← Mental Rules – Introduction

Mental Rule 8

Tóm lược chương

Thầy MDR nhấn mạnh Chân sư DK mở đầu bằng một lời kêu gọi khiêm tốn rất mạnh: khi trí tuệ con người còn chưa đáp ứng được với trực giác ẩn kín và chưa sống vững trong tâm thức linh hồn, chúng ta không ở vị thế để khẳng định dứt khoát điều gì là đúng hay sai về tinh thần, sự sống hay linh hồn. Thầy MDR nhận xét thái độ đúng phải là “sự tra vấn hợp lý” của một nhà triết học điều tra, chấp nhận giả thuyết vì tính khả hữu của nó nhưng không tuyên bố như chân lý đã được chứng minh nếu chưa tự mình biết và sống điều đó. Thầy đặc biệt lưu ý nhiều người khẳng định tri thức một cách vội vàng vì bất an của phàm ngã, vì sợ mình sai, và chính sự đồng…


Mental Rule 8

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary webinar 8_tagged

Thái độ nhận thức đúng đắn trước giáo lý huyền môn

Thầy MDR nhấn mạnh Chân sư DK mở đầu bằng một lời kêu gọi khiêm tốn rất mạnh: khi trí tuệ con người còn chưa đáp ứng được với trực giác ẩn kín và chưa sống vững trong tâm thức linh hồn, chúng ta không ở vị thế để khẳng định dứt khoát điều gì là đúng hay sai về tinh thần, sự sống hay linh hồn. Thầy MDR nhận xét thái độ đúng phải là “sự tra vấn hợp lý” của một nhà triết học điều tra, chấp nhận giả thuyết vì tính khả hữu của nó nhưng không tuyên bố như chân lý đã được chứng minh nếu chưa tự mình biết và sống điều đó. Thầy đặc biệt lưu ý nhiều người khẳng định tri thức một cách vội vàng vì bất an của phàm ngã, vì sợ mình sai, và chính sự đồng hóa của phàm ngã với ý kiến riêng làm cản trở việc tìm kiếm chân lý.

Chân sư DK tự đặt mình là người chí nguyện và ý nghĩa của điều đó

Thầy MDR chú ý đến cách Chân sư DK tự gọi mình là “một người chí nguyện hướng đến các huyền nhiệm cao cả”, dù người đọc đã có thể nhận ra tầm mức tri thức phi thường của Ngài qua Luận về Lửa Vũ Trụ. Thầy MDR suy luận rằng đây vừa có thể là do vào thời điểm ấy thân phận chân sư của Ngài chưa được công bố rộng rãi, vừa là một bài học về khiêm cung nội môn. Thầy còn nhận xét Chân sư DK đã khảo cứu các huyền nhiệm này không chỉ lâu hơn các học viên hiện tại mà có thể là suốt hàng ngàn năm, với những kiếp sống như một học giả Hy Lạp và một học giả Phật giáo.

Giá trị của giáo huấn nằm ở tổng thể tương liên

Theo Thầy MDR, Chân sư DK cảnh báo không nên bám vào từng chi tiết rời rạc mà phải nhìn toàn bộ cấu trúc hay “bộ xương” của những mệnh đề được phối hợp và tương quan với nhau. Thầy MDR nhận xét giá trị lớn nhất của việc học các tác phẩm của Chân sư DK nằm ở sự đối chiếu giữa nhiều quyển sách qua nhiều năm, nhờ đó các tương quan giữa các phát biểu khác nhau tạo ra một thứ “ánh sáng khả hữu” có sức thuyết phục nhưng vẫn chưa được phép nâng lên thành điều chắc chắn tuyệt đối. Thầy lưu ý người học chân chính phải giữ lập trường xác suất và chờ đến khi trình độ tiến hóa đủ để tự xác nhận chân hay ngụy.

Ngôn ngữ che giấu chân lý và nhu cầu định nghĩa thuật ngữ

Thầy MDR dừng khá lâu ở mệnh đề “ngôn ngữ che giấu chân lý chứ không phơi bày nó”, xem đây là một nhắc nhở rất quan trọng cho mọi nỗ lực diễn đạt giáo lý. Thầy nhận xét lời nói không bao giờ đồng nhất với chính sự vật hay thực tại được nói tới, nên dù vẫn phải cố tinh luyện ngôn từ, ta không được lầm tưởng từ ngữ là chân lý. Từ đó Thầy MDR nhắc đến câu của Voltaire: nếu muốn đối thoại thì trước hết phải định nghĩa thuật ngữ, vì trong huyền bí học các từ như linh hồn, tâm thức, hiện thể hay tinh thần đều được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau và dễ gây ngộ nhận.

Sự đa dạng của các loại trí tuệ và các cung

Thầy MDR giải thích vì sao giáo huấn không thể hấp dẫn tất cả mọi người: nhân loại gồm nhiều loại trí tuệ, nhiều kiểu tiếp cận và nhiều góc nhìn do các cung, chiêm tinh, quốc tịch, tính khí, thể xác và môi trường khác nhau tạo thành. Thầy nhấn mạnh mọi người là những đơn vị tâm thức được “thở ra” từ một trong bảy phát xạ của Thượng đế, vì thế ngay cả các biểu hiện chân thần cũng mang tính thất phân, giống như một lăng kính duy nhất hiện ra bảy màu khác nhau. Thầy MDR lưu ý ở cấp cốt lõi mọi Chân Thần đều là Hữu thể thuần nhất, nhưng xét theo hiện thể biểu lộ trên cõi chân thần thì vẫn có bảy loại khác biệt.

Nhận xét của Thầy MDR về cung hai và mối liên hệ với Chân sư DK

Thầy MDR đưa vào một suy luận cá nhân đáng chú ý: nhiều người làm việc lâu dài với Chân sư DK có lẽ phải mang cung hai mạnh trong một hiện thể quan trọng, đặc biệt ở cung linh hồn hoặc cung chân thần. Thầy gợi ý rằng ngay cả những đệ tử có cung một rất mạnh nơi bản chất linh hồn cũng có thể có cung chân thần là cung hai, dù ông cũng thận trọng nói đây không phải quy luật tuyệt đối. Thầy MDR đề xuất sẽ cần đi sâu hơn vào Tâm Lý Học Nội Môn để hiểu rõ các cấu trúc như linh hồn cung bảy đi với Chân Thần cung một, vốn tạo thành những phối hợp rất quyền lực.

Tinh thần, sự sống và năng lượng như lực đẩy thiêng liêng

Trong phần hồi cố nội dung trước, Thầy MDR nhắc rằng tinh thần ở đây không hoàn toàn là Hữu thể thuần túy mà là một năng lượng phát xuất từ Hữu thể, một lực đẩy xung động gắn chặt với Ý Chí thiêng liêng. Thầy mô tả sự sống là nguyên lý duy trì mọi đơn vị sự sống qua nhịp điệu “thở ra và thu vào”, khiến các đơn vị ấy tồn tại trong nhiều mức độ chìm đắm khác nhau vào vật chất; nếu tinh thần rút lui hoàn toàn thì mọi biểu hiện sẽ biến mất. Thầy MDR cũng gợi ý nguyên lý sự sống nơi con người biểu lộ theo cách tam phân, bắt đầu như ý chí định hướng, mục đích và động cơ nền tảng trong chính các nguyên tử và tế bào.

Cân bằng tham thiền, học hỏi và phụng sự

Thầy MDR tạm dừng để khuyên người học nên dành đủ thời gian đọc lại, suy ngẫm lại và nghiên cứu thật kỹ những đoạn đã học thay vì chỉ đi tiếp thật nhanh. Thầy nhắc lại bộ ba cổ điển là tham thiền, học hỏi và phụng sự, rồi lưu ý nhiều người thường thiên lệch, xem nhẹ một trong ba phương diện này. Theo nhận xét của Thầy MDR, phụng sự có khi còn thúc đẩy tiến bộ nhiều hơn cả tham thiền, và điều này phản ánh ảnh hưởng rất mạnh của Đức Christ, Đấng mà ông gọi là Người Phụng Sự vĩ đại nhất.

Linh hồn như nguyên lý trung gian mà con người đang phải đạt tới

Khi sang phần “Linh hồn, Đấng Trung Gian hay nguyên lý ở giữa”, Thầy MDR nói đây chính là loại tâm thức mà nhân loại hiện nay đang phải đạt được. Thầy nhận xét con người như đang theo hai giáo trình cùng lúc: một là học sống hữu thức như linh hồn trong chu vi thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã, hai là qua antahkarana bắt đầu tiếp cận xung lực của tinh thần, vốn là giáo trình cao hơn. Thầy MDR lưu ý nhiều người bị lẫn lộn giữa Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần của Hiện Diện, linh hồn con người, linh hồn trên cõi riêng của nó và linh hồn như tâm thức, vì vậy cần thấy đằng sau tính khách quan của phàm ngã luôn có một sự hiện diện quan sát vẫn tồn tại ngay cả nếu các thể của phàm ngã rơi rụng.

Linh hồn như tâm thức và tiến trình mở rộng vòng-giới-hạn

Thầy MDR triển khai thêm rằng nếu hiểu linh hồn là tâm thức, thì ngay cả Chân Thần cũng có “linh hồn”, vì linh hồn là trạng thái nhạy cảm, tri nhận và đáp ứng với đối tượng được nhận biết. Thầy cho rằng toàn bộ tiến trình tiến hóa là sự chìm sâu vào giới hạn rồi rút lui khỏi giới hạn ấy, nhằm mở rộng phạm vi và chiều sâu của tâm thức, tức mở rộng vòng-giới-hạn. Theo nhận xét của Thầy MDR, chúng ta phải học cách bớt chìm đắm trong tính khách quan phổ quát để tâm thức nở rộng dần, từ tự-ngã thức đi đến nhóm thức rồi đến nhận biết về Đấng Duy Nhất.

Hai góc nhìn về linh hồn: con người và các giới dưới người

Thầy MDR giải thích Chân sư DK yêu cầu nắm bản chất linh hồn từ hai góc nhìn: một là linh hồn liên hệ với giới thứ tư, tức linh hồn con người; hai là linh hồn của các giới dưới người, vốn là những phản chiếu của ba giới cao hơn. Từ đây ông liên hệ đến anima mundi, tức Linh hồn của Thế giới, và cho rằng mọi biểu lộ linh hồn trên hành tinh đều là những diễn đạt khác nhau của anima mundi. Thầy đồng thời lưu ý khái niệm linh hồn không thể chỉ bị giới hạn vào thể nguyên nhân trên Cõi thượng trí, vì về sau ta sẽ phải thừa nhận một linh hồn phổ quát và cuối cùng là một nguyên lý linh hồn có tính vũ trụ.

Anima mundi là tính nhạy cảm của vật chất

Theo Thầy MDR, khi Chân sư DK nói “linh hồn của vật chất” là yếu tố cảm ứng trong chính chất liệu, Ngài đang mô tả một mức linh hồn chưa có tự-ngã thức. Thầy MDR nhận xét đây là “sự nhạy cảm không có tự-ngã thức”, hiện diện từ nguyên tử vật lý cho đến hệ mặt trời, và chính nó tạo nên hoạt động thông minh hiển nhiên của mọi hình tướng. Thầy đem điều này đối chiếu với cuộc tranh luận hiện đại về “thiết kế thông minh”, cho rằng nếu quan sát kỹ vũ trụ sẽ thấy một nguyên lý tổ chức có trí tuệ sâu sắc đang sắp đặt các kiểu hiện hữu.

Những tên gọi khác nhau của linh hồn và linh hồn như phẩm tính

Thầy MDR gom các định nghĩa Chân sư DK đưa ra cho linh hồn: năng lượng hấp dẫn, sự cố kết, tính cảm ứng, sự sống động, nhận biết hay tâm thức. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh từ soi sáng nhất là linh hồn như “phẩm tính” mà mỗi hình tướng biểu hiện. Từ đó ông liên hệ đến bộ ba “sự sống, phẩm tính, hình tướng”, gần tương ứng với ba cung đầu tiên, và cho rằng chính yếu tố phẩm tính làm nảy sinh sự phân biệt giữa các nguyên tố, các khoáng chất, các loài thực vật, các loài động vật và giữa người này với người khác.

Linh hồn tạo nên dị biệt trong các giới thiên nhiên

Thầy MDR đặc biệt làm nổi bật ví dụ của Chân sư DK về hoa hồng và súp lơ, cây du và cải xoong để cho thấy linh hồn quyết định cấu trúc quan hệ nội tại của các thành phần tạo hình, từ đó làm xuất hiện khác biệt rõ rệt ở giới thực vật. Sang giới động vật và giới người, linh hồn cũng là loại năng lượng phân biệt khiến mỗi loài và mỗi con người khác nhau về diện mạo, bản chất và tính cách. Thầy MDR đồng thời nhắc rằng trên bình diện Hữu thể thì không có phân biệt tối hậu; mọi khác biệt chỉ thuộc bình diện phẩm tính và biểu lộ.

Giới hạn của khoa học hình tướng và vai trò của thể dĩ thái

Thầy MDR tóm lược rằng khoa học hiện đại đã phân loại, phân tích và đặt tên cho vô số hình tướng trong các giới, đã nghiên cứu cấu trúc và lịch sử tiến hóa của chúng, nhưng vẫn chưa giải được vấn đề sự sống. Theo ông, chìa khóa nằm ở việc nhận ra “mạng lưới sự sống” hay thể sinh lực/thể dĩ thái nằm dưới mọi hình tướng và nối kết mọi phần của hình tướng với nhau. Thầy MDR nhận xét nhân loại mới chỉ bắt đầu khảo cứu phương diện tạo nguyên nhân của thể dĩ thái, và trong thời Bảo Bình sẽ có rất nhiều mặc khải về lĩnh vực này, nhưng các chân sư phải tiết chế tốc độ tiết lộ để tránh làm nhân loại bị tràn ngập.

Kinh nghiệm trực tiếp khiến linh hồn dễ định nghĩa hơn tinh thần

Thầy MDR giải thích vì sao Chân sư DK cho rằng linh hồn dễ được định nghĩa hơn tinh thần: rất nhiều người đã từng kinh nghiệm sự soi sáng, sự khai mở, sự nâng cao hay chí phúc khiến họ xác tín có một trạng thái tâm thức cao hơn hẳn thường ngày. Thầy nói đây là cái mà các nhà thần bí xuyên qua các thời đại đã cảm nhận như “sự hiện diện của Thượng đế”. Theo nhận xét của Thầy MDR, khi dùng từ “Hữu thể” theo nghĩa tương đối, ta có thể nói có nhiều trạng thái hiện hữu khác nhau, dù tối hậu thì Hữu thể vẫn là một.

Thánh Paul, cõi thượng thiên và sự kết hợp nhà thần bí với nhà huyền bí học

Thầy MDR bàn khá kỹ về câu của Thánh Paul nói mình được “cất lên đến cõi thượng thiên” và nghe những điều không được phép nói ra. Thầy liên hệ điều này với kinh nghiệm thần bí cao, thậm chí nhắc rằng Chân sư DK ở chỗ khác còn nói đến “cõi thứ bảy”, rồi suy luận rằng Thánh Paul mang cung năm rất mạnh và về sau có thể là nhà thuật luyện kim tân-Platon Iamblichus. Thầy cũng lưu ý Thánh Paul hiểu “sự im lặng huyền bí”, tức biết điều gì được phép phát biểu hay suy nghĩ trong từng bối cảnh.

Khi nghe và thấy trên các cõi cao: nhà huyền bí học cộng nhà thần bí

Thầy MDR nhấn mạnh lời Chân sư DK rằng khi cả nghe và thấy trên các mức ấy đều trở thành kinh nghiệm đã ghi nhận, ta có sự phối hợp của nhà huyền bí học và nhà thần bí. Thầy diễn giải theo chiêm tinh học đây là sự kết hợp của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, và phản đối xu hướng xem thần bí học là thấp hơn huyền bí học. Theo Thầy MDR, nhà huyền bí học đích thực phải dung hợp tính nhạy cảm thần bí với tính khoa học huyền bí, và mức thành tựu thật sự còn đòi hỏi khả năng quay lại các trạng thái ấy theo ý chí chứ không chỉ tình cờ chạm tới.

Linh hồn được sinh ra từ tương quan giữa tinh thần và vật chất

Khi xét định nghĩa thứ nhất, Thầy MDR nói linh hồn, ở cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa, là thực thể được đưa vào hiện hữu khi phương diện tinh thần và phương diện vật chất liên hệ với nhau. Tuy nhiên ông thành thật nêu một nan đề triết học riêng của mình: liệu bản thân sự liên hệ ấy có đòi hỏi linh hồn hay tâm thức trước rồi hay không, và làm sao có được “khách thể” để chủ thể quan sát. Thầy MDR đề xuất như một suy luận cá nhân rằng sự tạo ra vật chất có thể là một hành vi tự quan sát, nhưng ông cũng nói rõ đây là câu hỏi ông vẫn còn tiếp tục nghiền ngẫm chứ chưa tuyên bố đã giải xong.

Linh hồn là quan hệ, là trung gian, là nguyên lý Đức Christ

Thầy MDR nhấn mạnh ba mệnh đề then chốt: linh hồn không phải tinh thần cũng không phải vật chất mà là tương quan giữa chúng; linh hồn là đấng trung gian giữa lưỡng nguyên; và vì thế linh hồn là một tên gọi khác của nguyên lý Đức Christ trong thiên nhiên và trong con người. Thầy diễn giải rằng “Con” làm trung gian giữa “Cha” và “Mẹ”, cũng như tâm thức làm trung gian giữa người quan sát và hình tướng, hay phẩm tính làm trung gian giữa sự sống và biểu hiện. Theo Thầy MDR, để hiểu điều này người học cần tập tìm mình trong chính “điểm ở giữa”, bằng cách dần tách đồng hóa khỏi cái thường được xem là khách quan.

Linh hồn như nguyên lý phổ quát vượt khỏi thể nguyên nhân

Thầy MDR đặc biệt lưu ý rằng ngay cả thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã rồi cũng sẽ bị kinh nghiệm như một đối tượng đối với một tâm thức linh hồn đang rút lui ngày càng sâu vào bản chất chủ thể. Từ đó ông mở rộng ý rằng mọi thứ đã xuất lộ từ Thượng đế Vũ Trụ đều có thể trở thành khách thể đối với một Linh hồn phổ quát. Nhận xét này nhằm nhắc người học không được giam khái niệm linh hồn trong các giới hạn của Cõi thượng trí, vì linh hồn là một nguyên lý phổ quát, thậm chí vũ trụ.

Linh hồn là năng lượng hấp dẫn giữ các hình tướng lại với nhau

Ở định nghĩa thứ hai, Thầy MDR nói linh hồn là lực hấp dẫn của vũ trụ sáng tạo, khi hoạt động thì giữ mọi hình tướng lại với nhau để sự sống của Thượng đế có thể biểu lộ qua chúng. Thầy liên hệ điều này với Định luật Cố Kết và với phương diện thứ hai của thiên tính, đồng thời lưu ý khi lực linh hồn rút khỏi thể xác đậm đặc hay bất kỳ thể nào của phàm ngã thì sự tan rã sẽ xảy ra. Thầy MDR xem đây là cách hiểu hết sức quan trọng về linh hồn như nguyên lý cố kết và bảo trì hình tướng.

Linh hồn là phương diện kiến tạo hình tướng và động lực của tiến hoá

Thầy MDR nhấn mạnh đoạn mô tả linh hồn như phương diện kiến tạo hình tướng, yếu tố hấp dẫn trong mọi hình thể của vũ trụ, hành tinh, các giới thiên nhiên và trong con người, giúp hình tướng xuất hiện, phát triển và tăng trưởng để chứa đựng sự sống bên trong đầy đủ hơn. Thầy nhận xét ở đây Chân sư DK trình bày rất đẹp ba phương diện ngay trong hoạt động của linh hồn: cung ba trong việc xây hình tướng, cung hai trong việc nuôi lớn và phát triển, và cung một trong việc thúc đẩy mọi tạo vật tiến bước trên con đường tiến hoá. Theo Thầy MDR, linh hồn chính là mãnh lực của tiến hóa, và điều này vang vọng trong câu của Thánh Paul: “Đức Christ ở trong anh em, niềm hy vọng của vinh quang.”

Phần trích từ Sách (trang 31-35)

[1] One of the first lessons we need to learn is that our minds, being as yet unresponsive to the hidden intuitions, [2] make it impossible for us to say with assurance that such a condition is this, that or the other; [3] that, until we can function in our soul-consciousness, [4] it is not for us to say what is or what is not; [5] that until we have submitted ourselves [Page 32] to the needed training we are in no position to deny or affirm anything. [6] Our attitude should be that of reasonable enquiry and our interest that of the investigating philosopher, willing to accept an hypothesis on the basis of its possibility, but being unwilling to acknowledge as proven truth anything until we know it for and in ourselves. [7] I, an aspirant to the higher mysteries, [8] and one who has searched into them for a longer period than has been possible as yet to many, [9] may write of things as yet impossible of demonstration to you or to the public who may read these instructions. [10] To me they may be and are truth and proven fact and for me that may suffice. For you they should be regarded as significant possibilities and hints as to the direction in which truth may be sought, [11] but beyond that you should not permit yourself to go. [12] The value of these instructions lies in their sum total and is to be found in the underlying structure or skeleton of coordinated and correlated statements which must be considered as a whole and not in detail and this for two reasons:

[1] Một trong những bài học đầu tiên chúng ta cần học là thể trí của chúng ta, vì chưa nhạy bén với những trực giác tiềm ẩn, [2] khiến chúng ta không thể nói một cách chắc chắn rằng tình trạng như vậy là thế này, thế kia hay thế khác; [3] rằng, cho đến khi chúng ta có thể vận hành trong tâm thức linh hồn của mình, [4] chúng ta không thể nói điều gì đúng hay điều gì sai; [5] rằng cho đến khi chúng ta tự mình trải qua [Page 32] sự huấn luyện cần thiết, chúng ta không ở vị trí phủ nhận hay khẳng định bất cứ điều gì. [6] Thái độ của chúng ta nên là thái độ của sự tìm hiểu hợp lý và mối quan tâm của chúng ta nên là mối quan tâm của nhà triết học nghiên cứu, sẵn sàng chấp nhận một giả thuyết trên cơ sở khả năng của nó, nhưng không sẵn sàng thừa nhận bất cứ điều gì là sự thật đã được chứng minh cho đến khi chúng ta biết được nó cho và trong chính chúng ta. [7] Tôi, một người chí nguyện hướng tới các huyền nhiệm bí ẩn cao hơn, [8] và một người đã tìm tòi chúng trong một khoảng thời gian dài hơn so với nhiều người cho đến nay, [9] có thể viết về những điều vẫn chưa thể chứng minh được cho bạn hoặc cho công chúng, những người có thể đọc những hướng dẫn này. [10] Đối với tôi, chúng có thể là và là sự thật, và là sự thật đã được chứng minh, và đối với tôi, điều đó có thể là đủ. Đối với bạn, chúng nên được coi là những khả năng quan trọng và những gợi ý về hướng đi mà sự thật có thể được tìm kiếm, [11] nhưng bạn không nên cho phép mình đi xa hơn thế. [12] Giá trị của những hướng dẫn này nằm ở tổng thể của chúng và được tìm thấy trong cấu trúc cơ bản hoặc bộ khung của các tuyên bố được phối hợp và tương quan, phải được xem xét một cách tổng thể chứ không phải chi tiết và điều này vì hai lý do:

[13] 1. Language, as earlier said, [14] hides truth and does not reveal it. [15] If truth is recognised, it is because the investigating student has found a point of truth in himself which serves to illumine his steps as he slowly and gradually presses forward.

[13] 1. Như đã nói trước đây, ngôn ngữ [14] che giấu chân lý chứ không tiết lộ nó. [15] Nếu chân lý được nhận ra, đó là bởi vì người đệ tử nghiên cứu đã tìm thấy một điểm của sự thật trong chính mình, điều này giúp soi sáng bước chân của y khi y dần dần tiến về phía trước.

[16] 2. There are many types of minds, and it is not to be expected that the information given, for instance, in this Treatise will appeal to all. [17] It should be remembered that all people are units of consciousness breathed forth on one of the seven emanations from God. [18] Therefore, even their monads or spiritual aspects are inherently different [19] just as in the prism (which is one) there are the seven differentiated colours. [20] Even this is so only because of the nature and point of view and the perceiving apparatus of the man whose eye [Page 33] registers and differentiates the varying rates of vibratory light. [21] These seven subsidiary groups again produce a varying outlook, mentality, and approach, all equally right, but all presenting a slightly different angle of vision. [22] When the above realisation is coupled to such factors as the different points in evolution, varying nationalities and characteristics, the inherent distinctions brought about through the interplay between the physical body involved and the environment, it will be apparent that no approach to such abstruse subjects as the nature of spirit and soul could have a general definition and submit themselves to a universal terminology.

[16] 2. Có nhiều kiểu tâm trí, và không thể mong đợi rằng thông tin được đưa ra, ví dụ trong Luận thuyết này, sẽ hấp dẫn tất cả. [17] Nên nhớ rằng tất cả mọi người là những đơn vị của tâm thức được thở ra trên một trong bảy sự xuất lộ từ Thượng Đế. [18] Do đó, ngay cả các chân thần hay khía cạnh tinh thần của họ cũng vốn dĩ khác nhau, [19] giống như trong lăng kính (là một) có bảy màu sắc khác biệt. [20] Ngay cả điều này cũng chỉ là do bản chất và quan điểm cũng như bộ máy nhận thức của người mà con mắt [Page 33] ghi nhận và phân biệt các tốc độ ánh sáng rung động khác nhau. [21] Bảy nhóm phụ này một lần nữa tạo ra một cách nhìn, một tâm lý và một cách tiếp cận khác nhau, tất cả đều đúng như nhau, nhưng tất cả đều thể hiện một góc nhìn hơi khác nhau. [22] Khi nhận thức trên được kết hợp với các yếu tố như các điểm tiến hóa khác nhau, các quốc tịch và đặc điểm khác nhau, những điểm khác biệt vốn có được tạo ra thông qua sự tương tác giữa thể xác vật lý có liên quan và môi trường, rõ ràng là không có cách tiếp cận nào đối với các chủ đề khó hiểu như bản chất của tinh thần và linh hồn có thể có một định nghĩa chung và tự phục tùng một thuật ngữ phổ quát.

[23] b. The Soul, the Mediator or Middle Principle.

[23] b. Linh hồn, Yếu tố Trung gian hay Nguyên lý Trung gian.

[24] There are two angles or points of view from which the nature of the soul must be grasped: [25] one is the aspect of the soul in relation to the fourth kingdom in nature, i.e. the human, [26] and the other that of the subhuman kingdoms in nature, which, it must be remembered, [27] are reflections of the three higher.

[24] Có hai góc độ hoặc quan điểm mà từ đó phải nắm bắt được bản chất của linh hồn: [25] một là khía cạnh của linh hồn liên quan đến giới thứ tư trong tự nhiên, tức là con người, [26] và khía cạnh kia là của các giới dưới con người trong tự nhiên, cần nhớ rằng, [27] chúng là sự phản chiếu của ba giới cao hơn.

[28] It should be borne in mind that the soul of matter, the anima mundi, is the sentient factor in substance itself. [29] It is the responsiveness of matter throughout the universe and that innate faculty in all forms, from the atom of the physicist, [30] to the solar system of the astronomer, which produces the undeniable intelligent activity which all demonstrate. [31] It can be called attractive energy, coherency, sentiency, aliveness, awareness or consciousness, but perhaps the most illuminating term is that the soul is the quality which every form manifests. [32] It is that subtle something which distinguishes one element from another, one mineral from another. [33] It is the intangible essential nature of the form which in the vegetable kingdom determines whether a rose or a cauliflower, an elm [Page 34] or a watercress shall come into being; [34] it is a type of energy which distinguishes the varying species of the animal kingdom and makes one man different from another in his appearance, nature and character. [35] The scientist has tabulated, investigated and analysed the forms; [36] names have been selected and given to the elements, and the minerals, the forms of vegetable life and the varying species of animals; the structure of the forms [37] and the history of their evolutionary progress have been studied and deductions and conclusions have been reached, but the solution of the problem of life itself still eludes the wisest, and until the understanding of the “web of life” or of the body of vitality which underlies every form and links every part of a form with every other part is recognised and known to be a fact in nature, the problem will remain unsolved.

[28] Cần ghi nhớ rằng linh hồn của vật chất, anima mundi, là yếu tố nhạy cảm trong chính chất liệu. [29] Đó là sự đáp ứng của vật chất trong toàn thể vũ trụ và khả năng bẩm sinh đó trong tất cả các hình tướng, từ nguyên tử của nhà vật lý, đ[30] ến hệ mặt trời của nhà thiên văn học, tạo ra hoạt động thông minh không thể phủ nhận mà tất cả đều thể hiện. [31] Nó có thể được gọi là năng lượng hấp dẫn, sự gắn kết, sự nhạy cảm, sự sống động, nhận thức hoặc tâm thức, nhưng có lẽ thuật ngữ sáng tỏ nhất là linh hồn là phẩm tính mà mọi hình tướng biểu lộ. [32] Đó là thứ gì đó tinh tế phân biệt nguyên tố này với nguyên tố khác, khoáng vật này với khoáng vật khác. [33] Đó là bản chất thiết yếu vô hình của hình tướng, trong giới thực vật quyết định liệu một bông hồng hay một bông súp lơ, một cây du [Page 34] hay một cây cải xoong sẽ hình thành; [34] đó là một loại năng lượng phân biệt các loài khác nhau của giới động vật và làm cho một người khác biệt với người khác về ngoại hình, bản chất và tính cách. [35] Nhà khoa học đã lập bảng, điều tra và phân tích các hình tướng; [36] tên đã được chọn và đặt cho các nguyên tố, và các khoáng vật, các dạng sống thực vật và các loài động vật khác nhau; cấu trúc của các hình tướng [37] và lịch sử tiến hóa của chúng đã được nghiên cứu và các suy luận và kết luận đã được đưa ra, nhưng giải pháp cho vấn đề của chính sự sống vẫn còn lảng tránh những người thông thái nhất, và cho đến khi sự hiểu biết về "mạng lưới sự sống" hoặc về thể sinh lực làm nền tảng cho mọi hình tướng và liên kết mọi bộ phận của một hình tướng với mọi bộ phận khác được công nhận và biết là một thực tế trong tự nhiên, vấn đề sẽ vẫn chưa được giải quyết.

[38] The definition of the soul may be regarded as somewhat more feasible than that of spirit owing to the fact that there are many people who have experienced at sometime or another an illumination, an unfoldment, an uplifting, and a beatitude [39] which has convinced them that there is a state of consciousness so far removed from that normally experienced as to bring them into a new state of being and a new level of awareness. [40] It is something felt and experienced, and involves that psychic expansion which the mystic has registered down the ages, [41] and which St. Paul referred to when he spoke of being “caught up to the third Heaven,” and of hearing things there which it is not lawful for man to utter. [42] When hearing and sight on those levels are both producing registered experience then we have the occultist plus the mystic.

[38] Có thể coi việc định nghĩa linh hồn khả thi hơn so với định nghĩa tinh thần do thực tế là có nhiều người đã trải qua vào một thời điểm nào đó một sự soi sáng, một sự khai mở, một sự thăng hoa và một niềm hạnh phúc [39] đã thuyết phục họ rằng có một trạng thái tâm thức khác xa so với những gì thường trải nghiệm đến mức đưa họ vào một trạng thái tồn tại mới và một mức độ nhận thức mới. [40] Đó là một cái gì đó được cảm nhận và trải nghiệm, và liên quan đến sự mở rộng thông linh mà các nhà thần bí đã ghi nhận qua các thời đại, [41] và điều mà Thánh Paul đã đề cập đến khi Ngài nói về việc được “cất lên tầng trời thứ ba” và nghe những điều ở đó mà con người không được phép nói ra. [42] Khi cả thính giác và thị giác ở những cấp độ đó đều tạo ra trải nghiệm được ghi nhận thì chúng ta có nhà huyền bí học cộng với nhà thần bí.

[43] 1. The soul, macrocosmic and microcosmic, universal and human, is that entity which is brought into being when the spirit aspect and the matter aspect are related to each other. [Page 35]

[43] 1. Linh hồn, đại thiên địa và tiểu thiên địa, vũ trụ và con người, là thực thể được sinh ra khi khía cạnh tinh thần và khía cạnh vật chất có liên hệ với nhau. [Page 35]

[44] a. The soul therefore is neither spirit nor matter but is the relation between them.

[44] a. Do đó, linh hồn không phải là tinh thần cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ giữa chúng.

[45] b. The soul is the mediator between this duality; [46] it is the middle principle, [47] the link between God and His form.

[45] b. Linh hồn là trung gian hòa giải giữa hai mặt đối lập này; [46] nó là nguyên lý trung gian, [47] là cầu nối giữa Thượng Đế và hình tướng của Ngài.

[48] c. Therefore the soul is another name for the Christ principle, whether in nature or in man.

[48] c. Do đó, linh hồn là một tên gọi khác của nguyên lý Christ, cho dù trong tự nhiên hay trong con người.

[49] 2. The soul is the attractive force of the created universe and (when functioning) holds all forms together so that the life of God may manifest or express itself through them.

[49] 2. Linh hồn là mãnh lực thu hút của vũ trụ đã được tạo dựng và (khi hoạt động) giữ cho tất cả các hình tướng liên kết với nhau để sự sống của Thượng Đế có thể biểu lộ hay thể hiện thông qua chúng.

[50] a. Therefore the soul is the form-building aspect, [51] and is that attractive factor in every form in the universe, in the planet, in the kingdoms of nature and in man (who sums up in himself all the aspects) which brings the form into being, [52] which enables it to develop and grow so as to house more adequately the indwelling life, [53] and which drives all God’s creatures [54] forward along the path of evolution, through one kingdom after another, towards an eventual goal and a glorious consummation.

[50] a. Do đó, linh hồn là khía cạnh xây dựng hình tướng, [51] và là yếu tố thu hút đó trong mọi hình tướng trong vũ trụ, trong hành tinh, trong các giới tự nhiên và trong con người (người tổng hợp tất cả các khía cạnh trong mình) mang hình tướng vào sự tồn tại, [52] cho phép nó phát triển và tăng trưởng để chứa đựng sự sống bên trong một cách đầy đủ hơn, [53] và thúc đẩy tất cả các tạo vật của Thượng Đế [54] tiến về phía trước trên con đường tiến hóa, qua hết giới này đến giới khác, hướng tới một mục tiêu cuối cùng và một sự hoàn thiện viên mãn.

[55] b. The soul is the force of evolution itself and this was in the mind of St. Paul when he spoke of the “Christ in you, the hope of glory.”

[55] b. Linh hồn là mãnh lực của chính sự tiến hóa và điều này nằm trong tâm trí của Thánh Paul khi Ngài nói về “Đức Christ trong bạn, niềm hy vọng của vinh quang.”

Commentary 8

Good morning everyone, we are working here in A Treatise on White Magic and this is video commentary number 8. We’re working on Spirit, Life and Energy. And I think here in white magic, we're getting the most complete definitions of these factors which form the foundation for future study. So DK is somehow is approaching them in a different way, a more complete way than He does in some other later books.

Chào buổi sáng mọi người. Chúng ta đang làm việc ở đây trong Luận về Chánh Thuật, và đây là bài bình luận video số 8. Chúng ta đang nghiên cứu về Tinh thần, Sự Sống và Năng lượng. Tôi nghĩ, ở đây trong Luận Về Chánh Thuật, chúng ta đang có được những định nghĩa đầy đủ nhất về các yếu tố này, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu trong tương lai. Vì vậy, Chân sư DK đang tiếp cận chúng theo một cách khác, một cách đầy đủ hơn so với những gì Ngài làm trong một số cuốn sách sau này.

We’ve discussed the idea of Spirit. Is it Being? Is it Life? Is life-Being? Spirit turns out to be an energy which exists in universe. It’s a driving propulsive force, it has much to do with the Divine Will. Is it true Being? it depends on the context in which it is used. Here I think, as it is presented here, it is not pure Being, but something that is derivative of pure Being or from pure Being.

Chúng ta đã thảo luận ý tưởng về Tinh thần. Nó có phải là Bản thể không? Nó có phải là Sự Sống không? Sự sống có phải là Bản thể không? Tinh thần hóa ra là một năng lượng tồn tại trong vũ trụ. Đó là một mãnh lực thúc đẩy, nó có liên quan nhiều đến Thiên Ý. Nó có phải là Bản thể thuần túy không? Vâng, nó phụ thuộc vào ngữ cảnh mà nó được sử dụng. Như nó được trình bày ở đây, nó không phải là Bản thể thuần túy, mà là một cái gì đó bắt nguồn từ Bản thể thuần túy.

[1] One of the first lessons we need to learn is that our minds, being as yet unresponsive to the hidden intuitions,

[1] Một trong những bài học đầu tiên chúng ta cần học là thể trí của chúng ta, vì chưa nhạy bén với những trực giác tiềm ẩn,

Notice how He identifies with us who are much lesser students on the path than He is –

Lưu ý cách Ngài đồng nhất hóa với chúng ta, những người đệ tử còn thấp kém hơn Ngài trên đường đạo –

[2] make it impossible for us to say with assurance that such a condition is this, that or the other;

[2] khiến chúng ta không thể nói một cách chắc chắn rằng tình trạng như vậy là thế này, thế kia hay thế khác;

We are still somewhat in the speculative realm although we are exercising discriminative knowledge and to a lesser, much lesser extent, intuitive of knowledge, but not really yet, because we are not buddhically focused. We are occasionally buddhically receptive without being always buddhically focused.

Chúng ta vẫn còn phần nào ở trong lãnh vực suy đoán mặc dù chúng ta đang thực hành tri thức phân biện, và ở mức độ thấp hơn—thấp hơn rất nhiều—với tri thức trực giác, nhưng chưa thực sự đạt đến đó, bởi vì chúng ta không tập trung vào cõi Bồ đề. Đôi khi chúng ta tiếp nhận những ấn tượng từ cõi Bồ đề, nhưng không phải lúc nào cũng tập trung vào cõi Bồ đề.

[3] that, until we can function in our soul-consciousness,

[3] rằng, cho đến khi chúng ta có thể vận hành trong tâm thức linh hồn của mình,

And not simply occasionally receptive to it

Không chỉ đơn giản là thỉnh thoảng tiếp nhận nó

[4] it is not for us to say what is or what is not;

[4] chúng ta không thể nói điều gì đúng hay điều gì sai;

So this is an amazing call to humility, that, as I usually say it, ‘adjusted sense of right proportion’, alright –

Đây là một lời kêu gọi tuyệt vời cho sự khiêm tốn, mà như tôi thường nói, “ý thức đúng đắn về tỉ lệ” –

[5] that until we have submitted ourselves [Page 32] to the needed training we are in no position to deny or affirm anything.

[5] rằng cho đến khi chúng ta tự mình trải qua [Page 32] sự huấn luyện cần thiết, chúng ta không ở vị trí phủ nhận hay khẳng định bất cứ điều gì.

We can propose the possibility, and also say ‘thus have I heard’ or ‘according to the Tibetan’, or ‘according to the teaching’.

Chúng ta có thể đề xuất khả năng, và cũng có thể nói 'tôi đã nghe như vậy' hoặc 'theo Chân sư Tây Tạng', hoặc 'theo giáo lý'.

[6] Our attitude should be that of reasonable enquiry and our interest that of the investigating philosopher, willing to accept an hypothesis on the basis of its possibility, but being unwilling to acknowledge as proven truth anything until we know it for and in ourselves.

[6] Thái độ của chúng ta nên là thái độ của sự tìm hiểu hợp lý và mối quan tâm của chúng ta nên là mối quan tâm của nhà triết học nghiên cứu, sẵn sàng chấp nhận một giả thuyết trên cơ sở khả năng của nó, nhưng không sẵn sàng thừa nhận bất cứ điều gì là sự thật đã được chứng minh cho đến khi chúng ta biết được nó cho và trong chính chúng ta.

Now, we know that many people err in this and assert the accuracy of their knowledge under all circumstances. This is hardly wise to do and is based upon a fear of being incorrect and is based upon the impatience. It's really based upon insecurity of the knowledge one asserts. The open-minded investigator is most interested in truth and not in the knowledge, not in the fact that he or she is asserting the accuracy of a certain kind of knowledge. The lower ego gets identified with that assertion and the assertion arises because of the attempt to protect the lower ego and it does not serve the cost of truth.

Chúng ta biết rằng nhiều người sai lầm trong việc này và khẳng định tính chính xác của kiến thức của họ trong mọi trường hợp. Làm như thế sẽ không khôn ngoan chút nào. Nó dựa trên nỗi sợ hãi bị sai và dựa trên sự thiếu kiên nhẫn. Nó thực sự dựa trên sự không chắc chắn về kiến thức mà người ta khẳng định. Nhà nghiên cứu có tư tưởng cởi mở quan tâm nhất đến sự thật chứ không phải kiến thức, không quan tâm đến sự khẳng định tính chính xác của một loại kiến thức nào đó. Phàm ngã đồng nhất với sự khẳng định đó, và sự khẳng định phát sinh do nỗ lực bảo vệ phàm ngã, và nó không phục vụ cho sự thật.

[7] I, an aspirant to the higher mysteries,

[7] Tôi, một người chí nguyện hướng tới các huyền nhiệm bí ẩn cao hơn,

Notice how He calls himself [I, an aspirant and He] is a Master. Well of course, maybe it had not been given out yet [that He is a master], let’s just sayIt had not been given out who he was yet, but still He calls himself an aspirant, and any reader of His material, A Treatise on Cosmic Fire came first, before this book, so the reader would know the tremendous depth and scope of his knowledge.

Hãy chú ý cách Ngài gọi mình là “một người chí nguyện”, nhưng Ngài là một Chân sư. Vâng, tất nhiên, lúc đó sự kiện Ngài là một Chân sư chưa được tiết lộ nhưng Ngài vẫn tự gọi mình là một người chí nguyện, và bất kỳ độc giả đã đọc sách của Ngài, như quyển Luận về Lửa Vũ Trụ ra đời trước đó, sẽ biết được chiều sâu và phạm vi to lớn của kiến ​​thức của Ngài.

[8] and one who has searched into them for a longer period than has been possible as yet to many,

[8] và một người đã tìm tòi chúng trong một khoảng thời gian dài hơn so với nhiều người cho đến nay,

And I would say, would you not, for thousands of years, as he was a Greek scholar and also a Buddhist Scholar

Và tôi muốn thêm rằng, trong hàng ngàn năm, vì Ngài là một học giả Hy Lạp và cũng là một học giả Phật giáo.

[9] may write of things as yet impossible of demonstration to you or to the public who may read these instructions.

[9] có thể viết về những điều vẫn chưa thể chứng minh được cho bạn hoặc cho công chúng, những người có thể đọc những hướng dẫn này.

So, we see that Master Morya’s mind of trust is so very important. We have to have the reasonable and reasoning faith based upon the accuracy, and much that has been given and the seeming accuracy of still more, so,

Vì vậy, chúng ta thấy rằng thể trí tin tưởng mà Chân sư Morya nói rất quan trọng. Chúng ta phải có niềm tin hợp lý và lý luận dựa trên sự chính xác, và nhiều điều đã được đưa ra và sự chính xác có vẻ như của nhiều điều hơn nữa. Vì vậy,

I, an aspirant to the higher mysteries

Tôi, một người chí nguyện hướng tới các huyền nhiệm bí ẩn cao hơn,

And we are simply aspirants to the lower mysteries.

Chúng ta chỉ đơn giản là những người chí nguyện hướng tới các huyền nhiệm bí ẩn thấp hơn.

and one who has searched into them for a longer period than has been possible as yet to many, may write of things as yet impossible of demonstration to you or to the public who may read these instructions.

và một người đã tìm tòi chúng trong một khoảng thời gian dài hơn so với nhiều người cho đến nay, có thể viết về những điều vẫn chưa thể chứng minh được cho bạn hoặc cho công chúng, những người có thể đọc những hướng dẫn này.

We are not exactly the public, we are the specialized aspirants and disciples, highly focused, and the general public has not heard much of these things. But once, of course, we were members of the general public and found our way into a closer relationship with the sources of truth.

Chúng ta không hẳn là công chúng. Chúng ta là những người chí nguyện và đệ tử chuyên biệt, có sự tập trung cao độ, và công chúng nói chung chưa nghe nhiều về những điều này. Nhưng tất nhiên, đã có lúc chúng ta là thành viên của công chúng và tìm thấy con đường của mình vào mối quan hệ gần gũi hơn với các nguồn của sự thật.

[10] To me they may be and are truth and proven fact and for me that may suffice. For you they should be regarded as significant possibilities and hints as to the direction in which truth may be sought,

[10] Đối với tôi, chúng có thể là và là sự thật, và là sự thật đã được chứng minh, và đối với tôi, điều đó có thể là đủ. Đối với bạn, chúng nên được coi là những khả năng quan trọng và những gợi ý về hướng đi mà sự thật có thể được tìm kiếm,

You see this as the proper attitude.

Bạn thấy đây là thái độ đúng đắn.

[11] but beyond that you should not permit yourself to go.

[11] nhưng bạn không nên cho phép mình đi xa hơn thế.

Alright, the boundaries are being drawn.

Vâng, các ranh giới đang được vạch ra.

[12] The value of these instructions lies in their sum total and is to be found in the underlying structure or skeleton of coordinated and correlated statements which must be considered as a whole and not in detail and this for two reasons:

[12] Giá trị của những hướng dẫn này nằm ở tổng thể của chúng và được tìm thấy trong cấu trúc cơ bản hoặc bộ khung của các tuyên bố được phối hợp và tương quan, phải được xem xét một cách tổng thể chứ không phải chi tiết và điều này vì hai lý do:

All of these are caveats, concerning the extent of the knowledge we may gather from our reading of the Tibetan and meditation upon his words. Alright, so where is the value? It lies on the sum total and the many correlated statements. I think those who are true students of the Tibetan’s work will realize that as they study through the years the many books, they will be correlating what is found in one book and what is found in another, and that these correlations will shed a degree of, let's call it, probable light. It seems like light. It may be light. It may be convincing, but we have to hold to its probability rather than assert its certainty. We are not at a stage in our development where we can assert its certainty. Later we will ascertain its truth or falsity.

Tất cả những điều này là những lời cảnh báo, liên quan đến mức độ kiến thức mà chúng ta có thể thu thập được từ việc đọc các tác phẩm của Chân sư DK và suy ngẫm về những lời của Ngài. Vậy, giá trị ở đâu? Nó nằm ở tổng thể và nhiều tuyên bố tương quan. Tôi nghĩ rằng những người là học trò chân chính của Chân sư Tây Tạng sẽ nhận ra rằng khi họ nghiên cứu nhiều cuốn sách trong nhiều năm, họ sẽ liên hệ những gì được tìm thấy trong một cuốn sách nào đó với những gì được tìm thấy trong cuốn sách khác, và những mối tương quan này sẽ, ở một mức độ nào đó, tuôn đổ cái mà chúng ta có thể gọi là ánh sáng. Nó có vẻ giống như ánh sáng. Nó có thể là ánh sáng. Nó có thể thuyết phục, nhưng chúng ta phải giữ nó ở mức độ khả dĩ hơn là khẳng định chắc chắn. Chúng ta không ở giai đoạn phát triển mà chúng ta có thể khẳng định chắc chắn về nó. Sau này, chúng ta sẽ khẳng định sự đúng sai của nó.

[13] 1. Language, as earlier said,

[13] 1. Như đã nói trước đây, ngôn ngữ

– He's telling us we must not go too much into detail, and why is that?

Ngài đang nói với chúng ta rằng chúng ta không được đi quá sâu vào chi tiết, tại sao lại như thế?

[14] hides truth and does not reveal it.

[14] che giấu chân lý chứ không tiết lộ nó.

This is not too encouraging of a statement for those of us who work hard to represent what we think the truth to be in ever more refined language. I suppose it is an effort we must attempt, but we must not have the certainty that the word is the thing.

Đây không phải là một tuyên bố quá khích lệ đối với những ai trong chúng ta đã nỗ lực hết mình để trình bày những gì chúng ta nghĩ là chân lý bằng ngôn ngữ ngày càng tinh tế hơn. Tôi cho rằng đó là một nỗ lực mà chúng ta phải cố gắng, nhưng chúng ta không được chắc chắn rằng từ ngữ là sự vật.

[15] If truth is recognised, it is because the investigating student has found a point of truth in himself which serves to illumine his steps as he slowly and gradually presses forward.

[15] Nếu chân lý được nhận ra, đó là bởi vì người đệ tử nghiên cứu đã tìm thấy một điểm của sự thật trong chính mình, điều này giúp soi sáng bước chân của y khi y dần dần tiến về phía trước.

This is the sane way of viewing our progress, and so many seem to choose the fast way. To them it’s fast. They think it’s fast in which certainty about things is prematurely asserted.

Đây là cách nhìn nhận đúng đắn về sự tiến bộ của chúng ta, và rất nhiều người dường như chọn cách nhanh chóng. Đối với họ, nó nhanh chóng. Họ nghĩ rằng nó nhanh chóng trong đó sự chắc chắn về mọi thứ được khẳng định quá sớm.

The next statement is why we should consider this as a whole and not in detail or excessive detail anyway.

Tuyên bố tiếp theo là lý do tại sao chúng ta nên xem xét điều này một cách tổng thể chứ không chi tiết, hoặc chi tiết quá mức.

[16] 2. There are many types of minds, and it is not to be expected that the information given, for instance, in this Treatise will appeal to all.

[16] 2. Có nhiều kiểu tâm trí, và không thể mong đợi rằng thông tin được đưa ra, ví dụ trong Luận thuyết này, sẽ hấp dẫn tất cả.

These are the ray and astrological types that have developed over many years in diverse ways and on diverse lines. So, not all things can appeal to all people, that's quite obvious, as otherwise we would have a very monochromatic humanity.

Đây là Ngài đang nói về các cung và các yếu tố chiêm tinh đã phát triển qua nhiều năm theo nhiều cách khác nhau, theo nhiều đường lối khác nhau. Vì vậy, không phải tất cả đều có thể hấp dẫn tất cả mọi người. Điều đó khá rõ ràng, vì nếu không chúng ta sẽ có một nhân loại rất đơn sắc.

[17] It should be remembered that all people are units of consciousness breathed forth on one of the seven emanations from God.

[17] Nên nhớ rằng tất cả mọi người là những đơn vị của tâm thức được thở ra trên một trong bảy sự xuất lộ từ Thượng Đế.

This breathing forth is the dynamic associated with emanation, a very important process and one that is seen constantly in Buddhist scripture and in Buddhist art which attempts to present the truth in pictorial form. So here, we continue:

Sự thở ra này là động lực liên quan đến sự xuất lộ (emanation), một quá trình rất quan trọng, và là quá trình được thấy liên tục trong kinh sách Phật giáo và trong nghệ thuật Phật giáo, cố gắng trình bày chân lý dưới dạng hình ảnh.

[18] Therefore, even their monads or spiritual aspects are inherently different

[18] Do đó, ngay cả các chân thần hay khía cạnh tinh thần của họ cũng vốn dĩ khác nhau,

Well I will say this, not at core, in terms of the vehicle through which the essential Monad manifests, because of the core of every Monad is pure being which is identical under all purposes, under all circumstances. But we know what the Tibetan means, the seven different ray types of monads found on the monadic plane.

Nhưng tôi muốn nói điều này, các chân thần khác nhau không phải ở cốt lõi. Họ khác nhau xét về phương tiện mà qua đó Chân thần cốt yếu biểu lộ, bởi vì cốt lõi của mọi Chân thần là bản thể thuần khiết giống nhau trong mọi mục đích, trong mọi hoàn cảnh. Nhưng chúng ta hiểu Chân sư DK muốn nói gì ở đây. Bảy loại chân thần có cung khác nhau được tìm thấy trên cõi chân thần.

[19] just as in the prism (which is one) there are the seven differentiated colours.

[19] giống như trong lăng kính (là một) có bảy màu sắc khác biệt.

(This is a hint that seven monadic types are to be found.)

Đây là một gợi ý rằng có bảy loại chân thần được tìm thấy.

[20] Even this is so only because of the nature and point of view and the perceiving apparatus of the man whose eye [Page 33] registers and differentiates the varying rates of vibratory light.

[20] Ngay cả điều này cũng chỉ là do bản chất và quan điểm cũng như bộ máy nhận thức của người mà con mắt [Page 33] ghi nhận và phân biệt các tốc độ ánh sáng rung động khác nhau.

We remember that the seven rays are called “the Seven Rays of Light”.

Chúng ta nhớ rằng bảy cung được gọi là “Bảy Tia Sáng”.

[21] These seven subsidiary groups again produce a varying outlook, mentality, and approach, all equally right, but all presenting a slightly different angle of vision.

[21] Bảy nhóm phụ này một lần nữa tạo ra một cách nhìn, một tâm lý và một cách tiếp cận khác nhau, tất cả đều đúng như nhau, nhưng tất cả đều thể hiện một góc nhìn hơi khác nhau.

(Meaning it is associated with angle of vision.)

Có nghĩa là nó được liên kết với góc nhìn.

[22] When the above realisation is coupled to such factors as the different points in evolution, varying nationalities and characteristics, the inherent distinctions brought about through the interplay between the physical body involved and the environment, it will be apparent that no approach to such abstruse subjects as the nature of spirit and soul could have a general definition and submit themselves to a universal terminology.

[22] [22] Khi nhận thức trên được kết hợp với các yếu tố như các điểm tiến hóa khác nhau, các quốc tịch và đặc điểm khác nhau, những điểm khác biệt vốn có được tạo ra thông qua sự tương tác giữa thể xác vật lý có liên quan và môi trường, rõ ràng là không có cách tiếp cận nào đối với các chủ đề khó hiểu như bản chất của tinh thần và linh hồn có thể có một định nghĩa chung và tự phục tùng một thuật ngữ phổ quát.

We are still too immersed in distinction, necessarily so.

Chúng ta vẫn còn quá đắm chìm trong sự chia tách, phân biệt, điều này là cần thiết.

So many of us are somehow working with the Tibetan, which means that we are essentially working on the second ray as a manifest through one or other of our vehicles, especially the soul or monadic vehicles. As DK has said, and I’ll paraphrase that: if you would have been working with me for a long time and find me to be your teacher and remain in my group, then one of your major vehicles is going to be found on the second ray. It may not be the soul but if it isn't, it will probably be the Monad. So many of his first ray disciples, I would estimate, had the second ray monad. Those who were first ray in the soul nature had the second ray monad. Maybe not all, obviously. Rules exist to have exceptions, and we cannot get deeply enough into the psychology of each of those disciples to know whether this tendency applies to all of them. I’m thinking that there was a seventh ray soul who may have had a first ray monad, that would be a very powerful combination and not on the second ray at all. But anyway, will learn more about this as we advance in esoteric psychology.

Rất nhiều người trong chúng ta đang làm việc với Chân sư DK, có nghĩa là về cơ bản chúng ta đang làm việc trên cung hai như nó biểu hiện qua một hoặc nhiều thể của chúng ta, đặc biệt là linh hồn hoặc chân thần. Như Chân sư DK đã nói—tôi không lập y lời, mà chi diễn giải điều đó—nếu bạn đã làm việc với tôi trong một thời gian dài và thấy tôi là huấn sư của bạn, và bạn ở lại trong nhóm của tôi, thì một trong những thể chính của bạn sẽ được tìm thấy trên cung hai. Có thể nó không phải là cung linh hồn, nhưng nếu không phải, nó có thể là cung Chân thần. Tôi ước tính rất nhiều đệ tử cung một của Ngài có chân thần thuộc cung hai. Có thể không phải tất cả, rõ ràng là như vậy vì các quy tắc tồn tại đều có những ngoại lệ, và chúng ta không thể đi sâu vào tâm lý của mỗi đệ tử đó để biết liệu xu hướng này có áp dụng cho tất cả họ hay không. Tôi nhớ một đệ tử có linh hồn cung bảy, chân thần cung một, đó sẽ là một sự kết hợp rất mạnh mẽ và hoàn toàn không nằm trên cung hai. Nhưng dù sao đi nữa, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về điều này khi chúng ta tiến bộ trong tâm lý học nội môn.

Now, we’ve been studying spirit, life and energy, that propulsive something which drives all units of life into some kind of soul differentiation, some kind of qualitative differentiation, and then further into expression. As long as the breath proceeds to go forth and be withdrawn, go forth and be withdrawn, then there will be a sustainment of those units of life in their various levels of immersion in matter. But should the spirit withdraw entirely, then there will be the disappearance of those manifestations. I hope you have a little better idea; just read and reread these sections of the book and you can pause here and reread my notes if you wish.

Bây giờ, chúng ta đã nghiên cứu về tinh thần, sự sống và năng lượng, cái thúc đẩy tất cả các đơn vị của sự sống đi vào một sự biến phân về linh hồn, một sự biến phân về phẩm chất, và sau đó đi sâu hơn vào biểu hiện. Miễn là hơi thở tiếp tục phát ra và rút vào, phát ra và rút vào, thì sẽ có sự duy trì của những đơn vị sự sống đó ở các mức độ đắm chìm khác nhau trong vật chất. Nhưng nếu tinh thần rút lui hoàn toàn, thì sẽ có sự biến mất của những biểu hiện đó. Tôi hy vọng bạn đã có một ý tưởng tốt hơn một chút. Chỉ cần đọc đi và đọc lại các phần này của cuốn sách, và bạn có thể tạm dừng ở đây và đọc lại ghi chú của tôi nếu bạn muốn.

This life principle in man manifests in a triple manner:

Nguyên khí sự sống này trong con người biểu lộ theo một cách tam phân:

1. As the directional will, purpose, basic incentive…

1. Như ý chí định hướng, mục đích, động cơ căn bản

(that’s the third ray word)

Hoạt động là từ thuộc về cung ba.

of the atoms and cells –

của các nguyên tử và tế bào –

I think I’ll put that word in here, the word activity. ‘Activity’ pertains to the third ray of activity and of abstract mind and the ray of creative intelligence but it is the ray of activity, primarily.

Tôi nghĩ rằng tôi sẽ thêm vào từ này, từ "hoạt động". Hoạt động liên quan đến cung ba, cung của hoạt động và của trí tuệ trừu tượng, và cũng là cung của sự thông tuệ sáng tạo, nhưng chủ yếu nó là cung của hoạt động.

So, reread these things and study them as you can, always reserve for yourself sufficient time if possible to study and restudy what has been so abundantly presented to us, and we will not regret that if we do that. Oftentimes we are told: meditation, study and service – these are the ways of real spiritual advancement and the ways to help the inner workers and we have to look at the balance of these in our life because sometimes we do tend to de-emphasize or to ignore one or the other and we should try to keep a balance. Maybe service ends up being the most important of all. There are some moments in the teaching when DK writes that more advancement or progress can be achieved through service even than through meditation. It shows that there's a very strong influence of the Christ that is operative, because He was above all and is the great server.

Vì vậy, hãy đọc lại và nghiên cứu chúng nếu bạn có thể. Hãy luôn dành đủ thời gian cho bản thân, nếu có thể, để nghiên cứu và nghiên cứu lại những gì đã được trình bày rất phong phú cho chúng ta, và chúng ta sẽ không hối tiếc nếu chúng ta làm điều đó. Thông thường chúng ta được dạy rằng: tham thiền, học tập và phụng sự— đây là những con đường tiến bộ tinh thần thực sự, những con đường giúp đỡ các những người hoạt động nội tâm, và chúng ta phải xem xét sự cân bằng của những điều này trong cuộc sống của mình, bởi vì đôi khi chúng ta có xu hướng không nhấn mạnh hoặc bỏ qua cái này hoặc cái kia. Chúng ta nên cố gắng giữ cân bằng, và sau rốt có lẽ phụng sự lại là điều quan trọng nhất trong tất cả. Có những khoảnh khắc trong giáo huấn khi Chân sư DK viết rằng có thể đạt được nhiều tiến bộ hơn thông qua phụng sự, thậm chí hơn cả thông qua thiền định. Nó cho thấy rằng có một ảnh hưởng rất mạnh mẽ của Đức Christ đang hoạt động, bởi vì Ngài trên hết là Đấng Phụng Sự vĩ đại.

Now we go to the next extensive description. It’s no longer spirit, life and energy, it’s:

Bây giờ chúng ta chuyển sang phần mô tả mở rộng tiếp theo. Nó không còn là tinh thần, sự sống và năng lượng nữa, mà là:

[23] b. The Soul, the Mediator or Middle Principle.

[23] b. Linh hồn, Yếu tố Trung gian hay Nguyên lý Trung gian.

That’s the type of consciousness that we, at our stage of evolution, are trying to achieve. We may be taking two curricula at the same time in a way and via the antahkarana, availing ourselves of the impulse of the spirit. That is a more advanced curriculum and until we establish our ability to live consciously as a soul and within the periphery of the causal body, the egoic lotus, then we still have much to learn about still more advanced states. Many people get confused about soul: Solar Angel, Angel of the Presence, human soul, soul on its own plane, soul as consciousness. It’s a word that is used in many varying contexts; it’s quite fluid and we may have difficulty pinning down a definition which really seems to bring the light to us. But behind the objectivity of the personality is an observer, a presence which we are. If all of those personality vehicles were to fall away, this presence would still be there. Now, of course, everything is the monad in a way, everything is spirit. Everything is the emanation of being whether it’s personality, soul or triad or monad, all these technical terms. It’s all derivative from the essential reality. But in time and space, and given our type of limitations, we have to differentiate in order to understand at least initially, more deeply.

Đó là loại tâm thức mà chúng ta ở giai đoạn tiến hóa của mình đang cố gắng đạt được. Chúng ta có thể thực hiện hai chương trình học đồng thời theo một cách nào đó, và thông qua antahkarana, tận dụng xung lực của tinh thần. Đó là một chương trình học nâng cao hơn, và cho đến khi chúng ta thiết lập khả năng sống có ý thức như một linh hồn và trong phạm vi của thể nguyên nhân, hoa sen chân ngã, thì chúng ta vẫn còn nhiều điều phải học về những trạng thái cao cấp hơn nữa. Nhiều người bị nhầm lẫn về linh hồn: Thái dương Thiên thần, Thiên thần của Hiện diện, linh hồn con người, linh hồn trên cõi giới của riêng, linh hồn như tâm thức. Đó là một từ được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau; nó khá linh hoạt và chúng ta có thể gặp khó khăn trong việc xác định một định nghĩa thực sự mang lại ánh sáng cho chúng ta. Nhưng đằng sau tính khách quan của phàm ngã là một Người Quan Sát, một Sự Hiện Diện mà chúng ta thật sự là. Nếu tất cả những thể của phàm ngã biến mất, thì sự hiện diện vẫn còn ở đó. Tất nhiên, mọi thứ đều là chân thần theo một cách nào đó, mọi thứ đều là tinh thần. Mọi thứ đều là sự xuất lộ (emation) của Bản Thể cho dù đó là phàm ngã, linh hồn, hay tam nguyên tinh thần, hay chân thần, tất cả những thuật ngữ kỹ thuật này. Tất cả đều bắt nguồn từ Thực Tại Thiết Yếu. Nhưng trong thời gian và không gian và với những hạn chế của chúng ta, chúng ta phải phân biệt để hiểu, ít nhất là ban đầu, sâu sắc hơn.

[24] There are two angles or points of view from which the nature of the soul must be grasped:

[24] Có hai góc độ hoặc quan điểm mà từ đó phải nắm bắt được bản chất của linh hồn:

Even monad has soul, if soul is consciousness. Soul is a state of sensitivity, of apprehension, of the nature of the object which is perceived through its means, through its agency, and we seek the growth of soul which means we seek the growth of consciousness as we lessen our immersion in universal objectivity. Our immersion has closed down our scope and depths of soul, our scope and depth of consciousness, and we have to learn to expand the soul, expand the consciousness, expand our depth of appreciation, widen and deepen our ring pass not. This seems to be the universal process—immersion, deep immersion into limitation, and then retraction of that immersion.

Ngay cả chân thần cũng có linh hồn, nếu linh hồn là tâm thức. Linh hồn là một trạng thái nhạy cảm, của sự lĩnh hội, của bản chất của vật thể được nhận thức thông qua phương tiện của nó, thông qua tác nhân của nó. Chúng ta tìm kiếm sự phát triển của linh hồn có nghĩa là chúng ta tìm kiếm sự phát triển của tâm thức khi chúng ta giảm bớt sự đắm chìm vào tính khách quan của vũ trụ. Sự đắm chìm của chúng ta đã đóng lại phạm vi và chiều sâu của linh hồn chúng ta, phạm vi và chiều sâu của tâm thức, và chúng ta phải học cách mở rộng linh hồn, mở rộng tâm thức, mở rộng chiều sâu của sự đánh giá, mở rộng và làm sâu sắc thêm vòng giới hạn của chúng ta. Dường như đây là quá trình phổ quát—sự đắm chìm, đắm chìm sâu vào sự hạn chế, và sau đó là sự thu hồi của sự đắm chìm đó.

[25] one is the aspect of the soul in relation to the fourth kingdom in nature, i.e. the human,

[25] một là khía cạnh của linh hồn liên quan đến giới thứ tư trong tự nhiên, tức là con người,

And we oftentimes call that the human soul

Và chúng ta thường gọi đó là linh hồn con người,

[26] and the other that of the subhuman kingdoms in nature, which, it must be remembered,

[26] và khía cạnh kia là của các giới dưới con người trong tự nhiên, cần nhớ rằng,

that of the subhuman kingdoms in nature, which it must be remembered.

của các giới dưới con người trong tự nhiên.

[27] are reflections of the three higher.

[27] [27] chúng là sự phản chiếu của ba giới cao hơn.

and here we’re talking about the anima mundi, the “Soul of the World”.

Ở đây chúng ta đang nói về anima mundi, "Linh hồn của Thế giới".

I guess all demonstrations of soul on this planet are expressions of the anima mundi, of the soul of the world. And of course there are higher expressions of soul as well. The great beings that exist on higher planes, they also have or works through soul. We’re not just talking about the consciousness which is limited by the causal body, by the egoic lotus, and to that we usually ascribe the name soul, but it's a much larger concept and eventually we find that there is a universal soul altogether.

Tôi cho rằng tất cả các biểu hiện của linh hồn trên hành tinh này đều là biểu hiện của anima mundi, của linh hồn của thế giới. Và tất nhiên cũng có những biểu hiện cao hơn của linh hồn. Các Đấng vĩ đại tồn tại trên các cõi giới cao hơn, các Ngài cũng có hoặc hoạt động thông qua linh hồn. Chúng ta không chỉ nói về tâm thức bị giới hạn bởi thể nguyên nhân, bởi hoa sen Chân ngã, và chúng ta thường gán cho nó cái tên linh hồn, mà đó là một khái niệm lớn hơn nhiều, và cuối cùng chúng ta thấy rằng có một linh hồn vũ trụ hoàn toàn.

[28] It should be borne in mind that the soul of matter, the anima mundi, is the sentient factor in substance itself.

[28] Cần ghi nhớ rằng linh hồn của vật chất, anima mundi, là yếu tố nhạy cảm trong chính chất liệu.

Alright, this is one way of looking at anima mundi, and it is a limited way of doing so. But let’s just say this approach to anima mundi does not feature self-consciousness which seems to arise when we reach the humans stage. So it is simply sensitivity. Let’s call it sensitivity without self-consciousness. But always there is the self-conscious factor of the higher planes and the group conscious factor which is beyond self-consciousness, from the group conscious angle which is considered to be a limitation. And then there is the monadic consciousness or awareness of the One which, still higher beings, preserve. So this anima mundi as he is describing it here.

Đây là một cách nhìn về anima mundi, và là một cách nhìn hạn chế. Nhưng chúng ta có thể nói rằng cách tiếp cận anima mundi này không có đặc điểm “tự ý thức”, cái dường như phát sinh khi chúng ta đạt đến giai đoạn con người. Nó chỉ đơn giản là sự nhạy cảm. Chúng ta có thể gọi nó là sự nhạy cảm mà không có tự ý thức. Nhưng luôn luôn có yếu tố tự ý thức của các cõi giới cao hơn, và yếu tố tâm thức nhóm vượt ra ngoài tự ý thức, và từ góc độ tâm thức nhóm, tự ý thức được coi là một hạn chế. Sau đó nữa là tâm thức chân thần, hoặc nhận thức của Đấng Duy Nhất mà các Đấng Cao Cả hơn vẫn duy trì. Vì vậy, anima mundi mà như cách Ngài mô tả ở đây,

[29] It is the responsiveness of matter throughout the universe and that innate faculty in all forms, from the atom of the physicist,

[29] Đó là sự đáp ứng của vật chất trong toàn thể vũ trụ và khả năng bẩm sinh đó trong tất cả các hình tướng, từ nguyên tử của nhà vật lý, đ

(and I suppose the subatomic particle now)

và tôi cho là bây giờ là hạt hạ nguyên tử

[30] to the solar system of the astronomer, which produces the undeniable intelligent activity which all demonstrate.

[30] ến hệ mặt trời của nhà thiên văn học, tạo ra hoạt động thông minh không thể phủ nhận mà tất cả đều thể hiện.

you know, lately there's been a debate about whether there is intelligent design. The religiously inclined people think of this intelligent design as indicating the presence of a god, however they define that, and the more scientific types find no reason to speak of the truth of intelligent design. They don't see it as necessary, but I think if one looks with great care, one will find profound intelligence. A principle of intelligent organization organizing the various types of beings, let me find in cosmos.

Gần đây có một cuộc tranh luận về việc liệu có một thiết kế thông minh hay không. Những người có khuynh hướng tôn giáo nghĩ về thiết kế thông minh này như một dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của một Thượng đế, dù họ định nghĩa Thượng đế như thế nào. Những người thiên về khoa học hơn thì không tìm thấy lý do gì để nói về sự thật của một thiết kế thông minh. Họ không thấy điều đó là cần thiết. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu một người nhìn với sự quan sát kỹ lưỡng, người ta sẽ tìm thấy một trí thông minh sâu sắc, một nguyên lý tổ chức thông minh, tổ chức các loại sinh mệnh khác nhau mà chúng ta thấy trong vũ trụ.

Alright, this anima mundi,

Anima mundi này,

[31] It can be called attractive energy, coherency, sentiency, aliveness, awareness or consciousness, but perhaps the most illuminating term is that the soul is the quality which every form manifests.

[31] Nó có thể được gọi là năng lượng hấp dẫn, sự gắn kết, sự nhạy cảm, sự sống động, nhận thức hoặc tâm thức, nhưng có lẽ thuật ngữ sáng tỏ nhất là linh hồn là phẩm tính mà mọi hình tướng biểu lộ.

So, here are the verse names for soul, for the soul of the world, soul of matter that responsiveness of matter throughout the universe. There is no such thing as non-installed matter as inanimate matter, because the anima in this case is soul. We don’t have really inanimate substance at all. Everything is animate, everything has this responsiveness to sentiency solved and aims or uses

Vì vậy, đây là những tên gọi khác nhau cho linh hồn của thế giới, linh hồn của vật chất, sự đáp ứng của vật chất trong toàn thể vũ trụ. Không có cái gọi là vật chất không có linh hồn hoặc vật chất vô tri giác, bởi vì từ anima trong trường hợp này là linh hồn. Chúng ta hoàn toàn không có vật chất vô tri. Mọi thứ đều có tri giác, mọi thứ đều có sự đáp ứng, sự nhạy cảm, và những tên gọi mà Ngài dùng:

attractive energy,

…năng lượng thu hút,

It seems to be always connected with the second aspect,

Nó dường như luôn kết nối với phương diện thứ hai,

coherency,

…sự gắn kết,

It all seems together,

Tất cả dường như được kết nối với nhau,

sentiency,

…sự nhạy cảm,

Its responsive,

Nó đáp ứng,

aliveness,

…sự sống động,

People will dispute whether inanimate matter is alive but the occultist says yes,

Mọi người tranh luận liệu vật chất “vô tri” (inanimate matter) có ‘sống’ hay không, và nhà huyền bí học nói ‘có’,

awareness,

…nhận thức,

Some type of relationship from one unit of life to another no matter how circumscribed,

Một loại quan hệ từ đơn vị sự sống này sang đơn vị sự sống khác dù có bị giới hạn đến đâu,

or consciousness, but perhaps the most illuminating term is that the soul is the quality

…hoặc tâm thức, nhưng có lẽ thuật ngữ sáng tỏ nhất là linh hồn là phẩm tính…

And we read very much in Esoteric Psychology that the soul is the quality of life and we have that triplicity which is quite illuminative life, quality and appearance relating pretty much to the first three rays. In that case, life does not mean pure being, it’s related to the first ray, the driving sustaining energy behind everything. He’s trying in various ways to give us words so that we can wrap our minds around this factor in creation.

Chúng ta đọc rất nhiều trong Tâm lý học Nội môn rằng linh hồn là phẩm tính của sự sống, và chúng ta có bộ ba Sự Sống, Phẩm Chất và Hình Tướng liên quan đến ba cung đầu tiên. Trong trường hợp đó, sự sống không có nghĩa là Bản Thể Thuần Khiết, nó liên quan đến cung một, năng lượng duy trì thúc đẩy đằng sau mọi thứ. Ngài đang cố gắng, bằng nhiều cách khác nhau, cho chúng ta những từ ngữ để chúng ta có thể bao bọc tâm trí mình xung quanh yếu tố này trong sự sáng tạo.

[32] It is that subtle something which distinguishes one element from another, one mineral from another.

[32] Đó là thứ gì đó tinh tế phân biệt nguyên tố này với nguyên tố khác, khoáng vật này với khoáng vật khác.

This distinction is quality. So, the type of distinctions of which he is speaking is quality.

Sự phân biệt này là phẩm chất. Vì vậy loại phân biệt mà Ngài đang nói đến là phẩm chất.

[33] It is the intangible essential nature of the form which in the vegetable kingdom determines whether a rose or a cauliflower, an elm [Page 34] or a watercress shall come into being;

[33] Đó là bản chất thiết yếu vô hình của hình tướng, trong giới thực vật quyết định liệu một bông hồng hay một bông súp lơ, một cây du [Page 34] hay một cây cải xoong sẽ hình thành;

So, it determines the relationships which evidence themselves as differentiation. He’s given us these differentiations in the plant kingdom and certainly we can distinguish between a rose and a cauliflower, but it's the soul aspect which has made that decision because it has produced a geometrical relationship, or some kind of internal relationship between the factors which compose a form and those relationships are distinct and emerged as distinctly perceived differences in the form.

Vì vậy, nó quyết định các mối quan hệ tự minh chứng như sự khác biệt. Ngài đã cho chúng ta những sự khác biệt này trong giới thực vật, và chắc chắn chúng ta có thể phân biệt giữa hoa hồng và súp lơ, nhưng chính khía cạnh linh hồn đã đưa ra quyết định đó bởi vì nó đã tạo ra một quan hệ hình học, hoặc một loại quan hệ bên trong giữa các yếu tố tạo nên một hình tướng, và những mối quan hệ đó là khác biệt và nổi lên như những khác biệt được nhận thức rõ ràng trong hình tướng.

an elm or a watercress

một cây du hoặc một cây cải xoong

Goodness what a contrast

Thật là một sự tương phản.

[34] it is a type of energy which distinguishes the varying species of the animal kingdom and makes one man different from another in his appearance, nature and character.

[34] đó là một loại năng lượng phân biệt các loài khác nhau của giới động vật và làm cho một người khác biệt với người khác về ngoại hình, bản chất và tính cách.

So, soul carries distinction and ultimately there is no distinction in the realm of Being. All things that are, simply are, and we have their commonality regardless of their apparently distinct quality as observed by the differentiating mind. But there is a way to look at all things regardless of their apparent differentiations and see them as the same, as externalizations of the one infinite being.

Vì vậy, linh hồn mang tính khác biệt. Nhưng cuối cùng, không có sự khác biệt nào trong cõi giới của Bản Thể. Tất cả những thứ tồn tại chỉ đơn giản tồn tại, và trong thế giới tồn tại, chúng có điểm chung bất kể phẩm chất khác biệt rõ ràng của chúng khi được quan sát bởi thể trí phân biệt. Nhưng có một cách để nhìn vào tất cả mọi vật bất kể sự khác biệt rõ ràng của chúng, và xem chúng như nhau, như những sự ngoại hiện của một Bản Thể Vô Hạn Duy Nhất.

[35] The scientist has tabulated, investigated and analysed the forms;

[35] Nhà khoa học đã lập bảng, điều tra và phân tích các hình tướng;

Using the fifth ray in what here is a second ray context

Sử dụng cung năm trong bối cảnh cung hai ở đây.

[36] names have been selected and given to the elements, and the minerals, the forms of vegetable life and the varying species of animals; the structure of the forms

[36] tên đã được chọn và đặt cho các nguyên tố, và các khoáng vật, các dạng sống thực vật và các loài động vật khác nhau; cấu trúc của các hình tướng

Compared to anatomy as an academic discipline.

Giải phẫu học so sánh là một ngành học, một lĩnh vực học thuật

[37] and the history of their evolutionary progress have been studied and deductions and conclusions have been reached, but the solution of the problem of life itself still eludes the wisest, and until the understanding of the “web of life” or of the body of vitality which underlies every form and links every part of a form with every other part is recognised and known to be a fact in nature, the problem will remain unsolved.

[37] và lịch sử tiến hóa của chúng đã được nghiên cứu và các suy luận và kết luận đã được đưa ra, nhưng giải pháp cho vấn đề của chính sự sống vẫn còn lảng tránh những người thông thái nhất, và cho đến khi sự hiểu biết về "mạng lưới sự sống" hoặc về thể sinh lực làm nền tảng cho mọi hình tướng và liên kết mọi bộ phận của một hình tướng với mọi bộ phận khác được công nhận và biết là một thực tế trong tự nhiên, vấn đề sẽ vẫn chưa được giải quyết.

Alright, the solutions still evades the form causative nature of the etheric body must be investigated, and we’re just beginning, we are just now beginning to do this.

Vâng, các giải pháp vẫn còn lảng tránh. Bản chất nguyên nhân của hình tướng của thể dĩ thái phải được nghiên cứu, và chúng ta chỉ mới bắt đầu làm điều này.

So, during the Aquarian age we have so much of revelation which is destined to merge, and the masters have to be careful that it doesn’t happen too fast, otherwise humanity gets overwhelmed and its gradual, safe and sane evolutionary track, evolutionary method, will be disruptive.

Vì vậy, trong thời đại Bảo Bình, chúng ta có rất nhiều điều mặc khải được định sẵn để xuất hiện, và các Chân sư phải cẩn thận để nó không xảy ra quá nhanh, nếu không nhân loại sẽ bị choáng ngợp, và quỹ đạo tiến hóa, phương pháp tiến hóa dần dần, an toàn và lành mạnh của nó sẽ bị phá vỡ.

We’re seeing that life is one and non-differentiable, but when that factor of soul enters in, differentiation occurs.

Chúng ta thấy rằng sự sống là một và không thể phân chia được, nhưng khi yếu tố linh hồn đi vào, sự phân biệt xảy ra.

{Life is one and essentially non-differentiable, but when the factor of soul enters, differentiation enters as well.

{Sự sống là một và về cơ bản không thể phân biệt được, nhưng khi yếu tố linh hồn đi vào, sự phân biệt cũng đi vào.

I guess it is important to be able to see sameness and difference simultaneously. So learn, all of us, to see sameness and differentiation simultaneously, and then we will see, we will understand both being and soul or oneness and soul; oneness and soul will then be understood. We’re dealing with words, and words can be used in many different ways.

Tôi cho rằng điều quan trọng là có thể nhìn thấy đồng thời sự giống nhau và khác biệt. Vì vậy, tất cả chúng ta hãy học cách nhìn thấy sự giống nhau và sự khác biệt đồng thời, và sau đó chúng ta sẽ thấy, chúng ta sẽ hiểu cả bản thể và linh hồn, hoặc tính Duy Nhất và linh hồn. Chúng ta đang làm việc với các từ ngữ, và từ ngữ có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau.

It’s important for us to clearly define our terms and know what a particular term means to us and labor carefully to convey that meaning to others so that we actually understand each other. You know the old Voltaire statement, “If any man would converse with me, let him define his terms.” I've mentioned it more than once, it always struck me as a very important condition for mutual understanding and of course it suggests the fifth ray, and he had that kind of ability as well.

Điều quan trọng là chúng ta phải xác định rõ ràng các thuật ngữ của mình và biết một thuật ngữ cụ thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta, và cẩn thận truyền đạt ý nghĩa đó cho người khác để chúng ta thực sự hiểu nhau. Có câu nói cũ của Voltaire, “Nếu ai đó muốn trò chuyện với tôi, hãy để anh ta định nghĩa các thuật ngữ của mình.” Tôi đã đề cập đến câu nói đó nhiều lần, nó luôn khiến tôi cảm thấy đó là một điều kiện rất quan trọng để hiểu lẫn nhau, và tất nhiên nó gợi ý về cung năm, và ông cũng có khả năng đó.

[38] The definition of the soul may be regarded as somewhat more feasible than that of spirit owing to the fact that there are many people who have experienced at sometime or another an illumination, an unfoldment, an uplifting, and a beatitude

[38] Có thể coi việc định nghĩa linh hồn khả thi hơn so với định nghĩa tinh thần do thực tế là có nhiều người đã trải qua vào một thời điểm nào đó một sự soi sáng, một sự khai mở, một sự thăng hoa và một niềm hạnh phúc

A blessing

Một phước lành

[39] which has convinced them that there is a state of consciousness so far removed from that normally experienced as to bring them into a new state of being and a new level of awareness.

[39] đã thuyết phục họ rằng có một trạng thái tâm thức khác xa so với những gì thường trải nghiệm đến mức đưa họ vào một trạng thái tồn tại mới và một mức độ nhận thức mới.

So, the definition of soul. DK is saying more accessible because of human experience and there are many people who have experienced the Light or Greater Light or Greater Uplift of the consciousness and a growing awareness of different and higher states of vibration which we call higher states of being, ultimate being as one. But there are, as the word Being is used relatively, we encounter what we call different states of being.

Vì vậy, Chân sư DK nói rằng định nghĩa của linh hồn dễ tiếp cận hơn vì kinh nghiệm của con người. Rất nhiều người đã trải nghiệm Ánh sáng hoặc Ánh sáng Vĩ đại hơn, hoặc Sự Nâng cao lên của tâm thức và nhận thức ngày càng tăng về các trạng thái rung động khác nhau và cao hơn mà chúng ta gọi là các trạng thái tồn tại cao (states of Beings) hơn. Cề mặt tối hậu, Bản Thể (Being) là một, nhưng khi từ Bản thể được sử dụng một cách tương đối, chúng ta bắt gặp cái mà chúng ta gọi là các trạng thái tồn tại khác nhau.

[40] It is something felt and experienced, and involves that psychic expansion which the mystic has registered down the ages,

[40] Đó là một cái gì đó được cảm nhận và trải nghiệm, và liên quan đến sự mở rộng thông linh mà các nhà thần bí đã ghi nhận qua các thời đại,

This psychic expansion has often been called contacting. Let’s give ourselves a new word here, and we’ll call it the presence of God.

Sự mở rộng tâm linh này thường được gọi là sự tiếp xúc. Chúng ta hãy thêm một từ mới ở đây, và chúng ta sẽ gọi đó là sự hiện diện của Thượng Đế.

psychic expansion which the mystic

sự mở rộng tâm linh mà các nhà thần bí

Deem to be the presence of God

Coi là sự hiện diện của Thượng Đế

[41] has registered down the ages, and which St. Paul referred to when he spoke of being “caught up to the third Heaven,” and of hearing things there which it is not lawful for man to utter.

[41] và điều mà Thánh Paul đã đề cập đến khi Ngài nói về việc được “cất lên tầng trời thứ ba” và nghe những điều ở đó mà con người không được phép nói ra.

DK Also talked about Saint Paul registering the seventh heaven, so St. Paul was elevated, mystic elevation. He was so strongly on the fifth ray, monadically considered, that he was an occultist and later appeared I believe as the Neoplatonist theurgist known as The Umblicus, right?

Chân sư DK cũng nói về việc Thánh Paul ghi nhận tầng trời thứ bảy. Thánh Paul đã được nâng lên, sự nâng lên của nhà thần bí. Ngài rất mạnh mẽ trên cung năm, xét về mặt chân thần, đến nỗi Ngài là một nhà huyền bí học, và sau đó tôi tin rằng Ngài xuất hiện như nhà thần bí học theo trường phái Tân Plato được biết đến với tên gọi The Iamblichus.

St. Paul referred to when he spoke of being "caught up to the third Heaven," and of hearing things there which it is not lawful for man to utter.

Thánh Paul đã đề cập đến khi Ngài nói về việc được “cất lên tầng trời thứ ba” và nghe những điều ở đó mà con người không được phép nói ra.

In terms of what DK has written about, St. Paul understood something, St. Paul understood what has been called “occult silence” and keeping the content of his mind well-differentiated and knowing what could be uttered or even thought in certain context and what it was forbidden to utter or even to think in other context.

Với những gì Chân sư DK đã viết, Thánh Paul đã hiểu một điều gì đó. Thánh Paul đã hiểu điều được gọi là “sự im lặng huyền bí”, và giữ nội dung tâm trí của Ngài được phân biệt rõ ràng, biết những gì có thể được thốt ra hoặc thậm chí nghĩ trong một bối cảnh nhất định, và những gì bị cấm thốt ra hoặc thậm chí nghĩ trong một bối cảnh khác.

[42] When hearing and sight on those levels are both producing registered experience then we have the occultist plus the mystic.

[42] Khi cả thính giác và thị giác ở những cấp độ đó đều tạo ra trải nghiệm được ghi nhận thì chúng ta có nhà huyền bí học cộng với nhà thần bí.

From the astrological point of view, we realize this means Uranus plus Neptune. And really, both are necessary we have so much discussion and differentiation about occultist and mystics and so forth, as if it's quite undesirable to be a mystic and far better to be an occultist but the true occultist has blended his sensitive mysticism with his new scientific occultism and these are the two of the greatest synthesizing planets and we find them, here:

Từ quan điểm chiêm tinh, chúng ta nhận ra điều này có nghĩa là sao Thiên Vương cộng với sao Hải Vương. Thực sự, cả hai đều cần thiết. Chúng ta có rất nhiều cuộc thảo luận và phân biệt giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí, như thể việc trở thành một nhà thần bí là điều không mong muốn, và tốt hơn nhiều là trở thành một nhà huyền bí học. Nhưng nhà huyền bí học chân chính đã pha trộn chủ nghĩa thần bí nhạy cảm của mình với chủ nghĩa huyền bí khoa học mới của mình. Dưới đây là hai trong số những hành tinh tổng hợp vĩ đại nhất, và chúng ta tìm thấy chúng ở đây:

There they are, Uranus and Neptune, as if separated from the great number of planetary schemes which comprise what we might call the Esoteric Saturn. They’re all under the Saturnian control and in the Saturnian system, but the other two which are not really geometrically portrayed here with accuracy cannot yet be our above and beyond the realm of Saturn, okay? Alright, so,

Sao Thiên Vương và sao Hải Vương như thể tách biệt khỏi các hành tinh tạo nên cái mà chúng ta có thể gọi là sao Thổ Nội môn. Tất cả các hành tinh đó đều nằm dưới sự kiểm soát của sao Thổ và trong hệ thống của sao Thổ, nhưng hai hành tinh còn lại—không thực sự được mô tả chính xác về mặt hình học ở đây—ở trên và vượt ra ngoài cõi giới của sao Thổ.

When hearing and sight on those levels

Khi cả thính giác và thị giác ở những cấp độ đó

Such as, what is the third heaven? We call it the realm of the higher mind

Tầng trời thứ ba đó là gì? Chúng ta gọi nó là cõi thượng trí,

and if hearing things there,

và nghe những điều ở đó

maybe seeing things too,

cũng có thể nhìn thấy nữa,

which is not lawful for man to utter. When hearing and sight on those levels are both producing registered experience when we have the occultist plus mystic.

mà con người không được phép nói ra. Khi cả thính giác và thị giác ở những cấp độ đó đều tạo ra trải nghiệm được ghi nhận thì chúng ta có nhà huyền bí học cộng với nhà thần bí.

I would say especially when it is possible to return at will to those states and not just, is there such a word here, happenstantially. Maybe there’s no such word, but by happenstance, that is, not knowing how you got there but somehow arriving at it, happenstantial, happenstantially.

Tôi muốn nó, đặc biệt là khi có thể quay trở lại các trạng thái đó theo ý muốn chứ không chỉ một cách tình cờ, nghĩa là bạn không biết bạn đã đến đó bằng cách nào.

[43] 1. The soul, macrocosmic and microcosmic, universal and human, is that entity which is brought into being when the spirit aspect and the matter aspect are related to each other.

[43] 1. Linh hồn, đại thiên địa và tiểu thiên địa, vũ trụ và con người, là thực thể được sinh ra khi khía cạnh tinh thần và khía cạnh vật chất có liên hệ với nhau. [Page 35]

And my question has always been, my question, does it require soul in order to relate the spirit and matter aspects? And I think I have not solved that problem yet. Does it require consciousness to differentiate spirit-matter, we can call it that, into spirit and matter?

Và câu hỏi của tôi luôn luôn là, liệu có cần linh hồn để liên kết các khía cạnh tinh thần và vật chất hay không? Và tôi nghĩ rằng tôi vẫn chưa giải quyết được vấn đề đó. Liệu có cần tâm thức để phân chia Tinh Thần-Vật Chất, chúng ta có thể gọi như vậy, thành tinh thần và vật chất hay không?

There are some philosophical questions there that need examination, and obviously when you think the Tibetan has it right, which we have every reason to believe he does and you find that your understanding is giving you present limitations as other or aren’t the other than what is normally presented. Then you have a responsibility to think very deeply about what may be the reason for the apparent contradiction or inconsistency. And that's where I am with this issue of the creation of matter which I think is an act of self-observation, I have often said. So the creation of matter may be an act of self-observation or matter as distinctly objective, alright. Anyway, that will be solved as we go along, maybe it’s already solved for many but at least to my own mind I have to go with what I think is necessary. So we have here the soul and it’s brought into being when spirit and matter, subject and object, are related but then how do you get the object? That's the question.

Có một số câu hỏi triết học cần được xem xét, và rõ ràng khi bạn nghĩ Chân sư Tây Tạng đã đúng—điều mà chúng ta có mọi lý do để tin rằng Ngài đã đúng—và bạn thấy rằng, do những hạn chế hiện tại, sự hiểu biết của bạn khác với những gì được trình bày, khi đó, bạn có trách nhiệm suy nghĩ thật sâu về lý do có thể gây ra mâu thuẫn hoặc sự không nhất quán đó. Và đó là nơi tôi đang gặp phải với vấn đề về sự tạo ra vật chất mà tôi nghĩ là một hành động tự quan sát, như tôi thường nói. Dù sao đi nữa, điều đó sẽ được giải quyết khi chúng ta tiếp tục, có lẽ nó đã được giải quyết đối với nhiều người nhưng ít nhất là đối với tâm trí của tôi, tôi phải đi theo những gì tôi cho là cần thiết. Vì vậy, ở đây chúng ta có linh hồn và nó được sinh ra khi tinh thần và vật chất, chủ thể và đối tượng, liên hệ. Nhưng sau đó làm thế nào bạn có được đối tượng? Đó là câu hỏi.

[44] a. The soul therefore is neither spirit nor matter but is the relation between them.

[44] a. Do đó, linh hồn không phải là tinh thần cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ giữa chúng.

That of course is an important concept and with it, one necessarily has to agree whenever we have the word soul, we must think also of the word relation.

Tất nhiên, ĐÓ là một khái niệm quan trọng, và với nó, người ta nhất thiết phải đồng ý rằng bất cứ khi nào chúng ta có từ linh hồn, chúng ta cũng phải nghĩ đến từ quan hệ.