Trích nội dung chương
1. He externalised the Mysteries so that they have become known to humanity as a whole, and are not only the secret possession of the Initiates. 1. Ngài đã ngoại hiện các Bí nhiệm để chúng trở nên được nhân loại nói chung biết đến, chứ không chỉ là sở hữu bí mật của các điểm đạo đồ.
1. He externalised the Mysteries so that they have become known to humanity as a whole, and are not only the secret possession of the Initiates.
1. Ngài đã ngoại hiện các Bí nhiệm để chúng trở nên được nhân loại nói chung biết đến, chứ không chỉ là sở hữu bí mật của các điểm đạo đồ.
2. He enacted the drama of initiation before the world, so that its symbolism could penetrate into the human consciousness.
2. Ngài đã diễn vở kịch điểm đạo trước thế giới, để biểu tượng tính của nó có thể thâm nhập vào tâm thức con người.
3. He gave us a demonstration of perfection so that we can no longer question the nature of God, yet at the same time He gave us the guarantee that we too are the children of God, and can likewise achieve divinity if we follow in His steps.
3. Ngài ban cho chúng ta một minh chứng về sự hoàn thiện, để chúng ta không còn có thể nghi vấn về bản chất của Thượng đế; tuy vậy, đồng thời Ngài ban cho chúng ta sự bảo đảm rằng chúng ta cũng là con cái của Thượng đế, và cũng có thể đạt được thiên tính nếu chúng ta bước theo dấu chân Ngài.
4. He revealed to us the world of meaning, and, in the Person of the historical Christ, showed us the significance of the cosmic Christ, the mythic Christ, and the mystical Christ in the heart of every man. He revealed the nature of God transcendent and of God immanent.
4. Ngài mặc khải cho chúng ta Thế giới của ý nghĩa, và trong Ngôi Vị của Đức Christ lịch sử, chỉ cho chúng ta thâm nghĩa của Đức Christ vũ trụ, Đức Christ huyền thoại, và Đức Christ thần bí trong tâm của mỗi người. Ngài mặc khải bản chất của Thượng đế siêu việt và của Thượng đế nội tại.
5. The past of humanity culminated in Him; the present finds in Him its solution, and the future is symbolised in His life and death. Therefore all three lines of past, present and future meet in Him, and give Him His unique significance.
5. Quá khứ của nhân loại đạt đến đỉnh điểm nơi Ngài; hiện tại tìm thấy lời giải nơi Ngài, và tương lai được biểu tượng hóa trong sự sống và cái chết của Ngài. Vì vậy, cả ba tuyến quá khứ, hiện tại và tương lai đều gặp nhau nơi Ngài, và ban cho Ngài thâm nghĩa độc nhất của Ngài.
6. He founded the kingdom of God in due time when the human kingdom was reaching maturity. He demonstrated the values of that kingdom in His Own life, portraying for us the character of its citizenship, and He opened the door wide for all who could fit themselves (through service and discipline) to pass out of the human kingdom into the spiritual kingdom. [261]
6. Ngài đã thiết lập Thiên Giới đúng thời điểm, khi giới nhân loại đang đạt tới sự trưởng thành. Trong Chính đời sống của Ngài, Ngài minh chứng các giá trị của giới ấy, mô tả cho chúng ta tính cách của công dân thuộc giới ấy, và Ngài mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai có thể tự làm cho mình thích hợp — qua phụng sự và kỷ luật — để đi ra khỏi giới nhân loại và bước vào giới tinh thần. [261]
7. He reared His Cross as a boundary, a symbol, and an example of method, between the world of tangible values and the world of spiritual values, and called us to the death of the lower nature in order that the Spirit of God may have full sway.
7. Ngài dựng Thập Giá của Ngài như một ranh giới, một biểu tượng, và một gương mẫu về phương pháp, giữa thế giới của các giá trị hữu hình và thế giới của các giá trị tinh thần, và kêu gọi chúng ta đi vào cái chết của bản chất thấp để Tinh thần của Thượng đế có thể toàn quyền chi phối.
8. He taught us that death must end, and that the destiny of humanity is the resurrection from among the dead. Immortality must take the place of mortality. For our sakes, therefore, He rose from the dead and proved that the bonds of death cannot hold any human being who can function as a Son of God.
8. Ngài dạy chúng ta rằng cái chết phải chấm dứt, và định mệnh của nhân loại là sự phục sinh từ giữa những kẻ chết. Bất tử phải thay thế cho hữu tử. Vì chúng ta, do đó, Ngài đã sống lại từ cõi chết và chứng minh rằng xiềng xích của sự chết không thể giữ bất cứ con người nào có thể hoạt động như một Con của Thượng đế.
Many sons of God had passed through the Temples of the Mysteries; many had learnt to function divinely and had, in the process of expressing divinity, lived and served and died. But none of them came at the particular period of unfoldment which made possible the universal recognition which Christ has evoked, nor was the intellect of the masses sufficiently developed to profit by their teaching on a large scale until that time. In these respects Christ and His mission were uniquely important. He taught us to work towards unity and to bring to an end isolation and hatred and separation, telling us to love our neighbour as ourselves. He gave a message which was universal in its implications, for the kingdom of God stands wide open to all who love and serve and who purify the lower nature, irrespective of creed and dogma. He taught the unity of the faith, the Fatherhood of God, and the necessity not only to walk with God, but to walk with each other in love and understanding. He emphasised the necessity for cooperation, indicating that if we truly follow the Way, we shall put an end to competition, and substitute for it cooperation. He urged us to live by principles, divine, basic and fundamental, and to lay no emphasis upon personalities.
Nhiều con của Thượng đế đã đi qua các Đền Thờ của những Bí nhiệm; nhiều người đã học cách hoạt động một cách thiêng liêng và, trong tiến trình biểu hiện thiên tính, đã sống, phụng sự và chết. Nhưng không ai trong số họ đến vào giai đoạn khai mở đặc thù khiến sự công nhận phổ quát mà Đức Christ đã gợi lên trở nên khả hữu; cũng không phải cho đến thời ấy trí năng của quần chúng mới phát triển đủ để hưởng lợi từ giáo huấn của họ trên quy mô rộng lớn. Về những phương diện này, Đức Christ và sứ mệnh của Ngài có tầm quan trọng độc nhất. Ngài dạy chúng ta làm việc hướng tới sự hợp nhất và chấm dứt cô lập, thù hận và chia rẽ, bảo chúng ta yêu người lân cận như chính mình. Ngài ban một thông điệp có hàm ý phổ quát, vì Thiên Giới mở rộng cho tất cả những ai yêu thương và phụng sự, và thanh luyện bản chất thấp, bất kể tín điều và giáo điều. Ngài dạy sự hợp nhất của đức tin, Tình Phụ Tử của Thượng đế, và sự cần thiết không chỉ bước đi với Thượng đế, mà còn bước đi với nhau trong tình thương và sự thấu hiểu. Ngài nhấn mạnh sự cần thiết của hợp tác, chỉ ra rằng nếu chúng ta thật sự theo Đường Đạo, chúng ta sẽ chấm dứt cạnh tranh và thay vào đó bằng hợp tác. Ngài thúc giục chúng ta sống theo các nguyên tắc — thiêng liêng, nền tảng và căn bản — và không đặt sự nhấn mạnh nào lên các phàm ngã.
Love, brotherhood, cooperation, service, self-sacrifice, inclusiveness, freedom from doctrine, recognition of divinity—these are the characteristics of the citizen of the kingdom, [262] and these still remain our ideals. Therefore the question of importance facing humanity today is, just what must be done in order to bring about the attainment of the three major objectives which Christ held before us. They remain objectives for all mankind, and are generally so recognised, even when their Christian interpretation is ignored, or when Christ remains unrecognised. How shall we perfect the human being, so that his handling of life, and his attitude to people and his environment, are correct and constructive? How shall we materialise on earth that state of consciousness, accompanied by that condition of living, the result of which would deserve to be recognised as the kingdom of God? How shall we arrive at an understanding of the problem of death, with the surmounting of the process of dying, and the achieving of resurrection? Christ has provided a definite answer and programme for the solution of the problem of human perfection, the problem of a new world, and the problem of immortality.
Tình thương, tình huynh đệ, hợp tác, phụng sự, tự hi sinh, tính bao gồm, tự do khỏi giáo điều, sự công nhận thiên tính — đó là những đặc tính của công dân Thiên Giới, [262] và chúng vẫn còn là các lý tưởng của chúng ta. Vì vậy, câu hỏi quan trọng đang đối diện nhân loại ngày nay là: chính xác phải làm gì để đạt được ba mục tiêu lớn mà Đức Christ đã đặt trước chúng ta. Chúng vẫn là các mục tiêu cho toàn thể nhân loại, và nhìn chung được công nhận như thế, ngay cả khi cách diễn giải Cơ Đốc giáo về chúng bị bỏ qua, hoặc khi Đức Christ không được công nhận. Làm thế nào chúng ta hoàn thiện con người, để cách y xử lý đời sống, thái độ của y đối với người khác và môi trường của y, đều đúng đắn và xây dựng? Làm thế nào chúng ta hiện hình trên Trái Đất trạng thái tâm thức ấy, đi kèm với tình trạng sống ấy, mà kết quả của nó xứng đáng được công nhận là Thiên Giới? Làm thế nào chúng ta đạt tới sự thấu hiểu vấn đề cái chết, cùng với việc vượt thắng tiến trình chết và đạt được sự phục sinh? Đức Christ đã cung cấp một lời đáp và một chương trình xác định để giải quyết vấn đề hoàn thiện con người, vấn đề một thế giới mới, và vấn đề bất tử.
That humanity is on its way to great and vital events is generally recognised. We have in the past progressed through varying civilisations to the important present, and we are on our way to still greater achievements. The question, however, arises whether we may hasten the process; whether, by a right understanding of Christ and His teaching, we could so expedite matters that the kingdom and its laws may hold sway earlier than would otherwise be the case. No sacrifice on our part would be too great, if Christ was right in the position He took and in the teaching He gave as to the nature of man. The decision rests with us. The choice is ours. Therefore in the last analysis what is the decision we have to make? What is the question that we have to answer? Christ has said that man is divine. Was He right? If man is divine and a son of the Father, then let us proceed to express that divinity and claim our birthright. We have been occupied with much thought and discussion about God in the past. God transcendent has been both recognised and denied. God immanent is on the verge of recognition, and in that recognition [263] may surely lie the way out for man. Are we divine? That is the all-important question.
Nhìn chung, người ta công nhận rằng nhân loại đang trên đường tiến tới những biến cố lớn lao và thiết yếu. Trong quá khứ, chúng ta đã tiến qua các nền văn minh khác nhau đến hiện tại quan trọng này, và chúng ta đang trên đường tới những thành tựu còn lớn lao hơn nữa. Tuy nhiên, câu hỏi nảy sinh là liệu chúng ta có thể thúc nhanh tiến trình hay không; liệu, bằng một sự thấu hiểu đúng đắn về Đức Christ và giáo huấn của Ngài, chúng ta có thể xúc tiến sự việc đến mức Thiên Giới và các định luật của nó có thể nắm quyền chi phối sớm hơn so với trường hợp khác hay không. Không hi sinh nào từ phía chúng ta là quá lớn, nếu Đức Christ đã đúng trong lập trường Ngài giữ và trong giáo huấn Ngài ban về bản chất của con người. Quyết định nằm nơi chúng ta. Sự lựa chọn là của chúng ta. Vì vậy, xét đến cùng, quyết định mà chúng ta phải đưa ra là gì? Câu hỏi mà chúng ta phải trả lời là gì? Đức Christ đã nói rằng con người là thiêng liêng. Ngài có đúng không? Nếu con người là thiêng liêng và là con của Cha, vậy chúng ta hãy tiến tới biểu hiện thiên tính ấy và đòi quyền thừa kế do sinh ra của mình. Trong quá khứ, chúng ta đã bận tâm nhiều với tư tưởng và thảo luận về Thượng đế. Thượng đế siêu việt đã vừa được công nhận vừa bị phủ nhận. Thượng đế nội tại đang ở ngưỡng cửa của sự công nhận, và trong sự công nhận ấy [263] chắc chắn có thể có lối thoát cho con người. Chúng ta có thiêng liêng không? Đó là câu hỏi tối quan trọng.
If man is divine, if the testimony of the ages is true, and if Christ came to show us divinity in expression and to found the new kingdom, then the breaking down today of the old forms, and the widespread destruction of the familiar structures of society and religion, may simply be part of the process of instituting the new processes of life and the planned work of a vital evolving spirit. A reaction to the appearance of the kingdom may account for the unrest of the masses, and the general sensitive response to the new ideals may be due to the impact of the force of the kingdom upon the minds of the more advanced people of the world. The mystic and the Christian may talk in terms of the kingdom of God; philanthropists and philosophers may talk in terms of the world community, of the new civilisation, of the world federation of nations, of humanity as a body corporate, of community living and of internationalism and economic interdependence and world unity; but these are mere words and names which differing types of mind apply to the one great emerging fact of a new kingdom in nature arising out of the human kingdom, with its own principles of living, its laws of group welfare, and its brotherhood of man.
Nếu con người là thiêng liêng, nếu chứng ngôn của các thời đại là đúng, và nếu Đức Christ đã đến để chỉ cho chúng ta thiên tính trong biểu hiện và để thiết lập giới mới, thì sự phá vỡ ngày nay của các hình tướng cũ, và sự hủy hoại lan rộng của những cấu trúc quen thuộc trong xã hội và tôn giáo, có thể chỉ đơn giản là một phần của tiến trình thiết lập những tiến trình sống mới và công việc có hoạch định của một tinh thần sống động đang tiến hoá. Một phản ứng trước sự xuất hiện của Thiên Giới có thể giải thích sự bất ổn của quần chúng, và sự đáp ứng nhạy bén chung đối với các lý tưởng mới có thể là do tác động của mãnh lực Thiên Giới lên thể trí của những người tiến bộ hơn trong thế giới. Nhà thần bí và tín đồ Cơ Đốc giáo có thể nói bằng thuật ngữ Thiên Giới; các nhà từ thiện và triết gia có thể nói bằng thuật ngữ cộng đồng thế giới, nền văn minh mới, liên bang thế giới của các quốc gia, nhân loại như một đoàn thể thống nhất, đời sống cộng đồng, chủ nghĩa quốc tế, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự thống nhất thế giới; nhưng đó chỉ là những từ ngữ và danh xưng mà các kiểu trí tuệ khác nhau áp dụng cho một sự kiện vĩ đại đang xuất hiện: một giới mới trong tự nhiên đang phát sinh từ giới nhân loại, với các nguyên tắc sống riêng, các định luật về phúc lợi nhóm riêng, và tình huynh đệ của nhân loại riêng.
In the unfoldment of the human consciousness we are passing out of the necessary stage of individualism; we have temporarily lost sight of the deeper truths, the mystical values, and the one Life behind all forms. We have been too much occupied with material and selfish interests. But this has been a needed stage, even though it may well be that it has persisted too long. It is time for us to end the period of selfish individualism, permitting it no longer to be a controlling factor in our lives, time for us to begin to blend and unify the deeper elements of the world of reality with the outer life. The best minds of the age are now appreciating this, and on every hand the call is going out for a deepening of life, a recognition of the nature of and the need for a coherent understanding of the world processes, and their conscious intelligent [264] integration into a recognisable world order. The disintegration in the world at this time is right and good, provided we understand why it is taking place and by what it should be succeeded. Destruction which is carried on with a view to eventual construction is right and proper, but the plans for the coming building must be somewhere understood, and some idea must exist as to subsequent reconstruction.
Trong sự khai mở của tâm thức con người, chúng ta đang đi ra khỏi giai đoạn cần thiết của chủ nghĩa cá nhân; chúng ta đã tạm thời mất khỏi tầm nhìn những chân lý sâu xa hơn, các giá trị thần bí, và Sự Sống duy nhất đằng sau mọi hình tướng. Chúng ta đã quá bận tâm với các lợi ích vật chất và ích kỷ. Nhưng đây là một giai đoạn cần thiết, dù rất có thể nó đã kéo dài quá lâu. Đã đến lúc chúng ta chấm dứt thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, không còn cho phép nó là một yếu tố chi phối trong đời sống của chúng ta; đã đến lúc chúng ta bắt đầu hòa trộn và hợp nhất các yếu tố sâu xa hơn của thế giới thực tại với đời sống bên ngoài. Những trí tuệ ưu tú nhất của thời đại hiện đang nhận thức điều này, và khắp nơi lời kêu gọi đang vang lên cho sự đào sâu đời sống, sự công nhận bản chất và nhu cầu về một sự thấu hiểu mạch lạc đối với các tiến trình thế giới, cùng sự tích hợp có ý thức và thông minh [264] của chúng vào một trật tự thế giới có thể nhận biết. Sự tan rã trong thế giới vào lúc này là đúng và tốt, miễn là chúng ta thấu hiểu vì sao nó đang diễn ra và điều gì phải kế tiếp nó. Sự hủy hoại được tiến hành nhằm hướng tới xây dựng sau cùng là đúng đắn và thích hợp, nhưng các kế hoạch cho công trình xây dựng sắp đến phải được thấu hiểu ở đâu đó, và phải có một ý tưởng nào đó về sự tái thiết theo sau.
Our need today is to see the hidden thread of purpose which will lead us out of the apparent impasse; to isolate, out of the many theories, that basic theory which not only has its roots in the past, but is capable of application in a new way, in new terms, by those who are permeated with the new vision. We need what Dr. Schweitzer calls “... the recognition that civilization is founded on some sort of theory of the universe, and can be restored only through a spiritual awakening and a will for ethical good in the mass of mankind.” (‘The Decay and Restoration of Civilisation’, by Albert Schweitzer, p. 78-79.) This awakening is already here, and the will to good is present. The teaching of Christ is not obsolete and out of date. It needs only to be rescued from the interpretations of the theologies of the past, and taken at its simple face value, which is an expression of the divinity of man, of his participation in the kingdom which is in process of being brought into recognition, and of his immortality as a citizen of that kingdom. What we are in reality passing through is “a religious initiation into the mysteries of Being,” (‘The End of Our Time’, by Nicholas Berdayaev, p. 105.) and from that we shall emerge with a deepened sense of God immanent in ourselves and in all humanity. The need for this revaluation is being impressed upon us constantly. It might be of value to us, therefore, to admit this possibility and consider practically our individual relation to the work which Christ expressed and inaugurated, and to deal with the problem of our individual perfecting, in order that we may help to found [265] the kingdom and to develop those values which will warrant immortality.
Nhu cầu của chúng ta ngày nay là thấy được sợi dây ẩn giấu của mục đích sẽ dẫn chúng ta ra khỏi bế tắc bề ngoài; là tách ra, từ nhiều lý thuyết, lý thuyết nền tảng không chỉ có rễ trong quá khứ mà còn có khả năng được áp dụng theo một cách mới, bằng những thuật ngữ mới, bởi những người được thấm nhuần bởi tầm nhìn mới. Chúng ta cần điều mà Tiến sĩ Schweitzer gọi là “... sự công nhận rằng văn minh được đặt nền trên một loại lý thuyết nào đó về vũ trụ, và chỉ có thể được phục hồi qua một sự thức tỉnh tinh thần và một ý chí hướng về điều thiện đạo đức trong đại chúng nhân loại.” (‘Sự Suy Tàn và Phục Hồi của Văn Minh’, của Albert Schweitzer, tr. 78-79.) Sự thức tỉnh này đã có ở đây, và ý chí hướng thiện đang hiện diện. Giáo huấn của Đức Christ không lỗi thời và lạc hậu. Nó chỉ cần được giải cứu khỏi các diễn giải của những thần học quá khứ, và được tiếp nhận theo giá trị đơn giản bề mặt của nó, vốn là một biểu hiện của thiên tính nơi con người, của sự tham dự của y vào giới đang trong tiến trình được đưa vào sự công nhận, và của sự bất tử của y với tư cách là công dân của giới ấy. Điều mà trong thực tế chúng ta đang trải qua là “một cuộc điểm đạo tôn giáo vào các bí nhiệm của Bản Thể,” (‘Sự Kết Thúc Thời Đại Chúng Ta’, của Nicholas Berdayaev, tr. 105.) và từ đó chúng ta sẽ bước ra với một ý thức sâu sắc hơn về Thượng đế nội tại trong chính mình và trong toàn thể nhân loại. Nhu cầu về sự tái định giá này đang liên tục được in sâu vào chúng ta. Vì vậy, có thể hữu ích cho chúng ta khi thừa nhận khả năng này và xem xét một cách thực tiễn mối liên hệ cá nhân của chúng ta với công việc mà Đức Christ đã biểu hiện và khai mở, cũng như xử lý vấn đề hoàn thiện cá nhân của chúng ta, để chúng ta có thể giúp thiết lập [265] Thiên Giới và phát triển những giá trị sẽ bảo đảm sự bất tử.
Someone has remarked that our troubles at this time are due largely to the lack of intuitive perception on the part of those who can impress the masses and lead people forward. They seek to guide by mental processes and enforcements, and not by that intuitive presentation of reality which the child and the wise man can simultaneously recognise. It is vision that is needed, for “where there is no vision the people perish.” (Proverbs, XXIX, 18.) We have not lacked idealism, nor have we been too greatly unintelligent. Most people, faced with issues and problems, act with sincerity, even if their line of action may seem mistaken. But our outstanding error has been a failure to make those personality adjustments and sacrifices which would render realisation possible.
Có người đã nhận xét rằng những khó khăn của chúng ta vào lúc này phần lớn là do sự thiếu tri giác trực giác nơi những người có thể tạo ấn tượng lên quần chúng và dẫn dắt con người tiến về phía trước. Họ tìm cách hướng dẫn bằng các tiến trình trí tuệ và sự áp đặt, chứ không bằng cách trình bày thực tại theo trực giác, điều mà đứa trẻ và người minh triết có thể đồng thời nhận ra. Điều cần thiết là tầm nhìn, vì “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ tiêu vong.” (Châm Ngôn, XXIX, 18.) Chúng ta không thiếu lý tưởng chủ nghĩa, cũng không phải quá kém thông minh. Phần lớn mọi người, khi đối diện với các vấn đề và khó khăn, đều hành động với sự chân thành, ngay cả khi đường lối hành động của họ có thể có vẻ sai lầm. Nhưng lỗi lầm nổi bật của chúng ta là đã không thực hiện những điều chỉnh và hi sinh nơi phàm ngã, vốn sẽ làm cho sự chứng nghiệm trở nên khả hữu.
People ask for guidance; they demand right leadership; they hope to be led in the way that they should go; and yet all the time the guidance, leadership and direction have been given them. Christ blazed the trail and is still waiting for us to follow, not one by one, but—under inspired disciples—as a race. Like the children of Israel under Moses, we must go forth and find the “holy land.” How then can those who have vision (and they are many) train themselves to aid in the right orientation of humanity? How can they become the leaders so sorely needed? By learning to be led themselves by Christ, and by following the guidance of the inner mystical Christ which will inevitably lead them direct to Christ the Initiator. As aspirants to the mysteries we must learn the way through obedience to the light which we may have, by love, and by becoming sensitive to inspiration from on high. There is no other way. We have no genuine excuse for failing, for others have gone ahead, and Christ made it all so clear and simple.
Con người cầu xin sự hướng dẫn; họ đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn; họ hy vọng được dẫn dắt trên con đường mà họ nên đi; vậy mà suốt thời gian ấy, sự hướng dẫn, lãnh đạo và chỉ đạo đã được ban cho họ. Đức Christ đã mở đường và vẫn đang chờ chúng ta đi theo, không phải từng người một, mà — dưới sự dẫn dắt của các đệ tử được cảm hứng — với tư cách là một nhân loại. Giống như con cái Israel dưới sự dẫn dắt của Moses, chúng ta phải tiến ra và tìm “đất thánh.” Vậy làm thế nào những người có tầm nhìn — và họ rất nhiều — có thể tự rèn luyện để hỗ trợ sự định hướng đúng đắn của nhân loại? Làm thế nào họ có thể trở thành những nhà lãnh đạo đang hết sức cần thiết? Bằng cách học để chính họ được Đức Christ dẫn dắt, và bằng cách noi theo sự hướng dẫn của Đức Christ thần bí bên trong, điều sẽ tất yếu dẫn họ trực tiếp đến Đức Christ Đấng Điểm đạo. Với tư cách là những người chí nguyện vào các bí nhiệm, chúng ta phải học con đường qua sự vâng phục ánh sáng mà chúng ta có thể có, qua tình thương, và qua việc trở nên nhạy bén với cảm hứng từ trên cao. Không có con đường nào khác. Chúng ta không có lý do biện hộ chân chính nào cho sự thất bại, vì những người khác đã đi trước, và Đức Christ đã làm cho tất cả điều ấy thật rõ ràng và đơn giản.
Obedience to the highest one knows, in small things as well as in great, is too simple a rule for many to follow, but it is the secret of the Way. We demand so much, and when a [266] simple rule is given us, and we are told merely to obey the voice of conscience and to follow the glimmer of light which we can see, we do not find it sufficiently interesting to call forth prompt obedience. But this rule was the first which Christ followed, and even when a child, He said that He came to occupy Himself with His Father’s business. He obeyed the call. He did as God told Him; He followed step by step the inner voice—and it led Him from Bethlehem to Calvary. But it took Him eventually to the Mount of Ascension. He has shown us what results from obedience, and He “learned obedience by the things which He suffered.” He paid the price, and revealed to us what God in man could be and do.
Vâng phục điều cao nhất mà một người biết, trong những việc nhỏ cũng như việc lớn, là một quy luật quá đơn giản đối với nhiều người để noi theo, nhưng đó là bí quyết của Đường Đạo. Chúng ta đòi hỏi quá nhiều, và khi một [266] quy luật đơn giản được ban cho chúng ta, và chúng ta chỉ được bảo hãy vâng theo tiếng nói của lương tâm và đi theo tia sáng le lói mà chúng ta có thể thấy, chúng ta không thấy nó đủ thú vị để khơi dậy sự vâng phục tức khắc. Nhưng quy luật này là quy luật đầu tiên mà Đức Christ đã noi theo, và ngay khi còn là một đứa trẻ, Ngài đã nói rằng Ngài đến để lo công việc của Cha Ngài. Ngài vâng theo tiếng gọi. Ngài làm như Thượng đế bảo Ngài; Ngài từng bước đi theo tiếng nói bên trong — và nó dẫn Ngài từ Bethlehem đến Calvary. Nhưng cuối cùng nó đưa Ngài đến Núi Thăng Thiên. Ngài đã chỉ cho chúng ta thấy những gì phát sinh từ sự vâng phục, và Ngài “học vâng phục qua những điều Ngài chịu khổ.” Ngài đã trả giá, và mặc khải cho chúng ta điều Thượng đế trong con người có thể là và có thể làm.
The achievement of human perfection is not the simple matter of building a good character and being nice and kind. More than that is involved. It is a question of understanding and of a new and regulated inner attitude, one which is oriented to God because it is oriented to the service of man, in whom God is expressing Himself. “If we do not love our brother whom we have seen, how can we love God whom we have not seen?” (St. John, IV, 20.) This is the question which St. John, the beloved Apostle, asks and which we have not yet, as a race, attempted to answer. The vital need is to return to the simple fundamental instruction which Christ gave, and to learn to love our brother. Love is not a sentimental, emotional state of consciousness. It takes into account the point in evolution and the development of character of those to be loved; but in spite of all, it is a love which sees truly, and which, because it sees so truly can act wisely. It is a love which realises that the world needs love, and that a spirit of love (which is a spirit of inclusiveness, of tolerance, of wise judgment and far-sighted vision) can draw all men together into that outward unity which is based upon a recognised inner relationship.
Thành tựu sự hoàn thiện của con người không phải là việc đơn giản của việc xây dựng một tính cách tốt và trở nên dễ thương, tử tế. Nó hàm chứa nhiều hơn thế. Đó là vấn đề thấu hiểu và một thái độ nội tâm mới, được điều chỉnh, một thái độ hướng về Thượng đế bởi vì nó hướng về phụng sự con người, nơi Thượng đế đang biểu hiện Chính Ngài. “Nếu chúng ta không yêu huynh đệ mình là người chúng ta đã thấy, làm sao chúng ta có thể yêu Thượng đế là Đấng chúng ta chưa thấy?” (Thánh Gioan, IV, 20.) Đây là câu hỏi mà Thánh Gioan, Tông đồ được yêu mến, nêu ra và chúng ta, với tư cách là một nhân loại, vẫn chưa cố gắng trả lời. Nhu cầu thiết yếu là trở về với chỉ dẫn căn bản đơn giản mà Đức Christ đã ban, và học yêu thương huynh đệ của mình. Tình thương không phải là một trạng thái tâm thức đa cảm, cảm xúc. Nó tính đến điểm tiến hoá và sự phát triển tính cách của những người cần được yêu thương; nhưng bất chấp tất cả, đó là một tình thương thấy đúng sự thật, và vì thấy đúng sự thật như thế nên có thể hành động một cách minh triết. Đó là một tình thương nhận ra rằng thế giới cần tình thương, và rằng một tinh thần thương yêu — vốn là một tinh thần của tính bao gồm, của khoan dung, của phán đoán minh triết và tầm nhìn xa — có thể kéo mọi người lại với nhau vào sự hợp nhất bên ngoài dựa trên một mối liên hệ bên trong được công nhận.
We are all so ready to take love. We are all so eager to be loved, because we realise, unconsciously if not consciously, [267] that love means service, and we like to be served. The time has come when that selfish attitude to life must change, and we must learn to give love and not to ask love, to go out in service to all whom we contact day by day, and expect and exact nothing for the separated self. When this spirit (which is outstandingly the spirit of Christ and of those who know Him best) becomes more general, then we shall see a more rapid consummation of the desired changes. Theologically, we have said that “God is love,” and then have interpreted Him in terms of our own hatreds, our own limited ideals, our narrow theologies, and our separative attitudes. We have recognised Christ as the great Server of the race, and have pointed to Him as the example of what is possible. But we accord no general service, and that quality is not yet the motivating power in the life of the world. It is motivating life more definitely than ever before, but the efforts that are now being made—twenty centuries after Christ left us with the command to follow in His steps—only serve to show how slow we have been, how much remains to be done, and how desperately men need to be served by those who have vision and the love of God in their hearts. It is obvious how little love there is used in the world at this time. The essential thing to remember is that the reason we can recognise God as a God of love is that we are ourselves, basically and potentially, God-like in quality. This in itself constitutes a problem, for unless the divine in us is somewhat awakened it is difficult for us to interpret love correctly, and it is impossible for the masses of men, who are yet upon the path of becoming, and in many cases are scarcely human beings, to understand the real significance of love.
Tất cả chúng ta đều quá sẵn sàng nhận tình thương. Tất cả chúng ta đều quá khao khát được yêu thương, bởi vì chúng ta nhận ra, dù vô thức nếu không hữu thức, [267] rằng tình thương hàm ý phụng sự, và chúng ta thích được phụng sự. Đã đến lúc thái độ ích kỷ ấy đối với đời sống phải thay đổi, và chúng ta phải học trao tình thương chứ không đòi hỏi tình thương, đi ra trong phụng sự đối với tất cả những ai chúng ta tiếp xúc ngày này qua ngày khác, và không mong đợi cũng không đòi hỏi điều gì cho cái ngã tách biệt. Khi tinh thần này — vốn nổi bật là tinh thần của Đức Christ và của những ai biết Ngài rõ nhất — trở nên phổ biến hơn, bấy giờ chúng ta sẽ thấy sự hoàn tất nhanh chóng hơn của những thay đổi được mong muốn. Về mặt thần học, chúng ta đã nói rằng “Thượng đế là tình thương,” rồi lại diễn giải Ngài theo những thù hận của chính chúng ta, những lý tưởng hạn hẹp của chính chúng ta, những thần học chật hẹp của chúng ta, và những thái độ chia rẽ của chúng ta. Chúng ta đã công nhận Đức Christ là Đấng Phụng Sự vĩ đại của nhân loại, và đã chỉ vào Ngài như gương mẫu của điều có thể thực hiện. Nhưng chúng ta không ban ra sự phụng sự chung, và phẩm tính ấy vẫn chưa là quyền năng thúc đẩy trong đời sống của thế giới. Nó đang thúc đẩy đời sống rõ rệt hơn bao giờ hết, nhưng những nỗ lực hiện đang được thực hiện — hai mươi thế kỷ sau khi Đức Christ rời chúng ta với mệnh lệnh bước theo dấu chân Ngài — chỉ cho thấy chúng ta đã chậm chạp đến mức nào, còn bao nhiêu điều phải làm, và con người cần được phụng sự khẩn thiết ra sao bởi những người có tầm nhìn và tình thương của Thượng đế trong tâm. Rõ ràng biết bao là có quá ít tình thương được sử dụng trong thế giới vào lúc này. Điều cốt yếu cần nhớ là lý do chúng ta có thể công nhận Thượng đế là một Thượng đế của tình thương là vì chính chúng ta, về căn bản và tiềm tàng, có phẩm tính giống như Thượng đế. Điều này tự nó cấu thành một vấn đề, vì trừ khi phần thiêng liêng trong chúng ta được đánh thức phần nào, chúng ta khó diễn giải tình thương một cách đúng đắn; và đối với quần chúng nhân loại, những người vẫn còn trên con đường đang trở thành, và trong nhiều trường hợp hầu như chưa phải là con người, thì không thể thấu hiểu thâm nghĩa thật sự của tình thương.
The understanding of love and the expression of love are strictly personal matters. Love can remain indefinitely a theory or an emotional experience. It can become a motivating factor in life and something which we contribute to the whole. If each would think out for himself the meaning of love in his life, and if all would decide to give love and understanding (not emotional reactions, but steady, [268] steadfast, understanding love), then the tangles in this troubled world of ours would straighten out, and it would be an easier place in which to live. The present chaos and turmoil would then more rapidly disappear. Love is essentially the realisation of brotherhood. It is the recognition that we are all the children of the One Father; it is pity and compassion and understanding and patience. It is the true expression of the life of God.
Sự thấu hiểu tình thương và sự biểu hiện tình thương hoàn toàn là những vấn đề cá nhân. Tình thương có thể vẫn mãi là một lý thuyết hoặc một kinh nghiệm cảm xúc. Nó có thể trở thành một yếu tố thúc đẩy trong đời sống và một điều gì đó chúng ta đóng góp cho toàn thể. Nếu mỗi người tự suy nghĩ kỹ về ý nghĩa của tình thương trong đời sống của mình, và nếu tất cả quyết định trao tình thương và sự thấu hiểu — không phải các phản ứng cảm xúc, mà là tình thương thấu hiểu, vững vàng, [268] kiên định — thì những rối rắm trong thế giới đầy khó khăn này của chúng ta sẽ được tháo gỡ, và nó sẽ trở thành một nơi dễ sống hơn. Bấy giờ hỗn loạn và xáo động hiện nay sẽ biến mất nhanh chóng hơn. Về bản chất, tình thương là sự nhận biết tình huynh đệ. Đó là sự công nhận rằng tất cả chúng ta đều là con cái của một Người Cha Duy Nhất; đó là lòng thương xót, lòng từ bi, sự thấu hiểu và sự kiên nhẫn. Đó là sự biểu hiện chân thật của sự sống của Thượng đế.
If the first requirement of the man who seeks to prepare himself for the Mysteries of Jesus is obedience to the highest which he can sense and know, and the second is the practice of love, the third is the development of that sensitivity and inner attention by means of which he can arrive at the significance and the condition of inspiration. This is not in any sense the development of psychic faculty as usually understood; it is present among God’s children in many forms, from that of attention to the inner voice of conscience and duty (two of the lowest forms of inspiration) to that high spiritual attainment which finds expression in the inspired scriptures of the world.
Nếu yêu cầu thứ nhất của người tìm cách chuẩn bị chính mình cho các Bí nhiệm của Đức Jesus là vâng phục điều cao nhất mà y có thể cảm nhận và biết, và yêu cầu thứ hai là thực hành tình thương, thì yêu cầu thứ ba là phát triển sự nhạy bén và chú tâm bên trong, nhờ đó y có thể đạt tới thâm nghĩa và tình trạng của cảm hứng. Điều này không theo bất cứ nghĩa nào là sự phát triển năng lực thông linh như thường được hiểu; nó hiện diện nơi con cái của Thượng đế dưới nhiều hình thức, từ sự chú tâm đến tiếng nói bên trong của lương tâm và bổn phận — hai trong những hình thức thấp nhất của cảm hứng — cho đến thành tựu tinh thần cao cả tìm thấy sự biểu hiện trong các kinh sách được cảm hứng của thế giới.
Unless there is this inspiration, it is not possible for a man to enter into the temple and to commune with That which is introducing him to the subtle processes of initiation. The first Initiator is the soul itself, the divine self in man, the spiritual man, who stands behind the screen of the outer man, and who struggles to control and work through the outer personality. It is that soul or self which opens to man the door of inspiration and reveals to him the nature of his divine consciousness, attuning his ear to catch the sound of that “Voice which speaks in the silence”—when a man has quieted all the outer voices.
Nếu không có cảm hứng này, con người không thể bước vào đền thờ và giao cảm với Điều đang đưa y vào các tiến trình vi tế của điểm đạo. Đấng Điểm đạo đầu tiên chính là linh hồn, bản ngã thiêng liêng trong con người, con người tinh thần, đứng đằng sau bức màn của con người bên ngoài, và đang đấu tranh để kiểm soát và làm việc qua phàm ngã bên ngoài. Chính linh hồn hay bản ngã ấy mở cho con người cánh cửa của cảm hứng và mặc khải cho y bản chất của tâm thức thiêng liêng của y, chỉnh tai y để bắt lấy âm thanh của “Tiếng Nói vang lên trong im lặng” — khi con người đã làm lặng yên mọi tiếng nói bên ngoài.
The attainment of the faculty of inspiration is essential to any progress upon the path of initiation, and it presupposes a development of intelligence which will enable a man to make the necessary differentiations. True inspiration is not in any sense the welling-up of the subconscious self or mind; nor is it the releasing in man of the flood of ideas and [269] thoughts which are his—racial, national or family; it is not the tuning in on the world of thought which can so easily be done by those in whom a certain quality of telepathic rapport is developed. Nor is it listening to the many voices which can make themselves heard when a man succeeds in becoming so utterly negative and so emptied of all intelligent thought that the sounds, the ideas and the suggestions of the world of psychic phenomena very easily intrude. This happens usually when the standard of intelligence is of a relatively low order. Inspiration is something entirely different. It is a penetration into the world of thought and ideas to which Christ listened when He heard a Voice, and the Father spoke to Him. It is the intuitive response of an intelligent mind to impressions coming from the soul and from the world of souls. The speech of the kingdom then becomes familiar to us. We are in touch with those liberated souls who are functioning in that kingdom, and the waves of thought and the ideas which they seek to impress upon the minds of men find their way into circulation through the attuned minds of the disciples of the world. This is inspiration, and this is the faculty for which aspirants everywhere should begin to train themselves, and which must be attained in the world of everyday living. It is a power which is generated through the processes of right meditation; it is an expression of the soul, working through the mind, and thus actuating the brain with impulses which are purely spiritual. Inspiration is responsible for all the new ideas and the developing ideals of our modern world. The age of inspiration is not gone and past; it is present here and now. God still speaks to men, for this world of ours still provides adequate facilities for the development of those qualities which are characteristic of the Christ in the human heart, the soul, the son of God in incarnation, dwelling in this vale of tears, or as it has been called, this “vale of soul-making.”
Việc đạt được năng lực cảm hứng là thiết yếu cho mọi tiến bộ trên Con Đường Điểm Đạo, và nó giả định một sự phát triển trí thông minh sẽ giúp con người thực hiện những phân biệt cần thiết. Cảm hứng chân thật không theo bất cứ nghĩa nào là sự trào dâng của bản ngã hay trí tuệ tiềm thức; cũng không phải là sự phóng thích trong con người dòng lũ các ý tưởng và [269] tư tưởng vốn thuộc về y — thuộc nhân loại, quốc gia hay gia đình; nó không phải là sự bắt sóng vào thế giới tư tưởng, điều có thể được thực hiện quá dễ dàng bởi những người nơi họ một phẩm tính nhất định của sự hòa điệu viễn cảm đã được phát triển. Nó cũng không phải là lắng nghe nhiều tiếng nói có thể tự khiến mình được nghe thấy khi một người thành công trong việc trở nên hoàn toàn thụ động và trống rỗng mọi tư tưởng thông minh đến mức các âm thanh, ý tưởng và gợi ý của thế giới hiện tượng thông linh rất dễ xâm nhập. Điều này thường xảy ra khi mức độ trí thông minh tương đối thấp. Cảm hứng là một điều hoàn toàn khác. Đó là sự thâm nhập vào thế giới tư tưởng và ý tưởng mà Đức Christ đã lắng nghe khi Ngài nghe một Tiếng Nói, và Cha phán với Ngài. Đó là sự đáp ứng trực giác của một thể trí thông minh đối với các ấn tượng đến từ linh hồn và từ thế giới của các linh hồn. Bấy giờ ngôn ngữ của Thiên Giới trở nên quen thuộc với chúng ta. Chúng ta tiếp xúc với những linh hồn giải thoát đang hoạt động trong giới ấy, và các làn sóng tư tưởng cùng những ý tưởng mà họ tìm cách in sâu vào thể trí của con người tìm được đường đi vào lưu thông qua thể trí đã được chỉnh hợp của các đệ tử thế giới. Đây là cảm hứng, và đây là năng lực mà những người chí nguyện khắp nơi nên bắt đầu tự rèn luyện, và phải đạt được trong thế giới của đời sống hằng ngày. Đó là một quyền năng được sinh ra qua các tiến trình tham thiền đúng đắn; đó là một biểu hiện của linh hồn, làm việc qua thể trí, và do đó tác động lên bộ não bằng những xung lực thuần túy tinh thần. Cảm hứng chịu trách nhiệm cho mọi ý tưởng mới và các lý tưởng đang phát triển của thế giới hiện đại chúng ta. Thời đại của cảm hứng chưa trôi qua và chấm dứt; nó hiện diện ở đây và bây giờ. Thượng đế vẫn phán với con người, vì thế giới này của chúng ta vẫn còn cung cấp đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những phẩm tính đặc trưng của Đức Christ trong tâm con người, linh hồn, Con của Thượng đế đang nhập thể, cư ngụ trong thung lũng nước mắt này, hay như người ta đã gọi, “thung lũng tạo linh hồn” này.
But to achieve this definite and conscious soul contact, the aspirant has to learn obedience through the things which he [270] suffers, and he has also to practise the task of loving. This is not easy. It calls for discipline, for ceaseless effort and striving, for that conquest of self which means a daily crucifixion, and for that close attention which never takes its eyes from the goal, but which is always conscious of purpose, of progress and of orientation. The wonder of the process is that it can be carried forward here and now, in the situation in which we find ourselves, without demanding the least deviation from the place of duty and responsibility.
Nhưng để đạt được sự tiếp xúc linh hồn xác định và có ý thức này, người chí nguyện phải học vâng phục qua những điều y [270] chịu khổ, và y cũng phải thực hành nhiệm vụ yêu thương. Điều này không dễ. Nó đòi hỏi kỷ luật, nỗ lực và phấn đấu không ngừng, sự chinh phục bản ngã hàm ý một cuộc đóng đinh hằng ngày, và sự chú tâm sát sao không bao giờ rời mắt khỏi mục tiêu, nhưng luôn có ý thức về mục đích, về tiến bộ và về sự định hướng. Điều kỳ diệu của tiến trình là nó có thể được đưa tiến ở đây và bây giờ, trong hoàn cảnh mà chúng ta đang ở, mà không đòi hỏi một sự lệch hướng nhỏ nhất khỏi nơi chốn của bổn phận và trách nhiệm.
Such is the goal for the man who seeks to stand with Christ in the founding of the kingdom, thus fulfilling the will of God. There is no other objective worthy of man’s attention, nor one which will so absorb every power he has, every gift and talent he possesses, and every moment of his being. Today the call is going forth for Servers of the race, and for men and women who will work at the task of perfecting the self in order that they may be better equipped to serve their fellowmen and God in man.
Đó là mục tiêu cho người tìm cách đứng cùng Đức Christ trong việc thiết lập Thiên Giới, qua đó hoàn thành Ý Chí của Thượng đế. Không có mục tiêu nào khác xứng đáng với sự chú tâm của con người, cũng không có mục tiêu nào sẽ hấp thu trọn vẹn mọi quyền năng y có, mọi ân huệ và tài năng y sở hữu, và mọi khoảnh khắc hiện tồn của y. Ngày nay, lời kêu gọi đang vang lên cho những Người Phụng Sự nhân loại, và cho những người nam và nữ sẽ làm việc trong nhiệm vụ hoàn thiện bản ngã để họ có thể được trang bị tốt hơn nhằm phụng sự đồng loại của mình và Thượng đế trong con người.
We are told that when we enter the world of ideals, “the differences between religions become negligible and the agreements striking. There is only one ideal for man, to make himself profoundly human. ‘Be ye perfect.’ The whole man, the complete man, is the ideal man, the divine man.” On the path of purification we discover how weak and faulty is the lower personal man; on the path of discipleship we work at the unfoldment of those qualities which are characteristic of the man who is ready to tread the Way and be born in Bethlehem. Then we shall know the truth about ourselves and God, shall know through attainment whether what we are told is fact or not. We are told that “... no one can rightly understand the historic truth of such documents as the Gospels unless he has first experienced within himself the mystical meaning which they contain....” Angelus Silesius of the seventeenth century has already expressed the whole of the critical attitude toward this kind of investigation:
Chúng ta được bảo rằng khi bước vào thế giới của các lý tưởng, “những khác biệt giữa các tôn giáo trở nên không đáng kể và những điểm tương đồng trở nên nổi bật. Chỉ có một lý tưởng duy nhất cho con người, là làm cho chính mình trở thành con người có nhân tính sâu sắc. ‘Hãy nên hoàn thiện.’ Con người toàn vẹn, con người đầy đủ, là con người lý tưởng, con người thiêng liêng.” Trên con đường thanh luyện, chúng ta khám phá con người phàm ngã thấp yếu đuối và khiếm khuyết biết bao; trên Con Đường Đệ Tử, chúng ta làm việc cho sự khai mở những phẩm tính đặc trưng của người sẵn sàng bước trên Đường Đạo và được sinh ra tại Bethlehem. Bấy giờ chúng ta sẽ biết sự thật về chính mình và Thượng đế, sẽ biết qua thành tựu liệu điều chúng ta được bảo là sự kiện hay không. Chúng ta được bảo rằng “... không ai có thể thấu hiểu đúng đắn chân lý lịch sử của những văn kiện như các sách Phúc Âm trừ khi trước hết y đã kinh nghiệm trong chính mình ý nghĩa thần bí mà chúng chứa đựng....” Angelus Silesius của thế kỷ mười bảy đã diễn đạt toàn bộ thái độ phê phán đối với loại khảo cứu này:
“Though Christ were yearly born in Bethlehem and never
“Dù Đức Christ mỗi năm sinh tại Bethlehem và chẳng bao giờ
Had birth in you yourself, then were you lost for ever; [271]
Được sinh ra trong chính bạn, thì bạn đã mất đời đời; [271]
And if within yourself it is not reared again
Và nếu trong chính bạn nó không được dựng lên lần nữa
The Cross at Golgotha can save you not from pain.”
Thập Giá tại Golgotha không thể cứu bạn khỏi đau khổ.”
QUOTED IN ‘THE WAY OF INITIATION’, BY RUDOLPH STEINER, P. 46.
TRÍCH TRONG ‘CON ĐƯỜNG ĐIỂM ĐẠO’, CỦA RUDOLPH STEINER, TR. 46.
Self knowledge leads one to God knowledge. It is the first step. Purification of the self leads one up to the portal of initiation, and then one can tread the Way that Christ trod from Bethlehem to Calvary.
Sự tự tri dẫn con người đến sự tri thức về Thượng đế. Đó là bước đầu tiên. Sự thanh luyện bản ngã dẫn con người lên tới cổng điểm đạo, và rồi người ấy có thể bước trên Đường Đạo mà Đức Christ đã bước từ Bethlehem đến Calvary.
We are human beings, but we are also divine. We are citizens of the kingdom, although we have not yet claimed and entered into our divine heritage. Inspiration is pouring in all the time; love is latent in every human heart. Only obedience is required at the first step, and when that is rendered, service, which is the expression of love, and inspiration, which is the influence of the kingdom, become a definite part of our life expression. This is what Christ came to reveal; it is the Word which He sounded forth. He has demonstrated to us our human and divine possibilities, and by accepting the fact of our dual but divine nature we can begin to aid in the founding and expressing of the kingdom.
Chúng ta là những con người, nhưng chúng ta cũng là thiêng liêng. Chúng ta là công dân của Thiên Giới, dù chúng ta chưa đòi lấy và bước vào di sản thiêng liêng của mình. Cảm hứng luôn luôn đang tuôn đổ vào; tình thương tiềm tàng trong mọi trái tim con người. Chỉ cần sự vâng phục ở bước đầu tiên, và khi điều ấy được thực hiện, phụng sự, vốn là sự biểu hiện của tình thương, và cảm hứng, vốn là ảnh hưởng của Thiên Giới, trở thành một phần xác định trong sự biểu hiện đời sống của chúng ta. Đây là điều Đức Christ đã đến để mặc khải; đó là Linh từ mà Ngài đã xướng vang. Ngài đã minh chứng cho chúng ta những khả năng nhân loại và thiêng liêng của chúng ta, và bằng cách chấp nhận sự kiện về bản chất kép nhưng thiêng liêng của mình, chúng ta có thể bắt đầu hỗ trợ trong việc thiết lập và biểu hiện Thiên Giới.
The realisation must come to us that “the highest, purest and absolutely adequate expression of the mystery of man is Christ the God-man. He alone really and finally places human nature in the right light. His appearance in history entitles man to regard himself as more than a mere creature. If there is really a God-man there is also a Man-god, that is ‘man’ who has received the godhead into himself... the Man-god is collective and universal, that is to say, mankind as a whole or a world-church. For it is only in communion with all his fellowmen that man can receive God.” (‘Wrestlers with Christ’, by Karl Pfleger, p. 235.)
Sự chứng nghiệm phải đến với chúng ta rằng “biểu hiện cao nhất, tinh khiết nhất và hoàn toàn thích đáng của bí nhiệm con người là Đức Christ, Đấng Thượng đế-con người. Chỉ một mình Ngài thật sự và sau cùng đặt bản chất con người vào ánh sáng đúng đắn. Sự xuất hiện của Ngài trong lịch sử cho phép con người xem mình là hơn một thụ tạo đơn thuần. Nếu thật sự có một Đấng Thượng đế-con người thì cũng có một Con người-thượng đế, tức là ‘con người’ đã tiếp nhận thần tính vào trong chính mình... Con người-thượng đế là tập thể và phổ quát, nghĩa là nhân loại như một toàn thể hay một giáo hội thế giới. Vì chỉ trong sự hiệp thông với tất cả đồng loại của mình mà con người có thể tiếp nhận Thượng đế.” (‘Những Người Vật Lộn với Đức Christ’, của Karl Pfleger, tr. 235.)
The individual attitude to the example of Christ is therefore obedience to the command that we achieve perfection. But the motive must be the one that incited Christ to all His divine activity—the founding of the new kingdom and the attainment of that state of consciousness on a universal and human scale which will make out of the human being [272] a citizen of the kingdom, consciously functioning therein, voluntarily subject to its laws, and striving steadfastly for its extension on earth. He is the messenger of the kingdom; and the raising of the consciousness of his fellowmen, so that they can transcend themselves, becomes his self-appointed task. The sharing with them of the benefits of the kingdom, and the strengthening of them as they tread the difficult path to the gate which admits into that kingdom, become the only dear and immediate duty. The soul who has made contact with the lower expression, the personal self, sweeps that self on to the path of Service. The man cannot then rest until he has led others into the Way and toward the freedom of the sons of God which distinguishes the new and coming kingdom.
Do đó, thái độ của cá nhân đối với gương mẫu của Đức Christ là vâng theo mệnh lệnh rằng chúng ta phải đạt đến sự hoàn thiện. Nhưng động cơ phải là động cơ đã thúc đẩy Đức Christ trong mọi hoạt động thiêng liêng của Ngài — việc thiết lập Thiên Giới mới và đạt đến trạng thái tâm thức trên quy mô phổ quát và nhân loại, trạng thái ấy sẽ làm cho con người [272] trở thành một công dân của Thiên Giới, hoạt động trong đó một cách hữu thức, tự nguyện tuân phục các định luật của Thiên Giới, và kiên trì nỗ lực mở rộng Thiên Giới trên Trái Đất. Y là sứ giả của Thiên Giới; và việc nâng cao tâm thức của đồng loại, để họ có thể vượt lên trên chính mình, trở thành nhiệm vụ mà y tự đảm nhận. Việc chia sẻ với họ những lợi ích của Thiên Giới, và củng cố họ khi họ bước trên con đường khó khăn dẫn đến cánh cổng cho phép đi vào Thiên Giới ấy, trở thành bổn phận duy nhất, thân thiết và trước mắt. Linh hồn đã tiếp xúc với biểu hiện thấp, tức bản ngã cá nhân, cuốn bản ngã ấy vào con đường Phụng sự. Khi ấy, con người không thể nghỉ ngơi cho đến khi y đã dẫn dắt những người khác vào Đường Đạo và hướng tới sự tự do của những người con của Thượng đế, điều làm nên đặc tính của Thiên Giới mới và đang đến.
The new religion is on the way, and it is one for which all previous religions have prepared us. It differs only in that it will no longer be distinguished by dogmas and doctrines, but will be essentially an attitude of mind, an orientation to life, to man and to God. It will also be a living service. Selfishness and self-centred interests will finally be ruled out, for the kingdom of God is the life of the corporate whole, sensed and desired by all its citizens, and worked for and expressed by all who tread the Way. Initiation is nothing more than the process of developing within us the powers and faculties of this new and higher kingdom, which powers release one into a wider world, and tend to make one sensible of the organic whole in place of the part. Individualism and separateness will disappear as that kingdom comes into being. The collective consciousness is its major expression and quality. It is the next definite and clearly indicated step upon the evolutionary Path, and there is no escape from this issue. We cannot prevent ourselves from finally becoming conscious of the larger whole, or actively participating in its unified life. However, it is possible to hasten the coming of the kingdom, and the need of the world at this time, and the general turning of men towards the world of ideas, would seem to indicate that the time has come for the making of [273] that extra effort which will precipitate the appearance of the kingdom and bring forth into manifestation that which is awaiting immediate revelation. This is the challenge which today confronts the Christian Church. The need is for vision, wisdom and that wide tolerance which will see divinity on every hand and recognise the Christ in every human being.
Tôn giáo mới đang trên đường xuất hiện, và đó là tôn giáo mà tất cả các tôn giáo trước đây đã chuẩn bị cho chúng ta. Nó chỉ khác ở chỗ nó sẽ không còn được phân biệt bởi tín điều và giáo lý, mà về bản chất sẽ là một thái độ của trí tuệ, một định hướng đối với sự sống, đối với con người và đối với Thượng đế. Nó cũng sẽ là một sự phụng sự sống động. Tính ích kỷ và những lợi ích tập trung vào bản thân cuối cùng sẽ bị loại trừ, vì Thiên Giới là sự sống của toàn thể hợp nhất, được mọi công dân của Thiên Giới cảm nhận và mong muốn, được mọi người bước trên Đường Đạo phụng sự và biểu hiện. Điểm đạo chẳng qua là tiến trình phát triển trong chúng ta các quyền năng và năng lực của Thiên Giới mới và cao hơn này; những quyền năng ấy giải phóng con người vào một thế giới rộng lớn hơn, và có khuynh hướng làm cho y cảm nhận được toàn thể hữu cơ thay vì chỉ phần riêng lẻ. Chủ nghĩa cá nhân và sự chia rẽ sẽ biến mất khi Thiên Giới ấy đi vào hiện tồn. Tâm thức tập thể là biểu hiện và phẩm tính chính yếu của nó. Đó là bước kế tiếp rõ ràng và được chỉ định dứt khoát trên Con đường tiến hoá, và không thể tránh khỏi kết cuộc này. Chúng ta không thể ngăn mình cuối cùng ý thức được toàn thể rộng lớn hơn, hay tham dự tích cực vào sự sống hợp nhất của toàn thể ấy. Tuy nhiên, có thể thúc đẩy sự đến của Thiên Giới, và nhu cầu của thế giới vào lúc này, cùng khuynh hướng chung của con người quay về thế giới của các ý tưởng, dường như cho thấy rằng thời điểm đã đến để thực hiện [273] nỗ lực phụ trội ấy, nỗ lực sẽ làm ngưng tụ sự xuất hiện của Thiên Giới và đưa vào biểu hiện điều đang chờ đợi sự mặc khải tức thời. Đây là thách thức mà Giáo hội Cơ Đốc ngày nay phải đối diện. Điều cần thiết là tầm nhìn, minh triết và lòng khoan dung rộng lớn, vốn sẽ thấy thiên tính ở khắp mọi nơi và nhận ra Đức Christ trong mọi con người.
As we grasp the significance of the kingdom of God we begin to understand what is meant by the Church of Christ, and the meaning of that “cloud of witnesses” (Hebrews, XII, 1.) by which we are so constantly surrounded. The kingdom of God is not some one particular church with its own peculiar doctrines, its particular formulations of truth, its specialised method of government upon earth and of approach to God.
Khi chúng ta nắm bắt thâm nghĩa của Thiên Giới, chúng ta bắt đầu thấu hiểu điều được hàm ý bởi Giáo hội của Đức Christ, và ý nghĩa của “đám mây nhân chứng” (Thư gửi tín hữu Híp-ri, XII, 1.) bao quanh chúng ta không ngừng. Thiên Giới không phải là một giáo hội đặc thù nào đó với các giáo lý riêng biệt của nó, các công thức chân lý đặc thù của nó, phương pháp cai quản chuyên biệt của nó trên Trái Đất và phương pháp riêng của nó để đến với Thượng đế.
The true Church is the kingdom of God on earth, divorced from all clerical government and composed of all, regardless of race or creed, who live by the light within, who have discovered the fact of the mystical Christ in their hearts, and are preparing to tread the Way of Initiation. The kingdom is not composed of orthodox theologically minded people. Its citizenship is wider than that, and includes every human being who is thinking in larger terms than the individual, the orthodox, the national and the racial. The members of the coming kingdom will think in terms of humanity as a whole; and as long as they are separative or nationalistic, or religiously bigoted, or commercially selfish, they have no place in that kingdom. The word spiritual will be given a far wider connotation than that which has been given in the old age which is fortunately now passing. All forms of life will be regarded from the angle of spiritual phenomena, and we shall no longer regard one activity as spiritual and another as not. The question of motive, purpose and group usefulness will determine the spiritual nature of an activity. To work for the whole; to be occupied with the aiding of the group; to be cognisant of One Life pulsing through all forms, and to work in the consciousness that all men are brothers—these are the initial qualities which a citizen of the kingdom [274] must show. The human family is individually self-conscious and this stage of the separative consciousness has been a needed and useful one; but the time has arrived when we are aware of greater contacts, of wider implications, and of a more general inclusiveness.
Giáo hội chân chính là Thiên Giới trên Trái Đất, tách khỏi mọi sự cai trị của giới giáo sĩ và bao gồm tất cả mọi người, bất kể chủng tộc hay tín ngưỡng, những ai sống theo ánh sáng bên trong, đã khám phá sự kiện về Đức Christ thần bí trong tâm mình, và đang chuẩn bị bước trên Con Đường Điểm Đạo. Thiên Giới không gồm những người có trí tuệ thần học chính thống. Quyền công dân của Thiên Giới rộng hơn thế, và bao gồm mọi con người đang suy nghĩ theo những phạm vi lớn hơn cá nhân, chính thống, quốc gia và chủng tộc. Các thành viên của Thiên Giới đang đến sẽ suy nghĩ theo phạm vi nhân loại như một toàn thể; và chừng nào họ còn chia rẽ hoặc theo chủ nghĩa dân tộc, hoặc cuồng tín về tôn giáo, hoặc ích kỷ về thương mại, chừng đó họ không có chỗ trong Thiên Giới ấy. Từ tinh thần sẽ được trao cho một nội hàm rộng lớn hơn nhiều so với nội hàm đã được trao trong thời đại cũ, một thời đại may mắn thay nay đang qua đi. Mọi hình thức sự sống sẽ được nhìn từ góc độ các hiện tượng tinh thần, và chúng ta sẽ không còn xem một hoạt động là tinh thần còn hoạt động khác thì không. Vấn đề động cơ, mục đích và sự hữu ích cho nhóm sẽ quyết định bản chất tinh thần của một hoạt động. Làm việc cho toàn thể; bận tâm với việc trợ giúp nhóm; nhận biết Một Sự Sống đang đập nhịp qua mọi hình tướng, và làm việc trong tâm thức rằng mọi người đều là huynh đệ — đó là những phẩm tính khởi đầu mà một công dân của Thiên Giới [274] phải biểu lộ. Gia đình nhân loại có ngã thức cá biệt, và giai đoạn tâm thức chia rẽ này từng là một giai đoạn cần thiết và hữu ích; nhưng thời điểm đã đến khi chúng ta ý thức về những tiếp xúc lớn lao hơn, những hàm ý rộng lớn hơn, và một tính bao gồm phổ quát hơn.
How will this condition of God’s kingdom materialise on earth? By the gradual and steady increase of the numbers of those who are citizens of that kingdom living their lives on earth and demonstrating the qualities and the consciousness which is characteristic of such citizens; by men and women everywhere cultivating the wider consciousness, and becoming more and more inclusive. “Any reflection,” Dr. Hocking tells us, “that can infallibly break the walls of the Self, opens up at once an infinite World-field. Set a second to my One, and I have given all the numbers.” (‘The Meaning of God in Human Experience’, by W. E. Hocking, p. 315.) And he gives us the clue to the process which must be cultivated in this work of essential unity by saying that “... the true mystic is he who holds to the reality of both worlds, and leaves to time and effort the understanding of their union.” (The Meaning of God in Human Experience’, by W. E. Hocking, p. 399.) The kingdom of God is not divorced from practical daily living upon the level of everyday affairs. The citizen of the kingdom is world-conscious and God-conscious. His lines of contact are clearly delineated in both directions: he is interested not in himself, but in God and his fellowmen, and his duty to God is worked out through the love he feels and shows for those around him. He knows no barriers and recognises no divisions; he is living—as a soul—in every aspect of his nature, through his mind and his emotions, and on the physical plane of life. He works through love and in love; and because of the love of God.
Tình trạng này của Thiên Giới sẽ hiện hình trên Trái Đất như thế nào? Bằng sự gia tăng dần dần và đều đặn số lượng những người là công dân của Thiên Giới ấy, sống đời sống của họ trên Trái Đất và biểu lộ các phẩm tính cùng tâm thức đặc trưng của những công dân như thế; bằng việc những người nam và nữ ở khắp nơi vun trồng tâm thức rộng lớn hơn, và ngày càng trở nên bao gồm hơn. Tiến sĩ Hocking nói với chúng ta: “Bất cứ suy tư nào có thể phá vỡ một cách không sai lầm những bức tường của Bản ngã, đều lập tức mở ra một Trường-thế giới vô hạn. Hãy đặt một cái Thứ Hai bên cạnh cái Một của tôi, và tôi đã trao cho tất cả các con số.” (‘Ý Nghĩa của Thượng Đế trong Kinh Nghiệm Nhân Loại’, của W. E. Hocking, tr. 315.) Và ông trao cho chúng ta chìa khóa của tiến trình cần được vun trồng trong công việc hiệp nhất thiết yếu này khi nói rằng “... nhà thần bí chân chính là người giữ vững thực tại của cả hai thế giới, và để cho thời gian cùng nỗ lực đem lại sự thấu hiểu về sự hợp nhất của chúng.” (‘Ý Nghĩa của Thượng Đế trong Kinh Nghiệm Nhân Loại’, của W. E. Hocking, tr. 399.) Thiên Giới không tách khỏi đời sống thực tiễn hằng ngày trên cấp độ các công việc thường nhật. Công dân của Thiên Giới có tâm thức thế giới và tâm thức Thượng đế. Các đường tiếp xúc của y được vạch rõ theo cả hai hướng: y không quan tâm đến bản thân mình, mà quan tâm đến Thượng đế và đồng loại, và bổn phận của y đối với Thượng đế được thực hiện qua tình thương mà y cảm nhận và biểu lộ đối với những người quanh mình. Y không biết đến rào cản và không thừa nhận chia rẽ; y đang sống — như một linh hồn — trong mọi phương diện của bản chất mình, qua thể trí và các cảm xúc của y, và trên cõi hồng trần của sự sống. Y làm việc qua tình thương và trong tình thương; và vì tình thương của Thượng đế.
A close study of the Gospel story and a spirited attention to the words of Christ will make apparent that the three outstanding characteristics of His work and the three main lines of His activity are intended to be ours also. These three are, as we have seen, first, the achieving of perfection and its demonstrating [275] through the five great events which we call the crises in the life of Christ, the five major initiations of the Orient and of the esoteric schools; secondly, the founding of the kingdom—a responsibility which rests upon each of us, because, though Christ certainly opened the door into the kingdom, the rest of the work rests upon our shoulders; thirdly, the attaining of immortality, based on the development of that within ourselves which is of the nature of the real, which has true value and which deserves to stand the test of immortality. This last thought is one which warrants our attention. Arresting in its implication, it is sadly and deeply true that “... man, as he exists today, is not capable of survival. He must change or perish. Man, as he is, is not the last word of creation. If he does not, if he cannot, adapt himself and his institutions to the new world, he will yield his place to a species more sensitive and less gross in its nature. If man cannot do the work demanded of him, another creature who can, will arise.” (‘The Supreme Spiritual Ideal’, by S. Radhakrishnan, in The Hibbert Journal, October 1936, p. 33.)
Một nghiên cứu kỹ lưỡng câu chuyện Phúc Âm và sự chú tâm đầy sinh khí đến lời của Đức Christ sẽ làm hiển nhiên rằng ba đặc tính nổi bật của công việc Ngài và ba đường hoạt động chính của Ngài cũng được dự định là của chúng ta. Như chúng ta đã thấy, ba điều ấy là: thứ nhất, đạt đến sự hoàn thiện và biểu lộ sự hoàn thiện ấy [275] qua năm biến cố lớn mà chúng ta gọi là các cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ, năm cuộc điểm đạo chính của Đông phương và của các trường phái nội môn; thứ hai, thiết lập Thiên Giới — một trách nhiệm đặt trên mỗi người chúng ta, vì dù Đức Christ chắc chắn đã mở cánh cửa vào Thiên Giới, phần còn lại của công việc đặt trên vai chúng ta; thứ ba, đạt đến tính bất tử, dựa trên sự phát triển điều bên trong chính chúng ta vốn thuộc bản chất của cái thực, có giá trị chân thật và xứng đáng đứng vững trước thử thách của tính bất tử. Tư tưởng sau cùng này đáng được chúng ta chú tâm. Gây chấn động trong hàm ý của nó, điều này thật đáng buồn và sâu sắc đúng rằng “... con người, như y đang tồn tại ngày nay, không có khả năng sống sót. Y phải thay đổi hoặc diệt vong. Con người, như y hiện là, không phải là lời cuối cùng của cuộc sáng tạo. Nếu y không, nếu y không thể, thích nghi bản thân và các thiết chế của mình với thế giới mới, y sẽ nhường chỗ cho một loài nhạy bén hơn và ít thô trược hơn trong bản chất. Nếu con người không thể làm công việc đòi hỏi nơi y, một sinh vật khác có thể làm được sẽ xuất hiện.” (‘Lý Tưởng Tinh Thần Tối Cao’, của S. Radhakrishnan, trong Tạp chí Hibbert, tháng Mười 1936, tr. 33.)
Such has always been the evolutionary plan. The life of God has constructed for itself vehicle after vehicle, in order to manifest, and kingdom has succeeded kingdom. The same great expansion is imminent today. Man, the self-conscious being, can differ radically from the forms of life in the other kingdoms because he can go forward upon the wave of God’s life in full consciousness. He can share in the “joy of the Lord” as the wider reaches of consciousness become his; he can know the nature of that bliss which is the outstanding condition of God’s nature. There is no need for human failure, nor for a definite break in the continuity of revelation. There is that in man which can enable him to bridge the gap between the kingdom in which he finds himself and the new kingdom on the horizon. Human beings who are citizens of both kingdoms—the human and the spiritual—are with us today as always. They move with freedom in either world, and Christ Himself gave us the perfect demonstration [276] of that citizenship and told us that we could do “even greater things” than He had done. Such is the glorious future towards which man is oriented today, and for which all world events are preparing him.
Thiên Cơ tiến hoá luôn luôn là như thế. Sự sống của Thượng đế đã kiến tạo cho chính nó hết vận cụ này đến vận cụ khác, để biểu hiện, và giới này đã nối tiếp giới kia. Sự mở rộng vĩ đại tương tự đang gần kề hôm nay. Con người, sinh linh có ngã thức, có thể khác biệt triệt để với các hình thức sự sống trong những giới khác vì y có thể tiến tới trên làn sóng sự sống của Thượng đế trong tâm thức trọn vẹn. Y có thể chia sẻ “sự hoan hỉ của Chúa” khi những tầm với rộng lớn hơn của tâm thức trở thành của y; y có thể biết bản chất của chí phúc vốn là tình trạng nổi bật của bản chất Thượng đế. Không cần phải có sự thất bại của nhân loại, cũng không cần một sự đứt đoạn dứt khoát trong tính liên tục của mặc khải. Trong con người có điều có thể giúp y bắc cầu qua khoảng cách giữa giới mà y đang ở trong đó và giới mới nơi chân trời. Những con người là công dân của cả hai giới — giới nhân loại và giới tinh thần — ngày nay vẫn ở với chúng ta như luôn luôn. Họ di chuyển tự do trong cả hai thế giới, và chính Đức Christ đã trao cho chúng ta sự biểu lộ hoàn hảo [276] về quyền công dân ấy và nói với chúng ta rằng chúng ta có thể làm “những điều còn lớn lao hơn” những điều Ngài đã làm. Đó là tương lai huy hoàng mà con người ngày nay đang hướng tới, và mọi biến cố thế giới đang chuẩn bị y cho tương lai ấy.
The preparation for this kingdom is the task of discipleship and constitutes the arduous discipline of the five-fold way of initiation. The work of the disciple is the founding of the kingdom, and the primary characteristic of its citizens is immortality. They are members of a Deathless Race, and the final enemy which they overcome is death; they function consciously in or out of the body and care not which it is; they have life everlasting because there is in them that which cannot die, being of the nature of God. To be immortal because one’s sins are forgiven seems an inadequate reason to an intelligent mind; to have everlasting life because Christ died two thousand years ago does not prove satisfactory to the man who is conscious of his own responsibility and his own identity; to live for ever because one is religious, or has accepted certain forms of belief, is a reason repudiated by the man who is aware of his own inner power and nature; to base one’s faith in survival upon tradition or even upon an innate sense of persistence does not seem sufficient. We know much about the power and tenacity of self-preservation and the creative urge to self-perpetuation. Perhaps these two are simply carried forward in an idealistic sense as man faces finality.
Sự chuẩn bị cho Thiên Giới này là nhiệm vụ của địa vị đệ tử và tạo nên kỷ luật gian khổ của con đường ngũ phân của điểm đạo. Công việc của đệ tử là thiết lập Thiên Giới, và đặc tính chính yếu của các công dân Thiên Giới là tính bất tử. Họ là thành viên của một Nhân loại Bất Tử, và kẻ thù cuối cùng mà họ vượt thắng là cái chết; họ hoạt động một cách hữu thức trong thân thể hoặc ngoài thân thể và không bận tâm đó là điều nào; họ có sự sống vĩnh cửu vì trong họ có điều không thể chết, vốn thuộc bản chất của Thượng đế. Bất tử vì tội lỗi của một người được tha thứ dường như là một lý do không tương xứng đối với một trí tuệ thông minh; có sự sống vĩnh cửu vì Đức Christ đã chết hai nghìn năm trước không chứng tỏ là thỏa đáng đối với con người ý thức về trách nhiệm của chính mình và bản sắc của chính mình; sống mãi mãi vì một người có tôn giáo, hoặc đã chấp nhận một số hình thức tín ngưỡng nào đó, là một lý do bị người ý thức về quyền năng và bản chất bên trong của chính mình bác bỏ; đặt đức tin của mình vào sự sống còn dựa trên truyền thống hay thậm chí trên một ý thức bẩm sinh về sự trường tồn dường như không đủ. Chúng ta biết nhiều về quyền năng và sự bền bỉ của bản năng tự bảo tồn và xung lực sáng tạo hướng tới sự tự duy trì. Có lẽ hai điều này chỉ đơn giản được tiếp tục theo một ý nghĩa lý tưởng khi con người đối diện với tính chung cuộc.
Yet there is innate in humanity the sense of belonging elsewhere; there is a divine discontent which must surely have a basis in some natural inheritance which is the guarantee of our origin. This reaching out towards a larger and fuller life is just as much a human characteristic as the normal tendency of the individual to reach toward family life and social contacts. It is therefore just as capable of achievement as that tendency, and to this the testimony of the ages contributes. Personal salvation is, after all, of small importance unless it has place in a more general and universal salvaging. Promise is held out in the Bible that “he that doeth the will [277] of God abideth for ever,” (I St. John, II, 17.) and in these words we have the clue. There has been a tendency to think that when God created man His will to expression had been perfectly satisfied. There is surely no real basis for this belief. If God is not capable of producing something of far greater perfection than humanity, and if the life which pours through the natural world is not working towards something greater, finer and more beautiful than anything yet produced, then God is not divine in the sense in which this term is usually accepted. We demand of God far more than this—greatness beyond anything that has yet been shown us. We believe that this is possible. We rest back upon divinity, and are assured that it will not fail us. But revelation of the ultimate perfection, whatever that may be (and we should not limit God by any of our own pre-conceived ideas), may require the unfolding in man of powers and a mechanism which will enable him to recognise it, to share in its wonder and its larger sphere of contacts. We ourselves may have to change in order to express the divine as Christ expressed it, before God can go on to the manifestation of the beauty of the hidden kingdom. God needs man’s cooperation. He calls for men to do His will. We have looked upon this as a way to our own individual good, which perhaps has been a wrong attitude. We may arise and carry forward the inner Plan by equipping ourselves towards perfection, in order that God may “see of the travail of His soul, and shall be satisfied.” (Isaiah, LIII, 11.) We may constitute God’s crucial experiment. The germ of divine life is in us, but we ourselves have something to do about it, and the time has come when humanity as a whole must apply itself to the fostering of the divine life within the racial form.
Tuy vậy, trong nhân loại có sẵn ý thức thuộc về nơi khác; có một sự bất mãn thiêng liêng chắc chắn phải có nền tảng trong một di sản tự nhiên nào đó, vốn là bảo chứng cho nguồn gốc của chúng ta. Sự vươn tới một đời sống lớn lao hơn và đầy đủ hơn này cũng là một đặc tính nhân loại như khuynh hướng bình thường của cá nhân vươn tới đời sống gia đình và các tiếp xúc xã hội. Do đó, nó cũng có khả năng được thành tựu như khuynh hướng ấy, và chứng ngôn của các thời đại góp phần xác nhận điều này. Rốt cuộc, sự cứu rỗi cá nhân chỉ có tầm quan trọng nhỏ bé nếu nó không có vị trí trong một sự cứu vớt phổ quát và rộng lớn hơn. Kinh Thánh đưa ra lời hứa rằng “ai làm theo ý muốn [277] của Thượng đế thì còn lại đời đời,” (Thư thứ nhất của Thánh Gioan, II, 17.) và trong những lời này chúng ta có chìa khóa. Đã có khuynh hướng nghĩ rằng khi Thượng đế tạo ra con người, ý chí biểu hiện của Ngài đã được thỏa mãn hoàn toàn. Chắc chắn không có nền tảng thực sự nào cho niềm tin này. Nếu Thượng đế không có khả năng tạo ra một điều gì hoàn thiện hơn nhiều so với nhân loại, và nếu sự sống tuôn chảy qua thế giới tự nhiên không đang hoạt động hướng tới một điều gì lớn lao hơn, tinh tế hơn và đẹp đẽ hơn bất cứ điều gì đã được tạo ra, thì Thượng đế không thiêng liêng theo nghĩa mà thuật ngữ này thường được chấp nhận. Chúng ta đòi hỏi nơi Thượng đế nhiều hơn thế — sự vĩ đại vượt quá bất cứ điều gì đã từng được cho chúng ta thấy. Chúng ta tin rằng điều này là khả thể. Chúng ta nương tựa vào thiên tính, và tin chắc rằng nó sẽ không phụ lòng chúng ta. Nhưng sự mặc khải về sự hoàn thiện tối hậu, bất kể đó là gì (và chúng ta không nên giới hạn Thượng đế bằng bất kỳ ý tưởng tiên định nào của chính mình), có thể đòi hỏi sự khai mở trong con người những quyền năng và một bộ máy sẽ giúp y nhận ra nó, chia sẻ sự kỳ diệu của nó và phạm vi tiếp xúc rộng lớn hơn của nó. Chính chúng ta có thể phải thay đổi để biểu hiện cái thiêng liêng như Đức Christ đã biểu hiện, trước khi Thượng đế có thể tiếp tục đi tới sự biểu hiện vẻ đẹp của Thiên Giới ẩn tàng. Thượng đế cần sự hợp tác của con người. Ngài kêu gọi con người làm theo Ý Chí của Ngài. Chúng ta đã nhìn điều này như một con đường dẫn đến lợi ích cá nhân của chính mình, và có lẽ đó là một thái độ sai lầm. Chúng ta có thể đứng dậy và đưa Thiên Cơ bên trong tiến tới bằng cách trang bị bản thân hướng đến sự hoàn thiện, để Thượng đế có thể “thấy kết quả lao nhọc của linh hồn Ngài, và được thỏa mãn.” (Isaiah, LIII, 11.) Chúng ta có thể tạo thành cuộc thí nghiệm trọng yếu của Thượng đế. Mầm sống thiêng liêng ở trong chúng ta, nhưng chính chúng ta phải làm điều gì đó đối với nó, và thời điểm đã đến khi nhân loại như một toàn thể phải chuyên tâm nuôi dưỡng sự sống thiêng liêng trong hình tướng chủng tộc.
It is our immediate duty therefore, in the interests of the kingdom whose citizens are immortal, to unfold that which in ourselves is divine, and whose characteristics can be known by the sense of value, by the attribute of light, and by the nature of its love and loves. Full expression of the “Hidden [278] Man of the Heart” is the need today. The revelation of the Self within the self is the demand. It is this self, nurtured, fostered, then trained and developed, which is the immortal aspect in man, and for this self are we responsible. There is no evading this, nor is there evading of the fact that we are part of a whole, and that only as Christ enters into recognition by the entire race and is expressed by humanity as a whole, shall we achieve that for which we have been created—the fulfilling of the will of God, as Christ fulfilled it. We need to transcend the inferiority complex which rises up in questioning when such words occur as the above phrase: “As Christ fulfilled it.” A book earlier quoted states that this idea of a personal Christ must be eclipsed and superseded by Christ as the life and hope in all of us. It is only the uniquely significant who understand the true inner meaning of immortality. Those in whom the sense of values is subordinated to the values of the soul, whose consciousness is that of eternity, are eternal in their living processes. This we must remember.
Vì vậy, bổn phận trước mắt của chúng ta, vì lợi ích của Thiên Giới mà công dân của nó là bất tử, là khai mở điều trong chính chúng ta vốn là thiêng liêng, và các đặc tính của nó có thể được biết qua ý thức về giá trị, qua thuộc tính của ánh sáng, và qua bản chất tình thương cùng các tình thương của nó. Sự biểu hiện trọn vẹn của “Con Người Ẩn Tàng [278] của Trái Tim” là nhu cầu ngày nay. Sự mặc khải của Bản ngã bên trong bản ngã là đòi hỏi. Chính bản ngã này, được nuôi dưỡng, chăm bồi, rồi được huấn luyện và phát triển, là phương diện bất tử trong con người, và đối với bản ngã này chúng ta chịu trách nhiệm. Không thể tránh né điều này, cũng không thể tránh né sự kiện rằng chúng ta là một phần của toàn thể, và chỉ khi Đức Christ được toàn thể nhân loại nhận biết và được nhân loại như một toàn thể biểu hiện, chúng ta mới đạt được điều vì đó chúng ta đã được tạo ra — sự hoàn thành Ý Chí của Thượng đế, như Đức Christ đã hoàn thành. Chúng ta cần vượt lên trên phức cảm tự ti vốn trỗi dậy trong sự chất vấn khi những lời như cụm từ trên xuất hiện: “như Đức Christ đã hoàn thành.” Một cuốn sách được trích dẫn trước đó nói rằng ý tưởng về một Đức Christ cá nhân này phải bị che khuất và được thay thế bằng Đức Christ như sự sống và hy vọng trong tất cả chúng ta. Chỉ những người có thâm nghĩa độc đáo mới thấu hiểu ý nghĩa bên trong chân thật của tính bất tử. Những người mà nơi họ ý thức về các giá trị được đặt dưới các giá trị của linh hồn, những người có tâm thức là tâm thức của vĩnh cửu, thì vĩnh cửu trong các tiến trình sống của họ. Điều này chúng ta phải ghi nhớ.
Are we interested in the vital whole? Is the welfare of the race of real moment to us? Are we willing to sacrifice everything to the good of the whole? These are questions which are of importance to the individual aspirant, and which he must answer if he is to understand clearly what he is attempting to do. This process of giving deference to the whole has been summed up for us by Dr. Schweitzer, who presents to us such a wonderful picture of the kingdom of God. He says that:
Chúng ta có quan tâm đến toàn thể sống động không? Phúc lợi của nhân loại có thật sự quan trọng đối với chúng ta không? Chúng ta có sẵn lòng hy sinh mọi điều cho lợi ích của toàn thể không? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng đối với cá nhân người chí nguyện, và y phải trả lời nếu y muốn thấu hiểu rõ ràng điều y đang cố gắng làm. Tiến trình kính trọng toàn thể này đã được Tiến sĩ Schweitzer tóm lược cho chúng ta, người trình bày với chúng ta một bức tranh tuyệt diệu như thế về Thiên Giới. Ông nói rằng:
“Civilization, put quite simply, consists in our giving ourselves, as human beings, to the effort to attain the perfecting of the human race and the actualization of progress of every sort in the circumstances of humanity and of the objective world. This mental attitude, however, involves a double predisposition: firstly, we must be prepared to act affirmatively toward the world and life; secondly, we must become ethical.
“Văn minh, nói thật đơn giản, cốt ở việc chúng ta, với tư cách con người, hiến mình cho nỗ lực đạt đến sự hoàn thiện của nhân loại và sự hiện thực hóa mọi loại tiến bộ trong các hoàn cảnh của nhân loại và của thế giới khách quan. Tuy nhiên, thái độ trí tuệ này bao hàm một khuynh hướng kép: thứ nhất, chúng ta phải sẵn sàng hành động theo hướng khẳng định đối với thế giới và sự sống; thứ hai, chúng ta phải trở nên có đạo đức.
“Only when we are able to attribute a real meaning to the world and to life shall we be able also to give ourselves to such action as [279] will produce results of real value. As long as we look on our existence in the world as meaningless, there is no point whatever in desiring to effect anything in the world. We become workers for that universal spiritual and material progress which we call civilization only in so far as we affirm that the world and life possess some sort of meaning, or, which is the same thing, only in so far as we think optimistically.
“Chỉ khi chúng ta có thể quy cho thế giới và sự sống một ý nghĩa thực sự, chúng ta mới có thể hiến mình cho hành động [279] sẽ tạo ra những kết quả có giá trị thực sự. Chừng nào chúng ta còn xem sự tồn tại của mình trong thế giới là vô nghĩa, thì hoàn toàn không có lý do gì để mong muốn tạo ra điều gì trong thế giới. Chúng ta trở thành những người hoạt động cho sự tiến bộ tinh thần và vật chất phổ quát mà chúng ta gọi là văn minh chỉ trong mức độ chúng ta khẳng định rằng thế giới và sự sống sở hữu một loại ý nghĩa nào đó, hay cũng chính là, chỉ trong mức độ chúng ta suy nghĩ một cách lạc quan.
“Civilization originates when men become inspired by a strong and clear determination to attain progress, and consecrate themselves, as a result of this determination, to the service of life and of the world. It is only in ethics that we can find the driving force for such action, transcending as it does, the limits of our own existence.
“Văn minh khởi sinh khi con người được cảm hứng bởi một quyết tâm mạnh mẽ và rõ ràng nhằm đạt đến tiến bộ, và do quyết tâm ấy mà thánh hiến chính mình cho việc phụng sự sự sống và thế giới. Chỉ trong đạo đức chúng ta mới có thể tìm thấy mãnh lực thúc đẩy cho hành động như thế, vì nó vượt lên trên những giới hạn của sự tồn tại riêng của chúng ta.
“Nothing of real value in the world is ever accomplished without enthusiasm and self-sacrifice.”
“Không điều gì có giá trị thực sự trong thế giới từng được hoàn thành mà không có nhiệt tâm và sự hy sinh bản thân.”
‘THE DECAY AND RESTORATION OF CIVILISATION’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. VIII, PREFACE.
‘SỰ SUY TÀN VÀ PHỤC HỒI VĂN MINH’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. VIII, LỜI TỰA.
No man who cannot attain to the consciousness of the true values is yet ready for the immortality which is the prerogative of the sons of God. The building of that inner structure which is the spiritual body is carried on by means of purification, perfecting, meditation and initiation, and above all else, by service. There is no other way. The true values to which the initiate gives his life are those of the spirit, of the kingdom of God, those which concern the whole and which lay no primary emphasis upon the individual. They are expressed through expansion, service and conscious incorporation in the whole. They are to be summed up in the one word Service. They are expressed through inclusiveness and non-separateness. It is here that the Church, as usually understood, meets its major challenge. Is it spiritual enough to let go of theology and become truly human? Is it interested enough to widen its horizon and recognise as truly Christian all who demonstrate the Christ spirit, whether they be Hindu, Mohammedan, or Buddhist, whether they are labelled by any name other than that of orthodox Christian?
Không người nào chưa thể đạt đến tâm thức về các giá trị chân thật lại đã sẵn sàng cho tính bất tử vốn là đặc quyền của những người con của Thượng đế. Việc xây dựng cấu trúc bên trong ấy, tức thể tinh thần, được tiến hành bằng thanh lọc, hoàn thiện, tham thiền và điểm đạo, và trên hết, bằng phụng sự. Không có con đường nào khác. Các giá trị chân thật mà điểm đạo đồ hiến dâng đời mình cho là những giá trị của tinh thần, của Thiên Giới, những giá trị liên quan đến toàn thể và không đặt trọng tâm chính yếu trên cá nhân. Chúng được biểu hiện qua sự mở rộng, phụng sự và sự tháp nhập hữu thức vào toàn thể. Chúng có thể được tóm lại trong một từ duy nhất: Phụng sự. Chúng được biểu hiện qua tính bao gồm và sự không chia rẽ. Chính ở đây, Giáo hội, như thường được hiểu, gặp thách thức lớn nhất của mình. Giáo hội có đủ tinh thần để buông bỏ thần học và trở nên thật sự nhân bản không? Giáo hội có đủ quan tâm để mở rộng chân trời của mình và nhìn nhận là thật sự Cơ Đốc tất cả những ai biểu lộ tinh thần Đức Christ, dù họ là người Ấn giáo, Hồi giáo hay Phật giáo, dù họ được gán bất cứ danh xưng nào khác ngoài danh xưng Cơ Đốc chính thống?
Another basic thought emerges out of all that we have considered. It is whether or not we are today transiting out of the age of authority into the age of experience, and whether [280] this transition does not indicate that the race is rapidly preparing for initiation. We are revolting from doctrines, having very little use for them, and the reason, Dr. Dewey tells us, is that “... adherence to any body of doctrines and dogmas based upon a specific authority signifies distrust in the power of experience to provide, in its own ongoing movement, the needed principles of belief and action. Faith in its newer sense signifies that experience itself is the sole ultimate authority.” (Quoted in ‘Reality and Illusion’, by Richard Rothschild, p. 320.) It is obvious that this connotes not uniformity but a recognition of our essential unity.
Một tư tưởng căn bản khác hiện ra từ tất cả những gì chúng ta đã xem xét. Đó là liệu ngày nay chúng ta có đang chuyển từ thời đại quyền uy sang thời đại kinh nghiệm hay không, và liệu [280] sự chuyển tiếp này có cho thấy rằng nhân loại đang nhanh chóng chuẩn bị cho điểm đạo hay không. Chúng ta đang nổi dậy chống lại các giáo lý, rất ít dùng đến chúng, và lý do, Tiến sĩ Dewey nói với chúng ta, là “... sự bám chặt vào bất kỳ hệ thống giáo lý và tín điều nào dựa trên một thẩm quyền đặc thù biểu thị sự thiếu tin tưởng vào quyền năng của kinh nghiệm trong việc cung cấp, trong chính chuyển động liên tục của nó, các nguyên tắc cần thiết cho niềm tin và hành động. Đức tin theo nghĩa mới hơn của nó hàm ý rằng chính kinh nghiệm là thẩm quyền tối hậu duy nhất.” (Trích trong ‘Thực Tại và Ảo Tưởng’, của Richard Rothschild, tr. 320.) Hiển nhiên điều này không hàm ý sự đồng nhất, mà là sự nhận biết tính hiệp nhất thiết yếu của chúng ta.
2
2
Thus step by step we have followed the Christ in His stupendous task, and we have studied the task in its uniqueness. He did something of such significance for the race that only today are we in a position to grasp it. So occupied have we been with our own individual salvation and our own hope of heaven that the really unique things which Christ did have largely escaped our observation. That He followed in the steps of many of God’s children who, in their day and generation, had served, suffered, and brought the world salvation, remains unquestioned; that He gave us an example of perfected humanity such as the world had never previously seen is equally unchallenged. The greatest of the previous sons of God, the Buddha, after much struggle arrived at illumination, and blazed the trail for humanity up to and through the portal of initiation. But Christ was perfect, having (dare we say during some previous cycle of lives?) learned obedience through the things which He had suffered. That He overcame death and opened the gates of immortality to all humanity is likewise true. But since the first dawn of human history men have always suffered for each other; they have again and again, here one and there another, achieved perfection and disappeared from human view. The divine spark in man has always rendered him immortal. Men have always [281] sensed their divinity, and they have always reached out their hands and their hearts to God. The sons of the Father have never forgotten the Father’s home, no matter how far away they may have wandered. God has always equally sought after us, and from century to century He has sent His messengers as an embodiment of His remembrance.
Như vậy, từng bước một, chúng ta đã theo Đức Christ trong nhiệm vụ kỳ vĩ của Ngài, và chúng ta đã nghiên cứu nhiệm vụ ấy trong tính độc nhất của nó. Ngài đã làm một điều có thâm nghĩa lớn lao đến mức chỉ ngày nay chúng ta mới ở vị thế nắm bắt được nó. Chúng ta đã quá bận rộn với sự cứu rỗi cá nhân của mình và hy vọng lên thiên đường của mình đến nỗi những điều thật sự độc nhất mà Đức Christ đã làm phần lớn đã thoát khỏi sự quan sát của chúng ta. Việc Ngài đã bước theo dấu chân của nhiều người con của Thượng đế, những vị trong thời đại và thế hệ của mình đã phụng sự, chịu đau khổ và đem sự cứu rỗi đến cho thế giới, vẫn không bị nghi vấn; việc Ngài đã trao cho chúng ta một gương mẫu của nhân loại hoàn thiện như thế giới chưa từng thấy trước đó cũng không thể bị phủ nhận. Vị vĩ đại nhất trong những người con trước kia của Thượng đế, Đức Phật, sau nhiều đấu tranh đã đạt đến sự soi sáng, và khai phá con đường cho nhân loại đi lên đến và qua cánh cổng điểm đạo. Nhưng Đức Christ thì hoàn hảo, vì Ngài đã — chúng ta có dám nói là trong một chu kỳ đời sống trước nào đó chăng? — học sự vâng phục qua những điều Ngài đã chịu đau khổ. Việc Ngài vượt thắng cái chết và mở các cánh cổng bất tử cho toàn thể nhân loại cũng là chân thật. Nhưng từ buổi bình minh đầu tiên của lịch sử nhân loại, con người luôn luôn chịu đau khổ cho nhau; hết lần này đến lần khác, người này ở đây, người kia ở đó, họ đã đạt đến sự hoàn thiện và biến mất khỏi tầm nhìn của nhân loại. Tia lửa thiêng liêng trong con người luôn luôn khiến y bất tử. Con người luôn luôn [281] cảm nhận thiên tính của mình, và luôn luôn vươn tay cùng trái tim mình tới Thượng đế. Những người con của Cha chưa bao giờ quên mái nhà của Cha, bất kể họ đã lang thang xa đến đâu. Thượng đế cũng luôn luôn tìm kiếm chúng ta, và từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, Ngài đã gửi các sứ giả của Ngài như hiện thân của sự tưởng nhớ của Ngài.
But Christ came as a special Messenger. He came to found the kingdom of God on earth and to institute a new and tangible expression of Deity upon our planet. His mission has not failed. The kingdom is now organised upon earth and is composed of those men and women everywhere who have lost sight of their own individual salvation and hope of heaven because they know that unless heaven can express itself here and now it is but a futile hope. They are occupied with the processes of self-perfection and self-purification because they seek to serve their fellowmen more efficiently and adequately, and thus “glorify their Father which is in heaven.” (St. Matthew, V, 16.) They are not interested in self-aggrandisement nor with the making of claims of any kind—beyond the one stupendous claim that they are sons of God, as are we all; they do not prate of initiation or call themselves initiates; they are satisfied to walk among men as those who serve and who are citizens of the kingdom of God. They are the world servers, and their only interest is in following the steps of Him Who went about doing good and proclaiming the tidings of the kingdom. They do not say that theirs is the only way into the kingdom, but to those who do not know Christ they say: “Little children, love one another.” They do not condemn those who know nothing of Christ’s sacrifice upon the Cross, but they say to those who seek the way; “Take up thy cross” and follow Christ. To their fellow disciples they bring constantly the reminder that “except a corn of wheat fall into the ground and die, it abideth alone,” and they set themselves the goal of the new birth. The bulk of the thinking, well-meaning men and women of the world are today [282] going up from Nazareth in Galilee to Bethlehem. Some, perhaps more than one can estimate, are passing on their way to the Baptism in Jordan, whilst a few are valiantly climbing the Mount of Transfiguration. One here and there may be steadfastly setting his face to go to Jerusalem, there to be crucified; but these are rare. Most of us are learning, in the daily dying to self, to fit ourselves for the final Crucifixion initiation, and by the constant renunciation of everything that holds back the expression of divinity qualifying for that tremendous spiritual experience which ever preceded the Resurrection, and which is called the Great Renunciation.
Nhưng Đức Christ đã đến như một Sứ Giả đặc biệt. Ngài đến để thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất và thiết lập một biểu hiện mới, hữu hình của Thượng Đế trên hành tinh chúng ta. Sứ mạng của Ngài đã không thất bại. Thiên Giới hiện nay đã được tổ chức trên Trái Đất và gồm những người nam và nữ ở khắp nơi, những người đã không còn đặt tầm nhìn vào sự cứu rỗi cá nhân của riêng mình và hy vọng lên thiên đường, vì họ biết rằng nếu thiên đường không thể biểu hiện chính nó tại đây và ngay bây giờ, thì nó chỉ là một hy vọng vô ích. Họ bận tâm với các tiến trình tự hoàn thiện và tự thanh lọc vì họ tìm cách phụng sự đồng loại một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn, và như thế “làm sáng danh Cha của họ ở trên trời.” (Thánh Matthew, V, 16.) Họ không quan tâm đến việc tự tôn cao bản thân hay đưa ra những tuyên bố thuộc bất cứ loại nào — ngoài một tuyên bố kỳ vĩ duy nhất rằng họ là những người con của Thượng đế, như tất cả chúng ta đều là; họ không ba hoa về điểm đạo hay tự gọi mình là điểm đạo đồ; họ hài lòng bước đi giữa con người như những người phụng sự và là công dân của Thiên Giới. Họ là những Người Phụng Sự Thế Gian, và mối quan tâm duy nhất của họ là bước theo dấu chân của Đấng đã đi khắp nơi làm điều thiện và loan báo tin mừng về Thiên Giới. Họ không nói rằng con đường của họ là con đường duy nhất vào Thiên Giới, nhưng với những người không biết Đức Christ, họ nói: “Hỡi các con nhỏ, hãy yêu thương nhau.” Họ không kết án những người không biết gì về sự hy sinh của Đức Christ trên Thập Giá, nhưng họ nói với những người tìm kiếm con đường: “Hãy vác thập giá của mình” và đi theo Đức Christ. Với các đệ tử đồng môn của mình, họ không ngừng nhắc nhở rằng “nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn ở một mình,” và họ đặt cho mình mục tiêu của sự sinh ra mới. Phần lớn những người nam và nữ có tư tưởng, thiện chí của thế giới ngày nay [282] đang đi lên từ Nazareth ở Galilee đến Bethlehem. Một số, có lẽ nhiều hơn ta có thể ước lượng, đang đi trên đường tới Phép Rửa ở Jordan, trong khi một số ít đang dũng cảm leo lên Núi Biến Hình. Người này người kia có thể đang kiên định hướng mặt đi tới Jerusalem, để ở đó chịu đóng đinh; nhưng những người ấy hiếm hoi. Phần lớn chúng ta đang học, trong việc hằng ngày chết đi đối với bản ngã, để làm cho mình thích hợp với cuộc điểm đạo Đóng Đinh cuối cùng, và bằng sự từ bỏ liên tục mọi điều cản trở sự biểu hiện của thiên tính, làm cho mình đủ điều kiện cho kinh nghiệm tinh thần lớn lao ấy, vốn luôn luôn đi trước Phục Sinh, và được gọi là Đại Từ Bỏ.
Let us vision clearly just where we stand upon the Path of Evolution. Have we yet set our feet upon the Path of Probation, that difficult path of purification which is a necessary first step? Or are we definitely upon the Path of Discipleship, knowing what we are doing, cultivating the finer values and those distinctive qualities which are the hall mark of manifesting divinity?
Chúng ta hãy hình dung rõ ràng chính xác mình đang đứng ở đâu trên Con Đường Tiến Hoá. Chúng ta đã đặt chân lên Con Đường Dự Bị, con đường thanh lọc khó khăn vốn là bước đầu cần thiết chưa? Hay chúng ta đã dứt khoát ở trên Con Đường Đệ Tử, biết rõ mình đang làm gì, vun trồng các giá trị tinh tế hơn và những phẩm tính đặc thù là dấu ấn của thiên tính đang biểu hiện?
The only incentive which will be strong enough (or which ever has been strong enough) to enable a man to tread the fivefold way to the Centre from which the Word goes forth is a realisation of the deep and distressing need of our modern world for revelation, for pure example and for loving service. There is no way by which this sad and war-torn world of ours can be saved and men’s lives transfigured except by a manifestation of the spirit of God. Instead of waiting for God to take action and send some Saviour (Who would probably not be recognised any more than Christ was), the time has come, and mankind has evolved sufficiently, for the divine life within it to surge forth and up to God, calling forth His response, His recognition, which we have seen Him repeat time and time again. He is willing to accord. We are His children and we are beginning to live divinely, thinking (as He thinks) in terms of the whole and not in terms of the separative and selfish individual. Now is a time of crisis when all human beings are needed, and the call goes forth for each [283] to make that extra effort towards unselfishness, and that mental push towards clarity of thought, which will transform us from well-meaning aspirants into clear-sighted disciples animated by a spirit of love and goodwill to all men, irrespective of race or creed or colour.
Động lực duy nhất đủ mạnh (hoặc từng đủ mạnh) để giúp một người bước trên con đường ngũ phân đến Trung Tâm, từ đó Linh từ phát ra, là sự chứng nghiệm về nhu cầu sâu xa và đau đớn của thế giới hiện đại chúng ta đối với mặc khải, đối với gương mẫu trong sạch và đối với sự phụng sự bằng tình thương. Không có con đường nào nhờ đó thế giới buồn thảm và tan nát vì chiến tranh này của chúng ta có thể được cứu, và đời sống con người được Biến hình, ngoại trừ bằng sự biểu hiện của tinh thần Thượng đế. Thay vì chờ đợi Thượng đế hành động và gửi một Đấng Cứu Thế nào đó (vị có lẽ cũng sẽ không được nhận ra, cũng như Đức Christ đã không được nhận ra), thời điểm đã đến, và nhân loại đã tiến hoá đủ, để sự sống thiêng liêng bên trong nó trào dâng ra ngoài và hướng lên Thượng đế, gợi lên sự đáp ứng của Ngài, sự nhận biết của Ngài, điều chúng ta đã thấy Ngài lặp lại hết lần này đến lần khác. Ngài sẵn lòng ban thuận. Chúng ta là con cái của Ngài và chúng ta đang bắt đầu sống một cách thiêng liêng, suy nghĩ (như Ngài suy nghĩ) theo phạm vi toàn thể chứ không theo phạm vi cá nhân chia rẽ và ích kỷ. Giờ đây là thời điểm khủng hoảng khi mọi con người đều cần thiết, và lời kêu gọi vang lên cho mỗi người [283] thực hiện nỗ lực phụ trội ấy hướng tới lòng vị tha, và cú thúc đẩy trí tuệ ấy hướng tới sự trong sáng của tư tưởng, điều sẽ chuyển đổi chúng ta từ những người chí nguyện thiện chí thành các đệ tử sáng suốt, được linh hoạt bởi tinh thần tình thương và thiện chí đối với mọi người, bất kể chủng tộc, tín ngưỡng hay màu da.
This religious will is in expression now, not turned to theology or to the formation of doctrines and occupied with their enforcement, but to love and service, forgetting self, giving the uttermost that is possible for the helping of the world. This will breaks down all barriers and elevates the children of men wherever the will to be so helped is found. And it is something that is organising slowly in the world today, its quality that of universality, and its technique that of loving service. Men everywhere are responding to the same inner spiritual impulse which is illustrated for us in the beautiful tale which is related of the Buddha. It runs as follows:
Ý chí tôn giáo này hiện đang được biểu hiện, không hướng về thần học hay việc hình thành giáo lý và bận tâm cưỡng hành chúng, mà hướng về tình thương và phụng sự, quên bản thân, hiến dâng tối đa điều có thể để trợ giúp thế giới. Ý chí này phá đổ mọi rào cản và nâng cao con cái của nhân loại ở bất cứ nơi nào có ý chí muốn được trợ giúp như thế. Và đó là điều đang được tổ chức chậm rãi trong thế giới ngày nay, phẩm tính của nó là tính phổ quát, và kỹ thuật của nó là phụng sự bằng tình thương. Con người ở khắp nơi đang đáp ứng cùng một xung lực tinh thần bên trong, điều được minh họa cho chúng ta trong câu chuyện đẹp đẽ kể về Đức Phật. Câu chuyện như sau:
“In the belief that He had attained unto the last stage of perfection the Buddha was about to abandon existence in finite space and time, to relinquish all sorrow and suffering for the pure being of bliss universal and eternal.
“Trong niềm tin rằng Ngài đã đạt đến giai đoạn cuối cùng của sự hoàn thiện, Đức Phật sắp rời bỏ sự tồn tại trong không gian và thời gian hữu hạn, từ bỏ mọi sầu khổ và đau đớn để đi vào Bản Thể thuần khiết của chí phúc phổ quát và vĩnh cửu.
“At that moment a buzzing gnat was snapped up by a passing bat.
“Ngay khoảnh khắc ấy, một con muỗi đang vo ve bị một con dơi bay qua chộp lấy.
“‘Stay,’ mused the Enlightened One, ‘the state of perfection I am entering is but perfection of myself, a unique perfection, my wholeness is a unique wholeness; not yet then am I a being universal. Other beings still suffer imperfection, existence, and resultant death. Compassion unto these still awakes within me when I contemplate their suffering.
“‘Hãy dừng lại,’ Đấng Giác Ngộ suy ngẫm, ‘trạng thái hoàn thiện mà ta đang bước vào chỉ là sự hoàn thiện của chính ta, một sự hoàn thiện độc nhất, sự toàn vẹn của ta là một sự toàn vẹn độc nhất; vậy thì ta chưa phải là một sinh linh phổ quát. Những sinh linh khác vẫn còn chịu sự bất toàn, sự tồn tại, và cái chết do đó mà ra. Lòng từ bi đối với họ vẫn thức dậy trong ta khi ta chiêm ngưỡng sự đau khổ của họ.
“‘The way of life unto perfection I have, in truth and in deed, illuminated for them: but can they tread that way without me?
“‘Con đường sự sống dẫn tới sự hoàn thiện, một cách chân thật và thực tế, ta đã soi sáng cho họ: nhưng họ có thể bước trên con đường ấy mà không có ta chăng?
“‘The unique perfection of myself I dreamed, the perfection of my own character and personality is but imperfection while one other being—one single gnat—still suffers imperfection of its identical kind.
“‘Sự hoàn thiện độc nhất của chính ta mà ta từng mơ tưởng, sự hoàn thiện của Tính cách và phàm ngã của riêng ta, vẫn chỉ là bất toàn khi một sinh linh khác — dù chỉ một con muỗi duy nhất — vẫn còn chịu sự bất toàn thuộc loại đồng nhất của nó.
“‘No being may reach bliss alone: all must reach it together, and that, the unique bliss proper to each. For am I not in every other being and is not every other being in me?’
“‘Không sinh linh nào có thể đạt chí phúc một mình: tất cả phải cùng nhau đạt đến nó, và đó là chí phúc độc nhất thích hợp với mỗi sinh linh. Vì chẳng phải ta ở trong mọi sinh linh khác, và mọi sinh linh khác ở trong ta sao?’
[284] “With still small voice in every self thus speaketh the Buddha, by its inspiration to inner character, its aspiration to outer personality, perpetually transmuting this self into not-self, each reality dependent on the other, an everlasting way of life to tread to perfection of each, of all.”
[284] “Bằng tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng trong mỗi bản ngã, Đức Phật nói như vậy, qua cảm hứng của nó đối với Tính cách bên trong, qua khát vọng của nó đối với phàm ngã bên ngoài, không ngừng chuyển hoá bản ngã này thành phi ngã, mỗi thực tại tùy thuộc vào thực tại kia, một con đường sự sống vĩnh cửu để bước tới sự hoàn thiện của mỗi người, của tất cả.”
‘EROS AND PSYCHE’, BY BENCHARA BRANFORD, P. 355.
‘EROS VÀ PSYCHE’, CỦA BENCHARA BRANFORD, TR. 355.
Christ emphasises the same lesson, and always His disciples have sought, in their place and time, to teach the law of service.
Đức Christ nhấn mạnh cùng một bài học, và các đệ tử của Ngài luôn luôn tìm cách, trong vị trí và thời đại của mình, giảng dạy Định luật Phụng sự.
Sometimes it seems as if the two extremes lived on in the consciousness of man—the notorious and ambitious, and the great world servers. Hitherto the sequence has been: service of ourselves, of our family, of those we love, of some leader, some cause, some school of politics or religion. The time has come when service must expand and express itself on broader and more inclusive lines, and we must learn to serve as Christ served, to love all men as He loved them and, by the potency of our spiritual vitality and the quality of our service, stimulate all we meet so that they too can serve and love and become members of the kingdom. When this is seen clearly, and when we are ready to make the needed sacrifices and renunciations, there will be a more rapid manifestation of the kingdom of God on earth. The call is not for fanatics or for the rabid devotee who, in attempting to express it, has so marred divinity. The call is for sane and normal men and women who can comprehend the situation, face what must be done, and then give their lives to expressing for the world the qualities of the citizens of the kingdom of Souls: love, wisdom, silence, non-separativeness and freedom from hatreds and partisan, creedal beliefs. When such men can be gathered together in large numbers (and they are gathering rapidly) we shall have the fulfilment of the angels’ song at Bethlehem, “On earth peace, good will toward men.”
Đôi khi dường như hai cực đoan vẫn sống trong tâm thức con người — kẻ khét tiếng và đầy tham vọng, và các Người Phụng Sự Thế Gian vĩ đại. Cho đến nay trình tự là: phụng sự bản thân chúng ta, gia đình chúng ta, những người chúng ta yêu thương, một nhà lãnh đạo nào đó, một chính nghĩa nào đó, một trường phái chính trị hay tôn giáo nào đó. Thời điểm đã đến khi sự phụng sự phải mở rộng và biểu hiện trên những đường lối bao quát hơn và bao gồm hơn, và chúng ta phải học phụng sự như Đức Christ đã phụng sự, yêu thương mọi người như Ngài đã yêu thương họ, và bằng quyền năng của sinh lực tinh thần cùng phẩm tính phụng sự của chúng ta, kích thích mọi người chúng ta gặp để họ cũng có thể phụng sự, yêu thương và trở thành thành viên của Thiên Giới. Khi điều này được thấy rõ, và khi chúng ta sẵn sàng thực hiện những hy sinh và từ bỏ cần thiết, sẽ có một sự biểu hiện nhanh chóng hơn của Thiên Giới trên Trái Đất. Lời kêu gọi không dành cho những kẻ cuồng tín hay người sùng tín cuồng nhiệt, những người khi cố gắng biểu hiện điều đó đã làm hư hỏng thiên tính đến thế. Lời kêu gọi dành cho những người nam và nữ lành mạnh và bình thường, những người có thể thấu hiểu tình thế, đối diện với điều phải làm, rồi hiến dâng đời mình để biểu hiện cho thế giới các phẩm tính của công dân Thiên Giới của các Linh hồn: tình thương, minh triết, sự im lặng, tính không chia rẽ và sự tự do khỏi hận thù cùng các niềm tin đảng phái, giáo điều. Khi những người như thế có thể được quy tụ với số lượng lớn (và họ đang quy tụ nhanh chóng), chúng ta sẽ có sự thành tựu của bài ca các thiên thần tại Bethlehem, “Bình an dưới thế, thiện chí đối với con người.”
THE ARCANE SCHOOL – TRƯỜNG ARCANE
Training for new age discipleship
Sự huấn luyện cho địa vị đệ tử thời đại mới
is provided by the Arcane School.
được cung cấp bởi Trường Arcane.
The principles of the Ageless Wisdom
Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời
are presented through esoteric meditation,
được trình bày qua tham thiền nội môn,
study and service as a way of life.
học hỏi và phụng sự như một lối sống.
Contact the publishers for information
Liên hệ các nhà xuất bản để biết thông tin
www.lucistrust.org/arcaneschool.
www.lucistrust.org/arcaneschool.
INDEX – MỤC LỤC TRA CỨU
A
A
Age of authority to age of experience, 279-280
Thời đại quyền uy chuyển sang thời đại kinh nghiệm, 279-280
Ambition, problem of disciple, 128
Tham vọng, vấn đề của đệ tử, 128
Amen, origin, 52
Amen, nguồn gốc, 52
Aquarian Age—
Kỷ Nguyên Bảo Bình—
message, 167-168
thông điệp, 167-168
See also New Age.
Xem thêm Kỷ Nguyên Mới.
Aquarius—
Bảo Bình—
arm of cross, 182
cánh tay của thập giá, 182
entrance, 98
lối vào, 98
symbolism, 182-183
biểu tượng học, 182-183
Aries, symbolism, 69
Bạch Dương, biểu tượng học, 69
Aspiration, requirement, 29
Khát vọng, yêu cầu, 29
Asses, symbolism, 69
Lừa, biểu tượng học, 69
Astronomical symbolism, 60-69
Biểu tượng học thiên văn, 60-69
At-one-ment—
Sự hợp nhất—
achievement, 18
thành tựu, 18
doctrine, 82
giáo lý, 82
At-one-ments of Christ. See Christ.
Các sự hợp nhất của Đức Christ. Xem Đức Christ.
A.U.M., significance, 52
A.U.M., thâm nghĩa, 52
B
B
Bethlehem, definitions, 63, 66
Bethlehem, định nghĩa, 63, 66
Bhagavad Gita, quotations, 58, 124, 133, 147, 154, 164, 171, 243
Bhagavad Gita, trích dẫn, 58, 124, 133, 147, 154, 164, 171, 243
Birth—
Sự sinh ra—
in Bethlehem, date, fixing, 183
tại Bethlehem, niên đại, xác định, 183
in Bethlehem, symbolism, 63-74
tại Bethlehem, biểu tượng học, 63-74
new-
mới—
experience, 82-83, 93
kinh nghiệm, 82-83, 93
gate, 54, 57
cổng, 54, 57
nature of, 81
bản chất của, 81
study, 59
nghiên cứu, 59
Blood sacrifice, idea, 194-200
Hy sinh bằng máu, ý tưởng, 194-200
Book of Revelations, quotation, 182
Sách Khải Huyền, trích dẫn, 182
Brain, actuating in inspiration, 269
Bộ não, được tác động trong cảm hứng, 269
Brotherhood of man, 260, 261-262, 268
Tình huynh đệ của nhân loại, 260, 261-262, 268
Browning, Robert, quotations, 39-40, 42, 146
Browning, Robert, trích dẫn, 39-40, 42, 146
Buddha, Lord—
Đức Phật—
and the gnat, 283-284
và con muỗi, 283-284
message, 90, 258
thông điệp, 90, 258
mother, 65
mẹ, 65
religion, 12
tôn giáo, 12
sermon, 238
bài giảng, 238
work, 14-15, 16, 258, 280
công việc, 14-15, 16, 258, 280
C
C
Call to service, 270, 284
Tiếng gọi phụng sự, 270, 284
Cassiopeia, symbolism, 67
Cassiopeia, biểu tượng, 67
Cave, symbolism, 59, 60, 68-69
Hang động, biểu tượng, 59, 60, 68-69
Christ—
Đức Christ—
achievements, 16-17, 137, 138, 157, 158, 159, 259-261
thành tựu, 16-17, 137, 138, 157, 158, 159, 259-261
at-one-ments, 95-96, 137, 145-146
sự hiệp nhất, 95-96, 137, 145-146
comparison with Buddha, 13-14
so sánh với Đức Phật, 13-14
consciousness, vii, 67, 95
tâm thức, vii, 67, 95
cosmic, 181, 182, 184
vũ trụ, 181, 182, 184
death, 187-188
cái chết, 187-188
dedication to Plan, 48
sự hiến mình cho Thiên Cơ, 48
destiny, 66
thiên mệnh, 66
era of service, 169-170
kỷ nguyên phụng sự, 169-170
function, unique, 185-186
chức năng độc nhất, 185-186
ideal of service, 91
lý tưởng phụng sự, 91
ideas, 91-92
các ý tưởng, 91-92
importance, 17-18
tầm quan trọng, 17-18
life—
đời sống—
episodes, parallels, 13-14
các biến cố, những điểm tương đồng, 13-14
evocation, viii
sự gợi lên, viii
in man, 162-163
trong con người, 162-163
message, 18, 55
thông điệp, 18, 55
mission, 18, 77, 91-96, 161, 185-186, 225, 261
sứ mệnh, 18, 77, 91-96, 161, 185-186, 225, 261
prayer, 82
lời cầu nguyện, 82
publicising initiation process, 258-259
việc công khai hóa tiến trình điểm đạo, 258-259
purpose, 65, 281
mục đích, 65, 281
recognition of Plan, 47
sự nhận biết Thiên Cơ, 47
resurrection, symbolism, 186-187
sự phục sinh, biểu tượng, 186-187