← LETTERs ON OCCULT MEDITATION – Alice A. Bailey

The occult student, therefore, from the standpoint of colour has two things to do in meditation.

All colours emanate from one source or one primary colour—in this solar system the cosmic ray of indigo veiling cosmic love or wisdom,—and then split into three major colours and thence into the four minor, making the seven colours of the spectrum. You will expect to see the same effect in the life of the individual, for always the macrocosm affects the microcosm. His primary colour will be his monadic ray, manifesting next in the three colours of the Triad and in the four colors of the Quaternary. These colours on the path of return are resolved into the three and thence again into the one.

Mọi màu sắc đều phát xuất từ một nguồn hay một màu sơ cấp—trong hệ mặt trời này là cung vũ trụ màu chàm che phủ bác ái hay minh triết vũ trụ,—rồi phân thành ba màu chính và từ đó thành bốn màu phụ, tạo nên bảy màu của quang phổ. Các bạn sẽ mong thấy cùng một tác động trong đời sống của cá nhân, vì đại thiên địa luôn tác động đến tiểu thiên địa. Màu sơ cấp của y sẽ là cung chân thần của y, kế đó biểu lộ trong ba màu của Tam nguyên tinh thần và trong bốn màu của Tứ phân. Những màu sắc này trên Con Đường Trở Về được quy về ba và rồi lại quy về một.

The path of manifestation, of differentiation, is the path of acquisition. It is the homogeneous becoming the many or the heterogeneous. It is the breaking up of the one basic colour into its many component parts. This is the form side, the expression of that which veils the life. On the life side it is the development from the one basic quality of the many inherent virtues; it is the latent possibility of divinity demonstrating as the many attributes of [239] the divine; it is the one life manifesting its many qualities through diversity of form. It is the self, with the inherent capabilities of the All Self, utilising forms for the demonstration of its all-including perfections. On the intelligence side it is the method whereby the life utilises the form and develops its thorough comprehension, analysis and intellect. It is the relation between life and form, the self and the not-self, between spirit and matter, manifesting as modes of expression whereby the indwelling divinity imposes his characteristics upon the material provided for his using. The God within expresses all his latent virtues through forms by the use of activity or intelligence. The life shows colour and the form perfects those colours, as the intelligence aspect (which forms the energising link) becomes more evolved and comprehension is developed.

Con đường biểu lộ, con đường biến phân, là con đường thâu đạt. Đó là cái đồng nhất trở thành cái nhiều, hay cái dị biệt. Đó là sự phân rã của một màu căn bản thành nhiều thành phần cấu tạo của nó. Đây là phía hình tướng, là sự biểu đạt của cái che phủ sự sống. Về phía sự sống, đó là sự phát triển từ một phẩm tính căn bản thành nhiều đức hạnh vốn có; đó là khả năng tiềm ẩn của thiên tính biểu lộ như nhiều thuộc tính [239] thiêng liêng; đó là một sự sống biểu lộ nhiều phẩm tính của nó qua sự đa dạng của hình tướng. Đó là bản ngã, với các năng lực vốn có của Đại Ngã, sử dụng các hình tướng để biểu lộ những sự hoàn hảo bao gồm tất cả của nó. Về phía trí tuệ, đó là phương pháp nhờ đó sự sống sử dụng hình tướng và phát triển sự thấu hiểu triệt để, sự phân tích và trí năng của nó. Đó là mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa bản ngã và phi-ngã, giữa tinh thần và vật chất, biểu lộ như các phương thức diễn đạt nhờ đó thiên tính nội tại áp đặt các đặc tính của nó lên vật chất được cung cấp cho việc sử dụng của nó. Thượng đế bên trong biểu lộ mọi đức hạnh tiềm ẩn của Ngài qua các hình tướng bằng việc sử dụng hoạt động hay trí tuệ. Sự sống biểu lộ màu sắc và hình tướng làm cho những màu sắc ấy trở nên hoàn hảo, khi phương diện trí tuệ (tạo thành mối liên kết tiếp sinh lực) trở nên tiến hoá hơn và sự thấu hiểu được phát triển.

On the path of return, renunciation is the rule, in contradistinction to the earlier method. The indwelling life renounces the forms, hitherto regarded (and necessarily so) as essential. By the use now of the intelligence which has linked these two pairs of opposites, spirit and matter, consciousness and form, the forms built of matter by the aid of the intelligence are one after another repudiated by the aid of that same intelligence, or reasoning faculty transmuted into wisdom. The forms go, but the life remains. The colours are gradually reabsorbed, but the divine virtues persist, stable now and enduringly of use by reason of experience. Not potential are these attributes divine, but developed into powers for use. Inherent faculty has become active characteristics carried to the nth power. The veils are discarded one by one; the sheaths are dropped and superseded; the vehicles are dispensed with and the forms are no longer required, but the life ever remains and returns to its parent ray. It is [240] resolved back into its primary, plus activity and expression plus experience and the ability to manifest; plus all that constitutes the difference between the ignorant savage and the solar Logos. This has been consummated by the utilisation of many forms by the life, the intelligence constituting the means whereby that life employed those forms as a mode for learning. Having manifested as an aspect of this primary ray, having through many incarnations differentiated that ray into its many component parts, having veiled himself under all the seven colours that compose that ray, the reincarnating jiva takes the path of return and from the seven becomes the three and from the three again becomes the one.

Trên Con Đường Trở Về, sự từ bỏ là quy luật, đối lập với phương pháp trước kia. Sự sống nội tại từ bỏ các hình tướng, vốn trước đây được xem (và tất yếu phải vậy) là thiết yếu. Bằng việc sử dụng nay trí tuệ đã liên kết hai cặp đối cực này, tinh thần và vật chất, tâm thức và hình tướng, các hình tướng được xây dựng bằng vật chất nhờ sự trợ giúp của trí tuệ lần lượt bị bác bỏ cũng nhờ chính trí tuệ ấy, hay năng lực lý trí được chuyển hoá thành minh triết. Hình tướng ra đi, nhưng sự sống vẫn còn. Các màu sắc dần dần được tái hấp thụ, nhưng các đức hạnh thiêng liêng vẫn tồn tại, nay ổn định và bền vững hữu dụng nhờ kinh nghiệm. Những thuộc tính thiêng liêng này không còn là tiềm năng, mà đã phát triển thành các quyền năng để sử dụng. Năng lực vốn có đã trở thành các đặc tính hoạt động được nâng lên đến luỹ thừa thứ n. Các tấm màn được gỡ bỏ từng cái một; các vỏ bọc được buông rơi và được thay thế; các vận cụ được loại bỏ và các hình tướng không còn cần thiết, nhưng sự sống luôn còn và trở về với cung mẹ của nó. Nó được [240] quy hồi về sơ cấp của nó, cộng với hoạt động và biểu đạt, cộng với kinh nghiệm và khả năng biểu lộ; cộng với tất cả những gì cấu thành sự khác biệt giữa người man rợ vô minh và Thái dương Thượng đế. Điều này được hoàn tất bởi việc sự sống sử dụng nhiều hình tướng, trí tuệ cấu thành phương tiện nhờ đó sự sống ấy dùng các hình tướng như một phương thức để học hỏi. Đã biểu lộ như một phương diện của cung sơ cấp này, đã qua nhiều kiếp sống biến phân cung ấy thành nhiều thành phần cấu tạo của nó, đã che phủ tự mình dưới cả bảy màu hợp thành cung ấy, jiva tái sinh bước lên Con Đường Trở Về và từ bảy trở thành ba và từ ba lại trở thành một.

When the man does this consciously, when he willingly and with full comprehension of what he has to do endeavours to set the indwelling life free from the veils that hide, and from the sheaths that imprison, he discovers that the method whereby this is accomplished is by the subjective life of occult meditation, and the objective life of service. In service is renunciation, and, under the occult law, therefore, in service the subjective finds liberation, and is set free from objective manifestation. Think this out, for it has much hidden under the veil of words.

Khi con người làm điều này một cách có ý thức, khi y tự nguyện và với sự thấu hiểu đầy đủ về điều y phải làm mà nỗ lực giải phóng sự sống nội tại khỏi các tấm màn che giấu, và khỏi các vỏ bọc giam hãm, y khám phá rằng phương pháp nhờ đó điều này được hoàn thành là đời sống chủ quan của tham thiền huyền bí, và đời sống khách quan của phụng sự. Trong phụng sự có sự từ bỏ, và, theo định luật huyền bí, vì vậy, trong phụng sự, cái chủ quan tìm thấy sự giải thoát, và được giải phóng khỏi sự biểu lộ khách quan. Hãy suy nghĩ điều này, vì dưới tấm màn của ngôn từ có ẩn giấu nhiều điều.

The occult student, therefore, from the standpoint of colour has two things to do in meditation.

Vì vậy, đạo sinh huyền bí, từ quan điểm màu sắc, có hai việc phải làm trong tham thiền.

1. To discover his three major colours as manifested in the Personality, the Ego, and the Monad.

1. Khám phá ba màu chính của y như được biểu lộ trong phàm ngã, chân ngã, và chân thần.

2. To resolve then the lower quaternary into the three, the first stage of which is consciously to withdraw into the Ego and so atrophy the lower self. The student begins by eliminating the colours that are not desirable, killing out all low or coarse vibration and eventually so [241] refining his vehicles that the three major colours—of which he is the expression—shine out with perfect clarity. This leads him up to the third initiation. After that, he seeks to resolve the three into the one until he has withdrawn all his consciousness from the lower vehicles into the monadic sheath.

2. Rồi quy tứ phân thấp vào tam phân, mà giai đoạn đầu là có ý thức rút lui vào chân ngã và do đó làm teo đi phàm ngã. Đạo sinh bắt đầu bằng việc loại bỏ những màu sắc không đáng mong muốn, dập tắt mọi rung động thấp hay thô và cuối cùng [241] tinh luyện các vận cụ của y đến mức ba màu chính—mà y là sự biểu đạt—toả sáng với sự trong sáng hoàn hảo. Điều này đưa y lên đến lần điểm đạo thứ ba. Sau đó, y tìm cách quy ba về một cho đến khi y đã rút toàn bộ tâm thức của mình khỏi các vận cụ thấp vào vỏ bọc chân thần.

It was not my intention, as you erroneously supposed, to give you information as to the effect of colours playing on the bodies in meditation. I have sought only to give you some idea of colour as a veil that must eventually be set aside. Under the heading of the “Future use of colour,” I may touch upon that which interests you, but to understand fundamentals is far better than to have formulas for experimenting given to you.

Không phải ý định của Tôi, như các bạn đã lầm tưởng, là cung cấp cho các bạn thông tin về tác động của các màu sắc tác động lên các thể trong tham thiền. Tôi chỉ tìm cách cho các bạn một ý niệm nào đó về màu sắc như một tấm màn mà rốt cuộc phải được gạt sang một bên. Dưới tiêu đề “Việc sử dụng màu sắc trong tương lai”, Tôi có thể chạm đến điều khiến các bạn quan tâm, nhưng thấu hiểu các nền tảng thì tốt hơn nhiều so với việc được trao cho các công thức để thử nghiệm.

September 10th, 1920.

Ngày 10 tháng 9, 1920.

We will, today, scarcely do more than touch upon our second point, which is the application of colour for healing purposes, the reason for this brevity being that the subject, in order to be handled correctly and therefore safely, should be dealt with at length, and the old adage will consequently prove true in this connection that “a little knowledge is a dangerous thing”. Unless the matter of healing with colour is dealt with in correct fashion and with technical knowledge and at length, the results achieved might prove more disastrous than beneficent. The subject will later be fully elucidated if the future brings that which is intended, and in the meantime I can, for your information, outline certain features of this work, point out certain conditions incident to success, and foretell for you somewhat the trend the matter will probably take [242]

Hôm nay, chúng ta hầu như chỉ chạm đến điểm thứ hai của chúng ta, đó là sự ứng dụng màu sắc cho mục đích trị liệu; lý do của sự vắn tắt này là vì chủ đề này, để được xử lý đúng đắn và do đó an toàn, cần phải được bàn đến dài rộng, và vì vậy câu ngạn ngữ xưa trong mối liên hệ này sẽ chứng tỏ là đúng: “biết một chút là điều nguy hiểm”. Trừ phi vấn đề trị liệu bằng màu sắc được xử lý đúng cách, với tri thức kỹ thuật và được trình bày đầy đủ, các kết quả đạt được có thể chứng tỏ là tai hại hơn là hữu ích. Về sau, chủ đề này sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ nếu tương lai mang đến điều đã được dự định; và trong lúc này Tôi có thể, để cung cấp thông tin cho các bạn, phác thảo một số đặc điểm của công tác này, chỉ ra một số điều kiện liên quan đến thành công, và tiên đoán cho các bạn phần nào xu hướng mà vấn đề này có lẽ sẽ đi theo [242]

Application of colour in healing.—Sự ứng dụng màu sắc trong trị liệu.

We are dealing with the subject now from the standpoint of meditation. It is essential therefore that we consider the subject from that angle. In meditation the work of healing is handled entirely from the mental standpoint. The direction of any force supplied will be from the mental body of the patient and will work from thence to the physical via the emotional.

Giờ đây chúng ta đang bàn đến chủ đề này từ quan điểm tham thiền. Vì vậy, điều thiết yếu là chúng ta xem xét chủ đề theo góc độ đó. Trong tham thiền, công tác trị liệu được xử lý hoàn toàn từ quan điểm thể trí. Hướng đi của bất kỳ mãnh lực nào được cung ứng sẽ xuất phát từ thể trí của bệnh nhân và sẽ tác động từ đó đến thể xác qua trung gian cảm xúc.

This involves on the part of the person or group that undertakes this work the ascertaining of certain facts. Let us briefly enumerate them in order to clarify the mind of the reader:—

Điều này đòi hỏi nơi người hay nhóm đảm nhận công tác này phải xác định một số sự kiện. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn để làm sáng tỏ thể trí của độc giả:—

1. The work will be largely subjective and will deal with causes and not with effects. The primary aim of the healing group will be to discover the originating cause of the trouble and having located that cause in either the emotional or the mental body the members of the group will then proceed to deal with the effect as demonstrated in the physical or the etheric. Should the trouble be entirely physical, such as is the case in an accident of any kind, or in some affliction which is purely the result of heredity or of congenital trouble, the ordinary high class physical plane scientific methods will be applied at first, and the work of the healers will be to aid those methods through concentration on the subtler bodies. This applies during the transition period into which the race is now entering. Later, when the knowledge of occult healing is more familiar, and the laws which govern the subtle bodies are more known, physical plane science will be superseded by the preventive science of the subtler planes, that science which aims at the provision of right conditions and the building of bodies that are both self-protecting and neutral to all attack. It will he found that the comprehension [243] of the law of vibration, and the effect of one vibration upon another vibration holds the key to the establishing of better conditions of living, and of sound bodies on all planes.

1. Công tác sẽ phần lớn là chủ quan và sẽ đề cập đến các nguyên nhân chứ không phải các kết quả. Mục tiêu sơ cấp của nhóm trị liệu sẽ là khám phá nguyên nhân khởi phát của rối loạn, và khi đã định vị nguyên nhân ấy trong hoặc thể cảm dục hoặc thể trí, các thành viên của nhóm sẽ tiến hành xử lý kết quả như được biểu lộ trong thể xác hoặc thể dĩ thái. Nếu rối loạn hoàn toàn thuộc thể xác, như trong trường hợp tai nạn bất kỳ, hoặc trong một chứng bệnh thuần tuý là kết quả của di truyền hay của rối loạn bẩm sinh, thì trước hết các phương pháp khoa học cõi hồng trần thông thường, loại tốt, sẽ được áp dụng, và công tác của các nhà trị liệu sẽ là hỗ trợ những phương pháp ấy qua sự tập trung vào các thể vi tế hơn. Điều này áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp mà nhân loại hiện đang bước vào. Về sau, khi tri thức về trị liệu huyền bí trở nên quen thuộc hơn, và các định luật chi phối các thể vi tế được biết đến nhiều hơn, khoa học cõi hồng trần sẽ được thay thế bởi khoa học phòng ngừa của các cõi vi tế, khoa học nhắm đến việc cung ứng các điều kiện đúng và xây dựng các thể vừa tự bảo vệ vừa trung tính trước mọi sự tấn công. Người ta sẽ thấy rằng sự thấu hiểu định luật rung động, và tác động của một rung động lên một rung động khác, nắm giữ chìa khoá để thiết lập các điều kiện sống tốt hơn, và các thể lành mạnh trên mọi cõi.

But as things are now, disease, corruption of different kinds and trouble in all the bodies is everywhere contacted, and when conditions are thus recognised, means of aiding must be earnestly sought. This leads us on to our next point:

Nhưng như mọi sự hiện nay, bệnh tật, sự bại hoại đủ loại và rối loạn trong mọi thể được gặp khắp nơi, và khi các điều kiện được nhận biết như vậy, các phương tiện trợ giúp phải được tìm kiếm một cách nghiêm túc. Điều này dẫn chúng ta đến điểm kế tiếp:

2. The ascertaining by the group that practises healing of full information as to the patient, based on the following questions:—

2. Việc nhóm thực hành trị liệu xác định đầy đủ thông tin về bệnh nhân, dựa trên các câu hỏi sau:—

a. What are his basic lines of thought?

a. Những đường lối tư tưởng căn bản của y là gì?

By what thoughtforms is he principally surrounded?

Y chủ yếu bị bao quanh bởi những hình tư tưởng nào?

b. What is the predominant hue of his emotional body? What is its rate of vibration?

b. Sắc thái chủ đạo của thể cảm dục của y là gì? Nhịp độ rung động của nó là bao nhiêu?

Is the patient subject to sudden turmoils that throw the entire emotional body into disorder?

Bệnh nhân có bị những cơn xáo động đột ngột khiến toàn bộ thể cảm dục rối loạn không?

c. What are his most ordinary topics of conversation? What are his principal interests?

c. Những đề tài trò chuyện thường xuyên nhất của y là gì? Những mối quan tâm chính của y là gì?

What literature does he study?

Y nghiên cứu loại văn chương nào?

What are his favourite pursuits?

Những theo đuổi ưa thích của y là gì?

d. What is the condition of the centres in his body?

d. Tình trạng các trung tâm trong thể của y ra sao?

Which centres are awakened?

Những trung tâm nào đã được đánh thức?

Are any centres rotating in fourth dimensional order? Which centre is the major one in any particular case?

Có trung tâm nào đang xoay theo trật tự chiều thứ tư không? Trung tâm nào là trung tâm chủ yếu trong bất kỳ trường hợp đặc thù nào?

e. What is the state of the etheric body?

e. Tình trạng thể dĩ thái ra sao?

Does it show symptoms of devitalisation or of congestion?

Nó có cho thấy triệu chứng suy kiệt sinh lực hay ứ trệ không?

Is the patient lacking in vitality?

Bệnh nhân có thiếu sinh lực không?

What is the value of his magnetic action on other people? [244]

Giá trị tác động từ tính của y lên người khác là gì? [244]

Having studied the patient from all these angles, and not at any earlier time, will the group who purpose healing study the physical vehicle itself in detail. Then—with some idea of the inner conditions that underlie the trouble—they will study as follows:—

Sau khi đã nghiên cứu bệnh nhân từ tất cả các góc độ này, và không sớm hơn thời điểm ấy, nhóm có chủ đích trị liệu mới nghiên cứu chi tiết chính vận cụ thể xác. Khi đó—với một ý niệm nào đó về các điều kiện nội tại nằm bên dưới rối loạn—họ sẽ nghiên cứu như sau:—

f. The condition of the nervous system, giving particular attention to the spine, and to the state of the inner fire.

f. Tình trạng của hệ thần kinh, đặc biệt chú ý đến cột sống, và trạng thái của ngọn lửa bên trong.

g. The state of the various organs of the body, and especially the organ, or organs, that are causing distress.

g. Trạng thái của các cơ quan khác nhau của cơ thể, và đặc biệt là cơ quan, hoặc các cơ quan, đang gây ra đau khổ.

h. The structure itself, studying the bones and the flesh, and the condition of the vital fluid, the blood.

h. Cấu trúc, nghiên cứu xương và thịt, và tình trạng của chất lưu thiết yếu, máu.

Higher vision and healh.—Linh thị cao hơn và sức khỏe.

This, as you can see, necessarily involves either direct scientific knowledge, or else it involves the faculty of inner vision, that sees the trouble wherever it may be, and can clairvoyantly view the entire frame and organs, so locating instantaneously any trouble. This capacity presupposes the development of those inner powers which give knowledge in the three worlds, and so obviates the disastrous mistakes that so oft eventuate in the modern practice of medicine, as you call the art of healing. There will not be so much danger of error in the future day of healing, but what I seek to point out is that although those errors will be obviated in the case of the physical body, yet much time must elapse before full comprehension of the emotional body has reached the point where modern science has placed the physical. The healing of the physical body and its due comprehension and study can be carried on by the man who has the inner vision. With his ability to see on emotional levels he can co-operate with the modern enlightened medical man, and thus safeguard [245] him from error, enabling him to judge truly of the extent of the trouble, the seat of distress, its assistance, and the progress of the cure.

Điều này, như các bạn có thể thấy, tất yếu đòi hỏi hoặc là kiến thức khoa học trực tiếp, hoặc là đòi hỏi năng lực linh thị nội tại, năng lực thấy được rắc rối ở bất cứ nơi đâu, và có thể bằng thông nhãn quan sát toàn bộ thân thể và các cơ quan, nhờ đó tức khắc định vị bất kỳ rắc rối nào. Năng lực này giả định sự phát triển những quyền năng nội tại vốn đem lại tri thức trong ba cõi giới, và vì vậy tránh được những sai lầm tai hại vốn thường xuyên xảy ra trong thực hành y học hiện đại, như các bạn gọi nghệ thuật chữa lành. Trong thời kỳ chữa lành tương lai sẽ không còn nhiều nguy cơ sai lầm như thế, nhưng điều tôi muốn chỉ ra là, mặc dù các sai lầm ấy sẽ được loại trừ trong trường hợp thể xác, tuy nhiên phải trôi qua nhiều thời gian trước khi sự thấu hiểu đầy đủ về thể cảm dục đạt đến điểm mà khoa học hiện đại đã đặt thể xác. Việc chữa lành thể xác, cùng sự thấu hiểu và nghiên cứu đúng đắn về nó, có thể được tiến hành bởi người có linh thị nội tại. Với khả năng nhìn thấy ở các cấp độ cảm dục, y có thể hợp tác với người thầy thuốc hiện đại đã được soi sáng, và nhờ đó bảo vệ [245] ông khỏi sai lầm, giúp ông phán đoán đúng mức độ của rắc rối, vị trí của sự khổ sở, sự trợ giúp cần thiết, và tiến trình của sự chữa trị.

Emotional trouble that is working out in the physical body, as is the case in the majority of physical ills today, can usually be located and eliminated by judicious treatment. But emotional trouble that is deepseated in the subtle body has to be dealt with from mental levels, so that it requires a mental psychic to deal with and eliminate it. All these methods of course entail the active conscious co-operation of the patient himself.

Những rắc rối cảm dục đang được giải tỏa trong thể xác, như trường hợp của đa số bệnh tật thể xác ngày nay, thường có thể được định vị và loại trừ bằng sự điều trị khôn ngoan. Nhưng những rắc rối cảm dục ăn sâu trong thể vi tế phải được xử lý từ các cấp độ trí tuệ, vì vậy cần một nhà thông linh trí tuệ để xử lý và loại trừ chúng. Dĩ nhiên, tất cả các phương pháp này đều đòi hỏi sự hợp tác tích cực và có tâm thức của chính bệnh nhân.

Similarly, mental trouble has to be dealt with directly from the causal level, and necessitates therefore the assistance of the Ego, and the help of someone who has causal vision and consciousness. This latter method, and the major part of these types of trouble, lie far ahead for the race, and therefore little concern us at this time. Nevertheless the curing of physical ailments that have their seat in the emotional body is already beginning to be known and slightly studied. In the study of psychology and in the comprehension of nervous diseases and troubles and their linking together will come the next step ahead in medical science. The link between the body of the emotions and physical body is the etheric body. The next immediate step is to consider the etheric body in two ways, either as a transmitter of prana, the life force, vitality or magnetism, or as the vehicle which links the emotional nature to the dense physical. The physical invariably follows the behests of that nature as transmitted via the etheric.

Tương tự, những rắc rối trí tuệ phải được xử lý trực tiếp từ cấp độ nguyên nhân, và do đó tất yếu cần sự trợ giúp của Chân ngã, cùng sự giúp đỡ của người có linh thị và tâm thức nguyên nhân. Phương pháp sau cùng này, và phần lớn các loại rắc rối ấy, còn ở rất xa phía trước đối với nhân loại, nên hiện nay ít liên quan đến chúng ta. Tuy vậy, việc chữa trị các bệnh thể xác có căn nguyên ở thể cảm dục đã bắt đầu được biết đến và được nghiên cứu đôi chút. Trong việc nghiên cứu tâm lý học và trong sự thấu hiểu các bệnh và rối loạn thần kinh cùng sự liên kết của chúng, sẽ đến bước tiến kế tiếp của khoa học y học. Mối liên kết giữa thể cảm dục và thể xác là thể dĩ thái. Bước kế tiếp trước mắt là xét thể dĩ thái theo hai cách, hoặc như một bộ truyền dẫn prana, mãnh lực sự sống, sinh lực hay từ điện, hoặc như vận cụ liên kết bản chất cảm dục với thể xác đậm đặc. Thể xác luôn luôn tuân theo các mệnh lệnh của bản chất ấy khi được truyền qua thể dĩ thái.

In forming groups for healing under ideal conditions you would have at the head of the group a person with causal consciousness, who can deal with any trouble in the mental body, and who can study the alignment of all [246] the bodies with the Ego. The group will also include:—

Khi hình thành các nhóm chữa lành trong những điều kiện lý tưởng, các bạn sẽ có ở vị trí đứng đầu nhóm một người có tâm thức nguyên nhân, người có thể xử lý bất kỳ rắc rối nào trong thể trí, và có thể nghiên cứu sự chỉnh hợp của tất cả [246] các thể với Chân ngã. Nhóm cũng sẽ bao gồm:—

a. A person, or persons who can clairvoyantly view the subtle body of the emotions.

a. Một người, hoặc những người có thể bằng thông nhãn quan sát thể vi tế của cảm dục.

b. A number of people who know somewhat the rudiments of the law of vibration, and can definitely, by the power of thought, apply certain waves of colour to effect certain cures, and bring about, through scientific comprehension, the desired results.

b. Một số người biết phần nào những điều căn bản của định luật rung động, và có thể một cách xác định, bằng quyền năng của tư tưởng, áp dụng những làn sóng màu sắc nhất định để tạo ra những sự chữa trị nhất định, và đem lại, qua sự thấu hiểu khoa học, những kết quả mong muốn.

c. Some member of the group will also be a member of the medical profession, who will work with the physical body, under the direction of conscious clairvoyants. He will study the resistance of the body, he will apply certain currents, and colours, and vibrations, which will have a direct physical effect, and by the co-operation of all those units in the group, results will be achieved that will merit the name of miracles.

c. Một thành viên của nhóm cũng sẽ là người thuộc ngành y, người sẽ làm việc với thể xác, dưới sự chỉ đạo của các nhà thông nhãn có tâm thức. Ông sẽ nghiên cứu sức kháng cự của cơ thể, ông sẽ áp dụng những dòng lưu chuyển, màu sắc và rung động nhất định, vốn sẽ có tác dụng thể xác trực tiếp, và nhờ sự hợp tác của tất cả các đơn vị trong nhóm, những kết quả sẽ đạt được xứng đáng với danh xưng phép lạ.

d. In the group, also, will be a number of people who can meditate occultly, and can, by the power of their meditation, create the necessary funnel for the transmission of the healing forces of the higher self and of the Master.

d. Trong nhóm cũng sẽ có một số người có thể tham thiền theo huyền môn, và có thể, bằng quyền năng tham thiền của họ, tạo ra cái phễu cần thiết cho sự truyền dẫn các mãnh lực chữa lành của chân ngã và của Chân sư.

e. Besides this, in each group will be found some person who can accurately transcribe all that takes place, and so keep records that will prove to be the literature of the new school of medicine.

e. Ngoài ra, trong mỗi nhóm sẽ có một người có thể ghi chép chính xác mọi điều diễn ra, và nhờ đó lưu giữ hồ sơ, vốn sẽ chứng tỏ là văn liệu của trường phái y học mới.

I have here touched on the ideal group. It is not as yet in any way possible, but a beginning can be made by the utilisation of any knowledge and powers that may be found amongst those who seek to serve their race and the Master.

Ở đây tôi đã chạm đến nhóm lý tưởng. Hiện nay điều đó chưa thể thực hiện theo bất kỳ cách nào, nhưng có thể bắt đầu bằng việc sử dụng bất kỳ tri thức và quyền năng nào có thể được tìm thấy nơi những người tìm cách phụng sự nhân loại của họ và Chân sư.

As you will note from the above, colours will be applied in two ways:— [247]

Như các bạn sẽ lưu ý từ phần trên, màu sắc sẽ được áp dụng theo hai cách:— [247]

1. On the subtler planes by the power of thought, and

1. Trên các cõi vi tế hơn bằng quyền năng của tư tưởng, và

2. By means of coloured lights applied to the physical body.

2. Bằng phương tiện các ánh sáng màu được áp dụng lên thể xác.

On the physical plane the exoteric colour will be applied, whilst on the subtler the esoteric. The work therefore will be (until the esoteric becomes the exoteric) largely in the hands of the occult students of the world, working in organised groups under expert supervision.

Trên cõi hồng trần, màu sắc ngoại môn sẽ được áp dụng, còn trên các cõi vi tế hơn thì là màu sắc nội môn. Vì vậy, công việc này (cho đến khi nội môn trở thành ngoại môn) phần lớn sẽ nằm trong tay các đạo sinh huyền bí học trên thế giới, làm việc trong những nhóm có tổ chức dưới sự giám sát chuyên môn.

You ask, just what is the point at which these groups may now begin to work with colour? The thing that now lies ahead to be mastered and done is to develop the knowledge necessary anent the etheric, to inculcate the building of pure bodies, and to study the effect of different colours on the dense physical. It has been but little studied as yet. It will be found that certain colours will definitely affect certain diseases, cure certain nervous troubles, eradicate certain nervous tendencies, tend to the building of new tissues, or to the burning out of corruption. All this must be studied. Experiments can be made along the line of vitalisation and magnetisation, which involve direct action on the etheric, and this again will be found hid in the law of vibration and of colour. Later.......we can take up with greater detail the work of these healing groups when gathered for meditation. Here I would but add that certain colours have a definite effect, though I can only as yet enumerate three, and them but briefly:—

Các bạn hỏi, vậy chính xác thì ở điểm nào các nhóm này hiện nay có thể bắt đầu làm việc với màu sắc? Điều hiện nằm phía trước cần được làm chủ và thực hiện là phát triển tri thức cần thiết liên quan đến thể dĩ thái, gieo vào việc xây dựng những thể thanh khiết, và nghiên cứu tác dụng của các màu sắc khác nhau lên thể xác đậm đặc. Cho đến nay điều này mới chỉ được nghiên cứu rất ít. Sẽ thấy rằng một số màu sắc nhất định sẽ tác động rõ rệt lên một số bệnh nhất định, chữa một số rối loạn thần kinh nhất định, nhổ tận gốc một số khuynh hướng thần kinh nhất định, giúp xây dựng các mô mới, hoặc thiêu đốt sự mục nát. Tất cả điều này phải được nghiên cứu. Có thể tiến hành các thí nghiệm theo hướng tiếp sinh lực và từ hoá, vốn liên quan đến tác động trực tiếp lên thể dĩ thái, và điều này lại sẽ được thấy ẩn giấu trong định luật rung động và màu sắc. Về sau.......chúng ta có thể bàn chi tiết hơn về công việc của các nhóm chữa lành này khi họ tụ họp để tham thiền. Ở đây tôi chỉ thêm rằng một số màu sắc có tác dụng xác định, dù hiện nay tôi chỉ có thể liệt kê ba màu, và cũng chỉ vắn tắt:—

1. Orange stimulates the action of the etheric body; it removes congestion and increases the flow of prana.

1. Màu cam kích thích hoạt động của thể dĩ thái; nó giải tỏa sự ứ trệ và gia tăng dòng chảy của prana.

2. Rose acts upon the nervous system and tends to vitalisation, and to the removal of depression, and [248] symptoms of debilitation; it increases the will to live.

2. Màu hồng tác động lên hệ thần kinh và có khuynh hướng tiếp sinh lực, và loại bỏ sự u uất, và [248] các triệu chứng suy nhược; nó gia tăng ý chí muốn sống.

3. Green has a general healing effect, and can be safely used in cases of inflammation and of fever, but it is almost impossible as yet to provide the right conditions for the application of this colour, or to arrive at the adequate shade. It is one of the basic colours to be used eventually in the healing of the dense physical body, being the colour of the note of Nature.

3. Màu xanh lục có tác dụng chữa lành tổng quát, và có thể được dùng an toàn trong các trường hợp viêm và sốt, nhưng hiện nay gần như không thể cung cấp những điều kiện đúng đắn để áp dụng màu này, hoặc đạt được sắc độ thích hợp. Nó là một trong những màu cơ bản rốt cuộc sẽ được dùng trong việc chữa lành thể xác đậm đặc, vì nó là màu của chủ âm của Bản chất.

This seems to you sketchy and inadequate? So it is, even more so than you can grasp. But forget not that which I have often told you, that in the following up of brief hints lies the path that leads to the source of all knowledge.

Điều này đối với các bạn có vẻ phác thảo và không đầy đủ ư? Đúng vậy, còn hơn cả mức các bạn có thể nắm bắt. Nhưng đừng quên điều mà tôi thường nói với các bạn: chính trong việc theo đuổi những gợi ý ngắn gọn có con đường dẫn đến nguồn mạch của mọi tri thức.

September 11, 1920.

Ngày 11 tháng 9, 1920.

We come now to the final part of our thoughts on the use of colour in meditation. We have dealt with the matter in such a way that if the hints that are scattered throughout the communication are adequately followed up they will form the basis of certain inevitable conclusions. These conclusions will eventually prove to be the postulates upon which the newer schools of medicine or science will base the continuance of their work. We might sum up the imparted data under definite statements:—

Giờ đây chúng ta đến phần cuối cùng trong các suy nghĩ của chúng ta về việc sử dụng màu sắc trong tham thiền. Chúng ta đã đề cập vấn đề theo cách sao cho, nếu những gợi ý rải rác khắp thông điệp được theo đuổi một cách đầy đủ, chúng sẽ tạo thành nền tảng cho một số kết luận tất yếu. Những kết luận này rốt cuộc sẽ chứng tỏ là các tiền đề mà trên đó các trường phái y học hay khoa học mới hơn sẽ đặt nền cho sự tiếp tục công việc của họ. Chúng ta có thể tóm lược dữ liệu đã truyền đạt dưới những mệnh đề xác định:—

1. That the basic colours of the Personality must be transmuted into the colours of the Triad, or the threefold Spirit. This is effected by the truly occult meditation.

1. Rằng các màu cơ bản của phàm ngã phải được chuyển hoá thành các màu của Tam Nguyên, hay tinh thần tam phân. Điều này được thực hiện bởi tham thiền huyền môn chân chính.

2. That the colours with which the beginner will be primarily concerned are orange, rose and green.

2. Rằng các màu mà người sơ cơ trước hết sẽ quan tâm chủ yếu là cam, hồng và xanh lục.

3. That the violet ray holds the secret for this immediate cycle. [249]

3. Rằng cung tím nắm giữ bí mật cho chu kỳ trước mắt này. [249]

4. That the next point of apprehended knowledge will be the laws governing the etheric body.

4. Rằng điểm tri thức được nắm bắt kế tiếp sẽ là các định luật chi phối thể dĩ thái.

5. That in the development of the intuition comes cognisance of the esoteric colours which the exoteric veil.

5. Rằng trong sự phát triển trực giác sẽ đến sự nhận biết các màu nội môn mà các màu ngoại môn che phủ.

6. That colour is the form and force of virtue (in the occult sense) in the inner life.

6. Rằng màu sắc là hình tướng và mãnh lực của đức hạnh (theo nghĩa huyền môn) trong đời sống nội tại.

I have summed up the practical points requiring immediate attention for the purposes of clarification. With this as the basis of study the student may expect eventually to see the complete transformation of the type of work done both by the schools of medicine and by chairs of psychology. Certain prophecies I may here make which you can note down for the benefit of those who may come after.

Tôi đã tóm lược các điểm thực tiễn đòi hỏi sự chú ý tức thời nhằm mục đích làm sáng tỏ. Với điều này làm nền tảng nghiên cứu, đạo sinh có thể kỳ vọng rốt cuộc sẽ thấy sự chuyển đổi hoàn toàn loại hình công việc được thực hiện cả bởi các trường y lẫn các ghế giảng tâm lý học. Ở đây tôi có thể đưa ra một số lời tiên tri mà các bạn có thể ghi lại vì lợi ích của những người có thể đến sau.

Forecasts anent the future.—Những dự báo liên quan đến tương lai.

1. The phraseology of the medical schools will more and more become based on vibration and be expressed in terms of sound and colour.

1. Thuật ngữ của các trường y sẽ ngày càng dựa trên rung động và được diễn đạt theo các thuật ngữ của âm thanh và màu sắc.

2. The religious teaching of the world and the inculcation of virtue will be likewise imparted in terms of colour. People will eventually be grouped under their ray-colour, and this will be possible as the human race develops the faculty of seeing auras. The number of clairvoyants is already greater than is realised, owing to the reticence of the true psychic.

2. Giáo huấn tôn giáo của thế giới và việc gieo vào đức hạnh cũng sẽ được truyền đạt theo các thuật ngữ của màu sắc. Con người rốt cuộc sẽ được nhóm lại theo màu-cung của họ, và điều này sẽ có thể khi nhân loại phát triển năng lực thấy hào quang. Số lượng các nhà thông nhãn đã lớn hơn điều người ta nhận ra, do sự kín đáo của nhà thông linh chân chính.

3. The science of numbers, being in reality the science of colour and sound, will also somewhat change its phraseology and colours will eventually supersede figures.

3. Khoa học về các con số, vốn thực sự là khoa học về màu sắc và âm thanh, cũng sẽ phần nào thay đổi thuật ngữ của nó và màu sắc rốt cuộc sẽ thay thế các con số.

4. The laws that govern the erection of large buildings and the handling of great weights will some [250] day be understood in terms of sound. The cycle returns, and in the days to come will be seen the re-appearance of the faculty of the Lemurians and early Atlanteans to raise great masses,—this time on a higher turn of the spiral. Mental comprehension of the method will be developed. They were raised through the ability of the early builders to create a vacuum through sound, and to utilise it for their own purposes.

4. Các định luật chi phối việc dựng nên các toà nhà lớn và việc xử lý những trọng lượng lớn sẽ một [250] ngày nào đó được thấu hiểu theo các thuật ngữ của âm thanh. Chu kỳ quay trở lại, và trong những ngày sắp đến sẽ thấy sự tái xuất hiện năng lực của người Lemuria và người Atlantis thời kỳ đầu trong việc nâng những khối lượng lớn,—lần này ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc. Sự thấu hiểu trí tuệ về phương pháp sẽ được phát triển. Chúng đã được nâng lên nhờ khả năng của các đấng kiến tạo thời kỳ đầu trong việc tạo ra một khoảng chân không qua âm thanh, và sử dụng nó cho các mục đích của họ.

5. Destruction, it will be shewn, can be brought about by the manipulation of certain colours, and by the employment of united sound. In this way terrific effects will be achieved. Colour can destroy just as it can heal; sound can disrupt just as it can bring about cohesion; in these two thoughts lie hid the next step ahead for the science of the immediate future. The laws of vibration are going to be widely studied and comprehended and the use of this knowledge of vibration on the physical planes will bring about many interesting developments. They will be partially an outgrowth of the study of the war and its effect, psychological and otherwise. More was effected by the sound of the great guns, for instance, than by the impact of the projectile on the physical plane. These effects are as yet practically unrecognised, and are largely etheric and astral.

5. Sự hủy diệt, sẽ được chỉ ra, có thể được tạo ra bởi sự thao tác một số màu sắc nhất định, và bởi việc sử dụng âm thanh hợp nhất. Theo cách này những hiệu ứng khủng khiếp sẽ được đạt tới. Màu sắc có thể hủy diệt cũng như có thể chữa lành; âm thanh có thể làm tan rã cũng như có thể đem lại sự kết dính; trong hai ý tưởng này ẩn giấu bước tiến kế tiếp của khoa học trong tương lai gần. Các định luật rung động sẽ được nghiên cứu và thấu hiểu rộng rãi và việc sử dụng tri thức rung động này trên các cõi hồng trần sẽ đem lại nhiều phát triển thú vị. Chúng sẽ phần nào là sự phát sinh từ việc nghiên cứu chiến tranh và tác dụng của nó, về mặt tâm lý và các mặt khác. Chẳng hạn, nhiều điều đã được tạo ra bởi âm thanh của các đại bác lớn hơn là bởi sự va chạm của đầu đạn trên cõi hồng trần. Những tác dụng này hiện nay hầu như chưa được nhận ra, và phần lớn là dĩ thái và cảm dục.

6. Music will be largely employed in construction, and in one hundred years from now it will be a feature in certain work of a constructive nature. This sounds to you utterly impossible, but it will simply be the utilisation of ordered sound to achieve certain ends. [251]

6. Âm nhạc sẽ được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, và trong một trăm năm nữa nó sẽ là một đặc điểm trong một số công việc có tính kiến tạo. Điều này đối với các bạn nghe hoàn toàn bất khả, nhưng đơn giản chỉ là việc sử dụng âm thanh có trật tự để đạt được những mục đích nhất định. [251]

You will ask, what place has all this in a series of letters on meditation? Simply this:—that the method employed in the utilisation of colour and sound in healing, in promoting spiritual growth, and in exoteric construction on the physical plane, will be based on the laws that govern the mental body, and will be forms of meditation. Only as the race develops the dynamic powers and attributes of thought—which powers are the product of meditation, rightly pursued—will the capacity to make use of the laws of vibration be objectively possible. Think not that only the religious devotee or mystic, or the man imbued with what we call higher teaching, is the exponent of the powers attained by meditation. All great capitalists, and the supreme heads of finance, or organised business, are the exponents of similar powers. They are personifications of one-pointed adherence to one line of thought, and their evolution parallels that of the mystic and the occultist. I seek most strongly to emphasise this fact. They are the ones who meditate along the line of the Mahachohan, or the Lord of Civilisation or Culture. Supreme concentrated attention to the matter in hand makes them what they are, and in many respects they attain greater results than many a student of meditation. All they need to do is to transmute the motive underlying their work, and their achievement will then outrun that of other students. They will approach a point of synthesis, and the Probationary Path will then be trodden.

Các bạn sẽ hỏi, tất cả điều này có vị trí gì trong một loạt thư về tham thiền? Chỉ đơn giản là điều này:—rằng phương pháp được dùng trong việc sử dụng màu sắc và âm thanh để chữa lành, để thúc đẩy sự tăng trưởng tinh thần, và trong kiến tạo ngoại môn trên cõi hồng trần, sẽ dựa trên các định luật chi phối thể trí, và sẽ là những hình thức tham thiền. Chỉ khi nhân loại phát triển các quyền năng và thuộc tính năng động của tư tưởng—những quyền năng là sản phẩm của tham thiền, khi được theo đuổi đúng đắn—thì năng lực sử dụng các định luật rung động mới có thể khả dĩ một cách khách quan. Đừng nghĩ rằng chỉ người sùng đạo tôn giáo hay nhà thần bí, hay người thấm nhuần điều mà chúng ta gọi là giáo huấn cao hơn, mới là người biểu hiện các quyền năng đạt được nhờ tham thiền. Tất cả các nhà tư bản lớn, và các lãnh đạo tối cao của tài chính, hay của kinh doanh có tổ chức, đều là những người biểu hiện các quyền năng tương tự. Họ là những hiện thân của sự nhất tâm bám chặt vào một tuyến tư tưởng, và sự tiến hoá của họ song hành với sự tiến hoá của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tôi tìm cách nhấn mạnh mạnh mẽ nhất sự kiện này. Họ là những người tham thiền theo tuyến của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể của Văn Minh hoặc Văn Hoá. Sự chú ý tối cao, tập trung tuyệt đối vào vấn đề trước mắt, khiến họ trở thành như họ là, và ở nhiều phương diện họ đạt kết quả lớn hơn nhiều đạo sinh tham thiền. Tất cả điều họ cần làm là chuyển hoá động cơ nằm dưới công việc của họ, và khi ấy thành tựu của họ sẽ vượt xa thành tựu của các đạo sinh khác. Họ sẽ tiến gần đến một điểm tổng hợp, và Con Đường Dự Bị khi ấy sẽ được bước đi.

The Law of Vibration will gradually, therefore, be more and more understood, and be seen to govern action in all of the three departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan. It will find its basic expression and its familiar terminology in those of colour and sound. Emotional disorder will be regarded as discordant sound; mental lethargy will be expressed in terms of low [252] vibration, and physical disease will be numerically considered. All constructive work will eventually be expressed in terms of numbers, by colours, and through sound.

Vì vậy, Định luật Rung động sẽ dần dần được thấu hiểu ngày càng nhiều, và sẽ được thấy là chi phối hành động trong cả ba bộ phận của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan. Nó sẽ tìm thấy sự biểu đạt cơ bản và thuật ngữ quen thuộc của nó trong màu sắc và âm thanh. Rối loạn cảm dục sẽ được xem là âm thanh bất hoà; sự trì trệ trí tuệ sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của rung động [252] thấp, và bệnh tật thể xác sẽ được xét theo con số. Mọi công việc kiến tạo rốt cuộc sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của các con số, bằng màu sắc, và qua âm thanh.

This suffices on this matter and at this juncture I have naught further to communicate. The subject is abstruse and difficult, and only by patient brooding will the darkness lighten. Only when the ray of the intuition strikes athwart the pall of darkness (which pall is the ignorance that hides all knowledge) will the forms that veil the subjective life be irradiated and known. Only when the light of reason is dimmed by the radiant sun of wisdom will all things be seen in their just proportions, and will the forms assume their exact colours, and their numerical vibration be known. [253]

Như vậy là đủ về vấn đề này và tại thời điểm này tôi không còn gì để truyền đạt thêm. Chủ đề này thâm áo và khó khăn, và chỉ bằng sự trầm tư kiên nhẫn thì bóng tối mới sáng lên. Chỉ khi tia trực giác chiếu ngang qua tấm màn bóng tối (tấm màn ấy là sự vô minh che giấu mọi tri thức) thì các hình tướng che phủ đời sống chủ quan mới được chiếu rọi và được biết đến. Chỉ khi ánh sáng của lý trí bị làm mờ bởi mặt trời rực rỡ của minh triết thì mọi sự mới được thấy trong tỉ lệ đúng đắn của chúng, và các hình tướng mới mang lấy các màu sắc chính xác của chúng, và rung động theo con số của chúng mới được biết đến. [253]

9 ngang qua, xiên xéo từ bên này sang bên kia

10 1. tóm tắt, cô lại

11 1. xanh nhợt, tái mét, bệch bạc; 2. ghê gớm, khủng khiếp

12 1. giẻ, giẻ rách

2. (số nhiều) quần áo rách tả tơi; to be in rags: ăn mặc rách tả tơi; 3. (số nhiều) giẻ cũ để làm giấy

LETTER VIII.—ACCESS TO THE MASTERS VIA MEDITATION

1. Who are the Masters?

1. Các Chân sư là ai?

2. What access to a Master entails:—

2. Việc tiếp cận một Chân sư hàm ý điều gì:—

a. From the standpoint of the pupil?

a. Từ quan điểm của người đệ tử?

b. From the standpoint of the Master?

b. Từ quan điểm của Chân sư?

3. Methods of approach to the Master in meditation.

3. Các phương pháp tiếp cận Chân sư trong tham thiền.

4. The effect of this access on the three planes. [254]

4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi. [254]

Chart SOLAR AND PLANETARY HIERARCHIES [255]

Biểu đồ CÁC THÁNH ĐOÀN THÁI DƯƠNG VÀ HÀNH TINH [255]

Key to Diagram of Solar and Planetary Hierarchies [256]

Chìa khóa cho Sơ đồ về Các Thánh Đoàn Thái Dương và Hành Tinh [256]

September 12th, 1920.

Ngày 12 tháng 9, 1920.

The search for the goal.—Cuộc tìm kiếm mục tiêu.

Today it may be possible to touch somewhat upon the subject of the Masters and how They may be approached through meditation. This I know is a subject close and dear to your heart, as it is to the heart of all those who earnestly follow the light within. I seek to handle this subject with you in such a way that at the close of this letter the Masters will be more real to you than ever before; the significance of approach to Them be better comprehended and the method more simplified; and the effect of contact with Them will be so demonstrated in the life that its immediate and practical attainment will be earnestly pursued. Let us, therefore, as we have always done, divide our subject into certain heads and divisions:—

Hôm nay có lẽ chúng ta có thể chạm đến phần nào đề tài về các Chân sư và cách Các Ngài có thể được tiếp cận qua tham thiền. Tôi biết đây là một đề tài gần gũi và thân thiết với trái tim các bạn, cũng như với trái tim của tất cả những ai chân thành đi theo ánh sáng bên trong. Tôi mong xử lý đề tài này với các bạn theo cách mà khi kết thúc bức thư này, các Chân sư sẽ trở nên thực đối với các bạn hơn bao giờ hết; ý nghĩa của việc tiếp cận Các Ngài sẽ được thấu hiểu rõ hơn và phương pháp sẽ được đơn giản hóa hơn; và ảnh hưởng của sự tiếp xúc với Các Ngài sẽ được chứng tỏ trong đời sống đến mức việc đạt được ngay tức khắc và thiết thực ấy sẽ được theo đuổi một cách tha thiết. Vì vậy, như chúng ta vẫn luôn làm, chúng ta hãy chia đề tài của mình thành một số đề mục và phân mục nhất định:—

1. Who are the Masters?

1. Các Chân sư là ai?

2. What does access to Them entail:—

2. Việc tiếp cận Các Ngài hàm ý điều gì:—

a. From the standpoint of the pupil?

a. Từ quan điểm của người đệ tử?

b. From the standpoint of the Master?

b. Từ quan điểm của Chân sư?

3. Methods of approach to the Masters through meditation.

3. Các phương pháp tiếp cận các Chân sư qua tham thiền.

4. The effect of this access on the three planes.

4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi.

Everywhere throughout the whole world is felt the urge that drives a man to seek out someone who, for him, embodies the ideal. Even those who do not admit the existence of the Masters seek some ideal, and then visualise that ideal as embodied in some form on the physical plane. They picture themselves, perhaps, as the exponents [257] of ideal action, or visualise some great philanthropist, some superlative scientist, some notable artist or musician, as embodying their supreme conception. The human being,—simply because he is himself fragmentary and incomplete—has always this urge within himself to seek other and greater than himself. It is this that drives him back to the centre of his being, and it is this that forces him to take the path of return to the All-Self. Ever, throughout the aeons, does the Prodigal Son arise and go to his Father, and always latent within him is the memory of the Father’s home and the glory there to be found. But the human mind is so constituted that the search for light and for the ideal is necessarily long and difficult. “Now we see through a glass darkly, but then face to face”; now we catch glimpses through the occasional windows we pass in our ascension of the ladder, of other and greater Beings than ourselves; They hold out to us helping hands, and call to us in clarion tones to struggle bravely on if we hope to stand where They are now standing.

Khắp nơi trên toàn thế giới đều cảm nhận được sự thôi thúc thúc đẩy con người đi tìm một ai đó mà đối với họ, người ấy hiện thân cho lý tưởng. Ngay cả những người không thừa nhận sự hiện hữu của các Chân sư cũng tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung lý tưởng ấy như được hiện thân trong một hình tướng nào đó trên cõi vật chất. Có lẽ họ tự hình dung mình như là những người tiêu biểu cho [257] về hành động lý tưởng, hoặc hình dung một nhà từ thiện vĩ đại nào đó, một nhà khoa học siêu việt nào đó, một nghệ sĩ hay nhạc sĩ nổi bật nào đó, như đang thể hiện quan niệm tối thượng của họ. Con người,—chỉ vì tự y là phân mảnh và bất toàn—luôn có thôi thúc bên trong phải tìm kiếm những điều khác và lớn hơn chính mình. Chính điều này đưa y trở về trung tâm của hữu thể mình, và chính điều này buộc y bước lên Con Đường Trở Về với Đại Ngã. Suốt qua các thời đại, Người Con Hoang Đàng luôn đứng dậy và đi về với Cha mình, và luôn tiềm ẩn trong y là ký ức về ngôi nhà của Cha và vinh quang có thể tìm thấy ở đó. Nhưng thể trí con người được cấu tạo như vậy nên cuộc tìm kiếm ánh sáng và lý tưởng tất yếu là dài lâu và khó khăn. “Nay chúng ta thấy như qua một tấm kính mờ, nhưng rồi sẽ đối diện mặt đối mặt”; nay chúng ta bắt gặp những thoáng thấy qua những ô cửa thỉnh thoảng đi ngang trong khi leo lên chiếc thang, về những Thực Thể khác và lớn hơn chúng ta; Các Ngài đưa tay trợ giúp cho chúng ta, và gọi chúng ta bằng những âm vang như kèn lệnh, thúc giục hãy can đảm đấu tranh tiếp nếu chúng ta hy vọng đứng ở nơi Các Ngài đang đứng.

We sense beauties and glories surrounding us that as yet we cannot revel in; they flit into our vision, and we touch the glory at a lofty moment only again to lose the contact and to sink back again into the murky gloom that envelopes. But we know that outside and further on is something to be desired; we learn also the mystery that that external wonder can only be contacted by withdrawing within, till the centre of consciousness is found that vibrates in tune with those dimly realised wonders, and with those radiant Souls Who call Themselves our Elder Brothers. Only by trampling on the external sheaths that veil and hide the inner centre do we achieve the goal, and find the Ones we seek. Only by the domination of all forms, and the bringing of those forms under the rule of the God within, can we find the God in all, for it is only the [258] sheaths in which we move upon the plane of being that hide from us our inner God, and that shut us off from Those in Whom the God transcends all outer forms.

Chúng ta cảm nhận những vẻ đẹp và vinh quang đang bao quanh mà chúng ta chưa thể hoan hưởng; chúng lướt vào tầm nhìn của chúng ta, và chúng ta chạm được vinh quang trong một khoảnh khắc cao vời chỉ để rồi lại mất liên lạc và lại chìm xuống bóng tối đục mờ đang bao phủ. Nhưng chúng ta biết rằng ở bên ngoài và xa hơn nữa có điều gì đó đáng khao khát; chúng ta cũng học được huyền nhiệm rằng kỳ quan bên ngoài ấy chỉ có thể được tiếp xúc bằng cách rút vào bên trong, cho đến khi tìm được trung tâm tâm thức rung động hòa điệu với những kỳ quan chỉ mới được chứng nghiệm mơ hồ ấy, và với những Linh Hồn rạng ngời tự gọi mình là các Huynh Trưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách giẫm lên các vỏ bọc bên ngoài vốn che màn và che giấu trung tâm nội tại, chúng ta mới đạt được mục tiêu và tìm thấy những Đấng mà chúng ta tìm kiếm. Chỉ bằng sự chế ngự mọi hình tướng, và đưa những hình tướng ấy dưới sự cai quản của Thượng đế bên trong, chúng ta mới có thể tìm thấy Thượng đế trong mọi sự, vì chỉ chính các [258] vỏ bọc mà chúng ta vận hành trên cõi bản thể mới che khuất Thượng đế nội tại của chúng ta, và mới ngăn cách chúng ta khỏi Những Đấng mà nơi Các Ngài, Thượng đế siêu vượt mọi hình tướng bên ngoài.

The great Initiate, Who voiced the words I quote, added still other words of radiant truth: “Then shall we know even as we are known.” The future holds for each and all who duly strive, who unselfishly serve and occultly meditate, the promise of knowing Those Who already have full knowledge of the struggler. Therein lies the hope for the student of meditation; as he struggles, as he fails, as he perseveres, and as he laboriously reiterates from day to day the arduous task of concentration and of mind control, there stand on the inner side Those Who know him, and Who watch with eager sympathy the progress that be makes.

Vị điểm đạo đồ vĩ đại, Đấng đã thốt ra những lời tôi trích dẫn, còn thêm những lời chân lý rực sáng khác: “Bấy giờ chúng ta sẽ biết, cũng như chúng ta được biết.” Tương lai dành cho từng người, cho tất cả những ai nỗ lực đúng đắn, phụng sự vô ngã và tham thiền theo huyền bí học, lời hứa sẽ biết Những Đấng vốn đã biết trọn vẹn người đang đấu tranh. Ở đây có niềm hy vọng cho đạo sinh tham thiền; khi y đấu tranh, khi y thất bại, khi y kiên trì, và khi y ngày này qua ngày khác nhọc nhằn lặp lại nhiệm vụ gian nan của sự tập trung và sự kiểm soát thể trí, thì ở phía bên trong có Những Đấng biết y, và dõi theo với sự cảm thông nồng nhiệt tiến bộ mà y đạt được.

Forget not the earlier part of the Initiate’s remarks where he points out the way whereby the darkness is dispelled, and knowledge of the Great Ones is reached. He emphasises that only by love is the path of light and knowledge trodden. Why this emphasis upon love? Because the goal for all is love, and therein lies the merging. To put scientifically what is oft a nebulous sentiment, we might express it as follows:—It is by the attainment of the vibration which is analogous to the Ray of Love-Wisdom (the Divine Ray) that the Lords of Love are contacted, that the Masters of Compassion are known, and that the possibility of entering into the consciousnesses of the Great Ones and of all our brothers of whatsoever degree, becomes a fact in manifestation.

Đừng quên phần trước trong lời nói của vị điểm đạo đồ, nơi ông chỉ ra con đường nhờ đó bóng tối được xua tan, và tri thức về Các Đấng Cao Cả được đạt đến. Ông nhấn mạnh rằng chỉ bằng bác ái thì con đường ánh sáng và tri thức mới được bước đi. Vì sao lại nhấn mạnh bác ái? Bởi vì mục tiêu của tất cả là bác ái, và chính trong đó có sự hòa nhập. Để diễn đạt một cách khoa học điều vốn thường chỉ là một tình cảm mơ hồ, chúng ta có thể nói như sau:—Chính nhờ đạt được rung động tương tự với Cung Bác Ái – Minh Triết (Cung thiêng liêng) mà các Chúa Tể của Bác Ái được tiếp xúc, các Chân sư của Lòng Từ Bi được biết đến, và khả năng đi vào các tâm thức của Các Đấng Cao Cả và của tất cả các huynh đệ của chúng ta, bất kể cấp bậc nào, trở thành một sự kiện trong biểu hiện.

This is the path to be trodden by one and all, and the method is meditation. The goal is perfect love and wisdom; the steps are the surmounting of subplane after subplane on all the three planes; the method is that of occult meditation; the reward is the continuous expansion [259] of consciousness that puts a man eventually en rapport with his own Ego, with other selves, with the waiting eager Master to Whom he is assigned, with fellow disciples and more advanced Initiates whom he may contact in that Master’s aura, till he finally contacts the One Initiator, is admitted into the Secret Place, and knows the mystery that underlies consciousness itself.

Đây là con đường mà từng người và tất cả phải bước đi, và phương pháp là tham thiền. Mục tiêu là bác ái và minh triết hoàn hảo; các bước là vượt qua cõi phụ này đến cõi phụ khác trên cả ba cõi; phương pháp là tham thiền huyền bí; phần thưởng là sự mở rộng liên tục [259] của tâm thức, rốt cuộc đưa một người vào sự tương thông với chính chân ngã của mình, với các bản ngã khác, với Chân sư đang chờ đợi đầy nhiệt tâm mà y được phân công, với các đệ tử đồng môn và các điểm đạo đồ tiến bộ hơn mà y có thể tiếp xúc trong hào quang của Chân sư ấy, cho đến khi cuối cùng y tiếp xúc Đấng Điểm đạo duy nhất, được thừa nhận vào Nơi Bí Mật, và biết huyền nhiệm nằm dưới chính tâm thức.

September 14th, 1920.

Ngày 14 tháng 9, 1920.

Who are the Masters?—Các Chân sư là ai?