← LETTERs ON OCCULT MEDITATION – Alice A. Bailey

Secondly, a graded scientific study of the microcosm, including the following subjects, using the microscope when needed:—

First and foremost, the practice of meditation as laid down in these letters and as may be apportioned by the Head of the school. Once or twice a year the initiate Head of the school to which the preparatory school is allied will pass the pupils in review and in conference with the Head of the school will apportion specific meditation adjusted to the pupil’s need. Once a year the Master responsible for both schools will likewise pass them in review and communicate to the Head any necessary adjustments. (I would here remind you that the relationship of a Master to a disciple is a private one and though He may be in constant touch with His pupil privately, this affects not His official review of the united auras of the school group.)

Trước hết và trên hết là việc thực hành tham thiền như đã được nêu trong các thư này và như có thể được Viện trưởng phân bổ. Mỗi năm một hoặc hai lần, vị Viện trưởng đã được điểm đạo của trường mà trường dự bị trực thuộc sẽ duyệt xét các học viên và, trong hội nghị với Viện trưởng của trường, sẽ phân bổ bài tham thiền cụ thể được điều chỉnh theo nhu cầu của học viên. Mỗi năm một lần, Chân sư chịu trách nhiệm cho cả hai trường cũng sẽ duyệt xét họ và truyền đạt cho Viện trưởng mọi điều chỉnh cần thiết. (Tôi xin nhắc các bạn ở đây rằng mối quan hệ giữa một Chân sư và một đệ tử là riêng tư, và dù Ngài có thể thường xuyên tiếp xúc riêng với đệ tử của Ngài, điều này không ảnh hưởng đến cuộc duyệt xét chính thức của Ngài đối với các hào quang hợp nhất của nhóm trường.)

Secondly, a graded scientific study of the microcosm, including the following subjects, using the microscope when needed:—

Thứ hai, một chương trình nghiên cứu khoa học theo cấp bậc về tiểu vũ trụ, bao gồm các môn sau, dùng kính hiển vi khi cần:—

The Microcosm.

Tiểu vũ trụ.

a. Elementary anatomy, physiology, biology.

a. Giải phẫu học, sinh lý học, sinh học căn bản.

b. Ethnology.

b. Nhân chủng học.

c. Study of the etheric body and its allied subjects of vitality and magnetism.

c. Nghiên cứu thể dĩ thái và các đề tài liên hệ về sinh lực và từ điện.

d. Study of geology; of the vegetable kingdom, or botany; and of the animal kingdom.

d. Nghiên cứu địa chất học; giới thực vật, hay thực vật học; và giới động vật.

e. Study of the history of man and the development of science.

e. Nghiên cứu lịch sử loài người và sự phát triển của khoa học.

f. Study of the laws of the microcosmic body.

f. Nghiên cứu các định luật của thể tiểu vũ trụ.

The Macrocosm.

Đại vũ trụ.

a. Study of the laws of electricity, of fohat, of prana, and of the astral light. [329]

a. Nghiên cứu các định luật về điện lực, về fohat, về prana, và về ánh sáng cảm dục. [329]

b. Study of astronomy and of astrology.

b. Nghiên cứu thiên văn học và chiêm tinh học.

c. Study of occult cosmogony.

c. Nghiên cứu vũ trụ khởi nguyên huyền môn.

d. Study of the human hierarchy.

d. Nghiên cứu thánh đoàn nhân loại.

e. Study of the deva evolution.

e. Nghiên cứu tiến hoá thiên thần.

f. Study of the laws of the solar system.

f. Nghiên cứu các định luật của hệ mặt trời.

g. Study of telepathy, mental creation, psychometry.

g. Nghiên cứu viễn cảm, sáng tạo bằng trí tuệ, thuật trắc tâm.

The Mind.

Thể trí.

a. The study of the mental plane.

a. Nghiên cứu cõi trí.

b. The study of the laws of fire.

b. Nghiên cứu các định luật của lửa.

c. The study of the causal body.

c. Nghiên cứu thể nguyên nhân.

d. The study of the fifth principle.

d. Nghiên cứu nguyên khí thứ năm.

e. The study of colour and of sound.

e. Nghiên cứu màu sắc và âm thanh.

Synthesis.

Tổng hợp.

a. The study of spirit-matter-mind.

a. Nghiên cứu tinh thần–vật chất–thể trí.

b. Study of numbers and of symbology.

b. Nghiên cứu các con số và biểu tượng học.

c. Study of higher mathematics.

c. Nghiên cứu toán học cao cấp.

d. Study of the laws of union.

d. Nghiên cứu các định luật hợp nhất.

e. Study of the laws of sex.

e. Nghiên cứu các định luật về tính dục.

Psychic Development.

Phát triển thông linh.

a. Study of practical occultism.

a. Nghiên cứu huyền bí học thực hành.

b. Study of psychism.

b. Nghiên cứu thông linh.

c. Study of the astral light and the akashic records.

c. Nghiên cứu ánh sáng cảm dục và các biên niên akasha.

d. Study of mediumship and inspiration.

d. Nghiên cứu đồng tử và cảm hứng.

e. Study of past lives.

e. Nghiên cứu các kiếp sống quá khứ.

f. Study of the macrocosmic and microcosmic centres.

f. Nghiên cứu các trung tâm đại vũ trụ và tiểu vũ trụ.

Practical Work.

Công việc thực hành.

a. Service to the race.

a. Phụng sự nhân loại.

b. Study of group work.

b. Nghiên cứu chính công việc nhóm.

c. Review work. [330]

c. Công việc ôn tập. [330]

d. Work on the subtler bodies with the view to producing continuity of consciousness.

d. Công việc trên các thể vi tế hơn nhằm tạo ra tính liên tục của tâm thức.

e. Study of magic.

e. Nghiên cứu huyền thuật.

f. Study of the seventh ray.

f. Nghiên cứu cung bảy.

You will see for yourself that when the pupil has completed the above curriculum he will be a potential magician, and will be a member of the Brotherhood of Light in embryo. He will be equipped and ready to pass into the advanced school, where he will be trained in using the knowledge already acquired, where his centres will be scientifically developed so that he will become a conscious psychic of the mental type, where he will be trained to contact and control the lesser evolutions and to co-operate with the other evolutions such as the deva, and where all his bodies will be so aligned and adjusted that he can at the end of a period—varying from two to three years—be ready to stand before the Initiator.

Các bạn sẽ tự thấy rằng khi học viên hoàn tất chương trình trên, y sẽ là một nhà huyền thuật tiềm năng, và sẽ là một thành viên của Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng trong dạng phôi. Y sẽ được trang bị và sẵn sàng chuyển vào trường cao cấp, nơi y sẽ được huấn luyện trong việc sử dụng tri thức đã thu nhận, nơi các trung tâm của y sẽ được phát triển một cách khoa học để y trở thành một người thông linh có tâm thức thuộc loại trí tuệ, nơi y sẽ được huấn luyện để tiếp xúc và kiểm soát các tiến hoá thấp hơn và hợp tác với các tiến hoá khác như thiên thần, và nơi mọi thể của y sẽ được chỉnh hợp và điều chỉnh sao cho vào cuối một thời kỳ—dao động từ hai đến ba năm—y có thể sẵn sàng đứng trước Đấng Điểm đạo.

c. Potencies becoming powers.—c. Các tiềm năng trở thành quyền năng.

This third type of work is based on the preceding curriculum and deals directly with individual development. It covers the following matters:—

Loại công việc thứ ba này dựa trên chương trình học vừa nêu và trực tiếp liên quan đến sự phát triển cá nhân. Nó bao gồm các vấn đề sau:—

a. The aligning of the bodies with a view to egoic contact.

a. Chỉnh hợp các thể nhằm đạt đến sự tiếp xúc với chân ngã.

b. The building of the antahkarana, and the development of the higher mind.

b. Xây dựng antahkarana, và phát triển thượng trí.

c. The development of the intuition, and the definite spiritual awakening of the pupil.

c. Phát triển trực giác, và sự thức tỉnh tinh thần xác định của học viên.

d. The study of the pupil’s vibration, ray, color and tone.

d. Nghiên cứu rung động, cung, màu sắc và âm điệu của học viên.

e. The conscious refining of all the bodies beginning with the physical. [331]

e. Tinh luyện một cách có tâm thức tất cả các thể, bắt đầu từ thể xác. [331]

When these matters are duly studied and all acquired knowledge put into practice, the inherent powers of the soul will become conscious powers. Above all, will the emphasis be laid upon the fact that the white magician is he who utilises all power and knowledge in the service of the race. His inner development must be expressed in terms of service before he is permitted to pass on into the advanced school.

Khi các vấn đề này được nghiên cứu đúng mức và mọi tri thức đã thu nhận được đem vào thực hành, các quyền năng vốn có của linh hồn sẽ trở thành những quyền năng có tâm thức. Trên hết, sự nhấn mạnh sẽ được đặt vào sự kiện rằng nhà huyền thuật chánh đạo là người sử dụng mọi quyền năng và tri thức trong sự phụng sự nhân loại. Sự phát triển nội tâm của y phải được biểu lộ bằng phụng sự trước khi y được phép chuyển sang trường cao cấp.

I have indicated enough to provide much room for interested speculation. [332]

Tôi đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều khoảng trống cho sự suy đoán đầy quan tâm. [332]

LETTER X—THE PURIFICATION OF THE VEHICLES.

THƯ X—SỰ THANH LỌC CÁC HIỆN THỂ.

LETTER X.

THƯ X.

THE PURIFICATION OF THE VEHICLES.

SỰ THANH LỌC CÁC HIỆN THỂ.

1. The physical body.

1. Thể xác.

2. The emotional body.

2. Thể cảm dục.

3. The mental body. [333]

3. Thể trí. [333]

November 7th, 1920.

Ngày 7 tháng 11, 1920.

The need arises these days for tested instruments. When Those Who guide human evolution at this period cast Their eyes over the race in the search for such instruments They see few as yet ready for the service required. But likewise They see some who, with a certain amount of training, will fill the need fairly adequately.

Những ngày này nảy sinh nhu cầu về các công cụ đã được thử nghiệm. Khi Các Đấng hướng dẫn tiến hoá nhân loại trong giai đoạn này đưa mắt nhìn khắp nhân loại để tìm kiếm những công cụ như thế, Các Ngài thấy rằng cho đến nay có rất ít người sẵn sàng cho sự phụng sự được đòi hỏi. Nhưng đồng thời Các Ngài cũng thấy một số người mà, với một mức độ huấn luyện nhất định, sẽ đáp ứng nhu cầu một cách khá đầy đủ.

As evolution proceeds the polarisation of the race changes. Men are polarised now principally in their emotional bodies,—the feelings, desires, the concerns of the personality sway them. The emotional body is the focal point for the personality. It acts as the clearing house for all that concerns it, and as the junction of the lower and the higher. It is like a busy railroad terminus, that receives cargo from all directions and empties it into the great city of the personal physical plane life. Then, as progress is made, the scene shifts higher, and the mental body becomes the focal point. Later the causal body becomes the important unit, and later still comes the ultimate sacrifice of even that, until the man stands bereft of all that vibrates to the three worlds, and all is over as regards the personal life,—nought remains but the life of the Spirit, and the voluntary giving of that life for the helping of the world.

Khi tiến hoá tiến triển, sự phân cực của nhân loại thay đổi. Hiện nay con người chủ yếu phân cực trong các thể cảm dục của họ,—các cảm xúc, dục vọng, những mối bận tâm của phàm ngã chi phối họ. Thể cảm dục là điểm hội tụ của phàm ngã. Nó hoạt động như nơi trung chuyển cho mọi điều liên quan đến phàm ngã, và như điểm nối giữa cái thấp và cái cao. Nó giống như một ga đường sắt bận rộn, nhận hàng hoá từ mọi hướng và đổ nó vào thành phố lớn của đời sống hồng trần cá nhân. Rồi, khi có tiến bộ, bối cảnh chuyển lên cao hơn, và thể trí trở thành điểm hội tụ. Về sau, thể nguyên nhân trở thành đơn vị quan trọng, và về sau nữa là sự hi sinh tối hậu ngay cả đối với điều đó, cho đến khi con người đứng trơ trọi, không còn gì rung động theo ba cõi giới, và mọi sự chấm dứt đối với đời sống cá nhân,—không còn gì ngoài đời sống của Tinh thần, và sự tự nguyện hiến dâng đời sống ấy để trợ giúp thế gian.

In the speeding up of evolution, certain things have to be brought about before the man can be used as a reliable instrument, true as tempered steel, for the helping of his race. Forget not that, as a rule, a man (when tested and tried) forms the best tool, because he comprehends [334] utterly the race consciousness, and because he enters into the problems of the day in a manner more thorough than an Ego from an earlier period. Hence the Masters desire to use those of you who live now to heal the wounds of the present suffering generation. What then has to be done? The matter I now give contains nothing very unusual, but it does hold thought for consideration by any who may desire to help.......In preparing a soul for service the Guides of the race have to deal with each of the bodies:—

Trong sự tăng tốc của tiến hoá, một số điều phải được thực hiện trước khi con người có thể được dùng như một công cụ đáng tin cậy, chân thật như thép đã tôi, để trợ giúp nhân loại của y. Đừng quên rằng, như một quy luật, một con người (khi được thử nghiệm và rèn luyện) tạo thành công cụ tốt nhất, vì y thấu hiểu [334] trọn vẹn tâm thức nhân loại, và vì y đi vào các vấn đề của thời đại theo một cách triệt để hơn một Chân ngã từ một thời kỳ trước. Do đó các Chân sư mong muốn sử dụng những người trong các bạn đang sống hiện nay để chữa lành các vết thương của thế hệ đang đau khổ này. Vậy thì điều gì phải được làm? Điều tôi nay đưa ra không có gì quá khác thường, nhưng nó chứa nhiều điều đáng suy ngẫm cho bất kỳ ai có thể mong muốn giúp đỡ.......Trong việc chuẩn bị một linh hồn cho phụng sự, Các Đấng Hướng Dẫn nhân loại phải xử lý từng thể:—

The training of the Physical Body.—Sự huấn luyện thể xác.

This involves certain definite requirements:—

Điều này bao hàm một số yêu cầu xác định:—

The building in of matter of the higher subplanes and the elimination of the lower and coarser matter. This is needed because it is impossible for those with coarse bodies to contact high vibration. It is impossible for the Ego to transmit the higher knowledge and guidance through a coarse physical body. It is impossible for the loftier currents of thought to impact the little evolved physical brain. Hence the refinement of the physical body is an essential. It is effected in various ways, all of them reasonable and utilitarian.

Xây dựng vào thể xác vật chất của các cõi phụ cao hơn và loại bỏ vật chất thấp hơn, thô hơn. Điều này cần thiết vì những người có thể thô không thể tiếp xúc rung động cao. Chân ngã không thể truyền đạt tri thức và sự hướng dẫn cao hơn qua một thể xác thô. Các dòng tư tưởng cao hơn không thể tác động vào bộ não hồng trần ít tiến hoá. Vì vậy, sự tinh luyện thể xác là điều thiết yếu. Nó được thực hiện theo nhiều cách, tất cả đều hợp lý và hữu dụng.

• By pure food. This involves a vegetarian diet, chosen with wise discrimination; it requires the eating of only those vegetables and fruits that vitalise. Careful judgment shown in the choice of food, wise refraining from too heavy eating, and a little pure good food perfectly assimilated are all that a disciple requires. You ask what foods? Milk, honey, whole wheat bread, all the vegetables that contact the sun, oranges (above all, oranges), bananas, raisins, nuts, some potatoes, unpolished rice, and may I again reiterate, [335] just as much of all the above as to insure activity.

• Bằng thực phẩm thanh khiết. Điều này bao hàm chế độ ăn chay, được chọn lựa với sự phân biện khôn ngoan; nó đòi hỏi chỉ ăn những rau quả và trái cây có tác dụng tiếp sinh lực. Sự phán đoán cẩn trọng trong việc chọn thực phẩm, sự kiêng tránh khôn ngoan đối với việc ăn quá nặng, và một ít thực phẩm thanh khiết tốt lành được đồng hoá hoàn hảo là tất cả những gì một đệ tử cần. Các bạn hỏi những thực phẩm nào ư? Sữa, mật ong, bánh mì lúa mì nguyên cám, tất cả các loại rau tiếp xúc với mặt trời, cam (trên hết là cam), chuối, nho khô, các loại hạt, một ít khoai tây, gạo không xay trắng, và xin cho phép tôi nhắc lại, [335] chỉ vừa đủ tất cả những thứ trên để bảo đảm hoạt động.

• By cleanliness. Much use of water, externally and internally, is vitally required.

• Bằng sự sạch sẽ. Việc dùng nhiều nước, bên ngoài và bên trong, là điều thiết yếu.

• By sleep. This should be always between the hours of ten in the evening and five in the morning, and as much as possible out of doors.

• Bằng giấc ngủ. Điều này luôn nên nằm trong khoảng từ mười giờ tối đến năm giờ sáng, và càng nhiều càng tốt ở ngoài trời.

• By sunshine. Contact with the sun should be much sought after, and the vitalisation that comes through its rays. The sun kills all germs and frees from disease.

• Bằng ánh nắng. Nên tìm kiếm nhiều sự tiếp xúc với mặt trời, và sự tiếp sinh lực đến qua các tia của nó. Mặt trời diệt mọi mầm bệnh và giải thoát khỏi bệnh tật.

When these four requirements are attended to adequately a definite process of elimination proceeds, and in the course of a few years the whole physical body shifts its polarisation gradually up until ultimately you will have a body composed of atomic subplane matter......This may take several incarnations, but it should be borne in mind that at each fresh incarnation a body is taken of the exact quality (if I may so put it) as the one previously discarded at death. Hence time is never lost in building. Eventually two other methods will be available by which more rapid refining may be effected:—

Khi bốn yêu cầu này được đáp ứng đầy đủ, một tiến trình loại trừ xác định sẽ diễn ra, và trong vòng vài năm toàn bộ thể xác dần dần chuyển sự phân cực lên cao cho đến cuối cùng các bạn sẽ có một thể được cấu tạo bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử......Điều này có thể mất nhiều kiếp lâm phàm, nhưng cần ghi nhớ rằng trong mỗi lần lâm phàm mới, người ta nhận một thể có đúng phẩm chất (nếu tôi có thể nói như vậy) như thể đã bị bỏ lại khi chết trước đó. Vì vậy thời gian không bao giờ bị mất trong việc xây dựng. Cuối cùng sẽ có thêm hai phương pháp khác giúp sự tinh luyện nhanh hơn:—

• The use of coloured lights. These lights are played on the body of the disciple and effect a shaking-out process and a simultaneous stimulation of the atoms. This cannot be done till further information is given anent the Rays; when a man’s ray is known, stimulation will come from the use of his own colour, a building-in will be brought about by the use of his complementary colour, and disintegration of unwanted matter will be brought about by the use of an antagonistic colour. This knowledge will later on be communicated to the great bodies that hold [336] custody of the Mysteries, the Church and the Masons. Wait, for the time is not yet. When the Mysteries are restored some of this information will be in the hands of the two bodies I refer to.

• Việc sử dụng ánh sáng màu. Những ánh sáng này được chiếu lên thể của đệ tử và tạo ra một tiến trình rung lắc để tống xuất, đồng thời kích thích các nguyên tử. Điều này chưa thể thực hiện cho đến khi có thêm thông tin liên quan đến các Cung; khi cung của một người được biết, sự kích thích sẽ đến từ việc dùng chính màu của y, sự xây dựng vào sẽ được tạo ra bằng việc dùng màu bổ túc của y, và sự phân rã vật chất không mong muốn sẽ được tạo ra bằng việc dùng một màu đối kháng. Về sau tri thức này sẽ được truyền đạt cho các tổ chức lớn đang nắm giữ [336] quyền giám hộ các Bí Nhiệm, tức Giáo hội và Hội Tam Điểm. Hãy chờ, vì thời điểm chưa đến. Khi các Bí Nhiệm được phục hồi, một phần thông tin này sẽ nằm trong tay hai tổ chức mà tôi vừa nhắc.

• The stimulation of music. Certain sounds shatter and break. Certain other sounds stimulate and attract. When the key of a man’s life is known, when the sound he responds to is recognised, then comes the possibility of the utilisation of sound in refinement. All that is at present possible to those of you who seek to serve is to attend to the above essentials and to seek contact with high vibration.

• Sự kích thích bằng âm nhạc. Một số âm thanh làm vỡ vụn và phá tan. Một số âm thanh khác kích thích và thu hút. Khi chủ âm đời sống của một người được biết, khi âm thanh mà y đáp ứng được nhận ra, thì xuất hiện khả năng sử dụng âm thanh trong sự tinh luyện. Tất cả những gì hiện nay có thể đối với những người trong các bạn tìm cách phụng sự là chăm lo các điều thiết yếu nêu trên và tìm kiếm sự tiếp xúc với rung động cao.

One more point I would like to give, and that is, that in the manipulation of electricity lies hid much that concerns the vivification of the bodies, especially just now of the etheric. The principal use the sun has is the vitalising of the etheric. The heat of the sun is electrical force adapted to the need of the great average majority in all the kingdoms of nature. As progress is made an intensification of this force will be possible in individual cases. Herein lies one of the secrets of initiation. In the old days the Rod of Initiation acted actually as a conductor of this force to the centres of the initiate; it was so constructed that it answered this purpose. Now, on a higher turn of the spiral, just the same need and purpose are served, though the method of application necessarily differs, owing to the change in the polarisation of the race. The polarisation is now no longer physical, but is either emotional or mental. The method of application differs in all three, and hence the safeguarding of the secret. It holds the mystery hid. [337]

Tôi muốn đưa ra thêm một điểm nữa, đó là: trong việc thao tác điện lực có ẩn giấu nhiều điều liên quan đến sự tiếp sinh lực cho các thể, đặc biệt hiện nay là cho thể dĩ thái. Công dụng chính của mặt trời là tiếp sinh lực cho thể dĩ thái. Nhiệt của mặt trời là mãnh lực điện được điều chỉnh theo nhu cầu của đại đa số trong mọi giới của thiên nhiên. Khi có tiến bộ, việc tăng cường mãnh lực này sẽ có thể xảy ra trong các trường hợp cá nhân. Chính trong đó có một trong những bí mật của điểm đạo. Trong thời xưa, Thần Trượng Điểm đạo thực sự hoạt động như một vật dẫn mãnh lực này đến các trung tâm của điểm đạo đồ; nó được cấu tạo sao cho đáp ứng mục đích ấy. Nay, trên một vòng xoắn cao hơn, cùng một nhu cầu và mục đích vẫn được đáp ứng, dù phương pháp áp dụng tất yếu khác đi, do sự thay đổi trong sự phân cực của nhân loại. Sự phân cực nay không còn là hồng trần, mà hoặc là cảm dục hoặc là trí tuệ. Phương pháp áp dụng khác nhau trong cả ba trường hợp, và vì vậy cần sự bảo vệ bí mật. Nó giữ cho huyền nhiệm được che giấu. [337]

The refining of the etheric.—Sự tinh luyện thể dĩ thái.

This coincides with that of the physical body. The method consists principally of living in the sunlight, in protection from cold, and in the assimilation of certain definite combinations of vitamins which before long will be given to the race. A combination of these vitamins will be formulated and made into tabloid form, with direct effect upon the etheric body. This will not be until that etheric vehicle is recognised by science, and definitely included in the training offered by the faculty of medicine. The study of etheric diseases—congestion and atrophy—will ere long be a recognised study, and will lead to definite treatments and formulas. As before said, all that you can now do in sensitising the dual physical is to attend to the above rules, and allow time to bring about the remainder of the work.

Điều này trùng hợp với sự tinh luyện thể xác. Phương pháp chủ yếu là sống trong ánh nắng, được bảo vệ khỏi lạnh, và đồng hoá một số phối hợp vitamin xác định mà chẳng bao lâu nữa sẽ được trao cho nhân loại. Một phối hợp các vitamin này sẽ được bào chế và làm thành dạng viên nén, với tác dụng trực tiếp lên thể dĩ thái. Điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi hiện thể dĩ thái ấy được khoa học công nhận, và được đưa một cách xác định vào sự huấn luyện do ngành y cung cấp. Việc nghiên cứu bệnh dĩ thái—ứ trệ và teo rút—chẳng bao lâu nữa sẽ là một ngành học được công nhận, và sẽ dẫn đến các phương pháp điều trị và công thức xác định. Như đã nói trước, tất cả những gì hiện nay các bạn có thể làm để làm cho thể xác kép trở nên nhạy cảm là tuân thủ các quy luật nêu trên, và để thời gian hoàn tất phần công việc còn lại.

The refining of the emotional body.—Sự tinh luyện thể cảm dục.

Here the method of procedure is different. The emotional body is simply a great reflector. It takes colour and movement from its surroundings. It receives the impress of every passing desire. It contacts every whim and fancy in its environment; every current sets it in motion; every sound causes it to vibrate unless the aspirant inhibits such a state of affairs and trains it to receive and register only those impressions which come from the intuitional level via the Higher Self and therefore via the atomic subplane. The aim of the aspirant should be to so train the emotional body that it will become still and clear as a mirror, so that it may reflect perfectly. His aim should be to make it reflect only the causal body, to take on colour only in line with the great Law, and to move under definite direction and not just as blow the winds of [338] thought, or rise the tides of desire. What words should describe the emotional body? the words: still, serene, unruffled, quiet, at rest, limpid and clear, of a quality mirrorlike, of surface even, a limpid reflector,—one that accurately transmits the wishes, the desires, the aspirations of the Ego and not of the personality. How should this be accomplished? In several ways, some at the direction of the aspirant, and some at the direction of the Master.

Ở đây, phương pháp tiến hành thì khác. Thể cảm dục đơn giản chỉ là một tấm phản chiếu lớn. Nó nhận màu sắc và chuyển động từ môi trường chung quanh. Nó tiếp nhận ấn tượng của mọi dục vọng thoáng qua. Nó tiếp xúc với mọi ý thích và tưởng tượng trong môi trường của nó; mọi dòng chảy đều làm nó chuyển động; mọi âm thanh đều khiến nó rung động, trừ khi người chí nguyện ngăn chặn tình trạng ấy và rèn luyện nó để chỉ tiếp nhận và ghi nhận những ấn tượng đến từ tầng trực giác qua chân ngã và vì vậy qua cõi phụ nguyên tử. Mục tiêu của người chí nguyện là rèn luyện thể cảm dục sao cho nó trở nên tĩnh lặng và trong suốt như một tấm gương, để nó có thể phản chiếu một cách hoàn hảo. Mục tiêu của y là làm cho nó chỉ phản chiếu thể nguyên nhân, chỉ khoác lấy màu sắc theo đúng Định luật vĩ đại, và chuyển động dưới sự chỉ đạo xác định chứ không chỉ theo chiều gió của tư tưởng [338], hay theo những con triều của dục vọng dâng lên. Những từ nào nên mô tả thể cảm dục? Những từ: tĩnh lặng, thanh thản, không xao động, yên ắng, an nghỉ, trong veo và sáng tỏ, có phẩm tính như gương, bề mặt phẳng đều, một tấm phản chiếu trong veo,—một tấm phản chiếu truyền đạt chính xác những ước muốn, những dục vọng, những khát vọng của chân ngã chứ không phải của phàm ngã. Điều này phải được thực hiện như thế nào? Bằng nhiều cách, một số theo sự chỉ đạo của người chí nguyện, và một số theo sự chỉ đạo của Chân sư.

a. By the constant watching of all desires, motives and wishes that cross the horizon daily, and by the subsequent emphasising of all those that are of a high order, and by the inhibition of the lower.

a. Bằng việc không ngừng quan sát mọi dục vọng, động cơ và ước muốn đi ngang qua chân trời mỗi ngày, và sau đó nhấn mạnh mọi điều thuộc bậc cao, và ngăn chặn những điều thấp.

b. By a constant daily attempt to contact the Higher Self, and to reflect His wishes in the life. At first mistakes will be made, but little by little the building-in process proceeds, and the polarisation in the emotional body gradually shifts up each subplane until the atomic is reached.

b. Bằng nỗ lực hằng ngày không ngừng để tiếp xúc với chân ngã, và phản chiếu những ước muốn của Ngài trong đời sống. Lúc đầu sẽ có sai lầm, nhưng dần dần tiến trình xây dựng-đưa-vào sẽ tiếp diễn, và sự phân cực trong thể cảm dục từ từ chuyển lên từng cõi phụ cho đến khi đạt cõi phụ nguyên tử.

c. By definite periods daily directed to the stilling of the emotional body. So much emphasis is laid in meditation on the stilling of the mind, but it should be remembered that the stilling of the emotional nature is a step preliminary to the quieting of the mental; one succeeds the other and it is wise to begin at the bottom of the ladder. Each aspirant must discover for himself wherein he yields most easily to violent vibrations, such as fear, worry, personality desire of any kind, personality love of anything or anyone, discouragement, over-sensitiveness to public opinion; then he must overcome that vibration, by imposing on it a new rhythm, definitely eliminating and constructing. [339]

c. Bằng những thời kỳ xác định mỗi ngày dành cho việc làm tĩnh lặng thể cảm dục. Trong tham thiền, người ta nhấn mạnh rất nhiều vào việc làm tĩnh lặng thể trí, nhưng cần nhớ rằng việc làm tĩnh lặng bản chất cảm dục là một bước sơ khởi trước khi làm yên lặng thể trí; cái này nối tiếp cái kia, và khôn ngoan là bắt đầu từ bậc thấp của chiếc thang. Mỗi người chí nguyện phải tự khám phá nơi nào y dễ nhượng bộ nhất trước những rung động dữ dội, như sợ hãi, lo âu, dục vọng phàm ngã dưới bất kỳ hình thức nào, tình yêu phàm ngã đối với bất cứ vật gì hay bất cứ ai, nản lòng, quá nhạy cảm trước dư luận; rồi y phải vượt thắng rung động ấy, bằng cách áp đặt lên nó một nhịp điệu mới, dứt khoát loại trừ và kiến tạo. [339]

d. By work done on the emotional body at night under the direction of more advanced egos, working under the guidance of a Master. Stimulation of vibration or the deadening of vibration follows on the application of certain colours and sounds. At this particular time two colours are being applied to many people for the specific purpose of keying up the throat and foremost head centre, namely, violet and gold.

d. Bằng công việc được thực hiện trên thể cảm dục vào ban đêm dưới sự chỉ đạo của các chân ngã tiến bộ hơn, làm việc dưới sự hướng dẫn của một Chân sư. Sự kích thích rung động hoặc làm tê lặng rung động sẽ theo sau việc áp dụng một số màu sắc và âm thanh nhất định. Vào thời điểm đặc biệt này, hai màu đang được áp dụng cho nhiều người nhằm mục đích cụ thể là nâng cao trung tâm cổ họng và trung tâm đầu phía trước, đó là màu tím và màu vàng kim.

Remember that the work is gradual, and as the polarisation shifts up, the moment of transition from one subplane to another is marked by certain tests applied at night, what one might term a series of small initiations that eventually will be consummated in the second great initiation, that marks the perfection of the control of the body of the emotions.

Hãy nhớ rằng công việc là dần dần, và khi sự phân cực chuyển lên, khoảnh khắc chuyển tiếp từ cõi phụ này sang cõi phụ khác được đánh dấu bằng một số thử thách được áp dụng vào ban đêm, điều mà người ta có thể gọi là một chuỗi những cuộc điểm đạo nhỏ, cuối cùng sẽ được hoàn tất trong lần điểm đạo thứ hai vĩ đại, vốn đánh dấu sự hoàn hảo của việc kiểm soát thể cảm xúc.

Four small initiations find their culmination in the initiation proper. These are the initiations on the emotional plane, called respectively the initiations of earth, fire, water and air, culminating in initiation the second. The first initiation marks the same point of attainment on the physical plane. Each initiation marks the attainment of a certain proportion of atomic matter in the bodies. The four initiations, prior to that of the Adept, mark respectively the attainment of a proportionate amount, as for instance:—At the first initiation one-fourth atomic matter, at the second one-half atomic matter, and so on to the consummation. The intuition (or buddhi) being the unifying principle and thus welding all, at the fourth initiation the lower vehicles go, and the adept stands in his intuitional body, and creates from thence his body of manifestation. [340]

Bốn cuộc điểm đạo nhỏ đạt đến đỉnh điểm trong cuộc điểm đạo đúng nghĩa. Đây là các cuộc điểm đạo trên cõi cảm dục, lần lượt được gọi là các cuộc điểm đạo của đất, lửa, nước và khí, đạt đến đỉnh điểm trong lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo thứ nhất đánh dấu cùng một điểm thành tựu trên cõi hồng trần. Mỗi cuộc điểm đạo đánh dấu việc đạt được một tỉ lệ nhất định của vật chất nguyên tử trong các thể. Bốn cuộc điểm đạo, trước cuộc điểm đạo của chân sư, lần lượt đánh dấu việc đạt được một lượng tỉ lệ, như chẳng hạn:—Ở lần điểm đạo thứ nhất là một phần tư vật chất nguyên tử, ở lần điểm đạo thứ hai là một nửa vật chất nguyên tử, và cứ thế cho đến khi hoàn tất. Trực giác (hay Bồ đề) là nguyên khí hợp nhất và vì vậy hàn gắn tất cả; ở lần điểm đạo thứ tư, các vận cụ thấp rời đi, và chân sư đứng trong thể trực giác của y, và từ đó tạo ra thể biểu hiện của y. [340]

The refinement of the mental body.—Sự tinh luyện của thể trí.

This is the result of hard work and discrimination. It necessitates three things before the plane of the mental unit is achieved, and before the causal consciousness (the full consciousness of the higher self) is reached:—

Đây là kết quả của lao động gian khổ và sự phân biện. Nó đòi hỏi ba điều trước khi đạt đến cõi của đơn vị hạ trí, và trước khi đạt đến tâm thức nguyên nhân (tâm thức trọn vẹn của chân ngã):—

Clear thinking, not just on subjects wherein interest is aroused, but on all matters affecting the race. It involves the formulation of thought matter, and the capacity to define. It means the ability to make thought forms out of thought matter, and to utilise those thought forms for the helping of the public. He who does not think clearly, and who has an inchoate mental body, lives in a fog, and a man in a fog is but a blind leader of the blind.

Tư duy rõ ràng, không chỉ về những chủ đề khơi dậy hứng thú, mà về mọi vấn đề ảnh hưởng đến nhân loại. Điều này bao hàm việc định hình chất liệu tư tưởng, và năng lực định nghĩa. Nó có nghĩa là khả năng tạo ra các hình tư tưởng từ chất liệu tư tưởng, và sử dụng những hình tư tưởng ấy để giúp đỡ công chúng. Ai không tư duy rõ ràng, và có một thể trí còn mơ hồ chưa thành hình, thì sống trong sương mù, và một người trong sương mù chỉ là kẻ mù dẫn dắt kẻ mù.

The ability to still the mental body so that thoughts from abstract levels and from the intuitional planes can find a receptive sheet whereon they may inscribe themselves. This thought has been made clear in many books on concentration and meditation, and needs not my elucidation. It is the result of hard practice carried over many years.

Khả năng làm tĩnh lặng thể trí để các tư tưởng từ những tầng trừu tượng và từ các cõi trực giác có thể tìm thấy một tấm nền tiếp nhận, nơi chúng có thể tự ghi khắc lên. Tư tưởng này đã được làm rõ trong nhiều sách về tập trung và tham thiền, và không cần tôi giải thích thêm. Đó là kết quả của sự thực hành nghiêm ngặt kéo dài nhiều năm.

A definite process brought about by the Master with the acquiescence13 of the disciple which welds into a permanent shape the hard won efforts and results of many years. At each initiation, the electrical or magnetic force applied has a stabilising effect. It renders durable the results achieved by the disciple. Like as a potter moulds and shapes the clay and then applies the fire that solidifies, so the aspirant shapes and moulds and builds, and prepares for the solidifying fire. Initiation marks a permanent attainment and the beginning of a new cycle of endeavour.

Một tiến trình xác định do Chân sư đem lại với sự thuận tình của đệ tử, hàn gắn thành một hình dạng bền vững những nỗ lực và kết quả khó nhọc đạt được qua nhiều năm. Ở mỗi cuộc điểm đạo, mãnh lực điện hay từ tính được áp dụng có tác dụng ổn định. Nó làm cho các kết quả mà đệ tử đạt được trở nên bền lâu. Cũng như người thợ gốm nặn và tạo hình đất sét rồi áp lửa để làm rắn chắc, người chí nguyện cũng nặn, tạo hình và xây dựng, và chuẩn bị cho ngọn lửa làm rắn chắc. Điểm đạo đánh dấu một thành tựu vĩnh viễn và sự khởi đầu của một chu kỳ nỗ lực mới.

Above all two things should be emphasised:—

Trên hết, cần nhấn mạnh hai điều:—

1. A steady, unshaken perseverance, that recks14 not [341] of time nor hindrance, but goes on. This capacity to persevere explains why the non-spectacular man so frequently attains initiation before the genius, and before the man who attracts more notice. The capacity to plod is much to be desired.

1. Một sự kiên trì vững vàng, không lay chuyển, không màng [341] thời gian hay trở ngại, mà cứ tiến lên. Năng lực kiên trì này giải thích vì sao người không phô trương lại thường đạt điểm đạo trước thiên tài, và trước người thu hút nhiều chú ý hơn. Năng lực bền bỉ cần mẫn là điều rất đáng mong muốn.

2. A progress that is made without undue self-analysis. Pull not yourselves up by the roots to see if there is growth. It takes precious time. Forget your own progress in conforming to the rules and in the helping of others. When this is so, sudden illumination may come, and the realisation break upon you that the point has been reached when the Hierophant can demand your presence and bestow initiation upon you. You have, by hard work and sheer endeavour to conform to the Law and to love all, built into your bodies the material that makes it possible for you to stand in His Presence. The great Law of Attraction draws you to Him and nought can withstand the Law. [342]

2. Một sự tiến bộ được thực hiện mà không tự phân tích quá mức. Đừng nhổ bật chính các bạn lên tận rễ để xem có tăng trưởng hay không. Điều đó tốn thời gian quý báu. Hãy quên sự tiến bộ của chính các bạn trong việc tuân theo các quy luật và trong việc giúp đỡ người khác. Khi được như vậy, sự soi sáng đột ngột có thể đến, và sự chứng nghiệm có thể ập đến với các bạn rằng điểm đã được đạt tới khi Đấng Chủ Lễ có thể đòi hỏi sự hiện diện của các bạn và ban điểm đạo cho các bạn. Các bạn đã, bằng lao động gian khổ và nỗ lực thuần túy để phù hợp với Định luật và để yêu thương tất cả, xây dựng vào các thể của mình chất liệu khiến các bạn có thể đứng trong Sự Hiện Diện của Ngài. Định luật Hấp Dẫn vĩ đại kéo các bạn đến với Ngài và không gì có thể chống lại Định luật. [342]

13 sự đồng ý; sự bằng lòng ngầm, sự mặc nhận

14 ngại; băn khoăn; lo lắng; để ý

LETTER XI—THE RESULTANT LIFE OF SERVICE.

THƯ XI—ĐỜI SỐNG PHỤNG SỰ KẾT QUẢ.

LETTER XI.

THƯ XI.

THE RESULTANT LIFE OF SERVICE.

ĐỜI SỐNG PHỤNG SỰ KẾT QUẢ.

1. Motives for service.

1. Động cơ phụng sự.

2. Methods of service.

2. Phương pháp phụng sự.

3. Attitude following action. [343]

3. Thái độ sau hành động. [343]

September 16th, 1920.

Ngày 16 tháng 9 năm 1920.

I seek to give you today, in closing this series, something of general use. I wish to speak to you anent service and its perfect rendering. What I give you in this connection may be of vital use. Remember always that material gain in knowledge for the individual causes stagnation, obstruction, indigestion and pain, if not passed on with wise discrimination. Food absorbed by the human body, if not assimilated and passed through the system, causes just the above conditions. The analogy is correct. Much tuition comes to many these days, but it is for the use of a needy world, and not for their own exclusive benefit.

Hôm nay, khi khép lại loạt thư này, tôi tìm cách trao cho các bạn điều gì đó có ích chung. Tôi muốn nói với các bạn về phụng sự và việc thực hiện phụng sự một cách hoàn hảo. Điều tôi trao cho các bạn trong mối liên hệ này có thể có ích thiết yếu. Hãy luôn nhớ rằng việc thu nhận kiến thức về mặt vật chất cho cá nhân sẽ gây trì trệ, bế tắc, khó tiêu và đau đớn, nếu không được chuyển trao đi với sự phân biện khôn ngoan. Thức ăn được cơ thể người hấp thụ, nếu không được đồng hoá và thải qua hệ thống, sẽ gây ra đúng những tình trạng nêu trên. Sự tương đồng ấy là đúng. Ngày nay, nhiều sự huấn luyện đến với nhiều người, nhưng là để dùng cho một thế giới đang thiếu thốn, chứ không phải cho lợi ích độc quyền của riêng họ.

In rendering service three things are of moment:—

Trong việc thực hiện phụng sự, ba điều là quan trọng:—

1. The motive.

1. Động cơ.

2. The method.

2. Phương pháp.

3. The attitude following action.

3. Thái độ sau hành động.

With wrong motives and methods I deal not. To you they are known. I indicate the right, and by adjustment of the life of service to my indications comes correction and inspiration. A life of much service opens up to many these days; see, all of you, that it commences right. A right beginning is liable to eventuate in continuous correctness, and helps much in the endeavour. Where failure follows in such a case, all that is needed is readjustment. In failure where the beginning has been at fault (an inevitable failure), the need is for the renewal of the inner springs of action. [344]

Với những động cơ và phương pháp sai lầm, tôi không bàn đến. Đối với các bạn, chúng đã được biết. Tôi chỉ ra điều đúng, và bằng việc điều chỉnh đời sống phụng sự theo những chỉ dẫn của tôi thì sự sửa chữa và cảm hứng sẽ đến. Một đời sống phụng sự nhiều mở ra cho nhiều người ngày nay; hãy xem, tất cả các bạn, rằng nó khởi sự đúng đắn. Một khởi đầu đúng đắn có thể dẫn đến sự đúng đắn liên tục, và giúp ích rất nhiều trong nỗ lực. Khi thất bại xảy ra trong trường hợp như vậy, điều cần thiết chỉ là điều chỉnh lại. Trong thất bại mà khởi đầu đã sai (một thất bại tất yếu), điều cần là làm mới lại những nguồn suối nội tâm của hành động. [344]

1. The motives for service.—1. Các động cơ phụng sự.

These motives are threefold in the order of their importance:—

Những động cơ này là tam phân theo thứ tự quan trọng:—

a. A realisation of God’s plan of evolution, a sensing of the world’s dire need, an apprehension of the immediate point of world attainment, and a consequent throwing of the total of one’s resources into the furtherance of that end.

a. Một sự chứng nghiệm về Thiên Cơ tiến hoá của Thượng đế, một cảm nhận về nhu cầu khẩn thiết của thế giới, một sự nắm bắt điểm thành tựu tức thời của thế giới, và do đó dốc toàn bộ nguồn lực của mình vào việc thúc đẩy mục tiêu ấy.

b. A definite personal goal of achievement, some great ideal—such as holiness of character—that calls forth the soul’s best endeavour; or a realisation of the reality of the Masters of the Wisdom, and a strong inner determination to love, serve, and reach Them at all costs. When you have this intellectual grip of God’s plan, coupled with the strong desire to serve the Great Ones, in physical plane activities will come the working out.

b. Một mục tiêu cá nhân xác định về thành tựu, một lý tưởng lớn—chẳng hạn như sự thánh thiện của tính cách—khơi dậy nỗ lực tốt nhất của linh hồn; hoặc một sự chứng nghiệm về thực tại của các Chân sư Minh Triết, và một quyết tâm nội tâm mạnh mẽ để yêu thương, phụng sự, và đạt đến Các Ngài bằng mọi giá. Khi các bạn có sự nắm bắt trí tuệ về Thiên Cơ của Thượng đế, đi kèm với khát vọng mạnh mẽ để phụng sự Các Đấng Cao Cả, thì trong các hoạt động ở cõi hồng trần sẽ diễn ra sự triển khai.

c. A realisation next of one’s innate or acquired capacities and a fitting of those capacities to the need appreciated. Service is of many kinds, and he who wisely renders it, who seeks to find his particular sphere, and who, finding it, gives effort gladly for the benefit of the whole, is the man whose own development proceeds steadily. But nevertheless the aim of personal progress remains secondary.

c. Kế đến là một sự chứng nghiệm về các năng lực bẩm sinh hay đã đạt được của chính mình và sự điều chỉnh những năng lực ấy cho phù hợp với nhu cầu đã được nhận ra. Phụng sự có nhiều loại, và người phụng sự một cách khôn ngoan, người tìm cách nhận ra lĩnh vực riêng của mình, và khi đã tìm ra thì vui lòng dốc sức vì lợi ích của toàn thể, là người mà sự phát triển của chính y tiến triển đều đặn. Tuy vậy, mục tiêu tiến bộ cá nhân vẫn là thứ yếu.

2. The methods of service.—2. Các phương pháp phụng sự.

These are many and varied. I can but indicate the ones of paramount importance.

Chúng nhiều và đa dạng. Tôi chỉ có thể nêu ra những điều quan trọng bậc nhất.

First and foremost comes, as I have often inculcated, the faculty of discrimination. He who considers that he can attempt all things, who balks not at aught that happens his way, who rushes wildly in where wiser ones refrain, who considers he has capacity for that which [345] arises, who brings zeal but no brains to bear on this problem of service, but dissipates force; he renders oft destructive action, he wastes the time of wiser and greater ones in the correcting of his well meant mistakes, and he serves no end but his own desires. The reward of good intention may be his, but it is frequently offset by the results of foolish action. He serves with discrimination who realises wisely his own niche, great or small, in the general scheme; who calculates soberly his mental and intellectual capacity, his emotional calibre and his physical assets and then with the sum of the whole applies himself to fill the niche.

Trước hết và trên hết là, như tôi thường răn dạy, năng lực phân biện. Ai cho rằng mình có thể thử làm mọi việc, không chùn bước trước bất cứ điều gì xảy đến, lao vào một cách hoang dại nơi những người khôn ngoan hơn thì kiềm lại, cho rằng mình có năng lực đối với bất cứ điều gì [345] phát sinh, đem nhiệt tình nhưng không đem trí tuệ để giải quyết vấn đề phụng sự này, mà lại làm tiêu tán mãnh lực; người ấy thường gây ra hành động mang tính phá hoại, lãng phí thời gian của những người khôn ngoan và vĩ đại hơn trong việc sửa chữa những sai lầm thiện ý của y, và y không phục vụ mục tiêu nào ngoài những dục vọng của chính mình. Phần thưởng của thiện ý có thể thuộc về y, nhưng thường bị hóa giải bởi kết quả của hành động dại dột. Người phụng sự với sự phân biện là người khôn ngoan nhận ra vị trí riêng của mình, lớn hay nhỏ, trong toàn bộ kế hoạch; người tính toán tỉnh táo năng lực thể trí và trí năng, tầm vóc cảm dục và các nguồn lực thể xác của mình, rồi với tổng hoà của tất cả, tự áp dụng mình để lấp đầy vị trí ấy.

He serves with discrimination who judges with the aid of his Higher Self and the Master what is the nature and the measure of the problem to be solved, and is not guided by the well meant though often ill-judged suggestions, requests and demands of his fellow-servers.

Người phụng sự với sự phân biện là người phán đoán, với sự trợ giúp của chân ngã và Chân sư, bản chất và mức độ của vấn đề cần giải quyết, và không bị dẫn dắt bởi những gợi ý, thỉnh cầu và đòi hỏi của các người phụng sự đồng môn, dù thiện ý nhưng thường phán đoán sai.

He serves with discrimination who brings a realisation of time into action, and comprehending that each day contains but twenty-four hours and that his capacity contains but the expenditure of just so much force and no more, wisely adjusts his capacity and the time available to each other.

Người phụng sự với sự phân biện là người đem sự chứng nghiệm về thời gian vào hành động, và thấu hiểu rằng mỗi ngày chỉ có hai mươi bốn giờ và năng lực của y chỉ chứa được sự tiêu dùng chừng ấy mãnh lực mà thôi, không hơn; do đó khôn ngoan điều chỉnh năng lực của mình và thời gian sẵn có cho phù hợp với nhau.

Next follows a wise control of the physical vehicle. A good server causes the Master no anxiety from physical causes, and may be trusted so to guard and husband his physical strength that he is always available for the carrying out of the Master’s requests. He does not fail from physical disability. He sees that his lower vehicle gets sufficient rest, and adequate sleep. He rises early and retires at a seemly hour. He relaxes whenever possible; he eats wholesome and suitable food and refrains from heavy eating. A little food, well chosen and well masticated, is far better than a heavy meal. The human race [346] eats these days, as a rule, four times as much as is required. He ceases from work when (through accident or the recurrence of inherited physical disability) his body reacts against action and cries out for attention. He then seeks rest, sleep, dietary precautions and necessary medical attention. He obeys all wise instruction, giving time for his recovery.

Kế đó là sự kiểm soát khôn ngoan đối với vận cụ thể xác. Một người phụng sự tốt không làm Chân sư phải lo lắng vì các nguyên nhân thể xác, và có thể được tin cậy để gìn giữ và tiết kiệm sức mạnh thể xác của mình sao cho luôn sẵn sàng thực hiện những yêu cầu của Chân sư. Y không thất bại vì sự bất lực thể xác. Y bảo đảm rằng vận cụ thấp của mình được nghỉ ngơi đầy đủ, và ngủ đủ giấc. Y dậy sớm và đi ngủ vào giờ thích đáng. Y thư giãn bất cứ khi nào có thể; y ăn thức ăn lành mạnh và phù hợp và tránh ăn quá nhiều. Một ít thức ăn, được chọn lựa kỹ và nhai kỹ, tốt hơn nhiều so với một bữa ăn nặng nề. Nhân loại [346] ngày nay, như một quy luật, ăn gấp bốn lần mức cần thiết. Y ngừng làm việc khi (do tai nạn hoặc do tái phát tình trạng bất lực thể xác di truyền) cơ thể y phản ứng chống lại hành động và kêu gọi được chú ý. Khi đó y tìm đến nghỉ ngơi, ngủ, thận trọng về chế độ ăn, và sự chăm sóc y tế cần thiết. Y tuân theo mọi chỉ dẫn khôn ngoan, dành thời gian cho sự hồi phục.

The next step is a steady care and control of the emotional body. This is the most difficult of the vehicles to tend, as is well known. No excessive emotion is permitted, though strong currents of love for all that breathe are allowed to sweep through. Love, being the law of the system, is constructive and stabilising, and carries all on in line with the law. No fear or worry or care shake the emotional body of the aspiring servant of all. He cultivates serenity, stability, and a sense of secure dependence on God’s law. A joyous confidence characterises his habitual attitude. He harbours no jealousy, no cloudy grey depression, and no greed or self-pity, but—realising that all men are brothers and that all that is exists for all—he proceeds calmly on his way.

Bước kế tiếp là sự chăm sóc và kiểm soát đều đặn đối với thể cảm dục. Đây là vận cụ khó chăm sóc nhất, như ai cũng biết. Không cho phép bất kỳ cảm xúc quá mức nào, dù những dòng chảy mạnh mẽ của tình thương đối với mọi sinh linh vẫn được phép cuốn qua. Tình thương, vì là định luật của hệ thống, mang tính kiến tạo và ổn định, và đưa tất cả tiến lên phù hợp với định luật. Không sợ hãi hay lo âu hay ưu phiền nào làm rung chuyển thể cảm dục của người phụng sự đang chí nguyện phụng sự tất cả. Y vun trồng sự thanh thản, ổn định, và ý thức nương tựa vững chắc vào định luật của Thượng đế. Một sự tự tin hoan hỷ đặc trưng cho thái độ thường nhật của y. Y không nuôi dưỡng ghen tị, không u ám xám xịt của trầm cảm, và không tham lam hay tự thương hại, mà—nhận ra rằng mọi người đều là huynh đệ và mọi điều hiện hữu đều tồn tại cho tất cả—y bình thản tiến bước trên đường mình.

Then ensues the development of his mental vehicle. In the control of the emotional body the server takes the attitude of elimination. His aim is so to train the emotional body that it becomes devoid of colour, has a still vibration, and is clear and white, limpid as a pool on a still summer’s day. In fitting the mental body for service the worker strives at the opposite of elimination; he seeks to build in information, to supply knowledge and facts, to train it intellectually and scientifically so that it may prove as time goes on a stable foundation for the divine wisdom. Wisdom supersedes knowledge, yet requires knowledge as a preliminary step. You must remember that the server passes through the Hall of Learning prior [347] to entering the Hall of Wisdom. In training the mind body he seeks therefore orderly acquisition of knowledge, a supply of that which may be lacking, a sequential grasp of the innate mental faculty accumulated in previous lives, and lastly, a steadying of the lower mind so that the higher may dominate and the creative faculty of thought may be projected through the stillness. From the Silence of the Absolute was projected the universe. From darkness issued light, from the subjective emanated the objective. The negative stillness of the emotional body makes it receptive to impression from above. The positive stillness of the mental body leads to the higher inspiration.

Rồi đến sự phát triển vận cụ thể trí của y. Trong việc kiểm soát thể cảm dục, người phụng sự giữ thái độ loại trừ. Mục tiêu của y là rèn luyện thể cảm dục sao cho nó trở nên không màu sắc, có rung động tĩnh lặng, và trong sáng trắng tinh, trong veo như một hồ nước trong ngày hè yên ả. Trong việc chuẩn bị thể trí cho phụng sự, người hoạt động nỗ lực theo hướng đối lập với loại trừ; y tìm cách xây dựng thông tin vào trong, cung cấp tri thức và sự kiện, huấn luyện nó về mặt trí năng và khoa học để theo thời gian nó chứng tỏ là một nền tảng ổn định cho minh triết thiêng liêng. Minh triết vượt lên trên tri thức, nhưng cần tri thức như một bước sơ khởi. Các bạn phải nhớ rằng người phụng sự đi qua Phòng Hiểu Biết trước khi [347] bước vào Phòng Minh triết. Vì vậy, trong việc rèn luyện thể trí, y tìm kiếm sự thu nhận tri thức có trật tự, bổ sung những điều có thể còn thiếu, nắm bắt tuần tự năng lực thể trí bẩm sinh đã tích luỹ trong các kiếp trước, và sau cùng, làm vững hạ trí để thượng trí có thể cai quản và năng lực sáng tạo của tư tưởng có thể được phóng chiếu qua sự tĩnh lặng. Từ Tiếng Nói của Im Lặng Tuyệt Đối, vũ trụ đã được phóng chiếu. Từ bóng tối phát sinh ánh sáng, từ chủ quan xuất lộ khách quan. Sự tĩnh lặng mang tính âm của thể cảm dục khiến nó tiếp nhận được ấn tượng từ bên trên. Sự tĩnh lặng mang tính dương của thể trí dẫn đến cảm hứng cao hơn.

Having sought to control and wisely use his personality in its three departments, the lover of humanity seeks perfection in action. No magnificent dreams of martyrdom and the glorious yet ephemeral chimeras of spectacular service engross his attention, but the instant application of all his powers to the next duty is the line of his endeavour. He knows that perfection in the foreground of his life and in the details of his environing work will cause accuracy in the background too, and result in a whole picture of rare beauty. Life progresses by small steps, but each step, taken at the right time, and each moment wisely occupied, leads to long distance covered and a life well spent. Those Who guide the human family test out all applicants for service in the small detail of everyday life, and he who shews a record of faithful action in the apparently non-essential will be moved into a sphere of greater moment. How, in an emergency or crisis, can They depend on someone who in everyday matters does slovenly and ill-judged work?

A further method of service shews itself in adaptability. This involves a readiness to retire when other or [348] more important people are sent to fill the niche he may be occupying, or (inversely) an ability to step out of office into work of greater importance, when some less competent worker can do his work with equal facility and good judgment. It is the part of wisdom in all who serve neither to rate themselves too highly nor to underrate themselves. Bad work results when the non-efficient fill a post, but it is equally a loss of time and power when skilled workers hold positions where their skill has not full scope and where less well equipped men and women would do as well. Be ready, therefore, all ye who serve, to stay a lifetime in office non-spectacular and seemingly unimportant, for such may be your destiny and the place you best may serve; but be equally ready to step on to work of more apparent value when the Master’s word goes forth, and when circumstances—and not the server’s planning—indicate that the time is come. Ponder this last sentence.

Một phương pháp phụng sự khác biểu lộ trong tính thích nghi. Điều này bao hàm sự sẵn sàng lui về khi những người khác hoặc [348] quan trọng hơn được cử đến để lấp đầy vị trí mà y có thể đang đảm nhiệm, hoặc (ngược lại) khả năng bước ra khỏi chức vụ để đi vào công việc quan trọng hơn, khi một người hoạt động kém năng lực hơn có thể làm công việc của y với sự dễ dàng và phán đoán đúng đắn tương đương. Khôn ngoan đối với mọi người phụng sự là không tự đánh giá mình quá cao cũng không tự đánh giá mình quá thấp. Công việc tồi tệ phát sinh khi người kém hiệu quả giữ một vị trí, nhưng cũng là sự mất mát thời gian và quyền năng khi những người hoạt động có kỹ năng giữ những vị trí nơi kỹ năng của họ không có phạm vi đầy đủ và nơi những người nam và nữ kém trang bị hơn cũng có thể làm tốt như vậy. Vì thế, hỡi tất cả những ai phụng sự, hãy sẵn sàng ở lại suốt đời trong một chức vụ không phô trương và dường như không quan trọng, vì đó có thể là định mệnh của các bạn và là nơi các bạn có thể phụng sự tốt nhất; nhưng cũng hãy sẵn sàng bước sang công việc có vẻ giá trị hơn khi Linh từ của Chân sư phát ra, và khi hoàn cảnh—chứ không phải sự hoạch định của người phụng sự—chỉ ra rằng thời điểm đã đến. Hãy suy ngẫm câu cuối này.

3. The attitude following action.—3. Thái độ sau hành động.