Trích nội dung chương
“The ‘second birth’ is another well-recognised term for Initiation; even now in India the higher castes are called ‘twice-born,’ and the ceremony that makes them twice-born is a ceremony of Initiation—mere husk truly, in these modern days, but the ‘pattern of things in the heavens.’ (Hebrews, IX, 23.) When Jesus is speaking to Nicodemus he states that ‘Except a man be born again, he cannot see the kingdom of God,’ and this birth is spoken of as that ‘of water and the Spirit,’ (St. John, III, 3.5.) this is the first Initiation; a later one is that ‘of the Holy [46] Ghost and fire,’(St. Matt., III, 11) the baptism of the Initiate in his…
‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, PP. 185, 286, 53, 54.
‘Esoteric Christianity’, của Annie Besant, tr. 185, 286, 53, 54.
The same writer points out in another place that:
Cũng tác giả ấy chỉ ra ở một nơi khác rằng:
“The ‘second birth’ is another well-recognised term for Initiation; even now in India the higher castes are called ‘twice-born,’ and the ceremony that makes them twice-born is a ceremony of Initiation—mere husk truly, in these modern days, but the ‘pattern of things in the heavens.’ (Hebrews, IX, 23.) When Jesus is speaking to Nicodemus he states that ‘Except a man be born again, he cannot see the kingdom of God,’ and this birth is spoken of as that ‘of water and the Spirit,’ (St. John, III, 3.5.) this is the first Initiation; a later one is that ‘of the Holy [46] Ghost and fire,’(St. Matt., III, 11) the baptism of the Initiate in his manhood, as the first is that of birth, which welcomes him as the ‘Little Child’ entering the kingdom. (St. Matt., XVIII, 3.) How thoroughly this imagery was familiar among the mystics of the Jews is shown by the surprise evinced by Jesus when Nicodemus stumbled over His mystic phraseology: ‘Art thou a master of Israel, and knowest not these things?’” ( St. John, III, 10.)
“‘Sự sinh lần thứ hai’ là một thuật ngữ khác được thừa nhận rõ ràng để chỉ Điểm Đạo; ngay cả hiện nay ở Ấn Độ, các giai cấp cao hơn được gọi là ‘sinh hai lần,’ và nghi lễ khiến họ sinh hai lần là một nghi lễ Điểm Đạo—thật ra chỉ còn là lớp vỏ trong những ngày hiện đại này, nhưng là ‘mô hình của những điều trên trời.’ (Hebrews, IX, 23.) Khi Đức Jesus nói với Nicodemus, Ngài tuyên bố rằng ‘Nếu một người không được sinh lại, y không thể thấy Thiên Giới,’ và sự sinh này được nói đến như là sự sinh ‘bởi nước và Tinh thần,’ (St. John, III, 3.5.) đây là cuộc Điểm Đạo thứ nhất; một cuộc sau đó là bởi ‘Chúa Thánh [46] Thần và lửa,’(St. Matt., III, 11) phép rửa của Điểm đạo đồ trong tuổi trưởng thành của y, cũng như cuộc thứ nhất là sự sinh, chào đón y như ‘Trẻ Thơ’ bước vào Thiên Giới. (St. Matt., XVIII, 3.) Hình ảnh này quen thuộc sâu xa thế nào giữa các nhà thần bí của người Do Thái được thể hiện qua sự ngạc nhiên mà Đức Jesus bộc lộ khi Nicodemus vấp váp trước cụm từ thần bí của Ngài: ‘Ngươi là một bậc thầy của Israel mà không biết những điều này sao?’” ( St. John, III, 10.)
Facing these possible heights of attainment stand the disciples of the world at this time. Here also stands the weary world disciple, humanity as a whole, worn and distraught, bewildered and restless, yet conscious of divine potentialities and great dreams, visions and ideals which evoke a hope and a refusal to be defeated and are the guarantee of eventual success. The voice of all the world Saviours and the example of the Christ indicate to humanity the Way that must be trodden. This leads away from the superficial and the material, from the world of unreality to the world of reality. “Man has had enough of a life cut off from its religious centre, and a quest for a new religious balance, a spiritual deepening will begin; in no order of his activity can he carry on any longer merely on the surface, a purely external life.” (‘The End of Our Time’, by Nicholas Berdyaev, p. 59) Deep calls unto deep, and from out the darkness of those depths, and through pain and suffering, the Christ child will emerge, and humanity as a whole will stand ready to make the great transition into the kingdom of God. Man can now pass on into the kingdom and commence making spiritual history. Up to the present, history has been preparatory. The race is only today, for the first time ready to take the great step on to the path of discipleship and of purification which precedes the path of initiation. Individuals have ever emerged out of the rank and file and lifted themselves to the pinnacles of attainment, and so climbed the mountain of initiation. But today this becomes possible for the many. The voice of those who have achieved, the clarion call of those who are [47] initiate in the mysteries of the kingdom of God, make the new step possible. The moment is unique and urgent. The call is to the individual but also, for the first time in history, it is sounded in the ears of the crowd, because the crowd is ready to respond.
Đối diện với những tầm cao thành tựu khả hữu này là các đệ tử của thế giới vào lúc này. Ở đây cũng đứng đệ tử thế giới mỏi mệt, tức toàn thể nhân loại, kiệt sức và rối loạn, hoang mang và bất an, nhưng vẫn ý thức về những tiềm năng thiêng liêng và những giấc mơ, linh ảnh và lý tưởng lớn lao, vốn gợi lên hy vọng và sự từ chối bị đánh bại, và là bảo chứng cho thành công cuối cùng. Tiếng nói của mọi Đấng Cứu Thế của thế giới và tấm gương của Đức Christ chỉ cho nhân loại Con Đường phải bước đi. Con đường này dẫn khỏi cái hời hợt và vật chất, khỏi thế giới của phi thực tại để đến thế giới của thực tại. “Con người đã quá đủ với một đời sống bị cắt lìa khỏi trung tâm tôn giáo của nó, và một cuộc tìm kiếm sự quân bình tôn giáo mới, một sự đào sâu tinh thần sẽ bắt đầu; trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, y cũng không thể tiếp tục lâu hơn nữa chỉ trên bề mặt, một đời sống thuần túy bên ngoài.” (‘The End of Our Time’, của Nicholas Berdyaev, tr. 59) Vực sâu gọi vực sâu, và từ bóng tối của những chiều sâu ấy, cũng như qua đau đớn và khổ đau, hài nhi Christ sẽ xuất hiện, và toàn thể nhân loại sẽ đứng sẵn sàng thực hiện cuộc chuyển tiếp vĩ đại vào Thiên Giới. Giờ đây con người có thể bước vào Thiên Giới và bắt đầu tạo nên lịch sử tinh thần. Cho đến hiện tại, lịch sử vẫn chỉ là sự chuẩn bị. Chỉ hôm nay, lần đầu tiên, nhân loại mới sẵn sàng thực hiện bước lớn vào Con Đường Đệ Tử và thanh luyện, vốn đi trước Con Đường Điểm Đạo. Các cá nhân luôn luôn nổi lên khỏi hàng ngũ quần chúng và tự nâng mình lên đến những đỉnh cao thành tựu, và như thế leo lên ngọn núi điểm đạo. Nhưng hôm nay điều này trở nên khả hữu cho nhiều người. Tiếng nói của những người đã thành tựu, tiếng kèn vang dội của những người là [47] điểm đạo đồ trong các huyền nhiệm của Thiên Giới, làm cho bước mới trở nên khả hữu. Khoảnh khắc này độc nhất và khẩn cấp. Lời kêu gọi hướng đến cá nhân, nhưng cũng, lần đầu tiên trong lịch sử, vang lên bên tai đám đông, vì đám đông đã sẵn sàng đáp ứng.
Such is the situation now. The voices of these individuals who have entered into the kingdom call to the multitude today in no uncertain terms, and the issue is sure, though to some the initiating of humanity may seem a slow process. Old truths enunciated by the world Teachers and Saviours are in process of re-interpretation, to meet the ancient needs in new terms and in a more vital way. Those Leaders who mould the spirits of men are holding the doors wide open, and through them mankind will he obliged to pass, rapidly if it will listen, but inevitably, whether it now hears or no.
Tình thế hiện nay là như vậy. Tiếng nói của những cá nhân đã bước vào Thiên Giới hôm nay kêu gọi quần chúng bằng những lời không thể lầm lẫn, và kết quả là chắc chắn, dù đối với một số người việc điểm đạo nhân loại có thể dường như là một tiến trình chậm chạp. Những chân lý xưa do các Đức Chưởng Giáo và Đấng Cứu Thế của thế giới tuyên thuyết đang trong tiến trình được diễn giải lại, để đáp ứng những nhu cầu cổ xưa bằng thuật ngữ mới và theo một cách sống động hơn. Những Vị Lãnh Đạo uốn nắn tinh thần của con người đang mở rộng các cánh cửa, và qua đó nhân loại sẽ buộc phải đi qua, nhanh chóng nếu y chịu lắng nghe, nhưng tất yếu, dù hiện nay y có nghe hay không.
Our theme therefore gradually emerges in our consciousness. We can see that it must be approached from two major angles. We shall study these five initiations of Jesus from the angle, first of all, of the individual aspirant, so that it may become apparent that, as children of God, we can all participate in what the Christ went through. One of the interesting things which appear as we study the life of Christ and note how the divine Plan for that life was progressively registered in His consciousness, is that at first He only dimly sensed what He had to do. The ideas developed as He grew older. After the first initiation, the Birth at Bethlehem, His words to His mother were, “Wist ye not that I must be about my Father’s business?” (St. Luke, II, 49.) He knew that He was ordained to work and to serve, but the specifications of that work were only later made clear to His mind. He simply recognised a Plan, and to that Plan He dedicated Himself. This must also be done by those who follow in His steps.
Vì vậy, chủ đề của chúng ta dần dần hiện ra trong tâm thức chúng ta. Chúng ta có thể thấy rằng nó phải được tiếp cận từ hai góc độ chính. Trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu năm cuộc điểm đạo này của Đức Jesus từ góc độ của người chí nguyện cá nhân, để có thể thấy rõ rằng, với tư cách là con cái của Thượng đế, tất cả chúng ta đều có thể tham dự vào điều Đức Christ đã trải qua. Một trong những điều thú vị xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu đời sống Đức Christ và ghi nhận cách Thiên Cơ dành cho đời sống ấy được ghi nhận dần dần trong tâm thức của Ngài, là lúc đầu Ngài chỉ cảm nhận mơ hồ điều Ngài phải làm. Các ý tưởng phát triển khi Ngài lớn lên. Sau lần điểm đạo thứ nhất, cuộc Giáng Sinh tại Bethlehem, lời Ngài nói với mẹ Ngài là: “Cha mẹ há chẳng biết rằng con phải lo việc của Cha con sao?” (St. Luke, II, 49.) Ngài biết rằng Ngài được định để làm việc và phụng sự, nhưng những chi tiết của công việc ấy chỉ về sau mới được làm sáng tỏ trong trí của Ngài. Ngài chỉ đơn giản nhận ra một Thiên Cơ, và Ngài hiến mình cho Thiên Cơ ấy. Điều này cũng phải được thực hiện bởi những ai theo dấu chân Ngài.
The second initiation, that of the Baptism, then took place. Christ had achieved manhood, and this attainment was followed immediately by a definite and conscious rejection of evil. Recognition of work to be done must be succeeded [48] by the purification of the one who must thus work, and a demonstration must be given of that purification and freedom from evil. This, Christ gave in the victory of the three temptations. Then, only after this evidenced preparation, do we read that He proceeded to teach. (St. Luke, IV, 14, 15.)
Kế đó diễn ra lần điểm đạo thứ hai, tức Phép Rửa. Đức Christ đã đạt đến tuổi trưởng thành, và thành tựu này lập tức được theo sau bởi sự khước từ điều ác một cách xác định và hữu thức. Sự nhận biết về công việc phải làm phải được tiếp nối [48] bằng sự thanh luyện người phải làm việc như thế, và phải có một minh chứng về sự thanh luyện ấy cùng sự tự do khỏi điều ác. Đức Christ đã trao minh chứng này trong chiến thắng ba cơn cám dỗ. Khi ấy, chỉ sau sự chuẩn bị đã được chứng tỏ này, chúng ta mới đọc thấy rằng Ngài bắt đầu giảng dạy. (St. Luke, IV, 14, 15.)
Recognition and preparation for participation in the divine Plan was next followed by dedication to that Plan. After the Transfiguration He entered into a full realisation of what lay ahead for Him, and He defined it clearly to His disciples, saying:
Sự nhận biết và chuẩn bị để tham dự vào Thiên Cơ kế đó được tiếp nối bằng sự hiến mình cho Thiên Cơ ấy. Sau cuộc Biến hình, Ngài bước vào sự chứng nghiệm trọn vẹn về điều đang chờ Ngài phía trước, và Ngài xác định rõ điều đó với các đệ tử của Ngài, rằng:
“... the Son of man must suffer many things, and be rejected of the elders and chief priests and scribes, and be slain, and be raised the third day.... If any man will come after me, let him deny himself, and take up his cross daily, and follow me.”
“... Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các trưởng lão, thượng tế và kinh sư khước từ, bị giết, và ngày thứ ba được sống lại.... Nếu ai muốn theo ta, hãy tự phủ nhận mình, hằng ngày vác thập giá mình và theo ta.”
ST. LUKE, IX, 22, 23.
St. Luke, IX, 22, 23.
Then we read later in the same chapter that “He steadfastly set His face to go” up to the place of suffering and of sacrifice.
Rồi về sau trong cùng chương ấy, chúng ta đọc rằng “Ngài kiên quyết hướng mặt đi lên” nơi đau khổ và hi sinh.
Finally came the realisation that He had accomplished what He had set out to do. He had fulfilled the Plan; the Father’s business had been done and the “many things” undergone. We read that even on the Cross the Plan still engrossed His attention, and with His final “It is finished,” (St. John, XIX, 30.) He passed through the gates of death to a joyful resurrection.
Cuối cùng đến sự nhận ra rằng Ngài đã hoàn thành điều Ngài đặt ra để làm. Ngài đã hoàn tất Thiên Cơ; công việc của Cha đã được thực hiện và “nhiều điều” đã được trải qua. Chúng ta đọc thấy rằng ngay cả trên Thập Giá, Thiên Cơ vẫn chiếm trọn sự chú tâm của Ngài, và với lời cuối cùng “Mọi sự đã hoàn tất,” (St. John, XIX, 30.) Ngài đi qua các cánh cổng của sự chết để đến một cuộc phục sinh hoan hỉ.
The gradual revelation of the Plan and its service always accompanies the initiation process; the individual learns to subordinate his life to the Will of the Father, and to become—as Christ became—the servant of that Will. The initiation process itself is only a part of the general Plan for the race, and the paths of discipleship and of initiation are but the final stages of the Path of Evolution. The earlier steps on the Path are concerned with human living and experiencing, but the final stages, after the new birth, are concerned with spiritual unfoldment.
Sự mặc khải dần dần của Thiên Cơ và việc phụng sự Thiên Cơ ấy luôn đi kèm tiến trình điểm đạo; cá nhân học cách đặt đời sống mình dưới Ý Chí của Cha, và trở thành—như Đức Christ đã trở thành—người phụng sự Ý Chí ấy. Bản thân tiến trình điểm đạo chỉ là một phần của Thiên Cơ chung dành cho nhân loại, và Con Đường Đệ Tử cùng Con Đường Điểm Đạo chỉ là những giai đoạn cuối của Con Đường Tiến Hoá. Những bước đầu trên Con Đường liên hệ đến đời sống và kinh nghiệm nhân loại, nhưng các giai đoạn cuối, sau sự tái sinh, liên hệ đến sự khai mở tinh thần.
What is true of the unfoldment of the individual is true [49] of the race; and all these stages must be worked out in the racial life. Those who see the vision clearly can trace the evidences of this unfolding Plan in the steady growth of several ideas that are now dominant in the world. Without going into detail or entering into lengthy expositions of the subject, the growth of the Plan and of the racial response can be traced quite clearly in the development of the God idea. First, God was a far-away, anthropomorphic Deity, unknown and unloved, but regarded with awe and fear, and worshipped as the Deity expressing Himself through the forces of nature. As time elapsed, this distant God drew a little nearer to His people, taking on a more human colouring until, in the Jewish dispensation, we find Him much like ourselves, but still the wrathful, ethical Ruler, and still obeyed and feared.
Điều đúng với sự khai mở của cá nhân cũng đúng [49] với nhân loại; và tất cả các giai đoạn này phải được thực hiện trong đời sống nhân loại. Những ai thấy tầm nhìn rõ ràng có thể truy nguyên các bằng chứng của Thiên Cơ đang khai mở này trong sự tăng trưởng vững chắc của một số ý tưởng hiện đang chi phối thế giới. Không đi vào chi tiết hay bước vào những phần trình bày dài dòng về chủ đề này, sự tăng trưởng của Thiên Cơ và của sự đáp ứng nhân loại có thể được truy nguyên khá rõ trong sự phát triển của ý tưởng về Thượng đế. Trước hết, Thượng đế là một Thượng Đế xa xôi, mang hình người, không được biết và không được yêu, nhưng được nhìn với sự kính sợ và khiếp sợ, và được tôn thờ như Thượng Đế biểu hiện chính Ngài qua các mãnh lực của tự nhiên. Khi thời gian trôi qua, Thượng đế xa xôi này tiến lại gần dân của Ngài hơn một chút, mang màu sắc nhân tính hơn, cho đến khi, trong thời kỳ Do Thái, chúng ta thấy Ngài rất giống chúng ta, nhưng vẫn là Đấng Cai Trị phẫn nộ và đạo đức, vẫn được vâng phục và kính sợ.
He approached still nearer as time went on; and before the advent of Christianity men recognised Him as the beloved Krishna of the Hindu faith, and as the Buddha. Then the Christ came to the West. God Himself was seen incarnate among men. The distant had become the near, and the One Who had been worshipped in awe and wonder could now be known and loved. Today God is coming closer still, and the new age will not only recognise the truth of the past revelations and testify to their validity and their progressive revelation of divinity, but to all this will be added the ultimate revelation of the Presence of God in the human heart, of Christ born in man, and of each human being manifesting, in truth, as a son of God.
Ngài tiến lại gần hơn nữa khi thời gian trôi qua; và trước khi Cơ Đốc giáo xuất hiện, con người nhận biết Ngài như Krishna được yêu dấu của đức tin Ấn Độ giáo, và như Đức Phật. Rồi Đức Christ đến phương Tây. Chính Thượng đế được thấy nhập thể giữa con người. Đấng xa xôi đã trở thành Đấng gần gũi, và Đấng từng được tôn thờ trong kính sợ và kinh ngạc giờ đây có thể được biết và được yêu. Ngày nay Thượng đế đang đến gần hơn nữa, và kỷ nguyên mới sẽ không chỉ nhận biết chân lý của các mặc khải quá khứ và làm chứng cho tính xác thực của chúng cùng sự mặc khải tiến triển của chúng về thiên tính, mà thêm vào tất cả điều này sẽ là sự mặc khải tối hậu về Sự Hiện Diện của Thượng đế trong trái tim con người, về Đức Christ được sinh ra trong con người, và về mỗi con người thật sự biểu hiện như một người con của Thượng đế.
In a consideration of the unfoldment of consciousness the same emerging divine Plan appears. Though the race in its infancy was governed by instinct, as time elapsed the intellect began to show itself and is continuing to control human affairs, government and thought. Out of the intellect, rightly used and understood, something fairer and still more revealing is being evolved, and steadily we can trace the growth of this new force, the intuition, in modern intelligent man. This, in its turn, brings illumination, and so [50] man passes from glory to glory until the omniscient cosmic Son of God can be seen, expressing Himself through every son of man.
Trong việc xem xét sự khai mở của tâm thức, cùng Thiên Cơ thiêng liêng đang hiện ra ấy cũng xuất hiện. Dù nhân loại trong thời thơ ấu bị bản năng cai quản, khi thời gian trôi qua, trí năng bắt đầu tự biểu lộ và tiếp tục kiểm soát các công việc, chính quyền và tư tưởng của con người. Từ trí năng, khi được sử dụng và thấu hiểu đúng đắn, một điều đẹp đẽ hơn và còn mặc khải hơn đang được tiến hoá, và một cách đều đặn chúng ta có thể truy nguyên sự tăng trưởng của mãnh lực mới này, tức trực giác, trong con người thông minh hiện đại. Điều này, đến lượt nó, đem lại sự soi sáng, và như thế [50] con người đi từ vinh quang đến vinh quang cho đến khi Con của Thượng đế thuộc vũ trụ, toàn tri, có thể được thấy đang biểu hiện chính Ngài qua mọi người con của nhân loại.
Again, the same unfoldment can be traced racially in the transition we have made through the various stages from that of the isolated savage to the family and the tribe, then to the unification of the tribes into nations under one central government, until today we live in a world which is beginning to respond to that which is greater than the nation—humanity itself—and to conceive its expression through the development of an international consciousness. No matter by what line we trace the growth of the Plan, we come from a distant, dark and ignorant past to a present point wherein truer values are seen emerging. We begin to see what that Plan is and whither we are going. We are entering steadily into the world of spiritual realities, because “there is a road from every natural group of facts to every spiritual reality in the universe; and the essential nature of mind forces it always in some degree to traverse this road....” (‘The Value and Destiny of the Individual’, by B. Bosanquet, p. 111.)
Một lần nữa, cùng sự khai mở ấy có thể được truy nguyên trong nhân loại qua sự chuyển tiếp mà chúng ta đã thực hiện xuyên qua các giai đoạn khác nhau, từ người dã man cô lập đến gia đình và bộ tộc, rồi đến sự hợp nhất các bộ tộc thành quốc gia dưới một chính quyền trung ương, cho đến ngày nay chúng ta sống trong một thế giới đang bắt đầu đáp ứng với điều lớn hơn quốc gia—chính nhân loại—và quan niệm sự biểu hiện của nó qua sự phát triển một tâm thức quốc tế. Dù chúng ta truy nguyên sự tăng trưởng của Thiên Cơ theo đường nào, chúng ta cũng đi từ một quá khứ xa xôi, tối tăm và vô minh đến một điểm hiện tại, nơi những giá trị chân thật hơn đang được thấy hiện ra. Chúng ta bắt đầu thấy Thiên Cơ ấy là gì và chúng ta đang đi về đâu. Chúng ta đang đều đặn bước vào thế giới của các thực tại tinh thần, vì “có một con đường từ mỗi nhóm sự kiện tự nhiên đến mỗi thực tại tinh thần trong vũ trụ; và bản chất thiết yếu của trí tuệ luôn buộc nó, ở một mức độ nào đó, phải đi qua con đường này....” (‘The Value and Destiny of the Individual’, của B. Bosanquet, tr. 111.)
At this “end of the age” man stands before the door of opportunity, and, because he is in process of discovering his own divinity, he will enter into the realm of real values and arrive at a truer knowledge of God. The mystery of the new birth confronts him, and through that experience he must pass.
Tại “cuối kỷ nguyên” này, con người đứng trước cánh cửa cơ hội, và vì y đang trong tiến trình khám phá thiên tính của chính mình, y sẽ bước vào cõi của các giá trị chân thật và đạt đến một tri thức chân thật hơn về Thượng đế. Huyền nhiệm của sự tái sinh đối diện với y, và y phải đi qua kinh nghiệm ấy.
This divinity in man must be brought to the birth, both in the individual and in the race, and thus can the kingdom of God on earth be brought into being.
Thiên tính này trong con người phải được đưa đến chỗ sinh ra, cả trong cá nhân lẫn trong nhân loại, và như thế Thiên Giới trên Trái Đất có thể được đưa vào hiện hữu.
3
3
All of these five initiations have certain basic points in common, resemblances which in themselves are of real significance. There are factors which are germane to all of them. The Way into the kingdom is universal, and man himself is the symbol and the reality. He looks out at all [51] the myths and symbols of the world; he reads and knows the story of the world Saviours; at the same time he himself has to re-enact the same story and make myth a fact in his own personal experience; he must know Christ; he must also follow Christ stage by stage through the great experiences of the initiatory process.
Tất cả năm cuộc điểm đạo này có một số điểm căn bản chung, những tương đồng tự chúng mang thâm nghĩa thật sự. Có những yếu tố liên quan đến tất cả các cuộc ấy. Con Đường vào Thiên Giới là phổ quát, và chính con người vừa là biểu tượng vừa là thực tại. Y nhìn ra tất cả [51] các huyền thoại và biểu tượng của thế giới; y đọc và biết câu chuyện về các Đấng Cứu Thế của thế giới; đồng thời chính y phải tái diễn cùng câu chuyện ấy và biến huyền thoại thành sự kiện trong kinh nghiệm cá nhân của chính mình; y phải biết Đức Christ; y cũng phải theo Đức Christ từng giai đoạn qua những kinh nghiệm vĩ đại của tiến trình điểm đạo.
Every initiation is preceded by a journey; each stage and each dramatic happening comes at the end of a period of travel. The symbolism of this is apparent. “The treading of the Path” is a familiar way of describing the approach of a human being to the mysteries. It is interesting to note that today the whole world is on the move. Everybody is travelling and journeying—a process symbolic of an inner condition of search and movement towards a preordained goal. Travel by rail, by steamship and by airplane is today the lot of everyone. Groups of people in many countries are being transferred from place to place as economic conditions make possible and destiny dictates. We are journeying hither and thither. We are on our way, widening our horizons. We are also preparing for expansions of consciousness which will enable us to live in two realms at once—the life which must be lived on earth and the life which we can live in the kingdom of God. Humanity is on the first stage of its journey towards the mystic Bethlehem where the Christ child will be born, and the first initiation is, at this time, an imminent happening for many.
Mỗi cuộc điểm đạo đều được đi trước bởi một hành trình; mỗi giai đoạn và mỗi biến cố kịch tính đến vào cuối một thời kỳ lữ hành. Tính biểu tượng của điều này thật hiển nhiên. “Việc bước đi trên Đường Đạo” là một cách quen thuộc để mô tả sự tiếp cận của một con người đối với các huyền nhiệm. Thật thú vị khi lưu ý rằng ngày nay toàn thế giới đang chuyển động. Mọi người đều đang du hành và lữ hành—một tiến trình tượng trưng cho một tình trạng bên trong của tìm kiếm và chuyển động hướng tới một mục tiêu đã được định trước. Du hành bằng đường sắt, tàu hơi nước và máy bay ngày nay là phần của mọi người. Các nhóm người ở nhiều quốc gia đang được chuyển dịch từ nơi này sang nơi khác khi điều kiện kinh tế cho phép và định mệnh quy định. Chúng ta đang lữ hành đây đó. Chúng ta đang trên đường, mở rộng chân trời của mình. Chúng ta cũng đang chuẩn bị cho những mở rộng tâm thức sẽ cho phép chúng ta sống trong hai cõi cùng lúc—đời sống phải sống trên Trái Đất và đời sống chúng ta có thể sống trong Thiên Giới. Nhân loại đang ở giai đoạn đầu tiên của hành trình hướng về Bethlehem thần bí, nơi hài nhi Christ sẽ được sinh ra, và lần điểm đạo thứ nhất, vào lúc này, là một biến cố sắp xảy ra đối với nhiều người.
“To every man there openeth
“Đối với mỗi người đều mở ra
A way, and ways and a WAY.
Một con đường, và nhiều con đường, và một CON ĐƯỜNG.
And the high soul takes the high way
Và linh hồn cao thượng chọn con đường cao
And the low soul gropes the low;
Còn linh hồn thấp mò mẫm con đường thấp;
And in between, on the misty flats,
Và ở giữa, trên những đồng bằng mù sương,
The rest drift to and fro,
Những người còn lại trôi dạt qua lại,
But to every man there openeth
Nhưng đối với mỗi người đều mở ra
A high way and a low.
Một con đường cao và một con đường thấp.
And every man decideth
Và mỗi người tự quyết định
The way his soul shall go.”
Con đường linh hồn mình sẽ đi.”
JOHN OXENHAM
John Oxenham
[52] Again, every initiation is marked by the enunciation of a Word of Power. The initiate hears it, though the rest of the world may not. When Christ passed through these crises, in every case a Voice sounded out, and the sound which went forth “opened anew the gates of life.” Door after door is opened on the demand of the initiate and at the response by the Initiator, standing on the other side of the portal. We shall see what each Word signified. The Word always issues forth from the centre. Again and again in the New Testament we are told that “He that hath ears to hear, let him hear,” (St. Matt., XI, 15.) and a study of the words spoken to the seven Churches in Revelations will bring much light upon the factor of the Word.
[52] Một lần nữa, mỗi cuộc điểm đạo được đánh dấu bằng sự tuyên xướng một Quyền năng từ. Điểm đạo đồ nghe nó, dù phần còn lại của thế giới có thể không nghe. Khi Đức Christ trải qua các khủng hoảng này, trong mỗi trường hợp đều có một Tiếng Nói vang lên, và âm thanh phát ra “mở lại các cánh cổng của sự sống.” Cánh cửa này rồi cánh cửa khác được mở ra theo yêu cầu của điểm đạo đồ và theo sự đáp ứng của Đấng Điểm đạo, Đấng đứng ở phía bên kia cánh cổng. Chúng ta sẽ thấy mỗi Linh từ biểu thị điều gì. Linh từ luôn phát ra từ trung tâm. Hết lần này đến lần khác trong Tân Ước, chúng ta được bảo rằng “Ai có tai để nghe, hãy nghe,” (St. Matt., XI, 15.) và việc nghiên cứu những lời được nói với bảy Giáo Hội trong sách Khải Huyền sẽ đem nhiều ánh sáng đến yếu tố Linh từ.
Great racial Words have been sounded forth and have brought about needed changes, and have signified a potency of true spiritual value to the sensitive.
Những Linh từ lớn của nhân loại đã được xướng lên, đã đem lại những thay đổi cần thiết, và biểu thị một quyền năng có giá trị tinh thần chân thật đối với người nhạy bén.
The Word or sound for ancient Asia in the past was TAO, or the Way. It stood for that ancient Way which the Initiates of the far East trod and taught. For our race the sound is AUM, which has degenerated in our Occidental vernacular into AMEN. The ancient scriptures of India regard this Word as peculiarly the indication of divinity, of the spirit of life, the breath of God. What the new Word will be which will “come forth from the centre” we do not know, for it will not be heard until the race is ready. But there is a common Word of Power which will be given into the custody of our race if we measure up to our opportunity and, through the new birth, enter into the kingdom of God. It is this Word which will quicken into life the hidden soul of man and galvanise him into a renewed spiritual activity. As the race grows in sensitivity, as the aspirants of the world in all the many religions cultivate the ability (through meditation) to hear the Voice which can tune out all other voices, and as they learn to register the Sound which will obliterate all other sounds, they will, as a group, record the new Word which will issue forth.
Linh từ hay âm thanh dành cho châu Á cổ xưa trong quá khứ là TAO, hay Con Đường. Nó tượng trưng cho Con Đường cổ xưa mà các Điểm đạo đồ Viễn Đông đã bước đi và giảng dạy. Đối với nhân loại chúng ta, âm thanh là AUM, vốn đã thoái hóa trong ngôn ngữ phương Tây thông dụng của chúng ta thành AMEN. Các thánh thư cổ của Ấn Độ xem Linh từ này đặc biệt là dấu hiệu của thiên tính, của tinh thần sự sống, hơi thở của Thượng đế. Linh từ mới sẽ là gì, Linh từ sẽ “phát ra từ trung tâm,” chúng ta không biết, vì nó sẽ không được nghe cho đến khi nhân loại sẵn sàng. Nhưng có một Quyền năng từ chung sẽ được giao vào sự gìn giữ của nhân loại chúng ta nếu chúng ta xứng đáng với cơ hội của mình và, qua sự tái sinh, bước vào Thiên Giới. Chính Linh từ này sẽ làm sống động linh hồn ẩn tàng của con người và kích hoạt y vào một hoạt động tinh thần được đổi mới. Khi nhân loại tăng trưởng về độ nhạy bén, khi những người chí nguyện của thế giới trong tất cả các tôn giáo phong phú nuôi dưỡng khả năng, qua tham thiền, nghe Tiếng Nói có thể làm lặng mọi tiếng nói khác, và khi họ học cách ghi nhận Âm Thanh sẽ xóa mờ mọi âm thanh khác, họ, với tư cách một nhóm, sẽ ghi nhận Linh từ mới sẽ phát ra.
[53] At each initiation of Jesus, as we shall see, a Sign was given; it was a Sign which registered upon the consciousness of those who were not initiate. Each time, a symbol or form was seen which was indicative of the revelation. Christ Himself tells us that at the end of the age the sign of the Son of Man will be seen in the Heavens. (St. Matt., XXIV, 30.) Just as the Birth at Bethlehem was ushered in by a Sign, that of the Star, so shall that birth towards which the race is hastening be likewise ushered in by a heavenly Sign. The appeal which goes up from the hearts of all true aspirants to initiation is beautifully embodied in the following prayer:
[53] Ở mỗi cuộc điểm đạo của Đức Jesus, như chúng ta sẽ thấy, một Dấu Hiệu được trao; đó là một Dấu Hiệu ghi nhận trên tâm thức của những người chưa được điểm đạo. Mỗi lần, một biểu tượng hay hình tướng được thấy, biểu thị sự mặc khải. Chính Đức Christ nói với chúng ta rằng vào cuối kỷ nguyên, dấu hiệu của Con Người sẽ được thấy trên Trời. (St. Matt., XXIV, 30.) Cũng như cuộc Giáng Sinh tại Bethlehem được báo trước bằng một Dấu Hiệu, tức Ngôi Sao, thì cuộc sinh mà nhân loại đang vội vã hướng tới cũng sẽ được báo trước bằng một Dấu Hiệu trên trời. Lời khẩn cầu dâng lên từ trái tim của mọi người chí nguyện chân chính hướng đến điểm đạo được thể hiện tuyệt đẹp trong lời cầu nguyện sau:
“There is a peace that passeth understanding; it abides in the hearts of those who live in the Eternal. There is a power which maketh all things new. It lives and moves in those who know the Self as One. May that peace brood over us; that power uplift us, till we stand where the One Initiator is invoked, till we see His star shine forth.”
“Có một sự an bình vượt quá sự thấu hiểu; nó trú ngụ trong trái tim của những người sống trong Vĩnh Cửu. Có một quyền năng làm cho mọi sự trở nên mới. Nó sống và chuyển động trong những người biết Bản Ngã là Một. Cầu mong sự an bình ấy ấp ủ chúng ta; quyền năng ấy nâng chúng ta lên, cho đến khi chúng ta đứng nơi Đấng Điểm đạo Duy Nhất được khẩn cầu, cho đến khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài chiếu rạng.”
When that Sign is seen and the Word is heard, the next step will be the recording of the Vision. The Plan and the part to be played by the initiate are shown to him, and he knows what he has to do. This Vision is spoken of as “the vision of God,” but it is expressed to man in terms of God’s will and the completeness of that which God intends. We are intended to be initiate into the mystery of that will. The vision of God is the vision of God’s Plan. No man has seen God at any time. The revelation of God comes through the revelation of Christ.
Khi Dấu Hiệu ấy được thấy và Linh từ được nghe, bước kế tiếp sẽ là ghi nhận Linh ảnh. Thiên Cơ và phần việc mà điểm đạo đồ phải đảm nhiệm được chỉ cho y thấy, và y biết mình phải làm gì. Linh ảnh này được nói đến như “linh ảnh về Thượng đế”, nhưng nó được diễn đạt cho con người theo Ý Chí của Thượng Đế và sự viên mãn của điều Thượng Đế dự định. Chúng ta được định sẵn để được điểm đạo vào huyền nhiệm của ý chí ấy. Linh ảnh về Thượng đế là linh ảnh về Thiên Cơ của Thượng Đế. Chưa từng có người nào thấy Thượng Đế vào bất cứ lúc nào. Sự mặc khải về Thượng Đế đến qua sự mặc khải của Đức Christ.
“Philip saith unto him, Lord, shew us the Father, and it sufficeth us.
“Philip thưa với Ngài: Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy Cha, thế là đủ cho chúng con.
“Jesus saith unto him, Have I been so long time with you, and yet hast thou not known me, Philip? He that hath seen me hath seen the Father.”
“Đức Jesus phán với ông: Ta đã ở với các con lâu như vậy mà con vẫn chưa biết Ta sao, Philip? Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha.”
ST. JOHN, XIV, 8, 9.
THÁNH GIOAN, XIV, 8, 9.
Christ revealed in Himself the will of God and gave to humanity a vision of God’s Plan for the world, this Plan [54] being the coming of the kingdom. He was God, and the word of God went forth from Him.
Đức Christ đã mặc khải trong chính Ngài Ý Chí của Thượng Đế và trao cho nhân loại một linh ảnh về Thiên Cơ của Thượng Đế dành cho thế gian; Thiên Cơ [54] này là sự giáng lâm của Thiên Giới. Ngài là Thượng Đế, và Linh từ của Thượng Đế phát ra từ Ngài.
Man lives by the incarnation of God in himself. By passing through the gate of the new birth, he can redeem the flesh in which that divinity is encased, and can then help in the redemption of the world. For the race, too, there is the crisis, the initiation and the vision. “Where there is no vision, the people perish.” (Prov., XXIX, 18.) But that vision is never of the whole Plan. It is not of the ultimate experience nor of the unfathomable consummation. For that we are not as yet prepared. Christ Himself did not proclaim the final revelation. He saw and proclaimed the next step for the race. The events immediately ahead are sensed, to be later intelligently considered; there is a moment of prevision, a foretelling of movement and activity, of difficultly and service, and of the next unfolding glory.
Con người sống nhờ sự nhập thể của Thượng Đế trong chính mình. Bằng cách đi qua cánh cửa của cuộc sinh mới, y có thể cứu chuộc xác phàm trong đó thiên tính ấy được bao bọc, rồi sau đó có thể trợ giúp vào công cuộc cứu chuộc thế gian. Đối với nhân loại cũng vậy, có cuộc khủng hoảng, cuộc điểm đạo và linh ảnh. “Ở đâu không có linh ảnh, dân chúng sẽ diệt vong.” (Châm ngôn, XXIX, 18.) Nhưng linh ảnh ấy không bao giờ là toàn bộ Thiên Cơ. Nó không phải là kinh nghiệm tối hậu, cũng không phải là sự viên mãn khôn dò. Đối với điều đó, chúng ta chưa được chuẩn bị. Chính Đức Christ cũng không tuyên bố sự mặc khải cuối cùng. Ngài thấy và tuyên bố bước kế tiếp cho nhân loại. Những biến cố ngay trước mắt được cảm nhận, để về sau được xem xét một cách sáng suốt; có một khoảnh khắc tiên kiến, một sự báo trước về chuyển động và hoạt động, về khó khăn và phụng sự, và về vinh quang kế tiếp đang khai mở.
Following the vision, as that followed initiation, comes a renewed cycle of test and of difficulty. The truths revealed and the revelation accorded have to be worked out in the experience of daily life. Moments of assimilation and reflection must succeed the periods of exaltation and of vision. Unless there is a practical experience of that which is known, it remains upon the mountain top of revelation.
Theo sau linh ảnh, cũng như linh ảnh theo sau điểm đạo, là một chu kỳ mới của thử thách và khó khăn. Những chân lý đã được mặc khải và sự mặc khải đã được ban phải được thực hiện trong kinh nghiệm của đời sống hằng ngày. Những khoảnh khắc đồng hóa và suy ngẫm phải nối tiếp các giai đoạn siêu thăng và linh ảnh. Nếu không có kinh nghiệm thực tiễn về điều đã được biết, nó vẫn còn ở trên đỉnh núi của mặc khải.
Finally, every initiation leads to expanded service. Practical spiritual living must follow the moments on the mountain top. Self and its attainment must be forgotten in service to others. From this there is no escape. Every pinnacle of achievement is followed by a cycle of testing. Every new revelation grasped and appropriated has to be adapted to the needs of a consequent and strenuous life of service, and initiation ever calls forth renewed testing and enhanced power to serve.
Sau cùng, mỗi cuộc điểm đạo đều dẫn đến sự phụng sự được mở rộng. Đời sống tinh thần thực tiễn phải theo sau những khoảnh khắc trên đỉnh núi. Bản ngã và thành tựu của nó phải được quên đi trong sự phụng sự người khác. Không thể tránh khỏi điều này. Mỗi đỉnh cao thành tựu đều được tiếp nối bằng một chu kỳ thử thách. Mỗi mặc khải mới được nắm bắt và tiếp nhận phải được thích ứng với các nhu cầu của một đời sống phụng sự gian khổ tiếp theo; và điểm đạo luôn luôn gợi lên thử thách mới cùng quyền năng phụng sự được gia tăng.
4
4
“And so it was, that, while they were there, the days were accomplished that she should be delivered. And she brought forth [55] her firstborn son, and wrapped him in swaddling clothes and laid him in a manger; because there was no room for them in the inn.”
“Và sự việc xảy ra là, trong khi họ ở đó, đã đến ngày bà phải sinh nở. Bà sinh [55] con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con và đặt nằm trong máng cỏ; vì trong quán trọ không còn chỗ cho họ.”
ST. LUKE, II, 6, 7.
THÁNH LUCA, II, 6, 7.
In these simple words the momentous story begins—a story of such far-reaching consequences that only today are we beginning to register the results. Only today, two thousand years after the event, is the lesson of Christ’s life taking formative effect in the imaginations of men; only today is the unique lesson which He came to teach producing the needed changes in the capacity of men to apprehend. Only now are we becoming aware that the historical evidence of His arrival on earth is history itself, and that there is in the world the evidence of two great streams of endeavour or of activity—that which is the stream of the common, separative, unfolding consciousness of man, and that which is the steady application of the message of Christ to current affairs, modifying them, changing them and determining—far more than we can realise—the way that we should go. Christ came in the fullness of time, just as humanity was approaching maturity, and showed us, in Himself and through His life, what a man could be and was.
Trong những lời giản dị này, câu chuyện trọng đại bắt đầu—một câu chuyện có những hệ quả sâu rộng đến nỗi chỉ ngày nay chúng ta mới bắt đầu ghi nhận các kết quả. Chỉ ngày nay, hai nghìn năm sau biến cố ấy, bài học của đời sống Đức Christ mới bắt đầu tạo hiệu quả định hình trong sự tưởng tượng của con người; chỉ ngày nay, bài học độc nhất vô nhị mà Ngài đến để giảng dạy mới tạo ra những thay đổi cần thiết trong năng lực lĩnh hội của con người. Chỉ lúc này chúng ta mới bắt đầu ý thức rằng bằng chứng lịch sử về sự giáng lâm của Ngài trên Trái Đất chính là lịch sử, và rằng trong thế gian có bằng chứng về hai dòng nỗ lực hay hoạt động lớn—dòng thứ nhất là dòng tâm thức đang khai mở, thông thường, phân ly của con người, và dòng thứ hai là sự áp dụng bền bỉ thông điệp của Đức Christ vào các sự việc hiện tại, làm biến đổi, thay đổi và quyết định chúng—nhiều hơn chúng ta có thể nhận ra rất xa—con đường mà chúng ta phải đi. Đức Christ đã đến khi thời gian viên mãn, đúng lúc nhân loại đang tiến đến sự trưởng thành, và trong chính Ngài cũng như qua đời sống của Ngài, Ngài chỉ cho chúng ta thấy con người có thể là gì và đã là gì.
The Son of God is also the Son of Man! This fact has, perhaps, been forgotten in the emphasis laid upon His divinity. That divinity is there, and nothing can touch or hide it; it is radiance and pure white light. But the manhood is there also, a guarantee to us of our opportunity and of our potentialities, an endorsement of our faith. In the magnetic power, breathed out through the words of the Beloved Apostle as he portrayed Christ as the Son of God who speaks divinely, we have fallen down in love and adoration before that divinity. But His manhood is emphasised by St. Luke and St. Matthew, just as His life as the Great Server was emphasised by St. Mark. We have fought over the divinity of Christ. Had there been no Gospel but the Gospel of St. [56] John, only His divinity would have been known to us. Christ as man, and what He did and was as man, is not considered by this writer.
Con của Thượng đế cũng là Con của Nhân Loại! Sự kiện này có lẽ đã bị quên lãng trong sự nhấn mạnh đặt lên thiên tính của Ngài. Thiên tính ấy vẫn ở đó, và không điều gì có thể chạm đến hay che khuất nó; nó là hào quang và ánh sáng trắng tinh thuần. Nhưng nhân tính cũng ở đó, một bảo chứng cho chúng ta về cơ hội và các tiềm năng của mình, một sự xác nhận cho đức tin của chúng ta. Trong quyền năng từ tính, được thở ra qua những lời của Vị Tông Đồ Yêu Dấu khi ông mô tả Đức Christ như Con của Thượng đế, Đấng phán dạy một cách thiêng liêng, chúng ta đã phủ phục trong tình thương và sự tôn thờ trước thiên tính ấy. Nhưng nhân tính của Ngài được Thánh Luca và Thánh Matthêu nhấn mạnh, cũng như đời sống của Ngài với tư cách Người Phụng Sự Vĩ Đại được Thánh Marcô nhấn mạnh. Chúng ta đã tranh đấu về thiên tính của Đức Christ. Nếu không có Tin Mừng nào ngoài Tin Mừng theo Thánh [56] Gioan, thì chỉ thiên tính của Ngài mới được chúng ta biết đến. Đức Christ với tư cách con người, và điều Ngài đã làm cũng như đã là với tư cách con người, không được tác giả này xem xét.
Any modern writer, when responsible for a biography of the Christ, would come under most serious criticism (from the theologians and the orthodox) had he omitted these important points. But evidently, in the opinion of the apostle, they were not of paramount importance. It was the Spirit of Christ that was vital and necessary. The other three apostles supplied the setting and the detail, and apparently did much to bring that detail into conformity with the teaching of the past, as to the environment and lives of the past world-teachers and saviours, for there is a curious identity in events and occurrences.
Bất cứ tác giả hiện đại nào, khi chịu trách nhiệm viết tiểu sử về Đức Christ, sẽ bị phê phán nghiêm trọng nhất từ các nhà thần học và những người chính thống nếu ông bỏ qua các điểm quan trọng này. Nhưng hiển nhiên, theo quan điểm của vị tông đồ, chúng không có tầm quan trọng tối thượng. Chính Tinh Thần của Đức Christ mới là điều thiết yếu và cần thiết. Ba vị tông đồ kia cung cấp bối cảnh và chi tiết, và dường như đã làm nhiều để đưa chi tiết ấy phù hợp với giáo huấn của quá khứ, xét về môi trường và đời sống của các vị Chưởng Giáo và các Đấng Cứu Thế trước kia của thế gian, vì có một sự đồng nhất kỳ lạ trong các biến cố và sự việc xảy ra.
We have fought over the detail connected with the phenomenal appearing of Christ, and have overlooked the emphasis laid in three of the initiations upon His words and their meaning. We have taken our stand upon the physical happenings of His life and have struggled to prove the authentic historicity of those physical events, and all the time God Himself speaks, “Hear ye Him.”
Chúng ta đã tranh đấu về chi tiết liên hệ đến sự xuất hiện hiện tượng của Đức Christ, và đã bỏ qua sự nhấn mạnh đặt trong ba cuộc điểm đạo lên các lời của Ngài và ý nghĩa của chúng. Chúng ta đã đặt lập trường dựa trên các sự kiện hồng trần của đời Ngài và đã ra sức chứng minh tính lịch sử xác thực của những sự kiện hồng trần ấy, trong khi suốt thời gian đó chính Thượng Đế phán: “Hãy nghe Ngài.”
Another point which is frequently forgotten is that, in so coming to earth and taking human incarnation, God testified to His faith in the divinity which is in man. God had sufficient confidence in men and in their reaction to world conditions so that He gave His Son to demonstrate the possibility to man and thus save the world. In this He gave expression to His belief, and His conduct was dictated by that belief. In reverence I would like to say that man’s divinity warranted an expression of divinity. So God acted. Dean Inge, when writing upon the works of Plotinus, says very appositely that “the conduct of life rests on an act of faith which begins with an experiment and ends with an experience.” These words are true of God and of man. God had such faith in man’s innate spirituality—and what is spirituality but the expression, in form, of divinity?—that He ventured on a great [57] experiment which has led into the Christian experience. Faith in Christ! Faith in humanity! Faith in man’s responsiveness to the experiment! Faith that the vision given will be transmuted or developed into experience! Such was the faith of God in humanity. The Christian faith, in spite of dogma and doctrine, and in spite of the distortions of the academic theologian and the impositions of a few unintelligent churchmen, has brought together God and man, blended in the Christ, and so presented the truth that each human being can also have faith to venture the experiment and undergo the experience. This vital, dramatic, mystically pictured yet living truth, when grasped by the mind and understood by the heart, will enable each aspirant to the Christian Mysteries to pass through the gateway of the new Birth into light, and walk thenceforth increasingly in that light, for “the path of the just is as the shining light, that shineth more and more unto the perfect day.” (Prov., IV, 18.) This truth is still a living truth and enriches and colours all our faith.
Một điểm khác thường bị quên lãng là, khi đến Trái Đất như vậy và nhận lấy sự nhập thể làm người, Thượng Đế đã chứng thực đức tin của Ngài vào thiên tính vốn có trong con người. Thượng Đế có đủ niềm tin nơi con người và nơi phản ứng của họ trước các điều kiện thế giới, đến nỗi Ngài đã ban Con của Ngài để chứng minh khả năng ấy cho con người và nhờ đó cứu thế gian. Trong điều này, Ngài đã biểu lộ niềm tin của Ngài, và hành động của Ngài được chi phối bởi niềm tin ấy. Với lòng tôn kính, tôi muốn nói rằng thiên tính của con người bảo đảm cho một biểu lộ của thiên tính. Vì vậy Thượng Đế đã hành động. Viện trưởng Inge, khi viết về các tác phẩm của Plotinus, đã nói rất xác đáng rằng “cách sống đặt nền trên một hành vi đức tin, khởi đầu bằng một cuộc thử nghiệm và kết thúc bằng một kinh nghiệm.” Những lời này đúng với Thượng Đế và với con người. Thượng Đế có đức tin như thế vào tinh thần bẩm sinh của con người—và tinh thần là gì nếu không phải là sự biểu lộ, trong hình tướng, của thiên tính?—đến nỗi Ngài đã mạo hiểm thực hiện một cuộc thử nghiệm vĩ đại [57] dẫn vào kinh nghiệm Kitô giáo. Đức tin nơi Đức Christ! Đức tin nơi nhân loại! Đức tin nơi sự đáp ứng của con người trước cuộc thử nghiệm! Đức tin rằng linh ảnh được ban sẽ được chuyển hoá hoặc phát triển thành kinh nghiệm! Đó là đức tin của Thượng Đế nơi nhân loại. Đức tin Kitô giáo, bất chấp giáo điều và học thuyết, bất chấp những bóp méo của nhà thần học kinh viện và những áp đặt của một vài giáo sĩ thiếu sáng suốt, đã đưa Thượng Đế và con người lại với nhau, hòa nhập trong Đức Christ, và đã trình bày chân lý đến mức mỗi con người cũng có thể có đức tin để dám thực hiện cuộc thử nghiệm và trải qua kinh nghiệm. Chân lý thiết yếu, kịch tính, được mô tả một cách thần bí nhưng vẫn sống động này, khi được thể trí nắm bắt và được trái tim thấu hiểu, sẽ giúp mỗi người chí nguyện bước vào các Huyền Nhiệm Kitô giáo đi qua cổng của cuộc Sinh mới để vào ánh sáng, và từ đó về sau bước đi ngày càng nhiều hơn trong ánh sáng ấy, vì “đường của người công chính như ánh sáng rạng ngời, càng lúc càng sáng thêm cho đến ngày hoàn hảo.” (Châm ngôn, IV, 18.) Chân lý này vẫn là một chân lý sống động, làm phong phú và tô điểm toàn bộ đức tin của chúng ta.
In this continuity (which is the basis of our faith in the love of God) there have been, as we have seen, many Words sent forth from the Centre. Many Sons of God, down the ages, have given to humanity a progressively revealing vision of the “heights of possibility,” interpreting God’s Plan to the race in terms suited to each age and temperament. The uniformity of their life story, the appearance again and again of the Virgin Mother (whose name is frequently a variation of the name Mary), the similarity in detail of the birth story, all indicate to us the constant re-enactment of a truth, so that from its dramatic quality and its repeated happening, God impresses upon the hearts of men certain great truths which are vital to their salvation.
Trong tính liên tục này, vốn là nền tảng của đức tin chúng ta vào tình thương của Thượng Đế, như chúng ta đã thấy, đã có nhiều Linh từ được phóng phát từ Trung Tâm. Qua các thời đại, nhiều Con của Thượng đế đã trao cho nhân loại một linh ảnh ngày càng mặc khải về “những đỉnh cao của khả năng”, diễn giải Thiên Cơ của Thượng Đế cho nhân loại bằng những thuật ngữ thích hợp với từng thời đại và khí chất. Sự đồng nhất trong câu chuyện đời của Các Ngài, sự xuất hiện hết lần này đến lần khác của Người Mẹ Đồng Trinh, tên của bà thường là một biến thể của tên Maria, sự tương đồng trong chi tiết của câu chuyện giáng sinh, tất cả đều chỉ cho chúng ta thấy sự tái diễn liên tục của một chân lý, để từ tính kịch tính và sự kiện lặp đi lặp lại của nó, Thượng Đế khắc ghi vào trái tim con người một số chân lý lớn lao, thiết yếu cho sự cứu rỗi của họ.
One of these truths is that the love of God is eternal, and that His love for His people has been steadfast and unalterable. Whenever the time is ripe and the need of the people warrants it, He comes forth for the saving of the souls of men. [58] Krishna in ancient India proclaimed this truth in the majestic words:
Một trong những chân lý này là tình thương của Thượng Đế là vĩnh cửu, và tình thương của Ngài dành cho dân Ngài là bền vững, không thay đổi. Mỗi khi thời gian đã chín muồi và nhu cầu của dân chúng đòi hỏi, Ngài xuất hiện để cứu rỗi linh hồn con người. [58] Krishna ở Ấn Độ cổ đại đã tuyên bố chân lý này bằng những lời uy nghi:
“Whenever there is a withering of the law ... and an uprising of lawlessness on all sides, then I manifest Myself.
“Mỗi khi Định luật suy tàn... và sự vô luật nổi dậy khắp mọi phía, bấy giờ Ta biểu hiện Chính Ta.
“For the salvation of the righteous and the destruction of such as do evil; for the firm establishing of the law I come to birth in age after age.
“Để cứu rỗi người công chính và hủy diệt kẻ làm điều ác; để thiết lập vững chắc Định luật, Ta sinh ra từ thời đại này sang thời đại khác.
“He who thus perceives My birth and work as divine, as in truth it is ... he goes to Me, Arjuna.”
“Kẻ nào nhận thức như vậy về sự sinh ra và công việc của Ta là thiêng liêng, đúng như sự thật vốn vậy... kẻ ấy đến với Ta, Arjuna.”
‘THE BHAGAVAD GITA’, TRANSLATION OF CHARLES JOHNSTON, IV, 7, 8.
‘CHÍ TÔN CA’, BẢN DỊCH CỦA CHARLES JOHNSTON, IV, 7, 8.
Again and again such teachers have come forth, manifested as much of the divine nature as the racial development warranted, spoken those words which determined the culture and the civilisation of the peoples, and then passed on their way, leaving the seed sown, to germinate and bear fruit. In the fullness of time Christ came and, if evolution means anything at all and if the race as a whole has developed and unfolded its consciousness, the message He gave and the life He lived must necessarily sum up all the best in the past, completing and fulfilling it, and proclaim a possible future spiritual culture which will greatly transcend all that the past may have given.
Hết lần này đến lần khác, các huấn sư như thế đã xuất hiện, biểu hiện phần thiên tính nhiều đến mức sự phát triển của nhân loại cho phép, nói ra những lời quyết định văn hóa và văn minh của các dân tộc, rồi tiếp tục con đường của mình, để lại hạt giống đã gieo, cho nó nảy mầm và kết quả. Khi thời gian viên mãn, Đức Christ đã đến; và nếu tiến hoá có bất cứ ý nghĩa nào, và nếu nhân loại xét như một toàn thể đã phát triển và khai mở tâm thức của mình, thì thông điệp Ngài ban và đời sống Ngài sống nhất thiết phải tổng kết tất cả những gì tốt đẹp nhất trong quá khứ, hoàn tất và làm trọn nó, đồng thời tuyên bố một nền văn hóa tinh thần tương lai có thể có, vượt xa mọi điều mà quá khứ có thể đã trao tặng.
The majority of these great Sons of God were, curiously enough, born in a cave and usually of a virgin mother.
Phần lớn các Con vĩ đại này của Thượng đế, điều khá kỳ lạ, đều được sinh ra trong một hang động và thường bởi một người mẹ đồng trinh.
“In regard to the Virgin Birth it is significant that there is no reference to it in the Epistles which form the earliest Christian documents; but, on the contrary, St. Paul speaks of Jesus as ‘made of the seed of David according to the flesh’ (Romans, I, 3) that is to say, of the seed of Joseph, David’s descendant. The earliest Gospel, that of St. Mark, dating between A.D. 70 and 100, does not mention it; nor does the Gospel of St. John, dating from some time not earlier than A.D. 100. The Book of Revelation, written between A.D. 69 and 93, is silent on the subject, though had the Virgin Birth then been an important tenet of the faith it would undoubtedly have figured in the mystical symbolism of that composition.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, p.42.)
“Liên quan đến việc Sinh bởi Đồng Trinh, điều đáng chú ý là không có sự nhắc đến nào về việc này trong các Thư tín, vốn là những văn kiện Kitô giáo sớm nhất; trái lại, Thánh Phaolô nói về Đức Jesus là ‘được tạo nên từ dòng dõi David theo xác thịt’ (Thư Rôma, I, 3), tức là từ dòng dõi Joseph, hậu duệ của David. Tin Mừng sớm nhất, tức Tin Mừng theo Thánh Marcô, có niên đại giữa năm 70 và 100 sau Công nguyên, không đề cập đến điều đó; Tin Mừng theo Thánh Gioan, có niên đại không sớm hơn năm 100 sau Công nguyên, cũng không. Sách Khải Huyền, được viết trong khoảng năm 69 đến 93 sau Công nguyên, im lặng về đề tài này, mặc dù nếu khi ấy việc Sinh bởi Đồng Trinh đã là một tín điều quan trọng của đức tin, chắc chắn nó đã xuất hiện trong biểu tượng thần bí của tác phẩm ấy.” (‘Yếu tố Ngoại giáo trong Kitô giáo của Chúng ta’, của Arthur Weigall, tr.42.)
[59] Isis was often represented standing on the crescent moon, with twelve stars surrounding her head. In almost every Roman Catholic church on the continent of Europe may be seen pictures and statues of Mary, the “Queen of Heaven,” standing on the crescent moon, her head surrounded with twelve stars.
[59] Isis thường được trình bày đứng trên vầng trăng lưỡi liềm, với mười hai ngôi sao bao quanh đầu bà. Trong hầu hết mọi nhà thờ Công giáo La Mã trên lục địa châu Âu, người ta có thể thấy các tranh ảnh và tượng Đức Maria, “Nữ Vương Thiên Đàng,” đứng trên vầng trăng lưỡi liềm, đầu bà được bao quanh bởi mười hai ngôi sao.
“It would seem more than a chance that so many of the virgin mothers and goddesses of antiquity should have the same name. The mother of Bacchus was Myrrha; the mother of Mercury or Hermes was Myrrha or Maia; the mother of the Siamese Saviour—Sommona Cadom was called Maya Maria, i.e. ‘the Great Mary’; the mother of Adonis was Myrrha; the mother of Buddha was Maya; now, all these names whether Myrrha, Maia or Maria, are the same as Mary, the name of the mother of the Christian Saviour. The month of May was sacred to these goddesses, so likewise is it sacred to the Virgin Mary at the present day. She was also called Myrrha and Maria, as well as Mary....”
“Dường như không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều bà mẹ đồng trinh và nữ thần thời cổ đại lại có cùng một tên. Mẹ của Bacchus là Myrrha; mẹ của Mercury hay Hermes là Myrrha hoặc Maia; mẹ của Đấng Cứu Thế Xiêm—Sommona Cadom được gọi là Maya Maria, tức ‘Maria Vĩ Đại’; mẹ của Adonis là Myrrha; mẹ của Buddha là Maya; nay, tất cả các tên này, dù là Myrrha, Maia hay Maria, đều cùng một tên với Mary, tên của mẹ Đấng Cứu Thế Kitô giáo. Tháng Năm là tháng thiêng liêng đối với các nữ thần này; cũng vậy, ngày nay nó vẫn thiêng liêng đối với Đức Trinh Nữ Maria. Bà cũng được gọi là Myrrha và Maria, cũng như Mary....”
‘BIBLE MYTHS’, BY T.W. DOANE, P. 332.
‘HUYỀN THOẠI KINH THÁNH’, CỦA T.W. DOANE, TR. 332.
In the symbolic language of esotericism, a cave is regarded as the place of initiation. This has always been so, and a very interesting study of the initiatory process and of the new birth could be made if the many references in the ancient writings to these events which have transpired in caves were collected and analysed. The stable in which Jesus was born was in all likelihood a cave, for many stables were, in those days, hollowed out of the ground. This was recognised by the early Church, and we are told that “it is well known that whereas in the Gospels Jesus is said to have been born in an inn stable, early Christian writers, as Justin Martyr and Origen, explicitly say He was born in a cave.” (‘Pagan Christ’, by J. M. Robertson, p. 338.)
Trong ngôn ngữ biểu tượng của huyền bí học, hang động được xem là nơi điểm đạo. Điều này luôn luôn là như vậy, và có thể thực hiện một cuộc nghiên cứu rất thú vị về tiến trình điểm đạo và cuộc sinh mới nếu nhiều tham chiếu trong các tác phẩm cổ về những biến cố đã diễn ra trong hang động được thu thập và phân tích. Chuồng súc vật nơi Đức Jesus sinh ra rất có thể là một hang động, vì nhiều chuồng súc vật thời ấy được khoét sâu vào lòng đất. Giáo hội sơ khai đã nhận ra điều này, và chúng ta được cho biết rằng “ai cũng biết rằng trong khi các Tin Mừng nói Đức Jesus được sinh ra trong chuồng của một quán trọ, thì các tác giả Kitô giáo sơ khai, như Justin Martyr và Origen, lại nói rõ ràng rằng Ngài được sinh ra trong một hang động.” (‘Đức Christ Ngoại giáo’, của J. M. Robertson, tr. 338.)
In studying these five initiations of the Gospel story, we find that two of them took place in a cave, two on a mountain top and one on the level between the deeps and the heights. The first and last initiations (the Birth into life and the Resurrection into “life more abundantly” (St. John, X, 10.) took place in [60] a cave. The Transfiguration and the Crucifixion were enacted on the summit of a mountain or hill, whilst the second initiation, after which Christ entered upon His public ministry, took place in a river, in the plains around Jordan—symbolic perhaps of Christ’s mission to live and work down amongst men. The Masonic phrase to “meet on the level” takes on here an added significance. After each mountain experience, the Christ came down again on to the level of daily life and there manifested the effects or results of that high event.
Khi nghiên cứu năm cuộc điểm đạo này trong câu chuyện Tin Mừng, chúng ta thấy rằng hai cuộc diễn ra trong hang động, hai cuộc trên đỉnh núi và một cuộc trên mặt bằng giữa vực sâu và đỉnh cao. Cuộc điểm đạo thứ nhất và cuối cùng, tức Sinh vào đời sống và Phục Sinh vào “sự sống dồi dào hơn” (Thánh Gioan, X, 10.), diễn ra trong [60] một hang động. Biến hình và Đóng đinh được diễn ra trên đỉnh núi hoặc đồi, trong khi cuộc điểm đạo thứ hai, sau đó Đức Christ bước vào sứ vụ công khai của Ngài, diễn ra trong một dòng sông, trên các đồng bằng quanh sông Jordan—có lẽ là biểu tượng cho sứ mệnh của Đức Christ là sống và hoạt động giữa loài người. Cụm từ của Hội Tam Điểm “gặp nhau trên mặt bằng” ở đây mang thêm một thâm nghĩa. Sau mỗi kinh nghiệm trên núi, Đức Christ lại đi xuống mặt bằng của đời sống hằng ngày và tại đó biểu hiện các hiệu quả hay kết quả của biến cố cao cả ấy.
Mithras was born in a cave, and so were many others. Christ was born in a cave and entered, as did all the others, upon a life of service and of sacrifice, thus qualifying for the task of world Saviour. They brought light and revelation to mankind and were sacrificed, in the majority of cases, to the hatred of those who did not understand their message, or who objected to their methods. All of them “descended into hell and rose again on the third day.” There are twenty or thirty of these stories scattered through the centuries of human history, and the stories and the missions are ever identical.
Mithras được sinh ra trong một hang động, và nhiều vị khác cũng vậy. Đức Christ được sinh ra trong một hang động và, như tất cả các vị khác, bước vào một đời sống phụng sự và hi sinh, nhờ đó đủ tư cách cho nhiệm vụ Đấng Cứu Thế của thế gian. Các Ngài đem ánh sáng và sự mặc khải đến cho nhân loại và, trong đa số trường hợp, bị hi sinh trước lòng thù ghét của những người không thấu hiểu thông điệp của Các Ngài, hoặc phản đối các phương pháp của Các Ngài. Tất cả Các Ngài đều “đi xuống địa ngục và sống lại vào ngày thứ ba.” Có hai mươi hoặc ba mươi câu chuyện như thế rải rác qua nhiều thế kỷ lịch sử nhân loại, và các câu chuyện cũng như sứ mệnh luôn luôn đồng nhất.
“The Jesus-story, it will now be seen, has a greater number of correspondences with the stories of former Sungods and with the actual career of the Sun through the heavens—so many indeed that they cannot well be attributed to mere coincidence or even to the blasphemous wiles of the Devil! Let us enumerate some of these. There are (1) birth from a Virgin mother; (2) the birth in a stable (cave or underground chamber); and (3) on the 25th December (just after the winter solstice). There is (4) the Star in the East (Sirius) and (5) the arrival of the Magi (the ‘Three Kings’); there is (6) the threatened Massacre of the Innocents, and the consequent flight into a distant country (told also of Krishna and other Sungods). There are the Church festivals of (7) Candlemas (2nd February), with processions of candles to symbolise the growing light; of (8) Lent, or the arrival of Spring; of (9) Easter Day (normally on 25th March) to celebrate the crossing of the Equator by the Sun; and (10) simultaneously the outburst of lights at the Holy Sepulchre at Jerusalem. There is (11) [61] the Crucifixion and death of the Lamb-God, on Good Friday, three days before Easter; there are (12) the nailing to a tree, (13) the empty grave, (14) the glad Resurrection (as in the cases of Osiris, Attis and others); there are (15) the twelve disciples (the Zodiacal signs); and (16) the betrayal by one of the twelve. Then later there is (17) Mid-summer Day, the 24th June, dedicated to the birth of the beloved disciple John, and corresponding to Christmas Day; there are the festivals of (18) the Assumption of the Virgin (15th August) and of (19) the Nativity of the Virgin (8th September), corresponding to the movement of the god through Virgo; there is the conflict of Christ and his disciples with the autumnal asterisms, (20) the Serpent and the Scorpion; and finally there is the curious fact that the Church (21) dedicates the very day of the winter solstice (when any one may very naturally doubt the re-birth of the Sun) to St. Thomas, who doubted the truth of the Resurrection!”
“Câu chuyện về Đức Jesus, giờ đây sẽ thấy, có số lượng tương ứng lớn hơn với các câu chuyện về các Thần Mặt Trời trước kia và với hành trình thực tế của Mặt Trời qua các tầng trời—thật nhiều đến nỗi khó có thể quy chúng cho sự trùng hợp đơn thuần, hay thậm chí cho những mưu chước phạm thượng của Quỷ! Chúng ta hãy liệt kê một số điểm này. Có (1) sự sinh ra từ một người mẹ Đồng Trinh; (2) sự sinh ra trong chuồng súc vật, tức hang động hay phòng dưới đất; và (3) vào ngày 25 tháng Mười Hai, ngay sau đông chí. Có (4) Ngôi Sao ở phương Đông, Sirius, và (5) sự đến của các Đạo sĩ, tức ‘Ba Vua’; có (6) cuộc Thảm sát các Hài nhi bị đe dọa, và cuộc trốn chạy sang một xứ xa do đó, cũng được kể về Krishna và các Thần Mặt Trời khác. Có các lễ hội Giáo hội gồm (7) Lễ Nến, ngày 2 tháng Hai, với các đoàn rước nến tượng trưng cho ánh sáng đang tăng trưởng; (8) Mùa Chay, hay sự đến của mùa Xuân; (9) Ngày Phục Sinh, thường vào ngày 25 tháng Ba, để mừng Mặt Trời vượt qua Xích Đạo; và (10) đồng thời là sự bừng nở ánh sáng tại Mộ Thánh ở Jerusalem. Có (11) [61] cuộc Đóng đinh và cái chết của Thần Chiên Con, vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ba ngày trước Phục Sinh; có (12) việc đóng đinh vào cây, (13) ngôi mộ trống, (14) cuộc Phục Sinh hoan hỉ, như trong các trường hợp của Osiris, Attis và những vị khác; có (15) mười hai đệ tử, tức các dấu hiệu hoàng đạo; và (16) sự phản bội bởi một trong mười hai người. Rồi về sau có (17) Ngày Giữa Mùa Hè, 24 tháng Sáu, được dành cho ngày sinh của người đệ tử yêu dấu Gioan, và tương ứng với Ngày Giáng Sinh; có các lễ hội (18) Đức Trinh Nữ Lên Trời, 15 tháng Tám, và (19) Sinh nhật Đức Trinh Nữ, 8 tháng Chín, tương ứng với chuyển động của vị thần qua Xử Nữ; có cuộc xung đột của Đức Christ và các đệ tử của Ngài với các nhóm sao mùa thu, (20) Con Rắn và Hổ Cáp; và cuối cùng có sự kiện kỳ lạ là Giáo hội (21) dành chính ngày đông chí, khi bất cứ ai cũng có thể rất tự nhiên nghi ngờ sự tái sinh của Mặt Trời, cho Thánh Tôma, người đã nghi ngờ chân lý của sự Phục Sinh!”
‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS’, BY EDWARD CARPENTER, P. 50.
‘TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ KITÔ GIÁO’, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 50.
Any student of comparative religion can investigate the truth of these statements, and at the end will stand amazed at the persistence of God’s love and the willingness to sacrifice Themselves which all these Sons of God manifest.
Bất cứ đạo sinh nào của tôn giáo so sánh cũng có thể khảo sát chân lý của các phát biểu này, và cuối cùng sẽ đứng sững kinh ngạc trước sự bền bỉ của tình thương Thượng Đế và sự sẵn lòng hi sinh Chính Mình mà tất cả các Con này của Thượng đế biểu hiện.
It is therefore wise and timely to remember that:
Vì vậy, thật khôn ngoan và hợp thời khi nhớ rằng:
“These events are reproduced in the lives of the various Solar Gods, and antiquity teems with illustrations of them. Isis of Egypt, like Mary of Bethlehem, was our Immaculate Lady, Star of the Sea, Queen of Heaven, Mother of God. We see her, in pictures, standing on the crescent moon, star-crowned, she nurses her child Horus, and the cross appears on the back of the seat in which he sits on his mother’s knee. The Virgo of the zodiac is represented in ancient drawings as a woman suckling a child—the type of all future Madonnas with their divine Babes, showing the origin of the symbol. Devaki is likewise figured with the divine Krishna in her arms, as is Mylitta, or Istar, of Babylon, also with the recurrent crown of stars, and with her child Tammuz on her knee. Mercury and Aesculapius, Bacchus and Hercules, Perseus and the Dioscuri, Mithras and Zarathustra were all of divine and human birth.”
“Các biến cố này được tái hiện trong đời sống của nhiều Thần Mặt Trời khác nhau, và thời cổ đại tràn đầy những minh họa về chúng. Isis của Ai Cập, giống như Maria của Bethlehem, là Đức Bà Vô Nhiễm của chúng ta, Sao Biển, Nữ Vương Thiên Đàng, Mẹ của Thượng Đế. Trong các bức tranh, chúng ta thấy bà đứng trên vầng trăng lưỡi liềm, đội triều thiên sao; bà cho con mình là Horus bú, và thập giá xuất hiện ở lưng ghế nơi đứa trẻ ngồi trên đầu gối mẹ. Xử Nữ của hoàng đạo được trình bày trong các hình vẽ cổ như một phụ nữ đang cho con bú—kiểu mẫu của mọi Đức Mẹ tương lai với các Hài Nhi thiêng liêng của họ, cho thấy nguồn gốc của biểu tượng. Devaki cũng được mô tả với Krishna thiêng liêng trong vòng tay bà, cũng như Mylitta, hay Istar, của Babylon, cũng với triều thiên sao lặp lại, và với con bà là Tammuz trên đầu gối. Mercury và Aesculapius, Bacchus và Hercules, Perseus và Dioscuri, Mithras và Zarathustra đều có sự sinh ra vừa thiêng liêng vừa nhân loại.”
‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, P. 158.
‘KITÔ GIÁO NỘI MÔN’, CỦA ANNIE BESANT, TR. 158.
It is apposite to recall that the cathedral of Notre Dame [62] in Paris is built upon the ancient site of a Temple of Isis, and that the early Church very frequently availed itself of a so-called heathen opportunity to determine a Christian rite or a day of sacred remembrance. Even the establishing of Christmas Day on December 25th was so determined. The same writer quoted above tells us that:
Thật thích hợp khi nhớ rằng nhà thờ chính tòa Notre Dame [62] ở Paris được xây trên địa điểm cổ của một Đền thờ Isis, và Giáo hội sơ khai rất thường tận dụng một cơ hội được gọi là ngoại giáo để xác định một nghi lễ Kitô giáo hoặc một ngày tưởng niệm thiêng liêng. Ngay cả việc thiết lập Ngày Giáng Sinh vào 25 tháng Mười Hai cũng được xác định như vậy. Cùng tác giả được trích ở trên cho chúng ta biết rằng:
“On the fixing of the 25th December as the birthday of Jesus, Williamson has the following: ‘All Christians know that the 25th December is now the recognised festival of the birth of Jesus, but few are aware that this has not always been so. There have been, it is said, one hundred and thirty-six different dates fixed on by different Christian sects. Lightfoot gives it as September 15th, others as in February or August. Epiphanius mentions two sects, one celebrating in June, the other in July. The matter was finally settled by Pope Julius in 337 A.D., and St. Chrysostom, writing in 390, says: ‘On this day (i.e. 25th December) also the birth of Christ was lately fixed at Rome, in order that while the heathen were busy with their ceremonies (the Brumalia, in honour of Bacchus) the Christians might perform their rites undisturbed.’ ”
“Về việc ấn định ngày 25 tháng Mười Hai làm ngày sinh của Đức Jesus, Williamson có đoạn sau: ‘Mọi Kitô hữu đều biết rằng ngày 25 tháng Mười Hai hiện nay là lễ hội được công nhận về sự sinh ra của Đức Jesus, nhưng ít người ý thức rằng điều này không phải lúc nào cũng như vậy. Người ta nói rằng đã có một trăm ba mươi sáu ngày khác nhau được các giáo phái Kitô giáo khác nhau ấn định. Lightfoot cho là ngày 15 tháng Chín, những người khác cho là vào tháng Hai hoặc tháng Tám. Epiphanius nhắc đến hai giáo phái, một giáo phái mừng vào tháng Sáu, giáo phái kia vào tháng Bảy. Vấn đề cuối cùng được Giáo hoàng Julius giải quyết vào năm 337 sau Công nguyên, và Thánh Chrysostom, viết vào năm 390, nói: ‘Vào ngày này, tức ngày 25 tháng Mười Hai, sự sinh ra của Đức Christ cũng vừa được ấn định tại Rome, để trong khi người ngoại giáo bận rộn với các nghi lễ của họ, lễ Brumalia để tôn vinh Bacchus, thì các Kitô hữu có thể thực hiện nghi lễ của họ mà không bị quấy rầy.’ ”
‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, P. 160.
‘KITÔ GIÁO NỘI MÔN’, CỦA ANNIE BESANT, TR. 160.
The choice of this particular date is cosmic in its implications, and not unwittingly, we can be sure, did the wise men of earlier times make these momentous decisions. Annie Besant tells us that:
Việc chọn ngày đặc biệt này có hàm nghĩa vũ trụ, và chắc chắn chúng ta có thể nói rằng những bậc hiền triết thời xưa đã không vô tình đưa ra các quyết định trọng đại này. Annie Besant cho chúng ta biết rằng:
“He is always born at the winter solstice, after the shortest day in the year, at the midnight of the 24th December when the sign Virgo is rising above the horizon; born as this Sign is rising, he is born always of a virgin, and she remains a virgin after she has given birth to her Sun-child as the celestial Virgo remains unchanged and unsullied when the Sun comes forth from her in the Heavens. Weak, feeble as an infant is he, born when the days are shortest and the nights are longest....”
“Ngài luôn luôn được sinh ra vào đông chí, sau ngày ngắn nhất trong năm, vào nửa đêm ngày 24 tháng Mười Hai khi dấu hiệu Xử Nữ đang mọc lên trên đường chân trời; được sinh ra khi Dấu Hiệu này đang mọc, Ngài luôn luôn được sinh bởi một trinh nữ, và bà vẫn là trinh nữ sau khi đã sinh Hài Nhi Mặt Trời của mình, cũng như Xử Nữ trên trời vẫn không đổi thay và không tì vết khi Mặt Trời xuất hiện từ bà trên các Tầng Trời. Yếu ớt, mong manh như một trẻ sơ sinh là Ngài, được sinh ra khi ngày ngắn nhất và đêm dài nhất....”
‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, P. 157.
‘KITÔ GIÁO NỘI MÔN’, CỦA ANNIE BESANT, TR. 157.
It is also interesting to remember that:
Cũng thú vị khi nhớ rằng:
“The Venerable Bede, (Bede, De Temp. rat., xiii) writing in the early part of the Eighth [63] Century, says that ‘the ancient people of the Anglian nation’, by which he means the pagan English before their settlement in Britain about A.D. 500, ‘began the year on December 25th, when we now celebrate the birthday of our Lord’; and he tells us that the night of December 24th-25th ‘which is the very night now so holy to us was called in their tongue Modranecht, that is to say “Mother’s Night,” by reason of the ceremonies which in that night-long vigil they performed.’ He does not mention what those ceremonies were, but it is clear that they were connected with the birth of the Sun-god. At the time when the English were converted to Christianity in the Sixth and Seventh Centuries the festival of the Nativity on December 25th had been already long established in Rome as a solemn celebration; but in England its identification with the joyous old pagan Yule—a word apparently meaning a ‘jollification’—gave it a merry character which it did not possess in the south. This character has survived, and is in marked contrast to its nature amongst the Latin races, with whom the northern custom of feasting and giving Christmas presents was unknown until recent years.”
“Đáng kính Bede, (Bede, De Temp. rat., xiii) viết vào đầu thế kỷ thứ Tám [63], nói rằng ‘dân cổ của quốc gia Anglia’, tức theo ý ông là người Anh ngoại giáo trước khi họ định cư ở Anh quốc khoảng năm 500 sau Công nguyên, ‘bắt đầu năm mới vào ngày 25 tháng Mười Hai, khi nay chúng ta mừng sinh nhật của Chúa chúng ta’; và ông cho chúng ta biết rằng đêm 24 rạng 25 tháng Mười Hai, ‘chính là đêm hiện nay rất thánh đối với chúng ta, trong ngôn ngữ của họ được gọi là Modranecht, nghĩa là “Đêm của Mẹ”, vì các nghi lễ mà trong buổi canh thức suốt đêm ấy họ thực hiện.’ Ông không nói các nghi lễ ấy là gì, nhưng rõ ràng chúng liên hệ đến sự sinh ra của Thần Mặt Trời. Vào thời người Anh được cải đạo sang Kitô giáo trong thế kỷ thứ Sáu và thứ Bảy, lễ hội Giáng Sinh vào ngày 25 tháng Mười Hai đã được thiết lập từ lâu tại Rome như một cuộc cử hành trọng thể; nhưng ở Anh, sự đồng nhất của nó với lễ Yule ngoại giáo cổ đầy vui tươi—một từ dường như có nghĩa là ‘cuộc vui’—đã đem lại cho nó một tính chất hoan hỉ mà nó không có ở phương nam. Tính chất này vẫn còn tồn tại, và tương phản rõ rệt với bản chất của nó giữa các dân tộc Latin, nơi phong tục phương bắc về yến tiệc và tặng quà Giáng Sinh không được biết đến cho đến những năm gần đây.”
‘THE PAGANISM IN OUR CHRISTIANITY’, BY ARTHUR WEIGALL, P.236, 237.
‘YẾU TỐ NGOẠI GIÁO TRONG KITÔ GIÁO CỦA CHÚNG TA’, CỦA ARTHUR WEIGALL, TR.236, 237.
At the time of the birth of Christ, Sirius, the Star in the East, was on the meridian line, Orion, called “The Three Kings” by oriental astronomers, was in proximity; therefore the constellation Virgo, the Virgin, was rising in the east, and the line of the ecliptic, of the equator and of the horizon all met in that constellation. It is interesting also to note that the brightest and largest star in the constellation Virgo is called Spica; it is to be found in the “ear of corn” (sign of fertility) which the Virgin holds. Bethlehem means the “house of bread,” and there is therefore an obvious connection between these two words. This constellation is also composed of three stars in the shape of a cup. This is the true Holy Grail, that which contains the life blood, the repository of the sacred and the holy, and that which conceals divinity. These are astronomical facts. The interpretation of the symbolism attached from ancient days to these constellations is as old as religion itself. Whence came the signs, and how the [64] meanings and symbols associated with them came into being, is lost in the night of time. They have existed in men’s minds and thoughts and writings for thousands of years, and are our joint heritage today. The ancient zodiac of Dendera (antedating Christianity by several thousand years) is ample proof of this. In the sun’s journey around the zodiac, this “Man of the Heavens” eventually arrives at Pisces; this sign is exactly opposite the sign Virgo, and is the sign of all world Saviours. We have already seen that the age of Christianity is the Piscean Age, and Christ came to the Holy Land when our sun transitted into that sign. Therefore that which was started and had its being in Virgo (the birth of the Christ Child) is consummated in Pisces when that Christ Child, having attained maturity, comes forth as the world Saviour.
Vào thời điểm Đức Christ sinh ra, Sirius, Ngôi Sao ở phương Đông, ở trên đường kinh tuyến; Orion, được các nhà thiên văn phương Đông gọi là “Ba Vua”, ở gần đó; do đó chòm sao Xử Nữ, Trinh Nữ, đang mọc ở phương đông, và đường hoàng đạo, đường xích đạo và đường chân trời đều gặp nhau trong chòm sao ấy. Cũng thú vị khi lưu ý rằng ngôi sao sáng nhất và lớn nhất trong chòm sao Xử Nữ được gọi là Spica; nó nằm trong “bông lúa”, dấu hiệu của sự sinh sản, mà Trinh Nữ cầm. Bethlehem có nghĩa là “nhà của bánh”, và vì vậy có một mối liên hệ hiển nhiên giữa hai từ này. Chòm sao này cũng gồm ba ngôi sao theo hình một chiếc chén. Đây là Chén Thánh đích thực, vật chứa máu sự sống, kho chứa điều thiêng liêng và thánh thiện, và điều che giấu thiên tính. Đây là các sự kiện thiên văn. Việc diễn giải biểu tượng gắn liền từ thời cổ với các chòm sao này cũng xưa như chính tôn giáo. Các dấu hiệu ấy đến từ đâu, và các [64] ý nghĩa cùng biểu tượng liên hệ với chúng đã hình thành như thế nào, đều đã mất hút trong đêm trường thời gian. Chúng đã tồn tại trong trí tuệ, tư tưởng và các tác phẩm của con người suốt hàng nghìn năm, và ngày nay là di sản chung của chúng ta. Hoàng đạo cổ Dendera, có trước Kitô giáo nhiều nghìn năm, là bằng chứng đầy đủ cho điều này. Trong hành trình của Mặt Trời quanh hoàng đạo, “Con Người của các Tầng Trời” này cuối cùng đến Song Ngư; dấu hiệu này đối diện chính xác với dấu hiệu Xử Nữ, và là dấu hiệu của mọi Đấng Cứu Thế của thế gian. Chúng ta đã thấy rằng thời đại Kitô giáo là Thời đại Song Ngư, và Đức Christ đã đến Thánh Địa khi mặt trời của chúng ta đi vào dấu hiệu ấy. Vì vậy, điều được khởi đầu và có hiện tồn trong Xử Nữ, tức sự sinh ra của Hài Nhi Christ, được viên mãn trong Song Ngư khi Hài Nhi Christ ấy, sau khi đạt đến trưởng thành, xuất hiện như Đấng Cứu Thế của thế gian.
One other astronomical fact is of interest in this connection. Closely associated with the constellation Virgo, and to be found in the same section of the Heavens, are three other constellations, and in these three there is portrayed for us symbolically the story of the Child which shall be born, suffer and die and come again. There is the group of stars called Coma Berenice, the Woman with the Child. There is Centaurus, the Centaur, and Boötes, whose name in the Hebrew language means the “Coming One.” First, the child born of the woman and that woman a virgin; then the centaur, ever the symbol of humanity in the ancient mythologies, for man is an animal, plus a god, and therefore a human being. Then He Who shall come looms over them all, overshadowing them, pointing to the fulfilment which shall come through birth and human incarnation. Truly the picture book of the heavens holds eternal truth for those who have eyes to see and the intuition developed rightly to interpret. Prophecy is not confined to the Bible but has ever been held before men’s eyes in the vault of heaven.
Một sự kiện thiên văn khác cũng đáng quan tâm trong mối liên hệ này. Gắn bó mật thiết với chòm sao Xử Nữ, và được tìm thấy trong cùng khu vực của các Tầng Trời, là ba chòm sao khác; và trong ba chòm sao này, câu chuyện về Hài Nhi sẽ được sinh ra, chịu khổ, chết và trở lại được mô tả cho chúng ta một cách biểu tượng. Có nhóm sao gọi là Coma Berenice, Người Phụ Nữ với Hài Nhi. Có Centaurus, Nhân Mã, và Boötes, tên của chòm sao này trong tiếng Hebrew có nghĩa là “Đấng Đang Đến.” Trước hết, hài nhi sinh bởi người phụ nữ, và người phụ nữ ấy là một trinh nữ; rồi đến nhân mã, luôn là biểu tượng của nhân loại trong các thần thoại cổ, vì con người là một con vật, cộng thêm một vị thần, và do đó là một con người. Rồi Đấng sẽ đến hiện ra lờ mờ phía trên tất cả, phủ bóng lên họ, chỉ về sự thành tựu sẽ đến qua sinh ra và nhập thể làm người. Quả thật, cuốn sách bằng hình ảnh của các tầng trời giữ chân lý vĩnh cửu cho những ai có mắt để thấy và trực giác được phát triển đúng đắn để diễn giải. Tiên tri không bị giới hạn trong Kinh Thánh, mà từ lâu đã được đặt trước mắt con người trong vòm trời.
Thus as “the heavens declare the glory of God, and the firmament sheweth His handiwork,” (Psalm XIX, 1.) we have the prophecy [65] of that world event which took place when Christ was born in Bethlehem, the “house of bread,” and Virgo rose above the horizon, whilst the Star in the East shone forth.
Như vậy, khi “các tầng trời tuyên bố vinh quang của Thượng Đế, và bầu trời tỏ bày công trình tay Ngài,” (Thánh vịnh XIX, 1.) chúng ta có lời tiên tri [65] về biến cố thế giới ấy, đã diễn ra khi Đức Christ sinh ra tại Bethlehem, “nhà của bánh,” và Xử Nữ mọc lên trên đường chân trời, trong khi Ngôi Sao ở phương Đông chiếu sáng.
Christ came, then, to His Own flesh and blood because the world of men drew Him and the love of the Father impelled Him. He came to give to life a purpose and fulfilment, and to indicate to us the Way: He came to give us an example, so that we could be galvanised by the hope that “maketh not ashamed” (Romans V, 5.) to “press toward the mark for the prize of our high calling.” (Philippians III, 14.)
Vậy Đức Christ đã đến với những người cùng huyết thống với Ngài, vì thế giới loài người đã lôi cuốn Ngài và tình thương của Cha thúc đẩy Ngài. Ngài đến để ban cho sự sống một mục đích và sự viên mãn, và để chỉ cho chúng ta Con Đường: Ngài đến để trao cho chúng ta một gương mẫu, hầu chúng ta có thể được khơi dậy bởi niềm hy vọng “không làm hổ thẹn” (Thư Rôma V, 5.) để “nhắm đích mà tiến tới, giành giải thưởng của ơn kêu gọi cao cả.” (Thư Philipphê III, 14.)
It should be noted here that the journey, preceding the birth, is also a part of the life-story of other teachers sent from God. For instance, we read:
Cần lưu ý ở đây rằng cuộc hành trình trước khi sinh cũng là một phần của câu chuyện đời các huấn sư khác được Thượng Đế sai đến. Chẳng hạn, chúng ta đọc:
“Among the thirty-two signs which were to be fulfilled by the mother of the expected Messiah (Buddha), the fifth sign was recorded to be, ‘that she would be on a journey at the time of her child’s birth.’ Therefore, ‘that it might be fulfilled which was spoken by the prophets’ the virgin Maya, in the tenth month after her heavenly conception, was on a journey to her father, when lo, the birth of the Messiah took place under a tree. One account says that ‘she had alighted at an inn when Buddha was born.’
“Trong số ba mươi hai dấu hiệu phải được ứng nghiệm bởi mẹ của Đấng Messiah được mong đợi, tức Buddha, dấu hiệu thứ năm được ghi là ‘bà sẽ đang trên đường hành trình vào lúc sinh con.’ Vì vậy, ‘để ứng nghiệm điều các ngôn sứ đã phán’, trinh nữ Maya, vào tháng thứ mười sau sự thụ thai thiên thượng của bà, đang trên đường đến với cha bà, thì kìa, sự sinh ra của Đấng Messiah đã diễn ra dưới một gốc cây. Một bản tường thuật nói rằng ‘bà đã xuống nghỉ tại một quán trọ khi Buddha được sinh ra.’
“The mother of Lao-tse, the Virgin-born Chinese sage, was away from home when her child was born. She stopped to rest under a tree, and there, like the virgin Maya, gave birth to her son.”
“Mẹ của Lão Tử, vị hiền triết Trung Hoa sinh bởi Trinh Nữ, đang xa nhà khi con bà sinh ra. Bà dừng lại nghỉ dưới một gốc cây, và tại đó, giống như trinh nữ Maya, bà sinh con trai của mình.”
‘BIBLE MYTHS’, BY T. W. DOANE, P. 5.
‘THẦN THOẠI KINH THÁNH’, CỦA T. W. DOANE, TR. 5.
We are told in the Gospel story that the Virgin Mary, with her husband Joseph and bearing within herself the Christ Child, went up from Nazareth in Galilee to Bethlehem. Sometimes, through a study of the significances of the names we meet in the Bible and in tradition, we can throw much light on the episode itself and unveil some of its hidden meaning. In the study of the Bible story, I have used only the Bible itself and Cruden’s Concordance. The interpretation of the names is taken from Cruden’s Concordance. [66] Therein we find that “Nazareth” means “that which is consecrated” or set apart. “Galilee” means the “turning of the wheel”—that wheel of life and of death which turns continuously, carrying us all with it and keeping us upon the “wheel of existence,” as the Buddhists call it, until we have learnt life’s lessons and have become “a vessel unto honour, sanctified, and meet for the Master’s use.” (II Timothy II, 21).
Trong câu chuyện Phúc Âm, chúng ta được kể rằng Đức Trinh Nữ Mary, cùng với chồng là Joseph và mang trong lòng Hài Nhi Christ, đã đi từ Nazareth ở Galilee lên Bethlehem. Đôi khi, qua việc nghiên cứu thâm nghĩa của các danh xưng mà chúng ta gặp trong Kinh Thánh và trong truyền thống, chúng ta có thể soi sáng nhiều cho chính biến cố ấy và vén mở một phần ý nghĩa ẩn tàng của nó. Trong việc nghiên cứu câu chuyện Kinh Thánh, tôi chỉ dùng chính Kinh Thánh và cuốn Concordance của Cruden. Việc diễn giải các danh xưng được lấy từ cuốn Concordance của Cruden. [66] Trong đó chúng ta thấy rằng “Nazareth” có nghĩa là “điều được thánh hiến” hay được biệt riêng. “Galilee” có nghĩa là “sự quay của bánh xe” — bánh xe của sự sống và sự chết, vốn quay không ngừng, cuốn tất cả chúng ta theo nó và giữ chúng ta trên “bánh xe hiện hữu”, như các Phật tử gọi, cho đến khi chúng ta đã học xong những bài học của đời sống và đã trở thành “một khí cụ đáng tôn trọng, được thánh hóa, và thích hợp cho Chân sư sử dụng.” (II Timothy II, 21).
The long journey of existence lies behind the Christ, and He, with His Mother, journeys the last part of the way. Consecrated from past aeons to this very work of world salvage, He has first of all to submit Himself to the ordinary processes of birth and childhood. Christ came forth from Nazareth, the place of consecration, and went up to Bethlehem, the House of Bread, where in a peculiar way He Himself was to become the “Bread of Life” (St. John, VI, 33, 35, 41, 58.) to a hungry world. He was set apart, or set Himself apart (as do all awakened sons of God) for the work of redemption. He came to feed the hungry, and in this connection two verses in the Bible convey light upon His task and its preparation. Isaiah tells us that “Bread corn is bruised,” (Isaiah, XXV111, 28.) and Christ Himself told us that “Except a corn of wheat fall into the ground and die, it abideth alone, but if it die, it bringeth forth much fruit.” (St. John, XII, 24.) This was the destiny awaiting Him when He came to the Birth in Bethlehem. Then He entered upon the career which eventually “bruised” Him and led Him to his death.
Hành trình dài của hiện hữu nằm phía sau Đức Christ, và Ngài, cùng với Mẹ của Ngài, đi nốt phần cuối của con đường. Được thánh hiến từ những đại kiếp quá khứ cho chính công cuộc cứu độ thế gian này, trước hết Ngài phải tự đặt mình dưới các tiến trình bình thường của sự sinh ra và tuổi thơ. Đức Christ đã đi ra từ Nazareth, nơi thánh hiến, và đi lên Bethlehem, Ngôi Nhà của Bánh, nơi theo một ý nghĩa đặc biệt nào đó chính Ngài sẽ trở thành “Bánh của Sự Sống” (St. John, VI, 33, 35, 41, 58.) cho một thế gian đói khát. Ngài đã được biệt riêng, hay tự biệt riêng mình, như tất cả các Con của Thượng đế đã thức tỉnh đều làm, cho công cuộc cứu chuộc. Ngài đến để nuôi dưỡng những kẻ đói khát, và trong mối liên hệ này, hai câu trong Kinh Thánh đem lại ánh sáng cho nhiệm vụ của Ngài và sự chuẩn bị cho nhiệm vụ ấy. Isaiah cho chúng ta biết rằng “Hạt lúa mì làm bánh bị nghiền nát,” (Isaiah, XXV111, 28.) và chính Đức Christ đã nói với chúng ta rằng “Nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó cứ ở một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó sinh nhiều hoa trái.” (St. John, XII, 24.) Đó là định mệnh đang chờ Ngài khi Ngài đến với sự Giáng Sinh ở Bethlehem. Bấy giờ Ngài bước vào sự nghiệp cuối cùng đã “nghiền nát” Ngài và đưa Ngài đến cái chết.
According to the concordance, the name Mary means “the exalted of the Lord.” As one says these words, the famous picture, by Mulillo, of the Virgin, standing on the crescent moon and being gathered up into the clouds of Heaven, comes to mind. Such is the assumption of the Virgin into glory. There is another interesting point in connection with the constellation Virgo, upon which we might touch. Mary, the Virgin, in the symbolism of the ancient wisdom, stands [67] for virgin matter, for the substance which nurtures and nourishes and hides within itself the Christ child, the Christ consciousness. In the last analysis, it is through form and matter that God stands revealed. That is the story of the divine incarnation. Matter, overshadowed by the Holy Ghost, the third Person of the Trinity, brings to the birth the second Aspect of the Trinity, in the Person of Christ—cosmic, mythical and individual.
Theo sách đối chiếu, tên Mary có nghĩa là “người được Chúa tôn cao.” Khi thốt lên những lời này, bức tranh nổi tiếng của Mulillo về Đức Trinh Nữ, đứng trên vầng trăng lưỡi liềm và được nâng lên vào các đám mây của Thiên Đàng, hiện ra trong trí. Đó là sự thăng thiên của Đức Trinh Nữ vào vinh quang. Có một điểm thú vị khác liên quan đến chòm sao Virgo mà chúng ta có thể đề cập. Mary, Đức Trinh Nữ, trong biểu tượng học của minh triết cổ xưa, tượng trưng [67] cho vật chất trinh nguyên, cho chất liệu nuôi dưỡng, dưỡng nuôi và ẩn giấu trong chính nó Hài Nhi Christ, tâm thức Christ. Xét đến cùng, chính qua hình tướng và vật chất mà Thượng đế được mặc khải. Đó là câu chuyện về sự nhập thể thiêng liêng. Vật chất, được Chúa Thánh Thần, Ngôi thứ ba của Ba Ngôi, phủ bóng, đưa Phương diện thứ hai của Ba Ngôi vào cuộc sinh ra, trong Ngôi vị của Đức Christ — ở cấp vũ trụ, thần thoại và cá nhân.
Associated with the story-book of the heavens there are three constellations (besides the constellation Virgo) which are symbolised by women. There is Cassiopeia, the Woman Enthroned. This is the constellation which is the symbol of the stage in human life at which matter and form are dominant and triumphant; when the inner divine life is so deeply hidden that it shows no sign, and only the material nature controls and rules. Then there comes the later stage in the history of the race and of the individual, when we find Coma Berenice symbolically emerging—the Woman bearing the Christ Child is seen. Here matter begins to reveal its true function, which is to bring to the birth the Christ in every form. When the turning of the great wheel of life has played its part, then Mary can come out of Galilee, from Nazareth, and journey to Bethlehem, there to give birth to the Saviour. Finally there is Andromeda, the Woman chained, or matter brought into subservience to the soul. The Soul or the Christ now rules. First, matter dominant, enthroned and triumphant. Then matter, the custodian of hidden divinity, beauty and reality, ready to bring them to the birth. Finally, matter as the servant of that which has been born, the Christ. However, none of this is brought about unless the journey is made from Nazareth, the place of consecration, and from Galilee, the place of the daily round of life; and this is true, whether one is speaking of the cosmic Christ, hidden by the form of a solar system; of the mythic Christ, hidden in humanity down the ages; of the historical Christ, concealed within the form of Jesus; or of the individual Christ, hidden within the ordinary man. For always the [68] routine is the same—the journey, the new birth, the experience of life, the service to be rendered, the death to be endured, and then the resurrection into more extended service.
Gắn liền với quyển truyện của các tầng trời có ba chòm sao, ngoài chòm Virgo, được biểu tượng bằng những người nữ. Có Cassiopeia, Người Nữ Ngự Trên Ngai. Đây là chòm sao biểu tượng cho giai đoạn trong đời sống nhân loại khi vật chất và hình tướng chiếm ưu thế và khải hoàn; khi sự sống thiêng liêng bên trong bị ẩn giấu sâu đến mức không biểu lộ dấu hiệu nào, và chỉ bản chất vật chất kiểm soát và cai quản. Rồi đến giai đoạn về sau trong lịch sử nhân loại và của cá nhân, khi chúng ta thấy Coma Berenice hiện ra theo biểu tượng — Người Nữ mang Hài Nhi Christ được nhìn thấy. Ở đây vật chất bắt đầu mặc khải chức năng đích thực của nó, là đưa Đức Christ trong mọi hình tướng vào cuộc sinh ra. Khi sự quay của bánh xe vĩ đại của sự sống đã đóng xong vai trò của nó, bấy giờ Mary có thể đi ra khỏi Galilee, từ Nazareth, và hành trình đến Bethlehem, để tại đó sinh ra Đấng Cứu Thế. Cuối cùng có Andromeda, Người Nữ Bị Xiềng Xích, hay vật chất được đưa vào sự phục tùng linh hồn. Linh hồn, hay Đức Christ, giờ đây cai quản. Trước hết, vật chất chiếm ưu thế, ngự trên ngai và khải hoàn. Rồi vật chất, người gìn giữ thiên tính, vẻ đẹp và thực tại ẩn tàng, sẵn sàng đưa chúng vào cuộc sinh ra. Cuối cùng, vật chất như người phụng sự của điều đã được sinh ra, Đức Christ. Tuy nhiên, không điều nào trong các điều này xảy ra nếu không thực hiện hành trình từ Nazareth, nơi thánh hiến, và từ Galilee, nơi của vòng đời hằng ngày; và điều này đúng, dù người ta đang nói về Đức Christ vũ trụ, được ẩn giấu bởi hình tướng của một hệ mặt trời; về Đức Christ thần thoại, ẩn giấu trong nhân loại qua các thời đại; về Đức Christ lịch sử, che kín trong hình tướng của Đức Jesus; hay về Đức Christ cá nhân, ẩn giấu trong con người bình thường. Vì bao giờ [68] trình tự cũng như nhau — hành trình, cuộc sinh ra mới, kinh nghiệm của đời sống, sự phụng sự phải được thực hiện, cái chết phải được chịu đựng, và rồi sự phục sinh vào sự phụng sự rộng lớn hơn.
Joseph’s name means “he who shall add”; he was a builder, a carpenter, a worker in the building trade, one who adds stone to stone, or beam to beam. He is the symbol of the building-creative aspect of God the Father. In these three people, Joseph, the infant Jesus, and Mary, we have the divine Triplicity symbolised and represented, God the Father, God the Son and God the Holy Spirit, or Matter informed by Deity, and therefore typified for us in the Virgin Mary.
Tên Joseph có nghĩa là “người sẽ thêm vào”; ông là một người xây dựng, một thợ mộc, một người hoạt động trong nghề xây dựng, người thêm đá vào đá, hay xà vào xà. Ông là biểu tượng của phương diện xây dựng-sáng tạo của Thượng đế Cha. Trong ba nhân vật này, Joseph, hài nhi Jesus, và Mary, chúng ta có Bộ Ba thiêng liêng được biểu tượng và đại diện: Thượng đế Cha, Thượng đế Con và Thượng đế Chúa Thánh Thần, hay Vật chất được Thượng đế thấm nhuần, và vì thế được tiêu biểu cho chúng ta nơi Đức Trinh Nữ Mary.
Today the masses are on a journey. Today the teaching of the Path and of the Way to God is engrossing the attention of the aspirants in the world. We are on the Path of return to the individual and to the racial Bethlehem. We are now on the point of entering the cave wherein the new birth can take place, and therefore one stage of life’s long journey is nearly completed. This symbolism is truer, perhaps, than we care to think it is. The world problem today is bread, and our anxieties, our bewilderments, our wars and our struggles are based upon the economic problem of how to feed the peoples. Today the whole world is occupied with the Bethlehem idea, with bread. In this subtle implication there surely comes to us a guarantee that as He came before to the House of Bread so will He again fulfil His word and fulfil Himself and return. The cave, a place of darkness and of discomfort, was for Mary the place of pain and weariness. This cave or stable story of the New Testament is perhaps as full of symbolism as any to be found in the Bible. The long and trying journey ended in a dark cave. The long and weary journey of humanity has brought us today to just such a hard and uninviting place. The life of the individual disciple, prior to taking initiation and passing through the experience of the new birth, is ever one of the utmost difficulty and hardness. But in the dark, and through difficulty, Christ is to be found, the Christ life can flower forth, and we can stand face to face before Him as the Initiator. The blind poet, [69] George Macdonald, sensed this when he wrote the beautiful words which have brought comfort to so many:
Ngày nay, quần chúng đang trên một hành trình. Ngày nay, giáo huấn về Đường Đạo và về Con Đường đến với Thượng đế đang thu hút sự chú ý của những người chí nguyện trên thế giới. Chúng ta đang ở trên Con Đường Trở Về đến Bethlehem của cá nhân và của nhân loại. Hiện nay chúng ta đang ở điểm sắp bước vào hang đá nơi cuộc sinh ra mới có thể diễn ra, và vì thế một giai đoạn của hành trình dài của đời sống gần như đã hoàn tất. Biểu tượng này có lẽ đúng hơn chúng ta muốn nghĩ. Vấn đề thế giới ngày nay là bánh, và những lo âu, những hoang mang, những cuộc chiến tranh và những đấu tranh của chúng ta đều đặt nền trên vấn đề kinh tế: làm thế nào để nuôi sống các dân tộc. Ngày nay toàn thế giới đang bận tâm với ý tưởng Bethlehem, với bánh. Trong hàm ý tinh tế này chắc chắn có đến với chúng ta một bảo chứng rằng, như Ngài đã từng đến Ngôi Nhà của Bánh, thì Ngài cũng sẽ lại làm trọn lời của Ngài, làm trọn chính Ngài và trở lại. Hang đá, một nơi tối tăm và bất tiện, đối với Mary là nơi đau đớn và mệt mỏi. Câu chuyện hang đá hay chuồng bò này của Tân Ước có lẽ đầy biểu tượng không kém bất kỳ câu chuyện nào trong Kinh Thánh. Hành trình dài và gian khổ kết thúc trong một hang đá tối tăm. Hành trình dài và mệt mỏi của nhân loại ngày nay đã đưa chúng ta đến đúng một nơi khắc nghiệt và kém hấp dẫn như thế. Đời sống của người đệ tử cá nhân, trước khi nhận điểm đạo và trải qua kinh nghiệm của cuộc sinh ra mới, bao giờ cũng là đời sống đầy khó khăn và khắc nghiệt tột độ. Nhưng trong bóng tối, và qua khó khăn, Đức Christ sẽ được tìm thấy, sự sống Christ có thể nở hoa, và chúng ta có thể đứng mặt đối mặt trước Ngài như Đấng Điểm đạo. Nhà thơ mù [69] George Macdonald đã cảm nhận điều này khi ông viết những lời đẹp đẽ đã đem lại niềm an ủi cho biết bao người:
“Challenge the darkness, whatsoe’er it be,
“Hãy thách thức bóng tối, bất kể nó là gì,
Sorrow’s thick darkness or strange mystery
Bóng tối dày đặc của sầu đau hay huyền nhiệm lạ lùng
Of prayer or providence. Persist intent,
Của lời cầu nguyện hay của thiên mệnh. Hãy kiên trì, nhất tâm,
And thou shalt find love’s veiled sacrament.
Và ngươi sẽ tìm thấy bí tích che màn của tình thương.
Some secret revelation, sweetness, light,
Một sự mặc khải kín nhiệm nào đó, sự ngọt ngào, ánh sáng,
Waits to waylay the wrestler in the night.
Đang chờ phục kích người đấu vật trong đêm.
In the thick darkness, at its very heart,
Trong bóng tối dày đặc, ngay nơi tâm điểm của nó,
Christ meets, transfigured, souls He calls apart.”
Đức Christ gặp gỡ, đã Biến hình, những linh hồn mà Ngài gọi riêng ra.”
In this cave of initiation, all the four kingdoms of nature can be seen unmistakably symbolised for us. In the rocky structure of the cave, the mineral kingdom appears. The fodder and the hay, naturally there, symbolise the vegetable kingdom. The ox and the ass represent the animal nature, but they represent also far more than that. The ox stood for that form of worship which should have been passing off the earth at the time Christ came. There were still many to be found who worshipped the bull, which was the worship prevalent in the age when our sun was passing through the age of Taurus, the Bull, and which was preserved at that time in the mysteries of Mithras and of Egypt. The sign immediately preceding the Christian era was that of Aries, the Ram or Lamb, and this is symbolised for us in the sheepfolds which surrounded Bethlehem.
Trong hang đá điểm đạo này, cả bốn giới của tự nhiên đều có thể được thấy là đã được biểu tượng rõ ràng cho chúng ta. Trong cấu trúc đá của hang, giới kim thạch hiện ra. Thức ăn gia súc và cỏ khô, vốn tự nhiên có ở đó, biểu tượng cho giới thực vật. Con bò và con lừa đại diện cho bản chất động vật, nhưng chúng cũng đại diện cho nhiều điều hơn thế. Con bò tượng trưng cho hình thức thờ phụng đáng lẽ đã phải biến mất khỏi Trái Đất vào thời Đức Christ đến. Vẫn còn nhiều người thờ phụng bò đực, hình thức thờ phụng thịnh hành trong thời đại khi mặt trời của chúng ta đi qua thời đại Taurus, Con Bò, và lúc bấy giờ được bảo tồn trong các bí nhiệm của Mithras và Ai Cập. Dấu hiệu ngay trước kỷ nguyên Kitô giáo là Aries, Con Cừu Đực hay Chiên Con, và điều này được biểu tượng cho chúng ta trong các chuồng cừu bao quanh Bethlehem.
It is interesting also to bear in mind that asses are definitely associated with the story of Mary and her Child. Two asses are found mentioned in the Gospel story, one coming from the north and bearing Mary to Bethlehem, and the other taking her down into Egypt. These are symbols of the two constellations called the Northern Ass and the Southern Ass, which are in the neighbourhood of the constellation Virgo.
Cũng thú vị khi ghi nhớ rằng những con lừa liên hệ rõ rệt với câu chuyện của Mary và Hài Nhi của bà. Hai con lừa được thấy nhắc đến trong câu chuyện Phúc Âm: một con đến từ phương bắc và chở Mary đến Bethlehem, con kia đưa bà xuống Ai Cập. Đây là những biểu tượng của hai chòm sao gọi là Lừa Bắc và Lừa Nam, nằm trong vùng lân cận chòm sao Virgo.