← From Bethlehem to Calvary – Alice A. Bailey song ngữ_fixed

CHAPTER THREE - The Second Initiation . . . The Baptism in Jordan – CHƯƠNG BA - Lần Điểm Đạo Thứ Hai . . . Phép Rửa tại Jordan

Trích nội dung chương

We find the human kingdom represented in Mary and Joseph, with the human unity plus the duality which are so essential to existence itself. In the newborn Babe divinity [70] expresses itself. Thus, in that little cave, the cosmos is represented. Chúng ta thấy giới nhân loại được đại diện nơi Mary và Joseph, với sự hợp nhất nhân loại cộng với nhị nguyên vốn hết sức thiết yếu cho chính hiện hữu. Trong Hài Nhi mới sinh, thiên tính [70] tự biểu lộ. Như vậy, trong hang đá nhỏ bé ấy, vũ trụ được đại diện.


We find the human kingdom represented in Mary and Joseph, with the human unity plus the duality which are so essential to existence itself. In the newborn Babe divinity [70] expresses itself. Thus, in that little cave, the cosmos is represented.

Chúng ta thấy giới nhân loại được đại diện nơi Mary và Joseph, với sự hợp nhất nhân loại cộng với nhị nguyên vốn hết sức thiết yếu cho chính hiện hữu. Trong Hài Nhi mới sinh, thiên tính [70] tự biểu lộ. Như vậy, trong hang đá nhỏ bé ấy, vũ trụ được đại diện.

When Christ was born in Bethlehem, a threefold Word sounded forth. “Glory to God in the highest, and on earth peace, good will toward men.” (St. Luke, II, 14.) A triple Word was then given to us. It was chanted by angels in the night to the shepherds tending their flocks in the fields surrounding the stable-cave where the infant Child lay. A unique event had happened in the cosmos, and the hosts of heaven did honour to it.

Khi Đức Christ sinh ra tại Bethlehem, một Linh từ tam phân đã được xướng vang. “Vinh danh Thượng đế trên các tầng cao nhất, và bình an dưới đất, thiện chí đối với loài người.” (St. Luke, II, 14.) Một Linh từ tam phân khi ấy đã được ban cho chúng ta. Nó được các thiên thần hát lên trong đêm cho những người chăn chiên đang chăm nom đàn vật trên các cánh đồng bao quanh hang-chuồng nơi Hài Nhi nằm. Một biến cố độc nhất vô nhị đã xảy ra trong vũ trụ, và các đạo binh thiên thượng đã tôn vinh biến cố ấy.

This question of the earth’s uniqueness has often troubled thinking people. Can so infinitesimal an atom in space as our planet be indeed of such interest to God that He permitted this great experiment to be tried here? Is the mystery of man and the significance of our purpose of such importance that nowhere else can it be paralleled?

Vấn đề về tính độc đáo của Trái Đất thường làm những người suy tư băn khoăn. Liệu một nguyên tử vô cùng nhỏ bé trong không gian như hành tinh của chúng ta thật sự có thể được Thượng đế quan tâm đến mức Ngài cho phép cuộc thí nghiệm vĩ đại này được thử nghiệm tại đây chăng? Liệu huyền nhiệm của con người và thâm nghĩa của mục đích chúng ta có quan trọng đến mức không nơi nào khác có thể có điều tương tự chăng?

Can anything really happen on this “ball of dust” of such vital import that it can warrant the angels in singing: “Glory to God in the highest, and on earth peace, good will towards men”? We like to think that it can be so. We dread the moment when our futility appears as we look upon the stars of heaven, realising that there are thousands of millions of universes and tens of thousands of millions of constellations! We are such specks in a great immensity.

Liệu điều gì thật sự có thể xảy ra trên “quả cầu bụi” này với tầm quan trọng thiết yếu đến mức có thể khiến các thiên thần xướng lên: “Vinh danh Thượng đế trên các tầng cao nhất, và bình an dưới đất, thiện chí đối với loài người”? Chúng ta thích nghĩ rằng có thể là như vậy. Chúng ta sợ giây phút khi sự vô nghĩa của mình hiện ra, khi chúng ta nhìn lên các vì sao trên trời, nhận ra rằng có hàng nghìn triệu vũ trụ và hàng chục nghìn triệu chòm sao! Chúng ta chỉ là những hạt bụi nhỏ bé trong một sự bao la vĩ đại.

Perhaps we are of more importance than we had guessed. Perhaps what happens to us in the realm of consciousness really does matter in the cosmic scheme. We know that it does not much matter what happens to the body. It is what happens in and through that body which counts. Perhaps what happens in and through the body, which we call a planet, indwelt likewise by God, is of vital moment in the plans of God Himself. This would give meaning to life; it is only when we apprehend meaning and appreciate it that we can understand the significance of the Word spoken at the birth of Christ. Let us paraphrase the message of the angels. It came from a group of beings and was spoken to [71] a group of beings. It is therefore a world message, a message which still awaits response. When the consciousness which is Christ’s has been awakened in all men, then we shall have peace on earth and goodwill among men. When this has taken place, then will God be glorified. The expression of our divinity will bring to an end the hatred rampant upon earth and break down all the separating walls which divide man from man, group from group, nation from nation, religion from religion. Where there is goodwill there must be peace; there must be organised activity and a recognition of the Plan of God, for that Plan is synthesis; that Plan is fusion; that Plan is unity and at-one-ment. Then Christ will be all in all, and God the Father will be glorified. This must be brought about by a living union with God through Christ—through the historical Christ Who revealed God, and through the individual Christ, hidden in every human heart, Who must be brought to birth. None of the Epistles in the New Testament make this so clear as the Epistle to the Ephesians, for there is given the picture of possibility in terms that leave no excuse for misinterpretation. This epistle is:

Có lẽ chúng ta quan trọng hơn điều chúng ta từng đoán. Có lẽ điều xảy ra với chúng ta trong lĩnh vực tâm thức thật sự có ý nghĩa trong kế hoạch vũ trụ. Chúng ta biết rằng điều xảy ra với thể xác không quan trọng lắm. Điều đáng kể là điều xảy ra trong và qua thể xác ấy. Có lẽ điều xảy ra trong và qua thân thể mà chúng ta gọi là một hành tinh, cũng được Thượng đế ngự bên trong, là điều có tầm quan trọng thiết yếu trong các kế hoạch của chính Thượng đế. Điều này sẽ đem lại ý nghĩa cho đời sống; chỉ khi chúng ta nắm bắt được ý nghĩa và trân trọng nó, chúng ta mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của Linh từ được xướng lên lúc Đức Christ sinh ra. Chúng ta hãy diễn ý thông điệp của các thiên thần. Nó đến từ một nhóm các sinh linh và được nói với [71] một nhóm các sinh linh. Vì thế, đó là một thông điệp thế giới, một thông điệp vẫn còn đang chờ sự đáp ứng. Khi tâm thức vốn là của Đức Christ được đánh thức trong tất cả mọi người, bấy giờ chúng ta sẽ có bình an trên Trái Đất và thiện chí giữa loài người. Khi điều này đã xảy ra, bấy giờ Thượng đế sẽ được tôn vinh. Sự biểu lộ thiên tính của chúng ta sẽ chấm dứt lòng thù hận đang lan tràn trên Trái Đất và phá đổ mọi bức tường chia cách con người với con người, nhóm với nhóm, quốc gia với quốc gia, tôn giáo với tôn giáo. Nơi nào có thiện chí, nơi đó phải có bình an; phải có hoạt động được tổ chức và sự nhận biết Thiên Cơ của Thượng đế, vì Thiên Cơ ấy là tổng hợp; Thiên Cơ ấy là sự dung hợp; Thiên Cơ ấy là hợp nhất và hiệp nhất. Bấy giờ Đức Christ sẽ là tất cả trong tất cả, và Thượng đế Cha sẽ được tôn vinh. Điều này phải được thực hiện bằng một sự hợp nhất sống động với Thượng đế qua Đức Christ — qua Đức Christ lịch sử, Đấng đã mặc khải Thượng đế, và qua Đức Christ cá nhân, ẩn giấu trong mỗi trái tim con người, Đấng phải được đưa vào cuộc sinh ra. Không thư tín nào trong Tân Ước làm điều này rõ ràng như Thư gửi tín hữu Ê-phê-sô, vì ở đó bức tranh về khả năng được trình bày bằng những thuật ngữ không để lại lý do nào cho sự diễn giải sai. Thư tín này là:

“... penetrated through by that idea of a living union with Christ, and indwelling in Him. It is expressed in many metaphors. We are rooted in Him as the tree in the soil, which makes it firm and fruitful. We are built into Him as the strong foundations of the Temple are bedded in the living rock. We live in Him as the limbs in the body.... The indwelling, we say, is reciprocal. He is in us and we are in Him. He is in us as the source of our being; we are in Him as filled with His fullness. He is in us all-communicative; we are in Him all-receptive. He is in us as the sunlight in the else darkened chamber; we are in Him as the cold green log cast into the flaming furnace glows through and through with ruddy and transforming heat. He is in us as the sap in the veins of the tree; we are in Him as the branches.”

“... được thấm nhuần xuyên suốt bởi ý tưởng về một sự hợp nhất sống động với Đức Christ, và sự ngự trong Ngài. Điều ấy được diễn tả bằng nhiều ẩn dụ. Chúng ta bén rễ trong Ngài như cây trong đất, điều làm cho nó vững chắc và sai trái. Chúng ta được xây vào Ngài như các nền móng vững chắc của Đền Thờ được đặt trong đá sống. Chúng ta sống trong Ngài như các chi thể trong thân thể.... Sự ngự vào bên trong, chúng ta nói, là hỗ tương. Ngài ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Ngài. Ngài ở trong chúng ta như nguồn cội của hiện hữu chúng ta; chúng ta ở trong Ngài như được lấp đầy bằng sự viên mãn của Ngài. Ngài ở trong chúng ta như Đấng thông truyền trọn vẹn; chúng ta ở trong Ngài như những kẻ tiếp nhận trọn vẹn. Ngài ở trong chúng ta như ánh mặt trời trong căn phòng vốn tối tăm; chúng ta ở trong Ngài như khúc gỗ tươi còn lạnh được ném vào lò lửa rực cháy, bừng sáng xuyên suốt bằng sức nóng hồng thắm và chuyển đổi. Ngài ở trong chúng ta như nhựa sống trong mạch cây; chúng ta ở trong Ngài như các cành cây.”

‘SERMONS’, A. MACLAREN, 3RD SERIES, PP. 71, 72.

‘CÁC BÀI GIẢNG’, A. MACLAREN, LOẠT 3, TR. 71, 72.

The realisation of this is needed today. Christ in God. God in Christ. Christ in you and Christ in me. This is [72] what will bring into being that one religion which will be the religion of love, of peace on earth, of universal goodwill, of divine understanding, and of the deep recognition of God. Then His impress and His life can be seen everywhere, in everybody and everything. The divine “signature” (as Boehme calls it) will everywhere be recognised. The life of God is today agitating the minds of men and causing them to move towards the birth chamber. From there they will pass into a new world where higher ideals and deeper contacts and richer understandings will characterise humanity.

Ngày nay cần có sự chứng nghiệm điều này. Đức Christ trong Thượng đế. Thượng đế trong Đức Christ. Đức Christ trong các bạn và Đức Christ trong tôi. Đây là [72] điều sẽ đưa vào hiện hữu tôn giáo duy nhất ấy, tôn giáo của tình thương, của bình an trên Trái Đất, của thiện chí phổ quát, của sự thấu hiểu thiêng liêng, và của sự nhận biết sâu xa về Thượng đế. Bấy giờ dấu ấn của Ngài và sự sống của Ngài có thể được thấy ở khắp nơi, trong mọi người và mọi sự. “Chữ ký” thiêng liêng, như Boehme gọi, sẽ được nhận biết ở khắp nơi. Sự sống của Thượng đế ngày nay đang khuấy động trí tuệ của con người và khiến họ tiến về phòng sinh. Từ đó họ sẽ đi vào một thế giới mới, nơi những lý tưởng cao hơn, những tiếp xúc sâu hơn và những thấu hiểu phong phú hơn sẽ đặc trưng cho nhân loại.

When Christ came, we read that those of vision who were prepared said, “We have seen his star in the East and are come to worship him.” (St. Matt., II, 2.) This was the Sign given to the few who were ready, and who had made the necessary journey to Bethlehem. But another sign was seen by the many, and given by the angel of the Lord to the shepherds who were watching in the fields by night. “And this shall be a sign unto you, Ye shall find the babe, wrapped in swaddling clothes, lying in a manger.” (St. Luke, II, 12.) Here was a sign given to those watching ones, two or three, who were ready to consecrate their all, who perceived the star of initiation flashing forth and hastened to the initiation chamber. The larger number, who were interested and watching, needed a more concrete and more easily interpreted sign and were sent to see the infant with his mother. Their attitude is expressed in the words, “Let us now go even unto Bethlehem and see this thing which is come to pass.” (St. Luke, II, 12.) But the three who understood came to worship and to give.

Khi Đức Christ đến, chúng ta đọc thấy rằng những người có tầm nhìn, đã được chuẩn bị, nói rằng: “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài ở phương Đông và đến để thờ lạy Ngài.” (St. Matt., II, 2.) Đây là Dấu hiệu được ban cho số ít người đã sẵn sàng và đã thực hiện hành trình cần thiết đến Bethlehem. Nhưng một dấu hiệu khác đã được nhiều người nhìn thấy, và được thiên thần của Chúa ban cho những người chăn chiên đang canh thức ngoài đồng ban đêm. “Và đây sẽ là dấu hiệu cho các ngươi: các ngươi sẽ thấy Hài Nhi, được quấn trong khăn, nằm trong máng cỏ.” (St. Luke, II, 12.) Ở đây có một dấu hiệu được ban cho những người đang canh thức ấy, hai hay ba người, những người sẵn sàng thánh hiến tất cả của mình, những người nhận ra ngôi sao điểm đạo lóe sáng và vội vã đến phòng điểm đạo. Số đông hơn, những người quan tâm và đang canh thức, cần một dấu hiệu cụ thể hơn và dễ diễn giải hơn, nên được sai đi để thấy hài nhi cùng mẹ của Ngài. Thái độ của họ được diễn tả trong những lời: “Chúng ta hãy đi ngay đến Bethlehem và xem việc đã xảy ra này.” (St. Luke, II, 12.) Nhưng ba người đã thấu hiểu thì đến để thờ lạy và dâng hiến.

When they saw this star shine forth, the three Kings undertook a journey and, laden with gifts, came to Bethlehem. They are symbols of those disciples in the world today who are ready to prepare themselves for the first initiation, to transmute their knowledge into wisdom, and to offer all that they have to the Christ within.

Khi họ thấy ngôi sao này chiếu sáng, ba vị Vua đã thực hiện một hành trình và, mang theo lễ vật, đến Bethlehem. Họ là biểu tượng của những đệ tử trên thế giới ngày nay, những người sẵn sàng tự chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, chuyển hoá tri thức của mình thành minh triết, và dâng hiến tất cả những gì họ có cho Đức Christ bên trong.

[73] The gifts they brought teach us the specific type of discipline which must be undergone in order to present to the Christ, at the time of the new birth, gifts which will be symbolic of achievement. These three offered to the infant Jesus three presents—gold, frankincense and myrrh. Let us study for a minute the specific importance of these to the individual would-be initiate. We are told by the esotericists that man is a three-fold person in his human nature, and this truth is endorsed by the psychologists through their investigations and research. He is a physical living body, he is a sum total of emotional reactions, and he is also that mysterious something which we call a mind. These three parts of a man—physical, emotional and mental—have to be offered in sacrifice, worship and as a free gift to the “Christ within” before that Christ can demonstrate through the disciple and initiate as He wishes to do. Gold is a symbol of the material nature, which must be consecrated to the service of God and of man. Frankincense symbolises the emotional nature, with its aspirations, wishes and longing, and this aspiration must rise as incense to the feet of God. Incense is also a symbol of purification, of that burning which removes all dross and leaves only the essence for the blessing of God. Myrrh or bitterness relates to the mind. It is through the mind that we suffer as human beings, and the further the race progresses and the more the mind develops, the greater seems the capacity for suffering. But when suffering is seen in its true light and dedicated to divinity, it can be used as an instrument whereby we approach nearer to God. Then we can offer to God that rare and wonderful gift of a mind made wise through pain, and a heart made kind through distress and through difficulty surmounted.

[73] Các lễ vật họ mang đến dạy chúng ta loại kỷ luật cụ thể phải trải qua để có thể dâng lên Đức Christ, vào thời điểm của cuộc sinh ra mới, những lễ vật tượng trưng cho thành tựu. Ba người này dâng cho hài nhi Jesus ba lễ vật — vàng, nhũ hương và mộc dược. Chúng ta hãy nghiên cứu trong chốc lát tầm quan trọng cụ thể của những thứ này đối với cá nhân muốn trở thành điểm đạo đồ. Các nhà bí truyền học cho chúng ta biết rằng con người là một ngôi vị tam phân trong bản chất nhân loại của mình, và chân lý này được các nhà tâm lý học xác nhận qua những khảo sát và nghiên cứu của họ. Y là một thể xác sống động, y là tổng thể các phản ứng cảm xúc, và y cũng là cái gì đó huyền nhiệm mà chúng ta gọi là thể trí. Ba phần này của con người — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — phải được dâng hiến trong hi sinh, thờ phụng và như một lễ vật tự do cho “Đức Christ bên trong” trước khi Đức Christ ấy có thể biểu lộ qua người đệ tử và điểm đạo đồ như Ngài muốn làm. Vàng là biểu tượng của bản chất vật chất, vốn phải được thánh hiến cho sự phụng sự Thượng đế và con người. Nhũ hương biểu tượng cho bản chất cảm xúc, với những khát vọng, ước muốn và niềm mong mỏi của nó, và khát vọng này phải dâng lên như hương thơm đến chân Thượng đế. Hương cũng là biểu tượng của sự thanh luyện, của ngọn lửa thiêu đốt loại bỏ mọi cặn bã và chỉ để lại tinh chất cho phúc lành của Thượng đế. Mộc dược hay vị đắng liên hệ đến thể trí. Chính qua thể trí mà chúng ta đau khổ với tư cách con người, và nhân loại càng tiến bộ, thể trí càng phát triển, thì khả năng đau khổ dường như càng lớn. Nhưng khi đau khổ được thấy trong ánh sáng chân thật của nó và được hiến dâng cho thiên tính, nó có thể được dùng như một khí cụ nhờ đó chúng ta tiến gần hơn đến Thượng đế. Bấy giờ chúng ta có thể dâng lên Thượng đế lễ vật hiếm quý và kỳ diệu của một thể trí đã trở nên minh triết qua đau đớn, và một trái tim đã trở nên nhân hậu qua thống khổ và qua khó khăn được vượt qua.

As we study the meaning of these three gifts brought by the disciples of old to the infant Jesus, and as we see their meaning as it applies to our individual situation, it becomes equally apparent that today humanity, as a race, stands before the infant Jesus, in the House of Bread, at the end of a [74] long journey, and can now offer, if it so will, the gifts of material life, of purification through the fires of adversity, and of the suffering to which it has been subjected. Humanity can journey from Galilee by way of Nazareth. Gold, the thing that today seems to be the very life-blood of the people, must be consecrated to the Christ. Frankincense, the dreams and visions and aspirations of the multitude, so real and deep that the nations everywhere are struggling for the expression of these dreams—these too must be dedicated and offered to the Christ, that He may be all in all. And the pain and suffering and agony of humanity, never before so acute as now, must surely be laid at the feet of Christ. We have learnt much. Let the meaning of it all penetrate into our hearts and minds, and let the reason of the pain drive us to offer it up as our ultimate gift to Christ. Pain is ever the accompaniment of birth. Suffering is found within every birth chamber. The realisation of this awakens the deepest and most constructive kind of optimism in the minds of those who ponder upon world suffering and agony. May it not indicate the birth pangs which precede the revelation of the Christ? When it is realised, then we can say with St. Paul:

Khi chúng ta nghiên cứu ý nghĩa của ba lễ vật này, do các đệ tử thời xưa mang đến cho hài nhi Jesus, và khi chúng ta thấy ý nghĩa của chúng khi áp dụng vào hoàn cảnh cá nhân của mình, thì cũng trở nên rõ ràng rằng ngày nay nhân loại, xét như một toàn thể, đang đứng trước hài nhi Jesus, trong Ngôi Nhà của Bánh, ở cuối một [74] hành trình dài, và giờ đây có thể dâng hiến, nếu họ muốn, các lễ vật của đời sống vật chất, của sự thanh luyện qua lửa nghịch cảnh, và của đau khổ mà họ đã phải chịu. Nhân loại có thể hành trình từ Galilee qua Nazareth. Vàng, thứ ngày nay dường như là chính huyết mạch của dân chúng, phải được thánh hiến cho Đức Christ. Nhũ hương, những giấc mơ, linh ảnh và khát vọng của quần chúng, chân thật và sâu xa đến mức các quốc gia khắp nơi đang đấu tranh cho sự biểu lộ của những giấc mơ ấy — những điều này cũng phải được hiến dâng và dâng lên cho Đức Christ, để Ngài có thể là tất cả trong tất cả. Và nỗi đau, đau khổ và thống khổ của nhân loại, chưa bao giờ sắc bén như hiện nay, chắc chắn phải được đặt dưới chân Đức Christ. Chúng ta đã học được nhiều điều. Hãy để ý nghĩa của tất cả những điều ấy thấm vào trái tim và trí tuệ chúng ta, và hãy để lý do của nỗi đau thúc đẩy chúng ta dâng nó lên như lễ vật tối hậu của chúng ta cho Đức Christ. Nỗi đau bao giờ cũng là bạn đồng hành của sự sinh ra. Đau khổ hiện diện trong mọi phòng sinh. Sự nhận ra điều này đánh thức trong trí tuệ của những người suy ngẫm về nỗi đau khổ và thống khổ của thế giới loại lạc quan sâu xa nhất và có tính xây dựng nhất. Chẳng lẽ nó không thể chỉ ra những cơn đau sinh nở đi trước sự mặc khải của Đức Christ sao? Khi điều này được nhận ra, bấy giờ chúng ta có thể nói cùng Thánh Paul:

“For His sake I have suffered the loss of everything, and reckon it all as mere refuse, in order that I may win Christ, and be found in Him, not having a righteousness of my own, derived from the Law, but that which arises from faith in Christ—the righteousness which comes from God through faith.... I do not say that I have already gained this knowledge or already reached perfection. But I press on, striving to lay hold of that for which I was also laid hold of by Christ Jesus.... But this one thing I do—forgetting everything which is past and stretching forward to what lies in front of me, with my eyes fixed on the goal, I push on to secure the prize of God’s heavenward call in Christ Jesus. Therefore let all of us who are mature believers cherish these thoughts; and if in any respect you think differently, that also God will make clear to you. But whatever be the point that we have already reached, let us persevere in the same course.”

“Vì Ngài, tôi đã chịu mất mọi sự, và xem tất cả như rác rưởi, để tôi có thể được Đức Christ, và được tìm thấy trong Ngài, không có sự công chính của riêng tôi, phát sinh từ Định luật, mà là sự công chính phát sinh từ đức tin nơi Đức Christ — sự công chính đến từ Thượng đế qua đức tin.... Tôi không nói rằng tôi đã đạt được tri thức này hay đã đạt đến sự hoàn thiện. Nhưng tôi tiến tới, nỗ lực nắm lấy điều mà vì nó tôi cũng đã được Đức Christ Jesus nắm lấy.... Nhưng một điều này tôi làm — quên mọi sự thuộc về quá khứ và vươn tới những gì nằm trước mặt tôi, mắt tôi hướng vào mục tiêu, tôi tiến tới để đoạt giải thưởng của lời kêu gọi hướng thiên của Thượng đế trong Đức Christ Jesus. Vì vậy, tất cả chúng ta, những tín hữu trưởng thành, hãy nuôi dưỡng những tư tưởng này; và nếu trong bất cứ phương diện nào các bạn nghĩ khác, điều đó Thượng đế cũng sẽ làm cho rõ đối với các bạn. Nhưng dù chúng ta đã đạt tới điểm nào, hãy kiên trì trong cùng một đường hướng.”

‘PHILIPPIANS, III, 8, 9, 12, 16’, WEYMOUTH TRANSLATION.

‘PHILIPPIANS, III, 8, 9, 12, 16’, BẢN DỊCH WEYMOUTH.

5

5

[75] The account of Christ’s childhood as given us in the Gospels is dismissed in a very few words. Only one episode is related, and that is the one in which Jesus, having reached the age of twelve years, was taken up by His Mother to the Temple of the Lord and there, for the first time, gave indication of His vocation, and evidenced the realisation that a mission was pre-ordained for Him. Prior to this, His parents had conformed to all the requirements of the Jewish ritual; they had also sojourned in Egypt. Of His time there, we are told nothing. All that we know is covered by the words:

[75] Tường thuật về tuổi thơ của Đức Christ như được trao cho chúng ta trong các Phúc Âm chỉ được nói qua bằng rất ít lời. Chỉ một biến cố được kể lại, và đó là biến cố trong đó Đức Jesus, khi đã đến tuổi mười hai, được Mẹ của Ngài đưa lên Đền Thờ của Chúa và tại đó, lần đầu tiên, Ngài cho thấy dấu hiệu về thiên chức của mình, và biểu lộ sự nhận ra rằng một sứ mệnh đã được tiền định cho Ngài. Trước đó, cha mẹ Ngài đã tuân thủ mọi yêu cầu của nghi lễ Do Thái; họ cũng đã lưu trú tại Ai Cập. Về thời gian Ngài ở đó, chúng ta không được kể gì. Tất cả những gì chúng ta biết được bao hàm trong những lời:

“They returned into Galilee to their own city Nazareth. And the child grew, and waxed strong in spirit, filled with wisdom, and the grace of God was upon Him.”

“Họ trở về Galilee, đến thành Nazareth của mình. Và hài nhi lớn lên, mạnh mẽ trong tinh thần, đầy minh triết, và ân điển của Thượng đế ở trên Ngài.”

ST. LUKE, II, 39, 40.

ST. LUKE, II, 39, 40.

Students would do well to remember that the number twelve is regarded by the esotericists of all faiths as signifying the number of completion; it recurs again and again in the various scriptures of the world. The following comments are of interest in this connection, showing as they do the significance of this number, and its relation to initiation:

Các đạo sinh nên nhớ rằng con số mười hai được các nhà bí truyền học của mọi tín ngưỡng xem là biểu thị con số của sự hoàn tất; nó tái xuất hiện hết lần này đến lần khác trong các thánh thư khác nhau của thế giới. Những nhận xét sau đây đáng quan tâm trong mối liên hệ này, vì chúng cho thấy thâm nghĩa của con số này, và mối liên hệ của nó với điểm đạo:

“The accomplishment of the age of twelve years signifies a full period of evolution when an initiation was undergone by the Christ-soul. This took place in the inner mind (the temple) and corresponded to an awakening of the logical and intuition sides of the soul. These are the father-mother principle, indicated by the presence of the parents.”

“Việc hoàn tất tuổi mười hai biểu thị một chu kỳ tiến hoá trọn vẹn, khi linh hồn-Christ trải qua một cuộc điểm đạo. Điều này diễn ra trong trí bên trong, tức đền thờ, và tương ứng với sự thức tỉnh của các mặt luận lý và trực giác của linh hồn. Đây là nguyên khí cha-mẹ, được chỉ ra bởi sự hiện diện của cha mẹ.”

‘DICTIONARY OF THE SACRED LANGUAGE OF ALL SCRIPTURES AND MYTHS’, BY G. A. GASKELL, P. 773.

‘TỪ ĐIỂN NGÔN NGỮ THIÊNG LIÊNG CỦA MỌI THÁNH THƯ VÀ THẦN THOẠI’, CỦA G. A. GASKELL, TR. 773.

And again,

Và lại nữa,

“This number (of the twelve disciples) is typified by many things in the Old Testament; by the 12 sons of Jacob, by the 12 princes of the Children of Israel; by the 12 running springs in Helim; by the 12 stones in Aaron’s breastplate; by the 12 loaves of the shew-bred; by the 12 spies sent by Moses; by the 12 stones [76] of which the altar was made; by the 12 stones taken out of Jordan; by the 12 oxen which bare the brazen sea. Also in the New Testament, by the 12 stars in the bride’s crown, by the 12 foundations of Jerusalem which John saw, and her 12 gates.”

“Con số này, tức mười hai đệ tử, được tiêu biểu bằng nhiều điều trong Cựu Ước; bằng 12 người con của Jacob, bằng 12 thủ lãnh của Con Cái Israel; bằng 12 suối nước chảy ở Helim; bằng 12 viên đá trên bảng đeo ngực của Aaron; bằng 12 ổ bánh bày ra; bằng 12 thám tử do Moses sai đi; bằng 12 viên đá [76] dùng để làm bàn thờ; bằng 12 viên đá được lấy ra khỏi Jordan; bằng 12 con bò đỡ biển bằng đồng. Cũng trong Tân Ước, bằng 12 ngôi sao trên vương miện của cô dâu, bằng 12 nền móng của Jerusalem mà John đã thấy, và 12 cổng của thành ấy.”

BISHOP RABANUS MANRUS, A.D. 857.

GIÁM MỤC RABANUS MANRUS, A.D. 857.

All these recurrences of twelve probably have their origin in the twelve signs of the zodiac, that imaginary belt in the heavens through which the sun appears to pass on its journey in the course of a year, and during its greater cycle of approximately 25,000 years.

Tất cả những lần tái xuất hiện của con số mười hai này có lẽ bắt nguồn từ mười hai dấu hiệu hoàng đạo, vành đai tưởng tượng trên bầu trời mà mặt trời dường như đi qua trong hành trình của nó trong một năm, và trong chu kỳ lớn hơn của nó kéo dài khoảng 25.000 năm.

Having completed the preparatory work, by His twelfth year Christ again underwent an intuitive experience, going up from Nazareth (the place of consecration) to the Temple, where that intuition led Him to a new realisation of His work. There is no sign that He knew in detail what that mission was; He went into no explanations to His Mother. He started to do the work that was the nearest duty, and to teach those whom He found in the Temple, astonishing them with His understanding and His answers. His mother, bewildered and distressed, called His attention to herself and to His father, but only received the calm answer, spoken with conviction, and so changing all life for her: “Wist ye not that I must be about my Father’s business?” (St. Luke, II, 49.) That business, as it developed in His consciousness in the passing of the years, became far broader and wider in its all-embracing love than the average orthodox Church seems willing to admit.

Sau khi hoàn tất công việc chuẩn bị, vào năm thứ mười hai của mình, Đức Christ lại trải qua một kinh nghiệm trực giác, đi lên từ Nazareth, nơi thánh hiến, đến Đền Thờ, nơi trực giác ấy dẫn Ngài đến một sự nhận ra mới về công việc của Ngài. Không có dấu hiệu nào cho thấy Ngài biết chi tiết sứ mệnh ấy là gì; Ngài không giải thích gì với Mẹ của Ngài. Ngài bắt đầu làm công việc vốn là bổn phận gần nhất, và dạy những người Ngài gặp trong Đền Thờ, khiến họ kinh ngạc bởi sự thấu hiểu và những câu trả lời của Ngài. Mẹ Ngài, bối rối và đau khổ, nhắc Ngài chú ý đến bà và đến cha Ngài, nhưng chỉ nhận được câu trả lời điềm tĩnh, được nói ra với niềm xác tín, và do đó làm đổi khác toàn bộ đời sống của bà: “Cha mẹ há chẳng biết rằng Con phải lo việc của Cha Con sao?” (St. Luke, II, 49.) Công việc ấy, khi phát triển trong tâm thức của Ngài qua những năm tháng trôi qua, đã trở nên bao la và rộng lớn hơn nhiều trong tình thương bao trùm tất cả của nó so với điều Giáo hội chính thống trung bình dường như sẵn lòng thừa nhận.

The extent of this mission slowly dawned upon His young mind and He began, as all truly initiate sons of God must perforce do, to function as God’s messenger as soon as the Vision was recognised, and in the place where He was. Having thus indicated His grasp of the future work, we read that “He went down with them (His parents), and came to Nazareth (the place of renewed consecration), and was subject unto them.... And Jesus increased in wisdom and stature, and in favour with God and man.” (St. Luke, II, 51, 52.)

Tầm mức của sứ mệnh này dần dần ló dạng trong trí tuệ trẻ trung của Ngài, và Ngài bắt đầu, như tất cả các Con của Thượng đế thật sự được điểm đạo tất yếu phải làm, hoạt động như sứ giả của Thượng đế ngay khi Tầm nhìn được nhận biết, và ngay tại nơi Ngài đang ở. Sau khi đã chỉ ra như thế sự nắm bắt của Ngài về công việc tương lai, chúng ta đọc thấy rằng “Ngài đi xuống với họ, tức cha mẹ Ngài, và đến Nazareth, nơi của sự thánh hiến được đổi mới, và vâng phục họ.... Và Đức Jesus tăng trưởng trong minh triết và tầm vóc, và trong ân sủng trước Thượng đế và con người.” (St. Luke, II, 51, 52.)

[77] Frequently in the Gospel story, we find the word “down” occurring. Christ went with His mother “down into Egypt”; He went “down to Nazareth”; and again and again He comes down from the mountain-top or from the place of solitude to do His duty among men. After the hidden experience in Egypt (for no account of this is given to us in the Bible), and after the revelation in the Temple and the acceptance of the task to be accomplished, Christ returns to the place of duty. In this case, and after the Birth initiation, for a period of thirty years, we are told, He functioned as a man in the daily life of the carpenter’s shop and in the home with His parents. This home life constituted the test to which He was subjected, and its importance cannot be overrated. Does it sound blasphemous to say that had He failed in this immediate duty, the rest of His work would have been abortive? If He had not succeeded in demonstrating divinity in the home circle and in the little town where His lot was cast, is it not possible that He would never have functioned as the world Saviour? He came to reveal to us our humanity as it could be, and will be, when we have finished with the long journey to Bethlehem. This constituted the uniqueness of His mission.

[77] Thường xuyên trong câu chuyện Phúc Âm, chúng ta thấy từ “xuống” xuất hiện. Đức Christ đi cùng mẹ Ngài “xuống Ai Cập”; Ngài đi “xuống Nazareth”; và hết lần này đến lần khác Ngài đi xuống từ đỉnh núi hay từ nơi cô tịch để thi hành bổn phận của Ngài giữa loài người. Sau kinh nghiệm ẩn giấu ở Ai Cập, vì Kinh Thánh không trao cho chúng ta tường thuật nào về điều này, và sau sự mặc khải trong Đền Thờ cùng việc chấp nhận nhiệm vụ phải hoàn thành, Đức Christ trở về nơi bổn phận. Trong trường hợp này, và sau cuộc điểm đạo Giáng Sinh, chúng ta được kể rằng trong một thời kỳ ba mươi năm, Ngài đã hoạt động như một con người trong đời sống hằng ngày của xưởng mộc và trong gia đình với cha mẹ Ngài. Đời sống gia đình này cấu thành thử thách mà Ngài phải chịu, và tầm quan trọng của nó dù được đánh giá cao đến đâu cũng không quá. Có nghe như phạm thượng không khi nói rằng nếu Ngài thất bại trong bổn phận trước mắt này, phần còn lại của công việc Ngài hẳn đã không thành? Nếu Ngài đã không thành công trong việc biểu lộ thiên tính trong vòng gia đình và trong thị trấn nhỏ nơi số phận đặt Ngài vào, chẳng phải có thể là Ngài sẽ không bao giờ hoạt động như Đấng Cứu Thế của thế gian sao? Ngài đến để mặc khải cho chúng ta nhân tính của chúng ta như nó có thể là, và sẽ là, khi chúng ta đã hoàn tất hành trình dài đến Bethlehem. Điều này cấu thành tính độc nhất của sứ mệnh Ngài.

Christ lived quietly in His home with His parents, undergoing that most difficult experience of home life, with its monotony, with its unvarying usualness, with its needed subordination to the group will and need, with its lessons of sacrifice, of understanding and of service. This is ever the first lesson which every disciple must learn. Until he has learnt it, he can make no further progress. Until divinity has been expressed in the home, and among those who know us well and are our familiar friends, it cannot be expected to express itself elsewhere. We must live as sons of God in the setting—uninteresting, drab and sometimes sordid—in which destiny places us; there is nowhere else at this stage that is possible. The place where we are is the place from which our journey begins, and not the place from which we escape. If we cannot make good as disciples where we are, [78] and in the place where we discover ourselves, no other opportunity will be offered us until we do. Here lies our test, and here lies our field of service. Many true and earnest aspirants feel that they could indeed make an impression on their surroundings and manifest divinely, if they had a different kind of home, a different environment or setting. Had they married differently, or had they more money or more leisure, could they meet with more sympathy from their friends, or had they better physical health, there is no saying what they might not accomplish. A test is something which tries our strength to see of what sort it is; it calls forth the utmost that is in us, and reveals to us where we are weak and where we fail. The need today is for dependable disciples and for those who have been so tested that they will not break or crack when difficulties come and dark places in life are encountered. We have, if we could but realise it, exactly those circumstances and that environment in which this lesson of obedience to the highest which is in us can be learnt. We have exactly the type of body and physical conditions through which the divinity in us can be expressed. We have those contacts in the world and the kind of work which are required in order to enable us to take the next step forward upon the path of discipleship, the next step to God. Until aspirants grasp this essential fact and happily settle down to a life of service and of giving lovingly in their own homes, they can make no progress. Until the path of life is trodden, happily, silently and with no self-pity in the home circle, no other lesson or opportunity will be given. Many very well-meaning aspirants need also to understand that they themselves are responsible for many of the difficulties which they encounter. Puzzled as to why they seem to evoke so much antagonism from those around them, they complain of meeting with no sympathetic response as they attempt to lead the spiritual life, to study, read and think. The reason can usually be found in the fact of their spiritual selfishness. They talk too much about their aspirations, and about themselves. Because they fail in their first responsibility, they find no [79] understanding reaction to their demand for time to meditate. It must be recognised that they are meditating. The house must be quiet; they must not be disturbed; no one must break in on them. None of these difficulties would arise if aspirants would remember two things: First, that meditation is a process carried on secretly, silently and regularly in the secret temple of a man’s own mind. Secondly, that much can be done if people would not talk so much about what they are doing. We need to walk silently with God, to keep ourselves, as personalities, in the background; to organise our lives in such a way that we can live as souls, giving due time to the culture of our souls, yet at the same time preserving a sense of proportion, retaining the affection of those around us, and fulfilling perfectly our responsibilities and obligations. Self-pity and too much talk are the rocks on which many an aspirant temporarily founders.

Đức Christ đã sống lặng lẽ trong mái nhà của Ngài với cha mẹ Ngài, trải qua kinh nghiệm khó khăn nhất của đời sống gia đình, với sự đơn điệu của nó, với tính thường nhật không đổi thay của nó, với sự phục tùng cần thiết đối với ý chí và nhu cầu của nhóm, với các bài học về hi sinh, về thấu hiểu và về phụng sự. Đây luôn luôn là bài học đầu tiên mà mọi đệ tử phải học. Cho đến khi y học được bài học ấy, y không thể tiến xa hơn. Cho đến khi thiên tính được biểu lộ trong gia đình, và giữa những người biết rõ chúng ta cùng là bạn bè thân thuộc của chúng ta, thì không thể mong nó biểu lộ ở nơi nào khác. Chúng ta phải sống như những Con của Thượng đế trong bối cảnh—không thú vị, xám xịt và đôi khi tồi tàn—mà định mệnh đặt chúng ta vào; ở giai đoạn này, không nơi nào khác là có thể. Nơi chúng ta đang ở chính là nơi cuộc hành trình của chúng ta bắt đầu, chứ không phải nơi để chúng ta trốn thoát. Nếu chúng ta không thể làm tốt vai trò đệ tử ngay nơi mình đang ở, [78] và trong nơi mình khám phá ra chính mình, thì sẽ không có cơ hội nào khác được trao cho chúng ta cho đến khi chúng ta làm được điều đó. Chính ở đây có thử thách của chúng ta, và chính ở đây có lĩnh vực phụng sự của chúng ta. Nhiều người chí nguyện chân thành và nghiêm túc cảm thấy rằng quả thật họ có thể tạo ấn tượng lên môi trường chung quanh và biểu lộ một cách thiêng liêng, nếu họ có một kiểu gia đình khác, một môi trường hay bối cảnh khác. Nếu họ đã kết hôn khác đi, hoặc nếu họ có nhiều tiền hơn hay nhiều thì giờ nhàn rỗi hơn, nếu họ có thể nhận được nhiều cảm thông hơn từ bạn bè, hoặc nếu họ có sức khỏe thể chất tốt hơn, thì không biết họ có thể hoàn thành đến mức nào. Một thử thách là điều kiểm nghiệm sức mạnh của chúng ta để xem nó thuộc loại nào; nó khơi dậy điều cao nhất trong chúng ta, và mặc khải cho chúng ta biết mình yếu ở đâu và thất bại ở đâu. Nhu cầu ngày nay là các đệ tử đáng tin cậy và những người đã được thử thách đến mức họ sẽ không gãy đổ hay rạn nứt khi khó khăn đến và khi phải gặp những chỗ tối tăm trong đời sống. Nếu chỉ có thể nhận ra điều đó, chúng ta đang có đúng những hoàn cảnh và môi trường trong đó bài học vâng phục điều cao nhất ở trong chúng ta có thể được học. Chúng ta có đúng kiểu thể xác và các điều kiện hồng trần qua đó thiên tính trong chúng ta có thể được biểu lộ. Chúng ta có những tiếp xúc trong thế gian và loại công việc cần thiết để giúp chúng ta bước bước kế tiếp tiến lên trên Con Đường Đệ Tử, bước kế tiếp hướng về Thượng đế. Cho đến khi những người chí nguyện nắm được sự kiện thiết yếu này và vui vẻ ổn định trong một đời sống phụng sự và hiến dâng đầy yêu thương ngay trong gia đình mình, họ không thể tiến bộ. Cho đến khi con đường đời được bước đi, một cách vui vẻ, lặng lẽ và không tự thương hại, trong vòng gia đình, sẽ không có bài học hay cơ hội nào khác được trao cho. Nhiều người chí nguyện rất thiện chí cũng cần thấu hiểu rằng chính họ chịu trách nhiệm về nhiều khó khăn họ gặp phải. Bối rối không hiểu vì sao dường như họ khơi dậy quá nhiều đối kháng nơi những người chung quanh, họ than phiền rằng không nhận được sự đáp ứng cảm thông nào khi họ cố gắng sống đời sống tinh thần, học hỏi, đọc và suy nghĩ. Lý do thường có thể tìm thấy trong sự ích kỷ tinh thần của họ. Họ nói quá nhiều về các khát vọng của mình, và về chính họ. Vì họ thất bại trong trách nhiệm đầu tiên của mình, họ không tìm thấy [79] phản ứng thấu hiểu nào đối với đòi hỏi của họ về thời gian để tham thiền. Mọi người phải biết rằng họ đang tham thiền. Căn nhà phải yên tĩnh; họ không được bị quấy rầy; không ai được xen vào họ. Không một khó khăn nào trong các khó khăn này sẽ nảy sinh nếu những người chí nguyện nhớ hai điều: Thứ nhất, tham thiền là một tiến trình được thực hiện kín đáo, lặng lẽ và đều đặn trong ngôi đền bí mật của chính thể trí con người. Thứ hai, có thể làm được nhiều điều nếu người ta không nói quá nhiều về những gì mình đang làm. Chúng ta cần bước đi lặng lẽ với Thượng đế, giữ chính mình, xét như các phàm ngã, ở phía sau; tổ chức đời sống của mình theo cách để chúng ta có thể sống như những linh hồn, dành thời gian thích đáng cho việc vun bồi linh hồn, nhưng đồng thời vẫn giữ Ý thức về tỉ lệ, duy trì tình thương mến của những người chung quanh, và hoàn thành trọn vẹn các trách nhiệm cùng bổn phận của mình. Sự tự thương hại và nói quá nhiều là những tảng đá khiến nhiều người chí nguyện tạm thời mắc cạn.

Through love and loving practice we prove ourselves initiate in the mysteries. Born into the world of love at Bethlehem, the keynote of our lives from then on must be obedience to the highest that is in us, love to all beings, and complete confidence in the power of the indwelling Christ to demonstrate (through the outer form of our personalities) the life of love. The life of Christ is a life to be lived today, eventually by all. It is a life of joy and happiness, of test and of problems, but its essence is love and its method is love. It leaves us an example that we should follow His steps, and carry on the work which He initiated.

Qua tình thương và thực hành yêu thương, chúng ta chứng tỏ mình là điểm đạo đồ trong các huyền nhiệm. Được sinh vào thế giới của tình thương tại Bethlehem, từ đó trở đi chủ âm của đời sống chúng ta phải là sự vâng phục điều cao nhất ở trong chúng ta, tình thương đối với mọi sinh linh, và niềm tin trọn vẹn vào quyền năng của Đức Christ nội tại để biểu hiện—qua hình tướng bên ngoài của các phàm ngã chúng ta—đời sống của tình thương. Đời sống của Đức Christ là một đời sống phải được sống hôm nay, sau cùng bởi tất cả mọi người. Đó là một đời sống của sự hoan hỉ và hạnh phúc, của thử thách và các vấn đề, nhưng tinh túy của nó là tình thương và phương pháp của nó là tình thương. Nó để lại cho chúng ta một tấm gương để chúng ta noi theo bước chân Ngài, và tiếp tục công việc mà Ngài đã khởi xướng.

As we have travelled with Christ from Bethlehem towards the time when the second initiation draws near, what is the lesson we have learnt? How can we sum up the significance of that episode in terms of practical individual application? Has this episode any personal significance? What are the requirements and the possibilities which confront us? If a study of these five developments in the life of Christ are of no profit to us, and if they concern an unfoldment which can have no possible human interpretation, then all that has been written and taught, down the centuries, proves futile and [80] unavailing. The ordinary theological applications no longer make an appeal to the developed intelligence of man. Christ Himself is ever powerful to attract human interest, and to draw to Himself those who have the vision to see truth as it is and to hear the Gospel message in terms which each new age demands. It is a waste of time to go on elaborating this ancient story of the living Christ if it contains for us no specific message, if all that is required of us is the attitude of the onlooker and of the man who simply says: “This is so.” This believing yet negative attitude has been held too long. Looking on at Christ from too great a distance, we have been so preoccupied with a realisation of His achievement that our own individual part to be played eventually and inevitably has been forgotten. We have allowed Him to do all the work. We have tried to copy Him, and He does not want to be copied. He seeks to have us prove to Him, to ourselves, and to the world, that the divinity which is in Him is in us also. We need to discover that we can be as He is, because we have seen Him. He has had boundless faith in us and in the fact that “we are all the children of God,” because “one is our Father,” and His call goes out for us to tread the Path of holiness, and to achieve that perfection to which His life challenges us and for which He Himself tells us to work.

Khi chúng ta đã cùng Đức Christ đi từ Bethlehem hướng đến thời điểm lần điểm đạo thứ hai đến gần, bài học chúng ta đã học là gì? Làm thế nào chúng ta có thể tóm lược thâm nghĩa của biến cố ấy theo những thuật ngữ áp dụng thực tiễn cho cá nhân? Biến cố này có thâm nghĩa cá nhân nào không? Những yêu cầu và những khả năng nào đang đối diện chúng ta? Nếu việc nghiên cứu năm sự phát triển này trong đời sống Đức Christ không đem lại ích lợi gì cho chúng ta, và nếu chúng liên quan đến một sự khai mở không thể có bất kỳ diễn giải nhân loại nào, thì tất cả những gì đã được viết và giảng dạy qua các thế kỷ đều chứng tỏ là vô ích và [80] không hiệu quả. Những áp dụng thần học thông thường không còn hấp dẫn trí tuệ phát triển của con người. Chính Đức Christ vẫn luôn có quyền năng thu hút sự quan tâm của nhân loại, và lôi cuốn về phía Ngài những người có tầm nhìn để thấy chân lý như nó là và để nghe thông điệp Phúc Âm theo những thuật ngữ mà mỗi kỷ nguyên mới đòi hỏi. Tiếp tục triển khai câu chuyện cổ xưa này về Đức Christ hằng sống là lãng phí thời gian nếu nó không chứa đựng cho chúng ta một thông điệp đặc thù nào, nếu tất cả những gì được đòi hỏi nơi chúng ta chỉ là thái độ của người đứng nhìn và của người chỉ đơn giản nói: “Điều này là như vậy.” Thái độ tin tưởng nhưng thụ động này đã được giữ quá lâu. Khi nhìn Đức Christ từ một khoảng cách quá xa, chúng ta đã quá bận tâm với việc nhận ra thành tựu của Ngài đến nỗi phần việc cá nhân của chính chúng ta, sau cùng và tất yếu phải được đảm nhận, đã bị quên lãng. Chúng ta đã để Ngài làm tất cả công việc. Chúng ta đã cố bắt chước Ngài, và Ngài không muốn được bắt chước. Ngài tìm cách để chúng ta chứng tỏ cho Ngài, cho chính mình và cho thế gian rằng thiên tính ở trong Ngài cũng ở trong chúng ta. Chúng ta cần khám phá rằng chúng ta có thể là như Ngài, bởi vì chúng ta đã thấy Ngài. Ngài đã có niềm tin vô hạn nơi chúng ta và nơi sự kiện rằng “tất cả chúng ta đều là con cái của Thượng đế,” bởi vì “Cha của chúng ta là một,” và lời kêu gọi của Ngài vang lên để chúng ta bước đi trên Đường Đạo thánh thiện, và đạt tới sự hoàn thiện mà đời sống Ngài thách thức chúng ta vươn tới và chính Ngài bảo chúng ta phải nỗ lực vì điều đó.

One wonders sometimes how right it has been for men to have accepted the ideas of St. Paul as given through translation down the centuries. The thought of sin is very little dwelt upon by Christ. It was emphasised by St. Paul, and the slant which he gave to Christianity is perhaps largely responsible for the dominant inferiority complex of the average Christian—an inferiority which Christ in no way taught. He calls us to holiness of life and admonishes us to follow in His steps, and not to follow in the steps, or to accept the interpretation of His words, which any disciple of His may advocate, no matter how highly esteemed or valuable.

Đôi khi người ta tự hỏi việc con người đã chấp nhận các ý tưởng của Thánh Paul như được truyền qua bản dịch suốt nhiều thế kỷ là đúng đến mức nào. Đức Christ rất ít chú trọng đến tư tưởng về tội lỗi. Điều đó đã được Thánh Paul nhấn mạnh, và khuynh hướng mà ông trao cho Kitô giáo có lẽ phần lớn chịu trách nhiệm cho phức cảm tự ti chủ đạo của người Kitô hữu trung bình—một sự tự ti mà Đức Christ tuyệt nhiên không dạy. Ngài kêu gọi chúng ta đến sự thánh thiện của đời sống và khuyên răn chúng ta đi theo bước chân Ngài, chứ không đi theo bước chân, hay chấp nhận cách diễn giải lời Ngài, mà bất kỳ đệ tử nào của Ngài có thể chủ trương, dù người ấy được kính trọng hay có giá trị đến đâu.

What is this holiness to which He calls us, when we take the first step toward the new birth? What is a holy man?

Sự thánh thiện này mà Ngài kêu gọi chúng ta hướng tới, khi chúng ta bước bước đầu tiên đến cuộc sinh ra mới, là gì? Một người thánh thiện là gì?

Wholeness, unity, at-one-ment, completeness—this is the [81] hall mark of a perfect man. Having once seen and with open eyes beheld the vision of divinity, what can we do? In this question our problem is voiced. What is the next step, the immediate duty of the man who knows that, in himself, the new birth has not yet taken place, but who feels in himself a readiness to go up to Bethlehem, from Galilee, via Nazareth?

Tính toàn vẹn, sự hợp nhất, sự hiệp nhất, tính viên mãn—đây là [81] dấu ấn của một con người hoàn thiện. Một khi đã thấy và với đôi mắt mở rộng chiêm ngưỡng linh ảnh về thiên tính, chúng ta có thể làm gì? Trong câu hỏi này, vấn đề của chúng ta được cất thành lời. Bước kế tiếp, bổn phận tức thời của người biết rằng, trong chính mình, cuộc sinh ra mới vẫn chưa diễn ra, nhưng cảm thấy trong mình một sự sẵn sàng đi lên Bethlehem, từ Galilee, qua Nazareth, là gì?

It entails, in the first place, effort. It means initiative, the expenditure of energy, the overcoming of inertia, and the will to exert oneself so that the initial journey can be taken. It means listening for and obeying the insistent demand of the soul for a nearer approach to God and a fuller expression of divinity; and yet “every individual is at some point torn between the splendid urge to go on towards understanding, and the craving to go back to safety.” (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, p. 47.)

Trước hết, điều đó đòi hỏi nỗ lực. Nó có nghĩa là sự chủ động, sự tiêu dùng năng lượng, việc vượt thắng Quán tính, và ý chí tự gắng sức để cuộc hành trình ban đầu có thể được thực hiện. Nó có nghĩa là lắng nghe và vâng phục đòi hỏi khẩn thiết của linh hồn về một sự tiếp cận gần hơn với Thượng đế và một sự biểu lộ đầy đủ hơn của thiên tính; tuy nhiên “mỗi cá nhân ở một điểm nào đó đều bị giằng xé giữa thôi thúc huy hoàng muốn tiến lên hướng tới sự thấu hiểu, và sự khao khát muốn quay về với an toàn.” (‘Tâm Lý Học và Ý Chí Prometheus’, của W. H. Sheldon, tr. 47.)

For there is difficulty and danger in the outlined way to the centre. Much is to be overcome and faced. The lower nature (the Mary aspect) draws back from the issue, and prefers inertia and stability to the needed activity and to consequent relative and temporary uncertainty.

Vì quả thật có khó khăn và nguy hiểm trên con đường đã được vạch ra dẫn đến trung tâm. Có nhiều điều phải được vượt qua và đối diện. Bản chất thấp (phương diện Mary) lùi lại trước vấn đề, và thích Quán tính cùng sự ổn định hơn hoạt động cần thiết và sự bất định tương đối, tạm thời theo sau đó.

This new birth is no mystical dream; neither is it a lovely vision of something that is possible but not probable; it is not simply a symbolic expression of some ultimate goal—lying ahead of us in some dim future, or in some other form of existence and some eventual heaven which we can attain if we fall back upon unthinking faith and blind acceptance of all that theology can tell us. Relatively easy to believe, this is the line of least resistance to the majority. It is difficult to fight one’s way to that stage of experience where the divine programme for man becomes clear, and the possibilities which Christ dramatised for us become something permitting us no rest until we have transmuted it into personal experience, through the experiment of initiation. The new birth is as much a natural event and as much a result of the evolutionary process as is the birth of a child into the world of physical life. Eternally, down the ages, men have made and will continue to make the great transition, proving the fact [82] of this experience. It is something which all must face at some time or other.

Cuộc sinh ra mới này không phải là một giấc mơ thần bí; cũng không phải là một linh ảnh đẹp đẽ về điều gì có thể nhưng không chắc xảy ra; nó không đơn thuần là một biểu đạt tượng trưng cho một mục tiêu tối hậu nào đó—nằm phía trước chúng ta trong một tương lai mờ xa, hoặc trong một hình thức tồn tại nào khác và một thiên đường chung cuộc nào đó mà chúng ta có thể đạt tới nếu dựa vào đức tin không suy nghĩ và sự chấp nhận mù quáng tất cả những gì thần học có thể nói với chúng ta. Tương đối dễ tin, đây là con đường ít trở ngại nhất đối với đa số. Thật khó để chiến đấu mở đường đến giai đoạn kinh nghiệm nơi chương trình thiêng liêng dành cho con người trở nên rõ ràng, và những khả năng mà Đức Christ đã trình hiện cho chúng ta trở thành điều không cho phép chúng ta nghỉ ngơi cho đến khi chúng ta đã chuyển hoá nó thành kinh nghiệm cá nhân, qua cuộc thử nghiệm điểm đạo. Cuộc sinh ra mới là một biến cố tự nhiên không kém và là một kết quả của tiến trình tiến hoá không kém gì sự sinh ra của một đứa trẻ vào thế giới của đời sống hồng trần. Vĩnh viễn, qua các thời đại, con người đã thực hiện và sẽ tiếp tục thực hiện cuộc Chuyển tiếp vĩ đại, chứng minh sự kiện [82] của kinh nghiệm này. Đó là điều mà tất cả mọi người phải đối diện vào lúc này hay lúc khác.

Two recognitions must emerge into the thought-world of the aspirant of today. First, the presence of the soul, a living entity which can and must be known through the process of bringing it to the birth upon the plane of daily living; and, secondly, the determination to achieve the re-orientation of the entire nature so that a closer identification with that soul may become possible, until a complete unity has been achieved. We begin to see what must be done, we begin to assume the right attitude which will make it possible. The halves of our essential duality—soul and body, Christ and Mary, over-shadowed by the Holy Ghost, the material and the spiritual—face each other and approach nearer and nearer until complete union is achieved and the Christ is born through the instrumentality of the Mother. But the acceptance of this divine idea and the orientation of the life in order to make the idea a fact are the first and immediate steps.

Hai sự nhận thức phải xuất hiện trong thế giới tư tưởng của người chí nguyện ngày nay. Thứ nhất, sự hiện diện của linh hồn, một thực thể sống động có thể và phải được biết đến qua tiến trình đưa nó đến sự sinh ra trên cõi đời sống hằng ngày; và thứ hai, quyết tâm đạt được sự tái định hướng của toàn bộ bản chất để một sự đồng hoá gần gũi hơn với linh hồn ấy có thể trở nên khả hữu, cho đến khi một sự hợp nhất trọn vẹn đã đạt được. Chúng ta bắt đầu thấy điều gì phải được làm, chúng ta bắt đầu đảm nhận thái độ đúng đắn sẽ khiến điều đó trở nên có thể. Hai nửa của Nhị nguyên thiết yếu trong chúng ta—linh hồn và thân thể, Đức Christ và Mary, được Chúa Thánh Thần phủ bóng, vật chất và tinh thần—đối diện nhau và tiến lại ngày càng gần cho đến khi sự hợp nhất trọn vẹn đạt được và Đức Christ được sinh ra qua trung gian của Người Mẹ. Nhưng việc chấp nhận ý tưởng thiêng liêng này và định hướng đời sống để biến ý tưởng thành sự kiện là những bước đầu tiên và tức thời.

This, Christ taught, and for this He prayed the Father.

Điều này, Đức Christ đã dạy, và vì điều này Ngài đã cầu nguyện với Cha.

“Neither pray I for these alone (His disciples), but for them also which shall believe on me through their word; that they all may be one; as thou, Father, art in me, and I in thee, that they all may be one in us: that the world may believe that thou hast sent me.... I in them, and thou in me, that they may be made perfect in one.”

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này mà thôi (các đệ tử của Ngài), mà cũng cho những ai sẽ tin nơi con qua lời họ; để tất cả họ đều nên một; như Cha, Cha ở trong con, và con ở trong Cha, để tất cả họ cũng nên một trong chúng ta: hầu thế gian tin rằng Cha đã sai con.... Con ở trong họ, và Cha ở trong con, để họ được làm cho hoàn thiện trong một.”

ST. JOHN, XVII, 20-23.

THÁNH GIOAN, XVII, 20-23.

This is the doctrine of the At-one-ment; God, immanent in the universe—the cosmic Christ. God, immanent in humanity, revealed through the historical Christ. God, immanent in the individual, the indwelling Christ, the soul.

Đây là giáo lý về sự Hiệp Nhất; Thượng đế, nội tại trong vũ trụ—Đức Christ vũ trụ. Thượng đế, nội tại trong nhân loại, được mặc khải qua Đức Christ lịch sử. Thượng đế, nội tại trong cá nhân, Đức Christ nội tại, linh hồn.

How can this truth of the soul and the new birth be experienced, so simply and so practically that its meaning can appear, thus enabling us to do that which is needed? Perhaps from the following statements:

Làm thế nào chân lý này về linh hồn và cuộc sinh ra mới có thể được kinh nghiệm, một cách đơn giản và thực tiễn đến mức ý nghĩa của nó có thể hiện ra, nhờ đó giúp chúng ta làm điều cần thiết? Có lẽ qua các phát biểu sau:

1. Hidden in every human being is the “Word incarnate,” [83] the Son of God made flesh. This is “Christ in us, the hope of Glory,” but as yet only a hope for the mass of men. Christ is not yet made manifest. He is hidden and veiled by the form. Mary is seen, not the Christ.

1. Ẩn giấu trong mỗi con người là “Linh từ nhập thể,” [83] Con của Thượng đế trở thành xác thịt. Đây là “Đức Christ trong chúng ta, niềm hi vọng của Vinh Quang,” nhưng đối với đại đa số con người, hiện nay vẫn chỉ là một niềm hi vọng. Đức Christ chưa được biểu hiện. Ngài còn ẩn giấu và bị che phủ bởi hình tướng. Mary được thấy, chứ không phải Đức Christ.

2. As the wheel of life (the Galilee experience) carries us from one lesson to another, we approach nearer and nearer to the indwelling reality and the hidden deity. But the Christ Child is still hidden in the womb of the form.

2. Khi bánh xe đời sống (kinh nghiệm Galilee) đưa chúng ta từ bài học này sang bài học khác, chúng ta tiến ngày càng gần hơn đến thực tại nội tại và Thượng đế ẩn giấu. Nhưng Hài Nhi Christ vẫn còn ẩn giấu trong lòng dạ của hình tướng.

3. In due time, the personality—physical, emotional and mental—is fused into one living whole. The Virgin Mary is ready to give birth to her Son.

3. Đúng thời điểm, phàm ngã—thể xác, cảm xúc và trí tuệ—được dung hợp thành một toàn thể sống động. Trinh Nữ Mary sẵn sàng sinh Con của bà.

4. The long journey draws to a close, and the hidden Christ Child is born at the first initiation.

4. Cuộc hành trình dài đi đến hồi kết, và Hài Nhi Christ ẩn giấu được sinh ra ở lần điểm đạo thứ nhất.

This truth Dr. Inge touches upon in these words:

Chân lý này, Tiến sĩ Inge đề cập đến trong những lời sau:

“Macarius, following Methodius, teaches that the very idea of the Incarnation includes the union of the Logos with pious souls, in whom He is well-pleased. In each of them a Christ is born. Thus besides the ideas of Ransom and Sacrifice of Christ for us, these theologians placed the ideas of sanctification and inner transformation of Christ in us, and they considered the latter as real and as integral a part of our redemption as the former. But the doctrine of Divine Immanence in the human heart never became quite the central truth of theology till the time of the medieval mystics. It is Eckhart who says: ‘The Father speaks the Word into the soul, and when the Son is born, every soul becomes Mary.’ ”

“Macarius, theo Methodius, dạy rằng chính ý tưởng về Sự Nhập Thể bao gồm sự hợp nhất của Logos với các linh hồn đạo hạnh, nơi đó Ngài hài lòng. Trong mỗi linh hồn ấy, một Đức Christ được sinh ra. Như vậy, bên cạnh các ý tưởng về Sự Chuộc Tội và Sự Hi Sinh của Đức Christ vì chúng ta, các nhà thần học này đặt các ý tưởng về sự thánh hóa và chuyển đổi nội tâm của Đức Christ trong chúng ta, và họ xem điều sau cũng thực và cũng là một phần toàn vẹn của sự cứu chuộc chúng ta như điều trước. Nhưng giáo lý về Sự Nội Tại Thiêng Liêng trong trái tim con người chưa bao giờ thật sự trở thành chân lý trung tâm của thần học cho đến thời các nhà thần bí trung cổ. Chính Eckhart là người nói: ‘Cha phán Linh từ vào linh hồn, và khi Con được sinh ra, mọi linh hồn đều trở thành Mary.’ ”

‘THE PADDOCK LECTURES’, BY W. R. INGE, P. 66.

‘NHỮNG BÀI GIẢNG PADDOCK’, CỦA W. R. INGE, TR. 66.

We are summoned to the new birth. Our personalities are now alive with potentiality. The hour is upon us.

Chúng ta được triệu gọi đến cuộc sinh ra mới. Các phàm ngã của chúng ta hiện đang sống động với tiềm năng. Giờ đã đến với chúng ta.

The human soul must hear the challenge of the Christ soul, and realise that “Mary is blessed, not because she bore Christ bodily, but because she bore Him spiritually, and in this everyone can become like her.” (Eckhart.)

Linh hồn con người phải nghe thách thức của linh hồn Christ, và nhận ra rằng “Mary được phúc, không phải vì bà đã mang Đức Christ trong thân xác, mà vì bà đã mang Ngài về mặt tinh thần, và trong điều này mọi người đều có thể trở nên giống bà.” (Eckhart.)

CHAPTER THREE - The Second Initiation . . . The Baptism in Jordan – CHƯƠNG BA - Lần Điểm Đạo Thứ Hai . . . Phép Rửa tại Jordan

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG THEN CHỐT

“It is a propitious moment to put the Christian life into serious practice.... At a time of catastrophe, a process of ascetic purification takes place, in the absence of which there can be no spiritual life, whether for society or for the individual....”

“Đây là một thời điểm thuận lợi để đưa đời sống Kitô hữu vào thực hành nghiêm túc.... Vào thời kỳ tai biến, một tiến trình thanh luyện khổ hạnh diễn ra, nếu thiếu nó thì không thể có đời sống tinh thần, dù cho xã hội hay cho cá nhân....”

‘FREEDOM OF THE SPIRIT’, BY NICHOLAS BERDYAEV, P. 46.

‘TỰ DO CỦA TINH THẦN’, CỦA NICHOLAS BERDYAEV, TR. 46.

1

1

[87] “Wherever a thing is both perceived and felt, there is the experience of the soul; and whenever a thought and a feeling become indistinguishable, there is the soul. Soul means oneness, unity, union between the inner wish and outer reality. As man moves toward acceptance of the universe, toward compatibility between what he feels as a wish from within, and what he perceives as the arrangement without, and as both elements expand, the soul moves towards greatness.” (Italics are mine. A. A. B.) (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, p. 130.)

[87] “Bất cứ nơi nào một sự vật vừa được tri nhận vừa được cảm nhận, nơi đó có kinh nghiệm của linh hồn; và bất cứ khi nào một tư tưởng và một cảm xúc trở nên không thể phân biệt, nơi đó có linh hồn. Linh hồn hàm ý sự nhất thể, sự hợp nhất, sự kết hợp giữa ước muốn bên trong và thực tại bên ngoài. Khi con người tiến tới sự chấp nhận vũ trụ, tới sự tương hợp giữa điều y cảm thấy như một ước muốn từ bên trong, và điều y tri nhận như trật tự bên ngoài, và khi cả hai yếu tố mở rộng, linh hồn tiến tới sự vĩ đại.” (Chữ nghiêng là của tôi. A. A. B.) (‘Tâm Lý Học và Ý Chí Prometheus’, của W. H. Sheldon, tr. 130.)

The first initiation has taken place. Christ has been born in Bethlehem. The soul has come into outer expression, and now this soul—Christ (as the historical representative of all a soul can be), the individual initiate—moves on towards greatness. The mission of the Saviour definitely starts at this time, but for the sake of those who will follow after, He must sound the note of purification and conform to the ritual requirements and the general trend of thought of His time. The initiate who has taken the first step must lay emphasis upon the purification of the lower nature which it is essential should preface the second initiation. The baptism of John was the symbol of this purification. Christ submitted Himself to the baptism, setting aside the protests of the Evangelist with His: “Suffer it to be so now; for thus it becometh us to fulfil all righteousness.” (St. Matt., III, 15.)

Lần điểm đạo thứ nhất đã diễn ra. Đức Christ đã được sinh ra tại Bethlehem. Linh hồn đã đi vào sự biểu lộ bên ngoài, và giờ đây linh hồn này—Đức Christ (như đại diện lịch sử của tất cả những gì một linh hồn có thể là), điểm đạo đồ cá nhân—tiến lên hướng tới sự vĩ đại. Sứ mệnh của Đấng Cứu Rỗi nhất định bắt đầu vào lúc này, nhưng vì những người sẽ theo sau, Ngài phải xướng âm điệu thanh luyện và tuân theo các đòi hỏi nghi lễ cùng khuynh hướng tư tưởng chung của thời Ngài. Điểm đạo đồ đã bước bước đầu tiên phải nhấn mạnh sự thanh luyện bản chất thấp, điều thiết yếu phải đi trước lần điểm đạo thứ hai. Phép rửa của John là biểu tượng của sự thanh luyện này. Đức Christ đã tự mình thuận theo phép rửa, gạt sang một bên những phản đối của vị Tác giả Phúc Âm bằng lời của Ngài: “Bây giờ cứ làm như vậy; vì như thế là thích hợp để chúng ta hoàn tất mọi sự công chính.” (Thánh Matthew, III, 15.)

Christ had reached maturity. Tradition tells us that He [88] was thirty years old when He was baptised and started on His brief and spectacular public career. How true this may be historically, who can say? It is of no real importance. Christ was, is, and ever shall be. Speaking symbolically, it was necessary that He should be thirty years old, for there is significance in that number, where humanity is concerned. Thirty signifies the perfecting of the three aspects of the personality—the physical body, the emotional nature, and the mind. These three compose the form side of man, and veil or hide the soul. They are in reality his mechanism of contact with the outer world, the equipment whereby his consciousness unfolds and awakens. In their totality they constitute his “response apparatus,” as the psychologists call it. We know that man is a physical animal as well as an emotional, sentient being and a thinking entity. When these three parts of man’s lower nature are functioning smoothly, and together form a unit for the use of the inner man, an integrated personality, or an efficient lower self, is the result. To this the number thirty testifies. Ten is the number of perfection, and thirty testifies to perfection in all three parts of the equipment of the soul.

Đức Christ đã đạt đến sự trưởng thành. Truyền thống nói với chúng ta rằng Ngài [88] ba mươi tuổi khi Ngài được rửa tội và bắt đầu sự nghiệp công khai ngắn ngủi nhưng huy hoàng của Ngài. Điều này đúng đến đâu về mặt lịch sử, ai có thể nói? Nó không thật sự quan trọng. Đức Christ đã, đang và mãi mãi sẽ hiện hữu. Nói theo biểu tượng, điều cần thiết là Ngài phải ba mươi tuổi, vì con số ấy có thâm nghĩa khi liên quan đến nhân loại. Ba mươi biểu thị sự hoàn thiện của ba phương diện của phàm ngã—thể xác, bản chất cảm xúc, và thể trí. Ba điều này hợp thành mặt hình tướng của con người, và che phủ hay ẩn giấu linh hồn. Thực ra chúng là bộ máy tiếp xúc của y với thế giới bên ngoài, là trang bị nhờ đó tâm thức của y khai mở và thức tỉnh. Trong toàn thể của chúng, chúng cấu thành “bộ máy đáp ứng” của y, như các nhà tâm lý học gọi. Chúng ta biết rằng con người là một động vật hồng trần cũng như là một sinh linh có cảm xúc, có tri giác và là một thực thể biết suy nghĩ. Khi ba phần này của bản chất thấp nơi con người vận hành trôi chảy, và cùng nhau tạo thành một đơn vị để con người bên trong sử dụng, kết quả là một Phàm ngã tích hợp, hay một phàm ngã hữu hiệu. Con số ba mươi chứng thực điều này. Mười là con số của sự hoàn thiện, và ba mươi chứng thực sự hoàn thiện trong cả ba phần của trang bị của linh hồn.

It is interesting to bear in mind that through these three aspects (or reflections of the divine being) man is brought en rapport with the existing universe, and therefore with God, immanent in nature. The physical body enables us to touch the tangible, visible world. The emotional, feeling nature enables us to say, “I lift up my heart unto the Lord.” Most people live in their heart nature and in the feeling body, and it is through the heart that we find our way to the Heart of God. Only through love can Love be revealed. When through right use and understanding the mind is definitely directed and properly oriented, it is brought en rapport with the Mind of God, the Universal Mind, the Purpose, the Plan and the Will of God. Through the illumined mind of man, the Mind of Deity stands revealed. Thus man is seen as “made in the image of God.” (Genesis, I, 26.)

Thật thú vị khi ghi nhớ rằng qua ba phương diện này (hay những phản chiếu của bản thể thiêng liêng), con người được đưa vào mối tương giao với vũ trụ hiện hữu, và do đó với Thượng đế, nội tại trong thiên nhiên. Thể xác giúp chúng ta chạm đến thế giới hữu hình, có thể sờ nắm. Bản chất cảm xúc, cảm nhận giúp chúng ta nói: “Con nâng trái tim con lên với Chúa.” Hầu hết mọi người sống trong bản chất trái tim và trong thể cảm xúc, và chính qua trái tim mà chúng ta tìm đường đến Trái Tim của Thượng đế. Chỉ qua tình thương, Tình thương mới có thể được mặc khải. Khi nhờ sử dụng đúng đắn và thấu hiểu, thể trí được hướng dẫn dứt khoát và định hướng đúng mức, nó được đưa vào mối tương giao với Trí của Thượng đế, Vũ Trụ Trí, Thiên Ý, Thiên Cơ và Ý Chí của Thượng Đế. Qua thể trí được soi sáng của con người, Trí của Thượng Đế được mặc khải. Như vậy, con người được thấy là “được tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế.” (Sáng Thế Ký, I, 26.)

[89] At the second initiation Christ stood before God, the Initiator, with all these aspects purified and matured; His mechanism was adjusted and ready for the task, and thus enabled to give proof of that purification and tension in attitude which would enable Him to carry through His mission to a satisfactory conclusion. This He had to prove to God and man through the purification which the baptism could give, and through the subsequent temptations in the wilderness. Ready for His work, He possessed what Dr. Sheldon calls “the three cardinal elements of a great mind, namely, enthusiasm, intuitive insight, and systematized factual equipment,” and it is further pointed out that the first two “are the more vital two, for they cannot be acquired if a person has reached adult life without them.” (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, p. 135.)

[89] Ở lần điểm đạo thứ hai, Đức Christ đứng trước Thượng đế, Đấng Điểm đạo, với tất cả các phương diện này đã được thanh luyện và trưởng thành; bộ máy của Ngài đã được điều chỉnh và sẵn sàng cho nhiệm vụ, và nhờ vậy có thể đưa ra bằng chứng về sự thanh luyện và điểm tập trung nhất tâm trong thái độ, điều sẽ giúp Ngài hoàn thành sứ mệnh của Ngài đến kết quả thỏa đáng. Ngài phải chứng minh điều này trước Thượng đế và con người qua sự thanh luyện mà phép rửa có thể đem lại, và qua những cám dỗ sau đó trong hoang địa. Sẵn sàng cho công việc của Ngài, Ngài sở hữu điều mà Tiến sĩ Sheldon gọi là “ba yếu tố chủ yếu của một trí tuệ vĩ đại, tức là, nhiệt thành, linh thị trực giác, và trang bị sự kiện được hệ thống hóa,” và ông còn chỉ ra rằng hai yếu tố đầu “là hai yếu tố thiết yếu hơn, vì chúng không thể đạt được nếu một người đã đến tuổi trưởng thành mà không có chúng.” (‘Tâm Lý Học và Ý Chí Prometheus’, của W. H. Sheldon, tr. 135.)

Christ stood thus equipped.

Đức Christ đã đứng đó, được trang bị như vậy.

It may be of value if we study here for a few minutes the purpose for which He stood thus equipped. We saw in our last chapter that this planet we call the Earth, is regarded by many modern scientists of eminence as probably unique in its constitution and its purpose. It apparently provides a conditioning of life to be found on no other planet. This may or may not be so, and only the unfoldment of man’s consciousness can verify or negate this theory of uniqueness. Today, as we look out upon our planetary life, in all kingdoms the vision is discouraging. In all kingdoms we find death and disease, and in the animal and human kingdoms not only these, but also violence of many kinds. In the human family particularly the vision is saddening, so little have we learnt to understand that for which Christ stood, and so little have we gained from the purificatory processes of modern living. The will to betterment can be seen working in many fields where individuals are concerned, but the impulse is still weak in humanity as a whole. However, it can be aroused and we shall thus awaken to our environing responsibilities when we study anew the message of love which Christ gave.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu tại đây chúng ta nghiên cứu trong vài phút mục đích mà vì đó Ngài đã đứng đó, được trang bị như vậy. Trong chương trước, chúng ta đã thấy rằng hành tinh này, mà chúng ta gọi là Trái Đất, được nhiều nhà khoa học hiện đại lỗi lạc xem là có lẽ độc nhất trong cấu tạo và mục đích của nó. Dường như nó cung cấp một sự tác động lên đời sống không tìm thấy trên bất kỳ hành tinh nào khác. Điều này có thể đúng hoặc không, và chỉ sự khai mở của tâm thức con người mới có thể xác minh hay phủ định lý thuyết về tính độc nhất này. Ngày nay, khi nhìn ra đời sống hành tinh của chúng ta, trong mọi giới, tầm nhìn thật nản lòng. Trong mọi giới, chúng ta thấy sự chết và bệnh tật, và trong giới động vật cùng giới nhân loại không chỉ có những điều này, mà còn có bạo lực đủ loại. Đặc biệt trong gia đình nhân loại, tầm nhìn thật buồn thảm, chúng ta đã học được quá ít để thấu hiểu điều mà Đức Christ đại diện, và đã thu nhận quá ít từ các tiến trình thanh luyện của đời sống hiện đại. Ý chí cải thiện có thể được thấy đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực nơi các cá nhân liên hệ, nhưng xung lực ấy vẫn còn yếu trong nhân loại như một toàn thể. Tuy nhiên, nó có thể được khơi dậy và do đó chúng ta sẽ thức tỉnh trước các trách nhiệm bao quanh mình khi chúng ta nghiên cứu lại thông điệp tình thương mà Đức Christ đã trao.

[90] It is probably true that Christ came to us with a wider and deeper message than any previous Messenger from the Centre, but this in no way detracts from the status and work of Those Who preceded Him. He came at a crucial time, and in a period of world crisis, and embodied in Himself a cosmic principle—the principle of Love, which is the outstanding quality of God. Other aspects, qualities and purposes of the divine nature had been revealed by earlier incarnations of God, and appeared as the race reached the point in its development where a right reaction was possible. Zarathustra, to mention one such Messenger, had called the attention of mankind to the fact of the two basic principles to be found in the world—those of good and of evil—thus emphasising the basic dualities of existence. Moses revealed the Law, calling men to recognise God as the principle of justice, even if it may seem an unloving justice to those of us who live after the revelation which Christ gave. Buddha embodied in Himself the principle of divine wisdom and, with clear insight into the world of causes, saw mortal existence as it was and pointed the way out. But the principle of Love—the fundamental principle of the universe—had not been revealed before Christ came. God is love, and in the fullness of time this outstanding characteristic of the divine name had to be revealed and in such a manner that man could grasp it. It is thus that Christ embodied in Himself the greatest of the cosmic principles. This Law of Love can be seen functioning in the universe as the Law of Attraction, with all that is involved in that term—coherency, integration, position, direction and the rhythmic running of our solar system; it can be seen also in the disposition of God towards humanity, as revealed to us through Christ. This unique function of Christ as the custodian and the revealer of a cosmic principle or energy lies behind all He did; it was the basis and the result of His achieved perfection; it was the incentive and impulsion to His life of service, and it is the principle upon which the kingdom of God is founded.

[90] Có lẽ đúng rằng Đức Christ đã đến với chúng ta với một thông điệp rộng hơn và sâu hơn bất kỳ Sứ giả nào trước đó từ Trung Tâm, nhưng điều này tuyệt nhiên không làm giảm địa vị và công việc của Những Đấng đi trước Ngài. Ngài đến vào một thời điểm then chốt, và trong một thời kỳ khủng hoảng thế giới, và tự thân Ngài hiện thân một nguyên khí vũ trụ—nguyên khí Tình thương, vốn là phẩm tính nổi bật của Thượng đế. Các phương diện, phẩm tính và mục đích khác của bản chất thiêng liêng đã được mặc khải bởi những lần nhập thể trước của Thượng đế, và xuất hiện khi nhân loại đạt đến điểm trong sự phát triển của mình nơi một phản ứng đúng đắn là có thể. Zarathustra, để nêu một Sứ giả như vậy, đã kêu gọi sự chú ý của nhân loại đến sự kiện về hai nguyên khí căn bản có trong thế giới—nguyên khí thiện và nguyên khí ác—như vậy nhấn mạnh những Nhị nguyên căn bản của hiện tồn. Moses mặc khải Định luật, kêu gọi con người nhận ra Thượng đế như nguyên khí của công lý, dù nó có thể dường như là một công lý thiếu tình thương đối với những ai trong chúng ta sống sau sự mặc khải mà Đức Christ đã trao. Đức Phật tự thân Ngài hiện thân nguyên khí minh triết thiêng liêng và, với linh thị rõ ràng vào thế giới của các nguyên nhân, đã thấy sự tồn tại hữu tử như nó là và chỉ ra con đường thoát ra. Nhưng nguyên khí Tình thương—nguyên khí nền tảng của vũ trụ—chưa được mặc khải trước khi Đức Christ đến. Thượng đế là tình thương, và khi thời gian viên mãn, đặc tính nổi bật này của danh Thượng đế phải được mặc khải theo cách con người có thể nắm bắt. Chính như vậy Đức Christ đã tự thân Ngài hiện thân nguyên khí vĩ đại nhất trong các nguyên khí vũ trụ. Định luật Tình thương này có thể được thấy đang vận hành trong vũ trụ như Định luật Hấp Dẫn, với tất cả những gì được bao hàm trong thuật ngữ ấy—sự cố kết, sự tích hợp, vị trí, phương hướng và sự vận hành nhịp nhàng của hệ mặt trời chúng ta; nó cũng có thể được thấy trong khuynh hướng của Thượng đế đối với nhân loại, như được mặc khải cho chúng ta qua Đức Christ. Chức năng độc nhất này của Đức Christ như đấng giữ gìn và đấng mặc khải một nguyên khí hay năng lượng vũ trụ nằm đằng sau tất cả những gì Ngài đã làm; đó là nền tảng và kết quả của sự hoàn thiện Ngài đã đạt được; đó là động cơ và xung lực thúc đẩy đời sống phụng sự của Ngài, và đó là nguyên khí mà Thiên Giới được thiết lập trên đó.

[91] That paganism knows no goal or purpose is today for many of us a statement which will not bear investigation. All that had transpired in the past had for its goal that which happened when Christ appeared; it prepared humanity for the opportunity then offered, forming the foundation upon which the present is based. Similarly, the imminent revelation of the coming century will constitute the foundation upon which the future will rest, and for this purpose all that is now transpiring is of supreme importance.

[91] Đối với nhiều người trong chúng ta ngày nay, nói rằng ngoại giáo không biết mục tiêu hay mục đích là một phát biểu không chịu nổi sự khảo sát. Tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ đều có mục tiêu là điều đã xảy ra khi Đức Christ xuất hiện; nó chuẩn bị nhân loại cho cơ hội khi ấy được trao, tạo thành nền tảng mà hiện tại dựa trên đó. Tương tự, sự mặc khải sắp đến của thế kỷ tới sẽ cấu thành nền tảng mà tương lai sẽ dựa vào, và vì mục đích này tất cả những gì hiện đang diễn ra đều có tầm quan trọng tối cao.

Not only did Christ bridge the gap between the East and the West, summing up in Himself all that the East had of worth to contribute, but He gave to our occidental civilisation (at that time unborn) those great ideals and that example of sacrifice and of service which today (two thousand years after He walked among men) are becoming the keynote of the best minds of the age. The story of ideas, how they come and how they make their impact upon the human consciousness, thus changing the course of human affairs, is the story of history; but curiously enough, ideas constitute the one unpredictable element of the future. Some individual of outstanding personality steps out from the rank and file of the race, and thinks through into being some great and dynamic idea based on truth. He formulates it into such terms that his fellowmen can grasp it and eventually live by it. New trends, new incentives and new impulses then emerge, and thus history is made. It might be said with truth that without ideas there would be no history. In the enunciation of a cosmic idea, and in the capacity to make that idea an ideal of dynamic force, Christ stands alone. Through His life, He gave to us an idea which became in time the ideal of service, so that today the attention of many rulers and thinkers throughout the world is engrossed with the well-being of nations and men. That the technique employed and the methods used to enforce the sensed and visioned ideal are frequently wrong and undesirable, producing cruel and separative results, in no way alters the fact that behind all these idealistic experiments of the race lies this great ideal, [92] divinely inspired and summarised for us by Christ in His life and teaching.

Đức Christ không chỉ bắc cầu qua khoảng cách giữa Đông và Tây, tổng hợp trong chính Ngài tất cả những gì Đông phương có giá trị để đóng góp, mà Ngài còn trao cho nền văn minh Tây phương của chúng ta (khi ấy chưa ra đời) những lý tưởng vĩ đại ấy và tấm gương hi sinh cùng phụng sự mà ngày nay (hai ngàn năm sau khi Ngài bước đi giữa loài người) đang trở thành chủ âm của những trí tuệ tốt đẹp nhất của thời đại. Câu chuyện về các ý tưởng, chúng đến như thế nào và tác động lên tâm thức nhân loại ra sao, nhờ đó làm thay đổi dòng chảy của các công việc nhân loại, chính là câu chuyện của lịch sử; nhưng lạ thay, các ý tưởng cấu thành yếu tố không thể tiên đoán duy nhất của tương lai. Một cá nhân có phàm ngã nổi bật bước ra khỏi hàng ngũ bình thường của nhân loại, và suy tư cho đến khi một ý tưởng vĩ đại, năng động, đặt nền trên chân lý, đi vào hiện tồn. Y diễn đạt nó thành những thuật ngữ mà đồng loại của y có thể nắm bắt và sau cùng sống theo. Khi đó các khuynh hướng mới, các động lực mới và các xung lực mới xuất hiện, và như vậy lịch sử được tạo nên. Có thể nói một cách chân thật rằng nếu không có các ý tưởng thì sẽ không có lịch sử. Trong việc công bố một ý tưởng vũ trụ, và trong năng lực biến ý tưởng ấy thành một lý tưởng có mãnh lực năng động, Đức Christ đứng một mình. Qua đời sống của Ngài, Ngài đã trao cho chúng ta một ý tưởng mà theo thời gian đã trở thành lý tưởng phụng sự, đến nỗi ngày nay sự chú ý của nhiều nhà cai trị và nhà tư tưởng trên khắp thế giới bị cuốn hút bởi phúc lợi của các quốc gia và con người. Việc kỹ thuật được dùng và các phương pháp được sử dụng để áp đặt lý tưởng đã được cảm nhận và hình dung thường sai lầm và không đáng mong muốn, tạo ra những kết quả tàn nhẫn và chia rẽ, tuyệt nhiên không làm thay đổi sự kiện rằng đằng sau mọi cuộc thử nghiệm lý tưởng chủ nghĩa này của nhân loại là lý tưởng vĩ đại này, [92] được cảm hứng thiêng liêng và được Đức Christ tóm lược cho chúng ta trong đời sống và giáo huấn của Ngài.

Christ gave the greatest of all ideas—that God is Love and that love could manifest in human form, and, thus manifested, could constitute a possibility for all men. His life was the demonstration of a perfection such as the world had never previously seen.

Đức Christ đã trao ý tưởng vĩ đại nhất trong mọi ý tưởng—rằng Thượng đế là Tình thương và rằng tình thương có thể biểu hiện trong hình tướng con người, và, khi biểu hiện như vậy, có thể cấu thành một khả năng cho tất cả mọi người. Đời sống của Ngài là sự biểu hiện của một sự hoàn thiện mà thế giới trước đó chưa từng thấy.

The soul, which is the hidden Christ in all, mediates between the spirit (the Father) and the human being. Christ emphasised this when He called attention to man’s essential divinity, speaking of God as “our Father,” as He was the Father of Christ. It was the light which He came to show and which He saw also (hidden and veiled) in all, enjoining upon us that we should let that light shine forth.” (St. Matt., V, 16.) He challenged us to show, and commanded us to demonstrate the perfection of which He was the embodiment. He proved to us the possible, and called upon us to express it. In this uniqueness of revelation Christ stands alone, because He was the greatest, the highest and the truest that has ever appeared, but not because—dare I say it?—He was the greatest that ever could appear. One dare not so limit God. Under the evolutionary revelation of the nature of divinity it appears that Christ climaxed the past and indicated the future Is it not possible that there may be aspects and characteristics of the divine Nature of which we cannot as yet have the faintest conception? Is it not probable that our sentient apparatus is still inadequate to grasp the fullness of God? May not our mechanism of perception require further evolutionary unfoldment before still other divine and spiritual characteristics can be safely revealed to us and in us? There may be future revelations of such stupendous wonder and beauty that as yet we can form no faintest idea of their possible outline. Otherwise God would be limited and static, and unable to do more than He has already done. How dare we say that it is possible for us to envisage the limits of the nature of Deity? How can the human intellect arrogantly believe that [93] it can recognise, even through Christ, the ultimate objectives of the divine Will? The history of the unfoldment of the human consciousness proves that truth has been given out progressively, and that the brilliant galaxy of World Teachers gave an ever-widening interpretation of Deity, reaching, as time elapsed, an ever larger number. Christ has given us the highest and the most inclusive revelation to which the human consciousness can respond, up to the present era. But how shall we dare to say that no more is possible to God, when we are ready to receive it? For this we are fast preparing. Even Christ Himself told His disciples that “he that believeth on me, the works that I do shall he do also; and greater works than these shall he do.” (St. John, XIV, 12.) Either these words express a truth, or the whole structure of our belief falls to the ground. There is more still to be revealed, or else past history loses its point; ancient beliefs lose their significance; and we have reached an impasse which God Himself would seem unable to transcend. This we cannot accept.

Linh hồn, vốn là Đức Christ ẩn giấu trong tất cả, làm trung gian giữa tinh thần (Cha) và con người. Đức Christ đã nhấn mạnh điều này khi Ngài kêu gọi sự chú ý đến thiên tính thiết yếu của con người, nói về Thượng đế như “Cha chúng ta,” cũng như Ngài là Cha của Đức Christ. Đó là ánh sáng mà Ngài đã đến để chỉ ra và cũng là ánh sáng Ngài thấy (ẩn giấu và che phủ) trong tất cả, truyền dạy chúng ta rằng chúng ta phải để ánh sáng ấy chiếu tỏa.” (Thánh Matthew, V, 16.) Ngài thách thức chúng ta biểu lộ, và truyền lệnh chúng ta biểu hiện sự hoàn thiện mà Ngài là hiện thân. Ngài chứng minh cho chúng ta điều có thể, và kêu gọi chúng ta biểu lộ nó. Trong sự độc nhất của mặc khải này, Đức Christ đứng một mình, bởi vì Ngài là Đấng vĩ đại nhất, cao nhất và chân thật nhất từng xuất hiện, nhưng không phải vì—tôi có dám nói chăng?—Ngài là Đấng vĩ đại nhất từng có thể xuất hiện. Người ta không dám giới hạn Thượng đế như vậy. Dưới sự mặc khải tiến hoá về bản chất của thiên tính, dường như Đức Christ đã đưa quá khứ đến đỉnh cao và chỉ ra tương lai. Chẳng phải có thể có những phương diện và đặc tính của Bản Chất thiêng liêng mà hiện nay chúng ta chưa thể có ngay cả quan niệm mờ nhạt nhất sao? Chẳng phải có khả năng là bộ máy cảm nhận của chúng ta vẫn còn chưa đủ để nắm bắt sự viên mãn của Thượng đế sao? Chẳng phải bộ máy tri nhận của chúng ta có thể cần thêm sự khai mở tiến hoá trước khi những đặc tính thiêng liêng và tinh thần khác nữa có thể được mặc khải an toàn cho chúng ta và trong chúng ta sao? Có thể có những mặc khải tương lai kỳ diệu và mỹ lệ đến mức hiện nay chúng ta chưa thể hình thành ngay cả ý niệm mờ nhạt nhất về đường nét khả hữu của chúng. Nếu không, Thượng đế sẽ bị giới hạn và tĩnh tại, không thể làm gì hơn điều Ngài đã làm. Làm sao chúng ta dám nói rằng chúng ta có thể hình dung các giới hạn của bản chất Thượng Đế? Làm sao trí tuệ con người có thể kiêu ngạo tin rằng [93] nó có thể nhận ra, ngay cả qua Đức Christ, các mục tiêu tối hậu của Ý Chí thiêng liêng? Lịch sử sự khai mở của tâm thức nhân loại chứng minh rằng chân lý đã được ban ra một cách tiệm tiến, và đoàn thể rực rỡ các Đức Chưởng Giáo đã trao một diễn giải ngày càng mở rộng về Thượng Đế, theo thời gian đạt đến một số lượng ngày càng lớn hơn. Đức Christ đã trao cho chúng ta mặc khải cao nhất và bao gồm nhất mà tâm thức nhân loại có thể đáp ứng, cho đến kỷ nguyên hiện tại. Nhưng làm sao chúng ta dám nói rằng không còn điều gì nữa là có thể đối với Thượng đế, khi chúng ta sẵn sàng tiếp nhận nó? Chúng ta đang nhanh chóng chuẩn bị cho điều này. Ngay chính Đức Christ cũng đã nói với các đệ tử của Ngài rằng “ai tin nơi ta, những việc ta làm, người ấy cũng sẽ làm; và những việc lớn hơn những việc này, người ấy sẽ làm.” (Thánh Gioan, XIV, 12.) Hoặc những lời này diễn tả một chân lý, hoặc toàn bộ cấu trúc niềm tin của chúng ta sụp đổ. Vẫn còn nhiều điều nữa phải được mặc khải, nếu không lịch sử quá khứ mất đi ý nghĩa của nó; các niềm tin cổ xưa mất thâm nghĩa của chúng; và chúng ta đã đi đến một bế tắc mà chính Thượng đế dường như không thể vượt qua. Điều này chúng ta không thể chấp nhận.

The cosmic Christ, the mystic Christ, the historical Christ, and the individual Christ are to all eternity, and the revelation can therefore be progressive. If we can believe that God is inclusive of all forms and of that which the forms reveal, surely as our equipment develops and our mechanism of contact improves we shall be able to see more of divinity than at present and be deemed worthy, at a later date, of a greater revelation. It is only our limitations as human beings which prevent our seeing all that there is to be seen.

Đức Christ vũ trụ, Đức Christ thần bí, Đức Christ lịch sử, và Đức Christ cá nhân tồn tại đến muôn đời, và vì vậy sự mặc khải có thể mang tính tiệm tiến. Nếu chúng ta có thể tin rằng Thượng đế bao gồm mọi hình tướng và điều mà các hình tướng mặc khải, thì chắc chắn khi trang bị của chúng ta phát triển và bộ máy tiếp xúc của chúng ta được cải thiện, chúng ta sẽ có thể thấy nhiều hơn về thiên tính so với hiện tại và được xem là xứng đáng, vào một ngày sau, với một mặc khải lớn hơn. Chính những giới hạn của chúng ta với tư cách con người ngăn cản chúng ta thấy tất cả những gì có thể được thấy.

The new birth brought us to the point where we became aware of a new world of light and of being. Through the process of that initiation we became citizens of the kingdom of God which Christ came to establish as a fact in the consciousness of men; we pass through the new birth into a world which is governed by a higher series of laws, the spiritual laws and new objectives open up before us, new aspects of our own hidden spiritual nature emerge and we begin to discover in ourselves the delineation of a new being, with a [94] different set of wishes, desires, ideals, and methods of world activity.

Cuộc sinh ra mới đã đưa chúng ta đến điểm chúng ta trở nên ý thức về một thế giới mới của ánh sáng và Bản Thể. Qua tiến trình của lần điểm đạo ấy, chúng ta trở thành công dân của Thiên Giới mà Đức Christ đã đến để thiết lập như một sự kiện trong tâm thức con người; chúng ta đi qua cuộc sinh ra mới vào một thế giới được cai quản bởi một chuỗi định luật cao hơn, các định luật tinh thần, và những mục tiêu mới mở ra trước chúng ta, những phương diện mới của bản chất tinh thần ẩn giấu của chính chúng ta xuất hiện và chúng ta bắt đầu khám phá trong chính mình đường nét của một sinh mệnh mới, với một [94] tập hợp khác của các ước muốn, dục vọng, lý tưởng và phương pháp hoạt động trong thế gian.

We speak much of the at-one-ment which Christ made within Himself and for man. We recognise the unity He felt with the Father, and that He has called us to a similar divine unity. But is it not possible that He established a synthesis broader than that of the individual and God—the synthesis of the kingdom of God?

Chúng ta nói nhiều về sự hiệp nhất mà Đức Christ đã thực hiện trong chính Ngài và cho con người. Chúng ta nhận ra sự hợp nhất mà Ngài cảm thấy với Cha, và rằng Ngài đã kêu gọi chúng ta đến một sự hợp nhất thiêng liêng tương tự. Nhưng chẳng phải có thể là Ngài đã thiết lập một sự tổng hợp rộng hơn sự tổng hợp giữa cá nhân và Thượng đế—sự tổng hợp của Thiên Giới sao?

What do these words mean? We have talked of the kingdom of Heaven in terms of separation. We are either in that kingdom or out of it. We are told that we must step out of the kingdom of men (controlled by the world, the flesh and the devil) into another kingdom which is pictured as utterly different. Yet is this so? All aspects of the three sub-human kingdoms—animal, vegetable and mineral—are found in man; and their synthesis, plus another factor, the divine intellect, we call the human kingdom. Man unifies in himself the so-called lesser manifestations of deity. In the sub-human kingdoms of nature we find three major types of consciousness: the mineral kingdom, with its subjective discriminating power, its capacity to grow, and its ultimate radio-activity; the vegetable kingdom, with its sensitivity or sentiency, and its developing response apparatus which is sensitive to sunlight, to warmth and cold, and to other environing climatic conditions; the animal kingdom with its greatly increased awareness, its capacity for free movement and for wider contacts through its instinctive nature. The human kingdom embodies all these types of awareness—consciousness, sentiency, instinct—plus that mysterious human faculty which we call “the mind,” and we sum up all these inherited qualities in the word “self-conscious.”

Những lời này có nghĩa là gì? Chúng ta đã nói về giới thiên đường theo cách tách biệt. Chúng ta hoặc ở trong giới ấy hoặc ở ngoài nó. Người ta bảo chúng ta rằng chúng ta phải bước ra khỏi giới của con người (bị kiểm soát bởi thế gian, xác thịt và ma quỷ) để vào một giới khác được mô tả là hoàn toàn khác. Nhưng có đúng vậy không? Mọi phương diện của ba giới dưới nhân loại—động vật, thực vật và kim thạch—đều được tìm thấy trong con người; và sự tổng hợp của chúng, cộng thêm một yếu tố khác, trí năng thiêng liêng, chúng ta gọi là giới nhân loại. Con người hợp nhất trong chính mình những biểu hiện được gọi là thấp hơn của Thượng đế. Trong các giới dưới nhân loại của thiên nhiên, chúng ta tìm thấy ba kiểu tâm thức chính: giới kim thạch, với quyền năng phân biện chủ quan, năng lực tăng trưởng, và tính phóng xạ sau cùng của nó; giới thực vật, với tính nhạy cảm hay tri giác, và bộ máy đáp ứng đang phát triển của nó, vốn nhạy cảm với ánh sáng mặt trời, với nóng và lạnh, và với các điều kiện khí hậu bao quanh khác; giới động vật với nhận thức tăng trưởng rất lớn, năng lực di chuyển tự do và các tiếp xúc rộng hơn qua bản chất bản năng của nó. Giới nhân loại hiện thân tất cả các kiểu nhận thức này—tâm thức, tri giác, bản năng—cộng thêm năng lực huyền nhiệm của con người mà chúng ta gọi là “trí tuệ,” và chúng ta tóm lược tất cả các phẩm tính thừa hưởng này trong từ “tự ý thức.”

There comes, however, in the experience of the intelligent human being, a slowly dawning recognition that there is something still greater and of deeper value outside himself. He is sensitised to a subtler range of contacts and to impressions which he calls spiritual or ideal or mystical. Another type of consciousness begins to germinate in him, and at the [95] birth at Bethlehem this awareness becomes manifested and recognisable. Just as the human being synthesises in himself all that has been, plus his own peculiar constitution and qualities, so in him can also begin to emerge and demonstrate qualities which are not human.

Tuy nhiên, trong kinh nghiệm của con người thông minh, đến một sự nhận biết dần ló rạng rằng có điều gì đó vẫn lớn lao hơn và có giá trị sâu xa hơn ở bên ngoài chính y. Y trở nên nhạy cảm với một phạm vi tiếp xúc tinh tế hơn và với những ấn tượng mà y gọi là tinh thần, lý tưởng hay thần bí. Một kiểu tâm thức khác bắt đầu nảy mầm trong y, và vào lúc [95] sinh ra tại Bethlehem, nhận thức này trở nên biểu hiện và có thể nhận ra. Cũng như con người tổng hợp trong chính mình tất cả những gì đã có, cộng với cấu tạo và các phẩm tính đặc thù của chính y, thì trong y cũng có thể bắt đầu xuất hiện và biểu hiện những phẩm tính không phải là nhân loại.

Members of the kingdom of God will surely embody the heritage of four kingdoms, as man embodies the heritage of three. This higher citizenship involves the expression of the Christ consciousness, which is the consciousness of the group, of the relation of the part to the whole (something which Christ continuously emphasised) and of the human to the divine. The result of this realisation must surely be, under the evolutionary scheme, the appearance of another kingdom in nature. This constitutes the great task of Christ. Through the power of His realised divinity He produced the man who blended in Himself the best of all that had been, and revealed also what could be. He brought together into a functioning unity the higher and the lower, and made out of them “one new man.” He founded the kingdom of God on earth, and produced a synthesis of all the kingdoms in nature, thus causing the appearance of a fifth kingdom. We might sum up the at-one-ments which He brought about as follows:

Các thành viên của Thiên Giới chắc chắn sẽ thể hiện di sản của bốn giới, cũng như con người thể hiện di sản của ba giới. Quyền công dân cao hơn này bao hàm sự biểu lộ của tâm thức Đức Christ, tức là tâm thức của nhóm, của mối liên hệ giữa phần tử với toàn thể — điều mà Đức Christ liên tục nhấn mạnh — và của con người với thiêng liêng. Kết quả của sự chứng nghiệm này, theo kế hoạch tiến hoá, chắc chắn phải là sự xuất hiện của một giới khác trong thiên nhiên. Điều này tạo thành nhiệm vụ vĩ đại của Đức Christ. Nhờ quyền năng của thiên tính đã được chứng nghiệm nơi Ngài, Ngài đã tạo ra con người dung hợp trong chính mình những gì tốt đẹp nhất của tất cả những gì đã có, đồng thời mặc khải điều có thể trở thành. Ngài đã quy tụ cái cao và cái thấp thành một nhất thể hoạt động, và từ đó tạo nên “một con người mới.” Ngài đã thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất, và tạo ra một tổng hợp của mọi giới trong thiên nhiên, nhờ đó khiến giới thứ năm xuất hiện. Chúng ta có thể tóm lược những sự hợp nhất mà Ngài đã đem lại như sau:

1. He unified in Himself to perfection the physical, emotional and mental aspects of man, and demonstrated therefore the perfect Individual.

1. Ngài đã hợp nhất nơi chính mình, đến mức hoàn hảo, các phương diện hồng trần, cảm xúc và trí tuệ của con người, và do đó biểu lộ Cá Nhân hoàn hảo.

2. He unified in Himself soul and body, the higher and the lower aspects, and therefore produced a divine incarnation.

2. Ngài đã hợp nhất nơi chính mình linh hồn và thân thể, các phương diện cao và thấp, và do đó tạo nên một sự nhập thể thiêng liêng.

3. He unified in Himself the best of all the kingdoms in nature, mineral, vegetable, animal, which means in their synthesis, the human with the intellect functioning.

3. Ngài đã hợp nhất nơi chính mình những gì tốt đẹp nhất của mọi giới trong thiên nhiên — giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật — nghĩa là, trong sự tổng hợp của chúng, con người với trí năng đang hoạt động.

4. Then He blended this synthesis with a higher spiritual factor and brought to the birth another kingdom in nature, the fifth.

4. Rồi Ngài dung hợp sự tổng hợp này với một yếu tố tinh thần cao hơn và đưa một giới khác trong thiên nhiên, giới thứ năm, vào sự khai sinh.

Christ, having produced in Himself one unification or at-one-ment after another, for the benefit of humanity, appears before John the Baptist, and passes through the second initiation, that of purification in the waters of Jordan. Through [96] the process of baptism, and through the temptations which followed, He evidenced His maturity, faced His mission, and demonstrated to the world His purity and His power.

Đức Christ, sau khi vì lợi ích của nhân loại mà tạo nên nơi chính mình hết sự hợp nhất hay hiệp nhất này đến sự hợp nhất hay hiệp nhất khác, xuất hiện trước Gioan Tẩy Giả, và trải qua lần điểm đạo thứ hai, tức là sự thanh tẩy trong dòng nước sông Jordan. Qua [96] tiến trình rửa tội, và qua những cám dỗ tiếp theo sau, Ngài chứng tỏ sự trưởng thành của mình, đối diện với sứ mệnh của mình, và biểu lộ cho thế gian sự tinh khiết cùng quyền năng của mình.

The third initiation, that of the Transfiguration, testified to the fact of the at-one-ment which Christ made between soul and body. Integration was complete, and the consequent illumination was made apparent to His disciples. He appeared before them as Son of Man and Son of God, and having proved to them Who He was, He faced the death which lay ahead of Him, and the intervening service.

Lần điểm đạo thứ ba, tức là Biến hình, làm chứng cho sự kiện hiệp nhất mà Đức Christ đã thực hiện giữa linh hồn và thân thể. Sự tích hợp đã hoàn tất, và sự soi sáng do đó mà có được làm hiển lộ trước các đệ tử của Ngài. Ngài xuất hiện trước họ như Con của Nhân Loại và Con của Thượng đế, và sau khi chứng minh cho họ biết Ngài là Ai, Ngài đối diện với cái chết đang chờ phía trước, và với công cuộc phụng sự xen giữa.

In the fourth initiation, He demonstrated this integration not only as God-Man, but as the One Who enfolded in His consciousness the entire world of men. He unified Himself with humanity, and portrayed the effectiveness of that divine energy which enabled Him to say in truth, “I, if I be lifted up from the Earth, will draw all men unto Me.” (St. John, XII, 32.) He was lifted up between Earth and Heaven, and for two thousand years these words of His have stood unchallenged.

Trong lần điểm đạo thứ tư, Ngài biểu lộ sự tích hợp này không chỉ với tư cách Thượng Đế-Con Người, mà còn với tư cách Đấng bao bọc trong tâm thức của Ngài toàn thể thế giới nhân loại. Ngài hợp nhất mình với nhân loại, và trình hiện hiệu lực của năng lượng thiêng liêng ấy, vốn khiến Ngài có thể nói một cách chân thực: “Còn Ta, nếu Ta được nâng lên khỏi Trái Đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta.” (Thánh Gioan, XII, 32.) Ngài đã được nâng lên giữa Trái Đất và Trời, và suốt hai nghìn năm, những lời ấy của Ngài vẫn đứng vững không ai bác bỏ được.

2

2

“Then cometh Jesus from Galilee to Jordan unto John, to be baptised of him. But John forbade him, saying, I have need to be baptised of Thee and comest Thou to me?

“Bấy giờ Đức Jesus từ Galilee đến Jordan, gặp Gioan, để được ông làm phép rửa. Nhưng Gioan ngăn Ngài lại, nói rằng: Tôi cần được Ngài làm phép rửa, mà Ngài lại đến với tôi sao?

“And Jesus answering said unto him, Suffer it to be so now, for it becometh us to fulfil all righteousness. Then he suffered Him.

“Đức Jesus đáp lời ông rằng: Bây giờ cứ để như vậy, vì chúng ta nên làm trọn mọi sự công chính. Bấy giờ ông để Ngài làm.

“And Jesus, when He was baptised, went up straightaway out of the water: and, lo, the heavens were opened unto Him, and He saw the Spirit of God descending like a dove, and lighting upon Him.

“Và Đức Jesus, khi đã chịu phép rửa, liền bước lên khỏi nước; và kìa, các tầng trời mở ra cho Ngài, và Ngài thấy Tinh Thần của Thượng đế ngự xuống như chim bồ câu, và đậu trên Ngài.

“And lo a voice from heaven, saying, This is my beloved Son, in Whom I am well pleased.”

“Và kìa, có tiếng từ trời phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng.”

ST. MATT., III, 13-17.

Thánh Ma-thi-ơ, III, 13-17.

In these simple words we are told the story of this initiation. The keynote is purification, and it closed a period of preparation, of quiet service and inaugurated a cycle of strenuous [97] activity. The purification of the lower nature is a requirement which the Christian Church has ever emphasised as has also the Hindu faith. Christ held this ideal before His disciples and all men when He said, “Blessed are the pure in heart: for they shall see God.” (St. Matt., V, 8.)

Trong những lời giản dị này, chúng ta được kể câu chuyện về cuộc điểm đạo này. Chủ âm là sự thanh tẩy, và nó khép lại một thời kỳ chuẩn bị, phụng sự âm thầm, đồng thời khai mở một chu kỳ hoạt động căng thẳng [97]. Sự thanh tẩy bản chất thấp là một đòi hỏi mà Giáo hội Cơ Đốc luôn nhấn mạnh, cũng như đức tin Ấn giáo. Đức Christ đã đặt lý tưởng này trước các đệ tử của Ngài và trước mọi người khi Ngài nói: “Phước cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Thượng đế.” (Thánh Ma-thi-ơ, V, 8.)

In an ancient treatise upon meditation, the Yoga Sutras of Patanjali, we find the teacher proclaiming, “Through purification comes also a quiet spirit ... and ability to see the Self.” (The Yoga Sutras of Patanjali, II, 41.) Purification is of many kinds and degrees. There is physical purity and moral purity, and there is also that magnetic purity which makes a man a channel for spiritual force. There is psychic purity, which is a rare thing to find, and mental purity. The word “purity” comes from the Sanskrit word pur, which means freedom from alloy, from limitation and from the imprisoning of the spirit in the chains of matter. There can be no achievement without purification; there is no possibility of our seeing and manifesting divinity without passing through the waters that cleanse. In the world today a great cleansing is going on. An “ascetic purification” and an enforced abstinence from much that has hitherto been deemed desirable, is going on in the world, and none of us can escape it. This is due to the breakdown of the economic system and the many other systems which are proving ineffectual in the modern world. Purification is being forced upon us, and as a consequence a truer sense of values must eventuate. A cleansing from wrong ideals, a racial purification from dishonest standards and undesirable objectives, is being powerfully applied at this time. Perhaps this means that many in the race today are going down to Jordan, to enter its purifying waters. A self-applied ascetic purification, and the recognition of its value by the pioneers of the human family, may succeed in leading them to the portal of initiation.

Trong một khảo luận cổ về tham thiền, bộ Yoga Sutras của Patanjali, chúng ta thấy vị huấn sư tuyên bố: “Qua sự thanh tẩy cũng phát sinh một tinh thần tĩnh lặng... và khả năng thấy Bản Ngã.” (Yoga Sutras của Patanjali, II, 41.) Sự thanh tẩy có nhiều loại và nhiều cấp độ. Có sự tinh khiết hồng trần và sự tinh khiết đạo đức, và cũng có sự tinh khiết từ tính khiến con người trở thành một vận hà cho mãnh lực tinh thần. Có sự tinh khiết thông linh, vốn là điều hiếm gặp, và có sự tinh khiết trí tuệ. Từ “tinh khiết” xuất phát từ từ Phạn pur, có nghĩa là tự do khỏi sự pha tạp, khỏi giới hạn, và khỏi việc tinh thần bị giam hãm trong xiềng xích của vật chất. Không thể có thành tựu nếu không có thanh tẩy; chúng ta không thể thấy và biểu lộ thiên tính nếu không đi qua những dòng nước tẩy sạch. Trong thế giới ngày nay, một cuộc thanh tẩy lớn đang diễn ra. Một “sự thanh tẩy khổ hạnh” và một sự kiêng khem bắt buộc đối với nhiều điều trước đây từng được xem là đáng mong muốn đang diễn ra trong thế giới, và không ai trong chúng ta có thể thoát khỏi nó. Điều này là do sự sụp đổ của hệ thống kinh tế và nhiều hệ thống khác đang chứng tỏ không còn hiệu quả trong thế giới hiện đại. Sự thanh tẩy đang bị áp đặt lên chúng ta, và như một hệ quả, một ý thức chân thực hơn về các giá trị phải xuất hiện. Vào lúc này, sự tẩy sạch khỏi những lý tưởng sai lầm, một sự thanh tẩy nhân loại khỏi các chuẩn mực bất chính và những mục tiêu không đáng mong muốn, đang được áp dụng mạnh mẽ. Có lẽ điều này có nghĩa là ngày nay nhiều người trong nhân loại đang đi xuống Jordan, để bước vào dòng nước thanh tẩy của nó. Một sự thanh tẩy khổ hạnh do chính mình áp dụng, và sự nhận biết giá trị của nó bởi những người tiên phong trong gia đình nhân loại, có thể thành công trong việc dẫn họ đến cửa ngõ điểm đạo.

There is also to be found in this episode an interesting analogy to what is happening to the race today, from the [98] astrological standpoint. We are entering into the sign Aquarius, the Water Carrier. This sign stands symbolically for group purity and relationship, for the universality of experience and for the waters poured over all. When we began to enter this sign, about two hundred years ago, water became for the first time of general interest and of general use for sanitation and irrigation. The control of water and its utilisation as a means of transportation on a world-wide scale became possible. The use of water in our homes is now so universal that we hardly realise what the world must have been like prior to this use.

Trong biến cố này cũng có một sự tương đồng thú vị với điều đang xảy ra cho nhân loại ngày nay, xét từ [98] quan điểm chiêm tinh học. Chúng ta đang bước vào dấu hiệu Bảo Bình, Người Mang Nước. Dấu hiệu này, về mặt biểu tượng, tượng trưng cho sự tinh khiết và mối liên hệ của nhóm, cho tính phổ quát của kinh nghiệm và cho những dòng nước được tuôn đổ trên tất cả. Khi chúng ta bắt đầu bước vào dấu hiệu này, khoảng hai trăm năm trước, lần đầu tiên nước trở thành mối quan tâm chung và được sử dụng phổ biến cho vệ sinh và tưới tiêu. Việc kiểm soát nước và sử dụng nó như một phương tiện vận chuyển trên quy mô toàn cầu trở nên khả thi. Việc sử dụng nước trong nhà của chúng ta nay đã phổ biến đến mức chúng ta hầu như không nhận ra thế giới hẳn đã như thế nào trước khi có cách sử dụng này.

Christ in this great initiation, entered into the stream, and the waters passed over Him. In India this initiation is called that of “entering the stream,” and he who undergoes it is regarded as having demonstrated both physical and psychic purity. In considering this initiation we must remember that two kinds of baptism are referred to in the story.

Trong cuộc điểm đạo vĩ đại này, Đức Christ đã bước vào dòng chảy, và nước đã phủ qua Ngài. Tại Ấn Độ, cuộc điểm đạo này được gọi là cuộc điểm đạo “bước vào dòng chảy,” và người trải qua nó được xem là đã chứng minh cả sự tinh khiết hồng trần lẫn sự tinh khiết thông linh. Khi xem xét cuộc điểm đạo này, chúng ta phải nhớ rằng câu chuyện đề cập đến hai loại phép rửa.

“John answered, saying unto them all, I indeed baptise you with water: but one mightier than I cometh, the latchet of whose shoes I am not worthy to unloose: He shall baptise you with the Holy Ghost and with fire.” (St. Luke., III, 16.)

“Gioan đáp lời, nói với mọi người rằng: Phần tôi, tôi làm phép rửa cho các ngươi bằng nước; nhưng có Đấng quyền năng hơn tôi đang đến, tôi không đáng mở dây giày của Ngài; Ngài sẽ làm phép rửa cho các ngươi bằng Chúa Thánh Thần và bằng lửa.” (Thánh Luca, III, 16.)

There are therefore two kinds of baptism:

Do đó có hai loại phép rửa:

1. That of John the Baptist, which is the baptism by water.

1. Phép rửa của Gioan Tẩy Giả, tức là phép rửa bằng nước.

2. The baptism of Jesus Christ, which is that of the Holy Ghost and of fire.

2. Phép rửa của Đức Jesus Christ, tức là phép rửa bằng Chúa Thánh Thần và bằng lửa.

In these two symbols much of the story of human development is summed up, and the joint work of John the Baptist and of Jesus produced a synthesis which is indicative of the immediate objective of our racial endeavour. The symbolism is exact according to the ancient mystery teaching. A close study of this symbolic rendering of a basic truth would greatly profit the seeker in all countries, and an understanding of the significance of the symbols employed would throw much light upon reality.

Trong hai biểu tượng này, phần lớn câu chuyện về sự phát triển của nhân loại được tóm lược, và công trình chung của Gioan Tẩy Giả cùng Đức Jesus đã tạo nên một tổng hợp, biểu thị mục tiêu trước mắt của nỗ lực nhân loại chúng ta. Biểu tượng học này chính xác theo giáo huấn huyền nhiệm cổ xưa. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng cách trình bày biểu tượng này về một chân lý căn bản sẽ rất hữu ích cho người tìm đạo ở mọi quốc gia, và sự thấu hiểu thâm nghĩa của các biểu tượng được dùng sẽ soi sáng nhiều điều về thực tại.

In the evolution of the race the sentient feeling nature is [99] first developed, and water has ever been the symbol of that nature. The fluid nature of the emotions, the constant shifting between sentient pleasure and pain, the storms which arise in the world of feeling, and the peace and calm which can descend upon a man, make of water a most apposite symbol of this interior subtle world of the lower nature in which most of us live, and wherein our consciousness is predominantly focussed. The average man or woman is predominantly a blend of the physical and emotional natures; all early races have this characteristic and the probability is that, in old Atlantis, civilisation was entirely centred in the feelings and the desires, in the emotions, and—among its most advanced types—in the heart life. John the Baptist therefore gave the baptism of water which testified to the purification of the emotional nature, which must always be a preliminary step to the purification by fire.

Trong sự tiến hoá của nhân loại, bản chất cảm giác nhạy cảm được [99] phát triển trước tiên, và nước luôn là biểu tượng của bản chất ấy. Bản chất linh động của các cảm xúc, sự chuyển dịch liên tục giữa lạc thú và đau khổ cảm giác, những cơn bão nổi lên trong thế giới cảm xúc, và sự bình an cùng tĩnh lặng có thể giáng xuống con người, khiến nước trở thành một biểu tượng hết sức thích hợp cho thế giới vi tế nội tại này của bản chất thấp, nơi phần đông chúng ta đang sống và nơi tâm thức của chúng ta chủ yếu tập trung. Người nam hay nữ trung bình chủ yếu là một sự pha trộn của các bản chất hồng trần và cảm xúc; mọi giống dân sơ kỳ đều có đặc điểm này, và rất có thể trong Atlantis cổ, nền văn minh hoàn toàn tập trung vào các cảm xúc và dục vọng, vào những xúc cảm, và — nơi những mẫu người tiến bộ nhất — vào đời sống của tim. Vì vậy Gioan Tẩy Giả đã ban phép rửa bằng nước, làm chứng cho sự thanh tẩy bản chất cảm xúc, vốn luôn phải là bước sơ khởi trước sự thanh tẩy bằng lửa.

The Jordan baptism is symbolic of the purification of the conscience in man, just as Christ and His baptism symbolised for us the divine in man and the purification which follows the activity of that divine spirit in the lower nature. Conscience, with its call to the recognition of the higher values, of the deeper truths and of the birth unto life, leads to Jordan, and so Christ went there to “fulfil all righteousness.” This experience ever precedes the baptism into Christ and through Christ.

Phép rửa tại Jordan tượng trưng cho sự thanh tẩy lương tâm nơi con người, cũng như Đức Christ và phép rửa của Ngài tượng trưng cho chúng ta điều thiêng liêng trong con người và sự thanh tẩy theo sau hoạt động của tinh thần thiêng liêng ấy trong bản chất thấp. Lương tâm, với tiếng gọi của nó hướng đến việc nhận biết các giá trị cao hơn, các chân lý sâu xa hơn và sự khai sinh vào sự sống, dẫn đến Jordan, và vì thế Đức Christ đã đến đó để “làm trọn mọi sự công chính.” Kinh nghiệm này luôn đi trước phép rửa vào Đức Christ và qua Đức Christ.

The baptism of John was a step upon the way into the centre, and of more general application than is the baptism of Jesus, for few are ready yet for the second initiation. It is preparatory to that final baptism, for the purification of the emotional nature must precede in time the purification of the mental nature, just as in the evolution of the race (and of a child, likewise) the feeling, sentient man is first developed, and then the mind comes into active life. The baptism which Christ gives His followers concerns the purification of the mind by fire. Fire, under the universal symbolism of religion, is ever symbolic of the mind nature. This baptism by fire is the baptism of the Holy Spirit.

Phép rửa của Gioan là một bước trên đường đi vào trung tâm, và có tính áp dụng phổ quát hơn phép rửa của Đức Jesus, vì ít người hiện nay đã sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ hai. Nó chuẩn bị cho phép rửa cuối cùng ấy, vì sự thanh tẩy bản chất cảm xúc phải đi trước, về thời gian, sự thanh tẩy bản chất trí tuệ, cũng như trong sự tiến hoá của nhân loại — và của một đứa trẻ cũng vậy — con người cảm nhận, nhạy cảm được phát triển trước tiên, rồi trí tuệ mới bước vào đời sống hoạt động. Phép rửa mà Đức Christ ban cho những người theo Ngài liên quan đến sự thanh tẩy thể trí bằng lửa. Lửa, trong biểu tượng học phổ quát của tôn giáo, luôn tượng trưng cho bản chất trí tuệ. Phép rửa bằng lửa này là phép rửa của Chúa Thánh Thần.

[100] Thus Jesus went up from Nazareth and Galilee to take the next step which was indicated in His experience. As the result of life experience and inner consecration, He was ready for the next initiation. This was taken in the river Jordan. Jordan means “that which descends,” but also, according to some commentators, that which “divides,” as a river divides and separates the land. In the symbolism of esotericism the word “river” frequently means discrimination. We have seen that water symbolises the emotional nature, and that the purification in Jordan, through baptism, typifies the complete cleansing of all feeling, of all wishes and of that desire life which is the determining factor with most people. The first initiation symbolises the dedication of the physical body and the physical plane life to the soul. The second initiation stands for the demonstrated control and consecration to divinity of the desire nature, with its emotional reactions and its potent “wish life.”

[100] Như vậy Đức Jesus đã đi lên từ Nazareth và Galilee để thực hiện bước kế tiếp được chỉ ra trong kinh nghiệm của Ngài. Như kết quả của kinh nghiệm đời sống và sự thánh hiến nội tâm, Ngài đã sẵn sàng cho cuộc điểm đạo kế tiếp. Cuộc điểm đạo này được thực hiện tại sông Jordan. Jordan có nghĩa là “điều đi xuống,” nhưng theo một số nhà chú giải, cũng có nghĩa là điều “chia tách,” như một con sông chia và tách đất đai. Trong biểu tượng học của huyền bí học, từ “sông” thường có nghĩa là sự phân biện. Chúng ta đã thấy nước tượng trưng cho bản chất cảm xúc, và sự thanh tẩy tại Jordan, qua phép rửa, tiêu biểu cho sự tẩy sạch hoàn toàn mọi cảm xúc, mọi ước muốn và đời sống dục vọng vốn là yếu tố quyết định nơi phần đông con người. Lần điểm đạo thứ nhất tượng trưng cho sự hiến dâng thể xác và đời sống cõi hồng trần cho linh hồn. Lần điểm đạo thứ hai tượng trưng cho sự kiểm soát đã được chứng minh và sự thánh hiến cho thiên tính của bản chất dục vọng, với các phản ứng cảm xúc và “đời sống ước muốn” mạnh mẽ của nó.