Trích nội dung chương
According to the success of the meditation, according to the ability of the student to shut off the lower and contact the higher, so will come the opportunity of the Master to accomplish successfully the scientific definite work that [277] needs His attention. Students of meditation would be astounded and perhaps discouraged, could they realise how seldom they provide the right conditions through meditation which will enable their watching Teacher to bring about certain effects. By the frequency of the student’s ability to do this comes indication of progress, and the possibility of carrying him on another step. Emphasise this point in…
According to the success of the meditation, according to the ability of the student to shut off the lower and contact the higher, so will come the opportunity of the Master to accomplish successfully the scientific definite work that [277] needs His attention. Students of meditation would be astounded and perhaps discouraged, could they realise how seldom they provide the right conditions through meditation which will enable their watching Teacher to bring about certain effects. By the frequency of the student’s ability to do this comes indication of progress, and the possibility of carrying him on another step. Emphasise this point in teaching, for it carries with it an incentive to greater diligence and application. If the pupil himself on his side provides not the just conditions, the Master’s hands are tied and He can do but little. Self-effort is the key to progress, coupled to conscious comprehending application to the work laid down. When that effort is made with perseverance, then comes the opportunity of the Master to carry out His side of the work.
Tuỳ theo sự thành công của việc tham thiền, tuỳ theo khả năng của đạo sinh trong việc khép lại cái thấp và tiếp xúc cái cao, cơ hội của Chân sư để hoàn thành thành công công việc khoa học xác định mà [277] cần đến sự lưu tâm của Ngài sẽ đến tương ứng như vậy. Những đạo sinh tham thiền sẽ kinh ngạc và có lẽ nản lòng, nếu họ có thể nhận ra rằng họ hiếm khi tạo được những điều kiện đúng đắn qua tham thiền, nhờ đó vị huấn sư đang dõi theo họ có thể tạo ra những tác dụng nhất định. Từ tần suất đạo sinh có thể làm được điều này mà có dấu hiệu tiến bộ, và khả năng đưa y tiến thêm một bước nữa. Hãy nhấn mạnh điểm này trong giảng dạy, vì nó mang theo một động lực thúc đẩy sự siêng năng và chuyên cần lớn hơn. Nếu học trò, về phía mình, không cung cấp những điều kiện thích đáng, thì tay Chân sư bị trói buộc và Ngài chỉ có thể làm được rất ít. Tự nỗ lực là chìa khoá của tiến bộ, đi đôi với sự áp dụng có ý thức và thấu hiểu đối với công việc đã được đặt ra. Khi nỗ lực ấy được thực hiện với sự kiên trì, thì cơ hội đến để Chân sư thực hiện phần việc của Ngài.
As the pupil meditates with occult accuracy he brings his three lower bodies into alignment and—with emphasis I reiterate—only as alignment is effected is the Master able to work with the bodies of the pupil. If naught else is effected by the publication of these letters except the intensification of the desire to meditate with correctness, the object in view will be largely attained. In that effort the right conditions between pupil and Master, and a correct interrelation will be brought about. Meditation provides these conditions, when rightly followed. It prepares the field for labour and for work.
Khi học trò tham thiền với sự chính xác huyền bí, y đưa ba thể thấp của mình vào trạng thái chỉnh hợp và—Tôi nhắc lại với sự nhấn mạnh—chỉ khi sự chỉnh hợp được thiết lập thì Chân sư mới có thể làm việc với các thể của học trò. Nếu việc công bố những bức thư này không đạt được gì khác ngoài việc làm tăng mạnh khát vọng tham thiền cho đúng, thì mục tiêu nhắm đến sẽ phần lớn được thành tựu. Trong nỗ lực ấy, những điều kiện đúng đắn giữa học trò và Chân sư, cùng một mối tương quan đúng đắn sẽ được thiết lập. Tham thiền cung cấp những điều kiện ấy, khi được thực hành đúng. Nó chuẩn bị cánh đồng cho lao động và cho công việc.
Let us briefly consider the various periods as enumerated yesterday when considering the pupil’s relationship to a Master.
Hãy vắn tắt xét các thời kỳ khác nhau như đã liệt kê hôm qua khi bàn về mối liên hệ của học trò với một Chân sư.
In the period when the man is under probation and supervision......... with a view to seeing his application and ultimate suitability for the position of accepted disciple, he is left almost entirely to himself and is only conscious of the attention of the Master at rare and irregular intervals. His physical brain is not often receptive to the higher contact, and though his Ego [278] is fully aware of his position on the Path, not yet is the physical brain in a condition to know. But on this point no hard and fast rule can be laid down. When a man has been for several lives making contacts with his Ego or with his Master he may be aware of it. Individuals differ so much that no universal rule in detail can be formulated. As you know, the Master makes a small image of the probationer, which image is stored in certain subterranean centres in the Himalayas. The image is magnetically linked with the probationer, and shows all the fluctuations of his nature. Being composed of emotion and mental matter it pulsates with every vibration of those bodies. It shows their predominating hues, and by studying it the Master can rapidly gauge the progress made and judge when the probationer may be admitted into a closer relationship. The Master views the image at stated intervals, rarely at first, as the progress made in the beginning stages is not so rapid, but with ever increasing frequency as the student of meditation comprehends more readily and more consciously co-operates. The Master when inspecting the images works with them, and through their means effects certain results. Just as later the Rod of Initiation is applied to the bodies and centres of the initiate, so at certain times the Master applies certain contacts to the images and via them stimulates the bodies of the pupil.
Trong thời kỳ khi người ấy đang ở trên Con Đường Dự Bị và dưới sự giám sát......... nhằm xem xét sự chuyên cần của y và mức độ thích hợp rốt ráo của y cho vị trí đệ tử được chấp nhận, y hầu như được để mặc cho chính mình và chỉ hiếm hoi, không đều đặn, mới ý thức được sự lưu tâm của Chân sư. Bộ não hồng trần của y không thường tiếp nhận được sự tiếp xúc cao hơn, và mặc dù chân ngã [278] của y hoàn toàn ý thức về vị trí của y trên Đường Đạo, bộ não hồng trần vẫn chưa ở trong tình trạng có thể biết. Tuy nhiên, về điểm này không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc. Khi một người đã trải qua nhiều kiếp sống tạo lập các tiếp xúc với chân ngã của y hoặc với Chân sư của y, y có thể ý thức được điều đó. Các cá nhân khác nhau quá nhiều đến nỗi không thể hình thành một quy luật phổ quát chi tiết. Như các bạn biết, Chân sư tạo một hình ảnh nhỏ của người dự bị, và hình ảnh ấy được cất giữ trong những trung tâm ngầm dưới đất nhất định ở dãy Hy Mã Lạp Sơn. Hình ảnh ấy được nối kết từ tính với người dự bị, và biểu lộ mọi dao động trong bản chất của y. Vì được cấu tạo từ vật chất cảm dục và vật chất trí, nó rung động theo mọi rung động của các thể ấy. Nó cho thấy các sắc thái trội vượt của chúng, và bằng cách nghiên cứu nó, Chân sư có thể nhanh chóng đo lường tiến bộ đã đạt và phán đoán khi nào người dự bị có thể được thừa nhận vào một mối liên hệ gần gũi hơn. Chân sư quan sát hình ảnh theo những khoảng thời gian đã định, lúc đầu hiếm khi, vì tiến bộ trong các giai đoạn khởi đầu không nhanh đến thế, nhưng với tần suất ngày càng tăng khi đạo sinh tham thiền lĩnh hội dễ dàng hơn và hợp tác một cách ý thức hơn. Khi kiểm tra các hình ảnh, Chân sư làm việc với chúng, và qua phương tiện ấy tạo ra những kết quả nhất định. Cũng như về sau Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng lên các thể và các trung tâm của điểm đạo đồ, thì vào những thời điểm nhất định Chân sư áp dụng những tiếp xúc nhất định lên các hình ảnh và qua chúng kích thích các thể của học trò.
A time comes when the Master sees, from His inspection of the image, that the needed rate of vibration can be held, that the required eliminations have been made, and a certain depth of colour attained. He can then take the risk (for risk it is) and admit the probationer within the periphery of His own aura. He becomes then an accepted disciple. [279]
Đến một lúc, Chân sư thấy, qua việc kiểm tra hình ảnh, rằng nhịp độ rung động cần thiết có thể được giữ, rằng những sự loại trừ đòi hỏi đã được thực hiện, và một độ đậm nhất định của màu sắc đã đạt được. Khi ấy Ngài có thể chấp nhận rủi ro (vì đó là rủi ro) và cho phép người dự bị bước vào trong chu vi hào quang của chính Ngài. Khi đó y trở thành một đệ tử được chấp nhận. [279]
During the period wherein a man is an accepted disciple the work done by the Master is of very real interest. The pupil is assigned to special classes conducted by more advanced disciples under the supervision of the Master, and though he may attend still the larger general classes in the Ashram (the Master’s hall for teaching) he is subjected to a more intensified training.......... Some day later when you are in a position to give definite papers for the benefit of the ES students (which time is not yet) I will enlarge upon the work done by a pupil and the aspects also of the Master's work. The time is not ripe. Hints only may here be given.
Trong thời kỳ khi một người là một đệ tử được chấp nhận, công việc do Chân sư thực hiện là điều rất đáng quan tâm. Học trò được phân vào những lớp đặc biệt do các đệ tử tiến bộ hơn đảm trách dưới sự giám sát của Chân sư, và tuy y vẫn có thể tham dự các lớp chung lớn hơn trong ashram (giảng đường của Chân sư), y chịu một sự huấn luyện được tăng cường hơn.......... Một ngày nào đó về sau, khi các bạn ở vào vị thế có thể đưa ra những bài viết xác định vì lợi ích của các đạo sinh ES (mà thời điểm ấy chưa đến), Tôi sẽ triển khai thêm về công việc do một học trò thực hiện và cả các phương diện trong công việc của Chân sư. Thời cơ chưa chín. Ở đây chỉ có thể đưa ra những gợi ý.
The Master works in the earlier stages in four main ways:—
Chân sư làm việc trong các giai đoạn sớm theo bốn cách chính:—
a. At intervals, and when the progress of the pupil justifies it, He “gathers the pupil to His Heart.” This is an esoteric statement of a very interesting experience to which the pupil will be subjected. At the close of some class in the ashram, or during some specially successful meditation wherein the pupil has reached a certain rate of vibration, the Master will gather him close to Himself, bringing him from the periphery of His aura to the centre of His consciousness. He thereby gives him a tremendous temporary expansion of consciousness, and enables him to vibrate at an unusual rate for him.
a. Theo từng khoảng thời gian, và khi sự tiến bộ của học trò biện minh cho điều đó, Ngài “gom học trò vào Trái Tim Ngài.” Đây là một phát biểu nội môn về một kinh nghiệm rất thú vị mà học trò sẽ được trải qua. Vào cuối một lớp học nào đó trong ashram, hoặc trong một lần tham thiền đặc biệt thành công khi học trò đã đạt đến một nhịp độ rung động nhất định, Chân sư sẽ gom y lại gần chính Ngài, đưa y từ chu vi hào quang của Ngài vào trung tâm tâm thức của Ngài. Nhờ đó Ngài ban cho y một sự mở rộng tâm thức tạm thời vô cùng mạnh mẽ, và giúp y rung động ở một nhịp độ khác thường đối với y.
Hence the need for meditation. The reward of such an experience far outweighs any of the strenuous parts of the work.
Do đó mới cần tham thiền. Phần thưởng của một kinh nghiệm như thế vượt xa bất kỳ phần nào căng thẳng trong công việc.
b. The Master works upon the bodies of his pupil with colour, and brings about results in those bodies that enable the pupil to make more rapid progress. Now you will see why...... in the ES school so much emphasis is laid upon colour. It is not only because it holds the secret of form and manifestation (which secret must be known by the occultist) but the emphasis is laid thus in order that he may consciously co-operate in the work of the [280] Master on his bodies, and intelligently follow the effects brought about. Ponder on this.
b. Chân sư tác động lên các thể của học trò bằng màu sắc, và tạo ra những kết quả trong các thể ấy giúp học trò tiến bộ nhanh hơn. Nay các bạn sẽ thấy vì sao...... trong trường ES người ta nhấn mạnh rất nhiều vào màu sắc. Không chỉ vì nó nắm giữ bí mật của hình tướng và sự biểu hiện (một bí mật mà nhà huyền bí học phải biết), mà sự nhấn mạnh còn được đặt như vậy để y có thể hợp tác một cách ý thức trong công việc của [280] Chân sư trên các thể của y, và theo dõi một cách thông minh những tác dụng được tạo ra. Hãy suy ngẫm về điều này.
c. At stated intervals the Master takes His pupils, and enables them to contact other evolutions, such as the great angels and devas, the lesser builders and the sub-human evolutions. This can be safely done by the pupil through the protective effect of the Master’s aura. Later, when himself an initiate, the pupil will be taught how to protect himself and to make his own contacts.
c. Theo những khoảng thời gian đã định, Chân sư đưa các học trò của Ngài đi, và giúp họ tiếp xúc với các tiến hoá khác, như các thiên thần và chư thiên lớn, các vị tiểu kiến tạo và các tiến hoá dưới nhân loại. Điều này có thể được học trò thực hiện một cách an toàn nhờ tác dụng bảo hộ của hào quang Chân sư. Về sau, khi tự mình là một điểm đạo đồ, học trò sẽ được dạy cách tự bảo vệ và tự tạo lập các tiếp xúc của mình.
d. The Master presides over the work of stimulating the centres in the pupil’s bodies and the awakening of the inner fire. He teaches the pupil the meaning of the centres and their correct fourth dimensional rotation and in time He will bring the pupil to a point where he can consciously and with full knowledge of the law work with his centres, and bring them to a point where they can be safely stimulated by the Rod of Initiation. More on this subject is not yet possible......... (Brother of mine, may I here interpolate a personal word of advice? The need of the hour is so great, and our desire to transmit further teaching to students of meditation, that those of you who shew signs of being able to make contacts that permit of our transmitting the teaching are begged to so discipline and purify your vehicles at any cost that we may still further use you. Much may be later imparted anent the centres should you and others whom we can reach shew signs of siwe [wise?] discrimination and intuitive insight. Work, therefore, brother of old, at your own bodies, strengthening and purifying them. Mayhap the time will then come when further light upon this matter may be safely communicated, for in the centres lies hid the secret and in their wise development cometh the awakening of the powers of the Spirit and the rounding out of the 3-fold man.)
d. Chân sư chủ trì công việc kích thích các trung tâm trong các thể của học trò và sự thức tỉnh của nội hỏa. Ngài dạy học trò ý nghĩa của các trung tâm và sự xoay chuyển đúng đắn theo chiều kích thứ tư của chúng, và theo thời gian Ngài sẽ đưa học trò đến một điểm mà y có thể một cách ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về định luật mà làm việc với các trung tâm của mình, và đưa chúng đến một điểm mà chúng có thể được kích thích an toàn bởi Thần Trượng Điểm đạo. Hiện chưa thể nói thêm về đề tài này......... (Huynh đệ của Tôi, Tôi có thể xen vào đây một lời khuyên riêng tư chăng? Nhu cầu của thời khắc quá lớn, và ước muốn của chúng tôi là truyền đạt thêm giáo huấn cho các đạo sinh tham thiền, nên những ai trong các bạn cho thấy dấu hiệu có thể tạo lập các tiếp xúc cho phép chúng tôi truyền đạt giáo huấn, được khẩn cầu hãy kỷ luật và thanh lọc các vận cụ của mình bằng bất cứ giá nào để chúng tôi còn có thể sử dụng các bạn nhiều hơn nữa. Về sau có thể truyền dạy nhiều điều liên quan đến các trung tâm nếu các bạn và những người khác mà chúng tôi có thể tiếp cận cho thấy dấu hiệu của sự phân biện khôn ngoan và tuệ kiến trực giác. Vì vậy, huynh đệ của ngày xưa, hãy làm việc trên chính các thể của mình, củng cố và thanh lọc chúng. Có lẽ khi ấy thời điểm sẽ đến để có thể truyền đạt an toàn thêm ánh sáng về vấn đề này, vì trong các trung tâm có ẩn giấu bí mật và trong sự phát triển khôn ngoan của chúng sẽ đến sự thức tỉnh các quyền năng của tinh thần và sự hoàn thiện của phàm nhân tam phân.)
I have only touched in the briefest manner on a few of the things a Master has to do with His pupils. I take not up the later stages of the pupil’s progress. We lead all on by gradual steps, and as yet even accepted disciples are rare. If by meditation, service, and the purifying of the bodies, those now on probation can be led to make more rapid progress, then will come the time for the communication of further information. What use is it to give facts of which the student cannot as yet make use? We waste not time in interesting intellectually those we seek to help. When the pupil has equipped himself, when he has purified himself and is vibrating adequately, naught can withhold all knowledge from him. When he opens the [281] door and widens the channel, light and knowledge will pour in.
Tôi chỉ chạm đến, theo cách vắn tắt nhất, một vài điều mà một Chân sư phải làm đối với các học trò của Ngài. Tôi không đề cập đến các giai đoạn sau của sự tiến bộ của học trò. Chúng tôi dẫn dắt tất cả tiến lên bằng những bước dần dần, và cho đến nay ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng hiếm hoi. Nếu nhờ tham thiền, phụng sự, và sự thanh lọc các thể, những người hiện đang trên Con Đường Dự Bị có thể được dẫn dắt để tiến bộ nhanh hơn, thì thời điểm truyền đạt thêm thông tin sẽ đến. Có ích gì khi đưa ra những sự kiện mà đạo sinh chưa thể sử dụng? Chúng tôi không lãng phí thời gian để gây hứng thú trí tuệ cho những người mà chúng tôi tìm cách giúp đỡ. Khi học trò đã tự trang bị, khi y đã tự thanh lọc và đang rung động một cách đầy đủ, thì không gì có thể ngăn giữ mọi tri thức khỏi y. Khi y mở [281] cánh cửa và mở rộng kênh dẫn, ánh sáng và tri thức sẽ tuôn vào.
Tomorrow we will take up our third point, methods of approach to a Master via meditation; certain types of meditation will be slightly enlarged upon which will facilitate contact, but forget not that the life of objective service must keep pace with the subjective growth; only when the two are seen together and approved are the necessary steps for contact permitted. A Master is only interested in a man from the point of view of his usefulness in the group soul, and his capacity to help.
Ngày mai chúng ta sẽ nêu điểm thứ ba của chúng ta, các phương pháp tiếp cận một Chân sư qua tham thiền; một số loại tham thiền sẽ được triển khai đôi chút để tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc, nhưng đừng quên rằng đời sống phụng sự khách quan phải theo kịp sự tăng trưởng chủ quan; chỉ khi cả hai được thấy cùng nhau và được chấp thuận thì những bước cần thiết cho sự tiếp xúc mới được cho phép. Một Chân sư chỉ quan tâm đến một người từ quan điểm về tính hữu dụng của y trong hồn nhóm, và năng lực giúp đỡ của y.
September 19th, 1920.
Ngày 19 tháng 9, 1920.
We can today take up our last two points practically simultaneously. They deal with methods of approach to the Masters and the objective effects on the three planes of human evolution. Some of the points touched upon are already well known. Others may not be so familiar to the general student....... We have, during the writing of these letters, touched briefly and in the form of wide generalities this very abstruse and occult subject of meditation. In these letters we have dealt with the student himself and what he has to bring to the endeavour; we have indicated likewise his goal—and very sketchily—the forms and methods whereby success may be achieved. We have dealt also with those aids to meditation, the Sacred Word, Colour and Sound, and have indicated that which (brooded upon in silence) may lead to the student making some discoveries for himself. Lastly we have tried to bring the Masters and Their reality nearer to the student, and thereby facilitate his approach to Them.
Hôm nay chúng ta có thể nêu hai điểm cuối cùng của chúng ta gần như đồng thời. Chúng liên quan đến các phương pháp tiếp cận các Chân sư và các tác dụng khách quan trên ba cõi của tiến hoá nhân loại. Một số điểm được chạm đến đã khá quen thuộc. Những điểm khác có thể không quen thuộc lắm đối với đạo sinh phổ thông....... Trong khi viết những bức thư này, chúng ta đã chạm đến một cách vắn tắt và dưới hình thức những khái quát rộng rãi đề tài tham thiền rất khó hiểu và huyền bí này. Trong những bức thư này, chúng ta đã bàn đến chính đạo sinh và điều y phải đem vào nỗ lực; chúng ta cũng đã chỉ ra mục tiêu của y—và rất phác lược—các hình thức và phương pháp nhờ đó có thể đạt được thành công. Chúng ta cũng đã bàn đến những trợ giúp cho tham thiền, Linh từ Thiêng Liêng, Màu Sắc và Âm Thanh, và đã chỉ ra điều mà (được ấp ủ trong im lặng) có thể dẫn đạo sinh đến chỗ tự mình thực hiện một vài khám phá. Cuối cùng, chúng ta đã cố gắng đưa các Chân sư và thực tại của Các Ngài đến gần đạo sinh hơn, và nhờ đó tạo thuận lợi cho sự tiếp cận của y đối với Các Ngài.
What now remains to be done? To indicate five things that may be looked for with conviction by the student who has endeavoured to conform his life to the lines laid down by me in these letters. If the student but provides the right conditions, if he conforms to the necessary [282] rules, if he aims always at regularity, at calmness, at that inner concentration that holds the mystery of the High Places, he will on certain occasions and with ever-increasing frequency awake to some definite realisations. These realisations will be the outer recognition of inner results, and will be the guarantee to him that he is on the right path. But I would here point out again that these results are only achieved after long practice, strenuous struggle, diligent disciplining of the threefold lower man, and consecrated service to the world.
Giờ đây còn lại điều gì cần làm? Chỉ ra năm điều mà đạo sinh—người đã cố gắng điều chỉnh đời sống của mình theo những đường hướng Tôi đã đặt ra trong những bức thư này—có thể trông đợi với niềm xác tín. Nếu đạo sinh chỉ cần cung cấp những điều kiện đúng đắn, nếu y tuân theo các [282] quy luật cần thiết, nếu y luôn nhắm đến sự đều đặn, sự bình thản, và sự tập trung nội tâm nắm giữ huyền nhiệm của các Cõi Cao, thì vào những dịp nhất định và với tần suất ngày càng tăng, y sẽ thức dậy với một vài chứng nghiệm xác định. Những chứng nghiệm này sẽ là sự nhận biết bên ngoài về các kết quả bên trong, và sẽ là sự bảo chứng cho y rằng y đang ở trên con đường đúng. Nhưng ở đây Tôi muốn nhắc lại rằng những kết quả này chỉ đạt được sau thời gian dài thực hành, đấu tranh gian khổ, kỷ luật chuyên cần đối với phàm nhân tam phân, và phụng sự thế gian trong sự thánh hiến.
Methods of approach and effects obtained.—Các phương pháp tiếp cận và các tác dụng đạt được.
The methods of approach are broadly three and we might indicate five results that will eventuate from the employment of these methods. The three methods are:—
Các phương pháp tiếp cận, nói chung, có ba, và chúng ta có thể nêu ra năm kết quả sẽ phát sinh từ việc sử dụng các phương pháp này. Ba phương pháp là:—
1. Sanctified service.
1. Phụng sự được thánh hiến.
2. Love demonstrating through wisdom.
2. Bác ái được biểu lộ qua minh triết.
3. Intellectual application.
3. Sự áp dụng trí tuệ.
They are all three but diverse methods of expressing one and the same thing,—active one-pointedness that expresses itself in service for the race through love and wisdom. But some individuals express this in one way and some in another; some carry the outer appearance of intellectuality and others of love, yet before the attainment is possible intellectuality must be based on love, whilst love without mental development and that discrimination that mind affords is apt to be unbalanced and unwise. Both love and mind must be expressed in terms of service before the full flower of either is attained. Let us consider each of these methods separately and indicate the meditation to be followed thereon:—
Chúng đều là ba phương pháp khác nhau nhưng cùng biểu đạt một và cùng một điều,—tính nhất tâm năng động, tự biểu lộ trong sự phụng sự nhân loại qua bác ái và minh triết. Nhưng có những cá nhân biểu lộ điều này theo cách này, và có những người theo cách khác; có người mang sắc tướng bên ngoài của trí tuệ, và có người mang sắc tướng của bác ái; tuy nhiên, trước khi có thể đạt được thành tựu, trí tuệ phải đặt nền trên bác ái, trong khi bác ái mà không có sự phát triển trí tuệ và sự phân biện mà trí tuệ đem lại thì dễ trở nên mất quân bình và thiếu minh triết. Cả bác ái lẫn trí tuệ đều phải được biểu lộ bằng sự phụng sự trước khi đóa hoa trọn vẹn của một trong hai được đạt tới. Chúng ta hãy xét riêng từng phương pháp này và nêu ra bài thiền cần theo đó:—
Sanctified Service. This is the method of the man who wields the law, the method of the occultist, and the rudiments of the method are laid down in raja-yoga [283].............. discipline in the ES. The word “sanctification,” as you know, in the basic sense signifies the complete surrender of the whole being to one object, the Lord or Ruler. It means the giving wholly to the one the devotee aspires to. It means the consecration of the whole threefold man to the work in hand. It entails, therefore, the application of the entire time and self to the bringing of each body under the subjugation of the Ego, and the complete mastery of each plane and subplane. It involves the comprehension of each evolution and form of divine life as found on those planes and sub-planes, with one aim in view and only one—the furthering of the plan of the Hierarchy of Light. The method followed is that of the intensest application to the work of rounding out the bodies and of making them fit instruments for service. It is perhaps the hardest way that a man can tread. It leaves no department of the life untouched. All is brought under law. In meditation therefore the form of that meditation will be a threefold structure:—
Phụng sự thánh hiến. Đây là phương pháp của người vận dụng định luật, phương pháp của nhà huyền bí học, và những yếu tố sơ khởi của phương pháp này được đặt nền trong raja-yoga [283].............. kỷ luật trong ES. Từ “thánh hiến”, như các bạn biết, theo nghĩa căn bản, biểu thị sự quy phục trọn vẹn của toàn thể hữu thể trước một đối tượng duy nhất, là Chúa hay Đấng cai quản. Nó có nghĩa là hiến dâng hoàn toàn cho Đấng mà người sùng tín khát vọng hướng tới. Nó có nghĩa là thánh hiến toàn bộ con người tam phân cho công việc đang thực hiện. Vì vậy, nó đòi hỏi việc đem toàn bộ thời gian và bản thân áp dụng vào việc đưa từng thể dưới sự chế ngự của Chân ngã, và làm chủ hoàn toàn từng cõi và từng cõi phụ. Nó bao hàm sự thấu hiểu từng tiến hoá và từng hình thức của sự sống thiêng liêng như được tìm thấy trên các cõi và các cõi phụ ấy, với một mục tiêu được đặt trước mắt và chỉ một mục tiêu—thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh Đoàn Ánh Sáng. Phương pháp được theo là sự áp dụng mãnh liệt nhất vào công việc hoàn thiện các thể và làm cho chúng trở thành những công cụ thích hợp cho sự phụng sự. Có lẽ đây là con đường khó nhất mà một người có thể bước đi. Nó không để bất cứ lĩnh vực nào của đời sống không bị chạm tới. Tất cả đều được đặt dưới định luật. Vì vậy, trong tham thiền, hình thức của bài thiền ấy sẽ là một cấu trúc tam phân:—
a. The laws governing the physical body will be studied and brooded over. This brooding will find expression in a rigid disciplining of the physical body. It will be set apart wholly for service, and subjected consequently to a process that will attune and develop it more quickly.
a. Các định luật cai quản thể xác sẽ được nghiên cứu và suy tư sâu. Sự suy tư này sẽ biểu lộ qua một kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác. Thể xác sẽ được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và do đó được đặt dưới một tiến trình sẽ điều hoà và phát triển nó nhanh hơn.
b. The body of the emotions will be scientifically studied and the laws of water (occultly understood) will be comprehended. The significance of the term, “there shall be no more sea” will be known, and the sea of storm and passion will be superseded by the sea of glass, which directly reflects the higher intuition, and mirrors it with perfect accuracy, being unruffled and immovable. The emotional body will [284] be set apart wholly for service, and its place in the threefold microcosm will be regarded as corresponding to that in the macrocosm, whilst the occult significance of its being the only complete unit in the threefold lower nature will be apprehended, and the fact made use of to effect certain results. Ponder on this.
b. Thể cảm dục sẽ được nghiên cứu một cách khoa học và các định luật của nguyên tố nước (được hiểu theo huyền bí) sẽ được thấu triệt. Thâm nghĩa của cụm từ “sẽ không còn biển nữa” sẽ được biết đến, và biển của bão tố và đam mê sẽ được thay thế bằng biển thuỷ tinh, vốn trực tiếp phản chiếu trực giác cao hơn, và soi gương nó với độ chính xác hoàn hảo, không gợn và bất lay chuyển. Thể cảm dục sẽ [284] được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và vị trí của nó trong tiểu thiên địa tam phân sẽ được xem như tương ứng với vị trí của nó trong đại thiên địa, trong khi thâm nghĩa huyền bí của việc nó là đơn vị hoàn chỉnh duy nhất trong bản chất thấp tam phân sẽ được lĩnh hội, và sự kiện ấy được vận dụng để tạo ra một số kết quả nhất định. Hãy suy ngẫm về điều này.
c. The place of lower mind in the scheme of things will be studied, and the quality of discrimination developed. Discrimination and fire are occultly allied and just as the Logos by fire tries every man’s work of what sort it is, so the microcosm on a lesser scale has to do the same. Just as the Logos likewise does this paramountly in the fifth round of judgment and of separation, so the microcosm on his lesser scale does the same in the last and fifth period of his evolution,—touched upon and described earlier in these letters. Every power of the mind will be utilised to the uttermost for the furtherance of the plans of evolution; first in the man’s own development, then in the special field of work wherein he expresses himself, and lastly in his relationship with other units of the race, as he constitutes himself their guide and servant.
c. Vị trí của hạ trí trong hệ thống sự vật sẽ được nghiên cứu, và phẩm tính phân biện sẽ được phát triển. Phân biện và lửa có liên hệ huyền bí với nhau, và cũng như Thượng đế bằng lửa thử nghiệm công việc của mỗi người xem thuộc loại nào, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng phải làm như vậy. Cũng như Thượng đế cũng làm điều này một cách tối thượng trong cuộc tuần hoàn thứ năm của phán xét và phân ly, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng làm điều tương tự trong giai đoạn cuối cùng và thứ năm của tiến hoá của y,—đã được chạm đến và mô tả trước đó trong các thư này. Mọi năng lực của thể trí sẽ được sử dụng đến mức tối đa để thúc đẩy các kế hoạch tiến hoá; trước hết trong sự phát triển của chính người ấy, rồi trong lĩnh vực công tác đặc thù nơi y tự biểu lộ, và sau cùng trong mối quan hệ của y với các đơn vị khác của nhân loại, khi y tự đặt mình làm người hướng dẫn và người phụng sự của họ.
See you therefore the synthesis of it? First the strenuous one-pointedness that is the sign of the occultist blended with the wisdom and love which are reflected from the higher in the mirror of the emotional body, and then the intellect forced to act as the servant of the Ego through one-pointed effort animated by love and wisdom. The result will be the true Yogi.
Vậy các bạn có thấy sự tổng hợp của điều này không? Trước hết là tính nhất tâm mãnh liệt vốn là dấu hiệu của nhà huyền bí học, được hoà trộn với minh triết và bác ái được phản chiếu từ cõi cao hơn trong tấm gương của thể cảm dục, và rồi trí tuệ bị buộc phải hành động như người phụng sự của Chân ngã qua nỗ lực nhất tâm được sinh động hoá bởi bác ái và minh triết. Kết quả sẽ là vị Yogi chân chính.
I would point out here that the true Yogi is he who, after due carrying out of the set forms and times of meditation, merges that meditation in the everyday living, and will eventually be in the attitude of meditation all the day. [285] Meditation is the means whereby the higher consciousness is contacted. When the contact becomes continuous, meditation, as you understand it, is superseded. In this first method the occult student works from the periphery to the centre, from the objective to the subjective, from the form to the life within the form. Therefore through the emphasis laid in Raja Yoga on the physical body and its wise control the occultist realises the essential importance of the physical, and the uselessness of all his knowledge apart from a physical body whereby he can express himself and serve the race. It is the line of the first ray, and its affiliated or complementary ray.
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng vị Yogi chân chính là người, sau khi thực hiện đúng đắn các hình thức và thời lượng tham thiền đã định, hoà nhập bài thiền ấy vào đời sống hằng ngày, và rốt cuộc sẽ ở trong thái độ tham thiền suốt cả ngày. [285] Tham thiền là phương tiện nhờ đó tâm thức cao hơn được tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc trở nên liên tục, thì tham thiền, theo cách các bạn hiểu, sẽ được thay thế. Trong phương pháp thứ nhất này, đạo sinh huyền bí học làm việc từ chu vi vào trung tâm, từ khách quan đến chủ quan, từ hình tướng đến sự sống bên trong hình tướng. Vì vậy, qua sự nhấn mạnh trong Raja Yoga đối với thể xác và sự kiểm soát khôn ngoan của nó, nhà huyền bí học nhận ra tầm quan trọng thiết yếu của hồng trần, và tính vô ích của mọi tri thức của y nếu không có một thể xác nhờ đó y có thể tự biểu lộ và phụng sự nhân loại. Đây là con đường của Cung một, cùng với cung liên hệ hay cung bổ sung của nó.
Love and Wisdom. This method is the line of least resistance for the sons of men. It is the sub-ray of the synthetic ray of an analogous vibration, of which our solar system is the objective manifestation. But I would seek to point out that the love achieved by the student of meditation who follows this line is not the sentimental conception that is so often discussed. It is not the non-discriminating love that sees no limitation, nor concedes a fault. It is not the love that seeks not to correct and that expresses itself in an ill advised attitude to all who live. It is not the love that sweeps all into service, suitable or unsuitable, and that recognises no difference in point of development. Much that is called love,—if logically followed out—would apparently dispense with the ladder of evolution, and rank all as of equal value. So potentially all are, but in present terms of service all are not.
Bác ái và Minh triết. Phương pháp này là con đường ít trở ngại nhất đối với những người con của nhân loại. Nó là cung phụ của cung tổng hợp có rung động tương tự, mà hệ mặt trời của chúng ta là sự biểu hiện khách quan. Nhưng Tôi muốn tìm cách chỉ ra rằng bác ái mà đạo sinh tham thiền đạt được khi theo con đường này không phải là quan niệm ủy mị vốn thường được bàn luận. Nó không phải là thứ bác ái không phân biện, không thấy giới hạn, cũng không thừa nhận lỗi lầm. Nó không phải là thứ bác ái không tìm cách sửa chữa và tự biểu lộ trong một thái độ thiếu khôn ngoan đối với tất cả những ai đang sống. Nó không phải là thứ bác ái cuốn tất cả vào sự phụng sự, thích hợp hay không thích hợp, và không nhận ra sự khác biệt về điểm tiến hoá. Nhiều điều được gọi là bác ái,—nếu được theo đuổi đến cùng một cách hợp lý—dường như sẽ loại bỏ chiếc thang tiến hoá, và xếp tất cả như có giá trị ngang nhau. Về tiềm năng thì tất cả đều như vậy, nhưng trong những điều kiện hiện tại của sự phụng sự thì không phải tất cả đều như vậy.
True love or wisdom sees with perfect clarity the deficiencies of any form, and bends every effort to aid the indwelling life to liberate itself from trammels. It wisely recognises those that need help, and those that need not its attention. It hears with precision, and sees the thought of the heart and seeks ever to blend into one whole the [286] workers in the field of the world. This it achieves not by blindness, but by discrimination and wisdom, separating contrary vibrations and placing them in position diverse. Too much emphasis has been laid on that called love (interpreted by man, according to his present place in evolution) and not enough has been placed on wisdom, which is love expressing itself in service, such a service that recognises the occult law, the significance of time, and the point achieved.
Bác ái chân chính hay minh triết nhìn thấy với sự rõ ràng hoàn hảo những khiếm khuyết của bất kỳ hình tướng nào, và uốn mọi nỗ lực để trợ giúp sự sống nội tại tự giải phóng khỏi các ràng buộc. Nó khôn ngoan nhận ra những người cần giúp đỡ, và những người không cần sự chú ý của nó. Nó lắng nghe một cách chính xác, và thấy được tư tưởng của trái tim, và luôn tìm cách dung hợp thành một toàn thể những [286] người hoạt động trong cánh đồng thế gian. Nó đạt được điều này không phải bằng sự mù quáng, mà bằng phân biện và minh triết, tách rời những rung động đối nghịch và đặt chúng vào những vị trí khác nhau. Quá nhiều nhấn mạnh đã được đặt vào điều được gọi là bác ái (được con người diễn giải theo vị trí hiện tại của họ trong tiến hoá) và chưa đủ nhấn mạnh được đặt vào minh triết, vốn là bác ái tự biểu lộ trong sự phụng sự, một sự phụng sự nhận ra định luật huyền bí, thâm nghĩa của thời gian, và điểm tiến hoá đã đạt.
This is the line of the second ray and its affiliated and complementary rays. Later it is the all-inclusive one, and the solvent and absorber. It can be followed, being synthetic, on either the Raja Yoga line or the Christian Gnostic line, owing to its synthetic significance.... Later, when the ES disciplines are re-adjusted and expanded, the Christian gnostic discipline will be otherwise named, and it will include all who seek the path of wisdom, e'en when not expressed in terms of Christianity.
Đây là con đường của cung hai và các cung liên hệ và bổ sung của nó. Về sau, nó là con đường bao gồm tất cả, và là tác nhân hoà tan và hấp thụ. Vì mang ý nghĩa tổng hợp, nó có thể được theo đuổi trên con đường Raja Yoga hoặc trên con đường kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc, do ý nghĩa tổng hợp của nó.... Về sau, khi các kỷ luật trong ES được điều chỉnh lại và mở rộng, kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc sẽ được gọi bằng tên khác, và nó sẽ bao gồm tất cả những ai tìm kiếm con đường minh triết, ngay cả khi không được biểu lộ bằng các thuật ngữ của Cơ Đốc giáo.
Intellectual application. Here the order is reversed and the student, being frequently polarised in his mental body has to learn through that mind to understand the other two, to dominate and control, and to utilise to the uttermost the powers inherent in the threefold man. The method here is perhaps not so hard in some ways, but the limitations of the fifth principle have to be transcended before real progress can be made. These limitations are largely crystallisation and that which you call pride. Both have to be broken before the student who progresses through intellectual application can serve his race with love and wisdom as the animating cause.
Áp dụng trí tuệ. Ở đây trật tự bị đảo ngược và đạo sinh, thường phân cực trong thể trí của mình, phải học qua thể trí ấy để thấu hiểu hai thể kia, để thống trị và kiểm soát, và để sử dụng đến mức tối đa các quyền năng vốn có trong con người tam phân. Phương pháp này có lẽ không khó bằng theo một số phương diện, nhưng những giới hạn của nguyên khí thứ năm phải được vượt qua trước khi có thể đạt tiến bộ thực sự. Những giới hạn này phần lớn là sự kết tinh và điều mà các bạn gọi là kiêu hãnh. Cả hai phải bị phá vỡ trước khi đạo sinh tiến bộ qua việc áp dụng trí tuệ có thể phụng sự nhân loại của mình với bác ái và minh triết như nguyên nhân sinh động.
He has to learn the value of the emotions, and in so learning he has to master the effect of fire on water, occultly understood. He has to learn the secret of that plane, which secret (when known) gives him the key to the downpour of illumination from the Triad via the causal and thence to the astral. It holds the key also of the fourth etheric level. This will not as yet be comprehended [287] by you, but the above hint holds for the student much of value.
Y phải học giá trị của cảm xúc, và trong việc học ấy y phải làm chủ tác động của lửa lên nước, được hiểu theo huyền bí. Y phải học bí mật của cõi ấy, bí mật này (khi được biết) trao cho y chìa khoá của sự tuôn đổ soi sáng từ Tam Nguyên Tinh Thần qua thể nguyên nhân và từ đó đến cõi cảm dục. Nó cũng nắm giữ chìa khoá của cấp độ dĩ thái thứ tư. Điều này hiện nay vẫn chưa thể được [287] các bạn thấu hiểu, nhưng gợi ý trên chứa đối với đạo sinh nhiều điều có giá trị.
This is the line of the third ray and of its four subsidiary rays, and is one of great activity, of frequent transference, and of much mental display in the lower worlds.
Đây là con đường của cung ba và bốn cung phụ của nó, và là một con đường có hoạt động mạnh mẽ, có sự chuyển dịch thường xuyên, và có nhiều phô bày trí tuệ trong ba cõi thấp.
Only when the student, who progresses by intellectual application, has learned the secret of the fifth plane, will he live the life of sanctified service, and so blend the three rays. Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains. The next or fifth round will show the greatest exposition of this method. It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now.
Chỉ khi đạo sinh, người tiến bộ nhờ áp dụng trí tuệ, đã học được bí mật của cõi thứ năm, thì y mới sống đời sống phụng sự thánh hiến, và như vậy dung hợp ba cung. Luôn luôn phải đạt được sự tổng hợp, nhưng luôn luôn sắc thái hay âm điệu căn bản vẫn còn. Cuộc tuần hoàn kế tiếp hay thứ năm sẽ cho thấy sự trình bày vĩ đại nhất của phương pháp này. Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối thượng, và sẽ đưa các Chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao hiện nay chưa thể hình dung.
This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary, the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral. I give you food for thought in these correspondences.
Cuộc tuần hoàn này đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp qua bác ái hay minh triết. Đó là cuộc tuần hoàn thứ tư, cuộc tuần hoàn mà cảm dục đạt đến một điểm rung động cao, và có sự liên hệ trực tiếp giữa cõi thứ tư của hoà hợp, giữa thể cảm dục, hay nguyên khí thứ tư, bộ tứ phân, giống dân gốc thứ tư hay Atlantis vốn đã phối hợp cõi cảm dục. Tôi đem đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm trong những tương ứng này.
It is the method of the Pythagorean discipline as taught in the ES.
Đó là phương pháp của kỷ luật Pythagoras như được dạy trong ES.
September 21st, 1920.
Ngày 21 tháng 9, 1920.
Five effects of Meditation in the three worlds.—Năm tác dụng của tham thiền trong ba cõi.
Today we are to take up the five effects in the three bodies in the lower worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down.
Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến năm tác dụng trong ba thể ở các cõi thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã theo đúng tiến trình đã được đặt ra.
These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or [288] spirituality or capacity to serve. What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind. I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation. I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters.
Những tác dụng này không phải là các tác dụng đặc thù trong đời sống như thế gian quan sát thấy, chẳng hạn như bác ái lớn hơn hay [288] tính tinh thần lớn hơn hay năng lực phụng sự. Điều Tôi muốn nêu ra hôm nay là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã làm được một phần công việc cần thiết và đang đạt được phần nào mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ. Tôi không tìm cách làm sáng tỏ tất cả những kết quả nhiều mặt và đa dạng đạt được do việc tuân theo thành công các định luật huyền bí của tham thiền. Ở đây Tôi chỉ đề cập đến một phương diện của vấn đề, và đó là sự chứng nghiệm, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả theo tuyến của đề tài trực tiếp của chúng ta,—tiếp cận các Chân sư.
This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain. This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation. Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness. Some effect this knowledge at earlier stages than others. It is dependent upon the type of body in use and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man. Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical. So many of our most earnest workers in this particular half century are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown. It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent [289] apparent disproving can take away fron him the knowledge that he saw, he contacted, he felt.
Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào việc chứng nghiệm có ý thức về các Chân sư và về một Chân sư cụ thể nào đó bởi đạo sinh trong bộ não hồng trần của y. Sự chứng nghiệm này phần lớn độc lập với vị trí của y trên Con Đường, với sự gần hay xa của y đối với điểm đạo. Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang làm việc với vấn đề này, và thật sự rất gần Chân sư của họ, mà vẫn không thể đưa vào bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ sự gần gũi ấy. Có người đạt được tri thức này ở những giai đoạn sớm hơn người khác. Điều đó tuỳ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng và công việc đã làm trong các kiếp trước, đưa đến một vận cụ hồng trần là một biểu hiện khá đúng của con người bên trong. Thường khi con người có tầm vóc và thành tựu trên các cõi nội tại lớn hơn nhiều so với trên cõi hồng trần. Rất nhiều người hoạt động tận tâm nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ đặc thù này đang trả nghiệp quả xấu qua việc sở hữu những thân thể không thích hợp. Nhờ sự siêng năng, sự áp dụng, nỗ lực cao, và việc theo đuổi lâu dài, kiên nhẫn các quy luật đã được đặt ra, sẽ đến một lúc đạo sinh bỗng nhiên có ý thức—ngay trong bộ não hồng trần—về một số biến cố bất ngờ, một sự soi sáng hay một sự thấy mà trước đó chưa từng biết. Đó là điều gì đó vừa thật đến mức không thể phủ nhận, lại vừa gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, đến nỗi không một lượng nào của những sự [289] bác bỏ bề ngoài về sau có thể lấy khỏi y tri thức rằng y đã thấy, y đã tiếp xúc, y đã cảm nhận.
As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving, each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another. But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data.
Như Tôi thường nói với các bạn, trong công việc này không thể theo bất cứ cách nào làm hơn việc khái quát rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang trong tiến trình tiến hoá, mỗi người theo những cuộc tuần hoàn của các kiếp sống hoàn toàn khác với người khác, tạo nên một trường rộng để lựa chọn, và không có kinh nghiệm nào hoàn toàn giống kinh nghiệm nào. Nhưng có thể nói chung rằng có năm cách (trong số nhiều cách có thể) xảy ra tương đối thường xuyên đến mức khiến chúng ta có lý do để liệt kê chúng. Tất cả đã được gợi ý, nhưng Tôi có thể mở rộng đôi chút những dữ liệu đã được truyền đạt.
Seeing the Master and the self within the cave of the heart. —Thấy Chân sư và bản thân trong hang động của trái tim.
As you know, the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master. This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, [290] with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures.
Như các bạn đã biết, người môn sinh thường xuyên được dạy phải hình dung chính mình và Chân sư — với kích thước chừng một phần tư inch — ở bên trong chu vi của luân xa tim thể dĩ thái. Y được chỉ dẫn rằng, về cuối bài tham thiền của mình, hãy hình dung luân xa tim dĩ thái, và ngay trong đó xây dựng những hình tướng nhỏ bé của Chân sư mà y bị thu hút hướng về, cũng như của chính y. Y tiến hành việc này với sự cẩn trọng thích đáng và công phu tỉ mỉ, với sự trợ giúp của trí tưởng tượng và nỗ lực đầy yêu thương, ngày này qua ngày khác làm việc trên các hình tướng ấy cho đến khi chúng trở nên đối với y hết sức chân thực, và việc xây dựng cũng như tạo hình cho chúng gần như trở thành một phần tự động trong hình thức tham thiền của y. Rồi đến một ngày (thường là khi các điều kiện chiêm tinh thuận lợi và mặt trăng tiến gần đến thời điểm tròn đầy) khi y trở nên ý thức, ngay trong bộ não của mình, rằng những hình tướng ấy không phải là những con rối nhỏ bé như y tưởng, mà rằng y đang ở bên trong hình tướng tượng trưng cho chính y, và rằng y thực sự, đúng nghĩa đen và hoàn toàn chân xác, đang đứng trước Chân sư. Điều này lúc đầu chỉ xảy ra vào những thời điểm hiếm hoi, và tâm thức về sự kiện ấy chỉ được duy trì trong vài giây ngắn ngủi; khi sự tiến bộ được tạo lập, và khi mọi bộ phận trong bản chất của y cũng như trong sự phụng sự của y phát triển, kinh nghiệm ấy sẽ đến với tần suất ngày càng lớn hơn, [290] và sẽ được đánh dấu bằng những khoảng thời gian kéo dài hơn, cho đến khi có một lúc mà người học trò có thể kết nối theo cách này với Chân sư của mình một cách dễ dàng chẳng khác nào trước kia y đã tạo dựng các hình tướng của mình.
Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:—
Chính xác thì điều gì đã xảy ra? Người học trò đã thành công trong việc thực hiện ba điều:—
1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master.
1. Đồng hoá với hình tượng bên trong trái tim, và khát vọng hướng tới Chân sư.
2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as you know, has a counterpart within the head. It is in the linking up of the centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre.
2. Tạo một kênh xác định giữa trung tâm tim (nơi y đang cố gắng tập trung tâm thức) và trung tâm đầu tương ứng của nó. Mỗi một trong bảy trung tâm trong thân thể, như các bạn biết, đều có một đối phần bên trong đầu. Chính trong việc nối kết trung tâm với đối phần của nó trong đầu mà sự soi sáng đến. Điều này,—trong trường hợp đang xét—đã được đạo sinh thực hiện. Y đã nối kết tim với trung tâm đầu của nó.
3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired.
3. Không những y đã thực hiện hai điều trên, mà y còn đã thanh luyện phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu đặc thù ấy đến mức nó có thể đáp ứng với rung động cao hơn cần thiết, và vì vậy ghi nhận một cách chính xác điều đã diễn ra.