← LETTERs ON OCCULT MEDITATION – Alice A. Bailey

September 16th, 1920.

It might be of value to us in our consideration of the subject of access to the Masters via meditation if we started with a few fundamental statements, dealing with the Masters and Their place in evolution. We will therefore take up our first point. We shall thus bring before the readers of these letters some idea as to Their status, Their comprehensive development, and Their methods of work. Needless to say, much that will follow will carry nothing new in import. The things that concern us most closely and the things that are to us the most familiar are oft the most frequently overlooked, and the most nebulous to our reasoning faculty.

Có lẽ sẽ hữu ích cho chúng ta trong việc suy xét đề tài về sự tiếp cận các Chân sư qua tham thiền nếu chúng ta bắt đầu bằng một vài mệnh đề nền tảng, bàn đến các Chân sư và vị trí của Các Ngài trong tiến hoá. Vì vậy chúng ta sẽ nêu điểm thứ nhất của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ trình bày trước độc giả của những bức thư này một ý niệm nào đó về địa vị của Các Ngài, sự phát triển bao quát của Các Ngài, và các phương pháp làm việc của Các Ngài. Không cần phải nói, nhiều điều theo sau sẽ không mang ý nghĩa mới mẻ nào. Những điều liên hệ mật thiết nhất với chúng ta và những điều quen thuộc nhất đối với chúng ta thường lại là những điều hay bị bỏ qua nhất, và mơ hồ nhất đối với năng lực lý luận của chúng ta.

A Master of the Wisdom is One Who has undergone the fifth initiation. That really means that His consciousness has undergone such an expansion that it now includes the fifth or spiritual kingdom. He has worked His way through the four lower kingdoms:—the mineral, the vegetable, the animal and the human—and has, through meditation and service, expanded His centre of consciousness till it now includes the plane of spirit.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã trải qua lần điểm đạo thứ năm. Điều đó thật sự có nghĩa là tâm thức của Ngài đã trải qua một sự mở rộng đến mức nay nó bao gồm giới thứ năm hay giới tinh thần. Ngài đã tiến bước qua bốn giới thấp:—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và, qua tham thiền và phụng sự, đã mở rộng trung tâm tâm thức của Ngài cho đến nay nó bao gồm cõi tinh thần.

A Master of the Wisdom is One Who has effected the transfer of polarisation from the three atoms of the personal life—as included in the causal body—into the three atoms of the spiritual Triad. He is consciously [260] spirit-intuition-abstract mind, or atma-buddhi-manas, and this is not potentially but in full effective power, realised through experience. This has been brought about, as earlier said, through the process of meditation.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ ba nguyên tử của đời sống phàm ngã—như được bao hàm trong thể nguyên nhân—sang ba nguyên tử của Tam Nguyên Tinh Thần. Ngài một cách hữu thức là tinh thần-trực giác-trí trừu tượng, hay atma-bồ đề-manas, và điều này không phải là tiềm năng mà là trong quyền năng hữu hiệu trọn vẹn, được chứng nghiệm qua kinh nghiệm. Điều này đã được mang lại, như đã nói trước đó, qua tiến trình tham thiền.

A Master of the Wisdom is One Who has found not only the chord of the Ego, but the full chord of the Monad, and can ring the changes therefore at will upon all the notes from the lowest to that of the monadic. This means occultly that He has now developed the creative faculty, and can sound the note for each plane and build thereon. This power—first to discover the notes of the monadic chord and secondly to use those notes in constructive building—is first realised through meditation occultly performed, balanced by service lovingly administered.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã tìm ra không chỉ hợp âm của chân ngã, mà còn hợp âm trọn vẹn của chân thần, và vì vậy có thể tùy ý biến chuyển trên mọi nốt từ thấp nhất đến nốt chân thần. Điều này, theo huyền bí học, có nghĩa là Ngài nay đã phát triển năng lực sáng tạo, và có thể xướng âm điệu cho mỗi cõi và kiến tạo dựa trên đó. Quyền năng này—thứ nhất là khám phá các nốt của hợp âm chân thần và thứ hai là dùng các nốt ấy trong kiến tạo xây dựng—trước hết được chứng nghiệm qua tham thiền được thực hiện theo huyền bí học, được quân bình bởi phụng sự được ban hành trong bác ái.

A Master of the Wisdom is He Who can wield the law in the three worlds and can dominate all that evolves on those planes. By learning the laws of mind through the practice of meditation, He expands the laws of mind till they embrace the laws of the Universal Mind as demonstrated in lower manifestation. The Laws of Mind are mastered in meditation. They are applied in the life of service which is the logical outcome of true knowledge.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể vận dụng định luật trong ba cõi giới và có thể chế ngự mọi điều tiến hoá trên những cõi ấy. Bằng cách học các định luật của thể trí qua thực hành tham thiền, Ngài mở rộng các định luật của thể trí cho đến khi chúng bao trùm các định luật của Vũ Trụ Trí như được biểu lộ trong biểu hiện thấp. Các Định luật của thể trí được làm chủ trong tham thiền. Chúng được áp dụng trong đời sống phụng sự, là kết quả logic của tri thức chân chính.

A Master of the Wisdom is He Who has passed out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. He has there graduated through its five grades and has transmuted lower mind into mind pure and unalloyed, has transmuted desire into intuition, and has irradiated His consciousness with the light of pure Spirit. The discipline of meditation is the only way in which this can be accomplished.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã đi ra khỏi Phòng Hiểu Biết để vào Phòng Minh triết. Tại đó Ngài đã tốt nghiệp qua năm cấp bậc của nó và đã chuyển hoá hạ trí thành trí tuệ thuần khiết không pha tạp, đã chuyển hoá dục vọng thành trực giác, và đã chiếu rọi tâm thức của Ngài bằng ánh sáng của Tinh thần thuần khiết. Kỷ luật của tham thiền là con đường duy nhất nhờ đó điều này có thể được hoàn thành.

A Master of the Wisdom is He Who, through knowledge acquired by means of the five senses, has learnt [261] that synthesis exists and has merged those five senses into the synthetic two, that mark the point of attainment in the solar system. Through meditation the geometrical sense of proportion is adjusted, the sense of values is clearly recognised, and through that adjustment and recognition, illusion is dispelled and reality is known. The practice of meditation and the inner concentration there brought about awakens the consciousness to the value and true use of form. Thereby reality is contacted and the three worlds can no more ensnare.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng, qua tri thức thu nhận bằng năm giác quan, đã học rằng có sự tổng hợp và đã hợp nhất năm giác quan ấy vào hai giác quan tổng hợp, vốn đánh dấu điểm thành tựu trong hệ mặt trời. Qua tham thiền, ý thức hình học về tỉ lệ được điều chỉnh, ý thức về các giá trị được nhận biết rõ ràng, và nhờ sự điều chỉnh và nhận biết ấy, ảo tưởng bị xua tan và thực tại được biết. Việc thực hành tham thiền và sự tập trung nội tại được tạo ra nhờ đó đánh thức tâm thức đối với giá trị và công dụng chân thực của hình tướng. Nhờ vậy thực tại được tiếp xúc và ba cõi giới không còn có thể giam bẫy.

A Master of the Wisdom is He Who knows the meaning of consciousness, of life, and of spirit. He can pass—by the line of least resistance—straight to the “bosom of His Father in Heaven”. The approach to the line of least resistance, the direct path, is found through the practice of meditation.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng biết ý nghĩa của tâm thức, của sự sống, và của tinh thần. Ngài có thể đi—theo con đường ít trở ngại nhất—thẳng đến “lòng của Cha Ngài trên cõi thượng thiên”. Sự tiếp cận con đường ít trở ngại nhất, con đường trực tiếp, được tìm thấy qua thực hành tham thiền.

A Master of the Wisdom is He Who has resolved Himself from the five into the three, and from the three into the two. He has become the five-pointed star, and when that moment is reached He sees that star flash out above the One Initiator, and recognises it in those of equal place to His. He has sanctified (in the occult sense) the Quaternary, has used it as the foundation stone upon which to erect the Temple of Solomon. He has grown beyond that Temple itself and has come to recognise it as limitation. He has withdrawn Himself from its confining walls and has entered within the Triad. He has done this always by the occult method, that is, consciously and with full knowledge of each step taken. He learns the meaning of each confining form; then, He has assumed control and wielded the law upon the plane consistent with the form. He has then outgrown the form and has discarded it for other and higher forms. Thus He has progressed always by means of the sacrifice and death of the form. Always [262] it is recognised as imprisoning; always it must be sacrificed and must die so that the life within may speed ever on and up. The path of resurrection presupposes crucifixion and death, and then leads to the Mount whence Ascension may be made. In meditation the value of the life, and the confines of the form, can be appreciated and known, and by knowledge and service can the life be set free from all that limits and trammels.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã giải quyết tự Ngài từ năm thành ba, và từ ba thành hai. Ngài đã trở thành ngôi sao năm cánh, và khi khoảnh khắc ấy đến, Ngài thấy ngôi sao đó loé sáng phía trên Đấng Điểm đạo duy nhất, và nhận ra nó trong những Đấng đồng vị thế với Ngài. Ngài đã thánh hiến (theo nghĩa huyền bí) Tứ Phân, đã dùng nó làm viên đá nền để dựng nên Đền thờ Solomon. Ngài đã lớn vượt khỏi chính ngôi Đền ấy và đã nhận ra nó là sự giới hạn. Ngài đã rút Ngài khỏi những bức tường giam hãm của nó và đã đi vào trong Tam Nguyên Tinh Thần. Ngài đã làm điều này luôn bằng phương pháp huyền bí, tức là, một cách hữu thức và với tri thức đầy đủ về mỗi bước được thực hiện. Ngài học ý nghĩa của mỗi hình tướng giam hãm; rồi Ngài đã nắm quyền kiểm soát và vận dụng định luật trên cõi phù hợp với hình tướng. Sau đó Ngài đã lớn vượt khỏi hình tướng và đã loại bỏ nó để lấy những hình tướng khác và cao hơn. Như vậy Ngài luôn tiến bộ bằng phương tiện của sự hi sinh và cái chết của hình tướng. Luôn luôn [262] hình tướng được nhận ra là giam cầm; luôn luôn nó phải được hi sinh và phải chết để sự sống bên trong có thể luôn lao nhanh lên và tiến lên. Con đường phục sinh giả định sự đóng đinh và cái chết, rồi dẫn đến Ngọn Núi từ đó có thể thăng thiên. Trong tham thiền, giá trị của sự sống, và giới hạn của hình tướng, có thể được trân trọng và biết đến, và bằng tri thức cùng phụng sự, sự sống có thể được giải phóng khỏi mọi điều giới hạn và trói buộc.

A Master of the Wisdom is One Who has chosen to stay upon our planet to help His fellowmen.... By that the term is understood by the general public who enquire All who attain the fifth Initiation are Masters of the Wisdom, but all stay not and work as servers of the race. They pass to other work of greater or equal importance. To the general public the significance of the term lies in the thought that They choose to stay and limit Themselves for the sake of men who are pressing forward on the wave of evolution. Through meditation has the Great One reached His goal and (which is a thing not so oft comprehended) through meditation, or the manipulation of thought matter, and by work on the mental bodies of the race, is the work carried on that aids the evolutionary process.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã chọn ở lại trên hành tinh của chúng ta để giúp những người đồng loại của Ngài.... Theo đó, thuật ngữ này được công chúng nói chung hiểu, những người vốn tìm hiểu. Tất cả những ai đạt đến lần điểm đạo thứ năm đều là các Chân sư Minh Triết, nhưng không phải tất cả đều ở lại và làm việc như những người phụng sự cho nhân loại. Các Ngài chuyển sang những công việc khác có tầm quan trọng lớn hơn hoặc tương đương. Đối với công chúng nói chung, ý nghĩa của thuật ngữ này nằm ở ý nghĩ rằng Các Ngài chọn ở lại và tự giới hạn vì lợi ích của những người đang thúc tiến trên làn sóng tiến hoá. Qua tham thiền, Đấng Cao Cả đã đạt mục tiêu của Ngài và (điều không thường được thấu hiểu) qua tham thiền, hay sự thao tác vật chất tư tưởng, và bằng công việc trên các thể trí của nhân loại, công việc được tiếp tục nhằm trợ giúp tiến trình tiến hoá.

A Master of the Wisdom is He Who has taken the first initiation that links Him up with the greater Brotherhood on Sirius. As afore I have told you, He is an Initiate of the First Degree in the greater Lodge. He has attained an expansion of consciousness that has admitted Him into touch with the solar system in many of its departments. Now He has ahead of Him a vast reach of expansions that will eventually take Him beyond systemic consciousness into something far greater and wider. He has to begin to learn the rudiments of that cosmic meditation that will admit Him into a Consciousness past our conceivable surmise. [263]

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã nhận lần điểm đạo thứ nhất, lần điểm đạo nối kết Ngài với Huynh đệ Đoàn vĩ đại hơn trên Sirius. Như trước đây tôi đã nói với các bạn, Ngài là một điểm đạo đồ bậc một trong Thánh đoàn lớn hơn. Ngài đã đạt một sự mở rộng tâm thức cho phép Ngài tiếp xúc với hệ mặt trời trong nhiều bộ phận của nó. Nay trước mặt Ngài là một tầm rộng mênh mông của những sự mở rộng sẽ rốt cuộc đưa Ngài vượt khỏi tâm thức hệ thống vào một điều gì đó lớn hơn và rộng hơn rất nhiều. Ngài phải bắt đầu học những điều sơ đẳng của sự tham thiền vũ trụ, điều sẽ cho phép Ngài đi vào một Tâm Thức vượt quá mọi suy đoán mà chúng ta có thể hình dung. [263]

A Master of the Wisdom is He Who can consciously function as part of the Heavenly Man to Whose Body He may belong. He understands the laws governing groups and group souls. He governs a group soul consciously Himself (a group on the path of return and formed of the lives of many sons of men) and He knows His place in the body systemic. He realises the centre in the Body of the Heavenly Man by means of which He and His group are kept in sympathetic vibration, and conducts His relationship with other groups in the same Body under certain definite laws. The value of meditation as a preparation for this activity will be realised by all thoughtful students, for meditation is the one means whereby the sense of separateness is transcended, and unity with one’s kind occultly comprehended.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể hoạt động một cách hữu thức như một phần của Đấng Thiên Nhân mà Ngài có thể thuộc về Thể của Đấng ấy. Ngài thấu hiểu các định luật chi phối các nhóm và các Hồn nhóm. Ngài tự Ngài cai quản một Hồn nhóm một cách hữu thức (một nhóm trên Con Đường Trở Về và được cấu thành bởi sự sống của nhiều những người con của nhân loại) và Ngài biết vị trí của Ngài trong thân thể của hệ thống. Ngài chứng nghiệm trung tâm trong Thể của Đấng Thiên Nhân, nhờ đó Ngài và nhóm của Ngài được giữ trong rung động cảm ứng, và Ngài điều hành mối liên hệ của Ngài với các nhóm khác trong cùng Thể ấy theo những định luật nhất định. Giá trị của tham thiền như một sự chuẩn bị cho hoạt động này sẽ được mọi môn sinh biết suy nghĩ chứng nghiệm, vì tham thiền là phương tiện duy nhất nhờ đó cảm thức phân ly được vượt qua, và sự hợp nhất với đồng loại của mình được thấu hiểu một cách huyền bí.

A Master of the Wisdom is He Who has entrusted to Him, by virtue of work accomplished, certain Words of Power. By means of these Words He wields the law over other evolutions than the human, and through them He co-operates with the activity aspect of the Logos. Thus He blends His consciousness with that of the third Logos. Through these Words He assists with the building work, and the cohesive manipulating endeavor of the second Logos, and comprehends the inner working of the law of gravitation for attraction and repulsion) that governs all the functions of the second aspect logoic. Through these Words He co-operates with the work of the first Logos, and learns, as He takes the sixth and seventh Initiations (which is not always done) the meaning of Will as applied in the system. These Words are imparted orally, and through clairvoyant faculty but must be found by the Initiate Himself, by the use of atma and as He attains atmic consciousness.... When atmic consciousness is developing by means of the intuition, the [264] Initiate can contact the stores of knowledge inherent in the Monad, and thus learn the Words of Power. This ability comes only after the application of the Rod of Initiation as wielded by the Lord of the World. Therefore by the higher stages of occult meditation does a Master of the Wisdom increase still further His knowledge. Not static is His consciousness, but daily embracing more. Daily does He apply Himself to further expansion.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng được giao phó, do công việc đã hoàn thành, một số Quyền năng từ nhất định. Nhờ các Linh từ này, Ngài vận dụng định luật đối với các tiến hoá khác ngoài tiến hoá nhân loại, và qua đó Ngài hợp tác với phương diện hoạt động của Thượng đế. Vì vậy Ngài hoà trộn tâm thức của Ngài với tâm thức của Thượng đế thứ ba. Qua các Linh từ này, Ngài trợ giúp công việc kiến tạo, và nỗ lực thao tác mang tính kết dính của Thượng đế thứ hai, và thấu hiểu sự vận hành nội tại của định luật hấp dẫn (cho hút và đẩy) chi phối mọi chức năng của phương diện thứ hai mang tính Thượng đế. Qua các Linh từ này, Ngài hợp tác với công việc của Thượng đế thứ nhất, và học, khi Ngài nhận lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy (điều này không phải lúc nào cũng xảy ra), ý nghĩa của Ý Chí như được áp dụng trong hệ thống. Các Linh từ này được truyền khẩu, và qua năng lực thông nhãn, nhưng phải do chính điểm đạo đồ tự tìm ra, bằng việc sử dụng atma và khi y đạt được tâm thức atma.... Khi tâm thức atma đang phát triển nhờ trực giác, điểm đạo đồ [264] có thể tiếp xúc các kho tàng tri thức vốn có trong chân thần, và do đó học được các Quyền năng từ. Khả năng này chỉ đến sau khi Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng như do Đức Chúa Tể Thế Giới vận dụng. Vì vậy, nhờ các giai đoạn cao của tham thiền huyền bí mà một Chân sư Minh Triết còn gia tăng hơn nữa tri thức của Ngài. Tâm thức của Ngài không tĩnh tại, mà mỗi ngày bao quát nhiều hơn. Mỗi ngày Ngài chuyên chú vào sự mở rộng thêm nữa.

A Master of the Wisdom is One Who has earned the right through similarity of vibration to work with the Heads of the Hierarchy of this planet, and in conjunction with analogous Heads on two other planets connected with our chain. When He has taken other initiations He can contact and work in conjunction with all the seven Planetary Logoi, and not just the three in control of allied chains. The whole system can be embraced by Him, and His consciousness has expanded to include the entire objective solar system.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã giành được quyền, nhờ sự tương đồng về rung động, để làm việc với các Đấng Đứng Đầu của Thánh Đoàn của hành tinh này, và phối hợp với các Đấng Đứng Đầu tương tự trên hai hành tinh khác có liên hệ với dãy của chúng ta. Khi Ngài đã nhận các lần điểm đạo khác, Ngài có thể tiếp xúc và làm việc phối hợp với cả bảy Hành Tinh Thượng đế, chứ không chỉ ba Đấng đang kiểm soát các dãy liên minh. Toàn bộ hệ thống có thể được Ngài bao quát, và tâm thức của Ngài đã mở rộng để bao gồm toàn thể hệ mặt trời khách quan.

I could enumerate still other definitions, and further elucidate the matter for you, but that imparted today suffices. The point reached by a Master is high, but only relatively so, and you must not forget that when attained by Him it seems low indeed, for He measures it up with the vista expanding before Him. Each expansion of consciousness, each step upon the ladder, but opens before the Initiate another sphere to be embraced, and another step ahead to be taken; each initiation achieved but reveals still higher ones to be mastered, and never comes the point where the aspirant (be he an average man, an initiate, a Master, a Chohan, or a Buddha) can remain in a condition static, and is incapable of future progress. Even the Logos Himself aspires, and even the One to Whom He aspires reaches up to a Greater. [265]

Tôi có thể liệt kê thêm những định nghĩa khác, và làm sáng tỏ thêm vấn đề cho các bạn, nhưng những gì được truyền đạt hôm nay là đủ. Điểm mà một Chân sư đạt đến thì cao, nhưng chỉ là tương đối, và các bạn chớ quên rằng khi Ngài đạt được nó thì nó quả thật có vẻ thấp, vì Ngài đo lường nó bằng viễn cảnh đang mở rộng trước Ngài. Mỗi sự mở rộng tâm thức, mỗi bậc trên chiếc thang, chỉ mở ra trước điểm đạo đồ một khối cầu khác để bao quát, và một bước khác phía trước để tiến lên; mỗi lần điểm đạo đạt được chỉ mặc khải những lần cao hơn nữa cần được làm chủ, và không bao giờ đến điểm mà người chí nguyện (dù y là một người bình thường, một điểm đạo đồ, một Chân sư, một Chohan, hay một vị Phật) có thể ở yên trong một trạng thái tĩnh tại, và không còn khả năng tiến bộ trong tương lai. Ngay cả chính Thượng đế cũng chí nguyện, và ngay cả Đấng mà Ngài chí nguyện hướng tới cũng vươn lên với một Đấng Vĩ Đại hơn. [265]

What happens in the system transpires likewise on cosmic levels, and what is mastered here must be repeated on a vaster scale in the cosmos itself. In this thought lies inspiration and development and not despair or weariness. The reward that comes with each step forward, the delight that lies in increased comprehension, rewards the struggling aspirant in adequate fashion.... Tomorrow we will deal with the more practical side, that of the man who aims at this high calling.

Điều gì xảy ra trong hệ thống cũng diễn ra tương tự trên các cấp độ vũ trụ, và điều gì được làm chủ ở đây phải được lặp lại trên một quy mô rộng lớn hơn trong chính vũ trụ. Chính trong đó có cảm hứng và sự phát triển, chứ không phải tuyệt vọng hay mệt mỏi. Phần thưởng đến cùng mỗi bước tiến, niềm hoan hỷ nằm trong sự thấu hiểu gia tăng, đền bù cho người chí nguyện đang vật lộn một cách xứng đáng.... Ngày mai chúng ta sẽ bàn đến khía cạnh thực tiễn hơn, tức là về người hướng tới thiên chức cao cả này.

September 16th, 1920.

Ngày 16 tháng 9, 1920.

September 16th, 1920. 1 pm.

Ngày 16 tháng 9, 1920. 1 giờ chiều.

I would like to take up with you for a few minutes, brother of mine, the question I see lying within your mental body anent the work of the Star [apparently the Order of the Star in the East founded by Theosophists to prepare the world for the new manifestation of Christ-Maitreya]. You seek to know wherein advancement can be made and whether the organisation of the Star holdeth within it latent possibilities.

Tôi muốn cùng các bạn bàn trong vài phút, huynh đệ của tôi, về câu hỏi mà tôi thấy nằm trong thể trí của các bạn liên quan đến công việc của Ngôi Sao [dường như là Hội Ngôi Sao ở Phương Đông do các nhà Thông Thiên Học sáng lập để chuẩn bị thế gian cho sự hiển lộ mới của Đức Christ–Maitreya]. Các bạn tìm hiểu xem có thể tiến bộ ở điểm nào và liệu tổ chức của Ngôi Sao có chứa đựng những khả năng tiềm ẩn hay không.

The value of the Star existeth as yet largely on mental levels. The aggregate of thought matter as moulded by the members of the Star is necessarily very large and to have so much mental matter attuned to that vibration was one of the main purposes the founders had in view. That purpose is in process of seeing fulfilment. Much matter is satisfactorily tinctured. One note hath not yet been struck and it must be sounded before the ideal back of the Star becometh a fact in objective manifestation. Not yet hath DESIRE for the Advent been adequately awakened. The Star work must be brought down to the astral plane before it can fulfil its object. Therefore the need now is to awaken all Star members to the necessity of longing for the Coming, and of arousing in others and their immediate environment a yearning to see the Great Lord come.

Giá trị của Ngôi Sao cho đến nay phần lớn vẫn tồn tại trên các cấp độ trí tuệ. Tổng thể vật chất tư tưởng như được các thành viên của Ngôi Sao nhào nặn tất yếu là rất lớn, và việc có được nhiều vật chất trí tuệ được chỉnh hợp với rung động ấy là một trong những mục đích chính mà các nhà sáng lập đã nhắm tới. Mục đích ấy đang trong tiến trình được thấy là hoàn thành. Nhiều vật chất đã được nhuộm màu một cách thỏa đáng. Có một âm điệu vẫn chưa được xướng lên và nó phải được xướng lên trước khi lý tưởng đứng sau Ngôi Sao trở thành một sự kiện trong sự biểu lộ khách quan. DỤC VỌNG cho Cuộc Quang Lâm vẫn chưa được đánh thức đầy đủ. Công việc của Ngôi Sao phải được đưa xuống cõi cảm dục trước khi nó có thể hoàn thành mục tiêu của mình. Vì vậy, nhu cầu hiện nay là đánh thức mọi thành viên của Ngôi Sao trước sự cần thiết của khát vọng đối với Đấng Đang Đến, và khơi dậy nơi người khác cùng môi trường gần gũi của họ một niềm khao khát được thấy Đức Chúa Tể Vĩ Đại quang lâm.

When this hath been done then cometh response to that desire and He will come.

Khi điều này đã được thực hiện thì đáp ứng đối với dục vọng ấy sẽ đến và Ngài sẽ đến.

Your work therefore is clear;—to make people earnestly desire to hear His voice, and to touch the hem of His garment. This can be done in 3 ways, which I commend to your earnest consideration.

Vì vậy công việc của các bạn là rõ ràng;—làm cho người ta tha thiết mong muốn được nghe tiếng nói của Ngài, và được chạm vào vạt áo của Ngài. Điều này có thể được thực hiện theo 3 cách, mà tôi khuyến nghị các bạn hãy nghiêm túc suy xét.

1. By arousing in people a realisation of the work He will do and the message He will give when He walks the earth.

1. Bằng cách khơi dậy nơi người ta sự chứng nghiệm về công việc Ngài sẽ làm và thông điệp Ngài sẽ ban khi Ngài bước đi trên mặt đất.

2. By emphasising the futility of a new order of things—economic, political and social—apart for a new ideal and a new incentive. This ideal and this incentive will be His theme when again He sounds a message forth that will be the objective of the new cycle. The period called Piscean (the era of gathering out the fishes, and training the fishermen) is to be superseded by the era of service to all, the slaking of the thirst by means of the universally attainable supply. That supply will be distributed by those who in the era just past have been gathered out and trained. Ponder on this.

2. Bằng cách nhấn mạnh tính vô ích của một trật tự mới—kinh tế, chính trị và xã hội—nếu tách rời một lý tưởng mới và một động lực mới. Lý tưởng này và động lực này sẽ là chủ đề của Ngài khi một lần nữa Ngài xướng ra một thông điệp sẽ là mục tiêu của chu kỳ mới. Thời kỳ được gọi là Song Ngư (kỷ nguyên của việc gom những con cá ra, và huấn luyện những người đánh cá) sẽ được thay thế bởi kỷ nguyên phụng sự tất cả, sự giải khát nhờ nguồn cung phổ quát mà ai cũng có thể đạt được. Nguồn cung ấy sẽ được phân phối bởi những người mà trong kỷ nguyên vừa qua đã được gom ra và được huấn luyện. Hãy suy ngẫm về điều này.

3. By familiarising the non-illuminated world with the names and functions of Those He will bring with Him on the impetus of His Own vibration; by scattering broadcast the secret wisdom thuths, and —in the face of scorn and scoffing—demonstrating that for many of you the Masters, Their Names, activities, Their Persons and Their groups are facts, not dreams. This inversely involveth on your part therefore, and on the part of all who believe in the Hierarchy a definite aim and endeavour to contact, so as to be able to say with clarion tone: "I speak that I do KNOW and testify that I have seen."

3. Bằng cách làm cho thế giới chưa được soi sáng trở nên quen thuộc với danh xưng và chức năng của Các Ngài mà Ngài sẽ đem theo cùng Ngài dưới xung lực của chính rung động của Ngài; bằng cách rải rộng các chân lý minh triết bí nhiệm, và —trước sự khinh miệt và chế nhạo—chứng minh rằng đối với nhiều người trong các bạn, các Chân sư, Danh xưng của Các Ngài, các hoạt động, Thân vị của Các Ngài và các nhóm của Các Ngài là những sự thật, chứ không phải những giấc mơ. Do đó, điều này đòi hỏi ngược lại nơi các bạn, và nơi tất cả những ai tin vào Thánh Đoàn, một mục tiêu xác định và một nỗ lực tiếp xúc, để có thể nói bằng giọng kèn vang: "Tôi nói điều mà tôi BIẾT và làm chứng rằng tôi đã thấy."

These are the 3 things to be done, brother of mine, and much must be accomplished by the pen, the tongue, and personal endeavour, by meetings, and by meditation. As regards your immediate problem, the work in H-, I would make no remark save to point out that the wise server is he whom utiliseth that which he hath, and from a small beginning developeth that which will be.

Đó là 3 điều cần được thực hiện, huynh đệ của tôi, và nhiều việc phải được hoàn thành bằng ngòi bút, bằng lời nói, và bằng nỗ lực cá nhân, bằng các buổi họp, và bằng tham thiền. Về vấn đề trước mắt của các bạn, công việc tại H-, tôi sẽ không nhận xét gì ngoài việc chỉ ra rằng người phụng sự khôn ngoan là người biết sử dụng điều mình có, và từ một khởi đầu nhỏ phát triển điều sẽ là.

This sufficeth, brother of mine, and I think answereth the queries in your mind.

Như vậy là đủ, huynh đệ của tôi, và tôi nghĩ đã trả lời các thắc mắc trong thể trí của các bạn.

Let us now do the matter in hand, for the time is brief, and the work to be done much, specially in the mechanical preparation of the MSS [manuscripts].

Giờ đây chúng ta hãy làm việc đang có trong tay, vì thời gian thì ngắn, và công việc cần làm thì nhiều, đặc biệt là trong sự chuẩn bị cơ giới của các bản thảo [các bản thảo].

What access to the Master entails.—Việc được tiếp cận Chân sư hàm ý điều gì.

We deal today with the second point in our eighth letter, and we have to look at the subject in two ways, briefly from the standpoint of the Master, and rather lengthily from the viewpoint of the pupil.

Hôm nay chúng ta bàn đến điểm thứ hai trong bức thư thứ tám của chúng ta, và chúng ta phải nhìn chủ đề theo hai cách, ngắn gọn từ lập trường của Chân sư, và khá dài từ quan điểm của môn sinh.

We have in these letters given a broad outline of the magnitude of the task that lies ahead of the man who proposes to attain. Much that has been written has no interest for the man who is only of average development, but chiefly concerns the man who has reached a specific point in evolution, and stands upon the Path of Probation. Much that might be said upon this matter has been covered in that earlier series I communicated to you. I seek not to cover the same ground here, but to deal more specifically with the internal relationship which exists between Master and pupil.

Trong các bức thư này chúng ta đã đưa ra một phác thảo rộng về tầm vóc của nhiệm vụ đang ở phía trước người dự định đạt đến. Nhiều điều đã được viết không có mối quan tâm đối với người chỉ ở mức phát triển trung bình, mà chủ yếu liên quan đến người đã đạt đến một điểm tiến hoá xác định, và đứng trên Con Đường Dự Bị. Nhiều điều có thể nói về vấn đề này đã được bao quát trong loạt bài trước mà tôi đã truyền đạt cho các bạn. Tôi không tìm cách lặp lại ở đây, mà muốn đề cập cụ thể hơn đến mối liên hệ nội tại đang tồn tại giữa Chân sư và môn sinh.

That relationship exists in four grades, in each of which a man progresses nearer to his Master. These four grades are as follows and cover the period wherein the man is under training until the time when he himself becomes an adept.

Mối liên hệ ấy tồn tại trong bốn cấp bậc, trong mỗi cấp bậc một người tiến gần hơn đến Chân sư của y. Bốn cấp bậc này như sau và bao trùm giai đoạn trong đó người ấy được huấn luyện cho đến lúc chính y trở thành một chân sư.

They are:—

Chúng là:—

a. The period wherein he is on probation. [266]

a. Thời kỳ trong đó y ở giai đoạn dự bị. [266]

b. The period wherein he is an accepted disciple.

b. Thời kỳ trong đó y là một đệ tử được chấp nhận.

c. The period wherein he is regarded as the Master’s intimate, or—as it is esoterically termed—the “Son of the Master.”

c. Thời kỳ trong đó y được xem như người thân cận của Chân sư, hoặc—như được gọi theo thuật ngữ huyền môn—“Con của Chân sư.”

d. The period wherein the final three initiations are taken, and he knows himself as one with the Master. He ranks then as the “Beloved of the Master,” a position analogous to that which John, the beloved disciple, held in the Bible story.

d. Thời kỳ trong đó ba lần điểm đạo cuối cùng được nhận, và y biết mình là một với Chân sư. Khi ấy y được xếp là “Người Yêu Dấu của Chân sư,” một vị trí tương tự như vị trí mà John, đệ tử được yêu dấu, nắm giữ trong câu chuyện Kinh Thánh.

All these stages are governed by two things:—

Tất cả các giai đoạn này đều được chi phối bởi hai điều:—

a. Similarity of vibration.

a. Sự tương đồng về rung động.

b. Karma,

b. Nghiệp quả,

and all are involved in the ability of tie man to develop group consciousness.

và tất cả đều liên quan đến khả năng của người ấy phát triển tâm thức nhóm.

On the planes of the higher mind, on the second subplane you have a reflection of what can be seen on the highest planes of our solar system. What have you there? The seven Heavenly Men are there to be found, each of Whom is composed (from the standpoint of form) of group souls,—those group souls being made up of the individual human and angel units of consciousness. On the second subplane of the mental plane you have the groups belonging to the Masters, if so I may express it. These groups are animated and vitalised from the atomic subplane where the Masters (when manifesting for the helping of the sons of men) have Their habitat,* just as the Heavenly Men have Their originating source and the cause of Their life on the atomic plane of the solar system, that which we call the plane of adi, or the first plane. These groups are formed around a Master, are enclosed within His aura, and are a part of His consciousness. They include people whose egoic ray is the same as His, or whose monadic ray is the same. [267]

Trên các cõi của thượng trí, trên cõi phụ thứ hai, các bạn có một phản ánh của điều có thể thấy trên các cõi cao nhất của hệ mặt trời chúng ta. Ở đó các bạn có gì? Bảy Đấng Thiên Nhân hiện diện ở đó, mỗi Đấng được cấu thành (xét theo quan điểm hình tướng) bởi các Hồn nhóm,—những Hồn nhóm ấy được tạo thành từ các đơn vị tâm thức cá nhân của con người và thiên thần. Trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, các bạn có các nhóm thuộc về các Chân sư, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Các nhóm này được làm cho sinh động và được tiếp sinh lực từ cõi phụ nguyên tử, nơi các Chân sư (khi biểu lộ để trợ giúp những người con của nhân loại) có nơi cư trú của Các Ngài,* cũng như các Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc khởi nguyên và nguyên nhân của sự sống của Các Ngài trên cõi nguyên tử của hệ mặt trời, điều mà chúng ta gọi là cõi adi, hay cõi thứ nhất. Các nhóm này được hình thành quanh một Chân sư, được bao bọc trong hào quang của Ngài, và là một phần của tâm thức của Ngài. Chúng bao gồm những người có cung chân ngã giống như cung của Ngài, hoặc có cung chân thần giống như cung của Ngài. [267]

This means that two types of people are concerned:—

Điều này có nghĩa là có hai loại người liên quan:—

1. Those who are preparing for the first and second initiations, taken upon the ray of the Ego, and

1. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, được nhận trên cung của Chân ngã, và

2. Those who are preparing for the two next initiations, which are taken upon the ray of the Monad. You have here a cause of the transference of people from one ray to another. It is only an apparent transference, even though it entails passing into the group of a different Master. This takes place after the second initiation.

2. Những người đang chuẩn bị cho hai lần điểm đạo kế tiếp, được nhận trên cung của chân thần. Ở đây các bạn có một nguyên nhân của sự chuyển dịch người ta từ cung này sang cung khác. Đó chỉ là một sự chuyển dịch bề ngoài, dù nó hàm ý việc chuyển vào nhóm của một Chân sư khác. Điều này diễn ra sau lần điểm đạo thứ hai.

A Probationer’s three objects.—Ba mục tiêu của một người dự bị.

During the period wherein a man is under probation, he is supposed to be developing three things:—

Trong thời kỳ một người ở giai đoạn dự bị, y được giả định là đang phát triển ba điều:—

1. The ability to contact his group, or in other words, to be sensible of the vibration of the group of which some particular Master is the focal point. He contacts it at times and at rare intervals at first. During the early part of his probation, whilst he is under observation, he can only sense and hold the group vibration (which is the Master’s vibration) for a very brief interval. He will at some high moment link up with the Master and with the group, and his whole being will be flooded with that high vibration, and surge upward in an outburst of his group colour. Then he will relax, drop back and lose the contact. His bodies are not refined enough and his vibration is too unstable to hold it long.

1. Khả năng tiếp xúc nhóm của y, hay nói cách khác, trở nên nhạy cảm với rung động của nhóm mà một Chân sư nào đó là điểm hội tụ. Lúc đầu y tiếp xúc nó đôi khi và rất hiếm. Trong phần đầu của giai đoạn dự bị, khi y đang được quan sát, y chỉ có thể cảm nhận và giữ rung động nhóm (là rung động của Chân sư) trong một khoảng rất ngắn. Vào một khoảnh khắc cao cả nào đó y sẽ nối kết với Chân sư và với nhóm, và toàn thể hữu thể của y sẽ tràn ngập rung động cao ấy, và dâng vọt lên trong một bùng nổ của sắc thái nhóm của y. Rồi y sẽ buông lỏng, rơi trở lại và mất sự tiếp xúc. Các thể của y chưa đủ tinh luyện và rung động của y quá bất ổn để giữ được lâu.

But, as time progresses (longer or shorter according to the earnestness of the pupil) the frequency of the times of contact increases; he can hold the vibration somewhat longer, and does not relax back to normal with so much ease. Then the time comes when he can be trusted to hold the contact fairly stably. He passes then to the second stage. [268]

Nhưng, khi thời gian trôi qua (dài hay ngắn tuỳ theo sự chân thành của môn sinh) tần suất những lần tiếp xúc tăng lên; y có thể giữ rung động lâu hơn đôi chút, và không buông lỏng trở lại bình thường dễ dàng như trước. Rồi thời điểm đến khi y có thể được tin cậy để giữ sự tiếp xúc khá ổn định. Khi ấy y chuyển sang giai đoạn thứ hai. [268]

2. The second thing he is supposed to be developing on the probationary path is the faculty of abstract thought, or the power to link up with the higher mind, via the causal body. He must learn to contact the lower mind simply as an instrument whereby he can reach the higher, and thus transcend it, until he becomes polarised in the causal body. Then, through the medium of the causal body, he links up with the abstract levels. Until he can do this he cannot really contact the Master, for, as you have been told, the pupil has to raise himself from his world (the lower) into Their world (the higher).

2. Điều thứ hai mà y được cho là phải phát triển trên Con Đường Dự Bị là năng lực tư tưởng trừu tượng, hay quyền năng liên kết với thượng trí, qua thể nguyên nhân. Y phải học cách tiếp xúc với hạ trí chỉ như một công cụ nhờ đó y có thể vươn tới thượng trí, và do đó vượt lên trên nó, cho đến khi y trở nên phân cực trong thể nguyên nhân. Khi ấy, qua trung gian của thể nguyên nhân, y liên kết với các tầng trừu tượng. Chừng nào y chưa làm được điều này thì y chưa thể thật sự tiếp xúc với Chân sư, vì như các bạn đã được bảo, người học trò phải tự nâng mình từ thế giới của y (thấp) lên thế giới của Các Ngài (cao).

Now both these things—the power to touch the Master and the Master’s group, and the power to polarise himself in the causal body and touch the abstract levels—are definitely the result of meditation, and the earlier letters you have received from me will have made this clear. There is therefore no need to recapitulate the earlier imparted data, save to point out that by strenuous meditation, and the faculty of one-pointed application to the duty in hand (which is after all the fruit of meditation worked out in daily living) will come the increased faculty to hold steadily the higher vibration. Again and again would I reiterate the apparently simple truth, that only similarity of vibration will draw a man to the higher group to which he may belong, to the Master Who represents to him the Lord of His Ray, to the World Teacher Who administers to him the mysteries, to the One Initiator Who effects the final liberation, and to the centre within the Heavenly Man in Whose Body he finds a place. It is the working out of the Law of Attraction and Repulsion on all the planes that gathers the life divine out of the mineral kingdom, out of the vegetable and animal kingdoms, that draws the latent Deity from out of the limitations of the human kingdom, and affiliates the man [269] with his divine group. The same law effects his liberation from subtler forms that likewise bind, and blends him back into his animating source, the Lord of the Ray in Whose Body his Monad may be found. Therefore the work of the probationer is to attune his vibration to that of his Master, to purify his three lower bodies so that they form no hindrance to that contact, and so to dominate his lower mind that it is no longer a barrier to the downflow of light from the threefold Spirit. Thus he is permitted to touch that Triad and the group on the subplane of the higher mental to which he—by right and karma—-belongs. All this is brought about by meditation, and there is no other means for achieving these aims.

Nay cả hai điều này—quyền năng chạm đến Chân sư và nhóm của Chân sư, và quyền năng phân cực trong thể nguyên nhân và chạm đến các tầng trừu tượng—đều chắc chắn là kết quả của tham thiền, và các bức thư trước mà các bạn đã nhận từ tôi hẳn đã làm rõ điều này. Vì vậy không cần nhắc lại dữ liệu đã truyền đạt trước đây, ngoại trừ chỉ ra rằng nhờ tham thiền gắng sức, và năng lực nhất tâm áp dụng vào bổn phận trước mắt (vốn suy cho cùng là hoa trái của tham thiền được thể hiện trong đời sống hằng ngày) sẽ đến năng lực gia tăng để giữ vững rung động cao. Hết lần này đến lần khác, tôi muốn nhắc lại chân lý tưởng như đơn giản: chỉ có sự tương đồng về rung động mới lôi kéo một người đến nhóm cao hơn mà y có thể thuộc về, đến Chân sư Đấng đối với y đại diện cho Chúa Tể của cung của Ngài, đến Đức Chưởng Giáo Đấng ban cho y các huyền nhiệm, đến Đấng Điểm đạo Duy Nhất Đấng thực hiện sự giải thoát tối hậu, và đến trung tâm bên trong Đấng Thiên Nhân mà trong Thể của Ngài y tìm được một chỗ đứng. Chính sự vận hành của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi trên mọi cõi đã gom góp sự sống thiêng liêng ra khỏi giới kim thạch, ra khỏi giới thực vật và giới động vật, đã kéo Thượng đế tiềm ẩn ra khỏi những giới hạn của giới nhân loại, và kết liên người ấy [269] với nhóm thiêng liêng của y. Cũng định luật ấy thực hiện sự giải thoát của y khỏi những hình tướng vi tế hơn vốn cũng trói buộc, và hòa trộn y trở lại vào nguồn sinh động của y, Chúa Tể của cung mà trong Thể của Ngài chân thần của y có thể được tìm thấy. Do đó công việc của người dự bị là điều chỉnh rung động của y cho hòa điệu với rung động của Chân sư của y, thanh lọc ba thể thấp của y để chúng không tạo chướng ngại cho sự tiếp xúc ấy, và do đó chế ngự hạ trí của y để nó không còn là rào cản đối với dòng chảy xuống của ánh sáng từ tinh thần tam phân. Nhờ vậy y được phép chạm đến Tam Nguyên Tinh Thần ấy và nhóm trên cõi phụ của cõi thượng trí mà y—do quyền lợi và nghiệp quả—thuộc về. Tất cả điều này được đem lại bởi tham thiền, và không có phương tiện nào khác để đạt được các mục tiêu ấy.

3. The third thing the probationer has to do is to equip himself emotionally and mentally, and to realise and prove that he has somewhat to impart to the group with which he is esoterically affiliated. Think upon this: too much emphasis is laid at times upon that which the pupil will get when he becomes an accepted disciple or probationer. I tell you here, in all earnestness, that he will not take these desired steps until he has somewhat to give, and something to add that will increase the beauty of the group, that will add to the available equipment that the Master seeks for the helping of the race, and that will increase the richness of the group colouring. This can be brought about in two ways that mutually interact:—

3. Điều thứ ba mà người dự bị phải làm là tự trang bị về mặt cảm xúc và trí tuệ, và nhận ra rồi chứng minh rằng y có điều gì đó để truyền đạt cho nhóm mà y được kết liên một cách huyền bí. Hãy suy ngẫm điều này: đôi khi người ta đặt quá nhiều nhấn mạnh vào điều mà người học trò sẽ nhận được khi y trở thành một đệ tử được chấp nhận hay một người dự bị. Tôi nói với các bạn ở đây, với tất cả sự nghiêm túc, rằng y sẽ không bước những bước mong muốn ấy cho đến khi y có điều gì đó để cho đi, và có điều gì đó để thêm vào nhằm gia tăng vẻ đẹp của nhóm, nhằm bổ sung vào những phương tiện sẵn có mà Chân sư tìm kiếm để trợ giúp nhân loại, và nhằm làm tăng sự phong phú của sắc thái nhóm. Điều này có thể được đem lại theo hai cách tương tác lẫn nhau:—

a. By the definite equipping, through study and application, of the content of the emotional and mental bodies.

a. Bằng sự trang bị xác định, qua học tập và áp dụng, nội dung của thể cảm dục và thể trí.

b. By the utilisation of that equipment in service to the race on the physical plane, thereby demonstrating to the eyes of the watching Hierarchy that the pupil has somewhat to give. He must show that his one desire is to be a benefactor and [270] to serve, rather than to grasp and acquire for himself. This life of acquisition for the purposes of giving must have for incentive the ideals touched in meditation, and for inspiration those downpourings from the higher mental levels and from the buddhic levels which are the result of occult meditation.

b. Bằng việc sử dụng sự trang bị ấy trong phụng sự nhân loại trên cõi hồng trần, nhờ đó chứng tỏ trước mắt Thánh Đoàn đang quan sát rằng người học trò có điều gì đó để cho đi. Y phải cho thấy rằng ước muốn duy nhất của y là trở thành một người ban ơn và [270] phụng sự, hơn là chụp lấy và tích lũy cho chính y. Đời sống tích lũy nhằm mục đích cho đi này phải lấy các lý tưởng được chạm đến trong tham thiền làm động lực, và lấy những lần tuôn đổ từ các tầng thượng trí và từ các tầng Bồ đề—là kết quả của tham thiền huyền bí—làm cảm hứng.

When these three results are brought about, and when the high vibration touched is more frequent and stable, then the probationer takes the next step forward and becomes an accepted disciple.

Khi ba kết quả này được đem lại, và khi rung động cao được chạm đến trở nên thường xuyên và ổn định hơn, thì người dự bị tiến bước kế tiếp và trở thành một đệ tử được chấp nhận.

Accepted Discipleship.—Địa vị đệ tử được chấp nhận.

The second period, wherein a man is an accepted disciple, is perhaps one of the most difficult in a man’s whole period of lives. It is made so in several ways:—

Giai đoạn thứ hai, khi một người là một đệ tử được chấp nhận, có lẽ là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong toàn bộ chu kỳ nhiều kiếp sống của một người. Nó trở nên như vậy theo nhiều cách:—

He is definitely a part of the Master’s group, and is within the consciousness of the Master at all times, being kept within His aura. This involves the steady holding of a high vibration. I would have you ponder on what the effect of this would be. To hold this vibration is at all times a difficult thing to do; it frequently involves an intensification of all that subsists within a man’s nature, and may lead (especially at first) to curious demonstration. Yet, if ever a man is to be able to hold the force that is the result of the application of the Rod of Initiation, he has to demonstrate his ability to do so at an earlier stage, and be able to hold himself stably and to move steadily forward when subjected to the intensification of vibration that comes from the Master.

Y chắc chắn là một phần của nhóm của Chân sư, và luôn luôn ở trong tâm thức của Chân sư, được giữ trong hào quang của Ngài. Điều này đòi hỏi phải giữ vững một rung động cao. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về tác động của điều này sẽ ra sao. Giữ được rung động này luôn luôn là một việc khó; nó thường xuyên kéo theo sự tăng cường của mọi điều đang tồn tại trong bản chất của một người, và có thể dẫn đến những biểu hiện kỳ lạ (đặc biệt lúc ban đầu). Tuy nhiên, nếu một người từng có thể giữ được mãnh lực là kết quả của việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, thì y phải chứng tỏ khả năng làm điều đó ở một giai đoạn sớm hơn, và có thể tự giữ mình ổn định và tiến bước vững vàng khi chịu sự tăng cường rung động phát xuất từ Chân sư.

He has to discipline himself so that nothing can enter into his consciousness that could in any way harm the group to which he belongs, or be antagonistic to the Master’s vibration. If I might so express it, so as to give [271] you some conception of my meaning, when he first forms part of the group enclosed in the Master’s aura, he is kept on the periphery of that aura until he has learnt to throw off automatically, and to reject immediately, every thought and desire unworthy of the Self and thus harmful to the group. Until he has learnt to do this he cannot advance into a closer relationship, but must remain where he can be automatically shut off. But gradually he purifies himself still more, gradually he develops group consciousness and thinks in group terms of service, gradually his aura takes on more and more the colouring of his Master’s aura, till he blends and has earned the right to be gathered closer to his Master’s Heart. Later I will explain the technical meaning of this phrase, when dealing with the work of the Master with the pupil. Suffice it to say, that as the term of “accepted disciple” progresses (and it varies in different cases) the disciple advances ever closer to the heart of the group, and finds his own place and functional activity in that body corporate. That is the secret: the finding of one’s place,—not so much one’s place upon the ladder of evolution (for that is approximately known), but in service. This is of more importance than is realised, for it covers the period which, at the end, will definitely demonstrate which path a man will follow after the fifth initiation.

Y phải tự kỷ luật để không điều gì có thể đi vào tâm thức của y mà có thể, theo bất kỳ cách nào, gây hại cho nhóm mà y thuộc về, hoặc đối nghịch với rung động của Chân sư. Nếu tôi có thể diễn đạt như vậy để cho [271] các bạn có đôi chút khái niệm về ý tôi, thì khi y lần đầu trở thành một phần của nhóm được bao bọc trong hào quang của Chân sư, y được giữ ở chu vi của hào quang ấy cho đến khi y học được cách tự động gạt bỏ, và lập tức khước từ, mọi tư tưởng và dục vọng không xứng đáng với Chân Ngã và do đó gây hại cho nhóm. Chừng nào y chưa học được điều này thì y không thể tiến vào một mối quan hệ gần gũi hơn, mà phải ở lại nơi y có thể bị tự động cách ly. Nhưng dần dần y thanh lọc mình hơn nữa, dần dần y phát triển tâm thức nhóm và suy nghĩ theo các thuật ngữ phụng sự của nhóm, dần dần hào quang của y mang ngày càng nhiều sắc thái của hào quang Chân sư của y, cho đến khi y hòa nhập và giành được quyền được quy tụ gần hơn vào Trái Tim của Chân sư của y. Về sau tôi sẽ giải thích ý nghĩa kỹ thuật của cụm từ này, khi bàn đến công việc của Chân sư đối với người học trò. Chỉ cần nói rằng, khi thời kỳ “đệ tử được chấp nhận” tiến triển (và nó thay đổi tùy từng trường hợp) thì đệ tử tiến ngày càng gần trái tim của nhóm, và tìm ra vị trí cùng hoạt động chức năng của chính mình trong cơ thể tập thể ấy. Đó là bí mật: tìm ra vị trí của mình,—không hẳn là vị trí của mình trên chiếc thang tiến hoá (vì điều đó xấp xỉ đã biết), mà là trong phụng sự. Điều này quan trọng hơn người ta tưởng, vì nó bao trùm giai đoạn mà, vào lúc kết thúc, sẽ chắc chắn chứng tỏ một người sẽ đi theo con đường nào sau lần điểm đạo thứ năm.

Sonship to the Master.—Địa vị làm Con của Chân sư.

We now come to the time when the disciple moves on to the much coveted position of a “Son of the Master.” He is then a part consciously and at all times of the Master’s consciousness. The interplay between the Master and disciple is being rapidly perfected, and the disciple can now consciously and at will link up with the Master and ascertain His thoughts. He can enter into His plans, desires [272] and will. This he has won by the right of similarity of vibration, and because the shutting off process (necessitated earlier by discordant vibration) is practically superseded; the disciple has so purified himself that his thoughts and desires cause no disquietude to the Master, and no contrary vibration to the group. He has been tried and not been found wanting. His life of service in the world is more concentrated and perfected, and he is daily developing his power to give, and increasing his equipment. All this concerns his relationship to some Master and to some one group soul. It is not dependent upon his taking initiation. Initiation is a technical matter and can be expressed in terms of esoteric science. A man can take initiation and yet not be a “son of a Master.” Discipleship is a personal relationship, governed by terms of karma and affiliation, and is not dependent upon a man’s status in the Lodge. Keep this clear in your mind. Cases have been known when a man has acquired—through diligence—the technical requisites for initiation before becoming affiliated with any particular Master.

Giờ đây chúng ta đến thời điểm khi đệ tử tiến lên địa vị rất được khao khát của một “Con của Chân sư.” Khi ấy y là một phần, một cách hữu thức và mọi lúc, trong tâm thức của Chân sư. Sự tương tác giữa Chân sư và đệ tử đang nhanh chóng được hoàn thiện, và giờ đây đệ tử có thể hữu thức và theo ý muốn liên kết với Chân sư và biết được tư tưởng của Ngài. Y có thể đi vào các kế hoạch, các ước muốn [272] và ý chí của Ngài. Điều này y đã giành được nhờ quyền lợi của sự tương đồng rung động, và vì tiến trình cách ly (trước kia cần thiết do rung động bất hòa) hầu như đã được thay thế; đệ tử đã thanh lọc mình đến mức tư tưởng và dục vọng của y không gây bất an cho Chân sư, và không tạo rung động trái nghịch đối với nhóm. Y đã được thử thách và không bị thấy là thiếu sót. Đời sống phụng sự của y trong thế gian tập trung hơn và hoàn thiện hơn, và hằng ngày y đang phát triển quyền năng cho đi, và gia tăng sự trang bị của mình. Tất cả điều này liên quan đến mối quan hệ của y với một Chân sư nào đó và với một hồn nhóm nào đó. Nó không phụ thuộc vào việc y thọ nhận điểm đạo. Điểm đạo là một vấn đề kỹ thuật và có thể được diễn đạt theo các thuật ngữ của khoa học huyền môn. Một người có thể thọ nhận điểm đạo mà vẫn không là một “con của một Chân sư.” Địa vị đệ tử là một mối quan hệ cá nhân, được chi phối bởi các điều khoản nghiệp quả và sự kết liên, và không phụ thuộc vào địa vị của một người trong Thánh đoàn. Hãy giữ điều này rõ ràng trong thể trí của các bạn. Đã có những trường hợp khi một người đã đạt được—nhờ sự chuyên cần—những điều kiện kỹ thuật cần thiết cho điểm đạo trước khi được kết liên với bất kỳ Chân sư đặc thù nào.

This later relationship of “son” to some Master has a peculiar sweetness all its own, and carries with it certain privileges. The disciple can then lift some of the burden off his Master’s shoulders, and relieve Him of some of His responsibilities, thereby setting Him free for more extended work. Hence the emphasis laid on service, for it is only as a man serves that he advances. It is the keynote of the vibration of the second abstract level. The Master at this period will confer with His “Son” and plan the work to be done upon their united point of view. In this way He will develop His pupil’s discrimination and judgment, and lighten His own load along certain lines, thus setting Himself free for other important work. [273]

Mối quan hệ muộn hơn này của “con” đối với một Chân sư nào đó có một sự ngọt ngào đặc thù của riêng nó, và mang theo những đặc ân nhất định. Khi ấy đệ tử có thể gánh bớt một phần gánh nặng khỏi vai Chân sư của y, và giảm nhẹ cho Ngài một phần trách nhiệm của Ngài, nhờ đó giải phóng Ngài cho công việc rộng lớn hơn. Do đó mới có sự nhấn mạnh đặt lên phụng sự, vì chỉ khi một người phụng sự thì y mới tiến bộ. Đó là chủ âm của rung động ở tầng trừu tượng thứ hai. Trong giai đoạn này Chân sư sẽ hội ý với “Con” của Ngài và hoạch định công việc cần làm dựa trên quan điểm hợp nhất của cả hai. Bằng cách này Ngài sẽ phát triển năng lực phân biện và phán đoán của người học trò của Ngài, và làm nhẹ gánh của chính Ngài theo một số tuyến, nhờ đó giải phóng tự Ngài cho những công việc quan trọng khác. [273]

The final period of those under discussion can have but little submitted about it. It covers the period when a man is mastering the final stages of the Path and is entering into closer and closer touch with his group and with the Hierarchy. He is not only vibrating in tune with his group and with his Master, but is beginning now to gather out his own people, and form a group himself. This group will be at first only on emotional and physical levels and on the lower mental. After the fifth initiation he will enclose within his aura these groups and those on egoic levels who are his own. This in no way prevents his being one with his Master and group, but the method of interblending is one of the secrets of initiation.

Giai đoạn cuối cùng của những điều đang được bàn đến thì chỉ có thể trình bày rất ít. Nó bao trùm thời kỳ khi một người đang làm chủ các giai đoạn cuối của Con Đường và đang đi vào sự tiếp xúc ngày càng gần gũi với nhóm của y và với Thánh Đoàn. Y không chỉ rung động hòa điệu với nhóm của y và với Chân sư của y, mà giờ đây còn bắt đầu quy tụ những người của chính y, và tự hình thành một nhóm. Nhóm này lúc đầu sẽ chỉ ở các tầng cảm xúc và hồng trần và ở hạ trí. Sau lần điểm đạo thứ năm y sẽ bao bọc trong hào quang của y các nhóm này và cả những nhóm ở các tầng chân ngã vốn là của y. Điều này không hề ngăn cản việc y là một với Chân sư và nhóm của Ngài, nhưng phương pháp hòa trộn lẫn nhau là một trong những bí mật của điểm đạo.

All this, coupled with what has been earlier imparted, will give you some idea of the rights and powers acquired on the Probationary Path and on the Path of Initiation. The means of development are ever the same:—occult meditation and service; the inner life of concentration and the outer life of practice; the inner ability to contact the higher, and the outer ability to express that faculty in terms of holy living; the inner irradiation from the Spirit, and the outer shining before men.

Tất cả điều này, kết hợp với những gì đã được truyền đạt trước đây, sẽ cho các bạn một vài ý niệm về các quyền lợi và quyền năng đạt được trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo. Các phương tiện phát triển luôn luôn như nhau:—tham thiền huyền bí và phụng sự; đời sống nội tâm của sự tập trung và đời sống bên ngoài của thực hành; năng lực nội tâm để tiếp xúc với cái cao hơn, và năng lực bên ngoài để biểu lộ năng lực ấy bằng các thuật ngữ của đời sống thánh thiện; sự chiếu rọi nội tâm từ tinh thần, và sự tỏa sáng bên ngoài trước loài người.

September 17th, 1920.

Ngày 17 tháng 9, 1920.

September 17th, 1920. 5:30 pm.

Ngày 17 tháng 9, 1920. 5:30 chiều.

I awoke you early this morning, brother of mine, so as to guarantee your taking my dictation with a mind free from the hindrances of lesser world vibration. That which I have for communication is not of great length but accuracy is desired and capacity to take with facility my dictation.

Tôi đã đánh thức các bạn sớm sáng nay, huynh đệ của tôi, để bảo đảm các bạn ghi chép lời tôi đọc với một thể trí không bị những chướng ngại của rung động thế giới thấp hơn cản trở. Điều mà tôi cần truyền đạt không dài, nhưng cần sự chính xác và khả năng tiếp nhận lời tôi đọc một cách dễ dàng.

......The subject that we have for the past few days been studying, though not so technical as some of the earlier imparted data, yet carries with it a vibration that will make this eighth letter one of those with the most potent appeals in the series. We have dealt with the facts as to the Masters and Who They are, and Their place in the scheme of things, and we have touched briefly upon what access to a Master entails from the standpoint of a pupil. We have seen that that access is a gradual process and carries a man from an occasional outer contact with [274] a Master and His group to a position of the closest intimacy, and to an attitude that places the pupil within the aura and close to the heart of his Teacher. Today we will consider for a while what this gradual changing of position has entailed on the part of the Master and what it has necessitated on His side.

......Chủ đề mà trong vài ngày qua chúng ta đã nghiên cứu, tuy không kỹ thuật như một số dữ liệu đã truyền đạt trước đó, nhưng lại mang theo một rung động sẽ khiến bức thư thứ tám này trở thành một trong những bức thư có sức kêu gọi mạnh mẽ nhất trong loạt thư. Chúng ta đã đề cập đến các sự kiện về các Chân sư và Các Ngài là ai, và vị trí của Các Ngài trong hệ thống sự vật, và chúng ta đã chạm đến một cách ngắn gọn điều mà việc tiếp cận một Chân sư hàm ý từ quan điểm của một người học trò. Chúng ta đã thấy rằng sự tiếp cận ấy là một tiến trình dần dần và đưa một người từ sự tiếp xúc bên ngoài thỉnh thoảng với [274] một Chân sư và nhóm của Ngài đến một vị thế thân mật gần gũi nhất, và đến một thái độ đặt người học trò ở trong hào quang và gần trái tim của huấn sư của y. Hôm nay chúng ta sẽ xét trong một lúc điều mà sự thay đổi vị trí dần dần này đã hàm ý gì về phía Chân sư và nó đã đòi hỏi điều gì từ phía Ngài.

The relationship of Master and pupil.—Mối quan hệ giữa Chân sư và người học trò.