As you have frequently been told, the attention of a Master is attracted to a man by the brilliance of the indwelling light. When that light has reached a certain intensity, when the bodies are composed of a certain grade of matter, when the aura has attained a certain hue and when the vibration has reached a specific rate and measure, and when a man’s life commences to sound occultly in the three worlds (which sound is to be heard through the life of service), some one particular Master begins to test him out by the application of some higher vibration, and by the study of his reaction to that vibration. The choice of a pupil by a Master is governed by past karma and by old association, by the ray on which they both may be found, and by the need of the hour. The Master’s work (as much of it as may wisely be made exoteric) is varied and interesting, and is based on a scientific comprehension of human nature. What is it that a Master has to do with a pupil? By enumerating the chief things to be done we may get some idea of the scope of His work:—
Như các bạn thường xuyên được bảo, sự chú ý của một Chân sư bị thu hút đến một người bởi sự rực rỡ của ánh sáng nội tại. Khi ánh sáng ấy đã đạt đến một cường độ nhất định, khi các thể được cấu thành bởi một cấp độ vật chất nhất định, khi hào quang đã đạt đến một sắc độ nhất định và khi rung động đã đạt đến một tốc độ và mức độ xác định, và khi đời sống của một người bắt đầu vang lên một cách huyền bí trong ba cõi thấp (mà âm vang ấy được nghe qua đời sống phụng sự), thì một Chân sư đặc thù nào đó bắt đầu thử nghiệm y bằng việc áp dụng một rung động cao hơn nào đó, và bằng việc khảo sát phản ứng của y đối với rung động ấy. Việc một Chân sư chọn một người học trò được chi phối bởi nghiệp quả quá khứ và bởi mối liên hệ xưa, bởi cung mà cả hai cùng có thể thuộc về, và bởi nhu cầu của thời điểm. Công việc của Chân sư (trong chừng mực có thể một cách khôn ngoan được làm cho ngoại môn) thì đa dạng và thú vị, và dựa trên một sự thấu hiểu khoa học về bản chất con người. Một Chân sư phải làm gì với một người học trò? Bằng cách liệt kê những điều chủ yếu cần làm, chúng ta có thể có một vài ý niệm về phạm vi công việc của Ngài:—
He has to accustom the pupil to raise his rate of vibration till he can continuously carry a high one, and then assist him until that high vibration becomes the stable measure of the pupil’s bodies.
Ngài phải làm cho người học trò quen với việc nâng tốc độ rung động của y cho đến khi y có thể liên tục mang một rung động cao, và rồi trợ giúp y cho đến khi rung động cao ấy trở thành thước đo ổn định của các thể của người học trò.
He has to assist the pupil to effect the transfer of polarisation from the lower three atoms of the Personality to the higher ones of the Spiritual Triad. [275]
Ngài phải trợ giúp người học trò thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ ba nguyên tử thấp của phàm ngã sang các nguyên tử cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần. [275]
He has to watch over the work accomplished by the pupil whilst making the channel between higher and lower mind, whilst he builds and employs this channel (the antahkarana). This channel eventually supersedes the causal body as a means of communication between the higher and the lower. The causal body is itself eventually done away with when the pupil takes the fourth initiation and can freely create his own body of manifestation.
Ngài phải theo dõi công việc mà người học trò hoàn thành trong khi tạo lập kênh nối giữa thượng trí và hạ trí, trong khi y xây dựng và sử dụng kênh này (antahkarana). Kênh này rốt cuộc thay thế thể nguyên nhân như một phương tiện giao thông giữa cái cao và cái thấp. Bản thân thể nguyên nhân cuối cùng cũng bị loại bỏ khi người học trò thọ nhận lần điểm đạo thứ tư và có thể tự do tạo ra thể biểu lộ của chính y.
He definitely assists at the vivification of the various centres and their correct awakening, and He later aids the pupil to work consciously through those centres, and to carry the circulating fire in right geometrical progression from the base of the spine to the head centre.
Ngài chắc chắn trợ giúp trong việc tiếp sinh lực cho các trung tâm khác nhau và sự thức tỉnh đúng đắn của chúng, và về sau Ngài giúp người học trò làm việc một cách hữu thức qua các trung tâm ấy, và đưa ngọn lửa lưu chuyển theo tiến trình hình học đúng đắn từ đáy cột sống lên trung tâm đỉnh đầu.
He superintends the work of the pupil on different planes and makes records of the extent of the work accomplished, and the far-reaching effect of the spoken word as enunciated by the pupil. This is (putting it occultly) the effect on the inner planes of the note of the pupil’s exoteric life.
Ngài giám sát công việc của học trò trên các cõi khác nhau và ghi chép mức độ công việc đã hoàn thành, cùng ảnh hưởng sâu rộng của lời nói được học trò phát biểu. Đây là (nói theo cách huyền bí) tác động trên các cõi nội tại của âm điệu trong đời sống ngoại môn của học trò.
He enlarges the consciousness of the pupil in various ways, and develops his capacity to include and contact other rates of vibration than the human, to understand the consciousness of other evolutions than the human, and move with facility in other spheres than the earth sphere.
Ngài mở rộng tâm thức của học trò bằng nhiều cách, và phát triển năng lực của y để bao gồm và tiếp xúc với những nhịp độ rung động khác ngoài nhịp độ của nhân loại, để thấu hiểu tâm thức của những tiến hoá khác ngoài tiến hoá nhân loại, và di chuyển một cách dễ dàng trong những khối cầu khác ngoài khối cầu địa cầu.
His immediate goal in working with the pupil is to prepare him for the first initiation. This takes place when the capacity of the pupil to hold a certain rate of vibration for a specific length of time is developed, the length of time being that wherein he must stand before the Lord of the first two initiations. This is accomplished by a gradual raising of the vibration at few and stated intervals, and later more frequently, until the pupil can vibrate with greater ease and comfort to the vibration of his Master, and can hold the vibration for an ever increasing [276] length of time. When he can hold it for this period (the length of which is of course one of the secrets of the first initiation) he is subjected to the application of a still higher vibration which—when held—will enable him to stand before the Great Lord for a length of time sufficient to permit of the initiation ceremony. The application then of the Rod of Initiation effects something that stabilises vibration, and makes it easier to progress in the task of vibrating to the higher measure of the subtler planes.
Mục tiêu trực tiếp của Ngài khi làm việc với học trò là chuẩn bị y cho lần điểm đạo thứ nhất. Điều này diễn ra khi năng lực của học trò giữ được một nhịp độ rung động nhất định trong một khoảng thời gian xác định được phát triển, khoảng thời gian ấy là khoảng mà y phải đứng trước Chúa Tể của hai lần điểm đạo đầu tiên. Điều này được thực hiện bằng việc nâng dần rung động theo những khoảng cách ít ỏi và đã định, và về sau thường xuyên hơn, cho đến khi học trò có thể rung động dễ dàng và thoải mái hơn theo rung động của Chân sư của y, và có thể giữ rung động ấy trong một khoảng thời gian [276] ngày càng tăng. Khi y có thể giữ được trong khoảng thời gian này (mà độ dài của nó dĩ nhiên là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất), y sẽ chịu sự áp dụng của một rung động còn cao hơn, và—khi giữ được—sẽ giúp y có thể đứng trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại trong một khoảng thời gian đủ để cho phép nghi lễ điểm đạo. Khi ấy, việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo tạo ra một điều gì đó làm ổn định rung động, và khiến việc tiến bộ trong nhiệm vụ rung động theo mức độ cao hơn của các cõi vi tế trở nên dễ dàng hơn.
He develops the capacity of the pupil to work in group formation. He studies his action and interaction on his own affiliated group. He works with the pupil’s causal body and its expansion and development, and teaches the pupil to understand the law of his own being and through that understanding brings him to a comprehension of the macrocosm.
Ngài phát triển năng lực của học trò để làm việc trong đội hình nhóm. Ngài nghiên cứu hành động và sự tương tác của y đối với nhóm liên kết của chính y. Ngài làm việc với thể nguyên nhân của học trò cùng sự mở rộng và phát triển của nó, và dạy học trò thấu hiểu định luật của chính bản thể y, và qua sự thấu hiểu ấy đưa y đến chỗ lĩnh hội đại thiên địa.
Now all these various aspects of the Master’s work (and these are but a few of the points which might be considered) might be dealt with at length and would prove of illuminating interest to the reader. All the above paragraphs could be extended and prove of exceeding interest. But the main point I seek to make here is in connection with the earlier stages of this work, before the pupil is admitted into the later stages of close intimacy with his Master. The Master during this period works with his disciple principally:—
Nay tất cả những phương diện khác nhau này trong công việc của Chân sư (và đây chỉ là một vài điểm có thể được xét đến) có thể được bàn đến dài dòng và sẽ tỏ ra có tính soi sáng đầy hứng thú đối với độc giả. Tất cả các đoạn trên có thể được triển khai thêm và sẽ vô cùng hấp dẫn. Nhưng điểm chính tôi muốn nêu ở đây là liên quan đến các giai đoạn sớm của công việc này, trước khi học trò được thừa nhận vào các giai đoạn sau của sự thân cận mật thiết với Chân sư của y. Trong thời kỳ này, Chân sư làm việc với đệ tử của Ngài chủ yếu:—
a. At night, when he is out of the physical body.
a. Ban đêm, khi y ra khỏi thể xác.
b. During the periods when the disciple is meditating.
b. Trong những thời kỳ khi đệ tử đang tham thiền.
According to the success of the meditation, according to the ability of the student to shut off the lower and contact the higher, so will come the opportunity of the Master to accomplish successfully the scientific definite work that [277] needs His attention. Students of meditation would be astounded and perhaps discouraged, could they realise how seldom they provide the right conditions through meditation which will enable their watching Teacher to bring about certain effects. By the frequency of the student’s ability to do this comes indication of progress, and the possibility of carrying him on another step. Emphasise this point in teaching, for it carries with it an incentive to greater diligence and application. If the pupil himself on his side provides not the just conditions, the Master’s hands are tied and He can do but little. Self-effort is the key to progress, coupled to conscious comprehending application to the work laid down. When that effort is made with perseverance, then comes the opportunity of the Master to carry out His side of the work.
Tuỳ theo sự thành công của việc tham thiền, tuỳ theo khả năng của đạo sinh trong việc khép lại cái thấp và tiếp xúc cái cao, cơ hội của Chân sư để hoàn thành thành công công việc khoa học xác định mà [277] cần đến sự lưu tâm của Ngài sẽ đến tương ứng như vậy. Những đạo sinh tham thiền sẽ kinh ngạc và có lẽ nản lòng, nếu họ có thể nhận ra rằng họ hiếm khi tạo được những điều kiện đúng đắn qua tham thiền, nhờ đó vị huấn sư đang dõi theo họ có thể tạo ra những tác dụng nhất định. Từ tần suất đạo sinh có thể làm được điều này mà có dấu hiệu tiến bộ, và khả năng đưa y tiến thêm một bước nữa. Hãy nhấn mạnh điểm này trong giảng dạy, vì nó mang theo một động lực thúc đẩy sự siêng năng và chuyên cần lớn hơn. Nếu học trò, về phía mình, không cung cấp những điều kiện thích đáng, thì tay Chân sư bị trói buộc và Ngài chỉ có thể làm được rất ít. Tự nỗ lực là chìa khoá của tiến bộ, đi đôi với sự áp dụng có ý thức và thấu hiểu đối với công việc đã được đặt ra. Khi nỗ lực ấy được thực hiện với sự kiên trì, thì cơ hội đến để Chân sư thực hiện phần việc của Ngài.
As the pupil meditates with occult accuracy he brings his three lower bodies into alignment and—with emphasis I reiterate—only as alignment is effected is the Master able to work with the bodies of the pupil. If naught else is effected by the publication of these letters except the intensification of the desire to meditate with correctness, the object in view will be largely attained. In that effort the right conditions between pupil and Master, and a correct interrelation will be brought about. Meditation provides these conditions, when rightly followed. It prepares the field for labour and for work.
Khi học trò tham thiền với sự chính xác huyền bí, y đưa ba thể thấp của mình vào trạng thái chỉnh hợp và—tôi nhắc lại với sự nhấn mạnh—chỉ khi sự chỉnh hợp được thiết lập thì Chân sư mới có thể làm việc với các thể của học trò. Nếu việc công bố những bức thư này không đạt được gì khác ngoài việc làm tăng mạnh khát vọng tham thiền cho đúng, thì mục tiêu nhắm đến sẽ phần lớn được thành tựu. Trong nỗ lực ấy, những điều kiện đúng đắn giữa học trò và Chân sư, cùng một mối tương quan đúng đắn sẽ được thiết lập. Tham thiền cung cấp những điều kiện ấy, khi được thực hành đúng. Nó chuẩn bị cánh đồng cho lao động và cho công việc.
Let us briefly consider the various periods as enumerated yesterday when considering the pupil’s relationship to a Master.
Hãy vắn tắt xét các thời kỳ khác nhau như đã liệt kê hôm qua khi bàn về mối liên hệ của học trò với một Chân sư.
In the period when the man is under probation and supervision......... with a view to seeing his application and ultimate suitability for the position of accepted disciple, he is left almost entirely to himself and is only conscious of the attention of the Master at rare and irregular intervals. His physical brain is not often receptive to the higher contact, and though his Ego [278] is fully aware of his position on the Path, not yet is the physical brain in a condition to know. But on this point no hard and fast rule can be laid down. When a man has been for several lives making contacts with his Ego or with his Master he may be aware of it. Individuals differ so much that no universal rule in detail can be formulated. As you know, the Master makes a small image of the probationer, which image is stored in certain subterranean centres in the Himalayas. The image is magnetically linked with the probationer, and shows all the fluctuations of his nature. Being composed of emotion and mental matter it pulsates with every vibration of those bodies. It shows their predominating hues, and by studying it the Master can rapidly gauge the progress made and judge when the probationer may be admitted into a closer relationship. The Master views the image at stated intervals, rarely at first, as the progress made in the beginning stages is not so rapid, but with ever increasing frequency as the student of meditation comprehends more readily and more consciously co-operates. The Master when inspecting the images works with them, and through their means effects certain results. Just as later the Rod of Initiation is applied to the bodies and centres of the initiate, so at certain times the Master applies certain contacts to the images and via them stimulates the bodies of the pupil.
Trong thời kỳ khi người ấy đang ở trên Con Đường Dự Bị và dưới sự giám sát......... nhằm xem xét sự chuyên cần của y và mức độ thích hợp rốt ráo của y cho vị trí đệ tử được chấp nhận, y hầu như được để mặc cho chính mình và chỉ hiếm hoi, không đều đặn, mới ý thức được sự lưu tâm của Chân sư. Bộ não hồng trần của y không thường tiếp nhận được sự tiếp xúc cao hơn, và mặc dù chân ngã [278] của y hoàn toàn ý thức về vị trí của y trên Đường Đạo, bộ não hồng trần vẫn chưa ở trong tình trạng có thể biết. Tuy nhiên, về điểm này không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc. Khi một người đã trải qua nhiều kiếp sống tạo lập các tiếp xúc với chân ngã của y hoặc với Chân sư của y, y có thể ý thức được điều đó. Các cá nhân khác nhau quá nhiều đến nỗi không thể hình thành một quy luật phổ quát chi tiết. Như các bạn biết, Chân sư tạo một hình ảnh nhỏ của người dự bị, và hình ảnh ấy được cất giữ trong những trung tâm ngầm dưới đất nhất định ở dãy Hy Mã Lạp Sơn. Hình ảnh ấy được nối kết từ tính với người dự bị, và biểu lộ mọi dao động trong bản chất của y. Vì được cấu tạo từ vật chất cảm dục và vật chất trí tuệ, nó rung động theo mọi rung động của các thể ấy. Nó cho thấy các sắc thái trội vượt của chúng, và bằng cách nghiên cứu nó, Chân sư có thể nhanh chóng đo lường tiến bộ đã đạt và phán đoán khi nào người dự bị có thể được thừa nhận vào một mối liên hệ gần gũi hơn. Chân sư quan sát hình ảnh theo những khoảng thời gian đã định, lúc đầu hiếm khi, vì tiến bộ trong các giai đoạn khởi đầu không nhanh đến thế, nhưng với tần suất ngày càng tăng khi đạo sinh tham thiền lĩnh hội dễ dàng hơn và hợp tác một cách ý thức hơn. Khi kiểm tra các hình ảnh, Chân sư làm việc với chúng, và qua phương tiện ấy tạo ra những kết quả nhất định. Cũng như về sau Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng lên các thể và các trung tâm của điểm đạo đồ, thì vào những thời điểm nhất định Chân sư áp dụng những tiếp xúc nhất định lên các hình ảnh và qua chúng kích thích các thể của học trò.
A time comes when the Master sees, from His inspection of the image, that the needed rate of vibration can be held, that the required eliminations have been made, and a certain depth of colour attained. He can then take the risk (for risk it is) and admit the probationer within the periphery of His own aura. He becomes then an accepted disciple. [279]
Đến một lúc, Chân sư thấy, qua việc kiểm tra hình ảnh, rằng nhịp độ rung động cần thiết có thể được giữ, rằng những sự loại trừ đòi hỏi đã được thực hiện, và một độ sâu sắc nhất định của màu sắc đã đạt được. Khi ấy Ngài có thể chấp nhận rủi ro (vì đó là rủi ro) và cho phép người dự bị bước vào trong chu vi hào quang của chính Ngài. Khi đó y trở thành một đệ tử được chấp nhận. [279]
During the period wherein a man is an accepted disciple the work done by the Master is of very real interest. The pupil is assigned to special classes conducted by more advanced disciples under the supervision of the Master, and though he may attend still the larger general classes in the Ashram (the Master’s hall for teaching) he is subjected to a more intensified training.......... Some day later when you are in a position to give definite papers for the benefit of the ES students (which time is not yet) I will enlarge upon the work done by a pupil and the aspects also of the Master's work. The time is not ripe. Hints only may here be given.
Trong thời kỳ khi một người là một đệ tử được chấp nhận, công việc do Chân sư thực hiện là điều rất đáng quan tâm. Học trò được phân vào những lớp đặc biệt do các đệ tử tiến bộ hơn đảm trách dưới sự giám sát của Chân sư, và tuy y vẫn có thể tham dự các lớp chung lớn hơn trong ashram (giảng đường của Chân sư), y chịu một sự huấn luyện được tăng cường hơn.......... Một ngày nào đó về sau, khi các bạn ở vào vị thế có thể đưa ra những bài viết xác định vì lợi ích của các đạo sinh ES (mà thời điểm ấy chưa đến), tôi sẽ triển khai thêm về công việc do một học trò thực hiện và cả các phương diện trong công việc của Chân sư. Thời cơ chưa chín. Ở đây chỉ có thể đưa ra những gợi ý.
The Master works in the earlier stages in four main ways:—
Chân sư làm việc trong các giai đoạn sớm theo bốn cách chính:—
a. At intervals, and when the progress of the pupil justifies it, He “gathers the pupil to His Heart.” This is an esoteric statement of a very interesting experience to which the pupil will be subjected. At the close of some class in the ashram, or during some specially successful meditation wherein the pupil has reached a certain rate of vibration, the Master will gather him close to Himself, bringing him from the periphery of His aura to the centre of His consciousness. He thereby gives him a tremendous temporary expansion of consciousness, and enables him to vibrate at an unusual rate for him.
a. Theo từng khoảng thời gian, và khi sự tiến bộ của học trò biện minh cho điều đó, Ngài “gom học trò vào Trái Tim Ngài.” Đây là một phát biểu nội môn về một kinh nghiệm rất thú vị mà học trò sẽ được trải qua. Vào cuối một lớp học nào đó trong ashram, hoặc trong một lần tham thiền đặc biệt thành công khi học trò đã đạt đến một nhịp độ rung động nhất định, Chân sư sẽ gom y lại gần chính Ngài, đưa y từ chu vi hào quang của Ngài vào trung tâm tâm thức của Ngài. Nhờ đó Ngài ban cho y một sự mở rộng tâm thức tạm thời vô cùng mạnh mẽ, và giúp y rung động ở một nhịp độ khác thường đối với y.
Hence the need for meditation. The reward of such an experience far outweighs any of the strenuous parts of the work.
Do đó mới cần tham thiền. Phần thưởng của một kinh nghiệm như thế vượt xa bất kỳ phần nào căng thẳng trong công việc.
b. The Master works upon the bodies of his pupil with colour, and brings about results in those bodies that enable the pupil to make more rapid progress. Now you will see why...... in the ES school so much emphasis is laid upon colour. It is not only because it holds the secret of form and manifestation (which secret must be known by the occultist) but the emphasis is laid thus in order that he may consciously co-operate in the work of the [280] Master on his bodies, and intelligently follow the effects brought about. Ponder on this.
b. Chân sư tác động lên các thể của học trò bằng màu sắc, và tạo ra những kết quả trong các thể ấy giúp học trò tiến bộ nhanh hơn. Nay các bạn sẽ thấy vì sao...... trong trường ES người ta nhấn mạnh rất nhiều vào màu sắc. Không chỉ vì nó nắm giữ bí mật của hình tướng và sự biểu hiện (một bí mật mà nhà huyền bí học phải biết), mà sự nhấn mạnh còn được đặt như vậy để y có thể hợp tác một cách ý thức trong công việc của [280] Chân sư trên các thể của y, và theo dõi một cách thông minh những tác dụng được tạo ra. Hãy suy ngẫm về điều này.
c. At stated intervals the Master takes His pupils, and enables them to contact other evolutions, such as the great angels and devas, the lesser builders and the sub-human evolutions. This can be safely done by the pupil through the protective effect of the Master’s aura. Later, when himself an initiate, the pupil will be taught how to protect himself and to make his own contacts.
c. Theo những khoảng thời gian đã định, Chân sư đưa các học trò của Ngài đi, và giúp họ tiếp xúc với các tiến hoá khác, như các thiên thần và chư thiên lớn, các vị tiểu kiến tạo và các tiến hoá dưới nhân loại. Điều này có thể được học trò thực hiện một cách an toàn nhờ tác dụng bảo hộ của hào quang Chân sư. Về sau, khi tự mình là một điểm đạo đồ, học trò sẽ được dạy cách tự bảo vệ và tự tạo lập các tiếp xúc của mình.
d. The Master presides over the work of stimulating the centres in the pupil’s bodies and the awakening of the inner fire. He teaches the pupil the meaning of the centres and their correct fourth dimensional rotation and in time He will bring the pupil to a point where he can consciously and with full knowledge of the law work with his centres, and bring them to a point where they can be safely stimulated by the Rod of Initiation. More on this subject is not yet possible......... (Brother of mine, may I here interpolate a personal word of advice? The need of the hour is so great, and our desire to transmit further teaching to students of meditation, that those of you who shew signs of being able to make contacts that permit of our transmitting the teaching are begged to so discipline and purify your vehicles at any cost that we may still further use you. Much may be later imparted anent the centres should you and others whom we can reach shew signs of siwe [wise?] discrimination and intuitive insight. Work, therefore, brother of old, at your own bodies, strengthening and purifying them. Mayhap the time will then come when further light upon this matter may be safely communicated, for in the centres lies hid the secret and in their wise development cometh the awakening of the powers of the Spirit and the rounding out of the 3-fold man.)
d. Chân sư chủ trì công việc kích thích các trung tâm trong các thể của học trò và sự thức tỉnh của nội hỏa. Ngài dạy học trò ý nghĩa của các trung tâm và sự xoay chuyển đúng đắn theo chiều kích thứ tư của chúng, và theo thời gian Ngài sẽ đưa học trò đến một điểm mà y có thể một cách ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về định luật mà làm việc với các trung tâm của mình, và đưa chúng đến một điểm mà chúng có thể được kích thích an toàn bởi Thần Trượng Điểm đạo. Hiện chưa thể nói thêm về đề tài này......... (Huynh đệ của tôi, tôi có thể xen vào đây một lời khuyên riêng tư chăng? Nhu cầu của thời khắc quá lớn, và ước muốn của chúng tôi là truyền đạt thêm giáo huấn cho các đạo sinh tham thiền, nên những ai trong các bạn cho thấy dấu hiệu có thể tạo lập các tiếp xúc cho phép chúng tôi truyền đạt giáo huấn, được khẩn cầu hãy kỷ luật và thanh lọc các vận cụ của mình bằng bất cứ giá nào để chúng tôi còn có thể sử dụng các bạn nhiều hơn nữa. Về sau có thể truyền dạy nhiều điều liên quan đến các trung tâm nếu các bạn và những người khác mà chúng tôi có thể tiếp cận cho thấy dấu hiệu của sự phân biện tinh thần khôn ngoan và tuệ kiến trực giác. Vì vậy, huynh đệ của ngày xưa, hãy làm việc trên chính các thể của mình, củng cố và thanh lọc chúng. Có lẽ khi ấy thời điểm sẽ đến để có thể truyền đạt an toàn thêm ánh sáng về vấn đề này, vì trong các trung tâm có ẩn giấu bí mật và trong sự phát triển khôn ngoan của chúng sẽ đến sự thức tỉnh các quyền năng của tinh thần và sự hoàn thiện của phàm nhân tam phân.)
I have only touched in the briefest manner on a few of the things a Master has to do with His pupils. I take not up the later stages of the pupil’s progress. We lead all on by gradual steps, and as yet even accepted disciples are rare. If by meditation, service, and the purifying of the bodies, those now on probation can be led to make more rapid progress, then will come the time for the communication of further information. What use is it to give facts of which the student cannot as yet make use? We waste not time in interesting intellectually those we seek to help. When the pupil has equipped himself, when he has purified himself and is vibrating adequately, naught can withhold all knowledge from him. When he opens the [281] door and widens the channel, light and knowledge will pour in.
Tôi chỉ chạm đến, theo cách vắn tắt nhất, một vài điều mà một Chân sư phải làm đối với các học trò của Ngài. Tôi không đề cập đến các giai đoạn sau của sự tiến bộ của học trò. Chúng tôi dẫn dắt tất cả tiến lên bằng những bước dần dần, và cho đến nay ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng hiếm hoi. Nếu nhờ tham thiền, phụng sự, và sự thanh lọc các thể, những người hiện đang trên Con Đường Dự Bị có thể được dẫn dắt để tiến bộ nhanh hơn, thì thời điểm truyền đạt thêm thông tin sẽ đến. Có ích gì khi đưa ra những sự kiện mà đạo sinh chưa thể sử dụng? Chúng tôi không lãng phí thời gian để gây hứng thú trí tuệ cho những người mà chúng tôi tìm cách giúp đỡ. Khi học trò đã tự trang bị, khi y đã tự thanh lọc và đang rung động một cách đầy đủ, thì không gì có thể ngăn giữ mọi tri thức khỏi y. Khi y mở [281] cánh cửa và mở rộng kênh dẫn, ánh sáng và tri thức sẽ tuôn vào.
Tomorrow we will take up our third point, methods of approach to a Master via meditation; certain types of meditation will be slightly enlarged upon which will facilitate contact, but forget not that the life of objective service must keep pace with the subjective growth; only when the two are seen together and approved are the necessary steps for contact permitted. A Master is only interested in a man from the point of view of his usefulness in the group soul, and his capacity to help.
Ngày mai chúng ta sẽ nêu điểm thứ ba của chúng ta, các phương pháp tiếp cận một Chân sư qua tham thiền; một số loại tham thiền sẽ được triển khai đôi chút để tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc, nhưng đừng quên rằng đời sống phụng sự khách quan phải theo kịp sự tăng trưởng chủ quan; chỉ khi cả hai được thấy cùng nhau và được chấp thuận thì những bước cần thiết cho sự tiếp xúc mới được cho phép. Một Chân sư chỉ quan tâm đến một người từ quan điểm về tính hữu dụng của y trong hồn nhóm, và năng lực giúp đỡ của y.
September 19th, 1920.
Ngày 19 tháng 9, 1920.
We can today take up our last two points practically simultaneously. They deal with methods of approach to the Masters and the objective effects on the three planes of human evolution. Some of the points touched upon are already well known. Others may not be so familiar to the general student....... We have, during the writing of these letters, touched briefly and in the form of wide generalities this very abstruse and occult subject of meditation. In these letters we have dealt with the student himself and what he has to bring to the endeavour; we have indicated likewise his goal—and very sketchily—the forms and methods whereby success may be achieved. We have dealt also with those aids to meditation, the Sacred Word, Colour and Sound, and have indicated that which (brooded upon in silence) may lead to the student making some discoveries for himself. Lastly we have tried to bring the Masters and Their reality nearer to the student, and thereby facilitate his approach to Them.
Hôm nay chúng ta có thể nêu hai điểm cuối cùng của chúng ta gần như đồng thời. Chúng liên quan đến các phương pháp tiếp cận các Chân sư và các tác dụng khách quan trên ba cõi của tiến hoá nhân loại. Một số điểm được chạm đến đã khá quen thuộc. Những điểm khác có thể không quen thuộc lắm đối với đạo sinh phổ thông....... Trong khi viết những bức thư này, chúng ta đã chạm đến một cách vắn tắt và dưới hình thức những khái quát rộng rãi đề tài tham thiền rất trừu tượng và huyền bí này. Trong những bức thư này, chúng ta đã bàn đến chính đạo sinh và điều y phải đem vào nỗ lực; chúng ta cũng đã chỉ ra mục tiêu của y—và rất phác lược—các hình thức và phương pháp nhờ đó có thể đạt được thành công. Chúng ta cũng đã bàn đến những trợ giúp cho tham thiền, Linh từ Thiêng Liêng, Màu Sắc và Âm Thanh, và đã chỉ ra điều mà (được ấp ủ trong im lặng) có thể dẫn đạo sinh đến chỗ tự mình thực hiện một vài khám phá. Cuối cùng, chúng ta đã cố gắng đưa các Chân sư và thực tại của Các Ngài đến gần đạo sinh hơn, và nhờ đó tạo thuận lợi cho sự tiếp cận của y đối với Các Ngài.
What now remains to be done? To indicate five things that may be looked for with conviction by the student who has endeavoured to conform his life to the lines laid down by me in these letters. If the student but provides the right conditions, if he conforms to the necessary [282] rules, if he aims always at regularity, at calmness, at that inner concentration that holds the mystery of the High Places, he will on certain occasions and with ever-increasing frequency awake to some definite realisations. These realisations will be the outer recognition of inner results, and will be the guarantee to him that he is on the right path. But I would here point out again that these results are only achieved after long practice, strenuous struggle, diligent disciplining of the threefold lower man, and consecrated service to the world.
Giờ đây còn lại điều gì cần làm? Chỉ ra năm điều mà đạo sinh—người đã cố gắng điều chỉnh đời sống của mình theo những đường hướng tôi đã đặt ra trong những bức thư này—có thể trông đợi với niềm xác tín. Nếu đạo sinh chỉ cần cung cấp những điều kiện đúng đắn, nếu y tuân theo các [282] quy luật cần thiết, nếu y luôn nhắm đến sự đều đặn, sự bình thản, và sự tập trung nội tâm nắm giữ huyền nhiệm của các Cõi Cao, thì vào những dịp nhất định và với tần suất ngày càng tăng, y sẽ thức dậy với một vài chứng nghiệm xác định. Những chứng nghiệm này sẽ là sự nhận biết bên ngoài về các kết quả bên trong, và sẽ là sự bảo chứng cho y rằng y đang ở trên con đường đúng. Nhưng ở đây tôi muốn nhắc lại rằng những kết quả này chỉ đạt được sau thời gian dài thực hành, đấu tranh gian khổ, kỷ luật chuyên cần đối với phàm nhân tam phân, và phụng sự thế gian trong sự thánh hiến.
Methods of approach and effects obtained.—Các phương pháp tiếp cận và các tác dụng đạt được.
The methods of approach are broadly three and we might indicate five results that will eventuate from the employment of these methods. The three methods are:—
Các phương pháp tiếp cận, nói chung, có ba, và chúng ta có thể nêu ra năm kết quả sẽ phát sinh từ việc sử dụng các phương pháp này. Ba phương pháp là:—
1. Sanctified service.
1. Phụng sự được thánh hiến.
2. Love demonstrating through wisdom.
2. Bác ái được biểu lộ qua minh triết.
3. Intellectual application.
3. Sự áp dụng trí tuệ.
They are all three but diverse methods of expressing one and the same thing,—active one-pointedness that expresses itself in service for the race through love and wisdom. But some individuals express this in one way and some in another; some carry the outer appearance of intellectuality and others of love, yet before the attainment is possible intellectuality must be based on love, whilst love without mental development and that discrimination that mind affords is apt to be unbalanced and unwise. Both love and mind must be expressed in terms of service before the full flower of either is attained. Let us consider each of these methods separately and indicate the meditation to be followed thereon:—
Chúng đều là ba phương pháp khác nhau nhưng cùng biểu đạt một và cùng một điều,—tính nhất tâm năng động, tự biểu lộ trong sự phụng sự nhân loại qua bác ái và minh triết. Nhưng có những cá nhân biểu lộ điều này theo cách này, và có những người theo cách khác; có người mang sắc tướng bên ngoài của trí tuệ, và có người mang sắc tướng của bác ái; tuy nhiên, trước khi có thể đạt được thành tựu, trí tuệ phải đặt nền trên bác ái, trong khi bác ái mà không có sự phát triển trí tuệ và sự phân biện mà thể trí đem lại thì dễ trở nên mất quân bình và thiếu minh triết. Cả bác ái lẫn thể trí đều phải được biểu lộ bằng sự phụng sự trước khi đóa hoa trọn vẹn của một trong hai được đạt tới. Chúng ta hãy xét riêng từng phương pháp này và nêu ra bài thiền cần theo đó:—
Sanctified Service. This is the method of the man who wields the law, the method of the occultist, and the rudiments of the method are laid down in raja-yoga [283].............. discipline in the ES. The word “sanctification,” as you know, in the basic sense signifies the complete surrender of the whole being to one object, the Lord or Ruler. It means the giving wholly to the one the devotee aspires to. It means the consecration of the whole threefold man to the work in hand. It entails, therefore, the application of the entire time and self to the bringing of each body under the subjugation of the Ego, and the complete mastery of each plane and subplane. It involves the comprehension of each evolution and form of divine life as found on those planes and sub-planes, with one aim in view and only one—the furthering of the plan of the Hierarchy of Light. The method followed is that of the intensest application to the work of rounding out the bodies and of making them fit instruments for service. It is perhaps the hardest way that a man can tread. It leaves no department of the life untouched. All is brought under law. In meditation therefore the form of that meditation will be a threefold structure:—
Phụng sự thánh hiến. Đây là phương pháp của người vận dụng định luật, phương pháp của nhà huyền bí học, và những yếu tố sơ khởi của phương pháp này được đặt nền trong raja-yoga [283].............. kỷ luật trong Trường Arcane. Từ “thánh hiến”, như các bạn biết, theo nghĩa căn bản, biểu thị sự quy phục trọn vẹn của toàn thể hữu thể trước một đối tượng duy nhất, là Chúa hay Đấng cai quản. Nó có nghĩa là hiến dâng hoàn toàn cho Đấng mà người sùng tín khát vọng hướng tới. Nó có nghĩa là thánh hiến toàn bộ con người tam phân cho công việc đang thực hiện. Vì vậy, nó đòi hỏi việc đem toàn bộ thời gian và bản thân áp dụng vào việc đưa từng thể dưới sự chế ngự của Chân ngã, và làm chủ hoàn toàn từng cõi và từng cõi phụ. Nó bao hàm sự thấu hiểu từng tiến hoá và từng hình thức của sự sống thiêng liêng như được tìm thấy trên các cõi và các cõi phụ ấy, với một mục tiêu được đặt trước mắt và chỉ một mục tiêu—thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh Đoàn Ánh Sáng. Phương pháp được theo là sự áp dụng mãnh liệt nhất vào công việc hoàn thiện các thể và làm cho chúng trở thành những công cụ thích hợp cho sự phụng sự. Có lẽ đây là con đường khó nhất mà một người có thể bước đi. Nó không để bất cứ lĩnh vực nào của đời sống không bị chạm tới. Tất cả đều được đặt dưới định luật. Vì vậy, trong tham thiền, hình thức của bài thiền ấy sẽ là một cấu trúc tam phân:—
a. The laws governing the physical body will be studied and brooded over. This brooding will find expression in a rigid disciplining of the physical body. It will be set apart wholly for service, and subjected consequently to a process that will attune and develop it more quickly.
a. Các định luật cai quản thể xác sẽ được nghiên cứu và suy tư sâu. Sự suy tư này sẽ biểu lộ qua một kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác. Thể xác sẽ được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và do đó được đặt dưới một tiến trình sẽ điều hoà và phát triển nó nhanh hơn.
b. The body of the emotions will be scientifically studied and the laws of water (occultly understood) will be comprehended. The significance of the term, “there shall be no more sea” will be known, and the sea of storm and passion will be superseded by the sea of glass, which directly reflects the higher intuition, and mirrors it with perfect accuracy, being unruffled and immovable. The emotional body will [284] be set apart wholly for service, and its place in the threefold microcosm will be regarded as corresponding to that in the macrocosm, whilst the occult significance of its being the only complete unit in the threefold lower nature will be apprehended, and the fact made use of to effect certain results. Ponder on this.
b. Thể cảm dục sẽ được nghiên cứu một cách khoa học và các định luật của nguyên tố nước (được hiểu theo huyền bí) sẽ được thấu triệt. Thâm nghĩa của cụm từ “sẽ không còn biển nữa” sẽ được biết đến, và biển của bão tố và đam mê sẽ được thay thế bằng biển thuỷ tinh, vốn trực tiếp phản chiếu trực giác cao hơn, và soi gương nó với độ chính xác hoàn hảo, không gợn và bất lay chuyển. Thể cảm dục sẽ [284] được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và vị trí của nó trong tiểu thiên địa tam phân sẽ được xem như tương ứng với vị trí của nó trong đại thiên địa, trong khi thâm nghĩa huyền bí của việc nó là đơn vị hoàn chỉnh duy nhất trong bản chất thấp tam phân sẽ được lĩnh hội, và sự kiện ấy được vận dụng để tạo ra một số kết quả nhất định. Hãy suy ngẫm về điều này.
c. The place of lower mind in the scheme of things will be studied, and the quality of discrimination developed. Discrimination and fire are occultly allied and just as the Logos by fire tries every man’s work of what sort it is, so the microcosm on a lesser scale has to do the same. Just as the Logos likewise does this paramountly in the fifth round of judgment and of separation, so the microcosm on his lesser scale does the same in the last and fifth period of his evolution,—touched upon and described earlier in these letters. Every power of the mind will be utilised to the uttermost for the furtherance of the plans of evolution; first in the man’s own development, then in the special field of work wherein he expresses himself, and lastly in his relationship with other units of the race, as he constitutes himself their guide and servant.
c. Vị trí của hạ trí trong hệ thống sự vật sẽ được nghiên cứu, và phẩm tính phân biện sẽ được phát triển. Phân biện và lửa có liên hệ huyền bí với nhau, và cũng như Thượng đế bằng lửa thử nghiệm công việc của mỗi người xem thuộc loại nào, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng phải làm như vậy. Cũng như Thượng đế cũng làm điều này một cách tối thượng trong cuộc tuần hoàn thứ năm của phán xét và phân ly, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng làm điều tương tự trong giai đoạn cuối cùng và thứ năm của tiến hoá của y,—đã được chạm đến và mô tả trước đó trong các thư này. Mọi năng lực của thể trí sẽ được sử dụng đến mức tối đa để thúc đẩy các kế hoạch tiến hoá; trước hết trong sự phát triển của chính người ấy, rồi trong lĩnh vực công tác đặc thù nơi y tự biểu lộ, và sau cùng trong mối quan hệ của y với các đơn vị khác của nhân loại, khi y tự đặt mình làm người hướng dẫn và người phụng sự của họ.
See you therefore the synthesis of it? First the strenuous one-pointedness that is the sign of the occultist blended with the wisdom and love which are reflected from the higher in the mirror of the emotional body, and then the intellect forced to act as the servant of the Ego through one-pointed effort animated by love and wisdom. The result will be the true Yogi.
Vậy các bạn có thấy sự tổng hợp của điều này không? Trước hết là tính nhất tâm mãnh liệt vốn là dấu hiệu của nhà huyền bí học, được hoà trộn với minh triết và bác ái được phản chiếu từ cõi cao hơn trong tấm gương của thể cảm dục, và rồi trí tuệ bị buộc phải hành động như người phụng sự của Chân ngã qua nỗ lực nhất tâm được sinh động hoá bởi bác ái và minh triết. Kết quả sẽ là vị Yogi chân chính.
I would point out here that the true Yogi is he who, after due carrying out of the set forms and times of meditation, merges that meditation in the everyday living, and will eventually be in the attitude of meditation all the day. [285] Meditation is the means whereby the higher consciousness is contacted. When the contact becomes continuous, meditation, as you understand it, is superseded. In this first method the occult student works from the periphery to the centre, from the objective to the subjective, from the form to the life within the form. Therefore through the emphasis laid in Raja Yoga on the physical body and its wise control the occultist realises the essential importance of the physical, and the uselessness of all his knowledge apart from a physical body whereby he can express himself and serve the race. It is the line of the first ray, and its affiliated or complementary ray.
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng vị Yogi chân chính là người, sau khi thực hiện đúng đắn các hình thức và thời lượng tham thiền đã định, hoà nhập bài thiền ấy vào đời sống hằng ngày, và rốt cuộc sẽ ở trong thái độ tham thiền suốt cả ngày. [285] Tham thiền là phương tiện nhờ đó tâm thức cao hơn được tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc trở nên liên tục, thì tham thiền, theo cách các bạn hiểu, sẽ được thay thế. Trong phương pháp thứ nhất này, đạo sinh huyền bí học làm việc từ chu vi vào trung tâm, từ khách quan đến chủ quan, từ hình tướng đến sự sống bên trong hình tướng. Vì vậy, qua sự nhấn mạnh trong Raja Yoga đối với thể xác và sự kiểm soát khôn ngoan của nó, nhà huyền bí học chứng nghiệm tầm quan trọng thiết yếu của hồng trần, và tính vô ích của mọi tri thức của y nếu không có một thể xác nhờ đó y có thể tự biểu lộ và phụng sự nhân loại. Đây là con đường của Cung một, cùng với cung liên hệ hay cung bổ sung của nó.
Love and Wisdom. This method is the line of least resistance for the sons of men. It is the sub-ray of the synthetic ray of an analogous vibration, of which our solar system is the objective manifestation. But I would seek to point out that the love achieved by the student of meditation who follows this line is not the sentimental conception that is so often discussed. It is not the non-discriminating love that sees no limitation, nor concedes a fault. It is not the love that seeks not to correct and that expresses itself in an ill advised attitude to all who live. It is not the love that sweeps all into service, suitable or unsuitable, and that recognises no difference in point of development. Much that is called love,—if logically followed out—would apparently dispense with the ladder of evolution, and rank all as of equal value. So potentially all are, but in present terms of service all are not.
Bác ái và Minh triết. Phương pháp này là con đường ít trở ngại nhất đối với những người con của nhân loại. Nó là cung phụ của cung tổng hợp có rung động tương tự, mà hệ mặt trời của chúng ta là sự biểu hiện khách quan. Nhưng tôi muốn tìm cách chỉ ra rằng bác ái mà đạo sinh tham thiền đạt được khi theo con đường này không phải là quan niệm ủy mị vốn thường được bàn luận. Nó không phải là thứ bác ái không phân biện, không thấy giới hạn, cũng không thừa nhận lỗi lầm. Nó không phải là thứ bác ái không tìm cách sửa chữa và tự biểu lộ trong một thái độ thiếu khôn ngoan đối với tất cả những ai đang sống. Nó không phải là thứ bác ái cuốn tất cả vào sự phụng sự, thích hợp hay không thích hợp, và không nhận ra sự khác biệt về điểm tiến hoá. Nhiều điều được gọi là bác ái,—nếu được theo đuổi đến cùng một cách hợp lý—dường như sẽ loại bỏ chiếc thang tiến hoá, và xếp tất cả như có giá trị ngang nhau. Về tiềm năng thì tất cả đều như vậy, nhưng trong những điều kiện hiện tại của sự phụng sự thì không phải tất cả đều như vậy.
True love or wisdom sees with perfect clarity the deficiencies of any form, and bends every effort to aid the indwelling life to liberate itself from trammels. It wisely recognises those that need help, and those that need not its attention. It hears with precision, and sees the thought of the heart and seeks ever to blend into one whole the [286] workers in the field of the world. This it achieves not by blindness, but by discrimination and wisdom, separating contrary vibrations and placing them in position diverse. Too much emphasis has been laid on that called love (interpreted by man, according to his present place in evolution) and not enough has been placed on wisdom, which is love expressing itself in service, such a service that recognises the occult law, the significance of time, and the point achieved.
Bác ái chân chính hay minh triết nhìn thấy với sự rõ ràng hoàn hảo những khiếm khuyết của bất kỳ hình tướng nào, và uốn mọi nỗ lực để trợ giúp sự sống nội tại tự giải phóng khỏi các ràng buộc. Nó khôn ngoan nhận ra những người cần giúp đỡ, và những người không cần sự chú ý của nó. Nó lắng nghe một cách chính xác, và thấy được tư tưởng của trái tim, và luôn tìm cách dung hợp thành một toàn thể những người hoạt động trong cánh đồng thế gian. Nó đạt được điều này không phải bằng sự mù quáng, mà bằng phân biện và minh triết, tách rời những rung động đối nghịch và đặt chúng vào những vị trí khác nhau. Quá nhiều nhấn mạnh đã được đặt vào điều được gọi là bác ái (được con người diễn giải theo vị trí hiện tại của họ trong tiến hoá) và chưa đủ nhấn mạnh được đặt vào minh triết, vốn là bác ái tự biểu lộ trong sự phụng sự, một sự phụng sự nhận ra định luật huyền bí, thâm nghĩa của thời gian, và điểm tiến hoá đã đạt.
This is the line of the second ray and its affiliated and complementary rays. Later it is the all-inclusive one, and the solvent and absorber. It can be followed, being synthetic, on either the Raja Yoga line or the Christian Gnostic line, owing to its synthetic significance.... Later, when the ES disciplines are re-adjusted and expanded, the Christian gnostic discipline will be otherwise named, and it will include all who seek the path of wisdom, e'en when not expressed in terms of Christianity.
Đây là con đường của cung hai và các cung liên hệ và bổ sung của nó. Về sau, nó là con đường bao gồm tất cả, và là tác nhân hoà tan và hấp thụ. Vì mang ý nghĩa tổng hợp, nó có thể được theo đuổi trên con đường Raja Yoga hoặc trên con đường kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc, do ý nghĩa tổng hợp của nó.... Về sau, khi các kỷ luật trong Trường Arcane được điều chỉnh lại và mở rộng, kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc sẽ được gọi bằng tên khác, và nó sẽ bao gồm tất cả những ai tìm kiếm con đường minh triết, ngay cả khi không được biểu lộ bằng các thuật ngữ của Cơ Đốc giáo.
Intellectual application. Here the order is reversed and the student, being frequently polarised in his mental body has to learn through that mind to understand the other two, to dominate and control, and to utilise to the uttermost the powers inherent in the threefold man. The method here is perhaps not so hard in some ways, but the limitations of the fifth principle have to be transcended before real progress can be made. These limitations are largely crystallisation and that which you call pride. Both have to be broken before the student who progresses through intellectual application can serve his race with love and wisdom as the animating cause.
Áp dụng trí tuệ. Ở đây trật tự bị đảo ngược và đạo sinh, thường phân cực trong thể trí của mình, phải học qua thể trí ấy để thấu hiểu hai thể kia, để thống trị và kiểm soát, và để sử dụng đến mức tối đa các quyền năng vốn có trong con người tam phân. Phương pháp này có lẽ không khó bằng theo một số phương diện, nhưng những giới hạn của nguyên khí thứ năm phải được vượt qua trước khi có thể đạt tiến bộ thực sự. Những giới hạn này phần lớn là sự kết tinh và điều mà các bạn gọi là kiêu hãnh. Cả hai phải bị phá vỡ trước khi đạo sinh tiến bộ qua việc áp dụng trí tuệ có thể phụng sự nhân loại của mình với bác ái và minh triết như nguyên nhân sinh động.
He has to learn the value of the emotions, and in so learning he has to master the effect of fire on water, occultly understood. He has to learn the secret of that plane, which secret (when known) gives him the key to the downpour of illumination from the Triad via the causal and thence to the astral. It holds the key also of the fourth etheric level. This will not as yet be comprehended [287] by you, but the above hint holds for the student much of value.
Y phải học giá trị của cảm xúc, và trong việc học ấy y phải làm chủ tác động của lửa lên nước, được hiểu theo huyền bí. Y phải học bí mật của cõi ấy, bí mật này (khi được biết) trao cho y chìa khoá của sự tuôn đổ soi sáng từ Tam Nguyên Tinh Thần qua thể nguyên nhân và từ đó đến cõi cảm dục. Nó cũng nắm giữ chìa khoá của cõi dĩ thái thứ tư. Điều này hiện nay vẫn chưa thể được [287] các bạn thấu hiểu, nhưng gợi ý trên chứa đối với đạo sinh nhiều điều có giá trị.
This is the line of the third ray and of its four subsidiary rays, and is one of great activity, of frequent transference, and of much mental display in the lower worlds.
Đây là con đường của cung ba và bốn cung phụ của nó, và là một con đường có hoạt động mạnh mẽ, có sự chuyển dịch thường xuyên, và có nhiều phô bày trí tuệ trong ba cõi thấp.
Only when the student, who progresses by intellectual application, has learned the secret of the fifth plane, will he live the life of sanctified service, and so blend the three rays. Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains. The next or fifth round will show the greatest exposition of this method. It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now.
Chỉ khi đạo sinh, người tiến bộ nhờ áp dụng trí tuệ, đã học được bí mật của cõi thứ năm, thì y mới sống đời sống phụng sự thánh hiến, và như vậy dung hợp ba cung. Luôn luôn phải đạt được sự tổng hợp, nhưng luôn luôn sắc thái hay âm điệu căn bản vẫn còn. Cuộc tuần hoàn kế tiếp hay thứ năm sẽ cho thấy sự trình bày vĩ đại nhất của phương pháp này. Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối thượng, và sẽ đưa các Chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao hiện nay chưa thể hình dung.
This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary, the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral. I give you food for thought in these correspondences.
Cuộc tuần hoàn này đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp qua bác ái hay minh triết. Đó là cuộc tuần hoàn thứ tư, cuộc tuần hoàn mà cảm dục đạt đến một điểm rung động cao, và có sự liên hệ trực tiếp giữa cõi thứ tư của hoà hợp, giữa thể cảm dục, hay nguyên khí thứ tư, bộ tứ phân, giống dân gốc thứ tư hay Atlantis vốn đã phối hợp cõi cảm dục. Tôi đem đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm trong những tương ứng này.
It is the method of the Pythagorean discipline as taught in the ES.
Đó là phương pháp của kỷ luật Pythagoras như được dạy trong Trường Arcane.
September 21st, 1920.
Ngày 21 tháng 9, 1920.
Five effects of Meditation in the three worlds.—Năm tác dụng của tham thiền trong ba cõi.
Today we are to take up the five effects in the three bodies in the lower worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down.
Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến năm tác dụng trong ba thể ở các cõi thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã theo đúng tiến trình đã được đặt ra.
These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or [288] spirituality or capacity to serve. What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind. I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation. I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters.
Những tác dụng này không phải là các tác dụng đặc thù trong đời sống như thế gian quan sát thấy, chẳng hạn như bác ái lớn hơn hay [288] tính tinh thần lớn hơn hay năng lực phụng sự. Điều tôi muốn nêu ra hôm nay là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã làm được một phần công việc cần thiết và đang đạt được phần nào mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ. Tôi không tìm cách làm sáng tỏ tất cả những kết quả nhiều mặt và đa dạng đạt được do việc tuân theo thành công các định luật huyền bí của tham thiền. Ở đây tôi chỉ đề cập đến một phương diện của vấn đề, và đó là sự chứng nghiệm, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả theo tuyến của đề tài trực tiếp của chúng ta,—tiếp cận các Chân sư.
This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain. This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation. Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness. Some effect this knowledge at earlier stages than others. It is dependent upon the type of body in use and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man. Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical. So many of our most earnest workers in this particular half century are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown. It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent [289] apparent disproving can take away fron him the knowledge that he saw, he contacted, he felt.
Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào việc chứng nghiệm có ý thức về các Chân sư và về một Chân sư cụ thể nào đó bởi đạo sinh trong bộ não hồng trần của y. Sự chứng nghiệm này phần lớn độc lập với vị trí của y trên Con Đường, với sự gần hay xa của y đối với điểm đạo. Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang làm việc với vấn đề này, và thật sự rất gần Chân sư của họ, mà vẫn không thể đưa vào bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ sự gần gũi ấy. Có người đạt được tri thức này ở những giai đoạn sớm hơn người khác. Điều đó tuỳ thuộc vào loại thể đang sử dụng và công việc đã làm trong các kiếp trước, đưa đến một vận cụ hồng trần là một biểu hiện khá đúng của con người bên trong. Thường khi con người có tầm vóc và thành tựu trên các cõi nội tại lớn hơn nhiều so với trên cõi hồng trần. Rất nhiều người hoạt động tận tâm nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ đặc thù này đang trả nghiệp quả xấu qua việc sở hữu những thể không đầy đủ. Nhờ sự siêng năng, sự áp dụng, nỗ lực cao, và việc theo đuổi lâu dài, kiên nhẫn các quy luật đã được đặt ra, sẽ đến một lúc đạo sinh bỗng nhiên có ý thức—ngay trong bộ não hồng trần—về một số biến cố bất ngờ, một sự soi sáng hay một sự thấy mà trước đó chưa từng biết. Đó là điều gì đó vừa thật đến mức không thể phủ nhận, lại vừa gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, đến nỗi không một lượng nào của những sự [289] bác bỏ bề ngoài về sau có thể lấy khỏi y tri thức rằng y đã thấy, y đã tiếp xúc, y đã cảm nhận.
As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving, each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another. But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data.
Như tôi thường nói với các bạn, trong công việc này không thể theo bất cứ cách nào làm hơn việc khái quát rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang trong tiến trình tiến hoá, mỗi người theo những cuộc tuần hoàn của các kiếp sống hoàn toàn khác với người khác, tạo nên một trường rộng để lựa chọn, và không có kinh nghiệm nào hoàn toàn giống kinh nghiệm nào. Nhưng có thể nói chung rằng có năm cách (trong số nhiều cách có thể) xảy ra tương đối thường xuyên đến mức khiến chúng ta có lý do để liệt kê chúng. Tất cả đã được gợi ý, nhưng tôi có thể mở rộng đôi chút những dữ liệu đã được truyền đạt.
Seeing the Master and the self within the cave of the heart. —Thấy Chân sư và bản thân trong hang động của trái tim.
As you know, the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master. This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, [290] with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures.
Như các bạn đã biết, người môn sinh thường xuyên được dạy phải hình dung chính mình và Chân sư — với kích thước chừng một phần tư inch — ở bên trong chu vi của luân xa tim thể dĩ thái. Y được chỉ dẫn rằng, về cuối bài tham thiền của mình, hãy hình dung luân xa tim dĩ thái, và ngay trong đó xây dựng những hình tướng nhỏ bé của Chân sư mà y bị thu hút hướng về, cũng như của chính y. Y tiến hành việc này với sự cẩn trọng thích đáng và công phu tỉ mỉ, với sự trợ giúp của trí tưởng tượng và nỗ lực đầy yêu thương, ngày này qua ngày khác làm việc trên các hình tướng ấy cho đến khi chúng trở nên đối với y hết sức chân thực, và việc xây dựng cũng như tạo hình cho chúng gần như trở thành một phần tự động trong hình thức tham thiền của y. Rồi đến một ngày (thường là khi các điều kiện chiêm tinh thuận lợi và mặt trăng tiến gần đến thời điểm tròn đầy) khi y trở nên ý thức, ngay trong bộ não của mình, rằng những hình tướng ấy không phải là những con rối nhỏ bé như y tưởng, mà rằng y đang ở bên trong hình tướng tượng trưng cho chính y, và rằng y thực sự, đúng nghĩa đen và hoàn toàn chân xác, đang đứng trước Chân sư. Điều này lúc đầu chỉ xảy ra vào những thời điểm hiếm hoi, và ý thức về sự kiện ấy chỉ được duy trì trong vài giây ngắn ngủi; khi sự tiến bộ được tạo lập, và khi mọi bộ phận trong bản chất của y cũng như trong sự phụng sự của y phát triển, kinh nghiệm ấy sẽ đến với tần suất ngày càng lớn hơn, [290] và sẽ được đánh dấu bằng những khoảng thời gian kéo dài hơn, cho đến khi có một lúc mà người học trò có thể kết nối theo cách này với Chân sư của mình một cách dễ dàng chẳng khác nào trước kia y đã tạo dựng các hình tướng của mình.
Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:—
Chính xác thì điều gì đã xảy ra? Người học trò đã thành công trong việc thực hiện ba điều:—
1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master.
1. Đồng hoá với hình tượng bên trong trái tim, và khát vọng hướng tới Chân sư.
2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as you know, has a counterpart within the head. It is in the linking up of the centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre.
2. Tạo một kênh xác định giữa trung tâm tim (nơi y đang cố gắng tập trung tâm thức) và trung tâm đầu tương ứng của nó. Mỗi một trong bảy trung tâm trong thể, như các bạn biết, đều có một đối phần bên trong đầu. Chính trong việc nối kết trung tâm với đối phần của nó trong đầu mà sự soi sáng đến. Điều này,—trong trường hợp đang xét—đã được đạo sinh thực hiện. Y đã nối kết tim với trung tâm đầu của nó.
3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired.
3. Không những y đã thực hiện hai điều trên, mà y còn đã thanh luyện phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu đặc thù ấy đến mức nó có thể đáp ứng với rung động cao hơn cần thiết, và vì vậy ghi nhận một cách chính xác điều đã diễn ra.
Recognition of vibration. —Sự nhận biết rung động.
In this instance the method is not quite the same. The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration in meditation of a certain peculiar vibration or sensation in his head. It may be in one of three places:—
Trong trường hợp này, phương pháp không hoàn toàn giống như vậy. Đạo sinh, trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất khi tham thiền, trở nên có tâm thức về một rung động hay cảm giác đặc thù nào đó trong đầu. Nó có thể ở một trong ba vị trí:—
a. At the top of the spine.
a. Ở đỉnh cột sống.
b. In the forehead.
b. Ở trán.
c. At the top of the head.
c. Ở đỉnh đầu.
I speak not here of the sensation that comes when psychic faculty develops, though there is an alliance between the two, but I speak of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones. The student at first is only conscious of a feeling of momentary heightening, which takes the form of a ripple or movement in the head. [291] At first it may be attended with some discomfort, if felt in the forehead it may cause tears and weeping, if at the top of the spine or base of the skull exhilaration and even dizziness, and if at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining. This wears off with greater use. It is all caused by a contact, momentary at first, with some one Master. In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner. This method of contact is frequently attended by perfume. In time the pupil learns how to raise his vibration to a certain pitch. Having done this he holds the vibration steady until he senses the Master’s answering vibration or the perfume. Then he endeavours to merge his consciousness with the Master’s as far as may be, to ascertain the Master’s will, and to understand what it is that the Master has to communicate. As time progresses and the response of the pupil grows, the Master on His side will attract his attention or signal to him approval (for instance by arousing this vibration within his head)....
Ở đây tôi không nói về cảm giác xuất hiện khi năng lực thông linh phát triển, dù giữa hai điều ấy có một mối liên hệ, mà tôi nói về một rung động xác định đi kèm với sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả. Lúc đầu, đạo sinh chỉ có tâm thức về một cảm giác được nâng cao thoáng chốc, biểu hiện như một gợn sóng hay một chuyển động trong đầu. [291] Ban đầu, nếu cảm nhận ở trán thì có thể kèm theo đôi chút khó chịu, có thể gây chảy nước mắt và khóc; nếu ở đỉnh cột sống hoặc ở đáy hộp sọ thì gây phấn chấn và thậm chí chóng mặt; và nếu ở đỉnh đầu thì có một cảm giác nở rộng kèm theo cảm giác đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn ấy quá chật hẹp. Điều này sẽ giảm dần khi được trải nghiệm nhiều hơn. Tất cả đều do một sự tiếp xúc, lúc đầu chỉ thoáng chốc, với một Chân sư nào đó. Theo thời gian, đạo sinh nhận ra rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, và rung động ấy in dấu lên các đệ tử của Ngài theo một cách thức đặc thù. Phương pháp tiếp xúc này thường kèm theo hương thơm. Theo thời gian, đệ tử học cách nâng rung động của mình lên đến một cao độ nhất định. Làm được điều đó, y giữ rung động ổn định cho đến khi cảm nhận rung động đáp lại của Chân sư hoặc hương thơm. Rồi y cố gắng dung hợp tâm thức của mình với tâm thức của Chân sư trong mức độ có thể, để xác định ý muốn của Chân sư, và thấu hiểu điều mà Chân sư phải truyền đạt. Khi thời gian tiến triển và sự đáp ứng của đệ tử tăng trưởng, thì về phía Ngài, Chân sư sẽ thu hút sự chú ý của y hoặc ra dấu cho y biết sự tán thành (chẳng hạn bằng cách khơi dậy rung động này trong đầu y)....
We will take the other 3 tomorrow, brother of mine. The little daughter causeth a vibration of lower mind, and I desire accuracy.
Chúng ta sẽ xét ba điều kia vào ngày mai, huynh đệ của tôi. Cô con gái nhỏ gây ra một rung động của hạ trí, và tôi mong sự chính xác.
September 23rd, 1920.
Ngày 23 tháng 9, 1920.
Sept. 23rd, 1920. 7:30 pm.
Ngày 23 tháng 9, 1920. 7:30 tối.
There is quiet and peace now, brother of mine, and it may therefore be possible for us to conclude this 9th letter, having then but one more to complete the series I have intended giving you. The work for you hath been somewhat arduous by the constant touching of the vibration that maketh this work possible hath had and will have a definite effect that may make further apprehension of truth possible. Every time an aspirant aspires and temporarily succeeds in reaching the point aimed at, tendeth to stability and maketh the new and high vibration more accessible later.
Giờ đây có sự yên tĩnh và bình an, huynh đệ của tôi, vì vậy có lẽ chúng ta có thể kết thúc bức thư thứ chín này, và như thế chỉ còn một bức nữa để hoàn tất loạt thư mà tôi dự định gửi cho các bạn. Công việc đối với các bạn đã phần nào gian nan, vì sự chạm đến rung động một cách liên tục—rung động làm cho công việc này trở nên khả hữu—đã có và sẽ có một tác động xác định, có thể khiến việc lĩnh hội chân lý về sau trở nên khả dĩ hơn. Mỗi lần một người chí nguyện khát vọng và tạm thời thành công trong việc đạt đến điểm nhắm tới, điều đó có khuynh hướng đem lại sự ổn định và làm cho rung động mới và cao ấy trở nên dễ tiếp cận hơn về sau.
......We have now our three remaining points to take up, having already dealt with the two that touched upon contact with the Master in the cave of the heart, and the recognition of His vibration. There are still three other ways (out of many, forget not) whereby the earnest student may be conscious in his physical brain of having contacted his Master.
......Giờ đây chúng ta còn ba điểm cuối để bàn, vì chúng ta đã đề cập đến hai điểm liên quan đến sự tiếp xúc với Chân sư trong hang động của trái tim, và sự nhận biết rung động của Ngài. Vẫn còn ba cách khác nữa (trong nhiều cách, các bạn chớ quên) nhờ đó đạo sinh chân thành có thể có tâm thức trong bộ não hồng trần của mình rằng y đã tiếp xúc với Chân sư của y.
Bringing through into the physical brain consciousness the memory of the Master’s ashram and the lessons imparted there. [292]
Đem ký ức về ashram của Chân sư và những bài học được truyền dạy ở đó vào trong tâm thức của bộ não hồng trần. [292]
As the student perseveres in his meditation, as he increases his facility to throw himself into the right vibration, he builds up a pathway (if so we may term it) that leads him direct to his Master. This is a literal statement of fact. Good work earns for the man in time the right to be with the Master at stated periods. This entails good work in meditation coupled with active service for the race. These intervals are rare at first but come more frequently as progress is made. He will then become aware of this contact through remembrance on awakening. He will see the room of the Master, and remember his associates in the work of the class. He will remember certain sentences, as spoken by his Master, and will bring back a recollection of work suggested or of admonition. This is one of the methods which are indicative to the pupil that he is succeeding, through the ability built up in meditation, in gaining access to the Master.
Khi đạo sinh kiên trì trong tham thiền, khi y gia tăng khả năng tự đặt mình vào đúng rung động, y xây dựng một con đường (nếu ta có thể gọi như thế) dẫn y trực tiếp đến Chân sư của y. Đây là một phát biểu đúng theo nghĩa đen của sự thật. Công việc tốt, theo thời gian, đem lại cho người ấy quyền được ở bên Chân sư vào những thời kỳ nhất định. Điều này đòi hỏi công việc tham thiền tốt kết hợp với sự phụng sự tích cực cho nhân loại. Lúc đầu, những khoảng thời gian ấy hiếm hoi, nhưng sẽ đến thường xuyên hơn khi có tiến bộ. Khi đó, y sẽ nhận biết sự tiếp xúc này qua sự nhớ lại lúc thức dậy. Y sẽ thấy căn phòng của Chân sư, và nhớ những người cộng sự của mình trong công việc của lớp. Y sẽ nhớ một vài câu nhất định, như được Chân sư nói ra, và sẽ mang về một hồi tưởng về công việc được gợi ý hoặc về lời khuyên răn. Đây là một trong những phương pháp cho đệ tử thấy rằng y đang thành công, nhờ khả năng được xây dựng trong tham thiền, trong việc đạt được sự tiếp cận với Chân sư.
The attainment of a certain amount of causal consciousness. —Đạt được một mức độ tâm thức nguyên nhân nhất định.
This is indicative of the pupil’s having developed (mayhap in small degree, yet definitely realised) the power to enter somewhat into Their world. The faculty of abstract thought and contemplation, the power to transcend the limitations of time and space, are powers of the body egoic, and as all egoic groups are—as aforesaid—controlled by some one Master, the development of egoic consciousness (when consciously recognised) is indicative of contact and access. Many souls unconsciously contact their Ego, and temporarily have flashes of egoic consciousness but when the pupil can consciously raise himself, when he with deliberation intensifies his vibration, and transfers his polarisation into the body egoic, even if for a brief moment, then he can know that he is for that brief moment vibrating to the key of the Master of his group. He has made contact. He may not remember [293] in his physical brain, at first, the details of that contact, he may not realise the appearance of the Master or the words that passed His lips, but having consciously conformed to rule, and entered within the silence of the high places, the law ever works, and he has made his contact. Some disciples know their Master intimately on the inner planes and work under His direction, but many lives may elapse before they comprehend the law and with deliberation can make the channel of access, through power developed in meditation.
Điều này cho thấy đệ tử đã phát triển (có lẽ chỉ ở mức nhỏ, nhưng được chứng nghiệm một cách xác định) năng lực bước vào phần nào thế giới của Các Ngài. Năng lực tư duy trừu tượng và chiêm ngưỡng, năng lực vượt qua các giới hạn của thời gian và không gian, là những năng lực của thể chân ngã; và vì mọi nhóm chân ngã—như đã nói—đều do một Chân sư nào đó cai quản, nên sự phát triển của tâm thức chân ngã (khi được nhận biết một cách có ý thức) là dấu hiệu của sự tiếp xúc và sự tiếp cận. Nhiều linh hồn tiếp xúc với chân ngã của mình một cách vô thức, và tạm thời có những tia loé của tâm thức chân ngã; nhưng khi đệ tử có thể tự nâng mình lên một cách có ý thức, khi y có chủ đích tăng cường rung động của mình, và chuyển sự phân cực của mình vào thể chân ngã, dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, thì y có thể biết rằng trong khoảnh khắc ấy y đang rung động theo chủ âm của Chân sư của nhóm y. Y đã tạo được sự tiếp xúc. Lúc đầu, y có thể không nhớ [293] trong bộ não hồng trần các chi tiết của sự tiếp xúc ấy; y có thể không nhận ra sắc tướng của Chân sư hay những lời đã thốt ra từ môi Ngài; nhưng vì đã có ý thức tuân theo quy luật, và bước vào trong sự im lặng của những cõi cao, định luật luôn vận hành, và y đã tạo được sự tiếp xúc của mình. Một số đệ tử biết Chân sư của họ một cách thân mật trên các cõi nội tại và làm việc dưới sự chỉ đạo của Ngài, nhưng có thể phải trải qua nhiều kiếp sống trước khi họ thấu hiểu định luật và có thể, với chủ đích, tạo ra kênh tiếp cận ấy, nhờ quyền năng được phát triển trong tham thiền.
As time elapses this ability to contact increases until the point is reached when the pupil can at any time find out what is the will of the Master and have access to His heart.
Khi thời gian trôi qua, khả năng tiếp xúc này tăng lên cho đến khi đạt đến điểm mà đệ tử có thể, vào bất cứ lúc nào, biết được ý muốn của Chân sư và tiếp cận được trái tim của Ngài.
This fifth method is not so usual but it is known to some natures.
Phương pháp thứ năm này không phổ biến lắm, nhưng một số bản chất vẫn biết đến nó.
Through sound the aspirant is aware of success. —Qua âm thanh, người chí nguyện nhận biết sự thành công.
He follows his usual form of meditation. He perseveres from day to day and works on all the three planes over the work to be done. He continuously raises his vibration and aspires in the needed endeavour, coupling all interior effort to the external life of loving service. At some one meditation he will suddenly become aware of a note of music, that seems to be sounded within his head or to emanate from his heart. It will not be evoked by the sounding of the Sacred Word, which Word when sounded by the man on a certain key may call forth a musical response from the Ego, but it will come as a result or culmination of the meditation, and the sound of the note will vibrate within the centre so distinctly as never to be forgotten. It is again an indication of success. The Master has been contacted, and has responded by sounding the tone of the man’s own Ego. This is really the basis of the custom of the doorkeeper responding to the would-be aspirant to the mysteries of the group. When the work [294] is properly done, the aspirant will sound the admission word in his own key or tone, endeavouring to strike the note that will evoke the Ego. The doorkeeper will respond and chant forth the reply in the same full sonorous tone, thereby, through the power of sound, linking the man up with the Master of the coming ceremonies. This puts each member of the group—through his own effort and through the third factor, the doorkeeper—en rapport with the Master. In time this will be more fully understood and effort will be made to keep the tone reverberating between those who enter and those who guard the Threshold. When perfectly accomplished (a thing impossible now) it forms a perfect protection. Groups will be formed according to egoic formation and the particular Master. The note of the group will be known to the one who guards the entrance, and no one can get in who sounds not the note in either the higher or lower octave. This applies to groups consecrated to inner spiritual development, and that are directly concerned with the work of a Master with His affiliated pupils or disciples or probationers. Other groups, formed of units diverse and under different rays and Masters, will guard their door by another method, later to be revealed.
Y theo hình thức tham thiền thường lệ của mình. Y kiên trì từ ngày này sang ngày khác và làm việc trên cả ba cõi đối với công việc cần thực hiện. Y liên tục nâng rung động của mình và khát vọng trong nỗ lực cần thiết, kết hợp mọi cố gắng nội tại với đời sống bên ngoài của sự phụng sự bác ái. Trong một lần tham thiền nào đó, y sẽ đột nhiên nhận biết một âm điệu âm nhạc, dường như được xướng lên trong đầu y hoặc phát ra từ trái tim y. Nó sẽ không do việc xướng Linh từ Thiêng liêng gợi lên—Linh từ ấy, khi được người ấy xướng theo một chủ âm nhất định, có thể gọi forth một đáp ứng âm nhạc từ Chân ngã—mà nó sẽ đến như một kết quả hay sự viên mãn của bài tham thiền; và âm thanh của âm điệu ấy sẽ rung động trong trung tâm một cách rõ rệt đến mức không bao giờ quên được. Đây lại là một dấu hiệu của sự thành công. Chân sư đã được tiếp xúc, và Ngài đã đáp ứng bằng cách xướng lên âm điệu của chính Chân ngã của người ấy. Đây thật sự là nền tảng của tập tục người giữ cửa đáp lại người chí nguyện muốn bước vào các huyền nhiệm của nhóm. Khi công việc [294] được thực hiện đúng đắn, người chí nguyện sẽ xướng Linh từ nhập môn theo chủ âm hay âm sắc của chính mình, cố gắng đánh trúng âm điệu sẽ gợi lên Chân ngã. Người giữ cửa sẽ đáp lại và xướng lên lời hồi đáp trong cùng một âm sắc đầy đặn, vang dội, nhờ đó—qua quyền năng của âm thanh—liên kết người ấy với Chân sư của các nghi lễ sắp tới. Điều này đặt mỗi thành viên của nhóm—qua nỗ lực riêng của y và qua yếu tố thứ ba là người giữ cửa—vào sự hoà điệu với Chân sư. Theo thời gian, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, và sẽ có nỗ lực để giữ cho âm điệu vang dội giữa những người bước vào và những người canh giữ Kẻ Chận Ngõ. Khi được hoàn thành một cách hoàn hảo (điều hiện nay là bất khả), nó tạo thành một sự bảo vệ hoàn hảo. Các nhóm sẽ được hình thành theo cấu trúc chân ngã và theo Chân sư cụ thể. Âm điệu của nhóm sẽ được người canh giữ lối vào biết đến, và không ai có thể vào được nếu không xướng đúng âm điệu, dù ở quãng tám cao hay thấp. Điều này áp dụng cho các nhóm được thánh hiến cho sự phát triển tinh thần nội tại, và trực tiếp liên quan đến công việc của một Chân sư với các đệ tử hay các điểm đạo đồ hay những người dự bị trực thuộc Ngài. Các nhóm khác, được hình thành từ những đơn vị đa dạng và thuộc các cung và các Chân sư khác nhau, sẽ canh giữ cánh cửa của họ bằng một phương pháp khác, sẽ được mặc khải về sau.
When, in meditation, a student hears this inner musical note, he should endeavour to register it, and cultivate the faculty of both recognising it and utilising it. This is not easy at first, as the sounding is both unlooked for and too brief to catch. But as time progresses, and the pupil succeeds in again and yet again getting a similar response, then he can begin to find out the method and watch the causes that set the vibration in motion.
Khi, trong tham thiền, một đạo sinh nghe thấy âm điệu âm nhạc nội tại này, y nên cố gắng ghi nhận nó, và trau dồi năng lực vừa nhận biết vừa sử dụng nó. Ban đầu điều này không dễ, vì âm thanh ấy vừa bất ngờ vừa quá ngắn để nắm bắt. Nhưng khi thời gian tiến triển, và đệ tử lại thành công lần nữa rồi lần nữa trong việc nhận được một đáp ứng tương tự, thì y có thể bắt đầu tìm ra phương pháp và quan sát các nguyên nhân đã khởi động rung động ấy.
As I have said before, many are the methods whereby a pupil becomes aware of success in the path of access. Above are but five out of these many. Later, when the [295] Schools are organised and watched over by a Master in physical plane consciousness, records will be kept of the times and modes of contact and in this manner much knowledge will accrue. I would in conclusion point out that always the calling forth of the response must be the work of the pupil, and that the hour of that response depends upon the earnestness of his work, the consecration of his service and his karmic liabilities. When he merits certain response it will be demonstrated in his stars, and naught can hinder or delay. Equally, naught can really hasten, so the pupil need not waste time in doleful ponderings upon the lack of response. His the part to obey the rules, to conform to the forms laid down, to ponder and wisely adhere to the prescribed instructions, and to definitely work and to ardently serve his fellowmen. When he has done all this, when he has built the necessary vibrating material into his three lower bodies, when he has aligned them with the body egoic (even if only for a brief minute) suddenly he may see, suddenly he may hear, suddenly he may sense a vibration, and then forever he may say that faith is merged in sight, and aspiration has become recognition. [296]
Như tôi đã nói trước đây, có nhiều phương pháp nhờ đó một đệ tử nhận biết sự thành công trên con đường tiếp cận. Những điều nêu trên chỉ là năm trong số rất nhiều phương pháp ấy. Về sau, khi các [295] Trường được tổ chức và được một Chân sư trông coi trong tâm thức cõi hồng trần, các ghi chép sẽ được lưu giữ về thời điểm và phương thức tiếp xúc, và theo cách này nhiều tri thức sẽ tích luỹ. Khi kết luận, tôi muốn chỉ ra rằng luôn luôn việc khơi dậy sự đáp ứng phải là công việc của đệ tử, và giờ khắc của sự đáp ứng ấy tuỳ thuộc vào sự chân thành trong công việc của y, sự thánh hiến trong sự phụng sự của y, và các món nợ nghiệp quả của y. Khi y xứng đáng với một đáp ứng nhất định, điều đó sẽ được biểu thị trong các vì sao của y, và không gì có thể ngăn cản hay trì hoãn. Cũng vậy, không gì thật sự có thể thúc nhanh, vì thế đệ tử không cần lãng phí thời gian trong những suy tư u sầu về sự thiếu vắng đáp ứng. Phần việc của y là tuân theo các quy luật, phù hợp với các hình thức đã được đặt ra, suy ngẫm và khôn ngoan tuân thủ các chỉ dẫn được quy định, và nhất định làm việc và nhiệt thành phụng sự đồng loại. Khi y đã làm tất cả những điều ấy, khi y đã xây dựng chất liệu rung động cần thiết vào ba thể thấp của mình, khi y đã chỉnh hợp chúng với thể chân ngã (dù chỉ trong một phút ngắn ngủi), thì đột nhiên y có thể thấy, đột nhiên y có thể nghe, đột nhiên y có thể cảm nhận một rung động, và rồi mãi mãi y có thể nói rằng đức tin đã dung hợp vào thị kiến, và khát vọng đã trở thành sự nhận biết. [296]
LETTER IX—FUTURE SCHOOLS OF MEDITATION.
THƯ IX—CÁC TRƯỜNG THAM THIỀN TRONG TƯƠNG LAI.
LETTER IX
THƯ IX
FUTURE SCHOOLS OF MEDITATION.
CÁC TRƯỜNG THAM THIỀN TRONG TƯƠNG LAI.
1. The one fundamental school.
1. Trường căn bản duy nhất.
2. Its national subdivisions.
2. Các phân nhánh theo quốc gia.
3. The location, personnel, and buildings of the school.
3. Vị trí, nhân sự và các toà nhà của trường.
4. The grades and classes. [297]
4. Các cấp bậc và lớp học. [297]
September 26th, 1920.
Ngày 26 tháng 9, 1920.
We take up today another of the series of letters on occult meditation, that dealing with “Future Schools of Meditation”. In this letter I shall attempt somewhat to show how the training and development indicated in the other letters will be applied and I shall deal somewhat with prophecy, pointing out what will some day be possible and present, and not what is as yet in any way approachable. Always it is necessary to have high ideals, and ever the human mind leaps forward to some appointed goal. If I here outline what may seem a visionary impossibility it is but that I seek to hold up such an ideal, and to give to the race an objective well worth their highest endeavour.
Hôm nay chúng ta tiếp tục một bức khác trong loạt thư về tham thiền huyền bí, bức thư bàn về “Các Trường Tham Thiền trong Tương Lai”. Trong thư này tôi sẽ cố gắng phần nào cho thấy cách việc huấn luyện và phát triển đã được nêu trong các thư khác sẽ được áp dụng; và tôi cũng sẽ bàn phần nào về lời tiên tri, chỉ ra điều mà một ngày nào đó sẽ có thể và sẽ hiện diện, chứ không phải điều hiện nay đã có thể tiếp cận theo bất kỳ cách nào. Luôn luôn cần có những lý tưởng cao, và thể trí con người luôn vươn nhảy về phía một mục tiêu đã được định. Nếu ở đây tôi phác hoạ điều có thể có vẻ như một điều không thể theo kiểu linh ảnh, thì chỉ là vì tôi muốn nêu cao một lý tưởng như thế, và trao cho nhân loại một mục tiêu thật đáng cho nỗ lực cao nhất của họ.
Preliminary remarks.—Những nhận xét sơ bộ.
Let us pause a moment and lay down certain postulates anent the present that will (so to speak) clear the ground for future action.
Chúng ta hãy dừng lại một lát và đặt ra một số tiền đề liên quan đến hiện tại, điều sẽ (nói theo cách nào đó) dọn sạch mặt bằng cho hành động trong tương lai.
The value of meditation is becoming everywhere admitted. Schools for concentration and methods of mental development are commonly advertised in the daily papers.
Giá trị của tham thiền đang ngày càng được thừa nhận ở khắp nơi. Các trường dạy tập trung và các phương pháp phát triển trí tuệ thường được quảng cáo trên báo hằng ngày.
True meditation is as yet little understood. Concentration is but the foundation upon which the future work is to be based.
Tham thiền chân chính cho đến nay vẫn còn ít được thấu hiểu. Sự tập trung chỉ là nền tảng mà trên đó công việc tương lai sẽ được xây dựng.
As yet the future structure cannot be raised, due to two causes primarily:— [298]
Cho đến nay, cấu trúc tương lai chưa thể dựng lên, chủ yếu do hai nguyên nhân:— [298]
a. The inherent inability of mind at this juncture to attain the causal level and the consciousness of the causal level.
a. Sự bất lực cố hữu của thể trí ở giai đoạn này trong việc đạt đến cõi nguyên nhân và tâm thức của cõi nguyên nhân.
b. The absence of a Master in personal presence, able and equipped to teach the true scientific development which is the aim of true meditation.
b. Sự vắng mặt của một Chân sư hiện diện trực tiếp, có khả năng và được trang bị để dạy sự phát triển khoa học chân chính, vốn là mục tiêu của tham thiền chân chính.
The troubled condition of the world at present is sufficient barrier to any general acceptation of training, and of the scientific development of the vehicles.
Tình trạng rối ren của thế giới hiện nay là một rào cản đủ lớn đối với bất kỳ sự chấp nhận rộng rãi nào về huấn luyện và về sự phát triển khoa học của các vận cụ.
These premises are laid down here as a starting point. That some individuals here and there achieve the goal, that some people do master the system of Occult Meditation and make the desired progress is undeniable, but they are only few in number and those numbers are inappreciable when set against the vast bulk of human beings in incarnation at the same time. They achieve by right of age-long effort, and because in previous lives they trod the Path or neared the portal of initiation. But even the average man of intelligence of today—the product, for instance, of western civilisation—is far from being ready for occult training. Experiments are being made now, unknown oft to the subjects themselves, to see how quickly a man may be pushed through experience and a general hastening of the evolutionary process into a position where it will be safe to train him further. People in many civilised countries are under supervision, and a method of stimulation and intensification is being applied which will bring to the knowledge of the Great Ones Themselves a mass of information that may serve as a guide to Their future efforts for the race. Especially are people in America, Australia, India, Russia, Scotland and Greece being dealt with. A few in Belgium, Sweden, and Austria are likewise under observation, and should the response [299] be as hoped they will form a nucleus for further expansion.
Những tiền đề này được nêu ra ở đây như một điểm khởi đầu. Không thể phủ nhận rằng một vài cá nhân đây đó đạt được mục tiêu, rằng một số người thật sự làm chủ hệ thống Tham Thiền Huyền Bí và đạt được tiến bộ mong muốn; nhưng họ chỉ là số ít, và con số ấy không đáng kể khi đặt cạnh khối lượng mênh mông những con người đang lâm phàm cùng một lúc. Họ đạt được nhờ quyền lợi của nỗ lực lâu dài qua nhiều thời đại, và vì trong các kiếp trước họ đã bước trên Con Đường hoặc đã đến gần cánh cổng điểm đạo. Nhưng ngay cả người trung bình có trí tuệ ngày nay—chẳng hạn sản phẩm của nền văn minh phương Tây—cũng còn xa mới sẵn sàng cho huấn luyện huyền bí. Hiện nay đang có những thí nghiệm, thường chính các đối tượng cũng không biết, để xem một người có thể được thúc đẩy nhanh đến mức nào qua kinh nghiệm và qua một sự tăng tốc tổng quát của tiến trình tiến hoá, đến một vị thế mà ở đó việc huấn luyện thêm sẽ an toàn. Con người ở nhiều quốc gia văn minh đang được giám sát, và một phương pháp kích thích và tăng cường đang được áp dụng; phương pháp này sẽ đem đến cho chính Các Đấng Cao Cả một khối thông tin có thể dùng làm chỉ dẫn cho những nỗ lực tương lai của Các Ngài đối với nhân loại. Đặc biệt, người dân ở Mỹ, Úc, Ấn Độ, Nga, Scotland và Hy Lạp đang được xử lý theo cách ấy. Một số ít ở Bỉ, Thuỵ Điển và Áo cũng đang được quan sát, và nếu sự đáp ứng [299] đúng như hy vọng, họ sẽ tạo thành một hạt nhân cho sự mở rộng thêm.
Future Schools of Meditation—Các Trường Tham Thiền trong Tương Lai
In handling this matter we might, as is our usual custom, divide the subject matter under different heads:—
Khi xử lý vấn đề này, chúng ta có thể, như thông lệ thường làm, chia đề tài dưới các đề mục khác nhau:—
1. The one fundamental School.
1. Trường căn bản duy nhất.
2. Its national subdivisions.
2. Các phân nhánh theo quốc gia.
3. The location, personnel, and buildings of the School.
3. Vị trí, nhân sự và các toà nhà của Trường.
4. The grades and classes.
4. Các cấp bậc và lớp học.
Now I would emphatically point out to you the fact that all that I now impart is a portion of a tentative plan, which has in view the hastening of the evolution of the higher mind, and the bringing under control of the bodies of men, through the power of the God within. This plan has been drawn up in view of the crying need of a world in which the mental equipment of men is increasing out of all proportion to their emotional balance and to their physical equipment. The rapid advance of knowledge, the spreading of the educational system which brings the product of many minds into the environment of the very poor, the ability of all to read and write in such a country as America or among the other Anglo-Saxon races, has been the cause of a very real (I might almost say an unexpected) problem arising to confront the Great Ones.
Giờ đây tôi muốn nhấn mạnh với các bạn một sự thật: tất cả những gì tôi đang truyền đạt chỉ là một phần của một kế hoạch tạm thời, nhằm tăng tốc tiến hoá của thượng trí, và đưa các thể của con người vào sự kiểm soát, thông qua quyền năng của Thượng đế bên trong. Kế hoạch này được soạn ra trước nhu cầu cấp bách của một thế giới trong đó trang bị trí tuệ của con người đang gia tăng vượt xa mọi tỉ lệ so với sự quân bình cảm xúc và so với trang bị thể xác của họ. Sự tiến bộ nhanh chóng của tri thức, sự lan rộng của hệ thống giáo dục vốn đem sản phẩm của nhiều thể trí vào môi trường của những người rất nghèo, khả năng đọc và viết của mọi người ở một quốc gia như Mỹ hoặc trong các nhân loại Anglo-Saxon khác, đã gây ra một vấn đề rất thực (tôi gần như có thể nói là một vấn đề bất ngờ) nảy sinh để đối diện với Các Đấng Cao Cả.
Mental development when paralleled by emotional stability and a strong healthy body is the aim for all. But now you have mental development paralleled by an unstable astral and a weak, underfed, badly raised physical. Hence disorder, lack of balance, the clouding of the vision and disproportionate discussion. Lower mind, instead of being a means to an end and a weapon for use, is in fair [300] way of being a ruler and a tyrant, preventing the play of the intuition and shutting out the abstract mind.
Sự phát triển trí tuệ khi song hành với sự ổn định cảm xúc và một thể xác mạnh khoẻ lành mạnh là mục tiêu cho tất cả. Nhưng hiện nay các bạn có sự phát triển trí tuệ song hành với một thể cảm dục bất ổn và một thể xác yếu ớt, thiếu ăn, được nuôi dạy tồi. Do đó sinh ra rối loạn, mất quân bình, sự che mờ tầm nhìn và những cuộc tranh luận thiếu tương xứng. Hạ trí, thay vì là một phương tiện cho mục đích và là một vũ khí để sử dụng, đang trên [300] đà trở thành kẻ cai quản và bạo chúa, ngăn cản sự vận hành của trực giác và loại trừ trí trừu tượng.
Hence the Masters, if it can in any way be accomplished, purpose a movement that has in view the harnessing of the lower mind through the instrumentality of the people themselves. With this object in view They plan to utilise the incoming Ray of Ceremonial Law or Organisation, and the period immediately co-incident or following the coming of the Great Lord, to start these schools (in a small inconspicuous way at first) and bring to the consciousness of men everywhere the following four fundamentals:—
Vì vậy, các Chân sư, nếu có thể thực hiện theo bất kỳ cách nào, dự định một phong trào nhằm chế ngự hạ trí thông qua chính con người. Với mục tiêu ấy, Các Ngài dự định sử dụng cung Luật Nghi Lễ hay Tổ Chức đang đi vào, và giai đoạn trùng hợp hoặc ngay sau sự quang lâm của Đức Chúa Tể Vĩ Đại, để khởi sự các trường này (ban đầu theo một cách nhỏ bé, kín đáo) và đem đến cho tâm thức con người ở khắp nơi bốn nền tảng sau:—
a. The evolutionary history of man from the mental side.
a. Lịch sử tiến hoá của con người xét từ phía trí tuệ.
b. The septenary constitution of the macrocosm and the microcosm.
b. Cấu trúc thất phân của đại thiên địa và tiểu thiên địa.
c. The laws governing man’s being.
c. Các định luật chi phối bản thể con người.
d. The method of occult development.
d. Phương pháp phát triển huyền bí.
A beginning has already been made........ through the TS and its Educational Trust, through the various theosophical schools at present extant........ and a more important departure is in process of making (e'en though unforeseen delays may occur) in the university scheme of the American Section TS..... Your plan of a Secret Doctrine class hath also its small place in the outline, and if handled with care and slow action may grow into a big matter
Một sự khởi đầu đã được thực hiện........ qua Hội Thông Thiên Học và Quỹ Giáo Dục của hội, qua các trường thông thiên học hiện đang tồn tại........ và một bước đi quan trọng hơn đang trong tiến trình thực hiện (dẫu có thể xảy ra những trì hoãn không lường trước) trong kế hoạch đại học của Phân Hội Mỹ của Hội Thông Thiên Học..... Kế hoạch của các bạn về một lớp Giáo Lý Bí Nhiệm cũng có vị trí nhỏ của nó trong phác thảo này, và nếu được xử lý cẩn trọng và tiến hành chậm rãi, nó có thể phát triển thành một việc lớn
All these are the beginnings of the plan. When they are firmly grounded, when they are working smoothly and with public recognition, and when the world of men is being somewhat coloured by them and their subjective emphasis, when they are producing scholars and workers, politicians and scientists and educational leaders who make their impress on their environment, then mayhap will come the time for the founding in exoteric fashion of the true occult school. By that I mean that if the earlier schools and colleges do their work satisfactorily they will have demonstrated to the world of men that the subjective is the true reality and that the lower is but the stepping stone to the higher. This subjective reality being universally admitted will, therefore, permit of the founding of a chain of inner schools [301]...that will be publicly recognised. This will never at any time obviate the necessity for always having an esoteric and secret section, for always there will be certain truths and facts of dangerous import to the uninitiated; but what I seek to point out is that the mysteries will eventually be admitted as facts for universal recognition and for universal aim and goal. They will be prepared for and entered from schools that definitely undertake, under expert guidance, to train novitiates for the mysteries.
Tất cả những điều này là các khởi đầu của kế hoạch. Khi chúng đã được đặt nền vững chắc, khi chúng vận hành trôi chảy và được công chúng công nhận, và khi thế giới loài người được chúng nhuốm màu phần nào cùng với sự nhấn mạnh chủ quan của chúng, khi chúng đang tạo ra các học giả và người hoạt động, các chính khách và nhà khoa học và các nhà lãnh đạo giáo dục tạo dấu ấn lên môi trường của họ, thì có lẽ sẽ đến thời điểm thành lập theo hình thức ngoại môn của trường huyền bí chân chính. Ý tôi là: nếu các trường và đại học ban đầu làm công việc của mình một cách thoả đáng, chúng sẽ chứng minh cho thế giới loài người rằng cái chủ quan mới là thực tại chân chính và cái thấp chỉ là bậc thang bước lên cái cao. Khi thực tại chủ quan này được thừa nhận phổ quát, do đó sẽ cho phép thành lập một chuỗi các trường nội môn [301]...được công khai công nhận. Điều này sẽ không bao giờ, vào bất kỳ lúc nào, loại bỏ sự cần thiết phải luôn có một phân bộ nội môn và bí mật, vì luôn luôn sẽ có những chân lý và sự kiện mang tính nguy hiểm đối với người chưa được điểm đạo; nhưng điều tôi muốn chỉ ra là các huyền nhiệm rốt cuộc sẽ được thừa nhận như những sự kiện để phổ quát công nhận và để phổ quát hướng đến như mục tiêu và cứu cánh. Người ta sẽ được chuẩn bị cho chúng và bước vào chúng từ những trường đảm nhận một cách xác định, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia, việc huấn luyện các tân học viên cho các huyền nhiệm.
Such schools have existed before and in the turning of the wheel again they will be in manifestation.
Những trường như thế đã từng tồn tại trước đây, và khi bánh xe lại xoay, chúng sẽ biểu hiện.
You ask, when? That depends on humanity itself and on all of you who work with faith and aspiration at the beginnings of the plan.
Các bạn hỏi: khi nào? Điều đó tuỳ thuộc vào chính nhân loại và vào tất cả các bạn, những người làm việc với đức tin và khát vọng ở những khởi đầu của kế hoạch.
H. P. B. laid the foundation stone of the first school in this particular lesser cycle (which is nevertheless a relatively important one, being an outgrowth of the fifth root-race, the efflorescence of the fifth principle) when she founded the ES of the TS. This is the keystone. The work proceeds in the founding, as aforesaid, of the various schools, and e'en mental science also has its place. It will go forward as desired if each one who is now under occult training wheresoe'er that may be (for the ES is not the only school in which the Great Ones are interested) strains every nerve and bends every effort to the work in hand. If all that is possible is done, when the Great Lord comes with His Masters the work will receive a still further impetus, and will gradually expand and grow till it becomes a power in the world. Then will come the day of the occult schools that will definitely train men for initiation.
Bà H. P. B. đã đặt viên đá nền của trường thứ nhất trong tiểu chu kỳ đặc thù này (tuy vậy vẫn là một chu kỳ tương đối quan trọng, vì là sự phát triển từ giống dân gốc thứ năm, là sự nở rộ của nguyên khí thứ năm) khi Bà thành lập Phân Bộ Nội Môn của Hội Thông Thiên Học. Đây là viên đá khoá. Công việc tiến triển trong việc thành lập, như đã nói, các trường khác nhau, và dẫu cả khoa học thể trí cũng có vị trí của nó. Nó sẽ tiến lên như mong muốn nếu mỗi người hiện đang được huấn luyện huyền bí ở bất cứ nơi đâu (vì Phân Bộ Nội Môn không phải là trường duy nhất mà Các Đấng Cao Cả quan tâm) căng mọi gân sức và dốc mọi nỗ lực vào công việc trước mắt. Nếu mọi điều có thể đều được thực hiện, khi Đức Chúa Tể Vĩ Đại quang lâm cùng các Chân sư của Ngài, công việc sẽ nhận thêm một xung lực nữa, và sẽ dần dần mở rộng và tăng trưởng cho đến khi trở thành một quyền lực trong thế giới. Khi ấy sẽ đến ngày của các trường huyền bí, nơi sẽ huấn luyện con người một cách xác định cho điểm đạo.
September 27th, 1920.
Ngày 27 tháng 9, 1920.
We must today take up our first point for it is only as we lay the foundation aright that the superstructure measures up to requirements. [302]
Hôm nay chúng ta phải bắt đầu với điểm thứ nhất, vì chỉ khi đặt nền đúng đắn thì kiến trúc bên trên mới đáp ứng được yêu cầu. [302]
1. The one fundamental School—Trường căn bản duy nhất.