Trích nội dung chương
“Again, the devil taketh him up into an exceeding high mountain, and sheweth him all the kingdoms of the world and the glory of them; and saith unto him, All these things will I give thee if thou wilt fall down and worship me. Then saith Jesus unto him, Get thee hence, Satan, for it is written Thou shalt worship the Lord thy God, and him only shalt thou serve.” “Một lần nữa, ma quỷ đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc của thế gian cùng vinh quang của chúng; và nói với Ngài: Tất cả những điều này ta sẽ cho ngươi nếu ngươi sấp mình xuống và thờ lạy ta. Bấy giờ Đức Jesus nói với nó: Hãy lui khỏi ta…
“Again, the devil taketh him up into an exceeding high mountain, and sheweth him all the kingdoms of the world and the glory of them; and saith unto him, All these things will I give thee if thou wilt fall down and worship me. Then saith Jesus unto him, Get thee hence, Satan, for it is written Thou shalt worship the Lord thy God, and him only shalt thou serve.”
“Một lần nữa, ma quỷ đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc của thế gian cùng vinh quang của chúng; và nói với Ngài: Tất cả những điều này ta sẽ cho ngươi nếu ngươi sấp mình xuống và thờ lạy ta. Bấy giờ Đức Jesus nói với nó: Hãy lui khỏi ta, Satan, vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thượng đế của ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài.”
ST. MATT., IV, 8, 9, 10.
THÁNH MATTHÊU, IV, 8, 9, 10.
Christ has been tested in His physical nature and has triumphed. He has been tried in His emotional-desire nature, and we have found that neither the forces of the physical nature nor the glamours which the emotional-feeling nature inevitably bring could cause him to swerve the slightest from the path of spiritual living and expression. All His desires were directed towards God; every activity of His [127] nature was rightly adjusted and divinely expressed. This triumph must have been known to Him, and this realisation carried in itself the seeds of the final temptation. He had triumphed over materialism and over doubt. He knew that the form side of life could not attract Him, and He had fought through to a full recognition of His divinity. Therefore He had conquered the extremes of His nature, its highest and lowest aspects. He expressed now the quality of divinity. The divine reality which He sensed and upon which He relied was potent to penetrate the maya and dispel the glamour. Pure desire was left—desire for God. He had been tried in two aspects of His nature—the material and the divine—and as God-Man He overcame the evil one. Primarily, both temptations lay in the region of desire. The call is to personal desirelessness.
Đức Christ đã được thử thách trong bản chất hồng trần của Ngài và đã chiến thắng. Ngài đã được thử trong bản chất cảm xúc-dục vọng của Ngài, và chúng ta đã thấy rằng cả các mãnh lực của bản chất hồng trần lẫn những ảo cảm mà bản chất cảm xúc-cảm giác tất yếu đem lại đều không thể khiến Ngài lệch đi dù chút nhỏ nhất khỏi con đường sống và biểu hiện tinh thần. Mọi dục vọng của Ngài đều hướng về Thượng đế; mọi hoạt động trong bản chất của Ngài [127] đều được điều chỉnh đúng đắn và biểu hiện một cách thiêng liêng. Ngài hẳn đã biết chiến thắng này, và sự nhận biết ấy tự nó mang trong mình những hạt giống của cám dỗ cuối cùng. Ngài đã chiến thắng chủ nghĩa duy vật và nghi ngờ. Ngài biết rằng phương diện hình tướng của đời sống không thể lôi cuốn Ngài, và Ngài đã chiến đấu xuyên qua đến sự nhận biết trọn vẹn về thiên tính của Ngài. Do đó, Ngài đã chinh phục các cực đoan trong bản chất của Ngài, các phương diện cao nhất và thấp nhất của nó. Giờ đây Ngài biểu hiện phẩm tính của thiên tính. Thực tại thiêng liêng mà Ngài cảm nhận và nương tựa có uy lực xuyên thấu maya và xua tan ảo cảm. Dục vọng thuần khiết còn lại—dục vọng hướng về Thượng đế. Ngài đã được thử thách trong hai phương diện của bản chất Ngài—phương diện vật chất và phương diện thiêng liêng—và với tư cách Thượng đế-Con Người, Ngài đã thắng kẻ ác. Về căn bản, cả hai cám dỗ đều nằm trong vùng của dục vọng. Tiếng gọi là hướng tới sự vô dục cá nhân.
So with Christ, desire was transmuted into power, though victory achieved led to developments which had in them the possibility of danger. It was in the realm of power that Christ was next tried. A character that has been carried to a high degree of perfection and which has established a unity between the source of power, the soul, and the instrument of power, the personal lower self, produces what we call a personality. That personality can be a definite source of danger to its owner. The sense of power, the knowledge of achievement, the realisation of capacity and the sensed ability to rule others because one rules oneself, have in them the germs of temptation, and it was here that the devil next attempted to ensnare the Christ. People are apt to be astonished when it is pointed out to them that a fine character can itself be a source of difficulty. It is difficulty of a peculiar kind, in that the things done and the words spoken by a highly developed person whose character is outstandingly fine and whose personality is well rounded out can do much harm—even when the motive is right or apparently so. Such persons wield much more power than the average.
Vì vậy, nơi Đức Christ, dục vọng đã được chuyển hoá thành quyền năng, dù chiến thắng đạt được đã dẫn tới những diễn biến trong đó có khả năng nguy hiểm. Chính trong lĩnh vực quyền năng mà Đức Christ kế tiếp được thử thách. Một Tính cách đã được đưa đến mức hoàn thiện cao và đã thiết lập một sự hợp nhất giữa nguồn quyền năng, tức linh hồn, và khí cụ của quyền năng, tức phàm ngã cá nhân thấp kém, tạo ra điều chúng ta gọi là một phàm ngã. Phàm ngã ấy có thể trở thành một nguồn nguy hiểm rõ rệt cho người sở hữu nó. Cảm thức về quyền năng, tri thức về thành tựu, sự nhận biết về năng lực và khả năng được cảm nhận để cai quản người khác vì người ta cai quản chính mình, đều mang trong chúng những mầm mống của cám dỗ; và chính tại đây ma quỷ kế tiếp đã cố gắng gài bẫy Đức Christ. Người ta thường kinh ngạc khi được chỉ ra rằng một Tính cách tốt đẹp tự nó có thể là một nguồn khó khăn. Đó là khó khăn thuộc một loại đặc biệt, ở chỗ những việc làm và lời nói của một người phát triển cao, có Tính cách đặc biệt tốt đẹp và phàm ngã được hoàn chỉnh trọn vẹn, có thể gây nhiều tổn hại—ngay cả khi động cơ là đúng hoặc dường như đúng. Những người như thế sử dụng nhiều quyền năng hơn người trung bình rất nhiều.
Just what is a fine character, and how is it produced? First, of course, it is produced by the wheel of life and the Galilee [128] experience; then by conscious effort and self-initiated discipline; and finally by the processes of integrating the various aspects of the lower nature into a synthetic whole, into a unity for purposive use.
Chính xác thì một Tính cách tốt đẹp là gì, và nó được tạo ra như thế nào? Trước hết, dĩ nhiên, nó được tạo ra bởi bánh xe đời sống và kinh nghiệm Galilee [128]; rồi bởi nỗ lực có ý thức và kỷ luật tự khởi xướng; và cuối cùng bởi các tiến trình tích hợp những phương diện khác nhau của bản chất thấp kém vào một toàn thể tổng hợp, vào một sự hợp nhất để sử dụng có mục đích.
In the case of Christ in the third temptation, His “conscious values or purposes” were being tried. His integrity must be undermined, if possible, and the unity for which He stood must be forced to disintegrate. If this could be done, and if the standard which He set could be upset, His mission was, from the start, destined to fail. If He could be deceived by the illusion of power, if ambition of a personal nature could be developed in His consciousness, the founding of the kingdom of God might be indefinitely delayed. This temptation was an attack at the very root of the personality. The mind, the integrating factor, with its ability to think clearly, to formulate definite purpose and to choose, was under test. Such temptations do not come to the little-developed, and because of the strength of the character involved they are of the fiercest kind and the most difficult to handle. The call of the devil was to Christ’s ambition. Ambition is, par excellence, the problem of the developed aspirant and disciple—personal ambition, love of popularity, worldly ambition, intellectual ambition, and the dictatorship of power over others. The subtlety of this temptation consists in the fact that appeal is made to right motive. It would—such is the implication—be good for the world of human affairs if it all belonged to Christ. By simply recognising the power of the devil, the material force in the world, as being supreme, that control over the kingdoms of the world could be given to Christ. He was offered it as the reward of a single recognition—given alone and unseen on the top of a high mountain—to the power which represented, or symbolised, the triple world of external living. If Christ would briefly fall down and worship that great power, the kingdoms of the world and the glory of them would be His; and we know enough about Him to realise that there would have been no selfish motive in this gesture, could He have [129] been induced to make it. What stood between Him and the acceptance of this opportunity? His reply indicates it clearly, but needs understanding. What intervened was His knowledge that God was One and God was All. The devil showed Him a picture of diversity, of many kingdoms, much division, of multiplicity, plurality, separated units. Christ came to unify, to bring together and to unite in one all kingdoms, all races and all men, so that the words of St. Paul could be true in deed and in fact:
Trong trường hợp của Đức Christ ở cám dỗ thứ ba, “các giá trị hay mục đích có ý thức” của Ngài đang được thử thách. Sự toàn vẹn của Ngài phải bị phá hoại, nếu có thể, và sự hợp nhất mà Ngài đại diện phải bị buộc phải tan rã. Nếu điều này có thể thực hiện, và nếu tiêu chuẩn Ngài đặt ra có thể bị lật đổ, thì sứ mệnh của Ngài ngay từ đầu đã được định sẵn là thất bại. Nếu Ngài có thể bị lừa gạt bởi ảo tưởng của quyền năng, nếu tham vọng thuộc bản chất cá nhân có thể được phát triển trong tâm thức của Ngài, thì việc thiết lập Thiên Giới có thể bị trì hoãn vô hạn định. Cám dỗ này là một cuộc tấn công vào tận gốc rễ của phàm ngã. Thể trí, yếu tố tích hợp, với khả năng suy nghĩ rõ ràng, hình thành mục đích xác định và chọn lựa, đang ở dưới thử thách. Những cám dỗ như thế không đến với kẻ ít phát triển, và bởi sức mạnh của Tính cách liên quan, chúng thuộc loại dữ dội nhất và khó xử lý nhất. Tiếng gọi của ma quỷ là tiếng gọi nhắm vào tham vọng của Đức Christ. Tham vọng, hơn hết mọi điều, là vấn đề của người chí nguyện và đệ tử đã phát triển—tham vọng cá nhân, tình yêu đối với sự nổi tiếng, tham vọng thế gian, tham vọng trí tuệ, và quyền lực độc tài đối với người khác. Sự tinh vi của cám dỗ này nằm ở chỗ lời kêu gọi được đưa ra với động cơ đúng đắn. Hàm ý là: sẽ tốt cho thế giới các sự vụ của con người nếu tất cả thuộc về Đức Christ. Chỉ bằng cách nhận biết quyền năng của ma quỷ, mãnh lực vật chất trong thế giới, là tối thượng, quyền kiểm soát các vương quốc của thế gian có thể được trao cho Đức Christ. Điều ấy được đề nghị cho Ngài như phần thưởng của một sự công nhận duy nhất—được đưa ra một mình và không ai thấy trên đỉnh một ngọn núi cao—đối với quyền năng vốn đại diện, hoặc tượng trưng, cho thế giới tam phân của đời sống bên ngoài. Nếu Đức Christ chỉ trong chốc lát sấp mình xuống và thờ lạy quyền năng vĩ đại ấy, các vương quốc của thế gian và vinh quang của chúng sẽ thuộc về Ngài; và chúng ta biết đủ về Ngài để nhận ra rằng sẽ không có động cơ ích kỷ nào trong cử chỉ này, nếu Ngài có thể [129] bị dẫn dụ làm như thế. Điều gì đã đứng giữa Ngài và việc chấp nhận cơ hội này? Câu trả lời của Ngài chỉ ra điều ấy rõ ràng, nhưng cần được thấu hiểu. Điều xen vào là tri thức của Ngài rằng Thượng đế là Một và Thượng đế là Tất Cả. Ma quỷ chỉ cho Ngài một bức tranh về sự đa dạng, về nhiều vương quốc, nhiều chia rẽ, về tính đa bội, tính nhiều, những đơn vị tách rời. Đức Christ đến để hợp nhất, để quy tụ và để kết hợp trong một tất cả các vương quốc, mọi giống dân và mọi người, sao cho những lời của Thánh Phaolô có thể trở thành chân thực trong hành động và trong sự kiện:
“There is one body and one Spirit, even as ye are called in one hope of your calling; one Lord, one faith, one baptism, one God and Father of all, who is above all, and through all, and in you all.”
“Chỉ có một thân thể và một Tinh thần, cũng như các ngươi đã được kêu gọi trong một niềm hy vọng của sự kêu gọi mình; một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thượng đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả, và ở trong tất cả các ngươi.”
EPHESIANS, IV, 4, 5, 6.
ÊPHÊSÔ, IV, 4, 5, 6.
Had Christ succumbed to the enticements of the devil and, from apparent right motive and love of humanity, accepted the proffered gift, these words would never have been fulfilled, as they surely will be at some date, perhaps not so distant as the chaotic present might lead us to think. Christ held His values true and His purpose unchanged. The illusion of power could not touch Him. That which was real had such a grip of His mind that the unreal and the immediate could not delude His consciousness. He saw the picture whole. He saw the vision of a world wherein there could be no duality but only unity, and from His efforts to bring that future world into being He could not be swerved.
Nếu Đức Christ đã khuất phục trước những quyến dụ của ma quỷ và, từ động cơ dường như đúng đắn cùng tình thương đối với nhân loại, chấp nhận món quà được đề nghị, thì những lời này sẽ không bao giờ được hoàn thành, như chắc chắn chúng sẽ được hoàn thành vào một ngày nào đó, có lẽ không xa như hiện tại hỗn loạn có thể khiến chúng ta nghĩ. Đức Christ giữ các giá trị của Ngài chân thật và mục đích của Ngài không đổi. Ảo tưởng của quyền năng không thể chạm đến Ngài. Điều có thực đã nắm giữ thể trí Ngài mạnh đến mức điều không thực và điều trước mắt không thể đánh lừa tâm thức của Ngài. Ngài thấy toàn bộ bức tranh. Ngài thấy tầm nhìn về một thế giới trong đó không thể có nhị nguyên mà chỉ có hợp nhất, và Ngài không thể bị làm lệch khỏi những nỗ lực đem thế giới tương lai ấy vào hiện hữu.
Where this vision exists, lesser values and smaller issues cannot hold the ardent heart. Where the whole as a possibility is grasped, the part falls into its rightful place. Where the purpose of God stands clearly revealed to the mind of the seer, the lesser ends or motives, and the tiny wishes and desires for and of the personal self fade out of the picture. At the end of the road of evolution lies the consummation, the kingdom of God, not the kingdoms of the world. They are parts of a future whole, and will be later welded into a spiritual synthesis. But that kingdom, as we shall see in our final chapter, when we sum up the results of initiation, is [130] not brought into being through personal ambition, personal effort and personal desire. It comes through the submergence of the part in the whole and of the individual in the group. But this is brought about willingly and intelligently, with no loss of personal prestige, usefulness or sense of identity. It is not enforced or demanded by the group or state or kingdom, as is so frequently the case today. Dr. van der Leeuw tells us:
Nơi nào tầm nhìn này hiện hữu, các giá trị thấp hơn và những vấn đề nhỏ hơn không thể giữ được trái tim nhiệt thành. Nơi nào toàn thể như một khả thể được nắm bắt, phần riêng rơi vào vị trí đúng đắn của nó. Nơi nào mục đích của Thượng đế hiển lộ rõ ràng trước thể trí của nhà thông nhãn, các cứu cánh hay động cơ thấp hơn, và những ước muốn cùng dục vọng nhỏ bé dành cho và thuộc về bản ngã cá nhân sẽ phai khỏi bức tranh. Ở cuối con đường tiến hoá là sự viên thành, Thiên Giới, chứ không phải các vương quốc của thế gian. Chúng là những phần của một toàn thể tương lai, và về sau sẽ được hàn gắn thành một tổng hợp tinh thần. Nhưng giới ấy, như chúng ta sẽ thấy trong chương cuối khi tổng kết các kết quả của điểm đạo, [130] không được đem vào hiện hữu thông qua tham vọng cá nhân, nỗ lực cá nhân và dục vọng cá nhân. Nó đến thông qua việc phần riêng chìm vào toàn thể và cá nhân chìm vào nhóm. Nhưng điều này được thực hiện một cách tự nguyện và sáng suốt, không mất uy tín cá nhân, tính hữu dụng hay cảm thức về bản sắc. Nó không bị áp đặt hay đòi hỏi bởi nhóm, quốc gia hay giới, như thường xảy ra ngày nay. Tiến sĩ van der Leeuw nói với chúng ta:
“If we would enter the kingdom this attitude must change to that of Christ whose love has become radiating, ever giving out to the surrounding world, whether deserving or not, whose life is centred in the Divine, common to all. In Him there is no remnant even of a separated personality, battling for its own existence or aggrandizement; the cup of His existence is emptied of all that is personal and become filled with the wine of the divine life, shared by all. We, by continuous though possibly unconscious effort, may maintain the centre of separate life which we call our personality; if we would follow Christ, we have to give up the laborious struggle for individual assertion in the desire to be the life of the Whole rather than that of a part. Thus alone can we enter the Kingdom where no separateness can be.”
“Nếu chúng ta muốn bước vào giới ấy, thái độ này phải đổi thành thái độ của Đức Christ, Đấng mà tình thương đã trở nên tỏa rạng, luôn tuôn ra cho thế giới chung quanh, dù xứng đáng hay không, Đấng mà đời sống đặt trung tâm trong Thiêng liêng, chung cho tất cả. Nơi Ngài không còn chút tàn dư nào của một phàm ngã tách biệt, tranh đấu cho sự tồn tại hay bành trướng thế lực của riêng nó; chiếc chén hiện tồn của Ngài đã được rút cạn khỏi mọi điều cá nhân và trở nên đầy rượu của sự sống thiêng liêng, được chia sẻ bởi tất cả. Chúng ta, bằng nỗ lực liên tục dù có thể vô thức, có thể duy trì trung tâm của sự sống tách biệt mà chúng ta gọi là phàm ngã của mình; nếu muốn theo Đức Christ, chúng ta phải từ bỏ cuộc tranh đấu nhọc nhằn để khẳng định cá nhân trong ước muốn trở thành sự sống của Toàn Thể hơn là của một phần. Chỉ như thế chúng ta mới có thể bước vào Giới nơi không thể có sự chia tách.”
‘DRAMATIC HISTORY OF CHRISTIAN FAITH’, BY DR. VAN DER LEEUW, P. 19.
‘LỊCH SỬ KỊCH TÍNH CỦA ĐỨC TIN KITÔ GIÁO’, CỦA TIẾN SĨ VAN DER LEEUW, TR. 19.
Christ’s temptation consisted of a demanded recognition of duality. But to Him, there was only one kingdom and one way into the kingdom, and one God Who was bringing, slowly indeed but surely, that kingdom into being. His mission was to reveal the method whereby unity could be brought about; to proclaim that inclusive love and that technique of at-one-ment which all who would study His life and react to His spirit could follow. He could not therefore fall into the error of diversity. He could not identify Himself with multiplicity when He embraced in His consciousness, as God, the larger synthesis. Pope, in his famous Essay on Man, sensed this, and expressed it in words familiar to all of us:
Cám dỗ của Đức Christ bao gồm một sự đòi hỏi phải công nhận nhị nguyên. Nhưng đối với Ngài, chỉ có một giới và một con đường vào giới ấy, và một Thượng đế, Đấng đang đem giới ấy vào hiện hữu, quả thật chậm rãi nhưng chắc chắn. Sứ mệnh của Ngài là mặc khải phương pháp nhờ đó sự hợp nhất có thể được tạo nên; là tuyên bố tình thương bao gồm ấy và kỹ thuật hiệp nhất ấy mà tất cả những ai muốn nghiên cứu đời sống của Ngài và đáp ứng với tinh thần của Ngài đều có thể noi theo. Vì vậy, Ngài không thể rơi vào sai lầm của sự đa dạng. Ngài không thể đồng hoá Chính Mình với tính đa bội khi, với tư cách Thượng đế, Ngài ôm trọn trong tâm thức của Ngài sự tổng hợp rộng lớn hơn. Pope, trong tác phẩm nổi tiếng Luận Về Con Người, đã cảm nhận điều này và diễn đạt nó bằng những lời quen thuộc với tất cả chúng ta:
“God loves from whole to parts, but human soul
“Thượng đế yêu từ toàn thể đến các phần,
Must rise from individual to the whole. [131]
Nhưng linh hồn người phải vươn từ cá nhân đến toàn thể. [131]
Self-love but serves the virtuous mind to wake,
Tình yêu bản thân chỉ phụng sự để đánh thức trí tuệ đức hạnh,
As the small pebble stirs the peaceful lake;
Như viên sỏi nhỏ khuấy động mặt hồ yên bình;
The centre moved, a circle straight succeeds,
Trung tâm chuyển động, lập tức một vòng tròn tiếp nối,
Another still, and still another spreads;
Rồi vòng khác nữa, và lại vòng khác lan ra;
Friend, parent, neighbour, first it will embrace;
Bạn bè, cha mẹ, láng giềng, trước hết nó ôm trọn;
His country next; and next all human race;
Kế đến quê hương y; rồi tiếp theo là toàn thể nhân loại;
Wide and more wide, th’ o’erflowings of the mind
Rộng và rộng hơn nữa, những dòng tràn của trí tuệ
Take every creature in, of every kind;
Đón nhận mọi tạo vật, thuộc mọi loài;
Earth smiles around, with boundless bounty blest,
Trái Đất mỉm cười quanh đây, được phúc bằng ân huệ vô biên,
And Heaven beholds its image in his breast.”
Và Thiên Đàng ngắm hình ảnh của mình trong lồng ngực y.”
Then the devil leaves Him. He could do no more, and Christ “departed into Galilee,” (St. Matt., IV, 12.) going back again to the round of daily living. The Galilee experience can never be evaded by any Son of God whilst incarnate in the flesh. He then did three things: first, hearing that John the Baptist had been cast into prison, Christ took up the task laid down by him, and went on with the preaching of repentance. Next, He chose with care those who were to work with Him, and whom He had to train to carry forward the mission of the kingdom, and then He began that increased service which is ever the signal to the world that a man has become more inclusive and has passed through another initiation. Even though the world may not at the time recognise that signal, it is never again just the same world as it was before the initiation is taken and the service rendered. The emergence of an initiate into the field of the world makes that field different.
Bấy giờ ma quỷ rời khỏi Ngài. Nó không thể làm gì hơn, và Đức Christ “đi vào Galilee,” (Thánh Matthêu, IV, 12.) trở lại vòng sống hằng ngày. Kinh nghiệm Galilee không bao giờ có thể bị né tránh bởi bất cứ Con của Thượng đế nào khi còn nhập thể trong xác thịt. Khi đó Ngài làm ba điều: trước hết, khi nghe rằng Gioan Tẩy Giả đã bị tống vào tù, Đức Christ nhận lấy nhiệm vụ mà ông đã đặt xuống, và tiếp tục rao giảng sự ăn năn. Kế đến, Ngài cẩn thận chọn những người sẽ làm việc với Ngài, và những người Ngài phải huấn luyện để tiếp tục sứ mệnh của Thiên Giới; rồi Ngài bắt đầu sự phụng sự gia tăng ấy, vốn luôn là dấu hiệu báo cho thế giới rằng một con người đã trở nên bao gồm hơn và đã vượt qua một lần điểm đạo khác. Dù thế giới vào lúc ấy có thể không nhận ra dấu hiệu đó, nó không bao giờ còn là cùng một thế giới như trước khi lần điểm đạo được nhận và sự phụng sự được thực hiện. Sự xuất hiện của một điểm đạo đồ trong trường đời thế gian khiến trường ấy trở nên khác đi.
Christ went about doing good, “teaching in the synagogues, preaching the gospel of the kingdom, and healing all manner of disease among the people.” (St. Matt., IV, 17-24.) He had registered before God and man, and to Himself, His perfection. He emerged from the wilderness experience tried, tested, and with His divinity completely vindicated. He knew Himself to be God; He had demonstrated to Himself His divine humanity. And yet as is the way with all the [132] liberated sons of God, He could not rest until He had shown us the way. He had to transmit the great energy of the Love of God.
Đức Christ đi khắp nơi làm điều thiện, “giảng dạy trong các hội đường, rao giảng phúc âm của Thiên Giới, và chữa lành mọi thứ bệnh tật trong dân chúng.” (Thánh Matthêu, IV, 17-24.) Trước Thượng đế và con người, và trước Chính Ngài, Ngài đã ghi nhận sự hoàn thiện của Ngài. Ngài bước ra khỏi kinh nghiệm hoang mạc, đã được thử, được kiểm chứng, và với thiên tính của Ngài được biện minh hoàn toàn. Ngài biết Chính Mình là Thượng đế; Ngài đã chứng minh cho Chính Mình nhân tính thiêng liêng của Ngài. Tuy vậy, như thường thấy ở tất cả các con của Thượng đế đã được giải thoát, [132] Ngài không thể nghỉ ngơi cho đến khi Ngài chỉ cho chúng ta con đường. Ngài phải truyền chuyển năng lượng vĩ đại của Tình thương của Thượng đế.
Perfected, serving and with a full knowledge of His mission, Christ now enters into the period of active work which must precede the next initiation, that of the Transfiguration.
Đã hoàn thiện, đang phụng sự và với tri thức đầy đủ về sứ mệnh của Ngài, giờ đây Đức Christ bước vào giai đoạn hoạt động tích cực vốn phải đi trước lần điểm đạo kế tiếp, tức Cuộc Biến Hình.
CHAPTER FOUR - The Third Initiation . . . The Transfiguration on a High Mountain – CHƯƠNG BỐN - Lần Điểm Đạo Thứ Ba . . . Cuộc Biến Hình trên Một Ngọn Núi Cao
KEY THOUGHT
TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO
Arjuna said:
Arjuna nói:
“The word which Thou hast spoken through love of me, the supreme mystery named the Oversoul—through it my delusion is gone.
“Lời mà Ngài đã nói vì tình thương đối với con, huyền nhiệm tối thượng được gọi là đại hồn—nhờ đó huyễn hoặc của con đã tan biến.
“For the birth and the passing of beings have been heard by me at length from Thee, whose eyes are lotus petals; I have heard also of the Great Spirit, which passes not away.
“Vì sự sinh ra và sự qua đi của các sinh linh, con đã được nghe dài rộng từ Ngài, Đấng có đôi mắt như cánh Hoa sen; con cũng đã nghe về Đấng Tinh thần Vĩ đại, Đấng không qua đi.
“So I would see that Self as it has been spoken by Thee, Mighty Lord; that divine form of Thine, O best of men!
“Vì vậy, con muốn thấy Bản Ngã ấy như Ngài đã nói, Chúa Tể Hùng Mạnh; hình tướng thiêng liêng ấy của Ngài, ôi Đấng cao quý nhất trong loài người!
“If Thou thinkest it can be seen by me, Lord, Master of union, then reveal to me the Self everlasting!”
“Nếu Ngài nghĩ rằng con có thể thấy được điều ấy, lạy Chúa, Chân sư của sự hợp nhất, thì xin hãy mặc khải cho con Bản Ngã vĩnh cửu!”
BHAGAVAD GITA, XI.1-4.
CHÍ TÔN CA, XI.1-4.
1
1
[135] Another period of service is ended. Christ faced another interior crisis, and this time, according to the story, one which He shared with His three favourite disciples, with the three people closest to Him. His demonstrated self-control, and henceforth His immunity from temptation, as we can understand it, had been succeeded by a period of intense activity. He had also laid the foundation of the kingdom of God which it was His mission to found, and whose inner structure and skeleton outline were built upon the twelve apostles, the seventy disciples whom He chose and trained, and the groups of men and women everywhere which responded to His message. So far He was successful. Now He faced another initiation and a further expansion of consciousness. These initiations, to which He subjected Himself on our behalf, and to which we may all in due time aspire, constitute in themselves a living synthesis of revelation which it may profit us to study before we consider the detail of the stupendous revelation which was accorded to the three apostles on the mountain-top. Three of these crises are perhaps of greater significance than has hitherto been grasped by humanity, which is prone to lay the emphasis mainly upon one of them only, the Crucifixion.
[135] Một giai đoạn phụng sự khác đã kết thúc. Đức Christ đối diện một cuộc khủng hoảng nội tâm khác, và lần này, theo câu chuyện, là một cuộc khủng hoảng mà Ngài chia sẻ với ba đệ tử được Ngài yêu quý nhất, với ba người gần gũi Ngài nhất. Sự tự chủ đã được chứng minh của Ngài, và từ đó trở đi sự miễn nhiễm của Ngài đối với cám dỗ, theo mức chúng ta có thể thấu hiểu, đã được tiếp nối bởi một giai đoạn hoạt động mãnh liệt. Ngài cũng đã đặt nền móng cho Thiên Giới, vốn là sứ mệnh của Ngài để thiết lập, và cấu trúc bên trong cùng khung sườn của giới ấy được xây dựng trên mười hai tông đồ, bảy mươi đệ tử mà Ngài đã chọn và huấn luyện, và các nhóm những người nam và nữ ở khắp nơi đã đáp ứng với thông điệp của Ngài. Cho đến đây Ngài đã thành công. Giờ đây Ngài đối diện một lần điểm đạo khác và một sự mở rộng tâm thức xa hơn. Những lần điểm đạo này, mà Ngài tự đặt mình vào vì chúng ta, và mà tất cả chúng ta, đúng thời, có thể khát vọng đạt tới, tự chúng cấu thành một tổng hợp sống động của sự mặc khải; việc nghiên cứu chúng có thể đem lại lợi ích cho chúng ta trước khi chúng ta xem xét chi tiết sự mặc khải kỳ vĩ đã được ban cho ba tông đồ trên đỉnh núi. Ba trong số các cuộc khủng hoảng này có lẽ có thâm nghĩa lớn hơn điều nhân loại cho đến nay đã nắm bắt, vì nhân loại có khuynh hướng đặt sự nhấn mạnh chủ yếu vào chỉ một trong số đó, Cuộc Đóng Đinh.
One wonders sometimes whether the other tremendous experiences through which Christ passed would have been relatively overlooked in favour of the Crucifixion had the [136] Epistles never been written and had we only the Gospel story upon which to base our Christian belief. This is a point to consider, and worthy of serious speculation. The bias thrown on Christian theology by St. Paul has perhaps over-balanced the structure of the presentation of Christ as we were meant to get it. The three initiations which, in the last analysis, may mean the most to the seeker after truth, are the birth into the kingdom, that august moment when the entire lower nature is transfigured and one realises the fitness of God’s sons to be citizens of that kingdom, and the final crisis wherein the immortality of the soul is demonstrated and recognised. The Baptism and the Crucifixion have other values, emphasising as they do purification and self-sacrifice. This may surprise the reader, in that it seems to belittle the Christ, but it is profoundly necessary for us to see the picture as the Gospels present it, uncoloured by the interpretations of a later son of God, no matter if brilliant and sincere, as was St. Paul. In dealing with the subject of Deity, we have always been told that we know God through His nature, and that nature is Spirit or Life, Soul or conscious love, and Form intelligently motivated. Life, quality, and appearance—these are the three major aspects of divinity, and we know no others; but that does not mean that we shall not contact other aspects when eventually we provide the mechanism of knowledge and the intuition to penetrate deeper into the divine Nature. We do not yet know the Father. Christ revealed Him, but the Father Himself remains as yet behind the scenes, inscrutable, unseen and unknown, except as He is revealed through the life of His sons, and by the revelation given peculiarly to the Occident by Jesus Christ.
Đôi khi người ta tự hỏi liệu những kinh nghiệm phi thường khác mà Đức Christ đã trải qua có bị tương đối xem nhẹ để nhường chỗ cho Cuộc Đóng Đinh hay không, nếu các [136] Thư Tín chưa bao giờ được viết ra và nếu chúng ta chỉ có câu chuyện Phúc Âm làm nền tảng cho niềm tin Kitô giáo của mình. Đây là một điểm cần xem xét, và đáng để suy tư nghiêm túc. Sự thiên lệch mà Thánh Phaolô đưa vào thần học Kitô giáo có lẽ đã làm mất cân bằng cấu trúc của cách trình bày về Đức Christ như lẽ ra chúng ta được dự định tiếp nhận. Ba lần điểm đạo mà, xét đến cùng, có thể có ý nghĩa lớn nhất đối với người tìm kiếm chân lý, là sự sinh vào giới ấy, khoảnh khắc uy nghi khi toàn bộ bản chất thấp kém được biến hình và người ta nhận ra sự xứng đáng của các con của Thượng đế để trở thành công dân của giới ấy, và cuộc khủng hoảng cuối cùng trong đó tính bất tử của linh hồn được chứng minh và được nhận biết. Phép Rửa và Cuộc Đóng Đinh có những giá trị khác, vì chúng nhấn mạnh sự thanh tẩy và sự hi sinh bản thân. Điều này có thể làm người đọc ngạc nhiên, vì dường như nó hạ thấp Đức Christ, nhưng điều hết sức cần thiết là chúng ta phải thấy bức tranh như các Phúc Âm trình bày, không bị tô màu bởi những diễn giải của một người con của Thượng đế về sau, dù người ấy lỗi lạc và chân thành như Thánh Phaolô. Khi bàn đến đề tài Thượng đế, chúng ta luôn được bảo rằng chúng ta biết Thượng đế qua bản chất của Ngài, và bản chất ấy là Tinh thần hay Sự sống, Linh hồn hay tình thương có ý thức, và Hình tướng được thúc đẩy một cách sáng suốt. Sự sống, phẩm tính và sắc tướng—đây là ba phương diện chính của thiên tính, và chúng ta không biết những phương diện nào khác; nhưng điều đó không có nghĩa là rốt cuộc chúng ta sẽ không tiếp xúc những phương diện khác khi chúng ta cung cấp bộ máy tri thức và trực giác để xuyên thấu sâu hơn vào Bản Chất thiêng liêng. Chúng ta vẫn chưa biết Cha. Đức Christ đã mặc khải Ngài, nhưng Chính Cha vẫn còn ở hậu trường, bất khả tư nghị, không được thấy và chưa được biết, ngoại trừ khi Ngài được mặc khải qua đời sống của các con Ngài, và qua sự mặc khải được Đức Jesus Christ trao một cách đặc biệt cho phương Tây.
As we consider these initiations, the three mentioned above stand out clearly. At the Birth in Bethlehem we have the appearance of God, God is made manifest in the flesh. At the Transfiguration we have the quality of God revealed in its transcendent beauty, whilst at the Resurrection initiation the life aspect of divinity makes its presence felt.
Khi chúng ta xem xét những lần điểm đạo này, ba lần đã nêu ở trên nổi bật rõ ràng. Trong Cuộc Sinh tại Bethlehem, chúng ta có sắc tướng của Thượng đế, Thượng đế được biểu lộ trong xác thịt. Trong Cuộc Biến Hình, chúng ta có phẩm tính của Thượng đế được mặc khải trong vẻ đẹp siêu việt của nó, trong khi ở lần điểm đạo Phục Sinh, phương diện sự sống của thiên tính khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận.
[137] In His earthly life, therefore, Christ did two things:
[137] Do đó, trong đời sống trần gian của Ngài, Đức Christ đã làm hai điều:
1. He revealed the triple nature of Deity in the first, third, and fifth initiations.
1. Ngài mặc khải bản chất tam phân của Thượng đế trong các lần điểm đạo thứ nhất, thứ ba và thứ năm.
2. He demonstrated the expansions of consciousness which come when the requirements are duly met—purification and self-sacrifice.
2. Ngài chứng minh những sự mở rộng tâm thức đến khi các yêu cầu được đáp ứng đúng đắn—sự thanh tẩy và sự hi sinh bản thân.
In these five episodes the whole story of initiation is told; birth, subsequent purification in order that right manifestation of Deity may follow, revelation of the nature of God through the medium of a transfigured personality, and finally the goal—life eternal and unending because decentralised and freed from the self-imposed limitations of form.
Trong năm biến cố này, toàn bộ câu chuyện về điểm đạo được thuật lại: sự sinh ra, sự thanh tẩy tiếp theo để sự biểu lộ đúng đắn của Thượng đế có thể theo sau, sự mặc khải bản chất của Thượng đế thông qua phương tiện là một phàm ngã đã được biến hình, và sau cùng là mục tiêu—sự sống vĩnh cửu và vô tận vì đã phi tập trung vào bản thân và được giải phóng khỏi những giới hạn tự áp đặt của hình tướng.
These three major initiations, the first, the third and the fifth, constitute the three syllables of the Word made flesh; they embody the musical chord of Christ’s life, as they will be embodied in the life of all who follow in His steps. Through re-orientation to new modes of living and of being we pass through the necessary stages of adaptation of the vehicles of life, up to that mountain-top where the divine in us is revealed in all its beauty. Then we pass to a “joyful Resurrection,” and to that eternal identification with God which is the everlasting experience of all who are perfected. We might depict the process as follows:
Ba lần điểm đạo chính này, lần thứ nhất, thứ ba và thứ năm, cấu thành ba âm tiết của Linh từ đã thành xác thịt; chúng hiện thân cho hợp âm trong đời sống của Đức Christ, cũng như chúng sẽ được hiện thân trong đời sống của tất cả những ai đi theo bước chân Ngài. Qua sự tái định hướng sang những phương thức mới của sống và hiện tồn, chúng ta đi qua các giai đoạn thích ứng cần thiết của các hiện thể sự sống, lên đến đỉnh núi nơi phần thiêng liêng trong chúng ta được mặc khải trong tất cả vẻ đẹp của nó. Rồi chúng ta đi tới một “Cuộc Phục Sinh hoan hỉ,” và tới sự đồng hoá vĩnh cửu ấy với Thượng đế, vốn là kinh nghiệm đời đời của tất cả những ai đã được hoàn thiện. Chúng ta có thể phác họa tiến trình như sau:
Cuộc điểm đạo thứ nhất
Cuộc điểm đạo thứ ba
Cuộc điểm đạo thứ năm
1st Initiation
3rd Initiation
5th Initiation
Sự tái sinh
Biến hình
Sự phục sinh
New Birth
Transfiguration
Resurrection
điểm đạo
sự mặc khải
Sự hoàn tất
Initiation
Revelation
Completion
Sự khởi đầu
Chuyển tiếp
Sự viên mãn
Beginning
Transition
Consummation
Diện mạo
phẩm tính
Sự sống
Appearance
Quality
Life
This is the first of the mountain experiences. We have had the cave experience and the stream initiation. Each of them has done its work, each revealing more and more divinity in the Man, Christ Jesus. The experience of Christ, as we have been seeing, was to pass from one process of at-one-ment to another. One of the prime objectives of His [138] mission was to resolve the dualities in Himself, producing unity and synthesis. What are these dualities which are to be resolved into unity before the spirit in man can shine forth in its radiance? We might list five of them in order to gain an idea of what must be done and in order to understand the magnitude of Christ’s achievement. Transfiguration is not possible until these unifications have been made.
Đây là kinh nghiệm núi đầu tiên. Chúng ta đã có kinh nghiệm hang động và lần điểm đạo dòng chảy. Mỗi kinh nghiệm đã làm công việc của nó, mỗi kinh nghiệm mặc khải ngày càng nhiều thiên tính hơn trong Con Người, Đức Christ Jesus. Kinh nghiệm của Đức Christ, như chúng ta đã thấy, là đi từ tiến trình hiệp nhất này sang tiến trình hiệp nhất khác. Một trong những mục tiêu chính của sứ mệnh Ngài [138] là giải quyết các nhị nguyên trong Chính Ngài, tạo ra hợp nhất và tổng hợp. Những nhị nguyên nào phải được giải quyết thành hợp nhất trước khi tinh thần trong con người có thể tỏa sáng trong vẻ rạng rỡ của nó? Chúng ta có thể liệt kê năm nhị nguyên để có một ý niệm về điều phải được thực hiện và để thấu hiểu tầm vóc thành tựu của Đức Christ. Biến hình không thể có trước khi những sự hợp nhất này được thực hiện.
First, man and God must be fused and blended into one functioning whole. God, made flesh, must so dominate and control the flesh that it constitutes no hindrance to the full expression of divinity. Such is not the case with the average man. With him divinity may be present, but it is deeply hidden. However, today, through our psychological investigations, much is being discovered as to this higher and lower self, and the nature of that which is called at times the “subliminal self” is emerging through a study of the reaction of the outer active self to the activities of that inner subjective guidance. That man is dual has been recognised everywhere, and this in itself presents a problem with which psychologists are constantly confronted. Personalities seem to function in a “split” manner; people are distraught because of this cleavage. We hear of multiple personalities, and the necessity for integration, for co-ordination of the different aspects of man, and the fusing of his nature in one functioning whole becomes more and more urgent. The recognition of man’s reach and the constant pull of the world of transcendental values have produced an acute problem for the world. The primitive and the transcendental; the outer conscious man and the inner subjective subliminal man; the higher and the lower self; the personality and the individuality; the soul and the body—how are these to be reconciled? Of the higher values, man is ceaselessly conscious. Of the man who wills to do good, and of the nature which in opposition causes him to perform evil, all the saints testify.
Trước hết, con người và Thượng đế phải được dung hợp và hòa trộn thành một toàn thể vận hành duy nhất. Thượng đế, đã thành xác thịt, phải chi phối và kiểm soát xác thịt đến mức nó không còn tạo thành chướng ngại cho sự biểu hiện trọn vẹn của thiên tính. Điều này không đúng với người trung bình. Nơi y, thiên tính có thể hiện diện, nhưng bị che giấu sâu xa. Tuy nhiên, ngày nay, qua những khảo cứu tâm lý của chúng ta, nhiều điều đang được khám phá về chân ngã và phàm ngã này, và bản chất của điều đôi khi được gọi là “bản ngã tiềm thức” đang xuất hiện qua việc nghiên cứu phản ứng của bản ngã hoạt động bên ngoài đối với những hoạt động của sự hướng dẫn chủ quan bên trong ấy. Việc con người là nhị nguyên đã được công nhận khắp nơi, và chính điều này tự nó trình bày một vấn đề mà các nhà tâm lý học thường xuyên đối diện. Các phàm ngã dường như vận hành theo một cách “phân liệt”; con người bị rối loạn vì sự chia cắt này. Chúng ta nghe nói về các đa nhân cách, và nhu cầu tích hợp, phối hợp các phương diện khác nhau của con người, và dung hợp bản chất của y thành một toàn thể vận hành duy nhất trở nên ngày càng cấp thiết. Sự nhận biết về tầm vươn của con người và sức kéo thường hằng của thế giới các giá trị siêu việt đã tạo ra một vấn đề gay gắt cho thế giới. Cái nguyên thủy và cái siêu việt; con người có ý thức bên ngoài và con người tiềm thức chủ quan bên trong; chân ngã và phàm ngã; phàm ngã và cá thể; linh hồn và thân thể—làm thế nào những điều này được hòa giải? Con người không ngừng có ý thức về các giá trị cao hơn. Về con người có ý chí làm điều thiện, và về bản chất đối nghịch khiến y làm điều ác, tất cả các thánh nhân đều làm chứng.
The entire human family today is split on the rock of duality. Either the personality is dual and therefore unmanageable [139] or groups and nations are divided into opposing camps, and again duality emerges in intense dynamic difficulty.
Toàn thể gia đình nhân loại ngày nay bị phân đôi trên tảng đá của nhị nguyên. Hoặc phàm ngã là nhị nguyên và vì thế không thể quản trị [139], hoặc các nhóm và quốc gia bị chia thành những phe đối lập, và một lần nữa nhị nguyên nổi lên trong khó khăn năng động mãnh liệt.
It is integration which Christ so fully exemplified, thus resolving the dualities of higher and lower in Himself, making “of twain one new man,” (Ephesians, II, 15.) and it was this “new man” which shone forth at the Transfiguration before the startled gaze of the three apostles. It is this basic integration or unification which religion should aim to produce, and it is this co-ordination between two fundamental aspects of human nature—the natural and the divine—which education should effect.
Chính sự tích hợp mà Đức Christ đã nêu gương trọn vẹn, nhờ đó giải quyết các nhị nguyên của cao và thấp trong Chính Ngài, làm “từ hai thành một con người mới,” (Êphêsô, II, 15.) và chính “con người mới” này đã tỏa sáng trong Cuộc Biến Hình trước ánh nhìn kinh ngạc của ba tông đồ. Chính sự tích hợp hay hợp nhất căn bản này là điều tôn giáo phải nhằm tạo ra, và chính sự phối hợp giữa hai phương diện nền tảng của bản chất con người—tự nhiên và thiêng liêng—là điều giáo dục phải thực hiện.
This problem of the two selves, which Christ so strikingly synthesised in Himself, is the strictly human problem. The secondary self, in contradistinction to the divine self, is a fact in nature, however we may try to evade the issue and refuse recognition of its existence. The “natural man” exists, as does the “spiritual man,” and in the interaction of the two the human problem is focussed. Man himself makes this clear. In speaking of man, Dr. Bosanquet says that:
Vấn đề về hai bản ngã này, mà Đức Christ đã tổng hợp trong Chính Ngài một cách nổi bật, là vấn đề thuần túy của con người. Bản ngã thứ yếu, đối lập với bản ngã thiêng liêng, là một sự kiện trong tự nhiên, dù chúng ta có cố né tránh vấn đề và từ chối công nhận sự tồn tại của nó đến đâu. “Con người tự nhiên” tồn tại, cũng như “con người tinh thần” tồn tại, và trong sự tương tác của hai điều này, vấn đề con người được tập trung. Chính con người làm rõ điều này. Khi nói về con người, Tiến sĩ Bosanquet nói rằng:
“... his innate self-transcendence, his ineradicable passion for the whole, makes it inevitable that out of the superfluity which he cannot systematise under the good, he will form a secondary and negative self, a disinherited self, hostile to the imperative domination of the good which is, ex hypothesi, only partial. And this discord is actually necessary to the good; for it sets it its characteristic problem, the conquest of the bad. And the good is necessary to the evil, for beyond rebellion against the good, the would-be totality of the disinherited self can find no other unity.”
“... sự tự siêu vượt bẩm sinh của y, niềm đam mê không thể nhổ tận gốc của y đối với toàn thể, khiến điều tất yếu là từ phần dư thừa mà y không thể hệ thống hóa dưới điều thiện, y sẽ hình thành một bản ngã thứ yếu và tiêu cực, một bản ngã bị truất quyền, thù nghịch với sự thống trị bắt buộc của điều thiện vốn, theo giả thuyết, chỉ là một phần. Và sự bất hòa này thực sự cần thiết cho điều thiện; vì nó đặt ra cho điều thiện vấn đề đặc trưng của nó, tức cuộc chinh phục cái xấu. Và điều thiện cần thiết cho cái ác, vì ngoài sự phản nghịch chống lại điều thiện, tính toàn thể muốn-được-là của bản ngã bị truất quyền không thể tìm thấy sự hợp nhất nào khác.”
‘THE VALUE AND DESTINY OF THE INDIVIDUAL’, BY B. BOSANQUET, P. 210.)
‘GIÁ TRỊ VÀ SỐ MỆNH CỦA CÁ NHÂN’, CỦA B. BOSANQUET, TR. 210.)
Here lies man’s problem, and here lie his triumph and the expression of his essential divinity. The higher self exists, and finally and inevitably must gain the victory over the lower self. One of the things that is happening today is the [140] discovery of the existence of this higher self, and many are the testimonies to its nature and qualities. Through a consideration of the self in every man we are steadily approximating an understanding of divinity.
Ở đây nằm vấn đề của con người, và ở đây nằm chiến thắng của y cùng sự biểu hiện thiên tính cốt yếu của y. Chân ngã tồn tại, và sau cùng, tất yếu phải giành chiến thắng trước phàm ngã. Một trong những điều đang xảy ra ngày nay là sự [140] khám phá sự tồn tại của chân ngã này, và có nhiều chứng ngôn về bản chất cùng các phẩm tính của nó. Qua việc xem xét bản ngã trong mỗi người, chúng ta đang đều đặn tiến gần đến sự thấu hiểu thiên tính.
Behind the manifestation of Jesus Christ lay aeons of experience. God had been expressing Himself through natural processes, through humanity as a whole, and through specific individuals, as the ages slipped away. Then Christ came, and in process of time, as a definite fulfilment of the past and as a guarantee of the future, He synthesized in Himself, in one transcendent Personality, all that had been achieved and all that was immediate in human experience. He was a Personality, as well as a divine Individuality. His life with its quality and its purpose has set its seal upon our civilisation, and His demonstrated synthesis is the inspiration of the present. This consummated Personality, synthesising in Itself all that preceded in human evolution, and expressing all that immediately may be, is God’s great gift to man.
Đằng sau sự biểu hiện của Đức Jesus Christ là những đại kiếp kinh nghiệm. Thượng đế đã biểu đạt Chính Ngài qua các tiến trình tự nhiên, qua toàn thể nhân loại, và qua những cá nhân đặc thù, khi các thời đại trôi qua. Rồi Đức Christ đến, và theo dòng thời gian, như một sự hoàn tất xác định của quá khứ và như một bảo chứng cho tương lai, Ngài tổng hợp nơi Chính Ngài, trong một Phàm ngã siêu việt duy nhất, tất cả những gì đã đạt được và tất cả những gì là trực tiếp trong kinh nghiệm nhân loại. Ngài là một Phàm ngã, cũng như là một Cá Thể thiêng liêng. Đời sống của Ngài, với phẩm tính và mục đích của nó, đã đóng dấu ấn lên nền văn minh của chúng ta, và sự tổng hợp mà Ngài chứng minh là nguồn cảm hứng của hiện tại. Phàm ngã viên mãn này, tổng hợp nơi Chính Nó tất cả những gì đi trước trong tiến hoá nhân loại, và biểu đạt tất cả những gì có thể hiện hữu tức thời, là tặng phẩm vĩ đại của Thượng đế dành cho con người.
Christ, as the Personality that healed the division in human nature, and Christ, as the synthesis of the higher and the lower aspects of divinity, is the glorious heritage of mankind today. This is what was revealed at the Transfiguration.
Đức Christ, với tư cách là Phàm ngã đã chữa lành sự phân rẽ trong bản chất con người, và Đức Christ, với tư cách là sự tổng hợp của các phương diện cao và thấp của thiên tính, là di sản huy hoàng của nhân loại ngày nay. Đây là điều đã được mặc khải trong cuộc Biến hình.
However, it is useful to remember that only at a certain stage in human development does the expression of the indwelling Christ life and consciousness become possible. The fact of evolution, with its necessary distinctions and differences, is incontrovertible. All men are not the same. They vary in their presentation of divinity. Some are really sub-human as yet. Others are simply human, and still others are beginning to display qualities and characteristics which are super-human. The question might justifiably arise: when does the possibility come to man of transcending the human, and becoming divine? Two factors will at that time control. He will have transcended the emotional and physical natures, and, entering the realm of thought, he should be responding in some way to ideals as they are presented to him by the [141] thinkers of the world. There must come a time in the progress of each human being when the development of the triple human nature—physical, emotional and mental—reaches a point of possible synthesis. He then becomes a personality. He thinks. He decides. He determines. He assumes control of his life and becomes not only an originating centre of activity but an impressive influence in the world. It is the coming in, with power, of the mind quality, and the capacity to think, which make this possible.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng chỉ ở một giai đoạn nhất định trong sự phát triển của con người, sự biểu đạt của sự sống và tâm thức Christ nội tại mới trở nên khả hữu. Sự kiện tiến hoá, với những phân biệt và khác biệt tất yếu của nó, là điều không thể bác bỏ. Mọi người không giống nhau. Họ khác nhau trong cách biểu lộ thiên tính. Một số thực sự cho đến nay vẫn còn dưới mức con người. Những người khác chỉ đơn giản là con người, và lại có những người khác đang bắt đầu biểu lộ những phẩm tính và đặc điểm siêu nhân. Câu hỏi có thể được nêu lên một cách chính đáng: khi nào khả năng vượt lên trên con người và trở nên thiêng liêng đến với con người? Khi ấy, hai yếu tố sẽ chi phối. Y sẽ vượt qua các bản chất cảm xúc và hồng trần, và khi bước vào lĩnh vực tư tưởng, y phải đáp ứng theo một cách nào đó với các lý tưởng như chúng được trình bày cho y bởi các nhà tư tưởng [141] của thế giới. Phải đến một thời điểm trong tiến trình của mỗi con người khi sự phát triển của bản chất tam phân của con người — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — đạt tới một điểm có khả năng tổng hợp. Khi ấy y trở thành một phàm ngã. Y suy nghĩ. Y quyết định. Y xác định. Y nắm quyền kiểm soát đời sống của mình và trở thành không chỉ một trung tâm khởi phát hoạt động mà còn là một ảnh hưởng gây ấn tượng trong thế giới. Chính sự xuất hiện mạnh mẽ của phẩm tính trí tuệ và năng lực suy nghĩ làm cho điều này trở nên khả hữu.
It is this insistence upon thought, and this determination to handle life from the angle of mind and not of emotion, which distinguish a “personality” from the rank and file of human beings. The man who thinks and who acts upon the resolutions and incentives which have their origin in duly considered thought-realities becomes, in time, a “personality,” and begins to sway other minds. He exercises a definite influence upon other people. Yet overseeing the personality is the inner spiritual man, which we might call the “individual.” It is here again that Christ achieved success, and the second duality, which He so significantly resolved, is that of the personal self and the “individuality.” The finite and the infinite must be brought into a close relation. This, Christ demonstrated in the Transfiguration, when, through the medium of a purified and developed personality, He manifested the nature and the quality of God. The finite nature had been transcended and could no longer control His activities. He had passed in His consciousness to the realm of inclusive realisation, and the ordinary rules governing the finite individual, with its petty problems and its small reaction to events and persons, could no longer influence Him nor determine His conduct. He had achieved contact with that realm of being in which there is not only understanding, but peace, through unity.
Chính sự nhấn mạnh vào tư tưởng này, và quyết tâm xử lý đời sống từ góc độ trí tuệ chứ không phải từ cảm xúc, phân biệt một “phàm ngã” với hàng ngũ đông đảo con người. Người nào suy nghĩ và hành động theo những quyết định và động lực có nguồn gốc trong các thực tại tư tưởng đã được cân nhắc đúng mức, theo thời gian, trở thành một “phàm ngã,” và bắt đầu tác động đến trí tuệ người khác. Y tạo một ảnh hưởng rõ rệt lên những người khác. Tuy vậy, giám sát phàm ngã là con người tinh thần bên trong, mà chúng ta có thể gọi là “cá thể.” Ở đây một lần nữa Đức Christ đã thành công, và nhị nguyên thứ hai mà Ngài đã giải quyết một cách đầy ý nghĩa là nhị nguyên giữa bản ngã cá nhân và “cá thể tính.” Cái hữu hạn và cái vô hạn phải được đưa vào một mối liên hệ mật thiết. Điều này, Đức Christ đã chứng minh trong cuộc Biến hình, khi, qua trung gian của một phàm ngã đã được thanh luyện và phát triển, Ngài biểu lộ bản chất và phẩm tính của Thượng đế. Bản chất hữu hạn đã được vượt qua và không còn có thể chi phối các hoạt động của Ngài. Trong tâm thức của Ngài, Ngài đã vượt vào lĩnh vực của sự chứng nghiệm bao gồm, và những quy luật thông thường chi phối cá nhân hữu hạn, với các vấn đề nhỏ bé và phản ứng bé nhỏ của nó trước các biến cố và con người, không còn có thể ảnh hưởng đến Ngài hay quyết định cách ứng xử của Ngài. Ngài đã đạt được sự tiếp xúc với lĩnh vực Bản Thể nơi không chỉ có thấu hiểu mà còn có bình an, qua sự hợp nhất.
Rules and fixations and considerations Christ had surmounted, and consequently He functioned as an individual and not as a human personality. He was governed by the [142] rules which control in the realm of the spirit, and it was this which the three Apostles recognised at the Transfiguration, and which led to their submission to Him henceforth as the One Who represented to them Divinity. Christ, therefore, at the Transfiguration, unified in Himself God and Man, His developed Personality blending with His Individuality. He stood forth as the perfect expression of the uttermost possibility to which humanity could aspire. The dualities, of which mankind is so distressingly the expression, met in Him, and resulted in a synthesis of such perfection that, for all time, He determined the goal of our race.
Đức Christ đã vượt qua các quy luật, những sự cố chấp và các cân nhắc, và do đó Ngài hoạt động như một cá thể chứ không như một phàm ngã con người. Ngài được chi phối bởi các [142] quy luật vốn điều khiển trong lĩnh vực tinh thần, và chính điều này ba vị Tông đồ đã nhận ra trong cuộc Biến hình, khiến từ đó về sau họ quy phục Ngài như Đấng đại diện cho Thiên tính đối với họ. Vì vậy, trong cuộc Biến hình, Đức Christ đã hợp nhất nơi Chính Ngài Thượng đế và Con Người, Phàm ngã đã phát triển của Ngài hoà nhập với Cá Thể Tính của Ngài. Ngài hiện ra như sự biểu đạt hoàn hảo của khả năng tối thượng mà nhân loại có thể khao khát đạt tới. Những nhị nguyên mà nhân loại là sự biểu đạt đầy đau khổ đã gặp nhau nơi Ngài, và đưa đến một sự tổng hợp hoàn hảo đến nỗi, cho mọi thời đại, Ngài đã xác định mục tiêu của nhân loại chúng ta.
There is a still higher synthesis, and this Christ also summarised in Himself—the synthesis of the part with the Whole, of humanity with the ultimate Reality. Man’s history has been one of development from the state of mass unconscious reactions to that of a slowly recognised group responsibility. The low-grade human being or the unthinking individual has a collective consciousness. He may regard himself as a person, but he does no clear thinking as to human relations, or as to the place of humanity in the scale of being. He is easily swayed by the mass or collective thought, and is regimented and standardised by mass psychology. He moves in rhythm with the mass of men; he thinks as they think (if he thinks at all); he easily feels as the mass feels, and he remains undifferentiated from his kind. Upon this, orators and dictators base their success. Through their golden-tongued oratory or through their magnetic and dominant personalities, they swing the masses to their will because they work with the collective, though undeveloped, consciousness.
Còn có một sự tổng hợp cao hơn nữa, và điều này Đức Christ cũng đã tóm lược nơi Chính Ngài — sự tổng hợp của phần với Toàn Thể, của nhân loại với Thực Tại tối hậu. Lịch sử con người là lịch sử phát triển từ trạng thái phản ứng vô thức của quần chúng đến trạng thái trách nhiệm nhóm được dần dần nhận biết. Con người cấp thấp hoặc cá nhân không suy nghĩ có một tâm thức tập thể. Y có thể xem mình là một con người, nhưng y không suy nghĩ rõ ràng về các quan hệ nhân loại, hay về vị trí của nhân loại trong thang Bản Thể. Y dễ bị tác động bởi tư tưởng quần chúng hay tập thể, và bị ép vào khuôn, chuẩn hoá bởi tâm lý quần chúng. Y chuyển động theo nhịp điệu với khối đông con người; y suy nghĩ như họ suy nghĩ, nếu y có suy nghĩ; y dễ dàng cảm nhận như quần chúng cảm nhận, và y vẫn chưa được biến phân khỏi đồng loại của mình. Trên điều này, các nhà hùng biện và các nhà độc tài đặt nền tảng cho thành công của họ. Qua tài hùng biện lời vàng ý ngọc của họ hoặc qua những phàm ngã từ tính và áp đảo của họ, họ khiến quần chúng xoay theo ý chí của họ, bởi vì họ làm việc với tâm thức tập thể, dù chưa phát triển.
From this stage we pass to that of the emerging personality who does his own thinking, makes his own plans and cannot be regimented or beguiled by words. He is a thinking individual, and the collective consciousness and the mass mind cannot hold him in thrall. These are the people who pass on to liberation, and who, from one expansion of awareness [143] to another, gradually become consciously integrated parts of the whole. Eventually, the group and its will (not the mass and its feeling) come to be of supreme importance, because they see the group as God sees it, become custodians of the divine Plan, and conscious, integral, intelligent parts of the whole. They know what they are doing, and why they do it. In Himself Christ blended and fused the part with the whole, and effected an at-one-ment between the will of God, synthetic and comprehensive, and the individual will, which is personal and limited. In a commentary on The Bhagavad Gita, that supreme argument for the life of the whole as fused and blended in divinity, Charles Johnston points out that:
Từ giai đoạn này, chúng ta chuyển sang giai đoạn của phàm ngã đang xuất hiện, người tự mình suy nghĩ, tự mình lập kế hoạch và không thể bị ép vào khuôn hay mê hoặc bằng lời nói. Y là một cá nhân biết suy nghĩ, và tâm thức tập thể cùng trí tuệ quần chúng không thể giam giữ y trong vòng nô lệ. Đây là những người tiến tới giải thoát, và từ một sự mở rộng nhận thức [143] này đến một sự mở rộng khác, dần dần trở thành những phần được tích hợp một cách có ý thức của toàn thể. Cuối cùng, nhóm và ý chí của nhóm, chứ không phải quần chúng và cảm xúc của quần chúng, trở nên có tầm quan trọng tối thượng, bởi vì họ thấy nhóm như Thượng đế thấy nó, trở thành những người gìn giữ Thiên Cơ, và là những phần có ý thức, toàn vẹn, thông tuệ của toàn thể. Họ biết họ đang làm gì, và vì sao họ làm điều đó. Nơi Chính Ngài, Đức Christ đã hoà trộn và dung hợp phần với toàn thể, và thực hiện một sự hiệp nhất giữa Ý Chí của Thượng đế, tổng hợp và bao quát, với ý chí cá nhân, vốn riêng tư và giới hạn. Trong một bản bình giải về Chí Tôn Ca, luận chứng tối thượng cho đời sống của toàn thể như được dung hợp và hoà trộn trong thiên tính, Charles Johnston chỉ ra rằng:
“The truth would seem to be that, at a certain point in spiritual life, the ardent disciple, who has sought in all things to bring his soul into unison with the great Soul, who has striven to bring his will to likeness with the Divine Will, passes through a marked spiritual experience, in which the great Soul draws him upward, the Divine Will raises his consciousness to oneness with the Divine Consciousness; for a time he perceives and feels, no longer as the person, but as the Oversoul, gaining a profound vision of the divine ways of life, and feeling with the infinite Power, which works through life and death alike, through sorrow and joy, through union and separation, through creation, destruction and recreation. The awe and mystery which surround that great unveiling have set their seal on all who have passed through it.”
“Chân lý dường như là thế này: ở một điểm nào đó trong đời sống tinh thần, người đệ tử nhiệt thành, người đã tìm cách trong mọi sự đưa linh hồn mình vào sự hòa điệu với Đại Hồn, người đã nỗ lực đưa ý chí mình trở nên giống với Ý Chí thiêng liêng, trải qua một kinh nghiệm tinh thần rõ rệt, trong đó Đại Hồn kéo y lên cao, Ý Chí thiêng liêng nâng tâm thức y lên sự hợp nhất với Tâm Thức thiêng liêng; trong một thời gian, y tri nhận và cảm nhận, không còn như một cá nhân, mà như đại hồn, đạt được một tầm nhìn sâu xa về những đường lối thiêng liêng của đời sống, và cảm nhận cùng Quyền Năng vô hạn, vốn hoạt động xuyên qua sự sống và sự chết như nhau, xuyên qua sầu khổ và hoan hỉ, xuyên qua hợp nhất và chia lìa, xuyên qua sáng tạo, hủy diệt và tái tạo. Sự kính sợ và huyền nhiệm bao quanh cuộc vén màn vĩ đại ấy đã đóng dấu ấn lên tất cả những ai đã trải qua nó.”
‘THE BHAGAVAD GITA’, TRANSLATED BY CHARLES JOHNSTON, P. 128.
‘CHÍ TÔN CA’, DO CHARLES JOHNSTON DỊCH, TR. 128.
This realisation is far from the average man, and still further from the undeveloped.
Sự chứng nghiệm này còn rất xa đối với người bình thường, và còn xa hơn nữa đối với người chưa phát triển.
The divine is the Whole, informed and animated by the life and will of God; and in utter self-surrender and with all the power of His purified nature and His divine understanding and wisdom, Christ blended in Himself the collective consciousness, the human realisation and the divine Totality. Some day we shall understand this more clearly. It is as yet something which we cannot grasp, unless for us the Transfiguration is a reality and not a goal.
Cái thiêng liêng là Toàn Thể, được thấm nhuần và làm linh hoạt bởi sự sống và ý chí của Thượng đế; và trong sự tự hiến trọn vẹn, với toàn bộ quyền năng của bản chất đã được thanh luyện của Ngài, cùng sự thấu hiểu và minh triết thiêng liêng của Ngài, Đức Christ đã hoà trộn nơi Chính Ngài tâm thức tập thể, sự chứng nghiệm nhân loại và Toàn Thể thiêng liêng. Một ngày nào đó chúng ta sẽ thấu hiểu điều này rõ ràng hơn. Hiện nay nó vẫn là điều chúng ta không thể nắm bắt, trừ phi đối với chúng ta cuộc Biến hình là một thực tại chứ không phải một mục tiêu.
[144] It is interesting to have in mind another at-one-ment which Christ made. He unified in Himself the past and the future, as far as humanity is concerned. This is significantly typified in the appearance with Him upon the Mount of Transfiguration of Moses and Elias, the representatives respectively of the Law and of the Prophets. In the one figure we find symbolised the past of man, with its summation in the Law of Moses, setting the limits beyond which man may not go, defining the injunctions which he must set upon his lower nature (the desire-nature), and emphasising the restrictions which the race as a whole must set upon its actions. Careful study will reveal that all these laws concern the government and control of the desire-nature, of the emotional, feeling body, to which we have already had need to refer. Curiously enough, the name “Moses,” according to Cruden’s Concordance, means “taken out of the water.” We have already seen that water is the symbol of the fluidic emotional desire-nature in which man habitually dwells. Moses therefore appeared with Christ as typifying man’s emotional past, and the technique of its control is to be later superseded when the message of Christ’s life is duly understood, pouring through man’s consciousness in ever greater fullness. Christ indicated the new synthetic commandment which is “to love one another.” This would render needless all the Law and the Prophets, and would relegate the Ten Commandments into the background of life, rendering them superfluous, because the love which will flow out from man to God, and from man to man, will automatically and positively produce that right action which will make the breaking of the commandments impossible. The “shalt not” of God, spoken from Mount Sinai through Moses, with its negative emphasis and its punitive interpretation, will give place to the radiance of love and the understanding of goodwill and light which Christ radiated upon the mount of Transfiguration. The past met in Him and was superseded by a living present.
[144] Cần ghi nhớ một sự hiệp nhất khác mà Đức Christ đã thực hiện. Nơi Chính Ngài, Ngài đã hợp nhất quá khứ và tương lai, xét theo nhân loại. Điều này được tiêu biểu một cách đầy ý nghĩa trong sự xuất hiện cùng Ngài trên Núi Biến hình của Moses và Elias, lần lượt là các đại diện của Định luật và của các Nhà Tiên Tri. Trong một hình tượng, chúng ta thấy quá khứ của con người được biểu tượng hoá, với sự tổng kết của nó trong Định luật Moses, đặt ra các giới hạn mà con người không được vượt qua, xác định những huấn lệnh mà y phải đặt lên bản chất thấp của mình, tức bản chất dục vọng, và nhấn mạnh các hạn chế mà toàn thể nhân loại phải đặt lên các hành động của mình. Sự nghiên cứu cẩn thận sẽ mặc khải rằng tất cả những định luật này liên quan đến việc cai quản và kiểm soát bản chất dục vọng, thể cảm xúc, cảm nhận, mà chúng ta đã cần đề cập đến. Điều kỳ lạ là tên “Moses,” theo Từ Điển Đối Chiếu Kinh Thánh của Cruden, có nghĩa là “được lấy ra khỏi nước.” Chúng ta đã thấy rằng nước là biểu tượng của bản chất dục vọng cảm xúc linh động, trong đó con người thường xuyên cư ngụ. Vì vậy Moses xuất hiện cùng Đức Christ như biểu tượng cho quá khứ cảm xúc của con người, và kỹ thuật kiểm soát nó về sau sẽ được thay thế khi thông điệp của đời sống Đức Christ được thấu hiểu đúng mức, tuôn đổ qua tâm thức con người với sự đầy đủ ngày càng lớn hơn. Đức Christ chỉ ra giới răn tổng hợp mới, đó là “hãy yêu thương nhau.” Điều này sẽ khiến toàn bộ Định luật và các Nhà Tiên Tri trở nên không cần thiết, và sẽ đẩy Mười Điều Răn vào hậu cảnh của đời sống, khiến chúng trở nên thừa, bởi vì tình thương sẽ tuôn chảy từ con người đến Thượng đế, và từ con người đến con người, sẽ tự động và tích cực tạo ra hành động đúng đắn khiến việc vi phạm các điều răn trở nên bất khả. Lời “ngươi chớ” của Thượng đế, được phán từ Núi Sinai qua Moses, với sự nhấn mạnh tiêu cực và cách diễn giải trừng phạt của nó, sẽ nhường chỗ cho ánh huy hoàng của tình thương, và sự thấu hiểu thiện chí cùng ánh sáng mà Đức Christ đã tỏa chiếu trên Núi Biến hình. Quá khứ đã gặp nơi Ngài và được thay thế bằng một hiện tại sống động.
Elias, whose name means “the strength of the Lord,” stood [145] beside Jesus Christ as the representative of all the schools of the Prophets which had for centuries foretold the coming of the One Who would stand for perfect righteousness and Who, in His Own Person, would embody, as He does today, the future achievement and the goal of the human race. That the future holds reaches of consciousness and standards of achievement as much beyond those of Christ as His expression is beyond ours, is entirely possible. The nature of the Father remains still to be known; some of its aspects, such as the love and wisdom of God, have been revealed to us by Christ. For us today, and for our immediate goal, Christ stands as the Eternal Prophet, to whom Elias and all the Prophets bear witness. Therefore, as He stood upon the mountain top, the past and the future of humanity met in Him.
Elias, tên có nghĩa là “sức mạnh của Chúa,” đứng [145] bên cạnh Đức Jesus Christ như đại diện của mọi trường phái các Nhà Tiên Tri, những trường phái trong nhiều thế kỷ đã tiên báo sự xuất hiện của Đấng sẽ đại diện cho sự công chính hoàn hảo và là Đấng, nơi Chính Bản Thân Ngài, sẽ hiện thân, như Ngài đang làm hôm nay, thành tựu tương lai và mục tiêu của nhân loại. Việc tương lai có thể chứa đựng những tầm mức tâm thức và tiêu chuẩn thành tựu vượt xa Đức Christ nhiều như sự biểu đạt của Ngài vượt xa chúng ta là điều hoàn toàn có thể. Bản chất của Cha vẫn còn phải được nhận biết; một số phương diện của bản chất ấy, như tình thương và minh triết của Thượng đế, đã được Đức Christ mặc khải cho chúng ta. Đối với chúng ta ngày nay, và đối với mục tiêu trước mắt của chúng ta, Đức Christ đứng như Nhà Tiên Tri vĩnh cửu, Đấng mà Elias và tất cả các Nhà Tiên Tri làm chứng. Vì vậy, khi Ngài đứng trên đỉnh núi, quá khứ và tương lai của nhân loại đã gặp nhau nơi Ngài.
That He at-oned in Himself certain basic human cleavages is thus apparent, and to those above enumerated we can add one already considered, the blending in Himself of two great kingdoms in nature, the human and the divine, making possible the emergence into manifestation of a new kingdom upon earth—the kingdom of God, the fifth kingdom in nature.
Như vậy, rõ ràng Ngài đã hiệp nhất nơi Chính Ngài một số phân rẽ căn bản của con người, và vào những điều đã liệt kê ở trên, chúng ta có thể thêm một điều đã được xem xét: sự hoà trộn nơi Chính Ngài của hai giới lớn trong thiên nhiên, giới nhân loại và giới thiêng liêng, khiến sự xuất hiện vào biểu hiện của một giới mới trên Trái Đất trở nên khả hữu — Thiên Giới, giới thứ năm trong thiên nhiên.
When considering the Transfiguration it is necessary to realise that it was not simply a great initiation, in which God revealed Himself in His radiance and glory to man, but that it had a definite relation to the medium of revelation—the material physical nature, which we call the “Mother aspect.” We saw, when studying the Birth initiation, that the Virgin Mary (even when recognising, as we do, the historicity of Christ’s existence) is the symbol of the form nature, of the material nature of God. She typifies in herself that which preserves the life of God, latent yet with infinite potentialities. Christ revealed the love-nature in the Father. Through His Person, He revealed the purpose and objective of the form-life of man.
Khi xem xét cuộc Biến hình, cần nhận ra rằng đó không chỉ đơn giản là một cuộc điểm đạo vĩ đại, trong đó Thượng đế mặc khải Chính Ngài trong ánh huy hoàng và vinh quang của Ngài cho con người, mà nó còn có một liên hệ rõ rệt với phương tiện mặc khải — bản chất vật chất hồng trần, mà chúng ta gọi là “phương diện Mẹ.” Khi nghiên cứu cuộc điểm đạo Giáng sinh, chúng ta đã thấy rằng Đức Trinh Nữ Maria, ngay cả khi chúng ta nhìn nhận, như chúng ta vẫn làm, tính lịch sử của sự hiện hữu của Đức Christ, là biểu tượng của bản chất hình tướng, của bản chất vật chất của Thượng đế. Bà tự thân tiêu biểu cho điều gì bảo tồn sự sống của Thượng đế, còn tiềm tàng nhưng với những tiềm năng vô hạn. Đức Christ mặc khải bản chất tình thương trong Cha. Qua Chính Ngài, Ngài mặc khải mục đích và mục tiêu của sự sống-hình tướng của con người.
[146] In this mountain experience we see the glorification of matter as it reveals and expresses the divine, indwelling Christ. Matter, the Virgin Mary, reveals God. Form, the result of active material processes, must express divinity, and the revelation of this is God’s gift to us at the Transfiguration. Christ was “very God of very God,” but He was also “flesh of our flesh,” and in the interplay and the fusion of the two, God stood revealed in all His magnetic and radiant glory.
[146] Trong kinh nghiệm trên núi này, chúng ta thấy sự tôn vinh vật chất khi nó mặc khải và biểu đạt Đức Christ thiêng liêng, nội tại. Vật chất, Đức Trinh Nữ Maria, mặc khải Thượng đế. Hình tướng, kết quả của các tiến trình vật chất tích cực, phải biểu đạt thiên tính, và sự mặc khải điều này là tặng phẩm của Thượng đế dành cho chúng ta trong cuộc Biến hình. Đức Christ là “Thượng đế thật của Thượng đế thật,” nhưng Ngài cũng là “xác thịt của xác thịt chúng ta,” và trong sự tương tác cùng sự dung hợp của hai điều ấy, Thượng đế hiện lộ trong toàn bộ vinh quang từ tính và rạng rỡ của Ngài.
When we, as human beings, realise the divine purpose, and come to regard our physical bodies as the means whereby the divine, indwelling Christ can be revealed, we shall gain a new vision of physical living and a renewed incentive for the proper care and treatment of the physical body. We shall cherish these bodies, through which we temporarily function, as the custodians of the divine revelation. We shall, each of us, regard them as the Virgin Mary regarded her body, as the repository of the hidden Christ, and we shall look forward to that momentous day when we, too, shall stand upon the Mount of Transfiguration, revealing the glory of the Lord through the medium of our bodies. Browning sensed this and gave us the thought in the following well-known phrases:
Khi chúng ta, với tư cách con người, chứng nghiệm mục đích thiêng liêng, và bắt đầu xem các thể xác của mình như phương tiện nhờ đó Đức Christ thiêng liêng, nội tại có thể được mặc khải, chúng ta sẽ đạt được một tầm nhìn mới về đời sống hồng trần và một động lực đổi mới để chăm sóc và xử lý thể xác một cách thích đáng. Chúng ta sẽ trân quý những thân thể này, qua đó chúng ta tạm thời hoạt động, như những người gìn giữ sự mặc khải thiêng liêng. Mỗi người chúng ta sẽ xem chúng như Đức Trinh Nữ Maria đã xem thân thể của bà, như kho chứa Đức Christ ẩn tàng, và chúng ta sẽ hướng về ngày trọng đại khi cả chúng ta nữa sẽ đứng trên Núi Biến hình, mặc khải vinh quang của Chúa qua trung gian các thân thể của mình. Browning đã cảm nhận điều này và trao cho chúng ta tư tưởng ấy trong những câu nổi tiếng sau đây:
“Truth is within ourselves; it takes no rise
“Chân lý ở bên trong chính chúng ta; nó không khởi sinh
From outward things, whate’er you may believe.
Từ những sự vật bên ngoài, dù các bạn có thể tin điều gì.
There is an inmost centre in us all
Có một trung tâm sâu thẳm nhất trong tất cả chúng ta
Where truth abides in fullness; and around
Nơi chân lý cư ngụ trong sự đầy đủ; và chung quanh
Wall upon wall, the gross flesh hems it in.
Tường chồng lên tường, xác thịt thô trược bao kín nó.
. . . . . . And, to know
...... Và, để biết
Rather consists in opening out a way
Đúng hơn là mở ra một con đường
Whence the imprisoned splendour may escape
Từ đó vẻ huy hoàng bị giam giữ có thể thoát ra
Than in effecting entry for a light
Hơn là tạo lối vào cho một ánh sáng
Supposed to be without.”
Được cho là ở bên ngoài.”
‘PARACELSUS’, BY ROBERT BROWNING, OXFORD EDITION, P. 444.
‘PARACELSUS’, CỦA ROBERT BROWNING, ẤN BẢN OXFORD, TR. 444.
Thus, for humanity, Christ stood revealed as the expression of God. There is for us no other goal. Yet let us remember with humility and awe that the stupendous words spoken by Krishna, in The Bhagavad Gita, remain also true [147] as an ultimate statement concerning the transfiguration of the whole world:
Như vậy, đối với nhân loại, Đức Christ hiện lộ như sự biểu đạt của Thượng đế. Đối với chúng ta, không có mục tiêu nào khác. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ với lòng khiêm cung và kính sợ rằng những lời kỳ vĩ do Krishna phán trong Chí Tôn Ca, cũng vẫn đúng [147] như một tuyên bố tối hậu liên quan đến sự biến hình của toàn thế giới:
“Nor is there any end of My divine form, O consumer of the foe; this I have told thee for thy instruction, as an enumeration of My manifold forms. Whatever being is glorious, gracious or powerful, thou shalt recognize that, as sprung from a fragment of my fire. But what need hast thou of this manifold wisdom, O Arjuna? With one part of My being I stand establishing this whole world.”
“Cũng không có tận cùng nào cho hình tướng thiêng liêng của Ta, hỡi người tiêu diệt kẻ thù; điều này Ta đã nói với ngươi để huấn thị ngươi, như một sự liệt kê các hình tướng đa dạng của Ta. Bất cứ sinh linh nào huy hoàng, ân phúc hay quyền năng, ngươi hãy nhận biết rằng điều đó phát sinh từ một mảnh lửa của Ta. Nhưng ngươi cần gì đến minh triết đa dạng này, hỡi Arjuna? Với một phần của bản thể Ta, Ta đứng nâng đỡ toàn bộ thế giới này.”
‘THE BHAGAVAD GITA,’ BOOK X, 40, 41, 42.
‘CHÍ TÔN CA,’ QUYỂN MƯỜI, 40, 41, 42.
Under the impact of the evolutionary urge God moves towards fuller recognition. “Purification” is the word generally used to cover the process whereby the medium of divine expression is prepared for use. The Galilee experience, and the daily effort to live and meet the eventualities of human existence (which appear to grow more drastic and disciplinary as the great wheel of life turns, and, turning, carries humanity onward), bring man to the point where this purification is not simply the result of life itself, but is something which is definitely imposed by man upon his own nature. When this process is self-initiated, then the speed with which the work is carried forward is greatly accentuated. This produces a transformation of the outer man of great significance. The caterpillar becomes transformed into the butterfly. Deep in man lies this hidden beauty, unrealised, but struggling for release.
Dưới tác động của thôi thúc tiến hoá, Thượng đế tiến tới sự nhận biết đầy đủ hơn. “Thanh luyện” là từ thường được dùng để bao hàm tiến trình nhờ đó phương tiện biểu đạt thiêng liêng được chuẩn bị để sử dụng. Kinh nghiệm Galilee, và nỗ lực hằng ngày để sống và đối diện với các biến cố của hiện hữu nhân loại, vốn dường như trở nên nghiêm khắc và có tính kỷ luật hơn khi bánh xe lớn của đời sống quay, và khi quay, mang nhân loại tiến tới, đưa con người đến điểm mà sự thanh luyện này không chỉ đơn giản là kết quả của chính đời sống, mà là điều con người dứt khoát áp đặt lên bản chất của chính mình. Khi tiến trình này do chính mình khởi xướng, thì tốc độ tiến hành công việc sẽ tăng lên rất nhiều. Điều này tạo ra một sự chuyển đổi của con người bên ngoài, có thâm nghĩa lớn lao. Con sâu biến đổi thành con bướm. Sâu trong con người có vẻ đẹp ẩn tàng này, chưa được chứng nghiệm, nhưng đang vùng vẫy để được giải phóng.
The life of the indwelling Christ produces the transformation of the physical body, but deeper still, that life operates upon the emotional-feeling nature, and through the process of transmutation converts the desires and feelings, the pains and the pleasures, into their higher correspondences. Transmutation has been defined as “the passage across from one state of being to another, through the agency of fire.” (A Treatise on Cosmic Fire, by Alice A. Bailey, p. 476.) It is appropriate in this connection to remember that the threefold lower man, with whom we have been dealing so often in these pages, is a dim reflection of [148] Deity Itself. The physical body is related to the third aspect of divinity, the Holy Ghost aspect, and the truth of this can be realised if we study the Christian concept of the Virgin Mary overshadowed by the Holy Ghost. The Holy Ghost is that aspect of divinity which is the active principle in matter, and of this the physical body is a correspondence. The emotional, sentient nature is a dim and distorted reflection of the love-nature of God which the cosmic Christ, the second Person in the Trinity, is engaged in revealing; and this aspect (transmuted through the agency of fire, the will or spirit of God) produces the transformation of the physical body. The mind in its turn is therefore the reflection of the highest aspect of deity, the Father, or Spirit, of Whom it is said that our “God is a consuming fire.” (Deuteronomy, IV, 24.) The releasing activity of this form of God’s spirit eventually produces that radiance (as a result of transformation and transmutation) which was the distinguishing characteristic of the Transfiguration initiation. “Radiation is transmutation in process of accomplishment.” Transmutation being the liberation of the essence in order that it may seek a new centre, the process may be recognised as ‘radio activity’ as far as humanity is concerned.” (A Treatise on Cosmic Fire, by Alice A. Bailey, p. 478.)
Sự sống của Đức Christ nội tại tạo ra sự chuyển đổi của thể xác, nhưng sâu hơn nữa, sự sống ấy tác động lên bản chất cảm xúc-cảm nhận, và qua tiến trình chuyển hoá biến các dục vọng và cảm xúc, các đau khổ và khoái lạc, thành những tương ứng cao hơn của chúng. Chuyển hoá đã được định nghĩa là “sự đi qua từ một trạng thái Bản Thể này sang một trạng thái khác, qua tác nhân của lửa.” (Luận về Lửa Vũ Trụ, của Alice A. Bailey, tr. 476.) Trong mối liên hệ này, cần nhớ rằng phàm nhân tam phân, mà chúng ta đã thường xuyên đề cập trong các trang này, là một phản chiếu mờ nhạt của [148] chính Thượng đế. Thể xác liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, phương diện Chúa Thánh Thần, và chân lý này có thể được chứng nghiệm nếu chúng ta nghiên cứu quan niệm Kitô giáo về Đức Trinh Nữ Maria được Chúa Thánh Thần phủ bóng. Chúa Thánh Thần là phương diện của thiên tính vốn là nguyên khí hoạt động trong vật chất, và thể xác là một tương ứng của phương diện này. Bản chất cảm xúc, hữu cảm, là một phản chiếu mờ nhạt và méo mó của bản chất tình thương của Thượng đế mà Đức Christ vũ trụ, Ngôi thứ hai trong Ba Ngôi, đang dấn thân mặc khải; và phương diện này, được chuyển hoá qua tác nhân của lửa, tức ý chí hay tinh thần của Thượng đế, tạo ra sự chuyển đổi của thể xác. Do đó, đến lượt mình, thể trí là phản chiếu của phương diện cao nhất của Thượng đế, Cha, hay Tinh thần, về Đấng ấy người ta nói rằng “Thượng đế của chúng ta là lửa thiêu đốt.” (Đệ Nhị Luật, IV, 24.) Hoạt động giải phóng của hình thức tinh thần này của Thượng đế cuối cùng tạo ra sự rạng rỡ ấy, như kết quả của chuyển đổi và chuyển hoá, vốn là đặc điểm nổi bật của cuộc điểm đạo Biến hình. “Bức xạ là sự chuyển hoá đang trong tiến trình hoàn tất.” Vì chuyển hoá là sự giải phóng tinh chất để nó có thể tìm kiếm một trung tâm mới, nên tiến trình này có thể được nhận biết như ‘hoạt động phóng xạ’ xét theo nhân loại.” (Luận về Lửa Vũ Trụ, của Alice A. Bailey, tr. 478.)
It was these processes, carried on in the form nature, which led eventually to the revelation to the Apostles of the essential nature of the Master they loved and followed, and it is this aspect of Christ—the inner radiant reality—to which the mystics of all times bear testimony, not only in connection with Christ, but in lesser degree in connection with each other also. Once the world of the senses has been transcended, and the higher correspondences have become active, revealing the inner world of beauty and truth, there will come to the mystic a realisation of a subjective world whose characteristics are light, radiance, beauty and indescribable wonder. All the mystical writings are attempts to describe this world to which the mystics seem to have access, with [149] its forms varying according to the period, race and point of development of the seer. We know only that the divine stands revealed, while the outer form which has veiled and hidden it dissolves, or is so transformed that only the inner reality is registered. The temperament and tendencies of the mystic—his own innate quality—have also much to do with his description of what he sees. However, all are agreed on the essentially transcendent nature of the experience, and convinced of the divine nature of the person concerned.
Chính những tiến trình này, được thực hiện trong bản chất hình tướng, cuối cùng đã dẫn đến sự mặc khải cho các Tông đồ về bản chất cốt yếu của Chân sư mà họ yêu kính và noi theo; và chính phương diện này của Đức Christ — thực tại rạng rỡ bên trong — là điều các nhà thần bí ở mọi thời đại làm chứng, không chỉ liên quan đến Đức Christ, mà ở mức độ thấp hơn cũng liên quan đến nhau. Một khi thế giới giác quan đã được vượt qua, và các tương ứng cao hơn đã trở nên hoạt động, mặc khải thế giới nội tại của vẻ đẹp và chân lý, thì nhà thần bí sẽ có một sự chứng nghiệm về một thế giới chủ quan có các đặc điểm là ánh sáng, sự rạng rỡ, vẻ đẹp và sự kỳ diệu không thể mô tả. Mọi trước tác thần bí đều là những nỗ lực nhằm mô tả thế giới này, thế giới mà các nhà thần bí dường như có thể tiếp cận, với [149] các hình tướng của nó thay đổi tùy theo thời kỳ, giống dân và điểm phát triển của nhà thông nhãn. Chúng ta chỉ biết rằng cái thiêng liêng hiện lộ, trong khi hình tướng bên ngoài vốn đã che phủ và ẩn giấu nó tan biến, hoặc được chuyển đổi đến mức chỉ thực tại bên trong được ghi nhận. Khí chất và khuynh hướng của nhà thần bí — phẩm tính bẩm sinh của chính y — cũng có liên hệ nhiều với cách y mô tả điều y thấy. Tuy nhiên, tất cả đều đồng ý về bản chất cốt yếu siêu việt của kinh nghiệm này, và tin chắc vào bản chất thiêng liêng của người liên hệ.
Great indeed was the power and mystery of divinity which Christ revealed to the astonished gaze of His three friends upon the Mount of Transfiguration. In one of the ancient scriptures of India, quoted by Dr. Otto, there is an attempt to express or reveal that divine essential Spirit manifested at the Transfiguration:
Quả thật vĩ đại là quyền năng và huyền nhiệm của thiên tính mà Đức Christ đã mặc khải trước cái nhìn kinh ngạc của ba người bạn của Ngài trên Núi Biến hình. Trong một thánh thư cổ của Ấn Độ, được Tiến sĩ Otto trích dẫn, có một nỗ lực nhằm biểu đạt hay mặc khải Tinh thần cốt yếu thiêng liêng ấy, được biểu lộ trong cuộc Biến hình:
“Finer than the fine yet am I greatest,
“Tinh tế hơn điều tinh tế, nhưng Ta là vĩ đại nhất,
I am the All in its complete fullness,
Ta là Tất Cả trong sự đầy đủ trọn vẹn của nó,
I, the most ancient, the spirit, the Lord God.
Ta, Đấng cổ xưa nhất, tinh thần, Chúa là Thượng đế.
The golden-gleaming am I, of form divine.
Ta là Đấng ánh vàng rực rỡ, có hình tướng thiêng liêng.
Without hand and foot, rich in unthinkable might,
Không tay không chân, giàu quyền năng bất khả tư nghị,
Sight without eyes, hearing without ears,
Thấy không cần mắt, nghe không cần tai,
Free from all form, I know. But me
Thoát khỏi mọi hình tướng, Ta biết. Nhưng Ta
None knows. For I am Spirit, am Being.”
Không ai biết. Vì Ta là Tinh thần, là Bản Thể.”
‘KAIVALYA’, II, 9. QUOTED IN MYSTICISM, EAST AND WEST, BY RUDOLPH OTTO, PP. 98, 99.
‘KAIVALYA’, II, 9. ĐƯỢC TRÍCH TRONG THẦN BÍ HỌC, ĐÔNG VÀ TÂY, CỦA RUDOLPH OTTO, TR. 98, 99.
The mass of literature that has been written in an attempt to portray the wonder of the transfiguration and the vision of God, is an outstanding phenomenon of the religious life, and one of the strongest testimonies to the fact of the revelations.
Khối lượng văn học đồ sộ đã được viết ra trong nỗ lực miêu tả sự kỳ diệu của cuộc biến hình và tầm nhìn về Thượng đế là một hiện tượng nổi bật của đời sống tôn giáo, và là một trong những chứng tích mạnh mẽ nhất cho sự kiện của các mặc khải.
The very simplicity of the story as related in the Gospels has a majesty and a convincing power of its own. The Apostles saw a vision and they participated in an experience wherein Christ Jesus stood before them as perfected Man, because fully divine. They had shared with Him His service; they had left their various vocations in order to be with Him; they had gone with Him from place to place and [150] helped Him in His work, and now, as a reward for faithfulness and recognition, they were permitted to see the Transfiguration. “When the mind,” says St. Augustine, “hath been imbued with the beginning of faith which worketh by love, it goes on by living well to arrive at sight also, wherein is unspeakable beauty known to high and holy hearts, the full vision of which is the highest happiness.” ‘Psychology and God’, by L. W. Grensted, p. 75.
Chính sự giản dị của câu chuyện như được thuật lại trong các sách Phúc Âm có một vẻ uy nghi và một sức thuyết phục riêng. Các Tông đồ đã thấy một linh ảnh và tham dự vào một kinh nghiệm trong đó Đức Christ Jesus đứng trước họ như Con Người hoàn thiện, bởi vì hoàn toàn thiêng liêng. Họ đã chia sẻ sự phụng sự của Ngài; họ đã rời bỏ các nghề nghiệp khác nhau của mình để ở cùng Ngài; họ đã đi với Ngài từ nơi này sang nơi khác và [150] giúp Ngài trong công việc của Ngài, và giờ đây, như phần thưởng cho sự trung tín và nhận biết, họ được phép thấy cuộc Biến hình. “Khi trí tuệ,” Thánh Augustine nói, “đã được thấm nhuần bằng khởi đầu của đức tin hoạt động nhờ tình thương, nó tiến tới, bằng cách sống tốt lành, để cũng đạt đến sự thấy, trong đó vẻ đẹp không thể diễn tả được nhận biết bởi những trái tim cao cả và thánh thiện, và tầm nhìn trọn vẹn về vẻ đẹp ấy là hạnh phúc cao nhất.” ‘Tâm Lý Học và Thượng đế’, của L. W. Grensted, tr. 75.
2
2
“After six days Jesus taketh Peter, James and John, his brother, and bringeth them up into a high mountain apart, and was transfigured before them; and his face did shine as the Sun, and his raiment was white as the light.
“Sau sáu ngày, Đức Jesus đem Peter, James và John, anh em của ông, và dẫn họ riêng lên một ngọn núi cao, rồi Ngài biến hình trước mặt họ; và mặt Ngài chiếu sáng như Mặt Trời, còn y phục Ngài trắng như ánh sáng.
“And behold, there appeared unto them Moses and Elias talking with him. Then answered Peter, and said unto Jesus, Lord, it is good for us to be here: if thou wilt, let us make here three tabernacles; one for thee, and one for Moses, and one for Elias.
“Và này, Moses và Elias hiện ra với họ, đang trò chuyện với Ngài. Bấy giờ Peter đáp lời và thưa với Đức Jesus: Lạy Chúa, chúng con ở đây thật tốt; nếu Ngài muốn, xin để chúng con dựng tại đây ba lều: một cho Ngài, một cho Moses, và một cho Elias.
“While he yet spake, behold, a bright cloud overshadowed them: and behold a voice out of the cloud, which said, This is my beloved Son, in whom I am well pleased; hear ye him. And when the disciples heard it, they fell on their face, and were sore afraid. And Jesus came and touched them, and said, Arise, and be not afraid. And when they had lifted up their eyes, they saw no man, save Jesus only.”
“Trong khi ông còn đang nói, này, một đám mây sáng phủ bóng trên họ; và này, có tiếng từ trong đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta, Đấng làm Ta đẹp lòng; hãy nghe lời Ngài. Khi các đệ tử nghe điều ấy, họ sấp mặt xuống và vô cùng sợ hãi. Đức Jesus đến chạm vào họ và nói: Hãy đứng dậy, đừng sợ. Và khi họ ngước mắt lên, họ không thấy ai, ngoài một mình Đức Jesus.”
ST. MATTHEW, XVII, 1-8.
THÁNH MATTHEW, XVII, 1-8.
A consideration of the various unifications which Christ had made in Himself will have prepared us for the stupendous phenomenon of the revelation which forced the three disciples to their faces. Three kneeling kings or magi attended the birth initiation. At this crisis there were three disciples prostrate upon the ground, unable to look upon the glory which had been revealed. They thought that they knew their Master, but the familiar Presence had been transformed, and they stood before The Presence. The sense of awe, of wonder and of humility is ever an outstanding [151] reaction of the mystics of all time to the revelation of light. This episode is the first one in which we contact the radiance and the light which shone from the Saviour, and which enabled Him to say with truth “I am the Light of the world.” Contact with God will ever cause a light to shine forth. When Moses came down from Mount Sinai, his countenance was so irradiated that men could not look upon it, and history tells that he had to use a veil to shield that radiance from others. But the light which was in Christ shone forth in fullness from His whole Person. Increasingly, I believe, as the evolutionary process goes forward, we shall come to a deeper understanding of the significance of light in relation to humanity. We talk of the light of knowledge, and towards that light and its furtherance all of our educational processes and institutions are consecrated. We desire profoundly the light of understanding, which expresses itself in wisdom, and characterises the sage and the wise upon earth; this light marks them off from the ordinarily intelligent person, making their words of moment, and giving value to their advice. We have been led to believe that there are in the world the illuminati, working quietly and silently behind the scenes in world affairs, shedding the light when needed into the dark places of the world, elucidating problems, and eventually bringing to light that which must be eradicated and that which is needed. We have also learnt to recognize the Light-bearers of all time, and we feel that in Christ the light of the ages is focussed, and the light of God is centred. His disciples came into the radius of this light for the first time on the mountain-top, after six days of work, so the story runs, and could not bear the sight of so much brilliance. Nevertheless, they felt that “it was good for them to be there.” Yet in our consideration of the light which was in Christ, and the rapture of the Apostles at its revelation, let us not lose sight of the fact that He Himself tells us that there is in us also a light, and that it too must blaze forth for the helping of the world and the glorification of our Father which is in [152] Heaven. (St. Matthew, V, 16.) To this light the mystics testify, and it is this light into which they enter, and which enters into them, revealing the light which is latent and drawing it forth to potency. “In Thy light shall we see light.” This is the outstanding fact of scientific mysticism. God is light as well as life. This the mystic has proved, and to this he eternally testifies.
Việc xem xét các sự hợp nhất khác nhau mà Đức Christ đã thực hiện nơi Chính Ngài hẳn đã chuẩn bị chúng ta cho hiện tượng kỳ vĩ của sự mặc khải, điều đã khiến ba đệ tử sấp mặt xuống đất. Ba vị vua hay đạo sĩ quỳ gối đã hiện diện trong cuộc điểm đạo Giáng sinh. Ở cuộc khủng hoảng này có ba đệ tử phủ phục trên mặt đất, không thể nhìn vào vinh quang đã được mặc khải. Họ tưởng rằng họ biết Chân sư của mình, nhưng Sự Hiện Diện quen thuộc đã được chuyển đổi, và họ đứng trước Sự Hiện Diện. Cảm thức kính sợ, kinh ngạc và khiêm cung luôn là phản ứng nổi bật [151] của các nhà thần bí mọi thời đại trước sự mặc khải của ánh sáng. Sự kiện này là lần đầu tiên chúng ta tiếp xúc với sự rạng rỡ và ánh sáng đã chiếu ra từ Đấng Cứu Thế, và khiến Ngài có thể nói một cách chân thật: “Ta là Ánh sáng của thế gian.” Sự tiếp xúc với Thượng đế sẽ luôn khiến ánh sáng tỏa chiếu. Khi Moses từ Núi Sinai đi xuống, gương mặt ông rạng sáng đến nỗi người ta không thể nhìn vào, và lịch sử kể rằng ông phải dùng một tấm màn để che sự rạng rỡ ấy khỏi người khác. Nhưng ánh sáng ở trong Đức Christ tỏa chiếu trọn vẹn từ toàn thể Con Người của Ngài. Tôi tin rằng càng ngày, khi tiến trình tiến hoá tiến tới, chúng ta sẽ đạt đến một sự thấu hiểu sâu xa hơn về thâm nghĩa của ánh sáng trong liên hệ với nhân loại. Chúng ta nói về ánh sáng của tri thức, và mọi tiến trình cùng cơ sở giáo dục của chúng ta đều được thánh hiến cho ánh sáng ấy và sự phát triển của nó. Chúng ta khát khao sâu xa ánh sáng của sự thấu hiểu, vốn biểu đạt chính nó trong minh triết, và là đặc điểm của bậc hiền triết và người minh triết trên Trái Đất; ánh sáng này phân biệt họ với người thông minh thông thường, khiến lời nói của họ có trọng lượng và làm cho lời khuyên của họ có giá trị. Chúng ta đã được dẫn đến niềm tin rằng trên thế giới có những bậc được soi sáng, đang làm việc lặng lẽ và âm thầm phía sau hậu trường trong các sự vụ thế giới, rọi ánh sáng khi cần vào những nơi tối tăm của thế giới, làm sáng tỏ các vấn đề, và cuối cùng đưa ra ánh sáng điều phải bị loại bỏ và điều cần thiết. Chúng ta cũng đã học cách nhận biết những Người Mang Ánh Sáng của mọi thời đại, và chúng ta cảm thấy rằng nơi Đức Christ, ánh sáng của các thời đại được hội tụ, và ánh sáng của Thượng đế được tập trung. Các đệ tử của Ngài lần đầu tiên bước vào phạm vi của ánh sáng này trên đỉnh núi, sau sáu ngày làm việc, câu chuyện kể như vậy, và không thể chịu nổi cảnh tượng rực rỡ đến thế. Tuy nhiên, họ cảm thấy rằng “họ ở đó là tốt.” Dù vậy, trong khi xem xét ánh sáng ở trong Đức Christ, và niềm xuất thần của các Tông đồ trước sự mặc khải của nó, chúng ta đừng quên sự kiện rằng Chính Ngài nói với chúng ta rằng trong chúng ta cũng có một ánh sáng, và ánh sáng ấy cũng phải bùng cháy để trợ giúp thế giới và tôn vinh Cha chúng ta, Đấng ở trên [152] Trời. (Thánh Matthew, V, 16.) Các nhà thần bí làm chứng cho ánh sáng này, và chính ánh sáng này họ bước vào, và nó đi vào họ, mặc khải ánh sáng vốn tiềm tàng và khơi nó dậy thành quyền năng. “Trong ánh sáng của Ngài, chúng con sẽ thấy ánh sáng.” Đây là sự kiện nổi bật của thần bí học khoa học. Thượng đế là ánh sáng cũng như là sự sống. Điều này nhà thần bí đã chứng minh, và y vĩnh viễn làm chứng cho điều ấy.