the Last Supper, to originate that communion service, the symbolism of which has been so disastrously lost in theological practice. The keynote of that communion service was fellowship. “It is only thus that Jesus creates fellowship among us. It is not as a symbol that he does it ... in so far as we with one another and with him are of one will, to place the Kingdom of God above all, and to serve in behalf of this faith and hope, so far is there fellowship between him and us and the men of all generations who lived and live in the same thought.” (‘The Mystery of the Kingdom of God’, by Albert Schweitzer, p. 56.)
Một cảm thức về sự thất bại của tình thương cấu thành vấn đề nổi bật trong cơn thống khổ tại Vườn; chính cảm thức đau đớn cùng các mãnh lực thế giới này đã khiến Đức Christ có thể gia nhập đoàn thể của tất cả các huynh đệ Ngài. Con người đã làm Ngài thất vọng, cũng như con người làm chúng ta thất vọng. Trong khoảnh khắc Ngài cần sự thấu hiểu nhất, và cần tất cả sức mạnh mà tình bạn đồng hành đem lại, những người gần gũi và thân yêu nhất với Ngài hoặc đã bỏ rơi Ngài, hoặc đã ngủ, không hay biết cơn thống khổ trong trí Ngài. “Cuộc xung đột Prometheus là [213] cuộc tranh đấu diễn ra trong trí tuệ con người giữa niềm khao khát được thấu hiểu, và lực kéo gần hơn, tức thời hơn của những tình cảm và dục vọng sống động vốn tùy thuộc vào thiện chí và sự hỗ trợ của đồng loại; các dục vọng về hạnh phúc của những người thân yêu; về việc làm vơi nhẹ đau khổ và thất vọng trong những trí tuệ không thể thấu hiểu giấc mơ bên trong; và về sự trấn an ấm áp của các danh dự thế tục. Cuộc xung đột này là tảng đá mà trên đó trí tuệ tôn giáo mắc cạn và tự phân rẽ chống lại chính mình.” (‘Tâm Lý Học và Ý Chí Prometheus’, của W. H. Sheldon, tr. 85, 86.) Trên tảng đá này Đức Christ đã không mắc cạn, nhưng Ngài đã có những khoảnh khắc thống khổ cực độ, chỉ tìm được sự khuây khỏa trong việc nhận biết Tình Phụ Tử của Thượng Đế và hệ quả của nó, tình huynh đệ của con người. “Cha ơi,” Ngài nói. Chính cảm thức hợp nhất này với Thượng Đế và đồng loại đã đưa Ngài đến việc thiết lập Bữa Tiệc Ly, khởi lập nghi thức hiệp thông ấy, mà biểu tượng của nó đã bị đánh mất một cách tai hại trong thực hành thần học. Chủ âm của nghi thức hiệp thông ấy là tình huynh đệ. “Chỉ bằng cách ấy Đức Jesus mới tạo nên tình huynh đệ giữa chúng ta. Không phải như một biểu tượng mà Ngài làm điều đó... chừng nào chúng ta, với nhau và với Ngài, cùng một ý chí, đặt Thiên Giới của Thượng Đế lên trên hết, và phụng sự vì đức tin và niềm hy vọng này, thì chừng ấy có tình huynh đệ giữa Ngài và chúng ta, cùng những con người thuộc mọi thế hệ đã sống và đang sống trong cùng tư tưởng ấy.” (‘Mầu Nhiệm của Thiên Giới’, của Albert Schweitzer, tr. 56.)
4
4
1. “Father, forgive them; for they know not what they do.” (St. Luke, XXIII, 34.)
1. “Cha ơi, xin tha thứ cho họ; vì họ không biết điều họ làm.” (Thánh Luke, XXIII, 34.)
2. “To day thou shalt be with me in paradise.” (St. Luke, XXIII, 43.)
2. “Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng.” (Thánh Luke, XXIII, 43.)
3. “Woman, behold thy son! Then saith He to the disciple, Behold thy mother!” (St. John, XIX, 26.)
3. “Hỡi người nữ, hãy nhìn con của bà! Rồi Ngài nói với người đệ tử: Hãy nhìn mẹ của con!” (Thánh John, XIX, 26.)
4. “My God, my God, why hast thou forsaken me?”(St. Matthew, XXVII, 46.) [214]
4. “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con, vì sao Ngài bỏ rơi con?”(Thánh Matthew, XXVII, 46.) [214]
5. “I thirst.” (St. John, XIX, 28.)
5. “Ta khát.” (Thánh John, XIX, 28.)
6. “It is finished.” (St. John, XIX, 30.)
6. “Mọi sự đã hoàn tất.” (Thánh John, XIX, 30.)
7. “Father, into thy hands I commend my spirit.” (St. Luke, XXIII, 46.)
7. “Cha ơi, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” (Thánh Luke, XXIII, 46.)
The thought of the kingdom coloured all that He said upon the Cross. The Word of Power which emanated from the Cross was spoken by Jesus Christ Himself and not, this time, by the Father. Christ spoke a sevenfold word, and in that word summed up for us the Word that inaugurated the kingdom of God. Each of His utterances had relation to that kingdom, and not the usual small, individual or selfish relation which we have so often ascribed to them. What were those seven words? Let us consider them, realising while doing so that the causes which gave rise to them produced the manifestation of the kingdom of God on earth.
Tư tưởng về Thiên Giới đã nhuộm màu tất cả những gì Ngài nói trên Thập Giá. Quyền năng từ xuất lộ từ Thập Giá đã được chính Đức Jesus Christ nói ra, và lần này không phải bởi Đức Cha. Đức Christ đã nói một linh từ thất phân, và trong linh từ ấy Ngài đã tóm kết cho chúng ta Linh từ đã khai mở Thiên Giới. Mỗi lời thốt ra của Ngài đều liên hệ đến Thiên Giới ấy, chứ không phải mối liên hệ nhỏ bé, cá nhân hay ích kỷ quen thuộc mà chúng ta thường gán cho chúng. Bảy lời ấy là gì? Chúng ta hãy xem xét chúng, đồng thời nhận biết rằng những nguyên nhân đã làm phát sinh chúng đã tạo ra sự biểu hiện của Thiên Giới trên trái đất.
In every case the seven words have been interpreted as having either an individual application in connection with the person to whom they were supposedly spoken, or as having a personal significance to Christ Himself. We have always read the Bible in this manner, with the personal significance in our minds. But these words of Christ are of too great importance to be thus interpreted. They have a meaning far wider than those usually given. The wonder of all He said (as it is the wonder of all the world scriptures) is that the words are capable of various meanings. The time has come when the meaning that Christ gave should be more generally understood by us in the light of the kingdom of God, and with a wider connotation than the individual one. His words were Words of Power, evoking and invoking, potent and dynamic.
Trong mọi trường hợp, bảy lời ấy đã được diễn giải như có một ứng dụng cá nhân liên hệ đến người mà người ta cho rằng chúng được nói với, hoặc như có một thâm nghĩa cá nhân đối với chính Đức Christ. Chúng ta vẫn luôn đọc Kinh Thánh theo cách này, với thâm nghĩa cá nhân trong trí mình. Nhưng những lời này của Đức Christ có tầm quan trọng quá lớn để được diễn giải như thế. Chúng có một ý nghĩa rộng hơn nhiều so với những ý nghĩa thường được gán cho. Điều kỳ diệu trong tất cả những gì Ngài nói, cũng như điều kỳ diệu trong mọi thánh thư của thế giới, là các lời ấy có khả năng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Đã đến lúc ý nghĩa mà Đức Christ đã trao truyền cần được chúng ta thấu hiểu rộng rãi hơn trong ánh sáng của Thiên Giới, và với một hàm ý rộng hơn hàm ý cá nhân. Những lời của Ngài là các Quyền năng từ, vừa gợi lên vừa khẩn cầu, đầy quyền năng và năng động.
One of the first things which emerges in one’s consciousness as one studies the first word from the Cross was the fact that Jesus requested His Father to forgive the people who crucified Him; He evidently, then, did not regard His death upon the Cross as adequate to that need. There was [215] no remission of sins through the shedding of blood; but there was the need to ask God’s pardon for the sin committed. The two facts which come to the fore in this word are the Fatherhood of God, and the fact that ignorance, if productive of wrong-doing, does not make a man guilty and therefore punishable. Sin and ignorance are frequently synonymous terms, but the sin is recognised as such by those who know and who are not ignorant. Where there is ignorance there is no sin. In this word from the Cross Christ tells us two things:
Một trong những điều đầu tiên hiện lên trong tâm thức của người ta khi nghiên cứu lời thứ nhất từ Thập Giá là sự kiện Đức Jesus đã xin Đức Cha tha thứ cho những người đóng đinh Ngài; do đó, hiển nhiên Ngài không xem cái chết của Ngài trên Thập Giá là đủ cho nhu cầu ấy. Không có [215] sự xóa tội nhờ việc đổ máu; nhưng có nhu cầu xin Thượng Đế tha thứ cho tội đã phạm. Hai sự kiện nổi bật trong lời này là Tình Phụ Tử của Thượng Đế, và sự kiện rằng vô minh, nếu sinh ra hành động sai trái, không khiến một người trở nên có tội và do đó đáng bị trừng phạt. Tội lỗi và vô minh thường là những thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng tội lỗi được những người biết và không vô minh nhận ra là tội lỗi. Nơi nào có vô minh, nơi đó không có tội lỗi. Trong lời này từ Thập Giá, Đức Christ nói với chúng ta hai điều:
1. That God is our Father, and that we approach Him through Christ. It is the inner hidden man of the heart, the unrealised Christ who can approach the Father. Christ had earned this right because of His proven divinity and because He had passed through the third initiation, the Transfiguration; when we too are transfigured (for only the transfigured Christ can be crucified) then we too can invoke the Father and call on the spirit, which is God, the life of all forms, to adjust relationships, and to bring about that forgiveness which is the very essence of life itself.
1. Rằng Thượng Đế là Cha của chúng ta, và chúng ta đến với Ngài qua Đức Christ. Chính con người ẩn kín bên trong của trái tim, Đức Christ chưa được nhận biết, mới có thể đến với Đức Cha. Đức Christ đã giành được quyền này nhờ thiên tính đã được chứng minh của Ngài và vì Ngài đã đi qua lần điểm đạo thứ ba, Biến hình; khi chúng ta cũng được biến hình, vì chỉ Đức Christ đã biến hình mới có thể bị đóng đinh, thì chúng ta cũng có thể khẩn cầu Đức Cha và kêu gọi tinh thần, vốn là Thượng Đế, sự sống của mọi hình tướng, điều chỉnh các mối quan hệ, và đem lại sự tha thứ vốn là chính tinh túy của sự sống.
2. That forgiveness is the result of life. This is a hard truth for the Western believer to accept. He is so used to resting back upon the activity of the Christ in the distant past. Forgiveness is, however, a result of living processes which bring adjustment, cause restitution, and produce that attitude wherein a man is no longer ignorant and therefore not in need of forgiveness. Life and experience do this for us, and nothing can arrest the process. It is not a theological belief that puts us right with God, but an attitude to life and an attitude to the Christ dwelling in the human heart. We learn through pain and suffering (that is, through experience) not to sin. We pay the price of our sins and mistakes, and cease to make them. We arrive eventually at the point where we no longer make our earlier errors or commit our former sins. For we suffer and agonise, and learn that sin brings retribution and causes suffering. But suffering [216] has its uses, as Christ knew. In His Person He was not only the historical Jesus Whom we know and love, but He was also the symbol to us of the cosmic Christ, God suffering through the sufferings of His created beings.
2. Rằng sự tha thứ là kết quả của sự sống. Đây là một chân lý khó chấp nhận đối với tín đồ Tây phương. Y quá quen với việc nương tựa vào hoạt động của Đức Christ trong quá khứ xa xôi. Tuy nhiên, sự tha thứ là kết quả của các tiến trình sống đem lại sự điều chỉnh, gây nên sự hoàn nguyên, và tạo ra thái độ trong đó con người không còn vô minh và vì vậy không cần sự tha thứ. Sự sống và kinh nghiệm làm điều này cho chúng ta, và không gì có thể ngăn chặn tiến trình ấy. Không phải một niềm tin thần học khiến chúng ta trở nên đúng đắn với Thượng Đế, mà là một thái độ đối với đời sống và một thái độ đối với Đức Christ ngự trong trái tim con người. Qua đau đớn và khổ đau, tức là qua kinh nghiệm, chúng ta học không phạm tội. Chúng ta trả giá cho tội lỗi và sai lầm của mình, và thôi không phạm chúng nữa. Cuối cùng chúng ta đạt đến điểm mà chúng ta không còn lặp lại những lỗi lầm trước kia hay phạm những tội cũ. Vì chúng ta đau khổ và thống khổ, và học rằng tội lỗi đem lại quả báo và gây đau khổ. Nhưng đau khổ [216] có công dụng của nó, như Đức Christ đã biết. Trong Ngôi vị của Ngài, Ngài không chỉ là Đức Jesus lịch sử mà chúng ta biết và yêu mến, mà còn là biểu tượng cho chúng ta về Đức Christ vũ trụ, Thượng Đế đau khổ qua những đau khổ của các sinh linh do Ngài tạo dựng.
Justice can be forgiveness when the facts of the case are rightly understood, and in this demand of the crucified Saviour we have the recognition of the Law of Justice, and not that of Retribution, in an act at which the whole world stands aghast. This work of forgiveness is the age-long work of the soul in matter or form. The Oriental believer calls this karma. The Western believer talks of the Law of Cause and Effect. Both, however, are dealing with the working out by a man of his soul’s salvation, and the constant paying of the price which the ignorant pay for mistakes made and so-called sins committed. A man who deliberately sins against light and knowledge is rare. Most “sinners” are simply ignorant. “They know not what they do.”
Công lý có thể là sự tha thứ khi các sự kiện của trường hợp được thấu hiểu đúng, và trong lời thỉnh cầu này của Đấng Cứu Thế bị đóng đinh, chúng ta có sự nhận biết Định luật Công Lý, chứ không phải luật Báo Oán, trong một hành động khiến cả thế giới kinh hoàng. Công việc tha thứ này là công việc kéo dài qua các thời đại của linh hồn trong vật chất hay hình tướng. Tín đồ Đông phương gọi điều này là nghiệp quả. Tín đồ Tây phương nói về Định luật Nhân Quả. Tuy nhiên, cả hai đều đề cập đến việc một người thực hiện sự cứu rỗi linh hồn mình, và liên tục trả giá mà kẻ vô minh phải trả cho những sai lầm đã làm và những điều gọi là tội đã phạm. Một người cố ý phạm tội chống lại ánh sáng và tri thức là hiếm có. Phần lớn “người tội lỗi” chỉ đơn giản là vô minh. “Họ không biết điều họ làm.”
Then Christ turned to a sinner, to a man who had been convicted of wrong-doing in the eyes of the world—and who himself recognised the correctness of the judgment and of his punishment. He stated that he received the due reward of his sins, but at the same time there was something in the quality of Jesus which arrested his attention and forced from him the admission that this third Malefactor had “done nothing amiss.” The factor which accorded him admission into paradise was a two-fold one. He recognised the divinity of Christ. “Lord,” he said. And he also had a realisation of what Christ’s mission was—to found a kingdom. “Remember me when Thou comest into Thy kingdom.” The significance of his words is eternal and universal, for the man who recognises divinity, and who at the same time is sensible of the kingdom, is ready to take advantage of the words, “To day, thou shalt be with me in paradise.”
Rồi Đức Christ quay sang một người tội lỗi, một người đã bị kết án làm điều sai trái trong mắt thế gian—và chính y cũng nhận ra sự đúng đắn của bản án và hình phạt dành cho mình. Y tuyên bố rằng y nhận hình phạt xứng đáng cho tội lỗi của mình, nhưng đồng thời có một điều gì đó trong phẩm tính của Đức Jesus đã thu hút sự chú ý của y và buộc y phải thừa nhận rằng Kẻ Làm Ác thứ ba này “không làm điều gì sai trái.” Yếu tố đem lại cho y sự thâu nhận vào thiên đàng gồm hai mặt. Y nhận biết thiên tính của Đức Christ. “Lạy Chúa,” y nói. Và y cũng có một sự nhận biết về sứ mệnh của Đức Christ—thiết lập một Thiên Giới. “Xin nhớ đến con khi Ngài đến trong Thiên Giới của Ngài.” Thâm nghĩa lời của y là vĩnh cửu và phổ quát, vì người nhận biết thiên tính, đồng thời cảm nhận được Thiên Giới, thì sẵn sàng tận dụng các lời: “Hôm nay, ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng.”
In the first word from the Cross, Jesus considered the ignorance and the feebleness of man. He was as helpless as a little child, and in His words He testified to the reality of the first initiation and to the time when He was a “babe in [217] Christ.” The parallels between the two episodes are significant. The ignorance, helplessness and consequent maladjustment of human beings evoked from Jesus the demand that forgiveness be accorded. But when life experience has played its part, we have again the “babe in Christ,” ignorant of the laws of the spiritual kingdom, yet released from the darkness and ignorance of the human kingdom.
Trong lời thứ nhất từ Thập Giá, Đức Jesus đã xét đến sự vô minh và yếu đuối của con người. Y bất lực như một trẻ nhỏ, và trong lời Ngài, Ngài đã làm chứng cho thực tại của lần điểm đạo thứ nhất và cho thời điểm khi Ngài là một “hài nhi trong [217] Đức Christ.” Những tương đồng giữa hai biến cố này thật có ý nghĩa. Sự vô minh, bất lực và sự thiếu điều chỉnh theo sau của con người đã gợi lên nơi Đức Jesus lời thỉnh cầu rằng sự tha thứ phải được ban. Nhưng khi kinh nghiệm đời sống đã đóng vai trò của nó, chúng ta lại có “hài nhi trong Đức Christ,” vô minh về các định luật của giới tinh thần, nhưng đã được giải thoát khỏi bóng tối và vô minh của giới nhân loại.
In the second word from the Cross we have the recognition of the Baptism episode, which signified purity and release through the purification of the waters of life. The waters of John’s Baptism released from the thraldom of the personality life. But the Baptism to which Christ was subjected through the power of His Own life, and to which we are also subjected through the life of Christ within us, was the Baptism of fire and of suffering, which finds its climax of pain upon the Cross. That climax of suffering, for the man who could endure unto the end, was his entrance to “paradise”—a name connoting bliss. Three words are used to express this power to enjoy—happiness, joy and bliss. Happiness has a purely physical connotation, and concerns our physical life and its relationships; joy is of the nature of the soul and reflects itself in happiness. But bliss, which is of the nature of God Himself, is an expression of divinity and of the spirit. Happiness might be regarded as the reward of the new birth, for it has a physical significance, and we are sure that Christ knew happiness, even though He was a “man of sorrows”; joy, being more especially of the soul, reaches its consummation at the Transfiguration. Though Christ was “acquainted with sorrow,” He knew joy in its essence, for the “joy of the Lord is our strength,” and it is the soul, the Christ in every human being, which is strength and joy and love. He knew also bliss, for at the Crucifixion the bliss which is the reward of the soul’s triumph was His.
Trong lời thứ hai từ Thập Giá, chúng ta có sự nhận biết biến cố Phép Rửa, vốn biểu thị sự thanh khiết và giải thoát qua việc thanh lọc bằng nước của sự sống. Nước trong Phép Rửa của John đã giải thoát khỏi sự nô lệ của đời sống phàm ngã. Nhưng Phép Rửa mà Đức Christ phải chịu qua quyền năng của Chính sự sống Ngài, và mà chúng ta cũng phải chịu qua sự sống của Đức Christ bên trong chúng ta, là Phép Rửa bằng lửa và bằng đau khổ, đạt đến cao điểm đau đớn trên Thập Giá. Cao điểm đau khổ ấy, đối với người có thể chịu đựng đến cùng, là lối vào “thiên đàng”—một tên gọi hàm ý chí phúc. Ba từ được dùng để diễn tả quyền năng hưởng thụ này—hạnh phúc, hoan hỉ và chí phúc. Hạnh phúc có hàm ý thuần túy hồng trần, và liên quan đến đời sống hồng trần cùng các mối quan hệ của chúng ta; sự hoan hỉ thuộc bản chất của linh hồn và phản chiếu chính nó trong hạnh phúc. Nhưng chí phúc, vốn thuộc bản chất của Chính Thượng Đế, là một biểu hiện của thiên tính và của tinh thần. Hạnh phúc có thể được xem như phần thưởng của sự sinh ra mới, vì nó có một thâm nghĩa hồng trần, và chúng ta chắc chắn rằng Đức Christ đã biết hạnh phúc, dù Ngài là “người của những nỗi buồn”; sự hoan hỉ, đặc biệt thuộc về linh hồn hơn, đạt đến sự viên mãn của nó trong cuộc Biến hình. Dù Đức Christ “quen thuộc với nỗi buồn,” Ngài đã biết sự hoan hỉ trong tinh túy của nó, vì “sự hoan hỉ của Chúa là sức mạnh của chúng ta,” và chính linh hồn, Đức Christ trong mỗi con người, là sức mạnh, sự hoan hỉ và tình thương. Ngài cũng biết chí phúc, vì trong cuộc Đóng Đinh, chí phúc vốn là phần thưởng cho chiến thắng của linh hồn đã thuộc về Ngài.
Thus in these two Words of Power “Father, forgive them for they know not what they do,” and “To day thou shalt be with me in paradise,” we have the significances of the first two initiations summarised for us.
Như vậy, trong hai Quyền năng từ này, “Cha ơi, xin tha thứ cho họ vì họ không biết điều họ làm,” và “Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng,” chúng ta có những thâm nghĩa của hai lần điểm đạo đầu tiên được tóm kết cho mình.
[218] Now we come to the extraordinary and much debated episode between Christ and His mother, summed up in the words: “Woman, behold thy son,” and followed by the words spoken to the beloved apostle: “Behold thy mother.” What did these words mean? Below Christ stood the two people who meant the most to Him, and from the agony of the Cross He spoke to them a special message, relating them to each other. Our consideration of the previous initiations may make the meaning clear. John typifies the personality which is reaching perfection and whose nature is becoming irradiated by divine love, the major characteristic of the second Person of the divine Triplicity, the soul, the son of God, whose nature is love. As we have seen, Mary represents the third Person of the Trinity, the material aspect of nature which cherishes and nurtures the son and gives birth to him in Bethlehem. In these words Christ, utilising the symbolism of these two persons, relates them to each other, and practically says: Son, recognise who is to give thee birth at Bethlehem, the one who shelters and guards the Christ life. To His mother, He says: Recognise that in the developed personality there is latent the Christ child. Matter, or the virgin Mary, is glorified through her son. Therefore the words of Christ have a definite reference to the third initiation, that of the Transfiguration.
[218] Bây giờ chúng ta đến với biến cố phi thường và được tranh luận nhiều giữa Đức Christ và mẹ Ngài, được tóm kết trong các lời: “Hỡi người nữ, hãy nhìn con của bà,” và tiếp theo là các lời nói với vị tông đồ được yêu mến: “Hãy nhìn mẹ của con.” Những lời này có nghĩa gì? Dưới chân Đức Christ là hai người có ý nghĩa nhiều nhất đối với Ngài, và từ cơn thống khổ của Thập Giá, Ngài nói với họ một thông điệp đặc biệt, liên kết họ với nhau. Việc chúng ta xem xét các lần điểm đạo trước có thể làm sáng tỏ ý nghĩa. John tiêu biểu cho phàm ngã đang đạt đến sự hoàn thiện và bản chất của nó đang được chiếu rạng bởi tình thương thiêng liêng, đặc tính chính yếu của Ngôi thứ hai trong bộ ba thiêng liêng, linh hồn, Con của Thượng Đế, mà bản chất là tình thương. Như chúng ta đã thấy, Mary tượng trưng cho Ngôi thứ ba của Ba Ngôi, phương diện vật chất của thiên nhiên, vốn gìn giữ và nuôi dưỡng người con và sinh ra người con ấy tại Bethlehem. Trong những lời này, Đức Christ, sử dụng biểu tượng của hai nhân vật ấy, liên kết họ với nhau, và thực tế nói rằng: Hỡi con, hãy nhận biết ai sẽ sinh ra con tại Bethlehem, người che chở và gìn giữ sự sống Christ. Với mẹ Ngài, Ngài nói: Hãy nhận biết rằng trong phàm ngã đã phát triển có tiềm tàng hài nhi Christ. Vật chất, hay trinh nữ Mary, được vinh hiển qua con của bà. Vì vậy, các lời của Đức Christ có liên hệ rõ rệt đến lần điểm đạo thứ ba, tức cuộc Biến hình.
Thus in His first three Words from the Cross He refers to the first three initiations, and recalls to our minds the synthesis revealed in Himself and the stages which we must cover if we are to follow in His steps. It is possible also that the thought was in the consciousness of the crucified Saviour that matter itself, being divine, was capable of infinite suffering; and in these words there was wrung from Him the recognition that though God suffers in the Person of His Son, He also suffers with similar acute agony in the person of that Son’s mother, the material form which has given Him birth. Christ stands midway between the two—the mother and the Father. Therein is His problem, and therein is [219] found the problem of every human being. Christ draws the two together—the matter aspect and the spirit aspect, and the union of these two produces the son. This is humanity’s problem and humanity’s opportunity.
Như vậy, trong ba Lời đầu tiên của Ngài từ Thập Giá, Ngài đề cập đến ba lần điểm đạo đầu tiên, và gợi lại trong trí chúng ta sự tổng hợp được mặc khải nơi chính Ngài và các giai đoạn mà chúng ta phải đi qua nếu muốn bước theo dấu chân Ngài. Cũng có thể rằng trong tâm thức của Đấng Cứu Thế bị đóng đinh đã có tư tưởng rằng chính vật chất, vì là thiêng liêng, có khả năng chịu đau khổ vô hạn; và trong những lời này, từ Ngài đã bật ra sự nhận biết rằng dù Thượng Đế đau khổ trong Ngôi vị Con của Ngài, Ngài cũng đau khổ với nỗi thống khổ tương tự trong ngôi vị mẹ của Người Con ấy, hình tướng vật chất đã sinh ra Ngài. Đức Christ đứng ở điểm giữa hai bên—người mẹ và Đức Cha. Chính trong đó có vấn đề của Ngài, và chính trong đó [219] tìm thấy vấn đề của mọi con người. Đức Christ kéo hai bên lại với nhau—phương diện vật chất và phương diện tinh thần, và sự hợp nhất của hai phương diện này sinh ra người con. Đây là vấn đề của nhân loại và cũng là cơ hội của nhân loại.
The fourth Word from the Cross admits us into one of the most intimate moments of Christ’s life—a moment that has a definite relation to the kingdom, just as had the three previous Words. One always hesitates to intrude upon this episode in His life, because it is one of the deepest and most secret and perhaps most sacred phases of His life on earth. We read that there was “darkness on the face of the earth” for three hours. This is a most significant interlude. From the Cross, alone and in the dark, He symbolised all that was embodied in this tragic and agonised Word. The number three is, of course, one of the most important and sacred numbers. It stands for divinity, and also for perfected humanity. Christ, the perfect Man, hung upon the Cross for “three hours,” and in that time each of the three aspects of His nature was carried to the highest point of its capacity for realisation and for consequent suffering. At the end, this triple personality gave vent to the cry, “My God, my God, why hast thou forsaken me?”
Lời thứ tư từ Thập Giá cho phép chúng ta bước vào một trong những khoảnh khắc thân mật nhất trong đời sống của Đức Christ—một khoảnh khắc có liên hệ rõ rệt với Thiên Giới, cũng như ba Lời trước đó. Người ta luôn ngần ngại khi đi vào biến cố này trong đời sống Ngài, vì đó là một trong những giai đoạn sâu xa nhất, kín nhiệm nhất và có lẽ thiêng liêng nhất trong đời sống của Ngài trên trái đất. Chúng ta đọc rằng đã có “bóng tối trên mặt đất” trong ba giờ. Đây là một quãng gián đoạn đầy ý nghĩa. Từ Thập Giá, một mình và trong bóng tối, Ngài biểu tượng hóa tất cả những gì được hàm chứa trong Lời bi thảm và thống khổ này. Dĩ nhiên, số ba là một trong những con số quan trọng và thiêng liêng nhất. Nó tượng trưng cho thiên tính, và cũng cho nhân loại đã hoàn thiện. Đức Christ, Con Người hoàn hảo, treo trên Thập Giá trong “ba giờ,” và trong thời gian ấy, mỗi một trong ba phương diện bản chất của Ngài được đưa đến điểm cao nhất trong khả năng chứng nghiệm và đau khổ hệ quả của nó. Cuối cùng, phàm ngã tam phân này thốt lên tiếng kêu: “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con, vì sao Ngài bỏ rơi con?”
Christ had passed through all the climaxing episodes of adjustment. The Transfiguration experience was only just over. Let us not forget that fact. In that experience God had been near, and the transfigured Christ had seemed in His initiation to link God and man. He had just uttered the Word which had testified to the relation of the body nature, the Mary aspect, and the personality, in the person of St. John—the symbol of a personality carried to a very high state of perfection and realisation. Then for three long hours He wrestled in the dark with the problem of the relation of God and the soul. Spirit and soul had to be fused and blended to one great unity—just as He had already fused and blended the soul and the body, and had testified to that consummation in the Transfiguration. Suddenly He discovered [220] that all the achievement of the past, all that He had done, was but the prelude to another atonement which He had to make as a human being; and there on the Cross, in the full blaze of publicity, He had to renounce that to which He had hitherto held, His soul, and realise for a brief instant that in this renunciation everything was at stake. Even the consciousness that He was the Son of God, the soul incarnate in the flesh (for which He had fought and sacrificed), had to disappear, and He be left bereft of all contacts. All sense of feeling and all possible reactions failed to fill the sensed void. He seemed deserted, not only by humanity, but by God. That upon which He had relied, the divinity of which He had felt assured, was found to be related to feeling. That feeling He must also transcend. All had therefore to be relinquished.
Đức Christ đã đi qua tất cả những biến cố điều chỉnh đạt đến cao điểm. Kinh nghiệm Biến hình chỉ vừa kết thúc. Chúng ta đừng quên sự kiện ấy. Trong kinh nghiệm đó, Thượng Đế đã ở gần, và Đức Christ được biến hình dường như trong cuộc điểm đạo của Ngài đã liên kết Thượng Đế và con người. Ngài vừa thốt ra Linh từ đã làm chứng cho mối quan hệ của bản chất thể xác, phương diện Mary, và phàm ngã, trong ngôi vị Thánh John—biểu tượng của một phàm ngã được đưa đến một trạng thái hoàn thiện và chứng nghiệm rất cao. Rồi trong ba giờ dài, Ngài vật lộn trong bóng tối với vấn đề về mối quan hệ giữa Thượng Đế và linh hồn. Tinh thần và linh hồn phải được dung hợp và hòa quyện thành một hợp nhất vĩ đại—cũng như Ngài đã dung hợp và hòa quyện linh hồn với thân thể, và đã làm chứng cho sự viên mãn ấy trong cuộc Biến hình. Đột nhiên Ngài khám phá [220] rằng mọi thành tựu của quá khứ, tất cả những gì Ngài đã làm, chỉ là khúc dạo đầu cho một sự hợp nhất khác mà Ngài phải thực hiện với tư cách một con người; và tại đó, trên Thập Giá, trong ánh sáng công khai rực rỡ, Ngài phải từ bỏ điều mà cho đến lúc ấy Ngài vẫn nắm giữ, tức linh hồn của Ngài, và nhận biết trong một thoáng ngắn ngủi rằng trong sự từ bỏ này, mọi sự đều bị đặt vào thế nguy. Ngay cả tâm thức rằng Ngài là Con của Thượng Đế, linh hồn nhập thể trong xác thịt, điều mà Ngài đã tranh đấu và hi sinh vì nó, cũng phải biến mất, và Ngài bị bỏ lại, mất hết mọi tiếp xúc. Mọi cảm thức và mọi phản ứng khả hữu đều không thể lấp đầy khoảng trống được cảm nhận. Ngài dường như bị bỏ rơi, không chỉ bởi nhân loại, mà bởi cả Thượng Đế. Điều mà Ngài đã nương tựa, thiên tính mà Ngài đã cảm thấy chắc chắn, được nhận ra là có liên hệ với cảm xúc. Cảm xúc ấy Ngài cũng phải siêu vượt. Vì vậy, tất cả đều phải được buông bỏ.
It was through this experience that Christ blazed the trail to the very heart of God Himself. Only when the soul has learnt to stand alone, assured of divinity, and yet with no outer recognition of that divinity, can the very centre of spiritual life he recognised as stable and eternal. It was in this experience that Christ fitted Himself for the Resurrection initiation, and so proved to Himself, and to us, that God existed, and that the immortality of divinity is an established and unalterable fact. This experience of loneliness, of being bereft of all that protects, all that has hitherto been regarded as essential to one’s very being, is the hallmark of achievement. Disciples are apt to forget this, and one wonders for a brief moment, as one listens to Christ thus veiling His agony, whether He was not again “in all points tempted like as we are,” and whether at this moment He did not descend into the deepest recesses of the valley and feel that utter aloneness which is the reward of those who mount the Cross on Golgotha.
Chính qua kinh nghiệm này mà Đức Christ đã khai mở con đường đến tận trái tim của Chính Thượng Đế. Chỉ khi linh hồn đã học cách đứng một mình, chắc chắn về thiên tính, nhưng không có sự thừa nhận bên ngoài nào về thiên tính ấy, thì chính trung tâm của đời sống tinh thần mới có thể được nhận biết là ổn định và vĩnh cửu. Chính trong kinh nghiệm này mà Đức Christ tự chuẩn bị cho cuộc điểm đạo Phục Sinh, và do đó chứng minh cho chính Ngài, và cho chúng ta, rằng Thượng Đế hiện hữu, và rằng tính bất tử của thiên tính là một sự kiện đã được thiết lập và không thể thay đổi. Kinh nghiệm cô đơn này, kinh nghiệm bị tước mất tất cả những gì che chở, tất cả những gì cho đến nay vẫn được xem là thiết yếu đối với chính hiện tồn của mình, là dấu hiệu của thành tựu. Các đệ tử thường quên điều này, và người ta tự hỏi trong một thoáng ngắn, khi lắng nghe Đức Christ che giấu cơn thống khổ của Ngài như thế, liệu Ngài có phải một lần nữa “bị cám dỗ trong mọi điểm giống như chúng ta,” và liệu trong khoảnh khắc ấy Ngài đã không đi xuống những nơi sâu nhất của thung lũng và cảm thấy sự đơn độc tuyệt đối vốn là phần thưởng của những người leo lên Thập Giá trên Golgotha chăng.
Although each son of God at different stages upon his way of initiation prepares for this final loneliness by phases of utter rejection, when the final crisis comes he must experience [221] moments of loneliness such as he could not previously conceive. He follows in the footsteps of his Master, being crucified before men and deserted both by his fellowmen and by the comforting presence of the divine self upon which he has learnt to rely. Yet because Christ entered thus into the place of outer darkness, and felt entirely deserted of all that had hitherto meant so much to Him, both humanly and from the angle of divinity, He has enabled us to gauge the value of the experience, and has shown us that only through this place of outer darkness, which the mystics have justifiably called “the dark night of the soul,” can we truly enter into the blessed companionship of the kingdom. Many books have been written about this experience, but it is rare—far rarer than the literature of the mystics would have us believe. It will become more frequent, as more and more men pass through the gates of suffering and of death into the kingdom. Christ hung pendent between heaven and earth, and although He was surrounded by crowds, and although at His feet stood those whom He loved, He was utterly alone. It is the loneliness whilst accompanied, the utter sense of being forsaken whilst surrounded by those who seek to understand and help, which constitutes the darkness. The light of the Transfiguration is suddenly obliterated; and because of the intensity of that light, the night appears more dark. But it is in the dark that we know God.
Dù mỗi người con của Thượng Đế, ở các giai đoạn khác nhau trên con đường điểm đạo của mình, chuẩn bị cho sự cô đơn cuối cùng này bằng những giai đoạn bị chối bỏ hoàn toàn, nhưng khi khủng hoảng cuối cùng đến, y phải trải nghiệm [221] những khoảnh khắc cô đơn mà trước đó y không thể hình dung. Y bước theo dấu chân của Chân sư mình, bị đóng đinh trước mắt con người và bị bỏ rơi cả bởi đồng loại lẫn bởi sự hiện diện an ủi của bản ngã thiêng liêng mà y đã học nương tựa. Tuy nhiên, vì Đức Christ đã bước vào nơi bóng tối bên ngoài như thế, và cảm thấy hoàn toàn bị bỏ rơi bởi tất cả những gì cho đến lúc ấy có ý nghĩa rất nhiều đối với Ngài, cả về mặt nhân loại lẫn từ góc độ thiên tính, Ngài đã giúp chúng ta đo lường giá trị của kinh nghiệm ấy, và đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ qua nơi bóng tối bên ngoài này, mà các nhà thần bí đã gọi một cách chính đáng là “đêm tối của linh hồn,” chúng ta mới có thể thật sự bước vào tình bạn đồng hành phúc lành của Thiên Giới. Nhiều sách đã được viết về kinh nghiệm này, nhưng nó hiếm có—hiếm hơn rất nhiều so với điều mà văn chương của các nhà thần bí muốn chúng ta tin. Nó sẽ trở nên thường xuyên hơn, khi ngày càng nhiều người đi qua các cánh cổng của đau khổ và chết chóc để vào Thiên Giới. Đức Christ treo lơ lửng giữa trời và đất, và dù Ngài bị đám đông vây quanh, và dù dưới chân Ngài đứng những người Ngài yêu mến, Ngài vẫn hoàn toàn đơn độc. Chính sự cô đơn trong khi có người bên cạnh, cảm thức hoàn toàn bị bỏ rơi trong khi được vây quanh bởi những người tìm cách thấu hiểu và giúp đỡ, cấu thành bóng tối. Ánh sáng của cuộc Biến hình đột nhiên bị xóa mờ; và vì cường độ của ánh sáng ấy, đêm tối hiện ra càng đen hơn. Nhưng chính trong bóng tối mà chúng ta biết Thượng Đế.
Four Words of Power had now been uttered by the Christ. He had spoken the Word for the plane of everyday life, the Word of forgiveness, and in it He indicated the principle upon which God works in relation to the evil done by men. Where there is ignorance and no defiance or wrong intent, then forgiveness is assured, for sin consists of definite action in the face of the warning voice of conscience. He had spoken the Word which brought peace to the dying thief, and had told him that he was assured, not only of forgiveness, but of peace and happiness. He had spoken the Word which brought together the two aspects which were being symbolically crucified [222] upon the Cross—matter and soul, the matter of the form and the perfected lower nature. These are the three Words of the physical, the emotional, and the mental planes, whereon man habitually lives. The sacrifice of the entire lower nature had been completed, and there was silence and darkness for three hours. Then was uttered that stupendous Word which indicated that Christ had reached the stage of the final sacrifice, and that even the consciousness of divinity, the consciousness of the soul itself, with its strength and power, its light and understanding, had also to be laid upon the altar. He had to undergo the experience of an utter renunciation of all that had constituted His very being. This brought the cry of protest and of questioning: “My God, my God! Why hast Thou forsaken me?”
Bốn Quyền năng từ bấy giờ đã được Đức Christ thốt ra. Ngài đã nói Linh từ dành cho cõi đời sống hằng ngày, Linh từ của sự tha thứ, và trong đó Ngài chỉ ra nguyên tắc mà Thượng Đế dùng để hành động trong tương quan với điều ác do con người gây ra. Nơi nào có vô minh và không có sự thách thức hay ý định sai trái, nơi đó sự tha thứ được bảo đảm, vì tội lỗi là hành động rõ rệt trước tiếng nói cảnh báo của lương tâm. Ngài đã nói Linh từ đem lại bình an cho người trộm sắp chết, và đã bảo y rằng y được bảo đảm không chỉ về sự tha thứ, mà cả bình an và hạnh phúc. Ngài đã nói Linh từ đem hai phương diện đang được biểu tượng hóa là bị đóng đinh [222] trên Thập Giá lại với nhau—vật chất và linh hồn, vật chất của hình tướng và bản chất thấp đã hoàn thiện. Đây là ba Linh từ của các cõi hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, nơi con người thường sống. Sự hi sinh toàn bộ bản chất thấp đã hoàn tất, và có sự im lặng cùng bóng tối trong ba giờ. Rồi Lời phi thường ấy được thốt ra, chỉ ra rằng Đức Christ đã đạt đến giai đoạn hi sinh cuối cùng, và rằng ngay cả tâm thức về thiên tính, tâm thức của chính linh hồn, với sức mạnh và quyền năng của nó, ánh sáng và sự thấu hiểu của nó, cũng phải được đặt lên bàn thờ. Ngài phải trải qua kinh nghiệm từ bỏ hoàn toàn tất cả những gì đã cấu thành chính hiện tồn của Ngài. Điều này đem đến tiếng kêu phản kháng và chất vấn: “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con! Vì sao Ngài bỏ rơi con?”
Then followed three Words of a different quality altogether. In the words, “I thirst,” He expressed the motivating power of every Saviour. This was misinterpreted by the onlookers, who have given it most naturally a physical connotation; but it surely had a deeper meaning, and must have reference to that divine thirst which sweeps through the consciousness of every son of God who has achieved divinity, and which indicates his willingness to undertake the task of Saviour. It is characteristic of all who have attained that they cannot rest satisfied with their achievement which brought them liberation and freedom, but immediately reorient themselves to the world of men and stay with humanity, working for the salvation of human beings until all the sons of God shall have found their way back to the Father’s home. This thirst for the souls of men forced Christ to open the door into the kingdom, and to hold it open Himself, so that it might be His hand and His aid which should lift us over the threshold. This is the redemption, and in this redemption we all share, not from the selfish angle of our individual salvation, but from the consciousness that, as we redeem are we redeemed, as we save are we ourselves salvaged, and that as we help others to achieve, we too are [223] admitted as citizens into the kingdom. But this is the way of Crucifixion. Only when we can utter the five Words of Power do we really understand the meaning of God and His love. The way of the Saviour becomes then our way. God’s life and purpose stand revealed.
Rồi tiếp theo là ba Lời có phẩm tính hoàn toàn khác. Trong các lời “Ta khát,” Ngài biểu lộ quyền năng thúc đẩy của mọi Đấng Cứu Thế. Những người đứng xem đã hiểu sai điều này, và rất tự nhiên gán cho nó một hàm ý hồng trần; nhưng chắc chắn nó có một ý nghĩa sâu xa hơn, và phải liên hệ đến cơn khát thiêng liêng tràn qua tâm thức của mỗi người con của Thượng Đế đã đạt đến thiên tính, và chỉ ra sự sẵn lòng của y trong việc đảm nhận nhiệm vụ Đấng Cứu Thế. Đặc tính của tất cả những ai đã thành tựu là họ không thể nghỉ ngơi thỏa mãn với thành tựu đã đem lại cho họ sự giải thoát và tự do, mà ngay lập tức tự tái định hướng về thế giới con người và ở lại với nhân loại, làm việc cho sự cứu rỗi con người cho đến khi tất cả những người con của Thượng Đế tìm được đường trở về nhà Cha. Cơn khát đối với linh hồn con người này đã buộc Đức Christ mở cánh cửa vào Thiên Giới, và chính Ngài giữ cánh cửa ấy mở, để chính bàn tay và sự trợ giúp của Ngài có thể nâng chúng ta qua ngưỡng cửa. Đây là sự cứu chuộc, và trong sự cứu chuộc này tất cả chúng ta đều dự phần, không từ góc độ ích kỷ của sự cứu rỗi cá nhân, mà từ tâm thức rằng khi chúng ta cứu chuộc thì chúng ta được cứu chuộc, khi chúng ta cứu thì chính chúng ta được cứu, và khi chúng ta giúp người khác thành tựu, chúng ta cũng [223] được thâu nhận làm công dân trong Thiên Giới. Nhưng đây là con đường của sự Đóng Đinh. Chỉ khi chúng ta có thể thốt ra năm Quyền năng từ, chúng ta mới thật sự thấu hiểu ý nghĩa của Thượng Đế và tình thương của Ngài. Khi ấy, con đường của Đấng Cứu Thế trở thành con đường của chúng ta. Sự sống và mục đích của Thượng Đế được mặc khải.
It is this thirst which we share with the Saviour, and the world need (of which our own is a part, though relatively incidental) that unite us with Him. It is the “fellowship of His sufferings” to which He calls us, and the demand which we hear as He hears it. This aspect of the Cross and its lesson has been summed up in the following words, which warrant our careful consideration, and our consequent consecration to the service of the Cross, which is the service of humanity.
Chính cơn khát này mà chúng ta chia sẻ với Đấng Cứu Thế, và nhu cầu của thế giới, trong đó nhu cầu của riêng chúng ta là một phần dù chỉ là phần tương đối thứ yếu, hợp nhất chúng ta với Ngài. Chính “sự thông công trong các đau khổ của Ngài” là điều Ngài kêu gọi chúng ta bước vào, và là lời thỉnh cầu mà chúng ta nghe như Ngài đã nghe. Phương diện này của Thập Giá và bài học của nó đã được tóm kết trong những lời sau đây, đáng để chúng ta suy xét cẩn thận, và theo đó thánh hiến mình cho sự phụng sự của Thập Giá, tức sự phụng sự nhân loại.
“When I ... turned from that world-appealing sight, Christ crucified for us, to look upon life’s most perplexed and sorrowful contradictions, I was not met as in intercourse with my fellow-men by the cold platitudes that fall so lightly from the lips of those whose hearts have never known one real pang, nor whose lives one crushing blow. I was not told that all things were ordered for the best, nor assured that the overwhelming disparities of life were but apparent, but I was met from the eyes and brow of Him who was indeed acquainted with grief, by a look of solemn recognition, such as may pass between friends who have endured between them some strange and secret sorrow, and are through it united in a bond that cannot be broken.”
“Khi tôi... quay khỏi cảnh tượng kêu gọi cả thế giới ấy, Đức Christ bị đóng đinh vì chúng ta, để nhìn vào những mâu thuẫn rối ren và đau buồn nhất của đời sống, tôi không gặp phải, như trong giao tiếp với đồng loại, những lời sáo rỗng lạnh lùng tuôn ra quá dễ dàng từ môi những kẻ mà trái tim chưa từng biết một nỗi đau thật sự, cũng như đời sống chưa từng chịu một đòn nghiền nát. Tôi không được bảo rằng mọi sự đều được an bài cho điều tốt nhất, cũng không được bảo đảm rằng những bất bình đẳng áp đảo của đời sống chỉ là bề ngoài, nhưng từ đôi mắt và vầng trán của Đấng thật sự quen thuộc với khổ đau, tôi gặp một cái nhìn nhận biết trang nghiêm, như cái nhìn có thể trao đổi giữa những người bạn đã cùng nhau chịu đựng một nỗi buồn kỳ lạ và kín nhiệm nào đó, và nhờ đó được hợp nhất trong một mối dây không thể bị phá vỡ.”
‘COLLOQUIA CRUCIS’, BY DORA GREENWELL, P. 14 F.
‘COLLOQUIA CRUCIS’, CỦA DORA GREENWELL, TR. 14 F.
Then there burst upon Christ’s consciousness the wonder of accomplishment. He had succeeded, so that, with full realisation of the significance of the statement, He could say, “It is finished.” He had done what He came into incarnation to do. The gate into the kingdom stood open. The boundary between the world and the kingdom was clearly defined. He had given us an example of service unparalleled in history. He had shown us the way that we should go. He had demonstrated to us the nature of perfection. There was [224] no more that He could then do, and so we hear the triumphant cry, “It is finished.”
Rồi điều kỳ diệu của sự hoàn thành bừng lên trong tâm thức của Đức Christ. Ngài đã thành công, đến nỗi, với sự nhận biết đầy đủ về thâm nghĩa của lời tuyên bố, Ngài có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất.” Ngài đã làm điều Ngài đến lâm phàm để làm. Cánh cổng vào Thiên Giới đã mở. Ranh giới giữa thế giới và Thiên Giới đã được xác định rõ ràng. Ngài đã cho chúng ta một gương phụng sự không gì sánh được trong lịch sử. Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường chúng ta phải đi. Ngài đã chứng minh cho chúng ta bản chất của sự hoàn thiện. Khi ấy không còn điều gì [224] Ngài có thể làm thêm, và vì vậy chúng ta nghe tiếng kêu chiến thắng: “Mọi sự đã hoàn tất.”
Only one more Word of Power came forth from the darkness which shrouded the dying Christ. The moment of His death was prefaced by the words, “Father, into Thy hands I commend my spirit.” His first word and His last begin with the appeal: “Father”—for ever we are the children of God, and “If children, then heirs; heirs of God, and joint heirs with Christ; if so be that we suffer with Him, that we may be also glorified together;” (Romans, VIII, 17.) joint heirs of glory, but also joint heirs in the suffering which must be ours if the world is to be saved and humanity as a whole is to pass into the kingdom. The kingdom is in existence. Through the work of Christ and His living Presence in all of us there exists today, subjective as yet, but awaiting immediate tangible expression...
Chỉ còn một Quyền năng từ nữa phát ra từ bóng tối bao phủ Đức Christ đang hấp hối. Khoảnh khắc chết của Ngài được mở đầu bằng các lời: “Cha ơi, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” Lời đầu tiên và lời cuối cùng của Ngài bắt đầu bằng lời khẩn cầu: “Cha ơi”—vì mãi mãi chúng ta là con cái của Thượng Đế, và “Nếu là con cái, thì cũng là người thừa kế; người thừa kế của Thượng Đế, và đồng thừa kế với Đức Christ; nếu quả thật chúng ta cùng chịu khổ với Ngài, để cũng được cùng vinh hiển với Ngài;” (Romans, VIII, 17.) đồng thừa kế vinh quang, nhưng cũng đồng thừa kế trong nỗi đau khổ vốn phải là của chúng ta nếu thế giới phải được cứu và nhân loại như một toàn thể phải đi vào Thiên Giới. Thiên Giới hiện hữu. Qua công việc của Đức Christ và Sự Hiện Diện sống động của Ngài trong tất cả chúng ta, ngày nay có tồn tại, tuy còn chủ quan, nhưng đang chờ sự biểu hiện hữu hình tức thời...
“One body, and one Spirit, even as ye are called in one hope of your calling; One Lord, one faith, one baptism, One God and Father of all, who is above all, and through all, and in you all.”
“Một thân thể, và một Tinh thần, cũng như các ngươi được kêu gọi trong một niềm hy vọng duy nhất của sự kêu gọi mình; Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, Một Thượng Đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả, và trong tất cả các ngươi.”
EPHESIANS, IV, 4, 5, 6.
EPHESIANS, IV, 4, 5, 6.
Furthermore, in words later used by Christ, the psalmist says, “Into thine hand I commit my spirit, for thou hast redeemed me.” (Psalm XXXI, 5.) The implication here is clear. It is the spirit of life in Christ and in us which makes us sons of God, and it is that sonship (with its quality of divinity) which is the guarantee of our final accomplishment and entrance into the kingdom of spirit. The sign given is expressed in the words: “Behold, the veil of the temple was rent in twain from the top to the bottom.” (St. Matthew, XXVII, 51.) Access to God was established, and the inner spiritual forces could pass out without hindrance into manifestation. This was an act of God, a stupendous recognition by the Father of what His [225] Son had done. Spirit and matter were now one. All separating barriers were abolished, and man and God could meet and hold intercourse.
Hơn nữa, trong những lời về sau được Đức Christ sử dụng, tác giả thánh vịnh nói: “Con phó thác tinh thần con trong tay Ngài, vì Ngài đã cứu chuộc con.” (Psalm XXXI, 5.) Hàm ý ở đây rõ ràng. Chính tinh thần của sự sống trong Đức Christ và trong chúng ta khiến chúng ta trở thành con cái của Thượng Đế, và chính tư cách làm con ấy, cùng với phẩm tính thiên tính của nó, là bảo chứng cho sự hoàn thành cuối cùng của chúng ta và lối vào giới tinh thần. Dấu hiệu được ban được diễn tả trong các lời: “Kìa, bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới.” (Thánh Matthew, XXVII, 51.) Lối đến với Thượng Đế đã được thiết lập, và các mãnh lực tinh thần bên trong có thể tuôn ra không bị cản trở vào sự biểu hiện. Đây là một hành động của Thượng Đế, một sự nhận biết phi thường của Đức Cha về điều Con của Ngài [225] đã làm. Tinh thần và vật chất bấy giờ là một. Mọi hàng rào chia cách đều bị xóa bỏ, và con người cùng Thượng Đế có thể gặp gỡ và giao tiếp.
In an ancient scripture of India we read these words, spoken thousands of years ago, yet capable of being applied in a most significant manner to this act of Christ, which linked Him up not only with ourselves and all past believers prior to His advent, but with the Cosmic Christ, so unmistakably speaking here:
Trong một thánh thư cổ của Ấn Độ, chúng ta đọc những lời này, được nói ra hàng ngàn năm trước, nhưng vẫn có thể áp dụng theo một cách đầy thâm nghĩa cho hành động này của Đức Christ, vốn liên kết Ngài không chỉ với chúng ta và tất cả những tín đồ quá khứ trước khi Ngài giáng lâm, mà còn với Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đang nói ở đây một cách không thể nhầm lẫn:
“Brahma, the self-effulgent meditated. He considered ... Come, let me sacrifice myself in living things and all living things in Myself ... He thus acquired greatness, self-effulgence, lordship and mastery.”
“Brahma, Đấng tự chói sáng, đã tham thiền. Ngài suy xét... Nào, hãy để Ta hiến tế chính mình trong các sinh linh, và mọi sinh linh trong Chính Ta... Nhờ vậy Ngài đạt được sự vĩ đại, sự tự chói sáng, quyền chủ tể và quyền năng làm chủ.”
In concluding this chapter upon the Crucifixion, let us consider what really was the purpose of Christ’s sacrifice. Why did He die? We are told why most clearly in St. John’s Gospel, and yet very little emphasis has been laid upon the statement. Only today are we beginning to understand the meaning of what He did. Only today is the wonder of His sacrifice beginning to dawn upon the minds of those whose intuition is awakened. He came primarily to do two things, upon both of which we have already touched: first of all, He came to found, or to materialise upon the earth, the kingdom of God; secondly, to show us what the love of God signified and how it expressed itself in service and in the eternal sacrifice of divinity upon the cross of matter. Christ stood as a symbol and also as an example. He revealed to us God’s Mind, and showed us the pattern upon which we should mould our lives.
Khi kết thúc chương này về Cuộc Đóng Đinh, chúng ta hãy xem xét đâu thật sự là mục đích sự hi sinh của Đức Christ. Tại sao Ngài chết? Chúng ta được cho biết lý do một cách rõ ràng nhất trong Phúc Âm Thánh John, nhưng lời tuyên bố ấy lại được nhấn mạnh rất ít. Chỉ ngày nay chúng ta mới bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của điều Ngài đã làm. Chỉ ngày nay điều kỳ diệu trong sự hi sinh của Ngài mới bắt đầu ló rạng trong trí tuệ của những người có trực giác được đánh thức. Ngài đến chủ yếu để làm hai việc, mà chúng ta đã đề cập đến cả hai: trước hết, Ngài đến để thiết lập, hay hiện hình trên Trái Đất, Thiên Giới; thứ hai, để chỉ cho chúng ta thấy tình thương của Thượng đế hàm ý điều gì và nó biểu lộ ra sao trong phụng sự và trong sự hi sinh vĩnh cửu của thiên tính trên thập giá của vật chất. Đức Christ đứng như một biểu tượng và cũng như một gương mẫu. Ngài mặc khải cho chúng ta Trí của Thượng đế, và chỉ cho chúng ta mô hình theo đó chúng ta nên khuôn đúc đời sống mình.
The kingdom and the service! These are the keynotes which today have in them that rallying power which the believers of the world demand. Christ shared with us, as a human being, the path of world experience. He mounted the Cross and showed us in His sacrifice and example what we had to do. He shared with us the way of life, because there was nothing else for Him to do, as He was a human [226] being. But He threw upon this life experience the radiant light of divinity itself, telling us also to “let our light shine.” (St. Matthew, V, 16.) He proclaimed Himself Man, and then told us that we were the children of God. He was with us then, and He is with us now, for He is in us all the time, although very often unrecognised and unapproached.
Thiên Giới và sự phụng sự! Đây là những chủ âm ngày nay mang trong chúng quyền năng quy tụ mà các tín đồ của thế giới đòi hỏi. Đức Christ đã chia sẻ với chúng ta, như một con người, con đường kinh nghiệm thế gian. Ngài bước lên Thập giá và chỉ cho chúng ta, trong sự hi sinh và gương mẫu của Ngài, điều chúng ta phải làm. Ngài chia sẻ với chúng ta con đường sự sống, vì không có điều gì khác để Ngài làm, bởi Ngài là một con người [226]. Nhưng Ngài đã chiếu lên kinh nghiệm sống này ánh sáng rạng ngời của chính thiên tính, đồng thời bảo chúng ta “hãy để ánh sáng của mình chiếu sáng.” (Thánh Matthew, V, 16.) Ngài tuyên bố Chính Mình là Con Người, rồi bảo chúng ta rằng chúng ta là con cái của Thượng đế. Khi ấy Ngài ở cùng chúng ta, và nay Ngài vẫn ở cùng chúng ta, vì Ngài ở trong tất cả chúng ta mọi lúc, dù rất thường khi không được nhận biết và không được tìm đến.
The outstanding lesson with which we are confronted is the fact that “... human nature as we know it can neither attain happiness without suffering, nor perfection without the sacrifice of itself.” (‘Mirage and Truth, by M. B. D’Arcy, S.J., p. 179.) For us the kingdom constitutes the vision, but for Christ it was a reality. The service of the kingdom is our duty and also our method of release from the thraldom of human experience. We must grasp this; we must realise that we shall find release only in the service of the kingdom. We have been held too long by the dogmas of the past, and there is today a natural revolt against the idea of individual salvation through the blood sacrifice of Christ. This latter is the outer and more obvious teaching—but it is the inner meaning which really concerns us, and this we can sense only when we ourselves come face to face with that which dwells within. As the outer forms lose their power it frequently happens that the true significance emerges. This we have each to prove for himself. Frequently fear prevents us from being truthful and from facing facts. It is essential that today we face the problem of the relation of Christ to the modern world, and dare to see the truth, without any theological bias. Our personal experience of Christ will not suffer in this process. No modern view and no theology can take Christ away from the soul which has once known Him. That is outside the range of possibility. But it is quite possible that we may find the ordinary orthodox theological interpretation at fault. It is quite possible that Christ is far more inclusive than we have been led to believe, and that the heart of God the Father is far kinder [227] than those who have sought to interpret it. We have preached a God of love and have spread a doctrine of hate. We have taught that Christ died to save the world and have endeavoured to show that only believers could be saved— though millions live and die without ever hearing of Christ. We live in a world of chaos, endeavouring to build a kingdom of God divorced from current daily life and the general economic situation, and at the same time postulate a distant heaven which we may some day attain. But Christ founded a kingdom on earth, wherein all God’s children would have equal opportunity of expressing themselves as sons of the Father. This, many Christians find impossible to accept, and some of the best minds of the age have repudiated the idea.
Bài học nổi bật mà chúng ta đối diện là sự kiện rằng “... bản chất con người như chúng ta biết không thể đạt hạnh phúc nếu không có đau khổ, cũng không thể đạt sự hoàn thiện nếu không hi sinh chính mình.” (‘Ảo Ảnh và Chân Lý’, của M. B. D’Arcy, S.J., tr. 179.) Đối với chúng ta, Thiên Giới cấu thành linh ảnh, nhưng đối với Đức Christ, đó là một thực tại. Phụng sự Thiên Giới là bổn phận của chúng ta và cũng là phương pháp giải thoát chúng ta khỏi sự nô lệ của kinh nghiệm nhân loại. Chúng ta phải nắm vững điều này; chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta sẽ chỉ tìm thấy giải thoát trong phụng sự Thiên Giới. Chúng ta đã bị các giáo điều của quá khứ kìm giữ quá lâu, và ngày nay có một sự phản kháng tự nhiên đối với ý tưởng cứu rỗi cá nhân qua sự hi sinh bằng máu của Đức Christ. Điều sau này là giáo huấn bên ngoài và hiển nhiên hơn—nhưng chính ý nghĩa bên trong mới thật sự liên quan đến chúng ta, và điều này chúng ta chỉ có thể cảm nhận khi chính chúng ta đối diện với điều cư ngụ bên trong. Khi các hình tướng bên ngoài mất quyền năng, thường xảy ra việc thâm nghĩa chân thật xuất hiện. Mỗi chúng ta phải tự chứng minh điều này cho mình. Thường khi, nỗi sợ ngăn chúng ta trung thực và đối diện với sự kiện. Ngày nay, điều thiết yếu là chúng ta phải đối diện vấn đề mối liên hệ của Đức Christ với thế giới hiện đại, và dám thấy chân lý, không thiên kiến thần học. Kinh nghiệm cá nhân của chúng ta về Đức Christ sẽ không bị tổn hại trong tiến trình này. Không quan điểm hiện đại nào và không nền thần học nào có thể lấy Đức Christ khỏi linh hồn đã từng biết Ngài. Điều đó nằm ngoài phạm vi khả thể. Nhưng rất có thể chúng ta sẽ thấy lối diễn giải thần học chính thống thông thường là sai lầm. Rất có thể Đức Christ bao gồm hơn nhiều so với điều người ta đã dẫn chúng ta tin, và trái tim của Thượng đế Cha nhân từ hơn [227] nhiều so với những người đã tìm cách diễn giải nó. Chúng ta đã rao giảng một Thượng đế của tình thương và đã truyền bá một giáo lý của hận thù. Chúng ta đã dạy rằng Đức Christ chết để cứu thế giới và đã cố gắng chứng minh rằng chỉ các tín đồ mới có thể được cứu—dù hàng triệu người sống và chết mà chưa bao giờ nghe nói đến Đức Christ. Chúng ta sống trong một thế giới hỗn loạn, cố gắng xây dựng một Thiên Giới tách rời khỏi đời sống hằng ngày hiện tại và tình hình kinh tế chung, đồng thời giả định một thiên đường xa xôi mà một ngày nào đó chúng ta có thể đạt tới. Nhưng Đức Christ đã thiết lập một Thiên Giới trên Trái Đất, trong đó mọi con cái của Thượng đế đều có cơ hội bình đẳng để biểu lộ chính mình như các con của Cha. Điều này, nhiều tín đồ Cơ Đốc giáo thấy không thể chấp nhận, và một số trí tuệ ưu tú nhất của thời đại đã bác bỏ ý tưởng ấy.
Individual salvation is surely selfish in its interest and its origin. We must serve in order to be saved, and only can we serve intelligently if we believe in the divinity of all men and also in Christ’s outstanding service to the race. The kingdom is a kingdom of servers, for every saved soul must without compromise join the ranks of those who ceaselessly serve their fellowmen. Dr. Schweitzer, whose vision of the kingdom of God is so rare and real, points out this truth and its gradations of recognition in the following words:
Sự cứu rỗi cá nhân chắc chắn là ích kỷ trong mối quan tâm và trong nguồn gốc của nó. Chúng ta phải phụng sự để được cứu, và chúng ta chỉ có thể phụng sự một cách sáng suốt nếu chúng ta tin vào thiên tính của mọi người và cũng tin vào sự phụng sự nổi bật của Đức Christ đối với nhân loại. Thiên Giới là một giới của những người phụng sự, vì mỗi linh hồn được cứu phải không thỏa hiệp mà gia nhập hàng ngũ những người không ngừng phụng sự đồng loại mình. Tiến sĩ Schweitzer, người có tầm nhìn về Thiên Giới hiếm có và chân thật đến thế, chỉ ra chân lý này và các cấp độ nhận biết của nó trong những lời sau:
“The descending stages of service correspond to the ascending stages of rule.
“Các giai đoạn đi xuống của phụng sự tương ứng với các giai đoạn đi lên của sự cai quản.
1. Whosoever would become great among you, shall be your servant. (Mark X.43.)
1. Ai muốn trở nên lớn lao giữa các bạn, sẽ là người phụng sự của các bạn. (Mark X.43.)
2. Whosoever of you would be first, shall be bondservant of all (others). (Mark X.44.)
2. Ai trong các bạn muốn đứng đầu, sẽ là tôi tớ của tất cả những người khác. (Mark X.44.)
3. Therefore the Son of Man expected the post of highest rule because he was not come to be served but to serve, in giving his life as ransom for many. (Mark X.45.)
3. Vì vậy Con Người đã mong đợi địa vị cai quản cao nhất, bởi Ngài đến không phải để được phụng sự mà để phụng sự, bằng cách hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mark X.45.)
“The climax is a double one. The service of the Disciples extended only to their circle: the service of Jesus to an unlimited number, namely, to all such as were to benefit by his suffering and death. In the case of the Disciples it was merely a question of [228] unselfish subjection: in the case of Jesus it meant the bitter suffering of death. Both count as serving, inasmuch as they establish a claim to a position of rule in the Kingdom.”
“Đỉnh điểm là một đỉnh kép. Sự phụng sự của các Đệ tử chỉ mở rộng đến vòng của họ; sự phụng sự của Đức Jesus mở rộng đến một số lượng không giới hạn, tức là đến tất cả những ai sẽ được lợi ích nhờ đau khổ và cái chết của Ngài. Trong trường hợp các Đệ tử, đó chỉ là vấn đề [228] quy phục vô kỷ; trong trường hợp Đức Jesus, điều đó có nghĩa là nỗi đau cay đắng của cái chết. Cả hai đều được kể là phụng sự, vì chúng thiết lập một quyền đòi hỏi một vị trí cai quản trong Thiên Giới.”
THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. 75.
BÍ NHIỆM CỦA THIÊN GIỚI’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 75.
Love is the beginning, and love the end, and in love we serve and work. The long journey ends thus, in the glory of the renunciation of personal desire, and in the dedication to living service.
Tình thương là khởi đầu, và tình thương là kết thúc, và trong tình thương chúng ta phụng sự và hoạt động. Như vậy, cuộc hành trình dài kết thúc trong vinh quang của sự từ bỏ dục vọng cá nhân và trong sự hiến dâng cho phụng sự sống động.
CHAPTER SIX - The Fifth Initiation . . . The Resurrection and Ascension – CHƯƠNG SÁU - Lần điểm đạo thứ năm . . . Sự Phục Sinh và Thăng Thiên
KEY THOUGHT
TƯ TƯỞNG THEN CHỐT
“Apart from Christ we know neither what our life nor our death is; we do not know what God is nor what we ourselves are.”
“Ngoài Đức Christ, chúng ta không biết đời sống hay cái chết của mình là gì; chúng ta không biết Thượng đế là gì, cũng không biết chính chúng ta là gì.”
PASCAL: PENSÉES
PASCAL: TƯ TƯỞNG
“There is a Soul above the soul of each,
“Có một Linh Hồn ở trên linh hồn của mỗi người,
A mightier soul which yet to each belongs!
Một linh hồn hùng mạnh hơn mà vẫn thuộc về từng người!
There is a sound made of all human speech,
Có một âm thanh làm nên từ mọi lời nói của nhân loại,
And numerous as the concourse of all songs:
Và đông đảo như hội tụ của mọi bài ca:
And in that Soul lives each, in each that Soul,
Và trong Linh Hồn ấy mỗi linh hồn sống, trong mỗi linh hồn có Linh Hồn ấy,
Tho’ all the ages are its lifetime vast;
Dù mọi thời đại là đời sống bao la của nó;
Each soul that dies in its most sacred whole
Mỗi linh hồn chết đi trong toàn thể thiêng liêng nhất của mình
Receiveth life that shall for ever last.”
Đều nhận được sự sống sẽ trường tồn mãi mãi.”
RICHARD WATSON DIXON
RICHARD WATSON DIXON