Now we must go to work. The subject for our consideration this evening is of profound and complicated interest. This seventh letter of mine has to do with the use of colour and sound in meditation.
Giờ đây chúng ta phải bắt tay vào việc. Chủ đề để chúng ta khảo sát tối nay có mối quan tâm sâu xa và phức tạp. Bức thư thứ bảy này của tôi bàn về việc sử dụng màu sắc và âm thanh trong tham thiền.
We have, as you know, dealt a good deal with the subject of sound in our earlier letters, both in studying the use of the Sacred Word, and in the study of forms and mantrams. It is a truism to say that sound is colour and colour is sound, yet so it is, and the topic I really seek to bring to your attention is not so much sound as sound, but the colour effects of sound. I seek to emphasise especially the colour aspect in this letter, begging you to remember always that all sounds express themselves in colour.
Như các bạn biết, trong những bức thư trước chúng ta đã bàn khá nhiều về chủ đề âm thanh, cả trong việc nghiên cứu cách dùng Linh từ Thiêng Liêng, lẫn trong việc nghiên cứu các hình tướng và các mantram. Nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh thì là một điều hiển nhiên, tuy vậy đúng là như thế; và đề tài mà tôi thực sự muốn đưa vào sự chú ý của các bạn không hẳn là âm thanh xét như âm thanh, mà là các tác dụng màu sắc của âm thanh. Trong thư này tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt phương diện màu sắc, và xin các bạn luôn ghi nhớ rằng mọi âm thanh đều biểu lộ trong màu sắc.
When the Logos uttered the great cosmic Word for this solar system, three major streams of colour issued forth, breaking almost simultaneously into another four, so giving us the seven streams of colour by which manifestation becomes possible. These colours are:—
Khi Thượng đế phát ra Linh từ vũ trụ vĩ đại cho hệ mặt trời này, ba dòng màu sắc chủ yếu đã tuôn ra, gần như đồng thời phân thành thêm bốn dòng nữa, nhờ đó đem lại cho chúng ta bảy dòng màu sắc nhờ đó sự biểu lộ trở nên khả hữu. Những màu sắc ấy là:—
a. Blue.
a. Xanh dương.
b. Indigo.
b. Chàm.
c. Green.
c. Xanh lục.
d. Yellow.
d. Vàng.
e. Orange.
e. Cam.
f. Red.
f. Đỏ.
g. Violet. [206]
g. Tím. [206]
Not unwittingly have I placed them in this order but the exact significance is left for you to discover.
Tôi không vô tình đặt chúng theo thứ tự này nhưng ý nghĩa chính xác được để cho các bạn tự khám phá.
I want to emphasise a second thought:—These seven streams of colour were the product of logoic meditation. The Logos meditated, brooded, conceived mentally, formed an ideal world, and built it up in thought matter. Then our objective universe flashed into being, radiant with the seven colours, with the deep blue or indigo for synthetic undertone. Therefore certain things can be posited about colour:
Tôi muốn nhấn mạnh một ý thứ hai:—Bảy dòng màu sắc này là sản phẩm của tham thiền của Thượng đế. Thượng đế đã tham thiền, ấp ủ, thụ thai trong thể trí, hình thành một thế giới lý tưởng, và xây dựng nó trong vật chất tư tưởng. Rồi vũ trụ khách quan của chúng ta loé sáng thành hiện hữu, rực rỡ với bảy màu sắc, với sắc xanh thẫm hoặc chàm làm âm nền tổng hợp. Do đó có thể nêu ra một số điều về màu sắc:
1. It has to do with objective meditation, therefore it has to do with form.
1. Nó liên quan đến tham thiền khách quan, vì vậy nó liên quan đến hình tướng.
2. It is the result of sound uttered as the culmination of meditation.
2. Nó là kết quả của âm thanh được phát ra như sự hoàn tất của tham thiền.
3. In these seven colours, and their wise comprehension, lies the capacity of man to do as does the Logos and build.
3. Trong bảy màu sắc này, và trong sự thấu hiểu khôn ngoan của chúng, ở đây có năng lực của con người làm như Thượng đế và kiến tạo.
4. Colours have certain effects on the different vehicles, and on the planes on which those vehicles function. When it is known by the occultist which colour is applicable to which plane, and which colour therefore is the basic hue for that plane, he has grasped the fundamental secret of microcosmic development, and can build his body of manifestation by means of the same laws that that Logos employed in building His objective solar system. This is the secret that ray meditation will eventually yield up to the wise student. These four points lay the foundation for all that follows.
4. Màu sắc có những tác dụng nhất định trên các hiện thể khác nhau, và trên các cõi nơi các hiện thể ấy hoạt động. Khi nhà huyền bí học biết màu nào thích hợp với cõi nào, và do đó màu nào là sắc cơ bản của cõi ấy, thì y đã nắm được bí mật nền tảng của sự phát triển tiểu vũ trụ, và có thể kiến tạo thể biểu lộ của mình bằng chính những định luật mà Thượng đế ấy đã dùng khi kiến tạo hệ mặt trời khách quan của Ngài. Đây là bí mật mà tham thiền theo cung cuối cùng sẽ trao lại cho đạo sinh khôn ngoan. Bốn điểm này đặt nền tảng cho tất cả những gì theo sau.
I would here seek to put your mind at rest on the point as to whether the colours enumerated by me conflict with those enumerated by H. P. B. You will not find they [207] do, but both of us use blinds, and both of us use the same blinds as those who have eyes can see. A blind is not a blind when recognised, and I offer not the key. One or two hints however I may give:—
Ở đây tôi muốn làm cho thể trí các bạn được yên ổn về điểm liệu các màu sắc tôi liệt kê có mâu thuẫn với những màu sắc do Bà H. P. B. liệt kê hay không. Các bạn sẽ thấy rằng chúng [207] không mâu thuẫn, nhưng cả hai chúng tôi đều dùng những màn che, và cả hai chúng tôi đều dùng cùng những màn che mà những ai có mắt đều có thể thấy. Một màn che không còn là màn che khi đã được nhận ra, và tôi không đưa ra chìa khoá. Tuy nhiên tôi có thể cho một hoặc hai gợi ý:—
Principles of using blinds for teaching Colours—Các nguyên tắc dùng màn che để dạy về Màu sắc
Complementary colours may be spoken of in occult books in terms of each other. Red may be called green and orange may be called blue. The key to the accurate interpretation of the term employed lies in the point of attainment of the unit under discussion. If speaking of the Ego one term may be used; if of the Personality, another; whilst the Monad or higher auric sphere may be described synthetically or in terms of the monadic ray.
Các màu bổ túc có thể được nói đến trong các sách huyền bí theo cách gọi lẫn nhau. Màu đỏ có thể được gọi là xanh lục và màu cam có thể được gọi là xanh dương. Chìa khoá để diễn giải chính xác thuật ngữ được dùng nằm ở điểm đạt đến của đơn vị đang được bàn đến. Nếu nói về chân ngã thì có thể dùng một thuật ngữ; nếu nói về phàm ngã thì dùng thuật ngữ khác; còn chân thần hoặc khối cầu hào quang cao hơn có thể được mô tả một cách tổng hợp hoặc theo cung chân thần.
The colours of higher or lower mind are at times spoken of in terms of the plane and not in terms of the ray involved.
Các màu của thượng trí hay hạ trí đôi khi được nói đến theo cõi chứ không theo cung liên quan.
Blue-indigo, being cosmically related, and not simply analogous, may be used interchangeably for purposes of blinding. Let me illustrate:—
Xanh dương-chàm, vì có liên hệ vũ trụ, chứ không chỉ tương đồng, có thể được dùng thay thế cho nhau nhằm mục đích che giấu. Tôi xin minh hoạ:—
The Lords of the Flame, in their work in connection with this planet, may be spoken of in terms of four colours:—
Các Đấng Chúa Tể của Lửa, trong công việc của Các Ngài liên quan đến hành tinh này, có thể được nói đến theo bốn màu sắc:—
a. Indigo, as They are in the line of the Bodhisattva in connection with the Love or Wisdom Ray. The Lord of the World is a direct reflection of the second Aspect.
a. Chàm, vì Các Ngài thuộc tuyến của Đức Bồ Tát liên quan đến Cung Bác Ái hay Minh Triết. Đức Chúa Tể Thế Giới là sự phản chiếu trực tiếp của Phương diện thứ hai.
b. Blue, because of its alliance with indigo and its relationship to the auric egg; just as the Solar Logos is spoken of as the “Blue Logos” (literally indigo), so the colour of the perfected man, and of the auric envelope through which he manifests, will be predominantly blue.
b. Xanh dương, vì sự liên minh của nó với chàm và mối liên hệ của nó với noãn hào quang; cũng như Thái dương Thượng đế được nói đến như “Thượng đế Xanh Dương” (theo nghĩa đen là chàm), thì màu của con người toàn thiện, và của bao bọc hào quang qua đó y biểu lộ, sẽ chủ yếu là xanh dương.
c. Orange, which is the complementary to blue and which has direct connection with man as an intelligence. He is the custodian of the fifth principle [208] of manas in its relation to the totality of the personality.
c. Cam, là màu bổ túc của xanh dương và có liên hệ trực tiếp với con người như một trí tuệ. Con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm [208] của manas trong mối liên hệ của nó với toàn thể phàm ngã.
d. Yellow, being the complement of indigo, and also the colour of buddhi, and on the direct line of the second Aspect.
d. Vàng, là màu bổ túc của chàm, đồng thời cũng là màu của Bồ đề, và nằm trên tuyến trực tiếp của Phương diện thứ hai.
I give the above illustration to demonstrate to you the great complexity involved by the use of blinds, yet also to show you that for those who have the seeing eye even the choice of these blinds is not arbitrary, but subject to rule and law.
Tôi đưa ra minh hoạ trên để chứng tỏ cho các bạn thấy sự phức tạp lớn do việc dùng màn che gây ra, nhưng cũng để cho các bạn thấy rằng đối với những ai có con mắt thấy, ngay cả việc chọn những màn che này cũng không tuỳ tiện, mà tuân theo quy luật và định luật.
It is therefore obvious to you why it is so often emphasised that in dealing with esoteric matters lower manas helps not. Only he who has the higher vision in process of development can hope to attain any measure of accurate discrimination. Just as the green of the activity of Nature forms the basis of the love aspect, or the indigo vibration of this love system, so will it be found upon the mental plane. More may not be said, but food for thought lies here. Orange also holds the secret for the Sons of Mind, and in the study of flame (which even exoterically blends all the colours) comes illumination.
Vì vậy các bạn hiển nhiên hiểu vì sao người ta thường nhấn mạnh rằng khi đề cập đến các vấn đề huyền bí thì hạ manas không giúp ích. Chỉ người nào có linh thị đang trong tiến trình phát triển mới có thể hy vọng đạt được một mức độ phân biện chính xác nào đó. Cũng như sắc xanh lục của hoạt động của bản chất tạo nền tảng cho phương diện bác ái, hay rung động chàm của hệ thống bác ái này, thì điều ấy cũng sẽ được nhận thấy trên cõi trí. Không thể nói thêm, nhưng ở đây có nhiều điều đáng suy ngẫm. Màu cam cũng nắm giữ bí mật cho các Con của Trí Tuệ, và trong việc nghiên cứu ngọn lửa (mà ngay cả theo ngoại môn cũng hoà trộn mọi màu sắc) thì sự soi sáng xuất hiện.
In studying this question of colour and sound in meditation how best shall we divide our vast subject? Let us consider it under the following heads:
Trong việc nghiên cứu vấn đề màu sắc và âm thanh trong tham thiền, chúng ta nên phân chia chủ đề rộng lớn này như thế nào là tốt nhất? Hãy xét nó dưới các đề mục sau:
1. Enumeration of the colours and certain comment thereon.
1. Sự liệt kê các màu sắc và một vài nhận xét về chúng.
2. Colours and the Law of Correspondences.
2. Màu sắc và Định luật Tương Ứng.
3. The effects of colours:—
3. Các tác dụng của màu sắc:—
a. On the bodies of the pupil.
a. Trên các thể của môn sinh.
b. On groups and on group work.
b. Trên các nhóm và trên chính công việc nhóm.
c. On the environment.
c. Trên môi trường.
4. The application of colour:—
4. Sự ứng dụng màu sắc:—
a. In meditation. [209]
a. Trong tham thiền. [209]
b. For healing in meditation.
b. Để trị liệu trong tham thiền.
c. In constructive work.
c. Trong công việc kiến tạo.
5. The future use of colour.
5. Việc sử dụng màu sắc trong tương lai.
Under these five heads we should be able to sum up all that has to be said at present. Perhaps little that I may say will be fundamentally new, for I give not aught which may not he found in that foundation book of H. P. B.’s. But in a newer presentation, and in the aggregation of material under one head may come enlightenment, and a further wise adjustment of knowledge. We will take up these five divisions later. Tonight I will only add a few further points to those already given.
Dưới năm đề mục này, chúng ta sẽ có thể tóm lược tất cả những gì hiện nay có thể nói. Có lẽ ít điều tôi nói sẽ hoàn toàn mới mẻ về nền tảng, vì tôi không đưa ra điều gì mà không thể tìm thấy trong quyển sách nền tảng của Bà H. P. B. Nhưng trong một sự trình bày mới hơn, và trong việc tập hợp tư liệu dưới một đề mục có thể nảy sinh sự giác ngộ, và một sự điều chỉnh khôn ngoan hơn về tri thức. Chúng ta sẽ bàn năm phân mục này sau. Tối nay tôi chỉ thêm vài điểm nữa vào những điều đã nêu.
Colours as manifested on the physical plane show at their crudest and harshest. Even the most exquisite of shades as seen by the physical eye is hard and harsh compared to those on the emotional plane, and as the finer matter of the other planes is contacted, the beauty, the softness and the exquisite quality of the different hues grow with each transition. When the ultimate and synthetic colour is reached the beauty transcends all conception.
Màu sắc khi biểu lộ trên cõi hồng trần thì thô và gắt nhất. Ngay cả những sắc độ tinh tế nhất khi được mắt hồng trần nhìn thấy cũng cứng và gắt so với những sắc độ trên cõi cảm dục; và khi chất liệu tinh tế hơn của các cõi khác được tiếp xúc, vẻ đẹp, sự mềm mại và phẩm chất tinh xảo của các sắc thái khác nhau tăng lên theo mỗi lần chuyển tiếp. Khi đạt đến màu sắc tối hậu và tổng hợp thì vẻ đẹp vượt quá mọi quan niệm.
Colours—such as we have now to do with in evolution—are the colours of light. Certain colours, which are the left-overs from the previous solar system, have been seized upon as modes of expression by that mysterious something which we call “cosmic evil” (in our ignorance so we term it). They are involutionary colours, and are media for the force of the Dark Brotherhood. With them the aspirant to the Path of Light has naught to do. They are such hues as brown, grey, the loathsome purple, and the lurid greens that are contacted in the dark places of the earth, on the emotional plane, and on the lower level of the mental plane. They are negations. Their tone is lower than the note of Nature. They are the offspring [210] of night, esoterically understood. They are the basis of glamour, of despair, and of corruption, and must be neutralised by the pupil of the Great Ones by the admission of the colours connected with light.
Màu sắc—như chúng ta hiện đang đề cập đến trong tiến hoá—là màu sắc của ánh sáng. Một số màu sắc, là những phần còn sót lại từ hệ mặt trời trước, đã bị một cái gì đó bí ẩn mà chúng ta gọi là “ác vũ trụ” nắm lấy làm các phương thức biểu lộ (trong sự vô minh của chúng ta, chúng ta gọi như vậy). Chúng là các màu sắc giáng hạ tiến hoá, và là các môi trường cho mãnh lực của Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. Với chúng, người chí nguyện trên Con Đường Ánh sáng không có gì phải liên can. Chúng là những sắc như nâu, xám, tím ghê tởm, và những sắc xanh lục chói gắt được tiếp xúc trong những nơi tối tăm của trái đất, trên cõi cảm dục, và ở tầng thấp của cõi trí. Chúng là những sự phủ định. Âm điệu của chúng thấp hơn âm điệu của bản chất. Chúng là hậu duệ [210] của đêm tối, theo nghĩa huyền bí. Chúng là nền tảng của ảo cảm, của tuyệt vọng, và của bại hoại, và phải được môn sinh của Các Đấng Cao Cả trung hoà bằng việc tiếp nhận các màu sắc liên quan đến ánh sáng.
1. The synthesis of all the colours, as aforesaid, is the synthetic ray of indigo. This underlies all and absorbs all. But in the three worlds of human evolution the orange of flame irradiates all. This orange emanates from the fifth plane, underlies the fifth principle, and is the effect produced by the esoteric sounding of the occult words “Our God is a consuming Fire.” These words apply to the manasic principle, that fire of intelligence or reason which the Lords of the Flame imparted, and which stimulates and guides the life of the active personality. It is that light of reason which guides a man through the Hall of Learning on into the Hall of Wisdom. In the latter hall its limitations are discovered, and that structure which knowledge has built (the causal body or the Temple of Solomon) is itself destroyed by the consuming fire. This fire consumes the gorgeous prison house which man has erected through many incarnations, and lets loose the inner light divine. Then the two fires merge, mount upwards and are lost in the Triadal Light.
1. Sự tổng hợp của mọi màu sắc, như đã nói, là cung tổng hợp chàm. Nó nằm dưới mọi sự và hấp thụ mọi sự. Nhưng trong ba cõi của tiến hoá nhân loại, sắc cam của ngọn lửa chiếu rọi mọi sự. Sắc cam này phát ra từ cõi thứ năm, nằm dưới nguyên khí thứ năm, và là tác dụng được tạo ra bởi sự xướng huyền bí các linh từ huyền thuật: “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt.” Những lời này áp dụng cho nguyên khí manas, ngọn lửa trí tuệ hay lý trí mà các Đấng Chúa Tể của Lửa đã ban truyền, và vốn kích thích và hướng dẫn đời sống của phàm ngã hoạt động. Đó là ánh sáng của lý trí dẫn dắt con người đi qua Phòng Hiểu Biết tiến vào Phòng Minh triết. Trong phòng sau, các giới hạn của nó được phát hiện, và cấu trúc mà tri thức đã xây dựng (thể nguyên nhân hay Đền thờ Solomon) tự nó bị huỷ diệt bởi lửa thiêu đốt. Ngọn lửa này thiêu rụi ngục thất lộng lẫy mà con người đã dựng lên qua nhiều kiếp lâm phàm, và giải phóng ánh sáng thiêng liêng bên trong. Rồi hai ngọn lửa hoà nhập, vươn lên cao và mất hút trong Ánh sáng Tam Nguyên.
Certain colours belong more exclusively to the human Hierarchy, others to the deva. In their ultimate blending and intermingling comes eventual perfection....
Một số màu sắc thuộc về Thánh Đoàn nhân loại một cách gần như độc hữu, những màu khác thuộc về thiên thần. Trong sự hoà trộn và đan xen tối hậu của chúng sẽ đến sự toàn thiện chung cuộc....
August 29th, 1920.
Ngày 29 tháng 8, 1920.
1. Enumeration of the Colours.—1. Sự liệt kê các Màu sắc.
Tonight we must continue our study on colour and take up our first point.
Tối nay chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu về màu sắc và bắt đầu điểm thứ nhất.
In doing this I will make certain comments and give you certain data, impressing upon you nevertheless again the fact that I use the exoteric terms, and that the discussion [211] is but for suggestive purposes. The very use of the word “Colour” shews the intention, for, as you know, the definition of the word conveys the idea of concealment. Colour is therefore “that which does conceal.” It is simply the objective medium by means of which the inner force transmits itself; it is the reflection upon matter of the type of influence that is emanating from the Logos, and which has penetrated to the densest part of His solar system. We recognise it as colour. The adept knows it as differentiated force, and the initiate of the higher degrees knows it as ultimate light, undifferentiated and undivided.
Khi làm điều này tôi sẽ đưa ra một số nhận xét và cung cấp cho các bạn một số dữ liệu, đồng thời lại nhấn mạnh với các bạn rằng tôi dùng các thuật ngữ ngoại môn, và rằng cuộc bàn luận [211] chỉ nhằm mục đích gợi ý. Chính việc dùng từ “Màu sắc” đã cho thấy chủ ý, vì như các bạn biết, định nghĩa của từ ấy hàm chứa ý niệm che giấu. Vì vậy, màu sắc là “cái che giấu.” Nó đơn giản là môi trường khách quan nhờ đó mãnh lực bên trong truyền dẫn chính nó; nó là sự phản chiếu lên vật chất của loại ảnh hưởng đang phát ra từ Thượng đế, và đã xuyên thấu đến phần đậm đặc nhất của hệ mặt trời của Ngài. Chúng ta nhận biết nó như màu sắc. Chân sư biết nó như mãnh lực được biến phân, và điểm đạo đồ ở các cấp cao hơn biết nó như ánh sáng tối hậu, không biến phân và không phân chia.
We enumerated the colours yesterday and in a certain order. I seek again to enumerate them thus, only this time reminding you that the one Ray of which all the others are but sub-rays, might be regarded as a circle of sevenfold light. Too apt is the student to picture seven bands, striking down athwart9 the five lower planes till they contact the earth plane and are absorbed into dense matter. Not so is it in fact. The seven colours may be regarded as a band of seven colours circling and continuously shifting and moving through the planes back to their originating source......
Chúng ta đã liệt kê các màu sắc hôm qua và theo một trật tự nhất định. Tôi lại muốn liệt kê chúng như vậy, chỉ khác lần này tôi nhắc các bạn rằng cung duy nhất mà tất cả các cung khác chỉ là các cung phụ của nó, có thể được xem như một vòng tròn ánh sáng thất phân. bảy dải, giáng xuống băng ngang năm cõi thấp cho đến khi chúng tiếp xúc cõi hồng trần và bị hấp thụ vào vật chất đậm đặc. Thực ra không phải như vậy. Bảy màu có thể được xem như một dải bảy màu quay vòng và liên tục chuyển dịch và vận động xuyên qua các cõi, trở về nguồn phát sinh của chúng......
Something like this, Brother of Mine: -
Đại khái như thế này, huynh đệ của tôi: -
(I endeavoured to draw a diagram and failed)
(Tôi đã cố vẽ một sơ đồ và đã thất bại)
You cannot describe it, Brother of Mine, some day the needed artist will come who will draw for you the fourth dimensional designs. In the meantime description must suffice.
Các bạn không thể mô tả được điều đó, huynh đệ của tôi; một ngày nào đó sẽ có người nghệ sĩ cần thiết đến, người sẽ vẽ cho các bạn những thiết kế chiều thứ tư. Trong lúc này, mô tả phải là đủ.
These seven bands of colour emanate from the synthetic Ray. The indigo sub-ray of the indigo Ray forms the path of least resistance from the heart of densest matter back again to the source. The bands of colour form a circulating ring which, moving at different rates of vibration, passes through all the planes, circling down and up again. What I seek to bring out specially here is that these seven bands do not all move at the same rate, and herein lies hid the key to the complexity of the matter. Some move at a swifter rate of vibration than do some of the others. Hence—as they carry their corresponding monads with them—you have here [212] the answer to the question as to why some egos seem to make more rapid progress than do some others.
Bảy dải màu này phát xuất từ cung tổng hợp. Cung phụ chàm của cung chàm tạo thành con đường ít trở ngại nhất từ trái tim của vật chất đậm đặc nhất trở lại nguồn. Các dải màu tạo thành một vòng lưu chuyển, và khi chuyển động theo các tốc độ rung động khác nhau, nó đi qua mọi cõi, vòng xuống rồi lại vòng lên. Điều tôi đặc biệt muốn nêu ra ở đây là bảy dải này không phải tất cả đều chuyển động cùng một tốc độ, và chính trong đó có chìa khóa ẩn giấu của tính phức tạp của vấn đề. Một số chuyển động với tốc độ rung động nhanh hơn một số khác. Vì vậy—do chúng mang theo các chân thần tương ứng của chúng—các bạn có ở đây [212] câu trả lời cho câu hỏi vì sao một số chân ngã dường như tiến bộ nhanh hơn một số khác.
These coloured rings do not follow a straight unimpeded course, but interweave in a most curious manner, blending with each other, absorbing each other in stated cycles, and grouping themselves in groups of threes or fives, yet ever moving onwards. This is the real foundation to the diamond pattern upon the back of the serpent of wisdom. Three major lines of colour should be portrayed as forming the lattice work on the serpent’s skin, with the four other colours interweaving. Some day some student of colour and of the Divine Wisdom should compile a large chart of the seven planes, and superimposed upon those planes should be placed a seven-coloured serpent of wisdom. If correctly drawn to scale some interesting geometrical patterns will be found as the circles cut across the planes, and some impression will be conveyed occularly of the complexity of the matter of the seven rays......
Những vòng màu này không đi theo một lộ trình thẳng, không bị ngăn trở, mà đan xen theo một cách hết sức kỳ lạ, hòa trộn vào nhau, hấp thụ lẫn nhau theo những chu kỳ nhất định, và tự nhóm lại thành các nhóm ba hoặc năm, nhưng vẫn luôn tiến về phía trước. Đây là nền tảng thực sự của hoa văn hình kim cương trên lưng con rắn minh triết. Ba đường màu chính nên được thể hiện như tạo thành mạng lưới trên da con rắn, với bốn màu còn lại đan xen. Một ngày nào đó, một đạo sinh về màu sắc và Minh Triết Thiêng Liêng nên biên soạn một biểu đồ lớn về bảy cõi, và chồng lên các cõi ấy nên đặt một con rắn minh triết bảy màu. Nếu được vẽ đúng theo tỷ lệ, sẽ tìm thấy một số hoa văn hình học thú vị khi các vòng tròn cắt ngang các cõi, và sẽ truyền đạt bằng thị giác một ấn tượng về tính phức tạp của vật chất của bảy cung......
{Let me now give you a table for study. If the intuition sufficeth to read beyond the exoteric rendering as to seek an esoteric meaning much light will illuminate the student of meditation.
{Giờ đây, hãy để tôi đưa cho các bạn một bảng để nghiên cứu. Nếu trực giác đủ để đọc vượt ra ngoài cách diễn đạt ngoại môn mà tìm kiếm một ý nghĩa nội môn, thì nhiều ánh sáng sẽ soi sáng đạo sinh tham thiền.
Color
Ray
Plane
Principle
Chain
Root Race
Màu sắc
Cung
Cõi
Nguyên khí
Dãy
Giống dân gốc
Blue
Power
First
Atma
Jupiter
Xanh lam
Quyền năng
Thứ nhất
Atma
Sao Mộc
Indigo
Love or wisdom
Second
Buddhic
Venus
sixth
Chàm
Tình thương hay minh triết
Thứ hai
Bồ đề
Sao Kim
thứ sáu
Green
Activity
Third
Manas
Saturn
fifth
Xanh lục
Hoạt động
Thứ ba
Manas
Sao Thổ
thứ năm
Yellow
Harmony
Fourth
(Causal body)
Earth
fourth
Vàng
Hài hoà
Thứ tư
(Thể nguyên nhân)
Trái Đất
thứ tư
Orange-
Science
Fifth
Kama-manas
Cam
Khoa học
Thứ năm
Kama-manas
Red
Devotion
Sixth
Pure kama
Neptune
first
Đỏ
Hiến dâng
Thứ sáu
Kama thuần túy
Sao Hải Vương
thứ nhất
Violet
Ceremonial law
Seventh
Prana
Uranus
Tím
Luật Nghi thức
Thứ bảy
Prana
Sao Thiên Vương
Here, Brother of Old, four points are withheld, for in their withholding is the secret guarded and the mystery protected}.
Ở đây, Huynh Đệ của Ngày Xưa, bốn điểm được giữ lại, vì trong sự giữ lại ấy có bí mật được canh giữ và huyền nhiệm được bảo vệ}.
Certain brief statements seem to be in place:—
Một vài phát biểu ngắn dường như là thích hợp:—
The true indigo is the blue of the vault of heaven on a moonless night. It is the culmination, and at the attainment by all of synthesis, the solar night will supervene. Hence the colour corresponds to what the sky nightly proclaims. Indigo absorbs.
Màu chàm chân thật là màu xanh của vòm trời vào một đêm không trăng. Nó là sự viên mãn, và khi tất cả đạt đến tổng hợp, đêm mặt trời sẽ xảy đến. Vì vậy màu này tương ứng với điều mà bầu trời mỗi đêm công bố. Chàm hấp thụ.
Green is the basis of the activity of Nature. It was the synthetic colour for system 1, and is the foundation for the present manifested system. The note of Nature is green, and each time a man reviews the robe in which the earth is clad he is contacting some of the force that reached its consummation in system 1. Green stimulates and heals.
Xanh lục là nền tảng của hoạt động của bản chất. Nó là màu tổng hợp cho hệ thống 1, và là nền tảng cho hệ thống biểu hiện hiện nay. Chủ âm của bản chất là xanh lục, và mỗi lần một người ngắm lại tấm áo mà trái đất khoác lên, y đang tiếp xúc với một phần mãnh lực đã đạt đến sự viên mãn của nó trong hệ thống 1. Xanh lục kích thích và chữa lành.
I seek to call your attention here to the fact that it is not yet permissible to give out the esoteric significance of [213] these colours, nor exact information as to their order and application. The dangers are too great, for in the right understanding of the laws of colour and in the knowledge (for instance) of which colour stands for a particular ray lies the power the adept wields.
Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của các bạn ở đây đến sự kiện rằng hiện vẫn chưa được phép công bố thâm nghĩa nội môn của [213] các màu này, cũng như thông tin chính xác về trật tự và sự ứng dụng của chúng. Những nguy hiểm quá lớn, vì trong sự thấu hiểu đúng đắn các định luật về màu sắc và trong tri thức (chẳng hạn) về màu nào tiêu biểu cho một cung nhất định, có quyền năng mà chân sư vận dụng.
Comments on the colours.—Nhận xét về các màu sắc.
Certain colours are known and it might be well if we here enumerated them. The synthetic ray is indigo, or a deep hue. It is the Ray of Love and Wisdom, the great fundamental ray of this present solar system, and is one of the cosmic rays. This cosmic ray divides itself, for purposes of manifestation, into seven sub-rays, as follows:
Một số màu đã được biết đến và sẽ tốt nếu chúng ta liệt kê chúng ở đây. Cung tổng hợp là chàm, hay một sắc độ sâu. Đó là Cung Bác Ái – Minh Triết, cung nền tảng vĩ đại của hệ mặt trời hiện nay, và là một trong các cung vũ trụ. Cung vũ trụ này tự phân chia, vì mục đích biểu hiện, thành bảy cung phụ, như sau:
1. Indigo...............and a colour not disclosed.
1. Chàm...............và một màu không được tiết lộ.
2. Indigo-indigo...The second sub-ray of Love and Wisdom. It finds its great expression on the second monadic plane, and its major manifestation in the monads of love.
2. Chàm-chàm...Cung phụ thứ hai của Bác Ái – Minh Triết. Nó tìm thấy sự biểu lộ lớn lao của nó trên cõi chân thần thứ hai, và sự biểu hiện chủ yếu của nó trong các chân thần bác ái.
3. Indigo-green.......The third sub-ray, the third major Ray of Activity or Adaptability. It is the basic ray of the second system. It is the great ray for the deva evolution.
3. Chàm-xanh lục.......Cung phụ thứ ba, Cung Hoạt Động hay Thích Ứng chủ yếu thứ ba. Nó là cung nền tảng của hệ thống thứ hai. Nó là cung lớn cho tiến hoá thiên thần.
4. Indigo-yellow...............The Harmony Ray.
4. Chàm-vàng...............Cung Hài Hoà.
5. Indigo-orange..The Ray of Concrete Knowledge.
5. Chàm-cam..Cung Tri Thức Cụ Thể.
6. Indigo...and a colour not disclosed. The Ray of Devotion.
6. Chàm...và một màu không được tiết lộ. Cung Sùng Tín.
7. Indigo-violet.....The Ray of Ceremonial Order.
7. Chàm-tím.....Cung Trật Tự Nghi Lễ.
Now you will note that I do not name the two colours, indigo-red and indigo-blue, nor do I apportion them to [214] certain rays or planes. It is not that it is not possible to do so, but it is the withholding of this information that creates the puzzle. Certain things you must always remember in dealing with these colours:
Giờ đây các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nêu tên hai màu, chàm-đỏ và chàm-xanh lam, và tôi cũng không phân bổ chúng cho [214] các cung hay các cõi nhất định. Không phải là không thể làm như vậy, nhưng chính việc giữ lại thông tin này tạo ra câu đố. Có một số điều các bạn phải luôn ghi nhớ khi bàn đến các màu này:
That I have given their exoteric names and application, and that of all I have given only two correspond with their esoteric application,—indigo and green. The Synthetic Ray and the Activity Ray are at this stage the only two of which you can be absolutely assured. One is the goal of endeavour, and the other is the foundation colour of Nature.
Rằng tôi đã đưa ra tên gọi và sự ứng dụng ngoại môn của chúng, và trong tất cả những gì tôi đã đưa ra chỉ có hai điều tương ứng với sự ứng dụng nội môn của chúng,—chàm và xanh lục. Cung Tổng Hợp và Cung Hoạt Động ở giai đoạn này là hai cung duy nhất mà các bạn có thể hoàn toàn chắc chắn. Một là mục tiêu của nỗ lực, và một là màu nền tảng của bản chất.
That the other five colours with which our fivefold evolution is concerned, change, intermingle, blend, and are not esoterically understood in the same sense as you might imagine from the use of the words, red, yellow, orange, blue and violet. Esoterically they scarcely resemble their names, and the names themselves are intended to blind and mislead.
Rằng năm màu còn lại, những màu mà tiến hoá ngũ phân của chúng ta có liên quan, thay đổi, hòa lẫn, pha trộn, và không được thấu hiểu theo nội môn theo cùng một nghĩa như các bạn có thể tưởng tượng từ việc dùng các từ: đỏ, vàng, cam, xanh lam và tím. Theo nội môn, chúng hầu như không giống với tên gọi của chúng, và chính các tên gọi ấy được chủ ý để làm mù và đánh lạc hướng.
That each of these three colours and the other two are only understood as yet through four of their lesser sub-rays. This is the fourth round and only four sub-rays of these colours have as yet been glimpsed. By remembering these three points undue emphasis will not be laid upon apparent information, and the student will wisely reserve his opinion.
Rằng mỗi trong ba màu này và hai màu kia, cho đến nay chỉ được hiểu qua bốn cung phụ nhỏ hơn của chúng. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư và mới chỉ thoáng thấy bốn cung phụ của các màu này. Bằng cách ghi nhớ ba điểm này, sẽ không đặt sự nhấn mạnh quá mức lên thông tin bề ngoài, và đạo sinh sẽ khôn ngoan giữ lại ý kiến của mình.
Yellow is another of the colours that have come to us from system 1. The blending of blue and of yellow in that system had much to do with the production of activity. Yellow harmonises, it marks completion and fruition. Note how in autumn, when the processes of Nature have run their course and the cycle is complete, the yellow of the autumn is spread upon the landscape. Note also that when the sun pours unimpeded down the yellow of the harvest is also to be seen. So it is in the [215] life of the spirit. When the fourth plane of harmony or of buddhi is achieved, then is consummation. When the work of the personality is completed, and when the sun of the microcosm, the Ego, pours unimpeded down into the personal life, then comes fruition and harvest. The at-one-ment, or the harmonising has been made, and the goal has been reached. Blue and yellow blended result in green, and the synthetic blue or indigo (the love and wisdom aspect) dominates when the plane of harmony is reached. It leads then to the third plane of atma whereon the green of activity predominates......
Vàng là một màu khác đã đến với chúng ta từ hệ thống 1. Sự pha trộn của xanh lam và vàng trong hệ thống ấy đã liên quan rất nhiều đến việc tạo ra hoạt động. Vàng hài hoà, nó đánh dấu sự hoàn tất và kết quả viên mãn. Hãy lưu ý rằng vào mùa thu, khi các tiến trình của bản chất đã chạy hết lộ trình và chu kỳ đã hoàn tất, sắc vàng của mùa thu trải rộng trên phong cảnh. Cũng hãy lưu ý rằng khi mặt trời tuôn xuống không bị ngăn trở, sắc vàng của mùa gặt cũng được thấy. Cũng vậy trong [215] đời sống tinh thần. Khi cõi thứ tư của hài hoà hay Bồ đề được đạt đến, thì có sự viên mãn. Khi công việc của phàm ngã hoàn tất, và khi mặt trời của tiểu thiên địa, Chân ngã, tuôn xuống không bị ngăn trở vào đời sống cá nhân, thì kết quả và mùa gặt đến. Sự hợp nhất, hay sự hài hoà, đã được thực hiện, và mục tiêu đã đạt. Xanh lam và vàng pha trộn tạo thành xanh lục, và xanh lam tổng hợp hay chàm (phương diện bác ái và minh triết) chi phối khi cõi hài hoà được đạt đến. Khi ấy nó dẫn đến cõi thứ ba của atma, nơi xanh lục của hoạt động chiếm ưu thế......
Seek this out, Brother of Mine. Cease now from thought and continue on the morrow. This matter is not easy of comprehension, and your realisation of this and consequent nervousness, hindereth the easy flow of the dictation.
Hãy tìm ra điều này, huynh đệ của tôi. Giờ hãy ngưng suy nghĩ và tiếp tục vào ngày mai. Vấn đề này không dễ lĩnh hội, và sự chứng nghiệm của các bạn về điều đó cùng sự căng thẳng thần kinh hệ quả, cản trở dòng chảy dễ dàng của việc đọc cho chép.
August 3lst, 1920.
Ngày 31 tháng 8, 1920.
In continuing our study of colour and meditation, and our particular division in that study, I would—for your encouragement—point out that the part that falls to you is the reception and publication of these letters and of the imparted data, whereas the responsibility for that data rests with me. Even if you understand them not, and even if it seems to you that some of the data may be contradictory, I would suggest for your consideration that in the esoteric interpretation lies hid half the mystery, and the other half is concealed by the fact that all interpretation depends upon the standpoint of the interpreter, and the plane whereon his consciousness is working. The value of what I impart now consists in this:—that in the study of colour (which is one form of the study of vibration) comes the ability to understand personal vibration, to attune that vibration to the egoic one, and to synchronise it later with that of the Master. One of the main methods of effecting this synchronisation is meditation. When the intelligence grasps the scientific facts anent this subject, then comes the utilisation of these facts for the advancement of vibration, and the wise development of the colours necessitated. [216]
Khi tiếp tục nghiên cứu của chúng ta về màu sắc và tham thiền, và sự phân chia đặc thù của chúng ta trong nghiên cứu ấy, tôi muốn—để khích lệ các bạn—chỉ ra rằng phần việc thuộc về các bạn là tiếp nhận và công bố các thư này cùng dữ liệu được truyền đạt, còn trách nhiệm về dữ liệu ấy thuộc về tôi. Dù các bạn không hiểu chúng, và dù đối với các bạn dường như một số dữ liệu có thể mâu thuẫn, tôi đề nghị để các bạn suy xét rằng trong cách diễn giải nội môn có ẩn giấu một nửa huyền nhiệm, và nửa còn lại bị che khuất bởi sự kiện rằng mọi diễn giải đều tùy thuộc vào lập trường của người diễn giải, và cõi nơi tâm thức của y đang hoạt động. Giá trị của điều tôi truyền đạt giờ đây nằm ở chỗ này:—rằng trong việc nghiên cứu màu sắc (là một hình thức của việc nghiên cứu rung động) nảy sinh khả năng thấu hiểu rung động cá nhân, chỉnh âm rung động ấy với rung động chân ngã, và về sau đồng bộ nó với rung động của Chân sư. Một trong những phương pháp chính để thực hiện sự đồng bộ này là tham thiền. Khi trí tuệ nắm bắt các sự kiện khoa học liên quan đến chủ đề này, thì đến việc vận dụng các sự kiện ấy để thăng tiến rung động, và sự phát triển khôn ngoan các màu sắc được đòi hỏi. [216]
We dealt in my last letter with the four colours—blue, indigo, green, and yellow,—and in this primary grouping lies much of interest. We now come to a different group of colours, and one that falls naturally together, orange, red, and violet.
Trong thư trước, chúng ta đã bàn đến bốn màu—xanh lam, chàm, xanh lục, và vàng,—và chính trong sự nhóm lại sơ khởi này có nhiều điều đáng quan tâm. Giờ chúng ta đến với một nhóm màu khác, và là nhóm tự nhiên đi chung với nhau: cam, đỏ, và tím.
Orange. This colour is for our purpose the colour of the mental plane, the colour that marks burning; it is the symbol of flame, and curiously enough the colour that epitomises10 separation. But I would have you note that the occult orange is not exactly the colour that you understand by the term. Exoteric orange is a blend of yellow and red; esoteric orange is a purer yellow, and the red scarcely is seen at all. This orange comes in as a vibration set up by a cosmic ray, for you have to remember that this fifth ray (just as the fifth plane and the fifth principle) is closely allied to the cosmic ray of the intelligence, or to that activity aspect that found its great expression in the first solar system. The synthetic ray of that time was the green ray, and it found one of its closest alliances in the ray of orange, or mind or intelligence demonstrating through form. You get a correspondence in this solar system in the synthetic Ray of Love and Wisdom, and its close relationship to the fourth Ray of Harmony. It finds a demonstration in the triangle formed by their interaction, as follows: [217]
Cam. Màu này, đối với mục đích của chúng ta, là màu của cõi trí, màu đánh dấu sự cháy; nó là biểu tượng của ngọn lửa, và kỳ lạ thay là màu tóm lược sự phân ly. Nhưng tôi muốn các bạn lưu ý rằng màu cam huyền bí không hoàn toàn đúng là màu mà các bạn hiểu theo thuật ngữ ấy. Cam ngoại môn là sự pha trộn của vàng và đỏ; cam nội môn là một sắc vàng thuần hơn, và hầu như không thấy đỏ. Màu cam này đi vào như một rung động được khơi lên bởi một cung vũ trụ, vì các bạn phải nhớ rằng cung thứ năm này (cũng như cõi thứ năm và nguyên khí thứ năm) có liên hệ chặt chẽ với cung vũ trụ của trí tuệ, hay với phương diện hoạt động đã tìm thấy sự biểu lộ lớn lao của nó trong hệ mặt trời thứ nhất. Cung tổng hợp của thời kỳ ấy là cung xanh lục, và nó tìm thấy một trong những liên minh gần gũi nhất của nó trong cung cam, hay thể trí hoặc trí tuệ biểu lộ qua hình tướng. Các bạn có một sự tương ứng trong hệ mặt trời này nơi Cung Tổng Hợp của Bác Ái – Minh Triết, và mối liên hệ gần gũi của nó với Cung Hài Hoà thứ tư. Nó tìm thấy một sự biểu lộ trong tam giác được tạo bởi sự tương tác của chúng, như sau: [217]
FIRST SOLAR SYSTEM
HỆ MẶT TRỜI THỨ NHẤT
Green Ray
Cung Xanh lục
Third Aspect
Phương diện Thứ ba
Activity or Intelligence
Hoạt động hay Trí thông minh
Third sub-ray
Fifth sub-ray
Cung phụ ba
Cung phụ năm
Activity
Manas, mind
Hoạt động
Manas, trí tuệ
Green-green
Green-orange
Xanh lục-xanh lục
Xanh lục-cam v
SECOND SOLAR SYSTEM
HỆ MẶT TRỜI THỨ HAI
Indigo Ray
Cung Chàm
Second Aspect
Phương diện Thứ hai
Love and Wisdom
Tình thương và Minh triết
Second sub-ray
Fourth sub-ray
Cung phụ hai
Cung phụ bốn
Love and Wisdom
Harmony
Bác Ái – Minh Triết
Hài Hòa
Indigo-indigo
Indigo-yellow
Chàm-chàm
Chàm-vàng
[218]
[218]
In the activity system you have the third aspect of universal mind or activity, demonstrating through the orange of the concrete sub-ray...... (In connection with this I would refer the reader to the previous article upon the solar system, and to the relationship traced between the abstract rays 2—4—6 and similarly in the concrete rays 3—5—7), adaptability through form—form which perfectly expresses that latent activity. Similarly in the second system of love, you have the love aspect demonstrating through the yellow of the ray of harmony or beauty—love expressing itself perfectly through unity, harmony or beauty. Note here the fact that I again use terms that are dependent for their correctness upon their exoteric or esoteric interpretation.
Trong hệ thống hoạt động, các bạn có phương diện thứ ba của Vũ Trụ Trí hay hoạt động, biểu lộ qua màu cam của cung phụ cụ thể...... (Liên quan đến điều này, tôi xin dẫn độc giả đến bài trước về hệ mặt trời, và đến mối liên hệ được truy nguyên giữa các cung trừu tượng 2—4—6 và tương tự trong các cung cụ thể 3—5—7), sự thích ứng qua hình tướng—hình tướng biểu lộ hoàn hảo hoạt động tiềm ẩn ấy. Tương tự, trong hệ thống thứ hai của bác ái, các bạn có phương diện bác ái biểu lộ qua sắc vàng của cung hài hoà hay mỹ lệ—bác ái tự biểu lộ hoàn hảo qua hợp nhất, hài hoà hay mỹ lệ. Hãy lưu ý ở đây sự kiện rằng tôi lại dùng những thuật ngữ mà tính đúng đắn của chúng tùy thuộc vào cách diễn giải ngoại môn hay nội môn của chúng.
Therefore to return to what I earlier said, this orange comes in as a vibration set up by the earlier cosmic ray of activity in the earlier solar system; the force of orange (which is scientific apprehension by the intelligence) comes in to perfect the link between spirit and form, between life and the vehicles through which it is seeking expression.
Vì vậy, để trở lại điều tôi đã nói trước đó, màu cam này đi vào như một rung động được khơi lên bởi cung vũ trụ hoạt động trước kia trong hệ mặt trời trước kia; mãnh lực của màu cam (là sự lĩnh hội khoa học bởi trí tuệ) đi vào để hoàn thiện mối liên kết giữa tinh thần và hình tướng, giữa sự sống và các vận cụ mà qua đó nó đang tìm cách biểu lộ.
We might apportion the great basic colours between the various terms that we use to express the totality of the manifested universe:
Chúng ta có thể phân bổ các màu nền tảng lớn cho các thuật ngữ khác nhau mà chúng ta dùng để diễn đạt toàn thể vũ trụ biểu hiện:
1. Life Aspect
2. Form Aspect
3. Intelligence Aspect
Spirit
Matter
Mind
Consciousness
Vehicle
Vitality
Self
Not-Self
Relation between
2. Ray of Love and Wisdom
1. Ray of Power and Will
3. Ray of Activity or Adaptability
4. Ray of Harmony
7. Ray of Ceremonial Law
5. Ray of Concrete Knowledge
6. Ray of Devotion
5. Ray of Concrete Knowledge [219]
This is but one of the ways in which the rays may be apportioned and considered as influences having direct effect upon the evolving life, or upon the form in which it evolves by means of that third factor, the intelligence. These three divisions make the three points of a cosmic triangle:—
Đây chỉ là một trong những cách mà các cung có thể được phân bổ và được xét như các ảnh hưởng có tác động trực tiếp lên sự sống đang tiến hoá, hay lên hình tướng mà trong đó nó tiến hoá nhờ yếu tố thứ ba ấy, trí tuệ. Ba phân chia này tạo thành ba điểm của một tam giác vũ trụ:—
and the current of the rays playing macrocosmically between the three has its microcosmic correspondence in the fire of kundalini (awakened through meditation) playing in accurate geometrical form between the three major centres:—
và dòng chảy của các cung vận hành ở cấp độ đại thiên địa giữa ba điểm ấy có sự tương ứng ở cấp độ tiểu thiên địa trong lửa kundalini (được đánh thức qua tham thiền) vận hành theo hình học chính xác giữa ba trung tâm chính:—
All the seven rays interact between the life, the form and the inner mind, and are in their essence themselves those three. They are life, they are form, they are intelligence, and their totality is the manifested universe. All seven at different times play on the different aspects. [220]
Cả bảy cung tương tác giữa sự sống, hình tướng và thể trí bên trong, và trong bản chất của chúng, chính chúng là ba điều ấy. Chúng là sự sống, chúng là hình tướng, chúng là trí tuệ, và tổng thể của chúng là vũ trụ biểu hiện. Cả bảy, vào những thời điểm khác nhau, tác động lên các phương diện khác nhau. [220]
The most important interaction exists between:—
Sự tương tác quan trọng nhất tồn tại giữa:—
a. The Love-Wisdom Ray and the Harmony Ray, as it does between the monadic plane and the buddhic.
a. Cung Bác Ái – Minh Triết và Cung Hài Hoà, cũng như giữa cõi chân thần và cõi Bồ đề.
b. The Power Ray and that of Ceremonial Law, just as it does between the first and the seventh planes.
b. Cung Quyền Năng và cung Trật Tự Nghi Lễ, cũng như giữa cõi thứ nhất và cõi thứ bảy.
c. The Activity or Adaptability Ray and that of Concrete Knowledge or Science, just as it does between the third plane of atma and the fifth plane of mind. Green and orange were allied in the first solar system, and continue their alliance here. I have opened up for all true students vast realms of thought.
c. Cung Hoạt Động hay Thích Ứng và cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học, cũng như giữa cõi thứ ba của atma và cõi thứ năm của cõi trí. Xanh lục và cam đã liên minh trong hệ mặt trời thứ nhất, và tiếp tục liên minh ở đây. Tôi đã mở ra cho mọi đạo sinh chân chính những lãnh vực tư tưởng rộng lớn.
In the relationship between indigo, blue and yellow lies hid a secret.
Trong mối liên hệ giữa chàm, xanh lam và vàng có ẩn giấu một bí mật.
In the relationship between green, orange and red another is revealed.
Trong mối liên hệ giữa xanh lục, cam và đỏ, một bí mật khác được mặc khải.
In the relationship between blue, red, and violet lies still another mystery.
Trong mối liên hệ giữa xanh lam, đỏ, và tím, vẫn còn một huyền nhiệm khác.
The student, who, by using his intuition, apprehends these three mysteries has found the key to the greater cycle and holds the key to evolutionary development. Remember, therefore, when studying the microcosm that the same relationship will be found, and will open the portal to the “Kingdom of God within.”
Đạo sinh, người mà, bằng cách sử dụng trực giác của y, nắm bắt ba huyền nhiệm này, đã tìm ra chìa khóa của chu kỳ lớn hơn và nắm giữ chìa khóa của sự phát triển tiến hoá. Vì vậy, hãy nhớ rằng, khi nghiên cứu tiểu thiên địa, cũng sẽ tìm thấy cùng một mối tương quan ấy, và nó sẽ mở cánh cổng dẫn vào “Thiên Giới ở bên trong.”
Red is for all apparent purposes one of the most difficult colours to consider. It ranks as undesirable. Why? Because it has been considered as the colour of kama, or evil desire, and the picture of the dark and lurid11 reds in the emotional body of the undeveloped man rises ever to one’s vision. Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light.
Vì mọi mục đích hiển nhiên, màu đỏ là một trong những màu khó xét nhất. Nó được xếp vào loại không đáng mong muốn. Tại sao? Bởi vì màu đỏ trong thể cảm dục của người chưa phát triển luôn luôn hiện lên trước tầm nhìn của người ta. Tuy nhiên—vào một thời điểm xa xôi nào đó—màu đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hòa nhập hoàn hảo của đỏ, lục và lam, rốt cuộc sẽ đến công trình [221] hoàn tất của Thượng đế và sự viên mãn của ánh sáng trắng tinh khiết.
The activity system was green.
Hệ thống hoạt động là màu lục.
The love system is blue.
Hệ thống bác ái là màu lam.
The power system will be red.
Hệ thống quyền năng sẽ là màu đỏ.
The result of merging red, blue, and green is—as you know—white, and the Logos will then have esoterically “washed His robes and made them white in the blood,” just as the microcosm, in a lesser sense, does in process of evolution.
Kết quả của sự hòa nhập đỏ, lam và lục là—như các bạn biết—màu trắng, và khi ấy Thượng đế sẽ, theo nghĩa huyền môn, “đã giặt áo bào của Ngài và làm cho chúng trắng trong máu,” cũng như tiểu thiên địa, theo một nghĩa nhỏ hơn, vẫn làm trong tiến trình tiến hoá.
Violet. In a curious way the violet Ray of Ceremonial Law or Order is a synthetic ray when manifested in the three worlds. Just as the synthetic Ray of Love and Wisdom is the synthesis of all the life forces, so in the three worlds the seventh ray synthesises all that has to do with form. On the first plane, life in its purest, highest, undifferentiated synthetic aspect; on the seventh plane, form in its densest, grossest, most differentiated aspect; one is summed up in the synthetic Ray of Love, whilst the other is worked upon by the seventh.
Màu tím. Một cách kỳ lạ, cung tím của Quy luật hay Trật tự Nghi lễ là một cung tổng hợp khi biểu lộ trong ba cõi thấp. Cũng như cung tổng hợp của Bác Ái và Minh Triết là sự tổng hợp của mọi mãnh lực sự sống, thì trong ba cõi thấp cung bảy tổng hợp mọi điều liên quan đến hình tướng. Trên cõi thứ nhất, sự sống trong phương diện tổng hợp thuần khiết nhất, cao nhất, chưa biến phân; trên cõi thứ bảy, hình tướng trong phương diện đậm đặc nhất, thô trược nhất, biến phân nhất; một bên được tóm lược trong cung tổng hợp của Bác Ái, còn bên kia được cung bảy tác động lên.
A synthesis too is found in the fact that through the medium of violet the deva and human kingdoms can find a place of contact. Esoterically violet is white. In the blending of these two kingdoms the seven Heavenly Men attain perfection and completeness, and are esoterically considered to be white, the synonym of perfection.
Một sự tổng hợp nữa cũng được thấy trong sự kiện rằng, qua trung gian của màu tím, giới thiên thần và giới nhân loại có thể tìm được một điểm tiếp xúc. Theo nghĩa huyền môn, màu tím là màu trắng. Trong sự hòa trộn của hai giới này, bảy Đấng Thiên Nhân đạt đến sự hoàn hảo và đầy đủ, và theo nghĩa huyền môn được xem là màu trắng, đồng nghĩa của sự hoàn hảo.
Another point of synthesis is the fact that through the dominance of this seventh ray comes a point of merging between the dense physical and the etheric bodies. This is of paramount importance in the macrocosm, and to the student of meditation. It is necessary to effect this merging and alignment before the transmission of the teaching to the dense physical brain can in any way be [222] considered accurate. It has a close bearing upon the alignment of the centres.
Một điểm tổng hợp khác là sự kiện rằng, qua sự thống trị của cung bảy này, xuất hiện một điểm hòa nhập giữa thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Điều này có tầm quan trọng tối thượng trong đại thiên địa, và đối với đạo sinh tham thiền. Cần phải thực hiện sự hòa nhập và sự chỉnh hợp này trước khi việc truyền đạt giáo huấn đến bộ não hồng trần đậm đặc có thể, theo bất kỳ cách nào, được [222] xem là chính xác. Điều này có liên hệ mật thiết đến sự chỉnh hợp của các trung tâm.
I have sought in the above remarks solely to indicate lines of thought which, if followed closely, may lead to surprising results. By the study of colours and the planes, by the study of colour and its effect and relationship to the life side, and by the study of the form side of the mind, will come much of value to the student of meditation, provided always he does three things:
Trong các nhận xét trên, tôi chỉ tìm cách nêu ra những mạch tư tưởng mà, nếu được theo sát, có thể dẫn đến những kết quả đáng kinh ngạc. Nhờ nghiên cứu các màu sắc và các cõi, nhờ nghiên cứu màu sắc và tác dụng cùng mối tương quan của nó đối với phương diện sự sống, và nhờ nghiên cứu phương diện hình tướng của thể trí, sẽ đến với đạo sinh tham thiền nhiều điều có giá trị, miễn là y luôn thực hiện ba điều:
1.That he seeks to find the esoteric colours and their right application to the planes and centres, to the bodies through which he manifests, and to the bodies through which the Logos manifests (the seven sacred planets); to the rounds and to the races, and to the cycles of his own individual life. When he can do this he holds in his hands the key to all knowledge.
1.Rằng y tìm cách tìm ra các màu huyền môn và sự ứng dụng đúng đắn của chúng đối với các cõi và các trung tâm, đối với các thể mà qua đó y biểu lộ, và đối với các thể mà qua đó Thượng đế biểu lộ (bảy hành tinh thiêng liêng); đối với các cuộc tuần hoàn và đối với nhân loại, và đối với các chu kỳ của chính đời sống cá nhân của y. Khi y có thể làm được điều này, y nắm trong tay chìa khóa của mọi tri thức.
2. That he endeavours to make practical application of all indicated truth to his personal life of service in the three worlds, and that he tries to conform in his methods of work to the methods demonstrated by the Logos through the seven rays or influences. By this I mean that, through meditation, he brings his life systematically and in ordered occult cycles under those seven great influences, and so produces an ordered beauty in his manifestation of the Ego.
2. Rằng y cố gắng áp dụng thực tiễn mọi chân lý được chỉ ra vào đời sống phụng sự cá nhân của y trong ba cõi thấp, và rằng y cố gắng tuân theo, trong các phương pháp làm việc của mình, những phương pháp được Thượng đế minh chứng qua bảy cung hay các ảnh hưởng. Ý tôi muốn nói là, qua tham thiền, y đưa đời sống của mình một cách có hệ thống và theo các chu kỳ huyền bí có trật tự vào dưới bảy ảnh hưởng lớn ấy, và như vậy tạo ra một vẻ đẹp có trật tự trong sự biểu lộ của Chân ngã.
3. That he remembers ever that perfection, as we know it, is only partial and not real, and that even perfection itself—as grasped by the mind of man, is but illusion, and that only the next logoic manifestation will reveal the ultimate glory in view. As long as there is differentiated colour there is imperfection. Remember, colour as we know it is the realisation by the man using a fifth root-race body in the fourth round on the fourth chain, of a vibration that contacts the human eye. What then will [223] colour be as visioned by a man of the seventh round in a seventh root-race body? Even then a whole range of colours of wondrous beauty will be outside and beyond his comprehension. The reason being that only two great aspects of logoic life are being thoroughly demonstrated and the third will be but partially revealed, waiting for the still greater “Day be with us” to flash forth in perfect radiance. This word “radiance” has an occult meaning worthy of your consideration.
3. Rằng y luôn nhớ rằng sự hoàn hảo, như chúng ta biết, là chỉ từng phần chứ không thực, và rằng ngay cả chính sự hoàn hảo—như được thể trí con người nắm bắt—cũng chỉ là ảo tưởng, và rằng chỉ sự biểu lộ thượng đế kế tiếp mới sẽ mặc khải vinh quang tối hậu đang được thấy. Chừng nào còn có màu sắc đã biến phân thì còn có bất toàn. Hãy nhớ rằng, màu sắc như chúng ta biết là sự chứng nghiệm của con người đang sử dụng một thể thuộc giống dân gốc thứ năm trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy thứ tư, về một rung động chạm đến mắt người. Vậy thì [223] màu sắc sẽ là gì, như được linh thị bởi một con người của cuộc tuần hoàn thứ bảy trong một thể thuộc giống dân gốc thứ bảy? Ngay cả khi ấy cả một dải màu có vẻ đẹp kỳ diệu vẫn sẽ ở ngoài và vượt quá sự thấu hiểu của y. Lý do là vì chỉ có hai phương diện lớn của sự sống thượng đế đang được minh chứng một cách triệt để, còn phương diện thứ ba chỉ sẽ được mặc khải phần nào, chờ “Ngày hãy ở cùng chúng ta” còn vĩ đại hơn nữa bừng lóe trong quang huy hoàn hảo. Từ “quang huy” này có một ý nghĩa huyền bí đáng để các bạn suy ngẫm.
September 3rd, 1920.
Ngày 3 tháng 9, 1920.
In the steady adherence to the next duty and the planting of the foot firmly on the next step ahead lies the open road to the Master, and the incidental clearing away of all difficulties. In the formulating of high mental concepts, and the expressing of them on the physical plane lies that development of the mental body that permits of an ever greater influx of the life from above. In the stabilising of the emotions, and in the transference of desire from that plane to the buddhic comes the ability to reflect truly the higher point of view. In the disciplined, purified physical body comes the capacity to work out that which the inner man knows. If these three things are attended to, the law can then work and emancipation be hastened. People ask themselves, how does the law work? What is our part in the carrying out of action that sets the law loose in the individual life? Simply adherence, as stated above, to the highest duty and an ordering of the personality life so that that duty may be perfectly achieved.
Trong sự kiên định bền bỉ với bổn phận kế tiếp và đặt bàn chân vững chắc lên bước kế tiếp ở phía trước, chính trong đó có con đường rộng mở dẫn đến Chân sư, và sự dọn sạch tình cờ mọi khó khăn. Trong việc hình thành các khái niệm thượng trí cao và biểu đạt chúng trên cõi hồng trần, chính trong đó có sự phát triển của thể trí, điều cho phép một dòng tuôn vào ngày càng lớn của sự sống từ bên trên. Trong việc ổn định các cảm xúc, và trong việc chuyển dịch dục vọng từ cõi ấy lên cõi Bồ đề, xuất hiện khả năng phản chiếu chân thực quan điểm cao hơn. Trong thể xác được kỷ luật và thanh lọc, xuất hiện năng lực thực hiện điều mà con người bên trong biết. Nếu ba điều này được chú tâm, thì định luật có thể vận hành và sự giải thoát được thúc nhanh. Người ta tự hỏi, định luật vận hành như thế nào? Phần của chúng ta trong việc thực hiện hành động làm cho định luật được giải phóng trong đời sống cá nhân là gì? Chỉ đơn giản là sự tuân thủ, như đã nêu ở trên, đối với bổn phận cao nhất và sự sắp đặt đời sống phàm ngã sao cho bổn phận ấy có thể được hoàn thành một cách hoàn hảo.
The Esoteric and Exoteric colours.—Các màu huyền môn và các màu ngoại môn.
Today our subject is the second one in our letter on the use of colour and deals with the law of correspondences [224] and of colour...... I can only briefly deal with and some of the earlier matter imparted by me on the esoteric colors can be here interpolated.
Hôm nay chủ đề của chúng ta là điều thứ hai trong bức thư của chúng ta về việc sử dụng màu sắc và bàn đến định luật tương ứng [224] và về màu sắc...... Tôi chỉ có thể bàn một cách ngắn gọn và một phần của những vấn đề trước đây do tôi truyền đạt về các màu huyền môn có thể được xen vào đây.
The esoteric meaning of the exoteric colours is not yet wholly imparted, as I have already told you. Some of these meanings have been given out by H.P.B. but their significance has not been sufficiently apprehended. One hint I give for your wise consideration. Some of the information given in The Secret Doctrine anent colour and sound concerns the first solar system and some concerns a portion of the second solar system. The distinction has naturally not been apprehended, but as a key fact for studying in the newer school, the revelation will be great. In this statement as to the esoteric significance of the colours I would have you now tabulate (even though it can be found in The Secret Doctrine), in order to form the basis of such later communications as I may seek to impart.
Ý nghĩa huyền môn của các màu ngoại môn vẫn chưa được truyền đạt hoàn toàn, như tôi đã nói với các bạn. Một số ý nghĩa này đã được Bà H.P.B. công bố nhưng thâm nghĩa của chúng chưa được nắm bắt đầy đủ. Tôi đưa ra một gợi ý để các bạn suy xét một cách minh triết. Một phần thông tin được đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến màu sắc và âm thanh thuộc về hệ mặt trời thứ nhất và một phần thuộc về một bộ phận của hệ mặt trời thứ hai. Sự phân biệt này dĩ nhiên chưa được nắm bắt, nhưng như một sự kiện then chốt để nghiên cứu trong trường phái mới hơn, sự mặc khải sẽ rất lớn lao. Trong phát biểu này về thâm nghĩa huyền môn của các màu sắc, tôi muốn các bạn nay hãy lập bảng (dẫu rằng có thể tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm), nhằm hình thành nền tảng cho những truyền đạt về sau mà tôi có thể tìm cách ban truyền.
Exoteric
Esoteric
Purple
Blue
Yellow
Indigo
Cream
Yellow
White
Violet
Only four as yet can be communicated, but if rightly understood they hold the key to the present fourth round, and to its history. This being the fourth chain and the fourth round you will note therefore how in the number four lies the history of the present. Especially would I urge you who are the teachers and students of the coming generation to ponder upon the significance of white being esoterically violet. It has special application now in the coming in of the violet ray, the seventh ray being one of the three major rays in this round; it wields power in ratio to the four, on the four and under the four.
Hiện nay chỉ có thể truyền đạt bốn điều, nhưng nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng nắm giữ chìa khóa của cuộc tuần hoàn thứ tư hiện tại, và của lịch sử của nó. Vì đây là dãy thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư, nên vì vậy các bạn sẽ lưu ý rằng chính trong số bốn có lịch sử của hiện tại. Đặc biệt, tôi muốn thúc giục các bạn là những huấn sư và đạo sinh của thế hệ sắp đến hãy suy ngẫm về thâm nghĩa của việc màu trắng theo nghĩa huyền môn là màu tím. Điều này có ứng dụng đặc biệt ngay lúc này trong sự đi vào của cung tím, cung bảy là một trong ba cung chính yếu trong cuộc tuần hoàn này; nó vận dụng quyền năng theo tỉ lệ với số bốn, trên số bốn và dưới số bốn.
The esoteric colours of the exoteric red, green and orange may not yet be imparted to the general public, [225] though students and accepted chelas, whose discrimination can be trusted, can attain the necessary knowledge with effort.
Các màu huyền môn của các màu ngoại môn đỏ, lục và cam hiện chưa thể truyền đạt cho công chúng, [225] mặc dù các đạo sinh và các đệ tử được chấp nhận, những người có thể tin cậy vào sự phân biện của họ, có thể đạt được tri thức cần thiết bằng nỗ lực.
I would here like to point out certain other considerations which can be best dealt with by a brief consideration of the law of analogy and correspondence. We might therefore consider the following points:—
Tại đây tôi muốn chỉ ra một số cân nhắc khác, những điều có thể được xử lý tốt nhất bằng một sự xét ngắn gọn về định luật tương đồng và tương ứng. Vì vậy, chúng ta có thể xét các điểm sau:—
a. Wherein the microcosm and the macrocosm correspond.
a. Tiểu thiên địa và đại thiên địa tương ứng ở điểm nào.
B.The basic correspondences.
B.Các tương ứng căn bản.
C.Colour in the microcosm and in the macrocosm.
C.Màu sắc trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.
Let us briefly take up each point, for in the right apprehension of the law lies the ability to think esoterically, and wrest the inner meaning out of the external happenings.
Chúng ta hãy ngắn gọn đề cập từng điểm, vì trong sự nắm bắt đúng đắn định luật này có năng lực tư duy một cách huyền môn, và rút ra ý nghĩa bên trong từ các biến cố bên ngoài.
Microcosmic and macrocosmic correspondence.—Sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.
The relationship between the microcosm and the macrocosm is accurate, and exists not only broadly but likewise in detail. This is a fact to be grasped and worked out. As knowledge increases and progress is made, and as the ability to meditate results in the faculty of transmitting from the higher Triad to the Personality, via the causal, then these facts will be ever more clearly demonstrated in detail, and perfect comprehension will ensue. “As above, so below” is a truism glibly repeated but little realised. What is found above and what will consequently be developing below?
Mối tương quan giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa là chính xác, và tồn tại không chỉ trên bình diện rộng mà còn cả trong chi tiết. Đây là một sự kiện cần được nắm bắt và triển khai. Khi tri thức gia tăng và tiến bộ được thực hiện, và khi khả năng tham thiền đưa đến năng lực truyền đạt từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn xuống Phàm ngã, qua thể nguyên nhân, thì các sự kiện này sẽ ngày càng được minh chứng rõ ràng trong chi tiết, và sự thấu hiểu trọn vẹn sẽ theo sau. “Trên sao, dưới vậy” là một chân lý thường được lặp lại trơn tru nhưng ít được chứng nghiệm. Điều gì được tìm thấy ở bên trên và do đó sẽ đang phát triển ở bên dưới?
Above will be found Will, Love and Activity, or Power, Wisdom and Intelligence, the terms that we apply to the three aspects of divine manifestation. Below will be found these three in process of appearing:—
Ở bên trên sẽ thấy Ý chí, Bác ái và Hoạt động, hay Quyền năng, Minh triết và Trí tuệ, là những thuật ngữ chúng ta áp dụng cho ba phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. Ở bên dưới sẽ thấy ba điều này trong tiến trình xuất hiện:—
a. The Personality expresses active intelligence. [226]
a. Phàm ngã biểu lộ trí tuệ hoạt động. [226]
b. The Ego expresses love or wisdom.
b. Chân ngã biểu lộ bác ái hay minh triết.
c. The Monad expresses power or will.
c. Chân thần biểu lộ quyền năng hay ý chí.
You have in the three worlds of the Personality:—
Các bạn có trong ba cõi của Phàm ngã:—
a. The physical, expressing a reflection of the activity aspect.
a. Cõi hồng trần, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện hoạt động.
b. The astral, expressing a reflection of the love or wisdom aspect.
b. Cõi cảm dục, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện bác ái hay minh triết.
c. The mental, expressing a reflection of the will or power aspect.
c. Cõi trí, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện ý chí hay quyền năng.
What have you for the colours of those three bodies, exoterically described?
Vậy các màu của ba thể ấy, được mô tả theo ngoại môn, là gì?
a. The violet of the physical as expressed by the etheric.
a. Màu tím của thể xác như được biểu lộ bởi thể dĩ thái.
b. The rose or red of the astral.
b. Màu hồng hay đỏ của thể cảm dục.
c. The orange of the mental.
c. Màu cam của thể trí.
What have you in the Triad, or the world of the threefold Ego?
Các bạn có gì trong Tam nguyên tinh thần, hay thế giới của Chân ngã tam phân?
a. Higher manas, expressing the activity or intelligence aspect.
a. Manas thượng, biểu lộ phương diện hoạt động hay trí tuệ.
b. Buddhi, expressing the love or wisdom aspect.
b. Bồ đề, biểu lộ phương diện bác ái hay minh triết.
c. Atma, expressing the will or power aspect.
c. Atma, biểu lộ phương diện ý chí hay quyền năng.
What again are the colours of those bodies exoterically described?
Vậy một lần nữa, các màu của những thể ấy là gì, được mô tả theo ngoại môn?
a. The blue of the higher manasic levels.
a. Màu lam của các cấp độ manas thượng.
b. The yellow of the buddhic level.
b. Màu vàng của cấp độ Bồ đề.
c. The green of the atmic level.
c. Màu lục của cấp độ atma.
They are in the process of transmutation. You have to effect the corresponding change of colour from the lower to the higher. Couple up this information that I have here imparted with that given in an earlier letter on the transference of polarisation.
Chúng đang trong tiến trình chuyển hoá. Các bạn phải thực hiện sự thay đổi màu tương ứng từ thấp lên cao. Hãy kết hợp thông tin mà tôi đã truyền đạt ở đây với điều đã được đưa ra trong một bức thư trước về sự chuyển dịch sự phân cực.
There is a direct correspondence between:—
Có một sự tương ứng trực tiếp giữa:—
a. The violet of the etheric level and the blue of the higher mental. [227]
a. Màu tím của cấp độ dĩ thái và màu lam của thượng trí. [227]
b. The rose of the astral and the yellow of the buddhic.
b. Màu hồng của thể cảm dục và màu vàng của cõi Bồ đề.
c. The orange of the mental and the green of the atmic.
c. Màu cam của thể trí và màu lục của cõi atma.
The secret of it all is to be found in the application of the occult laws of meditation.
Bí mật của toàn bộ điều này được tìm thấy trong sự ứng dụng các định luật huyền bí của tham thiền.
Again you can shift the whole range of colour higher, and in the Monad work out the correspondence.
Một lần nữa, các bạn có thể chuyển toàn bộ dải màu lên cao hơn, và trong Chân thần triển khai sự tương ứng.
a. The green of the third aspect.
a. Màu lục của phương diện thứ ba.
b. The synthetic blue or indigo of the second aspect.
b. Màu lam tổng hợp hay màu chàm của phương diện thứ hai.
c. The red of the first aspect.
c. Màu đỏ của phương diện thứ nhất.
I would point out here that as you return to the centre of systemic evolution the nomenclature of these colours is most misleading. The red, for instance, has no resemblance to that termed red or rose on the lower plane. The red, the green and the indigo of these high levels are to all intents and purposes new colours of a beauty and translucence inconceivable. If justly interpreted, you have here a hint of the correspondence between the microcosm and the macrocosm.
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi các bạn trở về trung tâm của tiến hoá hệ thống, cách gọi tên các màu này là hết sức gây hiểu lầm. Chẳng hạn, màu đỏ hoàn toàn không giống với thứ được gọi là đỏ hay hồng ở cõi thấp. Màu đỏ, màu lục và màu chàm của các cấp độ cao này, xét theo mọi mục đích thực tiễn, là những màu mới, có vẻ đẹp và độ trong suốt không thể tưởng tượng. Nếu được diễn giải đúng đắn, các bạn có ở đây một gợi ý về sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.
The colours exoterically have to do with the form. The forces or qualities which those colours conceal and hide have to do with the life, evolving within those forms. By the use of meditation the bridge is formed which connects these two. Meditation is the expression of the intelligence that links life and form, the self and the not-self, and in time and in the three worlds the process of this connection eventuates on the plane of mind which links the higher and the lower. The correspondence will always be found perfect. Therefore through meditation will come that knowledge which will effect three things:—
Các màu theo ngoại môn liên quan đến hình tướng. Các mãnh lực hay phẩm tính mà những màu ấy che giấu và ẩn tàng liên quan đến sự sống đang tiến hoá bên trong các hình tướng ấy. Nhờ sử dụng tham thiền, cây cầu được hình thành nối kết hai điều này. Tham thiền là sự biểu lộ của trí tuệ nối kết sự sống và hình tướng, cái ngã và cái phi-ngã, và theo thời gian, trong ba cõi thấp, tiến trình nối kết này đưa đến kết quả trên cõi trí, nơi nối kết cái cao và cái thấp. Sự tương ứng sẽ luôn luôn hoàn hảo. Vì vậy, qua tham thiền sẽ đến tri thức có thể thực hiện ba điều:—
1. Give the inner significance of the exoteric colour.
1. Trao cho thâm nghĩa bên trong của màu ngoại môn.
2. Build in the qualities that those colours veil. [228]
2. Xây dựng các phẩm tính mà những màu ấy che phủ. [228]
3. Effect the necessary transmutation of the colours from the Personality to the Triad, and later from the Triad to the Monad.
3. Thực hiện sự chuyển hoá cần thiết của các màu từ Phàm ngã lên Tam nguyên tinh thần, và về sau từ Tam nguyên tinh thần lên Chân thần.
The causal body acts as a synthesis of these colours in the life of the reincarnating Ego, just as the synthetic ray blends all the colours in logoic manifestation. Endeavour to keep clear in your own mind......that colours are the expressions of force or quality. They hide or veil the abstract qualities of the Logos, which qualities are reflected in the microcosm in the three worlds as virtues or faculties. Therefore, just as the seven colours hide qualities in the Logos, so these virtues demonstrate in the life of the personality and are brought forward objectively through the practice of meditation; thus each life will be seen as corresponding to a colour. Ponder on this.
Thể nguyên nhân hoạt động như một sự tổng hợp của các màu sắc này trong đời sống của chân ngã tái sinh, cũng như cung tổng hợp hòa trộn mọi màu sắc trong sự biểu hiện của Thượng đế. Hãy cố gắng giữ cho rõ ràng trong chính thể trí của các bạn......rằng màu sắc là những biểu hiện của mãnh lực hay phẩm tính. Chúng che giấu hay che phủ các phẩm tính trừu tượng của Thượng đế, và các phẩm tính ấy được phản chiếu trong tiểu thiên địa, trong ba cõi giới, như các đức hạnh hay năng lực. Vì vậy, cũng như bảy màu sắc che giấu các phẩm tính trong Thượng đế, thì các đức hạnh này biểu lộ trong đời sống của phàm ngã và được đưa ra một cách khách quan qua việc thực hành tham thiền; do đó, mỗi đời sống sẽ được thấy là tương ứng với một màu sắc. Hãy suy ngẫm về điều này.
The basic correspondences.—Các tương ứng căn bản.
It is in the study of these correspondences in the different departments of the manifested universe, and the application of these colours to their adjusted portion that the beauty of the synthetic whole and the illuminating of the microcosmic life ensues. Let us enumerate or tabulate in broad general fashion, leaving the detailed working out to the student of meditation. More at this juncture is not possible.
Chính trong việc nghiên cứu các tương ứng này trong những bộ phận khác nhau của vũ trụ biểu hiện, và trong việc áp dụng các màu sắc này vào phần đã được điều chỉnh của chúng, mà vẻ đẹp của toàn thể tổng hợp và sự soi sáng đời sống tiểu thiên địa sẽ theo sau. Chúng ta hãy liệt kê hay lập bảng theo cách khái quát rộng, để việc triển khai chi tiết lại cho đạo sinh tham thiền. Ở giai đoạn này, không thể nói nhiều hơn.
1. The threefold solar system.
1. Hệ mặt trời tam phân.
The threefold evolving jiva.
Jiva tiến hoá tam phân.
The three aspects of the Logos.
Ba phương diện của Thượng đế.
The threefold Monad.
Chân thần tam phân.
The spiritual Triad, the Ego.
Tam Nguyên Tinh Thần, chân ngã.
The threefold Personality.
Phàm ngã tam phân.
The three worlds of human evolution.
Ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.
The three persons of the Deity. [229]
Ba Ngôi của Thượng đế. [229]
2. The four Lipika Lords.
2. Bốn Đấng Lipika.
The four Maharajahs.
Bốn Maharajah.
The fourfold lower man, the quaternary.
Phàm nhân tứ phân, bộ tứ.
3. The five planes of human evolution.
3. Năm cõi của tiến hoá nhân loại.
The five senses.
Năm giác quan.
The fivefold department of the Mahachohan.
Bộ phận ngũ phân của Đức Mahachohan.
The five kingdoms of nature.
Năm giới của bản chất.
a. The mineral kingdom.
a. Giới kim thạch.
b. The vegetable kingdom.
b. Giới thực vật.
c. The animal kingdom.
c. Giới động vật.
d. The human kingdom.
d. Giới nhân loại.
e. The spiritual or superhuman kingdom.
e. Giới tinh thần hay siêu nhân loại.
The fifth principle of manas.
Nguyên khí thứ năm của manas.
4. The seven rays or hierarchies.
4. Bảy cung hay các Huyền Giai.
The seven colours.
Bảy màu sắc.
The seven planes of manifestation.
Bảy cõi của sự biểu hiện.
The seven Kumaras.
Bảy Kumara.
The seven principles of man.
Bảy nguyên khí của con người.
The seven centres.
Bảy trung tâm.
The seven sacred planets.
Bảy hành tinh thiêng liêng.
The seven chains.
Bảy dãy.
The seven globes.
Bảy bầu hành tinh.
The seven rounds.
Bảy cuộc tuần hoàn.
The seven root-races and subraces.
Bảy giống dân gốc và các giống dân phụ.
The seven initiations.
Bảy lần điểm đạo.
What I seek to emphasise in the above table is that to the adept the correspondence of all these is perfectly known and exists in terms of consciousness, in terms of form, and in terms of intelligence. He knows it,—if I may so express it,—in terms of colour when dealing with form; in terms of sound when dealing with the life side, and in terms of vitality when dealing with intelligence, or the activity aspect. The above statement will repay much [230] earnest thought; it contains a statement of occult fact. According to the three lines of approach as dealt with in our preceding letter, will be the use of the terms as above described.
Điều Tôi tìm cách nhấn mạnh trong bảng trên là: đối với chân sư, sự tương ứng của tất cả những điều này được biết một cách hoàn hảo và tồn tại theo các thuật ngữ của tâm thức, theo các thuật ngữ của hình tướng, và theo các thuật ngữ của trí tuệ. Ngài biết điều đó,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—theo các thuật ngữ của màu sắc khi bàn về hình tướng; theo các thuật ngữ của âm thanh khi bàn về phương diện sự sống, và theo các thuật ngữ của sinh lực khi bàn về trí tuệ, hay phương diện hoạt động. Mệnh đề trên sẽ đền đáp bằng nhiều [230] suy tư nghiêm túc; nó chứa đựng một phát biểu về sự kiện huyền bí. Tùy theo ba tuyến tiếp cận như đã được bàn đến trong thư trước của chúng ta, mà việc dùng các thuật ngữ sẽ như đã mô tả ở trên.
Colour in the microcosm and in the macrocosm.—Màu sắc trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.
Here lies much of difficulty owing to the process of constant mutation. Colour in the microcosm is subject to the following factors:—
Ở đây có nhiều khó khăn do tiến trình biến đổi không ngừng. Màu sắc trong tiểu thiên địa chịu tác động bởi các yếu tố sau:—
1. The factor of the ray of the Ego.
1. Yếu tố của cung chân ngã.
2. The factor of the ray of the Personality.
2. Yếu tố của cung phàm ngã.
3. The factor of the point in evolution.
3. Yếu tố của điểm tiến hoá.
One hint may here be given. At a low point in evolution the colours are largely based on the activity aspect. Later comes the working in the love, or wisdom aspect, which has three effects:—
Ở đây có thể đưa ra một gợi ý. Ở một điểm tiến hoá thấp, các màu sắc phần lớn dựa trên phương diện hoạt động. Về sau mới đến sự vận hành trong phương diện bác ái, hay minh triết, và điều này có ba tác dụng:—
a. The dropping out of colours from the lower sheaths which are the left-overs from a previous system. It involves the elimination of such hues as brown and gray.
a. Sự rơi rụng các màu sắc khỏi những vỏ bọc thấp, vốn là phần dư từ một hệ thống trước. Điều này bao hàm việc loại bỏ những sắc độ như nâu và xám.
b. The transmutation of certain colours into those of higher tone.
b. Sự chuyển hoá một số màu sắc thành những màu có âm sắc cao hơn.
c. An effect of translucence, or an underlying radiance or brilliance, which is the result of the greater purity of the bodies and the dimensions of the ever-growing inner flame.
c. Một hiệu ứng trong suốt, hay một ánh rạng ngầm bên dưới, là kết quả của sự thanh khiết lớn hơn của các thể và của kích thước của ngọn lửa nội tại ngày càng tăng.
4. The factor of the ray, or rays, that are manifested passing out of manifestation or coming into manifestation. These rays necessarily affect the egos in incarnation; they cause a change of vibration somewhat or a consequent change of colouring or of quality. If a man, for instance, is on the Ray of Science, and comes under the influence of the incoming Ray of Harmony, the effect on his trend of thought, and consequently on the colour he [231] will be demonstrating, will be quite noticeable. All these factors cause the blending and merging and mixing that is practically inextricably confusing to the man from the standpoint of the three worlds.
4. Yếu tố của cung, hay các cung, đang biểu hiện, đang rời khỏi sự biểu hiện hoặc đang đi vào sự biểu hiện. Các cung này tất yếu tác động đến các chân ngã đang lâm phàm; chúng gây ra một sự thay đổi rung động đôi chút, hay một sự thay đổi màu sắc hoặc phẩm tính theo sau. Chẳng hạn, nếu một người thuộc Cung Khoa Học, và chịu ảnh hưởng của Cung Hòa Hợp đang đi vào, thì tác động lên khuynh hướng tư tưởng của y, và do đó lên màu sắc mà y [231] sẽ biểu lộ, sẽ khá rõ rệt. Tất cả các yếu tố này gây ra sự hòa trộn, dung hợp và pha lẫn, khiến cho đối với con người, xét từ quan điểm của ba cõi giới, gần như rối rắm không thể gỡ.
......I appreciate your feeling that even these hints but lead apparently to greater confusion. But by constant application to the subject in hand, by frequent brooding and meditation on the colours, and by an endeavor to attain their esoteric significance, and their microcosmic application, will gradually appear the thread that will lead the student out of his confusion into the clear light of perfect knowledge. Have, therefore, courage, a broad elasticity of view, and an ability to reserve opinion until further facts are demonstrated, and also an avoidance of dogmatic assertion. These will be your best guides in the early days of your search. Many have, through meditation and a receptiveness to the higher teaching, found their way out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. Only in the Hall of Wisdom can the esoteric interpretation of the colours be truly known. That Hall is entered through the meditation which prepares the student for that initiation which opens to him the door. Therefore, hold fast to meditation and falter not in purpose.
......Tôi thấu hiểu cảm giác của các bạn rằng ngay cả những gợi ý này dường như cũng chỉ dẫn đến sự rối rắm lớn hơn. Nhưng nhờ sự áp dụng liên tục vào chủ đề đang bàn, nhờ thường xuyên trầm tư và tham thiền về các màu sắc, và nhờ nỗ lực đạt đến thâm nghĩa nội môn của chúng, cùng sự ứng dụng trong tiểu thiên địa của chúng, sợi chỉ sẽ dần dần hiện ra để dẫn đạo sinh ra khỏi sự rối rắm của mình vào ánh sáng rõ ràng của tri thức hoàn hảo. Vì vậy, hãy có can đảm, một sự linh hoạt rộng rãi trong tầm nhìn, và khả năng hoãn phán đoán cho đến khi các sự kiện khác được chứng minh, đồng thời tránh sự khẳng định giáo điều. Đó sẽ là những người hướng dẫn tốt nhất của các bạn trong những ngày đầu tìm kiếm. Nhiều người, nhờ tham thiền và nhờ tính tiếp nhận đối với giáo huấn cao hơn, đã tìm được đường ra khỏi Phòng Hiểu Biết để vào Phòng Minh triết. Chỉ trong Phòng Minh triết, sự diễn giải nội môn về các màu sắc mới có thể được biết một cách chân thực. Phòng ấy được bước vào qua tham thiền, vốn chuẩn bị đạo sinh cho lần điểm đạo mở cho y cánh cửa. Vì vậy, hãy nắm chặt lấy tham thiền và đừng chùn bước trong mục đích.
September 4th, 1920.
Ngày 4 tháng 9, 1920.
We have for discussion today, something of real spiritual application in a practical sense. Much that I have imparted to you has provided food for thought and for speculation. It tends to the development of the higher mind and by stimulation of imagination it somewhat develops the intuition. Much of it has been in the nature of prophecy, and of the holding forth of an ideal some day to be attained. Only by pointing out the goal and by emphasising that point will man be induced to make the [232] necessary effort and thereby approximate in some measure the desired position. But today we come down to practical living and the imposing upon the personality of a certain rate of rhythm. We do this in our study of the third point upon the effect of colour:—
Hôm nay, chúng ta sẽ thảo luận một điều có ứng dụng tinh thần thực sự theo nghĩa thực tiễn. Nhiều điều Tôi đã truyền đạt cho các bạn đã cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm và để suy đoán. Nó có khuynh hướng phát triển thượng trí và, nhờ kích thích sự tưởng tượng, phần nào phát triển trực giác. Phần lớn trong đó mang tính tiên tri, và là việc nêu ra một lý tưởng nào đó sẽ đạt được vào một ngày kia. Chỉ bằng cách chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh điểm ấy, con người mới được thúc đẩy để thực hiện [232] nỗ lực cần thiết và nhờ đó tiến gần, ở một mức độ nào đó, đến vị thế mong muốn. Nhưng hôm nay chúng ta đi xuống đời sống thực tiễn và áp đặt lên phàm ngã một nhịp điệu ở một tốc độ nhất định. Chúng ta làm điều này trong việc nghiên cứu điểm thứ ba về tác động của màu sắc:—
a. On the bodies of the student.
a. Trên các thể của đạo sinh.
b. On the groups with which he is affiliated.
b. Trên các nhóm mà y liên hệ.
c. On his environment.
c. Trên môi trường của y.
The point I seek specially to emphasise is the life side and not the form side of colour. As I wrote earlier, colour is but the form assumed by force, of some kind, when that force is moving at a certain measure, and when its action and movement is impeded or unimpeded by the material through which it plays. In this sentence lies the key to the solution of the problem as to the colour differences on the higher planes and on the lower. The resistance of matter to the downflow of force or life, and its relative density or rarity accounts for much of the colour distinction. One of the distinctions has, necessarily, a cosmic basis and is consequently difficult of apprehension by three-dimensional man in this, the fourth round. But the basic reason of the difference can be apprehended sufficiently to permit the pupil to realise the absolute necessity of steadily refining his vehicles so that the force may radiate through with greater facility. It is therefore on the three lower planes a question of practical living and a bringing of all the three bodies under edict rules of refinement.
Điểm Tôi đặc biệt tìm cách nhấn mạnh là phương diện sự sống chứ không phải phương diện hình tướng của màu sắc. Như Tôi đã viết trước đây, màu sắc chỉ là hình tướng mà mãnh lực, thuộc một loại nào đó, khoác lấy khi mãnh lực ấy đang chuyển động theo một mức độ nhất định, và khi hành động cùng chuyển động của nó bị cản trở hay không bị cản trở bởi vật chất mà qua đó nó vận hành. Chính trong câu này có chìa khóa để giải quyết vấn đề về sự khác biệt màu sắc trên các cõi cao và trên các cõi thấp. Sự kháng cự của vật chất đối với dòng chảy xuống của mãnh lực hay sự sống, và mật độ hay độ thưa tương đối của nó, giải thích phần lớn sự phân biệt màu sắc. Một trong các sự phân biệt ấy tất nhiên có cơ sở vũ trụ và vì vậy khó được con người ba chiều trong cuộc tuần hoàn thứ tư này nắm bắt. Nhưng lý do căn bản của sự khác biệt có thể được nắm bắt đủ để cho phép môn sinh nhận ra sự cần thiết tuyệt đối của việc đều đặn tinh luyện các vận cụ của mình để mãnh lực có thể bức xạ xuyên qua dễ dàng hơn. Vì vậy, trên ba cõi thấp, đó là vấn đề của đời sống thực tiễn và việc đưa cả ba thể dưới những quy luật nghiêm ngặt của sự tinh luyện.
These forces in terms of spiritual development, and not so much in terms of form, demonstrate through the virtues, as you call them, through magnetism and through vitality and intelligence. To put it quite briefly, as the student builds a pure physical body and a refined etheric, as he develops the emotional virtues and as he co-ordinates [233] and enlarges his mental body, he is continuously altering its rate of vibration, and changing its rhythm, which change demonstrates to the eye of the clairvoyant as mutation in colour. As you have been taught, the colours as seen in the aura of a savage and in those of the average developed man are extraordinarily dissimilar. Why? Because one is moving or vibrating at a slow rate and the other with greatly increased rapidity. One has a rhythm slow, sluggish and heavy, the other is pulsating and moving with a tremendous velocity permitting consequently a more rapid play of the material of which those bodies are constructed.
Các mãnh lực này, xét theo sự phát triển tinh thần, và không hẳn theo hình tướng, biểu lộ qua các đức hạnh, như các bạn gọi, qua từ điện và qua sinh lực cùng trí tuệ. Nói thật ngắn gọn, khi đạo sinh xây dựng một thể xác thanh khiết và một thể dĩ thái tinh luyện, khi y phát triển các đức hạnh cảm dục và khi y phối hợp [233] và mở rộng thể trí của mình, y đang liên tục thay đổi tốc độ rung động của nó, và đổi nhịp điệu của nó; sự thay đổi ấy được mắt của nhà thông nhãn thấy như sự biến đổi trong màu sắc. Như các bạn đã được dạy, các màu sắc thấy trong hào quang của một người man dã và trong hào quang của người phát triển trung bình khác nhau một cách phi thường. Vì sao? Bởi một người đang chuyển động hay rung động ở tốc độ chậm, còn người kia với tốc độ tăng nhanh rất nhiều. Một người có nhịp điệu chậm, ì ạch và nặng nề; người kia đang đập nhịp và chuyển động với một vận tốc khổng lồ, do đó cho phép vật chất cấu tạo nên các thể ấy vận hành nhanh hơn.
Therefore, I would like to point out that as the race progresses as a collective unit, Those Who gaze upon it from a higher plane are aware of the steady improvement in the colours seen, and of a greater purity and clarity of hue in the aura of the race, which aura is composed of the composite auras of the units of the race. For instance, the aura of the Atlantean root-race and that of the Aryan are widely diverse, and radically different. We have, therefore, demonstrated our first point that, as the units evolve, the colours change and this is brought about by the transmutation of what you term vices, into virtues. A vice is dominance of an involutional quality of the same force which at a later period will show forth as a virtue.
Vì vậy, Tôi muốn chỉ ra rằng khi nhân loại tiến bộ như một đơn vị tập thể, Các Đấng nhìn nó từ một cõi cao hơn nhận biết sự cải thiện đều đặn trong các màu sắc được thấy, và một sự thanh khiết cùng trong sáng lớn hơn của sắc độ trong hào quang của nhân loại; hào quang ấy được cấu thành bởi các hào quang hợp thành của các đơn vị trong nhân loại. Chẳng hạn, hào quang của Giống dân gốc Atlantis và của Arya khác nhau rất xa và khác biệt một cách triệt để. Vì vậy, chúng ta đã chứng minh điểm thứ nhất rằng, khi các đơn vị tiến hoá, các màu sắc thay đổi, và điều này được tạo ra bởi sự chuyển hoá điều các bạn gọi là thói xấu thành đức hạnh. Một thói xấu là sự thống trị của một phẩm tính giáng hạ tiến hoá của cùng một mãnh lực mà về sau sẽ biểu lộ như một đức hạnh.
The second point I seek to make is that these influences (which show forth as colours when they contact matter) move in their own ordered cycles. These cycles we describe as the coming in or the going out of a ray. In this fourth round usually four rays are in flux at any one given time; by this I seek to impress upon you that though all rays manifest in the solar system, at certain stages of manifestation more or less of them will be dominating simultaneously. These rays, forces, influences, or [234] co-ordinations of qualities, when expressed in terms of light, colour the matters they impinge upon with certain recognisable hues, and these give the tone to the life of the personality or to the Ego. They are recognized by you as the composite character and are seen by the clairvoyant as colour.
Điểm thứ hai Tôi muốn nêu là các ảnh hưởng này (biểu lộ như màu sắc khi chúng tiếp xúc với vật chất) vận hành theo các chu kỳ có trật tự riêng của chúng. Chúng ta mô tả các chu kỳ này như sự đi vào hay đi ra của một cung. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thường có bốn cung đang lưu chuyển tại bất kỳ thời điểm nào; qua đó Tôi muốn khắc sâu vào các bạn rằng tuy mọi cung đều biểu hiện trong hệ mặt trời, nhưng ở những giai đoạn biểu hiện nhất định, nhiều hay ít cung sẽ đồng thời chi phối. Các cung, mãnh lực, ảnh hưởng, hay [234] sự phối hợp các phẩm tính này, khi được diễn đạt theo các thuật ngữ của ánh sáng, sẽ nhuộm màu các vật chất mà chúng tác động vào bằng những sắc độ có thể nhận ra, và những sắc độ ấy tạo âm sắc cho đời sống của phàm ngã hay của chân ngã. Các bạn nhận biết chúng như tính cách tổng hợp và nhà thông nhãn thấy chúng như màu sắc.
Groups, therefore, of units who converge through similarity of vibration will be seen as having approximately the same basic hue, though with many lesser differentiations in colour and tone. As stated before, the colour of large masses of people can be gauged and judged. It is in this way that the members of the Hierarchy in Whose Hands is placed evolutionary development in the three worlds, judge of the stage attained and the progress made.
Vì vậy, các nhóm đơn vị hội tụ do sự tương đồng rung động sẽ được thấy là có xấp xỉ cùng một sắc độ căn bản, dù có nhiều phân hoá nhỏ hơn về màu và âm sắc. Như đã nói trước, màu sắc của những khối người lớn có thể được ước lượng và phán đoán. Chính theo cách này mà các thành viên của Thánh Đoàn, trong Tay Các Ngài đặt sự phát triển tiến hoá trong ba cõi giới, phán đoán giai đoạn đã đạt và tiến bộ đã thực hiện.
Different rays come in bearing units coloured by that ray. Other rags12 pass out carrying with them units of a different basic hue. In the period of transition the blending of colour is of deep complexity, but of mutual helpfulness and benefit. Each ray imparts somewhat to the other rays in incarnation at the same time, and the rate of rhythm will be slightly affected. This from the standpoint of the present and of time in the three worlds, may be almost inappreciably small, but through the frequent meeting and interplay of the forces and colours, and their constant action and interaction upon each other, will come a steady, general levelling up, and an approximation in vibration. You will see, therefore, how synthesis is achieved at the end of a greater maha-manvantara. The three rays absorb the seven and lead eventually to a merging in the synthetic ray.
Những cung khác nhau đi vào, mang theo các đơn vị được nhuộm màu bởi cung ấy. Những cung khác đi ra, mang theo các đơn vị có sắc độ căn bản khác. Trong thời kỳ chuyển tiếp, sự hòa trộn màu sắc có độ phức tạp sâu xa, nhưng đem lại sự trợ giúp và lợi ích lẫn nhau. Mỗi cung truyền đạt đôi chút cho các cung khác đang lâm phàm cùng lúc, và tốc độ nhịp điệu sẽ bị ảnh hưởng nhẹ. Xét từ quan điểm hiện tại và thời gian trong ba cõi giới, điều này có thể nhỏ đến mức hầu như không nhận ra, nhưng qua sự gặp gỡ thường xuyên và sự tương tác của các mãnh lực và màu sắc, cùng hành động và phản ứng liên tục của chúng lên nhau, sẽ đến một sự nâng lên đều đặn, tổng quát, và một sự xích lại gần nhau về rung động. Vì vậy, các bạn sẽ thấy sự tổng hợp được đạt thành như thế nào vào cuối một Đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn. Ba cung hấp thụ bảy cung và cuối cùng dẫn đến sự dung hợp vào cung tổng hợp.
In the microcosm the three rays of the Monad, the Ego, and the Personality will likewise dominate and absorb the seven, and in time also lead to a merging in the [235] synthetic ray of the Monad. The correspondence will be found perfect.
Trong tiểu thiên địa, ba cung của chân thần, chân ngã và phàm ngã cũng sẽ chi phối và hấp thụ bảy cung, và theo thời gian cũng dẫn đến sự dung hợp vào [235] cung tổng hợp của chân thần. Sự tương ứng sẽ được thấy là hoàn hảo.
These forces, or virtues, or influences (I reiterate synonymous terms because of the need of clear thinking on your part) are gradually received into the bodies of the personality with ever greater facility and fuller expression. As the bodies are refined they provide better mediums for incoming forces, and the quality of any particular force,—or, to reverse it, the force of any particular quality—becomes more perfectly expressed. Here comes in the work of the student in meditation. Early in evolution these forces played through and on the bodies of a man with little understanding on his part, and small ability to profit thereby. But as time proceeds, he comprehends more and more the value of all that eventuates, and seeks to profit by the sum of the qualities of his life. Herein comes opportunity. In the intelligent apprehension of quality, in the striving after virtue, and in the building-in of God-like attribute, comes response to those forces and a facilitating of their action. The student of meditation ponders on those forces or qualities, he seeks to extract their essence, and to comprehend their spiritual significance; he broods on his own lack of response, he realises the deficiencies in his vehicle as a medium for those forces; he studies the rate of his rhythmic vibration, and he strenuously endeavors to bend every opportunity to meet the need. He concentrates on the virtue, and (if he is so situated that he is aware of the incoming ray or of the ray in dominance at that time), he avails himself of the hour of opportunity and co-operates with the force extant. All this he does through the ordered forms of the true and occult meditation.
Các mãnh lực này, hay các đức hạnh, hay các ảnh hưởng (Tôi nhắc lại các thuật ngữ đồng nghĩa vì các bạn cần tư duy rõ ràng) dần dần được tiếp nhận vào các thể của phàm ngã với sự dễ dàng ngày càng lớn và sự biểu lộ đầy đủ hơn. Khi các thể được tinh luyện, chúng cung cấp những môi trường tốt hơn cho các mãnh lực đi vào, và phẩm tính của bất kỳ mãnh lực đặc thù nào,—hoặc, đảo lại, mãnh lực của bất kỳ phẩm tính đặc thù nào—được biểu lộ hoàn hảo hơn. Ở đây xuất hiện công việc của đạo sinh trong tham thiền. Thuở đầu tiến hoá, các mãnh lực này vận hành xuyên qua và tác động lên các thể của một người với rất ít sự thấu hiểu từ phía y, và rất ít khả năng để hưởng lợi nhờ đó. Nhưng khi thời gian trôi qua, y ngày càng thấu hiểu giá trị của mọi điều xảy đến, và tìm cách hưởng lợi từ tổng số các phẩm tính của đời sống mình. Ở đây xuất hiện cơ hội. Trong sự nắm bắt trí tuệ về phẩm tính, trong sự nỗ lực hướng đến đức hạnh, và trong việc xây dựng các thuộc tính giống Thượng đế vào trong mình, xuất hiện sự đáp ứng đối với các mãnh lực ấy và sự tạo thuận lợi cho hành động của chúng. Đạo sinh tham thiền suy ngẫm về các mãnh lực hay phẩm tính ấy; y tìm cách rút ra tinh chất của chúng và thấu hiểu thâm nghĩa tinh thần của chúng; y trầm tư về sự thiếu đáp ứng của chính mình; y nhận ra những khiếm khuyết trong vận cụ của mình như một môi trường cho các mãnh lực ấy; y nghiên cứu tốc độ rung động nhịp điệu của mình, và y nỗ lực mạnh mẽ uốn mọi cơ hội để đáp ứng nhu cầu. Y tập trung vào đức hạnh, và (nếu y ở trong hoàn cảnh khiến y nhận biết cung đang đi vào hay cung đang chi phối vào lúc ấy), y tận dụng giờ cơ hội và hợp tác với mãnh lực hiện hữu. Tất cả điều này y thực hiện qua các hình thức có trật tự của tham thiền chân chính và huyền bí.
As time progresses—yes, again I prophesy—occult students will be given certain facts anent the dominating [236] rays which will enable them to avail themselves of the opportunity any particular ray affords.
Khi thời gian trôi qua—vâng, một lần nữa Tôi tiên tri—các đạo sinh huyền bí sẽ được ban cho một số sự kiện nhất định liên quan đến các cung chi phối [236] sẽ giúp họ biết tận dụng cơ hội mà bất kỳ cung đặc thù nào mang lại.
Effect on the Environment.—Tác động lên môi trường.
As regards our third point, the effect of all the above on the environment, it will be obvious at once to the careful student that the effect upon the environment will be noticeable, especially as more and more of the human race come under the conscious control of their higher self and in line with the law. Certain things will then be possible:—
Về điểm thứ ba của chúng ta, tác động của tất cả những điều trên lên môi trường, đối với đạo sinh cẩn trọng thì sẽ hiển nhiên ngay rằng tác động lên môi trường sẽ trở nên đáng nhận thấy, đặc biệt khi ngày càng nhiều nhân loại đặt mình dưới sự kiểm soát có ý thức của chân ngã và phù hợp với định luật. Khi ấy, một số điều sẽ trở nên khả dĩ:—
a. Direct contact with the deva or angel evolution will come about, though it is impossible now through instability of vibration.
a. Sẽ xảy ra sự tiếp xúc trực tiếp với tiến hoá thiên thần hay deva, mặc dù hiện nay điều đó là bất khả do sự bất ổn của rung động.
b. Many very highly developed souls will come in who are at present hindered by the low rate of vibration and consequent heaviness of colour of the majority of the human race. There are, in the heaven world and on the causal level, some great, and, to you, incomprehensible units of the fourth Creative Hierarchy, awaiting opportunity of expression, just as some of you awaited a period in the Atlantean race before taking incarnation on this planet. When the rate of the vibration of a larger percentage of the race has reached a certain measure, and when the colour aspect of the co-ordinated auras of the groups is of a certain tone, they will return, and bring to the earth much of value past your realisation.
b. Nhiều linh hồn rất phát triển sẽ nhập thế, những vị hiện đang bị cản trở bởi nhịp độ rung động thấp và vì thế sắc màu nặng nề của đa số nhân loại. Trong cõi thiên và ở cấp độ nguyên nhân, có một số đơn vị vĩ đại—và đối với các bạn là không thể hiểu nổi—thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, đang chờ cơ hội biểu lộ, cũng như một số bạn đã từng chờ một giai đoạn trong nhân loại Atlantis trước khi nhập thể trên hành tinh này. Khi nhịp độ rung động của một tỷ lệ lớn hơn trong nhân loại đạt đến một mức độ nhất định, và khi phương diện sắc màu của các noãn hào quang đã được phối hợp của các nhóm có một âm sắc nhất định, họ sẽ trở lại và mang đến cho Trái Đất nhiều điều giá trị vượt quá sự chứng nghiệm của các bạn.
c. Another interesting point upon which we have not time to dwell is that the rhythmic effect on even the two kingdoms beneath the human will be objectively demonstrable. It was no idle boast of the prophet of Israel when he said “The leopard shall lie down with the lamb” or that “the desert shall blossom like a rose”. It will be [237] brought about by the domination of certain vibrations and the bringing in of certain colours veiling certain virtues or influences.
c. Một điểm thú vị khác mà chúng ta không có thời gian để bàn sâu là tác động nhịp điệu ngay cả lên hai giới bên dưới giới nhân loại sẽ có thể được chứng minh một cách khách quan. Đó không phải là lời khoe khoang suông của vị tiên tri Israel khi ông nói “báo sẽ nằm xuống với chiên con”, hoặc rằng “sa mạc sẽ nở hoa như hoa hồng”. Điều đó sẽ được [237] tạo nên bởi sự chi phối của một số rung động nhất định và việc đưa vào một số sắc màu nhất định che phủ một số đức hạnh hay ảnh hưởng nhất định.
September 7th, 1920.
Ngày 7 tháng 9, 1920.
Today we will take up the subject of the application of colour. If colours are but the veil cast over an influence, and if you can, by use of the intuition, find out which colours thus shroud a virtue you have the key to the matter in hand. You will have noted two facts that stand out in these letters:—
Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề về sự ứng dụng màu sắc. Nếu màu sắc chỉ là tấm màn phủ lên một ảnh hưởng, và nếu các bạn có thể, bằng việc sử dụng trực giác, tìm ra những màu sắc nào như thế che phủ một đức hạnh, thì các bạn nắm được chìa khoá của vấn đề đang xét. Các bạn hẳn đã ghi nhận hai sự kiện nổi bật trong những bức thư này:—
That the subject touched upon is so vast that only its outline has in any way been attempted.
Rằng chủ đề được chạm đến quá bao la đến nỗi chỉ mới cố gắng phác hoạ dàn ý theo một cách nào đó.
That each sentence written in these letters aims at an exact impartation of a complete thought and is full of matter for consideration. Why have I not dealt with the matter in greater detail, and why have I not entered into lengthy explanations and sought to expand the sentences into paragraphs? For the sole reason that if the preliminary work has been done in the meditation of the past years by the student he will find the material of these letters conducive to the development of abstract thought, and to the widening of the channel that communicates with the intuition. I but seek to be suggestive. My aim is but to indicate. The usefulness of the teaching I give depends upon the intuition of the pupil. Therefore, when I say that colour has certain effects when applied I would warn you that it will be necessary to interpret the above in terms of life, in terms of form, and in terms of mind.
Rằng mỗi câu được viết trong những bức thư này nhắm đến việc truyền đạt chính xác một tư tưởng trọn vẹn và đầy nhiều điều đáng suy ngẫm. Vì sao Tôi không bàn đến vấn đề một cách chi tiết hơn, và vì sao Tôi không đi vào những giải thích dài dòng và tìm cách mở rộng các câu thành các đoạn? Chỉ vì một lý do duy nhất: nếu công việc sơ bộ đã được đạo sinh thực hiện trong việc tham thiền của những năm qua, y sẽ thấy tư liệu của những bức thư này thuận lợi cho sự phát triển của tư tưởng trừu tượng, và cho việc mở rộng kênh giao thông với trực giác. Tôi chỉ tìm cách gợi ý. Mục tiêu của Tôi chỉ là chỉ ra. Tính hữu ích của giáo huấn Tôi trao tuỳ thuộc vào trực giác của môn sinh. Vì vậy, khi Tôi nói rằng màu sắc có những tác động nhất định khi được ứng dụng, Tôi muốn cảnh báo các bạn rằng sẽ cần phải diễn giải những điều trên theo các thuật ngữ của sự sống, theo các thuật ngữ của hình tướng, và theo các thuật ngữ của thể trí.
The application of colour.—Sự ứng dụng màu sắc.
a. In meditation.
a. Trong tham thiền.
b. In healing.
b. Trong trị liệu.
c. In constructive work. [238]
c. Trong công tác kiến tạo. [238]
Colour may be used in many ways, and the above three ways do not cover the subject. They but indicate three ways that are of immediate and practical use to the student. Colour may be employed in contacting other evolutions, subhuman or superhuman; in definite work of destruction or of shattering; it may be used in connection with other methods such as music or movement, or in connection with stated mantrams, thereby bringing about certain results, but with all these we need not, in this series of letters, concern ourselves. The growth of the individual and his increased capacity to be of service are all brought about by the wise use of occult meditation. Let us therefore consider our first point.
Màu sắc có thể được dùng theo nhiều cách, và ba cách nêu trên không bao quát hết chủ đề. Chúng chỉ nêu ra ba cách có ích ngay tức thời và thiết thực cho đạo sinh. Màu sắc có thể được sử dụng để tiếp xúc với các tiến hoá khác, dưới nhân loại hoặc siêu nhân loại; trong công tác huỷ diệt hay phá vỡ một cách xác định; nó có thể được dùng kết hợp với các phương pháp khác như âm nhạc hay vận động, hoặc kết hợp với các mantram đã định, nhờ đó tạo ra một số kết quả nhất định, nhưng với tất cả những điều ấy, trong loạt thư này, chúng ta không cần bận tâm. Sự tăng trưởng của cá nhân và năng lực phụng sự ngày càng gia tăng của y đều được tạo nên bởi việc sử dụng khôn ngoan tham thiền huyền bí. Vậy chúng ta hãy xét điểm thứ nhất.
Use of Colour in Meditation.—Việc sử dụng màu sắc trong tham thiền.