← My Life as a Seer: The Lost Memoirs

THAT WE MAY MAKE MANIFEST OUR LOVE FOR GOD AND MAN

The Association of National Investigators, in Virginia Beach, the first organization actually established to sponsor the work of Edgar Cayce, issued the following information in booklet form, as revised in July 1929:

Hội Các Nhà Điều tra Quốc gia (Association of National Investigators), tại Virginia Beach, tổ chức đầu tiên thực sự được thành lập để bảo trợ công việc của Edgar Cayce, đã phát hành thông tin sau đây dưới dạng sách mỏng, phiên bản sửa đổi vào tháng Bảy, 1929:

THAT WE MAY MAKE MANIFEST OUR LOVE FOR GOD AND MAN

ĐỂ CHÚNG TA CÓ THỂ BIỂU LỘ TÌNH YÊU CỦA MÌNH ĐỐI VỚI THƯỢNG ĐẾ VÀ CON NGƯỜI

The Association of National Investigators, Inc.

The Association of National Investigators, Inc.

The Association of National Investigators was incorporated May 6, 1927, in the State of Virginia. Although founded upon the psychic work of Mr. Edgar Cayce, and although the immediate basis of its formation was to further, foster, and encourage the physical, mental, and spiritual aid that thousands have and are receiving from Mr. Cayce’s endeavors in the psychic field, the larger and more embracing purpose of the organization is to engage in general psychic research, and to provide for the practical application of any knowledge obtainable through the medium of psychic phenomena. In the matter of specific application the Association seeks to render physical aid to the sick and ailing through its hospital, and also to disseminate and exploit for the good of humanity the knowledge obtained from its research work, through the library, lecture hall, and other educational channels.

Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia được đăng ký pháp nhân ngày 6 tháng 5 năm 1927 tại Tiểu bang Virginia. Dù được thành lập trên nền tảng công việc thông linh của Ông Edgar Cayce, và tuy cơ sở trực tiếp của sự hình thành là nhằm thúc đẩy, bồi dưỡng và khuyến khích sự trợ giúp về thể xác, trí tuệ và tinh thần mà hàng ngàn người đã và đang nhận được từ những nỗ lực của Ông Cayce trong lĩnh vực thông linh, mục đích lớn hơn và bao quát hơn của tổ chức là dấn thân vào nghiên cứu thông linh nói chung, và cung cấp việc ứng dụng thực tiễn bất kỳ tri thức nào có thể thu nhận được qua trung gian các hiện tượng thông linh. Về phương diện ứng dụng cụ thể, Hiệp hội tìm cách mang lại trợ giúp thể xác cho người đau ốm thông qua bệnh viện của mình, đồng thời truyền bá và triển khai vì lợi ích nhân loại tri thức thu hoạch từ công cuộc nghiên cứu, qua thư viện, giảng đường và các kênh giáo dục khác.

Many are already acquainted with the readings given by Mr. Cayce, and the more or less haphazard manner in which they have heretofore been applied, also the wonderful results. Prior to the incorporation of the Association physical diagnoses and remedies for diseases were sent to applicants for readings; who upon receipt of them found great difficulty in securing the treatment prescribed. At best the remedies suggested in the readings were partly carried out, yet it is to the credit of the work of the Association that in spite of these difficulties the results reported were satisfactory. The testimonials on hand at the main office at Virginia Beach speak for many, who through application of the remedies given in their readings found relief from their existent physical disabilities. Under the conditions created by the Association difficulties encountered by the patients in securing treatment have been overcome. Furthermore, each and every reading is now followed systematically, watched, and recorded. Prior to the incorporation of the Association and the erection of the Cayce Hospital about 10,000 readings were given by Mr. Cayce, but the lack of facilities for checking each and every move proved detrimental to the progress of the work and to a proper scientific classification of the phenomena. Records of the method and result of treatment are now filed, as is the information given by the psychic forces on specific diseases. Lack of organization prevented this from being accomplished in the past, although thousands received just such information in physical readings, and benefited or not, according to the application thereof.

Nhiều người đã quen thuộc với các bài đọc do Ông Cayce thực hiện, và với cách áp dụng trước đây ít nhiều mang tính ngẫu hứng của chúng, cũng như các kết quả kỳ diệu. Trước khi Hiệp hội được hợp pháp hóa, các chẩn đoán thể xác và phương dược trị bệnh được gửi cho những người xin bài đọc; họ, khi nhận được, thường gặp khó khăn lớn trong việc tìm kiếm phương thức điều trị đã được chỉ định. Tốt nhất thì các phương dược nêu ra trong bài đọc cũng chỉ được thực hiện một phần; tuy vậy, công bằng mà nói, bất chấp những khó khăn đó, các kết quả báo cáo vẫn khả quan. Những chứng từ lưu tại văn phòng chính ở Virginia Beach nói lên tiếng nói của bao người, là những người nhờ áp dụng các phương dược đã được nêu trong bài đọc của mình mà tìm được sự thuyên giảm cho các khiếm khuyết thể chất đang có. Với các điều kiện do Hiệp hội tạo ra, những khó khăn bệnh nhân gặp phải trong việc kiếm tìm điều trị đã được khắc phục. Hơn nữa, nay mỗi bài đọc đều được theo dõi có hệ thống, giám sát và ghi chép. Trước khi Hiệp hội được hợp pháp hóa và trước khi Bệnh viện Cayce được xây dựng, khoảng 10.000 bài đọc đã được Ông Cayce thực hiện, nhưng sự thiếu thốn phương tiện để kiểm tra từng bước đã gây phương hại đến tiến trình công việc và việc phân loại khoa học thích đáng các hiện tượng. Hiện nay, hồ sơ về phương pháp và kết quả điều trị được lưu trữ, cũng như các thông tin do các lực thông linh cung cấp về các bệnh cụ thể. Sự thiếu tổ chức đã từng ngăn trở việc này trong quá khứ, dẫu cho hàng ngàn người đã nhận được chính loại thông tin như vậy trong các bài đọc thể xác và được lợi ích hay không, tùy theo cách họ áp dụng.

The Cayce Hospital, which is the hospital of the Association, at Virginia Beach, Va., furnishes an opportunity for those who seek physical readings and treatment exactly as prescribed in them to get such at the hands of competent and sympathetic physicians. The hospital is conducted along the most modern, scientific, and ethical lines. Every comfort and service possible is provided patients. The charges for room, board, and treatment are such as is customary to an institution of its kind.

Bệnh viện Cayce, là bệnh viện của Hiệp hội, tại Virginia Beach, Va., tạo cơ hội cho những ai tìm kiếm bài đọc thể xác và điều trị đúng y như được chỉ dẫn trong bài đọc, được thụ hưởng điều đó từ những y sĩ có thẩm quyền và thấu cảm. Bệnh viện được vận hành theo những chuẩn mực hiện đại nhất, khoa học nhất và đạo đức nhất. Mọi sự tiện nghi và dịch vụ có thể có đều được cung cấp cho bệnh nhân. Mức phí phòng, ăn ở và điều trị phù hợp với thông lệ của một cơ sở thuộc loại này.

Lectures are delivered each Sunday by President Blumenthal and Mr. Cayce in the lecture hall of the hospital, and President Blumenthal conducts a study class on alternate Saturday afternoons in the same place. The work is studied from a philosophical standpoint, with a view to educating the individual to a complete understanding of himself and the life he lives. These lectures and study classes are free to everyone, and all are urged to attend if interested.

Mỗi Chủ nhật, các bài giảng được Chủ tịch Blumenthal và Ông Cayce trình bày tại giảng đường của bệnh viện, và Chủ tịch Blumenthal cũng điều hành một lớp học nghiên cứu cách tuần vào các chiều thứ Bảy tại cùng địa điểm. Công việc được khảo cứu từ quan điểm triết học, nhằm giáo dưỡng cá nhân đi tới sự thấu hiểu trọn vẹn về chính mình và về đời sống y đang sống. Các bài giảng và lớp học nghiên cứu này miễn phí cho mọi người, và tất cả đều được khuyến khích tham dự nếu quan tâm.

Those not acquainted with the physical and life readings furnished by the Association through the psychic endeavors of Mr. Cayce may apply for information concerning them at the main office at Virginia Beach, where details concerning the past history of Mr. Cayce and his work, and the Association prior to its incorporation, may be obtained. The results of the application of treatments suggested in the physical readings are carefully recorded and systematically classified, and these records are open for inspection to members of the Association.

Những ai chưa quen với các bài đọc về thể xác và đời sống do Hiệp hội cung cấp thông qua nỗ lực thông linh của Ông Cayce có thể xin thông tin về chúng tại văn phòng chính ở Virginia Beach, nơi có thể nhận được các chi tiết về tiểu sử trước đây của Ông Cayce và công việc của Ông, cũng như về Hiệp hội trước khi được hợp pháp hóa. Kết quả của việc áp dụng các liệu pháp được đề nghị trong các bài đọc thể xác được ghi chép cẩn trọng và phân loại có hệ thống, và các hồ sơ này được mở cho hội viên Hiệp hội xem xét.

There are many psychic research societies formed for the study and recording of phenomena, but it is safe to say that the Association of National Investigators, Inc., is the only Society that in addition to psychic research work seeks to apply in its own hospital treatments for the cure of disease. The Association was incorporated that this hospital might be built and put at the disposal of those seeking relief from this source. There is, of course, the customary ward in the hospital for those who are unable to pay for treatments, and one day each week is devoted to giving readings for the benefit of those unable to pay for them.

Có nhiều hội nghiên cứu thông linh được lập nên để khảo cứu và ghi chép các hiện tượng, nhưng có thể nói rằng Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., là tổ chức duy nhất ngoài công việc nghiên cứu thông linh còn tìm cách áp dụng điều trị để chữa bệnh ngay tại bệnh viện của chính mình. Hiệp hội đã được hợp pháp hóa để có thể xây dựng bệnh viện này và đặt nó trong tầm sử dụng của những ai tìm kiếm sự trợ giúp từ nguồn này. Dĩ nhiên, bệnh viện có khu dành cho những người không có khả năng chi trả điều trị, và mỗi tuần có một ngày được dành riêng cho việc thực hiện các bài đọc vì lợi ích của những người không thể trả phí.

Equally, if not more important than the medical purpose of the Association, is the educational phase of the organization’s work. The library and lecture hall in the hospital serve as a center in which the results of the psychic work are carefully recorded. It also serves as a center from which authoritative documents and literature are obtained on the subject. Knowledge from the psychic sources covers a vast field, including not only physical diagnoses, but information in the fields of philosophy, theosophy, theology, science, and every phase of human endeavor and spiritual life. The library and lecture hall serve as a forum for the exchange of ideas on all these subjects, and also serves as the central point from which is disseminated the truths gained from the spiritual or psychic source.

Không kém phần quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng hơn mục đích y khoa của Hiệp hội, là phương diện giáo dục trong công việc của tổ chức. Thư viện và giảng đường trong bệnh viện đóng vai trò một trung tâm nơi các kết quả của công việc thông linh được ghi chép cẩn trọng. Nó cũng là trung tâm từ đó thu thập các tài liệu và văn bản có thẩm quyền về chủ đề này. Tri thức từ các nguồn thông linh bao trùm một lĩnh vực rộng lớn, không chỉ gồm những chẩn đoán thể xác, mà còn thông tin trong các lĩnh vực triết học, Thông Thiên Học, thần học, khoa học, và mọi phương diện của nỗ lực nhân sinh và đời sống tinh thần. Thư viện và giảng đường là diễn đàn để trao đổi ý tưởng về tất cả những chủ đề này, đồng thời là điểm trung tâm từ đó chân lý thu nhận từ nguồn tinh thần hay thông linh được truyền bá.

At the present time Mr. Cayce’s psychic ability furnishes the Association with its channel for research work, but the Society does not plan to confine itself to his manifestation. It is training and including in its research work all who possess sufficient psychic development of mind and are desirous of cooperating with the Association to achieve the purpose of scientifically studying, recording, and applying the phenomena, and exploiting the knowledge derived therefrom in a philanthropic manner for the good of mankind. Those directly in the employ of the Association or its hospital receive financial remuneration commensurate with the service rendered of course, the amount being fixed by the Board of Trustees. The latter, as well as the officers for the corporation and members of its committees, receive no financial compensation for their services in these capacities.

Hiện tại, khả năng thông linh của Ông Cayce là kênh giúp Hiệp hội tiến hành công việc nghiên cứu, nhưng Tổ chức không dự định tự giới hạn vào hiện hiện tượng của riêng Ông. Hiệp hội đang đào luyện và thu nhận vào công cuộc nghiên cứu tất cả những ai có đủ mức phát triển thông linh về thể trí và mong muốn hợp tác với Hiệp hội nhằm đạt mục đích là khảo cứu, ghi chép và ứng dụng các hiện tượng một cách khoa học, đồng thời triển khai tri thức thu nhận được theo cách vị tha vì lợi ích nhân loại. Những người trực tiếp làm việc cho Hiệp hội hoặc bệnh viện của Hiệp hội nhận thù lao tài chính tương xứng với dịch vụ họ cống hiến—dĩ nhiên, mức thù lao do Hội đồng Quản trị ấn định. Hội đồng này, cũng như các chức trách của pháp nhân và các thành viên ủy ban, không nhận bất kỳ khoản thù lao tài chính nào cho các dịch vụ của họ trong các cương vị ấy.

To many, psychic phenomena is but a vagary that has to do with prophesies or superstition, something to be feared or shunned. Finally then, the Association of National Investigators, Inc., seeks to demonstrate that psychic phenomena and the phenomena of life are one and the same thing. The divine manifests its Being or Life or consciousness, and the psychic or subconscious forces, though unconscious to the intellect, manifest their being in consciousness of another character than intellectual.

Với nhiều người, hiện tượng thông linh chỉ là một điều thất thường liên quan đến lời tiên tri hay mê tín, là cái gì đó đáng sợ hay nên né tránh. Rốt cuộc, Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., tìm cách chứng minh rằng hiện tượng thông linh và hiện tượng của đời sống là một và như nhau. Cái thiêng liêng biểu lộ Sự Hiện Hữu hay Sự Sống hay tâm thức của Ngài, và các lực thông linh hay tiềm thức, tuy không hiển lộ trước trí năng, lại biểu lộ hiện hữu của chúng trong một dạng tâm thức khác với trí năng.

Nevertheless, both belong to the same essence and process that expresses itself in the form of “Mind,” or “Soul.” In substance it is spirit, in which a self-contained element through a process of development becomes consciousness or soul. This developing element of subconscious consciousness is demonstrated when the physical forces are subjugated; as, for example, in the experiencing of certain kinds of dreams or visions or other intuitive or psychic manifestations; or in the psychic work of Mr. Cayce, where a complete and thorough physical diagnosis is given in perfectly rational manner through the subjected physical faculties—i.e., when Mr. Cayce becomes intellectually unconscious, or unalive, and manifests through a subconscious kind of consciousness, or aliveness.

Tuy vậy, cả hai thuộc về cùng một bản thể và một tiến trình vốn tự biểu lộ dưới hình thái “Thể trí” hoặc “Linh hồn”. Về chất, đó là tinh thần, trong đó một yếu tố tự thân, qua tiến trình phát triển, trở thành tâm thức hay linh hồn. Yếu tố đang phát triển này của tâm thức tiềm thức được chứng nghiệm khi các lực thể chất được chế ngự; chẳng hạn, trong việc kinh nghiệm những loại giấc mơ, thị kiến hay các biểu hiện trực giác hoặc thông linh nào đó; hoặc trong công việc thông linh của Ông Cayce, nơi một chẩn đoán thể xác đầy đủ và tường tận được cung cấp theo một cách thức hoàn toàn hợp lý thông qua các năng năng lực thể chất đã được đặt dưới sự quy phục—nghĩa là, khi Ông Cayce trở nên vô thức về mặt trí năng, hay như không còn hoạt động trí năng, và biểu lộ qua một dạng tâm thức thuộc tiềm thức.

The purpose of the Association of National Investigators, Inc., then, as will be stated more fully later, is to scientifically carry on the research work in the field of psychic phenomena, to record the results thereof, and to apply them for the benefit of health, knowledge, and spiritual welfare of those seeking aid from the psychic force. It is evident that this organization is engaged in a great work, its scope of activity reaching out to every class, creed, and race, and its purpose embracing the mental, moral, physical and spiritual good of all humanity.

Vậy, mục đích của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., như sẽ được trình bày đầy đủ hơn ở phần sau, là tiếp tục một cách khoa học công việc nghiên cứu trong lĩnh vực hiện tượng thông linh, ghi chép các kết quả của nó, và ứng dụng chúng vì lợi ích sức khỏe, tri thức và phúc lợi tinh thần của những ai tìm kiếm sự trợ giúp từ lực thông linh. Rõ ràng tổ chức này đang dấn thân vào một công việc lớn lao, phạm vi hoạt động vươn tới mọi giai tầng, mọi tín ngưỡng và mọi chủng nhân loại, và mục đích của nó ôm trọn điều thiện về trí tuệ, đạo đức, thể xác và tinh thần cho toàn thể nhân loại.

Three hard and fast provisions govern the operation of the Association work:

Ba điều khoản chặt chẽ chi phối việc vận hành công việc của Hiệp hội:

First: As already stated, the membership and purpose and work of the Organization is limited to no class or creed. The only provision here made is that every applicant for membership and for aid have a faith in the Divine.

Thứ nhất: Như đã nói, hội viên, mục đích và công việc của Tổ chức không bị giới hạn bởi bất kỳ giai tầng hay tín điều nào. Điều kiện duy nhất ở đây là mọi ứng viên xin gia nhập và xin được trợ giúp đều phải có đức tin nơi Đấng Thiêng Liêng.

Second: That this organization shall in no way be used or represented to stand for any particular doctrine, religion, or nationality. The purpose of this Society is scientific study and application of psychic phenomena as related to man in his relationship to the world and to earthly life, as well as his relation to the universe and the universal forces. It is not to establish any new religion, although new thought and new interpretations of old truth may emanate.

Thứ hai: Tổ chức này không được dùng để, hay đại diện cho, bất kỳ học thuyết, tôn giáo hay quốc tịch nào. Mục đích của Tổ chức là nghiên cứu khoa học và ứng dụng các hiện tượng thông linh trong tương quan với con người trong mối quan hệ của y với thế giới và với đời sống trần gian, cũng như mối quan hệ của y với vũ trụ và các lực phổ quát. Không nhằm thiết lập một tôn giáo mới, dẫu rằng có thể nảy sinh những tư tưởng mới và những diễn giải mới về chân lý cũ.

Third: It is definitely stated in the charter of this Association, granted by the State of Virginia, that any profits or monies collected by the Association shall go towards the purely philanthropic work of the Corporation. Membership dues, donations, hospital fees and profits from all transactions shall go towards the upkeep and maintenance of the institution and purely philanthropic work of the Association.

Thứ ba: Trong điều lệ của Hiệp hội này, do Tiểu bang Virginia cấp, có quy định rõ rằng mọi khoản lợi tức hay tiền bạc do Hiệp hội thu được đều phải được sử dụng cho công việc hoàn toàn từ thiện của Pháp nhân. Hội phí, quyên góp, viện phí và lợi nhuận từ mọi giao dịch đều phải được dùng để duy trì và bảo dưỡng cơ sở, và cho công việc hoàn toàn từ thiện của Hiệp hội.

The Board of Trustees (limited to fifteen), being vested with the vote, form the governing body of the Association, and are limited in their operations by the charter and by-laws, the latter of which are hereinafter set forth.

Hội đồng Quản trị (giới hạn tối đa mười lăm người), là những người có quyền bỏ phiếu, cấu thành cơ quan quản trị của Hiệp hội, và bị giới hạn trong hoạt động bởi điều lệ và nội quy, trong đó nội quy sẽ được trình bày dưới đây.

“… THE WORKS THAT I DO SHALL YE DO ALSO; AND GREATER WORKS THAN THESE SHALL YE DO; BECAUSE I GO UNTO MY FATHER.”—John, Ch. 14:12.

“… CÔNG VIỆC TA LÀM, CÁC NGƯƠI CŨNG SẼ LÀM; VÀ NHỮNG VIỆC LỚN HƠN NỮA, CÁC NGƯƠI SẼ LÀM; BỞI VÌ TA ĐI VỀ CÙNG CHA TA.”—Gioan, Chương 14:12.

OUR IDEAL AND PHILOSOPHY

LÝ TƯỞNG VÀ TRIẾT LÝ CỦA CHÚNG TA

Deep in the hearts of each and every right thinking person there dwells the ideal that acts as the mainspring of our life, namely, love for the Divine Creator. Regardless of our concept of God, we love Him for His deeds, which, of course, embrace creation. He has created us as an image of Himself and His universe (as a drop containing every element of the ocean is an image of the whole body of water), and has given to us the opportunity of enjoying like Him a consciousness of ourselves being alive. Being a duplication of Him, in potentiality, we are alive to His work of creation. By development of our potential abilities we become self aware of the process of creation being our own work as well as His. We love Him, then, for His gift of life to us, for His promise that the gift shall be eternal, and, above all, for His long-suffering as well as patience with our sins which are born of ignorance during the process of our achieving through earthly experience necessary potential development. Indeed, many of us, although bearing no malice, curse the Creator in one breath while He furnishes us the power to draw another. We defile our bodies with ill-formed habits, while His pulsating, life-giving flow sustains those bodies and continues in process of creating new and other beautiful physiques. Sometimes, in a secret moment, while regarding the majesty and beauty of nature, or, while marveling at the wonderful phenomena of a newborn baby, or while at prayer either at home or in church, we turn our hearts to God, and pour forth our love. Then do we intuitively feel His forgiveness, His infinite mercy and patience, and the divine inflow of His love. He is the potentiality that manifests itself as the phenomena of life, whether of creation or our subjective selves, and thus we belong to Him and He to us.

Sâu thẳm trong lòng mỗi người có tư duy chính trực đều cư ngụ một lý tưởng, như chiếc lò xo chính của đời sống chúng ta, đó là tình yêu dành cho Đấng Tạo Hóa Thiêng Liêng. Bất chấp quan niệm của chúng ta về Thượng đế như thế nào, chúng ta yêu Ngài vì các công trình của Ngài, vốn, dĩ nhiên, bao gồm công cuộc sáng tạo. Ngài đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của chính Ngài và vũ trụ của Ngài (như một giọt nước chứa mọi yếu tố của đại dương là hình ảnh của toàn thể khối nước), và đã ban cho chúng ta cơ hội được hưởng, giống như Ngài, một tâm thức về việc chính mình đang sống. Là sự phản chiếu của Ngài, về tiềm năng, chúng ta sống động với công trình sáng tạo của Ngài. Bằng sự phát triển các năng lực tiềm tàng, chúng ta trở nên tự nhận biết rằng tiến trình sáng tạo vừa là công việc của chính mình, vừa là của Ngài. Chúng ta yêu Ngài, vậy thì, vì hồng ân sự sống Ngài dành cho ta, vì lời hứa rằng ân ban ấy sẽ là vĩnh cửu, và trên hết, vì sự nhẫn nại lâu dài cũng như kiên trì của Ngài đối với các tội lỗi của chúng ta—những điều sinh ra từ vô minh—trong tiến trình chúng ta đạt được qua kinh nghiệm trần thế sự phát triển tiềm năng cần thiết. Quả thật, nhiều người trong chúng ta, tuy không nuôi oán hận, vẫn trong một hơi thở nguyền rủa Đấng Tạo Hóa, ngay khi Ngài ban cho ta năng lực để hít vào hơi thở kế tiếp. Chúng ta bôi bẩn thân thể mình bằng những tập quán méo mó, trong khi dòng chảy sự sống rung động của Ngài nuôi dưỡng các thân thể ấy và tiếp tục tiến trình tạo tác những hình thể mới và đẹp đẽ khác. Đôi khi, trong một khoảnh khắc kín đáo, khi chiêm ngưỡng vẻ uy nghi và cái đẹp của thiên nhiên, hoặc khi mầu nhiệm trước hiện tượng kỳ diệu của một đứa trẻ mới sinh, hoặc khi cầu nguyện, dù ở nhà hay tại nhà thờ, chúng ta hướng lòng về Thượng đế và tuôn đổ tình yêu của mình. Rồi thì, chúng ta trực giác cảm nhận được sự tha thứ của Ngài, lòng xót thương vô hạn và sự nhẫn nại của Ngài, và dòng chảy thiêng liêng của tình yêu Ngài. Ngài là tiềm năng tự biểu lộ như hiện tượng của sự sống, dù là của sáng tạo hay của cái tôi chủ quan của chúng ta, và do đó, chúng ta thuộc về Ngài và Ngài thuộc về chúng ta.

We, are, each of us, an integral part of God in the intellectual effect form of man, that this spiritual Godly essence takes in the earthly environment, and know ourselves to be that. Thus it is that we are free to live our own concept of life. Thus it also is that whatever concept we choose to express in and of our own life, is representative of our idea of God. Since we are that which the life, essence or God becomes in materialized form, we will likewise remain this same essence when we change at death from the materialized manifested form, to become one with the manifesting spiritual essence itself. From the changed viewpoint that we will then enjoy as an internal force of intelligence, we shall come to know ourselves to be that which God is in essence, just as we now know ourselves to be that which the spiritual Godly essence changes itself to become in the materialized form it takes in this earthly environment. God then has created, of Himself, a portion (each of our own selves) that by virtue of His process of creation, becomes able to achieve a companionate self awareness and individuality in Union with and one with each and every self-conscious and individuality, or portion, that God in one potential spiritual essence embraces.

Chúng ta, từng người một, là một phần bất khả phân của Thượng đế trong hình thái hiệu quả trí năng của con người—hình thái mà bản thể thiêng liêng của Thượng đế mang lấy trong môi trường trần thế—và chúng ta biết mình là như thế. Vậy nên, chúng ta tự do sống theo quan niệm của chính mình về đời sống. Vậy nên, bất kỳ quan niệm nào chúng ta chọn để biểu hiện trong và bằng đời sống của riêng mình cũng là sự đại diện cho ý nghĩ của chúng ta về Thượng đế. Bởi chúng ta là điều mà sự sống, bản thể hay Thượng đế trở thành trong hình tướng hiện hình, chúng ta cũng sẽ như thế ấy khi chúng ta đổi thay trong cái chết, từ hình tướng hiện hình, để trở nên một với chính bản thể thiêng liêng đang biểu lộ. Từ viễn kiến đã đổi thay mà chúng ta khi ấy sẽ hưởng như một lực trí tuệ nội tại, chúng ta sẽ đến chỗ biết mình là điều mà Thượng đế là nơi bản thể, cũng như bây giờ chúng ta biết mình là điều mà bản thể thiêng liêng của Thượng đế chuyển hóa để trở thành trong hình tướng hiện hình mà nó mang lấy trong môi trường trần thế này. Thượng đế vậy đã tạo thành, từ chính Ngài, một phần (mỗi cái “tôi” của chúng ta) mà, nhờ vào tiến trình sáng tạo của Ngài, trở nên có khả năng đạt đến một ý thức tự tri mang tính đồng bạn và một tính cách cá thể trong Sự Hợp Nhất và là một với từng và mọi tự-ngã-ý thức và cá tính, hay phần phần, mà Thượng đế trong một bản thể tinh thần tiềm dung ôm trọn.

Are our prayers and our good intentions the best we may do in gratitude for such good and perfect gifts? May we not help keep the breath in the body by aiding physically the sick and suffering? May we not counteract sin by fighting the ignorance and lack of understanding that breeds it? Of course we may, and shall!—all of us who are members of the Association of National Investigators, Inc., for all of us banded together to manifest in deed our love for the Creator, will through the Association engage actively in educating those who are as yet unawakened to the glory of the creative work of the spirit father.

Phải chăng lời cầu nguyện và thiện ý là điều tốt nhất chúng ta có thể làm để tri ân những ân ban tốt lành và hoàn hảo như vậy? Chẳng lẽ chúng ta không thể góp phần giữ hơi thở trong thân bằng cách trợ giúp về thể xác những người đau yếu khổ sở? Chẳng lẽ chúng ta không thể hóa giải tội lỗi bằng cách chống lại vô minh và sự thiếu thấu hiểu vốn sinh ra nó? Dĩ nhiên là có thể, và chúng ta sẽ làm!—tất cả chúng ta, những hội viên của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., bởi tất cả chúng ta liên kết lại để biểu lộ trong hành động tình yêu của mình dành cho Đấng Tạo Hóa, sẽ qua Hiệp hội tích cực dấn thân vào việc giáo hóa những ai còn chưa thức tỉnh trước vinh quang của công trình sáng tạo do Cha tinh thần thực hiện.

Through psychic research may we, the members of the Association, gain the necessary knowledge that will fit us to work on earth for creation, as does the mighty creative energy of life function to sustain creation throughout the whole of that called space. Then may we and shall we, inscribe our names in the book of life, and in that chapter that has to do with early experiences, and thus make our deeds create for us merited love in the hearts and minds of the right-thinking portion of humanity. We, the members of this Association, and all who choose to join with us, shall strive to throw our influence on the side of the good and the spiritual, in order that the generations of men may cling to the link that binds them to the universe, to the noble, the beautiful, the honorable, and to the whole ideal while in this earthly process of development, rather than permit the influences of the purely material life to drag the inner developing potentiality that manifests itself in the form of physical personalities in the mire of animalistic materialism, that turns love into passion and adultery, nobleness into wrath, hatred, and temper, honor into greed and selfishness, beauty into filth, and the imagination into slavery to physical desires.

Qua công cuộc nghiên cứu thông linh, mong rằng chúng ta, các hội viên của Hiệp hội, thu nhận tri thức cần thiết để có thể làm việc trên địa hạt trần thế cho công trình sáng tạo, như năng lượng sáng tạo hùng mạnh của sự sống vận hành để duy trì sáng tạo khắp toàn thể cái được gọi là không gian. Khi ấy, chúng ta có thể, và sẽ, ghi tên mình vào sách sự sống, nơi chương nói về các kinh nghiệm buổi đầu, và do đó khiến các việc làm của chúng ta tạo nên cho mình tình yêu xứng đáng trong tâm hồn và khối óc của bộ phận nhân loại có tư duy chính trực. Chúng ta, các hội viên của Hiệp hội này, và tất cả những ai chọn đồng hành cùng chúng ta, sẽ nỗ lực đặt ảnh hưởng của mình về phía điều thiện và cái tinh thần, để cho các thế hệ nhân loại có thể bám víu vào mối dây nối kết họ với vũ trụ, với điều cao quý, điều đẹp đẽ, điều đáng trọng, và với toàn thể lý tưởng trong suốt tiến trình phát triển ở cõi trần này; thay vì để cho những ảnh hưởng của đời sống thuần vật chất kéo lùi tiềm năng đang lớn lên bên trong—vốn tự biểu lộ dưới hình dạng các phàm ngã thể chất—xuống bùn lầy của chủ nghĩa duy vật mang tính thú tính, vốn biến Tình thương thành dục vọng và tà dâm, phẩm giá thành phẫn nộ, hận thù và nóng nảy, danh dự thành tham lam và ích kỷ, cái đẹp thành ô uế, và sức tưởng tượng thành nô lệ cho các dục vọng thể xác.

This is the ideal of the Association of National Investigators, Inc., to the accomplishment of which it is giving and shall continue to give its untiring energy and efforts, and in the heart and soul of the Association there lives the conviction that behind it are the mighty, eternal and unyielding creative forces of the universe.

Đây là lý tưởng của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., vì sự thành tựu của lý tưởng ấy mà Hiệp hội dâng hiến và sẽ tiếp tục dâng hiến sức lực và nỗ lực không mệt mỏi của mình; và trong trái tim và linh hồn của Hiệp hội luôn sống động xác tín rằng đằng sau Hiệp hội là các mãnh lực sáng tạo hùng mạnh, vĩnh cửu và bất khuất của vũ trụ.

MORTON H. BLUMENTHAL, PRESIDENT.

MORTON H. BLUMENTHAL, CHỦ TỊCH.

“IN HIM IS THE LIGHT, AND THE LIGHT IS THE LIGHT OF THE WORLD.”

“TRONG NGÀI LÀ SỰ SÁNG, VÀ SỰ SÁNG ẤY LÀ ÁNH SÁNG CỦA THẾ GIAN.”

OUR PURPOSE

MỤC ĐÍCH CỦA CHÚNG TA

Any endeavor, whether that of an individual, or of a group of individuals, is motivated by an ideal, or an idea, or by both. In the case of the Association of National Investigators, Inc., an ideal inspired the desire to serve humanity in the minds of a few individuals interested in the study of the phenomena of life, and in particular, the study of psychic phenomena as made manifest in the work of Mr. Edgar Cayce. These individuals cooperated to form the present Association of National Investigators, Inc., with the idea in mind to investigate the psychic work of Mr. Cayce, and obtain, if possible, the relationship of this remarkable phenomena to that of life, and in particular, to the life of man and to human welfare.

Mọi nỗ lực, dù của một cá nhân hay của một nhóm người, đều được thúc đẩy bởi một lý tưởng, hay một ý niệm, hoặc bởi cả hai. Trong trường hợp của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., một lý tưởng đã khơi dậy khao khát phụng sự nhân loại trong tâm trí của một vài cá nhân quan tâm đến việc nghiên cứu hiện tượng của đời sống, và đặc biệt là nghiên cứu hiện tượng thông linh như được biểu lộ trong công việc của Ông Edgar Cayce. Những cá nhân này đã hợp tác để hình thành Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc. hiện nay, với ý niệm là khảo cứu công việc thông linh của Ông Cayce, và nếu có thể, xác định mối tương quan của hiện tượng kỳ lạ này với hiện tượng của sự sống, và đặc biệt, với đời sống con người và phúc lợi con người.

To accomplish this end, the Cayce Hospital for Research and Enlightenment was created for the purpose of receiving patients who desired medical treatment, according to suggestions made in the so-called physical readings, the latter being made for patients who request same. Previous to the creation of this institution, thousands had benefited in health from their own haphazard application of information contained in physical readings, secured by themselves from Mr. Cayce. The latter’s remarkable psychic mental development enabled him to furnish these physical diagnoses to applicants, together with suggestions for remedy of their ills. The creation of the hospital for scientific application of these treatments, and for the maintenance of records of the results thereof, in a systematic fashion, seemed a logical and justifiable step to the interested group surrounding Mr. Cayce’s work. Although this institution has been completed and has been functioning only a few months, a history of the cases treated in the hospital, and the excellent results to the patients achieved, and systematically recorded, have to date, proven the step a wise and progressive one.

Để đạt mục tiêu này, Bệnh viện Nghiên cứu và Giác ngộ Cayce đã được thành lập nhằm tiếp nhận bệnh nhân mong muốn được điều trị y khoa theo các đề nghị nêu trong những cái gọi là bài đọc thể xác, và các bài đọc này được thực hiện cho bệnh nhân theo yêu cầu. Trước khi cơ sở này ra đời, hàng ngàn người đã cải thiện sức khỏe nhờ tự mình áp dụng, theo lối ngẫu hứng, thông tin chứa trong các bài đọc thể xác mà họ tự tìm đến Ông Cayce để xin. Trình độ phát triển thông linh kỳ lạ về trí tuệ của Ông cho phép Ông cung cấp các chẩn đoán thể xác cho người xin, cùng với những gợi ý về phương dược chữa các chứng bệnh của họ. Việc thành lập bệnh viện để ứng dụng khoa học những liệu pháp này, và để lưu giữ hồ sơ kết quả theo cách có hệ thống, dường như là một bước đi hợp lẽ và chính đáng đối với nhóm người quan tâm đến công việc quanh Ông Cayce. Dù cơ sở này mới hoàn tất và đi vào hoạt động được vài tháng, lịch sử các ca điều trị tại bệnh viện, cùng những kết quả xuất sắc đạt được cho bệnh nhân, và được ghi chép có hệ thống cho đến nay, đã chứng minh đây là một bước đi khôn ngoan và tiến bộ.

The hospital, however, does not in itself represent the complete realization of the ideal in the hearts and minds of the individuals who first inaugurated the Association for the purpose of investigation of psychic phenomena. True, in the formative years of this Association, the present members of the Board of Trustees had but a vague idealistic urge to perform a service for Good, for God, for Man, and this ideal then represented itself in the minds of these individuals in the form of a crude idea, a hospital where patients might be scientifically treated by proper and authorized physicians, according to their physical readings (the latter psychically made by Mr. Edgar Cayce), and results of these treatments carefully and systematically recorded. Since the successful realization of this latter idea, the Board of Trustees, together with many members of the Association, have found other and additional channels of service opened to them. There have been presented new fields to pioneer in, and new scientific worlds to conquer. A wider, broader, and more extensive channel of idealistic self-expression in connection with psychic investigation has sprung up. The latter, and more important field of activity, has to do with education.

Tuy nhiên, tự thân bệnh viện không đại diện cho sự hiện thực hóa trọn vẹn lý tưởng trong tâm trí những cá nhân ban đầu khởi xướng Hiệp hội để khảo cứu hiện tượng thông linh. Quả đúng vậy, trong những năm định hình của Hiệp hội này, các thành viên hiện nay của Hội đồng Quản trị chỉ có một thôi thúc lý tưởng mơ hồ muốn làm một việc phục vụ cho Điều Thiện, cho Thượng đế, cho Con người, và lý tưởng ấy khi đó tự biểu hiện trong tâm trí họ dưới dạng một ý niệm còn thô sơ: một bệnh viện nơi bệnh nhân có thể được điều trị một cách khoa học bởi những y sĩ thích hợp và có thẩm quyền, theo các bài đọc thể xác của họ (các bài đọc này do Ông Edgar Cayce thực hiện bằng thông linh), và kết quả các liệu pháp được ghi chép cẩn thận và có hệ thống. Kể từ khi ý niệm sau cùng này được hiện thực hóa thành công, Hội đồng Quản trị, cùng với nhiều hội viên của Hiệp hội, đã được mở ra những kênh phục vụ khác và bổ sung. Những lĩnh vực mới để tiên phong đã xuất hiện, và những thế giới khoa học mới để chinh phục. Một kênh biểu lộ lý tưởng rộng lớn, bao quát và sâu rộng hơn gắn với khảo cứu thông linh đã hình thành. Lĩnh vực hoạt động sau đây, quan trọng hơn, liên quan đến giáo dục.

Those of us who composed, and now make up the Board of Trustees, of the Association of National Investigators, Inc., found a greater service in connection with psychic investigations than ministering to human ills in teaching people of their individual psychic abilities of mind, and of the value to their lives of proper and intelligent application of knowledge obtained through the use of these potential or hidden mental (intuitive) faculties. The first step in this new and more important direction consisted in first thoroughly grounding ourselves in that which we seek to teach others. That is to say, we had to first bring into our consciousness realization of a higher fourth-dimensional viewpoint, of which the properly educated human mind is capable, and thus obtain knowledge of life as it exists in self, and the world, or Universe, to this higher fourth-dimensional viewpoint. By this method, many of us became possessed of knowledge of the internal world of causes, and of application, that may be made of same in the external or material world of effect. Such knowledge, we found, is internal and fourth dimensional in character, and obtainable by the human mind from the internal fourth-dimensional viewpoint alone, and is not obtainable by the mind seeking knowledge of life from the externalized three-dimensional, physical viewpoint of the mind. We came to the conclusion, then, that the psychic readings given by Mr. Cayce, whether physical or philosophical, or anything else in character, demonstrate the fourth-dimensional operation of the indwelling subjective (often called subconscious) mind, and its ability to give to our observing physical selves, information not only of the inner subjective spiritual and permanent side of life, but also to give information applicable for the good of our external physical selves while we live in the temporary material form that life assumes in this world.

Những người trong chúng tôi đã cấu thành và nay làm nên Hội đồng Quản trị của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., nhận thấy một sự phục vụ lớn lao hơn trong liên hệ với khảo cứu thông linh—vượt lên trên việc cứu chữa bệnh tật của con người—đó là giáo dục mọi người về các năng lực thông linh cá thể của thể trí, và về giá trị đối với cuộc đời họ của việc áp dụng đúng đắn và sáng suốt tri thức thu nhận qua việc sử dụng các năng lực trí tuệ tiềm ẩn (trực giác) ấy. Bước đầu trong hướng đi mới và quan trọng hơn này là chúng tôi phải trước hết tự đặt nền vững chắc nơi điều mà chúng tôi tìm cách dạy người khác. Tức là, trước hết, chúng tôi phải mang vào tâm thức mình sự chứng ngộ về một viễn kiến cao hơn—viễn kiến chiều thứ tư—mà một thể trí con người được giáo dưỡng đúng đắn có khả năng đảm đương, và nhờ đó thu nhận tri thức về sự sống như nó tồn tại nơi tự-ngã và thế giới, hay Vũ trụ, theo viễn kiến chiều thứ tư cao hơn này. Bằng phương pháp ấy, nhiều người trong chúng tôi đã đạt được tri thức về thế giới nội tại của các nguyên nhân, và về những ứng dụng có thể thực hiện của các nguyên nhân đó trong thế giới ngoại tại hay vật chất của các hiệu quả. Chúng tôi nhận ra rằng loại tri thức như vậy là nội tại và mang tính chiều thứ tư, có thể được thể trí con người tiếp nhận chỉ từ viễn kiến nội tại chiều thứ tư, và không thể đạt được bởi thể trí khi tìm kiếm tri thức về sự sống từ viễn kiến ngoại tại ba chiều, vật chất của thể trí. Chúng tôi đi đến kết luận rằng các bài đọc thông linh do Ông Cayce cung cấp—dù là thể xác hay triết học, hay bất cứ loại nào—đều minh chứng sự vận hành chiều thứ tư của thể trí chủ quan cư ngụ bên trong (thường được gọi là tiềm thức), và khả năng của nó trong việc trao cho cái “tôi” thể xác quan sát của chúng ta không chỉ là thông tin về phương diện nội tại, chủ quan, tinh thần và thường hằng của sự sống, mà còn trao thông tin có thể ứng dụng nhằm lợi ích cho cái “tôi” thể xác bên ngoài của chúng ta trong khi chúng ta còn sống trong hình tướng vật chất tạm bợ mà sự sống mang lấy ở thế giới này.

Today, certain members of this organization have, through concentrated effort and specific application of the study of the psychic forces made manifest in and through man, and thus in and through their individual selves, achieved for themselves a development of the introspective and intuitional faculties of mind. These latter faculties are often described as belonging to the subconscious, or subjective, and inner department of the mind. These individuals have, through application of, and experience in the introspective method, obtained greater knowledge and greater understanding of the primary purport and purpose of such a work as the Association of National Investigators, Inc., has undertaken.

Ngày nay, một số thành viên của tổ chức này đã—thông qua nỗ lực tập trung và sự áp dụng chuyên biệt việc nghiên cứu các lực thông linh được biểu lộ ở nơi và qua con người, và như thế, ở nơi và qua từng tự-ngã của họ—đạt cho mình sự phát triển các năng lực hướng nội và trực giác của thể trí. Các năng lực sau đây thường được mô tả là thuộc về bộ phận tiềm thức, hay chủ quan, và nội tại của thể trí. Những cá nhân này, bằng sự áp dụng và trải nghiệm phương pháp nội quán, đã thu được tri thức lớn hơn và thấu hiểu sâu hơn về ý nghĩa sơ nguyên và mục đích của một công việc như Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., đang đảm trách.

These individuals, some members of our Board of Trustees, some members of the Association of National Investigators, Inc., have come to a realization of the great responsibility resting upon them, and entailed in the accomplishment of the educational end that must be achieved if the Association is to accomplish its whole purpose. By virtue of knowledge obtained through their own intuitional faculties, these few individuals have come to understand better the importance of the obligation they have assumed to man and to God in grouping themselves together as a Board of Trustees and as an organization to carry on the work of the Association of National Investigators, Inc., that its ideal in totality may be realized. They, today, recognize that this obligation makes it necessary that our Association formulate a plan, by which there may be introduced into the world a scientific method of obtaining knowledge introspectively, a higher method, if you please, of obtaining a deeper knowledge of life, and of self, self’s relationship to life, than it is possible to obtain through use of the physical faculties or sensory organism alone. This higher method of obtaining a deeper self-awakening of the truth of that which self and life is, embraces a method of obtaining understanding of self, and of life, from the higher, inner subjective or subconscious viewpoint, the latter of which is often called the fourth-dimensional viewpoint.

Những cá nhân đó—một số là thành viên Hội đồng Quản trị của chúng tôi, một số là hội viên của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc.—đã đi đến chứng ngộ trách nhiệm lớn lao đang đặt trên vai mình, và kéo theo đó là nhiệm vụ hoàn thành cứu cánh giáo dục cần phải đạt, nếu Hiệp hội muốn thành tựu trọn vẹn mục đích của mình. Nhờ vào tri thức thu nhận được qua các năng lực trực giác của chính họ, một số ít cá nhân này đã thấu hiểu rõ hơn tầm quan trọng của nghĩa vụ mà họ đã đảm nhận đối với con người và đối với Thượng đế khi kết thành một Hội đồng Quản trị và một tổ chức để tiếp tục công việc của Hiệp hội Các Nhà Điều tra Quốc gia, Inc., hầu lý tưởng của Hiệp hội được hiện thực trọn vẹn. Hôm nay, họ nhận thấy rằng nghĩa vụ này đòi hỏi Hiệp hội chúng ta phải hoạch định một kế hoạch để giới thiệu vào thế gian một phương pháp khoa học nhằm thu nhận tri thức bằng nội quán—một phương pháp cao hơn, nếu quý vị muốn nói vậy—để đạt được một tri thức sâu hơn về sự sống và về tự-ngã, về mối liên hệ của tự-ngã với sự sống, sâu hơn mức có thể đạt chỉ bằng việc sử dụng các năng lực thể chất hay cơ chế giác quan. Phương pháp cao hơn để đạt một sự tự-thức tỉnh sâu xa về chân lý của điều mà tự-ngã và sự sống là, bao hàm một cách thức đạt tới sự thấu hiểu về tự-ngã và về sự sống từ viễn kiến cao hơn, nội tại, chủ quan hay tiềm thức—vốn thường được gọi là viễn kiến chiều thứ tư.

Knowledge so obtained brings to the individual self-realization of being that very introspective source himself, from which hidden or subconscious recesses, such information comes. He awakens to self realization of being not only that which he is physically, but also to that which he is subconsciously, i.e., to that complete and total being he is in mind or soul. By this means, he may obtain an awakening of the purpose of life, and of being alive, and may fashion his daily activities accordingly. Thus he may, to a greater extent, speed and facilitate the development of his own internal soul being, and generally accelerate the evolutionary process of life.

Tri thức thu nhận như vậy mang đến cho cá nhân sự tự-chứng về việc chính mình là cội nguồn nội quán ấy—nơi những ngóc ngách ẩn tàng hay tiềm thức—từ đó thông tin xuất lộ. Y thức tỉnh để tự-chứng rằng mình không chỉ là điều y đang là về mặt thể chất, mà còn là điều y đang là về mặt tiềm thức, tức là, là toàn thể và trọn vẹn hiện hữu mà y là trong thể trí hay linh hồn. Bằng phương tiện này, y có thể đạt đến sự thức tỉnh về mục đích của sự sống, và của việc hiện sinh, và có thể uốn nắn các sinh hoạt hằng ngày của mình theo đó. Như thế, y có thể, ở mức độ lớn hơn, thúc đẩy và tạo thuận duyên cho sự phát triển của bản thể linh hồn nội tại của y, và nói chung, gia tốc tiến trình thăng thượng tiến hóa của sự sống.

No greater program ever confronted any group of men or women, and no group of men or women ever assumed greater responsibility in seeking to carry out its ideal. By virtue of the past development of each of us, or at least of those of us who compose the Board of Trustees, we may feel, with all confidence, that we are prepared to successfully carry out the burden of this large and important program. Furthermore, in a reading it has been given that in the process of carrying out this program, we shall individually and collectively have the full cooperation of the forces from the cosmic plane, even from the highest plane, the throne itself. It has been given that such cooperation and aid may be expected, and it has been promised that it shall be given.

Chưa bao giờ có một chương trình nào lớn hơn đặt ra trước một nhóm những người nam hay nữ, và chưa có nhóm người nam hay nữ nào đảm nhận trách nhiệm lớn hơn trong việc nỗ lực thực thi lý tưởng của mình. Nhờ vào sự phát triển đã đạt trong quá khứ của từng người chúng ta—hoặc ít nhất của những người trong chúng ta làm thành Hội đồng Quản trị—chúng ta có thể cảm thấy, với mọi tự tin, rằng chúng ta đã sẵn sàng để gánh vác thành công trọng trách của chương trình rộng lớn và quan trọng này. Hơn nữa, trong một bài đọc, đã được cho biết rằng trong tiến trình thực hiện chương trình này, chúng ta—cá nhân và tập thể—sẽ nhận được sự hợp tác đầy đủ của các lực từ các cõi vũ trụ, thậm chí từ cõi cao nhất, tức chính ngai tòa. Đã được cho biết rằng có thể trông đợi sự hợp tác và trợ giúp như vậy, và đã có lời hứa rằng nó sẽ được ban cho.

It is obvious that we cannot hope to heal every living creature in our hospital. It is also obvious that the process by which individuals are benefited physically in our hospital is but a representation of the application of knowledge introspectively obtained, and a demonstration of the fact that a system for the obtaining of such knowledge may be formulated and used by the individual for his own benefit. This must be the true and whole purpose of this hospital of ours, for otherwise the thing for which it stands would appear merely as a freak of nature, a contradiction of natural law. If this were true, our time would be wasted on a mere will o’ the wisp, a meaningless outlaw to the basic laws of life, God, and Man.

Rõ ràng chúng ta không thể hy vọng chữa lành mọi sinh linh sống động trong bệnh viện của mình. Cũng rõ ràng rằng tiến trình nhờ đó các cá nhân được lợi ích về thể xác trong bệnh viện của chúng ta chỉ là một biểu hiện về việc ứng dụng tri thức thu nhận bằng nội quán, và là một bằng chứng cho thấy có thể xây dựng và vận dụng một hệ thống để thu nhận loại tri thức như vậy bởi từng cá nhân cho lợi ích của chính họ. Đây hẳn phải là mục đích chân thực và toàn vẹn của bệnh viện chúng ta, nếu không thì điều mà nó đại diện sẽ chỉ hiện ra như một ánh lửa ma trơi, một nghịch lý với định luật tự nhiên. Nếu điều đó đúng, thì thời gian của chúng ta chỉ phí hoài cho một ảo ảnh vô nghĩa, một kẻ ngoài vòng pháp luật đối với các định luật cơ bản của sự sống, của Thượng đế và của Con người.

This, however, is not true! On the contrary, the work propagated by this Association in or outside of the hospital, demonstrates the operation of the real and vital forces of life, not merely the portion that is physical, but the elements of the whole mind. It demonstrates the rational oneness of life, the universality of the operation of the forces of life, or laws governing life in any form, whether physical or otherwise, and in particular, as they govern the mind and life in the physical form of man.

Tuy nhiên, điều này không đúng! Trái lại, công việc do Hiệp hội này phát động—trong hay ngoài bệnh viện—minh chứng sự vận hành của các lực thực tại và sinh động của sự sống, không chỉ phần thể chất, mà là các yếu tố của toàn thể thể trí. Nó chứng minh tính nhất như hợp lý của sự sống, tính phổ quát của sự vận hành các lực của sự sống—hay các định luật chi phối sự sống—trong mọi hình thái, dù thể chất hay khác nữa, và đặc biệt là khi chúng chi phối thể trí và sự sống trong hình tướng thể chất của con người.

Our hospital, and the psychic work attached thereto, can only be a demonstration of the introspective method of obtaining knowledge, by which means the internal operating forces of life may become applicable to and by each individual, for his better development and happier existence, even while in the physical form of man, living in and as a part of this material world.

Bệnh viện của chúng ta, và công việc thông linh đi kèm, chỉ có thể là một minh chứng cho phương pháp nội quán nhằm thu nhận tri thức—nhờ đó các lực vận hành nội tại của sự sống có thể trở nên hữu dụng cho và bởi từng cá nhân—để y phát triển tốt đẹp hơn và hiện hữu hạnh phúc hơn, ngay cả khi còn ở trong hình tướng thể chất của con người, đang sống trong và như một phần của thế giới vật chất này.

THE PRIMARY PURPOSE OF OUR ASSOCIATION, THEN, IS EDUCATION.

MỤC ĐÍCH SƠ KHỞI CỦA HIỆP HỘI CHÚNG TA, VẬY, LÀ GIÁO DỤC.

The education of the individual, that he may attain a closer relationship to the higher powers of his own mind, that he may for and by himself achieve greater development of mind, as well as greater material benefit, for his physical being in the material environment. The achievement of our purpose will enable the human race to use for its own good, in every department of its life, physical and spiritual, an introspective method of obtaining knowledge, that individuals may so develop their intuitional forces as to become able to be guided by a higher dimensional viewpoint, the viewpoint that such intuitional development brings self realization of possessing. This is the all-embracing aim and deeper purpose, the whole ideal, of this Association.

Giáo dục cá nhân, để y đạt đến mối liên hệ gần gũi hơn với các quyền năng cao hơn của chính thể trí mình, để y tự thân đạt được sự phát triển lớn hơn về thể trí, cũng như lợi ích vật chất lớn hơn cho hiện thể thể chất của y trong môi trường vật chất. Việc thành tựu mục đích của chúng ta sẽ cho phép nhân loại vận dụng vì lợi ích của mình, trong mọi bộ phận của đời sống, cả thể chất lẫn tinh thần, một phương pháp nội quán nhằm thu nhận tri thức—nhờ đó từng người có thể phát triển đến mức các lực trực giác đủ để được dẫn dắt bởi một viễn kiến cao chiều hơn—viễn kiến mà sự phát triển trực giác như vậy mang đến sự tự-chứng là mình đang sở hữu. Đây là mục tiêu bao trùm và cứu cánh sâu xa, là lý tưởng toàn vẹn của Hiệp hội này.

The method for exploiting this system of obtaining knowledge introspectively will some day embrace a great Association of learning. It will take the form of a University where science, history, philosophy, engineering, etc., will be taught in a manner embracing both the objective and introspective methods of obtaining knowledge. In this university knowledge thus obtained will enable us to form a curriculum in which science, history, philosophy, and the arts may be taught as in no other seat of learning.

Phương pháp triển khai hệ thống thu nhận tri thức bằng nội quán này một ngày kia sẽ bao gồm một Hiệp hội học thuật vĩ đại. Nó sẽ mang hình thái một Đại học nơi khoa học, lịch sử, triết học, công nghệ, v.v., sẽ được giảng dạy bằng một lối kết hợp cả phương pháp khách quan lẫn nội quán trong thu nhận tri thức. Tại đại học đó, tri thức thu được như thế sẽ cho phép chúng ta hình thành một chương trình giảng dạy trong đó khoa học, lịch sử, triết học và nghệ thuật có thể được dạy theo một cách thức mà không trường sở nào khác có được.

Such an institution of learning is the dream of the future, and as such it may now be only presented as a future prospect, not an applicable plan for present action. For the present, it behooves each and every one of us who has taken, as a member of the Association, and in particular, members of our Board of Trustees, the responsibility of exploiting our primary purpose of benefit to mankind, to subscribe in faith to that very introspective method that we represent, and that our psychic experiments objectify. Let us gain for ourselves a greater understanding of the meaning of this method in our own lives. Let us understand its application for our own good, for our own spiritual development and spiritual awakening, as well as our own material comforts. Let us live as an example to man, that we may demonstrate to individuals, to classes and masses, in terms of mental freedom, mental power, and material welfare and happiness, the benefits to be derived by and from the application for ourselves of knowledge introspectively obtained. Let us do this not for ourselves, but that all may see demonstrated in our lives, in our work, in our institutions, the benefits that may come to the individual by virtue of the application of just such an introspective method. We may then, individually and collectively, exploit in harmonious cooperation our program for the benefit of Mankind, for the benefit of civilization, and for the benefit of posterity. First to individuals as they approach us, second to the classes, or groups, or organizations, as they come to us, and finally, to all peoples, as a world-wide educational movement. By the initiation of such a movement we may give an impulse to the evolving of a higher stage of civilization, and a greater race of man. Thus shall the consciousness of man be raised a degree in enlightenment, in breadth of vision, and in power. Thus may civilization be raised from its present materialistic vying to a spiritual power applicable in the material world, for the benefit of one’s own soul development, as well as for the greater comfort and material happiness of the soul in the physical form of man.

Một cơ sở giáo dục như vậy là giấc mơ của tương lai, và vì thế lúc này chỉ có thể được trình bày như một viễn tượng tương lai, chứ chưa phải một kế hoạch có thể áp dụng cho hiện tại. Trước mắt, điều nên làm đối với từng người trong chúng ta—những người đã nhận lấy, với tư cách hội viên Hiệp hội, và đặc biệt là các thành viên Hội đồng Quản trị của chúng ta—trách nhiệm triển khai mục đích sơ khởi vì lợi ích nhân loại, là đặt lòng tin vào chính phương pháp nội quán mà chúng ta đại diện, và mà các thí nghiệm thông linh của chúng ta khách quan hóa. Chúng ta hãy tự thu nhận cho mình sự thấu hiểu lớn hơn về ý nghĩa của phương pháp ấy trong đời sống riêng của mình. Chúng ta hãy hiểu biết việc ứng dụng nó vì lợi ích của chính mình, cho sự phát triển tinh thần và sự thức tỉnh tinh thần của mình, cũng như cho các tiện nghi vật chất của bản thân. Chúng ta hãy sống như một tấm gương cho con người, để chúng ta có thể chứng minh cho từng cá nhân, cho các giai tầng và quần chúng, bằng ngôn ngữ của tự do trí tuệ, của quyền năng trí tuệ, và của phúc lợi cùng hạnh phúc vật chất, những lợi ích có thể thu nhận được bằng và từ việc áp dụng cho chính mình tri thức thu nhận bằng nội quán. Chúng ta hãy làm điều này không phải vì mình, mà để mọi người có thể thấy được—được chứng minh trong đời sống chúng ta, trong công việc chúng ta, trong các thiết chế của chúng ta—những lợi ích có thể đến với cá nhân nhờ ứng dụng đúng một phương pháp nội quán như vậy. Khi ấy, chúng ta—từng người và tập thể—có thể triển khai trong sự hợp tác hài hòa chương trình của mình vì lợi ích Nhân loại, vì lợi ích văn minh, và vì lợi ích các thế hệ mai sau. Trước hết là cho các cá nhân khi họ tìm đến với chúng ta, thứ đến cho các lớp, các nhóm hay các tổ chức khi họ đến với chúng ta, và sau cùng, cho mọi dân tộc, như một phong trào giáo dục toàn cầu. Bằng việc khởi xướng một phong trào như vậy, chúng ta có thể tạo một xung lực cho sự tiến hóa tới một nấc thang văn minh cao hơn, và một giống dân người lớn lao hơn. Như thế, tâm thức con người sẽ được nâng cao thêm một bậc về sự soi sáng, về bề rộng tầm nhìn và về quyền năng. Như thế, văn minh có thể được nâng từ sự hơn thua duy vật hiện nay lên thành một quyền năng tinh thần có thể ứng dụng trong thế giới vật chất, vì lợi ích phát triển linh hồn của mỗi người, cũng như vì sự tiện nghi và hạnh phúc vật chất lớn hơn của linh hồn trong hình tướng thể chất của con người.

The accomplishment of this purpose means a process of education of the race and the individuals composing it to a greater power of mental insight and physical application.

Việc thành tựu mục đích này có nghĩa là một tiến trình giáo dục chủng loại cùng các cá nhân cấu thành nó để đạt đến một năng lực thâm nhập trí tuệ lớn hơn và sự ứng dụng vào thực tiễn thể chất tốt hơn.

It is for us to supply the individuals with a systematized plan whereby such means may be scientifically used to achieve realization of the existence of the internal life forces, their functions, their purpose, and their application for the benefit of each individual and the whole of mankind.

Việc của chúng ta là cung cấp cho từng cá nhân một kế hoạch có hệ thống, nhờ đó những phương tiện như vậy có thể được vận dụng một cách khoa học để đạt đến sự chứng ngộ về sự tồn tại của các lực sống nội tại, các công năng của chúng, mục đích của chúng, và việc ứng dụng chúng vì lợi ích của từng người và của toàn thể nhân loại.

What a blessing it is to understand that our daily toil with its material return is not the chief and only aim of our earthly experience! What a blessing to realize the development we are achieving of potential abilities of mind or soul by virtue of mental and physical application made in our everyday field of daily material endeavors! This we obtain for the benefit of our real self, for our whole mind, that manifests itself in our own physical form as a personality or individuality, whether pertaining to ourselves as Doctors, Lawyers, Artists, Business men or women, husbands, wives, fathers, mothers, etc.

Thật là phúc lành khi hiểu rằng công việc mưu sinh hằng ngày của chúng ta, cùng với lợi tức vật chất, không phải là cứu cánh duy nhất và tối hậu của kinh nghiệm trần gian! Thật là phúc lành khi nhận ra sự phát triển mà chúng ta đang đạt được—về các năng lực tiềm tàng của thể trí hay linh hồn—nhờ vào sự ứng dụng trí tuệ và thể chất trong chính lĩnh vực sinh hoạt vật chất hằng ngày! Chúng ta thu nhận điều này vì lợi ích của tự-ngã chân thực của mình, vì toàn thể thể trí của chúng ta—vốn tự biểu lộ trong hình tướng thể chất của chính mình như một phàm ngã hay một cá tính—bất kể chúng ta là Bác sĩ, Luật sư, Nghệ sĩ, Doanh nhân nam hay nữ, chồng, vợ, cha, mẹ, v.v.

No material accomplishment can in itself bring complete peace in mind and happiness, though it is possible that mental accomplishment and mental achievement may bring such peace of mind without the corresponding material success. It is also true, however, that the application of knowledge intuitively or introspectively obtained from the internal forces of life, through use of the subjective faculties of mind, may, and does bring such physical success, aid, and material return. By virtue of this mankind may become relieved of the daily grindstone and obtain leisure for the higher moral and cultural development, and in this is the blessing of such material success.

Không một thành tựu vật chất nào tự thân có thể mang lại sự bình an trọn vẹn trong thể trí và hạnh phúc, dù việc hoàn tất và thành tựu trí tuệ có thể mang đến bình an như vậy ngay cả khi không song hành với thành công vật chất tương ứng. Tuy nhiên, cũng đúng là việc ứng dụng tri thức được thu nhận bằng trực giác hay nội quán từ các lực nội tại của sự sống—qua việc sử dụng các năng lực chủ quan của thể trí—có thể, và thật sự, mang đến thành công thể chất, sự trợ giúp, và lợi tức vật chất. Nhờ đó, nhân loại có thể được giải phóng khỏi cái cối xay hằng ngày và có thời giờ rỗi rãi cho sự phát triển đạo đức và văn hóa cao hơn, và chính trong điều này là phúc lành của thành công vật chất như thế.

The most effective method in general of obtaining this higher development is through service to mankind. In our own case, it may mean only service to our primary purpose, and its accomplishment for our institution, that incorporates the good along these educational lines, that may thus be accomplished for humanity. But our every movement with respect to the work, if it is to achieve success, must represent a cooperative willingness on our part, and in particular on the part of those of us who compose the Board of Trustees, to join hands and protect, propagate, and exploit the service to man that our work will initiate.

Phương pháp hiệu quả nhất nói chung để đạt được sự phát triển cao hơn này là thông qua phụng sự nhân loại. Trong trường hợp của chúng ta, điều đó có thể có nghĩa chỉ là phụng sự cho mục đích sơ khởi của mình, và sự thành tựu mục đích ấy cho định chế của chúng ta—định chế tích hợp điều thiện theo các đường hướng giáo dục như thế—để nhờ đó có thể mang lại cho nhân loại những điều ích lợi. Nhưng mọi bước tiến của chúng ta liên quan đến công việc, nếu muốn đạt thành công, đều phải biểu hiện một thiện chí hợp tác của chúng ta—và đặc biệt là của những người trong chúng ta cấu thành Hội đồng Quản trị—để nắm tay nhau và bảo vệ, truyền bá và triển khai sự phụng sự con người mà công việc của chúng ta sẽ khởi xướng.

The prophets of old ceased their wailing in troublous times, substituting service for admonition, that the remnants of a benighted race might be saved. The Master, the Prince of Peace Himself, served as no man before or since has served, just such a cause as our Association holds as its main purpose. That He at the right hand of Power should stoop to our lowly dwelling place on earth, that we should even hear His voice through a reading, proves that the ideals and truths of yesterday are still those of today, that our work is still His work, even as it was, while He, in the form of man, walked, lived and taught among men, and this despite our present-day scientific methods, and religious differences. It proves that He serves Man and God today as of old, and His example of service for evolution, and for creation, stands today as an example of service, for us.

Các tiên tri thuở xưa đã dừng tiếng than vãn trong thời buổi gian truân, thay thế lời khiển trách bằng phụng sự, để số sót lại của một giống dân tăm tối có thể được cứu rỗi. Đấng Thầy, chính Vị Hoàng Tử Hòa Bình, đã phụng sự cho một mục đích như mục đích chính yếu mà Hiệp hội chúng ta ôm giữ—một cách mà chưa từng có ai trước hay sau này phụng sự được như thế. Rằng Ngài, đang ngự bên hữu Quyền Năng, lại hạ mình đến nơi cư ngụ thấp hèn của chúng ta trên trần thế; rằng chúng ta thậm chí được nghe tiếng Ngài qua một bài đọc—điều đó chứng minh rằng các lý tưởng và chân lý của ngày hôm qua vẫn là những điều của ngày hôm nay; rằng công việc của chúng ta vẫn là công việc của Ngài, như trước kia, khi Ngài, trong hình tướng con người, đã bước đi, sống và dạy dỗ giữa loài người—và điều này bất chấp các phương pháp khoa học hiện đại và những dị biệt tôn giáo của chúng ta. Nó chứng minh rằng Ngài phụng sự Con người và Thượng đế hôm nay như thuở trước, và tấm gương phụng sự của Ngài vì sự tiến hóa, và vì công trình sáng tạo, hôm nay vẫn đứng như một tấm gương phụng sự cho chúng ta.

Let His example inspire us to join hands in harmony and covenant that so long as we, who form this human chain, shall live in the flesh, none inside or outside our ranks shall disturb or break through its protecting strength, and the harmony by which we again uphold the banner, upon which is stamped the ideal for which He lived and died, and for which He pleaded, and still pleads, for us to uphold His ideal of service is our ideal, and therefore, let us covenant to the extent of our human strength to carry out in cooperation, one with another, each in his his own place and field of endeavor, the one primary purpose of our organization, that as has been promised, He in return may establish His covenant in us, and through us glorify our work and ourselves.

Nguyện tấm gương của Ngài truyền cảm hứng để chúng ta nắm tay nhau trong hòa điệu và giao ước rằng chừng nào chúng ta—những người kết thành chuỗi dây nhân loại này—còn sống trong xác phàm, sẽ không ai ở bên trong hay bên ngoài hàng ngũ ta khuấy rối hay xuyên phá được sức mạnh bảo hộ của chuỗi dây ấy, cũng như hòa điệu mà nhờ đó chúng ta một lần nữa phò chính lá cờ, trên đó khắc ghi lý tưởng vì đó Ngài đã sống và chết, và vì đó Ngài đã cầu xin, và vẫn cầu xin, để chúng ta phò chính lý tưởng phụng sự của Ngài—vốn là lý tưởng của chúng ta; bởi vậy, chúng ta hãy giao ước, trong giới hạn sức người của mình, để thực thi trong hợp tác—người này với người kia—mỗi người ở vị trí và lĩnh vực nỗ lực của mình, một mục đích sơ khởi duy nhất của tổ chức chúng ta; để như đã được hứa, Ngài đáp lại bằng việc lập giao ước nơi chúng ta, và qua chúng ta làm hiển vinh công việc của chúng ta và chính chúng ta.

We have in this Association the individual development and ability that collectively make up perfection, power, mind, God, and man. It is true that weakness of the flesh creep in and manifest in our nature, yet even these may be overcome through a united devotion to the cause for which our Association stands, a cause whose devotion demands service through individual willingness to sacrifice personal aggrandizement.

Chúng ta có, trong Hiệp hội này, sự phát triển và năng lực cá thể mà cộng lại tạo nên sự trọn hảo, quyền năng, thể trí, Thượng đế và con người. Đúng là sự yếu đuối của xác thịt vẫn len lỏi và biểu hiện trong bản tánh chúng ta; tuy nhiên, ngay cả những điều ấy cũng có thể được khắc phục nhờ vào sự tận hiến hợp nhất cho chính nghĩa mà Hiệp hội chúng ta đại diện—một chính nghĩa mà lòng tận hiến đòi hỏi sự phụng sự xuyên qua thiện chí cá nhân sẵn sàng hy sinh sự tự tôn của bản ngã.

By application of all the faculties of mind that may be used to obtain experience and a true concept of life, fear, worry, and failure may be wiped from the slate of life, and power and glory and achievement become the ordinary possessions of each and every individual. It is our duty to serve man and God, that the human race may be so elevated and so educated and so specifically instructed in the method of application of their own intuitive faculties of mind, as to bring into the life of each individual that experience which will reveal to and for him the living and existing truth of his own soul being and its creative forces, in their relation to physical, spiritual, and universal existence.

Bằng việc vận dụng mọi năng lực của thể trí có thể dùng để có kinh nghiệm và hình thành một quan niệm chân thực về sự sống, sợ hãi, lo âu và thất bại có thể được xóa khỏi bảng sống, và quyền năng, vinh quang cùng thành tựu trở thành gia sản bình thường của từng người. Bổn phận của chúng ta là phụng sự con người và Thượng đế, để chủng loại nhân loại được nâng cao đến mức được giáo hóa như thế, và được chỉ dẫn cụ thể như thế trong phương pháp ứng dụng các năng lực trực giác của chính thể trí họ, hầu đưa vào đời sống của từng người trải nghiệm sẽ mặc khải cho y và vì y chân lý sống động và hiện tồn của bản thể linh hồn chính y và các lực sáng tạo của nó, trong liên hệ với hiện hữu thể chất, tinh thần và vũ trụ.

To the accomplishment of this end, we may extend such devotion and such service as to call forth the cooperation and protection and aid, yea the blessings and glorification, of the throne of Jehovah itself.

Vì sự thành tựu mục tiêu này, chúng ta có thể dâng hiến một lòng tận tụy và một sự phụng sự đủ để mời gọi sự hợp tác, che chở và trợ giúp—vâng, cả phước lành và sự hiển vinh—từ chính ngai tòa của Jehovah.

MORTON H. AND EDWIN D. BLUMENTHAL THOMAS B. BROWN

MORTON H. VÀ EDWIN D. BLUMENTHAL THOMAS B. BROWN

“AND THE WHOLE WORLD WAS OF ONE LANGUAGE, AND OF ONE SPEECH.”—Genesis, Ch. 11:1. “BY THEIR FRUITS YE SHALL KNOW THEM.”

“VÀ TOÀN THẾ GIỚI CHỈ CÓ MỘT NGÔN NGỮ, VÀ MỘT LỜI NÓI.”—Sáng Thế Ký, Chương 11:1. “XEM QUẢ THÌ BIẾT CÂY.”

RULES AND REGULATIONS OF THE ASSOCIATION

QUY LUẬT VÀ NỘI QUY CỦA HIỆP HỘI

1. QUALIFICATIONS: Every individual is qualified for membership, the only provision being that applicants must have faith in the Divine, around the psychic manifestations of which the activities of the Association hinge.

1. ĐIỀU KIỆN: Mọi cá nhân đều đủ điều kiện trở thành hội viên, điều kiện duy nhất là người xin gia nhập phải có đức tin nơi Đấng Thiêng Liêng—chung quanh các biểu hiện thông linh của Ngài mà các hoạt động của Hiệp hội xoay chuyển.

2. NUMBERS OF MEMBERS: At the present time no limitation has been placed upon the number of memberships.

2. SỐ LƯỢNG HỘI VIÊN: Hiện tại chưa có giới hạn nào được đặt ra đối với số lượng hội viên.

3. PRIVILEGES:

3. QUYỀN LỢI:

(a) Each member may apply for readings for himself or immediate unmarried members of the family. Readings will not be furnished unless applicant is a member of the Association, or a relation to a member (mother, father, husband, wife, or unmarried son, daughter, sister or brother).

(a) Mỗi hội viên có thể xin bài đọc cho chính mình hoặc cho các thành viên chưa kết hôn thuộc gia đình gần. Bài đọc sẽ không được cung cấp nếu người xin không phải là hội viên của Hiệp hội, hoặc là thân nhân của một hội viên (mẹ, cha, chồng, vợ, hoặc con trai, con gái, chị/em gái hay anh/em trai chưa kết hôn).

(b) Each member, and only a member, may be admitted to the hospital for treatment. The family rule does not apply with regard to entrance to the Institute.

(b) Chỉ hội viên mới được nhập viện để điều trị. Quy định về gia đình không áp dụng đối với việc vào Viện.

(c) Members together with their immediate family have access to library and lecture hall.

(c) Hội viên cùng gia đình gần của họ được quyền sử dụng thư viện và giảng đường.

(d) Members alone may take part in the research work of the Institute, or in any of the Association activities interesting to them, medical, educational, or in the field of social service.

(d) Chỉ hội viên mới có thể tham gia công tác nghiên cứu của Viện, hoặc bất kỳ hoạt động nào của Hiệp hội mà họ quan tâm—y khoa, giáo dục, hoặc trong lĩnh vực công tác xã hội.

(e) Members only may serve on one or more of the various committees of the corporation.

(e) Chỉ hội viên mới có thể phục vụ trong một hay nhiều ủy ban khác nhau của pháp nhân.

4. DUES AND CLASSES OF MEMBERSHIPS:

4. HỘI PHÍ VÀ CÁC HẠNG HỘI VIÊN:

(a) Associate Membership: This membership is a privilege to those who have had readings prior to the Association’s incorporation, merely upon application thereof, and entitles members to all privileges for one year, and is renewable. Dues for Associate members are $15 for the year. It is expected that this class of membership will not remain open very long.

(a) Hội viên Liên kết: Tư cách này là đặc quyền dành cho những người đã có bài đọc trước khi Hiệp hội được hợp pháp hóa, chỉ cần nộp đơn xin là được, và cho phép hưởng mọi quyền lợi trong một năm, có thể gia hạn. Hội phí hằng năm cho hội viên Liên kết là $15. Dự liệu rằng hạng hội viên này sẽ không mở lâu.

(b) Subscription Membership: The yearly dues for this membership are $20.00, and is open to all who have not previously had any experience in obtaining readings from the Association or from Mr. Cayce. It carries with it the privilege of an initial reading without any extra charge. The duration of this membership is for one year, and includes all the benefits and privileges of the Association for that time.

(b) Hội viên Đăng ký: Hội phí hằng năm cho hạng này là $20.00, và mở cho tất cả những ai trước đây chưa có trải nghiệm nhận bài đọc từ Hiệp hội hoặc từ Ông Cayce. Hạng này kèm đặc quyền được một bài đọc ban đầu mà không thu thêm phí. Thời hạn tư cách là một năm, bao gồm mọi quyền lợi và lợi ích của Hiệp hội trong thời gian đó.

(c) Life Membership: A payment of $250.00 is required, and is payable at one time when membership is granted. This entitles applicant to one reading, free of charge, and to the privileges of the Association for life without any further dues.

(c) Hội viên Trọn đời: Cần nộp $250.00, thanh toán một lần khi được chấp thuận hội viên. Hạng này cho phép người xin được một bài đọc miễn phí, và được hưởng quyền lợi của Hiệp hội suốt đời mà không phải nộp thêm hội phí.

(d) Endowment Membership: This embraces those who choose to endow any particular phase of the Association’s work, or the Association in general. It provides the means for organization to serve those who desire help from this source, and cannot afford any monetary contributions. This class of membership carries the same privileges as the Life Membership and includes those who choose to donate $1,000 or more to the Association.

(d) Hội viên Hiến tặng: Dành cho những ai chọn hiến tặng cho một phương diện cụ thể trong công việc của Hiệp hội, hoặc cho Hiệp hội nói chung. Hạng này cung ứng phương tiện để Tổ chức phục vụ những người mong muốn được giúp đỡ từ nguồn này nhưng không có điều kiện đóng góp tài chính. Hạng hội viên này mang các quyền lợi như Hội viên Trọn đời và dành cho những ai chọn quyên tặng $1,000 trở lên cho Hiệp hội.

5. HOW TO BECOME A MEMBER: Membership application blanks may be secured by writing to the Secretary of the Association (Mr. Edgar Cayce) at Virginia Beach, Va. The blank should be completely filled out and check for first year’s dues, for Life Membership or for donation, attached thereto, and both forwarded to the Secretary of the Corporation at the above address, who will acknowledge receipt of same. A membership card will be forwarded applicant upon his election to the Association. Should applicant, for any reason, not be elected, dues will be returned promptly. All inquiries by mail or in person should be made at the main office at Virginia Beach, Va., in care of Mr. Cayce.

5. CÁCH TRỞ THÀNH HỘI VIÊN: Có thể xin mẫu đơn gia nhập bằng cách viết thư cho Thư ký Hiệp hội (Ông Edgar Cayce) tại Virginia Beach, Va. Mẫu đơn cần được điền đầy đủ và đính kèm chi phiếu hội phí năm đầu, hoặc phí Hội viên Trọn đời, hoặc khoản quyên tặng, rồi gửi cả hai cho Thư ký của Pháp nhân theo địa chỉ trên; người nhận sẽ có thư báo nhận. Một thẻ hội viên sẽ được gửi cho người xin sau khi người đó được kết nạp vào Hiệp hội. Nếu vì bất kỳ lý do nào người xin không được kết nạp, hội phí sẽ được hoàn lại ngay. Mọi thắc mắc qua thư hoặc trực tiếp đều nên gửi về văn phòng chính tại Virginia Beach, Va., theo địa chỉ của Ông Cayce.

READINGS

CÁC BÀI ĐỌC

1. WHAT THEY ARE: Information from the psychic source on any subject presented.

1. CHÚNG LÀ GÌ: Thông tin từ nguồn thông linh về bất kỳ chủ đề nào được nêu ra.

2. KIND OF READINGS: Unless for special research work or for exceptional conditions, only two kinds of readings are given and they are as follows:

2. CÁC LOẠI BÀI ĐỌC: Trừ khi phục vụ công việc nghiên cứu đặc biệt hoặc trong những hoàn cảnh ngoại lệ, chỉ có hai loại bài đọc được thực hiện, như sau:

(a) PHYSICAL DIAGNOSES: This includes a thorough diagnosis of the body and brain forces, and also suggestions for treatment of existent disease or sickness.

(a) CHẨN ĐOÁN THỂ XÁC: Điều này bao gồm một chẩn đoán toàn diện về các lực của thể xác và bộ não, cùng các gợi ý điều trị những bệnh tật đang hiện hữu.

(b) LIFE READING: These include information on the evolutionary development of the individuality giving the history of the past development of the soul entity, including the potential ability evolved in past earth incarnation, which it, at the present time, makes manifest in the form of the personality peculiar to each of us. A most interesting treatise from the philosophical, theological, theosophical or metaphysical viewpoint, yet given in simple form for the layman.

(b) ĐỌC ĐỜI SỐNG: Những mục này bao gồm thông tin về sự phát triển tiến hoá của cá thể, trình bày lịch sử phát triển quá khứ của thực thể linh hồn, bao gồm cả năng lực tiềm tàng đã được phát triển trong các tiền kiếp trên trần thế, mà hiện tại biểu lộ dưới hình thức phàm ngã riêng biệt nơi mỗi người chúng ta. Một luận khảo hết sức thú vị từ quan điểm triết học, thần học, Thông Thiên Học hay siêu hình học, nhưng được trình bày giản dị cho người không chuyên.

3. QUALIFICATIONS:

3. ĐIỀU KIỆN:

(a) Applicant for a reading must be a member of the Association or an immediate unmarried member of the family.

(a) Người xin buổi đọc phải là hội viên của Hiệp hội hoặc là thành viên độc thân trong gia đình gần của hội viên.

(b) A book of application blanks for readings will be furnished each and every member. This may be secured by writing the Secretary at Virginia Beach, Va. No reading will be given unless an application blank is properly filled out and returned to the Secretary, together with the regular fixed fee of ten dollars. No other letter, information or explanation is required, other than called for on application blank. Location of applicant and time are no factors, as reading will be given in Virginia Beach for any member who applies, and who may be in any location, and at any appointed time. The subconscious knows no time or space.

(b) Mỗi hội viên đều được cung cấp một sổ mẫu đơn xin buổi đọc. Có thể nhận bằng cách viết cho Thư ký tại Virginia Beach, Va. Sẽ không có buổi đọc nào được thực hiện trừ khi mẫu đơn được điền đầy đủ và gửi lại cho Thư ký, kèm theo lệ phí cố định là mười đô-la. Không cần bất kỳ thư từ, thông tin hay giải thích nào khác ngoài những gì được yêu cầu trên mẫu đơn. Địa điểm của người xin và thời gian không phải là yếu tố, vì buổi đọc sẽ được thực hiện tại Virginia Beach cho bất kỳ hội viên nào nộp đơn, dù ở bất kỳ nơi đâu và vào bất kỳ thời điểm đã hẹn nào. Tiềm thức không biết đến thời gian hay không gian.

(c) In reply to the application for reading, the individual will receive from the Secretary or Assistant Secretary an appointment for a reading. The applicant for a physical reading must be at the address given on application blank at the time appointed for the taking of the reading. Applicants finding the time of appointment inconvenient, should so advise the Secretary immediately upon receipt of same, and ask for another appointment at another time. In the case of life readings, no appointment is necessary, but date and place of birth must be furnished. Applicant will be notified when this reading is to be taken.

(c) Trả lời đơn xin buổi đọc, đương sự sẽ nhận được từ Thư ký hoặc Trợ lý Thư ký một lịch hẹn cho buổi đọc. Người xin buổi đọc thể chất phải có mặt tại địa chỉ đã ghi trên mẫu đơn vào thời điểm đã hẹn để thực hiện buổi đọc. Những người thấy thời điểm hẹn không tiện nên báo ngay cho Thư ký khi nhận được lịch, và xin một lịch hẹn khác vào lúc khác. Đối với các buổi đọc đời sống, không cần hẹn, nhưng phải cung cấp ngày và nơi sinh. Người xin sẽ được thông báo khi nào buổi đọc này được thực hiện.

4. FEES: A regular fee of $10 is charged members for each reading, which must accompany application blank. Simply fill out the blank, attach check of $10, and send both to Secretary. The Association will then make the appointment, and Mr. Cayce will give the reading. Each member should keep a supply of application blanks on hand.

4. LỆ PHÍ: Lệ phí thường lệ là $10 cho mỗi buổi đọc dành cho hội viên, và phải gửi kèm mẫu đơn. Chỉ cần điền mẫu, đính kèm ngân phiếu $10, và gửi cả hai cho Thư ký. Hiệp hội sẽ sắp lịch hẹn, và Ông Cayce sẽ thực hiện buổi đọc. Mỗi hội viên nên luôn có sẵn một số mẫu đơn trong tay.

5. RESEARCH: Readings of this character will be taken for and by properly authorized individuals, and are open for inspection to all members. Any choosing to visit the institute and view the work are welcome, provided the number visiting at any one time is not so great as to be detrimental to the comfort of patients, and the carrying on of the work itself. There will be positively no readings taken as tests, for only those who have faith in the living, active, divine or psychic forces, existent within, are eligible to membership or to apply for help from the psychic source.

5. NGHIÊN CỨU: Những buổi đọc thuộc loại này sẽ được thực hiện cho và bởi những cá nhân được uỷ quyền đúng mức, và mở cho mọi hội viên xem xét. Bất kỳ ai chọn đến thăm viện và xem công việc đều được hoan nghênh, miễn là số người đến thăm tại một thời điểm không quá đông đến mức gây bất tiện cho bệnh nhân và ảnh hưởng đến chính công việc đang tiến hành. Tuyệt đối không thực hiện buổi đọc nào như các bài thử nghiệm, vì chỉ những ai có đức tin nơi các mãnh lực sống động, linh hoạt, thiêng liêng hoặc thông linh, vốn hiện hữu bên trong, mới đủ tư cách làm hội viên hoặc xin trợ giúp từ nguồn thông linh.

LIBRARY AND LECTURE HALL

THƯ VIỆN VÀ GIẢNG ĐƯỜNG

All members have free access to the Library and Lecture Hall to the extent of accommodations.

Tất cả hội viên đều được tiếp cận miễn phí Thư viện và Giảng đường trong giới hạn sức chứa.

GOVERNING BODY

CƠ QUAN ĐIỀU HÀNH

1. The vote and governing body consists of a Board of ten to fifteen Trustees herein named.

1. Quyền bỏ phiếu và cơ quan điều hành gồm một Hội đồng mười đến mười lăm Ủy viên Quản trị được nêu tên tại đây.

2. The Board is limited by the charter granted by the state of Virginia and by the by-laws hereinafter set forth.

2. Hội đồng bị giới hạn bởi hiến chương do bang Virginia cấp và bởi các điều lệ quy định dưới đây.

3. No class of membership possesses the privilege of vote. All members insofar as relationship to the Association is concerned are bound by rules, regulations, and laws passed by the Board of Trustees.

3. Không có hạng hội viên nào có đặc quyền bỏ phiếu. Tất cả hội viên, xét theo mối liên hệ với Hiệp hội, đều chịu sự ràng buộc bởi các quy tắc, quy định và luật do Hội đồng Ủy viên Quản trị ban hành.

4. Members may join in this work by serving on committees and by donating financially for the benefit of the poor, the sick and the crippled. No organization offers greater opportunity for individual and collective service for the benefit of suffering humanity.

4. Hội viên có thể tham gia công việc này bằng cách phục vụ trong các ủy ban và bằng cách đóng góp tài chính vì lợi ích của người nghèo, người bệnh và người tàn tật. Không có tổ chức nào mang lại cơ hội lớn hơn cho phụng sự cá nhân và tập thể vì lợi ích của nhân loại đang đau khổ.

DONATIONS

ĐÓNG GÓP

1. Aside from membership dues, any donations from $1.00 up are welcome. Every dollar donated will be spent to help the poor and the sick who are unable to pay for aid, or will go towards the upkeep of the hospital and educational work of the Association. Each donation will be acknowledged.

1. Ngoài hội phí, mọi khoản đóng góp từ $1.00 trở lên đều được hoan nghênh. Mỗi đô-la đóng góp sẽ được dùng để giúp đỡ người nghèo và người bệnh không có khả năng chi trả, hoặc sẽ dùng cho việc duy tu bệnh viện và công tác giáo dục của Hiệp hội. Mỗi khoản đóng góp đều sẽ được ghi nhận.

2. Donors who choose to become benefactors of humanity may endow a number of memberships for the benefit of the poor, or further this beautiful work by endowing some phase of its activity—the hospital, library, etc.

2. Những nhà hảo tâm chọn trở thành ân nhân của nhân loại có thể tài trợ một số tư cách hội viên cho người nghèo, hoặc phát triển công việc tốt đẹp này bằng cách tài trợ một số phương diện hoạt động của tổ chức—bệnh viện, thư viện, v.v.

3. The money, as provided by the State charter and by-laws, goes towards fighting disease, helping the sick and poor, or for educational purposes as well as research work in the field of psychic phenomena, but nothing for individual profit.

3. Theo quy định của hiến chương bang và điều lệ, tiền sẽ được dùng để chống bệnh tật, giúp người bệnh và người nghèo, hoặc cho mục đích giáo dục cũng như công tác nghiên cứu trong lĩnh vực hiện tượng thông linh, và tuyệt đối không nhằm lợi nhuận cá nhân.

PUBLICATIONS

ẤN PHẨM

All publications and publicity of the Association is under the supervision of the Educational Committee and the Publication Editor. The membership dues include a yearly subscription to The New Tomorrow, which is published in October, January, April, and July of each year. The Annual Report is published in May of each year and distributed to such members as care to subscribe to it.

Mọi ấn phẩm và công tác truyền thông của Hiệp hội nằm dưới sự giám sát của Ủy ban Giáo dục và Tổng biên tập Ấn phẩm. Hội phí bao gồm một đăng ký thường niên tờ The New Tomorrow, xuất bản các tháng Mười, Một, Tư và Bảy mỗi năm. Báo cáo Thường niên được xuất bản vào tháng Năm hằng năm và phân phối cho những hội viên đăng ký nhận.

BY-LAWS OF THE CORPORATION

ĐIỀU LỆ CỦA PHÁP NHÂN

ARTICLE 1—NAME AND SEAL This corporation shall be known by the name of Association of National Investigators, Incorporated, and shall have a common seal, which shall be kept in custody of the Secretary-Treasurer.

ĐIỀU 1—TÊN GỌI VÀ CON DẤU Pháp nhân này sẽ được biết đến với tên Association of National Investigators, Incorporated, và có một con dấu chung, được giữ bởi Thư ký-Thủ quỹ.

ARTICLE 2—OFFICERS The officers of the Corporation shall be a President, six vice-presidents, a secretary-treasurer, and an assistant secretary, who shall be elected by the Trustees for a period of three years and shall hold office until their successors are elected and qualify. Position of Secretary and Treasurer may be united in one person.

ĐIỀU 2—CÁC CHỨC VIỆC Các chức việc của Pháp nhân gồm một Chủ tịch, sáu Phó chủ tịch, một Thư ký-Thủ quỹ và một Trợ lý Thư ký, do các Ủy viên Quản trị bầu ra với nhiệm kỳ ba năm và giữ chức đến khi người kế nhiệm được bầu và đủ điều kiện. Chức vụ Thư ký và Thủ quỹ có thể kiêm nhiệm bởi một người.

The President shall preside at all meetings and shall have general supervision of the affairs of the Corporation; shall sign all deeds, and necessary papers, and perform such other duties as generally belong to the office. In the absence or disability of the President, the Vice-President shall exercise all of his functions. It shall be the duty of the Secretary-Treasurer to keep a record of the minutes of the Trustees in a book to be provided for that purpose. He shall keep such book of accounts, as may be necessary and he shall keep all moneys, deeds, bonds, valuable papers, and securities of the corporation. He shall keep the accounts of the corporation and render a statement at each annual meeting of the Trustees, and perform such other duties as generally belong to his office. He shall be custodian of all funds, and sign all checks. All expenditures shall be made upon proper authorization.

Chủ tịch sẽ chủ tọa mọi cuộc họp và có quyền giám sát chung các công việc của Pháp nhân; sẽ ký tất cả văn tự và các giấy tờ cần thiết, và thực hiện các nhiệm vụ khác vốn thuộc chức vụ. Khi Chủ tịch vắng mặt hoặc không đủ khả năng, Phó chủ tịch sẽ thực thi mọi chức năng của Chủ tịch. Thư ký-Thủ quỹ có nhiệm vụ ghi chép biên bản các Ủy viên Quản trị vào một sổ dành cho mục đích đó. Ông sẽ giữ các sổ sách kế toán cần thiết và giữ tất cả tiền, văn tự, khế ước, giấy tờ có giá và chứng khoán của pháp nhân. Ông sẽ giữ sổ sách kế toán của pháp nhân và trình bày báo cáo tại mỗi kỳ họp thường niên của các Ủy viên Quản trị, và thực hiện các nhiệm vụ khác vốn thuộc chức vụ. Ông sẽ là người giữ các quỹ và ký tất cả ngân phiếu. Mọi khoản chi tiêu phải được thực hiện theo uỷ quyền thích hợp.

ARTICLE 3—ANNUAL MEETING The regular annual meeting of the Trustees shall be held at twelve o’clock noon on the first Saturday of June each year in the principal office of the corporation and if such day be a holiday then the said meeting shall be held on the Monday following the first Saturday of June. A majority shall constitute a quorum.

ĐIỀU 3—ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN Kỳ họp thường niên của các Ủy viên Quản trị sẽ được tổ chức lúc mười hai giờ trưa vào thứ Bảy đầu tiên của tháng Sáu hằng năm tại trụ sở chính của pháp nhân, và nếu ngày đó là ngày nghỉ lễ thì cuộc họp sẽ diễn ra vào thứ Hai liền sau thứ Bảy đầu tiên của tháng Sáu. Đa số sẽ cấu thành túc số.

ARTICLE 4—PRINCIPAL OFFICE The principal office of the corporation shall be at Virginia Beach, Virginia.

ĐIỀU 4—TRỤ SỞ CHÍNH Trụ sở chính của pháp nhân đặt tại Virginia Beach, Virginia.

ARTICLE 5—SPECIAL MEETINGS Special meetings of the Trustees may be held at such place as they may deem proper, whenever called in writing or by vote of a majority of the Trustees and shall be held at least four times a year, but at least two of these meetings shall be held at Virginia Beach, Virginia. Notices of each special meeting indicating briefly the object thereof shall be mailed by the Secretary to the Trustees not less than five days prior to such meetings. If all the trustees shall waive notice of said special meeting, no notice of such meeting will be required and when all the trustees meet in person or by proxy, such meetings shall be valid, for all purposes without call or notice, and at such meetings any corporate action may be taken.

ĐIỀU 5—CÁC CUỘC HỌP BẤT THƯỜNG Các cuộc họp bất thường của các Ủy viên Quản trị có thể được tổ chức tại nơi họ cho là thích hợp, bất cứ khi nào được triệu tập bằng văn bản hoặc theo biểu quyết của đa số Ủy viên Quản trị, và sẽ được tổ chức ít nhất bốn lần một năm, nhưng ít nhất hai trong số đó phải tổ chức tại Virginia Beach, Virginia. Thư ký sẽ gửi thư thông báo mỗi cuộc họp bất thường, nêu tóm tắt mục đích, cho các Ủy viên Quản trị không muộn hơn năm ngày trước cuộc họp. Nếu tất cả Ủy viên Quản trị từ bỏ quyền nhận thông báo cuộc họp bất thường nói trên, thì không cần thông báo; và khi tất cả các Ủy viên Quản trị nhóm họp trực tiếp hoặc qua uỷ quyền, các cuộc họp như vậy sẽ hợp lệ cho mọi mục đích mà không cần triệu tập hay thông báo, và tại các cuộc họp đó có thể thực hiện bất kỳ hành động pháp nhân nào.

ARTICLE 6—TRUSTEES The maximum number of Trustees shall be fifteen with a minimum number of ten. Vacancies occurring in the Trustees shall be filled by election of said trustees upon a majority vote. The Trustees shall serve for a period of three years. The Trustees shall have full control of the affairs of the corporation, control of all funds, gifts, and endowments, and the voting power shall be vested in and limited to the said Trustees. They shall have full power to appoint and relieve the necessary committees for the carrying on of the affairs and purposes of the corporation and have full power to delegate to said committees such powers as they deem wise. Voting may be done by proxy. The Trustees shall make all appropriation of funds of the corporation, and all property of the corporation shall be under their control. No activity of the Corporation shall be for private profit. The Trustees shall have full power to buy, sell, exchange, or encumber the real estate of the Corporation.

ĐIỀU 6—CÁC ỦY VIÊN QUẢN TRỊ Số lượng tối đa các Ủy viên Quản trị là mười lăm, tối thiểu là mười. Chỗ khuyết trong Hội đồng sẽ được bầu bổ sung bằng đa số phiếu của các Ủy viên Quản trị. Các Ủy viên Quản trị phục vụ với nhiệm kỳ ba năm. Các Ủy viên Quản trị có toàn quyền kiểm soát công việc của pháp nhân, kiểm soát mọi quỹ, quà tặng và tài trợ, và quyền biểu quyết sẽ được trao và giới hạn ở các Ủy viên Quản trị nói trên. Họ có toàn quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm các ủy ban cần thiết để điều hành công việc và mục đích của pháp nhân và có toàn quyền uỷ nhiệm cho các ủy ban đó những thẩm quyền mà họ cho là khôn ngoan. Có thể bỏ phiếu qua uỷ quyền. Các Ủy viên Quản trị sẽ thực hiện mọi phân bổ quỹ của pháp nhân, và tất cả tài sản của pháp nhân sẽ thuộc quyền kiểm soát của họ. Không hoạt động nào của Pháp nhân nhằm mục đích lợi nhuận tư. Các Ủy viên Quản trị có toàn quyền mua, bán, trao đổi hoặc thế chấp bất động sản của Pháp nhân.

ARTICLE 7—COMMITTEES Committees appointed by the Trustees shall elect their own chairman and the said chairman shall report direct to the said Trustees. Committees shall have full power to act for the purposes for which they are appointed and have full authority over funds appropriated for their use by the Trustees. All funds received by committees shall be reported to the Treasurer. Each committee shall establish its own by-laws, schedules of fees and rules, but shall make no rules in violation of these by-laws, the laws of any State or Governmental body. Members of the committees shall be confined to members of the Corporation, but not necessarily members of the Trustees. All committees shall report at least once each year to the Trustees.

ĐIỀU 7—CÁC ỦY BAN Các ủy ban do các Ủy viên Quản trị bổ nhiệm sẽ tự bầu chủ tịch, và chủ tịch đó sẽ báo cáo trực tiếp cho các Ủy viên Quản trị. Các ủy ban có toàn quyền hành động theo mục đích được bổ nhiệm và có toàn quyền đối với các quỹ được các Ủy viên Quản trị phân bổ cho việc sử dụng. Mọi quỹ do các ủy ban tiếp nhận phải được báo cáo cho Thủ quỹ. Mỗi ủy ban sẽ thiết lập điều lệ riêng, biểu phí và nội quy, nhưng không được ban hành quy định nào trái với các điều lệ này hoặc luật của bất kỳ Bang hay cơ quan Chính phủ nào. Thành viên các ủy ban sẽ giới hạn trong phạm vi hội viên của Pháp nhân, nhưng không nhất thiết phải là Ủy viên Quản trị. Tất cả các ủy ban phải báo cáo ít nhất mỗi năm một lần cho các Ủy viên Quản trị.

ARTICLE 8—MEMBERSHIP The membership shall consist of those who desire to become members and who are willing to contribute to the work of the Corporation, the amount to be determined by the Trustees as the minimum membership fee. Members shall have no vote, but the voting power shall be vested in the Trustees. The number of members shall be limited as may be determined by the Trustees. The Trustees may designate a class of members as charter members and provide for other classes of members as they deem wise. Members shall have entree [entry?] into the sanitarium or hospital. Except upon conditions laid down by State laws, only members will be received, or those entering must become members of the Association. Emergency cases that cannot await approval of membership committee may be admitted to hospital and their membership enacted upon by committees thereafter. With these exceptions no non-member shall be admitted to hospital. The hospital shall be granted a certain number of emergency memberships by the central board, when and if the memberships quota of the Association is filled, such that emergency applications for entrance to the hospital may be cared for, provided that institution is not full.

ĐIỀU 8—TƯ CÁCH HỘI VIÊN Tư cách hội viên gồm những người mong muốn trở thành hội viên và sẵn lòng đóng góp vào công việc của Pháp nhân, với mức tối thiểu do các Ủy viên Quản trị ấn định làm hội phí tối thiểu. Hội viên không có quyền bỏ phiếu; quyền bỏ phiếu thuộc về các Ủy viên Quản trị. Số lượng hội viên sẽ được giới hạn theo quyết định của các Ủy viên Quản trị. Các Ủy viên Quản trị có thể chỉ định một hạng hội viên là hội viên sáng lập và quy định các hạng hội viên khác theo họ cho là khôn ngoan. Hội viên sẽ có entree [vào?] dưỡng đường hoặc bệnh viện. Trừ khi theo các điều kiện đặt ra bởi luật Bang, chỉ hội viên mới được tiếp nhận, hoặc người vào phải trở thành hội viên của Hiệp hội. Các ca khẩn cấp không thể chờ phê duyệt của ủy ban hội viên có thể được nhập viện và sau đó ủy ban sẽ quyết định về tư cách hội viên của họ. Ngoài những ngoại lệ này, không hội viên nào sẽ được nhập viện. Bệnh viện sẽ được Ban trung ương cấp một số lượng hội viên khẩn cấp, khi và nếu hạn ngạch hội viên của Hiệp hội đã đủ, để có thể tiếp nhận các đơn khẩn cấp xin nhập viện, miễn là cơ sở chưa đầy.

Members of the Association alone may have access to the institutions of the Associations—may participate in the work and benefits to be derived from same. Members alone shall have access to library, research work, records, hospital within, of course the laws provided for this by the committees in charge of these institutions. Members alone shall be entitled to readings, subject to the regulation of gaining such. Members may signify their desire to join any phase of the hospital, social service, research, library, publication, educational, etc., work of the Association and shall be granted the privilege of engaging in same in accordance with the laws of same and needs of same. Readings shall be furnished by appointment and no guarantee of same is made, the time and granting of the request depending upon previous engagements. Each and every request shall be subject to approval of Mr. Cayce. On motion duly made and seconded, it was resolved that the officers and Trustees as named, in the Certificate of Incorporation, be, and they are hereby elected as officers and members of the Board of Trustees for the ensuing year, or until their successors are elected and qualify.

Chỉ riêng hội viên của Hiệp hội mới có quyền tiếp cận các cơ sở của Hiệp hội—có thể tham gia vào công việc và hưởng các lợi ích từ đó. Chỉ hội viên mới được tiếp cận thư viện, công tác nghiên cứu, hồ sơ, bệnh viện, tất nhiên theo các luật do các ủy ban phụ trách những cơ sở này quy định. Chỉ hội viên mới được quyền thụ nhận các buổi đọc, tuỳ theo quy định về việc xin nhận. Hội viên có thể bày tỏ mong muốn tham gia bất kỳ phương diện nào của công tác bệnh viện, công tác xã hội, nghiên cứu, thư viện, ấn loát, giáo dục, v.v., của Hiệp hội và sẽ được trao đặc quyền tham gia theo các luật của từng bộ phận và nhu cầu của bộ phận đó. Các buổi đọc sẽ được cung cấp theo lịch hẹn và không có bảo đảm, thời điểm và việc chấp thuận yêu cầu tuỳ thuộc vào các cam kết đã có. Mọi yêu cầu đều phải được Ông Cayce chấp thuận. Theo kiến nghị hợp lệ được đề xuất và có người tán thành, đã quyết nghị rằng các chức việc và Ủy viên Quản trị như nêu trong Giấy Chứng nhận Thành lập được, và theo đây, bầu làm chức việc và thành viên Hội đồng Ủy viên Quản trị cho năm kế tiếp, hoặc cho đến khi người kế nhiệm được bầu và đủ điều kiện.

On motion duly made and adopted a seal was presented at the meeting with the words, “Association of National Investigators, Incorporated, Virginia Beach, Virginia, 1927.”

Theo kiến nghị hợp lệ được thông qua, một con dấu đã được trình tại phiên họp với dòng chữ, “Association of National Investigators, Incorporated, Virginia Beach, Virginia, 1927.”

THE INSTITUTE HOSPITAL

BỆNH VIỆN CỦA VIỆN

The Cayce Hospital of Research and Enlightenment was founded by the Association of National Investigators, Inc., and the members of this organization, on November 11, 1928. It is an imposing structure, erected on a hillside overlooking the Atlantic Ocean, at Virginia Beach, Va. The front of the hospital looks out upon a flower-studded terrace of green, beyond which the broad expanse of water may be seen. The equipment of the hospital is modern and complete in every detail, including therapeutic and X-ray machines and facilities for baths. Every possible effort is made by those in charge to give the utmost comfort and convenience to each patient. Broad, roomy porches surround two floors of the building, and the south side of the upper porch is enclosed in the vitaglass, so that patients are not only given the utmost in comfort but the utmost in healthful surroundings.

Cayce Hospital of Research and Enlightenment được thành lập bởi Association of National Investigators, Inc., và các hội viên của tổ chức này, vào ngày 11 tháng 11 năm 1928. Đây là một công trình bề thế, được dựng trên sườn đồi nhìn ra Đại Tây Dương, tại Virginia Beach, Va. Mặt tiền bệnh viện hướng ra một sân thượng xanh rợp hoa, phía xa là mênh mông sóng nước. Trang thiết bị bệnh viện hiện đại và đầy đủ đến từng chi tiết, bao gồm các máy trị liệu và X-quang và các tiện nghi tắm trị liệu. Những người phụ trách nỗ lực hết sức để mang đến sự tiện nghi và thoải mái tối đa cho mỗi bệnh nhân. Những hàng hiên rộng rãi bao quanh hai tầng của toà nhà, và phía nam của hiên tầng trên được bao bằng vitaglass, để bệnh nhân không chỉ được hưởng sự thoải mái tối đa mà còn được sống trong môi trường tối ưu cho sức khoẻ.

The lower floor includes Therapeutic and bath rooms, as well as an X-Ray, laboratory and dispensary. The main floor includes a large living room, spacious dining hall, diet and cooking kitchens, together with offices, treatment rooms, and living quarters for the physician in charge. There is also on this floor a library and lecture hall. The hospital floor is one flight up. It includes rooms overlooking beautifully terraced grounds and the broad expanse of the ocean. Others face the healthful pine forests for which Virginia Beach is noted. There are also two wards, each furnished with a bath. Each of the pay rooms has a connecting bath, so that every patient will be given those comforts necessary to home life and beneficial to convalescence. The top floor is laid out for patients more active than others. A 12-car garage in the rear is finished off with living quarters for the servants. A nurses’ home is under construction. This has been made necessary as the hospital has been entirely filled and more space for patients was needed. The construction of this home will release ten additional beds for the use of patients. The surrounding country is ideally located for such an institution and such an important scientific investigation as our investigators seek to make in this hospital.

Tầng dưới gồm các phòng Trị liệu và phòng tắm, cũng như phòng X-quang, phòng xét nghiệm và phòng phát thuốc. Tầng chính gồm một phòng sinh hoạt lớn, phòng ăn rộng rãi, bếp chế độ ăn và bếp nấu, cùng với các văn phòng, phòng điều trị và khu ở cho bác sĩ phụ trách. Trên tầng này còn có một thư viện và giảng đường. Tầng bệnh nhân ở trên cao thêm một tầng. Tầng này có các phòng nhìn ra khuôn viên bậc thang tuyệt đẹp và mặt biển mênh mông. Những phòng khác nhìn về phía các rừng thông giàu sinh khí vốn là đặc trưng của Virginia Beach. Cũng có hai phòng bệnh tập thể, mỗi phòng có phòng tắm. Mỗi phòng thu phí đều có phòng tắm thông nhau, để mọi bệnh nhân được hưởng những tiện nghi cần thiết cho đời sống gia đình và có lợi cho quá trình dưỡng bệnh. Tầng trên cùng được bố trí cho những bệnh nhân hoạt động nhiều hơn. Một gara 12 xe ở phía sau được hoàn thiện kèm khu ở cho người phục vụ. Một nhà dành cho y tá đang được xây dựng. Điều này trở nên cần thiết vì bệnh viện đã kín chỗ hoàn toàn và cần thêm không gian cho bệnh nhân. Việc xây dựng nhà này sẽ giải phóng thêm mười giường cho bệnh nhân sử dụng. Khu vực xung quanh là nơi lý tưởng cho một cơ sở như vậy và cho một cuộc khảo cứu khoa học quan trọng như các nhà điều tra của chúng ta mong thực hiện trong bệnh viện này.

Bounded by the Atantic Ocean on one side, Chesapeake Bay on the other, with a beautifully wooded mainland, the environment of Virginia Beach is conducive to health. Its beautiful hotels, golf courses and beach activities, as well as the interesting drives through historic country are assurance against monotony. The hum of industry, the rush of the city, and the usual playground are all absent from Virginia Beach, and the air about the place is full of quiet charm and comfort. It is little wonder that the readings themselves gave this place as the ideal location for the hospital, and for the radiation of truths pertaining to psychic phenomenon and the mystic. In this place, and in this manner, does the Association carry on its humanitarian activities.

Được bao bọc bởi Đại Tây Dương ở một phía, Vịnh Chesapeake ở phía kia, cùng vùng đất liền rừng cây tươi tốt, môi trường của Virginia Beach rất có lợi cho sức khoẻ. Những khách sạn tuyệt đẹp, sân golf và các hoạt động bãi biển, cũng như những tuyến đường thú vị đi qua các vùng đất lịch sử, giúp xua tan đơn điệu. Tiếng ồn công nghiệp, sự hối hả đô thị và những khu vui chơi thông thường đều vắng bóng ở Virginia Beach, và bầu không khí nơi đây tràn đầy nét duyên yên tĩnh và dễ chịu. Chẳng có gì lạ khi chính các buổi đọc đã chỉ ra nơi này là địa điểm lý tưởng cho bệnh viện, và cho việc lan tỏa những chân lý liên quan đến hiện tượng thông linh và huyền nhiệm. Tại nơi này, và bằng cách này, Hiệp hội thực thi các hoạt động nhân đạo của mình.

Each individual must enroll as a member of the Association before obtaining entrance to the hospital. It is planned to make the institution an educational as well as a medical center, and in order that this correlated purpose may be achieved the hospital includes a lecture hall and library. The building itself is constructed of concrete and shingles, so built as to allow additions whenever sufficient funds enable the Association to expand in their work of healing the sick and relieving the suffering, whether from physical or mental causes. Thousands of dollars have been spent on the grounds and the hospital building, and thousands more will be spent that this glorious task may reach a successful pinnacle.

Mỗi người phải ghi danh làm hội viên của Hiệp hội trước khi được nhập viện. Dự kiến xây dựng cơ sở này thành một trung tâm giáo dục cũng như y khoa, và để đạt được mục tiêu phối hợp này, bệnh viện có một giảng đường và thư viện. Bản thân toà nhà được xây bằng bê tông và ván lợp, thiết kế sao cho có thể mở rộng bất cứ khi nào tài lực cho phép Hiệp hội phát triển công cuộc chữa lành người bệnh và xoa dịu đau khổ, dù do nguyên nhân thể chất hay tâm trí. Hàng ngàn đô-la đã được chi cho khuôn viên và toà nhà bệnh viện, và sẽ còn nhiều ngàn nữa được chi để sứ mệnh vinh quang này đạt đến đỉnh thành công.

APPENDIX E—PHỤ LỤC E

THE CAYCE HOSPITAL DEDICATION—LỄ CUNG HIẾN BỆNH VIỆN CAYCE

An Address by William Mosely Brown,1

Bài diễn văn của William Mosely Brown,1

November 11, 1928

Ngày 11 tháng 11 năm 1928

To me this occasion is a wonderful one. And you must think so, too, or you would not be here. It marks the consummation of the efforts of years. Work, and much of it; perseverance and consecrated devotion to a new and little recognized cause; but, most of all, prayer and faith have culminated in the achievement which stands before you today, the visible results of the labors of those who have allied themselves with this Association for the benefit of mankind. And what is greater than devotion to a cause which is bigger and more inclusive than oneself? “Tell me what your ambition is,” said someone, “and I will tell you what you are.” But, with all the visible evidence which stands before you today, it is but a small part of what has already been done or, Providence permitting, will be done in the years to come.

Với tôi, đây là một dịp trọng đại. Và hẳn quý vị cũng nghĩ vậy, nếu không đã chẳng có mặt nơi đây. Nó đánh dấu sự viên thành của nỗ lực nhiều năm. Lao động, và rất nhiều; kiên trì và dâng hiến vì một sự nghiệp mới mẻ còn ít được nhìn nhận; nhưng trên hết, cầu nguyện và niềm tin đã kết đọng thành thành tựu đang sừng sững trước mắt quý vị hôm nay, kết quả hữu hình của công phu những ai đã liên hiệp mình với Hiệp hội này vì lợi ích nhân loại. Và có gì lớn lao hơn dâng hiến cho một sự nghiệp rộng lớn và bao gồm hơn chính bản thân mình? “Hãy nói cho tôi tham vọng của anh là gì,” có người đã nói, “và tôi sẽ nói anh là ai.” Nhưng, với tất cả những gì hữu hình đang đứng trước mắt hôm nay, đó mới chỉ là một phần nhỏ của những gì đã được làm, hoặc, nếu Thiên ý cho phép, sẽ được làm trong những năm tới.

This is a great occasion, and a happy one. I congratulate the founders of this movement—and they are here among us—for the vision which they have conceived of the possibilities of this new line of study and investigation. I honor those who have contributed of their time and means to bring about the realization, at least to some extent, of a dream of years. I believe that this “experimental laboratory,” which has as its chief object the utilization of any knowledge, any discovery, any invention, which will make life fuller and richer for human beings, will become renowned as a center of truth and wisdom and, to use the expression of Emerson, “the world will make a beaten path to its front door.”

Đây là một dịp trọng đại, và hân hoan. Tôi chúc mừng những người sáng lập phong trào này—và họ đang ở giữa chúng ta—vì tầm nhìn họ đã nắm bắt được về các khả thể của hướng nghiên cứu và khảo cứu mới này. Tôi trân trọng những ai đã góp công góp của để hiện thực, ít nhất phần nào, giấc mơ nhiều năm. Tôi tin rằng “phòng thí nghiệm thực nghiệm” này, vốn lấy mục tiêu chủ đạo là vận dụng bất cứ tri thức, khám phá, phát minh nào có thể làm cho đời sống con người đầy đặn và phong phú hơn, sẽ trở nên lừng danh như một trung tâm của chân lý và minh triết, và, mượn lời Emerson, “thế gian sẽ dọn một lối mòn đến tận cửa trước của nó.”

Religion and science, philosophy and psychology, the truths discovered by the ancients as well as by the moderns will be equally welcome here. Nothing is banned except trickery, sham, falsehood. All truths will be used so far as it may be applicable to the betterment of human life, no matter who was its discoverer or in what country or age it was found. “An ambitious project,” you say. Ah yes, but unless we can bring together under one roof, as it were, and into one laboratory religious, scientific, philosophic, and every other kind of truth, we shall not have that integration of human knowledge which is the sine qua non of all human progress. Here, then, we have a pioneer institution in the field of human endeavor. As human life itself is a most complex process involving all kinds of experience, so we find here a kind of laboratory in which human life will go forward but under observable and controlled conditions, so far as possible. This is not merely a physical or a psychological or even a theological laboratory as such. Much more than that, it is a center in which the rather unusual attempt is made to bring every kind of truth together as needed in the solution of the particular problem under investigation. Always, however, the motif is the betterment of human life and all other endeavors are to be subsidiary to this chief aim. So far as I am aware, such an undertaking has never been attempted before in this country, and probably in the entire world. Here will be your expert in medicine, another expert in psychology, another in theology, another in chemistry, another in psychiatry, and so on as many as may be needed and can be provided with the funds in hand. There are in this country today thousands of specialized laboratories, each of which limits itself to one particular field of investigation. But never before has there been a concerted and successful effort to bring together in one single laboratory every kind of discovery possible which will give the patient, or the subject, relief from his trouble, be it physical, mental, or spiritual. Surely this is a pioneer enterprise and more; it is even daring in its scope. And it has every possibility and probability of success! Nor must we think of this new venture as being anything less than a venture in faith. It is not proposed to introduce mystery and hocus-pocus as elements in the procedure. Neither does anyone connected with it hope that, by some hitherto undiscovered means, it will be possible to concoct some “elixir of life,” or to unearth the “philosopher’s stone,” or to lay bare the secrets of the “fountain of youth.” The scientific attitude will pervade the inmost recesses of this building and will characterize all who work within its walls. “Truth for the sake of the Truth” shall be its motto, and whoever finds himself out of harmony with this program must either get “in tune” or depart in peace. And there is no limit to truth and its uses. In theory and in practice, the only effective way to combat the bonds of ignorance and superstition and to fight the ravages of physical and mental disease is to discover the truth, and yet more truth. Every experience must contain a modicum of truth, and, by a slow process of accretion, we arrive at the truth about many things. All real progress in the long history of humanity is marked by milestones of truth erected by its devotees along the highway of time.

Tôn giáo và khoa học, triết học và tâm lý học, các chân lý do cổ nhân cũng như người thời nay khám phá sẽ được chào đón như nhau ở đây. Chỉ loại trừ gian trá, giả dối, hư ngụy. Mọi chân lý sẽ được sử dụng chừng nào có thể áp dụng vào việc cải thiện đời sống con người, bất kể ai là người khám phá, ở quốc gia hay thời đại nào. “Một dự án đầy tham vọng,” quý vị nói. Ồ vâng, nhưng trừ khi chúng ta có thể gom lại dưới một mái nhà, như cách nói, và vào một phòng thí nghiệm, các chân lý tôn giáo, khoa học, triết học và mọi loại chân lý khác, chúng ta sẽ không có được sự tích hợp tri thức nhân loại—điều kiện không thể thiếu cho mọi tiến bộ của con người. Vậy ở đây, chúng ta có một cơ sở tiên phong trong lĩnh vực nỗ lực nhân sinh. Cũng như chính đời sống con người là một tiến trình hết sức phức hợp bao hàm mọi loại kinh nghiệm, chúng ta thấy ở đây một kiểu phòng thí nghiệm trong đó đời sống con người sẽ tiến bước nhưng dưới những điều kiện có thể quan sát và kiểm soát, trong chừng mực có thể. Đây không chỉ là một phòng thí nghiệm thể chất, hay tâm lý học, hay thậm chí thần học đơn thuần. Hơn thế nhiều, đây là một trung tâm nơi diễn ra nỗ lực khá khác thường là đem mọi loại chân lý lại với nhau khi cần để giải quyết vấn đề cụ thể đang khảo sát. Tuy nhiên, xuyên suốt, chủ âm là cải thiện đời sống con người và mọi nỗ lực khác sẽ là thứ yếu đối với mục tiêu chủ chốt này. Theo hiểu biết của tôi, một công cuộc như vậy chưa từng được thực hiện ở đất nước này, và có lẽ trên toàn thế giới. Ở đây sẽ có chuyên gia của quý vị về y khoa, một chuyên gia khác về tâm lý học, một vị khác về thần học, một vị khác về hoá học, một vị khác về tâm thần học, và cứ thế, nhiều bao nhiêu cần và có thể cung cấp theo khả năng quỹ hiện có. Ở đất nước này hôm nay có hàng ngàn phòng thí nghiệm chuyên biệt, mỗi nơi tự giới hạn trong một lĩnh vực khảo cứu riêng. Nhưng trước nay chưa từng có nỗ lực tập trung và thành công nào để đem vào một phòng thí nghiệm duy nhất mọi loại khám phá khả hữu nhằm đem lại sự nhẹ nhõm cho người bệnh, hay đối tượng, khỏi nỗi khổ của mình—dù là thể chất, tâm trí, hay tinh thần. Chắc chắn đây là một doanh nghiệp tiên phong và còn hơn thế; nó táo bạo trong tầm vóc. Và nó có mọi khả năng và triển vọng thành công! Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng cuộc phiêu lưu mới này là điều gì kém hơn một cuộc phiêu lưu trong đức tin. Không định đưa vào trong tiến trình những điều bí ẩn hay trò phù phép. Cũng không ai liên đới hy vọng rằng, bằng một phương kế nào đó chưa từng được biết đến, có thể điều chế “thuốc trường sinh”, hay tìm ra “đá của nhà giả kim”, hay phơi bày bí mật của “suối trường sinh”. Thái độ khoa học sẽ thấm vào tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất của toà nhà này và sẽ là phẩm chất của tất cả những ai làm việc trong bốn bức tường của nó. “Chân lý vì chính Chân lý” sẽ là châm ngôn của nơi đây, và ai cảm thấy mình không hoà hợp với chương trình này thì hoặc “hòa điệu” hoặc rút lui trong bình an. Và chân lý cùng công dụng của nó là vô hạn. Về mặt lý thuyết lẫn thực hành, cách hữu hiệu duy nhất để phá vỡ xiềng xích vô minh và mê tín và để chống lại sự tàn phá của bệnh tật thể chất và tâm thần là khám phá chân lý, và lại thêm chân lý nữa. Mỗi kinh nghiệm hẳn chứa một phần chân lý, và, bằng quá trình tích lũy chậm rãi, chúng ta đạt tới chân lý về nhiều điều. Mọi tiến bộ đích thực trong lịch sử dài của nhân loại đều được đánh dấu bằng những mốc chân lý do những người tận hiến dựng lên dọc đường thời gian.

Nineteen hundred years ago the Great Teacher said: “I am come that they might have life, and that they might have it in abundance.” On another occasion He asserted: “Ye shall know the truth and the truth shall make you free.” And if He were once more here in the flesh today, I believe that He would give utterance to the same expressions as being most fitting for an occasion like this. He knew the aspirations of man for the fullness of life. He understood that every philosopher—and who among us is not one?—was undertaking to set up for himself and others a goal toward which they might strive with some assurance that they would discover reality on arriving at the goal. For many a one, to be sure, his philosophy proved to be little better than the allurement of the bag of gold at the end of the rainbow or the songs of the sirens to the luckless mariners who became their victims. The end of those things was but too often bitterness and death.

Một nghìn chín trăm năm trước, Huấn Sư Vĩ Đại đã phán: “Ta đã đến, để họ có sự sống, và để họ có được sự sống sung mãn.” Lần khác, Ngài khẳng quyết: “Các ngươi sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ giải phóng các ngươi.” Và nếu hôm nay Ngài lại hiện thân nơi trần thế, tôi tin Ngài cũng sẽ thốt lên những lời ấy như là thích đáng nhất cho một dịp như thế này. Ngài biết khát vọng của con người về sự viên mãn của đời sống. Ngài hiểu rằng mỗi triết gia—mà ai trong chúng ta lại không phải là một người như thế?—đều cố dựng lên cho mình và cho người khác một đích đến để họ có thể phấn đấu với một mức bảo đảm nào đó rằng họ sẽ gặp thực tại khi tới đích. Dĩ nhiên, với không ít người, triết lý của họ hoá ra chẳng khác gì sự quyến rũ của túi vàng ở cuối cầu vồng, hay khúc ca của các nữ yêu trên biển với những thuỷ thủ xấu số trở thành nạn nhân của họ. Hậu quả của những điều ấy quá thường là đắng cay và chết chóc.

Almost since the beginning of time hedonistic philosophers have been with us. Nor have they disappeared yet by any means. “The aim of all life is pleasure,” say they. Enjoy yourself; “eat, drink, and be merry, for tomorrow you die.” One of them, Omar Khayyam, sang long ago as follows:

Gần như từ thuở đầu thời gian, các triết gia khoái lạc chủ nghĩa đã có mặt giữa chúng ta. Và họ vẫn chưa biến mất bằng bất kỳ nghĩa nào. “Đích đến của mọi đời sống là khoái lạc,” họ nói. Hãy hưởng thụ; “ăn, uống, và vui vẻ, vì ngày mai anh sẽ chết.” Một người trong số họ, Omar Khayyam, từ lâu đã ngâm như sau:

Ah, my beloved, fill the cup that cheers

Ôi người tình dấu ái, rót ly đầy niềm vui

Today of past regrets and future fears:

Hôm nay, xua nuối tiếc hôm qua, quên sợ hãi ngày mai:

Tomorrow? Why tomorrow I may be

Ngày mai ư? Mai biết đâu ta lại là

Myself with yesterday’s seven thousand years.

Chính ta của bảy nghìn năm hôm qua.

The Epicureans and the Stoics, of Greek fame, had little more than this with which to comfort their declining years. But it failed to work out in human experience, which is the final test of any doctrine or theory. And, for twentieth-century living, such a formula would hardly suffice, though many are still trying to use it as a basis for personal development.

Phái Khoái lạc và Phái Khắc kỷ, vang danh người Hy Lạp, cũng chẳng có gì hơn thế để an ủi những năm tháng tàn. Nhưng nó đã thất bại trong đời sống con người—vốn là phép thử cuối cùng của mọi học thuyết hay lý thuyết. Và, cho đời sống thế kỷ hai mươi, công thức như thế hầu như không đủ, dù vẫn có nhiều người đang cố dùng nó làm nền tảng phát triển cá nhân.

Others among the Greek philosophers, notably Socrates and Plato, and a rather noteworthy (though somewhat obscure) writer named Cebes, conceived of happiness as being the underlying principle and the real aim of life. “Eudaimonia,” they called it—“living under the auspices of a good divinity.” And a wonderful advance this was over the notion of living on the pleasure principle solely. In fact, it is difficult, if not impossible, to explain how these pagan philosophers reached such a high pinnacle of truth with the type of background and experience which characterized them. But living under the auspices of a good divinity is not a very good way to attain to fullness of living. There is always and omnipresent the chance that the divinity might become offended with you and the tables will be turned; constant fear and dread that the very ground might be cut away from under your feet. Therefore, appease the divinity, for

Những triết gia Hy Lạp khác, đáng kể là Socrates và Plato, và một tác giả khá đáng chú ý (dù có phần mờ nhạt) tên Cebes, quan niệm hạnh phúc là nguyên lý nền tảng và mục đích thực sự của đời sống. Họ gọi đó là “Eudaimonia”—“sống dưới sự che chở của một vị thần lành.” Và đó là một bước tiến tuyệt vời so với quan niệm chỉ sống theo nguyên tắc khoái lạc. Thật vậy, khó mà giải thích, nếu không muốn nói là bất khả, làm sao những triết gia ngoại giáo ấy lại vươn tới đỉnh cao chân lý như thế với nền tảng và kinh nghiệm như họ vốn có. Nhưng sống dưới sự che chở của một vị thần lành không phải là con đường tốt để đạt đến đời sống viên mãn. Luôn có, và ở khắp nơi, nguy cơ vị thần ấy có thể nổi giận với bạn và mọi sự đảo chiều; nỗi sợ hãi và lo âu thường trực rằng nền tảng dưới chân có thể bị rút mất. Vì vậy, hãy làm nguôi giận vị thần, vì

There’s a Divinity that shapes our ends,

Có một Vị Thần định đoạt đoạn cuối đời ta,

Rough hew them as you will.

Dẫu ta đẽo gọt thô kệch đến đâu.

Is it any wonder, consequently, that the great Greek tragedians were gripped by the cold fear of divinities of various kinds, and that the chief theme of all their tragedies is the absolute impossibility of escaping from the decrees of fate? Such divinities are usually quite arbitrary in their dealings with mankind and woe betide to the poor man who might, even innocently, offend them. Perchance, however, by living the “good life” one might be able to reach such a degree of attainment that one would be able to live under good auspices for the rest of his days. All of which proved a poor substitute for the pleasure principle, since happiness in any real sense was unattainable in this life. One of the Greek philosophers, Solon, is said to have stated that he counted no man happy until after he was dead. A pleasant prospect indeed for most of us! Nor does the teaching of the Buddhists offer us a much better goal in life. By contemplation we may, forsooth, finally arrive at the point where we shall have the doubtful pleasure, if such it may be called, of being absorbed into the all-nothingness-Nirvana. Negativism has here found its fullest fruition and the motive of all living becomes loss of individuality, of all personal qualities, and, eventually, of even the power of thought and will. A pleasant prospect for the child or the person who is in the health and vigor of young manhood or young womanhood! No Nirvana for them, they say. Let us have something else. And the doctrine of Buddhism fails to stand the test of experience. Mohammed offered to the faithful a place in the seventh heaven, which was characterized by all sorts of sensual delights; and each Mohammedan warrior who died in battle against the “infidels” was also to have at his disposal in the other world eight beautiful maidens called “houris” to do with as he liked. A type of reward which was calculated to make men wish to die rather than live, and doubtless one of the chief reasons for the fierceness and utter abandon with which the followers of the prophet fought the Christians. But nonetheless, all this was worth little when it came to bearing the burdens and solving the problems brought on by facing the stern realities of life. Dying is the escape from reality which is sought by fools and irresponsible people. The person who holds to the steadfast conviction that there is, after all, something more to life than mere existence, when he meets a stone wall, climbs over it, or digs through it or under it, or gets around it in some way, and is straightway eager to tackle the next obstacle which dares to present itself. The Indian with his aspirations to arrive finally at the “happy hunting ground” knew little of the fullness of life of which we in these latter years so often speak. Nor have those who practice the strictest kind of self-abnegation and self-immolation, mortifying and disfiguring their bodies, come any nearer to discovering the “Open Sesame” to real living. For there is no secret connected with the matter at all, unless we choose to think of it as an open secret. Even the Monastics of the Middle Ages, in their retirement from the world and their physical and spiritual discipline, were not able to find the way to real living. They labored over their manuscripts and their litanies; they chastised themselves unmercifully at times. They thought that they had separated themselves from all danger of contamination which might be found in the world outside. True, they studied and poured over their Latin Testaments. But they never seem to have discovered the significance of the Sermon on the Mount, or, indeed, to have realized its very existence.

Thế nên, có gì lạ khi các bi kịch gia Hy Lạp vĩ đại bị cơn sợ lạnh người về những vị thần muôn kiểu chế ngự, và chủ đề chính của mọi bi kịch của họ là sự bất khả tuyệt đối thoát khỏi những sắc dụ của định mệnh? Những vị thần như thế thường hết sức độc đoán trong cách đối xử với loài người và khốn thay cho kẻ khốn khổ nào, dẫu vô tình, xúc phạm đến họ. Tuy nhiên, may ra, bằng cách sống “đời sống thiện lương”, người ta có thể đạt tới mức sống dưới điềm lành cho đến cuối đời mình. Tất cả những điều đó rốt cuộc tỏ ra chỉ là một thứ thay thế tệ hại cho nguyên tắc khoái lạc, vì hạnh phúc, theo bất cứ nghĩa thực nào, là bất khả trong đời này. Một triết gia Hy Lạp, Solon, được cho là đã nói rằng ông không coi ai là hạnh phúc cho đến sau khi người ấy chết. Quả là một viễn cảnh “dễ chịu” cho hầu hết chúng ta! Giáo lý của Phật giáo cũng không đem lại mục tiêu sống tốt đẹp hơn bao nhiêu. Bằng chiêm ngưỡng, chúng ta có thể, giả như vậy, rốt cuộc đến chỗ có được cái thú vị còn đáng ngờ—nếu có thể gọi là thú vị—là được hoà tan vào cái “hư vô toàn thể”—Niết-bàn. Ở đây chủ nghĩa phủ định đạt chín muồi nhất và động cơ của toàn thể đời sống trở thành đánh mất tính cá thể, mọi phẩm tính cá nhân, và, cuối cùng, ngay cả năng lực tư tưởng và ý chí. Một viễn cảnh “dễ chịu” cho trẻ nhỏ hay người đang dồi dào sức sống và sinh lực của tuổi trẻ! “Không Niết-bàn cho chúng tôi,” họ nói. “Hãy cho chúng tôi điều gì khác.” Và giáo lý Phật giáo không đứng vững trước phép thử của kinh nghiệm. Mohammed đã hứa cho tín đồ một nơi ở tầng trời thứ bảy, tràn đầy mọi thú vui xác thịt; và mỗi chiến binh Hồi giáo ngã xuống trong trận chiến chống “dị giáo” cũng sẽ có tám mỹ nữ “tiên” gọi là “houri” phục dịch tuỳ ý. Một kiểu phần thưởng khuyến khích người ta thà chết còn hơn sống, và hẳn là một trong những nguyên nhân chính cho sự dữ dội và buông bỏ tất cả trong cách các môn đồ tiên tri đánh trận với người Kitô hữu. Nhưng dù thế, tất cả những điều này chẳng ích gì khi phải gánh vác và giải quyết các vấn đề do việc đối mặt những thực tại khắc nghiệt của đời sống. Chết là lối thoát khỏi thực tại mà những kẻ dại dột và vô trách nhiệm tìm kiếm. Người giữ vững xác tín rằng sau rốt, đời sống còn hơn hẳn một sự tồn tại đơn thuần, khi gặp bức tường đá, thì trèo qua, hoặc đào xuyên, hoặc luồn dưới, hoặc vòng qua cách nào đó, và liền đó háo hức đương đầu với chướng ngại kế tiếp dám thách thức mình. Người Da đỏ với khát vọng sau cùng đến “cõi săn bắn hạnh phúc” biết rất ít về sự viên mãn của đời sống mà chúng ta trong những năm sau này thường nói đến. Những ai thực hành lối tự phủ định và tự huỷ khắc nghiệt nhất, hành hạ và làm tổn hại thân xác mình, cũng chẳng đến gần hơn việc khám phá “Vừng ơi, mở ra” của đời sống đích thực. Vì chẳng có bí mật nào ở đây cả, trừ phi ta chọn coi đó là một bí mật lộ thiên. Ngay cả những tu sĩ ẩn tu thời Trung cổ, trong ẩn cư và kỷ luật thể xác, tinh thần của họ, cũng không tìm ra con đường đến đời sống chân thực. Họ cần mẫn bên các bản thảo và các kinh cầu; đôi khi khổ hạnh mình không chút nương tay. Họ nghĩ rằng mình đã tách khỏi mọi nguy cơ ô nhiễm có thể có nơi thế giới bên ngoài. Đúng là họ học tập và miệt mài với các Bản Kinh Thánh bằng La-tinh. Nhưng họ dường như không bao giờ khám phá được ý nghĩa của Bài Giảng trên Núi, hoặc thậm chí không nhận ra sự hiện hữu của nó.

“Blessed are the poor in spirit; for theirs is the kingdom of heaven.

“Phúc cho những ai nghèo khó trong tinh thần; vì Nước Trời là của họ.

“Blessed are they that mourn …

“Phúc cho những ai sầu khổ …

“Blessed are the meek …

“Phúc cho những ai hiền hoà …

“Blessed are they which do hunger and thirst for righteousness …

“Phúc cho những ai đói khát sự công chính …

“Blessed are the merciful …

“Phúc cho những ai biết xót thương …

“Blessed are the pure in heart …

“Phúc cho những ai thanh sạch trong lòng …

“Blessed are the peacemakers …

“Phúc cho những ai kiến tạo hoà bình …

“Blessed are they which are persecuted for righteousness’ sake…”

“Phúc cho những ai bị bách hại vì công chính…”

Here then we have it! Seek blessedness; seek God; for these are one and the same. Certainly we have not yet discovered anything to surpass this spiritual emancipation proclamation, and, in a very real sense, we must regard it as a bodily emancipation proclamation likewise. In such organizations as that which is to do its work here we find joined inseparably the belief in the sanctity of the body as well as that of the spirit.

Vậy là chúng ta đã thấy! Hãy kiếm tìm phúc lành; hãy kiếm tìm Thượng đế; vì hai điều này là một. Chắc chắn đến nay chúng ta chưa khám phá ra điều gì vượt trội bản tuyên ngôn giải phóng tinh thần này, và, theo một nghĩa rất thực, chúng ta cũng phải xem đó là một bản tuyên ngôn giải phóng thân thể. Trong những tổ chức như tổ chức sẽ thực hiện công việc tại đây, chúng ta thấy được sự kết hợp bất khả phân giữa niềm tin vào sự thiêng liêng của thân xác cũng như của tinh thần.

There has been in some quarters an attempt to divorce philosophy from science by the insistence upon the attitude that the scientist must not speculate regarding anything and that the philosopher must not trespass upon the boundaries of scientific inquiry by obtruding his theories and his moralizations upon the scientist. A wholly inadequate view of the factors which enter into human progress and experience is this, and one which likewise will not stand the test of experience itself. For, does not your man of practical affairs live by his philosophy as well as by his science?

Ở một số nơi, đã có những nỗ lực tách rời triết học khỏi khoa học bằng cách khăng khăng rằng nhà khoa học không được suy diễn về bất kỳ điều gì và nhà triết học không được xâm phạm biên giới khảo cứu khoa học bằng việc áp đặt các thuyết lý và sự luân lý hoá của mình lên nhà khoa học. Đây là một cái nhìn hoàn toàn bất cập về các yếu tố tham gia vào tiến bộ và kinh nghiệm con người, và cũng là một cái nhìn không đứng vững trước phép thử của kinh nghiệm. Vì, chẳng phải người làm công việc thực tế cũng sống theo triết lý của mình như sống theo khoa học đó sao?

We all benefit indeed from the advances in scientific inquiry and our life is, to be sure, largely dependent upon what the scientists contribute to the “amenities of living.” But it is, after all, one’s philosophy of life which determines one’s aims, one’s ambitions, one’s ideals, one’s objectives, and, consequently and ultimately, one’s final success in the business of living. Some would have us believe that science and philosophy are as oil and water; they will not mix. On the contrary, the fact is that they have, so to speak, an affinity for each other and the one is indispensable to the other. Surely,

Thật vậy, tất cả chúng ta đều hưởng lợi từ những bước tiến của khảo cứu khoa học và đời sống của chúng ta, dĩ nhiên, phần lớn lệ thuộc vào những gì nhà khoa học đóng góp cho “sự tiện ích của cuộc sống.” Nhưng sau rốt, chính triết lý sống quyết định mục tiêu, hoài bão, lý tưởng, đối tượng của một người, và vì vậy, tối hậu, là thành công sau cùng của người ấy trong công cuộc sống. Có người muốn chúng ta tin rằng khoa học và triết học như dầu và nước; chúng không thể hoà trộn. Trái lại, sự thật là chúng, như thể, có khuynh hướng hấp dẫn nhau và cái này là điều không thể thiếu cho cái kia. Quả đúng là:

A man’s reach should exceed his grasp,

Tầm với của con người nên vượt quá cái nắm của mình,

Or what’s a heaven for?

Bằng không thì trời để làm gì?

Dr. B. R. Buckingham, one of our most distinguished students of education from the scientific point of view, has the following to say on this particular point:

Tiến sĩ B. R. Buckingham, một trong những học giả lỗi lạc nhất của chúng ta về giáo dục theo quan điểm khoa học, có nói như sau về điểm này:

“To divorce philosophy and research is impossible—as impossible as to divorce experimental from introspective psychology, and for the same reason. Without the descriptive and speculative processes the experimental or scientific lacks interpretation. Without the scientific methods, philosophical inquiry lacks concreteness. Without science, philosophy is uncertain, conflicting, unconvincing. Without philosophy, science is blind, unmeaning, and petty. We can imagine no more helpful educational organization than that which should exalt both philosophy and research. For example, a school of education in a great university should in our judgment elevate its research activities through the directive and refining influence of the best philosophical thought. This does not appear to be thought of. The craze today is for measurement—for counting and comparing in quantitative terms. It would be as silly as it would be untrue for us to deprecate this type of thinking. But there comes a time when the merely quantitative seems incomplete and unsatisfactory. We observe, moreover, that those research workers are most influential who appeal most frequently to higher sanctions than central tendencies or curves of error.”

“Tách rời triết học và nghiên cứu là điều bất khả—bất khả y như việc tách rời tâm lý học thực nghiệm khỏi tâm lý học nội quan, và vì cùng một lý do. Không có các tiến trình mô tả và suy diễn, cái thực nghiệm hay cái khoa học thiếu sự diễn giải. Không có các phương pháp khoa học, khảo cứu triết học thiếu tính cụ thể. Không có khoa học, triết học bất định, mâu thuẫn, không thuyết phục. Không có triết học, khoa học mù mờ, vô nghĩa, và vụn vặt. Chúng tôi không thể hình dung một tổ chức giáo dục nào hữu ích hơn tổ chức sẽ tôn vinh cả triết học lẫn nghiên cứu. Chẳng hạn, một trường sư phạm trong một đại học lớn, theo quan điểm của chúng tôi, nên nâng các hoạt động nghiên cứu của mình lên thông qua ảnh hưởng chỉ đạo và gạn lọc của tư duy triết học ưu tú nhất. Điều này dường như chưa được nghĩ đến. Cơn sốt ngày nay là đo lường—đếm và so sánh bằng các thuật ngữ định lượng. Sẽ ngớ ngẩn như sẽ không đúng nếu chúng tôi chê bai kiểu tư duy này. Nhưng có lúc cái thuần tuý định lượng tỏ ra không trọn vẹn và không thoả đáng. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất là những người thường xuyên kêu gọi những thẩm quyền cao hơn là các khuynh hướng trung tâm hay các đường cong sai số.”

Thus we find ourselves forced to the conclusion that, in order to attain to the highest and best that is within us, we must utilize the discoveries of the philosopher and of the scientist as well. Both are pushing forward the frontiers of human knowledge and experience; both are using hypotheses, which gradually assume that standing of theories as they are fortified by more and more evidence, and which finally assume the status of law and principle as the evidence becomes in each case practically conclusive.

Vậy nên chúng ta buộc phải đi đến kết luận rằng, để đạt tới điều cao nhất và tốt nhất nơi chính mình, chúng ta phải đồng thời vận dụng các khám phá của nhà triết học và của nhà khoa học. Cả hai đang đẩy lùi các đường biên của tri thức và kinh nghiệm con người; cả hai đang sử dụng các giả thuyết, dần dần mang vị thế của lý thuyết khi được củng cố bởi mỗi lúc một nhiều bằng chứng hơn, và sau cùng đạt địa vị của định luật và nguyên tắc khi bằng chứng, trong từng trường hợp, gần như mang tính kết luận.

The natural sciences, such as biology, astronomy, geology, physics, and chemistry, are not the only fields to which the term “science” may be legitimately applied. There are social sciences as well—sociology, economics, political science or government. Even history itself, so long as it adopts the scientific point of view and the scientific method, should be considered in this class. Then, in addition, there is another group of sciences which partake partly of the nature of the natural sciences and partly of that of the social sciences, yet which are making a most important contribution to the advancement of human society.

Các khoa học tự nhiên, như sinh học, thiên văn học, địa chất học, vật lý học, và hoá học, không phải là những lĩnh vực duy nhất mà thuật ngữ “khoa học” có thể được áp dụng một cách chính đáng. Cũng có các khoa học xã hội—xã hội học, kinh tế học, khoa học chính trị hay khoa học chính quyền. Ngay cả lịch sử, miễn là nó tiếp nhận quan điểm và phương pháp khoa học, cũng nên được xếp vào nhóm này. Rồi, thêm nữa, có một nhóm khoa học khác, một phần mang bản chất của khoa học tự nhiên và một phần mang bản chất của khoa học xã hội, nhưng đang đóng góp hết sức quan trọng cho sự thăng tiến của xã hội loài người.

Among these may be listed such fields of study as psychology, public health and preventive medicine, mental hygiene, eugenics, euthenics, and the like. It is quite apparent, therefore, that any attempt to draw hard and fast distinctions between the natural sciences and the social sciences must in the end get us into trouble and lead us to the place where we shall assume an entirely artificial outlook upon the various components of human experience. We must “keep our feet on the ground,” stick to the realities, face the facts always. Human knowledge is not contained in airtight or logic-tight compartments, nor do we have first a chemical experience, then a physical experience, then a mental experience, then a political experience as such. All the elements of experience become blended in such a way, as a matter of actual practice, that it is virtually impossible for us to separate them one from the other.

Trong số này có thể kể đến các lĩnh vực như tâm lý học, y tế công cộng và y học dự phòng, vệ sinh tâm thần, khoa cải tạo di truyền (eugenics), khoa cải thiện điều kiện sống (euthenics), và tương tự. Rõ ràng, mọi nỗ lực vạch ra những ranh giới cứng nhắc giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội rốt cuộc sẽ đẩy chúng ta vào rắc rối và dẫn đến chỗ chúng ta khoác lên các thành tố của kinh nghiệm con người một cách nhìn hoàn toàn nhân tạo. Chúng ta phải “giữ chân trên mặt đất”, bám vào thực tại, luôn đối diện với sự kiện. Tri thức con người không nằm trong những ngăn kín khí hay kín logic, cũng không phải chúng ta có trước một kinh nghiệm hoá học, rồi một kinh nghiệm vật lý, rồi một kinh nghiệm tâm trí, rồi một kinh nghiệm chính trị như thế. Tất cả các yếu tố của kinh nghiệm, trên thực tế, được hoà trộn cách mà hầu như không thể tách rời chúng khỏi nhau.

When the body is dissected, individuality and personality are inevitably lost. So, when an experience is broken up into its parts, it ceases to be experience. It is true that, while philosophy and religion may be characterized by the same eagerness for the discovery of truth as that which is found among the scientists, yet they do not limit themselves to the same subject-matter. The scientist is primarily interested in the material universe, which can be measured, weighed, perceived objectively with the instruments which he has devised for this purpose. But the philosopher and the theologian go over into realms which the scientist does not touch—not that he is afraid to touch them or that he denies their existence. The silence of the scientist on certain matters is sometimes misinterpreted by those who do not know the mind of the scientist, and the statement is made that he denies the validity of things which he cannot perceive through the senses. As a matter of fact, the day of skepticism, agnosticism, and atheism has, at least in America, passed away and it is not longer “the thing to do” to deny the existence of a Supreme Being. In the place of this attitude, which prevailed in some quarters, a half century ago, there has come a conviction that not all can be explained in material terms and that the universe itself is not the result of the operation of blind forces upon material substances. The great difficulty for most of us is, that we must change our point of view somewhat and we must learn, as it were, a new language when we go from our special field of study and research over into another field, which is equally complex and difficult to understand. But this fact does not make the transition from the one field to the other an impossibility, and there are many among us who have succeeded in surmounting the difficulties involved, much to our own delight and edification.

Khi thân thể bị giải phẫu, cá tính và phàm ngã tất yếu bị đánh mất. Tương tự, khi một kinh nghiệm bị bẻ vụn thành các phần, nó không còn là kinh nghiệm. Đúng là, trong khi triết học và tôn giáo có thể được đặc trưng bởi cùng một hăm hở khám phá chân lý như nơi các nhà khoa học, thì họ không tự giới hạn trong cùng một đối tượng. Nhà khoa học chủ yếu quan tâm đến vũ trụ vật chất—cái có thể đo, cân, cảm thụ một cách khách quan bằng các công cụ ông đã phát minh cho mục đích đó. Nhưng nhà triết học và nhà thần học đi vào các lĩnh vực mà nhà khoa học không chạm tới—không phải vì ông sợ chạm đến hay ông phủ nhận sự hiện hữu của chúng. Sự im lặng của nhà khoa học về một số vấn đề đôi khi bị những người không hiểu tâm trí của nhà khoa học hiểu lầm, và người ta tuyên bố rằng ông phủ nhận giá trị của những điều ông không thể tri giác qua giác quan. Thực ra, thời của chủ nghĩa hoài nghi, bất khả tri và vô thần—ít nhất ở Mỹ—đã qua, và không còn là “một điều hợp mốt” để chối bỏ sự hiện hữu của một Đấng Tối Cao. Thay cho thái độ từng tồn tại ở một số nơi cách đây nửa thế kỷ, đã đến một xác tín rằng không phải mọi thứ đều có thể giải thích bằng các thuật ngữ vật chất và rằng bản thân vũ trụ không phải là kết quả của hoạt động của các lực mù quáng lên các chất liệu vật chất. Khó khăn lớn nhất cho hầu hết chúng ta là, chúng ta phải thay đổi phần nào quan điểm và chúng ta phải học, như thể, một ngôn ngữ mới khi đi từ lĩnh vực chuyên môn của mình sang một lĩnh vực khác, vốn phức tạp và khó hiểu không kém. Nhưng thực tế ấy không làm cho sự chuyển tiếp từ lĩnh vực này sang lĩnh vực kia trở nên bất khả, và đã có nhiều người trong chúng ta vượt qua được những khó khăn liên hệ, làm chúng ta vui mừng và được soi sáng.

Now all of this must inevitably lead us to the conclusion that there is a need of a more serious attempt at the integration of the sciences than there has been heretofore, in order to provide a more solid and certain basis for the future progress of the human race. In a limited degree we are already providing for this kind of integration, but we must go much further if we would hope to have our efforts meet with even a moderate degree of success. And here, in this new laboratory, conceived and built along new lines and for larger purposes than many of us can now realize, we have one of the first and most concrete attempts to bring together under one roof all those discoveries, laws, and principles which offer any promise of relieving human suffering, in mind, body, spirit, and of ministering to the highest welfare of those who may come here for assistance and guidance.

Tất cả những điều này tất yếu dẫn chúng ta đến kết luận rằng cần có một nỗ lực nghiêm túc hơn nhằm tích hợp các khoa học so với trước nay, để có thể cung cấp một nền tảng vững chắc và chắc chắn hơn cho tiến bộ tương lai của nhân loại. Ở một mức độ hạn chế, chúng ta đã cung cấp dạng tích hợp này, nhưng chúng ta phải đi xa hơn nữa nếu muốn hy vọng rằng nỗ lực của mình đạt được dù chỉ một mức độ thành công vừa phải. Và ở đây, trong phòng thí nghiệm mới này, được hình dung và xây dựng theo những đường hướng mới và cho những mục đích lớn lao hơn nhiều so với những gì nhiều người trong chúng ta hiện có thể hình dung, chúng ta có một trong những nỗ lực đầu tiên và cụ thể nhất nhằm đem dưới một mái nhà tất cả những khám phá, định luật và nguyên tắc nào hứa hẹn sẽ làm vơi bớt khổ đau của con người—trong tâm trí, thân xác, tinh thần—và phục vụ phúc lợi cao nhất của những ai đến đây để được trợ giúp và chỉ dẫn.

Who can compass the possibilities of such an organization and such a center? Only time can tell the story adequately. It may be that the results of the work done here in this place will mark the beginning of a new era for the cause of humanity. Others will undoubtedly come to observe the methods used and the effects achieved. The advances in the entire realm of human endeavor over the past twenty-five years lead me to believe that we have but scratched the surface of what will be known and achieved within the next century. The radio, the airplane, the automobile, television, and all the advances which are being made in this “era of electricity” are but an earnest of many still greater things to come. Who can say what we shall soon find out as to mental telepathy, the characteristics of the sub-conscious mind, the influence of mind on body, and a thousand and one similar things? Indeed, I have come literally to believe that all things are possible to them that believeth. The millennium will be upon us ere we are aware of it!

Ai có thể bao quát hết mọi khả thể của một tổ chức và một trung tâm như thế? Chỉ thời gian mới có thể kể trọn câu chuyện. Có thể rằng kết quả của công việc thực hiện tại nơi này sẽ đánh dấu khởi đầu của một kỷ nguyên mới cho sự nghiệp nhân loại. Chắc chắn sẽ có những người khác đến quan sát các phương pháp được sử dụng và các hiệu quả đạt được. Những bước tiến trong toàn cõi nỗ lực nhân sinh suốt hai mươi lăm năm qua khiến tôi tin rằng chúng ta mới chỉ gãi nhẹ trên bề mặt những gì sẽ được biết và đạt được trong thế kỷ tới. Đài phát thanh, máy bay, ô tô, truyền hình, và mọi bước tiến đang được thực hiện trong “thời đại điện khí” này chỉ là một bảo chứng cho nhiều điều còn vĩ đại hơn nữa sẽ đến. Ai dám nói chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ khám phá được gì về viễn cảm, các đặc trưng của tiềm thức, ảnh hưởng của thể trí lên thể xác, và hàng ngàn điều tương tự? Thật vậy, tôi đã thực sự tin rằng mọi sự đều có thể cho kẻ tin. Thời kỳ thiên niên kỷ sẽ đến với chúng ta trước khi ta kịp hay biết!

The day of miracles is not past but has only begun. And I recall that, on one occasion, the Master Himself said: “The works that I do shall ye do also, and greater things than these shall ye do, because I go unto my Father.” “Greater things than these,” you will notice; that is, greater things even than the miracles which His humble followers had seen Him perform as He walked up and down in the little country of Palestine and by the shores of the Lake of Galilee. And we have witnessed in our own own day the actual fulfillment of these words. “The blind see, the lame walk, the lepers are cleansed, the deaf hear, the dead are raised, to the poor the gospel is preached.” Are not all these things true today just as they were nineteen hundred years ago?

Ngày của những phép lạ chưa hề qua đi mà chỉ mới khởi đầu. Và tôi nhớ rằng, có một lần, chính Vị Thầy đã nói: “Những việc Ta làm, các ngươi cũng sẽ làm, và các ngươi sẽ làm những việc còn lớn hơn nữa, bởi vì Ta đi về cùng Cha Ta.” “Những việc còn lớn hơn nữa,” các bạn sẽ lưu ý; nghĩa là, những điều còn lớn hơn cả những phép lạ mà các môn đệ khiêm hạ của Ngài đã thấy Ngài thực hiện khi Ngài đi khắp xứ Palestine nhỏ bé và dọc bờ Hồ Galilê. Và chính trong thời của chúng ta, chúng ta đã chứng kiến sự ứng nghiệm thực sự của những lời ấy. “Người mù xem thấy, kẻ què đi được, người phong được thanh tẩy, kẻ điếc nghe, kẻ chết được làm cho sống lại, và Tin Mừng được rao giảng cho người nghèo.” Há chẳng phải mọi điều này hôm nay vẫn đúng y như cách đây mười chín thế kỷ sao?

Yea verily, and more also. And this building and this spot here are now dedicated to the bringing to pass of “these greater things.”

Vâng, thật vậy, và còn hơn thế nữa. Và tòa nhà này cùng nơi chốn này nay được cung hiến cho việc hiện thực hóa “những điều lớn hơn ấy.”

APPENDIX F—PHỤ LỤC F

THE FOUNDING OF THE A.R.E.—SỰ SÁNG LẬP A.R.E.