← From Bethlehem to Calvary – Alice A. Bailey song ngữ_fixed

CHAPTER FIVE - The Fourth Initiation . . . The Crucifixion – CHƯƠNG NĂM - Lần điểm đạo thứ tư . . . Sự Đóng Đinh

Trích nội dung chương

This awareness of the fact of divinity is established in our consciousness first of all through the recognition of the wonder latent in every human being. That man who sees no good in his fellowmen is he who is unaware of his own goodness; that man who sees only evil in those around him is he who is seeing them through the distorted lens of his own warped nature. But those who are awakening to the world of reality are constantly made aware of the divinity in man, through his unselfish acts, his kindness, his spirit of enquiry, his light-heartedness in difficulty, and his basic essential goodness. This awareness deepens as he studies the…


This awareness of the fact of divinity is established in our consciousness first of all through the recognition of the wonder latent in every human being. That man who sees no good in his fellowmen is he who is unaware of his own goodness; that man who sees only evil in those around him is he who is seeing them through the distorted lens of his own warped nature. But those who are awakening to the world of reality are constantly made aware of the divinity in man, through his unselfish acts, his kindness, his spirit of enquiry, his light-heartedness in difficulty, and his basic essential goodness. This awareness deepens as he studies the history of the race and the religious inheritance of the ages, and above all when he is brought face to face with the transcendent goodness and wonder which Christ revealed. From this realisation he passes on to the discovery of the divine in himself, and starts on that long struggle which carries him through the stages of intellectual awareness of possibility, and of intuitive perception of truth, to that illumination which is the prerogative and the gift of all the perfected sons of God. The radiant inner body of light is present both in the individual and in the race, unseen and unrevealed, but slowly and surely emerging. At the present hour a large number of mankind are engaged in the activities of the six days which precede the transfiguration experience.

Sự nhận thức về sự kiện thiên tính này được thiết lập trong tâm thức chúng ta trước hết qua việc nhận biết điều kỳ diệu tiềm tàng trong mỗi con người. Người nào không thấy điều tốt nơi đồng loại mình là người không nhận thức được lòng tốt của chính mình; người nào chỉ thấy điều xấu nơi những người quanh mình là người đang nhìn họ qua thấu kính méo mó của bản chất lệch lạc của chính mình. Nhưng những ai đang thức tỉnh với thế giới thực tại thì không ngừng được làm cho nhận thức về thiên tính trong con người, qua các hành động vô vị kỷ của y, lòng tốt của y, tinh thần tìm hiểu của y, sự nhẹ lòng của y trong khó khăn, và lòng tốt căn bản cốt yếu của y. Sự nhận thức này sâu sắc thêm khi y nghiên cứu lịch sử nhân loại và di sản tôn giáo của các thời đại, và trên hết khi y được đưa đến đối diện trực tiếp với lòng tốt và điều kỳ diệu siêu việt mà Đức Christ đã mặc khải. Từ sự chứng nghiệm này, y tiến tới việc khám phá cái thiêng liêng trong chính mình, và bắt đầu cuộc đấu tranh dài lâu đưa y qua các giai đoạn nhận thức trí tuệ về khả năng, và tri nhận trực giác về chân lý, đến sự soi sáng vốn là đặc quyền và tặng phẩm của tất cả các Con của Thượng đế đã hoàn thiện. Thể ánh sáng rạng rỡ bên trong hiện diện trong cả cá nhân lẫn nhân loại, không được thấy và chưa được mặc khải, nhưng đang chậm rãi và chắc chắn xuất hiện. Vào giờ hiện tại, một số lớn nhân loại đang dấn thân vào các hoạt động của sáu ngày đi trước kinh nghiệm biến hình.

It is important here to study briefly the place of the disciples in the story of this experience. Down through Biblical history we meet this triplicity. Moses, Aaron and Joshua; Job and his three friends; Shadrach, Meschach and [153] Abednego, the friends of Daniel; the three kings at the cradle in Bethlehem; the three disciples at the Transfiguration; the three Crosses on Calvary! What accounts for this constant recurrence of three? What does it symbolise? Apart from their possible historical appearance, does there lie behind them some peculiar symbology which can, when understood, render clear the circumstances in which they played their part? A study of their names and the interpretation of them as given in the familiar Cruden’s Concordance may supply a clue. Take, for instance, the meaning of the names of Job’s friends. They were Eliphaz the Temanite, Bildad the Shuhite, and Zophar the Naamathite. Eliphaz the Temanite means “my God is gold,” and also “the southern quarter,” the opposite pole to the north. Gold is the symbol of material welfare, and the opposite pole to spirit is matter, therefore in this name we have symbolised the tangible outer form of man, actuated by desire for material possessions and comfort. Zophar the Naamathite means the “one who talks,” and his theme is pleasantness, which is the interpretation given to the word “Naamathite.” Here we have the desire body typified, with its longing for pleasantness, for happiness and for pleasure, and an indication of the constant and ceaseless call and voice of the sentient nature, to which we can all testify. Bildad the Shuhite represents the mental nature, the mind, signifying as he does “contrition,” which becomes possible only when the mind is beginning to be active (including the conscience). Shuhite means “prostration or helplessness,” signifying that alone and unaided the mind can reveal but cannot help. Remorse and sorrow, involving memory, are the result of mental activity. Thus, in Job’s three friends the three as aspects of his lower nature stand revealed. The same is the case when we study the names of Daniel’s three friends. Abednego means the “servant of the sun,” the server of the light; in that significance the whole duty and purpose of the physical outer man is summed up. Shadrach’s name has a definitely emotional sentient connotation, for it means [154] “rejoicing in the way,” and wherever we find reference to the basic dualities of pleasure and pain we are considering the emotional-feeling nature. Meschach means “agile,” quick moving, which is in itself a very good description of the mental nature. Arjuna, in The Bhagavad Gita (VI, 33,34.) points this out in his words to Krishna: “This union through oneness which is taught by Thee, ... I perceive not its firm foundation, owing to the wavering of the mind; for the mind wavers, Krishna, turbulent, impetuous, forceful; and I think it is as hard to hold as the wind.”

Điều quan trọng ở đây là nghiên cứu ngắn gọn vị trí của các đệ tử trong câu chuyện về kinh nghiệm này. Suốt lịch sử Kinh Thánh, chúng ta gặp bộ ba này. Moses, Aaron và Joshua; Job và ba người bạn của ông; Shadrach, Meschach và [153] Abednego, những người bạn của Daniel; ba vị vua bên máng cỏ ở Bethlehem; ba đệ tử tại cuộc Biến hình; ba cây Thập Giá trên Calvary! Điều gì giải thích cho sự tái diễn thường xuyên của con số ba này? Nó tượng trưng cho điều gì? Ngoài sự xuất hiện lịch sử khả hữu của họ, phải chăng đằng sau họ có một biểu tượng học đặc thù nào đó, mà khi được thấu hiểu, có thể làm sáng tỏ những hoàn cảnh trong đó họ đã đóng vai trò của mình? Việc nghiên cứu tên gọi của họ và cách diễn giải các tên ấy như được trình bày trong bộ Cruden’s Concordance quen thuộc có thể cung cấp một manh mối. Chẳng hạn, hãy xét ý nghĩa tên của các bạn ông Job. Họ là Eliphaz người Teman, Bildad người Shuh, và Zophar người Naamath. Eliphaz người Teman nghĩa là “Thượng đế của tôi là vàng,” và cũng là “phương nam,” cực đối nghịch với phương bắc. Vàng là biểu tượng của phúc lợi vật chất, và cực đối nghịch với tinh thần là vật chất; vì vậy, trong tên gọi này, chúng ta có biểu tượng của hình tướng bên ngoài hữu hình của con người, được thúc đẩy bởi dục vọng đối với của cải vật chất và tiện nghi. Zophar người Naamath nghĩa là “người nói,” và chủ đề của y là sự dễ chịu, vốn là cách diễn giải dành cho từ “Naamathite.” Ở đây chúng ta có thể cảm dục được tiêu biểu hóa, với sự khao khát điều dễ chịu, hạnh phúc và khoái lạc, cùng một chỉ dấu về tiếng gọi và tiếng nói liên tục, không ngừng của bản chất cảm giác, điều mà tất cả chúng ta đều có thể chứng thực. Bildad người Shuh tượng trưng cho bản chất trí tuệ, thể trí, vì ông biểu thị “sự hối lỗi,” điều chỉ trở nên khả hữu khi thể trí bắt đầu hoạt động, kể cả lương tâm. Shuhite nghĩa là “sự phủ phục hoặc bất lực,” biểu thị rằng một mình và không được trợ giúp, thể trí có thể mặc khải nhưng không thể giúp đỡ. Sự ăn năn và đau buồn, vốn liên quan đến ký ức, là kết quả của hoạt động trí tuệ. Như vậy, trong ba người bạn của Job, ba phương diện của bản chất thấp của ông được hiển lộ. Trường hợp cũng tương tự khi chúng ta nghiên cứu tên của ba người bạn Daniel. Abednego nghĩa là “người phụng sự mặt trời,” người phụng sự ánh sáng; trong thâm nghĩa ấy, toàn bộ bổn phận và mục đích của phàm nhân bên ngoài hồng trần được tóm kết. Tên Shadrach có sắc thái cảm giác xúc cảm rõ rệt, vì nó có nghĩa [154] “hoan hỉ trên đường,” và bất cứ nơi nào chúng ta gặp sự quy chiếu đến các nhị nguyên căn bản của khoái lạc và đau khổ, thì chúng ta đang xem xét bản chất xúc cảm-cảm giác. Meschach nghĩa là “lanh lẹ,” chuyển động nhanh, tự thân là một mô tả rất đúng về bản chất trí tuệ. Arjuna, trong The Bhagavad Gita (VI, 33,34.), nêu rõ điều này trong những lời của ông nói với Krishna: “Sự hợp nhất qua tính nhất thể mà Ngài dạy,... tôi không nhận thấy nền tảng vững chắc của nó, do sự dao động của thể trí; vì thể trí dao động, Krishna, nhiễu loạn, bốc đồng, mãnh liệt; và tôi nghĩ rằng giữ nó lại cũng khó như giữ gió.”

Thus in the three friends, and in the various triplicities which we find in the Bible, we discover a symbolism which is vitally illuminating. The three aspects through which the soul must express itself, and through which it must shine, are thus portrayed. It is the same in connection with the three friends of Jesus Christ. I cannot here touch upon the friendships of Jesus Christ. They are very real and very deep, and universal in their inclusiveness. They are timeless and eternal, and the friends of Christ are to be found in every race (Christian or otherwise), in every clime and in both hemispheres. And be it remembered, it is only the friends of Christ who have any right to be dogmatic about Him, or who can speak with any authority of Him and His ideas, because theirs is the authority of love and of understanding.

Như vậy, trong ba người bạn, và trong những bộ ba khác nhau mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh, chúng ta khám phá một biểu tượng học soi sáng một cách sống động. Ba phương diện qua đó linh hồn phải biểu lộ chính mình, và qua đó nó phải chiếu sáng, được phác họa như thế. Điều này cũng đúng liên quan đến ba người bạn của Đức Jesus Christ. Ở đây tôi không thể bàn đến các tình bạn của Đức Jesus Christ. Chúng rất thật và rất sâu, và phổ quát trong tính bao gồm của chúng. Chúng vượt thời gian và vĩnh cửu, và các bạn của Đức Christ có thể được tìm thấy trong mọi giống dân, dù là Kitô giáo hay không, trong mọi miền khí hậu và ở cả hai bán cầu. Và xin nhớ rằng, chỉ các bạn của Đức Christ mới có quyền giáo điều về Ngài, hoặc có thể nói với bất cứ thẩm quyền nào về Ngài và các ý tưởng của Ngài, vì thẩm quyền của họ là thẩm quyền của tình thương và của sự thấu hiểu.

We find also this basic triplicity in the persons of Peter and James and John, and in their names we find the same essential symbolism working out, thus giving us the clue to the meaning of this wonderful story. Peter, as we well know, means “rock.” Here is the foundation, the most concrete aspect, the outer physical form, which, at the Transfiguration, is transformed by the glory of God, so that the outer image disappears, and God Himself shines forth. James, we are told, signifies “illusion,” distortion. Here we have reference to the emotional-feeling body, with its power [155] to misrepresent and to deceive, to mislead and to delude. Where emotion enters in, and where the focus of attention is in sensitive and sensuous reaction, that which is not true rapidly appears, and the man becomes the subject of illusion. It is this body of illusion which is eventually transmuted, and so changed and stabilised that it provides a clear medium for the revelation of deity. John means “the Lord hath spoken,” and herein is the mind nature typified, because it is only when the mental aspect begins to manifest that we have the appearance of speech and of that thinking, speaking animal which we call “man.” So, in the apt symbology of the Scripture, Christ’s three friends stood for the three aspects of His human nature, and it was upon this integrated, focussed and consecrated personality that the transfiguration made its impact and produced revelation. Thus again the essential duality of humanity is revealed through Christ, and His threefold personality and His essential divinity are portrayed for us in such a way that the lesson (and the possibility) cannot be evaded. The Apostles recognised God in their Master, taking their stand upon the fact of this divinity, as have the mystics of all time.

Chúng ta cũng thấy bộ ba căn bản này nơi các nhân vật Peter, James và John, và trong tên của họ, chúng ta thấy cùng biểu tượng học cốt yếu ấy được thể hiện, nhờ đó trao cho chúng ta chìa khóa đi vào ý nghĩa của câu chuyện kỳ diệu này. Như chúng ta đều biết, Peter nghĩa là “đá.” Đây là nền tảng, phương diện cụ thể nhất, hình tướng hồng trần bên ngoài, vốn trong cuộc Biến hình được chuyển đổi bởi vinh quang của Thượng đế, đến nỗi hình ảnh bên ngoài biến mất, và chính Thượng đế chiếu rạng. Chúng ta được cho biết rằng James biểu thị “ảo tưởng,” sự biến dạng. Ở đây chúng ta có sự quy chiếu đến thể xúc cảm-cảm giác, với quyền năng [155] xuyên tạc và lừa dối, dẫn lạc và mê hoặc. Nơi nào xúc cảm xen vào, và nơi nào trọng tâm chú ý đặt vào phản ứng nhạy cảm và giác quan, nơi đó điều không thật nhanh chóng xuất hiện, và con người trở thành đối tượng của ảo tưởng. Chính thể ảo tưởng này cuối cùng được chuyển hoá, và được thay đổi cùng ổn định đến mức nó cung cấp một trung gian trong sáng cho sự mặc khải của Thượng đế. John nghĩa là “Chúa đã phán,” và chính trong đó bản chất thể trí được tiêu biểu hóa, bởi vì chỉ khi phương diện trí tuệ bắt đầu biểu hiện, chúng ta mới có sự xuất hiện của lời nói và của con thú biết suy tư, biết nói mà chúng ta gọi là “con người.” Vì vậy, trong biểu tượng học thích hợp của Thánh Kinh, ba người bạn của Đức Christ đại diện cho ba phương diện của bản chất nhân loại nơi Ngài, và chính trên phàm ngã tích hợp, tập trung và thánh hiến này mà cuộc Biến hình đã tạo tác động và sản sinh sự mặc khải. Như vậy, một lần nữa, nhị nguyên cốt yếu của nhân loại được mặc khải qua Đức Christ, và phàm ngã tam phân cùng thiên tính cốt yếu của Ngài được phác họa cho chúng ta theo cách khiến bài học, và khả năng ấy, không thể bị né tránh. Các Tông đồ nhận ra Thượng đế nơi Chân sư của họ, đứng vững trên sự kiện về thiên tính này, như các nhà thần bí mọi thời đã từng làm.

They “knew Whom they had believed.” (II Timothy, I, 12.) They saw the light which shone in the Person of Jesus Christ, and for them He was more than the Person they had known heretofore. Through this experience God became a reality to them.

Họ “biết Đấng mà họ đã tin.” (II Timothy, I, 12.) Họ thấy ánh sáng chiếu rạng trong Ngôi vị của Đức Jesus Christ, và đối với họ, Ngài còn hơn Ngôi vị mà họ đã biết trước đó. Qua kinh nghiệm này, Thượng đế trở thành một thực tại đối với họ.

In the synthesis of the past, the present and the future, Christ and those who were immediately His friends, met with God, and so potent was this combination that it evoked from God Himself an immediate response. When feeling and thought meet in a moment of realisation, there is a simultaneous precipitation of energy, and life is forever after different. That which has been believed is known as fact, and belief is no longer necessary.

Trong sự tổng hợp của quá khứ, hiện tại và tương lai, Đức Christ cùng những người bạn thân cận của Ngài đã gặp Thượng đế, và sự kết hợp này mạnh mẽ đến nỗi nó gợi lên từ chính Thượng đế một đáp ứng tức thời. Khi cảm giác và tư tưởng gặp nhau trong một khoảnh khắc chứng nghiệm, có sự ngưng tụ năng lượng đồng thời, và từ đó về sau đời sống mãi mãi khác đi. Điều đã được tin nay được biết như sự kiện, và niềm tin không còn cần thiết nữa.

3

3

[156] The Transfiguration scene was the meeting-ground of significant factors, and since that moment the life of humanity has been radically changed. It was as potent a moment in racial history as the Crucifixion, of more potency perhaps than even that great and tragic happening. Seldom do such moments come. Usually we see only faint glimpses of possibility, rare flashes of illumination, and fleeting seconds wherein a synthesis appears and leaves us with a sense of fitness, of integration, of purpose and of underlying reality. But such moments are rare indeed. We know God is. We know reality exists. But life, with its emphasis directed on phenomena, its stresses and its strains, so preoccupies us that we have no time, after the six days’ labour, to climb the mountain of vision. A certain familiarity with God’s nature must surely precede the revelation of Himself which He can and does at times accord. Christ’s three friends had been admitted to a degree of intimacy with Him which warranted their being chosen as His companions at the scene of His experience, wherein He staged, for the benefit of humanity, a symbolic event as well as a definite experience for which arrangement had duly to be made with the participants correctly chosen and trained, so that the symbolism which they embodied might appear, and their intuitive reactions be rightly directed. It was necessary that Christ should have with Him those who could be depended upon to recognise divinity when it appeared, and whose intuitive spiritual perception would be such that—for all time—the inner meaning might be made apparent to those of us who have followed later in His steps. This is a point at times forgotten. Inevitably “we shall be like Him, for we shall see Him as He is.” (I St. John, III, 2.)

[156] Quang cảnh Biến hình là nơi hội tụ của những yếu tố đầy thâm nghĩa, và từ khoảnh khắc ấy, đời sống nhân loại đã biến đổi tận gốc. Đó là một khoảnh khắc trong lịch sử nhân loại mạnh mẽ như cuộc Đóng Đinh, có lẽ còn mạnh mẽ hơn cả biến cố vĩ đại và bi thảm ấy. Những khoảnh khắc như thế hiếm khi xảy đến. Thông thường, chúng ta chỉ thấy những thoáng nhìn mờ nhạt về khả năng, những tia soi sáng hiếm hoi, và những giây phút thoáng qua trong đó một sự tổng hợp xuất hiện, để lại cho chúng ta một cảm thức về sự thích hợp, về sự tích hợp, về mục đích và về thực tại nền tảng. Nhưng những khoảnh khắc như thế thật sự rất hiếm. Chúng ta biết Thượng đế hiện hữu. Chúng ta biết thực tại tồn tại. Nhưng đời sống, với sự nhấn mạnh đặt vào các hiện tượng, những căng thẳng và áp lực của nó, chiếm hữu chúng ta đến mức sau sáu ngày lao động, chúng ta không còn thời gian để leo lên ngọn núi của tầm nhìn. Chắc chắn phải có một mức độ quen thuộc nào đó với bản chất của Thượng đế trước khi sự mặc khải về chính Ngài, điều Ngài có thể và đôi khi thật sự ban cho, xảy đến. Ba người bạn của Đức Christ đã được nhận vào một mức độ thân mật với Ngài, đủ để bảo đảm việc họ được chọn làm bạn đồng hành của Ngài trong quang cảnh kinh nghiệm của Ngài, nơi Ngài dàn dựng, vì lợi ích của nhân loại, một biến cố biểu tượng cũng như một kinh nghiệm xác định, mà sự sắp đặt đã phải được thực hiện thích đáng với những người tham dự được chọn và huấn luyện đúng đắn, để biểu tượng học mà họ hiện thân có thể xuất hiện, và các phản ứng trực giác của họ được hướng dẫn đúng. Đức Christ cần có bên Ngài những người có thể được tin cậy sẽ nhận ra thiên tính khi nó xuất hiện, và có tri giác tinh thần trực giác đến mức—cho mọi thời—ý nghĩa bên trong có thể trở nên hiển nhiên đối với những ai trong chúng ta sau này đã theo bước Ngài. Đây là một điểm đôi khi bị quên lãng. Tất yếu, “chúng ta sẽ giống Ngài, vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài là.” (I St. John, III, 2.)

But to bring about this likeness two things are necessary to the consecrated and dedicated disciple. He must be able [157] to see clearly, meanwhile standing in the illumination which radiates from Christ, and his intuition must be active, so that he can rightly interpret what he sees. He loves his Master, and he serves with what faithfulness he can; but more than devotion and service are needed. He must be able to face the illumination, and at the same time he must have that spiritual perception which, reaching out beyond the point to which the intellect can carry him, sees and touches reality. It is love and intellect combined, plus the power to know, which is inherent in the soul, which recognises intuitively that which is holy, universal and real, and yet which is specific and true for all time to all people.

Nhưng để đưa đến sự giống nhau này, hai điều cần thiết đối với người đệ tử đã thánh hiến và tận hiến. Y phải có khả năng [157] nhìn thấy rõ ràng, trong khi đứng trong sự soi sáng phát ra từ Đức Christ, và trực giác của y phải hoạt động, để y có thể diễn giải đúng điều y thấy. Y yêu Chân sư của mình, và phụng sự với hết mức trung tín y có thể; nhưng cần nhiều hơn là sùng tín và phụng sự. Y phải có khả năng đối diện với sự soi sáng, đồng thời phải có tri giác tinh thần vươn ra vượt quá điểm mà trí năng có thể đưa y tới, thấy và chạm đến thực tại. Chính tình thương và trí năng kết hợp, cộng với quyền năng biết vốn cố hữu trong linh hồn, nhận ra bằng trực giác điều thiêng liêng, phổ quát và chân thật, nhưng đồng thời đặc thù và đúng thật cho mọi thời đối với mọi người.

Christ revealed the quality of the divine nature through the medium of matter, of form, and “was transfigured before them.”

Đức Christ mặc khải phẩm tính của bản chất thiêng liêng qua trung gian của vật chất, của hình tướng, và “được biến hình trước mặt họ.”

“The Greek word here used is ‘metamorphosed,’ the very word used by St. Paul to describe the transmutation of the mortal body into the resurrection body; for on the day of fulfilment, when the perfected disciple has attained masterhood, the ‘Robe of Glory’ shines forth with such splendour through the garment of the flesh that all the beholders perceive it, and, their eyes and ears attuned to finer subtle vibration, they behold their Master in all His divine humanity.”

“Từ Hy Lạp được dùng ở đây là ‘biến đổi hình thái,’ chính là từ được Thánh Paul dùng để mô tả sự chuyển hoá của thể xác hữu tử thành thể phục sinh; vì vào ngày thành tựu, khi đệ tử hoàn thiện đã đạt đến địa vị Chân sư, ‘Áo Choàng Vinh Quang’ chiếu rạng với vẻ huy hoàng đến thế qua lớp y phục xác thịt, khiến mọi người chứng kiến đều nhận thấy, và khi mắt tai họ được điều hợp với rung động tinh tế hơn, họ chiêm ngưỡng Chân sư của mình trong trọn vẹn nhân tính thiêng liêng của Ngài.”

‘THE MYSTERY TEACHING IN THE WEST’, BY JEAN DELAIRE, P. 121.

‘THE MYSTERY TEACHING IN THE WEST’, CỦA JEAN DELAIRE, TR. 121.

It is interesting to note that, in spite of their recognition of the significance of the event in which they were participating, the three Apostles, speaking through the mouth of St. Peter, were able to do no more than express their awe and their bewilderment, their recognition and belief. They could not explain or understand what they had seen, nor do we find any record of their ever having done so. The meaning of the Transfiguration is something which has to be wrought out in the life before it can be defined or explained. When humanity as a whole learns to transform the flesh through divine experience, to transmute the feeling nature through divine expression, and to transfer the consciousness [158] away from the world of mundane living into the world of transcendental realities, the true subjective values of this initiation will reveal themselves to the minds of men. Then will come a deeper expression of that which has been intuited. Dr. Sheldon tells us with truth that “all of the finest human thought and feeling is carried for generations, probably for ages, in intuitional minds, long before it becomes articulate.” (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, p. 116.) Not yet are we articulate where this experience is concerned. We sense dimly and distantly its wonder and its finality. We have not yet, as a race, passed through the new birth; the Jordan experience is only attained as yet by the few. It is the rare and developed soul which has climbed the Mountain of Transfiguration, and there seen and met with God in the glorified Person of Jesus Christ. We have looked on at this episode through the eyes of others. Peter and James and John, through another apostle, Matthew, have told us about it. We remain as onlookers, but it is an experience in which we shall some day share. This we have forgotten. We have taken to ourselves the language of the fourth great event in Christ’s life, and many of us have attempted to share and enter into the meaning of the Crucifixion. We have looked on at the Transfiguration, but have not attempted to become actively transfigured. But that must some day happen to us, and only after the Transfiguration can we dare to climb Mount Golgotha. Only when we have achieved expression of divinity in and through the lower personal nature shall we have attained to that of worth and value which can be permitted, under the divine Plan, to be crucified. This is a forgotten truth. Yet it is all part of the evolutionary process whereby God is revealed through humanity.

Điều thú vị cần lưu ý là, bất chấp việc họ nhận ra thâm nghĩa của biến cố mà họ đang tham dự, ba Tông đồ, nói qua miệng Thánh Peter, chỉ có thể bày tỏ sự kính sợ và bối rối, sự nhận biết và niềm tin của mình. Họ không thể giải thích hay thấu hiểu điều họ đã thấy, và chúng ta cũng không thấy có ghi chép nào cho biết họ từng làm như vậy. Ý nghĩa của cuộc Biến hình là điều phải được thực hiện trong đời sống trước khi có thể được định nghĩa hay giải thích. Khi nhân loại như một toàn thể học cách chuyển đổi xác thịt qua kinh nghiệm thiêng liêng, chuyển hoá bản chất cảm giác qua sự biểu lộ thiêng liêng, và chuyển dịch tâm thức [158] ra khỏi thế giới của đời sống phàm tục để vào thế giới của các thực tại siêu việt, các giá trị nội tại chân thật của cuộc điểm đạo này sẽ tự mặc khải cho trí tuệ của con người. Khi ấy sẽ đến một biểu lộ sâu xa hơn của điều đã được trực nhận. Tiến sĩ Sheldon nói với chúng ta một cách chân thật rằng “tất cả tư tưởng và cảm giác tinh hoa nhất của con người đều được mang giữ qua nhiều thế hệ, có lẽ qua nhiều thời đại, trong những trí tuệ trực giác, rất lâu trước khi chúng được diễn đạt thành lời.” (‘Psychology and the Promethean Will’, của W. H. Sheldon, tr. 116.) Chúng ta vẫn chưa thể diễn đạt thành lời về kinh nghiệm này. Chúng ta cảm nhận mơ hồ và xa xăm sự kỳ diệu và tính chung cuộc của nó. Với tư cách một nhân loại, chúng ta vẫn chưa trải qua cuộc sinh ra mới; kinh nghiệm Jordan cho đến nay chỉ mới được một số ít người đạt tới. Chỉ linh hồn hiếm hoi và phát triển mới leo lên Núi Biến hình, và ở đó thấy cùng gặp Thượng đế trong Ngôi vị được vinh quang hóa của Đức Jesus Christ. Chúng ta đã nhìn vào sự kiện này qua mắt của người khác. Peter, James và John, qua một Tông đồ khác là Matthew, đã kể cho chúng ta về điều đó. Chúng ta vẫn là những người đứng xem, nhưng đó là một kinh nghiệm mà một ngày kia chúng ta sẽ cùng chia sẻ. Điều này chúng ta đã quên. Chúng ta đã nhận lấy cho mình ngôn ngữ của biến cố lớn thứ tư trong đời Đức Christ, và nhiều người trong chúng ta đã cố gắng chia sẻ và đi vào ý nghĩa của cuộc Đóng Đinh. Chúng ta đã nhìn vào cuộc Biến hình, nhưng chưa cố gắng trở nên được biến hình một cách tích cực. Nhưng một ngày kia điều đó phải xảy ra với chúng ta, và chỉ sau cuộc Biến hình, chúng ta mới dám leo lên Núi Golgotha. Chỉ khi chúng ta đã đạt được sự biểu lộ của thiên tính trong và qua bản chất phàm ngã thấp, chúng ta mới đạt tới điều có giá trị và phẩm giá có thể được phép, theo Thiên Cơ, chịu đóng đinh. Đây là một chân lý bị quên lãng. Tuy vậy, tất cả đều là một phần của tiến trình tiến hoá nhờ đó Thượng đế được mặc khải qua nhân loại.

The great and natural phenomenon which humanity will some day—through self-expression and also under the law—reveal in itself includes the beauty which shone forth from Christ as He stood transfigured before His three [159] friends, was recognised by God His Father, and received the testimony of Moses and Elias, the Law and the Prophets, the past and that which bears witness to the future.

Hiện tượng vĩ đại và tự nhiên mà một ngày kia nhân loại—qua sự tự biểu lộ và cũng dưới định luật—sẽ mặc khải nơi chính mình, bao gồm vẻ đẹp đã chiếu rạng từ Đức Christ khi Ngài đứng được biến hình trước ba [159] người bạn của Ngài, được Thượng đế là Cha Ngài nhận biết, và nhận chứng ngôn của Moses và Elias, của Định luật và các Tiên tri, của quá khứ và điều làm chứng cho tương lai.

One point might here be brought out. In the Oriental correspondence to these five crises in the life of Jesus Christ, this third episode is called the “hut” initiation, and the words of St. Peter as he suggests that they should make three “huts,” one for Christ and one for Moses and one for Elias, link up this Christian happening with its ancient prototype. Always, in these rarely occurring events, God has been glorified by the light, ineffable and effulgent, shining forth through the raiment of flesh, and this mountain experience is not uniquely Christian. But Christ was the first to gather together into one sequential presentation all the possible experiences of divinity made manifest, and portrayed them for our edification and inspiration in His life history, and in the five Gospel episodes. More and more men will pass through the birth chamber, enter the stream and climb the mountain, furthering God’s work for humanity; and Christ’s example is rapidly bearing fruit and bringing results. Divinity cannot be gainsaid, and man is divine. If he is not, then the Fatherhood of God is but an empty form of words, and Christ and His Apostles were in error when They recognised, as They constantly did, the fact of our sonship. The divinity of man cannot be explained away. It is either a fact or it is not. God can be known in the flesh through the medium of His children or He cannot. All rests back on God, the Father, the Creator, the One in Whom we live and move and have our being. God is immanent in all His creatures, or He is not. God is transcendent and beyond manifestation, or else there is no basic reality, purpose or origin. Probably the growing recognition in men’s minds that He is both immanent and transcendent is true, and we can take our stand upon His Fatherhood, knowing ourselves to be divine because Christ and the Church of all ages have borne testimony to it.

Ở đây có thể nêu ra một điểm. Trong sự tương ứng Đông phương với năm cuộc khủng hoảng này trong đời Đức Jesus Christ, biến cố thứ ba này được gọi là cuộc điểm đạo “lều,” và những lời của Thánh Peter khi ông đề nghị họ nên dựng ba “lều,” một cho Đức Christ, một cho Moses và một cho Elias, nối kết biến cố Kitô giáo này với nguyên mẫu cổ xưa của nó. Luôn luôn, trong những biến cố hiếm khi xảy ra như thế, Thượng đế đã được tôn vinh bởi ánh sáng, khôn tả và rực rỡ, chiếu qua y phục xác thịt, và kinh nghiệm trên núi này không chỉ riêng của Kitô giáo. Nhưng Đức Christ là Đấng đầu tiên quy tụ vào một sự trình bày tuần tự duy nhất tất cả các kinh nghiệm khả hữu của thiên tính được biểu lộ, và phác họa chúng để khai sáng và truyền cảm hứng cho chúng ta trong lịch sử đời Ngài, và trong năm biến cố của Phúc Âm. Ngày càng nhiều người sẽ đi qua căn phòng sinh nở, bước vào dòng nước và leo lên ngọn núi, thúc đẩy công việc của Thượng đế cho nhân loại; và tấm gương của Đức Christ đang nhanh chóng kết trái và đem lại kết quả. Thiên tính không thể bị phủ nhận, và con người là thiêng liêng. Nếu y không phải như vậy, thì tư cách Cha của Thượng đế chỉ là một hình thức ngôn từ rỗng không, và Đức Christ cùng các Tông đồ của Ngài đã lầm khi Các Ngài nhận ra, như Các Ngài luôn luôn làm, sự kiện về tư cách làm con của chúng ta. Thiên tính của con người không thể bị giải thích cho tiêu tan. Nó hoặc là một sự kiện, hoặc không phải. Thượng đế có thể được biết trong xác thịt qua trung gian các con của Ngài, hoặc không thể. Tất cả đều quy về Thượng đế, Cha, Đấng Sáng Tạo, Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. Thượng đế nội tại trong mọi tạo vật của Ngài, hoặc Ngài không như thế. Thượng đế siêu việt và vượt ngoài biểu hiện, hoặc nếu không thì không có thực tại, mục đích hay nguồn gốc căn bản nào cả. Có lẽ sự nhận biết ngày càng tăng trong trí tuệ con người rằng Ngài vừa nội tại vừa siêu việt là đúng, và chúng ta có thể đứng vững trên tư cách Cha của Ngài, biết mình là thiêng liêng vì Đức Christ và Giáo Hội qua mọi thời đại đã làm chứng cho điều đó.

[160] This time the Word spoken differs from the previous one. The first part of the pronouncement made by the Initiator Who stands silently behind the scenes as Jesus takes initiation after initiation is practically the same as that at the Baptism initiation, except for one expressed command. He said, “This is my beloved Son, in whom I am well pleased,” but added this time, “Hear ye him.” At the first great episode, God the Father, of Whom the Initiator is the symbol, did not make His Presence known. The angels spoke the word, embodying Christ’s mission on His behalf. At the Baptism He accorded recognition, but that was all. At this Initiation, God commanded humanity to pay attention to this particular crisis in the life of Christ and to listen to His words. The power and the right to speak is now conferred upon the Christ, and it is interesting to note that the major part of the teaching (as given in St. John’s Gospel and in many of the parables) was given by Christ only after He had been through this experience. Again God gave evidence that He recognised Christ’s Messiahship, which word is man’s interpretation of the recognition. At the Baptism, He recognised Him as His Son, sent into the world, from the bosom of the Father, to carry out the will of God. That which Christ had recognised in the Temple as a child was later endorsed by God. This recognition is repeated, and the endorsement is strengthened, by the command to the world to hear the words of the Saviour, or perhaps from the esoteric and spiritual standpoint, to hear that Word which was God made Flesh.

[160] Lần này, Linh từ được phán ra khác với lần trước. Phần đầu của lời tuyên bố do Đấng Điểm đạo, Đấng đứng lặng lẽ phía sau bối cảnh khi Đức Jesus trải qua điểm đạo này đến điểm đạo khác, thốt ra, thực tế giống như lời tại cuộc điểm đạo Rửa Tội, ngoại trừ một mệnh lệnh được phát biểu. Ngài phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng,” nhưng lần này thêm: “Hãy nghe lời Người.” Trong biến cố lớn đầu tiên, Thượng đế là Cha, Đấng mà Đấng Điểm đạo là biểu tượng, đã không làm cho Sự Hiện Diện của Ngài được biết đến. Các thiên thần đã nói lời, hiện thân sứ mệnh của Đức Christ nhân danh Ngài. Tại cuộc Rửa Tội, Ngài ban sự nhận biết, nhưng chỉ có vậy. Tại cuộc Điểm đạo này, Thượng đế truyền cho nhân loại chú tâm đến cuộc khủng hoảng đặc biệt này trong đời Đức Christ và lắng nghe lời Ngài. Quyền năng và quyền được nói nay được trao cho Đức Christ, và điều thú vị cần lưu ý là phần lớn giáo huấn, như được trình bày trong Phúc Âm của Thánh John và trong nhiều dụ ngôn, chỉ được Đức Christ ban ra sau khi Ngài đã trải qua kinh nghiệm này. Một lần nữa, Thượng đế đưa ra chứng cứ rằng Ngài nhận biết thiên chức Messiah của Đức Christ, một từ vốn là cách diễn giải của con người về sự nhận biết ấy. Tại cuộc Rửa Tội, Ngài nhận biết Đức Christ là Con của Ngài, được sai vào thế gian, từ lòng Cha, để thực hiện Ý Chí của Thượng Đế. Điều Đức Christ đã nhận biết trong Đền Thờ khi còn là một trẻ nhỏ về sau được Thượng đế xác nhận. Sự nhận biết này được lặp lại, và sự xác nhận được tăng cường bởi mệnh lệnh dành cho thế gian là hãy nghe lời của Đấng Cứu Thế, hoặc có lẽ theo quan điểm nội môn và tinh thần, hãy nghe Linh từ vốn là Thượng đế trở nên Xác Thịt.

“There is in fact an inward connection between the Baptism and the Transfiguration. In both cases a condition of ecstasy accompanies the revelation of the secret of Jesus’ person. The first time the revelation was for him alone; here the Disciples also shared it. It is not clear to what extent they themselves were transported by the experience. So much is sure, that in a dazed condition, out of which they awake only at the end of the scene (St. Mark, IX:8.) the figure of Jesus appears to them illuminated by a supernatural light and glory, and a voice intimates that he is the Son of God. [161] The occurrence can be explained only as the outcome of great eschatological excitement.”

“Thật ra có một mối liên hệ nội tại giữa cuộc Rửa Tội và cuộc Biến hình. Trong cả hai trường hợp, một trạng thái xuất thần đi kèm với sự mặc khải về bí nhiệm của ngôi vị Đức Jesus. Lần đầu, sự mặc khải chỉ dành riêng cho Ngài; ở đây các Đệ tử cũng cùng chia sẻ. Không rõ kinh nghiệm ấy đã đưa chính họ vào trạng thái xuất thần đến mức nào. Điều chắc chắn là, trong một trạng thái choáng ngợp, từ đó họ chỉ tỉnh thức vào cuối quang cảnh (St. Mark, IX:8.), hình ảnh Đức Jesus hiện ra với họ được soi sáng bởi một ánh sáng và vinh quang siêu nhiên, và một tiếng nói cho biết Ngài là Con của Thượng đế. [161] Sự kiện này chỉ có thể được giải thích như kết quả của một sự kích động cánh chung lớn lao.”

‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, PP. 181, 182.

‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 181, 182.

The same writer goes on to point out:

Cũng tác giả ấy tiếp tục nêu rõ:

“We have therefore three revelations of the secret of messiahship, which so hang together that each subsequent one implies the foregoing. On the mountain near Bethsaida was revealed to the Three the secret which was disclosed to Jesus at his baptism. That was after the harvest. A few weeks later it was known to the Twelve, by the fact that Peter at Caesarea Phillippi answered Jesus’ question out of the knowledge which he had attained upon the mountain. One of the Twelve betrayed the secret to the High Priest. This last revelation of the secret was fatal, for it brought about the death of Jesus. He was condemned as messiah although he had never appeared in that role.”

“Vì vậy, chúng ta có ba sự mặc khải về bí nhiệm của thiên chức Messiah, liên kết với nhau đến mức mỗi sự mặc khải sau đều hàm chứa sự mặc khải trước. Trên ngọn núi gần Bethsaida, bí nhiệm đã được tỏ lộ cho Đức Jesus khi Ngài chịu rửa tội nay được mặc khải cho Ba vị. Điều đó xảy ra sau mùa gặt. Vài tuần sau, Mười Hai vị biết được bí nhiệm này, qua việc Peter tại Caesarea Phillippi đã trả lời câu hỏi của Đức Jesus từ tri thức mà ông đã đạt được trên núi. Một trong Mười Hai vị đã phản bội bằng cách tiết lộ bí nhiệm ấy cho Thượng Tế. Sự mặc khải cuối cùng này về bí nhiệm là tai hại, vì nó đưa đến cái chết của Đức Jesus. Ngài bị kết án như Messiah mặc dù Ngài chưa bao giờ xuất hiện trong vai trò ấy.”

‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, PP. 217, 218.

‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 217, 218.

This evokes in its entirety the question as to the nature of that mission which Christ came to forward, and what constituted the Will of God which He came to fulfil. Three major points of view usually held by the orthodox Christian might be enumerated as follows:

Điều này gợi lên trọn vẹn câu hỏi về bản chất của sứ mệnh mà Đức Christ đến để thúc đẩy, và điều gì cấu thành Ý Chí của Thượng Đế mà Ngài đến để hoàn tất. Ba quan điểm chính thường được người Kitô giáo chính thống nắm giữ có thể được liệt kê như sau:

1. He came to die upon the Cross to appease the wrath of an angry God, and make it possible for those who believe in Him to go to Heaven.

1. Ngài đến để chết trên Thập Giá nhằm xoa dịu cơn thịnh nộ của một Thượng đế giận dữ, và làm cho những ai tin vào Ngài có thể lên Thiên Đàng.

2. He came to show us the real nature of perfection and how, in human form, divinity might be manifested.

2. Ngài đến để chỉ cho chúng ta bản chất thật của sự hoàn thiện và cách thiên tính có thể được biểu hiện trong hình tướng nhân loại.

3. He came to leave us an example that we should follow in His steps.

3. Ngài đến để để lại cho chúng ta một tấm gương, hầu chúng ta noi theo bước Ngài.

Christ Himself laid no emphasis upon the death on the Cross as being the apex of His life work. It was the result of His life work, but not that for which He came into the world. He came that we might have “life abundantly,” and St. John tells us in his Gospel that the new birth is dependent [162] upon belief in Christ, when power is given to us to “become the Sons of God, even to them that believe on his name, which were born, not of blood, nor of the will of the flesh, nor of the will of man, but of God.” (St. John, I, 13.)

Chính Đức Christ không nhấn mạnh cái chết trên Thập Giá như đỉnh cao của công trình đời Ngài. Đó là kết quả của công trình đời Ngài, nhưng không phải là điều vì đó Ngài đã đến thế gian. Ngài đến để chúng ta có thể có “sự sống dồi dào,” và Thánh John nói với chúng ta trong Phúc Âm của ông rằng cuộc sinh ra mới tùy thuộc [162] vào niềm tin nơi Đức Christ, khi quyền năng được ban cho chúng ta để “trở nên Con của Thượng đế, tức là cho những ai tin vào danh Ngài, những người được sinh ra, không bởi huyết, cũng không bởi ý muốn của xác thịt, cũng không bởi ý muốn của con người, mà bởi Thượng đế.” (St. John, I, 13.)

Is it not reasonable for us to gather from these words that when a man reaches the point of recognising and believing in the cosmic Christ, “the Lamb slain from the foundation of the world,” (Revelations, XIII,8.) then the new birth becomes possible, for the life of that universal Christ, animating every form of divine expression, can then consciously and definitely carry the man forward into a new manifestation of divinity? The “blood is the life,” (Genesis, IX, 4.). and it is the living Christ that makes it possible for all to become citizens of that kingdom. It is the life of Christ in each of us which makes us sons of the Father, not His death which makes us sons. Nowhere in the Gospel story does an opposite statement find support. Christ, at the communion service, gave His disciples the cup to drink, saying “This is my blood of the new testament, which is shed for many for the remission of sins.” (St. Matthew, XXVI, 28.) But these are His only references to blood in its remedial aspect, so strongly emphasised in the Epistles, and He Himself nowhere correlates blood with the Crucifixion. He speaks in the present tense, and does not relate the blood to the new birth or to the Crucifixion, or make it a factor in the exclusiveness which has so deeply coloured the presentation of Christianity in the world.

Phải chăng không hợp lý khi chúng ta rút ra từ những lời này rằng khi một người đạt đến điểm nhận biết và tin vào Đức Christ vũ trụ, “Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế,” (Revelations, XIII,8.) thì cuộc sinh ra mới trở nên khả hữu, vì sự sống của Đức Christ phổ quát ấy, làm linh hoạt mọi hình tướng của sự biểu lộ thiêng liêng, khi ấy có thể một cách hữu thức và xác định đưa con người tiến tới một biểu hiện mới của thiên tính? “Huyết là sự sống,” (Genesis, IX, 4.). và chính Đức Christ hằng sống làm cho tất cả có thể trở thành công dân của Thiên Giới ấy. Chính sự sống của Đức Christ trong mỗi chúng ta làm cho chúng ta trở thành con của Cha, chứ không phải cái chết của Ngài làm cho chúng ta thành con. Không nơi nào trong câu chuyện Phúc Âm có sự ủng hộ cho một phát biểu ngược lại. Trong nghi thức hiệp thông, Đức Christ trao cho các đệ tử chén để uống, nói rằng: “Đây là huyết của Ta trong giao ước mới, đổ ra cho nhiều người để được tha tội.” (St. Matthew, XXVI, 28.) Nhưng đây là những quy chiếu duy nhất của Ngài đến huyết trong phương diện chữa lành của nó, điều được nhấn mạnh rất mạnh trong các Thư tín, và chính Ngài không nơi nào liên hệ huyết với cuộc Đóng Đinh. Ngài nói ở thì hiện tại, và không liên hệ huyết với cuộc sinh ra mới hay với cuộc Đóng Đinh, cũng không biến nó thành một yếu tố trong tính loại trừ đã tô đậm sâu sắc cách trình bày Kitô giáo trên thế giới.

It is the Christ life in all forms which constitutes the evolutionary urge. It is the Christ life which makes the steadily unfolding expression of divinity possible in the natural world. It is deep within the heart of every man. The Christ life brings him eventually to the point where he transits out of the human kingdom (when the work of normal evolution has done its part) and leads him into the [163] kingdom of spirit. The recognition of the Christ life within the form of man makes every human being, at some time, play the part of the Virgin Mary to that indwelling reality. It is the Christ life which, at the new birth, comes to fuller expression, and from crisis to crisis leads on the developing son of God until he stands perfected, having achieved “the measure of the stature of the fullness of Christ.” (Ephesians, IV, 13.)

Chính sự sống Đức Christ trong mọi hình tướng cấu thành xung lực tiến hoá. Chính sự sống Đức Christ làm cho sự biểu lộ thiên tính đang khai mở đều đặn trở nên khả hữu trong thế giới tự nhiên. Nó ở sâu trong trái tim của mọi người. Cuối cùng, sự sống Đức Christ đưa y đến điểm y chuyển vượt khỏi giới nhân loại, khi công việc của tiến hoá bình thường đã hoàn thành phần của nó, và dẫn y vào [163] giới tinh thần. Việc nhận biết sự sống Đức Christ bên trong hình tướng con người khiến mỗi con người, vào một lúc nào đó, đóng vai Đức Trinh Nữ Mary đối với thực tại nội trú ấy. Chính sự sống Đức Christ, trong cuộc sinh ra mới, đi đến sự biểu lộ đầy đủ hơn, và từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác dẫn dắt người con của Thượng đế đang phát triển cho đến khi y đứng trong sự hoàn thiện, đã đạt được “tầm vóc sung mãn của Đức Christ.” (Ephesians, IV, 13.)

We shall see later that upon the revelation of the risen Christ must the new world religion take its stand. Christ upon the Cross, as will appear when we study the next great crisis, showed us love and sacrifice carried to their extreme expression; but Christ alive from all time, and vitally alive today, is the keynote of the new age, and upon this truth must the new presentation of religion be built and, later, the new theology be constructed. The true meaning of the Resurrection and the Ascension has not yet been grasped; as a divine subjective reality those truths still await revelation. The glory of the new age will be the unveiling of those two mysteries, and our entrance into a fuller understanding of God as life. The true Church of Christ is the assembly of all who live through the life of Christ, and whose life is one with His. This will be increasingly realised and will bring forth into clearer and more radiant light the wonder and glory which lies, unrevealed as yet, in God the Father.

Sau này chúng ta sẽ thấy rằng tôn giáo thế giới mới phải đứng vững trên sự mặc khải về Đức Christ phục sinh. Đức Christ trên Thập Giá, như sẽ hiện rõ khi chúng ta nghiên cứu cuộc khủng hoảng lớn kế tiếp, đã cho chúng ta thấy tình thương và sự hi sinh được đưa đến biểu lộ cực độ; nhưng Đức Christ hằng sống từ muôn thuở, và hôm nay vẫn sống động mãnh liệt, là chủ âm của thời đại mới, và trên chân lý này sự trình bày mới về tôn giáo phải được xây dựng, và về sau, nền thần học mới phải được kiến tạo. Ý nghĩa thật của sự Phục Sinh và Thăng Thiên vẫn chưa được nắm bắt; với tư cách một thực tại nội tại thiêng liêng, những chân lý ấy vẫn còn chờ sự mặc khải. Vinh quang của thời đại mới sẽ là sự hé mở hai bí nhiệm ấy, và việc chúng ta bước vào một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về Thượng đế như sự sống. Giáo Hội chân thật của Đức Christ là cộng đoàn của tất cả những ai sống nhờ sự sống của Đức Christ, và có đời sống là một với đời sống của Ngài. Điều này sẽ ngày càng được nhận ra và sẽ đưa ra ánh sáng trong trẻo và rạng rỡ hơn sự kỳ diệu cùng vinh quang còn nằm chưa được mặc khải nơi Thượng đế là Cha.

It is only the man who has understood something of the value of the Transfiguration initiation and the nature of the perfection then revealed who can follow along with Christ, to the vision which was accorded Him as He came down from that high point of achievement, and can later share with Him an understanding of the nature of world service. This world service is rendered perfectly by those whose inner perfection is approximate to Christ’s and whose lives are controlled by the same divine impulses and subordinated to the same vision. This stage connotes that complete spiritual freedom which we must eventually reach. [164] Now the time has come for human beings to leave off believing, and pass on to true knowledge, through the method of thought, reflection, experiment, experience and revelation. The immediate problem for all who are seeking this new knowledge, and who desire to become conscious knowers instead of faithful believers, is that they should achieve it in the world of every-day. After each expansion of consciousness and each unfoldment of a deepened awareness we return, as Christ did, to the plains of every-day life, and there subject our knowledge to the test, discover its reality and truth, and find out also wherein lies for us our next point of expansion, and what new knowledge must be acquired. The task of the disciple is the understanding and the use of his divinity. The knowledge of God immanent, yet based on a belief in God transcendent, is our endeavour.

Chỉ người nào đã thấu hiểu đôi điều về giá trị của cuộc điểm đạo Biến hình và bản chất của sự hoàn thiện khi ấy được mặc khải mới có thể cùng Đức Christ đi tới tầm nhìn đã được ban cho Ngài khi Ngài đi xuống từ điểm thành tựu cao ấy, và về sau có thể cùng Ngài chia sẻ sự thấu hiểu về bản chất của phụng sự thế gian. Việc phụng sự thế gian này được thực hiện một cách hoàn hảo bởi những người có sự hoàn thiện bên trong xấp xỉ với Đức Christ, và có đời sống được chi phối bởi cùng những xung lực thiêng liêng, được đặt dưới cùng tầm nhìn. Giai đoạn này hàm ý sự tự do tinh thần trọn vẹn mà cuối cùng chúng ta phải đạt tới. [164] Nay đã đến lúc con người thôi tin tưởng và tiến tới tri thức chân thật, qua phương pháp tư duy, suy ngẫm, thử nghiệm, kinh nghiệm và sự mặc khải. Vấn đề trước mắt đối với tất cả những ai đang tìm kiếm tri thức mới này, và muốn trở thành các thức giả hữu thức thay vì những tín đồ trung tín, là họ phải đạt được nó trong thế giới hằng ngày. Sau mỗi sự mở rộng tâm thức và mỗi sự khai mở của một nhận thức sâu hơn, chúng ta trở lại, như Đức Christ đã làm, với đồng bằng của đời sống hằng ngày, và ở đó đặt tri thức của mình vào thử thách, khám phá thực tại và chân lý của nó, đồng thời tìm ra nơi nào là điểm mở rộng kế tiếp của chúng ta, và tri thức mới nào phải được thủ đắc. Nhiệm vụ của đệ tử là thấu hiểu và sử dụng thiên tính của y. Tri thức về Thượng đế nội tại, nhưng được đặt nền trên niềm tin vào Thượng đế siêu việt, là nỗ lực của chúng ta.

This was the experience of the Apostles upon the mountain top. We are told that “when they had lifted up their eyes, they saw no man, save Jesus only.” (St. Matthew, XVII, 8.) The familiar appeared to them again. It is of real interest to compare a somewhat similar story related in The Bhagavad Gita, wherein Arjuna has had revealed to him the glorious form of the Lord. At the close of the revelation God, in the person of Krishna, says to him, with tenderness and understanding, “Let not fear nor confusion overcome thee, beholding My form so terrible! Behold my former shape once more, thy fear gone, thy heart at rest!” and then he goes on to tell him:

Đây là kinh nghiệm của các Tông đồ trên đỉnh núi. Chúng ta được kể rằng “khi họ ngước mắt lên, họ không thấy ai, ngoại trừ một mình Đức Jesus.” (St. Matthew, XVII, 8.) Điều quen thuộc lại hiện ra với họ. Thật đáng quan tâm khi so sánh một câu chuyện phần nào tương tự được kể trong The Bhagavad Gita, trong đó Arjuna đã được mặc khải cho hình tướng vinh quang của Chúa. Vào cuối sự mặc khải, Thượng đế, trong ngôi vị Krishna, nói với ông, bằng sự dịu dàng và thấu hiểu: “Chớ để sợ hãi hay bối rối chế ngự ngươi khi nhìn thấy hình tướng đáng kinh khiếp này của Ta! Hãy nhìn lại hình dạng trước kia của Ta, nỗi sợ của ngươi tan biến, trái tim ngươi an nghỉ!” rồi Ngài tiếp tục nói với ông:

“This form of Mine which thou hast seen is hard indeed to see! Even the Gods ever desire a sight of this form! Nor can I be seen thus through Vedas, penances, gifts, sacrifices, in the form which thou hast seen. But I can be known thus through single-hearted love, Arjuna, and seen as I truly am, and entered, O Consumer of the foe!”

“Hình tướng này của Ta mà ngươi đã thấy quả thật khó thấy! Ngay cả các vị thần cũng luôn khao khát được chiêm ngưỡng hình tướng này! Ta cũng không thể được thấy như thế qua các Veda, khổ hạnh, lễ vật, hiến tế, trong hình tướng mà ngươi đã thấy. Nhưng Ta có thể được biết như thế qua tình thương nhất tâm, Arjuna, và được thấy như Ta thật sự là, và được bước vào, hỡi Kẻ Tiêu Diệt quân thù!”

THE BHAGAVAD GITA, BOOK XI, 49, 52, 53, 54.

THE BHAGAVAD GITA, BOOK XI, 49, 52, 53, 54.

The Word of Recognition had gone forth, and the command to hear the Christ had been given. Jesus having returned [165] “to His proper form,” the descent from the mountain had to follow. Then occurred what might be regarded as a great, sad, spiritual reaction, inevitable and terrible, expressed by Christ in the following words:

Linh từ Công Nhận đã phát ra, và mệnh lệnh hãy nghe Đức Christ đã được ban. Khi Đức Jesus đã trở lại [165] “hình tướng vốn có của Ngài,” thì việc xuống núi phải tiếp theo. Khi ấy xảy ra điều có thể được xem là một phản ứng tinh thần lớn lao, buồn thảm, không tránh khỏi và khủng khiếp, được Đức Christ diễn tả trong những lời sau:

“The Son of Man shall be betrayed into the hands of men, and they shall kill him, and the third day he shall be raised again.”

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, và họ sẽ giết Ngài, và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.”

ST. MATTHEW, XVII, 22, 23.

ST. MATTHEW, XVII, 22, 23.

Then comes the simple comment that the disciples “were exceedingly sorry.” This vision of Christ’s, if we trace it in the records, fell into two parts. First, He had a vision of achievement. The mountain-top achievement, a great spiritual experience, lay behind Him. Now He has a vision of a physical consummation in the form of the triumphal entry into Jerusalem. But this is accompanied by a presentiment or a prevision of the culmination of His life of service upon the Cross. He saw clearly, perhaps for the first time, what lay ahead of Him, and the direction in which His service to the world was leading Him. The via dolorosa of a World Saviour stretched out before Him; the destiny of all pioneering souls climaxed in His experience, and He saw Himself rejected, pilloried and killed, as have many lesser sons of God. World rejection always precedes world acceptance. Disillusionment is a stage on the way to reality. The hatred of those who are not yet ready to recognise the world of spiritual values is ever the lot of those who are. This, Christ faced, and yet “He steadfastly set His face to go to Jerusalem.” (St. Luke, IX, 51)

Rồi đến lời bình đơn giản rằng các đệ tử “vô cùng buồn rầu.” Nếu chúng ta lần theo các ghi chép, tầm nhìn này của Đức Christ chia thành hai phần. Trước hết, Ngài có một tầm nhìn về thành tựu. Thành tựu trên đỉnh núi, một kinh nghiệm tinh thần vĩ đại, đã ở phía sau Ngài. Nay Ngài có một tầm nhìn về sự viên mãn hồng trần dưới hình thức cuộc vào thành Jerusalem khải hoàn. Nhưng điều này đi kèm với một linh cảm hay một tiền kiến về cao điểm đời phụng sự của Ngài trên Thập Giá. Có lẽ lần đầu tiên Ngài thấy rõ điều gì đang chờ phía trước, và hướng mà sự phụng sự của Ngài đối với thế gian đang dẫn Ngài tới. Con đường đau khổ của một Đấng Cứu Thế trải dài trước mặt Ngài; số phận của mọi linh hồn tiên phong đạt đến cao điểm trong kinh nghiệm của Ngài, và Ngài thấy chính mình bị khước từ, bị bêu riếu và bị giết, như nhiều người con thấp hơn của Thượng đế đã từng chịu. Sự khước từ của thế gian luôn đi trước sự chấp nhận của thế gian. Vỡ mộng là một giai đoạn trên đường tới thực tại. Lòng thù ghét của những người chưa sẵn sàng nhận ra thế giới của các giá trị tinh thần luôn là số phận của những ai đã sẵn sàng. Đức Christ đã đối diện điều này, và “Ngài kiên quyết hướng mặt đi đến Jerusalem.” (St. Luke, IX, 51)

As we consider these happenings, the particular test which Christ now encountered becomes clear in our minds. It was again a threefold test, as was that after the Baptism initiation; but this time it was of a far subtler nature. He was faced with the test as to whether He could endure and handle worldly success, and pass along the triumphant way of His entry into the Holy City, without deviating from [166] His purpose, without being attracted by material achievement and by being acclaimed King of the Jews. Success constitutes a far more drastic disciplining, and produces many more opportunities to forget God and reality than do failure and neglect. Self-pity, a sense of martyrdom, and resignation are potent and effective ways of handling one’s failure. But to rise upon the crest of the wave, to be accorded public recognition, and to seem to have achieved the earthly goal are far more difficult factors to face. These Christ did face, and He faced them with spiritual poise and with that far-sighted wisdom which produces a correct sense of values and a proper sense of proportion.

Khi chúng ta xem xét những biến cố này, thử thách đặc biệt mà Đức Christ lúc ấy gặp phải trở nên rõ ràng trong trí chúng ta. Đó lại là một thử thách tam phân, như thử thách sau cuộc điểm đạo Rửa Tội; nhưng lần này có bản chất vi tế hơn nhiều. Ngài đối diện với thử thách xem liệu Ngài có thể chịu đựng và xử lý thành công thế gian, và đi trên con đường khải hoàn khi vào Thành Thánh, mà không lệch khỏi [166] mục đích của Ngài, không bị lôi cuốn bởi thành tựu vật chất và bởi việc được tôn xưng là Vua dân Do Thái hay không. Thành công cấu thành một kỷ luật nghiêm khắc hơn nhiều, và tạo ra nhiều cơ hội hơn để quên Thượng đế và thực tại so với thất bại và bị bỏ quên. Tự thương hại, cảm thức tử đạo, và cam chịu là những cách mạnh mẽ và hữu hiệu để xử lý thất bại của mình. Nhưng vươn lên trên đỉnh ngọn sóng, được công chúng công nhận, và dường như đã đạt mục tiêu trần thế là những yếu tố khó đối diện hơn nhiều. Đức Christ đã đối diện những điều này, và Ngài đối diện chúng với sự quân bình tinh thần cùng minh triết nhìn xa, vốn tạo ra ý thức đúng đắn về các giá trị và Ý thức về tỉ lệ thích hợp.

The second phase of the test lay in His prevision as to His end. He knew He had to die, and He knew how He would die, and yet He went forward undeviatingly upon the course assigned Him, although prevision of disaster was His. Not only had He to demonstrate the power to endure success, but He had also to demonstrate the power to face disaster, balancing the two against each other and seeing in both of them simply opportunities for divine expression and fields for the demonstration of detachment—that outstanding characteristic of the man who has been born again, purified and transfigured. To these tests was added the one which He had before encountered in the desert, the test of utter loneliness. The power to endure success! The power to endure disaster! The power to stand utterly alone! This, Christ had to show the world, and this He did. He stood triumphant before the world, at an intermediate stage on His way to the Cross. The agony of loneliness in the Garden of Gethsemane was probably a far harder moment for Him than the publicity on Mount Golgotha. But in these more subtle tests the quality of God Himself was revealed, and it is God’s quality and meaning which save the world—the quality of His life, which is Love and Wisdom and Value and Reality. It was all of this which Christ accomplished.

Giai đoạn thứ hai của thử thách nằm trong tiền kiến của Ngài về kết cuộc của mình. Ngài biết mình phải chết, và Ngài biết mình sẽ chết như thế nào, nhưng Ngài vẫn tiến tới không lệch hướng trên con đường đã được giao phó, mặc dù tiền kiến về tai họa là của Ngài. Ngài không chỉ phải chứng minh quyền năng chịu đựng thành công, mà còn phải chứng minh quyền năng đối diện tai họa, cân bằng hai điều ấy với nhau và thấy trong cả hai chỉ là những cơ hội cho sự biểu lộ thiêng liêng và những lĩnh vực để biểu lộ sự tách rời—đặc tính nổi bật của người đã được sinh ra lần nữa, được thanh lọc và được biến hình. Thêm vào các thử thách này là thử thách mà trước đó Ngài đã gặp trong sa mạc, thử thách về sự cô độc tuyệt đối. Quyền năng chịu đựng thành công! Quyền năng chịu đựng tai họa! Quyền năng đứng hoàn toàn một mình! Điều này, Đức Christ đã phải cho thế gian thấy, và Ngài đã làm như vậy. Ngài đứng khải hoàn trước thế gian, tại một giai đoạn trung gian trên đường đến Thập Giá. Nỗi thống khổ của sự cô độc trong Vườn Gethsemane có lẽ là một khoảnh khắc khó khăn hơn nhiều đối với Ngài so với sự công khai trên Núi Golgotha. Nhưng trong những thử thách vi tế hơn này, phẩm tính của chính Thượng đế đã được mặc khải, và chính phẩm tính cùng ý nghĩa của Thượng đế cứu thế gian—phẩm tính của sự sống Ngài, vốn là Bác Ái và Minh Triết, Giá Trị và Thực Tại. Tất cả những điều này Đức Christ đã hoàn thành.

Immediately, on the descent from the mountain-top, Christ [167] began again to serve. He was met, as well we know, by a person in distress, and He at once responded to the need. One of the outstanding characteristics of each initiation is the increased capacity and ability of the initiate to serve. Christ demonstrated an entirely new and unique way in which to speak and to meet the masses, as well as to teach privately and personally His chosen few. His power to heal still continued, but His work shifted into a field of new values, and He spoke those words and enunciated those truths which have proved the foundation of the belief of those who have had the insight to penetrate the theological presentation of Christianity and there find reality. His service consisted primarily at the time in teaching and speaking. But such is the wisdom and the beauty of His presentation of truth, He couched divinity in forms which the average man could grasp. He bridged the old and the new, and gave out that new truth and that special revelation which were needed at the time to unite the ancient wisdom and the more modern hope. Keyserling has grasped the wonder of what the World-Saviour does, and voices it in words which I quote:

Ngay khi từ đỉnh núi đi xuống, Đức Christ [167] lại bắt đầu phụng sự. Như chúng ta biết rõ, Ngài gặp một người đang đau khổ, và Ngài lập tức đáp ứng nhu cầu ấy. Một trong những đặc tính nổi bật của mỗi cuộc điểm đạo là năng lực và khả năng phụng sự gia tăng nơi điểm đạo đồ. Đức Christ đã chứng minh một phương thức hoàn toàn mới mẻ và độc đáo để nói với quần chúng và tiếp xúc với họ, cũng như để dạy dỗ riêng tư và cá nhân cho số ít người được Ngài chọn. Quyền năng chữa lành của Ngài vẫn tiếp tục, nhưng công việc của Ngài chuyển sang một lĩnh vực gồm những giá trị mới, và Ngài đã nói những lời ấy, đã tuyên bố những chân lý ấy, vốn đã chứng tỏ là nền tảng cho niềm tin của những ai có tuệ giác để xuyên thấu cách trình bày thần học của Cơ Đốc giáo và tìm thấy thực tại nơi đó. Khi ấy, sự phụng sự của Ngài chủ yếu gồm việc giảng dạy và nói năng. Nhưng minh triết và vẻ đẹp trong cách Ngài trình bày chân lý lớn lao đến nỗi Ngài đã đặt thiên tính vào những hình tướng mà người bình thường có thể nắm bắt. Ngài bắc cầu giữa cái cũ và cái mới, và ban ra chân lý mới ấy cùng sự mặc khải đặc biệt ấy, vốn cần thiết vào thời điểm đó để hợp nhất minh triết cổ xưa và niềm hy vọng hiện đại hơn. Keyserling đã nắm bắt được điều kỳ diệu trong những gì Đấng Cứu Thế của thế gian thực hiện, và diễn đạt điều đó trong những lời tôi trích dẫn sau đây:

“... the great mind is essentially the Awakener. If such a mind were to utter the entirely new, the unique, this would mean nothing to other men. His social value depends entirely on his ability to utter clearly what all feel in their innermost hearts to be true—for could he otherwise be understood?—and to utter it in so universal a manner, that is, so much in tune with the objective laws in question, that his ideas become organs for the others.”

“... trí tuệ vĩ đại, về bản chất, là Đấng Đánh Thức. Nếu một trí tuệ như thế thốt ra điều hoàn toàn mới, điều độc nhất, thì điều ấy sẽ chẳng có nghĩa gì đối với những người khác. Giá trị xã hội của y hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng nói ra một cách rõ ràng điều mà tất cả mọi người đều cảm thấy trong sâu thẳm trái tim mình là chân thật—vì nếu không thì làm sao y có thể được thấu hiểu?—và nói ra điều ấy theo một cách phổ quát đến thế, nghĩa là hòa hợp đến thế với các định luật khách quan liên hệ, đến nỗi các ý tưởng của y trở thành các cơ quan cho những người khác.”

‘THE RECOVERY OF TRUTH’, BY HERMANN KEYSERLING, P. 213.

‘SỰ PHỤC HỒI CHÂN LÝ’, CỦA HERMANN KEYSERLING, TR. 213.

Christ gave us a great idea. He gave us the new concept that God is Love, no matter what might be happening in the world of immediacy. All great ideas come forth from the world of divinity through the medium of the great Intuitives, and the history of humanity is essentially the history of ideas—their coming forth through the medium of some intuitive thinker, their recognition by the few, their growth [168] in popularity, and their eventual integration in the thought world, the pattern world of the thinkers of the race. Then their fate is determined, and eventually the new and unique idea becomes the popularly and publicly accepted model of human conduct. “To the question, then, whether it is personalities or ideas which decide the fate of an age, the answer is that the age get its ideas from personalities.” (‘The Decay and Restoration of Civilisation’, by Albert Schweitzer, p. 82.) Christ embodied a great idea, the idea that God is Love, and that love is the motivating power of the universe. This constitutes the illumination which Christ as the Light of the World refracted upon all world events. The majesty of this realisation cannot be over-emphasised. We need to realise it far more deeply and potently than we do, for it constitutes the basic, fundamental character and quality of all events, no matter what the outer appearance may be. Christ illumines life. This was one of His most important contributions to life as it is lived today. He said in effect: God loves the world; all that happens is along the line of love. If this is realised as fact and fundamental truth, it illumines all of life and lightens all burdens; cause and effect are brought together, and God’s purpose and His method are seen as one. Theologians have often forgotten this as they have struggled over the more technical aspects of Christ’s life. What He illumined in His function as the “Light of the World,” what He received of divine Light and poured forth for the world, what He refracted, is often overlooked in the struggle to prove such doctrines as the fact that the Virgin Mary was an immaculate virgin, and Christ was therefore born through the medium of an immaculate conception. Today only a few of the younger generation care much about such points of doctrine. Let us state that quite emphatically. But we do care that the love which He expressed should be demonstrated in the world and that the illumination He carried should “lighten our darkness.”

Đức Christ đã ban cho chúng ta một ý tưởng vĩ đại. Ngài ban cho chúng ta quan niệm mới rằng Thượng đế là Tình thương, bất kể điều gì có thể đang xảy ra trong thế giới của tính tức thời. Tất cả các ý tưởng vĩ đại đều phát ra từ thế giới của thiên tính qua trung gian của các Nhà Trực Giác vĩ đại, và lịch sử nhân loại về bản chất là lịch sử của các ý tưởng—sự xuất hiện của chúng qua trung gian của một tư tưởng gia trực giác nào đó, sự thừa nhận chúng bởi số ít người, sự gia tăng [168] tính phổ biến của chúng, và sự tích hợp sau cùng của chúng vào thế giới tư tưởng, thế giới mô hình của các tư tưởng gia trong nhân loại. Khi ấy số phận của chúng được định đoạt, và cuối cùng ý tưởng mới mẻ và độc đáo trở thành mô hình về cách hành xử của con người được chấp nhận rộng rãi và công khai. “Vậy, đối với câu hỏi liệu chính các phàm ngã hay các ý tưởng quyết định số phận của một thời đại, câu trả lời là thời đại nhận các ý tưởng của mình từ các phàm ngã.” (‘Sự Suy Tàn và Phục Hưng của Văn Minh’, của Albert Schweitzer, tr. 82.) Đức Christ hiện thân cho một ý tưởng vĩ đại, ý tưởng rằng Thượng đế là Tình thương, và tình thương là quyền năng thúc đẩy của vũ trụ. Điều này tạo nên sự soi sáng mà Đức Christ, với tư cách Ánh Sáng của Thế Gian, đã khúc xạ trên mọi biến cố thế giới. Dù nhấn mạnh sự uy nghi của chứng nghiệm này đến đâu cũng không quá. Chúng ta cần nhận ra điều ấy sâu xa và mạnh mẽ hơn rất nhiều so với hiện nay, vì nó tạo nên tính cách và phẩm tính căn bản, nền tảng của mọi biến cố, bất kể vẻ ngoài bên ngoài có thể là gì. Đức Christ soi sáng sự sống. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nhất của Ngài cho sự sống như nó đang được sống ngày nay. Trên thực tế, Ngài đã nói: Thượng đế yêu thương thế gian; mọi điều xảy ra đều nằm trên con đường của tình thương. Nếu điều này được nhận ra như một sự kiện và một chân lý nền tảng, nó soi sáng toàn bộ sự sống và làm nhẹ mọi gánh nặng; nhân và quả được đưa lại với nhau, và mục đích của Thượng đế cùng phương pháp của Ngài được thấy như một. Các nhà thần học thường quên điều này khi họ tranh đấu về những phương diện kỹ thuật hơn trong đời sống của Đức Christ. Điều Ngài đã soi sáng trong chức năng là “Ánh Sáng của Thế Gian,” điều Ngài đã nhận từ Ánh Sáng thiêng liêng và tuôn đổ cho thế gian, điều Ngài đã khúc xạ, thường bị bỏ qua trong cuộc tranh đấu nhằm chứng minh các giáo lý như sự kiện rằng Đức Mẹ Đồng Trinh Mary là một trinh nữ vô nhiễm, và vì vậy Đức Christ được sinh ra qua trung gian của một cuộc thụ thai vô nhiễm. Ngày nay, chỉ có một số ít trong thế hệ trẻ còn quan tâm nhiều đến những điểm giáo lý như thế. Chúng ta hãy nói điều đó thật dứt khoát. Nhưng chúng ta thật sự quan tâm rằng tình thương mà Ngài đã biểu lộ phải được chứng minh trong thế gian, và sự soi sáng mà Ngài mang theo phải “làm sáng bóng tối của chúng ta.”

Christ sounded with clarity the note which can usher in the new civilisation and the new order, and a close study of [169] the ideals and ideas which today, without exception, underlie every one of the great experiments undertaken by the various nations, will show that they are based, in essence, upon some definitely Christlike concept. That their method of application and the techniques employed are frequently un-Christlike is sadly true, but the foundational concepts will bear with equanimity the light which Christ can throw upon them. The principal difficulty has been that our intellectual grasp of the concepts runs ahead of our own personal development, and therefore colours disastrously our application of them. When these basic ideas are transmuted into world ideals by the consecrated thinkers of the race, and applied in the spirit in which Christ conceived of them, then we shall indeed inaugurate a new world order.

Đức Christ đã xướng lên một cách rõ ràng âm điệu có thể mở đường cho nền văn minh mới và trật tự mới, và một nghiên cứu kỹ lưỡng về [169] các lý tưởng và ý tưởng mà ngày nay, không ngoại lệ, nằm bên dưới mọi thí nghiệm lớn do các quốc gia khác nhau thực hiện, sẽ cho thấy rằng về bản chất chúng được đặt trên một quan niệm rõ rệt mang tính Đức Christ. Rằng phương pháp áp dụng của chúng và các kỹ thuật được sử dụng thường không mang tính Đức Christ là điều đáng buồn nhưng có thật; tuy nhiên các quan niệm nền tảng sẽ bình thản chịu được ánh sáng mà Đức Christ có thể chiếu rọi lên chúng. Khó khăn chính là sự nắm bắt bằng trí năng của chúng ta về các quan niệm ấy đi trước sự phát triển cá nhân của chính chúng ta, và vì vậy tô màu một cách tai hại cho việc áp dụng chúng. Khi những ý tưởng căn bản này được các tư tưởng gia thánh hiến của nhân loại chuyển hoá thành các lý tưởng thế giới, và được áp dụng trong tinh thần mà Đức Christ đã hình dung về chúng, bấy giờ chúng ta thật sự sẽ khai mở một trật tự thế giới mới.

It is of supreme value for us to realise that what Christ really did was to usher in the era of Service, even if we are only beginning today (two thousand years after He set us an example) to grasp the implications of that word so widely used. We have been apt to regard salvation in terms of the individual, and to study it from the angle of individual salvation. This attitude must end if we are ever to understand the Christ spirit. A great Japanese asks the poignant question “What is the primary aim of a religion worthy of existence?” and goes on to tell us that it is salvation, but a salvation that “is pregnant with relief and redress of life and of the world. (‘Modern Trends in World Religions’, edited by A. E. Haydon, quoting Kishio Satomi, p. 75). Service is becoming more and more an objective in all human affairs. Even modern business is coming to the recognition that it must be a motivating agency if business, as we understand it in the modern sense, is to survive. Upon what is this general trend based? Surely upon our universal relation to Deity and upon our subjective relationships to each other, which have their root in our relationship to God.

Điều có giá trị tối thượng đối với chúng ta là nhận ra rằng điều Đức Christ thật sự đã làm là mở ra kỷ nguyên của Phụng Sự, dù ngày nay chúng ta mới chỉ bắt đầu, hai ngàn năm sau khi Ngài nêu gương cho chúng ta, nắm bắt các hàm ý của từ được dùng rộng rãi ấy. Chúng ta thường có khuynh hướng nhìn sự cứu rỗi theo nghĩa cá nhân, và nghiên cứu nó từ góc độ cứu rỗi cá nhân. Thái độ này phải chấm dứt nếu chúng ta muốn thấu hiểu tinh thần Đức Christ. Một người Nhật vĩ đại đặt câu hỏi nhức nhối: “Mục tiêu chính yếu của một tôn giáo xứng đáng tồn tại là gì?” và tiếp tục nói với chúng ta rằng đó là sự cứu rỗi, nhưng là một sự cứu rỗi “hàm chứa sự cứu trợ và sự chỉnh đốn đời sống cùng thế gian. (‘Các Khuynh Hướng Hiện Đại trong Các Tôn Giáo Thế Giới’, do A. E. Haydon biên tập, trích Kishio Satomi, tr. 75). Phụng sự ngày càng trở thành một mục tiêu trong mọi công việc của con người. Ngay cả kinh doanh hiện đại cũng đang đi đến sự nhận thức rằng phụng sự phải là một tác nhân thúc đẩy nếu kinh doanh, như chúng ta hiểu theo nghĩa hiện đại, muốn tồn tại. Khuynh hướng chung này dựa trên điều gì? Chắc chắn là dựa trên mối liên hệ phổ quát của chúng ta với Thượng Đế và trên các mối tương quan chủ quan của chúng ta với nhau, vốn có gốc rễ trong mối liên hệ của chúng ta với Thượng đế.

That of course is the basis of service. It must be, as it was in the case of Jesus Christ, a spontaneous outcome of [170] divinity. One of the strongest arguments for the divine unfoldment of man is the emergence on a large scale of this tendency to serve. We are just beginning to get a faint vision of what Christ meant by service. He “carried this actuating motive of service to the extent of saying that when the common good and your personal success or welfare conflicted, you must sacrifice and not sacrifice the other man.” (‘Modern Trends in World Religions’, edited by A. E. Haydon, quoting Kishio Satomi, p. 106.) This idea of service is of course in complete conflict with the usually competitive attitude to life and the selfishness generally shown by the average man. But to the man who seeks to follow Christ, and who aims eventually at climbing the Mount of Transfiguration, service leads inevitably to increased illumination, and illumination in its turn must find its expression in renewed and consecrated service, and thus we find our way—through service to our fellowmen—into the Way that Christ trod. Following in His steps, we achieve eventually the power to live as illumined and Christlike men and women in our normal everyday surroundings.

Dĩ nhiên, đó là nền tảng của phụng sự. Nó phải là, như trong trường hợp của Đức Jesus Christ, một kết quả tự phát của [170] thiên tính. Một trong những luận cứ mạnh mẽ nhất cho sự khai mở thiêng liêng của con người là sự xuất hiện trên quy mô lớn của khuynh hướng phụng sự này. Chúng ta mới chỉ bắt đầu có được một linh ảnh mờ nhạt về điều Đức Christ muốn nói bằng phụng sự. Ngài “đã mang động cơ thúc đẩy của phụng sự này đến mức nói rằng khi lợi ích chung và thành công hay phúc lợi cá nhân của bạn xung đột, bạn phải hy sinh chứ không hy sinh người khác.” (‘Các Khuynh Hướng Hiện Đại trong Các Tôn Giáo Thế Giới’, do A. E. Haydon biên tập, trích Kishio Satomi, tr. 106.) Ý tưởng phụng sự này dĩ nhiên hoàn toàn xung đột với thái độ cạnh tranh thường thấy đối với đời sống và tính ích kỷ nói chung do người bình thường biểu lộ. Nhưng đối với người tìm cách noi theo Đức Christ, và cuối cùng nhắm đến việc leo lên Núi Biến Hình, phụng sự tất yếu dẫn đến sự soi sáng gia tăng, và đến lượt nó, sự soi sáng phải tìm thấy sự biểu lộ trong phụng sự được đổi mới và thánh hiến; và như vậy, chúng ta tìm thấy con đường của mình—qua phụng sự những người đồng loại—vào Con Đường mà Đức Christ đã đi. Noi theo bước chân Ngài, cuối cùng chúng ta đạt được quyền năng sống như những người nam và nữ được soi sáng và mang tính Đức Christ trong môi trường bình thường hằng ngày của mình.

What, therefore, is the gift that each of us can make to the world as we study the life of Christ and travel with Him in our minds from one initiation to another? We can aim at that greatness in action which will redeem our natural mediocrity and reveal progressively the divinity in each of us. Each can stand as a beacon light, pointing the way to the centre from which the Word goes forth; and each can begin to express in his daily living some of the quality of God which Christ so perfectly portrayed and which carried Him in triumph from the Mount of Transfiguration down into the valley of duty and of service, and which enabled Him to go forward with staunch determination to the Cross experience, through the triumphal way of acclamation and the sorrowful ways of desertion and of loneliness.

Vậy, món quà mà mỗi người chúng ta có thể trao cho thế gian khi chúng ta nghiên cứu đời sống của Đức Christ và cùng Ngài du hành trong trí mình từ cuộc điểm đạo này sang cuộc điểm đạo khác là gì? Chúng ta có thể nhắm đến sự vĩ đại trong hành động, điều sẽ cứu chuộc sự tầm thường tự nhiên của chúng ta và dần dần mặc khải thiên tính nơi mỗi người chúng ta. Mỗi người có thể đứng như một ngọn hải đăng, chỉ đường đến trung tâm từ đó Linh từ phát ra; và mỗi người có thể bắt đầu biểu lộ trong đời sống hằng ngày của mình một phần phẩm tính của Thượng đế mà Đức Christ đã phác họa một cách hoàn hảo đến thế, phẩm tính đã đưa Ngài trong khải hoàn từ Núi Biến Hình xuống thung lũng của bổn phận và phụng sự, và đã giúp Ngài tiến tới với quyết tâm kiên định hướng về kinh nghiệm Thập Giá, qua con đường khải hoàn của sự tung hô và những con đường đau buồn của sự bỏ rơi và cô độc.

The impulse is strong to close with some words of Arjuna, spoken to Krishna, long before the Christian era, after the revelation of the unveiled beauty to which he had been admitted. Their relevance is unquestionable. One can almost [171] imagine St. Peter or St. John saying them to Christ when they opened their eyes and “saw Jesus only.” Perhaps they may apply to us also as we consider Christ and our relation to Him:

Có một thôi thúc mạnh mẽ muốn kết thúc bằng vài lời của Arjuna nói với Krishna, rất lâu trước kỷ nguyên Cơ Đốc, sau sự mặc khải về vẻ đẹp không che phủ mà y đã được phép bước vào. Sự thích hợp của những lời ấy là không thể nghi ngờ. Người ta gần như [171] có thể tưởng tượng Thánh Peter hay Thánh John nói những lời ấy với Đức Christ khi họ mở mắt ra và “chỉ thấy Đức Jesus.” Có lẽ chúng cũng có thể áp dụng cho chúng ta khi chúng ta suy ngẫm về Đức Christ và mối liên hệ của chúng ta với Ngài:

“If thinking Thee my comrade, I addressed Thee brusquely ... not knowing this greatness of Thine, or carelessly, or through affection, or whatever I have done to make a jest of Thee, unseemly, in journeying, resting, or seated, or at the banquet, whether alone, O, unfallen One! or in presence of these, for all this I ask forgiveness from Thee, Immeasurable One! Thou art the Father of the world, of things moving and unmoving; Thou art worthy of honour, the reverend Teacher of the world. None equal Thee; how could any be greater? even in the three worlds there is none like Thee in might.

“Nếu, nghĩ Ngài là bạn đồng hành của con, con đã xưng hô với Ngài một cách thô lỗ... không biết sự vĩ đại này của Ngài, hoặc do bất cẩn, hoặc do tình thương, hoặc bất cứ điều gì con đã làm để đùa cợt Ngài, không thích đáng, khi đang đi đường, nghỉ ngơi, ngồi xuống, hay trong bữa tiệc, dù một mình, ô Đấng không sa ngã! hay trước mặt những người này, vì tất cả những điều ấy con xin Ngài tha thứ, ô Đấng Vô Lượng! Ngài là Cha của thế gian, của các sự vật chuyển động và bất động; Ngài xứng đáng được tôn kính, là Huấn Sư khả kính của thế gian. Không ai bằng Ngài; làm sao có ai lớn hơn? ngay cả trong ba cõi giới cũng không có ai giống Ngài về uy lực.

“Therefore bowing down, prostrating my body before Thee, I seek Thy grace, O worthy Lord! As the Father his son, the comrade his comrade, the beloved his beloved, so deign Thou, Lord, to pardon me! I exult, beholding what was never seen before, and my heart trembles with fear; show me, Lord, the former form; Lord of Gods, be gracious, upholder of worlds.”

“Vì vậy, cúi đầu xuống, phủ phục thân con trước Ngài, con cầu xin ân huệ của Ngài, ô Chúa Tể đáng tôn kính! Như Cha đối với con, bạn đồng hành đối với bạn đồng hành, người yêu đối với người yêu, xin Ngài, Chúa Tể, đoái thương tha thứ cho con! Con hoan hỉ khi chiêm ngưỡng điều chưa từng thấy trước đây, và trái tim con run rẩy vì sợ hãi; xin cho con thấy hình tướng trước kia, Chúa Tể; Chúa Tể của các vị thần, xin rộng lượng, Đấng nâng đỡ các thế giới.”

THE BHAGAVAD GITA, BOOK XI, 41-45.

CHÍ TÔN CA, QUYỂN XI, 41-45.

CHAPTER FIVE - The Fourth Initiation . . . The Crucifixion – CHƯƠNG NĂM - Lần điểm đạo thứ tư . . . Sự Đóng Đinh

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG THEN CHỐT

A fire-mist and a planet,

Một màn sương lửa và một hành tinh,

A crystal and a cell,

Một tinh thể và một tế bào,

A jelly-fish and a saurian,

Một con sứa và một loài bò sát cổ,

And caves where the cave-men dwell;

Và những hang động nơi người hang cư ngụ;

Then a sense of law and beauty,

Rồi một ý thức về định luật và vẻ đẹp,

And a face turned from the clod—

Và một khuôn mặt quay khỏi cục đất—

Some call it Evolution,

Một số người gọi đó là Tiến hoá,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

~

~

Like tides on a crescent sea-beach

Như thủy triều trên bãi biển hình lưỡi liềm

When the moon is new and thin,

Khi mặt trăng mới và mỏng,

Into our hearts high yearnings

Những khát vọng cao cả

Come welling and surging in:

Dâng trào và cuộn lên trong trái tim chúng ta:

Come from the mystic ocean

Đến từ đại dương thần bí

Whose rim no foot has trod—

Mà vành mép chưa bàn chân nào đặt tới—

Some of us call it Longing,

Một số chúng ta gọi đó là Nỗi Khao Khát,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

~

~

A picket frozen on duty,

Một lính gác chết cóng khi làm nhiệm vụ,

A mother starved for her brood,

Một người mẹ đói lả vì đàn con,

Socrates drinking the hemlock,

Socrates uống độc cần,

And Jesus on the rood;

Và Đức Jesus trên thập giá;

And millions who, humble and nameless,

Và hàng triệu người, khiêm nhường và vô danh,

The straight, hard pathway plod—

Lê bước trên con đường thẳng và gian khổ—

Some call it Consecration,

Một số người gọi đó là Sự Thánh Hiến,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

WILLIAM HERBERT CARRUTH.

WILLIAM HERBERT CARRUTH.

1

1

[175] We now come to the central mystery of Christianity, and to the climaxing initiation to which men, as human beings, can aspire. Of the next initiation, the Resurrection, and of the Ascension connected with it, we know practically nothing, beyond the fact that Christ rose from the dead. The Resurrection initiation is veiled in silence. All that is recorded is the reaction of those who knew and loved the Lord, and the after effects upon the history of the Christian Church. But the Crucifixion has always been the outstanding, dramatic episode upon which the entire structure of Christian theology has been founded. Upon this has the emphasis been laid. Millions of words have been written about it, and thousands of books and commentaries have attempted to elucidate its meaning and to explain the significance of its mystery. Down the ages a myriad points of view have been presented for the consideration of men. There has been much misinterpretation, but much also that is divinely real has been expressed. God has been misrepresented many times, and the interpretation of what Christ did has been travestied in terms of men’s small views. The wonder of the happening on Mount Calvary has been unveiled through the illumined experiences of the believer and the knower.

[175] Giờ đây chúng ta đi đến huyền nhiệm trung tâm của Cơ Đốc giáo, và đến cuộc điểm đạo tột đỉnh mà con người, với tư cách nhân loại, có thể khát vọng đạt tới. Về cuộc điểm đạo kế tiếp, sự Phục Sinh, và sự Thăng Thiên liên hệ với nó, chúng ta hầu như không biết gì, ngoài sự kiện rằng Đức Christ đã sống lại từ cõi chết. Cuộc điểm đạo Phục Sinh được che phủ trong im lặng. Tất cả những gì được ghi lại là phản ứng của những người đã biết và yêu mến Chúa, cùng những hậu quả về sau đối với lịch sử của Giáo Hội Cơ Đốc. Nhưng sự Đóng Đinh luôn luôn là biến cố nổi bật, đầy kịch tính, trên đó toàn bộ cấu trúc thần học Cơ Đốc được đặt nền. Chính trên điều này mà sự nhấn mạnh đã được đặt. Hàng triệu lời đã được viết về nó, và hàng ngàn sách cùng bình giảng đã cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa của nó và giải thích thâm nghĩa của huyền nhiệm ấy. Qua các thời đại, vô số quan điểm đã được trình bày để con người xem xét. Đã có nhiều sự diễn giải sai lầm, nhưng cũng có nhiều điều thiêng liêng chân thật đã được biểu lộ. Thượng đế đã bị trình bày sai nhiều lần, và sự diễn giải về điều Đức Christ đã làm đã bị bóp méo theo những quan điểm nhỏ hẹp của con người. Điều kỳ diệu của biến cố trên Núi Calvary đã được vén mở qua các kinh nghiệm được soi sáng của người tin và thức giả.

A new world order came into being when Christ came to earth, and from that time on we have moved steadily forward towards a new age wherein men inevitably will live as brothers because Christ died, and the true nature of the kingdom of God will find expression on earth. Of this, past [176] progress is the guarantee. The immediacy of this happening is already faintly understood by those who, as Christ has said, have the eyes to see and the ears to hear. Inevitably we are moving forward towards greatness, and Christ emphasised this in His life and work. We have not yet achieved this greatness, but the signs of it can be seen. Already there are indications of the coming of this new era, and the dim outlines of a new and more nearly ideal social structure, based on perfected humanity, are discernible. It is this perfection which is of importance.

Một trật tự thế giới mới đã xuất hiện khi Đức Christ đến Trái Đất, và từ thời điểm đó trở đi chúng ta đã đều đặn tiến tới một kỷ nguyên mới, trong đó con người tất yếu sẽ sống như huynh đệ vì Đức Christ đã chết, và bản chất đích thực của Thiên Giới sẽ tìm thấy sự biểu lộ trên Trái Đất. Về điều này, tiến bộ [176] trong quá khứ là bảo chứng. Tính gần kề của biến cố này đã được những ai, như Đức Christ đã nói, có mắt để thấy và tai để nghe, thấu hiểu một cách mờ nhạt. Tất yếu chúng ta đang tiến tới sự vĩ đại, và Đức Christ đã nhấn mạnh điều này trong đời sống và công việc của Ngài. Chúng ta chưa đạt được sự vĩ đại này, nhưng các dấu hiệu của nó có thể được nhìn thấy. Đã có những chỉ dấu về sự xuất hiện của kỷ nguyên mới này, và những đường nét mờ của một cơ cấu xã hội mới, gần với lý tưởng hơn, dựa trên nhân loại đã được hoàn thiện, có thể được phân biện. Chính sự hoàn thiện này mới là điều quan trọng.

One of the first things that it seems essential to recognise is the fact, the definite fact, that Christ’s Crucifixion must be lifted out of the realm of its purely individual application, into the realm of the universal and the whole. It may perhaps cause some consternation when we emphasise the necessity of realising that the death of the historical Christ upon the Cross was not primarily concerned with each individual man who claims to profit by it. It was a great cosmic event. Its implications and its results concern the masses of humanity, and do not concern specifically the individual. We are so apt to take to ourselves, as a personal affair, the many implications of Christ’s sacrifice. The selfishness of the spiritual aspirant is often very real.

Một trong những điều đầu tiên dường như thiết yếu phải nhận ra là sự kiện, sự kiện xác định, rằng sự Đóng Đinh của Đức Christ phải được nâng ra khỏi lĩnh vực áp dụng thuần túy cá nhân, để đi vào lĩnh vực phổ quát và toàn thể. Có lẽ điều này có thể gây một ít kinh ngạc khi chúng ta nhấn mạnh nhu cầu nhận ra rằng cái chết của Đức Christ lịch sử trên Thập Giá không chủ yếu liên quan đến từng cá nhân tuyên bố mình được hưởng lợi từ đó. Đó là một biến cố vũ trụ vĩ đại. Các hàm ý và kết quả của nó liên quan đến quần chúng nhân loại, và không đặc biệt liên quan đến cá nhân. Chúng ta rất dễ nhận lấy cho mình, như một chuyện cá nhân, nhiều hàm ý của sự hy sinh của Đức Christ. Tính ích kỷ của người chí nguyện tinh thần thường rất thật.

It is surely evident, if one approaches the subject intelligently, that Christ did not die in order that you and I might go to heaven. He died as the result of the very nature of the service which He rendered, of the note which He struck, and because He inaugurated a new age and told men how to live as sons of God.

Chắc chắn là hiển nhiên, nếu người ta tiếp cận đề tài này một cách thông minh, rằng Đức Christ không chết để các bạn và tôi có thể lên thiên đường. Ngài chết như kết quả của chính bản chất sự phụng sự mà Ngài đã thực hiện, của âm điệu mà Ngài đã đánh lên, và vì Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, đồng thời nói cho con người biết cách sống như các Con của Thượng đế.

In considering the story of Jesus upon the Cross, it is essential, therefore, that we see it in broader and more general terms than is usually the case. Most of the treatises and writings upon the subject are controversial and argumentative, usually defending or attacking the evidence or the theology associated with the theme. Or they may be of a purely mystical or sentimental nature in tone and object, concerning themselves with the relation of the individual [177] to the truth or with his personal salvation in Christ. But in so doing, it is possible that the real elements of the story and their highest meaning have been lost. Two things emerge, however, from the research and the questioning of the past century. One is that the Gospel story is not unique, but has been paralleled in the lives of other Sons of God; secondly, that Christ was unique in His particular Person and mission, and that, from a specific angle, His appearance was unprecedented. No student of comparative religion will question the Christian parallels to earlier events. No man who has truly investigated with an open mind will deny that Christ was an integral part of a great continuity of revelation. God has never “left Himself without witness.” (Acts, XIV, 17.) And the salvation of mankind has always been close to the heart of the Father. To quote one writer who seeks to prove this continuity:

Vì vậy, khi xem xét câu chuyện về Đức Jesus trên Thập Giá, điều thiết yếu là chúng ta thấy nó theo những nghĩa rộng hơn và tổng quát hơn so với thông thường. Phần lớn các khảo luận và tác phẩm về đề tài này đều mang tính tranh luận và biện bác, thường bênh vực hoặc công kích bằng chứng hay nền thần học liên hệ với chủ đề. Hoặc chúng có thể mang âm điệu và mục tiêu thuần túy thần bí hay tình cảm, bận tâm đến mối liên hệ của cá nhân [177] với chân lý hoặc với sự cứu rỗi cá nhân của y trong Đức Christ. Nhưng khi làm như vậy, có thể những yếu tố thật sự của câu chuyện và ý nghĩa cao nhất của chúng đã bị mất đi. Tuy nhiên, hai điều nổi lên từ công cuộc nghiên cứu và chất vấn của thế kỷ vừa qua. Một là câu chuyện Phúc Âm không phải là độc nhất, mà đã có những điều tương ứng trong đời sống của các Con của Thượng đế khác; thứ hai, Đức Christ đã độc nhất trong Ngôi vị và sứ mệnh đặc thù của Ngài, và từ một góc độ riêng biệt, sự xuất hiện của Ngài là chưa từng có. Không đạo sinh nào của tôn giáo đối chiếu sẽ đặt nghi vấn về những song hành Cơ Đốc với các biến cố trước đó. Không người nào đã thật sự khảo sát với một trí óc cởi mở sẽ phủ nhận rằng Đức Christ là một phần không thể tách rời của một dòng mặc khải liên tục vĩ đại. Thượng đế chưa bao giờ “để chính Ngài không có chứng nhân.” (Công Vụ, XIV, 17.) Và sự cứu rỗi nhân loại luôn luôn gần gũi với trái tim của Cha. Để trích dẫn một tác giả tìm cách chứng minh tính liên tục này:

“At the time of the life or recorded appearance of Jesus of Nazareth and for some centuries before, the Mediterranean and neighbouring world had been the scene of a vast number of pagan creeds and rituals. There were Temples without end dedicated to gods like Apollo or Dionysus among the Greeks, Hercules among the Romans, Mithra among the Persians, Adonis and Arris in Syria and Phrygia, Osiris and Isis and Horus in Egypt, Baal and Astarte among the Babylonians and Carthaginians, and so forth. Societies, large or small, united believers and the devout in the service or ceremonials connected with their respective deities, and in the creeds which they confessed concerning these deities. And an extraordinarily interesting fact, for us, is that, notwithstanding great geographical distances and racial differences in the details of their services, the general outlines of their creeds and ceremonials were—if not identical—so markedly similar as we find them.

“Vào thời điểm đời sống hay sự xuất hiện được ghi lại của Đức Jesus thành Nazareth, và trong vài thế kỷ trước đó, vùng Địa Trung Hải và thế giới lân cận đã là sân khấu của vô số tín ngưỡng và nghi lễ ngoại giáo. Có vô tận những Đền thờ được dâng hiến cho các vị thần như Apollo hay Dionysus nơi người Hy Lạp, Hercules nơi người La Mã, Mithra nơi người Ba Tư, Adonis và Arris ở Syria và Phrygia, Osiris, Isis và Horus ở Ai Cập, Baal và Astarte nơi người Babylon và Carthage, vân vân. Những hội đoàn, lớn hay nhỏ, đã hợp nhất các tín đồ và những người mộ đạo trong sự phụng sự hoặc các nghi thức liên hệ với các thần linh tương ứng của họ, và trong các tín điều mà họ tuyên xưng về các thần linh ấy. Và một sự kiện đặc biệt thú vị đối với chúng ta là, bất chấp những khoảng cách địa lý lớn lao và những khác biệt chủng tộc trong các chi tiết phụng sự của họ, những đường nét tổng quát của tín điều và nghi thức của họ—nếu không đồng nhất—thì cũng giống nhau rõ rệt đến mức như chúng ta thấy.

“I cannot of course go at length into these different cults, but I may say roughly that of all or nearly all the deities above-mentioned it was said and believed that:

“Dĩ nhiên tôi không thể đi dài dòng vào các giáo phái khác nhau này, nhưng có thể nói đại khái rằng về tất cả hoặc gần như tất cả các thần linh đã nêu trên, người ta đã nói và tin rằng:

1. They were born on or very near our Christmas Day.

1. Các vị ấy được sinh ra vào, hoặc rất gần, Ngày Giáng Sinh của chúng ta.

2. They were born of a Virgin-Mother. [178]

2. Các vị ấy được sinh ra từ một Người Mẹ Đồng Trinh. [178]

3. And in a Cave or Underground Chamber.

3. Và trong một Hang Động hoặc Phòng Ngầm.

4. They led a life of toil for Mankind.

4. Các vị ấy sống một đời lao nhọc vì Nhân loại.

5. And were called by the names of Light-bringer, Healer, Mediator, Saviour, Deliverer.

5. Và được gọi bằng các danh hiệu Đấng Mang Ánh Sáng, Đấng Chữa Lành, Đấng Trung Gian, Đấng Cứu Thế, Đấng Giải Thoát.

6. They were, however, vanquished by the Powers of Darkness.

6. Tuy nhiên, các vị ấy bị các Quyền Lực Bóng Tối đánh bại.

7. And descended into Hell or the Underworld.

7. Và đi xuống Địa Ngục hay Cõi Âm.

8. They rose again from the dead, and became the pioneers of mankind to the Heavenly world.

8. Các vị ấy sống lại từ cõi chết, và trở thành những người tiên phong của nhân loại đến cõi thiên thượng.

9. They founded Communions of Saints and Churches into which disciples were received by Baptism.

9. Các vị ấy sáng lập các Cộng Đồng Thánh Đồ và Giáo Hội, trong đó các đệ tử được tiếp nhận bằng Phép Rửa.

10. And they were commemorated by Eucharistic meals.

10. Và các vị ấy được tưởng niệm bằng những bữa ăn Thánh Thể.

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS, BY EDWARD CARPENTER, PP. 20, 21.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 20, 21.

These facts can be checked by anyone who cares to do so and who is sufficiently interested to trace the growth of the doctrine of world Saviours in world idealism. Edward Carpenter goes on to say, in the same book:

Những sự kiện này có thể được kiểm chứng bởi bất cứ ai muốn làm như vậy và đủ quan tâm để truy tìm sự phát triển của giáo lý về các Đấng Cứu Thế trong chủ nghĩa lý tưởng thế giới. Edward Carpenter tiếp tục nói, trong cùng cuốn sách: