Trích nội dung chương
A new factor now enters in, the discriminating faculty of the mind. By means of it, the disciple can bring the mental life under control and dedicate it to the life of the kingdom of God, which is consummated at the third initiation. Through the correct use of the mind, the disciple is led to make right choice, and to balance (with wisdom) the endless pairs of opposites. Giờ đây một yếu tố mới bước vào: năng lực phân biện của trí tuệ. Nhờ nó, đệ tử có thể đưa đời sống trí tuệ vào dưới sự kiểm soát và hiến dâng nó cho đời sống của Thiên Giới, điều được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ ba. Qua việc sử dụng trí tuệ đúng đắn, đệ tử được dẫn đến sự…
A new factor now enters in, the discriminating faculty of the mind. By means of it, the disciple can bring the mental life under control and dedicate it to the life of the kingdom of God, which is consummated at the third initiation. Through the correct use of the mind, the disciple is led to make right choice, and to balance (with wisdom) the endless pairs of opposites.
Giờ đây một yếu tố mới bước vào: năng lực phân biện của trí tuệ. Nhờ nó, đệ tử có thể đưa đời sống trí tuệ vào dưới sự kiểm soát và hiến dâng nó cho đời sống của Thiên Giới, điều được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ ba. Qua việc sử dụng trí tuệ đúng đắn, đệ tử được dẫn đến sự chọn lựa đúng, và đến việc quân bình, bằng minh triết, vô số cặp đối cực.
We pass through the Birth initiation somewhat unconsciously. The full significance of what we have undergone does not appear to us; we are “infants in Christ,” and as infants we just live and submit to discipline, gradually growing toward maturity. But there comes a time in the life of every initiate when choice must be made, and Christ was faced with this. A clear, clean interior break is to be made with the past before we can face towards a future of service, consciously undertaken, and know that from that time on nothing will be the same.
Chúng ta trải qua cuộc điểm đạo Sinh Ra một cách phần nào vô thức. Thâm nghĩa đầy đủ của điều chúng ta đã trải qua không hiện rõ đối với chúng ta; chúng ta là “những hài nhi trong Đức Christ,” và như những hài nhi, chúng ta chỉ sống và tuân theo kỷ luật, dần dần lớn lên hướng tới sự trưởng thành. Nhưng trong đời sống của mỗi điểm đạo đồ, sẽ đến một lúc phải chọn lựa, và Đức Christ đã đối diện với điều này. Một sự đoạn tuyệt nội tâm rõ ràng, trong sạch với quá khứ phải được thực hiện trước khi chúng ta có thể hướng mặt về một tương lai phụng sự được đảm nhận một cách có ý thức, và biết rằng từ lúc ấy trở đi không điều gì còn như cũ.
This initiation marked a tremendous change in the life of Jesus of Nazareth. Up to that time, for thirty years, He had simply been the carpenter of the little town, and the son [101] of His parents. He was a personality doing much good in a small sphere. But after the purification in Jordan, having “fulfilled all righteousness,” (St. Matt., III, 15.) He became the Christ, and went about His country, serving the race and speaking those words which have moulded for centuries our Western civilisation. For each of us there must come the same great expansion, and it occurs when we are fitted to take the second initiation. Our desire-life is then confronted with essential choices which only the mind can enable us properly to handle.
Cuộc điểm đạo này đánh dấu một thay đổi lớn lao trong đời sống của Đức Jesus thành Nazareth. Cho đến lúc ấy, trong ba mươi năm, Ngài chỉ đơn giản là người thợ mộc của thị trấn nhỏ, và là con [101] của cha mẹ Ngài. Ngài là một phàm ngã làm nhiều điều thiện trong một phạm vi nhỏ. Nhưng sau sự thanh tẩy tại Jordan, sau khi đã “làm trọn mọi sự công chính,” (Thánh Ma-thi-ơ, III, 15.) Ngài trở thành Đức Christ, và đi khắp xứ sở của Ngài, phụng sự nhân loại và nói những lời đã nhào nặn nền văn minh Tây phương của chúng ta trong nhiều thế kỷ. Đối với mỗi người chúng ta, cũng phải đến cùng một sự mở rộng lớn lao như thế, và nó xảy ra khi chúng ta đủ thích hợp để nhận lần điểm đạo thứ hai. Khi ấy đời sống dục vọng của chúng ta đối diện với những chọn lựa thiết yếu mà chỉ trí tuệ mới có thể giúp chúng ta xử lý đúng đắn.
We are told in Cruden’s Concordance that the name John means “which God gave,” and in the three names which appear together in this episode—John, Jesus and Christ—the whole story of the consecrated aspirant is summed up: John, symbolising the divine aspect deeply hidden in man, which prompts a man towards the needed purity; Jesus, in this case symbolising the consecrated, pledged disciple or initiate, ready for that process which will be the seal of his purification; Christ, the divine indwelling Son of God, able now to manifest in Jesus, because Jesus has submitted to the baptism of John. That submission and completed purification brought its reward.
Trong Cruden’s Concordance, chúng ta được cho biết rằng tên Gioan có nghĩa là “điều Thượng đế ban,” và trong ba danh xưng xuất hiện cùng nhau trong biến cố này — Gioan, Jesus và Christ — toàn bộ câu chuyện của người chí nguyện đã thánh hiến được tóm lược: Gioan, tượng trưng cho phương diện thiêng liêng ẩn sâu trong con người, thúc đẩy con người hướng tới sự tinh khiết cần thiết; Jesus, trong trường hợp này tượng trưng cho vị đệ tử hay điểm đạo đồ đã thánh hiến, đã cam kết, sẵn sàng cho tiến trình sẽ là ấn chứng cho sự thanh tẩy của mình; Christ, Con của Thượng đế thiêng liêng nội tại, giờ đây có thể biểu lộ trong Jesus, vì Jesus đã thuận phục phép rửa của Gioan. Sự thuận phục ấy và sự thanh tẩy hoàn tất đã đem lại phần thưởng của nó.
It was at this initiation that God Himself proclaimed His Son to be the One in Whom He was “well pleased.” Every initiation is simply a recognition. It is a false idea, current in many schools of the mysteries and of esotericism, that initiation connotes a mysterious ceremony wherein, through the medium of the initiator and the rod of initiation, conditions are definitely changed in the aspirant, so that forever after he is altered and different. An initiation takes place whenever a man becomes, through his own self-effort, an initiate. Then having taken “the kingdom of Heaven by violence,” (St. Matt., XI, 12.) and having “worked out” his “own salvation through fear and trembling,” (Philippians, II, 12.) his spiritual status is immediately recognised by his peers, and he is admitted to initiation.
Chính trong cuộc điểm đạo này, Thượng đế Tự Thân tuyên bố Con của Ngài là Đấng mà Ngài “đẹp lòng.” Mỗi cuộc điểm đạo chỉ đơn giản là một sự công nhận. Có một ý tưởng sai lầm, phổ biến trong nhiều trường phái huyền nhiệm và huyền bí học, cho rằng điểm đạo hàm ý một nghi lễ huyền bí, trong đó, qua trung gian của Đấng Điểm đạo và Thần Trượng Điểm đạo, các tình trạng trong người chí nguyện được thay đổi một cách rõ rệt, để từ đó về sau y mãi mãi biến đổi và khác đi. Một cuộc điểm đạo diễn ra bất cứ khi nào một con người, qua nỗ lực tự thân, trở thành một điểm đạo đồ. Khi ấy, sau khi đã “dùng sức mạnh mà chiếm lấy Thiên Giới,” (Thánh Ma-thi-ơ, XI, 12.) và đã “thực hiện” “sự cứu rỗi của chính mình trong sự kính sợ và run rẩy,” (Phi-líp, II, 12.) địa vị tinh thần của y lập tức được các đồng đạo công nhận, và y được nhận vào điểm đạo.
[102] At initiation two things happen: the initiate discovers his fellow initiates, those with whom he can associate, and he finds out also the mission to which he is called. He becomes aware of his divinity in a new and factual sense, not just as a deeply spiritual hope, an intriguing hypothetical possibility and his heart’s desire. He knows himself to be a son of God, therefore recognition is accorded to him. This was strikingly the case with Jesus Christ. His task emerged in its dread implications before His eyes, and this must surely have been the reason why He was driven into the wilderness. The urge to solitude, the search for that quiet where reflection and determination can strengthen each other, was the natural outcome of this recognition. He saw what He had to do—to serve, to suffer and to found the kingdom of God. The expansion of consciousness was immediate and deep. Dr. Schweitzer says in this connection:
[102] Khi điểm đạo, hai điều xảy ra: điểm đạo đồ nhận ra các điểm đạo đồ đồng môn của mình, những người mà y có thể kết giao, và y cũng khám phá sứ mệnh mà mình được kêu gọi đảm nhận. Y trở nên ý thức về thiên tính của mình theo một ý nghĩa mới mẻ và thực sự, chứ không chỉ như một hy vọng tinh thần sâu xa, một khả năng giả định hấp dẫn hay niềm khao khát của trái tim. Y biết mình là một con của Thượng đế, vì vậy sự công nhận được trao cho y. Điều này đã xảy ra nổi bật trong trường hợp Đức Jesus Christ. Nhiệm vụ của Ngài hiện ra trước mắt Ngài với những hàm ý đáng kinh sợ, và chắc chắn đây là lý do Ngài bị thúc đẩy vào hoang mạc. Sự thôi thúc hướng đến cô tịch, việc tìm kiếm sự yên lặng nơi suy tư và quyết tâm có thể củng cố lẫn nhau, là kết quả tự nhiên của sự công nhận này. Ngài thấy điều Ngài phải làm — phụng sự, chịu khổ và thiết lập Thiên Giới. Sự mở rộng tâm thức diễn ra tức thời và sâu xa. Tiến sĩ Schweitzer nói về điều này như sau:
“About Jesus’ earlier development we know nothing. All lies in the dark. Only this is sure: at his baptism the secret of his existence was disclosed to him—namely, that he was the One whom God had destined to be the Messiah. With this revelation he was complete, and underwent no further development. For now he is assured that, until the near coming of the messianic age which was to reveal his glorious dignity, he was to labour for the Kingdom as the unrecognised and hidden Messiah, and must prove and purify himself together with his friends in the final Affliction.”
“Về sự phát triển trước đó của Đức Jesus, chúng ta không biết gì. Tất cả đều nằm trong bóng tối. Chỉ có điều này là chắc chắn: khi Ngài chịu phép rửa, bí mật về sự hiện hữu của Ngài được mặc khải cho Ngài — đó là, Ngài là Đấng mà Thượng đế đã định sẵn làm Đấng Messiah. Với sự mặc khải này, Ngài đã hoàn tất, và không trải qua sự phát triển nào thêm nữa. Vì giờ đây Ngài chắc chắn rằng, cho đến khi thời đại Messiah gần kề đến để mặc khải phẩm giá vinh quang của Ngài, Ngài phải lao tác cho Thiên Giới như Đấng Messiah chưa được nhận biết và còn ẩn kín, và phải chứng minh cùng thanh tẩy chính mình với các bạn hữu của Ngài trong Cuộc Khổ Nạn cuối cùng.”
‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. 354.
‘BÍ NHIỆM CỦA THIÊN GIỚI’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 354.
To the man Jesus this was probably a staggering disclosure. Dim anticipations of the path which He might have to tread must at times have entered His mind, but the full implications, and the picture of the way which lay ahead of Him could not have dawned upon His consciousness in their fullness until after the second initiation was undergone, when His purification was complete. He then faced the life of service and the difficulties which attend the path of every conscious son of God. The same writer says:
Đối với con người Jesus, điều này có lẽ là một sự mặc khải gây choáng váng. Những linh cảm mờ nhạt về con đường mà Ngài có thể phải bước đi hẳn đôi lúc đã đi vào trí tuệ của Ngài, nhưng những hàm ý đầy đủ, và hình ảnh của con đường nằm phía trước Ngài, không thể đã bừng sáng trọn vẹn trong tâm thức Ngài cho đến sau khi lần điểm đạo thứ hai được trải qua, khi sự thanh tẩy của Ngài đã hoàn tất. Khi ấy Ngài đối diện với đời sống phụng sự và những khó khăn đi kèm con đường của mỗi người con có ý thức của Thượng đế. Cùng tác giả ấy nói:
“In Jesus’ messianic consciousness the thought of suffering acquired [103] now, as applied to himself, a mysterious significance. The Messiahship which he became aware of at his baptism was not a possession, nor a mere object of expectation; but in the eschatological conception, it was implied as a matter of course that through the trial of suffering he must become what God had destined him to be. His messianic consciousness was never without the thought of the Passion. Suffering is the way to the revelation of Messiahship!”
“Trong tâm thức Messiah của Đức Jesus, ý tưởng về đau khổ giờ đây, khi áp dụng cho chính Ngài, đã mang [103] một thâm nghĩa huyền nhiệm. Tính chất Messiah mà Ngài ý thức được khi chịu phép rửa không phải là một sở hữu, cũng không chỉ là một đối tượng của kỳ vọng; nhưng trong quan niệm cánh chung, điều đó hàm ý như một lẽ tất nhiên rằng qua thử thách đau khổ, Ngài phải trở thành điều Thượng đế đã định sẵn cho Ngài. Tâm thức Messiah của Ngài không bao giờ thiếu ý tưởng về Cuộc Thương Khó. Đau khổ là con đường dẫn đến sự mặc khải của tính chất Messiah!”
‘THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. 223.
‘BÍ NHIỆM CỦA THIÊN GIỚI’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 223.
Christ’s entire life was one long via dolorosa, but it was illumined always by the light of His soul and by the recognition of the Father. Though, as recorded in the New Testament, it was divided into definite periods and cycles, and though obviously the detail of what He had to do was only progressively revealed to Him, His life constituted one great sacrifice, one great experience and one definite purpose. This definiteness of objective, and this consecration of the whole man to an ideal are conditions indicative of the state of initiation. All life’s happenings are related to the carrying forward of the life task. Life takes on true significance. This is a lesson which all of us, uninitiate and aspiring, can now learn. We can begin to say, “Life to me, as I look back on it, is not a succession of experiences but one great experience illumined here and there by moments of revelation.” (‘A Pilgrim’s Quest for the Absolute’, by Lord Conway of Allington, p. 8.)
Toàn bộ đời sống của Đức Christ là một con đường khổ nạn kéo dài, nhưng nó luôn được soi sáng bởi ánh sáng của linh hồn Ngài và bởi sự công nhận của Cha. Dù, như được ghi trong Tân Ước, đời sống ấy được chia thành những thời kỳ và chu kỳ rõ rệt, và dù hiển nhiên chi tiết về điều Ngài phải làm chỉ được mặc khải dần dần cho Ngài, đời sống của Ngài tạo thành một sự hy sinh lớn lao, một kinh nghiệm lớn lao và một mục đích xác định. Sự xác định mục tiêu này, và sự thánh hiến toàn thể con người cho một lý tưởng, là những tình trạng biểu thị trạng thái điểm đạo. Mọi biến cố của đời sống đều liên hệ đến việc thúc đẩy nhiệm vụ đời sống tiến tới. Đời sống mang lấy thâm nghĩa chân thực. Đây là một bài học mà tất cả chúng ta, những người chưa điểm đạo và đang chí nguyện, giờ đây có thể học. Chúng ta có thể bắt đầu nói: “Đối với tôi, khi nhìn lại, đời sống không phải là một chuỗi kinh nghiệm, mà là một kinh nghiệm lớn lao, đây đó được soi sáng bởi những khoảnh khắc mặc khải.” (‘Cuộc Tìm Kiếm Tuyệt Đối của Một Người Hành Hương’, của Lord Conway of Allington, tr. 8.)
This illumination grows more constant as time goes on. The ancient Hindu teacher, Patanjali, taught that illumination is sevenfold, progressing by successive stages. (The Yoga Sutras of Patanjali, Book II, 27.) It is as though he were dealing in thought with the seven illuminations which come to all the sons of God who are in process of awakening to their divine opportunities: the illumination which comes when we decide to tread the Path of probation, and to prepare ourselves for initiation. Then the light is shed on the distant vision, and we catch a fleeting glimpse of our goal. Next the light is shed upon ourselves, and we get a vision of what we are, and what we can be, and enter [104] upon the Path of discipleship, or—in the terminology of the Bible—we begin the long journey to Bethlehem. Then there are the five initiations which we are studying, each of which marks an increase of light which shines upon our way and develops that inner radiance which enables all God’s children to say, with Christ: “I am the Light of the World,” (St. John, VIII, 12.) and to obey His command wherein He tells us to “let your light so shine before men that they may see.” (St. Matt., V, 16.) This light, in its seven stages, reveals God—God in nature, God in Christ, God in man. It is the cause of the mystical vision about which so much has been written and taught and to which the lives of God’s saints in both hemispheres have ever testified.
Sự soi sáng này ngày càng trở nên liên tục hơn theo thời gian. Vị huấn sư Ấn giáo cổ, Patanjali, dạy rằng sự soi sáng là thất phân, tiến triển qua các giai đoạn kế tiếp. (Yoga Sutras của Patanjali, Quyển II, 27.) Dường như ông đang tư duy về bảy sự soi sáng đến với tất cả các con của Thượng đế đang trong tiến trình thức tỉnh trước những cơ hội thiêng liêng của mình: sự soi sáng đến khi chúng ta quyết định bước trên Con Đường Dự Bị, và chuẩn bị bản thân cho điểm đạo. Khi ấy ánh sáng được chiếu lên tầm nhìn xa, và chúng ta thoáng bắt được một linh ảnh lướt qua về mục tiêu của mình. Tiếp đó ánh sáng được chiếu lên chính chúng ta, và chúng ta có được tầm nhìn về điều mình là, và điều mình có thể trở thành, rồi bước [104] vào Con Đường Đệ Tử, hay — theo thuật ngữ của Kinh Thánh — chúng ta bắt đầu hành trình dài đến Bethlehem. Rồi có năm cuộc điểm đạo mà chúng ta đang nghiên cứu, mỗi cuộc đánh dấu một sự gia tăng của ánh sáng chiếu trên đường đi của chúng ta và phát triển vẻ rạng rỡ nội tâm khiến mọi người con của Thượng đế có thể nói cùng Đức Christ: “Ta là Ánh Sáng của Thế Gian,” (Thánh Gioan, VIII, 12.) và vâng theo mệnh lệnh của Ngài khi Ngài bảo chúng ta “hãy để ánh sáng của các ngươi chiếu sáng trước mặt người ta để họ có thể thấy.” (Thánh Ma-thi-ơ, V, 16.) Ánh sáng này, trong bảy giai đoạn của nó, mặc khải Thượng đế — Thượng đế trong thiên nhiên, Thượng đế trong Đức Christ, Thượng đế trong con người. Nó là nguyên nhân của linh ảnh thần bí mà về đó người ta đã viết và giảng dạy rất nhiều, và điều mà đời sống của các thánh nhân của Thượng đế ở cả hai bán cầu luôn làm chứng.
One wonders about the first man who received the first faint glimpse (with his dim inner light) of the infinite possibility lying ahead. He caught a glimpse of God, and from that minute the light from God waxed more and more intense. There is an ancient legend (and who shall say that it is not based on fact?) that Jesus of Nazareth was the very first of our humanity, in a dim and far distant past, to catch this glimpse, and that He was, through the consistency of His constantly directed effort, the first of our humanity to emerge into the very Light of God Himself. St Paul perhaps touched this truth when he spoke of Christ as the “Eldest in a vast family of brothers.” (Romans, VIII, 29, Weymouth’s Translation.) Whether this legend is true or not, Christ entered into light because He was light; and the history of man has been a gradually growing illumination, until today radiance is everywhere to be found.
Người ta tự hỏi về con người đầu tiên đã nhận được thoáng nhìn mờ nhạt đầu tiên — bằng ánh sáng nội tâm còn lờ mờ của mình — về khả năng vô hạn đang nằm phía trước. Y đã thoáng thấy Thượng đế, và từ phút ấy ánh sáng từ Thượng đế ngày càng trở nên mãnh liệt hơn. Có một truyền thuyết cổ — và ai có thể nói rằng nó không dựa trên sự kiện? — rằng Đức Jesus thành Nazareth chính là người đầu tiên của nhân loại chúng ta, trong một quá khứ mờ xa, bắt được thoáng nhìn này, và rằng Ngài, nhờ sự nhất quán trong nỗ lực luôn được hướng dẫn của mình, là người đầu tiên của nhân loại chúng ta vươn ra vào chính Ánh Sáng của Thượng đế Tự Thân. Có lẽ Thánh Phao-lô đã chạm đến chân lý này khi ông nói về Đức Christ như “Người Trưởng Tử trong một gia đình đông đảo các huynh đệ.” (Rô-ma, VIII, 29, bản dịch của Weymouth.) Dù truyền thuyết này có đúng hay không, Đức Christ đã bước vào ánh sáng vì Ngài là ánh sáng; và lịch sử con người là một sự soi sáng tăng trưởng dần dần, cho đến ngày nay ánh rạng rỡ có thể được tìm thấy khắp nơi.
In this light, inherent and divine, latent and yet emanating from God, Christ saw the vision, and that vision demonstrated to Him His Sonship, His Messiahship and the path of His suffering. This vision is the heritage and the revelation of each individual disciple. This mystical revelation can be perceived, and once perceived, remains a fact— inexplicable often, but a definitely clear and inescapable reality. It gives [105] the initiate the confidence and the power to go forward. It is affective in our experience and is the root of all our future consistency and service; it is also unassailable. Upon this basis we move with courage from the known towards the unknown. It is finally ineffable, for it emphasises our divinity, is founded upon divine quality, and emanates from God. It is a glimpse into the kingdom of God, and a revelation of the path to be trodden on our way there. It is an expansion which enables us to realise that “the Kingdom of God is a state of the soul, coming from the spirit and reflected in the body.” (‘The Religion of Love’, by the Grand Duke Alexander of Russia.)
Trong ánh sáng này, vốn nội tại và thiêng liêng, tiềm tàng nhưng vẫn phát xuất từ Thượng đế, Đức Christ đã thấy tầm nhìn, và tầm nhìn ấy đã chứng minh cho Ngài Quyền Làm Con của Ngài, Tính chất Messiah của Ngài và con đường đau khổ của Ngài. Tầm nhìn này là di sản và sự mặc khải của mỗi đệ tử cá biệt. Sự mặc khải thần bí này có thể được nhận biết, và một khi đã được nhận biết, nó vẫn là một sự kiện — thường không thể giải thích, nhưng là một thực tại rõ ràng và không thể tránh né. Nó ban cho [105] điểm đạo đồ niềm tin và quyền năng để tiến tới. Nó có tác động trong kinh nghiệm của chúng ta và là gốc rễ của mọi sự kiên định và phụng sự tương lai của chúng ta; nó cũng không thể bị công kích. Trên nền tảng này, chúng ta tiến bước với lòng can đảm từ điều đã biết hướng tới điều chưa biết. Sau cùng, nó không thể diễn tả bằng lời, vì nó nhấn mạnh thiên tính của chúng ta, được đặt nền trên phẩm tính thiêng liêng, và phát xuất từ Thượng đế. Nó là một thoáng nhìn vào Thiên Giới, và là một sự mặc khải về con đường phải bước đi trên đường chúng ta đến đó. Nó là một sự mở rộng khiến chúng ta có thể chứng nghiệm rằng “Thiên Giới là một trạng thái của linh hồn, đến từ tinh thần và được phản chiếu trong thể xác.” (‘Tôn Giáo của Tình Thương’, của Đại Công tước Alexander xứ Nga.)
The first step into this kingdom is through the new Birth. The second step is through the baptism of Purification. It is a process of growth in the characteristics of the kingdom, and the gradual attainment of that maturity which marks the citizen of that kingdom. To this, Christ testified through the baptism when He attained maturity, setting us an example, and through His triumphant passing of the tests of the three temptations He demonstrated the needed purity.
Bước đầu tiên vào giới này là qua sự Sinh Ra mới. Bước thứ hai là qua phép rửa Thanh Tẩy. Đó là một tiến trình tăng trưởng trong các đặc tính của giới ấy, và là sự đạt đến dần dần sự trưởng thành vốn đánh dấu công dân của giới ấy. Đức Christ đã làm chứng cho điều này qua phép rửa khi Ngài đạt đến sự trưởng thành, nêu gương cho chúng ta, và qua việc vượt qua một cách chiến thắng các thử thách của ba cám dỗ, Ngài biểu lộ sự tinh khiết cần thiết.
The babe in Christ, the little child, the full-grown man, the perfected man! Through the Bethlehem experience the babe is born. The little child grows to maturity and manifests in his purity and power at the Baptism. He demonstrates at the Transfiguration as the full-grown man, and, on the Cross, he stands forth the perfected Son of God. An initiation is that moment in which a man feels and knows through every part of his being that life is reality and reality is life. For a brief moment his consciousness becomes all-enfolding; he not only sees the vision and hears the word of recognition, but knows that the vision is of himself, and that the word is himself made flesh.
Hài nhi trong Đức Christ, đứa trẻ nhỏ, con người trưởng thành, con người hoàn thiện! Qua kinh nghiệm Bethlehem, hài nhi được sinh ra. Đứa trẻ nhỏ lớn lên đến trưởng thành và biểu lộ trong sự tinh khiết cùng quyền năng của mình tại Phép Rửa. Ngài biểu lộ tại Biến hình như con người trưởng thành, và trên Thập Giá, Ngài hiện ra như Con của Thượng đế đã hoàn thiện. Một cuộc điểm đạo là khoảnh khắc trong đó con người cảm nhận và biết qua mọi phần của hữu thể mình rằng sự sống là thực tại và thực tại là sự sống. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tâm thức của y trở nên bao trùm tất cả; y không chỉ thấy tầm nhìn và nghe linh từ công nhận, mà còn biết rằng tầm nhìn là về chính mình, và linh từ là chính mình đã trở thành xác thịt.
This is the essential factor. An initiation is a blaze of illumination thrown upon the river of existence, and it is in the nature of a whole experience. There is no indefiniteness in it, and the initiate is never quite the same again in his consciousness.
Đây là yếu tố cốt yếu. Một cuộc điểm đạo là một bùng sáng soi rọi lên dòng sông hiện hữu, và nó mang bản chất của một kinh nghiệm toàn vẹn. Trong đó không có sự mơ hồ, và điểm đạo đồ không bao giờ còn hoàn toàn như trước trong tâm thức của mình.
[106] In the river Jordan the light from Heaven streamed upon the Christ, and His Father spoke those words which have sounded down the ages and have evoked response from all aspirants to the kingdom. The spirit of God descended as a dove upon him. The dove is ever a symbol of peace. For two reasons it was the chosen sign at this initiation. Water, as we have seen, is the symbol of the emotional nature, which nature when purified through initiation, becomes a peaceful limpid pool, capable of reflecting the divine Nature in its purity. Thus, in the form of a dove, the peace of God descended upon Jesus.
[106] Trong sông Jordan, ánh sáng từ Trời tuôn xuống trên Đức Christ, và Cha của Ngài phán những lời đã vang vọng qua các thời đại và đã gợi lên đáp ứng từ mọi người chí nguyện hướng đến Thiên Giới. Tinh thần của Thượng đế giáng xuống như chim bồ câu trên Ngài. Chim bồ câu luôn là biểu tượng của hòa bình. Vì hai lý do, nó là dấu hiệu được chọn trong cuộc điểm đạo này. Như chúng ta đã thấy, nước là biểu tượng của bản chất cảm xúc; bản chất ấy, khi được thanh tẩy qua điểm đạo, trở thành một hồ nước trong lặng, an bình, có khả năng phản chiếu Bản Chất thiêng liêng trong sự tinh khiết của nó. Như vậy, dưới hình chim bồ câu, sự bình an của Thượng đế giáng xuống trên Đức Jesus.
Secondly, the essential dualities of existence are typified for us in the Bible. The Old Testament stands for the natural lower man, the virgin Mary aspect, carrying within itself the promise of the Messiah, of Him Who shall come. The New Testament stands for the spiritual man, for God made flesh, and for the birth of that which the material nature carried and veiled for so long. The Old Testament opens with the appearance of the raven at the time of the founding of the ancient world, as we can begin to know it. The New Testament opens with the appearance of a dove—one the symbol of the raging waters, the other the symbol of the waters of peace. Through Christ and the unfoldment of the Christ life in each human being will come “the peace which passeth understanding.” (Philippians, IV, 7.)
Thứ hai, các nhị nguyên thiết yếu của hiện tồn được tiêu biểu cho chúng ta trong Kinh Thánh. Cựu Ước tượng trưng cho phàm nhân tự nhiên thấp, phương diện Đức Mẹ Mary đồng trinh, mang trong chính nó lời hứa về Đấng Messiah, về Đấng sẽ đến. Tân Ước tượng trưng cho con người tinh thần, cho Thượng đế trở thành xác thịt, và cho sự khai sinh của điều mà bản chất vật chất đã mang và che phủ quá lâu. Cựu Ước mở đầu bằng sự xuất hiện của con quạ vào thời điểm thiết lập thế giới cổ xưa, như chúng ta có thể bắt đầu biết nó. Tân Ước mở đầu bằng sự xuất hiện của chim bồ câu — một bên là biểu tượng của những dòng nước cuồng nộ, bên kia là biểu tượng của những dòng nước bình an. Qua Đức Christ và sự khai mở của đời sống Đức Christ trong mỗi con người sẽ đến “sự bình an vượt quá mọi sự thấu hiểu.” (Phi-líp, IV, 7.)
Standing there in the waters of Jordan, Christ faced the world as Man. Standing upon the top of the Mount of Transfiguration, He faced the World as God. But in this initiation, He stood on a level with His brethren and demonstrated purity and peace. Let us remember that “from the point of view of others only that man is original who can lead them beyond what they already know, but this he cannot do until he has become their equal in their knowledge.” (‘The Recovery of Truth’, by Hermann Keyserling, p. 216.) This is a point to be remembered. Christ was purified. But ahead of Him lay the temptations. He had [107] to become in His consciousness (either anew or through the recovery of an ancient past of test and trial) our equal in all points—of sin, of weakness and of human frailty, and of human success and achievement. Christ had to demonstrate His moral greatness as well as His divinity and His perfection as man attaining maturity. He had to pass through the tests to which every would-be citizen of the kingdom must be subjected when called upon to prove his fitness for the privileges of that kingdom. Of this kingdom the church is the outer and visible symbol, and though faulty and weak in the interpretation of its essential teachings, it symbolises the form of the kingdom of God. But this is not the kingdom of the theologians. It is not entered through the acceptance of certain formal beliefs. It is entered by those who have passed through the new birth, and gone down to Jordan.
Đứng đó trong dòng nước Jordan, Đức Christ đối diện với thế giới như Con Người. Đứng trên đỉnh Núi Biến Hình, Ngài đối diện với Thế Giới như Thượng đế. Nhưng trong cuộc điểm đạo này, Ngài đứng ngang hàng với các huynh đệ của Ngài và biểu lộ sự tinh khiết cùng bình an. Chúng ta hãy nhớ rằng “theo quan điểm của người khác, chỉ người nào có thể dẫn họ vượt khỏi điều họ đã biết mới là người độc đáo, nhưng y không thể làm điều này cho đến khi y đã trở thành ngang hàng với họ trong tri thức của họ.” (‘Sự Phục Hồi Chân Lý’, của Hermann Keyserling, tr. 216.) Đây là một điểm cần được ghi nhớ. Đức Christ đã được thanh tẩy. Nhưng phía trước Ngài là những cám dỗ. Ngài phải [107] trở nên, trong tâm thức của Ngài — hoặc một lần nữa, hoặc qua sự phục hồi một quá khứ cổ xưa của thử thách và khảo nghiệm — ngang hàng với chúng ta về mọi mặt: về tội lỗi, về yếu đuối và sự mong manh của con người, cũng như về thành công và thành tựu của con người. Đức Christ phải biểu lộ sự vĩ đại đạo đức của Ngài cũng như thiên tính của Ngài và sự hoàn thiện của Ngài như con người đạt đến trưởng thành. Ngài phải đi qua các thử thách mà mọi công dân tương lai của Thiên Giới phải chịu khi được kêu gọi chứng minh sự thích hợp của mình đối với các đặc quyền của giới ấy. Giáo hội là biểu tượng bên ngoài và hữu hình của giới này, và dù còn khiếm khuyết, yếu kém trong việc diễn giải các giáo huấn thiết yếu của mình, nó tượng trưng cho hình tướng của Thiên Giới. Nhưng đây không phải là Thiên Giới của các nhà thần học. Người ta không bước vào đó qua việc chấp nhận một số tín điều hình thức. Những ai đã đi qua sự sinh ra mới và đi xuống Jordan thì bước vào đó.
The citizenship of this kingdom was on trial in the Person of Christ, and so He goes down into the wilderness, there to be tempted of the devil.
Quyền công dân của giới này được thử nghiệm nơi Ngôi Vị của Đức Christ, và vì thế Ngài đi xuống hoang mạc, nơi đó để bị ma quỷ cám dỗ.
3
3
In this intimate episode in the life of Jesus Christ we are given perhaps the first real insight into the processes of His innermost mind. The following words open the story and are significant:
Trong biến cố thân mật này trong đời sống của Đức Jesus Christ, có lẽ chúng ta được trao cho cái nhìn thực sự đầu tiên vào các tiến trình của trí tuệ sâu kín nhất của Ngài. Những lời sau đây mở đầu câu chuyện và đầy thâm nghĩa:
“And lo a voice from heaven, saying, This is my beloved Son, in whom I am well pleased. Then was Jesus led up of the spirit into the wilderness to be tempted of the devil.”
“Và kìa, có tiếng từ trời phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng. Bấy giờ Đức Jesus được tinh thần dẫn vào hoang mạc để bị ma quỷ cám dỗ.”
ST. MATT, III, 17, IV, 1.
Thánh Ma-thi-ơ, III, 17, IV, 1.
This story of the temptation in the wilderness is most controversial. Many questions have been propounded and much agony of soul has been experienced by the serious believer who endeavours to reconcile common sense, Christ’s divinity, and the devil. Was it possible that Christ could in reality [108] be tempted, and if so, could He have fallen into sin? Did He meet these temptations as the omnipotent Son of God, or did He meet them as a man and therefore subject to temptation? What is meant by the devil? And what was the relation of Christ to evil? Had this wilderness story never been told to us, what would have been our attitude to Christ? What really took place in the consciousness of Christ while in the wilderness? For what purpose are we permitted to share with Him this experience?
Câu chuyện về sự cám dỗ trong hoang mạc gây nhiều tranh luận nhất. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra và nhiều nỗi thống khổ của linh hồn đã được trải nghiệm bởi người tín hữu nghiêm túc cố gắng dung hòa lẽ thường, thiên tính của Đức Christ, và ma quỷ. Liệu Đức Christ thật sự [108] có thể bị cám dỗ không, và nếu có, liệu Ngài có thể sa vào tội lỗi không? Ngài đã gặp những cám dỗ này với tư cách Con Toàn Năng của Thượng đế, hay Ngài đã gặp chúng như một con người và do đó chịu sự cám dỗ? Ma quỷ có nghĩa là gì? Và mối liên hệ của Đức Christ với điều ác là gì? Nếu câu chuyện hoang mạc này chưa bao giờ được kể cho chúng ta, thái độ của chúng ta đối với Đức Christ sẽ ra sao? Điều gì thật sự đã diễn ra trong tâm thức của Đức Christ khi ở trong hoang mạc? Vì mục đích gì mà chúng ta được phép chia sẻ kinh nghiệm này với Ngài?
Many such questions arise in the mind of the intelligent man, and many have been the commentaries written to prove the particular point of each writer. It is not the purpose of this book to deal with the difficult subject of evil, nor to define the times when Christ was functioning as a man, and when He was functioning as the Son of God. Some believe that He was simultaneously both, and was “very God of very God” (Athanasian Creed) and yet essentially and utterly human at the same time. People make these statements, but they are apt to forget the implications. They affirm with decision their point of view, and omit to carry their attitude to a logical conclusion. The inference is that we are allowed to know about the temptation in order to teach us, as human beings, a needed lesson; let us therefore study the story from the angle of Christ’s humanity, never forgetting that He had learned obedience to the divine spirit, the soul in man, and was in control of His body of manifestation.
Nhiều câu hỏi như thế nảy sinh trong trí tuệ của người thông minh, và đã có nhiều lời bình giải được viết ra để chứng minh quan điểm riêng của mỗi tác giả. Mục đích của sách này không phải là bàn đến chủ đề khó khăn về điều ác, cũng không phải định nghĩa những thời điểm khi Đức Christ hoạt động như một con người và khi Ngài hoạt động như Con của Thượng đế. Một số người tin rằng Ngài đồng thời là cả hai, vừa là “Thượng đế thật bởi Thượng đế thật” (Tín điều Athanasius) vừa đồng thời, về bản chất và trọn vẹn, là con người. Người ta đưa ra những phát biểu này, nhưng họ thường quên các hàm ý. Họ khẳng định dứt khoát quan điểm của mình, nhưng lại không đưa thái độ của mình đến kết luận hợp lý. Hàm ý là chúng ta được phép biết về sự cám dỗ để dạy cho chúng ta, với tư cách con người, một bài học cần thiết; do đó, chúng ta hãy nghiên cứu câu chuyện từ góc độ nhân tính của Đức Christ, nhưng không bao giờ quên rằng Ngài đã học sự vâng phục đối với tinh thần thiêng liêng, linh hồn trong con người, và đang kiểm soát thân thể biểu lộ của Ngài.
He was “in all points tempted like as we are, yet without sin;” (Hebrews, IV, 15.) He came in a human body, and was subject to human conditions as also we are; He suffered and agonised; He felt irritation, and was conditioned by His body, His environment and the period, as we all are. But because He had learnt to master Himself, and because the wheel of life had done its work with Him, He could face this experience and meet evil face to face, and triumph. He taught us thereby how to meet temptation; what to expect, as disciples preparing [109] for initiation, and the method whereby evil can be turned into good. He met temptation with no great new technique or revelation. He simply fell back on what He knew, what He had been taught and told. He met temptation each time with “It is written,” (St. Matt., IV, 4, 7, 10.) and employed no new powers to combat the devil. He simply utilised the knowledge which He had. He used no divine powers to overcome the Evil One. He simply used those which we all possess—acquired knowledge and the age-old rules. He conquered because He had taught Himself to overcome. He was the master of conditions at that time because He had learnt to master Himself.
Ngài đã “chịu cám dỗ trong mọi điểm cũng như chúng ta, song không phạm tội;” (Hê-bơ-rơ, IV, 15.) Ngài đến trong một thân thể con người, và chịu các điều kiện của con người cũng như chúng ta; Ngài chịu đau khổ và thống khổ; Ngài cảm thấy bực bội, và chịu tác động của thân thể Ngài, môi trường của Ngài và thời đại của Ngài, như tất cả chúng ta. Nhưng vì Ngài đã học làm chủ chính mình, và vì bánh xe đời sống đã hoàn thành công việc của nó với Ngài, Ngài có thể đối diện với kinh nghiệm này, gặp điều ác mặt đối mặt, và chiến thắng. Nhờ đó Ngài dạy chúng ta cách đối diện với cám dỗ; điều gì phải mong đợi, với tư cách các đệ tử đang chuẩn bị [109] cho điểm đạo, và phương pháp nhờ đó điều ác có thể được chuyển thành điều thiện. Ngài đối diện cám dỗ không bằng một kỹ thuật mới lớn lao hay một sự mặc khải mới. Ngài chỉ đơn giản dựa vào điều Ngài biết, điều Ngài đã được dạy và được bảo. Mỗi lần gặp cám dỗ, Ngài đáp bằng “Có lời chép rằng,” (Thánh Ma-thi-ơ, IV, 4, 7, 10.) và không vận dụng quyền năng mới nào để chống lại ma quỷ. Ngài chỉ sử dụng tri thức mà Ngài có. Ngài không dùng quyền năng thiêng liêng nào để vượt thắng Kẻ Ác. Ngài chỉ sử dụng những gì tất cả chúng ta đều sở hữu — tri thức đã thu nhận và các quy luật cổ xưa. Ngài chiến thắng vì Ngài đã tự dạy mình vượt thắng. Vào lúc ấy, Ngài là chủ nhân của các điều kiện vì Ngài đã học làm chủ chính mình.
Such a mastery by the soul may indeed be utterly beyond our immediate attaining, but the command of Christ stands for all time: “Be ye therefore perfect;” (St. Matt., V, 48.) and some day we too shall meet the temptations in the wilderness and also come forth as He, unsullied and undefeated. Such experience is inevitable for all, and cannot eventually be escaped. Christ did not escape it, and neither shall we. “It is the possibility of being tempted,” says Dr. Selbie, “which shows the real greatness of human nature. Apart from it we should be merely unmoral creatures.... It is with the capacity to choose between ends, and the actions leading to them, that the possibility of sin emerges.” (‘Psychology of Religions’, by Dr. Selbie, p.228.) This calls for more than superficial consideration. Humanity itself is at stake, in the wilderness story. The whole world of material things, of desire and of ambition, was arrayed before Christ, and because He reacted as He did, and because none of these aspects of life could affect Him, we too can stand free, assured of our own ultimate victory. Christ as man achieved victory. We too can do the same.
Một sự làm chủ như thế của linh hồn quả thật có thể hoàn toàn vượt ngoài tầm đạt được trước mắt của chúng ta, nhưng mệnh lệnh của Đức Christ vẫn đứng vững cho mọi thời đại: “Vậy các ngươi hãy nên hoàn thiện;” (Thánh Matthêu, V, 48.) và một ngày kia, chúng ta cũng sẽ gặp những cám dỗ trong hoang địa, và cũng sẽ bước ra như Ngài, không tì vết và không bị đánh bại. Kinh nghiệm như thế là điều tất yếu cho tất cả, và cuối cùng không thể tránh khỏi. Đức Christ đã không tránh né nó, và chúng ta cũng sẽ không tránh được. “Chính khả năng bị cám dỗ,” Tiến sĩ Selbie nói, “cho thấy sự vĩ đại đích thực của bản chất con người. Tách khỏi điều đó, chúng ta chỉ là những sinh vật phi luân lý.... Chính với khả năng chọn lựa giữa các mục đích, và các hành động dẫn đến chúng, mà khả năng phạm tội xuất hiện.” (‘Tâm Lý Học Tôn Giáo’, của Tiến sĩ Selbie, tr.228.) Điều này đòi hỏi sự xem xét sâu xa hơn là hời hợt. Chính nhân loại đang bị đặt vào thế nguy trong câu chuyện hoang địa. Toàn bộ thế giới của những sự vật vật chất, của dục vọng và tham vọng, đã được bày ra trước Đức Christ, và bởi vì Ngài đã phản ứng như Ngài đã làm, và bởi vì không một phương diện nào của đời sống ấy có thể tác động đến Ngài, nên chúng ta cũng có thể đứng tự do, chắc chắn về chiến thắng tối hậu của chính mình. Đức Christ, với tư cách là con người, đã đạt được chiến thắng. Chúng ta cũng có thể làm như vậy.
To this triumph of the soul over matter and of reality over the unreal, Christ gave testimony in the wilderness experience, and it is towards the same goal that all who follow in His steps are moving. The triumph which was His will [110] be ours when we meet the problem in the spirit in which He met it, turning the light of the soul upon it, and resting back upon past experience.
Đối với chiến thắng này của linh hồn trên vật chất và của thực tại trên điều phi thực, Đức Christ đã làm chứng trong kinh nghiệm hoang địa, và tất cả những ai bước theo dấu chân Ngài đều đang tiến về cùng mục tiêu ấy. Chiến thắng vốn là của Ngài sẽ [110] là của chúng ta khi chúng ta gặp vấn đề trong tinh thần mà Ngài đã gặp nó, hướng ánh sáng của linh hồn chiếu lên nó, và tựa vào kinh nghiệm quá khứ.
In the Baptism initiation, Christ’s purity and freedom from evil had been demonstrated before men. Now they have to undergo a different test. From the crowd and from the experience He went to the solitary place and for forty days and nights He was alone with Himself, standing between God and the Evil One. Through what agency could this evil force reach Him? Through the agency of His own human nature, through the medium of loneliness, of hunger and of His own visions. Christ was thrown back upon Himself, and there, in the silence of the desert, alone with His thoughts and desires, He was tested throughout all the parts of His nature which might be vulnerable. “As He is, so are we in this world,” (I St. John, IV, 17). vulnerable in all points. The difficulty with most of us is that we are vulnerable in so many petty ways, and in every trifling situation we are apt to fall. The crux of the situation, as far as Christ was concerned, was that these three temptations were climaxing tests, in which the three aspects of the lower nature were involved. They were synthetic temptations. In them was no petty, trifling, silly tempting, but the gathering up of the forces of the threefold lower man—physical, emotional and mental—into one last effort to control the Son of God. Evil is thus constituted, and we shall all some day have to face this testing—this triple evil, this devil, such as Christ faced. Three times He was tempted, and three times He resisted, and only after this capacity to react to form and to material benefit had been finally put aside was it possible for Christ to pass on to His world service and the Mount of Transfiguration. One of the finest thinkers in the field of Christian interpretation today tells us that “all they who are destined for the Kingdom must win forgiveness for the guilt contracted in the earthly aeon by encountering steadfastly the world-power as it collects itself for a last attack. For through this guilt they were still subject to the power [111] of ungodliness. This guilt constitutes a counterweight which holds back the coming of the Kingdom.” (‘The Mystery of the Kingdom of God’, by Albert Schweitzer, p. 235.)
Trong cuộc điểm đạo Rửa Tội, sự thanh khiết của Đức Christ và sự tự do của Ngài khỏi điều ác đã được chứng minh trước loài người. Giờ đây chúng phải trải qua một thử thách khác. Từ đám đông và từ kinh nghiệm ấy, Ngài đi vào nơi cô tịch, và trong bốn mươi ngày đêm Ngài ở một mình với chính Ngài, đứng giữa Thượng đế và Kẻ Ác. Mãnh lực ác ấy có thể đến với Ngài qua tác nhân nào? Qua tác nhân của chính bản chất con người nơi Ngài, qua trung gian của sự cô độc, của cơn đói và của chính các linh ảnh của Ngài. Đức Christ buộc phải tự nương tựa vào chính mình, và tại đó, trong sự im lặng của sa mạc, một mình với các tư tưởng và dục vọng của Ngài, Ngài đã bị thử thách trong mọi phần của bản chất Ngài có thể bị tổn thương. “Ngài thể nào, thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian này,” (I Thánh Gioan, IV, 17). có thể bị tổn thương ở mọi điểm. Khó khăn đối với hầu hết chúng ta là chúng ta có thể bị tổn thương theo quá nhiều cách nhỏ nhặt, và trong mọi tình huống vụn vặt chúng ta dễ sa ngã. Mấu chốt của tình huống, xét về Đức Christ, là ba cám dỗ này là những thử thách cao điểm, trong đó ba phương diện của bản chất thấp đều liên hệ. Chúng là những cám dỗ tổng hợp. Trong chúng không có sự cám dỗ nhỏ nhặt, vụn vặt, ngớ ngẩn, mà là sự tập hợp các mãnh lực của phàm nhân tam phân—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—vào một nỗ lực cuối cùng nhằm kiểm soát Con của Thượng đế. Điều ác được cấu thành như thế, và một ngày kia tất cả chúng ta sẽ phải đối diện với cuộc thử thách này—điều ác tam phân này, ma quỷ này, như Đức Christ đã đối diện. Ba lần Ngài bị cám dỗ, và ba lần Ngài chống lại, và chỉ sau khi khả năng phản ứng với hình tướng và lợi ích vật chất này cuối cùng đã được đặt sang một bên, Đức Christ mới có thể tiến tới sự phụng sự thế gian của Ngài và Núi Biến Hình. Một trong những nhà tư tưởng xuất sắc nhất trong lĩnh vực diễn giải Kitô giáo ngày nay nói với chúng ta rằng “tất cả những ai được định sẵn cho Thiên Giới phải giành được sự tha thứ cho tội lỗi đã mắc trong kỷ nguyên trần thế bằng cách kiên định đối diện với quyền lực thế gian khi nó tự tập hợp lại cho cuộc tấn công cuối cùng. Vì qua tội lỗi này họ vẫn còn lệ thuộc vào quyền năng [111] của sự vô đạo. Tội lỗi này tạo thành một đối trọng kìm giữ sự xuất hiện của Thiên Giới.” (‘Mầu Nhiệm của Thiên Giới’, của Albert Schweitzer, tr. 235.)
Christ faced this last attack and emerged victorious, thus guaranteeing to us our ultimate victory.
Đức Christ đã đối diện với cuộc tấn công cuối cùng này và bước ra chiến thắng, nhờ đó bảo đảm cho chúng ta chiến thắng tối hậu của mình.
The devil approached Jesus when the forty days of solitary communion were over. We are not told what Christ did in those forty days. No account is given to us of His thought and determinations. His realisation and consecration at that time. Alone, He faced the future, and at the end, encountered the tests which released Him from the power of His human nature.
Ma quỷ đến gần Đức Jesus khi bốn mươi ngày hiệp thông cô tịch đã chấm dứt. Chúng ta không được cho biết Đức Christ đã làm gì trong bốn mươi ngày ấy. Không có bản tường thuật nào được trao cho chúng ta về tư tưởng và các quyết định của Ngài. Sự chứng nghiệm và sự thánh hiến của Ngài vào lúc ấy. Một mình, Ngài đối diện với tương lai, và sau cùng, gặp những thử thách đã giải phóng Ngài khỏi quyền lực của bản chất con người nơi Ngài.
As we study the life of Jesus this solitariness emerges ever more clearly The great souls are always lonely souls. They tread uncompanioned the most difficult parts of the long way of return. Christ was ever lonely. His spirit drove Him again and again into isolation. “The great religious conceptions which haunt the imaginations of civilized mankind are scenes of solitariness: Prometheus chained to his rock, Mahomet brooding in the desert, the meditations of the Buddha, the solitary Man on the Cross. It belongs to the depth of the religious spirit to have felt forsaken, even by God.” (‘Religion in the Making’, by A. N. Whitehead, p. 9.)
Khi chúng ta nghiên cứu đời sống của Đức Jesus, sự cô tịch này hiện ra ngày càng rõ ràng hơn. Những linh hồn vĩ đại luôn là những linh hồn cô độc. Các Ngài bước đi không bạn đồng hành qua những phần khó khăn nhất của con đường trở về dài lâu. Đức Christ luôn cô độc. Tinh thần của Ngài hết lần này đến lần khác thúc đẩy Ngài vào sự cô lập. “Những quan niệm tôn giáo vĩ đại ám ảnh sự tưởng tượng của nhân loại văn minh là những cảnh tượng cô tịch: Prometheus bị xiềng vào tảng đá của mình, Mahomet trầm tư trong sa mạc, những cuộc tham thiền của Đức Phật, Con Người cô độc trên Thập Giá. Thuộc về chiều sâu của tinh thần tôn giáo là việc đã cảm thấy bị bỏ rơi, ngay cả bởi Thượng đế.” (‘Tôn Giáo Đang Hình Thành’, của A. N. Whitehead, tr. 9.)
Christ’s life alternated between the crowd whom He loved and the silence of the solitary places. First He is to be found in the daily life of the family experience, where the intimacies of personalities can so sadly imprison the soul; thence He passed into the solitary desert and was alone. He returned, and His public life began, until the publicity and noise and clamour of this were succeeded by the deep and interior silence of the Cross, where, forsaken of all, He went through the deep dark night of the soul—utterly alone. Yet it is in these moments of complete silence, when the soul is thrown back upon itself and there is no one to help, no hand to aid and no voice to strengthen, that those revelations come and that clear insight is developed which enable a Saviour to emerge for the helping of the world.
Đời sống của Đức Christ luân phiên giữa đám đông mà Ngài yêu thương và sự im lặng của những nơi cô tịch. Trước hết, người ta thấy Ngài trong đời sống hằng ngày của kinh nghiệm gia đình, nơi những thân mật của các phàm ngã có thể giam hãm linh hồn một cách đáng buồn; từ đó Ngài đi vào sa mạc cô tịch và ở một mình. Ngài trở về, và đời sống công khai của Ngài bắt đầu, cho đến khi sự công khai, tiếng ồn và huyên náo của nó được nối tiếp bằng sự im lặng sâu thẳm và nội tâm của Thập Giá, nơi đó, bị tất cả bỏ rơi, Ngài đi qua đêm tối của linh hồn sâu thẳm—hoàn toàn một mình. Tuy nhiên, chính trong những khoảnh khắc im lặng hoàn toàn ấy, khi linh hồn buộc phải tự nương tựa vào chính mình và không có ai giúp đỡ, không có bàn tay nào trợ giúp và không có tiếng nói nào củng cố, mà những mặc khải ấy đến và tuệ giác sáng rõ ấy được phát triển, nhờ đó một Đấng Cứu Thế có thể xuất hiện để trợ giúp thế gian.
[112] Christ was tempted of the devil. Is it necessary in a book such as this to give an interpretation of the devil? Is it not apparent that there are in the world today two dominant concepts, both of them passing out as factors in the consciousness of the young, and therefore determining their later beliefs—the devil and Saint Nicholas, or Father Christmas? These names embody opposing ideas. Each of them symbolises one of the two major problems with which man has, in his daily life, to deal. These are called by Oriental philosophers the “pairs of opposites,” and surely it is the manner in which man handles these two aspects of life, and his subjective attitude to them, which determine whether his life reacts to evil or to good. The devil is the symbol of that which is not humanly divine, for there are evil things done by man which, when done by an animal, are not so regarded. A man or a fox, for instance, may raid a chicken coop, but in the one case a moral law is broken, and in the other a natural instinct is followed. An animal may kill another animal in rage or in defense of its female, but when a man does the same thing it is called murder, and he is duly punished.
[112] Đức Christ bị ma quỷ cám dỗ. Trong một cuốn sách như thế này, có cần thiết phải đưa ra một diễn giải về ma quỷ không? Chẳng phải hiển nhiên rằng trong thế giới ngày nay có hai quan niệm chủ đạo, cả hai đang mất dần vai trò như những yếu tố trong tâm thức của người trẻ, và do đó đang định đoạt những niềm tin về sau của họ—ma quỷ và Thánh Nicholas, hay Ông già Noel? Những tên gọi này hiện thân cho các ý tưởng đối nghịch. Mỗi tên gọi tượng trưng cho một trong hai vấn đề lớn mà con người, trong đời sống hằng ngày của mình, phải xử lý. Các triết gia Đông phương gọi chúng là “những cặp đối cực,” và chắc chắn chính cách con người xử lý hai phương diện này của đời sống, cùng thái độ chủ quan của y đối với chúng, quyết định liệu đời sống của y phản ứng với điều ác hay điều thiện. Ma quỷ là biểu tượng của điều không thiêng liêng theo nghĩa nhân loại, vì có những điều ác do con người làm mà, khi một con vật làm, lại không được xem như vậy. Chẳng hạn, một người hay một con cáo có thể đột nhập chuồng gà, nhưng trong một trường hợp luật đạo đức bị vi phạm, còn trong trường hợp kia một bản năng tự nhiên được tuân theo. Một con vật có thể giết một con vật khác trong cơn giận hoặc để bảo vệ bạn tình của nó, nhưng khi một người làm điều tương tự thì việc ấy được gọi là giết người, và y bị trừng phạt thích đáng.
Father Christmas is the embodiment of that which is selfless; he is the symbol of giving and of the Christ spirit; he therefore stands to man as a reminder of God, just as this other figment of the imagination, the devil with horns and tail, is a reminder of that which is not God, that which is not divine.
Ông già Noel là hiện thân của điều vô ngã; ông là biểu tượng của sự cho đi và của tinh thần Đức Christ; vì thế ông đứng trước con người như một nhắc nhở về Thượng đế, cũng như hình ảnh tưởng tượng kia, ma quỷ có sừng và đuôi, là một nhắc nhở về điều không phải là Thượng đế, điều không thiêng liêng.
“The key is supplied by mythology. The myths demand a serious interpretation in correspondence with objective reality, they must not be treated as pure poetry without any solid truth behind them, a mere play of the imagination! The garment which clothes the substance may be as fabulous, as fantastic, as inconsistent and as patchy as you please. But this does not alter the fact that popular mythology tells of an invisible reality, and of mysterious ‘figures,’ ‘figures’ remember, not ‘forces’ at work everywhere. Everything is alive and possesses a soul. The world is full of spirits, of souls. The myths speak of them. Who invented these myths? Nobody. For inventions are arbitrary, are fiction. But these tales are accepted [113] by those who tell them and by their audience as unquestioned truth. The psychology of the primitive compels him to regard things in this way ‘magically.’ What in our more developed and more individual psychology has become a ‘sub-conscious’ in which the collective life of our ancestors is still operative is the normal psychology of the primitive, a state of ‘natural somnambulism’ with its distinctive forms of sensitiveness, telepathy, and second-sight, a direct apprehension akin to the artist’s of the whole in its parts, of the essential in a multiplicity of detail.”
“Chìa khóa được thần thoại cung cấp. Các thần thoại đòi hỏi một sự diễn giải nghiêm túc tương ứng với thực tại khách quan; không được xem chúng như thơ ca thuần túy không có chân lý vững chắc nào phía sau, chỉ là một trò chơi của sự tưởng tượng! Tấm áo khoác lên chất liệu có thể hoang đường, kỳ ảo, bất nhất và chắp vá tùy thích. Nhưng điều này không thay đổi sự kiện rằng thần thoại dân gian kể về một thực tại vô hình, và về những ‘nhân vật’ huyền bí, hãy nhớ là ‘nhân vật,’ không phải ‘mãnh lực,’ đang hoạt động khắp nơi. Mọi sự đều sống động và sở hữu một linh hồn. Thế giới đầy các tinh thần, các linh hồn. Các thần thoại nói về họ. Ai đã phát minh ra những thần thoại này? Không ai cả. Vì các phát minh thì tùy tiện, là hư cấu. Nhưng những câu chuyện này được [113] những người kể và thính giả của họ chấp nhận như chân lý không bị chất vấn. Tâm lý của người nguyên thủy buộc y phải nhìn sự vật theo cách ‘huyền thuật’ này. Điều mà trong tâm lý phát triển hơn và cá thể hơn của chúng ta đã trở thành một ‘tiềm thức,’ trong đó đời sống tập thể của tổ tiên chúng ta vẫn còn hoạt động, chính là tâm lý bình thường của người nguyên thủy, một trạng thái ‘mộng du tự nhiên’ với các hình thức nhạy cảm, viễn cảm và linh thị thứ hai đặc thù của nó, một sự lĩnh hội trực tiếp tương tự như của nghệ sĩ về toàn thể trong các phần của nó, về điều cốt yếu trong nhiều chi tiết.”
‘RELIGIONS OF MANKIND’, BY OTTO KARRER, PP. 121, 122.
‘CÁC TÔN GIÁO CỦA NHÂN LOẠI’, CỦA OTTO KARRER, TR. 121, 122.
To this the symbols of the devil and of Father Christmas bear testimony—embodiments of the primal dualities in the realm of quality. Man’s entire existence, as man, is spent swinging between these pairs of opposites, until eventually the balance is achieved and, from then on, he moves towards that which is divine. It might profit all of us if we pondered long and deeply at times upon these two extremities of human existence—good and evil, light and dark, life and form, spirit and matter, the self and the not-self, the real and the unreal, truth and falsehood, right and wrong, pleasure and pain, the urge and the drag, the soul and the personality, Christ and the devil. In these last two the problem of the three temptations is summed up. These dualities have also been defined as finiteness and infinity which are the characteristics, one of man and the other of God. That which emphasises our finite nature is of humanity, that which is comprehensive is of God. We shall see, in our study of these three temptations, how clearly the distinctions between the dualities emerge. Christ, in the temptations, could not contradict Himself; and thus identifying Himself with perfection, He gives us a presentation of a human being “in the world, and yet not of the world,” (St. John, XVII, 16) tempted of the devil yet free from wrong reaction to the devil’s suggestions. Thus He was a free soul, which is a divine soul, untrammelled by desire and its tests, undefiled by the flesh and its temptations, and liberated from the sins of the mental processes. Such is [114] the will of God for each and all of us, and the writer quoted above says: “There cannot be freedom ... unless the divine will is genuinely one with that of finite beings in a single personality.” (‘The Value and Destiny of the Individual’, by B. Bosanquet, p. 245.) Such a Personality was Christ. Good is the contradiction of evil, and Christ’s attitude to the devil was one of uncompromising contradiction. In this He clarified the issue and did what all souls can do. Herein, as I have earlier pointed out, lies His uniqueness and His distinction—it consists in the basic fact of His utilising those methods of service, triumph and sacrifice which are available to any of us. Many in the past have died for others; many have faced evil with uncompromising opposition; many have dedicated their lives to service, but none have succeeded with the completeness and the perfection of Christ.
Các biểu tượng của ma quỷ và của Ông già Noel làm chứng cho điều này—những hiện thân của các nhị nguyên nguyên sơ trong lĩnh vực phẩm tính. Toàn bộ sự tồn tại của con người, với tư cách là con người, được trải qua trong sự dao động giữa các cặp đối cực này, cho đến khi cuối cùng sự cân bằng đạt được và, từ đó trở đi, y tiến về điều thiêng liêng. Có lẽ sẽ lợi ích cho tất cả chúng ta nếu đôi khi chúng ta suy ngẫm lâu dài và sâu xa về hai cực này của sự tồn tại con người—thiện và ác, sáng và tối, sự sống và hình tướng, tinh thần và vật chất, bản ngã và phi ngã, thực và phi thực, chân lý và giả dối, đúng và sai, khoái lạc và đau khổ, lực thúc đẩy và lực kéo trì, linh hồn và phàm ngã, Đức Christ và ma quỷ. Trong hai điều cuối cùng này, vấn đề của ba cám dỗ được tóm kết. Những nhị nguyên này cũng đã được định nghĩa là tính hữu hạn và tính vô hạn, vốn là các đặc tính, một của con người và một của Thượng đế. Điều nhấn mạnh bản chất hữu hạn của chúng ta thuộc về nhân loại; điều bao quát thuộc về Thượng đế. Trong khi nghiên cứu ba cám dỗ này, chúng ta sẽ thấy các phân biệt giữa các nhị nguyên hiện ra rõ ràng như thế nào. Trong các cám dỗ, Đức Christ không thể mâu thuẫn với chính Ngài; và như vậy, bằng cách đồng hoá với sự hoàn thiện, Ngài trao cho chúng ta một trình bày về một con người “ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian,” (Thánh Gioan, XVII, 16) bị ma quỷ cám dỗ nhưng tự do khỏi phản ứng sai lầm đối với những gợi ý của ma quỷ. Như vậy, Ngài là một linh hồn tự do, tức là một linh hồn thiêng liêng, không bị dục vọng và các thử thách của nó trói buộc, không bị xác thịt và những cám dỗ của nó làm ô uế, và được giải thoát khỏi các tội lỗi của những tiến trình trí tuệ. Đó là [114] Ý Chí của Thượng Đế dành cho mỗi người và tất cả chúng ta, và tác giả được trích dẫn ở trên nói: “Không thể có tự do... trừ phi ý chí thiêng liêng thực sự là một với ý chí của các sinh linh hữu hạn trong một phàm ngã duy nhất.” (‘Giá Trị và Định Mệnh của Cá Nhân’, của B. Bosanquet, tr. 245.) Đức Christ là một Phàm Ngã như thế. Điều thiện là sự phủ định của điều ác, và thái độ của Đức Christ đối với ma quỷ là thái độ phủ định không khoan nhượng. Trong điều này, Ngài đã làm sáng tỏ vấn đề và đã làm điều mà mọi linh hồn đều có thể làm. Chính trong điều này, như tôi đã chỉ ra trước đây, có tính độc nhất và sự khác biệt của Ngài—nó nằm trong sự kiện căn bản rằng Ngài đã sử dụng những phương pháp phụng sự, chiến thắng và hi sinh vốn sẵn có cho bất kỳ ai trong chúng ta. Nhiều người trong quá khứ đã chết cho người khác; nhiều người đã đối diện với điều ác bằng sự chống đối không khoan nhượng; nhiều người đã hiến dâng đời mình cho sự phụng sự, nhưng không ai đã thành công với sự trọn vẹn và hoàn thiện của Đức Christ.
His greatness, it cannot be too often reiterated, lies in His universality. Dr. Bosanquet deals with this question of personality as follows:
Sự vĩ đại của Ngài, điều dù nhắc lại thường xuyên đến đâu cũng không thừa, nằm trong tính phổ quát của Ngài. Tiến sĩ Bosanquet bàn đến vấn đề phàm ngã này như sau:
“What I am urging is rather that our true personality lies in our concrete best, and that in desiring its development and satisfaction we are desiring an increase of our real individuality, though a diminution of our formal exclusiveness.... It will be rejoined that true individuality—greatness of range and organization—augments personal distinction as well as comprehensiveness. Undoubtedly, but it decreases exclusiveness. The great world-men are not born simply of their earthly parents. Whole ages and countries are focussed in them.... In desiring a highly developed perfection we are desiring to be something which can no longer be identified either with or by the incidents of the terrestrial life.”
“Điều tôi đang nhấn mạnh đúng hơn là phàm ngã đích thực của chúng ta nằm trong điều tốt đẹp nhất cụ thể của chúng ta, và rằng khi khao khát sự phát triển và thỏa mãn của nó, chúng ta đang khao khát một sự gia tăng của cá tính chân thực của mình, dù là một sự giảm bớt tính loại trừ hình thức của chúng ta.... Người ta sẽ đáp lại rằng cá tính đích thực—sự vĩ đại về phạm vi và tổ chức—làm tăng sự khác biệt cá nhân cũng như tính bao quát. Chắc chắn là vậy, nhưng nó làm giảm tính loại trừ. Những con người thế giới vĩ đại không chỉ đơn giản được sinh ra từ cha mẹ trần thế của họ. Toàn bộ các thời đại và quốc gia được tập trung trong họ.... Khi khao khát một sự hoàn thiện phát triển cao độ, chúng ta đang khao khát trở thành một điều gì đó không còn có thể được đồng hoá với, hoặc được nhận diện bằng, các biến cố của đời sống trần gian.”
‘THE VALUE AND DESTINY OF THE INDIVIDUAL’, BY B. BOSANQUET, PP. 284, 285.
‘GIÁ TRỊ VÀ ĐỊNH MỆNH CỦA CÁ NHÂN’, CỦA B. BOSANQUET, TR. 284, 285.
If these words are studied in connection with Christ’s temptations, the wonder of what He did emerges, and is encouraging for all of us, His younger brothers, equally sons of God.
Nếu những lời này được nghiên cứu liên hệ với các cám dỗ của Đức Christ, điều kỳ diệu của những gì Ngài đã làm sẽ hiện ra, và là nguồn khích lệ cho tất cả chúng ta, những huynh đệ trẻ hơn của Ngài, cũng là các Con của Thượng đế.
Therefore as a whole man and yet utterly divine, Christ entered into final combat with the devil. As a human being, [115] in whom the divine spirit was fully expressing itself, He faced the evil in His own humanity (when viewed apart from God) and emerged victorious. Let us not attempt to divorce these two—God and man—when we think of Christ. Some thinkers emphasise His humanity and ignore His divinity. Therein they are surely in error. Others emphasise His divinity and regard as blasphemous and wrong all those who have placed Him on an equality with other human beings. But if we regard Christ as the flower of the human race, because the divine spirit had full control and showed forth through the medium of the human form, we in no way belittle Him or His achievements. The further men progress upon the Path of Evolution, the more they become conscious of their divinity and of the Fatherhood of God. At the same time, the more deeply they appreciate the Christ, the more convinced are they of His perfected divinity and His mission, and the more humbly do they seek to follow in His steps, knowing Him to be the Master of all the Masters, very God of very God, and the Teacher alike of Angels and of men.
Do đó, với tư cách là một con người toàn vẹn nhưng vẫn hoàn toàn thiêng liêng, Đức Christ bước vào trận chiến cuối cùng với ma quỷ. Với tư cách là một con người, [115] trong đó tinh thần thiêng liêng đang biểu lộ trọn vẹn, Ngài đối diện với điều ác trong chính nhân tính của Ngài (khi được nhìn tách khỏi Thượng đế) và bước ra chiến thắng. Chúng ta đừng cố tách rời hai điều này—Thượng đế và con người—khi nghĩ về Đức Christ. Một số nhà tư tưởng nhấn mạnh nhân tính của Ngài và bỏ qua thiên tính của Ngài. Trong đó chắc chắn họ sai lầm. Những người khác nhấn mạnh thiên tính của Ngài và xem là phạm thượng và sai lầm tất cả những ai đã đặt Ngài ngang hàng với các con người khác. Nhưng nếu chúng ta xem Đức Christ là bông hoa của nhân loại, bởi vì tinh thần thiêng liêng đã hoàn toàn kiểm soát và hiển lộ qua trung gian của hình tướng con người, thì chúng ta không hề làm giảm giá trị của Ngài hay các thành tựu của Ngài. Con người càng tiến xa trên Con Đường Tiến Hóa, họ càng trở nên có ý thức về thiên tính của mình và về Tình Phụ Tử của Thượng đế. Đồng thời, họ càng trân trọng Đức Christ sâu sắc hơn, họ càng tin chắc hơn về thiên tính hoàn thiện và sứ mạng của Ngài, và càng khiêm nhường hơn trong nỗ lực bước theo dấu chân Ngài, biết Ngài là Chân sư của mọi Chân sư, là Thượng đế chân thật của Thượng đế chân thật, và là Huấn sư của cả Thiên Thần lẫn con người.
This perfected divinity is now to be tested and approved. He has now to demonstrate to God, to the devil and to humanity the nature of His achievement and how the powers of the lower nature can be overcome by the powers of the soul. These temptations can be understood very simply by all aspirants and disciples, because they embody universal tests which are applied to the human nature in which we all share and with which We all wrestle in some form and in some measure. It matters not whether we do so from the promptings of conscience, from the control of the higher nature, or through the clear light of divinity. This, all disciples have ever recognised.
Thiên tính hoàn thiện này giờ đây phải được thử thách và chứng nhận. Giờ đây Ngài phải chứng minh cho Thượng đế, cho ma quỷ và cho nhân loại bản chất thành tựu của Ngài và cách các quyền năng của bản chất thấp có thể được các quyền năng của linh hồn vượt thắng. Tất cả người chí nguyện và đệ tử có thể thấu hiểu các cám dỗ này một cách rất đơn giản, bởi vì chúng hiện thân cho các thử thách phổ quát được áp dụng vào bản chất con người mà tất cả chúng ta đều chia sẻ và tất cả chúng ta đều vật lộn với nó dưới hình thức nào đó và trong mức độ nào đó. Việc chúng ta làm như vậy do sự thúc giục của lương tâm, do sự kiểm soát của bản chất cao, hay qua ánh sáng sáng rõ của thiên tính, không quan trọng. Điều này, mọi đệ tử từ trước đến nay đều đã nhận biết.
We shall consider these three temptations in the order given by St. Matthew, which is different from that given by St. Luke. St. Mark simply mentions that Christ was tempted of the devil, whilst St. John does not refer to them at all. These three temptations tested out all the three aspects of [116] the lower human nature—the physical, the emotional-desire nature, and the mind or mental nature We read that:
Chúng ta sẽ xem xét ba cám dỗ này theo thứ tự do Thánh Matthêu đưa ra, khác với thứ tự do Thánh Luca đưa ra. Thánh Marcô chỉ đơn giản đề cập rằng Đức Christ bị ma quỷ cám dỗ, trong khi Thánh Gioan hoàn toàn không nhắc đến chúng. Ba cám dỗ này đã thử thách tất cả ba phương diện của [116] bản chất thấp con người—hồng trần, bản chất cảm xúc-dục vọng, và thể trí hay bản chất trí tuệ. Chúng ta đọc rằng:
“When he had fasted forty days and forty nights he was afterwards anhungered. And when the tempter came to him, he said, If thou be the Son of God command that these stones be made bread. But he answered and said, It is written, Man shall not live by bread alone, but by every word that proceedeth out of the mouth of God.”
“Khi Ngài đã kiêng ăn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, sau đó Ngài đói. Và khi kẻ cám dỗ đến với Ngài, hắn nói: Nếu Ngài là Con của Thượng đế, hãy truyền cho những viên đá này trở thành bánh. Nhưng Ngài đáp và nói: Có lời chép rằng, Con người sống chẳng phải chỉ nhờ bánh, mà nhờ mọi lời phát ra từ miệng Thượng đế.”
ST. MATT., IV, 2, 3, 4.
THÁNH MATTHÊU, IV, 2, 3, 4.
There are two interesting facts connected with all these temptations. Each of them begins with “If” on the lips of the devil, and each is met by Christ with the words “It is written.” These two phrases link all three episodes and give the clue to the whole process. The ultimate temptation is doubt. The test we have all to face eventually, and which climaxed in Christ’s life until He vanquished it upon the Gross, is the test of our divinity. Are we divine? How must our divine powers express themselves? What can we do, or not do, because we are sons of God? That the details of each difficulty, test and trial may differ is relatively immaterial. That the tests may first be focussed in one aspect of our lower nature or another is equally unimportant. It is the general lifelong urge to divinity which is on trial. To the man who is but a little evolved the problem of divinity as a whole does not present itself. He can be preoccupied only with the detail, with the problem in the immediate foreground of his life. This he handles or not, as the case may be by the light of conscience. For the disciple, the detail assumes less importance, and the general truth of his sonship begins slowly to concern him. He then handles his life conditions from the angle of that theory. For a perfected son of God, such as the Christ, or for the man nearing perfection, the problem must be handled as a whole, and the life problem must be considered from the angle of divinity itself. Such was the issue with Christ, and such the implications hidden in the devil’s threefold “If.”
Có hai sự kiện thú vị liên quan đến tất cả các cám dỗ này. Mỗi cám dỗ bắt đầu bằng chữ “Nếu” trên môi ma quỷ, và mỗi cám dỗ được Đức Christ đáp lại bằng những lời “Có lời chép rằng.” Hai cụm từ này liên kết cả ba sự kiện và trao chìa khóa cho toàn bộ tiến trình. Cám dỗ tối hậu là hoài nghi. Thử thách mà cuối cùng tất cả chúng ta phải đối diện, và đã lên đến đỉnh điểm trong đời sống Đức Christ cho đến khi Ngài chiến thắng nó trên Thập Giá, là thử thách về thiên tính của chúng ta. Chúng ta có thiêng liêng không? Các quyền năng thiêng liêng của chúng ta phải tự biểu lộ như thế nào? Chúng ta có thể làm gì, hoặc không thể làm gì, bởi vì chúng ta là các Con của Thượng đế? Việc các chi tiết của mỗi khó khăn, thử thách và khảo nghiệm có thể khác nhau thì tương đối không quan trọng. Việc các thử thách trước hết có thể tập trung vào một phương diện này hay phương diện khác của bản chất thấp nơi chúng ta cũng không quan trọng như vậy. Chính sự thôi thúc chung suốt đời hướng tới thiên tính đang bị thử thách. Đối với người chỉ mới tiến hoá đôi chút, vấn đề thiên tính như một toàn thể không tự trình hiện. Y chỉ có thể bận tâm với chi tiết, với vấn đề ở tiền cảnh tức thời của đời y. Y xử lý điều này hoặc không, tùy trường hợp, bằng ánh sáng của lương tâm. Đối với đệ tử, chi tiết trở nên ít quan trọng hơn, và chân lý tổng quát về địa vị làm con của y bắt đầu chậm rãi khiến y quan tâm. Khi ấy y xử lý các điều kiện đời sống của mình từ góc độ của lý thuyết ấy. Đối với một Con hoàn thiện của Thượng đế, như Đức Christ, hoặc đối với người đang gần sự hoàn thiện, vấn đề phải được xử lý như một toàn thể, và vấn đề đời sống phải được xem xét từ góc độ của chính thiên tính. Đó là vấn đề đối với Đức Christ, và đó là những hàm ý ẩn trong ba chữ “Nếu” tam phân của ma quỷ.
[117] Rightly or wrongly, it seems to me that we have erred in interpreting all truth from the angle of the mediocre. That is what has been done. Truth is capable of interpretation in many ways. Those who are simply physical-emotional beings, with therefore little vision, require the protection of theology, despite its imperfections and dogmatic or untenable assertions. This they need, and the responsibility of those who administer dogmas to the “little ones” of the race is great. Truth must also be given in a wider form, and with a more general connotation to those who are beginning to live consciously as souls, and who can therefore be trusted to see the meaning behind the symbol and the significance behind the outer appearance of theology. Truth, for the perfected sons of God, must be something beyond our dreams, of so deep a significance and of such comprehensiveness that it is futile for us to speculate upon it, for it is something to be experienced and not to be dreamed; something to enter into and not to vision.
[117] Dù đúng hay sai, đối với tôi dường như chúng ta đã sai lầm khi diễn giải mọi chân lý từ góc độ của mức trung bình. Đó là điều đã được làm. Chân lý có thể được diễn giải theo nhiều cách. Những ai chỉ đơn giản là các sinh linh hồng trần-cảm xúc, do đó có ít tầm nhìn, cần sự bảo vệ của thần học, bất chấp các khiếm khuyết của nó và những khẳng định giáo điều hoặc không đứng vững của nó. Họ cần điều này, và trách nhiệm của những người quản lý các giáo điều cho “những kẻ bé mọn” của nhân loại là lớn lao. Chân lý cũng phải được trao trong một hình thức rộng hơn, và với một hàm nghĩa tổng quát hơn, cho những ai đang bắt đầu sống một cách có ý thức như các linh hồn, và do đó có thể được tin cậy để thấy ý nghĩa phía sau biểu tượng và thâm nghĩa phía sau vẻ ngoài bên ngoài của thần học. Chân lý, đối với các Con hoàn thiện của Thượng đế, phải là điều gì đó vượt ngoài những giấc mơ của chúng ta, có thâm nghĩa sâu xa và tính bao quát đến mức chúng ta suy đoán về nó là vô ích, vì nó là điều để được kinh nghiệm chứ không phải để mơ tưởng; là điều để bước vào chứ không phải để linh thị.
Christ’s reply each time should be viewed in this triple manner. “It is written,” He says, and the unthinking and small-minded regard this as endorsing the verbal inspiration of the Scriptures. But surely, He was not referring back only to the ancient sayings of the Jewish Scriptures, beautiful as they are. The possibilities of error are too great to warrant our unquestioning acceptance of every word in any scripture in the world. When the processes of translation are studied this becomes glaringly apparent. Christ meant something much deeper than “The Bible says.” He meant that the signature of God was upon Him; that He was the Word, and that that Word was the expression of truth. It is the Word of the soul (which is the influx of divinity) that determines our attitude in temptation and our response to the problem presented by the devil. If that Word is remote, deep-hidden by the veiling form, only distorted sounds will issue forth, and the Word will not be potent enough to withstand the devil. The Word is written in the flesh, defaced and almost invisible though it may be through the activity [118] of the lower nature; it is upon the mind that the Word sounds forth, carrying illumination and insight, distorted as yet though the vision may be, and the light scarcely seen. But the Word is there. Some day each of us can say with power: “It is written,” and see that Word expressed in every part of our human nature as individuals and—at some distant date—in humanity itself. This is the “lost Word” of the Masonic tradition.
Mỗi lần, câu trả lời của Đức Christ nên được nhìn theo cách tam phân này. “Có lời chép rằng,” Ngài nói, và người thiếu suy nghĩ cùng người trí hẹp xem điều này như sự xác nhận cho nguồn cảm hứng từng lời của Kinh Thánh. Nhưng chắc chắn Ngài không chỉ quy chiếu trở lại những lời cổ xưa của Kinh Thánh Do Thái, dù chúng đẹp đẽ. Khả năng sai lầm quá lớn để bảo đảm cho việc chúng ta chấp nhận không chất vấn từng lời trong bất kỳ kinh sách nào trên thế giới. Khi các tiến trình dịch thuật được nghiên cứu, điều này trở nên hiển nhiên một cách chói lọi. Đức Christ muốn nói điều gì đó sâu xa hơn nhiều so với “Kinh Thánh nói.” Ngài muốn nói rằng dấu ấn của Thượng đế ở trên Ngài; rằng Ngài là Linh từ, và Linh từ ấy là sự biểu lộ của chân lý. Chính Linh từ của linh hồn (vốn là dòng nhập lưu của thiên tính) quyết định thái độ của chúng ta trong cám dỗ và sự đáp ứng của chúng ta đối với vấn đề do ma quỷ trình ra. Nếu Linh từ ấy xa vời, bị hình tướng che phủ giấu sâu, thì chỉ những âm thanh méo mó sẽ phát ra, và Linh từ sẽ không đủ quyền năng để chống lại ma quỷ. Linh từ được viết trong xác thịt, dù có thể bị bôi xóa và gần như vô hình do hoạt động [118] của bản chất thấp; chính trên thể trí mà Linh từ vang lên, mang theo sự soi sáng và tuệ giác, dù tầm nhìn vẫn còn bị méo mó, và ánh sáng hầu như không được thấy. Nhưng Linh từ có ở đó. Một ngày kia, mỗi người chúng ta có thể nói với quyền năng: “Có lời chép rằng,” và thấy Linh từ ấy được biểu lộ trong mọi phần của bản chất con người nơi chúng ta với tư cách các cá nhân và—vào một thời điểm xa xôi—trong chính nhân loại. Đây là “Linh từ đã mất” của truyền thống Tam Điểm.
Oriental philosophy refers frequently to four spheres of life or four problems which all disciples and aspirants have to face, and which constitute in their entirety the world in which we live. There are the world of Maya, the world of glamour and the world of illusion. There is also that mysterious “Dweller on the Threshold” to which Bulwer Lytton refers in Zanoni. All of these four Christ met and vanquished in the desert-experience.
Triết học Đông phương thường xuyên đề cập đến bốn lĩnh vực của đời sống hay bốn vấn đề mà mọi đệ tử và người chí nguyện phải đối diện, và xét trong toàn thể, chúng cấu thành thế giới trong đó chúng ta sống. Có thế giới của ảo lực, thế giới của ảo cảm và thế giới của ảo tưởng. Cũng có “Kẻ Chận Ngõ” huyền bí mà Bulwer Lytton đề cập trong Zanoni. Tất cả bốn điều này Đức Christ đã gặp và chiến thắng trong kinh nghiệm sa mạc.
Maya refers to the world of physical forces in which we dwell, and with this the first temptation concerned itself. Modern science has told us that there is nothing visible or invisible which is not energy, and that every form is simply an aggregate of energy units in constant ceaseless motion, to which we have to adjust ourselves and in which we “live and move and have our being.” (Acts, XVII, 28.) Such is the outer form of Deity, and we are part of it. Maya is vital in character, and we know little of its effect upon the physical plane (with all that that term connotes), and upon the human being.
Ảo lực chỉ thế giới của các mãnh lực hồng trần trong đó chúng ta cư ngụ, và cám dỗ thứ nhất liên quan đến điều này. Khoa học hiện đại đã nói với chúng ta rằng không có gì hữu hình hay vô hình mà không phải là năng lượng, và rằng mọi hình tướng chỉ đơn giản là một tập hợp các đơn vị năng lượng trong chuyển động liên tục không ngừng, mà chúng ta phải điều chỉnh theo và trong đó chúng ta “sống, chuyển động và hiện tồn.” (Công Vụ, XVII, 28.) Đó là hình tướng bên ngoài của Thượng Đế, và chúng ta là một phần của nó. Ảo lực có tính chất sinh lực, và chúng ta biết rất ít về hiệu quả của nó trên cõi hồng trần (với tất cả những gì thuật ngữ ấy hàm ý), và trên con người.
“Glamour” refers to the world of emotional being and of desire, in which all forms dwell. It is this glamour which colours all our lives and produces false values, wrong desires, needless so-called necessities, our worries, anxieties and cares; but glamour is age-old, and has us in so close a grip that there seems little we can do. The desires of men, down the centuries, have brought about a situation before which we turn back appalled; the rampant nature of our longings and wishes, and their glamorous effect upon the individual, provide psychological laboratories with all their material; the [119] wish life of the race has been wrongly oriented and human desire has been turned outward to the material plane, thus producing the world of glamour in which we all habitually struggle. It is by far the most potent of our delusions or mistaken orientations. But once the clear light of the soul is thrown into it, this miasma of forces is gradually dissipated. This work constitutes the major task of all aspirants to the mysteries.
“Ảo cảm” chỉ thế giới của hiện tồn cảm xúc và của dục vọng, trong đó mọi hình tướng cư ngụ. Chính ảo cảm này nhuộm màu toàn bộ đời sống của chúng ta và tạo ra các giá trị sai lầm, những dục vọng sai trái, những điều được gọi là nhu cầu không cần thiết, những lo lắng, bồn chồn và ưu tư của chúng ta; nhưng ảo cảm đã có từ lâu đời, và nắm giữ chúng ta chặt đến mức dường như chúng ta chẳng làm được gì nhiều. Các dục vọng của con người, qua nhiều thế kỷ, đã tạo nên một tình trạng khiến chúng ta kinh hoàng quay lui; bản chất phóng túng của các khao khát và ước muốn của chúng ta, cùng hiệu quả ảo cảm của chúng trên cá nhân, cung cấp cho các phòng thí nghiệm tâm lý toàn bộ vật liệu của họ; [119] đời sống ước muốn của nhân loại đã bị định hướng sai, và dục vọng con người đã bị hướng ra ngoài về cõi vật chất, do đó tạo ra thế giới ảo cảm trong đó tất cả chúng ta thường xuyên vật lộn. Nó là điều mạnh mẽ nhất trong các mê lầm hay các định hướng sai lạc của chúng ta. Nhưng một khi ánh sáng sáng rõ của linh hồn được chiếu vào đó, màn khí độc của các mãnh lực này dần dần bị làm tiêu tan. Công việc này cấu thành nhiệm vụ chính yếu của mọi người chí nguyện đối với các huyền nhiệm.
“Illusion” is more mental in its impact. It concerns the ideas whereby we live, and the thought life which more or less (although mostly less) governs our daily undertakings. We shall see, as we take up the consideration of these three temptations, how in the first temptation Christ was confronted by maya, with physical forces of such strength that the devil could take advantage of them in an effort to confound Him. We shall see how in the second temptation He was tempted by glamour, and with the submergence of His vital spiritual life by a misconception and an emotional use of His divine powers. The sin of the mind, which is pride, was called into activity by the devil in the third temptation, and the illusion of temporal power to be used for right ends we may be sure was presented to Him. Thus the possible interior weakness of the three aspects of Christ’s nature was tested, and through them the vast sum total of the world maya, glamour and illusion was poured in on Him. Thus He was confronted with the Dweller on the Threshold, which is only another name for the personal lower self, regarding it as a unified whole, as is only the case in advanced people, disciples and initiates. In these three words—maya, glamour and illusion—we have synonyms for the flesh, the world and the devil, which constitute the threefold test that confronts every son of God on the verge of liberation.
“Ảo tưởng” có tác động mang tính trí tuệ hơn. Nó liên quan đến các ý tưởng nhờ đó chúng ta sống, và đời sống tư tưởng ít nhiều (dù phần lớn là ít) chi phối các công việc hằng ngày của chúng ta. Khi chúng ta bắt đầu xem xét ba cám dỗ này, chúng ta sẽ thấy trong cám dỗ thứ nhất Đức Christ đã đối diện với ảo lực, với các mãnh lực hồng trần mạnh đến mức ma quỷ có thể lợi dụng chúng trong nỗ lực làm Ngài bối rối. Chúng ta sẽ thấy trong cám dỗ thứ hai Ngài bị cám dỗ bởi ảo cảm, và bởi sự nhấn chìm đời sống tinh thần sinh động của Ngài qua một quan niệm sai lầm và một cách sử dụng cảm xúc đối với các quyền năng thiêng liêng của Ngài. Tội lỗi của thể trí, tức là kiêu ngạo, đã bị ma quỷ kêu gọi vào hoạt động trong cám dỗ thứ ba, và chúng ta có thể chắc chắn rằng ảo tưởng về quyền lực thế tục được sử dụng cho các mục đích đúng đã được trình ra trước Ngài. Như vậy, sự yếu đuối nội tâm khả hữu của ba phương diện trong bản chất Đức Christ đã bị thử thách, và qua chúng, tổng số bao la của ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng thế gian đã tràn vào Ngài. Như vậy, Ngài đã đối diện với Kẻ Chận Ngõ, vốn chỉ là một tên gọi khác của phàm ngã cá nhân, khi xem nó như một toàn thể thống nhất, điều chỉ xảy ra nơi những người tiến bộ, các đệ tử và các điểm đạo đồ. Trong ba từ này—ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng—chúng ta có các từ đồng nghĩa với xác thịt, thế gian và ma quỷ, vốn cấu thành thử thách tam phân đối diện với mọi Con của Thượng đế trên ngưỡng giải thoát.
“If thou be the Son of God command that these stones be made bread.” Let us use our divine powers for personal physical ends. Let us put the material physical nature first. Let us assuage our hunger, whatever it may be, and do it because we are divine. Let us use our divine powers so as [120] to gain for ourselves perfect health, long desired financial prosperity, popularity for our personality, for which we crave, and those physical surroundings and conditions which we want. We are sons of God and are entitled to all these things. Command that these stones be made bread for the satisfaction of our supposed need. Such were the specious arguments used then, and being used today by many teachers and schools of thought. These are peculiarly the temptations of the aspirants of the world today. Upon this theory many teachers and groups thrive, and curiously enough, they do so quite sincerely and entirely convinced of the rightness of their position. The temptations which come to the advanced souls in the world are most subtle. The use of divine powers for the meeting and satisfaction of purely personal, physical needs can be presented in such a manner that they may seem entirely right. Yet we do not live by bread alone, but by means of the spiritual life which (coming forth from God) pours into, and is the life of, the lower man. This is the first essential for understanding. Upon that soul life and upon that inner contact the emphasis should be laid. The healing of the physical body, when diseased, would be satisfactory to the individual, but living as a soul is of more importance. The emphasis upon a divinity which must express itself entirely through the meeting of a physical need, in a monetary manner, most definitely limits divinity to an attribute of itself. When we live as souls, when our inner life is oriented to God, not because of what we can receive but because we have the developed sense of divinity, then the forces of divine life will pour through us and produce what is needed. This may not necessarily bring about complete immunity from disease or produce financial affluence; but it will mean a sweetening of the lower nature, a tendency to self-forgetfulness, and unselfishness which puts others first, a wisdom which concerns itself with the teaching and helping of others, a freedom from hatred and suspicion which will make life pleasanter for those with whom we associate, and a kindness and inclusiveness which leave no time for the separated [121] self. That this type of inner nature will make for a sound body and freedom from physical ills is quite possible, but not inevitably so. In time and space, in a particular life and at a special time, illness has its uses and may be a profoundly desirable blessing. Poverty and financial stringency may re-establish a lost sense of values and enrich the heart with compassion. Money and perfect health may be disasters to many. But the use of divine power for selfish ends, and the affirming of the divine nature for purposes of individual healing, seem a prostitution of reality, and constitute the temptation which Christ so triumphantly met. We live by the life of God. Let that life flow in “more abundantly” upon us and we shall become, as Christ became, living centres of radiant energy for the service of the world. Probably what may happen will be better physical health, because we shall not be so pre-occupied with ourselves. Freedom from self-centredness is one of the first laws of good health.
“Nếu Ngài là Con của Thượng đế, hãy truyền cho những viên đá này trở thành bánh.” Chúng ta hãy sử dụng các quyền năng thiêng liêng của mình cho các mục đích hồng trần cá nhân. Chúng ta hãy đặt bản chất vật chất hồng trần lên hàng đầu. Chúng ta hãy làm dịu cơn đói của mình, bất kể nó là gì, và làm điều đó bởi vì chúng ta thiêng liêng. Chúng ta hãy sử dụng các quyền năng thiêng liêng của mình để [120] đạt được cho bản thân sức khỏe hoàn hảo, sự thịnh vượng tài chính đã lâu mong muốn, sự nổi tiếng cho phàm ngã mà chúng ta khao khát, và những hoàn cảnh cùng điều kiện hồng trần mà chúng ta muốn. Chúng ta là các Con của Thượng đế và có quyền hưởng tất cả những điều này. Hãy truyền cho những viên đá này trở thành bánh để thỏa mãn nhu cầu giả định của chúng ta. Đó là những lập luận có vẻ hợp lý được sử dụng khi ấy, và ngày nay đang được nhiều huấn sư và trường phái tư tưởng sử dụng. Đây đặc biệt là những cám dỗ của các người chí nguyện trên thế giới ngày nay. Trên lý thuyết này, nhiều huấn sư và nhóm phát triển mạnh, và điều khá lạ là họ làm vậy một cách hoàn toàn chân thành và hoàn toàn tin chắc vào sự đúng đắn của lập trường mình. Những cám dỗ đến với các linh hồn tiến bộ trong thế giới là tinh vi nhất. Việc sử dụng các quyền năng thiêng liêng để đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu hồng trần thuần túy cá nhân có thể được trình bày theo cách khiến chúng có vẻ hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, chúng ta không sống chỉ nhờ bánh, mà nhờ đời sống tinh thần vốn (phát ra từ Thượng đế) tuôn vào, và là sự sống của, phàm nhân. Đây là điều thiết yếu đầu tiên để thấu hiểu. Trọng tâm nên được đặt trên đời sống linh hồn ấy và trên sự tiếp xúc bên trong ấy. Việc chữa lành thể xác khi mắc bệnh sẽ làm cá nhân thỏa mãn, nhưng sống như một linh hồn thì quan trọng hơn. Sự nhấn mạnh vào một thiên tính phải tự biểu lộ hoàn toàn qua việc đáp ứng một nhu cầu hồng trần, theo phương diện tiền bạc, chắc chắn giới hạn thiên tính vào một thuộc tính của chính nó. Khi chúng ta sống như các linh hồn, khi đời sống bên trong của chúng ta được định hướng về Thượng đế, không phải vì những gì chúng ta có thể nhận được mà bởi vì chúng ta có ý thức phát triển về thiên tính, thì các mãnh lực của đời sống thiêng liêng sẽ tuôn chảy qua chúng ta và tạo ra điều cần thiết. Điều này có thể không nhất thiết đem lại sự miễn nhiễm hoàn toàn khỏi bệnh tật hay tạo ra sự dư dật tài chính; nhưng nó sẽ có nghĩa là sự làm dịu bản chất thấp, một khuynh hướng quên mình, và sự vô ngã đặt người khác lên trước, một minh triết quan tâm đến việc dạy dỗ và giúp đỡ người khác, một sự tự do khỏi hận thù và nghi ngờ khiến đời sống dễ chịu hơn cho những người chúng ta giao tiếp, và một lòng nhân hậu cùng tính bao gồm không để lại thời gian cho bản ngã chia rẽ [121]. Loại bản chất bên trong này có thể tạo ra một thể xác lành mạnh và sự tự do khỏi các bệnh tật hồng trần, nhưng không tất yếu như vậy. Trong thời gian và không gian, trong một đời sống đặc biệt và vào một thời điểm đặc biệt, bệnh tật có công dụng của nó và có thể là một phúc lành sâu xa đáng mong muốn. Nghèo khó và sự eo hẹp tài chính có thể tái lập một ý thức về các giá trị đã mất và làm giàu trái tim bằng lòng từ bi. Tiền bạc và sức khỏe hoàn hảo có thể là tai họa cho nhiều người. Nhưng việc sử dụng quyền năng thiêng liêng cho các mục đích ích kỷ, và việc khẳng định bản chất thiêng liêng nhằm mục đích chữa lành cá nhân, dường như là sự làm ô nhục thực tại, và cấu thành cám dỗ mà Đức Christ đã gặp một cách hết sức chiến thắng. Chúng ta sống bằng sự sống của Thượng đế. Hãy để sự sống ấy tuôn vào chúng ta “dồi dào hơn,” và chúng ta sẽ trở thành, như Đức Christ đã trở thành, các trung tâm sống động của năng lượng rạng chiếu để phụng sự thế gian. Có lẽ điều có thể xảy ra sẽ là sức khỏe hồng trần tốt hơn, bởi vì chúng ta sẽ không quá bận tâm đến chính mình. Sự tự do khỏi sự tập trung vào bản thân là một trong những định luật đầu tiên của sức khỏe tốt.
The question of healing, engrossing the attention of so many thousands at this time, is too broad to be considered here, and far more complicated than the average healer or healing group realises. Two things only would I point out:
Vấn đề chữa lành, hiện đang cuốn hút sự chú ý của nhiều ngàn người vào lúc này, quá rộng để được xem xét ở đây, và phức tạp hơn rất nhiều so với điều mà người chữa lành hay nhóm chữa lành trung bình nhận ra. Tôi chỉ muốn chỉ ra hai điều:
One is that the affirmation that all disease is the result of wrong thought does not warrant too hasty acceptance. There is much disease in the other kingdoms of nature; animals, plants and minerals suffer from disease as do human beings, and these kingdoms antedate the appearance of the human family upon Earth. Secondly, the affirmation that one is divine and therefore entitled to good health may be ultimately true when divinity is really expressed, but it is not expressed by affirmation, but by conscious intelligent organised soul contact. This results in living as Christ lived, with no thought of self but only concern and interest in others.
Một là sự khẳng định rằng mọi bệnh tật đều là kết quả của tư tưởng sai lầm không đáng được chấp nhận quá vội vàng. Có nhiều bệnh tật trong các giới khác của thiên nhiên; động vật, thực vật và khoáng vật chịu bệnh tật như con người, và các giới này có trước sự xuất hiện của gia đình nhân loại trên Trái Đất. Thứ hai, sự khẳng định rằng một người là thiêng liêng và do đó có quyền được sức khỏe tốt có thể rốt cuộc là chân lý khi thiên tính thực sự được biểu lộ, nhưng nó không được biểu lộ bằng sự khẳng định, mà bằng sự tiếp xúc linh hồn có ý thức, thông minh và có tổ chức. Điều này dẫn đến việc sống như Đức Christ đã sống, không nghĩ đến bản thân mà chỉ quan tâm và chú ý đến người khác.
Christ met this temptation to use His divine powers for selfish ends by the quiet reiteration of His divinity—a divinity which was based on the universality of the Word. It is perhaps apposite here to remind ourselves that upon the Cross He was taunted by the words, “He saved others; Himself [122] He cannot save.” (St. Matt., XXVII, 42.) The maya or delusion of the physical nature could not hold Him; from that He stood free.
Đức Christ đã gặp cám dỗ sử dụng các quyền năng thiêng liêng của Ngài cho các mục đích ích kỷ bằng sự lặp lại bình thản về thiên tính của Ngài—một thiên tính đặt nền trên tính phổ quát của Linh từ. Có lẽ ở đây thích hợp để tự nhắc mình rằng trên Thập Giá, Ngài bị chế nhạo bằng những lời: “Ngài đã cứu người khác; chính Ngài [122] không thể cứu mình.” (Thánh Matthêu, XXVII, 42.) Ảo lực hay sự mê lầm của bản chất hồng trần không thể giữ được Ngài; khỏi điều đó, Ngài đứng tự do.
Today the World Aspirant, humanity, stands confronted with this temptation. Its problem is economic. It is concerned basically and definitely with bread, just as, symbolically speaking, Christ’s problem was the problem of food. The world is faced with a material issue. That there is no evading this issue is true, and that men must be fed is equally true. Upon what basis shall the problem be met? Will one be regarded as too idealistic and as an impractical mystic and visionary if one falls back, as Christ did, upon the fundamentals of life, and takes the position that when man is re-adjusted and re-oriented as a spiritual being his problem will automatically take care of itself? One surely will be so regarded. If one feels, as do many today, that the solution of the problem lies in a revaluation of life and a re-education in the underlying principles of living, is one entirely astray and to be regarded as a fool? Many will so regard one. But the solving of man’s problem solely in terms of his physical needs may only succeed in plunging him more deeply in a material marsh. Meeting his demands entirely from the angle of bread and butter may be much needed. It is. But it should be accompanied with something which will meet the need of the whole man, and not simply that of his body and its desires. There are things which matter essentially to man, which are of greater moment and value than the things which concern the form, even if he himself does not realise it. Christ gave a little time to the feeding of the multitude. He gave much time to teaching them the rules of the kingdom of God. Men can be trusted to take what they want. They are doing so at this time on every hand. But the things which truly matter must at the same time be emphasised and taught, or the end will be disastrous. When we have cleaned the human house of abuses, as the revolutionaries in every country and land claim to be doing, unless that house is beautiful as a result, and unless its inhabitants have ideas based on divine [123] essentials, the last state will be worse than the first. Seven devils may enter into the house, according to Christ’s parable. (St. Matt., XII, 45.) Unless God indwells the house, when cleaned, and unless our revaluations and national adjustments lead to that leisure and peace of mind wherein the soul of man can come to flower, we are headed towards still worse disasters. “Man shall not live by bread alone, but by every word that proceedeth out of the mouth of God.”
Ngày nay Người Chí Nguyện Thế Giới, tức nhân loại, đang đứng đối diện với cám dỗ này. Vấn đề của y là kinh tế. Về căn bản và rõ ràng, nó liên quan đến bánh, cũng như, nói theo biểu tượng, vấn đề của Đức Christ là vấn đề lương thực. Thế giới đối diện với một vấn đề vật chất. Rằng không thể né tránh vấn đề này là đúng, và rằng con người phải được nuôi ăn cũng đúng như vậy. Vấn đề sẽ được đáp ứng trên nền tảng nào? Liệu một người có bị xem là quá lý tưởng và là một nhà thần bí thiếu thực tế cùng người có linh ảnh hão huyền, nếu người ấy tựa vào, như Đức Christ đã làm, các nền tảng của đời sống, và giữ lập trường rằng khi con người được tái điều chỉnh và tái định hướng như một sinh linh tinh thần, vấn đề của y sẽ tự động tự lo liệu không? Chắc chắn người ấy sẽ bị xem như vậy. Nếu một người cảm thấy, như nhiều người ngày nay cảm thấy, rằng giải pháp của vấn đề nằm trong việc tái định giá đời sống và tái giáo dục về các nguyên lý nền tảng của sự sống, thì người ấy có hoàn toàn lạc lối và bị xem là kẻ ngu không? Nhiều người sẽ xem y như vậy. Nhưng việc giải quyết vấn đề của con người chỉ bằng các nhu cầu hồng trần của y có thể chỉ thành công trong việc nhấn chìm y sâu hơn vào đầm lầy vật chất. Đáp ứng các đòi hỏi của y hoàn toàn từ góc độ cơm áo có thể rất cần thiết. Đúng là như vậy. Nhưng điều đó nên đi kèm với điều gì đó đáp ứng nhu cầu của toàn thể con người, chứ không chỉ nhu cầu của thể xác y và các dục vọng của nó. Có những điều thiết yếu quan trọng đối với con người, có tầm quan trọng và giá trị lớn hơn những điều liên quan đến hình tướng, ngay cả nếu chính y không nhận ra điều đó. Đức Christ đã dành ít thời gian cho việc nuôi đám đông. Ngài dành nhiều thời gian để dạy họ các quy luật của Thiên Giới. Có thể tin cậy con người sẽ lấy điều họ muốn. Họ đang làm như vậy vào lúc này ở khắp mọi nơi. Nhưng những điều thực sự quan trọng đồng thời phải được nhấn mạnh và dạy dỗ, nếu không kết cục sẽ tai hại. Khi chúng ta đã dọn sạch căn nhà nhân loại khỏi các lạm dụng, như những người cách mạng ở mọi quốc gia và xứ sở tuyên bố là đang làm, nếu căn nhà ấy không trở nên đẹp đẽ nhờ kết quả đó, và nếu cư dân của nó không có các ý tưởng đặt nền trên các điều thiết yếu thiêng liêng [123], thì tình trạng sau cùng sẽ tệ hơn tình trạng ban đầu. Bảy con quỷ có thể vào nhà, theo dụ ngôn của Đức Christ. (Thánh Matthêu, XII, 45.) Nếu Thượng đế không ngự trong căn nhà khi đã được dọn sạch, và nếu các tái định giá cùng điều chỉnh quốc gia của chúng ta không dẫn đến sự nhàn rỗi và sự bình an của thể trí trong đó linh hồn con người có thể nở hoa, thì chúng ta đang hướng tới những tai họa còn tệ hơn. “Con người sống chẳng phải chỉ nhờ bánh, mà nhờ mọi lời phát ra từ miệng Thượng đế.”
“Then the devil taketh him up into the holy city, and setteth him upon a pinnacle of the temple, and saith unto him, If thou be the Son of God, cast thyself down; for it is written, He shall give His angels charge concerning thee, and in their hands they shall bear thee up, lest at any time thou dash thy foot against a stone. Jesus said unto him, It is written again, Thou shalt not tempt the Lord thy God.”
“Bấy giờ ma quỷ đem Ngài lên thành thánh, đặt Ngài trên nóc đền thờ, và nói với Ngài: Nếu Ngài là Con của Thượng đế, hãy gieo mình xuống; vì có lời chép rằng, Ngài sẽ truyền cho các thiên thần của Ngài gìn giữ Ngài, và họ sẽ nâng Ngài trên tay, kẻo chân Ngài vấp phải đá. Đức Jesus nói với hắn: Lại có lời chép rằng, Ngươi chớ thử thách Đức Chúa, Thượng đế của ngươi.”
ST. MATT., IV, 5, 6, 7.
THÁNH MATTHÊU, IV, 5, 6, 7.
It is essential for the right understanding of this temptation that we remember our earlier distinction that such passages in the Bible are interpreted from the angle of the souls involved. Christ meets the devil on the ground of His divine nature. If thou art the Son of God, take advantage of the Fatherhood of God, and cast thyself down. This temptation is different from the first, though it appears to embody the same type of test. The clue to this is found in Christ’s answer, where He takes His stand upon His divinity. This He did not do in the earlier temptation. The devil in this test quotes scripture to his own ends. He also takes Christ into the Holy Place, the battle-ground, and it is upon this that the devil casts doubt. The glamour of doubt descends upon the Christ. Hungry, lonely, and weary of conflict, He is tempted to question the very roots of His being. I do not question the fact that Christ was assailed by doubt. The first traces of that glamour which descended upon Him like a great darkness in the Crucifixion assailed Him now. Was He the Son of God? Had He a mission, after all? Was His attitude one of self-delusion? [124] Was it all worth while? He was attacked where He was the strongest, and in this lies the potency of this temptation.
Điều thiết yếu để thấu hiểu đúng cám dỗ này là chúng ta phải nhớ lại sự phân biệt trước đây của mình: những đoạn như thế trong Kinh Thánh được diễn giải từ góc độ của các linh hồn liên quan. Đức Christ gặp ma quỷ trên nền tảng bản chất thiêng liêng của Ngài. Nếu Ngài là Con của Thượng đế, hãy lợi dụng Tình Phụ Tử của Thượng đế và gieo mình xuống. Cám dỗ này khác với cám dỗ thứ nhất, dù nó dường như hàm chứa cùng một loại thử thách. Manh mối của điều này nằm trong câu trả lời của Đức Christ, nơi Ngài đứng vững trên thiên tính của Ngài. Điều này Ngài đã không làm trong cám dỗ trước đó. Trong thử thách này, ma quỷ trích dẫn kinh điển vì mục đích riêng của nó. Nó cũng đưa Đức Christ vào Nơi Thánh, chiến trường, và chính trên điểm này mà ma quỷ gieo nghi ngờ. Ảo cảm của nghi ngờ giáng xuống trên Đức Christ. Đói khát, cô đơn và mệt mỏi vì xung đột, Ngài bị cám dỗ đặt vấn đề về tận gốc rễ hiện tồn của Ngài. Tôi không nghi ngờ sự kiện Đức Christ đã bị nghi ngờ tấn công. Những dấu vết đầu tiên của ảo cảm ấy, vốn đã giáng xuống trên Ngài như một bóng tối lớn lao trong Cuộc Đóng Đinh, giờ đây tấn công Ngài. Ngài có phải là Con của Thượng đế không? Rốt cuộc, Ngài có một sứ mệnh không? Thái độ của Ngài có phải là tự huyễn hoặc không? [124] Tất cả có đáng chăng? Ngài bị tấn công nơi Ngài mạnh nhất, và chính trong điều này có uy lực của cám dỗ ấy.
In an ancient scripture of India, The Bhagavad Gita, the disciple Arjuna stands faced with the same issue. He is involved in a great battle between two branches of the same family—really between the higher and the lower self—and he, too, questions what he shall do. Shall he go ahead with the battle and the test, and so triumph as the soul? Shall he assert his divinity and defeat the lower and the non-divine? In a commentary on The Bhagavad Gita these words occur:
Trong một kinh điển cổ của Ấn Độ, Chí Tôn Ca, đệ tử Arjuna đứng trước cùng một vấn đề. Y bị cuốn vào một trận chiến lớn giữa hai nhánh của cùng một gia tộc—thực ra là giữa chân ngã và phàm ngã—và y cũng tự hỏi mình phải làm gì. Y có nên tiến tới với trận chiến và cuộc thử thách, và nhờ đó chiến thắng với tư cách linh hồn không? Y có nên khẳng định thiên tính của mình và đánh bại cái thấp kém cùng cái phi thiêng liêng không? Trong một bản bình giảng về Chí Tôn Ca có những lời này:
“There is a spiritual significance to all this and the situation of Arjuna is well chosen to bring out great spiritual truths. He stands for the personal self beginning to grow conscious of the Higher Self; touched and enkindled with the spiritual light of that higher self, yet full of dismay and terror from the realisation of what obedience to the Higher Self must mean. The contests of the brothers is now concentrated within a single nature, the life of a single man. A war must be waged within himself, a war long and arduous for the life of the Soul. Nothing but high courage, joined with faith and aspiration, makes the contest possible, and even then there will be shrinking and dismay.”
“Tất cả điều này đều có một thâm nghĩa tinh thần, và hoàn cảnh của Arjuna được chọn rất khéo để làm nổi bật những chân lý tinh thần lớn lao. Y tượng trưng cho bản ngã cá nhân bắt đầu trở nên có ý thức về Bản Ngã Cao Siêu; được chạm đến và được thắp sáng bởi ánh sáng tinh thần của bản ngã cao siêu ấy, nhưng vẫn đầy kinh hoàng và khiếp sợ vì nhận ra sự vâng phục Bản Ngã Cao Siêu hẳn phải hàm ý điều gì. Cuộc tranh đấu giữa các huynh đệ giờ đây tập trung trong một bản chất duy nhất, trong đời sống của một con người duy nhất. Một cuộc chiến phải được tiến hành trong chính y, một cuộc chiến lâu dài và gian khổ vì sự sống của Linh hồn. Không gì ngoài lòng can đảm cao cả, kết hợp với đức tin và khát vọng, khiến cuộc tranh đấu ấy có thể thực hiện được; và ngay cả khi đó vẫn sẽ có sự co rút và kinh hoàng.”
THE BHAGAVAD GITA’, COMMENTARY BY CHARLES JOHNSTON, P. 26.)
CHÍ TÔN CA, BÌNH GIẢNG CỦA CHARLES JOHNSTON, TR. 26.)
A greater than Arjuna (who stands as the symbol of the disciple on his way towards perfection) faced a similar issue with courage, faith and aspiration, but the question was the same: Is the life of the soul a reality? Am I divine? Christ faced this issue without dismay, and triumphed by the use of an affirmation of such power (because it stated a truth) that the devil temporarily could not reach Him. He practically said: “I am the Son of God. Thou mayest not tempt me.” He took His stand upon His divinity and vanquished the doubt.
Một Đấng cao cả hơn Arjuna—người tượng trưng cho đệ tử trên đường hướng đến sự hoàn thiện—đã đối diện một vấn đề tương tự với lòng can đảm, đức tin và khát vọng, nhưng câu hỏi vẫn là một: Đời sống của linh hồn có phải là một thực tại không? Tôi có thiêng liêng không? Đức Christ đã đối diện vấn đề này mà không kinh hoàng, và chiến thắng bằng cách dùng một lời khẳng định có quyền năng lớn lao đến mức—vì lời ấy nêu lên một chân lý—ma quỷ tạm thời không thể chạm đến Ngài. Thực tế, Ngài đã nói: “Ta là Con của Thượng đế. Ngươi không được cám dỗ ta.” Ngài đứng vững trên thiên tính của Ngài và đánh bại nghi ngờ.
It is interesting to realise that humanity today stands in the glamour of doubt. Doubt is on every hand. It is an emotional matter. The clear, cool, analysing and synthesising intellect does not doubt in this sense; it questions and waits. [125] But it is in the Holy Place, with a full knowledge of what is written, and frequently after victory, that doubt descends upon the disciple. Perhaps, after all, that sense of divinity which has hitherto upheld the disciple is itself but glamour and not reality. That there have been experiences of a divine and supernatural nature the disciple cannot doubt. There have been moments when there has been “a sense of Divine access as different from other experiences, as original and inexplicable, as Sex or as the sense of Beauty—as hunger or thirst,” (‘The Divinity of Man’, by J. W. Graham, p.88.) for there is no question that “at the heart of all religion and all religions there is an experience unique, and not to be accounted for by evolution from other experience.” (‘The Divinity of Man’, by J. W. Graham, p.88.) But perhaps that too is simply phenomenal, and not real; something that passes, with no immortal basis; something that is experienced as part of the world glamour, but does not and cannot endure. Perhaps God is just a name for everything that is, and, for the individual conscious soul, there is no definite persistence, no essential divinity, and nothing real—only a momentary flash of an awareness. Let us put this sense of divinity to the test and see if, with the change of physical destruction, something lasts which is spirit and is immortal.
Thật thú vị khi nhận ra rằng nhân loại ngày nay đang đứng trong ảo cảm của nghi ngờ. Nghi ngờ có ở khắp nơi. Đó là một vấn đề cảm xúc. Trí năng sáng rõ, lạnh lùng, biết phân tích và tổng hợp không nghi ngờ theo nghĩa này; nó đặt câu hỏi và chờ đợi. [125] Nhưng chính trong Nơi Thánh, với tri thức đầy đủ về điều đã được viết ra, và thường sau chiến thắng, nghi ngờ giáng xuống trên đệ tử. Có lẽ, rốt cuộc, cảm thức về thiên tính vốn cho đến nay đã nâng đỡ đệ tử tự nó chỉ là ảo cảm chứ không phải thực tại. Đệ tử không thể nghi ngờ rằng đã có những kinh nghiệm thuộc bản chất thiêng liêng và siêu nhiên. Đã có những khoảnh khắc khi có “một cảm thức về sự tiếp cận Thiêng liêng khác với mọi kinh nghiệm khác, độc đáo và không thể giải thích, như Tính dục hoặc như cảm thức về Vẻ đẹp—như đói hoặc khát,” (‘Thiên Tính của Con Người’, của J. W. Graham, tr.88.) vì không có gì phải nghi vấn rằng “ở trung tâm của mọi tôn giáo và tất cả các tôn giáo có một kinh nghiệm độc nhất, không thể giải thích bằng sự tiến hoá từ kinh nghiệm khác.” (‘Thiên Tính của Con Người’, của J. W. Graham, tr.88.) Nhưng có lẽ điều đó nữa cũng chỉ đơn giản là hiện tượng, chứ không phải thực tại; một điều thoáng qua, không có nền tảng bất tử; một điều được kinh nghiệm như một phần của ảo cảm thế gian, nhưng không tồn tại và không thể tồn tại lâu dài. Có lẽ Thượng đế chỉ là một danh xưng cho tất cả những gì đang hiện hữu, và đối với linh hồn cá nhân có ý thức thì không có sự tồn tại bền vững rõ rệt, không có thiên tính cốt yếu, và không có gì là thực—chỉ có một tia chớp nhất thời của sự nhận biết. Chúng ta hãy đem cảm thức về thiên tính này ra thử nghiệm và xem liệu, cùng với biến đổi của sự hủy hoại hồng trần, có điều gì bền còn vốn là tinh thần và bất tử hay không.
As one studies the way in which Christ met this temptation one is inclined to believe that (having affirmed His belief in His Own Divinity) He simply ignored the temptation. His method was so brief and concise, and remains undeveloped as to detail. The way out, in this particular temptation, is dual: to recognise it for what it is, unreal, simply a glamour which has no true and lasting existence, just a delusion which assails us; and then to rest back upon the experience of God. If for one brief minute we have been in the Presence of God and known it, that is real. If the Presence of God in the human heart has at any moment, for an instant, been a reality, then let us take our stand upon that known and felt experience, refusing to deal with the [126] detail of the glamour of doubt, of emotion, of depression or of blindness in which we may temporarily find ourselves.
Khi nghiên cứu cách Đức Christ gặp cám dỗ này, người ta có khuynh hướng tin rằng, sau khi khẳng định niềm tin của Ngài vào Thiên Tính của Chính Ngài, Ngài chỉ đơn giản phớt lờ cám dỗ. Phương pháp của Ngài thật ngắn gọn và súc tích, và không được khai triển về chi tiết. Lối thoát, trong cám dỗ đặc biệt này, có tính nhị phân: nhận ra nó đúng như nó là, không thực, chỉ đơn giản là một ảo cảm không có sự tồn tại chân thật và lâu dài, chỉ là một huyễn hoặc tấn công chúng ta; rồi sau đó nương tựa vào kinh nghiệm về Thượng đế. Nếu trong một phút ngắn ngủi chúng ta đã ở trong Sự Hiện Diện của Thượng đế và biết điều đó, thì điều ấy là thực. Nếu Sự Hiện Diện của Thượng đế trong trái tim con người đã từng, dù chỉ trong một thoáng, là một thực tại, thì chúng ta hãy đứng vững trên kinh nghiệm đã biết và đã cảm nhận ấy, từ chối bàn đến [126] chi tiết của ảo cảm nghi ngờ, của cảm xúc, của sự suy sụp hoặc của sự mù quáng mà trong đó chúng ta có thể tạm thời thấy mình.
But the doubt in the world today will be solved only when men bring to bear upon the problems of humanity, of God and of the soul, not only the clear cool light of the intellect, illumined by the intuition, but also the potency of past experience. If the sense of God has persisted in the world for untold ages, and if the testimony of the mystics and saints, the seers and the Saviours of all time is historical and verifiable—as it is—then that testimony, in its wealth and universality, constitutes a fact as scientific as any other. These are days when a scientific fact seems to have some glamorous appeal. Cycles of mysticism, cycles of philosophy, cycles of scientific expression, cycles of rank materialism—such is the cyclic way we walk, and such is our history. But persistent through them all runs the thread of God’s Plan. Steadily through them all, the soul of man marches from one unfoldment of consciousness to another, and our concept of divinity constantly gains in richness and reality. That is the fact upon which humanity can stand, the divine soul in man. That is the fact upon which Christ took His stand when the devil tempted Him a second time.
Nhưng nghi ngờ trong thế giới ngày nay sẽ chỉ được giải quyết khi con người đem áp dụng vào các vấn đề của nhân loại, của Thượng đế và của linh hồn không chỉ ánh sáng sáng rõ, lạnh lùng của trí năng, được trực giác soi sáng, mà còn cả uy lực của kinh nghiệm quá khứ. Nếu cảm thức về Thượng đế đã tồn tại trong thế giới qua vô số thời đại, và nếu chứng ngôn của các nhà thần bí và các thánh nhân, các nhà thông nhãn và các Đấng Cứu Thế của mọi thời là có tính lịch sử và có thể kiểm chứng—và đúng là như vậy—thì chứng ngôn ấy, trong sự phong phú và tính phổ quát của nó, cấu thành một sự kiện khoa học như bất cứ sự kiện nào khác. Đây là những ngày mà một sự kiện khoa học dường như có sức hấp dẫn ảo cảm nào đó. Những chu kỳ của Thần bí học, những chu kỳ của triết học, những chu kỳ của biểu hiện khoa học, những chu kỳ của chủ nghĩa duy vật thô thiển—đó là con đường chu kỳ mà chúng ta bước đi, và đó là lịch sử của chúng ta. Nhưng xuyên suốt tất cả, sợi dây Thiên Cơ của Thượng đế vẫn bền bỉ chạy qua. Xuyên suốt tất cả, linh hồn con người đều đặn tiến bước từ sự khai mở tâm thức này sang sự khai mở tâm thức khác, và quan niệm của chúng ta về thiên tính không ngừng trở nên phong phú và thực tại hơn. Đó là sự kiện mà nhân loại có thể đứng vững trên đó: linh hồn thiêng liêng trong con người. Đó là sự kiện mà Đức Christ đã đứng vững trên đó khi ma quỷ cám dỗ Ngài lần thứ hai.