Trích nội dung chương
The relationship between the microcosm and the macrocosm is accurate, and exists not only broadly but likewise in detail. This is a fact to be grasped and worked out. As knowledge increases and progress is made, and as the ability to meditate results in the faculty of transmitting from the higher Triad to the Personality, via the causal, then these facts will be ever more clearly demonstrated in detail, and perfect comprehension will ensue. “As above, so below” is a truism glibly repeated but little realised. What is found above and what will consequently be developing below? Mối tương quan giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa là chính xác…
Microcosmic and macrocosmic correspondence.—Sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.
The relationship between the microcosm and the macrocosm is accurate, and exists not only broadly but likewise in detail. This is a fact to be grasped and worked out. As knowledge increases and progress is made, and as the ability to meditate results in the faculty of transmitting from the higher Triad to the Personality, via the causal, then these facts will be ever more clearly demonstrated in detail, and perfect comprehension will ensue. “As above, so below” is a truism glibly repeated but little realised. What is found above and what will consequently be developing below?
Mối tương quan giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa là chính xác, và tồn tại không chỉ trên bình diện rộng mà còn cả trong chi tiết. Đây là một sự kiện cần được nắm bắt và triển khai. Khi tri thức gia tăng và tiến bộ được thực hiện, và khi khả năng tham thiền đưa đến năng lực truyền đạt từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn xuống Phàm ngã, qua thể nguyên nhân, thì các sự kiện này sẽ ngày càng được minh chứng rõ ràng trong chi tiết, và sự thấu hiểu trọn vẹn sẽ theo sau. “Trên sao, dưới vậy” là một chân lý thường được lặp lại trơn tru nhưng ít được chứng nghiệm. Điều gì được tìm thấy ở bên trên và do đó sẽ đang phát triển ở bên dưới?
Above will be found Will, Love and Activity, or Power, Wisdom and Intelligence, the terms that we apply to the three aspects of divine manifestation. Below will be found these three in process of appearing:—
Ở bên trên sẽ thấy Ý chí, Bác ái và Hoạt động, hay Quyền năng, Minh triết và Trí tuệ, là những thuật ngữ chúng ta áp dụng cho ba phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. Ở bên dưới sẽ thấy ba điều này trong tiến trình xuất hiện:—
a. The Personality expresses active intelligence. [226]
a. Phàm ngã biểu lộ trí tuệ hoạt động. [226]
b. The Ego expresses love or wisdom.
b. Chân ngã biểu lộ bác ái hay minh triết.
c. The Monad expresses power or will.
c. Chân thần biểu lộ quyền năng hay ý chí.
You have in the three worlds of the Personality:—
Các bạn có trong ba cõi của Phàm ngã:—
a. The physical, expressing a reflection of the activity aspect.
a. Cõi hồng trần, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện hoạt động.
b. The astral, expressing a reflection of the love or wisdom aspect.
b. Cõi cảm dục, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện bác ái hay minh triết.
c. The mental, expressing a reflection of the will or power aspect.
c. Cõi trí, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện ý chí hay quyền năng.
What have you for the colours of those three bodies, exoterically described?
Vậy các màu của ba thể ấy, được mô tả theo ngoại môn, là gì?
a. The violet of the physical as expressed by the etheric.
a. Màu tím của thể xác như được biểu lộ bởi thể dĩ thái.
b. The rose or red of the astral.
b. Màu hồng hay đỏ của thể cảm dục.
c. The orange of the mental.
c. Màu cam của thể trí.
What have you in the Triad, or the world of the threefold Ego?
Các bạn có gì trong Tam nguyên tinh thần, hay thế giới của Chân ngã tam phân?
a. Higher manas, expressing the activity or intelligence aspect.
a. Manas thượng, biểu lộ phương diện hoạt động hay trí tuệ.
b. Buddhi, expressing the love or wisdom aspect.
b. Bồ đề, biểu lộ phương diện bác ái hay minh triết.
c. Atma, expressing the will or power aspect.
c. Atma, biểu lộ phương diện ý chí hay quyền năng.
What again are the colours of those bodies exoterically described?
Vậy một lần nữa, các màu của những thể ấy là gì, được mô tả theo ngoại môn?
a. The blue of the higher manasic levels.
a. Màu lam của các cấp độ manas thượng.
b. The yellow of the buddhic level.
b. Màu vàng của cấp độ Bồ đề.
c. The green of the atmic level.
c. Màu lục của cấp độ atma.
They are in the process of transmutation. You have to effect the corresponding change of colour from the lower to the higher. Couple up this information that I have here imparted with that given in an earlier letter on the transference of polarisation.
Chúng đang trong tiến trình chuyển hoá. Các bạn phải thực hiện sự thay đổi màu tương ứng từ thấp lên cao. Hãy kết hợp thông tin mà Tôi đã truyền đạt ở đây với điều đã được đưa ra trong một bức thư trước về sự chuyển dịch sự phân cực.
There is a direct correspondence between:—
Có một sự tương ứng trực tiếp giữa:—
a. The violet of the etheric level and the blue of the higher mental. [227]
a. Màu tím của cấp độ dĩ thái và màu lam của thượng trí. [227]
b. The rose of the astral and the yellow of the buddhic.
b. Màu hồng của thể cảm dục và màu vàng của cõi Bồ đề.
c. The orange of the mental and the green of the atmic.
c. Màu cam của thể trí và màu lục của cõi atma.
The secret of it all is to be found in the application of the occult laws of meditation.
Bí mật của toàn bộ điều này được tìm thấy trong sự ứng dụng các định luật huyền bí của tham thiền.
Again you can shift the whole range of colour higher, and in the Monad work out the correspondence.
Một lần nữa, các bạn có thể chuyển toàn bộ dải màu lên cao hơn, và trong Chân thần triển khai sự tương ứng.
a. The green of the third aspect.
a. Màu lục của phương diện thứ ba.
b. The synthetic blue or indigo of the second aspect.
b. Màu lam tổng hợp hay màu chàm của phương diện thứ hai.
c. The red of the first aspect.
c. Màu đỏ của phương diện thứ nhất.
I would point out here that as you return to the centre of systemic evolution the nomenclature of these colours is most misleading. The red, for instance, has no resemblance to that termed red or rose on the lower plane. The red, the green and the indigo of these high levels are to all intents and purposes new colours of a beauty and translucence inconceivable. If justly interpreted, you have here a hint of the correspondence between the microcosm and the macrocosm.
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi các bạn trở về trung tâm của tiến hoá của thái dương hệ, cách gọi tên các màu này là hết sức gây hiểu lầm. Chẳng hạn, màu đỏ hoàn toàn không giống với thứ được gọi là đỏ hay hồng ở cõi thấp. Màu đỏ, màu lục và màu chàm của các cấp độ cao này, xét theo mọi mục đích thực tiễn, là những màu mới, có vẻ đẹp và độ trong suốt không thể tưởng tượng. Nếu được diễn giải đúng đắn, các bạn có ở đây một gợi ý về sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.
The colours exoterically have to do with the form. The forces or qualities which those colours conceal and hide have to do with the life, evolving within those forms. By the use of meditation the bridge is formed which connects these two. Meditation is the expression of the intelligence that links life and form, the self and the not-self, and in time and in the three worlds the process of this connection eventuates on the plane of mind which links the higher and the lower. The correspondence will always be found perfect. Therefore through meditation will come that knowledge which will effect three things:—
Các màu theo ngoại môn liên quan đến hình tướng. Các mãnh lực hay phẩm tính mà những màu ấy che giấu và ẩn tàng liên quan đến sự sống đang tiến hoá bên trong các hình tướng ấy. Nhờ sử dụng tham thiền, cây cầu được hình thành nối kết hai điều này. Tham thiền là sự biểu lộ của trí tuệ nối kết sự sống và hình tướng, cái ngã và cái phi-ngã, và theo thời gian, trong ba cõi thấp, tiến trình nối kết này đưa đến kết quả trên cõi trí, nơi nối kết cái cao và cái thấp. Sự tương ứng sẽ luôn luôn hoàn hảo. Vì vậy, qua tham thiền sẽ đến tri thức có thể thực hiện ba điều:—
1. Give the inner significance of the exoteric colour.
1. Trao cho thâm nghĩa bên trong của màu ngoại môn.
2. Build in the qualities that those colours veil. [228]
2. Xây dựng các phẩm tính mà những màu ấy che phủ. [228]
3. Effect the necessary transmutation of the colours from the Personality to the Triad, and later from the Triad to the Monad.
3. Thực hiện sự chuyển hoá cần thiết của các màu từ Phàm ngã lên Tam nguyên tinh thần, và về sau từ Tam nguyên tinh thần lên Chân thần.
The causal body acts as a synthesis of these colours in the life of the reincarnating Ego, just as the synthetic ray blends all the colours in logoic manifestation. Endeavour to keep clear in your own mind......that colours are the expressions of force or quality. They hide or veil the abstract qualities of the Logos, which qualities are reflected in the microcosm in the three worlds as virtues or faculties. Therefore, just as the seven colours hide qualities in the Logos, so these virtues demonstrate in the life of the personality and are brought forward objectively through the practice of meditation; thus each life will be seen as corresponding to a colour. Ponder on this.
Thể nguyên nhân hoạt động như một sự tổng hợp của các màu sắc này trong đời sống của chân ngã tái sinh, cũng như cung tổng hợp hòa trộn mọi màu sắc trong sự biểu hiện của Thượng đế. Hãy cố gắng giữ cho rõ ràng trong chính thể trí của các bạn......rằng màu sắc là những biểu hiện của mãnh lực hay phẩm tính. Chúng che giấu hay che phủ các phẩm tính trừu tượng của Thượng đế, và các phẩm tính ấy được phản chiếu trong tiểu thiên địa, trong ba cõi giới, như các đức hạnh hay năng lực. Vì vậy, cũng như bảy màu sắc che giấu các phẩm tính trong Thượng đế, thì các đức hạnh này biểu lộ trong đời sống của phàm ngã và được đưa ra một cách khách quan qua việc thực hành tham thiền; do đó, mỗi đời sống sẽ được thấy là tương ứng với một màu sắc. Hãy suy ngẫm về điều này.
The basic correspondences.—Các tương ứng căn bản.
It is in the study of these correspondences in the different departments of the manifested universe, and the application of these colours to their adjusted portion that the beauty of the synthetic whole and the illuminating of the microcosmic life ensues. Let us enumerate or tabulate in broad general fashion, leaving the detailed working out to the student of meditation. More at this juncture is not possible.
Chính trong việc nghiên cứu các tương ứng này trong những bộ phận khác nhau của vũ trụ biểu hiện, và trong việc áp dụng các màu sắc này vào phần đã được điều chỉnh của chúng, mà vẻ đẹp của toàn thể tổng hợp và sự soi sáng đời sống tiểu thiên địa sẽ theo sau. Chúng ta hãy liệt kê hay lập bảng theo cách khái quát rộng, để việc triển khai chi tiết lại cho đạo sinh tham thiền. Ở giai đoạn này, không thể nói nhiều hơn.
1. The threefold solar system.
1. Hệ mặt trời tam phân.
The threefold evolving jiva.
Jiva tiến hoá tam phân.
The three aspects of the Logos.
Ba phương diện của Thượng đế.
The threefold Monad.
Chân thần tam phân.
The spiritual Triad, the Ego.
Tam Nguyên Tinh Thần, chân ngã.
The threefold Personality.
Phàm ngã tam phân.
The three worlds of human evolution.
Ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.
The three persons of the Deity. [229]
Ba Ngôi của Thượng đế. [229]
2. The four Lipika Lords.
2. Bốn Đấng Lipika.
The four Maharajahs.
Bốn Maharajah.
The fourfold lower man, the quaternary.
Phàm nhân tứ phân, bộ tứ.
3. The five planes of human evolution.
3. Năm cõi của tiến hoá nhân loại.
The five senses.
Năm giác quan.
The fivefold department of the Mahachohan.
Bộ phận ngũ phân của Đức Mahachohan.
The five kingdoms of nature.
Năm giới của thiên nhiên.
a. The mineral kingdom.
a. Giới kim thạch.
b. The vegetable kingdom.
b. Giới thực vật.
c. The animal kingdom.
c. Giới động vật.
d. The human kingdom.
d. Giới nhân loại.
e. The spiritual or superhuman kingdom.
e. Giới tinh thần hay siêu nhân loại.
The fifth principle of manas.
Nguyên khí thứ năm của manas.
4. The seven rays or hierarchies.
4. Bảy cung hay các Huyền Giai.
The seven colours.
Bảy màu sắc.
The seven planes of manifestation.
Bảy cõi của sự biểu hiện.
The seven Kumaras.
Bảy Kumara.
The seven principles of man.
Bảy nguyên khí của con người.
The seven centres.
Bảy trung tâm.
The seven sacred planets.
Bảy hành tinh thiêng liêng.
The seven chains.
Bảy dãy.
The seven globes.
Bảy bầu hành tinh.
The seven rounds.
Bảy cuộc tuần hoàn.
The seven root-races and subraces.
Bảy giống dân gốc và các giống dân phụ.
The seven initiations.
Bảy lần điểm đạo.
What I seek to emphasise in the above table is that to the adept the correspondence of all these is perfectly known and exists in terms of consciousness, in terms of form, and in terms of intelligence. He knows it,—if I may so express it,—in terms of colour when dealing with form; in terms of sound when dealing with the life side, and in terms of vitality when dealing with intelligence, or the activity aspect. The above statement will repay much [230] earnest thought; it contains a statement of occult fact. According to the three lines of approach as dealt with in our preceding letter, will be the use of the terms as above described.
Điều Tôi tìm cách nhấn mạnh trong bảng trên là: đối với chân sư, sự tương ứng của tất cả những điều này được biết một cách hoàn hảo và tồn tại trên phương diện tâm thức, hình tướng và trí tuệ. Ngài biết điều đó,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—theo các thuật ngữ của màu sắc khi bàn về hình tướng; theo các thuật ngữ của âm thanh khi bàn về phương diện sự sống, và theo các thuật ngữ của sinh lực khi bàn về trí tuệ, hay phương diện hoạt động. Việc suy tư nghiêm túc nhiều về mệnh đề trên sẽ đem lại giá trị [230]; nó chứa đựng một phát biểu về sự kiện huyền bí. Tùy theo ba tuyến tiếp cận như đã được bàn đến trong thư trước của chúng ta, mà việc dùng các thuật ngữ sẽ như đã mô tả ở trên.
Colour in the microcosm and in the macrocosm.—Màu sắc trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.
Here lies much of difficulty owing to the process of constant mutation. Colour in the microcosm is subject to the following factors:—
Ở đây có nhiều khó khăn do tiến trình biến đổi không ngừng. Màu sắc trong tiểu thiên địa chịu tác động bởi các yếu tố sau:—
1. The factor of the ray of the Ego.
1. Yếu tố của cung chân ngã.
2. The factor of the ray of the Personality.
2. Yếu tố của cung phàm ngã.
3. The factor of the point in evolution.
3. Yếu tố của điểm tiến hoá.
One hint may here be given. At a low point in evolution the colours are largely based on the activity aspect. Later comes the working in the love, or wisdom aspect, which has three effects:—
Ở đây có thể đưa ra một gợi ý. Ở một điểm tiến hoá thấp, các màu sắc phần lớn dựa trên phương diện hoạt động. Về sau mới đến sự vận hành trong phương diện bác ái, hay minh triết, và điều này có ba tác dụng:—
a. The dropping out of colours from the lower sheaths which are the left-overs from a previous system. It involves the elimination of such hues as brown and gray.
a. Sự rơi rụng các màu sắc khỏi những vỏ bọc thấp, vốn là phần dư từ một thái dương hệ trước. Điều này bao hàm việc loại bỏ những sắc độ như nâu và xám.
b. The transmutation of certain colours into those of higher tone.
b. Sự chuyển hoá một số màu sắc thành những màu có âm sắc cao hơn.
c. An effect of translucence, or an underlying radiance or brilliance, which is the result of the greater purity of the bodies and the dimensions of the ever-growing inner flame.
c. Một hiệu ứng trong suốt, hay một sự rạng ngời hay chói sáng ngầm bên dưới, là kết quả của sự thanh khiết lớn hơn của các thể và của kích thước của ngọn lửa nội tại ngày càng tăng.
4. The factor of the ray, or rays, that are manifested passing out of manifestation or coming into manifestation. These rays necessarily affect the egos in incarnation; they cause a change of vibration somewhat or a consequent change of colouring or of quality. If a man, for instance, is on the Ray of Science, and comes under the influence of the incoming Ray of Harmony, the effect on his trend of thought, and consequently on the colour he [231] will be demonstrating, will be quite noticeable. All these factors cause the blending and merging and mixing that is practically inextricably confusing to the man from the standpoint of the three worlds.
4. Yếu tố của cung, hay các cung, đang biểu hiện, đang rời khỏi sự biểu hiện hoặc đang đi vào sự biểu hiện. Các cung này tất yếu tác động đến các chân ngã đang lâm phàm; chúng gây ra một sự thay đổi rung động đôi chút, hay một sự thay đổi màu sắc hoặc phẩm tính theo sau. Chẳng hạn, nếu một người thuộc Cung Khoa Học, và chịu ảnh hưởng của Cung Hòa Hợp đang đi vào, thì tác động lên khuynh hướng tư tưởng của y, và do đó lên màu sắc mà y [231] sẽ biểu lộ, sẽ khá rõ rệt. Tất cả các yếu tố này gây ra sự hòa trộn, dung hợp và pha lẫn, khiến cho đối với con người, xét từ quan điểm của ba cõi giới, gần như rối rắm không thể gỡ.
......I appreciate your feeling that even these hints but lead apparently to greater confusion. But by constant application to the subject in hand, by frequent brooding and meditation on the colours, and by an endeavor to attain their esoteric significance, and their microcosmic application, will gradually appear the thread that will lead the student out of his confusion into the clear light of perfect knowledge. Have, therefore, courage, a broad elasticity of view, and an ability to reserve opinion until further facts are demonstrated, and also an avoidance of dogmatic assertion. These will be your best guides in the early days of your search. Many have, through meditation and a receptiveness to the higher teaching, found their way out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. Only in the Hall of Wisdom can the esoteric interpretation of the colours be truly known. That Hall is entered through the meditation which prepares the student for that initiation which opens to him the door. Therefore, hold fast to meditation and falter not in purpose.
......Tôi thấu hiểu cảm giác của các bạn rằng ngay cả những gợi ý này dường như cũng chỉ dẫn đến sự rối rắm lớn hơn. Nhưng nhờ sự áp dụng liên tục vào chủ đề đang bàn, nhờ thường xuyên trầm tư và tham thiền về các màu sắc, và nhờ nỗ lực đạt đến thâm nghĩa nội môn của chúng, cùng sự ứng dụng trong tiểu thiên địa của chúng, sợi chỉ sẽ dần dần hiện ra để dẫn đạo sinh ra khỏi sự rối rắm của mình vào ánh sáng rõ ràng của tri thức hoàn hảo. Vì vậy, hãy có can đảm, một sự linh hoạt rộng rãi trong tầm nhìn, và khả năng hoãn phán đoán cho đến khi các sự kiện khác được chứng minh, đồng thời tránh sự khẳng định giáo điều. Đó sẽ là những người hướng dẫn tốt nhất của các bạn trong những ngày đầu tìm kiếm. Nhiều người, nhờ tham thiền và nhờ tính tiếp nhận đối với giáo huấn cao hơn, đã tìm được đường ra khỏi Phòng Hiểu Biết để vào Phòng Minh triết. Chỉ trong Phòng Minh triết, sự diễn giải nội môn về các màu sắc mới có thể được biết một cách chân thực. Phòng ấy được bước vào qua tham thiền, vốn chuẩn bị đạo sinh cho lần điểm đạo mở cho y cánh cửa. Vì vậy, hãy nắm chặt lấy tham thiền và đừng chùn bước trong mục đích.
September 4th, 1920.
Ngày 4 tháng 9, 1920.
We have for discussion today, something of real spiritual application in a practical sense. Much that I have imparted to you has provided food for thought and for speculation. It tends to the development of the higher mind and by stimulation of imagination it somewhat develops the intuition. Much of it has been in the nature of prophecy, and of the holding forth of an ideal some day to be attained. Only by pointing out the goal and by emphasising that point will man be induced to make the [232] necessary effort and thereby approximate in some measure the desired position. But today we come down to practical living and the imposing upon the personality of a certain rate of rhythm. We do this in our study of the third point upon the effect of colour:—
Hôm nay, chúng ta sẽ thảo luận một điều có ứng dụng tinh thần thực sự theo nghĩa thực tiễn. Nhiều điều Tôi đã truyền đạt cho các bạn đã cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm và để suy đoán. Nó có khuynh hướng phát triển thượng trí và, nhờ kích thích sự tưởng tượng, phần nào phát triển trực giác. Phần lớn trong đó mang tính tiên tri, và là việc nêu ra một lý tưởng nào đó sẽ đạt được vào một ngày kia. Chỉ bằng cách chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh điểm ấy, con người mới được thúc đẩy để thực hiện [232] nỗ lực cần thiết và nhờ đó tiến gần, ở một mức độ nào đó, đến vị thế mong muốn. Nhưng hôm nay chúng ta đi xuống đời sống thực tiễn và áp đặt lên phàm ngã một nhịp điệu ở một tốc độ nhất định. Chúng ta làm điều này trong việc nghiên cứu điểm thứ ba về tác động của màu sắc:—
a. On the bodies of the student.
a. Trên các thể của đạo sinh.
b. On the groups with which he is affiliated.
b. Trên các nhóm mà y liên hệ.
c. On his environment.
c. Trên môi trường của y.
The point I seek specially to emphasise is the life side and not the form side of colour. As I wrote earlier, colour is but the form assumed by force, of some kind, when that force is moving at a certain measure, and when its action and movement is impeded or unimpeded by the material through which it plays. In this sentence lies the key to the solution of the problem as to the colour differences on the higher planes and on the lower. The resistance of matter to the downflow of force or life, and its relative density or rarity accounts for much of the colour distinction. One of the distinctions has, necessarily, a cosmic basis and is consequently difficult of apprehension by three-dimensional man in this, the fourth round. But the basic reason of the difference can be apprehended sufficiently to permit the pupil to realise the absolute necessity of steadily refining his vehicles so that the force may radiate through with greater facility. It is therefore on the three lower planes a question of practical living and a bringing of all the three bodies under edict rules of refinement.
Điểm Tôi đặc biệt tìm cách nhấn mạnh là phương diện sự sống chứ không phải phương diện hình tướng của màu sắc. Như Tôi đã viết trước đây, màu sắc chỉ là hình tướng mà mãnh lực, thuộc một loại nào đó, khoác lấy khi mãnh lực ấy đang chuyển động theo một mức độ nhất định, và khi hành động cùng chuyển động của nó bị cản trở hay không bị cản trở bởi vật chất mà qua đó nó vận hành. Chính trong câu này có chìa khóa để giải quyết vấn đề về sự khác biệt màu sắc trên các cõi cao và trên các cõi thấp. Sự kháng cự của vật chất đối với dòng chảy xuống của mãnh lực hay sự sống, và mật độ hay độ thưa tương đối của nó, giải thích phần lớn sự phân biệt màu sắc. Một trong các sự phân biệt ấy tất nhiên có cơ sở vũ trụ và vì vậy khó được con người ba chiều trong cuộc tuần hoàn thứ tư này nắm bắt. Nhưng lý do căn bản của sự khác biệt có thể được nắm bắt đủ để cho phép môn sinh nhận ra sự cần thiết tuyệt đối của việc đều đặn tinh luyện các vận cụ của mình để mãnh lực có thể bức xạ xuyên qua dễ dàng hơn. Vì vậy, trên ba cõi thấp, đó là vấn đề của đời sống thực tiễn và việc đưa cả ba thể dưới những quy luật nghiêm ngặt của sự tinh luyện.
These forces in terms of spiritual development, and not so much in terms of form, demonstrate through the virtues, as you call them, through magnetism and through vitality and intelligence. To put it quite briefly, as the student builds a pure physical body and a refined etheric, as he develops the emotional virtues and as he co-ordinates [233] and enlarges his mental body, he is continuously altering its rate of vibration, and changing its rhythm, which change demonstrates to the eye of the clairvoyant as mutation in colour. As you have been taught, the colours as seen in the aura of a savage and in those of the average developed man are extraordinarily dissimilar. Why? Because one is moving or vibrating at a slow rate and the other with greatly increased rapidity. One has a rhythm slow, sluggish and heavy, the other is pulsating and moving with a tremendous velocity permitting consequently a more rapid play of the material of which those bodies are constructed.
Các mãnh lực này, xét theo sự phát triển tinh thần, và không hẳn theo hình tướng, biểu lộ qua các đức hạnh, như các bạn gọi, qua từ điện và qua sinh lực cùng trí tuệ. Nói thật ngắn gọn, khi đạo sinh xây dựng một thể xác thanh khiết và một thể dĩ thái tinh luyện, khi y phát triển các đức hạnh cảm dục và khi y phối hợp [233] và mở rộng thể trí của mình, y đang liên tục thay đổi tốc độ rung động của nó, và đổi nhịp điệu của nó; sự thay đổi ấy được mắt của nhà thông nhãn thấy như sự biến đổi trong màu sắc. Như các bạn đã được dạy, các màu sắc thấy trong hào quang của một người man dã và trong hào quang của người phát triển trung bình khác nhau một cách phi thường. Vì sao? Bởi một người đang chuyển động hay rung động ở tốc độ chậm, còn người kia với tốc độ tăng nhanh rất nhiều. Một người có nhịp điệu chậm, ì ạch và nặng nề; người kia đang đập nhịp và chuyển động với một vận tốc khổng lồ, do đó cho phép vật chất cấu tạo nên các thể ấy vận hành nhanh hơn.
Therefore, I would like to point out that as the race progresses as a collective unit, Those Who gaze upon it from a higher plane are aware of the steady improvement in the colours seen, and of a greater purity and clarity of hue in the aura of the race, which aura is composed of the composite auras of the units of the race. For instance, the aura of the Atlantean root-race and that of the Aryan are widely diverse, and radically different. We have, therefore, demonstrated our first point that, as the units evolve, the colours change and this is brought about by the transmutation of what you term vices, into virtues. A vice is dominance of an involutional quality of the same force which at a later period will show forth as a virtue.
Vì vậy, Tôi muốn chỉ ra rằng khi nhân loại tiến bộ như một đơn vị tập thể, Các Đấng nhìn nó từ một cõi cao hơn nhận biết sự cải thiện đều đặn trong các màu sắc được thấy, và một sự thanh khiết cùng trong sáng lớn hơn của sắc độ trong hào quang của nhân loại; hào quang ấy được cấu thành bởi các hào quang hợp thành của các đơn vị trong nhân loại. Chẳng hạn, hào quang của Giống dân gốc Atlantis và của Arya khác nhau rất xa và khác biệt một cách triệt để. Vì vậy, chúng ta đã chứng minh điểm thứ nhất rằng, khi các đơn vị tiến hoá, các màu sắc thay đổi, và điều này được tạo ra bởi sự chuyển hoá điều các bạn gọi là thói xấu thành đức hạnh. Một thói xấu là sự thống trị của một phẩm tính giáng hạ tiến hoá của cùng một mãnh lực mà về sau sẽ biểu lộ như một đức hạnh.
The second point I seek to make is that these influences (which show forth as colours when they contact matter) move in their own ordered cycles. These cycles we describe as the coming in or the going out of a ray. In this fourth round usually four rays are in flux at any one given time; by this I seek to impress upon you that though all rays manifest in the solar system, at certain stages of manifestation more or less of them will be dominating simultaneously. These rays, forces, influences, or [234] co-ordinations of qualities, when expressed in terms of light, colour the matters they impinge upon with certain recognisable hues, and these give the tone to the life of the personality or to the Ego. They are recognized by you as the composite character and are seen by the clairvoyant as colour.
Điểm thứ hai Tôi muốn nêu là các ảnh hưởng này (biểu lộ như màu sắc khi chúng tiếp xúc với vật chất) vận hành theo các chu kỳ có trật tự riêng của chúng. Chúng ta mô tả các chu kỳ này như sự đi vào hay đi ra của một cung. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thường có bốn cung đang lưu chuyển tại bất kỳ thời điểm nào; qua đó Tôi muốn khắc sâu vào các bạn rằng tuy mọi cung đều biểu hiện trong hệ mặt trời, nhưng ở những giai đoạn biểu hiện nhất định, nhiều hay ít cung sẽ đồng thời chi phối. Các cung, mãnh lực, ảnh hưởng, hay [234] sự phối hợp các phẩm tính này, khi được diễn đạt theo các thuật ngữ của ánh sáng, sẽ nhuộm màu các vật chất mà chúng tác động vào bằng những sắc độ có thể nhận ra, và những sắc độ ấy tạo âm sắc cho đời sống của phàm ngã hay của chân ngã. Các bạn nhận biết chúng như tính cách tổng hợp và nhà thông nhãn thấy chúng như màu sắc.
Groups, therefore, of units who converge through similarity of vibration will be seen as having approximately the same basic hue, though with many lesser differentiations in colour and tone. As stated before, the colour of large masses of people can be gauged and judged. It is in this way that the members of the Hierarchy in Whose Hands is placed evolutionary development in the three worlds, judge of the stage attained and the progress made.
Vì vậy, các nhóm đơn vị hội tụ do sự tương đồng rung động sẽ được thấy là có xấp xỉ cùng một sắc độ căn bản, dù có nhiều phân hoá nhỏ hơn về màu và âm sắc. Như đã nói trước, màu sắc của những khối người lớn có thể được ước lượng và phán đoán. Chính theo cách này mà các thành viên của Thánh Đoàn, trong Tay Các Ngài đặt sự phát triển tiến hoá trong ba cõi giới, phán đoán giai đoạn đã đạt và tiến bộ đã thực hiện.
Different rays come in bearing units coloured by that ray. Other rays pass out carrying with them units of a different basic hue. In the period of transition the blending of colour is of deep complexity, but of mutual helpfulness and benefit. Each ray imparts somewhat to the other rays in incarnation at the same time, and the rate of rhythm will be slightly affected. This from the standpoint of the present and of time in the three worlds, may be almost inappreciably small, but through the frequent meeting and interplay of the forces and colours, and their constant action and interaction upon each other, will come a steady, general levelling up, and an approximation in vibration. You will see, therefore, how synthesis is achieved at the end of a greater maha-manvantara. The three rays absorb the seven and lead eventually to a merging in the synthetic ray.
Những cung khác nhau đi vào, mang theo các đơn vị được nhuộm màu bởi cung ấy. Những cung khác đi ra, mang theo các đơn vị có sắc độ căn bản khác. Trong thời kỳ chuyển tiếp, sự hòa trộn màu sắc có độ phức tạp sâu xa, nhưng đem lại sự trợ giúp và lợi ích lẫn nhau. Mỗi cung truyền đạt đôi chút cho các cung khác đang lâm phàm cùng lúc, và tốc độ nhịp điệu sẽ bị ảnh hưởng nhẹ. Xét từ quan điểm hiện tại và thời gian trong ba cõi giới, điều này có thể nhỏ đến mức hầu như không nhận ra, nhưng qua sự gặp gỡ thường xuyên và sự tương tác của các mãnh lực và màu sắc, cùng hành động và phản ứng liên tục của chúng lên nhau, sẽ đến một sự nâng lên đều đặn, tổng quát, và một sự xích lại gần nhau về rung động. Vì vậy, các bạn sẽ thấy sự tổng hợp được đạt thành như thế nào vào cuối một Đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn. Ba cung hấp thụ bảy cung và cuối cùng dẫn đến sự dung hợp vào cung tổng hợp.
In the microcosm the three rays of the Monad, the Ego, and the Personality will likewise dominate and absorb the seven, and in time also lead to a merging in the [235] synthetic ray of the Monad. The correspondence will be found perfect.
Trong tiểu thiên địa, ba cung của chân thần, chân ngã và phàm ngã cũng sẽ chi phối và hấp thụ bảy cung, và theo thời gian cũng dẫn đến sự dung hợp vào [235] cung tổng hợp của chân thần. Sự tương ứng sẽ được thấy là hoàn hảo.
These forces, or virtues, or influences (I reiterate synonymous terms because of the need of clear thinking on your part) are gradually received into the bodies of the personality with ever greater facility and fuller expression. As the bodies are refined they provide better mediums for incoming forces, and the quality of any particular force,—or, to reverse it, the force of any particular quality—becomes more perfectly expressed. Here comes in the work of the student in meditation. Early in evolution these forces played through and on the bodies of a man with little understanding on his part, and small ability to profit thereby. But as time proceeds, he comprehends more and more the value of all that eventuates, and seeks to profit by the sum of the qualities of his life. Herein comes opportunity. In the intelligent apprehension of quality, in the striving after virtue, and in the building-in of God-like attribute, comes response to those forces and a facilitating of their action. The student of meditation ponders on those forces or qualities, he seeks to extract their essence, and to comprehend their spiritual significance; he broods on his own lack of response, he realises the deficiencies in his vehicle as a medium for those forces; he studies the rate of his rhythmic vibration, and he strenuously endeavors to bend every opportunity to meet the need. He concentrates on the virtue, and (if he is so situated that he is aware of the incoming ray or of the ray in dominance at that time), he avails himself of the hour of opportunity and co-operates with the force extant. All this he does through the ordered forms of the true and occult meditation.
Các mãnh lực này, hay các đức hạnh, hay các ảnh hưởng (Tôi nhắc lại các thuật ngữ đồng nghĩa vì các bạn cần tư duy rõ ràng) dần dần được tiếp nhận vào các thể của phàm ngã với sự dễ dàng ngày càng lớn và sự biểu lộ đầy đủ hơn. Khi các thể được tinh luyện, chúng cung cấp những môi trường tốt hơn cho các mãnh lực đi vào, và phẩm tính của bất kỳ mãnh lực đặc thù nào,—hoặc, đảo lại, mãnh lực của bất kỳ phẩm tính đặc thù nào—được biểu lộ hoàn hảo hơn. Ở đây xuất hiện công việc của đạo sinh trong tham thiền. Thuở đầu tiến hoá, các mãnh lực này vận hành xuyên qua và tác động lên các thể của một người với rất ít sự thấu hiểu từ phía y, và rất ít khả năng để hưởng lợi nhờ đó. Nhưng khi thời gian trôi qua, y ngày càng thấu hiểu giá trị của mọi điều xảy đến, và tìm cách hưởng lợi từ tổng số các phẩm tính của đời sống mình. Ở đây xuất hiện cơ hội. Trong sự nắm bắt trí tuệ về phẩm tính, trong sự nỗ lực hướng đến đức hạnh, và trong việc xây dựng các thuộc tính giống Thượng đế vào trong mình, xuất hiện sự đáp ứng đối với các mãnh lực ấy và sự tạo thuận lợi cho hành động của chúng. Đạo sinh tham thiền suy ngẫm về các mãnh lực hay phẩm tính ấy; y tìm cách rút ra tinh chất của chúng và thấu hiểu thâm nghĩa tinh thần của chúng; y trầm tư về sự thiếu đáp ứng của chính mình; y nhận ra những khiếm khuyết trong vận cụ của mình như một môi trường cho các mãnh lực ấy; y nghiên cứu tốc độ rung động nhịp điệu của mình, và y nỗ lực mạnh mẽ uốn mọi cơ hội để đáp ứng nhu cầu. Y tập trung vào đức hạnh, và (nếu y ở trong hoàn cảnh khiến y nhận biết cung đang đi vào hay cung đang chi phối vào lúc ấy), y tận dụng giờ cơ hội và hợp tác với mãnh lực hiện hữu. Tất cả điều này y thực hiện qua các hình thức có trật tự của tham thiền chân chính và huyền bí.
As time progresses—yes, again I prophesy—occult students will be given certain facts anent the dominating [236] rays which will enable them to avail themselves of the opportunity any particular ray affords.
Khi thời gian trôi qua—vâng, một lần nữa Tôi tiên tri—các đạo sinh huyền bí sẽ được ban cho một số sự kiện nhất định liên quan đến các cung chi phối [236] sẽ giúp họ biết tận dụng cơ hội mà bất kỳ cung đặc thù nào mang lại.
Effect on the Environment.—Tác động lên môi trường.
As regards our third point, the effect of all the above on the environment, it will be obvious at once to the careful student that the effect upon the environment will be noticeable, especially as more and more of the human race come under the conscious control of their higher self and in line with the law. Certain things will then be possible:—
Về điểm thứ ba của chúng ta, tác động của tất cả những điều trên lên môi trường, đối với đạo sinh cẩn trọng thì sẽ hiển nhiên ngay rằng tác động lên môi trường sẽ trở nên đáng nhận thấy, đặc biệt khi ngày càng nhiều nhân loại đặt mình dưới sự kiểm soát có ý thức của chân ngã và phù hợp với định luật. Khi ấy, một số điều sẽ trở nên khả dĩ:—
a. Direct contact with the deva or angel evolution will come about, though it is impossible now through instability of vibration.
a. Sẽ xảy ra sự tiếp xúc trực tiếp với tiến hoá thiên thần hay deva, mặc dù hiện nay điều đó là bất khả do sự bất ổn của rung động.
b. Many very highly developed souls will come in who are at present hindered by the low rate of vibration and consequent heaviness of colour of the majority of the human race. There are, in the heaven world and on the causal level, some great, and, to you, incomprehensible units of the fourth Creative Hierarchy, awaiting opportunity of expression, just as some of you awaited a period in the Atlantean race before taking incarnation on this planet. When the rate of the vibration of a larger percentage of the race has reached a certain measure, and when the colour aspect of the co-ordinated auras of the groups is of a certain tone, they will return, and bring to the earth much of value past your realisation.
b. Nhiều linh hồn rất phát triển sẽ nhập thế, những vị hiện đang bị cản trở bởi nhịp độ rung động thấp và vì thế sắc màu nặng nề của đa số nhân loại. Trong cõi thiên và ở cấp độ nguyên nhân, có một số đơn vị vĩ đại—và đối với các bạn là không thể hiểu nổi—thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, đang chờ cơ hội biểu lộ, cũng như một số bạn đã từng chờ một giai đoạn trong nhân loại Atlantis trước khi nhập thể trên hành tinh này. Khi nhịp độ rung động của một tỷ lệ lớn hơn trong nhân loại đạt đến một mức độ nhất định, và khi phương diện sắc màu của các hào quang đã được phối hợp của các nhóm có một âm sắc nhất định, họ sẽ trở lại và mang đến cho Trái Đất nhiều điều giá trị vượt quá sự hiểu biết của các bạn.
c. Another interesting point upon which we have not time to dwell is that the rhythmic effect on even the two kingdoms beneath the human will be objectively demonstrable. It was no idle boast of the prophet of Israel when he said “The leopard shall lie down with the lamb” or that “the desert shall blossom like a rose”. It will be [237] brought about by the domination of certain vibrations and the bringing in of certain colours veiling certain virtues or influences.
c. Một điểm thú vị khác mà chúng ta không có thời gian để bàn sâu là tác động nhịp điệu ngay cả lên hai giới bên dưới giới nhân loại sẽ có thể được chứng minh một cách khách quan. Đó không phải là lời khoe khoang suông của vị tiên tri Israel khi ông nói “báo sẽ nằm xuống với chiên con”, hoặc rằng “sa mạc sẽ nở hoa như hoa hồng”. Điều đó sẽ được [237] tạo nên bởi sự chi phối của một số rung động nhất định và việc đưa vào một số sắc màu nhất định che phủ một số đức hạnh hay ảnh hưởng nhất định.
September 7th, 1920.
Ngày 7 tháng 9, 1920.
Today we will take up the subject of the application of colour. If colours are but the veil cast over an influence, and if you can, by use of the intuition, find out which colours thus shroud a virtue you have the key to the matter in hand. You will have noted two facts that stand out in these letters:—
Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề về sự ứng dụng màu sắc. Nếu màu sắc chỉ là tấm màn phủ lên một ảnh hưởng, và nếu các bạn có thể, bằng việc sử dụng trực giác, tìm ra những màu sắc nào như thế che phủ một đức hạnh, thì các bạn nắm được chìa khoá của vấn đề đang xét. Các bạn hẳn đã ghi nhận hai sự kiện nổi bật trong những bức thư này:—
That the subject touched upon is so vast that only its outline has in any way been attempted.
Rằng chủ đề được chạm đến quá bao la đến nỗi chỉ mới cố gắng phác hoạ dàn ý theo một cách nào đó.
That each sentence written in these letters aims at an exact impartation of a complete thought and is full of matter for consideration. Why have I not dealt with the matter in greater detail, and why have I not entered into lengthy explanations and sought to expand the sentences into paragraphs? For the sole reason that if the preliminary work has been done in the meditation of the past years by the student he will find the material of these letters conducive to the development of abstract thought, and to the widening of the channel that communicates with the intuition. I but seek to be suggestive. My aim is but to indicate. The usefulness of the teaching I give depends upon the intuition of the pupil. Therefore, when I say that colour has certain effects when applied I would warn you that it will be necessary to interpret the above in terms of life, in terms of form, and in terms of mind.
Rằng mỗi câu được viết trong những bức thư này nhắm đến việc truyền đạt chính xác một tư tưởng trọn vẹn và đầy nhiều điều đáng suy ngẫm. Vì sao Tôi không bàn đến vấn đề một cách chi tiết hơn, và vì sao Tôi không đi vào những giải thích dài dòng và tìm cách mở rộng các câu thành các đoạn? Chỉ vì một lý do duy nhất: nếu công việc sơ bộ đã được đạo sinh thực hiện trong việc tham thiền của những năm qua, y sẽ thấy tư liệu của những bức thư này thuận lợi cho sự phát triển của tư tưởng trừu tượng, và cho việc mở rộng kênh giao thông với trực giác. Tôi chỉ tìm cách gợi ý. Mục tiêu của Tôi chỉ là chỉ ra. Tính hữu ích của giáo huấn Tôi trao tuỳ thuộc vào trực giác của môn sinh. Vì vậy, khi Tôi nói rằng màu sắc có những tác động nhất định khi được ứng dụng, Tôi muốn cảnh báo các bạn rằng sẽ cần phải diễn giải những điều trên trên phương diện sự sống, hình tướng và trí.
The application of colour.—Sự ứng dụng màu sắc.
a. In meditation.
a. Trong tham thiền.
b. In healing.
b. Trong trị liệu.
c. In constructive work. [238]
c. Trong công tác kiến tạo. [238]
Colour may be used in many ways, and the above three ways do not cover the subject. They but indicate three ways that are of immediate and practical use to the student. Colour may be employed in contacting other evolutions, subhuman or superhuman; in definite work of destruction or of shattering; it may be used in connection with other methods such as music or movement, or in connection with stated mantrams, thereby bringing about certain results, but with all these we need not, in this series of letters, concern ourselves. The growth of the individual and his increased capacity to be of service are all brought about by the wise use of occult meditation. Let us therefore consider our first point.
Màu sắc có thể được dùng theo nhiều cách, và ba cách nêu trên không bao quát hết chủ đề. Chúng chỉ nêu ra ba cách có ích ngay tức thời và thiết thực cho đạo sinh. Màu sắc có thể được sử dụng để tiếp xúc với các tiến hoá khác, dưới nhân loại hoặc siêu nhân loại; trong công tác huỷ diệt hay phá vỡ một cách xác định; nó có thể được dùng kết hợp với các phương pháp khác như âm nhạc hay vận động, hoặc kết hợp với các mantram đã định, nhờ đó tạo ra một số kết quả nhất định, nhưng với tất cả những điều ấy, trong loạt thư này, chúng ta không cần bận tâm. Sự tăng trưởng của cá nhân và năng lực phụng sự ngày càng gia tăng của y đều được tạo nên bởi việc sử dụng khôn ngoan tham thiền huyền bí. Vậy chúng ta hãy xét điểm thứ nhất.
Use of Colour in Meditation.—Việc sử dụng màu sắc trong tham thiền.
All colours emanate from one source or one primary colour—in this solar system the cosmic ray of indigo veiling cosmic love or wisdom,—and then split into three major colours and thence into the four minor, making the seven colours of the spectrum. You will expect to see the same effect in the life of the individual, for always the macrocosm affects the microcosm. His primary colour will be his monadic ray, manifesting next in the three colours of the Triad and in the four colors of the Quaternary. These colours on the path of return are resolved into the three and thence again into the one.
Mọi màu sắc đều phát xuất từ một nguồn hay một màu sơ cấp—trong hệ mặt trời này là cung vũ trụ màu chàm che phủ bác ái hay minh triết vũ trụ,—rồi phân thành ba màu chính và từ đó thành bốn màu phụ, tạo nên bảy màu của quang phổ. Các bạn sẽ mong thấy cùng một tác động trong đời sống của cá nhân, vì đại thiên địa luôn tác động đến tiểu thiên địa. Màu sơ cấp của y sẽ là cung chân thần của y, kế đó biểu lộ trong ba màu của Tam nguyên tinh thần và trong bốn màu của Tứ phân. Những màu sắc này trên Con Đường Trở Về được quy về ba và rồi lại quy về một.
The path of manifestation, of differentiation, is the path of acquisition. It is the homogeneous becoming the many or the heterogeneous. It is the breaking up of the one basic colour into its many component parts. This is the form side, the expression of that which veils the life. On the life side it is the development from the one basic quality of the many inherent virtues; it is the latent possibility of divinity demonstrating as the many attributes of [239] the divine; it is the one life manifesting its many qualities through diversity of form. It is the self, with the inherent capabilities of the All Self, utilising forms for the demonstration of its all-including perfections. On the intelligence side it is the method whereby the life utilises the form and develops its thorough comprehension, analysis and intellect. It is the relation between life and form, the self and the not-self, between spirit and matter, manifesting as modes of expression whereby the indwelling divinity imposes his characteristics upon the material provided for his using. The God within expresses all his latent virtues through forms by the use of activity or intelligence. The life shows colour and the form perfects those colours, as the intelligence aspect (which forms the energising link) becomes more evolved and comprehension is developed.
Con đường biểu lộ, con đường biến phân, là con đường thâu đạt. Đó là cái đồng nhất trở thành cái nhiều, hay cái dị biệt. Đó là sự phân rã của một màu căn bản thành nhiều thành phần cấu tạo của nó. Đây là phía hình tướng, là sự biểu đạt của cái che phủ sự sống. Về phía sự sống, đó là sự phát triển từ một phẩm tính căn bản thành nhiều đức hạnh vốn có; đó là khả năng tiềm ẩn của thiên tính biểu lộ như nhiều thuộc tính [239] thiêng liêng; đó là một sự sống biểu lộ nhiều phẩm tính của nó qua sự đa dạng của hình tướng. Đó là bản ngã, với các năng lực vốn có của Đại Ngã, sử dụng các hình tướng để biểu lộ những sự hoàn hảo bao gồm tất cả của nó. Về phía trí tuệ, đó là phương pháp nhờ đó sự sống sử dụng hình tướng và phát triển sự thấu hiểu triệt để, sự phân tích và trí năng của nó. Đó là mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa bản ngã và phi-ngã, giữa tinh thần và vật chất, biểu lộ như các phương thức diễn đạt nhờ đó thiên tính nội tại áp đặt các đặc tính của nó lên vật chất được cung cấp cho việc sử dụng của nó. Thượng đế bên trong biểu lộ mọi đức hạnh tiềm ẩn của Ngài qua các hình tướng bằng việc sử dụng hoạt động hay trí tuệ. Sự sống biểu lộ màu sắc và hình tướng làm cho những màu sắc ấy trở nên hoàn hảo, khi phương diện trí tuệ (tạo thành mối liên kết tiếp sinh lực) trở nên tiến hoá hơn và sự thấu hiểu được phát triển.
On the path of return, renunciation is the rule, in contradistinction to the earlier method. The indwelling life renounces the forms, hitherto regarded (and necessarily so) as essential. By the use now of the intelligence which has linked these two pairs of opposites, spirit and matter, consciousness and form, the forms built of matter by the aid of the intelligence are one after another repudiated by the aid of that same intelligence, or reasoning faculty transmuted into wisdom. The forms go, but the life remains. The colours are gradually reabsorbed, but the divine virtues persist, stable now and enduringly of use by reason of experience. Not potential are these attributes divine, but developed into powers for use. Inherent faculty has become active characteristics carried to the nth power. The veils are discarded one by one; the sheaths are dropped and superseded; the vehicles are dispensed with and the forms are no longer required, but the life ever remains and returns to its parent ray. It is [240] resolved back into its primary, plus activity and expression plus experience and the ability to manifest; plus all that constitutes the difference between the ignorant savage and the solar Logos. This has been consummated by the utilisation of many forms by the life, the intelligence constituting the means whereby that life employed those forms as a mode for learning. Having manifested as an aspect of this primary ray, having through many incarnations differentiated that ray into its many component parts, having veiled himself under all the seven colours that compose that ray, the reincarnating jiva takes the path of return and from the seven becomes the three and from the three again becomes the one.
Trên Con Đường Trở Về, sự từ bỏ là quy luật, đối lập với phương pháp trước kia. Sự sống nội tại từ bỏ các hình tướng, vốn trước đây được xem (và tất yếu phải vậy) là thiết yếu. Bằng việc sử dụng nay trí tuệ đã liên kết hai cặp đối cực này, tinh thần và vật chất, tâm thức và hình tướng, các hình tướng được xây dựng bằng vật chất nhờ sự trợ giúp của trí tuệ lần lượt bị bác bỏ cũng nhờ chính trí tuệ ấy, hay năng lực lý trí được chuyển hoá thành minh triết. Hình tướng ra đi, nhưng sự sống vẫn còn. Các màu sắc dần dần được tái hấp thụ, nhưng các đức hạnh thiêng liêng vẫn tồn tại, nay ổn định và bền vững hữu dụng nhờ kinh nghiệm. Những thuộc tính thiêng liêng này không còn là tiềm năng, mà đã phát triển thành các quyền năng để sử dụng. Năng lực vốn có đã trở thành các đặc tính hoạt động được nâng lên đến luỹ thừa thứ n. Các tấm màn được gỡ bỏ từng cái một; các vỏ bọc được buông rơi và được thay thế; các vận cụ được loại bỏ và các hình tướng không còn cần thiết, nhưng sự sống luôn còn và trở về với cung mẹ của nó. Nó được [240] quy hồi về cung gốc của nó, cộng với hoạt động và biểu đạt, cộng với kinh nghiệm và khả năng biểu lộ; cộng với tất cả những gì cấu thành sự khác biệt giữa người man rợ vô minh và Thái dương Thượng đế. Điều này được hoàn tất bởi việc sự sống sử dụng nhiều hình tướng, trí tuệ cấu thành phương tiện nhờ đó sự sống ấy dùng các hình tướng như một phương thức để học hỏi. Đã biểu lộ như một phương diện của cung sơ cấp này, đã qua nhiều kiếp sống biến phân cung ấy thành nhiều thành phần cấu tạo của nó, đã che phủ tự mình dưới cả bảy màu hợp thành cung ấy, jiva tái sinh bước lên Con Đường Trở Về và từ bảy trở thành ba và từ ba lại trở thành một.
When the man does this consciously, when he willingly and with full comprehension of what he has to do endeavours to set the indwelling life free from the veils that hide, and from the sheaths that imprison, he discovers that the method whereby this is accomplished is by the subjective life of occult meditation, and the objective life of service. In service is renunciation, and, under the occult law, therefore, in service the subjective finds liberation, and is set free from objective manifestation. Think this out, for it has much hidden under the veil of words.
Khi con người làm điều này một cách có ý thức, khi y tự nguyện và với sự thấu hiểu đầy đủ về điều y phải làm mà nỗ lực giải phóng sự sống nội tại khỏi các tấm màn che giấu, và khỏi các vỏ bọc giam hãm, y khám phá rằng phương pháp nhờ đó điều này được hoàn thành là đời sống chủ quan của tham thiền huyền bí, và đời sống khách quan của phụng sự. Trong phụng sự có sự từ bỏ, và, theo định luật huyền bí, vì vậy, trong phụng sự, cái chủ quan tìm thấy sự giải thoát, và được giải phóng khỏi sự biểu lộ khách quan. Hãy suy nghĩ điều này, vì dưới tấm màn của ngôn từ có ẩn giấu nhiều điều.
The occult student, therefore, from the standpoint of colour has two things to do in meditation.
Vì vậy, đạo sinh huyền bí, từ quan điểm màu sắc, có hai việc phải làm trong tham thiền.
1. To discover his three major colours as manifested in the Personality, the Ego, and the Monad.
1. Khám phá ba màu chính của y như được biểu lộ trong phàm ngã, chân ngã, và chân thần.
2. To resolve then the lower quaternary into the three, the first stage of which is consciously to withdraw into the Ego and so atrophy the lower self. The student begins by eliminating the colours that are not desirable, killing out all low or coarse vibration and eventually so [241] refining his vehicles that the three major colours—of which he is the expression—shine out with perfect clarity. This leads him up to the third initiation. After that, he seeks to resolve the three into the one until he has withdrawn all his consciousness from the lower vehicles into the monadic sheath.
2. Rồi quy tứ phân thấp vào tam phân, mà giai đoạn đầu là có ý thức rút lui vào chân ngã và do đó làm teo đi phàm ngã. Đạo sinh bắt đầu bằng việc loại bỏ những màu sắc không đáng mong muốn, dập tắt mọi rung động thấp hay thô và cuối cùng [241] tinh luyện các vận cụ của y đến mức ba màu chính—mà y là sự biểu đạt—toả sáng với sự trong sáng hoàn hảo. Điều này đưa y lên đến lần điểm đạo thứ ba. Sau đó, y tìm cách quy ba về một cho đến khi y đã rút toàn bộ tâm thức của mình khỏi các vận cụ thấp vào vỏ bọc chân thần.
It was not my intention, as you erroneously supposed, to give you information as to the effect of colours playing on the bodies in meditation. I have sought only to give you some idea of colour as a veil that must eventually be set aside. Under the heading of the “Future use of colour,” I may touch upon that which interests you, but to understand fundamentals is far better than to have formulas for experimenting given to you.
Không phải ý định của Tôi, như các bạn đã lầm tưởng, là cung cấp cho các bạn thông tin về tác động của các màu sắc tác động lên các thể trong tham thiền. Tôi chỉ tìm cách cho các bạn một ý niệm nào đó về màu sắc như một tấm màn mà rốt cuộc phải được gạt sang một bên. Dưới tiêu đề “Việc sử dụng màu sắc trong tương lai”, Tôi có thể chạm đến điều khiến các bạn quan tâm, nhưng thấu hiểu các nền tảng thì tốt hơn nhiều so với việc được trao cho các công thức để thử nghiệm.
September 10th, 1920.
Ngày 10 tháng 9, 1920.
We will, today, scarcely do more than touch upon our second point, which is the application of colour for healing purposes, the reason for this brevity being that the subject, in order to be handled correctly and therefore safely, should be dealt with at length, and the old adage will consequently prove true in this connection that “a little knowledge is a dangerous thing”. Unless the matter of healing with colour is dealt with in correct fashion and with technical knowledge and at length, the results achieved might prove more disastrous than beneficent. The subject will later be fully elucidated if the future brings that which is intended, and in the meantime I can, for your information, outline certain features of this work, point out certain conditions incident to success, and foretell for you somewhat the trend the matter will probably take [242]
Hôm nay, chúng ta hầu như chỉ chạm đến điểm thứ hai của chúng ta, đó là sự ứng dụng màu sắc cho mục đích trị liệu; lý do của sự vắn tắt này là vì chủ đề này, để được xử lý đúng đắn và do đó an toàn, cần phải được bàn đến dài rộng, và vì vậy câu ngạn ngữ xưa trong mối liên hệ này sẽ chứng tỏ là đúng: “biết một chút là điều nguy hiểm”. Trừ phi vấn đề trị liệu bằng màu sắc được xử lý đúng cách, với tri thức kỹ thuật và được trình bày đầy đủ, các kết quả đạt được có thể chứng tỏ là tai hại hơn là hữu ích. Về sau, chủ đề này sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ nếu tương lai mang đến điều đã được dự định; và trong lúc này Tôi có thể, để cung cấp thông tin cho các bạn, phác thảo một số đặc điểm của công tác này, chỉ ra một số điều kiện liên quan đến thành công, và tiên đoán cho các bạn phần nào xu hướng mà vấn đề này có lẽ sẽ đi theo [242]
Application of colour in healing.—Sự ứng dụng màu sắc trong trị liệu.
We are dealing with the subject now from the standpoint of meditation. It is essential therefore that we consider the subject from that angle. In meditation the work of healing is handled entirely from the mental standpoint. The direction of any force supplied will be from the mental body of the patient and will work from thence to the physical via the emotional.
Giờ đây chúng ta đang bàn đến chủ đề này từ quan điểm tham thiền. Vì vậy, điều thiết yếu là chúng ta xem xét chủ đề theo góc độ đó. Trong tham thiền, công tác trị liệu được xử lý hoàn toàn từ quan điểm thể trí. Hướng đi của bất kỳ mãnh lực nào được cung ứng sẽ xuất phát từ thể trí của bệnh nhân và sẽ tác động từ đó đến thể xác qua trung gian thể cảm dục.
This involves on the part of the person or group that undertakes this work the ascertaining of certain facts. Let us briefly enumerate them in order to clarify the mind of the reader:—
Điều này đòi hỏi nơi người hay nhóm đảm nhận công tác này phải xác định một số sự kiện. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn để làm sáng tỏ thể trí của độc giả:—
1. The work will be largely subjective and will deal with causes and not with effects. The primary aim of the healing group will be to discover the originating cause of the trouble and having located that cause in either the emotional or the mental body the members of the group will then proceed to deal with the effect as demonstrated in the physical or the etheric. Should the trouble be entirely physical, such as is the case in an accident of any kind, or in some affliction which is purely the result of heredity or of congenital trouble, the ordinary high class physical plane scientific methods will be applied at first, and the work of the healers will be to aid those methods through concentration on the subtler bodies. This applies during the transition period into which the race is now entering. Later, when the knowledge of occult healing is more familiar, and the laws which govern the subtle bodies are more known, physical plane science will be superseded by the preventive science of the subtler planes, that science which aims at the provision of right conditions and the building of bodies that are both self-protecting and neutral to all attack. It will he found that the comprehension [243] of the law of vibration, and the effect of one vibration upon another vibration holds the key to the establishing of better conditions of living, and of sound bodies on all planes.
1. Công tác sẽ phần lớn là chủ quan và sẽ đề cập đến các nguyên nhân chứ không phải các kết quả. Mục tiêu chủ yếu của nhóm trị liệu sẽ là khám phá nguyên nhân khởi phát của rối loạn, và khi đã định vị nguyên nhân ấy trong hoặc thể cảm dục hoặc thể trí, các thành viên của nhóm sẽ tiến hành xử lý kết quả như được biểu lộ trong thể xác hoặc thể dĩ thái. Nếu rối loạn hoàn toàn thuộc thể xác, như trong trường hợp tai nạn bất kỳ, hoặc trong một chứng bệnh thuần tuý là kết quả của di truyền hay của rối loạn bẩm sinh, thì trước hết các phương pháp khoa học cõi hồng trần thông thường, loại tốt, sẽ được áp dụng, và công tác của các nhà trị liệu sẽ là hỗ trợ những phương pháp ấy qua sự tập trung vào các thể vi tế hơn. Điều này áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp mà nhân loại hiện đang bước vào. Về sau, khi tri thức về trị liệu huyền bí trở nên quen thuộc hơn, và các định luật chi phối các thể vi tế được biết đến nhiều hơn, khoa học cõi hồng trần sẽ được thay thế bởi khoa học phòng ngừa của các cõi vi tế, khoa học nhắm đến việc cung ứng các điều kiện đúng và xây dựng các thể vừa tự bảo vệ vừa trung tính trước mọi sự tấn công. Người ta sẽ thấy rằng sự thấu hiểu [243] định luật rung động, và tác động của một rung động lên một rung động khác, nắm giữ chìa khoá để thiết lập các điều kiện sống tốt hơn, và các thể lành mạnh trên mọi cõi.
But as things are now, disease, corruption of different kinds and trouble in all the bodies is everywhere contacted, and when conditions are thus recognised, means of aiding must be earnestly sought. This leads us on to our next point:
Nhưng như mọi sự hiện nay, bệnh tật, sự bại hoại đủ loại và rối loạn trong mọi thể được gặp khắp nơi, và khi các điều kiện được nhận biết như vậy, các phương tiện trợ giúp phải được tìm kiếm một cách nghiêm túc. Điều này dẫn chúng ta đến điểm kế tiếp:
2. The ascertaining by the group that practises healing of full information as to the patient, based on the following questions:—
2. Việc nhóm thực hành trị liệu xác định đầy đủ thông tin về bệnh nhân, dựa trên các câu hỏi sau:—
a. What are his basic lines of thought?
a. Những đường lối tư tưởng căn bản của y là gì?
By what thoughtforms is he principally surrounded?
Y chủ yếu bị bao quanh bởi những hình tư tưởng nào?
b. What is the predominant hue of his emotional body? What is its rate of vibration?
b. Sắc thái chủ đạo của thể cảm dục của y là gì? Nhịp độ rung động của nó là bao nhiêu?
Is the patient subject to sudden turmoils that throw the entire emotional body into disorder?
Bệnh nhân có bị những cơn xáo động đột ngột khiến toàn bộ thể cảm dục rối loạn không?
c. What are his most ordinary topics of conversation? What are his principal interests?
c. Những đề tài trò chuyện thường xuyên nhất của y là gì? Những mối quan tâm chính của y là gì?
What literature does he study?
Y nghiên cứu loại văn chương nào?
What are his favourite pursuits?
Những theo đuổi ưa thích của y là gì?
d. What is the condition of the centres in his body?
d. Tình trạng các trung tâm trong thân thể của y ra sao?
Which centres are awakened?
Những trung tâm nào đã được đánh thức?
Are any centres rotating in fourth dimensional order? Which centre is the major one in any particular case?
Có trung tâm nào đang xoay theo trật tự chiều thứ tư không? Trung tâm nào là trung tâm chủ yếu trong bất kỳ trường hợp đặc thù nào?
e. What is the state of the etheric body?
e. Tình trạng thể dĩ thái ra sao?
Does it show symptoms of devitalisation or of congestion?
Nó có cho thấy triệu chứng suy kiệt sinh lực hay ứ trệ không?
Is the patient lacking in vitality?
Bệnh nhân có thiếu sinh lực không?
What is the value of his magnetic action on other people? [244]
Giá trị tác động từ tính của y lên người khác là gì? [244]
Having studied the patient from all these angles, and not at any earlier time, will the group who purpose healing study the physical vehicle itself in detail. Then—with some idea of the inner conditions that underlie the trouble—they will study as follows:—
Sau khi đã nghiên cứu bệnh nhân từ tất cả các góc độ này, và không sớm hơn thời điểm ấy, nhóm có chủ đích trị liệu mới nghiên cứu chi tiết chính vận cụ thể xác. Khi đó—với một ý niệm nào đó về các điều kiện nội tại nằm bên dưới rối loạn—họ sẽ nghiên cứu như sau:—
f. The condition of the nervous system, giving particular attention to the spine, and to the state of the inner fire.
f. Tình trạng của hệ thần kinh, đặc biệt chú ý đến cột sống, và trạng thái của ngọn lửa bên trong.
g. The state of the various organs of the body, and especially the organ, or organs, that are causing distress.
g. Trạng thái của các cơ quan khác nhau của cơ thể, và đặc biệt là cơ quan, hoặc các cơ quan, đang gây ra đau khổ.
h. The structure itself, studying the bones and the flesh, and the condition of the vital fluid, the blood.
h. Cấu trúc, nghiên cứu xương và thịt, và tình trạng của chất lưu thiết yếu, máu.
Higher vision and healh.—Linh thị cao hơn và sức khỏe.
This, as you can see, necessarily involves either direct scientific knowledge, or else it involves the faculty of inner vision, that sees the trouble wherever it may be, and can clairvoyantly view the entire frame and organs, so locating instantaneously any trouble. This capacity presupposes the development of those inner powers which give knowledge in the three worlds, and so obviates the disastrous mistakes that so oft eventuate in the modern practice of medicine, as you call the art of healing. There will not be so much danger of error in the future day of healing, but what I seek to point out is that although those errors will be obviated in the case of the physical body, yet much time must elapse before full comprehension of the emotional body has reached the point where modern science has placed the physical. The healing of the physical body and its due comprehension and study can be carried on by the man who has the inner vision. With his ability to see on emotional levels he can co-operate with the modern enlightened medical man, and thus safeguard [245] him from error, enabling him to judge truly of the extent of the trouble, the seat of distress, its assistance, and the progress of the cure.
Điều này, như các bạn có thể thấy, tất yếu đòi hỏi hoặc là kiến thức khoa học trực tiếp, hoặc là đòi hỏi năng lực linh thị nội tại, năng lực thấy được rắc rối ở bất cứ nơi đâu, và có thể bằng thông nhãn quan sát toàn bộ thân thể và các cơ quan, nhờ đó tức khắc định vị bất kỳ rắc rối nào. Năng lực này giả định sự phát triển những quyền năng nội tại vốn đem lại tri thức trong ba cõi giới, và vì vậy tránh được những sai lầm tai hại vốn thường xuyên xảy ra trong thực hành y học hiện đại, như các bạn gọi nghệ thuật chữa lành. Trong thời kỳ chữa lành tương lai sẽ không còn nhiều nguy cơ sai lầm như thế, nhưng điều Tôi muốn chỉ ra là, mặc dù các sai lầm ấy sẽ được loại trừ trong trường hợp thể xác, tuy nhiên phải trôi qua nhiều thời gian trước khi sự thấu hiểu đầy đủ về thể cảm dục đạt đến điểm mà khoa học hiện đại đã đặt thể xác. Việc chữa lành thể xác, cùng sự thấu hiểu và nghiên cứu đúng đắn về nó, có thể được tiến hành bởi người có linh thị nội tại. Với khả năng nhìn thấy ở các cấp độ cảm dục, y có thể hợp tác với người thầy thuốc hiện đại đã được soi sáng, và nhờ đó bảo vệ [245] ông khỏi sai lầm, giúp ông phán đoán đúng mức độ của rắc rối, vị trí của sự khổ sở, sự trợ giúp cần thiết, và tiến trình của sự chữa trị.
Emotional trouble that is working out in the physical body, as is the case in the majority of physical ills today, can usually be located and eliminated by judicious treatment. But emotional trouble that is deepseated in the subtle body has to be dealt with from mental levels, so that it requires a mental psychic to deal with and eliminate it. All these methods of course entail the active conscious co-operation of the patient himself.
Những rắc rối cảm dục đang biểu hiện trong thể xác, như trường hợp của đa số bệnh tật thể xác ngày nay, thường có thể được định vị và loại trừ bằng sự điều trị khôn ngoan. Nhưng những rắc rối cảm dục ăn sâu trong thể vi tế phải được xử lý từ các cấp độ trí, vì vậy cần một nhà thông linh hoạt động trên cõi trí để xử lý và loại trừ chúng. Dĩ nhiên, tất cả các phương pháp này đều đòi hỏi sự hợp tác tích cực và có ý thức của chính bệnh nhân.
Similarly, mental trouble has to be dealt with directly from the causal level, and necessitates therefore the assistance of the Ego, and the help of someone who has causal vision and consciousness. This latter method, and the major part of these types of trouble, lie far ahead for the race, and therefore little concern us at this time. Nevertheless the curing of physical ailments that have their seat in the emotional body is already beginning to be known and slightly studied. In the study of psychology and in the comprehension of nervous diseases and troubles and their linking together will come the next step ahead in medical science. The link between the body of the emotions and physical body is the etheric body. The next immediate step is to consider the etheric body in two ways, either as a transmitter of prana, the life force, vitality or magnetism, or as the vehicle which links the emotional nature to the dense physical. The physical invariably follows the behests of that nature as transmitted via the etheric.
Tương tự, những rắc rối trí tuệ phải được xử lý trực tiếp từ cấp độ nguyên nhân, và do đó tất yếu cần sự trợ giúp của Chân ngã, cùng sự giúp đỡ của người có linh thị và tâm thức nguyên nhân. Phương pháp sau cùng này, và phần lớn các loại rắc rối ấy, còn ở rất xa phía trước đối với nhân loại, nên hiện nay ít liên quan đến chúng ta. Tuy vậy, việc chữa trị các bệnh thể xác có căn nguyên ở thể cảm dục đã bắt đầu được biết đến và được nghiên cứu đôi chút. Trong việc nghiên cứu tâm lý học và trong sự thấu hiểu các bệnh và rối loạn thần kinh cùng sự liên kết của chúng, sẽ đến bước tiến kế tiếp của khoa học y học. Mối liên kết giữa thể cảm dục và thể xác là thể dĩ thái. Bước kế tiếp trước mắt là xét thể dĩ thái theo hai cách, hoặc như một bộ truyền dẫn prana, mãnh lực sự sống, sinh lực hay từ điện, hoặc như vận cụ liên kết bản chất cảm dục với thể xác đậm đặc. Thể xác luôn luôn tuân theo các mệnh lệnh của bản chất ấy khi được truyền qua thể dĩ thái.
In forming groups for healing under ideal conditions you would have at the head of the group a person with causal consciousness, who can deal with any trouble in the mental body, and who can study the alignment of all [246] the bodies with the Ego. The group will also include:—
Khi hình thành các nhóm chữa lành trong những điều kiện lý tưởng, các bạn sẽ có ở vị trí đứng đầu nhóm một người có tâm thức nguyên nhân, người có thể xử lý bất kỳ rắc rối nào trong thể trí, và có thể nghiên cứu sự chỉnh hợp của tất cả [246] các thể với Chân ngã. Nhóm cũng sẽ bao gồm:—
a. A person, or persons who can clairvoyantly view the subtle body of the emotions.
a. Một người, hoặc những người có thể bằng thông nhãn quan sát thể vi tế của cảm dục.
b. A number of people who know somewhat the rudiments of the law of vibration, and can definitely, by the power of thought, apply certain waves of colour to effect certain cures, and bring about, through scientific comprehension, the desired results.
b. Một số người biết phần nào những điều căn bản của định luật rung động, và có thể một cách xác định, bằng quyền năng của tư tưởng, áp dụng những làn sóng màu sắc nhất định để tạo ra những sự chữa trị nhất định, và đem lại, qua sự thấu hiểu khoa học, những kết quả mong muốn.
c. Some member of the group will also be a member of the medical profession, who will work with the physical body, under the direction of conscious clairvoyants. He will study the resistance of the body, he will apply certain currents, and colours, and vibrations, which will have a direct physical effect, and by the co-operation of all those units in the group, results will be achieved that will merit the name of miracles.
c. Một thành viên của nhóm cũng sẽ là người thuộc ngành y, người sẽ làm việc với thể xác, dưới sự chỉ đạo của các nhà thông nhãn có ý thức. Ông sẽ nghiên cứu sức kháng cự của cơ thể, ông sẽ áp dụng những dòng lưu chuyển, màu sắc và rung động nhất định, vốn sẽ có tác dụng thể xác trực tiếp, và nhờ sự hợp tác của tất cả các đơn vị trong nhóm, những kết quả sẽ đạt được xứng đáng với danh xưng phép lạ.
d. In the group, also, will be a number of people who can meditate occultly, and can, by the power of their meditation, create the necessary funnel for the transmission of the healing forces of the higher self and of the Master.
d. Trong nhóm cũng sẽ có một số người có thể tham thiền theo huyền môn, và có thể, bằng quyền năng tham thiền của họ, tạo ra cái phễu cần thiết cho sự truyền dẫn các mãnh lực chữa lành của chân ngã và của Chân sư.
e. Besides this, in each group will be found some person who can accurately transcribe all that takes place, and so keep records that will prove to be the literature of the new school of medicine.
e. Ngoài ra, trong mỗi nhóm sẽ có một người có thể ghi chép chính xác mọi điều diễn ra, và nhờ đó lưu giữ hồ sơ, vốn sẽ chứng tỏ là văn liệu của trường phái y học mới.
I have here touched on the ideal group. It is not as yet in any way possible, but a beginning can be made by the utilisation of any knowledge and powers that may be found amongst those who seek to serve their race and the Master.
Ở đây Tôi đã chạm đến nhóm lý tưởng. Hiện nay điều đó chưa thể thực hiện theo bất kỳ cách nào, nhưng có thể bắt đầu bằng việc sử dụng bất kỳ tri thức và quyền năng nào có thể được tìm thấy nơi những người tìm cách phụng sự nhân loại của họ và Chân sư.
As you will note from the above, colours will be applied in two ways:— [247]
Như các bạn sẽ lưu ý từ phần trên, màu sắc sẽ được áp dụng theo hai cách:— [247]
1. On the subtler planes by the power of thought, and
1. Trên các cõi vi tế hơn bằng quyền năng của tư tưởng, và
2. By means of coloured lights applied to the physical body.
2. Bằng phương tiện các ánh sáng màu được áp dụng lên thể xác.
On the physical plane the exoteric colour will be applied, whilst on the subtler the esoteric. The work therefore will be (until the esoteric becomes the exoteric) largely in the hands of the occult students of the world, working in organised groups under expert supervision.
Trên cõi hồng trần, màu sắc ngoại môn sẽ được áp dụng, còn trên các cõi vi tế hơn thì là màu sắc nội môn. Vì vậy, công việc này (cho đến khi nội môn trở thành ngoại môn) phần lớn sẽ nằm trong tay các đạo sinh huyền bí học trên thế giới, làm việc trong những nhóm có tổ chức dưới sự giám sát chuyên môn.
You ask, just what is the point at which these groups may now begin to work with colour? The thing that now lies ahead to be mastered and done is to develop the knowledge necessary anent the etheric, to inculcate the building of pure bodies, and to study the effect of different colours on the dense physical. It has been but little studied as yet. It will be found that certain colours will definitely affect certain diseases, cure certain nervous troubles, eradicate certain nervous tendencies, tend to the building of new tissues, or to the burning out of corruption. All this must be studied. Experiments can be made along the line of vitalisation and magnetisation, which involve direct action on the etheric, and this again will be found hid in the law of vibration and of colour. Later.......we can take up with greater detail the work of these healing groups when gathered for meditation. Here I would but add that certain colours have a definite effect, though I can only as yet enumerate three, and them but briefly:—
Các bạn hỏi, vậy chính xác thì ở điểm nào các nhóm này hiện nay có thể bắt đầu làm việc với màu sắc? Điều hiện nằm phía trước cần được làm chủ và thực hiện là phát triển tri thức cần thiết liên quan đến thể dĩ thái, gieo vào việc xây dựng những thể thanh khiết, và nghiên cứu tác dụng của các màu sắc khác nhau lên thể xác đậm đặc. Cho đến nay điều này mới chỉ được nghiên cứu rất ít. Sẽ thấy rằng một số màu sắc nhất định sẽ tác động rõ rệt lên một số bệnh nhất định, chữa một số rối loạn thần kinh nhất định, nhổ tận gốc một số khuynh hướng thần kinh nhất định, giúp xây dựng các mô mới, hoặc thiêu đốt sự mục nát. Tất cả điều này phải được nghiên cứu. Có thể tiến hành các thí nghiệm theo hướng tiếp sinh lực và từ hoá, vốn liên quan đến tác động trực tiếp lên thể dĩ thái, và điều này lại sẽ được thấy ẩn giấu trong định luật rung động và màu sắc. Về sau.......chúng ta có thể bàn chi tiết hơn về công việc của các nhóm chữa lành này khi họ tụ họp để tham thiền. Ở đây Tôi chỉ thêm rằng một số màu sắc có tác dụng xác định, dù hiện nay Tôi chỉ có thể liệt kê ba màu, và cũng chỉ vắn tắt:—
1. Orange stimulates the action of the etheric body; it removes congestion and increases the flow of prana.
1. Màu cam kích thích hoạt động của thể dĩ thái; nó giải tỏa sự ứ trệ và gia tăng dòng chảy của prana.
2. Rose acts upon the nervous system and tends to vitalisation, and to the removal of depression, and [248] symptoms of debilitation; it increases the will to live.
2. Màu hồng tác động lên hệ thần kinh và có khuynh hướng tiếp sinh lực, và loại bỏ sự u uất, và [248] các triệu chứng suy nhược; nó gia tăng ý chí muốn sống.
3. Green has a general healing effect, and can be safely used in cases of inflammation and of fever, but it is almost impossible as yet to provide the right conditions for the application of this colour, or to arrive at the adequate shade. It is one of the basic colours to be used eventually in the healing of the dense physical body, being the colour of the note of Nature.
3. Màu xanh lục có tác dụng chữa lành tổng quát, và có thể được dùng an toàn trong các trường hợp viêm và sốt, nhưng hiện nay gần như không thể cung cấp những điều kiện đúng đắn để áp dụng màu này, hoặc đạt được sắc độ thích hợp. Nó là một trong những màu cơ bản rốt cuộc sẽ được dùng trong việc chữa lành thể xác đậm đặc, vì nó là màu của âm điệu của Thiên nhiên.
This seems to you sketchy and inadequate? So it is, even more so than you can grasp. But forget not that which I have often told you, that in the following up of brief hints lies the path that leads to the source of all knowledge.
Điều này đối với các bạn có vẻ phác thảo và không đầy đủ ư? Đúng vậy, còn hơn cả mức các bạn có thể nắm bắt. Nhưng đừng quên điều mà Tôi thường nói với các bạn: chính trong việc theo đuổi những gợi ý ngắn gọn có con đường dẫn đến nguồn mạch của mọi tri thức.
September 11, 1920.
Ngày 11 tháng 9, 1920.
We come now to the final part of our thoughts on the use of colour in meditation. We have dealt with the matter in such a way that if the hints that are scattered throughout the communication are adequately followed up they will form the basis of certain inevitable conclusions. These conclusions will eventually prove to be the postulates upon which the newer schools of medicine or science will base the continuance of their work. We might sum up the imparted data under definite statements:—
Giờ đây chúng ta đến phần cuối cùng trong các suy nghĩ của chúng ta về việc sử dụng màu sắc trong tham thiền. Chúng ta đã đề cập vấn đề theo cách sao cho, nếu những gợi ý rải rác khắp thông điệp được theo đuổi một cách đầy đủ, chúng sẽ tạo thành nền tảng cho một số kết luận tất yếu. Những kết luận này rốt cuộc sẽ chứng tỏ là các tiền đề mà trên đó các trường phái y học hay khoa học mới hơn sẽ đặt nền cho sự tiếp tục công việc của họ. Chúng ta có thể tóm lược dữ liệu đã truyền đạt dưới những mệnh đề xác định:—
1. That the basic colours of the Personality must be transmuted into the colours of the Triad, or the threefold Spirit. This is effected by the truly occult meditation.
1. Rằng các màu cơ bản của phàm ngã phải được chuyển hoá thành các màu của Tam Nguyên, hay tinh thần tam phân. Điều này được thực hiện bởi tham thiền huyền môn chân chính.
2. That the colours with which the beginner will be primarily concerned are orange, rose and green.
2. Rằng các màu mà người sơ cơ trước hết sẽ quan tâm chủ yếu là cam, hồng và xanh lục.
3. That the violet ray holds the secret for this immediate cycle. [249]
3. Rằng cung tím nắm giữ bí mật cho chu kỳ trước mắt này. [249]
4. That the next point of apprehended knowledge will be the laws governing the etheric body.
4. Rằng điểm tri thức được nắm bắt kế tiếp sẽ là các định luật chi phối thể dĩ thái.
5. That in the development of the intuition comes cognisance of the esoteric colours which the exoteric veil.
5. Rằng trong sự phát triển trực giác sẽ đến sự nhận biết các màu nội môn mà các màu ngoại môn che phủ.
6. That colour is the form and force of virtue (in the occult sense) in the inner life.
6. Rằng màu sắc là hình tướng và mãnh lực của đức hạnh (theo nghĩa huyền môn) trong đời sống nội tại.
I have summed up the practical points requiring immediate attention for the purposes of clarification. With this as the basis of study the student may expect eventually to see the complete transformation of the type of work done both by the schools of medicine and by chairs of psychology. Certain prophecies I may here make which you can note down for the benefit of those who may come after.
Tôi đã tóm lược các điểm thực tiễn đòi hỏi sự chú ý tức thời nhằm mục đích làm sáng tỏ. Với điều này làm nền tảng nghiên cứu, đạo sinh có thể kỳ vọng rốt cuộc sẽ thấy sự chuyển đổi hoàn toàn loại hình công việc được thực hiện cả bởi các trường y lẫn các bộ môn tâm lý học. Ở đây Tôi có thể đưa ra một số lời tiên tri mà các bạn có thể ghi lại vì lợi ích của những người có thể đến sau.
Forecasts anent the future.—Những dự báo liên quan đến tương lai.
1. The phraseology of the medical schools will more and more become based on vibration and be expressed in terms of sound and colour.
1. Thuật ngữ của các trường y sẽ ngày càng dựa trên rung động và được diễn đạt theo các thuật ngữ của âm thanh và màu sắc.
2. The religious teaching of the world and the inculcation of virtue will be likewise imparted in terms of colour. People will eventually be grouped under their ray-colour, and this will be possible as the human race develops the faculty of seeing auras. The number of clairvoyants is already greater than is realised, owing to the reticence of the true psychic.
2. Giáo huấn tôn giáo của thế giới và việc gieo vào đức hạnh cũng sẽ được truyền đạt theo các thuật ngữ của màu sắc. Con người rốt cuộc sẽ được nhóm lại theo màu-cung của họ, và điều này sẽ có thể khi nhân loại phát triển năng lực thấy hào quang. Số lượng các nhà thông nhãn đã lớn hơn điều người ta nhận ra, do sự kín đáo của nhà thông linh chân chính.
3. The science of numbers, being in reality the science of colour and sound, will also somewhat change its phraseology and colours will eventually supersede figures.
3. Khoa học về các con số, vốn thực sự là khoa học về màu sắc và âm thanh, cũng sẽ phần nào thay đổi thuật ngữ của nó và màu sắc rốt cuộc sẽ thay thế các con số.
4. The laws that govern the erection of large buildings and the handling of great weights will some [250] day be understood in terms of sound. The cycle returns, and in the days to come will be seen the re-appearance of the faculty of the Lemurians and early Atlanteans to raise great masses,—this time on a higher turn of the spiral. Mental comprehension of the method will be developed. They were raised through the ability of the early builders to create a vacuum through sound, and to utilise it for their own purposes.
4. Các định luật chi phối việc dựng nên các toà nhà lớn và việc xử lý những trọng lượng lớn sẽ một [250] ngày nào đó được thấu hiểu theo các thuật ngữ của âm thanh. Chu kỳ quay trở lại, và trong những ngày sắp đến sẽ thấy sự tái xuất hiện năng lực của người Lemuria và người Atlantis thời kỳ đầu trong việc nâng những khối lượng lớn,—lần này ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc. Sự thấu hiểu trí tuệ về phương pháp sẽ được phát triển. Chúng đã được nâng lên nhờ khả năng của các đấng kiến tạo thời kỳ đầu trong việc tạo ra một khoảng chân không qua âm thanh, và sử dụng nó cho các mục đích của họ.
5. Destruction, it will be shewn, can be brought about by the manipulation of certain colours, and by the employment of united sound. In this way terrific effects will be achieved. Colour can destroy just as it can heal; sound can disrupt just as it can bring about cohesion; in these two thoughts lie hid the next step ahead for the science of the immediate future. The laws of vibration are going to be widely studied and comprehended and the use of this knowledge of vibration on the physical planes will bring about many interesting developments. They will be partially an outgrowth of the study of the war and its effect, psychological and otherwise. More was effected by the sound of the great guns, for instance, than by the impact of the projectile on the physical plane. These effects are as yet practically unrecognised, and are largely etheric and astral.
5. Sự hủy diệt, sẽ được chỉ ra, có thể được tạo ra bởi sự thao tác một số màu sắc nhất định, và bởi việc sử dụng âm thanh hợp nhất. Theo cách này những hiệu ứng khủng khiếp sẽ được đạt tới. Màu sắc có thể hủy diệt cũng như có thể chữa lành; âm thanh có thể làm tan rã cũng như có thể đem lại sự kết dính; trong hai ý tưởng này ẩn giấu bước tiến kế tiếp của khoa học trong tương lai gần. Các định luật rung động sẽ được nghiên cứu và thấu hiểu rộng rãi và việc sử dụng tri thức rung động này trên các cõi hồng trần sẽ đem lại nhiều phát triển thú vị. Chúng sẽ phần nào là sự phát sinh từ việc nghiên cứu chiến tranh và tác dụng của nó, về mặt tâm lý và các mặt khác. Chẳng hạn, nhiều điều đã được tạo ra bởi âm thanh của các đại bác lớn hơn là bởi sự va chạm của đầu đạn trên cõi hồng trần. Những tác dụng này hiện nay hầu như chưa được nhận ra, và phần lớn là dĩ thái và cảm dục.
6. Music will be largely employed in construction, and in one hundred years from now it will be a feature in certain work of a constructive nature. This sounds to you utterly impossible, but it will simply be the utilisation of ordered sound to achieve certain ends. [251]
6. Âm nhạc sẽ được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, và trong một trăm năm nữa nó sẽ là một đặc điểm trong một số công việc có tính kiến tạo. Điều này đối với các bạn nghe hoàn toàn bất khả, nhưng đơn giản chỉ là việc sử dụng âm thanh có trật tự để đạt được những mục đích nhất định. [251]
You will ask, what place has all this in a series of letters on meditation? Simply this:—that the method employed in the utilisation of colour and sound in healing, in promoting spiritual growth, and in exoteric construction on the physical plane, will be based on the laws that govern the mental body, and will be forms of meditation. Only as the race develops the dynamic powers and attributes of thought—which powers are the product of meditation, rightly pursued—will the capacity to make use of the laws of vibration be objectively possible. Think not that only the religious devotee or mystic, or the man imbued with what we call higher teaching, is the exponent of the powers attained by meditation. All great capitalists, and the supreme heads of finance, or organised business, are the exponents of similar powers. They are personifications of one-pointed adherence to one line of thought, and their evolution parallels that of the mystic and the occultist. I seek most strongly to emphasise this fact. They are the ones who meditate along the line of the Mahachohan, or the Lord of Civilisation or Culture. Supreme concentrated attention to the matter in hand makes them what they are, and in many respects they attain greater results than many a student of meditation. All they need to do is to transmute the motive underlying their work, and their achievement will then outrun that of other students. They will approach a point of synthesis, and the Probationary Path will then be trodden.
Các bạn sẽ hỏi, tất cả điều này có vị trí gì trong một loạt thư về tham thiền? Chỉ đơn giản là điều này:—rằng phương pháp được dùng trong việc sử dụng màu sắc và âm thanh để chữa lành, để thúc đẩy sự tăng trưởng tinh thần, và trong kiến tạo ngoại môn trên cõi hồng trần, sẽ dựa trên các định luật chi phối thể trí, và sẽ là những hình thức tham thiền. Chỉ khi nhân loại phát triển các quyền năng và thuộc tính năng động của tư tưởng—những quyền năng là sản phẩm của tham thiền, khi được theo đuổi đúng đắn—thì năng lực sử dụng các định luật rung động mới có thể khả dĩ một cách khách quan. Đừng nghĩ rằng chỉ người sùng đạo tôn giáo hay nhà thần bí, hay người thấm nhuần điều mà chúng ta gọi là giáo huấn cao hơn, mới là người biểu hiện các quyền năng đạt được nhờ tham thiền. Tất cả các nhà tư bản lớn, và các lãnh đạo tối cao của tài chính, hay của kinh doanh có tổ chức, đều là những người biểu hiện các quyền năng tương tự. Họ là những hiện thân của sự nhất tâm bám chặt vào một tuyến tư tưởng, và sự tiến hoá của họ song hành với sự tiến hoá của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tôi tìm cách nhấn mạnh mạnh mẽ nhất sự kiện này. Họ là những người tham thiền theo tuyến của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể của Văn Minh hoặc Văn Hoá. Sự chú ý tối cao, tập trung tuyệt đối vào vấn đề trước mắt, khiến họ trở thành như họ là, và ở nhiều phương diện họ đạt kết quả lớn hơn nhiều đạo sinh tham thiền. Tất cả điều họ cần làm là chuyển hoá động cơ nằm dưới công việc của họ, và khi ấy thành tựu của họ sẽ vượt xa thành tựu của các đạo sinh khác. Họ sẽ tiến gần đến một điểm tổng hợp, và Con Đường Dự Bị khi ấy sẽ được bước đi.
The Law of Vibration will gradually, therefore, be more and more understood, and be seen to govern action in all of the three departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan. It will find its basic expression and its familiar terminology in those of colour and sound. Emotional disorder will be regarded as discordant sound; mental lethargy will be expressed in terms of low [252] vibration, and physical disease will be numerically considered. All constructive work will eventually be expressed in terms of numbers, by colours, and through sound.
Vì vậy, Định luật Rung động sẽ dần dần được thấu hiểu ngày càng nhiều, và sẽ được thấy là chi phối hành động trong cả ba bộ phận của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan. Nó sẽ tìm thấy sự biểu đạt cơ bản và thuật ngữ quen thuộc của nó trong màu sắc và âm thanh. Rối loạn cảm dục sẽ được xem là âm thanh bất hoà; sự trì trệ trí tuệ sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của rung động [252] thấp, và bệnh tật thể xác sẽ được xét theo con số. Mọi công việc kiến tạo rốt cuộc sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của các con số, bằng màu sắc, và qua âm thanh.
This suffices on this matter and at this juncture I have naught further to communicate. The subject is abstruse and difficult, and only by patient brooding will the darkness lighten. Only when the ray of the intuition strikes athwart the pall of darkness (which pall is the ignorance that hides all knowledge) will the forms that veil the subjective life be irradiated and known. Only when the light of reason is dimmed by the radiant sun of wisdom will all things be seen in their just proportions, and will the forms assume their exact colours, and their numerical vibration be known. [253]
Như vậy là đủ về vấn đề này và tại thời điểm này Tôi không còn gì để truyền đạt thêm. Chủ đề này thâm áo và khó khăn, và chỉ bằng sự trầm tư kiên nhẫn thì bóng tối mới sáng lên. Chỉ khi tia trực giác chiếu ngang qua tấm màn bóng tối (tấm màn ấy là sự vô minh che giấu mọi tri thức) thì các hình tướng che phủ đời sống chủ quan mới được chiếu rọi và được biết đến. Chỉ khi ánh sáng của lý trí bị làm mờ bởi mặt trời rực rỡ của minh triết thì mọi sự mới được thấy trong tỉ lệ đúng đắn của chúng, và các hình tướng mới mang lấy các màu sắc chính xác của chúng, và rung động theo con số của chúng mới được biết đến. [253]
LETTER VIII.—ACCESS TO THE MASTERS VIA MEDITATION
1. Who are the Masters?
1. Các Chân sư là ai?
2. What access to a Master entails:—
2. Việc tiếp cận một Chân sư hàm ý điều gì:—
a. From the standpoint of the pupil?
a. Từ quan điểm của người đệ tử?
b. From the standpoint of the Master?
b. Từ quan điểm của Chân sư?
3. Methods of approach to the Master in meditation.
3. Các phương pháp tiếp cận Chân sư trong tham thiền.
4. The effect of this access on the three planes. [254]
4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi. [254]
Chart SOLAR AND PLANETARY HIERARCHIES [255]
Biểu đồ CÁC THÁNH ĐOÀN THÁI DƯƠNG VÀ HÀNH TINH [255]
Key to Diagram of Solar and Planetary Hierarchies [256]
Chìa khóa cho Sơ đồ về Các Thánh Đoàn Thái Dương và Hành Tinh [256]
September 12th, 1920.
Ngày 12 tháng 9, 1920.
The search for the goal.—Cuộc tìm kiếm mục tiêu.
Today it may be possible to touch somewhat upon the subject of the Masters and how They may be approached through meditation. This I know is a subject close and dear to your heart, as it is to the heart of all those who earnestly follow the light within. I seek to handle this subject with you in such a way that at the close of this letter the Masters will be more real to you than ever before; the significance of approach to Them be better comprehended and the method more simplified; and the effect of contact with Them will be so demonstrated in the life that its immediate and practical attainment will be earnestly pursued. Let us, therefore, as we have always done, divide our subject into certain heads and divisions:—
Hôm nay có lẽ chúng ta có thể chạm đến phần nào đề tài về các Chân sư và cách Các Ngài có thể được tiếp cận qua tham thiền. Tôi biết đây là một đề tài gần gũi và thân thiết với trái tim các bạn, cũng như với trái tim của tất cả những ai chân thành đi theo ánh sáng bên trong. Tôi mong xử lý đề tài này với các bạn theo cách mà khi kết thúc bức thư này, các Chân sư sẽ trở nên thực đối với các bạn hơn bao giờ hết; ý nghĩa của việc tiếp cận Các Ngài sẽ được thấu hiểu rõ hơn và phương pháp sẽ được đơn giản hóa hơn; và ảnh hưởng của sự tiếp xúc với Các Ngài sẽ được chứng tỏ trong đời sống đến mức việc đạt được ngay tức khắc và thiết thực ấy sẽ được theo đuổi một cách tha thiết. Vì vậy, như chúng ta vẫn luôn làm, chúng ta hãy chia đề tài của mình thành một số đề mục và phân mục nhất định:—
1. Who are the Masters?
1. Các Chân sư là ai?
2. What does access to Them entail:—
2. Việc tiếp cận Các Ngài hàm ý điều gì:—
a. From the standpoint of the pupil?
a. Từ quan điểm của người đệ tử?
b. From the standpoint of the Master?
b. Từ quan điểm của Chân sư?
3. Methods of approach to the Masters through meditation.
3. Các phương pháp tiếp cận các Chân sư qua tham thiền.
4. The effect of this access on the three planes.
4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi.
Everywhere throughout the whole world is felt the urge that drives a man to seek out someone who, for him, embodies the ideal. Even those who do not admit the existence of the Masters seek some ideal, and then visualise that ideal as embodied in some form on the physical plane. They picture themselves, perhaps, as the exponents [257] of ideal action, or visualise some great philanthropist, some superlative scientist, some notable artist or musician, as embodying their supreme conception. The human being,—simply because he is himself fragmentary and incomplete—has always this urge within himself to seek other and greater than himself. It is this that drives him back to the centre of his being, and it is this that forces him to take the path of return to the All-Self. Ever, throughout the aeons, does the Prodigal Son arise and go to his Father, and always latent within him is the memory of the Father’s home and the glory there to be found. But the human mind is so constituted that the search for light and for the ideal is necessarily long and difficult. “Now we see through a glass darkly, but then face to face”; now we catch glimpses through the occasional windows we pass in our ascension of the ladder, of other and greater Beings than ourselves; They hold out to us helping hands, and call to us in clarion tones to struggle bravely on if we hope to stand where They are now standing.
Khắp nơi trên toàn thế giới đều cảm nhận được sự thôi thúc thúc đẩy con người đi tìm một ai đó mà đối với họ, người ấy hiện thân cho lý tưởng. Ngay cả những người không thừa nhận sự hiện hữu của các Chân sư cũng tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung lý tưởng ấy như được hiện thân trong một hình tướng nào đó trên cõi vật chất. Có lẽ họ tự hình dung mình như là những người tiêu biểu cho [257] hành động lý tưởng, hoặc hình dung một nhà từ thiện vĩ đại nào đó, một nhà khoa học siêu việt nào đó, một nghệ sĩ hay nhạc sĩ nổi bật nào đó, như đang thể hiện quan niệm tối thượng của họ. Con người,—chỉ vì tự y là phân mảnh và bất toàn—luôn có thôi thúc bên trong phải tìm kiếm những điều khác và lớn hơn chính mình. Chính điều này đưa y trở về trung tâm của hữu thể mình, và chính điều này buộc y bước lên Con Đường Trở Về với Đại Ngã. Suốt qua các thời đại, Người Con Hoang Đàng luôn đứng dậy và đi về với Cha mình, và luôn tiềm ẩn trong y là ký ức về ngôi nhà của Cha và vinh quang có thể tìm thấy ở đó. Nhưng thể trí con người được cấu tạo như vậy nên cuộc tìm kiếm ánh sáng và lý tưởng tất yếu là dài lâu và khó khăn. “Nay chúng ta thấy như qua một tấm kính mờ, nhưng rồi sẽ đối diện mặt đối mặt”; nay chúng ta bắt gặp những thoáng thấy qua những ô cửa thỉnh thoảng đi ngang trong khi leo lên chiếc thang, về những Thực Thể khác và lớn hơn chúng ta; Các Ngài đưa tay trợ giúp cho chúng ta, và gọi chúng ta bằng những âm vang như kèn lệnh, thúc giục hãy can đảm đấu tranh tiếp nếu chúng ta hy vọng đứng ở nơi Các Ngài đang đứng.
We sense beauties and glories surrounding us that as yet we cannot revel in; they flit into our vision, and we touch the glory at a lofty moment only again to lose the contact and to sink back again into the murky gloom that envelopes. But we know that outside and further on is something to be desired; we learn also the mystery that that external wonder can only be contacted by withdrawing within, till the centre of consciousness is found that vibrates in tune with those dimly realised wonders, and with those radiant Souls Who call Themselves our Elder Brothers. Only by trampling on the external sheaths that veil and hide the inner centre do we achieve the goal, and find the Ones we seek. Only by the domination of all forms, and the bringing of those forms under the rule of the God within, can we find the God in all, for it is only the [258] sheaths in which we move upon the plane of being that hide from us our inner God, and that shut us off from Those in Whom the God transcends all outer forms.
Chúng ta cảm nhận những vẻ đẹp và vinh quang đang bao quanh mà chúng ta chưa thể hoan hưởng; chúng lướt vào tầm nhìn của chúng ta, và chúng ta chạm được vinh quang trong một khoảnh khắc cao vời chỉ để rồi lại mất liên lạc và lại chìm xuống bóng tối đục mờ đang bao phủ. Nhưng chúng ta biết rằng ở bên ngoài và xa hơn nữa có điều gì đó đáng khao khát; chúng ta cũng học được huyền nhiệm rằng kỳ quan bên ngoài ấy chỉ có thể được tiếp xúc bằng cách rút vào bên trong, cho đến khi tìm được trung tâm tâm thức rung động hòa điệu với những kỳ quan chỉ mới được chứng nghiệm mơ hồ ấy, và với những Linh Hồn rạng ngời tự gọi mình là các Huynh Trưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách giẫm lên các vỏ bọc bên ngoài vốn che màn và che giấu trung tâm nội tại, chúng ta mới đạt được mục tiêu và tìm thấy những Đấng mà chúng ta tìm kiếm. Chỉ bằng sự chế ngự mọi hình tướng, và đưa những hình tướng ấy dưới sự cai quản của Thượng đế bên trong, chúng ta mới có thể tìm thấy Thượng đế trong mọi sự, vì chỉ chính các [258] vỏ bọc mà chúng ta vận hành trên cõi bản thể mới che khuất Thượng đế nội tại của chúng ta, và mới ngăn cách chúng ta khỏi Những Đấng mà nơi Các Ngài, Thượng đế siêu vượt mọi hình tướng bên ngoài.
The great Initiate, Who voiced the words I quote, added still other words of radiant truth: “Then shall we know even as we are known.” The future holds for each and all who duly strive, who unselfishly serve and occultly meditate, the promise of knowing Those Who already have full knowledge of the struggler. Therein lies the hope for the student of meditation; as he struggles, as he fails, as he perseveres, and as he laboriously reiterates from day to day the arduous task of concentration and of mind control, there stand on the inner side Those Who know him, and Who watch with eager sympathy the progress that be makes.
Vị điểm đạo đồ vĩ đại, Đấng đã thốt ra những lời Tôi trích dẫn, còn thêm những lời chân lý rực sáng khác: “Bấy giờ chúng ta sẽ biết, cũng như chúng ta được biết.” Tương lai dành cho từng người, cho tất cả những ai nỗ lực đúng đắn, phụng sự vô ngã và tham thiền theo huyền bí học, lời hứa sẽ biết Những Đấng vốn đã biết trọn vẹn người đang đấu tranh. Ở đây có niềm hy vọng cho đạo sinh tham thiền; khi y đấu tranh, khi y thất bại, khi y kiên trì, và khi y ngày này qua ngày khác nhọc nhằn lặp lại nhiệm vụ gian nan của sự tập trung và sự kiểm soát thể trí, thì ở phía bên trong có Những Đấng biết y, và dõi theo với sự cảm thông nồng nhiệt tiến bộ mà y đạt được.
Forget not the earlier part of the Initiate’s remarks where he points out the way whereby the darkness is dispelled, and knowledge of the Great Ones is reached. He emphasises that only by love is the path of light and knowledge trodden. Why this emphasis upon love? Because the goal for all is love, and therein lies the merging. To put scientifically what is oft a nebulous sentiment, we might express it as follows:—It is by the attainment of the vibration which is analogous to the Ray of Love-Wisdom (the Divine Ray) that the Lords of Love are contacted, that the Masters of Compassion are known, and that the possibility of entering into the consciousnesses of the Great Ones and of all our brothers of whatsoever degree, becomes a fact in manifestation.
Đừng quên phần trước trong lời nói của vị điểm đạo đồ, nơi ông chỉ ra con đường nhờ đó bóng tối được xua tan, và tri thức về Các Đấng Cao Cả được đạt đến. Ông nhấn mạnh rằng chỉ bằng bác ái thì con đường ánh sáng và tri thức mới được bước đi. Vì sao lại nhấn mạnh bác ái? Bởi vì mục tiêu của tất cả là bác ái, và chính trong đó có sự hòa nhập. Để diễn đạt một cách khoa học điều vốn thường chỉ là một tình cảm mơ hồ, chúng ta có thể nói như sau:—Chính nhờ đạt được rung động tương tự với Cung Bác Ái – Minh Triết (Cung thiêng liêng) mà các Chúa Tể của Bác Ái được tiếp xúc, các Chân sư của Lòng Từ Bi được biết đến, và khả năng đi vào các tâm thức của Các Đấng Cao Cả và của tất cả các huynh đệ của chúng ta, bất kể cấp bậc nào, trở thành một sự kiện trong biểu hiện.
This is the path to be trodden by one and all, and the method is meditation. The goal is perfect love and wisdom; the steps are the surmounting of subplane after subplane on all the three planes; the method is that of occult meditation; the reward is the continuous expansion [259] of consciousness that puts a man eventually en rapport with his own Ego, with other selves, with the waiting eager Master to Whom he is assigned, with fellow disciples and more advanced Initiates whom he may contact in that Master’s aura, till he finally contacts the One Initiator, is admitted into the Secret Place, and knows the mystery that underlies consciousness itself.
Đây là con đường mà từng người và tất cả phải bước đi, và phương pháp là tham thiền. Mục tiêu là bác ái và minh triết hoàn hảo; các bước là vượt qua cõi phụ này đến cõi phụ khác trên cả ba cõi; phương pháp là tham thiền huyền bí; phần thưởng là sự mở rộng liên tục [259] của tâm thức, rốt cuộc đưa một người vào sự tương thông với chính chân ngã của mình, với các bản ngã khác, với Chân sư đang chờ đợi đầy nhiệt tâm mà y được phân công, với các đệ tử đồng môn và các điểm đạo đồ tiến bộ hơn mà y có thể tiếp xúc trong hào quang của Chân sư ấy, cho đến khi cuối cùng y tiếp xúc Đấng Điểm đạo duy nhất, được thừa nhận vào Nơi Bí Mật, và biết huyền nhiệm nằm dưới chính tâm thức.
September 14th, 1920.
Ngày 14 tháng 9, 1920.