Trích nội dung chương
Under him will work six instructors, of whom one at least must be a conscious clairvoyant, and able to assist the Head with his information as to the auric development of the students; he must be able to gauge the colors and expansion of the students' vehicles, and co-operate with the Head in the work of expanding and attuning those vehicles. These instructors must be on the Probationary Path and earnestly devoted to the work of assisting evolution and devoted to the service of some one Master. They must and will be carefully chosen so as to supplement and complement each other, and in the school will form a miniature hierarchy, showing on…
Under him will work six instructors, of whom one at least must be a conscious clairvoyant, and able to assist the Head with his information as to the auric development of the students; he must be able to gauge the colors and expansion of the students' vehicles, and co-operate with the Head in the work of expanding and attuning those vehicles. These instructors must be on the Probationary Path and earnestly devoted to the work of assisting evolution and devoted to the service of some one Master. They must and will be carefully chosen so as to supplement and complement each other, and in the school will form a miniature hierarchy, showing on the physical plane a tiny replica of the occult prototype. As their work will be largely to develop the lower mind of the pupil and to link it up with the higher consciousness, and as the focal point of their endeavor will be the rapid building-in the causal body, they will be men of erudition, and of knowledge, grounded in the knowledge of the Hall of Learning, and able to teach and to compete with the trained teachers of the world universities. [Page 316]
Dưới quyền y sẽ có sáu giảng viên, trong đó ít nhất một người phải có khả năng thông nhãn hữu thức và có thể trợ giúp người đứng đầu bằng thông tin về sự phát triển hào quang của các đạo sinh; người ấy phải có khả năng đánh giá màu sắc và sự mở rộng các hiện thể của đạo sinh, đồng thời hợp tác với người đứng đầu trong việc mở rộng và điều hòa những hiện thể ấy. Các giảng viên này phải ở trên Con Đường Dự Bị, chân thành tận tụy với công việc hỗ trợ tiến hoá và tận tâm phụng sự một Chân sư nào đó. Họ phải và sẽ được lựa chọn cẩn thận để bổ sung và bù đắp cho nhau; trong trường, họ sẽ hình thành một hệ thống thứ bậc thu nhỏ, biểu hiện trên cõi hồng trần một bản sao nhỏ bé của nguyên mẫu huyền bí. Vì công việc của họ chủ yếu là phát triển hạ trí của học viên và liên kết nó với tâm thức cao hơn, và vì trọng tâm nỗ lực của họ sẽ là nhanh chóng xây dựng thể nguyên nhân, họ sẽ là những người uyên bác và có tri thức, vững vàng trong tri thức của Phòng Học Tập, có khả năng giảng dạy và sánh ngang với các giảng viên đã được đào tạo tại những trường đại học trên thế giới. [Page 316]
In every college the work of these trained seven men will be aided by that of three women chosen for their capacity to teach, for their intuitive development and for the spiritual and devotional touch they will bring to the lives of the students. To these ten teachers will be entrusted the work of grounding the students in the important essentials, in superintending the acquirement of the rudiments of occult lore and science, and their development in the higher psychism. These ten must be profound students of meditation, and able to superintend and teach the pupils the rudiment of occult meditation, as taught, for instance, in this book. Occult facts will be imparted to these pupils by them and the basic laws that—in the advanced school—will be the subject of definite practice by the would-be initiate. Exercises in telepathy, causal communication, reminiscence of work undertaken during the hours of sleep, and the recovering of the memory of past lives, through certain mental processes, will be taught by them,—themselves proficient in these arts.
Trong mỗi trường đại học, công việc của bảy người nam đã được huấn luyện này sẽ có sự hỗ trợ của ba người nữ được lựa chọn vì khả năng giảng dạy, sự phát triển trực giác và ảnh hưởng tinh thần cùng lòng sùng tín mà họ sẽ mang đến cho đời sống của các đạo sinh. Mười giảng viên này sẽ được giao nhiệm vụ giúp đạo sinh nắm vững những điều cốt yếu quan trọng, giám sát việc tiếp thu những kiến thức sơ đẳng về tri thức và khoa học huyền bí, cùng sự phát triển các năng lực thông linh cao cấp của họ. Mười người này phải là những đạo sinh nghiên cứu sâu về tham thiền, có khả năng giám sát và dạy học viên những kiến thức sơ đẳng về tham thiền huyền bí, chẳng hạn như được dạy trong sách này. Họ sẽ truyền đạt cho học viên những sự kiện huyền bí và các định luật căn bản mà, trong trường cao cấp, người mong trở thành điểm đạo đồ sẽ thực hành cụ thể. Họ sẽ dạy những bài tập về viễn cảm, giao tiếp nguyên nhân, hồi tưởng công việc đã thực hiện trong những giờ ngủ và khôi phục ký ức về các kiếp trước qua một số tiến trình trí tuệ,—bản thân họ đã thành thạo những kỹ năng này.
As you will see here, all these teachers will be devoted to the definite training and inner development of the threefold man.
Như các bạn thấy ở đây, tất cả những giảng viên này sẽ tận tâm với việc huấn luyện cụ thể và phát triển nội tâm của con người tam phân.
Under these will work various other teachers, who will superintend other departments of the pupils' lives. Exoteric science will be taught and practiced by proficient teachers, and the lower mind will be developed as much as possible, and kept in check by the other ten teachers who watch over the proportional development, and the aptitude for correct meditation of the student.
Dưới quyền họ sẽ có nhiều giảng viên khác, giám sát các lĩnh vực khác trong đời sống học viên. Những giảng viên thành thạo sẽ giảng dạy và hướng dẫn thực hành khoa học ngoại môn; hạ trí sẽ được phát triển tối đa và được mười giảng viên kia giữ trong sự kiểm soát, những người theo dõi sự phát triển cân đối và khả năng tham thiền đúng đắn của đạo sinh.
Along with all this will be the life of world-service, rigidly demanded of each and every pupil. This life of service will be carefully watched and recorded. One thing to be noted here is that in this there will be no compulsion. The pupil will know what is expected of him and what he [Page 317] must do if he is to pass on to the more advanced schools, and the school's charts (recording the condition of his vehicles, and his progress and his capacity to serve) will all be available for his personal inspection, though to no one else. He will know clearly where he stands, what he must do and what remains to be done, and it rests then with him to aid the work by the closest co-operation. A certain amount of care will be taken in the admittance of pupils to the school, and this will obviate the necessity of later removal for inability or lack of interest, but this I will deal with later, when taking up the grades and classes.
Đi cùng tất cả những điều này sẽ là đời sống phụng sự thế gian, một yêu cầu nghiêm ngặt đối với từng học viên. Đời sống phụng sự này sẽ được theo dõi và ghi chép cẩn thận. Một điều cần lưu ý ở đây là sẽ không có sự ép buộc. Học viên sẽ biết người ta mong đợi điều gì ở y và y [Page 317] phải làm gì nếu muốn tiến vào các trường cao cấp hơn; mọi biểu đồ của trường (ghi lại tình trạng các hiện thể của y, sự tiến bộ và khả năng phụng sự của y) đều sẽ để y tự xem xét, nhưng không cho bất kỳ ai khác. Y sẽ biết rõ mình đang ở đâu, phải làm gì và còn những gì cần làm; khi ấy, chính y có trách nhiệm hỗ trợ công việc bằng sự hợp tác chặt chẽ nhất. Việc tiếp nhận học viên vào trường sẽ được tiến hành thận trọng ở mức nhất định, và điều này sẽ tránh được nhu cầu về sau phải cho thôi học vì thiếu khả năng hay thiếu quan tâm; nhưng Tôi sẽ bàn điều này sau, khi xem xét các cấp và lớp.
You have, therefore, ten superintending teachers, composed of seven men and three women, including a Head who is an accepted disciple. Under them will work a set of instructors who will deal largely with the lower mind and in the emotional, physical and mental equipping of the pupil, and his passing into the advanced school in a condition to profit by the instructions there to be imparted. Here I would point out that I have planned out the ideal, and pictured for you the school as it is hoped it will eventually be. But as in all occult development, the beginning will be small and of little apparent importance. Tomorrow we will take up the rules governing the admission of students and the personnel of the more advanced school.
Vì vậy, các bạn có mười giảng viên giám sát, gồm bảy người nam và ba người nữ, trong đó có một người đứng đầu là đệ tử được chấp nhận. Dưới quyền họ sẽ có một nhóm giảng viên chủ yếu phụ trách hạ trí, trang bị cho học viên về mặt cảm xúc, hồng trần và trí tuệ, để y chuyển sang trường cao cấp trong tình trạng có thể hưởng lợi từ những giáo huấn sẽ được truyền đạt ở đó. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đã phác định lý tưởng và mô tả cho các bạn ngôi trường như hy vọng cuối cùng nó sẽ trở thành. Nhưng cũng như trong mọi sự phát triển huyền bí, bước khởi đầu sẽ nhỏ bé và bề ngoài ít có vẻ quan trọng. Ngày mai, chúng ta sẽ xem xét các quy luật chi phối việc tiếp nhận đạo sinh và nhân sự của trường cao cấp hơn.
OCTOBER 16TH, 1920.
NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 1920.
......Today we will take up:—
......Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét:—
The personnel of the advanced school, and the rules of admission to both the preparatory and advanced. This latter part will be largely technical.
Nhân sự của trường cao cấp và các quy luật tiếp nhận vào cả trường dự bị lẫn trường cao cấp. Phần sau này chủ yếu sẽ mang tính kỹ thuật.
The first point I seek to make here is that these advanced schools will be numerically small, and this for a very long time to come, and the personnel will be correspondingly [Page 318] small....At the head of the school will always be found an Initiate of the first or second degree, the aim of the school being to prepare pupils for the first initiation. This necessarily requires an Initiate head. This Initiate head will be definitely appointed by the Master Who has the school in charge, and he will be—within the confines of the school—sole judge and autocrat. The risks of occult training are too great to permit of trifling, and what the Head demands must be obeyed. But this obedience will not be compulsory but voluntary, for each pupil will realize the necessity and will render obedience from spiritual recognition. As aforesaid, these different occult schools will be practically ray schools, and will have for their personnel teachers on some one ray or its complementary ray, with pupils on the same ray or complementary ray. For instance, if the school is a second ray school—such as the one in Ireland is purposed to be—teachers and pupils on the second, fourth and sixth rays will be found in it. At least one fifth ray teacher will be found in every school of occultism. If a first ray school, the personnel and pupils will be first, third and seventh ray, with again a fifth ray teacher among the others.
Điểm đầu tiên Tôi muốn nêu ở đây là các trường cao cấp này sẽ ít về số lượng, và sẽ như vậy trong một thời gian rất dài sắp tới; nhân sự cũng sẽ tương ứng [Page 318] ít....Đứng đầu trường luôn sẽ là một Điểm đạo đồ bậc một hoặc bậc hai, vì mục tiêu của trường là chuẩn bị học viên cho lần điểm đạo thứ nhất. Điều này tất nhiên đòi hỏi người đứng đầu phải là một Điểm đạo đồ. Chân sư phụ trách trường sẽ đích thân bổ nhiệm vị Điểm đạo đồ đứng đầu này, và trong phạm vi trường, y sẽ là người duy nhất có quyền phán quyết và toàn quyền quyết định. Những nguy cơ của việc huấn luyện huyền bí quá lớn, không cho phép sự xem nhẹ, và những gì người đứng đầu yêu cầu đều phải được tuân theo. Nhưng sự tuân phục này sẽ không do ép buộc mà là tự nguyện, vì mỗi học viên sẽ nhận ra sự cần thiết và tuân phục từ sự nhận biết tinh thần. Như đã nói, các trường huyền bí khác nhau này trên thực tế sẽ là những trường theo cung, với đội ngũ giảng viên thuộc một cung nào đó hoặc cung bổ sung của nó, cùng các học viên thuộc cùng cung hoặc cung bổ sung. Chẳng hạn, nếu trường thuộc cung hai—như dự định đối với trường ở Ireland—thì trong trường sẽ có giảng viên và học viên thuộc cung hai, cung bốn và cung sáu. Mỗi trường huyền bí học sẽ có ít nhất một giảng viên cung năm. Nếu là trường cung một, nhân sự và học viên sẽ thuộc cung một, cung ba và cung bảy, và cũng có một giảng viên cung năm trong số họ.
Under the initiate Head will be two other teachers who will be accepted disciples, and every pupil under them must have passed through the preparatory school, and graduated from all the lower grades. Probably these three will comprise the entire teaching staff, for the pupils under them will he relatively few in number and the work of the teachers is supervisory more than didactic, for the occultist is always esoterically self-taught.
Dưới quyền người đứng đầu là điểm đạo đồ sẽ có hai giảng viên khác, là những đệ tử được chấp nhận; mọi học viên dưới quyền họ phải từng học ở trường dự bị và tốt nghiệp tất cả các cấp thấp hơn. Có lẽ ba người này sẽ tạo thành toàn bộ đội ngũ giảng dạy, vì số học viên dưới quyền họ sẽ tương đối ít, và công việc của giảng viên thiên về giám sát hơn là truyền dạy, vì nhà huyền bí học luôn tự học về mặt nội môn.
Much of the work done by these three will he on the inner planes, and they will work more in the seclusion of their own rooms than in class room with the students [Page 319] themselves. The pupils are—it will be presumed—ready to work for themselves and to find the way to the portal of initiation alone. The work of the teachers will be advisory, and they will be available to answer questions and to superintend work initiated by the pupil himself, and not compelled by the teacher. Stimulating vibration, aligning the bodies, superintending the work on inner planes, and the pouring in of force with the shielding from danger by occult methods, will be the work, in part, of the Teachers, added to the supervision of definite and strenuous meditation. At intervals they will conduct the pupils to the Master, advise as to their passing into the different grades of discipleship, report at intervals on the quality of their life service and assist them in building their buddhic vehicle, which has to be in an embryonic condition when the First initiation is taken. The teachers likewise superintend the working out in practice of the theories anent the other evolution, the deva evolution, laid down in the preparatory schools; they watch over the manipulation of matter by the pupil and his demonstration of the laws of construction; they safeguard him as far as may be in his contact with sub-human and super-human evolutions, and teach him to wield the law and to transcend karma. They enable him, through their instructions, to recover the knowledge of past lives and to read the akashic records, but as you will see, the pupil is the one in this school who initiates and does the work, superintended and guarded by the teachers, and his progress and the length of his residence within the school depend upon his own effort and initiatory powers.
Phần lớn công việc của ba người này sẽ diễn ra trên các cõi bên trong, và họ sẽ làm việc trong sự biệt lập tại phòng riêng nhiều hơn là trong lớp học với chính các đạo sinh [Page 319]. Có thể giả định rằng các học viên đã sẵn sàng tự làm việc và tự tìm đường đến cổng điểm đạo. Công việc của giảng viên sẽ mang tính cố vấn; họ sẽ sẵn sàng trả lời câu hỏi và giám sát công việc do chính học viên khởi xướng, chứ không phải do giảng viên ép buộc. Kích thích rung động, chỉnh hợp các thể của học viên, giám sát công việc trên các cõi bên trong, tuôn đổ mãnh lực và che chở khỏi nguy hiểm bằng những phương pháp huyền bí sẽ là một phần công việc của các Huấn sư, bên cạnh việc giám sát sự tham thiền cụ thể và chuyên cần. Vào những thời điểm nhất định, họ sẽ dẫn học viên đến Chân sư, đưa ra lời khuyên về việc tiến vào các cấp khác nhau của địa vị đệ tử, định kỳ báo cáo về phẩm tính đời sống phụng sự của học viên và hỗ trợ họ xây dựng hiện thể Bồ đề, vốn phải ở trạng thái phôi thai khi nhận lần điểm đạo thứ nhất. Các giảng viên cũng giám sát việc thực hành những lý thuyết về dòng tiến hoá khác, dòng tiến hoá thiên thần, đã được trình bày trong các trường dự bị; họ theo dõi việc học viên vận dụng vật chất và thể hiện các định luật kiến tạo; họ bảo vệ y hết mức có thể khi y tiếp xúc với các dòng tiến hoá dưới nhân loại và siêu nhân loại, đồng thời dạy y vận dụng định luật và vượt qua nghiệp quả. Qua những chỉ dẫn của mình, họ giúp y khôi phục tri thức về các kiếp trước và đọc ký ảnh akasha; nhưng như các bạn thấy, trong trường này chính học viên là người khởi xướng và thực hiện công việc, dưới sự giám sát và bảo vệ của các giảng viên; sự tiến bộ và thời gian y lưu lại trường tùy thuộc vào nỗ lực cùng năng lực khởi xướng của chính y.
The rules of admission into the preparatory school will be somewhat as follows, but I only indicate probabilities and not ascertained and fixed facts:— [Page 320]
Các quy luật tiếp nhận vào trường dự bị sẽ phần nào như sau, nhưng Tôi chỉ nêu những khả năng, chứ không phải các sự kiện đã được xác định và cố định:— [Page 320]
1. The pupil must be free from obligatory karma and able to take the course without neglecting his other duties and family ties.
1. Học viên phải không còn những nghĩa vụ nghiệp quả ràng buộc và có khả năng theo học mà không sao nhãng các bổn phận khác cùng những mối ràng buộc gia đình.
2. There will be no fees or money charged, and no money transaction. The pupil must be somewhat self-supporting and able to earn the means of livelihood whilst in the school. The schools in both their divisions will be supported through the voluntary contributions of people, and through a knowledge of the laws of supply and demand occultly interpreted.
2. Sẽ không thu học phí hay tiền bạc, và không có giao dịch tiền bạc. Học viên phải có khả năng tự túc phần nào và kiếm được phương tiện sinh sống trong thời gian ở trường. Cả hai cấp trường sẽ được duy trì nhờ những đóng góp tự nguyện của mọi người và nhờ tri thức về các định luật cung cầu được diễn giải theo nghĩa huyền bí.
3. The pupil must be able to measure up to the average educational standards of his day and generation and must show aptitude for some line of thought.
3. Học viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn giáo dục trung bình của thời đại và thế hệ mình, đồng thời thể hiện năng khiếu đối với một lĩnh vực tư tưởng nào đó.
4. He must be seen clairvoyantly to have a certain amount of co-ordination and alignment and the causal body must be of a certain grade or quality before he is admitted. Teachers of occultism waste not time on those not ready. Only when the inner light shines forth, only when the causal body is of a certain capacity can the pupil profit by the curriculum. Therefore, with the Head of the school will the final verdict lie as to whether a pupil may enter or not. That word will be final, and will be passed after due inspection of the pupil by the Head of the school through clairvoyant and causal vision, and after reference to the man's own Master.
4. Trước khi được tiếp nhận, sự quan sát bằng thông nhãn phải cho thấy y có một mức độ phối hợp và chỉnh hợp nhất định, và thể nguyên nhân phải đạt một cấp độ hay phẩm tính nhất định. Các Huấn sư huyền bí học không phí thời gian cho những người chưa sẵn sàng. Chỉ khi ánh sáng bên trong tỏa chiếu, chỉ khi thể nguyên nhân có một khả năng nhất định, học viên mới có thể hưởng lợi từ chương trình học. Vì vậy, phán quyết cuối cùng về việc một học viên có được nhập học hay không sẽ thuộc về người đứng đầu trường. Quyết định ấy sẽ là tối hậu, được đưa ra sau khi người đứng đầu trường xem xét học viên kỹ lưỡng bằng thông nhãn và linh thị nguyên nhân, rồi tham khảo Chân sư của chính người ấy.
5. He must have demonstrated, by a previous period of service, his ability to work in group formation and to think in terms of others. [Page 321]
5. Qua một thời kỳ phụng sự trước đó, y phải chứng tỏ khả năng làm việc trong đội hình nhóm và suy nghĩ cho người khác. [Page 321]
6. His past incarnations must he somewhat looked up, and the indications given through their study will guide the Head in his final decision.
6. Cần khảo sát phần nào các kiếp trước của y, và những dấu hiệu thu được từ việc nghiên cứu ấy sẽ hướng dẫn người đứng đầu trong quyết định cuối cùng.
7. The pupil must he over twenty-one and under forty-two years of age.
7. Học viên phải trên hai mươi mốt và dưới bốn mươi hai tuổi.
8. His etheric body must be in good condition and be a good transmitter of prana, and there must be no physical disease or handicapping physical deformity.
8. Thể dĩ thái của y phải ở tình trạng tốt và truyền dẫn prana tốt; y phải không có bệnh tật hồng trần hay dị dạng thân thể gây trở ngại.
These are the fundamental rules which it is at present possible to give. There will be others and the problem of selection may pass through some vicissitudes in solving.
Đây là những quy luật căn bản hiện có thể đưa ra. Sẽ còn những quy luật khác, và việc giải quyết vấn đề tuyển chọn có thể trải qua một số biến động.
The rules for admission into the advanced school are far more esoteric and fewer in number. The pupils will be chosen from out of the preparatory school, after having passed through the graded courses. But selection will depend not on the mental development and the assimilation of concrete knowledge, but upon the inner comprehension and the occult understanding of the student, upon the quality of the tone of his life as it sounds forth in the inner world, upon the brilliance of the indwelling light, and upon his power in service.
Các quy luật tiếp nhận vào trường cao cấp mang tính nội môn sâu xa hơn nhiều và ít hơn về số lượng. Các học viên sẽ được chọn từ trường dự bị sau khi hoàn tất những khóa học phân cấp. Nhưng việc tuyển chọn sẽ không tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ và việc tiếp thu tri thức cụ thể, mà tùy thuộc vào sự lĩnh hội nội tâm và thấu hiểu huyền bí của đạo sinh, vào phẩm tính âm điệu đời sống của y khi vang lên trong thế giới bên trong, vào độ rực rỡ của ánh sáng nội tại và vào quyền năng phụng sự của y.
This suffices for today; tomorrow we will deal with the final division of this third point, the buildings of the school.
Hôm nay như thế là đủ; ngày mai, chúng ta sẽ bàn phần cuối của điểm thứ ba này, các công trình của trường.
OCTOBER 17TH, 1920.
NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 1920.
In dealing today with the subject of the buildings of the two types of occult schools, little can be said and only a general outline can be given. Climatic conditions and the desired size of the schools will greatly vary and the consequent plant will vary likewise......
Hôm nay, khi bàn về các công trình của hai loại trường huyền bí, chỉ có thể nói đôi chút và đưa ra một phác thảo tổng quát. Điều kiện khí hậu và quy mô mong muốn của các trường sẽ rất khác nhau, nên cơ sở vật chất tương ứng cũng sẽ khác nhau......
The buildings for the preparatory school will differ not so much from those of an ordinary college in the exoteric [Page 322] world. One rule only will be laid down—each student must of necessity have his own separated chamber. The type of building matters not, provided these conditions are fulfilled. Each room must be non-communicating, save with the central corridor, and must be in three divisions, necessarily small yet distinct. One division will be given up to the student's life and study; another to the bath and the third will be the place for meditation containing the pictures of the Great Ones duly curtained. This third division is kept for the sole purpose of meditation and will contain little save the mat on which the student sits, a couch on which he will repose his physical vehicle during certain stated exercises and a small stool in front of the Master's pictures, on which will be found the incensor and a vase for floral tributes.
Các công trình của trường dự bị sẽ không khác lắm những công trình của một trường đại học thông thường trong thế giới ngoại môn [Page 322]. Chỉ một quy luật sẽ được đề ra—mỗi đạo sinh nhất thiết phải có phòng riêng biệt. Kiểu công trình không quan trọng, miễn đáp ứng những điều kiện này. Mỗi phòng không được thông với phòng khác, mà chỉ thông ra hành lang trung tâm, và phải chia thành ba khu vực, tuy nhỏ nhưng riêng biệt. Một khu vực dành cho sinh hoạt và học tập của đạo sinh; khu vực khác dành để tắm, và khu vực thứ ba là nơi tham thiền, có những bức chân dung của Các Đấng Cao Cả được che rèm đúng cách. Khu vực thứ ba này chỉ dành riêng cho tham thiền và hầu như không có gì ngoài tấm thảm để đạo sinh ngồi, một chiếc trường kỷ để y đặt hiện thể hồng trần nằm nghỉ trong một số bài tập được quy định, cùng một chiếc đôn nhỏ trước các bức chân dung của Chân sư, trên đó đặt lư hương và bình hoa dâng cúng.
The resident teachers will reside with the students, the women taking charge of the women students, and the men residing with the male students. The Head of the school will reside alone in a detached house which will contain—besides the rooms in which he will live his private life—a reception room of small proportions for his work with individuals, and a larger room for joint concourses, besides a shrine room for the meeting of the united body of pupils.
Các giảng viên nội trú sẽ sống cùng đạo sinh; những người nữ phụ trách nữ đạo sinh, còn những người nam sống cùng nam đạo sinh. Người đứng đầu trường sẽ sống một mình trong một ngôi nhà riêng biệt; ngoài các phòng dành cho đời sống riêng, nhà này sẽ có một phòng tiếp khách nhỏ để làm việc với từng cá nhân, một phòng lớn hơn dành cho các cuộc hội họp chung, cùng một phòng thờ để toàn thể học viên cùng tụ họp.
The buildings for the advanced schools, even though they concern us not intimately as yet, provide in their construction much of occult significance for those who have eyes to see. The main feature in the occult advanced school will be the central temple of circular shape providing for each of the pupils (and you must remember that numerically they will not be large), a private shrine entered from the rear by a closed door and having a curtain between it and the large central shrine where the group meetings will be held. [Page 323]
Dù các công trình của trường cao cấp chưa liên quan mật thiết đến chúng ta, kiến trúc của chúng vẫn chứa nhiều thâm nghĩa huyền bí đối với những ai có mắt để thấy. Đặc điểm chính của trường huyền bí cao cấp sẽ là ngôi đền trung tâm hình tròn, dành cho mỗi học viên (và các bạn phải nhớ rằng số lượng họ sẽ không lớn) một gian thờ riêng, đi vào từ phía sau qua một cửa đóng, và có rèm ngăn cách với gian thờ trung tâm lớn, nơi sẽ diễn ra các cuộc họp nhóm. [Page 323]
This large central shrine will have a pavement whereon will be traced the triangle, and within the triangle the group will sit, the three spaces outside the triangle having tables whereon will be found various symbols and a few of the fundamental books on symbols and some large parchments whereon the cosmic symbols will be portrayed.
Gian thờ trung tâm lớn này sẽ có nền lát, trên đó vẽ hình tam giác; nhóm sẽ ngồi bên trong tam giác, còn ba khoảng bên ngoài tam giác sẽ đặt những chiếc bàn có các biểu tượng khác nhau, một vài sách căn bản về biểu tượng và một số tấm da lớn vẽ các biểu tượng vũ trụ.
The color of this shrine will be dependent on the ray which it represents. The curtains which separate will be in the ray color also and each individual shrine curtain will carry the sign of the pupil's nativity—his sign, rising sign, and controlling planets. These curtains will be the [Page 324] property of the pupil, as will the mat within the shrine which will carry the symbol of his ray, egoic and personality.
Màu sắc của gian thờ này sẽ tùy thuộc vào cung mà nó đại diện. Những tấm rèm ngăn cách cũng sẽ mang màu của cung ấy, và rèm của mỗi gian thờ riêng sẽ mang dấu hiệu bản mệnh của học viên—dấu hiệu của y, dấu hiệu mọc và các hành tinh chi phối. Những tấm rèm này sẽ là [Page 324] tài sản của học viên, cũng như tấm thảm trong gian thờ, trên đó có biểu tượng cung chân ngã và cung phàm ngã của y.
On the wall of the great circular passage will be found the signs of the zodiac, the four entrances standing for the four Maharajas.
Trên tường của hành lang lớn hình tròn sẽ có các dấu hiệu hoàng đạo; bốn lối vào tượng trưng cho bốn vị Maharaja.
A square wall will surround the whole, enclosing a garden which will be the care of the pupils themselves. There will be but one entrance through this wall on the north side. Outside will lie small building's to house not more than three pupils, and a house wherein will reside the three instructors. The Initiate Head will likewise have his private residence distinguished by a domed tower at one side. This domed tower serves two purposes:—It is the place for astronomical and astrological instruction and will have the latest appliances of science for the study of the planets and of microcosmic life, and will also serve as a secure shelter for those pupils who can consciously leave their physical bodies and function elsewhere on the physical plane.
Một bức tường hình vuông sẽ bao quanh toàn bộ, bao lấy khu vườn do chính các học viên chăm sóc. Chỉ có một lối vào xuyên qua bức tường này ở phía bắc. Bên ngoài sẽ có những ngôi nhà nhỏ, mỗi nhà dành cho không quá ba học viên, và một ngôi nhà cho ba giảng viên cư trú. Người đứng đầu là Điểm đạo đồ cũng sẽ có nơi ở riêng, nổi bật với một tháp mái vòm ở một bên. Tháp mái vòm này có hai mục đích:—Đây là nơi giảng dạy thiên văn học và chiêm tinh học, có những thiết bị khoa học mới nhất để nghiên cứu các hành tinh và sự sống tiểu thiên địa; đồng thời cũng là nơi trú ẩn an toàn cho những học viên có thể rời thể xác một cách hữu thức và hoạt động ở nơi khác trên cõi hồng trần.
This is all I can give as yet. Record, watch and await the hour when the ideal will materialize.
Đây là tất cả những gì Tôi có thể đưa ra lúc này. Hãy ghi lại, quan sát và chờ đợi giờ phút lý tưởng sẽ hiện hình.
OCTOBER 29TH, 1920.
NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 1920.
Our fourth point comes up for consideration today, and in its discussion I will give you somewhat concerning the preparatory occult school but little concerning the advanced. This fourth point is one anent the grades and classes.
Hôm nay, chúng ta xem xét điểm thứ tư; trong khi bàn về nó, Tôi sẽ cung cấp cho các bạn đôi điều về trường huyền bí dự bị, nhưng rất ít về trường cao cấp. Điểm thứ tư này liên quan đến các cấp và lớp.
4 - The Grades and Classes. – 4 - Các Cấp và Lớp.
We have, in an earlier letter, touched upon the curriculum of the preparatory schools and have seen that that curriculum deals much with the development of lower [Page 325] mind, with the laying of the foundations upon which to build the later work, and with the formulation, the study, and the memorizing of the theories and occult laws upon which the true occultist will later base his practical work. We saw also that much that was taught was necessarily closely allied with the exoteric teaching of the world, and necessitated the school being in close touch with the centers of modern thought. Today I seek to point out certain things that will be seen in the scheme of the student's work and to show the method whereby he is gradually led on until he is fit to pass on into the more advanced college. We will as usual divide our subject into three heads:—
Trong một bức thư trước, chúng ta đã đề cập đến chương trình học của các trường dự bị và thấy rằng chương trình ấy chú trọng nhiều đến sự phát triển hạ [Page 325] trí, việc đặt nền móng để xây dựng công việc về sau, và việc xây dựng, nghiên cứu, ghi nhớ những lý thuyết cùng các định luật huyền bí mà nhà huyền bí học đích thực sau này sẽ lấy làm cơ sở cho công việc thực hành. Chúng ta cũng thấy rằng phần lớn những điều được giảng dạy tất nhiên có liên hệ mật thiết với giáo dục ngoại môn của thế giới, và đòi hỏi trường phải giữ sự tiếp xúc chặt chẽ với các trung tâm tư tưởng hiện đại. Hôm nay, Tôi muốn chỉ ra một số điều sẽ có trong kế hoạch làm việc của đạo sinh và trình bày phương pháp dẫn dắt y dần dần cho đến khi đủ khả năng chuyển sang trường đại học cao cấp hơn. Như thường lệ, chúng ta sẽ chia đề tài thành ba mục:—
a. The times of study.
a. Các thời gian học tập.
b. The types of work.
b. Các loại công việc.
c. The transformation of potential faculty into active powers through practice.
c. Sự chuyển đổi năng lực tiềm tàng thành quyền năng hoạt động qua thực hành.
a. The times of study. – a. Các thời gian học tập.
All the work of the school will be based upon an occult knowledge of times and seasons, and two things will be carefully adhered to:—l. The school year will be divided into two halves, one half wherein the pupils are strenuously acquiring knowledge, that period being that in which the sun moves northward or the earlier half of the year, and a second half—separated from the earlier by an interval of six weeks—wherein he assimilates and puts into practice that which earlier was imparted. During the earlier months of the year he goes through a drastic system of reception, of learning, of hard study, of accumulation of facts and of concrete knowledge. He attends lectures, he wades through many books, he studies in the laboratory, and with the aid of the microscope and of the [Page 326] telescope he widens the range of his vision, and builds into his mental body a vast store of scientific data.
Toàn bộ công việc của trường sẽ dựa trên tri thức huyền bí về thời gian và mùa, và hai điều sẽ được tuân thủ cẩn thận:—1. Năm học sẽ chia thành hai nửa: một nửa, trong đó học viên chuyên cần thu nhận tri thức, là thời kỳ Mặt Trời di chuyển về phía bắc, tức nửa đầu năm; và nửa thứ hai—cách nửa đầu một khoảng sáu tuần—trong đó y đồng hóa và thực hành những gì đã được truyền đạt trước đó. Trong những tháng đầu năm, y trải qua một hệ thống nghiêm ngặt gồm tiếp nhận, học hỏi, học tập chuyên cần, tích lũy dữ kiện và tri thức cụ thể. Y dự các buổi thuyết giảng, miệt mài đọc nhiều sách, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, và với sự hỗ trợ của kính hiển vi cùng [Page 326] kính thiên văn, y mở rộng phạm vi tầm nhìn và xây dựng trong thể trí một kho dữ liệu khoa học rộng lớn.
During the six weeks' vacation he is recommended to rest entirely from all mental effort save that associated with the practice of the imparted occult meditation. He mentally follows the cycle and goes into pralaya temporarily. At the end of six weeks he returns to his work with the object in view of systematizing the mass of information, of perfecting his comprehension of the facts earlier studied, of practicing that part of the occult lore permissible, with the object in view of becoming proficient and to discover his weak points. He writes during the “dark period” of the year the themes and essays, the books and pamphlets that will embody the product of the assimilated information. The best of these books will be published yearly by the college, for the use of the public. In this way he serves his time and generation and educates the race in the higher knowledge. 2. In exactly the same way his studies each month will be so arranged that the harder part (dealing with the higher mind) will be undertaken during the part of the month which is called the bright half, whilst the work of the dark half will be more given over to the things concerning lower mind and to an effort to hold the gain of the earlier weeks. Each day will be likewise divided into set times, the earlier hours being those in which the more abstract and occult data will be given, the latter part of the day being given over to a more practical type of work.
Trong kỳ nghỉ sáu tuần, y được khuyên hoàn toàn nghỉ mọi nỗ lực trí tuệ, trừ những nỗ lực liên quan đến việc thực hành tham thiền huyền bí đã được truyền dạy. Về mặt trí tuệ, y đi theo chu kỳ và tạm thời bước vào Giai kỳ qui nguyên. Sau sáu tuần, y trở lại công việc với mục tiêu hệ thống hóa khối thông tin, hoàn thiện sự lĩnh hội những dữ kiện đã nghiên cứu, thực hành phần tri thức huyền bí được phép, nhằm trở nên thành thạo và khám phá những điểm yếu của mình. Trong “thời kỳ tối” của năm, y viết những bài luận, tiểu luận, sách và tập sách nhỏ thể hiện thành quả của thông tin đã được đồng hóa. Những sách hay nhất sẽ được trường xuất bản hằng năm cho công chúng sử dụng. Bằng cách này, y phụng sự thời đại và thế hệ mình, đồng thời giáo dục nhân loại về tri thức cao hơn. 2. Cũng theo cách ấy, việc học mỗi tháng sẽ được sắp xếp sao cho phần khó hơn (liên quan đến thượng trí) diễn ra trong phần của tháng gọi là nửa sáng, trong khi công việc của nửa tối sẽ dành nhiều hơn cho những điều liên quan đến hạ trí và nỗ lực duy trì thành quả của các tuần trước. Mỗi ngày cũng sẽ chia thành các thời gian cố định: những giờ đầu dành cho việc truyền đạt dữ liệu trừu tượng và huyền bí hơn, còn phần sau của ngày dành cho công việc mang tính thực hành hơn.
The basis of all occult growth is meditation, or those periods of silent gestation in which the soul grows in the silence. Therefore, during the day there will be for every pupil in the school three periods of meditation—at sunrise, at midday, and at sunset. During the earlier part of the pupil's attendance at the school these periods will be for [Page 327] thirty minutes each. Later he will give one hour to the practice of occult meditation three times a day and during his final year he will be expected to give five hours a day to meditation. When he can do this and get results he will be able to pass on into the advanced school. It is the great test and mark of readiness.
Nền tảng của mọi sự phát triển huyền bí là tham thiền, hay những thời kỳ thai nghén thầm lặng, trong đó linh hồn tăng trưởng trong im lặng. Vì vậy, mỗi học viên trong trường sẽ có ba thời kỳ tham thiền mỗi ngày—lúc bình minh, giữa trưa và hoàng hôn. Trong giai đoạn đầu học viên theo học tại trường, mỗi thời kỳ này sẽ kéo dài [Page 327] ba mươi phút. Về sau, y sẽ dành một giờ để thực hành tham thiền huyền bí, ba lần mỗi ngày; trong năm cuối, y sẽ được yêu cầu dành năm giờ mỗi ngày cho tham thiền. Khi có thể làm như vậy và đạt kết quả, y sẽ có thể chuyển sang trường cao cấp. Đây là thử thách lớn và dấu hiệu của sự sẵn sàng.
The hours of the school will begin with sunrise and end with sunset. After the sun sets, and for one hour after each of the other two periods of meditation, the pupil is permitted to relax, take his meals and recreate himself. All pupils will be required to retire to rest at night by ten o 'clock, after thirty minutes of careful revision of the day's work and the filling in of certain charts that go to the completion of his record.
Giờ học của trường sẽ bắt đầu lúc bình minh và kết thúc lúc hoàng hôn. Sau khi Mặt Trời lặn, và trong một giờ sau mỗi thời kỳ tham thiền trong hai thời kỳ còn lại, học viên được phép thư giãn, dùng bữa và giải trí. Mọi học viên đều phải đi nghỉ trước mười giờ đêm, sau ba mươi phút cẩn thận ôn lại công việc trong ngày và điền vào một số biểu đồ góp phần hoàn thiện hồ sơ của y.
The length of a pupil's stay in the school depends entirely upon the progress made, the inner powers of assimilation and the outer life of service. It depends therefore upon the point in evolution at which he enters the school. Those just entering the Path of Probation will be there for five to seven years and on occasion even longer; those who are old disciples and those who have taken initiation in earlier lives will be there but a brief time, pushing rapidly through the curriculum and simply learning to produce for use the knowledge earlier stored. The period of their stay will be anywhere from one to five years, usually about three. Their innate knowledge will be developed by encouraging them to teach the younger brethren. A pupil passes out of the school, not as a result of an exoteric examination but simply on the notification of the Head of the School, who bases his decision upon esoteric results in the bodies of the pupil, upon the clarity of his auric colors and upon the tone of his life and the key of his vibration. [Page 328]
Thời gian một học viên theo học tại trường hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiến bộ đã đạt được, năng lực tiếp thu bên trong và đời sống phụng sự bên ngoài. Vì vậy, thời gian ấy tùy thuộc vào điểm tiến hoá của y khi nhập học. Những người vừa bước vào Con Đường Dự Bị sẽ ở đó từ năm đến bảy năm, đôi khi còn lâu hơn; những đệ tử lâu năm và những người đã được điểm đạo trong các kiếp trước chỉ ở đó một thời gian ngắn, nhanh chóng hoàn tất chương trình và chỉ học cách đưa tri thức đã tích lũy trước đây ra sử dụng. Thời gian họ theo học sẽ từ một đến năm năm, thường khoảng ba năm. Tri thức sẵn có của họ sẽ được phát triển bằng cách khuyến khích họ giảng dạy cho các huynh đệ trẻ hơn. Một học viên rời trường không phải nhờ vượt qua một kỳ thi ngoại môn, mà chỉ theo thông báo của Hiệu trưởng, người đưa ra quyết định dựa trên những kết quả nội môn trong các thể của học viên, độ trong sáng của các màu sắc hào quang, âm sắc của đời sống và cung bậc rung động của y. [Page 328]
b. Types of Work. – b. Các Loại Công Việc.
First and foremost, the practice of meditation as laid down in these letters and as may be apportioned by the Head of the school. Once or twice a year the initiate Head of the school to which the preparatory school is allied will pass the pupils in review and in conference with the Head of the school will apportion specific meditation adjusted to the pupil's need. Once a year the Master responsible for both schools will likewise pass them in review and communicate to the Head any necessary adjustments. (I would here remind you that the relationship of a Master to a disciple is a private one and though He may be in constant touch with His pupil privately, this affects not His official review of the united auras of the school group.)
Trước hết và quan trọng nhất là thực hành tham thiền theo những chỉ dẫn trong các thư này và theo sự phân định của Hiệu trưởng. Mỗi năm một hoặc hai lần, vị Hiệu trưởng điểm đạo đồ của trường mà trường dự bị trực thuộc sẽ xem xét các học viên và, sau khi hội ý với Hiệu trưởng trường dự bị, sẽ chỉ định bài thiền cụ thể phù hợp với nhu cầu của từng học viên. Mỗi năm một lần, Chân sư chịu trách nhiệm về cả hai trường cũng sẽ xem xét họ và thông báo cho Hiệu trưởng mọi điều chỉnh cần thiết. (Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng mối quan hệ giữa một Chân sư và một đệ tử là mối quan hệ riêng tư; dù Ngài có thể thường xuyên liên lạc với học viên của Ngài một cách riêng tư, điều này không ảnh hưởng đến việc Ngài chính thức xem xét các hào quang hợp nhất của nhóm học viên trong trường.)
Secondly, a graded scientific study of the microcosm, including the following subjects, using the microscope when needed:—
Thứ hai là nghiên cứu khoa học về tiểu thiên địa theo từng cấp độ, bao gồm các môn sau đây, sử dụng kính hiển vi khi cần:—
The Microcosm.
Tiểu Thiên Địa.
a. Elementary anatomy, physiology, biology.
a. Giải phẫu học, sinh lý học và sinh học căn bản.
b. Ethnology.
b. Dân tộc học.
c. Study of the etheric body and its allied subjects of vitality and magnetism.
c. Nghiên cứu thể dĩ thái cùng các môn liên quan về sinh lực và từ điện.
d. Study of geology; of the vegetable kingdom, or botany; and of the animal kingdom.
d. Nghiên cứu địa chất học; giới thực vật, tức thực vật học; và giới động vật.
e. Study of the history of man and the development of science.
e. Nghiên cứu lịch sử loài người và sự phát triển của khoa học.
f. Study of the laws of the microcosmic body.
f. Nghiên cứu các định luật của thân thể tiểu thiên địa.
The Macrocosm.
Đại Thiên Địa.
a. Study of the laws of electricity, of fohat, of prana, and of the astral light. [Page 329]
a. Nghiên cứu các định luật về điện, về mãnh lực lửa vũ trụ, về sinh khí và về ánh sáng cảm dục. [Page 329]
b. Study of astronomy and of astrology.
b. Nghiên cứu thiên văn học và chiêm tinh học.
c. Study of occult cosmogony.
c. Nghiên cứu vũ trụ khởi nguyên học huyền bí.
d. Study of the human hierarchy.
d. Nghiên cứu Huyền Giai nhân loại.
e. Study of the deva evolution.
e. Nghiên cứu sự tiến hoá của thiên thần.
f. Study of the laws of the solar system.
f. Nghiên cứu các định luật của hệ mặt trời.
g. Study of telepathy, mental creation, psychometry.
g. Nghiên cứu viễn cảm, sự sáng tạo bằng trí tuệ và thuật trắc tâm.
The Mind.
Trí.
a. The study of the mental plane.
a. Nghiên cứu cõi trí.
b. The study of the laws of fire.
b. Nghiên cứu các định luật của lửa.
c. The study of the causal body.
c. Nghiên cứu thể nguyên nhân.
d. The study of the fifth principle.
d. Nghiên cứu nguyên khí thứ năm.
e. The study of color and of sound.
e. Nghiên cứu màu sắc và âm thanh.
Synthesis.
Tổng Hợp.
a. The study of spirit-matter-mind.
a. Nghiên cứu tinh thần–vật chất–trí.
b. Study of numbers and of symbology.
b. Nghiên cứu các con số và biểu tượng học.
c. Study of higher mathematics.
c. Nghiên cứu toán học cao cấp.
d. Study of the laws of union.
d. Nghiên cứu các định luật hợp nhất.
e. Study of the laws of sex.
e. Nghiên cứu các định luật về tính dục.
Psychic Development.
Phát Triển Thông Linh.
a. Study of practical occultism.
a. Nghiên cứu huyền bí học thực hành.
b. Study of psychism.
b. Nghiên cứu các hiện tượng thông linh.
c. Study of the astral light and the akashic records.
c. Nghiên cứu ánh sáng cảm dục và các ký lục trong chất liệu không gian.
d. Study of mediumship and inspiration.
d. Nghiên cứu khả năng đồng tử và cảm hứng.
e. Study of past lives.
e. Nghiên cứu các kiếp trước.
f. Study of the macrocosmic and microcosmic centers.
f. Nghiên cứu các trung tâm của đại thiên địa và tiểu thiên địa.
Practical Work.
Công Việc Thực Hành.
a. Service to the race.
a. Phụng sự nhân loại.
b. Study of group work.
b. Nghiên cứu công việc nhóm.
c. Review work. [Page 330]
c. Công việc ôn tập. [Page 330]
d. Work on the subtler bodies with the view to producing continuity of consciousness.
d. Làm việc với các thể tinh tế hơn nhằm tạo ra sự liên tục của tâm thức.
e. Study of magic.
e. Nghiên cứu huyền thuật.
f. Study of the seventh ray.
f. Nghiên cứu cung thứ bảy.
You will see for yourself that when the pupil has completed the above curriculum he will be a potential magician, and will be a member of the Brotherhood of Light in embryo. He will be equipped and ready to pass into the advanced school, where he will be trained in using the knowledge already acquired, where his centers will be scientifically developed so that he will become a conscious psychic of the mental type, where he will be trained to contact and control the lesser evolutions and to co-operate with the other evolutions such as the deva, and where all his bodies will be so aligned and adjusted that he can at the end of a period—varying from two to three years—be ready to stand before the Initiator.
Các bạn sẽ tự thấy rằng khi học viên hoàn tất chương trình trên, y sẽ là một nhà huyền thuật tiềm năng và một thành viên đang hình thành của Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng. Y sẽ được trang bị và sẵn sàng bước vào trường cao cấp, nơi y sẽ được huấn luyện sử dụng tri thức đã thu nhận; nơi các trung tâm của y sẽ được phát triển một cách khoa học để y trở thành một nhà thông linh hữu thức thuộc loại trí; nơi y sẽ được huấn luyện tiếp xúc và kiểm soát các dòng tiến hoá thấp hơn, đồng thời hợp tác với các dòng tiến hoá khác như dòng tiến hoá thiên thần; và nơi tất cả các thể của y sẽ được chỉnh hợp và điều chỉnh sao cho, sau một thời gian từ hai đến ba năm, y có thể sẵn sàng đứng trước Đấng Điểm đạo.
c. Potencies becoming powers. – c. Các tiềm năng trở thành quyền năng.
This third type of work is based on the preceding curriculum and deals directly with individual development. It covers the following matters:—
Loại công việc thứ ba này dựa trên chương trình học vừa nêu và trực tiếp đề cập đến sự phát triển cá nhân. Nó bao gồm các vấn đề sau đây:—
a. The aligning of the bodies with a view to egoic contact.
a. Chỉnh hợp các thể nhằm tiếp xúc với chân ngã.
b. The building of the antahkarana, and the development of the higher mind.
b. Xây dựng antahkarana và phát triển thượng trí.
c. The development of the intuition, and the definite spiritual awakening of the pupil.
c. Phát triển trực giác và sự thức tỉnh tinh thần rõ rệt của học viên.
d. The study of the pupil's vibration, ray, color and tone.
d. Nghiên cứu rung động, cung, màu sắc và âm sắc của học viên.
e. The conscious refining of all the bodies beginning with the physical. [Page 331]
e. Tinh luyện một cách có ý thức tất cả các thể, bắt đầu từ thể xác. [Page 331]
When these matters are duly studied and all acquired knowledge put into practice, the inherent powers of the soul will become conscious powers. Above all, will the emphasis be laid upon the fact that the white magician is he who utilizes all power and knowledge in the service of the race. His inner development must be expressed in terms of service before he is permitted to pass on into the advanced school.
Khi những vấn đề này được nghiên cứu thấu đáo và toàn bộ tri thức đã thu nhận được đưa vào thực hành, các quyền năng vốn có của linh hồn sẽ trở thành những quyền năng hữu thức. Trên hết, cần nhấn mạnh rằng nhà huyền thuật chánh đạo là người sử dụng mọi quyền năng và tri thức để phụng sự nhân loại. Sự phát triển bên trong của y phải biểu hiện qua việc phụng sự trước khi y được phép bước vào trường cao cấp.
I have indicated enough to provide much room for interested speculation.
Tôi đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều điều cho những ai quan tâm suy ngẫm.
LETTER X - THE PURIFICATION OF THE VEHICLES. – THƯ X - SỰ THANH LỌC CÁC HIỆN THỂ.
NOVEMBER 7TH, 1920.
NGÀY 7 THÁNG 11 NĂM 1920.
[Page 333]
[Page 333]
The need arises these days for tested instruments. When Those Who guide human evolution at this period cast Their eyes over the race in the search for such instruments They see few as yet ready for the service required. But likewise They see some who, with a certain amount of training, will fill the need fairly adequately.
Ngày nay, nhu cầu về những công cụ đã qua thử thách đang xuất hiện. Khi các Đấng hướng dẫn sự tiến hoá của nhân loại trong thời kỳ này nhìn khắp nhân loại để tìm những công cụ như thế, Các Ngài thấy còn ít người sẵn sàng cho công việc phụng sự cần thiết. Nhưng đồng thời, Các Ngài cũng thấy một số người, qua một mức độ huấn luyện nhất định, sẽ đáp ứng nhu cầu khá đầy đủ.
As evolution proceeds the polarization of the race changes. Men are polarized now principally in their emotional bodies,—the feelings, desires, the concerns of the personality sway them. The emotional body is the focal point for the personality. It acts as the clearing house for all that concerns it, and as the junction of the lower and the higher. It is like a busy railroad terminus, that receives cargo from all directions and empties it into the great city of the personal physical plane life. Then, as progress is made, the scene shifts higher, and the mental body becomes the focal point. Later the causal body becomes the important unit, and later still comes the ultimate sacrifice of even that, until the man stands bereft of all that vibrates to the three worlds, and all is over as regards the personal life,—nought remains but the life of the Spirit, and the voluntary giving of that life for the helping of the world.
Khi tiến hoá tiếp diễn, sự phân cực của nhân loại thay đổi. Hiện nay, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục của mình,—những tình cảm, dục vọng và các mối quan tâm của phàm ngã chi phối họ. Thể cảm dục là tiêu điểm của phàm ngã. Nó hoạt động như trạm trung chuyển cho mọi điều liên quan đến phàm ngã, và như điểm nối giữa phần thấp và phần cao. Nó giống một ga đầu mối đường sắt nhộn nhịp, tiếp nhận hàng hoá từ mọi hướng rồi chuyển vào thành phố rộng lớn của đời sống cá nhân trên cõi hồng trần. Rồi khi có tiến bộ, hoạt động chuyển lên cao hơn, và thể trí trở thành tiêu điểm. Về sau, thể nguyên nhân trở thành đơn vị quan trọng, và sau nữa đến sự hi sinh tối hậu, ngay cả thể ấy cũng phải từ bỏ, cho đến khi con người đứng đó, không còn bất cứ điều gì rung động tương ứng với ba cõi giới, và mọi sự liên quan đến đời sống cá nhân đều chấm dứt,—không còn gì ngoài sự sống của Tinh thần và việc tự nguyện hiến dâng sự sống ấy để trợ giúp thế gian.
In the speeding up of evolution, certain things have to be brought about before the man can be used as a reliable instrument, true as tempered steel, for the helping of his race. Forget not that, as a rule, a man (when tested and tried) forms the best tool, because he comprehends [Page 334] utterly the race consciousness, and because he enters into the problems of the day in a manner more thorough than an Ego from an earlier period. Hence the Masters desire to use those of you who live now to heal the wounds of the present suffering generation. What then has to be done? The matter I now give contains nothing very unusual, but it does hold thought for consideration by any who may desire to help.......In preparing a soul for service the Guides of the race have to deal with each of the bodies:—
Trong việc đẩy nhanh tiến hoá, phải thực hiện một số điều trước khi có thể sử dụng con người như một công cụ đáng tin cậy, chuẩn xác như thép tôi, để trợ giúp nhân loại. Đừng quên rằng, thông thường, một người đã qua thử thách và khảo nghiệm sẽ là công cụ tốt nhất, bởi y thấu hiểu [Page 334] hoàn toàn tâm thức nhân loại, và bởi y đi sâu vào các vấn đề của thời đại một cách thấu đáo hơn một Chân ngã thuộc thời kỳ trước. Vì vậy, các Chân sư mong muốn sử dụng những người trong số các bạn đang sống hiện nay để chữa lành các vết thương của thế hệ đang đau khổ này. Vậy phải làm gì? Nội dung Tôi đưa ra lúc này không có gì thật khác thường, nhưng chứa những điều đáng suy ngẫm cho bất cứ ai mong muốn trợ giúp.......Để chuẩn bị một linh hồn cho công việc phụng sự, các Đấng Hướng Dẫn nhân loại phải xử lý từng thể của linh hồn ấy:—
1 - The training of the Physical Body. – 1 - Việc huấn luyện Thể Xác.
This involves certain definite requirements:—
Việc này bao gồm một số yêu cầu xác định:—
The building in of matter of the higher subplanes and the elimination of the lower and coarser matter. This is needed because it is impossible for those with coarse bodies to contact high vibration. It is impossible for the Ego to transmit the higher knowledge and guidance through a coarse physical body. It is impossible for the loftier currents of thought to impact the little evolved physical brain. Hence the refinement of the physical body is an essential. It is effected in various ways, all of them reasonable and utilitarian.
Đưa vào thể xác vật chất thuộc các cõi phụ cao hơn và loại bỏ vật chất thấp hơn, thô trược hơn. Điều này cần thiết vì những người có thân thể thô trược không thể tiếp xúc với rung động cao. Chân ngã không thể truyền tri thức và sự hướng dẫn cao hơn qua một thể xác thô trược. Những dòng tư tưởng cao cả hơn không thể tác động lên bộ não hồng trần ít tiến hoá. Vì vậy, việc tinh luyện thể xác là điều thiết yếu. Việc này được thực hiện bằng nhiều cách, tất cả đều hợp lý và thiết thực.
By pure food. This involves a vegetarian diet, chosen with wise discrimination; it requires the eating of only those vegetables and fruits that vitalize. Careful judgment shown in the choice of food, wise refraining from too heavy eating, and a little pure good food perfectly assimilated are all that a disciple requires. You ask what foods? Milk, honey, whole wheat bread, all the vegetables that contact the sun, oranges (above all, oranges), bananas, raisins, nuts, some potatoes, unpolished rice, and may I again reiterate, [Page 335] just as much of all the above as to insure activity.
Bằng thực phẩm thanh khiết. Điều này bao gồm một chế độ ăn chay, được lựa chọn với sự phân biện sáng suốt; đòi hỏi chỉ ăn những loại rau quả tiếp sinh lực. Sự cân nhắc cẩn thận khi lựa chọn thức ăn, việc sáng suốt tránh ăn quá nhiều, và một lượng nhỏ thực phẩm tốt, thanh khiết, được hấp thu hoàn toàn, là tất cả những gì một đệ tử cần. Các bạn hỏi đó là những thực phẩm nào? Sữa, mật ong, bánh mì nguyên cám, mọi loại rau tiếp xúc với ánh nắng, cam (trên hết là cam), chuối, nho khô, các loại hạt, một ít khoai tây, gạo chưa xát trắng, và xin cho Tôi nhắc lại, [Page 335] chỉ dùng tất cả những thực phẩm trên với lượng vừa đủ để bảo đảm hoạt động.
By cleanliness. Much use of water, externally and internally, is vitally required.
Bằng sự sạch sẽ. Việc sử dụng nhiều nước, cả bên ngoài lẫn bên trong cơ thể, là yêu cầu vô cùng thiết yếu.
By sleep. This should be always between the hours of ten in the evening and five in the morning, and as much as possible out of doors.
Bằng giấc ngủ. Giấc ngủ phải luôn nằm trong khoảng từ mười giờ tối đến năm giờ sáng, và càng ngủ ngoài trời được nhiều càng tốt.
By sunshine. Contact with the sun should be much sought after, and the vitalization that comes through its rays. The sun kills all germs and frees from disease.
Bằng ánh nắng. Cần tìm cách tiếp xúc nhiều với ánh nắng và đón nhận sinh lực từ những tia nắng ấy. Mặt trời tiêu diệt mọi mầm bệnh và giải trừ bệnh tật.
When these four requirements are attended to adequately a definite process of elimination proceeds, and in the course of a few years the whole physical body shifts its polarization gradually up until ultimately you will have a body composed of atomic subplane matter......This may take several incarnations, but it should be borne in mind that at each fresh incarnation a body is taken of the exact quality (if I may so put it) as the one previously discarded at death. Hence time is never lost in building. Eventually two other methods will be available by which more rapid refining may be effected:—
Khi đáp ứng đầy đủ bốn yêu cầu này, một tiến trình loại bỏ rõ rệt sẽ diễn ra, và trong vài năm, toàn bộ thể xác dần chuyển sự phân cực lên cao, cho đến khi cuối cùng các bạn có một thể xác cấu thành từ vật chất của cõi phụ nguyên tử......Điều này có thể cần đến vài kiếp nhập thể, nhưng cần nhớ rằng ở mỗi kiếp nhập thể mới, người ta tiếp nhận một thân thể có phẩm tính đúng như vậy (nếu Tôi có thể diễn đạt như thế), giống thân thể đã bỏ lại lúc chết trước đó. Vì vậy, thời gian dành cho việc xây dựng không bao giờ mất đi. Cuối cùng, sẽ có thêm hai phương pháp giúp việc tinh luyện diễn ra nhanh hơn:—
The use of colored lights. These lights are played on the body of the disciple and effect a shaking-out process and a simultaneous stimulation of the atoms. This cannot be done till further information is given anent the Rays; when a man's ray is known, stimulation will come from the use of his own color, a building-in will be brought about by the use of his complementary color, and disintegration of unwanted matter will be brought about by the use of an antagonistic color. This knowledge will later on be communicated to the great bodies that hold [Page 336] custody of the Mysteries, the Church and the Masons. Wait, for the time is not yet. When the Mysteries are restored some of this information will be in the hands of the two bodies I refer to.
Việc sử dụng ánh sáng màu. Những ánh sáng này được chiếu lên thân thể đệ tử, tạo ra một tiến trình rung rũ và đồng thời kích thích các nguyên tử. Chưa thể thực hiện điều này cho đến khi có thêm thông tin về các Cung; khi biết cung của một người, việc sử dụng màu của chính y sẽ tạo sự kích thích, việc sử dụng màu bổ túc của y sẽ đưa thêm vật chất vào, và việc sử dụng một màu đối kháng sẽ làm tan rã vật chất không mong muốn. Về sau, tri thức này sẽ được truyền cho những tổ chức lớn gìn giữ [Page 336] các Bí Pháp, là Giáo hội và Hội Tam Điểm. Hãy chờ đợi, vì thời điểm chưa đến. Khi các Bí Pháp được phục hồi, hai tổ chức Tôi đề cập sẽ nắm giữ một phần thông tin này.
The stimulation of music. Certain sounds shatter and break. Certain other sounds stimulate and attract. When the key of a man's life is known, when the sound he responds to is recognized, then comes the possibility of the utilization of sound in refinement. All that is at present possible to those of you who seek to serve is to attend to the above essentials and to seek contact with high vibration.
Sự kích thích của âm nhạc. Một số âm thanh làm vỡ và phá tan. Một số âm thanh khác kích thích và thu hút. Khi biết giọng điệu của đời sống một người, khi nhận biết âm thanh mà y đáp ứng, bấy giờ mới có khả năng sử dụng âm thanh trong việc tinh luyện. Hiện nay, tất cả những gì những người trong số các bạn muốn phụng sự có thể làm là chú trọng những điều thiết yếu nêu trên và tìm cách tiếp xúc với rung động cao.
One more point I would like to give, and that is, that in the manipulation of electricity lies hid much that concerns the vivification of the bodies, especially just now of the etheric. The principal use the sun has is the vitalizing of the etheric. The heat of the sun is electrical force adapted to the need of the great average majority in all the kingdoms of nature. As progress is made an intensification of this force will be possible in individual cases. Herein lies one of the secrets of initiation. In the old days the Rod of Initiation acted actually as a conductor of this force to the centers of the initiate; it was so constructed that it answered this purpose. Now, on a higher turn of the spiral, just the same need and purpose are served, though the method of application necessarily differs, owing to the change in the polarization of the race. The polarization is now no longer physical, but is either emotional or mental. The method of application differs in all three, and hence the safeguarding of the secret. It holds the mystery hid. [Page 337]
Tôi muốn đưa ra thêm một điểm nữa: chính trong việc vận dụng điện năng có nhiều điều ẩn giấu liên quan đến việc tiếp sinh lực cho các thể của con người, đặc biệt lúc này là thể dĩ thái. Công dụng chủ yếu của mặt trời là tiếp sinh lực cho thể dĩ thái. Nhiệt của mặt trời là mãnh lực điện được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của đại đa số thuộc mức trung bình trong mọi giới của tự nhiên. Khi có tiến bộ, có thể tăng cường mãnh lực này trong những trường hợp cá biệt. Chính trong đó có một trong những bí mật của điểm đạo. Thuở xưa, Thần Trượng Điểm đạo thực sự hoạt động như một vật dẫn truyền mãnh lực này đến các trung tâm của điểm đạo đồ; nó được chế tạo để đáp ứng mục đích ấy. Giờ đây, trên một vòng xoắn cao hơn, vẫn chính nhu cầu và mục đích ấy được đáp ứng, tuy phương pháp áp dụng tất nhiên khác đi, do sự thay đổi trong sự phân cực của nhân loại. Sự phân cực hiện nay không còn thuộc hồng trần, mà thuộc cảm xúc hoặc trí tuệ. Phương pháp áp dụng khác nhau trong cả ba trường hợp, vì vậy cần bảo vệ bí mật. Nó chứa đựng điều huyền nhiệm ẩn kín. [Page 337]
The refining of the etheric. – Việc tinh luyện thể dĩ thái.
This coincides with that of the physical body. The method consists principally of living in the sunlight, in protection from cold, and in the assimilation of certain definite combinations of vitamins which before long will be given to the race. A combination of these vitamins will be formulated and made into tabloid form, with direct effect upon the etheric body. This will not be until that etheric vehicle is recognized by science, and definitely included in the training offered by the faculty of medicine. The study of etheric diseases—congestion and atrophy—will ere long be a recognized study, and will lead to definite treatments and formulas. As before said, all that you can now do in sensitizing the dual physical is to attend to the above rules, and allow time to bring about the remainder of the work.
Việc này diễn ra đồng thời với việc tinh luyện thể xác. Phương pháp chủ yếu gồm việc sống trong ánh nắng, giữ cho cơ thể không bị lạnh, và hấp thu một số tổ hợp vitamin xác định mà chẳng bao lâu nữa nhân loại sẽ biết đến. Một tổ hợp các vitamin này sẽ được bào chế thành dạng viên nén, có tác động trực tiếp lên thể dĩ thái. Điều này chỉ diễn ra khi khoa học công nhận hiện thể dĩ thái ấy và chính thức đưa nó vào chương trình đào tạo của ngành y. Chẳng bao lâu nữa, việc nghiên cứu các bệnh của thể dĩ thái—ứ tắc và teo giảm—sẽ trở thành một ngành nghiên cứu được công nhận, dẫn đến những phương pháp điều trị và công thức xác định. Như đã nói, tất cả những gì các bạn có thể làm lúc này để tăng độ nhạy của hiện thể hồng trần kép là tuân theo những quy luật nêu trên, và để thời gian hoàn thành phần công việc còn lại.
2 - The refining of the emotional body. – 2 - Việc tinh luyện thể cảm dục.
Here the method of procedure is different. The emotional body is simply a great reflector. It takes color and movement from its surroundings. It receives the impress of every passing desire. It contacts every whim and fancy in its environment; every current sets it in motion; every sound causes it to vibrate unless the aspirant inhibits such a state of affairs and trains it to receive and register only those impressions which come from the intuitional level via the Higher Self and therefore via the atomic subplane. The aim of the aspirant should be to so train the emotional body that it will become still and clear as a mirror, so that it may reflect perfectly. His aim should be to make it reflect only the causal body, to take on color only in line with the great Law, and to move under definite direction and not just as blow the winds of [Page 338] thought, or rise the tides of desire. What words should describe the emotional body? the words: still, serene, unruffled, quiet, at rest, limpid and clear, of a quality mirrorlike, of surface even, a limpid reflector,—one that accurately transmits the wishes, the desires, the aspirations of the Ego and not of the personality. How should this be accomplished? In several ways, some at the direction of the aspirant, and some at the direction of the Master.
Ở đây, phương pháp thực hiện khác đi. Thể cảm xúc chỉ đơn thuần là một tấm gương phản chiếu lớn. Nó tiếp nhận màu sắc và chuyển động từ môi trường xung quanh. Nó nhận dấu ấn của mọi dục vọng thoáng qua. Nó tiếp xúc với mọi ý thích bất chợt và tưởng tượng trong môi trường của nó; mọi dòng chảy đều khiến nó chuyển động; mọi âm thanh đều khiến nó rung động, trừ khi người chí nguyện ngăn chặn tình trạng ấy và huấn luyện nó chỉ tiếp nhận, ghi nhận những ấn tượng đến từ cấp độ trực giác qua Chân ngã, và do đó qua cõi phụ nguyên tử. Mục tiêu của người chí nguyện phải là huấn luyện thể cảm dục sao cho nó trở nên tĩnh lặng và trong sáng như một tấm gương, để có thể phản chiếu hoàn hảo. Mục tiêu của y phải là khiến nó chỉ phản chiếu thể nguyên nhân, chỉ tiếp nhận màu sắc phù hợp với Định luật vĩ đại, và chuyển động dưới sự chỉ dẫn xác định, chứ không chỉ theo những cơn gió [Page 338] tư tưởng thổi qua hay những đợt thuỷ triều dục vọng dâng lên. Những từ nào nên mô tả thể cảm dục? Đó là: tĩnh lặng, thanh thản, không xao động, yên tĩnh, an nghỉ, trong suốt và sáng rõ, có phẩm tính như gương, bề mặt phẳng đều, một tấm gương phản chiếu trong suốt,—truyền đạt chính xác những mong muốn, dục vọng và khát vọng của Chân ngã chứ không phải của phàm ngã. Phải thực hiện điều này như thế nào? Bằng nhiều cách, một số do người chí nguyện chỉ đạo, và một số do Chân sư chỉ đạo.
a. By the constant watching of all desires, motives and wishes that cross the horizon daily, and by the subsequent emphasizing of all those that are of a high order, and by the inhibition of the lower.
a. Bằng việc thường xuyên quan sát mọi dục vọng, động cơ và mong muốn xuất hiện trong tầm nhận biết hằng ngày, rồi nhấn mạnh tất cả những điều thuộc cấp độ cao và ngăn chặn những điều thấp hơn.
b. By a constant daily attempt to contact the Higher Self, and to reflect His wishes in the life. At first mistakes will be made, but little by little the building-in process proceeds, and the polarization in the emotional body gradually shifts up each subplane until the atomic is reached.
b. Bằng nỗ lực đều đặn hằng ngày để tiếp xúc với Chân ngã và phản ánh những mong muốn của Ngài trong đời sống. Ban đầu sẽ có sai lầm, nhưng từng chút một, tiến trình xây dựng vẫn tiếp diễn, và sự phân cực trong thể cảm dục dần chuyển lên từng cõi phụ cho đến khi đạt cõi phụ nguyên tử.
c. By definite periods daily directed to the stilling of the emotional body. So much emphasis is laid in meditation on the stilling of the mind, but it should be remembered that the stilling of the emotional nature is a step preliminary to the quieting of the mental; one succeeds the other and it is wise to begin at the bottom of the ladder. Each aspirant must discover for himself wherein he yields most easily to violent vibrations, such as fear, worry, personality desire of any kind, personality love of anything or anyone, discouragement, over-sensitiveness to public opinion; then he must overcome that vibration, by imposing on it a new rhythm, definitely eliminating and constructing. [Page 339]
c. Bằng những khoảng thời gian xác định mỗi ngày dành cho việc làm tĩnh lặng thể cảm dục. Trong tham thiền, người ta nhấn mạnh rất nhiều việc làm tĩnh lặng thể trí, nhưng cần nhớ rằng làm tĩnh lặng bản chất cảm xúc là bước chuẩn bị trước khi làm yên thể trí; bước này tiếp nối bước kia, và sáng suốt nhất là bắt đầu từ chân thang. Mỗi người chí nguyện phải tự khám phá xem mình dễ khuất phục nhất trước những rung động dữ dội ở đâu, chẳng hạn như sợ hãi, lo lắng, dục vọng phàm ngã dưới bất kỳ hình thức nào, tình thương phàm ngã dành cho bất cứ vật gì hay người nào, sự nản lòng, sự quá nhạy cảm với dư luận; rồi y phải khắc phục rung động ấy bằng cách áp đặt lên nó một nhịp điệu mới, dứt khoát loại bỏ và xây dựng. [Page 339]
d. By work done on the emotional body at night under the direction of more advanced egos, working under the guidance of a Master. Stimulation of vibration or the deadening of vibration follows on the application of certain colors and sounds. At this particular time two colors are being applied to many people for the specific purpose of keying up the throat and foremost head center, namely, violet and gold.
d. Bằng công việc thực hiện trên thể cảm dục vào ban đêm dưới sự chỉ đạo của những chân ngã tiến bộ hơn, hoạt động dưới sự hướng dẫn của một Chân sư. Sự kích thích rung động hay làm giảm rung động diễn ra sau việc áp dụng một số màu sắc và âm thanh. Vào thời điểm đặc biệt này, hai màu đang được áp dụng cho nhiều người nhằm mục đích cụ thể là tăng cường hoạt động của trung tâm cổ họng và trung tâm phía trước đầu, đó là màu tím và màu vàng kim.
Remember that the work is gradual, and as the polarization shifts up, the moment of transition from one subplane to another is marked by certain tests applied at night, what one might term a series of small initiations that eventually will be consummated in the second great initiation, that marks the perfection of the control of the body of the emotions.
Hãy nhớ rằng công việc diễn ra dần dần, và khi sự phân cực chuyển lên cao, thời điểm chuyển từ cõi phụ này sang cõi phụ khác được đánh dấu bằng một số cuộc thử thách áp dụng vào ban đêm, có thể gọi là một loạt những cuộc điểm đạo nhỏ, cuối cùng sẽ hoàn tất trong cuộc điểm đạo lớn thứ hai, đánh dấu sự hoàn thiện trong việc kiểm soát thể cảm dục.
Four small initiations find their culmination in the initiation proper. These are the initiations on the emotional plane, called respectively the initiations of earth, fire, water and air, culminating in initiation the second. The first initiation marks the same point of attainment on the physical plane. Each initiation marks the attainment of a certain proportion of atomic matter in the bodies. The four initiations, prior to that of the Adept, mark respectively the attainment of a proportionate amount, as for instance:—At the first initiation one-fourth atomic matter, at the second one-half atomic matter, and so on to the consummation. The intuition (or buddhi) being the unifying principle and thus welding all, at the fourth initiation the lower vehicles go, and the adept stands in his intuitional body, and creates from thence his body of manifestation. [Page 340]
Bốn cuộc điểm đạo nhỏ đạt đỉnh điểm trong cuộc điểm đạo chính thức. Đây là những cuộc điểm đạo trên cõi cảm dục, lần lượt gọi là các cuộc điểm đạo của đất, lửa, nước và khí, đạt đỉnh điểm trong lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo thứ nhất đánh dấu cùng mức thành tựu ấy trên cõi hồng trần. Mỗi lần điểm đạo đánh dấu việc đạt được một tỷ lệ vật chất nguyên tử nhất định trong các thể của con người. Bốn cuộc điểm đạo trước cuộc điểm đạo của Chân sư lần lượt đánh dấu việc đạt được một lượng tương ứng, chẳng hạn:—Ở lần điểm đạo thứ nhất, một phần tư là vật chất nguyên tử; ở lần thứ hai, một nửa là vật chất nguyên tử; và cứ thế cho đến khi hoàn tất. Vì trực giác (hay Bồ đề) là nguyên khí hợp nhất, nhờ đó kết nối tất cả, nên ở lần điểm đạo thứ tư, các hiện thể thấp mất đi, và chân sư đứng trong thể trực giác của mình, rồi từ đó tạo ra thân thể biểu hiện của y. [Page 340]
3 - The refinement of the mental body. – 3 - Việc tinh luyện thể trí.
This is the result of hard work and discrimination. It necessitates three things before the plane of the mental unit is achieved, and before the causal consciousness (the full consciousness of the higher self) is reached:—
Đây là kết quả của sự chuyên cần và phân biện. Nó đòi hỏi ba điều trước khi đạt đến cõi của đơn vị hạ trí, và trước khi đạt được tâm thức nguyên nhân (tâm thức đầy đủ của chân ngã):—
Clear thinking, not just on subjects wherein interest is aroused, but on all matters affecting the race. It involves the formulation of thought matter, and the capacity to define. It means the ability to make thought forms out of thought matter, and to utilize those thought forms for the helping of the public. He who does not think clearly, and who has an inchoate mental body, lives in a fog, and a man in a fog is but a blind leader of the blind.
Tư duy rõ ràng, không chỉ về những chủ đề khơi gợi hứng thú, mà về mọi vấn đề ảnh hưởng đến nhân loại. Điều này bao gồm việc tạo hình vật chất tư tưởng và khả năng xác định rõ. Nó hàm ý khả năng tạo ra các Hình tư tưởng từ vật chất tư tưởng, và sử dụng những Hình tư tưởng ấy để trợ giúp công chúng. Người không tư duy rõ ràng và có thể trí chưa thành hình sống trong sương mù, mà một người trong sương mù chỉ là người mù dẫn dắt người mù.
The ability to still the mental body so that thoughts from abstract levels and from the intuitional planes can find a receptive sheet whereon they may inscribe themselves. This thought has been made clear in many books on concentration and meditation, and needs not my elucidation. It is the result of hard practice carried over many years.
Khả năng làm tĩnh lặng thể trí để những tư tưởng từ các cấp độ trừu tượng và từ các cõi trực giác có thể tìm được một trang giấy sẵn sàng tiếp nhận để ghi dấu lên đó. Ý tưởng này đã được trình bày rõ trong nhiều sách về định trí và tham thiền, nên không cần Tôi giải thích thêm. Đây là kết quả của việc thực hành chuyên cần qua nhiều năm.
A definite process brought about by the Master with the acquiescence of the disciple which welds into a permanent shape the hard won efforts and results of many years. At each initiation, the electrical or magnetic force applied has a stabilizing effect. It renders durable the results achieved by the disciple. Like as a potter molds and shapes the clay and then applies the fire that solidifies, so the aspirant shapes and molds and builds, and prepares for the solidifying fire. Initiation marks a permanent attainment and the beginning of a new cycle of endeavor.
Một tiến trình xác định do Chân sư thực hiện với sự chấp thuận của đệ tử, kết gắn thành một hình dạng bền vững những nỗ lực và thành quả khó nhọc đạt được qua nhiều năm. Ở mỗi lần điểm đạo, mãnh lực điện hoặc từ tính được áp dụng có tác dụng ổn định. Nó khiến những kết quả đệ tử đạt được trở nên bền vững. Giống như người thợ gốm nặn và tạo hình đất sét rồi dùng lửa để làm cho nó rắn chắc, người chí nguyện cũng tạo hình, nhào nặn, xây dựng và chuẩn bị cho ngọn lửa làm rắn chắc. Điểm đạo đánh dấu một thành tựu bền vững và sự khởi đầu của một chu kỳ nỗ lực mới.
Above all two things should be emphasized:—
Trên hết, cần nhấn mạnh hai điều:—
1. A steady, unshaken perseverance, that recks not [Page 341] of time nor hindrance, but goes on. This capacity to persevere explains why the non-spectacular man so frequently attains initiation before the genius, and before the man who attracts more notice. The capacity to plod is much to be desired.
1. Sự kiên trì đều đặn, bất lay chuyển, không màng [Page 341] đến thời gian hay trở ngại, mà vẫn tiếp tục tiến lên. Khả năng kiên trì này giải thích tại sao người không nổi bật lại thường đạt điểm đạo trước thiên tài và trước người thu hút nhiều sự chú ý hơn. Khả năng bền bỉ tiến bước là điều rất đáng mong cầu.
2. A progress that is made without undue self-analysis. Pull not yourselves up by the roots to see if there is growth. It takes precious time. Forget your own progress in conforming to the rules and in the helping of others. When this is so, sudden illumination may come, and the realization break upon you that the point has been reached when the Hierophant can demand your presence and bestow initiation upon you. You have, by hard work and sheer endeavor to conform to the Law and to love all, built into your bodies the material that makes it possible for you to stand in His Presence. The great Law of Attraction draws you to Him andnought can withstand the Law.
2. Sự tiến bộ diễn ra mà không tự phân tích quá mức. Đừng nhổ mình lên tận rễ để xem có tăng trưởng hay không. Việc ấy tốn thời gian quý báu. Hãy quên sự tiến bộ của chính mình trong việc tuân theo các quy luật và trợ giúp người khác. Khi được như vậy, sự soi sáng có thể đột ngột đến, và các bạn chợt nhận ra rằng đã đạt đến thời điểm khi Đấng Chủ Lễ có thể yêu cầu các bạn hiện diện và ban điểm đạo cho các bạn. Bằng sự chuyên cần và nỗ lực thuần tuý để tuân theo Định luật và yêu thương tất cả, các bạn đã đưa vào các thể của mình chất liệu cho phép các bạn đứng trong Sự Hiện Diện của Ngài. Định luật Hấp Dẫn vĩ đại thu hút các bạn đến với Ngài, và không gì có thể chống lại Định luật.
LETTER XI - THE RESULTANT LIFE OF SERVICE. – THƯ XI - ĐỜI SỐNG PHỤNG SỰ PHÁT SINH TỪ ĐÓ.
SEPTEMBER 16TH, 1920.
NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 1920.
I seek to give you today, in closing this series, something of general use. I wish to speak to you anent service and its perfect rendering. What I give you in this connection may be of vital use. Remember always that material gain in knowledge for the individual causes stagnation, obstruction, indigestion and pain, if not passed on with wise discrimination. Food absorbed by the human body, if not assimilated and passed through the system, causes just the above conditions. The analogy is correct. Much tuition comes to many these days, but it is for the use of a needy world, and not for their own exclusive benefit.
Hôm nay, khi kết thúc loạt thư này, Tôi muốn đưa ra cho các bạn một điều có ích chung. Tôi muốn nói với các bạn về phụng sự và việc thực hiện phụng sự một cách hoàn hảo. Những gì Tôi đưa ra về vấn đề này có thể rất hữu ích. Hãy luôn nhớ rằng sự tích luỹ tri thức đáng kể cho cá nhân sẽ gây đình trệ, tắc nghẽn, khó tiêu và đau đớn, nếu không truyền lại với sự phân biện sáng suốt. Thức ăn cơ thể con người tiếp nhận, nếu không được hấp thu và chuyển qua hệ thống, sẽ gây ra đúng những tình trạng trên. Sự tương đồng này là chính xác. Ngày nay, nhiều người nhận được nhiều sự chỉ dạy, nhưng đó là để phục vụ một thế giới đang thiếu thốn, chứ không phải chỉ vì lợi ích riêng của họ.
In rendering service three things are of moment:—
Trong việc phụng sự, có ba điều quan trọng:—
1. The motive.
1. Động cơ.
2. The method.
2. Phương pháp.
3. The attitude following action.
3. Thái độ sau hành động.
With wrong motives and methods I deal not. To you they are known. I indicate the right, and by adjustment of the life of service to my indications comes correction and inspiration. A life of much service opens up to many these days; see, all of you, that it commences right. A right beginning is liable to eventuate in continuous correctness, and helps much in the endeavor. Where failure follows in such a case, all that is needed is readjustment. In failure where the beginning has been at fault (an inevitable failure), the need is for the renewal of the inner springs of action. [Page 344]
Tôi không bàn đến những động cơ và phương pháp sai lầm. Các bạn đã biết chúng. Tôi chỉ ra điều đúng, và việc điều chỉnh đời sống phụng sự theo những chỉ dẫn của Tôi sẽ đem lại sự sửa đổi và cảm hứng. Ngày nay, một đời sống phụng sự phong phú đang mở ra cho nhiều người; tất cả các bạn hãy bảo đảm rằng nó khởi đầu đúng đắn. Một khởi đầu đúng đắn có khả năng dẫn đến sự đúng đắn liên tục, và trợ giúp rất nhiều cho nỗ lực. Trong trường hợp ấy, nếu thất bại xảy ra, tất cả những gì cần thiết là điều chỉnh lại. Khi thất bại bắt nguồn từ một khởi đầu sai lầm (một thất bại không tránh khỏi), điều cần thiết là đổi mới những nguồn động lực bên trong thúc đẩy hành động. [Page 344]
1 - The motives for service. – 1 - Những động cơ phụng sự.
These motives are threefold in the order of their importance:—
Những động cơ này gồm ba phần, theo thứ tự quan trọng:—
a. A realization of God's plan of evolution, a sensing of the world's dire need, an apprehension of the immediate point of world attainment, and a consequent throwing of the total of one's resources into the furtherance of that end.
a. Sự nhận biết Thiên Cơ tiến hoá của Thượng đế, sự cảm nhận nhu cầu cấp thiết của thế giới, sự nắm bắt mức thành tựu hiện thời của thế giới, và do đó dồn toàn bộ nguồn lực của mình để thúc đẩy mục đích ấy.
b. A definite personal goal of achievement, some great ideal—such as holiness of character—that calls forth the soul's best endeavor; or a realization of the reality of the Masters of the Wisdom, and a strong inner determination to love, serve, and reach Them at all costs. When you have this intellectual grip of God's plan, coupled with the strong desire to serve the Great Ones, in physical plane activities will come the working out.
b. Một mục tiêu thành tựu cá nhân rõ rệt, một lý tưởng cao cả nào đó—như sự thánh thiện của Tính cách—khơi dậy nỗ lực tốt nhất của linh hồn; hoặc sự nhận biết tính thực hữu của các Chân sư Minh Triết, cùng một quyết tâm mạnh mẽ bên trong để yêu thương, phụng sự và đến với Các Ngài bằng mọi giá. Khi các bạn có sự nắm bắt Thiên Cơ của Thượng đế bằng trí tuệ như thế, kết hợp với mong muốn mạnh mẽ phụng sự Các Đấng Cao Cả, điều ấy sẽ được thực hiện trong các hoạt động trên cõi hồng trần.
c. A realization next of one's innate or acquired capacities and a fitting of those capacities to the need appreciated. Service is of many kinds, and he who wisely renders it, who seeks to find his particular sphere, and who, finding it, gives effort gladly for the benefit of the whole, is the man whose own development proceeds steadily. But nevertheless the aim of personal progress remains secondary.
c. Tiếp đó là sự nhận biết các năng lực bẩm sinh hay đã có được của mình, và việc điều chỉnh những năng lực ấy cho phù hợp với nhu cầu đã nhận thấy. Phụng sự có nhiều loại, và người thực hiện phụng sự một cách sáng suốt, tìm kiếm lĩnh vực riêng của mình, rồi khi tìm thấy, vui lòng nỗ lực vì lợi ích của toàn thể, là người có sự phát triển riêng tiến triển đều đặn. Tuy nhiên, mục tiêu tiến bộ cá nhân vẫn là thứ yếu.
2 - The methods of service. – 2 - Những phương pháp phụng sự.
These are many and varied. I can but indicate the ones of paramount importance.
Những phương pháp này nhiều và đa dạng. Tôi chỉ có thể nêu ra những phương pháp quan trọng nhất.
First and foremost comes, as I have often inculcated, the faculty of discrimination. He who considers that he can attempt all things, who balks not at aught that happens his way, who rushes wildly in where wiser ones refrain, who considers he has capacity for that which [Page 345] arises, who brings zeal but no brains to bear on this problem of service, but dissipates force; he renders oft destructive action, he wastes the time of wiser and greater ones in the correcting of his well meant mistakes, and he serves no end but his own desires. The reward of good intention may be his, but it is frequently offset by the results of foolish action. He serves with discrimination who realizes wisely his own niche, great or small, in the general scheme; who calculates soberly his mental and intellectual capacity, his emotional caliber and his physical assets and then with the sum of the whole applies himself to fill the niche.
Trước hết và trên hết, như Tôi vẫn thường nhấn mạnh, là năng lực phân biện. Người cho rằng mình có thể thử làm mọi việc, không chùn bước trước bất cứ điều gì gặp trên đường, lao vào một cách thiếu suy xét ở nơi những người sáng suốt hơn biết dừng lại, cho rằng mình có năng lực đối với bất cứ việc gì [Page 345] phát sinh, đem nhiệt tình nhưng không đem trí tuệ vào vấn đề phụng sự này, chỉ làm tiêu tán mãnh lực; y thường gây ra những hành động phá hoại, lãng phí thời gian của những người sáng suốt hơn và cao cả hơn để sửa chữa các sai lầm thiện chí của mình, và không phục vụ mục đích nào ngoài những mong muốn riêng. Y có thể nhận phần thưởng cho thiện ý, nhưng phần thưởng ấy thường bị kết quả của hành động thiếu sáng suốt hoá giải. Người phụng sự với sự phân biện là người sáng suốt nhận ra vị trí riêng của mình, lớn hay nhỏ, trong cơ cấu chung; bình tĩnh đánh giá năng lực trí tuệ và trí năng, tầm vóc cảm xúc và nguồn lực thể xác của mình, rồi dùng tổng thể những điều ấy để chuyên tâm đảm nhiệm vị trí đó.
He serves with discrimination who judges with the aid of his Higher Self and the Master what is the nature and the measure of the problem to be solved, and is not guided by the well meant though often ill-judged suggestions, requests and demands of his fellow-servers.
Người phụng sự với sự phân biện là người, nhờ sự trợ giúp của Chân ngã và Chân sư, đánh giá bản chất và mức độ của vấn đề cần giải quyết, chứ không để những gợi ý, lời đề nghị và yêu cầu đầy thiện chí nhưng thường thiếu cân nhắc của những người đồng phụng sự dẫn dắt.
He serves with discrimination who brings a realization of time into action, and comprehending that each day contains but twenty-four hours and that his capacity contains but the expenditure of just so much force and no more, wisely adjusts his capacity and the time available to each other.
Người phụng sự với sự phân biện là người đưa sự nhận biết về thời gian vào hành động, và thấu hiểu rằng mỗi ngày chỉ có hai mươi bốn giờ, rằng năng lực của y chỉ cho phép tiêu dùng một lượng mãnh lực nhất định chứ không hơn, nên sáng suốt điều chỉnh năng lực của mình và thời gian sẵn có cho phù hợp với nhau.
Next follows a wise control of the physical vehicle. A good server causes the Master no anxiety from physical causes, and may be trusted so to guard and husband his physical strength that he is always available for the carrying out of the Master's requests. He does not fail from physical disability. He sees that his lower vehicle gets sufficient rest, and adequate sleep. He rises early and retires at a seemly hour. He relaxes whenever possible; he eats wholesome and suitable food and refrains from heavy eating. A little food, well chosen and well masticated, is far better than a heavy meal. The human race [Page 346] eats these days, as a rule, four times as much as is required. He ceases from work when (through accident or the recurrence of inherited physical disability) his body reacts against action and cries out for attention. He then seeks rest, sleep, dietary precautions and necessary medical attention. He obeys all wise instruction, giving time for his recovery.
Tiếp theo là sự kiểm soát sáng suốt hiện thể hồng trần. Một người phụng sự tốt không khiến Chân sư lo lắng vì những nguyên nhân thuộc thể xác, và có thể được tin cậy rằng y biết bảo vệ, giữ gìn thể lực để luôn sẵn sàng thực hiện những yêu cầu của Chân sư. Y không thất bại vì suy yếu thể xác. Y bảo đảm hiện thể thấp của mình được nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ. Y dậy sớm và đi ngủ vào giờ thích hợp. Y thư giãn bất cứ khi nào có thể; y ăn thực phẩm lành mạnh, phù hợp và tránh ăn quá nhiều. Một ít thức ăn, được lựa chọn kỹ và nhai kỹ, tốt hơn nhiều so với một bữa ăn nặng nề. Ngày nay, nhân loại [Page 346] thường ăn nhiều gấp bốn lần mức cần thiết. Y ngừng làm việc khi thân thể y (do tai nạn hoặc sự tái phát của một tình trạng suy yếu thể xác di truyền) phản ứng chống lại hoạt động và lên tiếng đòi được chăm sóc. Bấy giờ, y tìm sự nghỉ ngơi, giấc ngủ, những biện pháp thận trọng về ăn uống và sự chăm sóc y tế cần thiết. Y tuân theo mọi chỉ dẫn sáng suốt, dành thời gian để hồi phục.
The next step is a steady care and control of the emotional body. This is the most difficult of the vehicles to tend, as is well known. No excessive emotion is permitted, though strong currents of love for all that breathe are allowed to sweep through. Love, being the law of the system, is constructive and stabilizing, and carries all on in line with the law. No fear or worry or care shake the emotional body of the aspiring servant of all. He cultivates serenity, stability, and a sense of secure dependence on God's law. A joyous confidence characterizes his habitual attitude. He harbors no jealousy, no cloudy gray depression, and no greed or self-pity, but—realizing that all men are brothers and that all that is exists for all—he proceeds calmly on his way.
Bước tiếp theo là việc chăm sóc và kiểm soát đều đặn thể cảm dục. Như mọi người đều biết, đây là hiện thể khó chăm sóc nhất. Không cho phép bất kỳ cảm xúc quá mức nào, tuy vẫn để những dòng tình thương mạnh mẽ dành cho mọi sinh linh tuôn chảy qua. Tình thương, vì là định luật của hệ mặt trời, có tính xây dựng và ổn định, đưa tất cả tiến lên phù hợp với định luật. Không nỗi sợ hãi, lo lắng hay ưu tư nào làm lay động thể cảm dục của người chí nguyện phụng sự tất cả. Y vun bồi sự tĩnh lặng, ổn định và cảm thức nương tựa vững chắc nơi định luật của Thượng đế. Sự tin tưởng hoan hỉ đặc trưng cho thái độ thường ngày của y. Y không nuôi dưỡng lòng ghen tị, sự u uất xám xịt, lòng tham hay sự thương hại bản thân, mà—nhận biết rằng mọi người đều là huynh đệ và mọi thứ hiện hữu đều tồn tại cho tất cả—y bình thản tiến bước trên con đường của mình.
Then ensues the development of his mental vehicle. In the control of the emotional body the server takes the attitude of elimination. His aim is so to train the emotional body that it becomes devoid of color, has a still vibration, and is clear and white, limpid as a pool on a still summer's day. In fitting the mental body for service the worker strives at the opposite of elimination; he seeks to build in information, to supply knowledge and facts, to train it intellectually and scientifically so that it may prove as time goes on a stable foundation for the divine wisdom. Wisdom supersedes knowledge, yet requires knowledge as a preliminary step. You must remember that the server passes through the Hall of Learning prior [Page 347] to entering the Hall of Wisdom. In training the mind body he seeks therefore orderly acquisition of knowledge, a supply of that which may be lacking, a sequential grasp of the innate mental faculty accumulated in previous lives, and lastly, a steadying of the lower mind so that the higher may dominate and the creative faculty of thought may be projected through the stillness. From the Silence of the Absolute was projected the universe. From darkness issued light, from the subjective emanated the objective. The negative stillness of the emotional body makes it receptive to impression from above. The positive stillness of the mental body leads to the higher inspiration.
Sau đó là sự phát triển hiện thể trí của y. Khi kiểm soát thể cảm dục, người phụng sự giữ thái độ loại bỏ. Mục tiêu của y là huấn luyện thể cảm dục sao cho nó không còn màu sắc, có rung động tĩnh lặng, trong sáng và trắng tinh, trong suốt như mặt hồ vào một ngày hè yên ả. Khi chuẩn bị thể trí cho công việc phụng sự, người hoạt động nỗ lực theo hướng ngược với sự loại bỏ; y tìm cách đưa vào thông tin, cung cấp tri thức và sự kiện, huấn luyện nó về trí năng và khoa học, để theo thời gian, nó có thể trở thành nền tảng ổn định cho minh triết thiêng liêng. Minh triết vượt trên tri thức, nhưng vẫn cần tri thức như một bước chuẩn bị. Các bạn phải nhớ rằng người phụng sự đi qua Phòng Học Tập trước [Page 347] khi bước vào Phòng Minh triết. Vì vậy, khi huấn luyện thể trí, y tìm cách tiếp thu tri thức có trật tự, bổ sung những gì có thể còn thiếu, từng bước nắm vững năng lực trí tuệ vốn có tích luỹ từ các kiếp trước, và cuối cùng làm ổn định Hạ trí để Thượng trí có thể chi phối, và năng lực sáng tạo của tư tưởng có thể phóng chiếu qua sự tĩnh lặng. Từ sự Im Lặng của Tuyệt Đối, vũ trụ đã được phóng chiếu. Từ bóng tối, ánh sáng xuất hiện; từ chủ quan, khách quan phát sinh. Sự tĩnh lặng thụ động của thể cảm dục khiến nó tiếp nhận được ấn tượng từ bên trên. Sự tĩnh lặng chủ động của thể trí dẫn đến cảm hứng cao hơn.
Having sought to control and wisely use his personality in its three departments, the lover of humanity seeks perfection in action. No magnificent dreams of martyrdom and the glorious yet ephemeral chimeras of spectacular service engross his attention, but the instant application of all his powers to the next duty is the line of his endeavor. He knows that perfection in the foreground of his life and in the details of his environing work will cause accuracy in the background too, and result in a whole picture of rare beauty. Life progresses by small steps, but each step, taken at the right time, and each moment wisely occupied, leads to long distance covered and a life well spent. Those Who guide the human family test out all applicants for service in the small detail of everyday life, and he who shews a record of faithful action in the apparently non-essential will be moved into a sphere of greater moment. How, in an emergency or crisis, can They depend on someone who in everyday matters does slovenly and ill-judged work?
Sau khi tìm cách kiểm soát và sử dụng sáng suốt phàm ngã trong ba bộ phận của nó, người yêu thương nhân loại tìm kiếm sự hoàn hảo trong hành động. Không phải những giấc mơ tráng lệ về sự tử đạo hay những ảo mộng huy hoàng nhưng phù du về việc phụng sự ngoạn mục thu hút sự chú ý của y; hướng nỗ lực của y là lập tức vận dụng mọi năng lực vào bổn phận kế tiếp. Y biết rằng sự hoàn hảo ở phần nổi bật của đời sống và trong các chi tiết của công việc xung quanh cũng sẽ tạo ra sự chính xác ở phần hậu cảnh, và đem lại một bức tranh toàn thể có vẻ đẹp hiếm thấy. Đời sống tiến triển bằng những bước nhỏ, nhưng mỗi bước đi đúng lúc và mỗi khoảnh khắc được sử dụng sáng suốt đều dẫn đến một quãng đường dài đã vượt qua và một đời sống được sống xứng đáng. Các Đấng hướng dẫn gia đình nhân loại thử thách mọi người xin phụng sự qua những chi tiết nhỏ của đời sống hằng ngày, và người chứng tỏ hành động tận tâm trong những việc có vẻ không thiết yếu sẽ được chuyển sang một lĩnh vực quan trọng hơn. Trong một tình huống khẩn cấp hay khủng hoảng, làm sao Các Ngài có thể trông cậy vào người làm việc cẩu thả và thiếu suy xét trong những chuyện hằng ngày?
A further method of service shews itself in adaptability. This involves a readiness to retire when other or [Page 348] more important people are sent to fill the niche he may be occupying, or (inversely) an ability to step out of office into work of greater importance, when some less competent worker can do his work with equal facility and good judgment. It is the part of wisdom in all who serve neither to rate themselves too highly nor to underrate themselves. Bad work results when the non-efficient fill a post, but it is equally a loss of time and power when skilled workers hold positions where their skill has not full scope and where less well equipped men and women would do as well. Be ready, therefore, all ye who serve, to stay a lifetime in office non-spectacular and seemingly unimportant, for such may be your destiny and the place you best may serve; but be equally ready to step on to work of more apparent value when the Master's word goes forth, and when circumstances—and not the server's planning—indicate that the time is come. Ponder this last sentence.
Một phương pháp phụng sự nữa thể hiện ở khả năng thích ứng. Điều này bao gồm sự sẵn sàng rút lui khi những người khác hoặc [Page 348] những người quan trọng hơn được cử đến đảm nhiệm vị trí y đang giữ, hoặc (ngược lại) khả năng rời chức vụ để bước vào công việc quan trọng hơn, khi một người hoạt động có năng lực kém hơn có thể thực hiện công việc của y cũng dễ dàng và sáng suốt như vậy. Sự sáng suốt ở mọi người phụng sự là không đánh giá mình quá cao cũng không đánh giá mình quá thấp. Công việc kém chất lượng xảy ra khi người thiếu năng lực đảm nhiệm một vị trí, nhưng cũng lãng phí thời gian và năng lực khi những người thành thạo giữ các vị trí không cho phép họ phát huy đầy đủ kỹ năng, và ở đó những người nam và nữ ít được trang bị hơn cũng có thể làm tốt như vậy. Vì thế, tất cả những người phụng sự hãy sẵn sàng ở suốt đời trong một chức vụ không nổi bật và dường như không quan trọng, vì đó có thể là số phận của các bạn và là nơi các bạn có thể phụng sự tốt nhất; nhưng cũng hãy sẵn sàng bước sang công việc có giá trị rõ rệt hơn khi lời của Chân sư được ban ra, và khi hoàn cảnh—chứ không phải kế hoạch của người phụng sự—cho thấy thời điểm đã đến. Hãy suy ngẫm câu cuối này.
3 - The attitude following action. – 3 - Thái độ sau hành động.
What should this attitude be? Utter dispassion, utter self-forgetfulness, and utter occupation with the next step to be taken. The perfect server is he who does to the utmost of his ability what he believes to be the Master's will, and the work to be done by him in co-operation with God's plan. Then, having done his part, he passes on to a continuance of the work, and cares not for the result of his action. He knows that wiser eyes than his see the end from the beginning; that insight, deeper and more loving than his, is weighing up the fruit of his service; and that judgment, more profound than his, is testing the force and extent of the vibration set up, and is adjusting that force according to the motive. He does not suffer from pride over what he has done, nor from undue depression over [Page 349] lack of accomplishment. At all times he does his very best, and wastes not time in backward contemplation, but steadily presses forward to the accomplishment of the next duty. Brooding over past deeds, and casting the mind back over old achievement, is in the nature of involution, and the servant seeks to work with the law of evolution. This is an important thing to note. The wise server, after action, pays no attention to what his fellow servants say, provided his superiors (either incarnating men and women, or the Great Ones Themselves) prove content or silent; he cares not if the result is not that which he anticipated, provided that he faithfully did the highest thing he knew; he cares not if reproach and reproof assail him, provided his inner self remains calm and non-accusing; he cares not if he loses friends, relatives, children, the popularity once enjoyed, and the approbation of his environing associates, provided his inner sense of contact with Those Who guide and lead remains unbroken; he cares not if he seem to work in the dark and is conscious of little result from his labors, provided the inner light increases and his conscience has nought to say.
Thái độ này phải như thế nào? Hoàn toàn không đắm chấp, hoàn toàn quên mình, và hoàn toàn chuyên tâm vào bước kế tiếp cần thực hiện. Người phụng sự hoàn hảo là người làm hết khả năng những gì y tin là ý chí của Chân sư, và là công việc y phải thực hiện trong sự hợp tác với Thiên Cơ của Thượng đế. Rồi sau khi đã làm phần việc của mình, y tiếp tục công việc và không bận tâm đến kết quả hành động. Y biết rằng những đôi mắt sáng suốt hơn mắt y nhìn thấy kết cục ngay từ khởi đầu; rằng sự thấu triệt sâu sắc hơn và đầy tình thương hơn sự thấu triệt của y đang cân nhắc thành quả phụng sự của y; và rằng sự phán đoán sâu xa hơn sự phán đoán của y đang khảo nghiệm sức mạnh và phạm vi của rung động đã tạo ra, đồng thời điều chỉnh mãnh lực ấy theo động cơ. Y không khổ vì kiêu hãnh về những gì mình đã làm, cũng không quá chán nản vì [Page 349] thiếu thành tựu. Mọi lúc, y đều làm hết sức mình, không lãng phí thời gian để chiêm ngưỡng lại quá khứ, mà đều đặn tiến tới hoàn thành bổn phận kế tiếp. Miên man nghĩ về những việc đã qua và đưa thể trí trở lại những thành tựu cũ thuộc bản chất của giáng hạ tiến hoá, trong khi người phụng sự tìm cách hoạt động cùng định luật thăng thượng tiến hoá. Đây là điều quan trọng cần lưu ý. Sau hành động, người phụng sự sáng suốt không chú ý đến lời của những người đồng phụng sự, miễn là các bậc cao hơn y (dù là những người nam và nữ đang nhập thể hay chính Các Đấng Cao Cả) tỏ ra hài lòng hoặc im lặng; y không bận tâm nếu kết quả không như mình dự kiến, miễn là y đã tận tâm làm điều cao nhất mình biết; y không bận tâm nếu những lời trách móc và khiển trách tấn công mình, miễn là bản ngã bên trong vẫn bình thản và không tự kết tội; y không bận tâm nếu mất bạn bè, thân quyến, con cái, sự mến mộ từng có và sự tán thành của những người cộng sự xung quanh, miễn là cảm thức tiếp xúc bên trong với các Đấng hướng dẫn và dẫn dắt vẫn không gián đoạn; y không bận tâm nếu dường như mình làm việc trong bóng tối và nhận biết rất ít kết quả từ công sức, miễn là ánh sáng bên trong tăng lên và lương tâm không có điều gì để trách.
To sum it all up:—
Tóm lại tất cả:—
The motive may be epitomized in these few words:—The sacrifice of the personal self for the good of the One Self.
Có thể tóm lược động cơ trong vài lời này:—Hi sinh bản ngã cá nhân vì lợi ích của Bản Ngã Duy Nhất.
The method may also be shortly put:—Wise control of the personality, and discrimination in work and time.
Phương pháp cũng có thể trình bày ngắn gọn:—Kiểm soát sáng suốt phàm ngã, và phân biện trong công việc cũng như thời gian.
The resultant attitude will be:—Complete dispassion, and a growing love of the unseen and the real.
Thái độ phát sinh sẽ là:—Hoàn toàn không đắm chấp, và tình thương ngày càng tăng đối với điều vô hình và chân thực.
All this will be consummated through steady application to occult Meditation.
Tất cả điều này sẽ hoàn tất qua việc chuyên tâm đều đặn vào Tham thiền huyền môn.
THE ARCANE SCHOOL – TRƯỜNG ARCANE
Training for new age discipleship
Việc huấn luyện cho địa vị đệ tử trong kỷ nguyên mới
is provided by the Arcane School.
do Trường Arcane cung cấp.
The principles of the Ageless Wisdom
Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời
are presented through esoteric meditation,
được trình bày qua tham thiền nội môn,
study and service as a way of life.
học tập và phụng sự như một lối sống.
Contact the publishers for information.
Xin liên hệ nhà xuất bản để biết thông tin.