← Mental Rules – Introduction

Which involves the factor of volition and will.

Trích nội dung chương

I think the medical people will have specific names – sympathetic, parasympathetic and so forth. Is this the network related to the second ray, is related to the third ray, or the sum combination of the two? Certainly, it has the sensitivity associated with the second ray and the complexity associated with the third, the network. The idea of the ramifications, that kind of ramifying complexity related very much to the third ray. So this nervous structure and the words are used here. It’s an intelligent coordination of all factors within the energy system, the vehicles of man. Tôi nghĩ những người trong lãnh vực y học sẽ có những tên cụ thể…


Which involves the factor of volition and will.

Liên quan đến yếu tố ý chí và ý muốn.

[53] b. Sensory system of nerves.

[53] b. Hệ thần kinh cảm giác.

That’s our sensitivity, and …

Đó là sự nhạy cảm của chúng ta,

[54] c. Peripheral system of nerves.

[54] C. Hệ thần kinh ngoại vi

I think the medical people will have specific names – sympathetic, parasympathetic and so forth. Is this the network related to the second ray, is related to the third ray, or the sum combination of the two? Certainly, it has the sensitivity associated with the second ray and the complexity associated with the third, the network. The idea of the ramifications, that kind of ramifying complexity related very much to the third ray. So this nervous structure and the words are used here. It’s an intelligent coordination of all factors within the energy system, the vehicles of man.

Tôi nghĩ những người trong lãnh vực y học sẽ có những tên cụ thể cho những điều này—ví dụ hệ thần kinh giao cảm, hệ thần kinh đối giao cảm Liệu mạng lưới này liên quan đến cung hai hay cung ba, hay tổng hợp của cả hai? Chắc chắn nó có sự nhạy cảm liên quan đến cung hai và sự phức tạp liên quan đến cung ba. Mạng lưới, ý tưởng về sự phân nhánh, sự phức tạp phân nhánh liên quan rất nhiều đến cung ba.

This nervous structure, coordinating, correlating

Cấu trúc thần kinh này, phối hợp, liên kết –

As we know the various organs in our body let us say are correlated in their functioning with each other and we can feel often that correlation

Như chúng ta biết, các cơ quan khác nhau trong cơ thể chúng ta, chúng tương quan trong chức năng với nhau và chúng ta có thể cảm nhận thường xuyên sự tương quan đó

and producing an outer and inner group activity

– và tạo ra hoạt động nhóm bên ngoài và bên trong –

The various factors in the energy system working together as a group

Các yếu tố khác nhau trong hệ thống năng lượng làm việc cùng nhau như một nhóm

demonstrates primarily through the three parts of the nervous system.

– thể hiện chủ yếu qua ba phần của hệ thần kinh.

a. Cerebro-spinal system.

a. Hệ thống não-tủy sống.

b. Sensory system of nerves.

b. Hệ thống thần kinh cảm giác.

c. Peripheral system of nerves.

c. Hệ thống thần kinh ngoại biên.

[55] It is closely associated with the energy aspect –

[55] Nó liên kết chặt chẽ với khía cạnh năng lượng,

The first aspect –

Khía cạnh thứ nhất –

[56] being the apparatus utilised by that energy to vitalise the body, to produce –

[56] là bộ máy được sử dụng bởi năng lượng đó để tiếp sinh lực cho cơ thể, để tạo ra hoạt động và chức năng phối hợp của cơ thể, và để mang lại một sự hòa hợp thông minh với thế giới mà nó phải đóng vai trò của mình.

Especially here

Đặc biệt ở đây

its coordinated activity and functioning, and to bring about an intelligent rapport with the world in which it has to play its part.

– hoạt động phối hợp và chức năng của nó, để mang lại sự hòa hợp thông minh với thế giới mà nó phải đóng vai trò của mình.

So, it is driven by the energy, but the intelligent coordination, or the correlation, the linking of all the different factors, is connected with this second aspect of the nerves and I suppose the nadis behind the nerves.

Vì vậy, nó được điều khiển bởi năng lượng nhưng sự phối hợp thông minh, hoặc sự tương quan, liên kết của tất cả các yếu tố khác nhau liên quan với khía cạnh thứ hai của các dây thần kinh, và tôi cho rằng với các nadis đằng sau dây thần kinh.

[57] It lies back, if one might use such an expression, of the body-nature proper, back of the mass of the flesh and bone and muscle. It in its turn, is motivated by and controlled by two factors:

[57] Nó nằm phía sau, nếu người ta có thể nói như vậy, của chính bản chất cơ thể, phía sau khối thịt, xương và cơ bắp. Đến lượt mình, nó được thúc đẩy và kiểm soát bởi hai yếu tố:

Here DK is stepping into this role as an, what do you call one who studies anatomy?

Ở đây, Chân sư DK đang bước xuống vào vai trò của một người mà bạn gọi là người nghiên cứu giải phẫu học?

[58] a. The sum total of the energy which is the individual quota of vital energy.

[58] a. Tổng số năng lượng là hạn mức cá nhân của năng lượng thiết yếu.

Expendable and depletable by the end of life. And be

Có thể tiêu hao được và cạn kiệt vào cuối đời.

[59] b. The energy of the environment in which the individual finds himself and within which he has to function and to play his part.

[59] b. Năng lượng của môi trường mà cá nhân thuộc về và trong đó họ phải hoạt động và đóng vai trò của mình.

And some degree of regeneration or vitality can be had from the environment. It’s not only an inner factor, we can be vitalized by outer factors as well. Sometimes we depend entirely upon vitalization, by outer factors and forget that we can inwardly call upon our own subtle reserves of vitality which are independent of the environment.

Một mức độ tái tạo, hoặc sinh lực có thể có từ môi trường. Nó không chỉ là một yếu tố bên trong. Chúng ta có thể được tiếp thêm sinh lực từ các yếu tố bên ngoài. Đôi khi chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào sự tiếp sinh lực từ các yếu tố bên ngoài và quên rằng chúng ta có thể kêu gọi đến các nguồn sinh lực tinh tế của riêng mình mà không phụ thuộc vào môi trường.

[60] This coordinating nervous system, this network of interrelating and sensitive nerves

[60] Hệ thần kinh phối hợp này, mạng lưới các dây thần kinh liên kết và nhạy cảm này

– see when the word sensitivity is there, we find the second ray –

– khi từ nhạy cảm xuất hiện, chúng ta thấy cung hai –

[61] is the symbol in man of the soul, and an outer and visible form of an inner spiritual reality.

[61] là biểu tượng trong con người của linh hồn, và là hình thức bên ngoài và hữu hình của một thực tại tinh thần nội tại.

Here we have a strong suggestion of the second ray relationship. And then it say behind and within and behind –

Ở đây chúng ta có một gợi ý mạnh mẽ về mối quan hệ cung hai. Nó nói phía sau và bên trong –

back of the mass of the flesh and bone and muscle.

phía sau khối thịt, xương và cơ bắp.

Moving these things in a coordinated manner and an intelligent and sensitive manner. I suppose as our consciousness develops, our nervous system develops correspondencially. With each life I suppose we’re born with a more sensitive nervous system corresponding to the growth of consciousness which should have occurred as we gradually ascend, the ladder of evolution. This is the whole materia medica here, this is the medical discussion and it is greatly enlarged in the book Esoteric Healing.

Điều khiển những thứ này một cách phối hợp, thông minh và nhạy cảm. Tôi cho rằng khi tâm thức của chúng ta phát triển, hệ thống thần kinh của chúng ta phát triển tương ứng. Tôi cho rằng với mỗi kiếp sống, chúng ta được sinh ra với một hệ thống thần kinh nhạy cảm hơn tương ứng với sự phát triển của tâm thức, điều này sẽ xảy ra khi chúng ta dần dần thăng tiến trên thang tiến hóa. Phần này nói hoàn toàn về y học, là một cuộc thảo luận y học và được mở rộng rất nhiều trong cuốn sách Trị Liệu Huyền Môn.

[62] 3. There is finally what might be described as the body,

[62] 3. Cuối cùng, cái có thể được mô tả là cơ thể,

Now, body is generally considered to be physical, but when you look at spirit, soul, and body, the entire personality is considered, in a way, to be the body.

Cơ thể thường được coi là xác thân vật lý, nhưng khi bạn nhìn vào tinh thần, linh hồn, cơ thể, thì toàn bộ phàm ngã được coi như là cơ thể.

[63] the sum total of flesh, of muscle, and of bone which the man carries around,

[63] tổng hợp của thịt, cơ bắp và xương mà con người [Page 20] mang theo,

That gives the picture and there are some days when you really know it's true, that what we are internally is carrying around this heavy mass, is –

Từ mang theo cho chúng ta một hình ảnh, và sẽ có ngày khi bạn thực sự biết rằng điều đó đúng, rằng cái mà chúng ta thực sự là bên trong đang mang theo khối nặng nề này,

[64] correlated by the nervous system and energised by what we vaguely call his “life”.

[64] được phối hợp bởi hệ thần kinh và được tiếp năng lượng bởi cái mà chúng ta gọi một cách mơ hồ là "sự sống" của y.

Or energy. This is the synthetic statement, so – man carries around,

Hoặc ‘năng lượng’. Đây là tuyên bố tổng hợp, vì vậy con người mang theo khối thịt, cơ bắp và xương

There is finally what might be described as the body, the sum total of flesh, of muscle, and of bone –

Cuối cùng, cái có thể được mô tả như là cơ thể, tổng thể của thịt, cơ bắp và xương–

Right there we have a triplicity –

Ngay ở đây chúng ta có một sự tam phân –

which the man carries around, –

mà con người mang theo, –

As we move in, would be, and discover ourselves to be a subtle non-material being and we can locate our identity in that subtlety. We do get the sense that through volition we carry this mass moving from place to place, apparently

Khi chúng ta di chuyển sâu vào bên trong, khám phá ra mình là một thực thể phi vật chất tinh tế và chúng ta có thể xác định bản sắc của mình trong sự tinh tế đó. Chúng ta thực sự cảm nhận được rằng qua ý nguyện (volition), chúng ta mang theo khối lượng này di chuyển từ nơi này sang nơi khác,

man carries around, correlated by the nervous system

con người mang theo, được điều phối bởi hệ thần kinh –

The great coordinating intelligent system

Hệ thống điều phối thông minh tuyệt vời

and energised by what we vaguely call his "life",

– và được tiếp năng lượng bởi những gì chúng ta mơ hồ gọi là "sự sống" của y,

Which is the vitality, the beingness behind all things.

Là sinh lực, hiện hữu phía sau mọi thứ.

[65] In these three, the life, the nervous system and the body mass we find the reflection and the symbol of the greater whole,

[65] Trong ba điều này, sự sống, hệ thần kinh và cơ thể, chúng ta tìm thấy phản ánh và biểu tượng của tổng thể lớn hơn,

sort of a 123 –

Vâng, một loại 1,2,3 –

[66] and by a close study of these, and a comprehension of their functions and group relation, we can arrive at an understanding of some of the laws and principles which direct the activities of “God in nature”—a phrase, sublimely true and equally finitely false.

[66] và bằng cách nghiên cứu kỹ lưỡng những điều này và hiểu rõ các chức năng và mối quan hệ nhóm của chúng, chúng ta có thể đạt đến sự hiểu biết về một số định luật và nguyên lý điều khiển các hoạt động của "Thượng Đế trong tự nhiên"—một cụm từ vừa tuyệt đối đúng đắn lại vừa hoàn toàn sai lầm.

Oh, that’s quite a statement. We can arrive at an understanding with some of the laws and principles which direct the activities of the Macrocosm.

Đó là một tuyên bố khá ấn tượng. Chúng ta có thể đạt được sự hiểu biết về một số định luật và nguyên lý chỉ đạo các hoạt động của Đại thiên địa.

"God in nature"

"Thượng đế trong tự nhiên" –

But there is also God external from nature or abstracted from nature, and we have the infusion of the great intelligence throughout the Kingdoms of Nature. But God is far more than this finitude that we find working in nature. By nature we oftentimes mean that that which has to do with the dense physical body of the planetary or Solar Logos, at least the lower eighteen subplanes. We're not just talking about only the kingdoms on the lower levels. Nature has these more subtle correspondences as well and God is extracted from or what we call abstracted, extracted and abstracted from these Kingdoms through which it manifests.

Nhưng cũng có Thượng đế bên ngoài tự nhiên hoặc tách rời khỏi tự nhiên, và chúng ta có sự thẩm thấu của trí tuệ vĩ đại trong các giới Thiên nhiên. Nhưng Thượng đế còn lớn hơn nhiều so với sự hữu hạn mà chúng ta thấy hoạt động trong thiên nhiên. Khi nói đến tự nhiên, chúng ta thường muốn nói đến những gì liên quan đến thể xác dày đặc của Hành Tinh hoặc Thái Dương Thượng đế, ít nhất là mười tám cõi phụ thấp hơn. Chúng ta không chỉ nói về các giới ở các cấp độ thấp hơn. Thiên nhiên cũng có những sự tương ứng tinh tế hơn, và Thượng đế được tách biệt hoặc trừu xuất khỏi các giới mà thông qua đó Ngài biểu hiện.

[67] The three aspects of divinity, the central energy, or spirit, the coordinating force or soul, and that which these two use and unify are in reality one vital principle manifesting in diversity.

[67] Ba phương diện của thiên tính, năng lượng trung tâm hay tinh thần, mãnh lực phối hợp hay linh hồn, và những gì mà hai điều này sử dụng và hợp nhất thực chất là một nguyên lý sinh lực biểu hiện trong sự đa dạng.

Isn’t this exactly what HPB. just said? Only it is offered in different words. So, this is the great statement by HPB offered in a different expression

Đây chính xác là những gì mà Bà HPB đã nói, chỉ có điều nó được trình bày bằng các từ ngữ khác. Vì vậy, đây là tuyên bố vĩ đại của Bà HPB được diễn đạt theo cách khác.

the central energy, or spirit, the coordinating force or soul, and that which these two use and unify are in reality one vital principle manifesting in diversity.

năng lượng trung tâm hay tinh thần, mãnh lực phối hợp hay linh hồn, và những gì mà hai điều này sử dụng và hợp nhất thực chất là một nguyên lý sinh lực biểu hiện trong sự đa dạng.

We can think of the circle with the dot; the dot is the central energy, symbol of central energy or spirit, the radius or the sort of a space or distance between the dot and the periphery. It is the soul, that’s the radius as the coordinating force, and then there is the periphery which is really the shell which is the body.

Chúng ta có thể nghĩ về hình tròn với dấu chấm; dấu chấm biểu tượng cho năng lượng trung tâm hay tinh thần, bán kính hay khoảng cách giữa dấu chấm và chu vi là linh hồn. Bán kính là mãnh lực phối hợp, và sau đó chu vi thực sự là lớp vỏ, là cơ thể.

[68] These are the Three in One, the One in Three, God in nature, and nature itself in God.

[68] Đây là Ba trong Một, Một trong Ba, Thượng Đế trong tự nhiên và tự nhiên trong Thượng Đế.

We have to see it both ways and with later identification we do see, pantheistically, all things as identified with God or identified as God. When we can look all around us in the outer world of senses, and through the inner senses of the astral body and the mind, and see only God, then we’re coming into that kind of unity which identification reveals and we’re coming closer to an apprehension of reality and overcoming the illusion of separateness.

Chúng ta phải nhìn nó theo cả hai cách, và với sự đồng nhất hóa sau này, một cách phiếm thần, chúng ta thấy mọi thứ đều được đồng hóa với Thượng đế, hoặc như là Thượng đế. Khi chúng ta có thể nhìn xung quanh mình trong thế giới bên ngoài, qua các giác quan, các giác quan hồng trần và các giác quan bên trong của thể cảm dục và của thể trí, và chỉ thấy Thượng đế, thì chúng ta đang tiến vào sự hợp nhất mà sự đồng nhất hóa tiết lộ. Chúng ta đang tiến gần hơn đến sự nhận thức về Thực Tại và vượt qua ảo tưởng về sự chia rẻ.

[69] Carrying the concept, for the sake of illustration, into other realms of thought this trinity of aspects can be seen functioning in the religious world as the esoteric teaching, the fundamental symbology and doctrines of the great world religions and the exoteric organisations; in government it is the sum total of the will of the people whatever that will may be, the formulated laws, and the exoteric administration;

[69] Mang khái niệm này vào các lĩnh vực tư tưởng khác để minh họa, bộ ba phương diện này có thể được thấy hoạt động trong thế giới tôn giáo như là giáo lý nội môn, các biểu tượng và học thuyết cơ bản của các tôn giáo lớn trên thế giới và các tổ chức ngoại môn; trong chính phủ đó là tổng hợp của ý chí của nhân dân bất kể ý chí đó là gì, các luật lệ được hình thành, và sự quản lý bên ngoài;

It’s giving us a series of trinities which are correlated with these three major rays, the third being the outermost ray, and the first ray associated with the will and the laws and the methods of coordination and correlation and right functioning connected with the second aspect. (I’m remembering Dane Rudhyar now speaking of Jupiter as a great coordinating factor and it’s on the second ray also with the seventh)

Ngài đang cung cấp cho chúng ta một loạt các bộ ba tương ứng với ba cung chính, cung ba là cung ngoại vi nhất, và cung một liên quan đến ý chí. Các luật lệ và các phương pháp phối hợp, tương quan và hoạt động đúng đắn liên quan đến khía cạnh thứ hai. (Tôi nhớ Dane Rudhyar có nói về sao Mộc như là một yếu tố phối hợp lớn và nó thuộc cung hai cùng với cung bảy)

[70] in education it is the will to learn, the arts and sciences, in education it is the will to learn, the arts and sciences

[70] trong giáo dục đó là ý chí học hỏi, các nghệ thuật và khoa học,

(which are the substance of the learning)

Là chất liệu của việc học hỏi

[71] and the great exoteric educational systems;

[71] và các hệ thống giáo dục ngoại môn lớn;

This is marvelous, how he generalizes the trinity to different areas of our human endeavor –

Điều này thật tuyệt vời, cách Ngài tổng quát hóa bộ ba vào các lĩnh vực khác nhau của nỗ lực con người chúng ta –

the will to learn, the arts and sciences

ý chí học hỏi, các nghệ thuật và khoa học –

– which we do learn, and which reveal to us the manner of coordination and correlation in the inner and outer environment and then giving us the shell, the place, the space, the protected area, the foundation where the learning can take place. Of course, now it's over the internet and things have changed drastically. One can go to college right in one’s own room. Of course it would lack probably the social interaction.

mà chúng ta học, và tiết lộ cho chúng ta cách thức phối hợp và tương quan trong môi trường bên trong và bên ngoài, và sau đó nơi, không gian, khu vực được bảo vệ, nơi việc học có thể diễn ra. Tất nhiên, bây giờ là qua internet và mọi thứ đã thay đổi đáng kể. Một người có thể học đại học ngay trong phòng của mình. Tất nhiên, điều đó có thể thiếu sự tương tác xã hội.

[72] in philosophy it is the urge to wisdom, the interrelated schools of thought, and the outer presentation of the teachings.

[72] trong triết học đó là sự thúc đẩy đạt đến sự minh triết, các trường phái tư tưởng liên kết với nhau, và sự trình bày bên ngoài của các giáo lý.

– in books and lectures and other forms. I find this very useful type of application.

Trong sách vở, bài giảng và các hình thức khác. Tôi thấy đây là sự ứng dụng rất hữu ích.

[73] Thus this eternal triplicity runs through every department of the manifested world,

[73] Như vậy, bộ ba vĩnh cửu này đi qua mọi bộ phận của thế giới được biểu hiện,

– taking here education, philosophy and religion, to name three. He focuses on religion, education and philosophy, but there are other areas where the triplicity applies or to which the triplicity applies, where to which

Ở đây Ngài lấy giáo dục, triết học và tôn giáo làm ví dụ. Ngài tập trung vào tôn giáo, giáo dục và triết học, nhưng có những lĩnh vực khác mà tam nguyên này áp dụng, hoặc nơi mà tam nguyên này có thể áp dụng,

[74] whether viewed as that which is tangible, or as that which is sensitive and coherent, or that which is energising.

[74] dù được xem là cái hữu hình, hay là cái nhạy cảm và cố kết, hay là cái năng lượng hóa.

And here basically tangibility, ray three,

Và ở đây, cơ bản là tính hữu hình, cung ba,

sensitive and coherent –

nhạy cảm và gắn kết –

Ray two and

cung hai, và

energizing

năng lượng hóa

– ray one, and I think that’s pretty obvious.

– cung một, và tôi nghĩ điều đó khá rõ ràng.

[75] It is that intelligent activity which has been clumsily called “awareness”; it is the capacity of awareness itself, involving as it does sensitive response to environment, and the apparatus of that response, the divine duality of the soul; it is finally the sum total of that which is contacted and known; it is that of which the sensitive apparatus [Page 21] becomes aware.

[75] Đó là hoạt động thông minh đã được gọi một cách vụng về là "sự nhận thức"; đó là khả năng của chính sự nhận thức, liên quan đến phản ứng nhạy cảm với môi trường và bộ máy của phản ứng đó, là sự nhị nguyên thiêng liêng của linh hồn; cuối cùng, đó là tổng số của những gì được tiếp xúc và biết đến; đó là cái mà bộ máy nhạy cảm [Page 21] trở nên nhận thức được.

So again, He’s presenting to us a threefoldness. We have to be in Being to have We have to be in Being to have the capacity of consciousness and awareness. We have to have the apparatus of response and the divine duality of the soul. This is another triplicity. And then final triplicity given, finally the sum total, the final area of the triplicity given, that of which the sensitive apparatus becomes aware.

Một lần nữa, Ngài đang trình bày cho chúng ta một bộ ba. Chúng ta phải ở trong Bản Thể (Being) để có khả năng của tâm thức và nhận thức. Chúng ta phải có bộ máy của đáp ứng và lưỡng nguyên thiêng liêng của linh hồn. Sau đó là khu vực cuối cùng của bộ ba, cái mà bộ máy nhạy cảm trở nên nhận thức được.

[76] This, as we shall see later, is a gradually growing realisation, shifting ever into more esoteric and inner realms.

[76] Điều này, như chúng ta sẽ thấy sau này, là một sự nhận thức ngày càng phát triển, chuyển đổi dần vào các lĩnh vực nội môn và sâu xa hơn.

So always, there is, what can we call it? The Thinker, the thought and that which is the means of thought. There is the subject, the object, and that which makes the subject aware of the object, consciousness is that interrelating something between the subject and the object. And these three of course really are one.

Chúng ta có thể gọi nó là gì? Người Suy Tưởng (Thinker), Ý Nghĩ, và Phương Tiện của ý nghĩ. Có chủ thể, khách thể, và những gì làm cho chủ thể nhận thức về khách thể. Tâm thức là cái gì đó liên kết giữa chủ thể và khách thể, và ba điều này dĩ nhiên thực sự là một.

I guess we have to look at our life and find ourselves as the subject and we have to look at that which we consider to be objective and then we have to understand how it is we know or are aware of that which we have detected as objective. Now something can be objective and not necessarily on the outer plane. We can be objective about the phenomena on the astral plane or the mental plane and still consciousness survives as the interrelating means of being aware even of subtle things as objects. So perhaps, we should have an approach in our daily life where we stop ourselves for a moment and say “I, the subject, am aware of the object through the means of consciousness which is awareness, which is revelatory sensitivity.” Okay. Now let’s see, a little more:

Tôi nghĩ chúng ta phải nhìn vào cuộc sống của mình và tìm thấy chính mình là chủ thể, và chúng ta phải nhìn vào những gì chúng ta coi là khách thể, và sau đó chúng ta phải hiểu cách mà chúng ta biết hoặc nhận thức về những gì chúng ta đã phát hiện là khách thể. Một cái gì đó có thể là khách thể và không nhất thiết phải trên cõi giới bên ngoài. Có thể có khách thể về các hiện tượng trên cõi cảm dục hoặc cõi trí, và tâm thức vẫn tồn tại như là phương tiện liên kết để nhận thức ngay cả những điều tinh tế đó như các đối tượng. Vì vậy, có lẽ, chúng ta nên có một cách tiếp cận trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khi chúng ta dừng lại trong giây lát và nói "Tôi, chủ thể, đang nhận thức về khách thể thông qua phương tiện của tâm thức, đó là nhận thức, đó là sự nhạy cảm tiết lộ." Vâng, chúng ta còn một đoạn ngắn nữa:

[77] These three aspects are seen in man, the divine unit of life.

[77] Ba phương diện này được thấy trong con người, đơn vị sự sống thiêng liêng.

I guess, and they’re also seen within any Being, a Globe Lord, a Chain Lord, a Planetary Logos, a Solar Logos, a Cosmic Logos, superCosmic Logos and on our galactic Logos. All of these three aspects persist through an ever-increasing range of greater beings.

Tôi nghĩ chúng cũng được nhìn thấy trong bất kỳ Đấng nào, một Chúa Tể của một Bầu, một Chúa Tể của Chuỗi Hành tinh, một Hành Tinh Thượng Đế, một Thái Dương Thượng Đế, một Thượng Đế Vũ Trụ, một Thượng Đế Siêu Vũ Trụ, và trong Thượng Đế Ngân Hà của chúng ta. Tất cả ba khía cạnh này tồn tại qua một phạm vi ngày càng mở rộng của các thực thể lớn hơn.

[78] First he recognises them in himself; then he sees them in every form in his environment, and finally he learns to relate these aspects of himself to the similar aspects in other forms of divine manifestation.

[78] Trước tiên, con người nhận ra chúng trong bản thân mình; sau đó, con người thấy chúng trong mọi hình tướng trong môi trường của mình, và cuối cùng con người học cách liên kết các phương diện này của mình với các phương diện tương tự trong các hình tướng khác của sự biểu hiện thiêng liêng.

We are aware that the, let’s say the Planetary Logos, has life, and life (or being associated with volition) and has its own objectivity, and has its own consciousness which is increasing just as the outer form which expresses that consciousness as becoming ever more refined in the planetary Logoic system and thus for all systems. even humanity as an entity, the outer form of humanity will change according to the development of inner consciousness and behind it is the Being, humanity. So we are separating them in a way for discriminative study but we realize it’s all a dynamic interrelated process.

Chúng ta biết rằng Hành Tinh Thượng Đế có Sự Sống, Sự Sống hoặc Bản Thể liên quan đến Ý Chí; Ngài có sự biểu hiện khách quan và có tâm thức của riêng Ngài, và khi Tâm thức đó tăng trưởng, hình tướng bên ngoài biểu hiện tâm thức đó ngày càng trở nên tinh tế hơn trong hệ thống của Hành Tinh Thượng Đế, cũng như cho tất cả các hệ thống khác. Thậm chí đối với nhân loại như một thực thể, hình thức bên ngoài của nhân loại sẽ thay đổi theo sự phát triển của tâm thức bên trong, và đằng sau nó là Bản Thể. Vì vậy, chúng ta đang tách rời chúng ra để nghiên cứu, nhưng chúng ta nhận biết rằng đó là một quá trình liên kết động.

[79] Correct relation between forms will result in the harmonising and right adjustment of physical plane life.

[79] Mối quan hệ đúng đắn giữa các hình tướng sẽ dẫn đến sự hài hòa và điều chỉnh đúng đắn của đời sống cõi trần.

Here, He’s suggesting presence of the fourth ray

Ở đây, Ngài đang đề xuất sự hiện diện của cung bốn,

[80] Correct response to one’s environment will result in correct rapport with the soul aspect,

[80] Đáp ứng đúng đắn với môi trường của một người sẽ dẫn đến sự quan hệ đúng đắn với khía cạnh linh hồn,

In other words, we will begin to be aware of the world soul as found in every form of life within whatever system we happen to be

Nói cách khác, chúng ta sẽ bắt đầu nhận thức về linh hồn được tìm thấy trong mọi hình thức sống trong bất kỳ hệ thống nào mà chúng ta tình cờ gặp phải,

[81] hidden in every form

[81] ẩn giấu trong mọi hình tướng,

(the soul aspect hidden in every form)

Khía cạnh linh hồn ẩn dấu trong mọi hình tướng

[82] and will produce right relations between the various parts of the inner nervous structure to be found in every kingdom of nature, subhuman and superhuman.

[82] và sẽ tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các phần khác nhau của cấu trúc thần kinh nội tại có thể được tìm thấy trong mọi giới tự nhiên, cả dưới nhân loại và siêu nhân loại.

He suggests or hints here at the inner nervous structure, even of the mineral kingdom.

Ngài gợi ý hoặc ám chỉ ở đây về cấu trúc thần kinh nội tại thậm chí của giới khoáng vật.

[83] This is as yet practically unknown but is rapidly coming into recognition,

[83] Điều này hiện tại vẫn còn hầu như chưa được biết đến nhưng đang nhanh chóng được công nhận,

– we do recognize it with the plants and certainly with animals,

Chúng ta công nhận điều đó với thực vật và chắc chắn với động vật,

[84] and when it is proven and realised it will be discovered that therein lies the basis of brotherhood and of unity.

[84] và khi nó được chứng minh và nhận ra, người ta sẽ khám pha ra rằng đó là cơ sở của tình huynh đệ và của sự hợp nhất.

An interrelationship based upon sensitivity and etheric pervasion of all kingdoms of nature.

Một mối quan hệ liên kết dựa trên sự nhạy cảm và sự thẩm thấu dĩ thái của tất cả các giới của tự nhiên.

[85] As the liver, the heart, the lungs, the stomach, and other organs in the body are separate in existence and in function and yet are unified and brought into relation through the medium of the nervous system

[85] Giống như gan, tim, phổi, dạ dày và các cơ quan khác trong cơ thể tồn tại và có chức năng riêng biệt nhưng vẫn được thống nhất và đưa vào mối quan hệ thông qua hệ thần kinh

– the second-ray factor of coherence does this, so this is the Law of Coherence, second ray

Yếu tố kết dính của cung hai thực hiện điều này, do đó đây là Định luật Kết Dính, thuộc cung hai.

[86] throughout the body, so will it be found that in the world such organisms as the kingdoms in nature have their separate life and functions yet are correlated and coordinated by a vast intricate sensory system which is sometimes called the soul of all things, the anima mundi, the underlying consciousness.

[86] khắp cơ thể, người ta cũng sẽ thấy rằng trong thế giới, các tổ chức như các giới tự nhiên có sự sống và chức năng riêng biệt nhưng vẫn được liên kết và phối hợp bởi một hệ thống cảm giác phức tạp rộng lớn mà đôi khi được gọi là linh hồn của vạn vật, anima mundi, tâm thức nền tảng.

So, he is correlating the Anima Mundi with a great nervous, sensory system.

Vì vậy, Ngài đang liên kết Anima Mundi với một hệ thống thần kinh và cảm giác rộng lớn.

So, all kingdoms of nature are thus correlated by this macrocosmic nervous system. This soul sensitivity in the Anima Mundi, the soul of the world, the soul within all things. The sensitivity within all things; goodness, what a picture and a necessary picture it is when we realize that we, the microcosm, are analogous in our function to the greater life in which we live and move and have our being.

Do đó, tất cả các giới của thiên nhiên được tương quan bởi hệ thống thần kinh vĩ mô này, sự nhạy cảm linh hồn trong Anima Mundi, linh hồn của thế giới, linh hồn trong vạn vật, sự nhạy cảm trong vạn vật. Sự nhạy cảm be7n trong vạn vật. Thật là một bức tranh vĩ đại và là một bức tranh cần thiết khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta—như tiểu thiên địa—trong chức năng của chúng ta tương đồng với sự sống lớn hơn mà trong đó chúng ta sống, di chuyển và tồn tại.

So there is both. We have separate function of the different organs, and the coordination of those organs with each other. So we have both. So we have, if we look at it we have individuality and group function, both, and we also later have Oneness which is the last of the three: individuality, group correlation or coordination and finally, Oneness. We see that actually in the statements on page 332 of Esoteric Astrology when we study Gemini. There's the individual, I serve myself, I serve my brother, there's the group and then I serve the One.

Chúng ta có cả hai điều này: chúng ta có chức năng riêng biệt của các cơ quan khác nhau, chúng ta cũng có sự phối hợp của những cơ quan đó. Vì vậy, nếu chúng ta nhìn vào đó, chúng ta có chức năng cá nhân và chứ năng nhóm, và sau đó chúng ta có Sự Thống Nhất, đó là cái yếu tố cuối cùng của bộ ba: tính cá nhân, sự phối hợp hoặc tương quan nhóm, và cuối cùng sự Thống Nhất. Chúng ta thấy điều đó trên trang 332 của Chiêm tinh học Nội môn khi chúng ta nghiên cứu Song Tử. Tôi phụng sự bản thân tôi, tôi phụng sự huynh đệ tôi, là nhóm, và sau đó tôi phụng sự Đấng Duy Nhất.

Well goodness we’re getting deeply into it and of course I realize there's a lot more to be known here and a lot more to discuss and the details are many, but He’s dealing with triplicities and their Oneness as well as their correlation, the correlation of the factors within them.

Chúng ta đang đi sâu vào vấn đề này, và tôi nhận ra còn nhiều điều phải biết ở đây, nhiều điều để thảo luận, các chi tiết thì nhiều, nhưng Ngài đang đề cập đến các bộ ba và Sự Thống Nhất của chúng cũng như sự tương quan của các yếu tố trong chúng.

This will be then the end of A Treatise on White Magic video commentary program number 5. We’re on page 21.

Đến đây là kết thúc của chương trình bình luận video A Treatise on White Magic số 5, trang 21, và chúng ta sẽ bắt đầu với webinar số 6, trang 21.

See you soon, bye bye.

Hẹn gặp lại các bạn sớm, tạm biệt.