The following account is adapted from a transcript of remarks at the historic meeting at Mr. Cayce’s home in Virginia Beach, March 28, 1931, at which he and his closest associates agreed to form a new organization, the Association for Research and Enlightenment, which was issued a charter by the Commonwealth of Virginia on July 7, 1931.
Bài tường thuật sau đây được phỏng theo bản ghi lời phát biểu tại cuộc họp lịch sử ở nhà Ông Cayce tại Virginia Beach, ngày 28 tháng 3 năm 1931, tại đó Ông và các cộng sự thân cận nhất đã đồng thuận thành lập một tổ chức mới, Hiệp hội Nghiên cứu và Khai sáng (Association for Research and Enlightenment), được Khối thịnh vượng chung Virginia cấp điều lệ vào ngày 7 tháng 7 năm 1931.
Mr. Cayce: Friends, I hardly know how to express myself at seeing each one of you here this afternoon. While we come together for a very definite purpose, I believe you will say when you have left the meeting that it was an unusual meeting. It is not that we may know how to carry on the work that I have been doing and you have been interested in, but as to whether we shall carry on the work. Each one of you have signified by your coming here that it will be carried on, that it must be carried on. I believe that you will agree with me that if this be God’s work, the way will be shown us. To be sure, we are in a material world. Most of us consider everything in a material way. Practically all of us are material-minded to a greater or lesser degree.
Ông Cayce: Thưa các bạn, tôi khó có thể diễn đạt hết cảm xúc khi thấy từng người trong các bạn có mặt chiều nay. Dù chúng ta nhóm họp với một mục đích rất rõ ràng, tôi tin rằng khi rời cuộc họp này, các bạn sẽ nói đây là một cuộc họp khác thường. Không phải để chúng ta biết phải làm thế nào để duy trì công việc mà tôi đã làm và các bạn đã quan tâm, mà là liệu chúng ta có tiếp tục công việc ấy hay không. Mỗi người trong các bạn, bằng việc đến đây, đã biểu thị rằng công việc ấy sẽ được tiếp tục, rằng nó phải được tiếp tục. Tôi tin các bạn sẽ đồng ý với tôi rằng nếu đây là công việc của Thượng đế, con đường sẽ được chỉ bày cho chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta đang ở trong một thế giới vật chất. Hầu hết chúng ta xét mọi sự theo cách vật chất. Gần như tất cả chúng ta, ít nhiều, đều thiên về vật chất.
Now, I have invited possibly 75 or 80 people. These we see here represent themselves and possibly many others. I have many letters here from all parts of the world, from people who could not be here. I wish that we had time to read you something from each and every one of those letters. We haven’t. There are one or two that we do want to read. You know the purpose of this gathering from the letters that were sent out with the readings. There has been, or was, an organization which was proposed to carry on the research work, that has been ordered disbanded, or disorganized. I was the individual around whom most of that was built. Now, as to whether that is to be carried on, and as to what purposes and what aims shall be set, are the questions before you.
Giờ đây, tôi đã mời có lẽ 75 hay 80 người. Những người có mặt ở đây đại diện cho chính họ và có lẽ cho nhiều người khác. Tôi có rất nhiều thư từ khắp thế giới, của những người không thể đến. Tôi ước chúng ta có thời giờ để đọc cho các bạn nghe đôi điều từ từng lá thư ấy. Chúng ta không có. Có một hai bức mà chúng ta muốn đọc. Các bạn biết mục đích của cuộc nhóm hôm nay từ những lá thư đã gửi kèm theo các bài đọc. Đã từng có, hoặc đã được đề xuất, một tổ chức để tiếp tục công tác nghiên cứu, nhưng đã bị yêu cầu giải tán, hoặc rã tổ. Tôi là người mà phần lớn những điều ấy xoay quanh. Giờ đây, việc ấy có được tiếp tục hay không, và những mục đích, những hoài bão nào sẽ được đề ra, đó là những câu hỏi đặt ra trước các bạn.
I don’t have to try to describe the work to you, for possibly to every one of you it means something different. We cannot keep personalities from entering into our lives. I had a wire this afternoon from someone that I think a very great deal of. Now let me tell those of you who don’t know this individual some of the circumstances and then think well of how this lady has expressed herself. She has known of the work for possibly 15 years. Last summer she brought her husband [5473] here to the hospital. He died at the hospital, one of the two deaths that we had here. I sent her a letter. It must mean something for her to wire this:
Tôi không cần cố gắng mô tả công việc với các bạn, vì có lẽ với mỗi người trong các bạn, nó mang một ý nghĩa khác nhau. Chúng ta không thể ngăn phàm ngã khỏi chen vào đời sống chúng ta. Chiều nay tôi nhận được một bức điện của một người mà tôi vô cùng quý mến. Giờ để tôi kể cho những ai không biết người phụ nữ ấy một vài hoàn cảnh, rồi suy nghĩ cho thấu đáo cách bà bày tỏ. Bà biết công việc này có lẽ 15 năm. Mùa hè trước, bà đưa chồng [5473] đến bệnh viện này. Ông ấy mất tại bệnh viện, một trong hai trường hợp tử vong chúng ta có ở đây. Tôi gửi cho bà một lá thư. Việc bà điện như sau hẳn phải có ý nghĩa:
“Readings splendid. Heartily endorse suggestions. Favor progress in definite helpful manner. Experience permits me an expression of deepest appreciation and years of happiness and benefit … [310]”
“Các bài đọc tuyệt vời. Hết lòng tán thành các đề nghị. Ủng hộ tiến triển theo cách thức hữu ích, minh định. Trải nghiệm cho phép tôi bày tỏ niềm tri ân sâu xa và nhiều năm hạnh phúc cùng lợi lạc … [310]”
Think what that means to a woman who lost her husband, depending upon the information. Now, I am trying to put this in just the hardest way we may put it, if it is possible. Consider this from a young man who, in a portion of his letter received just a minute ago, says: “You have expressed in a personal letter that possibly my work has taken something from my religion, or has taken me away from my religion, but I want to say it has given me my religion, though I was raised in the Catholic church, and I am asking you after this—may God take me for what I am … I do not come as the … worshiper, the incense burning charlatan, the pious hypocrite, but as the lusty lover of life … ready to defend He who is my Father … [849]”
Hãy nghĩ điều đó có ý nghĩa thế nào với một người phụ nữ mất chồng, nương cậy vào thông tin. Giờ, tôi đang cố trình bày điều này theo cách khó nhất mà chúng ta có thể nêu, nếu có thể. Hãy xét lời của một chàng trai trẻ, trong một phần lá thư vừa nhận ít phút trước, viết: “Ông đã bày tỏ trong một lá thư riêng rằng có thể công việc của tôi đã lấy đi điều gì đó khỏi tôn giáo của tôi, hoặc đã khiến tôi xa rời tôn giáo của mình, nhưng tôi muốn nói rằng chính nó đã ban cho tôi tôn giáo của tôi, dù tôi được dưỡng dục trong giáo hội Công giáo, và tôi cầu xin ông từ nay—cầu xin Thượng đế nhận lấy tôi như tôi là … Tôi không đến như kẻ … thờ phụng, kẻ phù thủy đốt hương, kẻ đạo đức giả sùng tín, mà như người yêu cuộc sống một cách nồng nhiệt … sẵn sàng bênh vực Đấng là Cha của tôi … [849]”
To some other friends that I wrote far and near, I received letters of encouragement to continue the work. Now I would like for you all to select a chairman and let me sit down and listen to what you have to say about the phenomenon. I would like to have an expression from you all, every one of you that feels moved to speak. Before we appoint or elect or select a chairman, would you wish to hear those readings again as to what we are going to do? There has been one other obtained since those were sent out. That one [254—55] I would like for you to hear anyway.
Với một vài thân hữu khác mà tôi đã viết thư xa gần, tôi nhận được thư khích lệ tiếp tục công việc. Giờ tôi muốn các bạn chọn một chủ tọa và để tôi ngồi xuống lắng nghe điều các bạn muốn nói về hiện tượng này. Tôi mong được nghe bày tỏ từ tất cả các bạn, bất kỳ ai cảm thấy được thúc đẩy lên tiếng. Trước khi chúng ta bổ nhiệm hay bầu hay chọn một chủ tọa, các bạn có muốn nghe lại những bài đọc về việc chúng ta sẽ làm gì không? Có một bài khác nữa đã được lấy sau khi những bài kia đã gửi đi. Bài đó [254—55] dù sao tôi cũng muốn các bạn nghe.
Mr. Cayce then called on Dave Kahn, who said, “We haven’t come in pomp and glory, but we have come here with only one thought, but certainly in the name of the Creator. I feel that because of the humbleness with which we approach this subject today we are going to ask and receive help which will lead us on to things that we aspired to accomplish when we came to Virginia Beach five years ago.”
Sau đó Ông Cayce mời Dave Kahn phát biểu, anh nói: “Chúng ta không đến với phô trương vinh quang, mà chỉ đến đây với một ý nghĩ duy nhất, nhưng chắc chắn nhân danh Đấng Tạo Hóa. Tôi cảm nhận rằng nhờ sự khiêm hạ mà chúng ta tiếp cận đề tài này hôm nay, chúng ta sẽ xin và nhận được sự trợ giúp sẽ dẫn chúng ta đến những điều mà chúng ta đã hoài bão hoàn thành khi đến Virginia Beach cách đây năm năm.”
To help everyone understand what the purposes and aims of this organization should be, according to these readings, Gertrude Cayce read aloud readings 254—52 and 254—55.
Để giúp mọi người hiểu mục đích và hoài bão của tổ chức này nên là gì theo các bài đọc, Gertrude Cayce đã đọc to các bài 254—52 và 254—55.
Text of Reading 254—52
Văn bản Bài đọc 254—52
GC: You will have before you the body and the enquiring mind of Edgar Cayce, the phenomenon that manifests itself through this body, also all the conditions and circumstances that surround this body and the phenomenon itself. You will tell us what is the proper and correct method to proceed under the existing circumstances and conditions, answering questions for those so vitally interested, as they themselves have asked them, answering the questions to each individually.
GC: Trước các ngài là thể xác và thể trí truy vấn của Edgar Cayce, hiện tượng biểu lộ qua thể này, cũng như tất cả các điều kiện và hoàn cảnh bao quanh thể này và chính hiện tượng. Xin cho chúng tôi biết phương cách đúng đắn và thích đáng để tiến hành trong hoàn cảnh và điều kiện hiện hữu, trả lời những câu hỏi cho những ai quan tâm sống còn, như chính họ đã đặt, trả lời câu hỏi cho từng người riêng rẽ.
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, Edgar Cayce, present in this room. Also the phenomenon that manifests itself through this body, and those conditions and circumstances that surround the body, the phenomenon, the interest as manifested by individuals present and afar, those present in the earth’s plane, those present in the Borderland, and the inter-between.
EC: Vâng, chúng tôi có ở đây thể xác, thể trí truy vấn, Edgar Cayce, hiện diện trong căn phòng này. Cũng có hiện tượng biểu lộ qua thể này, và những điều kiện, hoàn cảnh bao quanh thể, hiện tượng, mối quan tâm được biểu lộ bởi các cá nhân hiện diện và ở xa, những người hiện diện trên cõi trần, những người hiện diện nơi Cõi Biên Tế, và khoảng-ở-giữa.
In the first, the physical forces in the body, Edgar Cayce, need that attention, that the body mental, the body physical, may be the better channel for those manifestations that may be presented through the body, through these channels, will the better development come from the information that may be given.
Trước hết, các lực hồng trần trong thể, Edgar Cayce, cần được lưu tâm, để thể trí, thể xác có thể là kênh tốt hơn cho những biểu lộ có thể được trình bày qua thể, qua các kênh này, hầu từ đó sự phát triển tốt đẹp hơn đến từ thông tin có thể được trao.
Care should be taken as to the eliminations, the proper characterization in the diet, the proper potential forces as to the activities of the body in relationship both to the mental and to the physical forces of the body. These have oft been outlined, will the entity, the body physical heed those that are given in those outlines that were set for the young men of old [Dan. 1], even those companions to one who stands near in the present—Daniel.
Cần thận trọng về sự bài tiết, về định tính đúng đắn trong chế độ ăn, về các tiềm lực thích đáng đối với hoạt động của thể trong tương quan cả với các lực trí tuệ và các lực hồng trần của thể. Những điều này đã nhiều lần được phác thảo; nếu đương sự, thể xác, lưu tâm đến những điều được nêu trong các phác thảo đã đặt ra cho những chàng thanh niên thời xưa [Dan. 1], thậm chí cho cả những người bạn đồng hành của một vị hiện đang đứng gần—Đaniel.
In the consideration of conditions, circumstances, that surround the body and those interested in the furtherance of the work, the manifestations that have been exemplified in a greater or lesser degree in the associations of the individuals, much might be given as to the errors and the correctness of various individuals’ activities as respecting same. Many having lost sight of the purposes, the ideals, have presented strange fires upon the altars of truth. These are necessarily blinding to those that would remain, even in the straight and narrow path. Be not blinded to those conditions that easily beset each individual, yet there must ever remain that loving care, that perfect differentiation between that that would build for constructive influences in the lives of those that would associate themselves in carrying forward that of truth, that is life itself, as is set in Him who has ever presented a way for a more perfect relationship between the Creator and the creature.
Khi xét đến các điều kiện, hoàn cảnh bao quanh thể và những người quan tâm đến việc thúc đẩy công việc, những biểu lộ đã được nêu gương ở mức độ lớn nhỏ khác nhau trong các mối liên hệ của các cá nhân, có thể nói nhiều về sai lầm và sự đúng đắn trong các hoạt động của nhiều người liên hệ đến việc này. Nhiều người đã lạc mất mục đích, lý tưởng, đã dâng những ngọn lửa lạ trên các bàn thờ chân lý. Những điều này tất yếu làm lóa mắt những ai muốn ở lại trên con đường thẳng và hẹp. Đừng để bị lóa bởi những điều kiện vốn dễ bủa vây mỗi cá nhân, tuy nhiên phải luôn tồn tại sự chăm sóc yêu thương, sự phân biện hoàn hảo giữa điều sẽ xây dựng các ảnh hưởng kiến tạo trong đời sống của những ai muốn kết liên mình để mang tiến về phía trước điều của chân lý, vốn là sự sống tự thân, như đã được đặt vào nơi Ngài, Đấng hằng trình bày một con đường cho một mối tương giao hoàn hảo hơn giữa Đấng Tạo Hóa và thọ tạo.
In existent conditions, turmoils, strife—even harsh words that stirreth up anger are in the minds and the hearts of many. Then, in considering the conditions that are necessary for the proper way of procedure, proceed slowly.
Trong các điều kiện hiện hữu, rối ren, tranh chấp—ngay cả những lời thô cứng khơi dậy phẫn nộ—đang ở trong tâm trí và trái tim của nhiều người. Vậy, khi cân nhắc những điều kiện cần cho phương thức tiến hành đúng đắn, hãy tiến hành chậm rãi.
Be not hasty either in word or deed, rather relying upon those presentations that may come from as perfect [as possible] a meditation from the heart and soul of each, WITH that figure that each would have as the ideal or the guiding star, the guiding factor in that as would be accomplished.
Chớ vội vàng trong lời hay việc, mà hãy nương cậy vào những trình hiện có thể đến từ một sự tham thiền hoàn hảo [tối đa có thể] từ trái tim và linh hồn của mỗi người, CÙNG với Hình Tượng mà mỗi người sẽ lấy làm lý tưởng hay vì sao dẫn đường, nhân tố dẫn dắt trong điều sẽ được hoàn thành.
If the star, the hope, that to be attained, is of the earthly influences, then set that as thine aim. Are those influences, those ideals, to be such as will aid each soul to gain a better insight as to its relations with its Creator, then be guided by that influence that seemeth right with the knowledge thou hast already in hand as pertaining to those influences. Guiding, guarding and directing in this way and manner, may each then present to that throne that question, that desire, that INTENT as IT, that soul, is to have in ITS relation TO that as is to be ACCOMPLISHED by such a gathering together, such an undertaking as may be determined in the heart, the mind, the soul, of each.
Nếu ngôi sao, niềm hy vọng, điều cần đạt đến, là thuộc các ảnh hưởng thế gian, vậy hãy đặt điều ấy làm đích của ngươi. Còn nếu các ảnh hưởng ấy, các lý tưởng ấy, là để giúp từng linh hồn đạt tới một thấu triệt tốt hơn về mối tương quan của nó với Đấng Tạo Hóa, vậy hãy được dẫn dắt bởi ảnh hưởng dường như đúng theo tri thức ngươi đã có trong tay về những ảnh hưởng ấy. Dẫn dắt, gìn giữ và định hướng theo cách thế này, mỗi người có thể trình lên ngai ấy câu hỏi, ước muốn, Ý ĐỊNH mà CHÍNH linh hồn ấy sẽ có trong MỐI tương quan của nó VỚI điều sẽ được HOÀN THÀNH bởi một cuộc nhóm họp như thế, một sự dấn thân như thế, như có thể được phán định trong trái tim, tâm trí, linh hồn của mỗi người.
First, as has been oft given, there is STRENGTH in unity of purpose—for, as has been given, “Where two or three gather together in my name, I am in the midst of same,” and if in that name ye ask BELIEVING ye shall receive according to the faith that lies within each and every one of you; for God is not mocked, and whatsoever ye sow, so shall ye reap. As ye build, so shall the STRUCTURE be. If such a structure becomes top-heavy, or there is presented those things that make for strife, contention, selfishness, these beget the children thereof. These must be considered first and foremost in the heart of each as they approach a truth as may be founded, even in that termed by the world as superstition, ignorance, and such; yet out of the mysteries to the blind comes those forces, those manifestations, that make life worth living for those that seek to know the light.
Trước hết, như đã nhiều lần được trao, có SỨC MẠNH trong sự nhất tâm của mục đích—vì, như đã được trao, “Nơi nào có hai hay ba người nhóm nhau lại nhân danh Ta, thì Ta ở giữa họ,” và nếu nhân danh ấy các ngươi cầu XIN với NIỀM TIN, các ngươi sẽ nhận được tùy theo đức tin vốn nằm trong từng người các ngươi; bởi Thượng đế không bị khinh dể, và hễ điều gì các ngươi gieo, các ngươi cũng sẽ gặt. Như các ngươi xây, thì KIẾN TRÚC sẽ là như vậy. Nếu một kiến trúc như thế trở nên chênh vênh, hoặc có những điều đưa đến bất hòa, tranh chấp, vị kỷ, thì chúng sinh ra những đứa con của chúng. Những điều ấy phải được xét đến trước hết và trên hết trong trái tim của mỗi người khi họ tiếp cận một chân lý có thể được đặt nền—even vào điều mà thế gian gọi là mê tín, vô minh, v.v.; nhưng từ những huyền nhiệm đối với kẻ mù, phát lộ những lực, những biểu lộ, làm cho đời sống đáng sống đối với những ai tìm biết ánh sáng.
Then, in considering conditions, circumstances as surround the body, as surrounds the phenomenon itself—be not hasty in re-organization, yet there should be—there MUST be—a PHYSICAL organization of those concepts of those that attempt to propagate or to disperse truths that may be, have been, and will be attained or gained through such channels. In the formation of same, choose under what flag, what star, what hope, as may be found in that as is to be sought by those that would form such a physical organization. And in choosing let the name under which such should be formed signify that as is to be found in the seeking—whether Peace, whether Joy, whether Fame, whether Fortune, whether Hopes of an Understanding, or Hopes in the Physical sense—let THESE be in accord with that so sought, so presented, so represented. In choosing, let a leader, a manager—one who may be said the soul, the mind, without blemish—one WILLING to present the body as a LIVING sacrifice, HOLY, acceptable, unto Him—which will only be a reasonable service for that which is TO be presented, represented, found in a way and manner through each so interested choosing, through the casting of lots, even, as Matthias [was] chosen; one well grounded, one well understanding the conditions, the circumstances that are presented; one knowing the pitfalls that are presented in each life as it presents itself as one willing to serve in whatever capacity it may choose, or is necessary for filling its portion in the work, in the accomplishing of the ideal that is chosen by those who feel, know, within their own selves there IS an ideal; and if such an one falters, let him—let them be the ones as KNOW that they themselves have turned again to the vomit, even as the dog.
Vậy, khi cân nhắc các điều kiện, hoàn cảnh bao quanh thể, bao quanh chính hiện tượng—chớ vội vã tái tổ chức, nhưng nên—PHẢI—có một tổ chức HỮU HÌNH cho những quan niệm của những người tìm cách truyền bá hay phân tán những chân lý có thể, đã và sẽ được đạt đến hoặc thủ đắc qua những kênh như thế. Trong việc hình thành điều ấy, hãy chọn dưới ngọn cờ nào, vì sao nào, niềm hy vọng nào, như có thể được tìm thấy trong điều mà những người muốn lập nên tổ chức hữu hình như vậy tìm kiếm. Và khi chọn, để danh xưng dưới đó điều ấy sẽ được lập nên biểu thị điều sẽ được tìm thấy trong cuộc kiếm tìm—dù là Bình an, Hoan lạc, Danh vọng, Tài phú, Hy vọng về Sự Hiểu Biết, hay Hy vọng theo nghĩa Hồng trần—để NHỮNG điều ấy hài hòa với điều được tìm kiếm, được trình hiện, được đại diện. Khi chọn, hãy chọn một lãnh đạo, một quản sự—một người có thể được gọi là linh hồn, là trí, vô tì vết—một người SẴN LÒNG hiến dâng thân thể như một của lễ SỐNG, THÁNH, đẹp lòng Ngài—vốn chỉ là một sự phụng sự hợp lẽ đối với điều sẽ được trình hiện, đại diện, được tìm thấy bằng cách và phương tiện qua mỗi người quan tâm như vậy lựa chọn, thậm chí bằng việc bắt thăm, như Matthia [đã được] chọn; một người vững nền, hiểu thấu các điều kiện, hoàn cảnh được trình bày; một người biết những hầm hố đặt ra trong mỗi đời sống khi nó tự trình hiện như một kẻ sẵn sàng phụng sự trong bất kỳ tư cách nào nó lựa chọn, hoặc cần để làm tròn phần việc của nó trong công cuộc, trong việc thành tựu lý tưởng được chọn bởi những ai cảm nhận, biết, trong tự thân họ rằng CÓ một lý tưởng; và nếu người như thế chao đảo, hãy để y—hãy để họ là những người BIẾT rằng chính họ đã quay trở lại với chỗ mửa của mình, như con chó vậy.
In the selection of individuals, let THESE also be chosen—but let each present themselves as one willing to abide by those sources of information as is chosen for the various channels of endeavors in the various fields of WHICH the phenomenon itself MAY act. Let the dispersing of that already attained, or gained, be given more and more to those that seek for an understanding. For the time has arisen in the earth when men—everywhere—seek to know more of the MYSTERIES of the mind, the soul, the SOUL’S mind—which man recognizes as existent, yet has seen little of the ABILITIES of same.
Trong việc tuyển chọn cá nhân, hãy CHỌN những người ấy nữa—nhưng hãy để mỗi người tự trình diện như một người sẵn sàng thuận phục các nguồn thông tin được chọn cho các kênh nỗ lực khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau MÀ chính hiện tượng có THỂ hành động. Hãy để việc phân tán những điều đã đạt, hoặc thủ đắc, được trao ngày càng nhiều hơn cho những ai tìm kiếm sự thấu hiểu. Vì thời điểm đã đến trên trần gian khi con người—khắp nơi—tìm biết nhiều hơn về những HUYỀN NHIỆM của thể trí, của linh hồn, của THỂ TRÍ của linh hồn—mà con người công nhận là hiện hữu, song đã thấy ít ỏi về NĂNG LỰC của nó.
Then, present those before THIS throne—this body—this group—for confirmation, and let such an one CONSECRATE their bodies, their minds, their souls—and all will be well!
Vậy thì, hãy trình các điều ấy trước NGAI này—thể này—nhóm này—để xác nhận, và để người như thế DÂNG HIẾN thân thể, tâm trí, linh hồn họ—và mọi sự sẽ tốt lành!
We are through for the present.
Trước mắt, chúng tôi xin kết thúc.
Text of Reading 254—55
Văn bản Bài đọc 254—55
GC: You will have before you the body and the enquiring mind of Edgar Cayce, present in this room, the phenomenon that manifests itself through this body, also all the conditions and circumstances that surround this body and the phenomenon itself. You will tell us what is the proper and correct method to proceed under the existing circumstances and conditions, answering questions for those so vitally interested, as they, themselves, have asked them, answering the questions to each, individually, as I ask them.
GC: Trước các ngài là thể xác và thể trí truy vấn của Edgar Cayce, hiện diện trong căn phòng này, hiện tượng biểu lộ qua thể này, cũng như tất cả các điều kiện và hoàn cảnh bao quanh thể này và chính hiện tượng. Xin cho chúng tôi biết phương cách đúng đắn và thích đáng để tiến hành trong hoàn cảnh và điều kiện hiện hữu, trả lời những câu hỏi cho những ai quan tâm sống còn, như chính họ đã đặt, trả lời các câu hỏi cho từng người, riêng rẽ, theo tôi nêu ra.
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, Edgar Cayce, present in this room, the phenomenon that manifests through this body, the associations, relations, individuals—these we have had before.
EC: Vâng, chúng tôi có ở đây thể xác, thể trí truy vấn, Edgar Cayce, hiện diện trong căn phòng này, hiện tượng biểu lộ qua thể này, các mối liên hệ, tương quan, các cá nhân—những điều này chúng tôi đã có trước đây.
Many are the questions that arise in the minds of individuals that contact, that are interested in the various phases of the phenomenon, as it—the phenomenon—interests or influences the lives of individuals in their varied manners of contacting same.
Có nhiều câu hỏi khởi sinh trong tâm trí của những người tiếp xúc, những người quan tâm đến các phương diện khác nhau của hiện tượng, khi chính nó—hiện tượng—gây hứng thú hoặc ảnh hưởng đến đời sống các cá nhân theo những cách thế khác nhau mà họ tiếp cận nó.
In the manners to proceed, then—much has been given as respecting same. Some definite actions have been taken as respecting same. The first consideration each individual takes, as they seek either information or association with same, should be the validity of the information—and as to whether or not they themselves are willing, irrespective of comment from without, to stand by same, or to LIVE by same wholly, or in another line. Is the information in keeping with the ideal that has been set by such an individual? Is it in keeping with that they (the individual) would live by, or die with? Or, to put in another manner—is the information such that IT (the information) GIVES the individual AN ideal, NOT just an idea? Or is the information IDEAL, or JUST an idea?
Về phương cách tiến hành, vậy—đã nói nhiều về việc này. Một số hành động cụ thể đã được thực hiện liên quan đến việc này. Điều cân nhắc đầu tiên mà mỗi cá nhân thực hiện, khi họ tìm kiếm thông tin hoặc kết liên với hiện tượng, phải là tính xác tín của thông tin—và liệu họ có sẵn lòng, bất chấp lời bình phẩm từ bên ngoài, đứng cùng với điều ấy hay không, hoặc SỐNG theo điều ấy trọn vẹn, hoặc theo một tuyến khác. Thông tin ấy có phù hợp với lý tưởng mà cá nhân ấy đã đặt định không? Nó có phù hợp với điều họ (cá nhân ấy) sẽ sống theo, hoặc chết vì, hay không? Hoặc, nói theo cách khác—thông tin ấy có ban cho cá nhân MỘT lý tưởng, chứ không chỉ một ý niệm, hay không? Thông tin ấy là LÝ TƯỞNG, hay chỉ là một ý niệm?
As to how each individual is to reach such conclusions, then—as has been outlined—there is seen that first there must be within the information that may be obtained that which corresponds, or which awakens a chord WITHIN each individual, and that rings true to the individual’s own plan, own spiritual desire; for the SPIRIT is alive, the FLESH is weak.
Về cách mỗi cá nhân đạt đến những kết luận như vậy—như đã được phác thảo—thì thấy rằng trước hết trong thông tin có thể thủ đắc phải có điều tương ứng, hoặc đánh thức một hợp âm BÊN TRONG mỗi cá nhân, vang đúng với đồ án riêng, khát vọng tinh thần riêng của cá nhân; bởi THẦN thì sống động, còn XÁC thì yếu đuối.
The carnal desire must sooner or later, as in nature, BURN itself out; so, as has been given, “all things are tried so as by fire.” THIS, to SOME, will give a new meaning to MANY of the words of old.
Dục vọng xác thịt sớm muộn, như trong thiên nhiên, phải tự mình THIÊU rụi; vậy nên, như đã được trao, “mọi sự đều được thử như thể qua lửa.” ĐIỀU NÀY, với MỘT SỐ người, sẽ mang lại ý nghĩa mới cho NHIỀU lời xưa.
In considering individuals’ approach, again there must be CREDENCE given to the acts and activities OF the information as it contacts individuals’ lives. Does the information not make of individuals better husbands, better wives, better sons, better daughters, better citizens, then there is some fault with same. What is to be the comparison, then, is asked, as to whether an individual is a better son, daughter, husband, wife, or citizen? That which makes for a continuity of life is the answer; for as one views all forms of life in the earth’s plane there is within that that has crystallized INTO form the seed for the propagation of that life. So in deeds of men, or in the acts or thoughts, or ideals of man—however they may be made accessible to the mental being—does same make for that which is life, light, understanding.
Khi xét đến cách tiếp cận của mỗi cá nhân, một lần nữa phải có SỰ TÍN THÁC dành cho các hành vi và hoạt động của CHÍNH thông tin khi nó chạm đến đời sống các cá nhân. Nếu thông tin không khiến con người trở thành người chồng tốt hơn, người vợ tốt hơn, người con trai tốt hơn, người con gái tốt hơn, công dân tốt hơn, thì có điều gì đó sai trật ở nó. Vậy tiêu chí so sánh là gì, được hỏi, để biết một cá nhân có là người con trai, con gái, chồng, vợ hay công dân tốt hơn không? Câu trả lời là: điều gì làm cho sự sống tiếp nối; vì khi người ta nhìn mọi hình thể sống trên cõi trần, trong điều đã kết tinh THÀNH hình tướng có hạt giống để truyền sinh sự sống ấy. Cũng vậy, trong hành vi của con người, hoặc trong các hành động hay tư tưởng, hay lý tưởng của con người—bất kể chúng được đưa vào hữu thức ra sao—điều ấy có làm nên điều là sự sống, ánh sáng, thấu hiểu hay không.
Then it bears the seed and the stamp of divine privilege, divine understanding; for GOD IS life, light, and immortality. So must be the information that would BUILD in the lives, hearts and MINDS of those that contact same.
Vậy nó mang hạt giống và ấn tích của đặc ân thiêng liêng, thấu hiểu thiêng liêng; bởi THƯỢNG ĐẾ CHÍNH LÀ sự sống, ánh sáng, và bất tử. Thế nên, thông tin nào sẽ XÂY DỰNG trong đời sống, trái tim và THỂ TRÍ của những ai tiếp xúc với nó cũng phải như vậy.
As to whether such information that comes through these channels, this body, this individual, is of THIS character or not is the question in each individual that contacts same; for, as of old, God calls on every individual to act FOR THEMSELVES; even as of old, “there is set before thee good and evil. Choose THOU.” Not that the response comes from any source save FROM within.
Liệu loại thông tin đến qua những kênh này, thể này, cá nhân này, CÓ mang đặc tính NHƯ THẾ hay không là câu hỏi nằm trong mỗi cá nhân tiếp cận nó; vì, như thuở xưa, Thượng đế kêu gọi mỗi cá nhân hành động CHO CHÍNH MÌNH; như thuở xưa, “đặt trước mặt ngươi điều thiện và điều ác. Hãy CHỌN LẤY.” Không phải lời đáp đến từ nguồn nào khác ngoại trừ TỪ bên trong.
As to how an individual may present same—that is, the information—the awakening from within of that received through such channels, that they themselves or the phenomenon itself may not be evil spoken of—ask and ye SHALL receive.
Về cách một cá nhân có thể trình bày điều ấy—tức thông tin—sự thức dậy từ bên trong về điều đã nhận qua những kênh như thế, để chính họ hay hiện tượng tự thân không bị người ta nói xấu—hãy xin thì sẽ được.
As to how each shall present that knowledge—how does an individual tell of the finding in self of that love for an individual that they choose as their mate in the material world? that the fusing of their bodies, their minds, may propagate or give to the world the material things of the world that they desire TO be their representatives in the world? They declare themselves before the laws of the land, before the laws of society, before the laws of individual thought; and in the same manner may an individual that receives any phase of that they would see propagated, dispersed, dispensed, in the hearts, the souls, the minds, of men—in the same manner declare themselves. That the phenomenon, the ideal, the idea, will be spoken evil of is apparent, but those that declare themselves must know in what, whom, how, they themselves HAVE believed. BELIEVING, ACT—in faith—in the manner as befitteth and befits that which WOULD be propagated. So in each individual’s touch, each individual’s contact, they that seek such things for an interest that is wholly of the earth-EARTHY may only find such. They that seek for those that bring a whole, well-rounded life, may find such. “What WILL ye do with this man?” Ready for questions.
Về cách mỗi người trình bày tri thức ấy—một cá nhân thuật lại thế nào việc mình trong tự thân đã tìm thấy tình yêu dành cho người mà họ chọn làm bạn đời nơi thế gian? rằng sự dung hợp thân thể, tâm trí của họ có thể truyền sinh hoặc đem đến cho thế gian những điều trần thế mà họ mong muốn LÀ đại diện của họ giữa đời? Họ tuyên bố chính mình trước luật pháp quốc gia, trước luật lệ xã hội, trước luật của tư tưởng cá nhân; và cũng theo cách ấy, người nhận bất cứ phương diện nào của điều họ muốn được truyền bá, phân phát, phổ truyền, trong trái tim, linh hồn, thể trí của con người—cũng theo cách ấy mà tự tuyên xưng mình. Rằng hiện tượng, lý tưởng, ý tưởng, sẽ bị nói xấu là điều hiển nhiên, nhưng những người tự tuyên xưng mình phải biết họ đã tin vào điều gì, vào ai, và như thế nào. TIN, thì HÀNH—bằng đức tin—theo cách phù hợp và xứng với điều sẽ được truyền bá. Vậy, trong mỗi chạm đến của từng người, mỗi tiếp xúc của từng người, ai tìm những điều ấy vì một mối quan tâm hoàn toàn trần thế—THẾ TỤC—chỉ có thể tìm thấy điều như thế. Ai tìm những điều mang lại một đời sống trọn vẹn, quân bình, có thể tìm thấy điều như thế. “Các người sẽ LÀM gì với người này?” Sẵn sàng cho các câu hỏi.
Q. Questions by Gray Salter: How best might Gray Salter give his service in helping this work?
Hỏi. Các câu hỏi của Gray Salter: Làm cách nào tốt nhất để Gray Salter dâng phụng sự giúp công việc này?
A. In the varied manners in which the abilities of self lie, so use those abilities that they may in the lives of those seeking aid in the various forms RECEIVE that in no UNCERTAIN manner; for each is dependent upon the other.
Đáp. Bằng các cách thế khác nhau tương ứng với khả năng của tự thân, hãy sử dụng các khả năng ấy để cho trong đời sống của những người tìm sự trợ giúp ở các hình thức khác nhau nhận được điều ấy một cách KHÔNG HỀ MẬP MỜ; vì mỗi người nương vào người kia.
Q. Am I fitted and the one to take charge of the mechanical appliances and medicines at present?
Hỏi. Tôi có phù hợp và là người để phụ trách các thiết bị cơ học và dược phẩm hiện tại không?
A. One that may take charge of mechanical appliances, and for the PRESENT prepare such of medicinal properties as may be given in thy charge—for each to their various spheres. MUCH may be added unto self of material knowledge concerning the various applications, or the various appliances, that will aid others seeking for physical or material aid through these channels. He that will serve is able, and when faltering ASK—and the strength necessary will be given in that direction. Remember, no man is BIGGER than that which makes him lose his temper.
Đáp. Một người có thể phụ trách các thiết bị cơ học, và TRONG HIỆN TẠI hãy chuẩn bị những dược phẩm nào được giao cho ngươi—mỗi người ở trong lĩnh vực riêng của họ. RẤT NHIỀU tri thức vật chất có thể được thêm vào tự thân liên quan đến các ứng dụng khác nhau, hoặc các thiết bị khác nhau, vốn sẽ trợ giúp những người khác đang tìm kiếm sự trợ giúp hồng trần hay vật chất qua những kênh này. Ai sẵn lòng phụng sự thì có thể, và khi nao núng HÃY XIN—và sức mạnh cần thiết sẽ được ban cho theo hướng ấy. Hãy nhớ, không ai LỚN HƠN điều khiến y đánh mất bình tĩnh của mình.
Q. What would be the best way to carry on the department of the batteries and medicines at this time?
Hỏi. Cách tốt nhất để vận hành bộ phận pin và dược phẩm lúc này là gì?
A. That will depend upon the manner in which the managerial forces are set for their dispensing or dispersing, or distributing of same. Take conditions as they arise. Do not pre-suppose. Do today every act NECESSARY to have TODAY’S influence in the lives of those that seek, that the credence each individual may find is in the position to be fulfilled, and use that IN hand—not that thou might wish for; but as that as is HAD is USED, that as is NECESSARY WILL be attained and given.
Đáp. Điều ấy sẽ tùy thuộc cách thế các lực quản trị được thiết lập cho việc phân phát hay phân phối, hoặc cung ứng những thứ ấy. Hãy đón nhận các tình huống khi chúng phát sinh. Chớ giả định trước. Hãy làm TRONG HÔM NAY mọi việc CẦN THIẾT để có ảnh hưởng CỦA HÔM NAY trong đời sống của những người tìm kiếm, để sự tín thác mà mỗi cá nhân có thể tìm thấy ở vị trí có thể được thực hiện, và sử dụng điều ĐANG CÓ—không phải điều ngươi có thể ước muốn; nhưng khi điều ĐANG CÓ được DÙNG, thì điều CẦN THIẾT SẼ được đạt tới và ban cho.
Q. I believe that this department can be made to expand to become self-supporting and of great benefit to mankind. How is the best and most proper way to begin this?
Hỏi. Tôi tin rằng bộ phận này có thể được mở rộng để tự trang trải và mang lợi ích lớn lao cho nhân loại. Bắt đầu theo cách nào là tốt nhất và đúng đắn nhất?
A. As has been outlined oft as concerning this, this begins in a SMALL way—to be sure, but each department of the EXPERIENCING OF the benefits MUST be, WILL be, self-supporting if the LIFE and truth lies within—as HAS been FULLY outlined. Meet the needs of each day, building as to prepare the way—for the day is at hand!
Đáp. Như đã nhiều lần phác thảo về điều này, hãy khởi sự theo cách NHỎ—dĩ nhiên, nhưng mỗi bộ phận của việc THỂ NGHIỆM các lợi ích PHẢI, SẼ tự trang trải nếu SỰ SỐNG và chân lý nằm bên trong—như đã được phác thảo ĐẦY ĐỦ. Hãy đáp ứng nhu cầu của mỗi ngày, xây dựng để chuẩn bị con đường—vì ngày ấy đã kề bên!
Q. How might I go about preparing myself to better and expand this department?
Hỏi. Tôi có thể chuẩn bị bản thân thế nào để làm tốt hơn và mở rộng bộ phận này?
A. Study some of the material things pertaining to electrical vibratory rates of chemistry in its minor, or in its beginning, and the combinations of the various elements as HAS been outlined. WHY each has a different effect. Then prepare that as is necessary to fill in the inter-between of that as has been the findings of others, for in the organization—which, as we find, should be as National, or Association of Research AND Enlightenment—would carry WITH same the offices of every department in the various phases of a research and of an enlightenment to those that seek. Only those that seek find.
Đáp. Hãy học một số điều vật chất liên quan đến các tần số rung động điện của hóa học ở mức sơ khởi, hoặc ở khởi điểm, và các phối hợp của những nguyên tố khác nhau như ĐÃ được phác thảo. VÌ SAO mỗi thứ lại có tác động khác biệt. Rồi hãy chuẩn bị điều cần thiết để lấp vào khoảng-ở-giữa của những phát hiện của người khác, vì trong tổ chức—mà, như chúng tôi thấy, nên là Quốc gia, hay Hiệp hội Nghiên cứu VÀ Khai sáng—sẽ bao gồm các văn phòng của mọi bộ phận trong các phương diện khác nhau của nghiên cứu và của sự khai sáng dành cho những người tìm kiếm. Chỉ những ai tìm kiếm mới tìm thấy.
Q. Questions of Hugh Lynn Cayce: In organizing the department of research and distribution of data, we wish to put it on a basis whereby it will maintain and pay for itself financially—
Hỏi. Các câu hỏi của Hugh Lynn Cayce: Khi tổ chức bộ phận nghiên cứu và phân phối dữ liệu, chúng tôi muốn đặt nó trên nền tảng sao cho nó có thể duy trì và tự chi trả tài chính—
A. [Interrupting] This, as we find, as has OFT been given, is not ONLY plausible, possible and FEASIBLE, but—to be sure—if—IF—IF it is found to be worthwhile—done in a systematic and in an ORDERLY manner. First put the information that has been gained, or had, in an ORDERLY manner, so that any phase of human experience may be had FROM that ALREADY given. Then choose from among those that are gifted in the putting together of data so obtained into scientific manners, in those of story, verse or fiction, and let same then be given to the hundreds of CHANNELS of outlets for same; and, as has been given, there IS the seeking for such information, such data, and this will be self-supporting; not only self-supporting but will be enlightening, as is indicated from the very NAME itself—and let it be known that that being dispensed comes from such sources, as is verified by those who have found in their lives the answer to THEIR problems—and such becomes then more and more WORTH-while to the readers of, whether it be Snappy Stories or those of the Sunday school lessons themselves; for who was the greatest? He that made the worlds or He that washed His disciples’ feet?
Đáp. [Ngắt lời] Điều này, như chúng tôi nhận thấy, như đã NHIỀU LẦN được trao, không chỉ là có thể, khả thi và THIẾT THỰC, mà—dĩ nhiên—nếu—NẾU—NẾU nó được chứng nghiệm là đáng giá—được thực hiện theo một cách có hệ thống và CÓ TRẬT TỰ. Trước hết, hãy đặt những thông tin đã thủ đắc, hoặc đã có, vào một HỆ THỐNG CÓ TRẬT TỰ, để bất kỳ phương diện nào của kinh nghiệm nhân sinh đều có thể có được TỪ điều ĐÃ được trao. Rồi hãy chọn trong số những người có năng khiếu trong việc ráp nối dữ liệu thu được theo cách khoa học, theo chuyện kể, thi ca hay hư cấu, và để điều ấy được đưa đến hàng trăm KÊNH xuất bản; và, như đã được trao, đang CÓ nhu cầu tìm kiếm những thông tin, những dữ liệu như thế, và điều này sẽ tự trang trải; không chỉ tự trang trải mà còn khai sáng, như được gợi ý ngay từ CHÍNH DANH XƯNG—và hãy để người ta biết rằng điều đang được phân phát xuất phát từ những nguồn như vậy, được thẩm định bởi những người đã tìm thấy trong đời sống họ lời giải cho CÁC vấn nạn của HỌ—và như thế điều ấy ngày càng TRỞ NÊN đáng giá hơn đối với độc giả, bất kể đó là Snappy Stories hay những bài học Trường Chúa nhật; vì ai là vĩ đại nhất? Đấng tạo nên các thế giới hay Đấng rửa chân cho các môn đồ của Ngài?
Q. I suggest the following as a means of preparing the readings for work upon them. Please comment and give suggestions for the improvement of this system.
Hỏi. Tôi đề nghị cách sau như một phương tiện chuẩn bị các bài đọc để làm việc trên đó. Xin bình luận và cho đề nghị để cải thiện hệ thống này.
A. [Interrupting] Whatever system as may be chosen, be able to—at a glance, from whatever phase of HUMAN experience—have the words of the information IN the setting it WAS presented TO THAT individual! whether it be pertaining to the marital relations, the approach to the altars of the Most High, or whether in digging or separating the silt from the gold, or whether it be in adding to a body that vibration necessary to alter the very fires of nature within the individual itself, or adding to the system that which takes from same the drosses of the body forces—enabling the life fluid within same to resuscitate the disabled members of a physical body, or whether that which awakens the imagination of the mind itself to the storehouses of the knowledge of the inner mind. All of these need their presentations in their proper settings. Do not attempt to cast pearls before swine, nor to give to those who read such as of the fiction of the day that of the fourth dimension of the subconscious forces of the intricacies of life itself, but each in their respective spheres—for all have NOT developed properly, but in each sphere these as are gathered from their settings may be given in a proper manner.
Đáp. [Ngắt lời] Bất luận hệ thống nào được chọn, hãy có khả năng—chỉ thoáng nhìn, từ bất kỳ phương diện nào của KINH NGHIỆM NHÂN SINH—nắm được lời của thông tin TRONG bối cảnh nó đã được trình bày CHO CÁ NHÂN ẤY! dù đó là về tương giao hôn nhân, sự tiếp cận các bàn thờ Đấng Tối Cao, hay về việc đào bới hoặc đãi tách bùn khỏi vàng, hoặc là việc gia tăng cho một thể rung động cần thiết để biến đổi chính những lửa của thiên nhiên trong chính cá nhân ấy, hoặc bổ sung cho hệ thống điều loại bỏ khỏi nó những cặn bã của các lực nơi thân thể—cho phép sinh dịch trong nó phục hồi những chi thể thương tổn của một thể xác, hay đánh thức trí tưởng tượng của chính thể trí hướng đến các kho tàng tri thức của nội tâm. Tất cả những điều này cần được trình bày trong bối cảnh thích đáng. Đừng cố “ném ngọc trai cho heo”, cũng đừng đem cho những người đọc các tác phẩm hư cấu thời thượng điều thuộc “chiều kích thứ tư” của các lực vô thức trong những tinh tế của sự sống tự thân, mà hãy để mỗi thứ ở trong phạm vi thích hợp của nó—vì không phải ai cũng đã được phát triển đúng mức, nhưng trong mỗi phạm vi, những điều này, khi được thu thập từ bối cảnh của chúng, có thể được trình bày theo một cách thích hợp.
Q. Questions of T. J. Sugrue: Is the entity, Thomas J. Sugrue, of proper ideas and ideals, and competent, to undertake the labor of studying, editing, and compiling, the data other than medical, connected with the work?
Hỏi. Các câu hỏi của T. J. Sugrue: Đương sự, Thomas J. Sugrue, có ý niệm và lý tưởng thích đáng, và có đủ năng lực, để đảm đương công việc khảo cứu, biên tập, và biên hợp các dữ liệu (ngoài y học) liên quan đến công việc này không?
A. With study, with consecration, the body can, will, so fit self—once choosing that upon which it may build its life; for, as has been given, the abilities to so correlate the experiences of individuals in such a manner as to aid them to see themselves are GIVEN the body, to write in sonnet, verse, ballad, prose and line, that that will enable an individual, groups, peoples, to SEE themselves. The IDEALS must be set IN the LIVING God. The IDEAS will be altered as the work progresses. Be not hasty, but first consecrate self and self’s abilities, purging the mind of that that would easily beset, or that would prevent from making for EVERY man that of HIS ability in HIS place to approach the LIVING God; for ALL men, everywhere, are called to harken to that DIVINE FROM within, and WHOSOEVER WILL let him come, for the bride and the church are willing.
Đáp. Với học hỏi, với dâng hiến, thể này có thể, sẽ, tự trang bị—một khi đã chọn điều mà trên đó nó có thể xây dựng đời sống mình; vì, như đã được trao, khả năng phối thuộc các kinh nghiệm của cá nhân theo cách trợ giúp họ tự thấy mình đã được ban cho thể này, để viết bằng sonnet, thi, ballad, tản văn và văn xuôi, điều sẽ cho phép một cá nhân, một nhóm, một dân tộc, TỰ thấy mình. LÝ TƯỞNG phải được đặt TRONG THƯỢNG ĐẾ Hằng Sống. CÁC Ý NIỆM sẽ thay đổi khi công việc tiến triển. Chớ vội vàng, mà trước hết hãy dâng hiến tự thân và các khả năng của tự thân, gột rửa thể trí khỏi điều dễ bủa vây, hoặc điều sẽ ngăn trở khỏi việc khiến CHO MỌI người, ai nấy Ở nơi của MÌNH, có thể tiếp cận THƯỢNG ĐẾ Hằng Sống; vì MỌI người, khắp nơi, đều được kêu gọi lắng nghe điều THIÊNG LIÊNG TỪ bên trong, và AI MUỐN hãy đến, vì tân nương và Hội thánh đều sẵn lòng.
Q. Would it be well that the entity be thus employed as a student, then as a writer and compiler, finally as a lecturer and authority on the work?
Hỏi. Có nên để đương sự được thuê như một môn sinh, rồi như một người viết và biên hợp, cuối cùng là một diễn giả và thẩm quyền về công việc này không?
A. To become an authority one MUST be the student, the investigator, the interpreter—and FIRST of all credence within thine own experience of the reason for the purposes from WITHIN of the activities from without. Yes, would be well.
Đáp. Để trở thành thẩm quyền, một người PHẢI là môn sinh, là nhà khảo cứu, là nhà diễn giải—và TRƯỚC HẾT phải có sự tín thác trong chính kinh nghiệm của mình về ý do cho các mục đích từ BÊN TRONG đối với các hoạt động từ bên ngoài. Vâng, như thế là tốt.
Q. Along what lines should the entity begin his study?
Hỏi. Đương sự nên khởi học theo những hướng nào?
A. Finding the credence in the lives, FIRST of self, and in the lives of others.
Đáp. Tìm sự tín thác trong đời sống, TRƯỚC HẾT nơi tự thân, và trong đời của những người khác.
Q. Will it be possible to achieve the entity’s ideal of purging Christianity of its theological errors and persuading organized religion and science to accept the truth as revealed through this psychic source?
Hỏi. Có thể đạt được lý tưởng của đương sự là gột rửa Cơ Đốc giáo khỏi các sai lầm thần học và thuyết phục tôn giáo tổ chức cùng khoa học chấp nhận chân lý được mặc khải qua nguồn thông linh này hay không?
A. That will depend upon the application of the entity’s own abilities. WILL the desire remain in the hands of the living God, rather than to be pushed as of old through powers that enforge and forge for men bonds that break down, possible—but will the entity make it, as of old, through might and force rather than through the love of God, then it would fail.
Đáp. Điều ấy tùy thuộc việc ứng dụng các khả năng của chính đương sự. Ý chí có lưu lại trong tay của Thượng Đế hằng sống chăng, thay vì bị đẩy theo cách thức xưa kia qua các quyền lực rèn và đúc cho con người những xiềng xích rồi tan vỡ, điều đó có thể—nhưng nếu đương sự làm việc ấy, như thuở xưa, bằng sức mạnh và uy lực thay vì bằng tình yêu của Thượng đế, thì sẽ thất bại.
Q. Questions of [Rev.] F. H. Scattergood: How best may I be of service?
Hỏi. Các câu hỏi của [Mục sư] F. H. Scattergood: Tôi có thể phụng sự cách tốt nhất như thế nào?
A. In choosing, as of old, in the manner in which each individual that QUESTIONS same in the presence of SHOULD approach the phenomenon. Then guide them into that channel for THEIR individual contact. This not only clarifies or CLEARS the skirts OF the entity or body, but offers to each the opportunity for THEIR OWN reaction to that in which the body HAS made, or seeks to make ITS approach—see? First let every individual, as had been given, satisfy themselves of WHAT credence, WHAT manner of approach. All may not be approached through the same channel, for to SOME are given to be laborers in the field, to some fruits of the flock, to others those secular things of life; yet LIFE is OF God Himself, in WHATEVER form it may present itself!
Đáp. Khi chọn, như thuở xưa, cách mỗi cá nhân ĐẶT CÂU HỎI về điều này trong hiện diện của hiện tượng NÊN tiếp cận hiện tượng ra sao. Rồi hướng dẫn họ vào kênh cho TIẾP XÚC riêng của HỌ. Điều này không chỉ làm rõ hoặc LÀM TRONG SẠCH phần mình của đương sự hay thể, mà còn trao cho mỗi người cơ hội để PHẢN ỨNG RIÊNG của HỌ với điều mà thể đã làm, hoặc tìm làm, sự tiếp cận của MÌNH—hiểu chứ? Trước hết, hãy để mỗi cá nhân, như đã được trao, tự thỏa lòng về SỰ tín thác nào, CÁCH tiếp cận nào. Không thể tiếp cận tất cả theo cùng một kênh, vì có NGƯỜI được chỉ định làm người lao động ngoài đồng, có kẻ lo bầy đàn, có người lo những việc thế tục của đời; nhưng SỰ SỐNG là CỦA chính Thượng đế, DÙ ở HÌNH THỨC nào nó tự trình hiện!
Q. How may we overcome the spirit of misunderstanding pronounced in the minds of those outside?
Hỏi. Chúng ta có thể vượt qua tinh thần hiểu lầm, vốn rõ rệt trong tâm trí của những người bên ngoài, bằng cách nào?
A. Only that of the ministry of, tolerance with all conditions. Weep with those who weep, and mourn with those who mourn, and ever present the same attitude as has been outlined, that IF the life is not within itself, then there is no propagation.
Đáp. Chỉ bằng sự mục vụ của lòng khoan dung đối với mọi điều kiện. Hãy khóc với người khóc, than với người than, và luôn trình hiện cùng một thái độ như đã được phác thảo, rằng NẾU sự sống không ở trong chính nó, thì sẽ không có truyền sinh.
We are through.
Chúng tôi xong.
Mr. Kahn then suggested that those in attendance tell us if it meant enough from past experiences to go on with the work.
Sau đó Ông Kahn đề nghị những người hiện diện cho biết liệu những trải nghiệm trong quá khứ có đủ ý nghĩa để tiếp tục công việc hay không.
Annie Cayce was the first to speak. She said: “Well, it means so much to me that when the hospital was closed, I was all at sea as to what to do, as my heart was in the work and I had contacted so many sick souls and sick bodies. We had a reading and I asked if I should take a house and take care of the ones that have been begging to come. The house is small, but the best I could obtain at this time. I have in the house two patients who were anxious and waiting to come and I am taking care of them as well as I can. It means much to contact my brother daily, and he is a consecrated Christian man.”
Annie Cayce là người đầu tiên phát biểu. Bà nói: “Tôi thấy điều này có ý nghĩa lớn lao đến mức khi bệnh viện đóng cửa, tôi bối rối không biết làm gì, vì trái tim tôi ở trong công việc và tôi đã tiếp xúc với biết bao linh hồn và thể xác đau bệnh. Chúng tôi đã có một bài đọc và tôi hỏi liệu tôi có nên thuê một căn nhà và chăm sóc những người đã nài nỉ được đến không. Căn nhà nhỏ, nhưng là điều tốt nhất tôi có thể có lúc này. Tôi có trong nhà hai bệnh nhân đang nóng ruột chờ được đến và tôi đang chăm sóc họ hết sức có thể. Việc được tiếp xúc với anh trai tôi mỗi ngày có ý nghĩa rất nhiều, và anh ấy là một người Cơ Đốc dâng hiến.”
Mr. Cayce’s father, L. B. Cayce, spoke next: “I have been connected with the work, as you may judge, for quite a long while and have had quite a bit of experience with it and feel very proud that I am permitted to sit day by day and listen to the readings, both life readings and physical. Being with it so long, I feel that I understand quite a bit of it. Now, I feel that a very important part of the work is helping those who suffer bodily affliction, by the readings that are given day by day. Those readings that are on hand now, I feel, are a big part of the work and I feel that they should be given out to the people in the best way possible. When the work is started again, I hope one of the first things done will be the compiling and the giving out of the readings in published form.”
Cha của Ông Cayce, L. B. Cayce, phát biểu tiếp: “Tôi đã gắn bó với công việc, như các bạn có thể đoán, đã khá lâu và đã có khá nhiều kinh nghiệm với nó, và tôi cảm thấy rất tự hào khi được ngồi ngày ngày lắng nghe các bài đọc, cả bài đọc đời sống lẫn bài đọc thể xác. Gắn bó lâu như vậy, tôi cảm thấy mình hiểu khá nhiều điều. Giờ đây, tôi cảm thấy một phần rất quan trọng của công việc là giúp những người chịu khổ về thân xác, nhờ các bài đọc được trao mỗi ngày. Những bài đọc hiện có, theo tôi, là một phần lớn của công việc và tôi thấy chúng nên được phổ biến đến mọi người theo cách tốt nhất có thể. Khi công việc được khởi động lại, tôi hy vọng một trong những việc đầu tiên sẽ là biên tập và xuất bản các bài đọc.”
Mr. Cayce’s sister, Sarah Hesson, said: “The physical readings that I have obtained—I believe that without them I would not be here today. I think that we should continue, as was started, with the hospital. I think the physical work is the most important.” Lu Hesson said we should go ahead and she would help as much as she could.
Chị gái của Ông Cayce, Sarah Hesson, nói: “Những bài đọc về thể xác mà tôi nhận được—tôi tin rằng nếu không có chúng, tôi đã không còn ở đây hôm nay. Tôi nghĩ chúng ta nên tiếp tục như đã khởi sự với bệnh viện. Tôi nghĩ công việc thể xác là quan trọng nhất.” Lu Hesson nói chúng ta nên tiến lên và chị sẽ trợ giúp hết sức mình.
Wallace H. McChesney, a chiropractor who had received information, said there is more to the work than the physical side of life. “That is only the shadow of the greater thing,” he said. “I think anyone could well take a life reading for study. I know I have had one, which I believe has made my own soul growth something real that was heretofore intangible and practically impossible to demonstrate to other people. Simply the realization that you are that which you are, and part of the eternal scheme of life, that you are everlasting and perpetual and will never die, is tremendous. That alone, if nothing else could enter into this work, would be very well worthwhile. I think those on the physical side of life lean too much upon someone else. We desire to help those that are sick, true enough, to help those that are feeble, but we must build around good, clear thinking.”
Wallace H. McChesney, một nhà chỉnh thần kinh cột sống đã nhận được thông tin, nói công việc còn có nhiều điều hơn phương diện thể xác của đời sống. “Đó chỉ là cái bóng của điều lớn lao hơn,” ông nói. “Tôi nghĩ ai cũng có thể nhận một bài đọc đời sống để học hỏi. Tôi biết tôi đã có một bài, và tôi tin rằng nó khiến sự tăng trưởng linh hồn của chính tôi trở thành điều chân thực mà trước đây vốn mơ hồ và hầu như không thể chứng minh cho người khác. Chỉ riêng sự nhận biết rằng bạn là điều bạn là, và là một phần của cơ đồ vĩnh cửu của sự sống, rằng bạn là trường tồn và bất tận và sẽ không bao giờ chết, quả là phi thường. Chỉ điều đó thôi, nếu không có gì khác góp vào công việc này, cũng đã rất đáng giá. Tôi nghĩ những người ở phương diện thể xác của đời sống dựa dẫm quá nhiều vào người khác. Chúng ta mong giúp người bệnh, điều ấy đúng, giúp người yếu, nhưng chúng ta phải xây dựng trên nền của tư duy sáng suốt, minh triết.”
H. H. Jones, who worked for the railroad in Norfolk, said he agreed with Dr. McChesney that “the spiritual is very much greater than the physical, but in the physical you have something you can show in a tangible form, and I heartily agree that the hospital work should go on as in the past.” An osteopath, Gena Crews, said, “Being a physician, of course I feel that the way to a man’s soul and spirit and mind is through the physical. I would like to see the work go on and I feel that a hospital and through the readings and the contracts made with the institution would be the better way.”
H. H. Jones, người làm việc cho đường sắt ở Norfolk, nói ông đồng ý với Bác sĩ McChesney rằng “tinh thần lớn lao hơn nhiều so với thể xác, nhưng ở thể xác bạn có điều có thể trình hiện một cách hữu hình, và tôi hết lòng tán thành việc công tác bệnh viện nên tiếp tục như trước.” Một bác sĩ nắn xương, Gena Crews, nói: “Là thầy thuốc, dĩ nhiên tôi cảm thấy con đường dẫn đến linh hồn, tinh thần và thể trí của một người là qua thể xác. Tôi muốn thấy công việc tiếp tục và tôi cảm nhận rằng một bệnh viện, cùng các bài đọc và các hợp đồng ký với cơ sở, sẽ là con đường tốt hơn.”
Professor Francis H. Greene said: “I feel from my own experience, and the experiences my family have had, that we have all been materially helped with Mr. Cayce’s work and the hospital. Yes, I agree that the physical side is important, and that we should provide Mr. Cayce with the place and means to carry on. We owe Mr. Cayce and the hospital for saving the life of our boy whom we brought to him in a very critical condition.”
Giáo sư Francis H. Greene nói: “Từ kinh nghiệm bản thân, và những trải nghiệm gia đình tôi đã có, chúng tôi đều được trợ giúp thiết thực nhờ công việc của Ông Cayce và bệnh viện. Vâng, tôi đồng ý phương diện thể xác quan trọng, và chúng ta nên cung cấp cho Ông Cayce nơi chốn và phương tiện để tiếp tục. Chúng tôi ghi ơn Ông Cayce và bệnh viện vì đã cứu mạng cậu con trai của chúng tôi, người mà chúng tôi đã đưa đến trong tình trạng rất nguy kịch.”
Linden Shroyer said his experience with the work covered a period of about eight years. “I will say that I have been made better spiritually, physically, and materially, through the readings. My thought has been to help others physically through the hospital, mentally and spiritually through the information that is to be spread through publications and lectures.”
Linden Shroyer nói trải nghiệm của ông với công việc trải dài khoảng tám năm. “Tôi xin nói rằng tôi đã trở nên tốt hơn về mặt tinh thần, thể xác và vật chất nhờ các bài đọc. Tư tưởng của tôi là giúp người khác về thể xác nhờ bệnh viện, về tâm trí và tinh thần nhờ thông tin sẽ được phổ truyền qua ấn phẩm và thuyết giảng.”
Mina Kerr was most interested in the psychic research side of it, in finding new truths. “Like others who have come to Virginia Beach for the first time this year, I have come because of a very liberal, very forward-looking program, set for the bringing into existence of an institution; [Atlantic University], and that program practically stressed intellectual and spiritual interests and activities and, of course, that makes its appeal to me. From childhood I have had more or less touch with the Quakers, so I have always learned to think of the inner light and all in terms of the universal. So many times we quote, ‘Where there is no vision, the people perish.’ I like to turn it to ‘Where there is vision, the people live.’”
Mina Kerr quan tâm nhất đến phương diện nghiên cứu thông linh của công việc, trong việc tìm ra những chân lý mới. “Như những người khác đến Virginia Beach lần đầu trong năm nay, tôi đến vì một chương trình rất cởi mở, rất tân tiến, được đặt ra cho việc đưa một cơ sở vào hiện hữu; [Atlantic University], và chương trình ấy nhấn mạnh các mối quan tâm và hoạt động trí tuệ và tinh thần, dĩ nhiên điều đó hấp dẫn tôi. Từ thuở nhỏ tôi phần nào gắn bó với phái Quaker, nên tôi luôn học nghĩ về ánh sáng nội tâm và mọi sự theo nghĩa phổ quát. Nhiều lần chúng ta trích, ‘Nơi nào không có khải tượng, dân chúng băng hoại.’ Tôi thích chuyển nó thành ‘Nơi nào có khải tượng, dân chúng sống.’”
Miss Esther Wynne said: “I was induced to go down to Virginia Beach to the hospital when I didn’t know a thing about it. I had a reading and for two years I didn’t go back to teaching. I threw myself here in the hands of those that are propagating this work and want to know more about the work that you have introduced to me. The physical is important. Our Lord and Master recognized that Himself, and the hospital is a means whereby a great mass of people may be reached. The mental and spiritual growth will come also in its own good time.”
Cô Esther Wynne nói: “Tôi được rủ xuống Virginia Beach đến bệnh viện khi tôi chưa biết gì về nơi ấy. Tôi đã có một bài đọc và trong hai năm tôi không trở lại dạy học. Tôi phó mình ở đây vào tay những người đang truyền bá công việc này và muốn biết nhiều hơn về công việc mà các bạn đã giới thiệu với tôi. Phương diện thể xác là quan trọng. Chính Chúa và Thầy của chúng ta đã nhận biết điều đó, và bệnh viện là một phương tiện nhờ đó có thể tiếp cận một khối đông người. Sự tăng trưởng tâm trí và tinh thần cũng sẽ đến trong thời điểm tốt lành của nó.”
The Cayces’ minister at First Presbyterian, Rev. Frank H. Scattergood, also came and offered his support, as did the folks who later formed the first Search for God study group in Norfolk.
Mục sư của gia đình Cayce tại Giáo hội Trưởng lão Thứ Nhất, Mục sư Frank H. Scattergood, cũng đến và bày tỏ sự ủng hộ, như những người sau này đã hình thành nhóm học Tìm Kiếm Thượng Đế đầu tiên tại Norfolk.
Hugh Lynn Cayce asked the folks to forget for a moment that he was Mr. Cayce’s son and think of him as “just a soul hunting for something, going somewhere—most of us don’t know where—looking, searching, for something. By the very presence of each of you here, by the words that you have spoken, you have manifested an interest in something that will make others’ lives more worthwhile. Each of us as we have contacted this man, just a man—a highly developed man it is true, but just a man—are here, each and every one of us, to promote and carry out the information, to give to the world the information that comes through this man. If to me, to you, it is worthwhile, as each of us gets a glimpse of the life, of the understanding we are to carry on to the others, then each of us is going to get what we are looking for. Our lives are going to represent the ideals and purposes that we believe in. We are the representation to the world of this work. Now, let us all get together. Let us think together. Let us be of one mind. Let us try to give to the world a little of life, of understanding, of truth. Let us try to help each individual that we contact to realize the Spirit of the Creator that is within each and every one of us. This man’s work is but to emphasize, to bring out, in each individual, that understanding, that knowledge of the Divine which is within.
Hugh Lynn Cayce đề nghị mọi người quên đi một lúc việc anh là con trai của Ông Cayce và nghĩ về anh như “chỉ là một linh hồn đang tìm kiếm điều gì đó, đang đi đến đâu đó—đa phần chúng ta chẳng biết là đâu—đang tìm, đang kiếm, điều gì đó. Chỉ riêng sự hiện diện của từng người trong các bạn, qua lời các bạn vừa bày tỏ, các bạn đã biểu lộ sự quan tâm đến điều sẽ làm cho đời của những người khác trở nên đáng sống hơn. Mỗi người chúng ta, khi tiếp xúc với người này, chỉ là một con người—dù đúng là một con người phát triển cao, nhưng vẫn chỉ là một con người—đều có mặt ở đây, hết thảy chúng ta, để cổ vũ và thực thi thông tin, để trao cho thế giới những thông tin đến qua con người này. Nếu đối với tôi, đối với các bạn, điều đó là đáng giá, thì khi mỗi người chúng ta có một thoáng nhìn về đời sống, về sự hiểu biết mà chúng ta sẽ trao truyền cho người khác, mỗi người chúng ta sẽ đạt được điều mình đang kiếm tìm. Đời sống của chúng ta sẽ biểu hiện các lý tưởng và mục đích mà chúng ta tin tưởng. Chúng ta là sự đại diện cho thế giới về công việc này. Giờ đây, chúng ta hãy đồng tâm. Chúng ta hãy cùng suy nghĩ. Chúng ta hãy đồng một tâm trí. Chúng ta hãy cố gắng trao cho thế giới một phần của sự sống, của sự hiểu biết, của chân lý. Chúng ta hãy cố gắng giúp từng người mà chúng ta tiếp xúc nhận ra Thần Linh của Đấng Tạo Hóa vốn ở trong từng người chúng ta. Công việc của người này chỉ là nhấn mạnh, khơi mở, trong mỗi cá nhân, sự hiểu biết ấy, tri thức ấy về Điều Thiêng Liêng vốn ở bên trong.”
“Now, all of these things that are spoken of we must include, for we get exactly what we ask for in these readings, the physical, the spiritual, the mental. Or, let’s get all of these together. Let us give to every man what that man is seeking. Let us be able to approach the laborer in the street and give him what he needs to realize his connection with his God. Let us be able to approach the college professor and give to that man or that woman that which he or she needs to know and understand a little more of his connection with his God. Light—we have each just a little bit. Let us pass on the results of the work, the truth, the truths that we gain through this man. I am just as I have been for thousands and thousands of years—ready, willing, to do my part, whatever it may be.”
“Giờ đây, tất cả những điều đã nói đến, chúng ta phải bao gồm, vì trong các bài đọc này, chúng ta nhận đúng điều mình cầu xin: phương diện hồng trần, phương diện tinh thần, phương diện trí tuệ. Hoặc, chúng ta hãy gom tất cả lại. Chúng ta hãy trao cho mỗi người điều người ấy đang tìm kiếm. Chúng ta hãy có thể tiếp cận người lao động ngoài phố và cho anh ta điều anh ta cần để nhận ra mối liên hệ của mình với Thượng đế của mình. Chúng ta hãy có thể tiếp cận vị giáo sư đại học và trao cho người đàn ông hay người phụ nữ ấy điều y cần biết và thấu hiểu thêm một chút về mối liên hệ của y với Thượng đế của y. Ánh sáng—mỗi người chúng ta chỉ có một chút. Chúng ta hãy truyền lại kết quả của công việc, chân lý, những chân lý mà chúng ta gặt hái được qua con người này. Tôi vẫn như tôi đã từng như thế suốt hàng ngàn, hàng ngàn năm—sẵn sàng, thiện chí, làm phần việc của mình, dù là bất cứ điều gì.”
Hugh Lynn also asked for suggestions for names of the organization. Names suggested included: National Association of Research & Enlightenment (by Gray Salter); Universal Brotherhood (Mary L. Black); Seekers of Divine Truth (Esther Wynne); Cayce Sanitarium for Psychic Research (Gena Crews); Life Society, Inc. (Ralph M. Taylor); Cayce Research Society, Inc.
Hugh Lynn cũng đề nghị những gợi ý về tên gọi cho tổ chức. Những tên được đề xuất gồm: National Association of Research & Enlightenment (do Gray Salter); Universal Brotherhood (Mary L. Black); Seekers of Divine Truth (Esther Wynne); Cayce Sanitarium for Psychic Research (Gena Crews); Life Society, Inc. (Ralph M. Taylor); Cayce Research Society, Inc.
Afterward Mr. Cayce told the folks:
Sau đó Ông Cayce nói với mọi người:
Don’t get the idea that I, or the manager of this work, can ever become an institution. You know the only example we have we can take from the Book itself. We can start from the beginning: the first man, he walked with God. So with each individual that ever accomplished anything. Jim Jones can’t call up and tell John James to tell Cayce to give him a reading. Every individual has to come to the source himself. I can never be relieved of that responsibility. Each individual has to seek for himself. That has been the hardest thing in the world for me to get into Mr. Kahn’s mind, that whoever it was that wanted information had to ask for himself.
Đừng nghĩ rằng tôi, hay người quản trị công việc này, có thể bao giờ trở thành một thiết chế. Chúng ta biết ví dụ duy nhất chúng ta có thể lấy được chính từ Sách—Kinh Thánh. Chúng ta có thể bắt đầu từ khởi thủy: con người đầu tiên, y đã bước đi với Thượng đế. Và với từng cá nhân đã từng thành tựu điều gì. Jim Jones không thể gọi điện bảo John James nói với Cayce rằng hãy cho anh ta một bài đọc. Mỗi cá nhân phải tự mình đến với nguồn cội. Tôi không bao giờ có thể được giải trừ khỏi trách nhiệm đó. Mỗi người phải tự mình tìm kiếm. Điều đó là điều khó nhất trên đời đối với tôi để khiến Ông Kahn hiểu rằng bất kỳ ai muốn có thông tin đều phải tự mình thỉnh cầu.
We know, as has been given, when God spoke to Moses, or through Moses, when he was deserting or leaving his people, don’t think that you are going somewhere else to find God. You have to seek yourself. If this work, this phenomenon, which manifests through me, is of God, the individual has to seek. Now, if we are going to put it on the basis where anyone can come along and ask that somebody will ask someone else to ask, personality will enter into it. God is not an institution. He is not a personality. We are manifestations of Him, and if we minister we are ministers for God. You can’t do much for anyone else unless they seek. You can always be willing, and your very smile, your very expression, gives the person the opportunity to ask for aid and help. Did you ever see anybody who had a frown on that you were willing to go up and speak anything to? One of the things I think most of about the chiropractors is that their motto is “Keep Smiling.” You know, when we look for light, we have to turn our face toward the sunlight. Don’t turn your back on it. And it is the same way with people sick. I want to be free, of course. Not free that I may enjoy anything for myself—I don’t mean that. I want to be free that I may be the better channel for the manifestation of the way in which I have heard it expressed. You don’t know, you can’t possibly know, what this meeting has meant to me. To hear so many people express themselves about the work being something glorious! And there is one more thing: there are few men who live to be a hero to their own children. To see the love that has been expressed by that boy this evening, to know what the work has meant in his life, has made my life more worthwhile. I often remember, as many of you have often heard before, what Sam Jones said. He was a very, very wonderful man—a very droll man in many ways. He often expressed it in this manner: “If you want to know whether a man has any religion or not, or if there is any stability in him, or what he professes, ask his cook, or ask his boy, and you will find out.” I feel very much the same way.
Chúng ta biết, như đã được ban cho, khi Thượng đế phán với Moses, hay qua Moses, khi y đang tách rời hay rời bỏ dân mình, đừng nghĩ rằng bạn đang đi nơi nào khác để tìm Thượng đế. Bạn phải tự mình tìm kiếm. Nếu công việc này, hiện tượng này, vốn biểu hiện qua tôi, là của Thượng đế, thì cá nhân phải tự tìm kiếm. Giờ đây, nếu chúng ta sẽ đặt nó trên nền tảng rằng ai cũng có thể đến và nhờ người này nhờ người khác nhờ thêm một người nữa để hỏi, thì phàm ngã sẽ chen vào. Thượng đế không phải là một thiết chế. Ngài không phải là một phàm ngã. Chúng ta là những biểu hiện của Ngài, và nếu chúng ta phụng sự thì chúng ta là những người phụng sự cho Thượng đế. Bạn không thể làm được nhiều điều cho người khác trừ khi họ chủ động tìm kiếm. Bạn luôn có thể sẵn lòng, và chính nụ cười của bạn, chính nét mặt của bạn, mang đến cho người kia cơ hội để thỉnh cầu sự trợ giúp và nâng đỡ. Bạn đã bao giờ thấy ai đang cau có mà bạn lại sẵn lòng đến gần và nói điều gì với họ chưa? Một trong những điều tôi thích nhất ở các nhà nắn chỉnh xương khớp là khẩu hiệu của họ: “Hãy luôn mỉm cười.” Bạn biết đấy, khi chúng ta tìm kiếm ánh sáng, chúng ta phải hướng mặt về phía ánh dương. Đừng quay lưng lại với nó. Và với người bệnh cũng vậy. Tôi muốn được tự do, dĩ nhiên. Không phải tự do để hưởng thụ điều gì cho riêng mình—tôi không có ý đó. Tôi muốn được tự do để có thể là kênh tốt hơn cho sự biểu hiện của con đường mà tôi đã nghe được diễn đạt. Bạn không biết, bạn không thể nào biết, cuộc họp này có ý nghĩa với tôi đến mức nào. Được nghe nhiều người bày tỏ rằng công việc này là điều vinh hiển! Và còn một điều nữa: hiếm có người nào sống để trở thành anh hùng trong mắt chính con cái mình. Được thấy tình thương mà cậu bé ấy đã bày tỏ tối nay, được biết công việc đã có ý nghĩa thế nào trong đời nó, đã khiến đời tôi đáng sống hơn. Tôi thường nhớ, như nhiều người trong các bạn đã nhiều lần nghe, điều Sam Jones nói. Ông là một người rất, rất tuyệt vời—rất hóm hỉnh theo nhiều cách. Ông hay diễn đạt thế này: “Nếu muốn biết một người có tôn giáo hay không, hay xem có sự vững chãi nào trong ông ta, hay điều ông ta xưng nhận thật sự là gì, thì hãy hỏi người đầu bếp của ông ta, hoặc hỏi con trai ông ta, rồi bạn sẽ biết.” Tôi cũng cảm thấy gần như vậy.
I just wish that you could all receive these letters from people from all walks of life. Like the one from a man that Mr. Kahn and I have known a good many years. Unless you have been through it and know something of the roughness that we see in the oil fields, you won’t know how to appreciate it; but you take an individual that has strength, just physical strength, and put him in that environment and you can imagine what it makes out of him. This man was strong enough to have felled Mr. Kahn or me with one blow, either one; but he had heard something of the readings, and Mr. Kahn suggested to him, “Cecil [Ringle], would you be satisfied to let the information decide?” “Sure,” he said. A letter has come from that man, and he expresses himself as to how much the work has meant. He, of all people, asks that each one here impress more and more the spiritual side of life—“to impress on every individual the spiritual side.” The physical was needed, as his wife was here a long while; but, as he said and as she has said, “Most of all, we have found some light that has meant more than anything else in our lives.”
Tôi chỉ ước gì tất cả các bạn có thể nhận được những lá thư ấy từ những con người thuộc mọi nẻo đường đời. Như lá thư từ một người đàn ông mà Ông Kahn và tôi đã biết nhiều năm. Trừ khi bạn đã trải qua và biết đôi điều về sự khắc nghiệt mà chúng tôi chứng kiến ở các mỏ dầu, bạn sẽ không biết cách trân trọng nó; nhưng bạn hãy lấy một người có sức mạnh—chỉ sức mạnh thể chất thôi—đặt anh ta vào môi trường đó, bạn có thể hình dung nó biến anh ta thành thế nào. Người đàn ông này đủ mạnh để hạ gục Ông Kahn hay tôi chỉ với một cú đấm, ai cũng vậy; nhưng anh ta đã nghe đôi điều về các bài đọc, và Ông Kahn đề nghị với anh ta, “Cecil [Ringle], anh có bằng lòng để thông tin quyết định không?” “Tất nhiên,” anh ta nói. Một lá thư đã đến từ người đàn ông ấy, và anh bày tỏ điều công việc đã có ý nghĩa lớn lao thế nào. Chính anh ta, hơn ai hết, đề nghị rằng mỗi người trong chúng ta ở đây hãy nhấn mạnh nhiều hơn nữa phương diện tinh thần của sự sống—“nhấn mạnh phương diện tinh thần nơi mỗi cá nhân.” Phương diện hồng trần là cần thiết, vì vợ anh đã ở đây lâu; nhưng, như anh nói và như chị cũng nói, “Hơn hết thảy, chúng tôi đã tìm được chút ánh sáng có ý nghĩa hơn bất cứ điều gì khác trong đời mình.”
Also, I don’t want to be relieved of your coming to me with all your burdens and your troubles. Don’t think that I will be too busy. I don’t say that I will answer all of them, but I am ready and willing to be used in any way that I can be of help. That is God’s use, and I still insist that if this is not God’s work there is no place for it and it has no part in our lives in any way, shape, form, or fashion. Because we lose faith in individuals, we loosen contact with the very things we have held as ideal. Don’t let’s get the wrong slant on what it is all about. Know that we are not asked to drink of a cup bitterer than we are able to bear. We are not asked to bear burdens more heavy than we are able to bear. Let us be willing to answer. If I may be a channel to help you appreciate that, I pray God that I will always be so, and worthy of that I have heard expressed this evening.
Ngoài ra, tôi không muốn được miễn trừ việc các bạn tìm đến tôi với tất cả gánh nặng và khó khăn của các bạn. Đừng nghĩ rằng tôi sẽ quá bận. Tôi không nói rằng tôi sẽ trả lời hết thảy, nhưng tôi sẵn sàng và thiện chí được sử dụng bằng bất cứ cách nào tôi có thể giúp ích. Đó là việc Thượng đế sử dụng, và tôi vẫn khẳng định rằng nếu đây không phải là công việc của Thượng đế thì nó không có chỗ đứng và không có phần nào trong đời sống của chúng ta, dưới bất cứ hình dạng, khuôn thức hay cách thức nào. Bởi vì chúng ta đánh mất niềm tin nơi các cá nhân, chúng ta nới lỏng mối liên hệ với chính những điều chúng ta đã xem là lý tưởng. Đừng để chúng ta hiểu lệch về tất cả những điều này. Hãy biết rằng chúng ta không bị yêu cầu uống một chén đắng hơn điều chúng ta có thể chịu đựng. Chúng ta không bị yêu cầu mang vác gánh nặng nặng hơn điều chúng ta có thể mang. Chúng ta hãy sẵn lòng đáp lời. Nếu tôi có thể là một kênh để giúp các bạn trân quý điều đó, tôi cầu nguyện Thượng đế rằng tôi sẽ luôn như vậy, và xứng đáng với điều tôi đã nghe bày tỏ tối nay.
Following the above comments, he gave a reading on the work:
Sau những lời trên, ông ấy cho một bài đọc về công việc:
Text of Reading 254—56:
Toàn văn Bài đọc 254—56:
Mrs. Cayce: You will have before you the body and the enquiring minds of those present in this room and the phenomenon that manifests itself through the body of Edgar Cayce, present in this room, also all the conditions and circumstances that surround this body and the phenomenon itself at the present time. You will tell us what is the proper and correct manner in which to proceed under the existing circumstances and conditions. The purposes, ideals, as have been selected by this group, the name which has been chosen, and the three names suggested for manager. You will advise us who would be the best fitted person for general manager, considering all conditions in each individual, and answer the questions.
Bà Cayce: Ngài sẽ có trước Ngài thể xác và những thể trí đang truy vấn của những người hiện diện trong căn phòng này, và hiện tượng vốn tự biểu hiện qua thể xác của Edgar Cayce, hiện diện trong căn phòng này, cùng tất cả những điều kiện và hoàn cảnh đang bao quanh thể xác này và chính hiện tượng ấy vào thời điểm hiện tại. Ngài sẽ cho chúng tôi biết đâu là cung cách thích đáng và đúng đắn để tiến hành dưới những hoàn cảnh và điều kiện hiện hữu. Những mục đích, lý tưởng, như đã được nhóm này tuyển chọn, tên đã được chọn, và ba cái tên được đề nghị cho vị quản lý. Ngài sẽ khuyên chúng tôi ai là người phù hợp nhất làm tổng quản lý, xét đến mọi điều kiện nơi từng cá nhân, và trả lời các câu hỏi.
Mr. Cayce: Yes, we have those conditions as surround the phenomenon—we have those individuals’ ideals and ideas as expressed in the ideals of the association or organization. In the considerations, these we find have been well, and there has been the determination in the minds of individuals to carry on. In making this, and taking into consideration the purposes of bringing into being such a physical organization, first the ideals, the ideas, the purposes and the aims, should be tried, tested, manifested, in the lives of each individual that has so signified that they themselves subscribe to such an organization; for in an unfoldment much is left for each individual to accomplish within their own experience, and as practice makes perfect so manifest in thine own life that ideal, that each individual that contacts that one so subscribing may know that a purpose, an aim, has been set—and, as is seen, that such will operate, manifest, in the lives of those so gathered, so subscribing, until such a period that this is to take a place in the lives of many; as is seen, is to take a position in the affairs of many. Then, each may determine as to whether the ideals are properly chosen. Are they set as a standard of perfection that will bring to all that seek that which will, within their own experience, give every individual a better understanding, a better insight into the mysteries, the understandings, the relationships of life? for if such purposes, such aims, will not manifest in thine own life, may they be expected to stand the test of criticism, of censure, of the slurs that may be spoken of? but do they, in thine own life, make for that which gives and makes with thine experience the ability to answer for the faith that is held within? Then know the continuity of life and force itself is within that chosen!
Ông Cayce: Vâng, chúng tôi có những điều kiện đang bao quanh hiện tượng—chúng tôi có các lý tưởng và ý tưởng của những cá nhân ấy như được bày tỏ trong các lý tưởng của hội hay tổ chức. Trong các cân nhắc, chúng tôi nhận thấy những điều này là tốt, và đã có quyết tâm trong tâm trí các cá nhân là tiếp tục. Khi làm điều này, và xét đến các mục đích đưa một tổ chức hồng trần như vậy vào hiện hữu, trước hết các lý tưởng, các ý tưởng, các mục đích và các hoài bão, cần được thử, được khảo nghiệm, được biểu lộ, trong đời sống của mỗi cá nhân đã tuyên bố rằng chính họ chấp thuận gia nhập một tổ chức như vậy; vì trong một tiến trình khai mở, có nhiều điều được dành cho mỗi cá nhân tự thành tựu trong kinh nghiệm riêng của họ, và như tập luyện làm nên hoàn hảo thế nào thì hãy biểu hiện trong chính đời sống ngươi lý tưởng ấy như vậy, để mỗi cá nhân tiếp xúc với người ấy—người đã chấp thuận—có thể biết rằng một mục đích, một hoài bão, đã được lập—và, như được thấy, rằng điều như vậy sẽ vận hành, biểu hiện, trong đời sống của những người được nhóm họp như vậy, đã chấp thuận như vậy, cho đến một thời kỳ mà điều này sẽ chiếm một vị trí trong đời sống của nhiều người; như được thấy, là sẽ đảm nhận một vai trò trong các công việc của nhiều người. Khi đó, mỗi người có thể quyết định liệu những lý tưởng có được chọn một cách thích đáng chăng. Chúng có được đặt làm chuẩn mực của sự hoàn thiện, vốn sẽ mang đến cho mọi kẻ tìm cầu điều mà, trong kinh nghiệm riêng của họ, ban cho mỗi cá nhân một sự thấu hiểu tốt hơn, một cái nhìn sâu hơn vào những huyền nhiệm, những hiểu biết, những liên hệ của sự sống, chăng? vì nếu những mục đích như vậy, những hoài bão như vậy, sẽ không biểu hiện trong chính đời sống ngươi, thì liệu có thể kỳ vọng chúng đứng vững trước sự chỉ trích, lời khiển trách, những lời gièm pha có thể được thốt ra, chăng? nhưng liệu chúng, trong chính đời sống ngươi, có tạo nên và ban cho kinh nghiệm của ngươi năng lực trả lời cho đức tin được cưu mang bên trong chăng? Vậy thì hãy biết tính liên tục của sự sống và chính mãnh lực nằm trong điều đã chọn đó!
In the choosing of ones, or individuals, or individual as manager—as has been given to each of these so named, there are purposes placed in their individual lives that need to be corrected in the various forces of their individual abilities, their individual talents.
Trong việc chọn những người, hay các cá nhân, hay một cá nhân làm quản lý—như đã được ban cho mỗi người trong số những người được nêu tên, có những mục đích đặt vào đời sống riêng của họ cần phải được hiệu chỉnh trong các lực khác nhau của các khả năng cá nhân, các năng khiếu cá nhân của họ.
To some, as seen—as: [Linden Shroyer] One that should deal rather with the detail, and those of the secretarial interests of such a group, that he may no longer become the pincushion for many, that in the various contacts the unfoldment as is set will make for that ideal within self that makes for the mark of the high calling as is set in Him. In these channels would such an one serve.
Đối với một số, như được thấy—như: [Linden Shroyer] Một người nên xử lý đúng hơn với chi tiết, và những điều thuộc mối quan tâm thư ký của một nhóm như vậy, để y không còn trở thành cái gối ghim cho nhiều người nữa, để trong các tiếp xúc khác nhau, sự khai mở như đã được an bài sẽ làm nên lý tưởng đó trong tự ngã vốn làm nên dấu ấn của tiếng gọi cao cả như đã được đặt nơi Ngài. Trong những kênh này, một người như vậy sẽ phụng sự.
To another [Hugh Lynn Cayce? Job Taylor?] is given that of making plain the pathway in an understanding of that unfoldment in the life of each, whether in those things as pertain to the philosophies, the logic, or whether pertaining to the spiritual experience and how that in the lives of each those as have been builded as an influence must be met.
Đối với người khác [Hugh Lynn Cayce? Job Taylor?] được giao phó việc làm rõ con đường trong một sự hiểu biết về sự khai mở đó trong đời sống của mỗi người, dù trong những điều thuộc các học thuyết, lý tính, hay thuộc về kinh nghiệm tinh thần và cách mà, trong đời sống của mỗi người, những điều đã được xây dựng như một ảnh hưởng phải được đối diện.
To another [Rudolph C. Ady], as has been given, that even on the planes [plains]—when there were about the body those forces as made for that of the exchanging in the rival influences in life; yet, as given, saved for a purpose—that men might know that the Spirit abideth with him who would seek to know the influences in the lives of men; for as the abilities are used and applied, so may the talents be multiplied in the hands of Him that giveth all good and perfect gifts.
Đối với người khác [Rudolph C. Ady], như đã được ban, rằng ngay cả trên các cõi [plains]—khi quanh thân thể có những lực làm nên sự trao đổi trong những ảnh hưởng tranh giành trong đời sống; tuy nhiên, như đã ban, được gìn giữ vì một mục đích—để người đời có thể biết rằng Thánh Linh ở cùng với kẻ nào muốn tìm biết các ảnh hưởng trong đời sống của con người; vì khi các khả năng được sử dụng và áp dụng, thì các tài năng cũng có thể được nhân lên trong tay Ngài, Đấng ban mọi ân tứ lành và trọn vẹn.
Then let each test themselves with that chosen. That that will make for life in thine own experience will aid another. Not that each has the same vision, or the same experience—but the Lord addeth to the church daily such as should be saved—when all of one mind! Ready for questions.
Vậy hãy để mỗi người tự khảo nghiệm mình với điều đã chọn. Điều sẽ làm nên sự sống trong kinh nghiệm của chính ngươi sẽ trợ giúp người khác. Không phải rằng mỗi người đều có cùng một tầm nhìn, hay cùng một kinh nghiệm—nhưng Chúa hằng ngày thêm vào Hội thánh những kẻ sẽ được cứu—khi mọi người đồng một tâm trí! Sẵn sàng cho các câu hỏi.
Q. Who would be the best of the three for the general manager?
Hỏi: Ai trong ba người sẽ là người tốt nhất làm tổng quản lý?
A. It has been given. Each in their respective spheres.
Đáp: Điều đó đã được ban. Mỗi người trong phạm vi riêng của mình.
Q. Who would be the one to take over the business end of it?
Hỏi: Ai sẽ là người tiếp quản mảng kinh doanh của công việc?
A. Each may answer within themselves. Let him that has received give.
Đáp: Mỗi người có thể tự trả lời trong lòng mình. Hãy để kẻ đã nhận thì cho đi.
Q. What is the next business for association committee?
Hỏi: Công việc tiếp theo cho ủy ban hội là gì?
A. Work out in detail those of the experiences in self, as in those gathered that have subscribed to same, to present to that which would become the physical organization; for first is a purpose; next is a test in self. Does it work with self? Then it will work with another! Do that!
Đáp: Triển khai chi tiết những điều thuộc kinh nghiệm trong tự ngã, như trong những người được nhóm họp đã chấp thuận điều ấy, để trình lên điều sẽ trở thành tổ chức hồng trần; vì trước hết là một mục đích; kế đó là một cuộc thử nghiệm trong tự thân. Nó có hiệu dụng với chính mình không? Vậy thì nó sẽ hiệu dụng với người khác! Hãy làm điều đó!
Q. What is the best name for the association?
Hỏi: Tên gọi nào là tốt nhất cho hội?
A. When that as is chosen as the purposes, the aims, the intents—then let the same, or name, signify that purpose.
Đáp: Khi điều được chọn là các mục đích, các hoài bão, các ý hướng—vậy hãy để chính điều ấy, hay tên gọi, biểu thị mục đích đó.
Q. Any spiritual advice and guidance for those three?
Hỏi: Có lời khuyên và chỉ dẫn tinh thần nào cho cả ba không?
A. For all there comes as—Look to thine own intent, the use thou wouldst put to that as is given in thine own abilities, and be not ashamed of that as chosen—for He will not be ashamed of thee. We are through.
Đáp: Cho mọi người đều có lời như sau—Hãy nhìn vào chính ý hướng của ngươi, cách ngươi sẽ sử dụng điều đã được ban trong khả năng của ngươi, và đừng hổ thẹn về điều đã chọn—vì Ngài sẽ không hổ thẹn vì ngươi. Chúng ta xong.
APPENDIX G—PHỤ LỤC G
CAYCE’S SCRIBES—NHỮNG NGƯỜI GHI CHÉP CỦA CAYCE
Over the half century since his death Edgar Cayce has became an international figure on the strength of the hundreds of books written about his work and the metaphysical, spiritual, and physical insights he produced. Few of his scribes knew him personally, however. The one who knew him most intimately, Thomas Sugrue, lived with the Cayces for a time while trying to overcome a debilitating illness, and produced an authorized biography, There Is a River, published in 1943 two years before Mr Cayce’s death. There Is a River inspired a number of derivative books, a stage play, The Freak, as well as screenplays and magazine articles. It also inspired an interview of Mr. Cayce by Margueritte H. Bro, a distinguished author and former missionary in China for the Disciples of Christ, the denomination which Mr. Cayce joined as a child. Mrs. Bro reviewed his biography for The Christian Century, wrote an article for Coronet, a popular monthly magazine of that period, and another for The Disciple, a denominational periodical, which offered a unique glimpse of Mr. Cayce’s strong religious orientation, an aspect of his life often overshadowed in the media by his clairvoyant feats.
Trong hơn nửa thế kỷ từ khi ông qua đời, Edgar Cayce đã trở thành một nhân vật mang tầm vóc quốc tế nhờ hàng trăm cuốn sách viết về công trình của ông và những trực kiến siêu hình, tinh thần và hồng trần mà ông đưa ra. Tuy nhiên, ít người ghi chép của ông quen biết ông một cách cá nhân. Người hiểu ông thâm sâu nhất, Thomas Sugrue, từng sống cùng gia đình Cayce một thời gian trong khi nỗ lực vượt qua một cơn bệnh suy nhược, và đã biên soạn một tiểu sử được ủy quyền, There Is a River, xuất bản năm 1943, hai năm trước khi Ông Cayce qua đời. There Is a River đã gây cảm hứng cho một số sách phái sinh, một vở kịch sân khấu, The Freak, cũng như kịch bản phim và các bài báo trên tạp chí. Nó cũng truyền cảm hứng cho một cuộc phỏng vấn Ông Cayce của Margueritte H. Bro, một nữ tác giả xuất sắc và từng là nhà truyền giáo tại Trung Hoa của Hội Thánh Disciples of Christ, giáo phái mà Ông Cayce gia nhập từ thuở nhỏ. Bà Bro đã điểm sách tiểu sử của ông cho The Christian Century, viết một bài cho Coronet, một tạp chí phổ thông hàng tháng thời đó, và một bài khác cho The Disciple, một tạp chí giáo phái, vốn mang lại một thoáng nhìn độc đáo về định hướng tôn giáo mạnh mẽ của Ông Cayce—một phương diện đời sống của ông thường bị truyền thông che lấp bởi các kỳ tích thông nhãn của ông.
As a consequence of Mrs. Bro’s interest, her son Harmon, as a graduate student, also interviewed Mr. Cayce and worked for him as a clerical aide for eight months. He later wrote his doctoral dissertation on Cayce and published a provocative biography, A Seer Out of Season, as well as several other scholarly books based on the Cayce philosophy, and became a lifelong devotee and lecturer on themes from the Cayce legacy.
Hệ quả từ mối quan tâm của Bà Bro, con trai bà, Harmon, khi còn là học viên sau đại học, cũng đã phỏng vấn Ông Cayce và làm việc cho ông với vai trò phụ tá văn phòng trong tám tháng. Sau này ông viết luận án tiến sĩ về Cayce và xuất bản một tiểu sử giàu tính gợi mở, A Seer Out of Season, cũng như vài cuốn sách học thuật khác dựa trên triết lý Cayce, và trở thành một người gắn bó trọn đời, thường xuyên thuyết giảng về những chủ đề từ di sản Cayce.
Of all the Cayce books, the most widely read was The Sleeping Prophet by Jess Stearn, a New York newspaperman turned author who spent six months researching the Cayce files and interviewing people who had known and worked with Cayce. His book became a bestseller in the 1960s and inspired such interest in Cayce that membership doubled in Cayce’s Virginia Beach organization, the Association for Research and Enlightenment. Stearn also wrote A Prophet in His Own Country, an account of Cayce’s early years.
Trong tất cả các sách về Cayce, cuốn được đọc rộng rãi nhất là The Sleeping Prophet của Jess Stearn, một ký giả New York chuyển sang viết sách, người đã bỏ ra sáu tháng để khảo cứu hồ sơ Cayce và phỏng vấn những người từng biết và làm việc với Cayce. Cuốn sách của ông trở thành sách bán chạy trong thập niên 1960 và khơi dậy mối quan tâm đến mức số hội viên của tổ chức của Cayce tại Virginia Beach—Association for Research and Enlightenment—tăng gấp đôi. Stearn cũng viết A Prophet in His Own Country, một tường thuật về thời niên thiếu của Cayce.
A biography of Hugh Lynn Cayce, About My Father’s Business by A. Robert Smith, the founding editor of Venture Inward magazine, gave an account of the Cayce family life from the eldest son’s point of view and a history of the A.R.E., which Hugh Lynn headed until his death in 1982. The biographical works of these Cayce scribes—Sugrue, Bro, Stearn, and Smith—are available from A.R.E. Press, Box 656, Virginia Beach, VA 23451-0656. Margueritte Bro’s magazine articles are reproduced below.
Một tiểu sử về Hugh Lynn Cayce, About My Father’s Business của A. Robert Smith, tổng biên tập sáng lập tạp chí Venture Inward, đã tường thuật đời sống gia đình Cayce từ góc nhìn của người con trai trưởng và lịch sử của A.R.E., tổ chức mà Hugh Lynn đứng đầu cho đến khi qua đời năm 1982. Những tác phẩm tiểu sử của các người ghi chép về Cayce—Sugrue, Bro, Stearn, và Smith—có sẵn tại A.R.E. Press, Box 656, Virginia Beach, VA 23451-0656. Các bài báo trên tạp chí của Margueritte Bro được in lại dưới đây.
From The Disciple, November 2, 1975
Từ The Disciple, ngày 2 tháng 11, 1975
Psychic Servant:
Người Đầy Tớ Thông Linh:
The Other Side of Edgar Cayce
Một Bên Khác của Edgar Cayce
By Margueritte H. Bro
Tác giả: Margueritte H. Bro
In March, 1943, W. E. Garrison, literary editor of The Christian Century and professor of church history at the University of Chicago, gave me the newly published biography of Edgar Cayce, There Is a River, by Thomas Sugrue, to review. Charles Clayton Morrison, founder and editor of The Christian Century, nodded unsmiling approval to the review, despite the fact that an account of a medium’s activities was not the usual fare of his theologically oriented magazine. Edward Scribner Ames, chairman of the department of philosophy of the University of Chicago and pastor of University Disciples Church, of which we three all were members, chuckled and remarked that the price of an open mind came high.
Vào tháng Ba năm 1943, W. E. Garrison, biên tập viên văn học của The Christian Century và giáo sư lịch sử Hội Thánh tại Đại học Chicago, đưa tôi cuốn tiểu sử mới xuất bản về Edgar Cayce, There Is a River, của Thomas Sugrue, để điểm. Charles Clayton Morrison, người sáng lập và tổng biên tập The Christian Century, gật đầu chấp thuận không mấy biểu lộ, dù rằng một tường thuật về hoạt động của một đồng cốt không phải là món ăn thường lệ của tạp chí vốn thiên về thần học của ông. Edward Scribner Ames, chủ nhiệm khoa triết Đại học Chicago và mục sư Hội Thánh University Disciples, nơi cả ba chúng tôi đều là hội viên, cười khẽ và nhận xét rằng cái giá của một tinh thần cởi mở là rất đắt.
I wondered aloud how come good solid Disciples like the four of us were getting mixed up with a psychic like this man Cayce—also an old-line Disciple. Dr. Ames said, “It’s that same John Locke empiricism that animated Thomas and Alexander Campbell and our country’s founding fathers: experience first, theories afterward.”
Tôi đã tự hỏi thành tiếng rằng làm sao bốn người chúng tôi—những tín hữu Disciples vững vàng—lại dính dáng đến một người thông linh như ông Cayce này—cũng là một tín hữu Disciples chính tông. Ông Ames nói, “Đó chính là chủ nghĩa kinh nghiệm kiểu John Locke đã thổi sinh khí cho Thomas và Alexander Campbell và cho cả các vị lập quốc của đất nước chúng ta: kinh nghiệm trước, rồi mới đến học thuyết.”
Even so, I was not about to review the book unless I saw this so-called seer in action! So I went to Virginia Beach, arriving on the night of the weekly Bible study at the Cayce home. Tall, thin, unpretentious, Edgar Cayce gave a straightforward exposition of two chapters, one from the Old Testament, one from the New. After class, along with coffee and cookies, various members chatted about how their lives had been changed; largely, they said, because Mr. Cayce expected the gifts of the Holy Spirit to be as available today as in the time of Jesus and the responsibility of followers to be as forthright.
Dẫu vậy, tôi sẽ không điểm cuốn sách nếu tôi chưa được thấy người được gọi là nhà tiên tri này hành sự! Thế là tôi đến Virginia Beach, tới nơi đúng đêm học Kinh Thánh hàng tuần tại nhà Cayce. Cao, gầy, giản dị, Edgar Cayce đưa ra một diễn giải thẳng thắn về hai chương, một từ Cựu Ước, một từ Tân Ước. Sau giờ học, cùng với cà phê và bánh quy, nhiều người trò chuyện về cách đời sống của họ đã được đổi thay; phần lớn, họ nói, bởi vì Ông Cayce trông đợi rằng các ân tứ của Thánh Linh vẫn sẵn có ngày nay như thuở Đức Jesus, và trách nhiệm của người theo Ngài phải rõ ràng như vậy.
I made an appointment for eight-thirty the next morning, expecting to discuss Mr. Cayce’s clairvoyance, precognition, psychokinesis and astral projection. I was primed with questions. But he asked the first question! What Kentucky churches had I visited? The night previous, someone had told him my father had been president of Transylvania College, about which he knew an amazing amount of history. I had, indeed, been in many Kentucky churches when we first came home from China. China! We were catapulted right into his greatest concern: foreign missions.
Tôi hẹn tám giờ rưỡi sáng hôm sau, dự tính sẽ thảo luận về thông nhãn, tri giác tương lai, năng lực tác động vật thể bằng tư tưởng và phóng xuất thể cảm dục. Tôi đã chuẩn bị sẵn câu hỏi. Nhưng ông lại hỏi câu đầu tiên! Những nhà thờ ở Kentucky nào tôi đã ghé? Tối hôm trước, ai đó đã nói với ông rằng cha tôi từng làm hiệu trưởng Trường Transylvania, về điều này ông biết một lượng lịch sử đáng ngạc nhiên. Quả vậy, khi mới từ Trung Hoa về, tôi đã từng đến nhiều nhà thờ ở Kentucky. Trung Hoa! Chúng tôi ngay lập tức được đặt vào mối quan tâm lớn nhất của ông: ngoại vụ truyền giáo.
He was hungry to talk about The United Christian Missionary Society, proud that the Disciples had organized the first united mission board among Protestant churches. Since Virginia Beach had no Disciples church, he attended and loyally worked in the local Presbyterian church; so, he said, of late he had not had much chance to talk with Campbellites—a term we both used fondly. Thirty-four members of his Bible classes in Kentucky, Alabama and Ohio had gone to the foreign field. Mr. Cayce asked if I recalled the “greatest telegram ever sent.” In the ’twenties, the Disciples national convention met in Memphis. Conditions were hazardous in much of China; anti-foreign feeling ran high; missionaries were being forced from their posts. It was impossible to get supplies to those on the Tibetan border with any regularity or assurance. After heartrending consideration, the convention cabled the Tibetan missionaries to close their work and withdraw to safer territory. A cablegram came back, “We will go in, but not out; forward but not back.” Edgar Cayce repeated softly, firmly, “Forward, not back.”
Ông rất khát khao được nói về The United Christian Missionary Society, tự hào rằng Hội Thánh Disciples đã tổ chức ban truyền giáo hiệp nhất đầu tiên giữa các giáo hội Tin Lành. Vì Virginia Beach không có nhà thờ Disciples, ông tham dự và trung tín phục vụ tại nhà thờ Trưởng Lão địa phương; vậy nên, ông nói, gần đây ông không có nhiều dịp chuyện trò với các “Campbellites”—một thuật ngữ cả hai chúng tôi đều dùng một cách trìu mến. Ba mươi tư thành viên các lớp Kinh Thánh của ông ở Kentucky, Alabama và Ohio đã đi ngoại quốc truyền giáo. Ông Cayce hỏi tôi có nhớ “bức điện vĩ đại nhất từng được gửi” không. Vào thập niên 1920, đại hội toàn quốc của Disciples họp tại Memphis. Tình hình ở nhiều nơi tại Trung Hoa rất nguy hiểm; chống đối ngoại quốc dâng cao; các nhà truyền giáo bị buộc phải rời khỏi cơ sở. Việc tiếp tế cho những người ở vùng biên Tây Tạng trở nên bất khả trong sự đều đặn và đảm bảo. Sau những cân nhắc đau lòng, đại hội đã điện tín cho các nhà truyền giáo ở Tây Tạng đóng cửa công việc và rút về nơi an toàn hơn. Một bức điện tín hồi âm về, “Chúng tôi sẽ vào, chứ không ra; tiến lên, chứ không lùi.” Edgar Cayce lặp lại khẽ khàng mà quả quyết, “Tiến lên, không lùi.”
When I reviewed the Cayce biography, The Christian Century received a lot of mail, some of it sending the editors, the magazine and me right to the nether regions. But Eugene Exman, religious editor for Harpers, remarked, “We have only a kindergartner’s understanding of Mr. Cayce’s reach of the mind, and I don’t think he could sustain these gifts if he wasn’t focused on the needs of the world.”
Khi tôi điểm cuốn tiểu sử về Cayce, The Christian Century nhận được một lượng thư lớn, một phần trong số đó kết án các biên tập viên, tạp chí và cả tôi thẳng xuống chốn tối tăm. Nhưng Eugene Exman, biên tập tôn giáo của Harpers, nhận xét, “Chúng ta mới chỉ có hiểu biết bậc mầm non về tầm vươn của tâm trí ông Cayce, và tôi không nghĩ ông có thể duy trì những ân tứ này nếu ông không tập trung vào các nhu cầu của thế giới.”
Came a day when I was about to hear a “life reading,” a disclosure of certain relevancies of an individual’s long journey through time, to be given for Myrtle Walgreen, a close friend. When we came into the Cayce sitting room, a beaming Edgar said to me, “I’ve arranged for you to talk to the Women’s Missionary Society this afternoon!” I did not return the beam. “I—I wanted to hear the life reading,” I objected. He looked positively shocked. “You mean you’d rather hear a psychic reading than talk about China?”
Rồi đến một ngày tôi sắp được nghe một “bài đọc đời sống”, một sự khai mở những điều liên hệ trong hành trình dài của một cá nhân qua thời gian, được dành cho Myrtle Walgreen, một người bạn thân. Khi chúng tôi bước vào phòng khách nhà Cayce, Edgar rạng rỡ bảo tôi, “Tôi đã thu xếp để bà nói chuyện với Hội Phụ Nữ Truyền Giáo chiều nay!” Tôi đã không đáp lại nụ cười tươi ấy. “Tô—tôi muốn nghe bài đọc đời sống,” tôi phản đối. Ông trông thực sự sửng sốt. “Ý bà là bà thích nghe một bài đọc thông linh hơn là nói về Trung Hoa sao?”
Shortly afterward I wrote an article about him for Coronet. The magazine sold off the stands the day it was published; the first mail stacked up taller than I. Soon Mr. Cayce had four full-time secretaries. My son, Harmon, who had been ordained after receiving the first B.A. in religion given by the University of Chicago, came to the Beach to take charge of meeting naval officers and other anxious seekers who arrived unannounced at the Cayce home.
Không lâu sau đó, tôi viết một bài về ông cho Coronet. Tạp chí bán hết sạch ngay ngày phát hành; đợt thư đầu tiên chồng cao hơn cả tôi. Chẳng mấy chốc Ông Cayce có bốn thư ký toàn thời gian. Con trai tôi, Harmon, người đã được phong chức sau khi nhận bằng Cử nhân tôn giáo đầu tiên do Đại học Chicago cấp, đến Virginia Beach để phụ trách đón tiếp các sĩ quan hải quân và những người tìm kiếm lo âu khác đến bất ngờ tại nhà Cayce.
Edgar Cayce was overworked, but never underprayed. He was a master of meditation, without esoteric isms. And when he led a group of his office staff and fellow workers in intercessory prayer his references to needs around the world were never a vague, “God bless Africa.” Places meant people to him—children of his Father.
Edgar Cayce làm việc quá sức, nhưng chưa bao giờ thiếu cầu nguyện. Ông là một bậc thầy về tham thiền, không cần đến các “chủ nghĩa” bí truyền. Và khi ông dẫn dắt một nhóm nhân viên văn phòng và bạn đồng sự trong lời cầu nguyện chuyển cầu, những lời nhắc đến các nhu cầu khắp thế giới của ông chưa bao giờ mơ hồ kiểu “Xin Chúa ban phước cho Châu Phi.” Địa danh đối với ông là con người—những đứa con của Cha ông.
Sometimes I wonder if he still grieves over some of us who work so hard over our psychic development that we never catch onto the one fact he felt basic: spiritual growth has to go hand in hand with service. This other side of Edgar Cayce was the inside from which motivations rise.
Đôi khi tôi tự hỏi liệu ông có còn buồn phiền vì một số người trong chúng tôi làm việc cật lực cho sự phát triển thông linh mà không bao giờ nắm được một điều ông xem là căn bản: tăng trưởng tinh thần phải đi đôi với phụng sự. Bên kia của Edgar Cayce này chính là nội tâm mà từ đó các động cơ vươn lên.
From Coronet, September 1943
Từ Coronet, tháng Chín 1943
Miracle Man of Virginia Beach
Người Kỳ Diệu của Virginia Beach
By Margueritte Harmon Bro
Tác giả: Margueritte Harmon Bro
As mystifying to their possessor as to those who read his story are the strange psychic powers of Edgar Cayce. It started when a friend told a friend who told me. My friend is a young lieutenant named Steve, home from overseas and going back. He is quick on the uptake and not generally gullible. Also he is in love. Her name is Betty. One of those fragile-looking blondes who is really as tough-fibered as a young sapling. But suddenly she developed arthritis, the devastating sort which ties one in agony. Bridal showers and gay young friends gave place to a darkened room and nurses. Doctors tried everything, but when Steve came home he found her thus. It was then that his friend told him about a psychic named Edgar Cayce living at Virginia Beach. A psychic who, in a state of trance, diagnoses any kind of illness and reports his findings in technical language which he himself cannot understand when awake; prescribing all sorts of treatment—medical, surgical, osteopathic.
Kỳ bí đối với chính người sở hữu cũng như đối với những ai đọc câu chuyện về ông là những năng lực thông linh lạ lùng của Edgar Cayce. Chuyện bắt đầu khi một người bạn nói với một người bạn khác, rồi người ấy nói với tôi. Người bạn của tôi là một trung úy trẻ tên Steve, vừa từ hải ngoại về và sắp quay lại. Anh nhanh nhạy và không dễ cả tin. Anh cũng đang yêu. Cô ấy tên Betty. Một trong những cô gái tóc vàng trông mảnh mai nhưng thật ra dẻo dai như mầm non. Nhưng đột nhiên cô bị viêm khớp, thứ tàn phá trói người ta trong đau đớn. Những buổi tắm mừng cô dâu và bạn bè trẻ trung rộn rã nhường chỗ cho căn phòng tối và y tá. Bác sĩ đã thử mọi cách, nhưng khi Steve về nhà, anh thấy cô trong tình trạng ấy. Lúc đó bạn anh kể cho anh về một người thông linh tên Edgar Cayce sống ở Virginia Beach. Một người thông linh mà, trong trạng thái xuất thần, chẩn đoán bất kỳ loại bệnh nào và tường trình các phát hiện của mình bằng ngôn ngữ chuyên môn mà khi tỉnh ông lại không hiểu; kê đủ loại phương pháp điều trị—y khoa, phẫu thuật, nắn chỉnh xương khớp.
Once, Steve related to me, when a doctor in Kentucky took a reading for a patient with obstinate leg sores, Mr. Cayce prescribed Smoke Oil. The doctor had never heard of such a thing nor had any of the physicians and druggists he consulted. A second reading named the drug store in Louisville where the Smoke Oil could be found, but when the doctor wired for it the druggist wired back, “Never heard of it.” A third reading explained that Smoke Oil was on a certain shelf in a back room behind bottles marked so-and-so. This time the manager wired, “Found it.” The bottle was old and the company which made it was out of business, but the label said, “Oil of Smoke” and it worked its cure. “For Betty I’d give anything a try—champagne baths, poultice of bumble bees or psychics,” Steve said. And packed off to Virginia Beach. When he came home he told me his tale:
Đã có lần, Steve kể với tôi, khi một bác sĩ ở Kentucky xin một bài đọc cho một bệnh nhân bị loét chân dai dẳng, Ông Cayce kê Smoke Oil. Vị bác sĩ chưa từng nghe đến thứ ấy, và không một bác sĩ hay dược sĩ nào ông hỏi biết gì về nó. Bài đọc thứ hai nêu tên tiệm thuốc ở Louisville nơi có Smoke Oil, nhưng khi bác sĩ điện tín hỏi, người chủ tiệm điện lại, “Chưa từng nghe.” Bài đọc thứ ba giải thích rằng Smoke Oil nằm trên một chiếc kệ nhất định trong căn phòng phía sau, đằng sau những chai mang nhãn thế này thế nọ. Lần này người quản lý điện, “Đã tìm thấy.” Chai thuốc đã cũ và hãng sản xuất đã ngừng hoạt động, nhưng nhãn ghi “Oil of Smoke” và nó đã chữa khỏi. “Vì Betty tôi sẵn sàng thử bất cứ gì—tắm sâm banh, đắp cao ong vò vẽ hay thông linh,” Steve nói. Và lên đường đến Virginia Beach. Khi về, anh kể tôi nghe câu chuyện:
Mrs. Cayce met him at the door of a simple house and took him into the living room where Mr. Cayce rose and shook hands. He was tall, lean, a little on the shy side and didn’t look like Steve’s idea of a psychic.
Bà Cayce đón anh ở cửa căn nhà giản dị và đưa anh vào phòng khách, nơi Ông Cayce đứng dậy bắt tay. Ông cao, gầy, hơi rụt rè và không giống hình dung của Steve về một người thông linh.
“Betty is a very special person,” he heard his voice explaining.
“Betty là một người rất đặc biệt,” anh nghe chính giọng mình thổ lộ.
“They all are,” Mr. Cayce said. “That’s why people come.”
“Họ đều thế cả,” Ông Cayce nói. “Đó là lý do người ta tìm đến.”
“She’s very ill,” Steve began.
“Cô ấy rất nặng,” Steve mở lời.
“Usually they don’t come except as a last resort,” Mr. Cayce returned. Then the clock struck half-past ten, and he started for the door. “It’s time now for the reading,” he told Steve. “Shall we see what it says about her?”
“Thường thì họ chỉ đến khi đã là biện pháp cuối cùng,” Ông Cayce đáp. Rồi đồng hồ điểm 10 giờ rưỡi, ông đi về phía cửa. “Đến giờ cho bài đọc rồi,” ông bảo Steve. “Chúng ta xem xem nó nói gì về cô ấy nhé?”
So Steve followed him through the dining room into an office where he met Miss Gladys Davis, the secretary. Miss Gladys, tall, blond and forthright, had been in the office for 17 years. Steve followed her into the study and must have looked surprised at the simplicity of the surroundings because Mr. Cayce said, “This is all there is to it.” Mr. Cayce walked over to the couch, took off his coat, loosened his collar, and lay down. His wife spread an afghan over him. No shades were drawn, no incense lighted. In no more than two or three minutes Mr. Cayce appeared to be sleeping quietly and his wife gave him Betty’s name and address. Steve said he had a moment of feeling all perspiration and Adam’s apple; they had forgotten to ask a thing about Betty’s illness; no history, no symptoms, nothing.
Thế là Steve theo ông đi qua phòng ăn vào một văn phòng nơi anh gặp cô thư ký Gladys Davis. Cô Gladys, cao, tóc vàng và thẳng thắn, đã làm việc ở đây 17 năm. Steve theo cô vào phòng làm việc và hẳn đã ngạc nhiên trước sự đơn sơ của hoàn cảnh vì Ông Cayce nói, “Chỉ có thế thôi.” Ông bước đến chiếc đi-văng, cởi áo khoác, nới cổ áo và nằm xuống. Vợ ông đắp lên người ông một tấm chăn len. Không kéo rèm, không thắp hương. Chỉ trong hai ba phút là Ông Cayce có vẻ ngủ yên và vợ ông đọc tên và địa chỉ của Betty. Steve nói anh có một thoáng đẫm mồ hôi và nghẹn ngào—họ đã quên không hỏi gì về bệnh của Betty; không tiền sử, không triệu chứng, không gì cả.
Then Mr. Cayce began to talk. His southern accent was gone and he spoke precisely as he repeated Betty’s name and address. “Yes, we have the body,” he said: “The young woman is in bed in a large room with windows facing west and south.” That was Betty’s room all right and Steve couldn’t help being a little excited. Mr. Cayce went on, “This body is suffering from arthritis caused by a combination of several factors.” Then he gave a technical discussion whose medical terms didn’t mean a thing to Steve. Miss Gladys’s pencil flew. After 15 minutes of diagnosis Mr. Cayce began to talk of treatment. “We would be very mindful of the diet…” One medicine was indicated; a certain kind of bath. Finally he said, “We are ready for questions.”
Rồi Ông Cayce bắt đầu nói. Giọng miền Nam của ông biến mất và ông nói rành rọt khi nhắc lại tên và địa chỉ của Betty. “Vâng, chúng tôi có được thân thể,” ông nói: “Cô gái trẻ đang nằm trên giường trong một căn phòng lớn có cửa sổ quay về hướng tây và nam.” Đúng là phòng Betty và Steve không thể không phấn khích đôi chút. Ông Cayce nói tiếp, “Thân thể này đang chịu đựng viêm khớp do sự phối hợp của nhiều yếu tố.” Rồi ông đưa ra một phần thảo luận kỹ thuật với những thuật ngữ y khoa hoàn toàn xa lạ với Steve. Bút của cô Gladys bay như múa. Sau 15 phút chẩn đoán, Ông Cayce bắt đầu nói về điều trị. “Chúng ta sẽ rất lưu tâm đến chế độ ăn…” Một loại thuốc được chỉ định; một kiểu tắm nhất định. Cuối cùng ông nói, “Chúng tôi sẵn sàng cho câu hỏi.”
Mrs. Cayce turned to Steve and he asked several questions which she repeated and Mr. Cayce answered fully. Then he said, “We are finished.” The room was still while he slept on for perhaps a minute until his wife gave him directions for waking.
Bà Cayce quay sang Steve và anh hỏi vài câu, bà lặp lại và Ông Cayce trả lời đầy đủ. Rồi ông nói, “Chúng ta đã xong.” Căn phòng im phăng phắc khi ông vẫn ngủ thêm chừng một phút nữa cho đến khi vợ ông đưa chỉ dẫn để đánh thức.
Steve said he couldn’t think of a thing to say. The whole affair was incredible and at the same time it did not seem mysterious while it was happening. When he was about to leave he said he wished he knew more about the whole proposition.
Steve nói anh chẳng nghĩ ra điều gì để nói. Toàn bộ sự việc thật khó tin và đồng thời lại chẳng có vẻ bí ẩn gì khi nó đang diễn ra. Khi sắp ra về, anh nói ước gì anh hiểu nhiều hơn về toàn bộ đề tài này.
Mr. Cayce said he wished he did too. He said quite a few psychologists had been down there, beginning with Hugo Munsterberg from Harvard. They talked about the superconscious and the subconscious and told Cayce that when he was in a state of trance he dipped into a free-flowing stream of thought. Mr. Cayce said maybe they were right but personally he felt like the old lady who read Bunyan’s Pilgrim’s Progress with Explanatory Notes by Scott the end she declared it was all perfectly clear except the explanatory notes. As a matter of fact, Mr. Cayce said, he didn’t trust his own power for years. He was afraid he might prescribe something that would kill someone. But finally he came to have faith that it would work for good as long as he tried to help people honestly.
Ông Cayce nói ông cũng ước vậy. Ông cho biết đã có khá nhiều nhà tâm lý đến đó, bắt đầu từ Hugo Munsterberg của Harvard. Họ nói về siêu thức và tiềm thức, và bảo Cayce rằng khi ông ở trạng thái xuất thần ông đi vào một dòng tư tưởng lưu chảy tự do. Ông Cayce nói có thể họ đúng nhưng cá nhân ông cảm thấy như bà cụ đọc Thiên Lộ Hành của Bunyan kèm Theo Chú Giải của Scott—đến cuối bà kết luận mọi thứ đều hoàn toàn rõ ràng ngoại trừ phần chú giải. Thực tế là, Ông Cayce nói, trong nhiều năm ông không tin cậy năng lực của mình. Ông sợ mình có thể kê thứ gì đó giết người ta. Nhưng rồi cuối cùng ông học được niềm tin rằng nó sẽ vận hành vì điều thiện chừng nào ông còn cố gắng giúp người một cách chân thành.
Well, that was Steve’s story. And he wanted me to help persuade Betty’s doctors to try Mr. Cayce’s advice. But being a woman on the stubborn side of 40, I had to be convinced first hand. That’s how I happened to go to Virginia Beach myself.
Đó là câu chuyện của Steve. Và anh muốn tôi giúp thuyết phục các bác sĩ của Betty thử lời khuyên của Ông Cayce. Nhưng là một phụ nữ hơi bướng bỉnh ở tuổi ngoài 40, tôi phải được thuyết phục tận mắt. Thế nên tôi đã đến Virginia Beach.
Mr. Cayce seemed neither pleased nor displeased to see another person bent on investigation. He gave me a brief biography which began when he was a small boy in Kentucky finding out he could learn his lessons by sleeping on a textbook and waking with a photographic memory of its entire contents. At 10, he discovered the Bible and decided to read it through once for every year of his life. With those 10 years to make up, he did a lot of Bible reading and a lot of thinking about God. Which may account for a vision he had at 12, in which an angel who resembled his mother asked what he wanted most in life. When he said his greatest desire was to be able to help people, the vision promised him that he could.
Ông Cayce dường như không vui cũng chẳng không vui khi thấy lại một người nữa quyết chí điều tra. Ông kể tôi nghe một tiểu sử ngắn bắt đầu từ khi ông còn là một cậu bé ở Kentucky phát hiện ra rằng mình có thể học bài bằng cách ngủ trên sách giáo khoa và thức dậy với ký ức như chụp ảnh về toàn bộ nội dung sách. Năm 10 tuổi, ông khám phá ra Kinh Thánh và quyết định đọc hết một lần cho mỗi năm tuổi đời. Với 10 năm phải bù, ông đọc Kinh Thánh rất nhiều và suy tư rất nhiều về Thượng đế. Điều này có lẽ giải thích cho thị kiến ông có khi 12 tuổi, trong đó một thiên thần giống mẹ ông hỏi ông mong ước điều gì nhất trong đời. Khi ông nói khát vọng lớn nhất là có thể giúp người, thị kiến hứa rằng ông có thể.
Once he became very ill after being hit by a baseball and he diagnosed his own trouble in his sleep. Later, when a member of the family was ill, his father thought Edgar might be able to diagnose that difficulty also. So Edgar went to sleep and prescribed. The local doctor began to rely on him. The boy struggled to keep people from knowing about the “gift,” not wanting to be considered queer. He took up photography as a business; he married and moved away, but he was followed by hometown doctors who knew his power. His own wife was given up to die of tuberculosis and as a last extremity, he turned to a “reading” and received specific directions which, over a period of time, worked her complete recovery. After that his psychic ability became his major interest.
Có lần ông bị bệnh nặng sau khi bị bóng chày đập trúng và ông đã chẩn đoán bệnh của chính mình trong giấc ngủ. Sau này, khi một người thân bị bệnh, cha ông nghĩ Edgar có thể chẩn đoán cả khó khăn ấy. Thế là Edgar đi ngủ và kê toa. Vị bác sĩ địa phương bắt đầu tin cậy ông. Cậu bé gắng giữ cho người ta khỏi biết về “ân tứ” ấy, không muốn bị coi là lập dị. Ông theo nghề nhiếp ảnh; lập gia đình và chuyển đi, nhưng các bác sĩ quê nhà, những người biết năng lực của ông, vẫn tìm đến. Chính vợ ông bị tuyên án tử vì lao phổi và như là biện pháp cuối cùng, ông quay sang một “bài đọc” và nhận được chỉ dẫn cụ thể mà theo thời gian đã giúp bà hồi phục hoàn toàn. Từ đó, năng lực thông linh trở thành mối quan tâm chính của ông.
Physical ailments are not the only problems Mr. Cayce diagnoses. Take Miss B, for instance. Fifteen years ago she was in charge of the telegraph desk in one of the busiest spots in New York City. One day two men pushed through the crowd at the counter and each handed her a message. She looked at the one in her left hand and then at the one in her right. “Look here!” she said, “Do you two know each other?” They did not. “But you’re both wiring Mr. Cayce. Who is he? So they told her about him. In time she sent for a reading. It told her to give up her present occupation and get into commercial art. Some of it was very apt, she wrote, thanking Mr. Cayce, but at 36 she could not give up a good salary for an unknown venture. But eventually she talked things over with her family and decided to go to art school. Her teacher says she has one stroke which not an artist in a thousand is able to get. Her last letter reports that from the day she took her first job in the new field, 10 years ago, she has never made less in a month than she formerly made in a year. Over the mantelpiece in the Virginia Beach home is a portrait of Mr. Cayce, and back of that picture another reading. One day a New York business man, who had worked out his problems through the readings for two decades, invited 500 persons to hear about Mr. Cayce’s work. He told the story of a friend who had been committed to Bellevue hospital as incurably insane, but who had been restored to complete well-being by following the readings.
Những khó khăn về bệnh lý không phải là các vấn đề duy nhất Ông Cayce chẩn đoán. Lấy cô B, chẳng hạn. Mười lăm năm trước cô phụ trách quầy điện tín ở một trong những nơi bận rộn nhất thành phố New York. Một ngày kia có hai người đàn ông chen qua đám đông ở quầy, mỗi người đưa cô một bức điện. Cô nhìn tờ bên tay trái rồi tờ bên tay phải. “Xem nào!” cô nói, “Hai anh có quen nhau không?” Họ không. “Nhưng cả hai đều điện cho Ông Cayce. Ông ấy là ai vậy?” Thế là họ kể cô nghe về ông. Rồi cô gửi xin một bài đọc. Bài đọc bảo cô từ bỏ nghề hiện tại và chuyển sang mỹ thuật thương mại. Một phần rất xác đáng, cô viết thư cảm ơn Ông Cayce, nhưng ở tuổi 36 cô không thể bỏ mức lương tốt để dấn thân vào điều vô định. Nhưng rốt cuộc cô bàn bạc với gia đình và quyết định vào trường mỹ thuật. Thầy dạy nói cô có một nét vẽ mà một ngàn họa sĩ may ra mới có một người đạt được. Lá thư gần đây nhất cho biết kể từ ngày cô nhận công việc đầu tiên trong lĩnh vực mới, cách đây 10 năm, cô chưa bao giờ kiếm ít hơn mức lương tháng bằng mức lương năm trước kia. Trên lò sưởi ở nhà Virginia Beach là một bức họa chân dung Ông Cayce, và phía sau bức tranh là một bài đọc khác. Một ngày kia một doanh nhân New York, người đã tháo gỡ vấn đề của mình qua các bài đọc suốt hai thập kỷ, mời 500 người đến nghe về công việc của Ông Cayce. Ông kể câu chuyện một người bạn bị đưa vào Bellevue với chẩn đoán loạn thần không thể chữa, nhưng đã được phục hồi toàn diện bằng cách làm theo các bài đọc.
After the meeting a young woman tremblingly approached Mr. Cayce and said, “My sister is in a strait jacket at a state hospital. She was an artist and went suddenly insane.” Mr. Cayce gave a reading. After some months the girl was much improved and later recovered completely. Then she came to thank Mr. Cayce and the first picture she painted was his.
Sau buổi họp, một phụ nữ trẻ run rẩy đến gần Ông Cayce và nói, “Chị tôi đang bị bó trong áo bó ở một bệnh viện tiểu bang. Chị ấy là họa sĩ và đột nhiên phát điên.” Ông Cayce cho một bài đọc. Vài tháng sau cô gái khá lên nhiều và sau đó hồi phục hoàn toàn. Rồi cô đến cảm ơn Ông Cayce và bức tranh đầu tiên cô vẽ chính là chân dung ông.
Sometimes the readings have a definite sense of humor and what sounds like a fund of common sense. A recent reading for a woman in Maine opens, “Why do you ask us to comment on your doctor’s diet sheet when you have not yet read it yourself?” But the shortest reading on record is for Mr. Cayce himself, given one day when he was feeling miserable.
Đôi khi các bài đọc có khiếu hài hước rõ rệt và dường như có một kho lương tri. Một bài đọc gần đây cho một phụ nữ ở Maine mở đầu, “Sao cô lại yêu cầu chúng tôi bình luận về bảng ăn kiêng của bác sĩ khi chính cô chưa đọc nó?” Nhưng bài đọc ngắn nhất từng ghi là dành cho chính Ông Cayce, vào một ngày ông thấy mệt mỏi khó chịu.
“You haven’t done what we told you to the last time. We are through.”
“Ông chưa làm điều chúng tôi bảo lần trước. Chúng tôi xong.”
Mr. Cayce carries on much of his own correspondence. A typical day brings an assortment of letters. A woman in Kansas City reports that she read a story about Mr. Cayce “with some anxiety. I was afraid you were going to be dead at the end of it.” Another woman berates him for making a charge for his services; why should she pay her good money to a man who had a special gift from God? A man with a huge war contract thanks him for locating a particular kind of crystal in Brazil. But most letters come from persons who need help for illness, or for vocational and family problems. A good many are thank-yous warm with gratitude. One of the best letters comes from an 81-year-old lady who wants a reading: “I have just one question. How am I doing?”
Ông Cayce tự xử lý phần lớn thư từ của mình. Một ngày điển hình mang đến đủ loại thư. Một phụ nữ ở Kansas City viết rằng cô đọc một câu chuyện về Ông Cayce “với chút lo lắng. Tôi sợ rằng đến cuối bài ông sẽ chết.” Một phụ nữ khác mắng ông vì thu phí dịch vụ; tại sao cô phải trả tiền khó nhọc cho một người có ân tứ đặc biệt từ Thượng đế? Một người đàn ông có hợp đồng chiến tranh lớn cảm ơn ông vì đã định vị được một loại tinh thể đặc biệt ở Brazil. Nhưng phần lớn thư đến từ những người cần trợ giúp về đau bệnh, hoặc về nghề nghiệp và gia đạo. Khá nhiều là thư cảm ơn ấm áp. Một lá thư hay nhất đến từ một cụ bà 81 tuổi muốn xin một bài đọc: “Tôi chỉ có một câu hỏi. Tôi đang sống thế nào?”
With such a following, why isn’t Mr. Cayce one of the richest men alive? Probably one reason is because he charges only a nominal fee for readings and will have nothing to do with get-rich-quick schemes. His neighbors attest that he has had plenty of offers. A cotton merchant offered him a hundred dollars a day for two weeks if he would give daily readings on the cotton market. Although he needed the money sorely, he refused. Whenever someone tries to use his gift for unsocial gain, Mr. Cayce says that he immediately detects the fact because he wakens from his trance with a violent headache.
Với một số người theo dõi như vậy, sao Ông Cayce không phải là một trong những người giàu nhất? Có lẽ một lý do là vì ông chỉ thu một khoản phí tượng trưng cho các bài đọc và không dính dáng đến các đề án làm giàu cấp tốc. Hàng xóm xác nhận ông từng nhận nhiều lời mời. Một thương gia bông đã đề nghị trả ông một trăm đô la một ngày trong hai tuần nếu ông chịu cho bài đọc hằng ngày về thị trường bông. Dù rất cần tiền, ông đã từ chối. Bất cứ khi nào ai đó cố dùng ân tứ của ông cho lợi ích phi xã hội, Ông Cayce nói ông nhận ra ngay vì ông tỉnh dậy sau xuất thần với một cơn đau đầu dữ dội.
Each year along toward the end of June, there is a gathering at Virginia Beach to which everyone who has ever had a reading is welcome. Called the Association for Research and Enlightenment, the group represents all parts of the country. This year the assembly was small, perhaps 60 in all. Members were well dressed and above average in education. Probably one-fifth were professional men and women. Open readings are a part of the Association’s program. At one open reading on current affairs, grave concern was expressed for equality of opportunity among divergent races in this country if we want peace abroad. Sometimes these open readings are definite prophecies, as when the war was foretold five years before it happened—including the names of our enemies. But more often they were filled with admonitions. “When labor becomes united, capital may fear.”
Mỗi năm, vào cuối tháng Sáu, có một cuộc hội họp tại Virginia Beach mà bất cứ ai từng có bài đọc đều được chào đón. Nhóm này được gọi là Association for Research and Enlightenment, quy tụ người từ khắp đất nước. Năm nay, số người tham dự ít, chừng 60 tất cả. Hội viên ăn mặc lịch sự và có trình độ học vấn trên trung bình. Có lẽ một phần năm là giới chuyên nghiệp nam nữ. Các bài đọc công khai là một phần chương trình của Hội. Tại một bài đọc công khai về thời cuộc, người ta bày tỏ mối quan ngại sâu xa về bình đẳng cơ hội giữa các chủng dị biệt trong nước nếu chúng ta muốn hòa bình ở ngoài kia. Đôi khi những bài đọc công khai là lời tiên tri xác định, như khi chiến tranh đã được tiên báo năm năm trước khi nó xảy ra—bao gồm cả tên kẻ thù của chúng ta. Nhưng thường hơn chúng đầy rẫy những lời khuyên răn. “Khi lao động trở nên hiệp nhất, tư bản có thể lo sợ.”
For a week I listened to these readings, which come twice a day. Nobody likes to have his favorite ruts disturbed. I like to have my conclusions arranged in neat patterns. Hence when I cannot explain a thing I’ve seen, I attempt to explain it away. But in this instance, I am tempted to tell Steve to tell Betty’s doctor about a man who drove up to Mr. Cayce’s door and said, “You don’t know me, Mr. Cayce, and I don’t know you, but I’m a telegraph operator at Norfolk and for 15 years I’ve been handling wires to you. Now I’m in trouble and last night I said to my wife: “That many people can’t be crazy.”
Suốt một tuần tôi lắng nghe những bài đọc này, diễn ra hai lần mỗi ngày. Chả ai thích bị xáo trộn những lối mòn ưa thích của mình. Tôi thích sắp xếp các kết luận của mình thành những mô thức gọn gàng. Bởi vậy, khi không thể giải thích một điều mắt thấy, tôi có xu hướng cố giải thích nó theo cách loại bỏ. Nhưng trong trường hợp này, tôi bị cám dỗ bảo Steve bảo bác sĩ của Betty về một người đàn ông lái xe đến cửa nhà Ông Cayce và nói, “Ông không biết tôi, thưa Ông Cayce, và tôi cũng không biết ông, nhưng tôi là một điện báo viên ở Norfolk và suốt 15 năm qua tôi đã chuyển điện tín cho ông. Giờ tôi gặp rắc rối và đêm qua tôi bảo vợ: ‘Ngần ấy người không thể đều điên được.’”
NOTES—CHÚ THÍCH