← From Bethlehem to Calvary – Alice A. Bailey song ngữ_fixed

chapter 001 08

Trích nội dung chương

“The number of pagan deities (mostly virgin-born and done to death in some way or other in their efforts to save mankind) is so great as to be difficult to keep account of. The god Krishna in India, the god Indra in Nepal and Tibet spilt their blood for the salvation of men; Buddha said, according to Max Müller, ‘Let all the sins that were in the world fall on me, that the world may be delivered;’ the Chinese Tien the Holy One—‘one with God and existing with him from all eternity’—died to save the world; The Egyptian Osiris was called Saviour, so was Horus; so was the Persian Mithra; so was the Greek Hercules who overcame Death though his…


“The number of pagan deities (mostly virgin-born and done to death in some way or other in their efforts to save mankind) is so great as to be difficult to keep account of. The god Krishna in India, the god Indra in Nepal and Tibet spilt their blood for the salvation of men; Buddha said, according to Max Müller, ‘Let all the sins that were in the world fall on me, that the world may be delivered;’ the Chinese Tien the Holy One—‘one with God and existing with him from all eternity’—died to save the world; The Egyptian Osiris was called Saviour, so was Horus; so was the Persian Mithra; so was the Greek Hercules who overcame Death though his body was consumed in the burning garment of mortality, out of which he rose into heaven. So also was the Phrygian Attis called Saviour, and the Syrian Tammuz or Adonis likewise—both of whom, as we have seen, were nailed or tied to a tree, and afterwards rose again from their biers or coffins. Prometheus, the greatest and earliest benefactor of the human race, was nailed by the hands and the feet, and with arms extended, to the rocks of Mount Caucasus. Bacchus or Dionysus, born of the virgin Semele to be the Liberator of mankind (Dionysus Eleutherios as he was called) was torn to pieces, not unlike Osiris. Even in far Mexico [179] Quetzalcoatl, the Saviour, was born of a virgin, was tempted, and fasted forty days, was done to death, and his second coming looked for so eagerly that (as is well known) when Cortes appeared, the Mexicans, poor things, greeted him as the returning god! In Peru and among the American Indians, North and South of the Equator, similar legends are, or were, to be found.”

“Số lượng các thần linh ngoại giáo, phần lớn được sinh bởi trinh nữ và bị giết bằng cách này hay cách khác trong nỗ lực cứu nhân loại, nhiều đến mức khó mà ghi nhớ hết. Vị thần Krishna ở Ấn Độ, vị thần Indra ở Nepal và Tây Tạng đã đổ máu mình vì sự cứu rỗi con người; Đức Phật, theo Max Müller, đã nói: ‘Hãy để mọi tội lỗi từng có trong thế gian rơi xuống ta, để thế gian được giải thoát;’ vị Tien Chí Thánh của Trung Hoa—‘một với Thượng đế và hiện hữu với Ngài từ muôn đời’—đã chết để cứu thế gian; Osiris của Ai Cập được gọi là Đấng Cứu Thế, Horus cũng vậy; Mithra của Ba Tư cũng vậy; Hercules của Hy Lạp cũng vậy, người đã chiến thắng Cái Chết dù thể xác của ông bị thiêu rụi trong chiếc áo cháy của tính hữu tử, từ đó ông vươn lên thiên đường. Attis của Phrygia cũng được gọi là Đấng Cứu Thế, và Tammuz hay Adonis của Syria cũng vậy—cả hai vị, như chúng ta đã thấy, bị đóng đinh hoặc buộc vào một cái cây, rồi sau đó sống lại từ cáng tang hay quan tài của mình. Prometheus, ân nhân vĩ đại nhất và sớm nhất của nhân loại, bị đóng đinh qua bàn tay và bàn chân, với hai cánh tay dang rộng, vào các vách đá của Núi Caucasus. Bacchus hay Dionysus, sinh bởi trinh nữ Semele để trở thành Đấng Giải Phóng nhân loại, Dionysus Eleutherios như ông được gọi, đã bị xé thành từng mảnh, không khác Osiris. Ngay cả ở Mexico xa xôi [179] Quetzalcoatl, Đấng Cứu Thế, cũng được sinh bởi một trinh nữ, bị cám dỗ, nhịn ăn bốn mươi ngày, bị giết chết, và lần đến thứ hai của ông được trông đợi nôn nóng đến nỗi, như ai cũng biết, khi Cortes xuất hiện, những người Mexico đáng thương đã chào đón ông như vị thần trở lại! Ở Peru và giữa các thổ dân Châu Mỹ, Bắc và Nam Xích Đạo, những truyền thuyết tương tự vẫn có, hoặc đã từng có.”

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS, BY EDWARD CARPENTER, PP. 129, 130.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 129, 130.

Into the argument for and against these ideas it is no part of this book to enter. The only question which is of importance for us is what part Christ really played as the World Saviour, and what constituted the uniqueness of His mission. What was this world to which He came; and what is the significance of His death to the average human being today? Are the facts of His life historically true; and was there a period in our racial history wherein He walked and talked and lived an ordinary human life? Did He serve His race and return to the Source whence He came?

Bước vào cuộc tranh luận ủng hộ hay chống lại các ý tưởng này không phải là phần việc của cuốn sách này. Câu hỏi duy nhất quan trọng đối với chúng ta là Đức Christ thật sự đã đóng vai trò gì với tư cách Đấng Cứu Thế của thế gian, và điều gì tạo nên tính độc đáo trong sứ mệnh của Ngài. Thế giới mà Ngài đã đến là gì; và thâm nghĩa của cái chết của Ngài đối với con người bình thường ngày nay là gì? Các sự kiện trong đời Ngài có chân thật về mặt lịch sử không; và đã có một thời kỳ trong lịch sử nhân loại của chúng ta, trong đó Ngài đã đi lại, nói năng và sống một đời người bình thường không? Ngài đã phụng sự nhân loại của Ngài và trở về Nguồn mà từ đó Ngài đã đến chăng?

The fact of Christ constitutes no problem to those who know Him. They realise, past all controversy, that He exists. They know Whom they have believed. (II Timothy, I, 12.) For them, His reality cannot be disproved. They may differ among themselves as to the emphasis to be laid upon the various theological interpretations of His life story, but Christ they know, and with Him they tread life’s pathway. They may argue about whether He was God or man, or God-Man, or Man-God, but on one point they all agree, and that is that He was God and Man, manifesting in one body. They may struggle to perpetuate the memory of the dead Christ upon the Cross, or they may endeavour to live by the life of the risen Christ, but to the reality of Christ Himself they all bear testimony, and by the multitude of witnesses the fact is surely established. The one who knows cannot doubt.

Sự kiện về Đức Christ không tạo thành vấn đề đối với những ai biết Ngài. Họ nhận ra, vượt trên mọi tranh cãi, rằng Ngài hiện hữu. Họ biết Đấng mà họ đã tin. (II Ti-mô-thê, I, 12.) Đối với họ, thực tại của Ngài không thể bị bác bỏ. Họ có thể khác nhau về trọng tâm cần đặt lên các diễn giải thần học khác nhau về câu chuyện đời Ngài, nhưng họ biết Đức Christ, và cùng Ngài họ bước trên con đường đời. Họ có thể tranh luận về việc Ngài là Thượng đế hay con người, hay Thượng đế-Người, hay Người-Thượng đế, nhưng về một điểm họ đều đồng ý, đó là Ngài vừa là Thượng đế vừa là Con Người, biểu hiện trong một thân thể duy nhất. Họ có thể tranh đấu để duy trì ký ức về Đức Christ đã chết trên Thập Giá, hoặc họ có thể cố gắng sống bằng sự sống của Đức Christ phục sinh, nhưng tất cả họ đều làm chứng cho thực tại của chính Đức Christ, và nhờ vô số chứng nhân, sự kiện ấy chắc chắn được thiết lập. Người biết thì không thể nghi ngờ.

Christianity is the restatement of a very old doctrine. It is not new. It is so essential to the salvation and to the happiness of the world that God has always proclaimed it. [180] The Gospel narratives are dependable and true, just because they are integrated with the spiritual revelation of the past, and are being reinterpreted today in terms of Christ. Therefore, mankind being more evolved and intelligent, that reinterpretation will more readily and adequately meet humanity’s need. But it is no new thing, and Christ never proclaimed Himself in such terms. He foretold a new age and a coming kingdom of God. Out of the wide sweep of time and out of the aeonian grasp of God’s consciousness, mankind is only today beginning to see a world and a humanity ready for the new revelation—a revelation which will be based upon truly Christian ethics and vital Christian truths. That for which Christ stood, the truth which He embodies, is so old that there has never been a time when it was not present as a need in the human consciousness, and yet it is so new that there will never be a time when the story of the birth and the death of the world Saviour will not be of the utmost moment to man. Edward Carpenter points this out, throwing light upon this ceaseless and age-old focussing of the love of God and the desire of man in the person of a son of God. He says:

Cơ Đốc giáo là sự tái tuyên bố một giáo lý rất xưa. Nó không mới. Nó thiết yếu đến mức đối với sự cứu rỗi và hạnh phúc của thế gian, Thượng đế đã luôn luôn công bố nó. [180] Các trình thuật Phúc Âm đáng tin cậy và chân thật, chính vì chúng được tích hợp với sự mặc khải tinh thần của quá khứ, và ngày nay đang được diễn giải lại theo các thuật ngữ của Đức Christ. Vì vậy, khi nhân loại đã tiến hoá hơn và thông minh hơn, sự diễn giải lại ấy sẽ dễ dàng hơn và đầy đủ hơn đáp ứng nhu cầu của nhân loại. Nhưng đó không phải là điều gì mới, và Đức Christ chưa bao giờ tự tuyên bố Ngài theo những thuật ngữ như thế. Ngài tiên báo một kỷ nguyên mới và một Thiên Giới sắp đến. Từ tầm bao quát rộng lớn của thời gian và từ sự nắm bắt theo các đại kiếp của tâm thức Thượng đế, chỉ ngày nay nhân loại mới bắt đầu thấy một thế giới và một nhân loại sẵn sàng cho sự mặc khải mới—một sự mặc khải sẽ được đặt nền trên đạo đức Cơ Đốc thật sự và các chân lý Cơ Đốc sống động. Điều mà Đức Christ đại diện, chân lý mà Ngài hiện thân, xưa đến nỗi chưa từng có một thời nào nó không hiện diện như một nhu cầu trong tâm thức con người, nhưng lại mới đến nỗi sẽ không bao giờ có một thời nào mà câu chuyện về sự sinh ra và cái chết của Đấng Cứu Thế của thế gian không có tầm quan trọng tối thượng đối với con người. Edward Carpenter chỉ ra điều này, chiếu sáng sự tập trung không ngừng và lâu đời này của tình thương Thượng đế và ước vọng của con người nơi ngôi vị của một Con của Thượng đế. Ông nói:

“If the historicity of Jesus, in any degree, could be proved, it would give us reason for supposing—what I have personally always been inclined to believe—that there was also a historical nucleus for such personages as Osiris, Mithra, Krishna, Hercules, Apollo and the rest. The question, in fact, narrows itself down to this, Have there been in the course of human evolution certain, so to speak, nodal points or periods at which the psychologic currents ran together and condensed themselves for a new start, and has each such node or point of condensation been marked by the appearance of an actual and heroic man (or woman) who supplied a necessary impetus for the new departure, and gave his name to the resulting movement? or is it sufficient to suppose the automatic formation of such nodes or starting-points without the intervention of any special hero or genius, and to imagine that in each case the myth-making tendency of mankind created a legendary and inspiring figure and worshipped the same for a long period afterwards as a god? [181]

“Nếu tính lịch sử của Đức Jesus, ở bất cứ mức độ nào, có thể được chứng minh, thì điều đó sẽ cho chúng ta lý do để giả định—điều mà cá nhân tôi luôn có khuynh hướng tin—rằng cũng đã có một hạt nhân lịch sử cho những nhân vật như Osiris, Mithra, Krishna, Hercules, Apollo và các vị khác. Thật ra, câu hỏi thu hẹp lại thành điều này: Trong dòng tiến hoá của con người, liệu đã từng có những điểm hay thời kỳ, có thể nói là nút, nơi các dòng tâm lý hội tụ và cô đọng lại để khởi đầu mới, và mỗi nút hay điểm cô đọng như thế có được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một người nam hay nữ thật sự và anh hùng, người đã cung cấp xung lực cần thiết cho bước khởi đầu mới, và trao tên mình cho phong trào phát sinh hay không? hay chỉ cần giả định sự hình thành tự động của những nút hay điểm khởi đầu như thế mà không có sự can thiệp của bất kỳ anh hùng hay thiên tài đặc biệt nào, và tưởng tượng rằng trong mỗi trường hợp, khuynh hướng tạo huyền thoại của nhân loại đã sáng tạo nên một hình tượng huyền thoại và đầy cảm hứng, rồi tôn thờ hình tượng ấy trong một thời gian dài về sau như một vị thần? [181]

“As I have said before, this is a question which, interesting as it is, is not really very important. The main thing being that the prophetic and creative spirit of mankind has from time to time evolved those figures as idealisations of its ‘heart’s desire’ and placed a halo round their heads. The long procession of them becomes a real piece of History—the history of the evolution of the human heart, and of human consciousness.”

“Như tôi đã nói trước đây, đây là một câu hỏi, dù thú vị, nhưng thật ra không quá quan trọng. Điều chính yếu là tinh thần tiên tri và sáng tạo của nhân loại đã thỉnh thoảng tiến hoá nên những hình tượng ấy như những lý tưởng hoá của ‘ước vọng trái tim’ mình và đặt một vầng hào quang quanh đầu họ. Đoàn dài những hình tượng ấy trở thành một mảnh lịch sử thật sự—lịch sử của sự tiến hoá trái tim con người và tâm thức con người.”

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS’, BY EDWARD CARPENTER, PP. 217, 218.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC’, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 217, 218.

The Crucifixion and the Cross of Christ are as old as humanity itself. Both are symbols of the eternal sacrifice of God as He immerses Himself in the form aspect of nature and thus becomes God immanent as well as God transcendent.

Sự Đóng Đinh và Thập Giá của Đức Christ xưa như chính nhân loại. Cả hai đều là biểu tượng của sự hy sinh vĩnh cửu của Thượng đế khi Ngài tự dìm mình vào phương diện hình tướng của thiên nhiên, và nhờ đó trở thành Thượng đế nội tại cũng như Thượng đế siêu việt.

We have seen that Christ must be recognised, first of all, in the cosmic sense. The cosmic Christ has existed from all eternity. This cosmic Christ is divinity, or spirit, crucified in space. He personifies the immolation or sacrifice of spirit upon the cross of matter, of form or substance, in order that all divine forms, including the human, may live. This has ever been recognised by the so-called pagan faiths. If the symbolism of the cross is traced far back, it will be found that it antedates Christianity by thousands of years, and that finally, the four arms of the cross will be seen to drop away, leaving only the picture of the living Heavenly Man, with His arms outspread in space. North, south, east and west stands the cosmic Christ upon what is called “the fixed cross of the heavens.” Upon this cross God is eternally crucified.

Chúng ta đã thấy rằng trước hết Đức Christ phải được nhận ra theo nghĩa vũ trụ. Đức Christ vũ trụ đã hiện hữu từ muôn đời. Đức Christ vũ trụ này là thiên tính, hay tinh thần, bị đóng đinh trong không gian. Ngài nhân cách hóa sự hiến tế hay hy sinh của tinh thần trên thập giá của vật chất, của hình tướng hay chất liệu, để mọi hình tướng thiêng liêng, kể cả hình tướng nhân loại, có thể sống. Điều này luôn luôn được các tín ngưỡng gọi là ngoại giáo thừa nhận. Nếu biểu tượng thập giá được truy nguyên thật xa, người ta sẽ thấy rằng nó có trước Cơ Đốc giáo hàng ngàn năm, và cuối cùng, bốn cánh tay của thập giá sẽ được thấy là rơi rụng đi, chỉ còn lại hình ảnh Đấng Thiên Nhân sống động, với hai cánh tay Ngài dang rộng trong không gian. Ở bắc, nam, đông và tây, Đức Christ vũ trụ đứng trên cái được gọi là “thập giá cố định của các tầng trời.” Trên thập giá này, Thượng đế vĩnh viễn bị đóng đinh.

“The sky is mystically spoken of as the Temple and the eternal consciousness of God. Its altar is the sun, whose four arms or rays typify the four corners or the cardinal cross of the universe, which have become the four fixed signs of the Zodiac, and as the four powerful sacred animal signs, are both cosmical and spiritual.... These four are known as the consecrated animals of the Zodiac, while the signs themselves represent the basic fundamental elements of life, Fire, Earth, Air and Water.”

“Bầu trời được nói đến một cách thần bí như Đền Thờ và tâm thức vĩnh cửu của Thượng đế. Bàn thờ của nó là mặt trời, mà bốn cánh tay hay tia sáng tượng trưng cho bốn góc hay Thập Giá Chủ Yếu của vũ trụ, vốn đã trở thành bốn dấu hiệu cố định của Hoàng Đạo, và với tư cách bốn dấu hiệu linh thú thiêng liêng đầy quyền lực, vừa có tính vũ trụ vừa có tính tinh thần.... Bốn dấu hiệu này được biết đến như các linh thú thánh hiến của Hoàng Đạo, trong khi chính các dấu hiệu ấy đại diện cho các nguyên tố căn bản nền tảng của sự sống: Lửa, Đất, Khí và Nước.”

‘THE CELESTIAL SHIP OF THE NORTH, BY E. V. STRAITON, VOL. I, P. 104.

‘CON TÀU THIÊN GIỚI CỦA PHƯƠNG BẮC, CỦA E. V. STRAITON, QUYỂN I, TR. 104.

[182] These four signs are Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius, and they constitute pre-eminently the cross of the soul, the cross upon which the second Person of the divine Trinity is crucified. Christ personified in His mission these four aspects, and as the cosmic Christ He exemplified in His Person the qualities for which each sign stood. Even primitive man, unevolved and ignorant, was aware of the significance of the cosmic spirit, immolated in matter and crucified upon the four-armed cross. These four signs are to be found unequivocally in the Bible, and are regarded in our Christian belief as the four sacred animals. The Prophet Ezekiel refers to them in the words:

[182] Bốn dấu hiệu này là Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình, và chúng tạo thành, một cách nổi bật nhất, thập giá của linh hồn, thập giá mà trên đó Ngôi Hai của Ba Ngôi thiêng liêng chịu đóng đinh. Trong sứ mạng của Ngài, Đức Christ đã nhân cách hóa bốn phương diện này, và với tư cách Đức Christ vũ trụ, Ngài đã nêu gương nơi Chính Ngài những phẩm tính mà mỗi dấu hiệu biểu thị. Ngay cả con người nguyên thủy, chưa tiến hóa và vô minh, cũng đã nhận biết thâm nghĩa của tinh thần vũ trụ, bị hiến tế trong vật chất và bị đóng đinh trên thập giá bốn tay. Bốn dấu hiệu này có thể được tìm thấy một cách rõ ràng trong Kinh Thánh, và trong niềm tin Cơ Đốc giáo của chúng ta, chúng được xem là bốn con vật thiêng liêng. Tiên tri Ezekiel nói đến chúng bằng những lời sau:

“As for the likeness of their faces, they four had the face of a man, and the face of a lion, on the right side; and they four had the face of an ox on the left side; they four also had the face of an eagle.” (Ezekiel, I , 10.)

“Về hình dạng các khuôn mặt của chúng, cả bốn đều có mặt người, và mặt sư tử ở bên phải; cả bốn đều có mặt bò ở bên trái; cả bốn cũng có mặt đại bàng.” (Ezekiel, I, 10.)

And again in the Book of Revelations, we find the same astrological symbology:

Và một lần nữa trong Sách Khải Huyền, chúng ta thấy cùng biểu tượng chiêm tinh ấy:

“And before the throne there was a sea of glass like unto crystal: and in the midst of the throne, and round about the throne, were four beasts full of eyes, before and behind.

“Và trước ngai có một biển bằng thủy tinh giống như pha lê; và ở giữa ngai, cùng quanh ngai, có bốn sinh vật đầy mắt, phía trước và phía sau.

“And the first beast was like a lion, and the second beast was like a calf, and the third beast had a face as a man, and the fourth beast was like a flying eagle.”

“Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ hai giống như bò con, sinh vật thứ ba có mặt như người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay.”

REVELATIONS, IV, 6, 7.

KHẢI HUYỀN, IV, 6, 7.

The “face of the man” is the ancient sign of Aquarius, the sign of the man carrying the water-pot, to which Christ referred when He sent His disciples into the city, saying: “Behold, when ye are entered into the city, there shall a man meet you, bearing a pitcher of water; follow him into the house where he entereth in.” (St. Luke, XXII, 10.) This is the zodiacal sign into which we are entering. It might be as well to point out that this is astronomically true and not simply a pronouncement [183] of the astrologers. The symbol which stands for the zodiacal sign Leo, is the Lion. This sign is the symbol of individuality, and under its influence the race arrives at self-consciousness and men can function as individuals. Christ, in His teaching, emphasised the significance of the individual and in His life demonstrated the supreme value of the individual, his perfecting, his service and his ultimate sacrifice in the interests of the whole. The constellation Aquila is always regarded as interchangeable with the sign Scorpio, the serpent, and it is therefore frequently used in this connection when considering the fixed cross of the cosmic Saviour. Scorpio is the serpent of illusion from which the Christ nature finally frees us, and it is to the illusory wiles of this serpent Scorpio that Adam succumbed in the garden of Eden. The “face of the ox” is the biblical symbol for the sign Taurus, the Bull, which was the religion immediately antedating the Jewish revelation, and which found its exponents in Egypt and in the Mithraic Mysteries. Upon this fixed cross all the world Saviours, not excepting the Christ of the West, have been eternally crucified, as reminders to man of the divine intent based upon the divine sacrifice.

“Mặt người” là dấu hiệu cổ xưa của Bảo Bình, dấu hiệu của người mang vò nước, mà Đức Christ đã nhắc đến khi Ngài sai các đệ tử của Ngài vào thành, nói rằng: “Này, khi các ngươi vào thành, sẽ có một người mang vò nước gặp các ngươi; hãy theo người ấy vào nhà nơi người ấy đi vào.” (Thánh Luke, XXII, 10.) Đây là dấu hiệu hoàng đạo mà chúng ta đang bước vào. Có lẽ cũng nên chỉ ra rằng điều này đúng về mặt thiên văn, chứ không chỉ là một tuyên bố [183] của các nhà chiêm tinh. Biểu tượng đại diện cho dấu hiệu hoàng đạo Sư Tử là con Sư Tử. Dấu hiệu này là biểu tượng của cá tính, và dưới ảnh hưởng của nó, nhân loại đạt đến ngã thức và con người có thể hoạt động như những cá nhân. Trong giáo huấn của Ngài, Đức Christ đã nhấn mạnh thâm nghĩa của cá nhân, và trong đời sống của Ngài, Ngài đã chứng minh giá trị tối thượng của cá nhân, sự hoàn thiện của y, sự phụng sự của y và sự hy sinh tối hậu của y vì lợi ích của toàn thể. Chòm sao Aquila luôn được xem là có thể hoán đổi với dấu hiệu Hổ Cáp, con rắn, và vì thế thường được dùng trong mối liên hệ này khi xét đến thập giá cố định của Đấng Cứu Thế vũ trụ. Hổ Cáp là con rắn của ảo tưởng mà bản chất Christ cuối cùng giải thoát chúng ta khỏi nó, và chính trước những mưu chước ảo tưởng của con rắn Hổ Cáp này mà Adam đã khuất phục trong vườn Eden. “Mặt bò” là biểu tượng Kinh Thánh cho dấu hiệu Kim Ngưu, con Bò, vốn là tôn giáo ngay trước mặc khải Do Thái, và đã tìm thấy những người diễn giải của nó ở Ai Cập và trong các Bí nhiệm Mithra. Trên thập giá cố định này, tất cả các Đấng Cứu Thế của thế giới, kể cả Đức Christ của phương Tây, đã vĩnh viễn chịu đóng đinh, như những lời nhắc nhở con người về ý định thiêng liêng đặt nền trên hy sinh thiêng liêng.

The early Fathers recognised this truth, and realised that the story written in the heavens had a definite relation to humanity and to the evolution of human souls. Clement of Alexandria tells us that “the path of souls to ascension lies through the twelve signs of the zodiac,” and the church festivals today are based, not upon historical dates in connection with the outstanding religious figures to which they refer, but upon the times and the seasons. We saw how in the Birth at Bethlehem the date was fixed astronomically nearly four centuries after Christ was born. The combination of Virgo with the Star in the East (Sirius), and the Three Kings (symbolised by Orion’s belt) was the determining factor. The Virgin was seen in the east, with the line of the horizon passing through her centre, and this is one of the factors determining the doctrine of the Virgin birth.

Các Giáo phụ thời đầu đã nhận ra chân lý này, và nhận biết rằng câu chuyện được viết trên các tầng trời có một liên hệ xác định với nhân loại và với sự tiến hóa của các linh hồn nhân loại. Clement thành Alexandria nói với chúng ta rằng “con đường của các linh hồn đi lên nằm xuyên qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo,” và các lễ hội của giáo hội ngày nay không đặt nền trên những niên đại lịch sử liên hệ với các nhân vật tôn giáo nổi bật mà chúng nói đến, mà đặt nền trên các thời điểm và mùa tiết. Chúng ta đã thấy trong Sự Giáng Sinh tại Bethlehem, niên đại đã được ấn định theo thiên văn gần bốn thế kỷ sau khi Đức Christ ra đời. Sự kết hợp của Xử Nữ với Ngôi Sao phương Đông, Sirius, và Ba Vua, được biểu tượng hóa bởi thắt lưng Orion, là yếu tố quyết định. Trinh Nữ được thấy ở phương đông, với đường chân trời đi qua trung tâm của nàng, và đây là một trong những yếu tố quyết định giáo lý về sự sinh hạ đồng trinh.

[184] Another instance can here be given to illustrate the astronomical background of our Christian festivals. There are two festivals kept in the Roman Catholic and the higher Anglican Churches, called the Assumption of the Virgin and the Birth of the Virgin Mary. One is celebrated on August 15th and the other on September 8th. Each year, the sun can be seen entering the sign Virgo about the time of the Assumption, and the entire constellation is enveloped and lost to sight in the radiant glory of the sun. About September 8th the constellation Virgo can be seen slowly reappearing as it emerges from the rays of the sun. This is spoken of as the birth of the Virgin.

[184] Ở đây có thể nêu một ví dụ khác để minh họa nền tảng thiên văn của các lễ hội Cơ Đốc giáo của chúng ta. Có hai lễ hội được giữ trong Giáo hội Công giáo La Mã và các Giáo hội thuộc truyền thống High Church của Anh giáo, gọi là Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria. Một lễ được cử hành vào ngày 15 tháng Tám và lễ kia vào ngày 8 tháng Chín. Mỗi năm, có thể thấy mặt trời đi vào dấu hiệu Xử Nữ vào khoảng thời gian Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, và toàn bộ chòm sao bị bao phủ và khuất khỏi tầm nhìn trong vinh quang rạng rỡ của mặt trời. Vào khoảng ngày 8 tháng Chín, có thể thấy chòm sao Xử Nữ từ từ xuất hiện trở lại khi nó thoát ra khỏi các tia sáng của mặt trời. Điều này được gọi là sự sinh ra của Trinh Nữ.

Easter Day is always decided astronomically. These facts warrant the most careful consideration. This information should be in the hands of all Christian people, because then and only then can they arrive at a full and clear understanding of what, in His cosmic nature, Christ came to Earth to do. That event was of far greater importance than simply bringing about the salvation of any individual human being. It signified far more than the basis of the belief of several million people in their heavenly future. Christ’s incarnation, apart from its historical value, and apart from the keynote which He sounded, marked the closing of a great cosmic cycle, but it marked also the opening of that door into the kingdom which had opened only occasionally theretofore, in order to permit the entrance of those sons of God who had triumphed over matter. After the advent of Christ, the door stood wide open for all time, and the kingdom of God began to form on Earth. In the long processes of time four great expressions of divine life, four forms of God immanent in nature, have appeared upon our planet. We call them the four kingdoms of nature. They constitute, symbolically, the planetary reflection of the four arms of the zodiacal cross upon which the cosmic Christ can be seen crucified. Down the ages human beings have symbolised the cosmic Christ immolated upon the cross of matter, and thus have perpetuated in the [185] consciousness of the race the knowledge of that event; so in a planetary sense, the four kingdoms of nature do the same, portraying the spirit of God stretched upon a cross of material form, in order eventually to make possible the appearance of the kingdom of God on Earth. This connotes the spiritualisation of matter and form, the assumption of matter into heaven, and the release of God from the cosmic crucifixion. The poet, Joseph Plunkett, makes this beautifully clear in the following verses:

Ngày Lễ Phục Sinh luôn được quyết định theo thiên văn. Những sự kiện này đáng được xem xét hết sức cẩn trọng. Thông tin này nên nằm trong tay mọi tín đồ Cơ Đốc giáo, bởi khi ấy và chỉ khi ấy họ mới có thể đạt đến một sự thấu hiểu đầy đủ và rõ ràng về điều mà, trong bản chất vũ trụ của Ngài, Đức Christ đã đến Trái Đất để thực hiện. Biến cố ấy có tầm quan trọng lớn lao hơn nhiều so với việc chỉ đem lại sự cứu rỗi cho bất kỳ con người cá nhân nào. Nó hàm ý nhiều hơn nền tảng của niềm tin nơi vài triệu người về tương lai thiên thượng của họ. Sự lâm phàm của Đức Christ, ngoài giá trị lịch sử của nó, và ngoài chủ âm mà Ngài đã xướng lên, đã đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ vũ trụ lớn, nhưng nó cũng đánh dấu việc mở ra cánh cửa vào Thiên Giới, vốn trước đó chỉ thỉnh thoảng mới mở, để cho phép những Con của Thượng đế đã chiến thắng vật chất được đi vào. Sau sự giáng lâm của Đức Christ, cánh cửa ấy mở rộng mãi mãi, và Thiên Giới bắt đầu hình thành trên Trái Đất. Trong các tiến trình lâu dài của thời gian, bốn biểu hiện lớn lao của sự sống thiêng liêng, bốn hình tướng của Thượng đế nội tại trong thiên nhiên, đã xuất hiện trên hành tinh chúng ta. Chúng ta gọi chúng là bốn giới của thiên nhiên. Về mặt biểu tượng, chúng tạo thành sự phản chiếu hành tinh của bốn tay của thập giá hoàng đạo, trên đó có thể thấy Đức Christ vũ trụ chịu đóng đinh. Qua các thời đại, con người đã biểu tượng hóa Đức Christ vũ trụ bị hiến tế trên thập giá vật chất, và như thế đã duy trì trong [185] tâm thức của nhân loại tri thức về biến cố ấy; vì vậy, theo nghĩa hành tinh, bốn giới của thiên nhiên cũng làm điều tương tự, khắc họa tinh thần của Thượng đế trải rộng trên một thập giá của hình tướng vật chất, để cuối cùng khiến sự xuất hiện của Thiên Giới trên Trái Đất trở nên khả hữu. Điều này hàm ý sự tinh thần hóa vật chất và hình tướng, sự nâng vật chất lên cõi trời, và sự giải thoát Thượng đế khỏi cuộc đóng đinh vũ trụ. Thi sĩ Joseph Plunkett làm sáng tỏ điều này một cách đẹp đẽ trong những câu thơ sau:

“I see His blood upon the rose

“Tôi thấy máu Ngài trên đóa hồng

And in the stars the glory of His eyes,

Và trong các vì sao là vinh quang của đôi mắt Ngài,

His body gleams amid eternal snows,

Thân thể Ngài lấp lánh giữa những tuyết vĩnh cửu,

His tears fall from the skies.

Nước mắt Ngài rơi xuống từ bầu trời.

I see His face in every flower,

Tôi thấy khuôn mặt Ngài trong từng đóa hoa,

The thunder and the singing of the birds

Sấm vang và tiếng chim ca

Are but His voice—and carven by His power

Chỉ là tiếng nói của Ngài—và được khắc bởi quyền năng Ngài

Rocks are His written words.

Đá tảng là những lời Ngài viết.

All pathways by His feet are worn,

Mọi lối đi đều mòn dưới chân Ngài,

His strong heart stirs the ever-beating sea,

Trái tim mạnh mẽ của Ngài làm biển cả muôn đời đập nhịp,

His crown of thorns is twined with every thorn,

Mão gai của Ngài bện cùng mọi gai nhọn,

His cross is every tree.”

Thập giá của Ngài là mọi thân cây.”

QUOTED IN ‘THE TESTAMENT OF MAN’, BY ARTHUR STANLEY, P. 498.

TRÍCH TRONG ‘DI CHÚC CỦA CON NGƯỜI’, CỦA ARTHUR STANLEY, TR. 498.

The wonder of Christ’s mission lay in the fact that, though He was one of a long continuity of perfected divine men, He had a unique function. He summed up in Himself and brought to a conclusion the symbolic presentation of God’s eternal sacrifice upon the fixed cross of the heavens, to which the stars bear testimony and which the history of religion has so successfully veiled, and today refuses to recognise. The Heavenly Man is today pendant in the Heavens, as He has been since the creation of the solar system, and as Christ said, “I, if I be lifted up from the earth, will draw all men unto Me, (St. John, XII, 32.) and not all men only, but eventually all forms of life in all kingdoms will render up their life, not as an imposed sacrifice, but as a willing offering to the [186] final glory of God. “He that loseth his life for my sake shall find it,” (St. Matthew, X, 39.) is a fact which is often forgotten and one which has a definite bearing upon the story of the crucifixion in its wider implications. It is, however, through the achievement of the last of the manifesting kingdoms, the human, that the cross and its purpose is completed, and to this the death of Christ bears testimony.

Điều kỳ diệu trong sứ mạng của Đức Christ nằm ở sự kiện rằng, tuy Ngài là một trong một chuỗi dài liên tục những con người thiêng liêng đã được hoàn thiện, Ngài có một chức năng độc nhất. Nơi Chính Ngài, Ngài đã tổng kết và đưa đến kết thúc sự trình bày bằng biểu tượng về hy sinh vĩnh cửu của Thượng đế trên thập giá cố định của các tầng trời, điều mà các vì sao làm chứng và điều mà lịch sử tôn giáo đã che phủ rất thành công, và ngày nay từ chối thừa nhận. Đấng Thiên Nhân ngày nay vẫn treo trong các Tầng Trời, như Ngài đã từng như thế từ khi hệ mặt trời được tạo dựng, và như Đức Christ đã nói: “Còn Ta, khi Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta,” (Thánh John, XII, 32.) và không chỉ mọi người, mà cuối cùng mọi hình tướng sự sống trong mọi giới cũng sẽ dâng hiến sự sống của mình, không phải như một hy sinh bị áp đặt, mà như một lễ vật tự nguyện dâng lên [186] vinh quang tối hậu của Thượng đế. “Ai mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được,” (Thánh Matthew, X, 39.) là một sự kiện thường bị quên lãng và là điều có liên hệ xác định với câu chuyện đóng đinh trên thập giá trong những hàm ý rộng lớn hơn của nó. Tuy nhiên, chính qua thành tựu của giới biểu hiện cuối cùng, tức giới nhân loại, mà thập giá và mục đích của nó được hoàn tất, và cái chết của Đức Christ làm chứng cho điều này.

But the important point is not His death, though that was climactic in the evolutionary process, but the subsequent Resurrection, symbolising as it did the formation and the precipitation upon Earth of a new kingdom in which men and all forms would be free from death—a kingdom of which the Man released from the Cross should be the symbol. We thus complete the entire circle, from the Man in space, with arms outspread in the form of a cross, through the sequence of crucified Saviours, telling us again and again what God had done for the universe until we arrive at the culminating Son of God Who carried the symbolism down on to the physical plane, in all its stages. He then rose from the dead to tell us that the long task of evolution had at last reached its final phase—if we so choose, and if we are ready to do as He did—pay the price, and, passing through the gates of death, attain to a joyful resurrection. St. Paul sought to bring this truth home to us, though his words have been so often distorted through translation and theological misinterpretation:

Nhưng điểm quan trọng không phải là cái chết của Ngài, dù điều đó là đỉnh điểm trong tiến trình tiến hóa, mà là Sự Phục Sinh tiếp theo, vì nó biểu tượng cho sự hình thành và ngưng tụ trên Trái Đất của một giới mới, trong đó con người và mọi hình tướng sẽ được tự do khỏi sự chết—một giới mà Con Người được giải thoát khỏi Thập Giá sẽ là biểu tượng. Như vậy chúng ta hoàn tất toàn bộ vòng tròn, từ Con Người trong không gian, với hai tay dang rộng theo hình thập giá, xuyên qua chuỗi các Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh, lặp đi lặp lại cho chúng ta biết Thượng đế đã làm gì cho vũ trụ, cho đến khi chúng ta đạt tới Con của Thượng đế tột đỉnh, Đấng đã đưa biểu tượng ấy xuống cõi hồng trần, trong tất cả các giai đoạn của nó. Rồi Ngài sống lại từ cõi chết để nói với chúng ta rằng nhiệm vụ lâu dài của tiến hóa cuối cùng đã đạt đến giai đoạn sau chót—nếu chúng ta chọn như vậy, và nếu chúng ta sẵn sàng làm như Ngài đã làm—trả giá, và, đi qua các cổng của sự chết, đạt tới một sự phục sinh hoan hỉ. Thánh Paul đã tìm cách đưa chân lý này thấm sâu vào chúng ta, dù lời của ông đã quá thường bị bóp méo qua dịch thuật và diễn giải thần học sai lạc:

“I long to know Christ and the power which is in His resurrection, and to share in His suffering and die even as He died; in the hope that I may attain to the resurrection from the dead. I do not say that I have already gained this knowledge or already reached perfection, but I press on.”

“Tôi khao khát biết Đức Christ và quyền năng ở trong Sự Phục Sinh của Ngài, và được dự phần vào đau khổ của Ngài và chết như chính Ngài đã chết; trong hy vọng rằng tôi có thể đạt tới sự phục sinh từ cõi chết. Tôi không nói rằng tôi đã đạt được tri thức này hay đã đạt tới sự hoàn thiện, nhưng tôi tiếp tục tiến tới.”

PHILIPPIANS, III, 10, 11, WEYMOUTH’S TRANSLATION.

PHILIPPI, III, 10, 11, BẢN DỊCH WEYMOUTH.

It would not appear from this passage that St. Paul regarded it as sufficient to salvation that one should simply believe that Christ died for one’s sins.

Từ đoạn này, dường như Thánh Paul không xem việc chỉ tin rằng Đức Christ đã chết vì tội lỗi của một người là đủ cho sự cứu rỗi.

[187] Let me state here, briefly and succinctly, what it would appear really transpired when Christ died upon the Cross. He rendered up the form aspect and identified Himself as Man with the life aspect of Deity. He thereby liberated us from the form side of life, of religion and of matter, and demonstrated to us the possibility of being in the world and yet not of the world, ( St. John, XVII, 16.) living as souls, released from the trammels and limitations of the flesh, while yet walking on earth. To the very deeps of its being humanity is tired of death. Its only rest lies in the belief that the ultimate victory is over death, and that some day death will be abolished. This we shall go into more definitely in our next chapter, but in passing, it may be said that the race is so imbued with the thought of death that it has been the line of least resistance for theology to emphasise the death of Christ, and to omit to lay the major emphasis upon the renewal of life to which that death was the prelude. This practice will end because the world today demands a living Christ rather than a dead Saviour. It demands an ideal so universal in its implications—so inclusive of time and space and life—that the constant explanations and the endless attempts to make theology conform to the requirements of a deeply sensed vital truth will no longer be needed. The world has outlived the thought of a wrathful God who demands a blood sacrifice. Intelligent people today must agree that “... modern thought does not clash with primitive Christian ideas; but in regard to the propitiation for these evil inclinations the case is different. We can no longer accept the appalling theological doctrine that for some mystic reason a propitiatory sacrifice was necessary. It outrages either our conception of God as almighty or else our conception of Him as all-loving.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, p. 152.) Humanity will accept the thought of a God who so loved the world that He sent His Son to give us the final expression of the cosmic sacrifice and to say to us, as He did [188] upon the Cross: “It is finished.” (St. John, XIX, 30.) We can now “enter into the joy of the Lord.” ( St. Matthew, XXV, 21.) Men are learning to love, and they will, and do, repudiate a theology which makes of God a force of hardness and cruelty in the world, unparalleled by men.

[187] Ở đây, hãy để tôi trình bày ngắn gọn và súc tích điều dường như đã thật sự xảy ra khi Đức Christ chết trên Thập Giá. Ngài đã dâng hiến phương diện hình tướng và đồng hóa Chính Ngài, với tư cách Con Người, với phương diện sự sống của Thượng đế. Nhờ đó Ngài giải thoát chúng ta khỏi mặt hình tướng của sự sống, của tôn giáo và của vật chất, và chứng minh cho chúng ta khả năng hiện hữu trong thế gian mà vẫn không thuộc về thế gian, (Thánh John, XVII, 16.) sống như những linh hồn, được giải thoát khỏi xiềng xích và giới hạn của xác thịt, trong khi vẫn bước đi trên đất. Tận những chiều sâu của bản thể mình, nhân loại đã mệt mỏi với sự chết. Sự nghỉ ngơi duy nhất của nó nằm trong niềm tin rằng chiến thắng tối hậu là chiến thắng sự chết, và một ngày nào đó sự chết sẽ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi vào điều này rõ ràng hơn trong chương kế tiếp, nhưng nhân tiện có thể nói rằng nhân loại đã thấm nhuần tư tưởng về sự chết đến mức con đường ít trở ngại nhất đối với thần học là nhấn mạnh cái chết của Đức Christ, và bỏ qua việc đặt trọng tâm chính vào sự đổi mới sự sống mà cái chết ấy là khúc dạo đầu. Thực hành này sẽ chấm dứt vì thế giới ngày nay đòi hỏi một Đức Christ sống động hơn là một Đấng Cứu Thế đã chết. Thế giới đòi hỏi một lý tưởng phổ quát đến mức trong các hàm ý của nó—bao gồm thời gian, không gian và sự sống đến mức—những giải thích liên tục và những cố gắng bất tận nhằm khiến thần học phù hợp với các đòi hỏi của một chân lý sống động được cảm nhận sâu sắc sẽ không còn cần thiết nữa. Thế giới đã vượt qua tư tưởng về một Thượng đế phẫn nộ, Đấng đòi hỏi một hy sinh bằng máu. Những người thông minh ngày nay phải đồng ý rằng “... tư tưởng hiện đại không xung đột với các ý tưởng Cơ Đốc giáo nguyên thủy; nhưng liên quan đến sự chuộc lỗi cho những khuynh hướng xấu này thì trường hợp lại khác. Chúng ta không còn có thể chấp nhận giáo lý thần học kinh hoàng rằng vì một lý do thần bí nào đó, một hy sinh chuộc tội là cần thiết. Nó xúc phạm hoặc quan niệm của chúng ta về Thượng đế như Đấng toàn năng, hoặc quan niệm của chúng ta về Ngài như Đấng toàn ái.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 152.) Nhân loại sẽ chấp nhận tư tưởng về một Thượng đế yêu thương thế gian đến nỗi Ngài sai Con của Ngài đến để ban cho chúng ta biểu hiện cuối cùng của hy sinh vũ trụ và để nói với chúng ta, như Ngài đã nói [188] trên Thập Giá: “Mọi sự đã hoàn tất.” (Thánh John, XIX, 30.) Giờ đây chúng ta có thể “bước vào sự hoan hỉ của Chúa.” (Thánh Matthew, XXV, 21.) Con người đang học yêu thương, và họ sẽ, cũng như đang, bác bỏ một nền thần học biến Thượng đế thành một mãnh lực cứng rắn và tàn bạo trong thế giới, không gì nơi con người có thể sánh bằng.

The whole trend of human life tends to repudiate those ancient tenets which were founded in fear, and instead, courageously faces the facts and the responsibilities which are inherent in its spiritual birthright.

Toàn bộ khuynh hướng của đời sống nhân loại có xu hướng bác bỏ những tín điều cổ xưa được đặt nền trong sợ hãi, và thay vào đó, can đảm đối diện với các sự kiện và trách nhiệm vốn cố hữu trong quyền thừa kế tinh thần của nó.

2

2

When the Church lays its emphasis upon the living Christ, and when it recognises that its forms and ceremonies, its festivals and rituals are inherited from a very ancient past, we shall then have the emergence of a new religion which will be as much divorced from form and the past as the kingdom of God is divorced from matter and the body nature. Orthodox religion, as a whole, can be regarded as a cross upon which we have crucified Christ; it has served its purpose as the custodian of the ages and the preserver of ancient forms, but it must enter into new life and pass through the resurrection if it is to meet the need of the deeply spiritual humanity of today. “Nations, like individuals,” we are told, “are made, not only by what they acquire but by what they resign, and this is true also of religion at this time.” (‘The Supreme Spiritual Ideal’, by Sir Radhakrishnan, Hibbert Journal, October, 1936.) Its form must be sacrificed upon the Cross of Christ in order that it may be resurrected into true and vital life for the meeting of the people’s need. Let a living Christ be its theme, and not a dying Saviour. Christ has died. About that let there be no mistake. The Christ of history passed through the gates of death for us. The cosmic [189] Christ is still dying upon the Cross of Matter. There He hangs fixed until the last weary pilgrim shall find his way home. (‘The Secret Doctrine’, Vol. I, p. 229.) The planetary Christ, the life of the four kingdoms of nature, has been crucified on the four arms of the planetary Cross down the ages. But the end of this period of crucifixion is close upon us. Mankind can descend from the cross as Christ did, and enter into the kingdom of God, a living spirit. The sons of God are ready to be manifested. Today as never before:

Khi Giáo hội đặt trọng tâm vào Đức Christ sống động, và khi Giáo hội nhận ra rằng các hình thức và nghi lễ, các lễ hội và nghi thức của mình được thừa hưởng từ một quá khứ rất cổ xưa, bấy giờ chúng ta sẽ có sự xuất hiện của một tôn giáo mới, tách khỏi hình tướng và quá khứ nhiều như Thiên Giới tách khỏi vật chất và bản chất thể xác. Tôn giáo chính thống, xét toàn bộ, có thể được xem là một thập giá mà trên đó chúng ta đã đóng đinh Đức Christ; nó đã phục vụ mục đích của nó như người gìn giữ của các thời đại và người bảo tồn các hình thức cổ xưa, nhưng nó phải bước vào sự sống mới và đi qua sự phục sinh nếu nó muốn đáp ứng nhu cầu của nhân loại sâu sắc tinh thần ngày nay. “Các quốc gia, giống như các cá nhân,” chúng ta được bảo, “được tạo nên không chỉ bởi những gì họ thu nhận mà còn bởi những gì họ từ bỏ, và điều này hiện nay cũng đúng với tôn giáo.” (‘Lý Tưởng Tinh Thần Tối Cao’, của Sir Radhakrishnan, Hibbert Journal, tháng Mười, 1936.) Hình thức của nó phải được hy sinh trên Thập Giá của Đức Christ để nó có thể được phục sinh vào sự sống chân thực và sống động nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Hãy để Đức Christ sống động là chủ đề của nó, chứ không phải một Đấng Cứu Thế đang hấp hối. Đức Christ đã chết. Về điều đó, đừng có sự nhầm lẫn nào. Đức Christ của lịch sử đã đi qua các cổng của sự chết vì chúng ta. Đức Christ vũ trụ [189] vẫn đang chết trên Thập Giá của Vật Chất. Ở đó Ngài treo cố định cho đến khi người hành hương mệt mỏi cuối cùng tìm được đường về nhà. (‘Giáo Lý Bí Nhiệm’, Quyển I, tr. 229.) Đức Christ hành tinh, sự sống của bốn giới thiên nhiên, đã bị đóng đinh trên bốn tay của Thập Giá hành tinh qua các thời đại. Nhưng kết thúc của thời kỳ đóng đinh này đang đến gần chúng ta. Nhân loại có thể bước xuống khỏi thập giá như Đức Christ đã làm, và bước vào Thiên Giới, một tinh thần sống động. Các Con của Thượng đế đã sẵn sàng để được biểu hiện. Ngày nay hơn bao giờ hết:

“The Spirit Himself bears witness with our own spirits that we are children of God; and if children, then heirs too—heirs of God and co-heirs with Christ; if indeed we share Christ’s sufferings, in order to share also His glory....

“Chính Tinh thần làm chứng cùng các tinh thần của chúng ta rằng chúng ta là con cái của Thượng đế; và nếu là con cái, thì cũng là những kẻ thừa kế—thừa kế của Thượng đế và đồng thừa kế với Đức Christ; nếu quả thật chúng ta chia sẻ những đau khổ của Đức Christ, để cũng được chia sẻ vinh quang của Ngài....

“All creation is yearning, longing to see the manifestation of the sons of God. For the Creation was made subject to futility, not of its own choice, but by the will of Him who so subjected it; yet with the hope that at last the Creation itself would be set free from the thraldom of decay to enjoy the liberty that comes with the glory of the children of God.

“Toàn thể tạo vật đang khao khát, mong mỏi được thấy sự biểu hiện của các Con của Thượng đế. Vì Tạo vật đã bị đặt dưới sự phù phiếm, không do lựa chọn của riêng nó, mà bởi ý muốn của Đấng đã đặt nó dưới đó; song với hy vọng rằng cuối cùng chính Tạo vật cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự suy hoại để vui hưởng tự do đi kèm với vinh quang của con cái Thượng đế.

“For we know that the whole of Creation is moaning in the pangs of childbirth until this hour. And more than that, we ourselves, though we possess the Spirit as a foretaste of bliss, yet we ourselves moan as we wait for full sonship in the redemption of our bodies.”

“Vì chúng ta biết rằng toàn thể Tạo vật đang rên xiết trong cơn đau sinh nở cho đến giờ này. Và hơn thế nữa, chính chúng ta, dù sở hữu Tinh thần như một sự nếm trước chí phúc, chính chúng ta cũng rên xiết khi chờ đợi tư cách làm con trọn vẹn trong sự cứu chuộc thân thể chúng ta.”

ROMANS, VIII, 16-24, WEYMOUTH’S TRANSLATION.

RÔMA, VIII, 16-24, BẢN DỊCH WEYMOUTH.

Towards this glorification of God we are all moving. Some of the sons of men have already achieved, through the realisation of their divinity.

Tất cả chúng ta đang tiến về sự tôn vinh Thượng đế này. Một số những người con của nhân loại đã đạt được điều đó, qua sự chứng nghiệm thiên tính của họ.

It is of interest to note how the two great branches of orthodox Christianity, the Eastern, as expressed through the Greek Church, and the Western, as expressed through the Roman Catholic and the Protestant Churches, have preserved two great concepts which the spirit of the race needed on its great evolutionary journey away from God and back to God. The Greek Church has always emphasised the [190] risen Christ. The West has emphasised the crucified Saviour. Eastern Christianity looks to the resurrection as its pivotal teaching.

Điều đáng chú ý là hai nhánh lớn của Cơ Đốc giáo chính thống, phương Đông, như được biểu hiện qua Giáo hội Hy Lạp, và phương Tây, như được biểu hiện qua Giáo hội Công giáo La Mã và các Giáo hội Tin Lành, đã bảo tồn hai quan niệm lớn mà tinh thần của nhân loại cần đến trên hành trình tiến hóa vĩ đại của nó rời xa Thượng đế và trở về với Thượng đế. Giáo hội Hy Lạp luôn nhấn mạnh [190] Đức Christ phục sinh. Phương Tây đã nhấn mạnh Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh. Cơ Đốc giáo phương Đông xem sự phục sinh là giáo huấn then chốt của mình.

The need of a death unto things material, the tendency of man to sin and to forget God, and the necessity for a change of heart or of intention have been the contribution of Western Christianity to the religious beliefs in the world. But we have been so preoccupied with the subject of sin that we have forgotten our divinity; and we have been so intensely individual in our consciousness that we have depicted a Saviour Who gave His life for us as individuals, believing that had He never died we could never enter heaven. On these truths the Eastern Christian has placed little emphasis, stressing the living Christ and the divine nature of man. Assuredly, only when the best of the two lines of presented truths are brought together and then reinterpreted shall we arrive at the basic concept upon which we can take our stand without questioning, and also with the certainty that it is inclusive enough to be really divine. Sin exists, and there is sacrifice involved in the process of adjusting our sinful natures. There is a death unto life, and a need to “die daily,” ( I Corinthians, XV, 31.) as St. Paul says, in order that we may live. Christ died to all that had its existence in form, leaving us an example that we should follow His steps. But we in the West have forgotten the Transfiguration and lost touch with divinity, and we should now stand ready to accept from the Eastern Christian what he has so long believed.

Nhu cầu chết đối với những sự vật vật chất, khuynh hướng phạm tội và quên Thượng đế của con người, cùng sự cần thiết phải thay đổi tâm hồn hay ý định, là đóng góp của Cơ Đốc giáo phương Tây cho các niềm tin tôn giáo trong thế giới. Nhưng chúng ta đã quá bận tâm với chủ đề tội lỗi đến nỗi quên mất thiên tính của mình; và chúng ta đã quá chú trọng cá nhân trong tâm thức đến nỗi mô tả một Đấng Cứu Thế đã ban sự sống của Ngài cho chúng ta như những cá nhân, tin rằng nếu Ngài chưa từng chết thì chúng ta không bao giờ có thể vào thiên đường. tín đồ Cơ Đốc giáo phương Đông đã đặt rất ít trọng tâm vào những chân lý này, mà nhấn mạnh Đức Christ sống động và bản chất thiêng liêng của con người. Chắc chắn rằng chỉ khi phần tốt đẹp nhất của hai dòng chân lý được trình bày được đem lại với nhau rồi được diễn giải lại, chúng ta mới đạt tới quan niệm căn bản mà trên đó chúng ta có thể đứng vững không nghi vấn, và cũng với sự chắc chắn rằng nó đủ bao gồm để thật sự thiêng liêng. Tội lỗi hiện hữu, và có hy sinh liên quan trong tiến trình điều chỉnh các bản chất tội lỗi của chúng ta. Có một cái chết dẫn đến sự sống, và nhu cầu “chết hằng ngày,” (I Corinthians, XV, 31.) như Thánh Paul nói, để chúng ta có thể sống. Đức Christ đã chết đối với tất cả những gì có sự hiện hữu trong hình tướng, để lại cho chúng ta một gương mẫu rằng chúng ta nên theo dấu chân Ngài. Nhưng chúng ta ở phương Tây đã quên Biến hình và mất liên hệ với thiên tính, và giờ đây chúng ta nên sẵn sàng tiếp nhận từ tín đồ Cơ Đốc giáo phương Đông điều y đã tin tưởng từ lâu.

This gnosis has always been in the world. Long before Christ came the divinity of man was affirmed and divine incarnations were recognised.

Tri thức huyền linh này đã luôn có trong thế giới. Rất lâu trước khi Đức Christ đến, thiên tính của con người đã được khẳng định và các cuộc lâm phàm thiêng liêng đã được thừa nhận.

The Gnostics themselves claimed to be the custodians of a revelation which was not uniquely theirs, but which had always been present in the world. G.R.S. Mead, an authority on these matters, remarks that: “The claim of these Gnostics was practically that the good news of Christ (the Christos) [191] was the consummation of the inner doctrine of the Mystery-Institutions of all the nations; the end of them all being the revelation of the Mystery of Man. In Christ the Mystery of Man was unveiled.” (‘Thrice-Greatest Hermes, by G. R. S. Mead, Vol. I, p.141.)

Chính các nhà Ngộ Đạo tuyên bố rằng họ là những người gìn giữ một mặc khải không phải là của riêng họ một cách độc nhất, mà đã luôn hiện diện trong thế giới. G.R.S. Mead, một thẩm quyền về các vấn đề này, nhận xét rằng: “Tuyên bố của những nhà Ngộ Đạo này thực tế là tin mừng của Đức Christ, tức Christos, [191] là sự hoàn tất của giáo lý nội môn của các Tổ chức Bí nhiệm của mọi quốc gia; mục đích của tất cả chúng là sự mặc khải Bí nhiệm về Con Người. Trong Đức Christ, Bí nhiệm về Con Người đã được vén mở.” (‘Hermes Ba Lần Vĩ Đại’, của G. R. S. Mead, Quyển I, tr.141.)

In view of the proven fact that there has been a continuity of revelation, and that Christ was one of the long line of manifesting Sons of God, wherein did His Person and His mission differ from that of the others? We can and must agree with Pfleger when he says: “The Incarnation of God in Christ is but a greater and more perfect theophany in a series of other more imperfect theophanies, which prepared the way for it by moulding the human nature which received them ... the Incarnation is not a miracle in the strict and crude sense of the term, any more than the Resurrection, which is the inner union of matter with spirit, is foreign to the universal order of existence.” (‘Wrestlers with Christ, by Karl Pfleger, p. 242.) In what, therefore, did the mission of Christ differ from the others?

Xét đến sự kiện đã được chứng minh rằng đã có một sự liên tục của mặc khải, và rằng Đức Christ là một trong chuỗi dài các Con của Thượng đế đang biểu hiện, thì ở đâu Ngôi vị của Ngài và sứ mạng của Ngài khác với những vị khác? Chúng ta có thể và phải đồng ý với Pfleger khi ông nói: “Sự Lâm Phàm của Thượng đế trong Đức Christ chỉ là một sự hiển hiện thần tính lớn hơn và hoàn hảo hơn trong một chuỗi các sự hiển hiện thần tính khác kém hoàn hảo hơn, vốn đã chuẩn bị đường cho nó bằng cách khuôn đúc bản chất con người đã tiếp nhận chúng... Sự Lâm Phàm không phải là một phép lạ theo nghĩa nghiêm ngặt và thô sơ của thuật ngữ, cũng như Sự Phục Sinh, vốn là sự hợp nhất bên trong của vật chất với tinh thần, không xa lạ với trật tự phổ quát của sự hiện hữu.” (‘Những Người Vật Lộn Với Đức Christ’, của Karl Pfleger, tr. 242.) Vậy, sứ mạng của Đức Christ khác với những sứ mạng khác ở điểm nào?

The difference lay in the point in evolution which humanity itself had reached. The cycle which Christ inaugurated has been one in which men have become strictly human. Up till that Incarnation there had always been those who, having achieved humanity, had then passed on to demonstrate divinity. But now the whole race is at the point of so doing. Although today men are predominantly animal-emotional, yet through the success of the evolutionary process—leading as it has to our widespread educational systems and the general high level of mental awareness—men have reached the point where the masses themselves, given proper encouragement, can “enter into the kingdom of God.” Who can say that it is not this realisation, dim and uncertain as it may be, which prompts the universal unrest and the widespread determination to better conditions? That we interpret the kingdom of God in terms of the material is inevitable at first, but it is a hopeful and spiritual sign that we are today so [192] busy cleaning house, and thus attempting to raise the level of our civilisation. Christ incarnated when, for the first time, humanity was a complete whole, as far as the form side of its nature was concerned, with all the qualities manifesting—physical, psychic and mental—which distinguish the human animal. He brought to us a manifestation of what the perfect man could be who, regarding that form side as the temple of God, but recognising his innate divinity, strives to bring it to the foreground, first of all in his own consciousness and then before the world. This Christ did. The mysteries had always been revealed to the individual who fitted himself to penetrate into a hidden arcanum or temple, but Christ revealed them to humanity as a whole, and enacted the whole drama of the God-Man before the race. This was His major achievement, and this we have forgotten—the living Christ—in the emphasis we have laid upon man himself, on his relation to himself as a sinner, and to God as the One against Whom he has sinned.

Sự khác biệt nằm ở điểm tiến hoá mà chính nhân loại đã đạt đến. Chu kỳ mà Đức Christ khai mở là một chu kỳ trong đó con người đã trở thành con người đúng nghĩa. Cho đến cuộc Lâm Phàm ấy, luôn có những vị, sau khi đã đạt được nhân tính, đã tiếp tục tiến lên để chứng minh thiên tính. Nhưng giờ đây toàn bộ nhân loại ở điểm có thể làm như vậy. Dù ngày nay con người chủ yếu vẫn là động vật-cảm xúc, nhưng qua thành công của tiến trình tiến hóa—vì nó đã dẫn đến các hệ thống giáo dục rộng khắp của chúng ta và mức độ cao tổng quát của nhận thức trí tuệ—con người đã đạt đến điểm mà chính đại chúng, nếu được khích lệ đúng đắn, có thể “bước vào Thiên Giới.” Ai có thể nói rằng không phải chính sự nhận biết này, dù mờ nhạt và bất định, đã thúc đẩy tình trạng bất ổn phổ quát và quyết tâm rộng khắp nhằm cải thiện các điều kiện? Việc chúng ta ban đầu diễn giải Thiên Giới theo các thuật ngữ vật chất là điều không thể tránh khỏi, nhưng đó là một dấu hiệu đầy hy vọng và tinh thần rằng ngày nay chúng ta đang quá [192] bận rộn dọn dẹp nhà cửa, và do đó cố gắng nâng cao trình độ văn minh của mình. Đức Christ lâm phàm khi, lần đầu tiên, nhân loại là một toàn thể hoàn chỉnh, xét theo mặt hình tướng của bản chất nó, với mọi phẩm tính đang biểu hiện—hồng trần, thông linh và trí tuệ—vốn phân biệt con người-động vật. Ngài đem đến cho chúng ta một biểu hiện về điều mà con người hoàn thiện có thể là, người xem mặt hình tướng ấy như đền thờ của Thượng đế, nhưng nhận ra thiên tính nội tại của mình, cố gắng đưa nó ra tiền diện, trước hết trong tâm thức của chính mình và rồi trước thế giới. Đức Christ đã làm điều này. Các bí nhiệm luôn được mặc khải cho cá nhân nào tự chuẩn bị để thâm nhập vào một thánh điện hay mật thất ẩn giấu, nhưng Đức Christ đã mặc khải chúng cho toàn thể nhân loại, và trình diễn toàn bộ vở kịch của Thượng đế-Con Người trước nhân loại. Đây là thành tựu lớn lao của Ngài, và điều này chúng ta đã quên—Đức Christ sống động—trong sự nhấn mạnh mà chúng ta đặt lên chính con người, lên mối liên hệ của y với chính mình như một tội nhân, và với Thượng đế như Đấng mà y đã phạm tội chống lại.

Again, every great organisation or group religion or cult of any kind has originated with a person, and from that person the idea has spread out into the world, gathering adherents as time elapsed. Christ in this way precipitated the kingdom of God upon earth. It had always existed in the heavenly places. He caused it to materialise, thus becoming a fact to the consciousness of men.

Lại nữa, mọi tổ chức lớn hay tôn giáo nhóm hay giáo phái thuộc bất kỳ loại nào đều bắt nguồn từ một người, và từ người đó ý tưởng đã lan rộng ra thế giới, thu hút những người theo khi thời gian trôi qua. Theo cách này, Đức Christ đã ngưng tụ Thiên Giới trên Trái Đất. Nó đã luôn hiện hữu trong các nơi thiên thượng. Ngài khiến nó hiện hình, nhờ đó trở thành một sự kiện đối với tâm thức con người.

Preparedness for the Kingdom, and the arrival of the time when men in large numbers could be initiated into the mysteries, required from them a recognition of an unworthiness and a sinfulness which only the development of the mind could give. The age of Christianity has been an age of mental unfoldment. It has been an age also wherein much emphasis has been laid upon sin and evil doing. There is no consciousness of sin in the animals, though there may be indications of a conscience among the domesticated animals, due to their association with man. Mind produces the power to analyse and observe, to differentiate and distinguish; and so with the advent [193] of mental development there has been, for a long time, a growing sense of sinfulness, of contrition, and of an almost abject attitude to the Creator, producing in humanity that strongly marked inferiority complex with which today psychologists have to deal. Against this sense of sin, with its concomitants of propitiation, atonement and the sacrifice of Christ for us, there has been a revolt; and in this really wholesome reaction there is the normal tendency to go too far. Fortunately, we are never able to get too far from divinity; and that, as a race, we shall swing back into a state of greater spirituality than ever before is the sincere belief of all who know. Theology over-reached itself with its “miserable sinner” complex and its emphasis upon the necessity for the purification by blood. This teaching of purification through the blood of bulls and of rams (or lambs) was part of the ancient mysteries, and was inherited by us primarily from the Mysteries of Mithra. These mysteries, in their turn, inherited the teaching, and thus formulated their doctrine, which Christianity absorbed. When the sun was in the zodiacal sign of Taurus the Bull, the sacrifice of the bull was offered as a forecast of that which Christ came later to reveal. When the sun passed (in the precession of the equinoxes) into the next sign, that of Aries the Ram, we find the lamb was sacrificed and the scapegoat sent into the wilderness. Christ was born into the next sign, Pisces the Fishes, and it is for this reason that we eat fish on Good Friday, in commemoration of His coming. Tertullian, one of the early Church Fathers, speaks of Jesus Christ as the “Great Fish,” and of us, His followers, as the “little fishes.” These facts are well known, as the following extract will indicate:

Sự chuẩn bị cho Thiên Giới, và sự đến của thời điểm khi đông đảo con người có thể được điểm đạo vào các bí nhiệm, đòi hỏi nơi họ sự thừa nhận một tình trạng bất xứng và tội lỗi mà chỉ sự phát triển của trí tuệ mới có thể đem lại. Thời đại Cơ Đốc giáo là một thời đại của sự khai mở trí tuệ. Nó cũng là một thời đại trong đó người ta đặt nhiều nhấn mạnh vào tội lỗi và hành động xấu. Không có tâm thức về tội lỗi nơi loài vật, dù có thể có những dấu hiệu của lương tâm nơi các động vật thuần hóa, do sự liên hệ của chúng với con người. Thể trí tạo ra quyền năng phân tích và quan sát, biến phân và phân biệt; và như vậy với sự xuất hiện [193] của phát triển trí tuệ, trong một thời gian dài đã có một cảm thức ngày càng tăng về tội lỗi, về sự ăn năn, và về một thái độ gần như hèn mọn trước Đấng Sáng Tạo, tạo ra trong nhân loại phức cảm tự ti được đánh dấu mạnh mẽ mà ngày nay các nhà tâm lý học phải xử lý. Chống lại cảm thức tội lỗi này, cùng những điều đi kèm của nó là chuộc lỗi, đền tội và hy sinh của Đức Christ vì chúng ta, đã có một cuộc nổi dậy; và trong phản ứng thật sự lành mạnh này, có khuynh hướng bình thường là đi quá xa. May mắn thay, chúng ta không bao giờ có thể đi quá xa khỏi thiên tính; và rằng, với tư cách một nhân loại, chúng ta sẽ quay trở lại một trạng thái tinh thần lớn lao hơn bao giờ hết là niềm tin chân thành của tất cả những ai biết. Thần học đã đi quá xa với phức cảm “tội nhân khốn khổ” của nó và sự nhấn mạnh của nó vào nhu cầu thanh tẩy bằng máu. Giáo huấn về sự thanh tẩy bằng máu của bò đực và cừu đực, hay chiên con, là một phần của các bí nhiệm cổ xưa, và chúng ta thừa hưởng nó chủ yếu từ các Bí nhiệm Mithra. Đến lượt mình, các bí nhiệm này đã thừa hưởng giáo huấn ấy, và do đó hình thành giáo lý của mình, điều mà Cơ Đốc giáo đã hấp thụ. Khi mặt trời ở trong dấu hiệu hoàng đạo Kim Ngưu, con Bò, hy sinh bò đực được dâng lên như một dự báo về điều mà Đức Christ sau này đến để mặc khải. Khi mặt trời đi qua, trong tuế sai của các điểm phân, vào dấu hiệu kế tiếp, là Bạch Dương, con Cừu đực, chúng ta thấy chiên con được hy sinh và con dê gánh tội được gửi vào hoang địa. Đức Christ được sinh ra trong dấu hiệu kế tiếp, Song Ngư, các Con Cá, và chính vì lý do này mà chúng ta ăn cá vào Thứ Sáu Tuần Thánh, để tưởng niệm sự giáng lâm của Ngài. Tertullian, một trong các Giáo phụ thời đầu, nói về Đức Jesus Christ như “Con Cá Vĩ Đại,” và về chúng ta, những người theo Ngài, như “những con cá nhỏ.” Những sự kiện này được biết rõ, như đoạn trích sau đây sẽ chỉ ra:

“The ceremonies of purification by the sprinkling or drenching of the novice with the blood of bulls or rams were widespread, and were to be found in the rites of Mithra. By this purification a man was ‘born again’ and the Christian expression ‘washed in the blood of the Lamb’ is undoubtedly a reflection of this idea, the reference thus being clear in the words of the Epistle to the Hebrews: ‘It is not possible that the blood of bulls and of goats should take away [194] sins.’ In this passage the writer goes on to say: ‘Having boldness to enter into the holiest by the blood of Jesus, by a new and living way which he hath consecrated for us through the veil, that is to say his flesh ... let us draw near ... having our hearts sprinkled from an evil conscience, and our bodies washed with pure water.’ But when we learn that the Mithraic initiation ceremony consisted in entering boldly into a mysterious underground ‘holy of holies’ with the eyes veiled, and there being sprinkled with blood, and washed with water, it is clear that the author of the Epistle was thinking of those Mithraic rites with which everybody at that time must have been so familiar.”

“Các nghi lễ thanh tẩy bằng việc rảy hoặc dội người sơ cơ bằng máu bò đực hay cừu đực đã rất phổ biến, và được tìm thấy trong các nghi thức Mithra. Nhờ sự thanh tẩy này, một người được ‘sinh lại’ và cách diễn đạt Cơ Đốc giáo ‘được rửa trong máu của Chiên Con’ chắc chắn là sự phản chiếu của ý tưởng này, nhờ vậy sự liên hệ trở nên rõ ràng trong những lời của Thư gửi tín hữu Hebrew: ‘Không thể nào máu của bò đực và dê đực lại có thể cất đi [194] tội lỗi.’ Trong đoạn này, tác giả tiếp tục nói: ‘Vì có sự dạn dĩ để vào nơi chí thánh nhờ máu Đức Jesus, bằng một con đường mới và sống động mà Ngài đã thánh hiến cho chúng ta xuyên qua bức màn, tức là xác thịt Ngài... chúng ta hãy đến gần... với lòng đã được rảy sạch khỏi lương tâm xấu, và thân thể đã được rửa bằng nước tinh khiết.’ Nhưng khi chúng ta biết rằng nghi lễ điểm đạo Mithra gồm việc mạnh dạn đi vào một ‘nơi chí thánh’ bí nhiệm dưới lòng đất, với đôi mắt bị che, và ở đó được rảy máu và rửa bằng nước, thì rõ ràng tác giả của Thư ấy đã nghĩ đến những nghi thức Mithra mà mọi người vào thời đó hẳn phải rất quen thuộc.”

‘THE PAGANISM IN OUR CHRISTIANITY’, BY ARTHUR WEIGALL, PP. 132, 133.

‘TÍNH NGOẠI GIÁO TRONG CƠ ĐỐC GIÁO CỦA CHÚNG TA’, CỦA ARTHUR WEIGALL, TR. 132, 133.

Christ came to abolish these sacrifices by showing us their true meaning, and in His Person as perfect man He died the death of the Cross to show us (in picture form and through actual demonstration) that divinity can be manifested and can truly express itself only when man, as man, has died in order that the hidden Christ may live. The lower carnal nature (as St. Paul loved to call it) must die in order that the higher divine nature may show forth in all its beauty. The lower self must die in order that the higher self can manifest on earth. Christ had to die in order that once and for all mankind might learn the lesson that by the sacrifice of the human nature the divine aspect might be “saved.” Thus Christ summed up in Himself the significance of all the past world sacrifices. That mysterious truth which had been revealed only to the pledged and trained initiate when he was ready for the fourth initiation was given out by Christ to the world of men. He died for all so that all might live. But this is not the doctrine of the vicarious atonement which was pre-eminently St. Paul’s interpretation of the Crucifixion, but the doctrine which Christ Himself taught—the doctrine of divine immanence (see St. John XVII), and the doctrine of the God-Man.

Đức Christ đến để bãi bỏ những hy sinh này bằng cách chỉ cho chúng ta thấy ý nghĩa chân thật của chúng, và trong Ngôi vị của Ngài như con người hoàn thiện, Ngài đã chết cái chết trên Thập Giá để chỉ cho chúng ta, bằng hình ảnh và qua sự chứng minh thực tế, rằng thiên tính có thể được biểu hiện và thật sự tự biểu lộ chỉ khi con người, với tư cách con người, đã chết để Đức Christ ẩn tàng có thể sống. Bản chất thấp thuộc xác thịt, như Thánh Paul ưa gọi, phải chết để bản chất thiêng liêng cao hơn có thể hiển lộ trong toàn bộ vẻ đẹp của nó. Phàm ngã phải chết để chân ngã có thể biểu hiện trên đất. Đức Christ phải chết để một lần cho mãi mãi nhân loại có thể học bài học rằng nhờ hy sinh bản chất con người, phương diện thiêng liêng có thể được “cứu.” Như vậy, nơi Chính Ngài, Đức Christ đã tổng kết thâm nghĩa của mọi hy sinh thế giới trong quá khứ. Chân lý bí nhiệm ấy, vốn chỉ được mặc khải cho điểm đạo đồ đã cam kết và được huấn luyện khi y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư, đã được Đức Christ ban ra cho thế giới con người. Ngài đã chết cho tất cả để tất cả có thể sống. Nhưng đây không phải là giáo lý về sự đền tội thay thế, vốn nổi bật là cách diễn giải của Thánh Paul về Sự Đóng Đinh, mà là giáo lý do chính Đức Christ dạy—giáo lý về tính nội tại thiêng liêng, xem Thánh John XVII, và giáo lý về Thượng đế-Con Người.

Christianity inherited many of its interpretations, and the teachers and interpreters of the early Christian times were no more free from the thraldom of ancient beliefs than are we [195] from the interpretations given to Christianity during the past two thousand years. Christ did give us the teaching that we must die in order to live as Gods, and therefore He died. He did sum up in Himself all the traditions of the past for He “not only fulfilled the Judaic Scriptures, but He also fulfilled those of the pagan world, and therein lay the great appeal of early Christianity. In Him a dozen shadowy Gods were condensed into a proximate reality; and in His crucifixion the old stories of their ghastly atoning sufferings and sacrificial deaths were made actual and given a direct meaning.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, pp. 158.) But His death was also the consummating act of a life of sacrifice and service, and the logical outcome of His teaching. Pioneers and those who reveal to men their next step, those who come forth as the interpreters of the divine Plan, inevitably are repudiated, and usually die as the result of their courageous pronouncements. To this rule Christ was no exception. “Advanced Christian thinkers now regard the Crucifixion of our Lord as the supreme sacrifice made by Him for the sake of the principles of His teaching. It was the crowning act of His most heroic life, and it affords such a sublime example to mankind that meditation upon it may be said to produce a condition of at-one-ment with the Fountainhead of all goodness.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, pp. 166.)

Cơ Đốc giáo đã thừa hưởng nhiều cách diễn giải của mình, và các huấn sư cùng người diễn giải của thời Cơ Đốc giáo sơ khai không tự do khỏi ách nô lệ của những niềm tin cổ xưa hơn chúng ta [195] khỏi những cách diễn giải được gán cho Cơ Đốc giáo trong hai nghìn năm qua. Đức Christ thật sự đã ban cho chúng ta giáo huấn rằng chúng ta phải chết để sống như các vị thần, và vì thế Ngài đã chết. Ngài thật sự đã tổng kết nơi Chính Ngài mọi truyền thống của quá khứ, vì Ngài “không chỉ làm ứng nghiệm Kinh Điển Do Thái, mà Ngài cũng làm ứng nghiệm những kinh điển của thế giới ngoại giáo, và chính trong đó có sức hấp dẫn lớn lao của Cơ Đốc giáo sơ khai. Trong Ngài, hàng tá các vị thần mờ bóng được cô đọng thành một thực tại gần gũi; và trong sự đóng đinh của Ngài, những câu chuyện xưa về các đau khổ đền tội ghê rợn và các cái chết hy sinh của họ đã trở thành thực tại và được trao cho một ý nghĩa trực tiếp.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 158.) Nhưng cái chết của Ngài cũng là hành vi hoàn tất của một đời sống hy sinh và phụng sự, và là kết quả hợp lý của giáo huấn của Ngài. Những người tiên phong và những ai mặc khải cho con người bước kế tiếp của họ, những ai xuất hiện như các nhà diễn giải Thiên Cơ, tất yếu bị bác bỏ, và thường chết do hậu quả của các tuyên bố can đảm của họ. Đức Christ không phải là ngoại lệ đối với quy luật này. “Các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo tiên tiến hiện nay xem Sự Đóng Đinh của Chúa chúng ta là hy sinh tối thượng do Ngài thực hiện vì các nguyên lý trong giáo huấn của Ngài. Đó là hành vi đỉnh cao của đời sống anh hùng nhất của Ngài, và nó đem lại cho nhân loại một gương mẫu cao cả đến nỗi tham thiền về nó có thể nói là tạo ra một tình trạng hợp nhất với Nguồn Mạch của mọi điều thiện hảo.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 166.)

How then is it that today we have such an emphasis upon the blood sacrifice of Christ and upon the idea of sin? It would appear that two causes are responsible for this:

Vậy thì làm sao ngày nay chúng ta lại có sự nhấn mạnh như thế vào hy sinh bằng máu của Đức Christ và vào ý tưởng tội lỗi? Dường như có hai nguyên nhân chịu trách nhiệm cho điều này:

1. The inherited idea of blood sacrifice. As Dr. Rashdall tells us:

1. Ý tưởng thừa hưởng về hy sinh bằng máu. Như Tiến sĩ Rashdall nói với chúng ta:

“The various authors of the canonical books in fact were so accustomed to the pre-Christian ideas of an expiatory sacrifice and atonement that they accepted it without going to the roots of the matter. But this vagueness was not to the liking of the early Christian Fathers. In the Second Century A.D., Irenaeus, and after him other writers, explained the doctrine by what is called the ‘Ransom Theory,’ which states that the Devil was lawful lord of [196] mankind owing to Adam’s fall, and that God, being unable with justice to take Satan’s subjects from him without paying a ransom for them, handed over His own incarnate Son in exchange.”

“Thật ra, các tác giả khác nhau của những sách kinh điển chính thức đã quá quen thuộc với các ý tưởng tiền Cơ Đốc giáo về một hy sinh chuộc lỗi và sự đền tội đến nỗi họ chấp nhận nó mà không đi vào gốc rễ của vấn đề. Nhưng sự mơ hồ này không hợp ý các Giáo phụ Cơ Đốc giáo thời đầu. Vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, Irenaeus, và sau ông là các tác giả khác, đã giải thích giáo lý này bằng điều được gọi là ‘Thuyết Chuộc Mạng,’ nói rằng Ma Quỷ là chúa tể hợp pháp của [196] nhân loại do sự sa ngã của Adam, và rằng Thượng đế, vì không thể theo công lý mà lấy các thần dân của Satan khỏi hắn nếu không trả một giá chuộc cho họ, đã trao Con nhập thể của chính Ngài để đổi lấy.”

‘THE IDEA OF ATONEMENT’, BY H. RASHDALL, P. 248.

‘Ý TƯỞNG VỀ SỰ CHUỘC TỘI’, CỦA H. RASHDALL, TR. 248.

In this thought we have a definite demonstration of the way in which all ideas (intuitively perceived and infallibly right) are distorted. Men’s minds and preconceived notions colour them. The idea becomes the ideal, and serves a useful purpose and leads men on (as the idea of sacrifice has always led men nearer to God) until it becomes an idol, and consequently limiting and untrue.

Trong tư tưởng này, chúng ta có một minh chứng rõ ràng về cách mọi ý tưởng, dù được trực giác nhận biết và đúng đắn không sai lầm, đều bị bóp méo. Tâm trí và những quan niệm định sẵn của con người tô màu cho chúng. Ý tưởng trở thành lý tưởng, phục vụ một mục đích hữu ích và dẫn dắt con người tiến lên, như ý tưởng hy sinh vẫn luôn dẫn con người đến gần Thượng đế hơn, cho đến khi nó trở thành một thần tượng, và do đó trở nên giới hạn và không còn chân thật.

2. The growth of the consciousness of sin in the race, due to its increasing sensitivity to divinity and its consequent recognition of the shortcomings and the relative evil of the lower human nature.

2. Sự tăng trưởng của tâm thức về tội lỗi trong nhân loại, do tính nhạy bén ngày càng tăng của nhân loại đối với thiên tính, và do sự nhận ra tiếp theo đó về những thiếu sót cùng điều ác tương đối của bản chất nhân loại thấp.

We have seen that one of the factors responsible for the sin-complex of the West has been the development of the mind faculty, with its consequent aftermath of a developed conscience, a capacity to have a sense of values, and (as the result of that) the ability to see the higher and the lower natures in opposition to each other. When the higher self with its values and its range of contacts is instinctively contacted, and the lower self, with its lesser values and its more material range of activities is also realised, it necessarily follows that a sense of division and of failure is developed; men realise their lack of achievement; they become aware of God and humanity, of the world, of the flesh and the devil, but at the same time of the kingdom of God. As man develops, his definitions alter, and the crude so-called sins of the unevolved man, and the faults and failings of the average “nice” citizen of modern times involve different attitudes of mind and judgment, and surely different punitive approaches. As our sense of God changes and develops, and as we approach nearer to reality, our entire outlook upon life, ourselves and our fellowmen is apt to alter and widen, and become more divine as well as more human. It is a human [197] characteristic to be conscious of sin, and to realise that when a man has offended he must, in some form or other, pay a price. The germ of mind, even in infant humanity, gives rise to this realisation, but it took nearly two thousand years of Christianity to raise sin to a position of such importance that it occupied (as it still does) a primary place in the thought of the entire race. We have a situation wherein the law and the Church and the educators of the race are almost entirely occupied with sin and how to prevent it. One wonders sometimes what the world would have been like today if the exponents of the Christian faith had occupied themselves with the theme of love and loving service instead of with this constantly reiterated emphasis upon the blood sacrifice and upon the wickedness of man.

Chúng ta đã thấy rằng một trong những yếu tố chịu trách nhiệm cho phức cảm tội lỗi của phương Tây là sự phát triển của năng lực trí tuệ, với hệ quả tiếp theo là một lương tâm đã phát triển, một khả năng có ý thức về các giá trị, và do kết quả của điều đó, khả năng nhìn thấy các bản chất cao và thấp đối lập với nhau. Khi chân ngã, với các giá trị và phạm vi tiếp xúc của nó, được tiếp xúc một cách bản năng, và phàm ngã, với các giá trị thấp hơn và phạm vi hoạt động vật chất hơn của nó, cũng được nhận ra, thì tất yếu một ý thức về sự chia rẽ và thất bại được phát triển; con người nhận ra sự thiếu thành tựu của mình; họ trở nên ý thức về Thượng đế và nhân loại, về thế gian, về xác thịt và ma quỷ, nhưng đồng thời cũng về Thiên Giới. Khi con người phát triển, các định nghĩa của y thay đổi, và những tội lỗi thô sơ được gọi là của con người chưa tiến hóa, cùng những lỗi lầm và khiếm khuyết của người công dân “tử tế” trung bình thời hiện đại, bao hàm những thái độ trí tuệ và phán đoán khác nhau, và chắc chắn cũng những phương cách trừng phạt khác nhau. Khi ý thức của chúng ta về Thượng đế thay đổi và phát triển, và khi chúng ta tiến gần hơn đến thực tại, toàn bộ cách nhìn của chúng ta về sự sống, về chính mình và về đồng loại có khuynh hướng thay đổi, mở rộng, trở nên thiêng liêng hơn cũng như nhân bản hơn. Ý thức về tội lỗi, và nhận ra rằng khi một người đã xúc phạm thì y phải, bằng cách này hay cách khác, trả một giá, là một đặc tính [197] của con người. Mầm mống của trí tuệ, ngay cả trong nhân loại còn ấu thơ, làm phát sinh sự nhận ra này, nhưng phải mất gần hai ngàn năm của Cơ Đốc giáo mới nâng tội lỗi lên một vị trí quan trọng đến mức nó chiếm, như hiện nay vẫn vậy, một vị trí hàng đầu trong tư tưởng của toàn thể nhân loại. Chúng ta có một tình trạng trong đó luật pháp, Giáo hội và các nhà giáo dục của nhân loại hầu như hoàn toàn bận tâm với tội lỗi và cách ngăn ngừa nó. Đôi khi người ta tự hỏi thế giới ngày nay sẽ ra sao nếu những người xiển dương đức tin Cơ Đốc giáo đã bận tâm với chủ đề tình thương và phụng sự đầy tình thương, thay vì với sự nhấn mạnh được lặp đi lặp lại không ngừng vào lễ hy sinh bằng máu và vào sự độc ác của con người.

The theme of sin runs naturally and normally throughout human history; and the effort to expiate it, in the form of animal sacrifice, has always been present. The belief in an angry deity, who exacted penalties for all that was done by man against a brother, and who demanded a price for all that was given to man as a product of the natural processes of the earth, is as old as man himself. It has passed through many phases. The idea of a God Whose nature is love has battled for centuries with the idea of a God Whose nature is wrath. The outstanding contribution of Christ to world progress was His affirmation, through word and example, of the thought that God is love and not a wrathful deity, inflicting jealous retribution. The battle still rages between this ancient belief and the truth of God’s love which Christ expressed, and which Shri Krishna also embodied. But the belief in an angry, jealous God is still strongly entrenched. It is rooted in the consciousness of the race, and only today are we slowly beginning to realise a different expression of divinity. Our interpretation of sin and its penalty has been at fault, but the reality of God’s love can now be grasped and can thus offset the disastrous doctrine of an angry God Who sent His Son to be the propitiation for the world evil. Of this [198] belief Calvinism is perhaps the best and purest interpretation, and a brief statement as to that theological doctrine will present the concept in understandable terms.

Chủ đề tội lỗi chạy xuyên suốt lịch sử nhân loại một cách tự nhiên và bình thường; và nỗ lực chuộc tội ấy, dưới hình thức hiến tế súc vật, vẫn luôn hiện diện. Niềm tin vào một vị thần linh phẫn nộ, đòi hỏi hình phạt đối với mọi điều con người làm chống lại một huynh đệ, và đòi một giá phải trả cho mọi điều được trao cho con người như sản phẩm của các tiến trình tự nhiên của Trái Đất, cũng xưa như chính con người. Niềm tin ấy đã trải qua nhiều giai đoạn. Ý tưởng về một Thượng đế mà bản chất là tình thương đã chiến đấu qua nhiều thế kỷ với ý tưởng về một Thượng đế mà bản chất là cơn thịnh nộ. Đóng góp nổi bật của Đức Christ cho sự tiến bộ thế giới là sự khẳng định của Ngài, qua lời nói và gương sống, về tư tưởng rằng Thượng đế là tình thương chứ không phải một thần linh thịnh nộ, giáng sự báo ứng ghen tuông. Cuộc chiến vẫn còn dữ dội giữa niềm tin cổ xưa này và chân lý về tình thương của Thượng đế mà Đức Christ đã biểu lộ, và mà Shri Krishna cũng đã hiện thân. Nhưng niềm tin vào một Thượng đế phẫn nộ, ghen tuông vẫn còn bám rễ rất mạnh. Nó cắm sâu trong tâm thức của nhân loại, và chỉ ngày nay chúng ta mới chậm rãi bắt đầu nhận ra một biểu lộ khác của thiên tính. Cách diễn giải của chúng ta về tội lỗi và hình phạt của nó đã sai lầm, nhưng thực tại về tình thương của Thượng đế nay có thể được nắm bắt, và do đó có thể hóa giải giáo lý tai hại về một Thượng đế phẫn nộ, Đấng đã sai Con của Ngài làm lễ đền tội cho điều ác của thế gian. Có lẽ thuyết Calvin là cách diễn giải tốt nhất và thuần khiết nhất của niềm tin [198] này, và một phát biểu ngắn gọn về giáo lý thần học ấy sẽ trình bày khái niệm này bằng những thuật ngữ dễ hiểu.

“Calvinism is built upon the dogma of the absolute sovereignty of God, including omnipotence, omniscience and eternal justice—a common Christian doctrine, but developed by Calvinists with relentless logic to extreme conclusions. Calvinism is often summarised in five points. (1) Every human being as a descendant of Adam (whom all Christians in those times supposed to be an historical character) is guilty from his birth of original sin, in addition to later sins committed in his own lifetime. A man can do nothing to remove his own sin and guilt; that can only be done by the grace of God, mercifully vouchsafed to him through the atonement of Christ, and without any merit whatever on his own part; (2) So only those certain persons can be saved (particular redemption); (3) To whom God gives an effectual calling, strengthening their wills, and enabling them to accept salvation; (4) Who shall, and who shall not be saved is thus a matter of divine election, or predestination; (5) God will never fail those who are his elect: they shall never fall from ultimate salvation (perseverance of the saints). Calvinists insisted with great heat, and endeavoured with much subtility to demonstrate, that their doctrine fully provides for human freedom, and that God is in no way responsible for human sin.”

“Thuyết Calvin được xây dựng trên tín điều về quyền tối thượng tuyệt đối của Thượng đế, bao gồm toàn năng, toàn tri và công lý vĩnh cửu — một giáo lý Cơ Đốc giáo phổ thông, nhưng được những người theo Calvin phát triển bằng lôgic không khoan nhượng đến những kết luận cực đoan. Thuyết Calvin thường được tóm tắt trong năm điểm. (1) Mọi con người, với tư cách là hậu duệ của Adam, người mà mọi tín đồ Cơ Đốc giáo thời ấy đều cho là một nhân vật lịch sử, đều mắc tội nguyên tổ từ khi sinh ra, thêm vào những tội lỗi về sau phạm trong đời mình. Một người không thể làm gì để xóa bỏ tội lỗi và trách nhiệm chịu tội của chính mình; điều đó chỉ có thể được thực hiện bởi ân sủng của Thượng đế, được ban một cách từ bi cho y qua sự chuộc tội của Đức Christ, và không do bất cứ công trạng nào của chính y; (2) Vì vậy chỉ những người nhất định ấy mới có thể được cứu rỗi, tức sự cứu chuộc đặc thù; (3) Những người mà Thượng đế ban cho một tiếng gọi hiệu nghiệm, củng cố ý chí của họ, và giúp họ có khả năng chấp nhận sự cứu rỗi; (4) Ai sẽ và ai sẽ không được cứu rỗi do đó là vấn đề tuyển chọn thiêng liêng, hay tiền định; (5) Thượng đế sẽ không bao giờ bỏ rơi những người được Ngài tuyển chọn: họ sẽ không bao giờ mất sự cứu rỗi tối hậu, tức sự kiên trì của các thánh. Những người theo Calvin đã nhấn mạnh với nhiệt tình lớn lao, và cố gắng với nhiều tinh tế để chứng minh rằng giáo lý của họ hoàn toàn bảo đảm tự do của con người, và rằng Thượng đế tuyệt nhiên không chịu trách nhiệm về tội lỗi của con người.”

‘A STUDENT’S PHILOSOPHY OF RELIGION’, BY WILLIAM K. WRIGHT, P. 178.

‘TRIẾT HỌC TÔN GIÁO CỦA MỘT MÔN SINH’, CỦA WILLIAM K. WRIGHT, TR. 178.

In view, therefore, of this emphasis upon human sinfulness, and as a result of the age-old habit of offering sacrifice to God, the true mission of Christ was long ignored. Instead of His being recognised as embodying in Himself an eternal hope for the race, He was incorporated into the ancient system of sacrifices, and the ancient habits of thought were too strong for the new idea which He came to give. Sin and sacrifice ousted and supplanted the love and service which He sought to bring to our attention through His life and His words. That is also why, from the psychological angle, Christianity has produced such sad, weary, and sin-conscious men. Christ, the sacrifice for sin, and the Cross of Christ as the [199] instrument of His death, have absorbed men’s attention, whilst Christ the perfect man and Christ the Son of God have been less emphasised. The cosmic significance of the cross has been entirely forgotten (or never known) in the West.

Vì vậy, xét đến sự nhấn mạnh này vào tính tội lỗi của con người, và như kết quả của thói quen lâu đời dâng lễ hy sinh lên Thượng đế, sứ mệnh chân thật của Đức Christ đã bị phớt lờ trong thời gian dài. Thay vì được nhận ra như Đấng hiện thân trong chính Ngài một niềm hy vọng vĩnh cửu cho nhân loại, Ngài đã bị đưa vào hệ thống hiến tế cổ xưa, và các thói quen tư tưởng cổ xưa quá mạnh đối với ý tưởng mới mà Ngài đến để trao ban. Tội lỗi và hy sinh đã đẩy lùi và thay thế tình thương cùng phụng sự mà Ngài tìm cách đưa đến sự chú ý của chúng ta qua đời sống và lời nói của Ngài. Đó cũng là lý do vì sao, nhìn từ góc độ tâm lý, Cơ Đốc giáo đã tạo ra những con người buồn bã, mỏi mệt và đầy ý thức tội lỗi như thế. Đức Christ, lễ hy sinh cho tội lỗi, và Thập Giá của Đức Christ như [199] công cụ của cái chết Ngài, đã thu hút sự chú ý của con người, trong khi Đức Christ, con người hoàn hảo, và Đức Christ, Con của Thượng đế, lại ít được nhấn mạnh hơn. Ý nghĩa vũ trụ của thập giá đã hoàn toàn bị quên lãng, hoặc chưa bao giờ được biết đến, ở phương Tây.

Salvation is not primarily connected with sin. Sin is a symptom of a condition, and when a man is “truly saved” that condition is offset, and with it the incidental sinful nature. It was this that Christ came to do—to show us the nature of the “saved” life; to demonstrate to us the quality of the eternal Self which is in every man; this is the lesson of the Crucifixion and the Resurrection: the lower nature must die in order that the higher may be manifested, and the eternal immortal soul in every man must rise from the tomb of matter. It is interesting to trace the idea that men must suffer in this world as the result of sin. In the East, where the doctrines of reincarnation and of karma hold sway, a man suffers for his own deeds and sins and “works out his own salvation, with fear and trembling.” (Philippians, II, 12.) In the Jewish teaching a man suffers for the sins of his forebears and of his nation, and thus gives substance to a truth which is only today beginning to be a known fact—the truth of physical inheritance. Under the Christian teaching, Christ, the perfect man, suffers with God, because God so loved the world that, immanent in it as He is, He could not divorce Himself from the consequences of human frailty and ignorance. Thus humanity gives a purpose to pain, and thus evil is eventually defeated.

Sự cứu rỗi không chủ yếu liên hệ với tội lỗi. Tội lỗi là triệu chứng của một tình trạng, và khi một người “thật sự được cứu rỗi”, tình trạng ấy được hóa giải, và cùng với nó là bản chất tội lỗi đi kèm. Chính điều này Đức Christ đã đến để thực hiện — để cho chúng ta thấy bản chất của đời sống “được cứu rỗi”; để chứng minh cho chúng ta phẩm tính của Bản Ngã vĩnh cửu vốn ở trong mỗi người; đây là bài học của sự Đóng Đinh và sự Phục Sinh: bản chất thấp phải chết để bản chất cao có thể biểu lộ, và linh hồn vĩnh cửu bất tử trong mỗi người phải trỗi dậy khỏi ngôi mộ của vật chất. Thật thú vị khi truy nguyên ý tưởng rằng con người phải đau khổ trong thế giới này như kết quả của tội lỗi. Ở phương Đông, nơi các giáo lý về tái sinh và nghiệp quả chi phối, một người chịu đau khổ vì những hành vi và tội lỗi của chính mình, và “tự thực hiện sự cứu rỗi của mình, với kính sợ và run rẩy.” (Thư gửi tín hữu Philipphê, II, 12.) Trong giáo huấn Do Thái, một người chịu đau khổ vì tội lỗi của tổ tiên và dân tộc mình, và như thế làm cho một chân lý trở nên cụ thể mà chỉ ngày nay mới bắt đầu trở thành một sự kiện được biết đến — chân lý về di truyền thể xác. Theo giáo huấn Cơ Đốc giáo, Đức Christ, con người hoàn hảo, chịu đau khổ cùng với Thượng đế, bởi vì Thượng đế yêu thương thế gian đến nỗi, nội tại trong đó như Ngài vốn là, Ngài không thể tách rời chính Ngài khỏi những hậu quả của sự yếu đuối và vô minh của con người. Như vậy nhân loại đem lại mục đích cho đau khổ, và như vậy điều ác cuối cùng bị đánh bại.

The thought and idea of sacrifice for the sins of the people was not the original and basic idea. Originally, infant humanity offered sacrifices to God to appease His wrath, displayed in the elements through storms and earthquakes and physical disasters. When, instinctively, men turned on each other, when they offended and hurt one another, and so transgressed a dimly sensed realisation of human relationships and intercourse, sacrifice was offered again to God so that He too would not hurt mankind. Thus little by little [200] the idea grew until, at last, the salvation concept might be briefly summarised in the following terms:

Tư tưởng và ý tưởng về sự hy sinh vì tội lỗi của dân chúng không phải là ý tưởng nguyên thủy và căn bản. Ban đầu, nhân loại ấu thơ dâng các lễ hy sinh lên Thượng đế để xoa dịu cơn thịnh nộ của Ngài, được biểu hiện trong các nguyên tố qua bão tố, động đất và các tai họa hồng trần. Khi, theo bản năng, con người quay sang chống lại nhau, khi họ xúc phạm và gây tổn thương cho nhau, và do đó vi phạm một nhận biết còn mờ nhạt về các mối quan hệ và sự giao tiếp của con người, lễ hy sinh lại được dâng lên Thượng đế để Ngài cũng sẽ không làm tổn thương nhân loại. Như thế, từng chút một [200] ý tưởng ấy lớn lên cho đến khi, sau cùng, khái niệm cứu rỗi có thể được tóm tắt ngắn gọn bằng những thuật ngữ sau:

1. Men are saved from the wrath of God in natural phenomena through animal sacrifices, preceded in still more ancient times by the sacrifice of the fruits of the earth.

1. Con người được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thượng đế trong các hiện tượng tự nhiên nhờ các lễ hiến tế súc vật, mà trong những thời cổ xưa hơn nữa đã được đi trước bằng việc hiến tế hoa trái của đất.

2. Men are saved from God’s wrath and from each other by the sacrifice of that which is valued, leading eventually to human sacrifices.

2. Con người được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thượng đế và khỏi nhau bằng sự hy sinh những gì được quý trọng, cuối cùng dẫn đến các lễ hiến tế con người.

3. Men are saved by the sacrifice of a recognised Son of God, hence the vicarious atonement, for which the many crucified world Saviours prepared the way for Christ.

3. Con người được cứu bằng sự hy sinh của một Con của Thượng đế được công nhận, do đó có sự chuộc tội thay thế, mà nhiều Đấng Cứu Thế của thế gian từng bị đóng đinh đã chuẩn bị con đường cho Đức Christ.

4. Men are definitely saved from eternal punishment for their sins by the death of Christ upon the Cross, the sinner guilty of an unkind word being as much responsible for the death of Christ as the vilest murderer.

4. Con người chắc chắn được cứu khỏi hình phạt vĩnh cửu vì tội lỗi của mình bởi cái chết của Đức Christ trên Thập Giá, kẻ tội lỗi phạm một lời thiếu tử tế cũng chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Christ không kém gì tên sát nhân đê tiện nhất.

5. Finally, the gradually emerging recognition that we are saved by the living risen Christ—historically presenting to us a goal, and present in each of us as the eternal omniscient soul of man.

5. Sau cùng, sự nhận biết đang dần xuất hiện rằng chúng ta được cứu bởi Đức Christ hằng sống và phục sinh — về mặt lịch sử, Ngài trình bày cho chúng ta một mục tiêu, và hiện diện trong mỗi chúng ta như linh hồn vĩnh cửu toàn tri của con người.

Today it is the risen Christ who is emerging into the forefront of men’s consciousness, and because of this we are on our way towards a period of greater spirituality and a truer expression of religion than at any other time in the history of man. The religious consciousness is the persistent expression of the indwelling spiritual man, the Christ within; and no outer earthly happenings, and no national situations, no matter how temporarily material they may appear to be in their objectives, can dull or obliterate the Presence of God in us. We are learning that that Presence can be released in us only by the death of the lower nature, and this is what Christ has always proclaimed to us from His Cross. We are realising increasingly that the “fellowship of His sufferings” means that we mount the Cross with Him and share constantly in the Crucifixion experience. We are coming to the knowledge that the determining factor in human life is love, and that “God is love.” (I St. John, IV, 8.) Christ came to show us that love was the motivating [201] power of the universe. He suffered and died because He loved and cared enough for human beings to demonstrate to them the Way that they must go—from the cave of Birth to the mount of Transfiguration, and on to the agony of the Crucifixion—if they too are to share in the life of humanity and become, in their turn, saviours of their fellowmen.

Ngày nay, chính Đức Christ phục sinh đang hiện lên hàng đầu trong tâm thức con người, và vì điều này chúng ta đang trên đường tiến tới một thời kỳ có tinh thần lớn lao hơn và một biểu lộ tôn giáo chân thật hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử con người. Tâm thức tôn giáo là biểu lộ bền bỉ của con người tinh thần nội tại, Đức Christ bên trong; và không biến cố trần thế bên ngoài nào, không tình huống quốc gia nào, dù tạm thời có vẻ vật chất đến đâu trong các mục tiêu của chúng, có thể làm mờ hoặc xóa bỏ Sự Hiện Diện của Thượng đế trong chúng ta. Chúng ta đang học rằng Sự Hiện Diện ấy chỉ có thể được giải phóng trong chúng ta bằng cái chết của bản chất thấp, và đây là điều Đức Christ vẫn luôn tuyên bố với chúng ta từ Thập Giá của Ngài. Chúng ta ngày càng nhận ra rằng “sự thông công trong những đau khổ của Ngài” nghĩa là chúng ta lên Thập Giá cùng với Ngài và liên tục chia sẻ trong kinh nghiệm Đóng Đinh. Chúng ta đang đi đến tri thức rằng yếu tố quyết định trong đời sống con người là tình thương, và rằng “Thượng đế là tình thương.” (Thư thứ nhất của Thánh Gioan, IV, 8.) Đức Christ đã đến để chỉ cho chúng ta thấy rằng tình thương là quyền năng thúc đẩy [201] của vũ trụ. Ngài chịu đau khổ và chết vì Ngài yêu thương và quan tâm đủ đến con người để chứng minh cho họ Con Đường mà họ phải đi — từ hang đá Giáng Sinh đến núi Biến hình, rồi đến cơn thống khổ của sự Đóng Đinh — nếu họ cũng muốn chia sẻ trong đời sống của nhân loại và đến lượt mình trở thành những vị cứu tinh của đồng loại.

How then shall we define sin? First let us look at the words which are used in the Bible and in theological works and commentaries dealing with the theme of sin, transgression, iniquity, evil, separation. All of these are expressions of man’s relation to God and to his fellowmen and, according to the New Testament, these terms—God and our fellowmen—are interchangeable terms. What do these words mean?

Vậy chúng ta sẽ định nghĩa tội lỗi như thế nào? Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào những từ được dùng trong Kinh Thánh và trong các tác phẩm thần học cùng các bình giải đề cập đến chủ đề tội lỗi, sự vi phạm, sự bất chính, điều ác, sự chia rẽ. Tất cả những điều này là các biểu lộ của mối quan hệ của con người với Thượng đế và với đồng loại của y, và theo Tân Ước, hai thuật ngữ này — Thượng đế và đồng loại của chúng ta — là những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau. Những từ này có nghĩa gì?

The real meaning of the word sin is very obscure. It signifies literally “the one who it is.” (Webster’s ‘Unabridged Dictionary’.) Literally, therefore, the one who is in existence, just in so far as he sets himself up against the divine aspect hidden in himself, is a sinner. Some words by Dr. Grensted are illuminating in this connection. He says:

Ý nghĩa thật của từ tội lỗi rất tối nghĩa. Theo nghĩa đen, nó biểu thị “kẻ là nó.” (Từ điển Webster không giản lược.) Do đó, theo nghĩa đen, kẻ đang hiện hữu, đúng trong chừng mực y dựng chính mình lên chống lại phương diện thiêng liêng ẩn giấu trong chính mình, là một kẻ tội lỗi. Một vài lời của Tiến sĩ Grensted soi sáng trong mối liên hệ này. Ông nói:

“ ‘Men turned away from God,’ says Athanasius, ‘when they began to give heed to themselves.’ Augustine identifies sin with the love of self. Dr. Williams has argued that the underlying principle from which sin arises is to be found in ‘the self-assertion of the individual against the herd, a principle which we can only designate by the inadequate titles of selfishness, lovelessness and hate.’ And Dr. Kirk declares that ‘sin may be said to begin with self-regard.’ ”

“‘Con người quay lưng khỏi Thượng đế,’ Athanasius nói, ‘khi họ bắt đầu chú tâm đến chính mình.’ Augustine đồng nhất tội lỗi với tình yêu bản thân. Tiến sĩ Williams đã lập luận rằng nguyên lý nền tảng từ đó tội lỗi phát sinh được tìm thấy trong ‘sự tự khẳng định của cá nhân chống lại bầy đàn, một nguyên lý mà chúng ta chỉ có thể gọi bằng những danh xưng bất toàn là ích kỷ, thiếu tình thương và thù ghét.’ Và Tiến sĩ Kirk tuyên bố rằng ‘có thể nói tội lỗi bắt đầu với sự chú ý đến bản thân.’”

‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 136.

‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 136.