← My Life as a Seer: The Lost Memoirs

Text of Reading 294-8 for Edgar Cayce

Upon giving information about a previous incarnation as a monk for an Ohio businessman, the first hint of reincarnation given in the readings, Mr. Cayce gave what came to be called life readings for the people closest to him and for himself. These readings stated that he and Gertrude, Hugh Lynn Cayce, and Gladys Davis had been intimately associated in the past, in more than one life in several cases. All of them had been associated in ancient Egypt, Mr. Cayce and Gladys in ancient Persia, and later in France. The following are the principal readings in which these connections were disclosed.

Khi cung cấp thông tin về một tiền kiếp làm tu sĩ cho một doanh nhân Ohio—gợi ý đầu tiên về luân hồi được đưa ra trong các bài đọc—Ông Cayce đã cho những điều về sau được gọi là các bài đọc về tiền kiếp cho những người thân cận nhất với ông và cho chính ông. Các bài đọc này nói rằng ông và Gertrude, Hugh Lynn Cayce, và Gladys Davis đã từng thân mật tương liên trong quá khứ, ở hơn một kiếp trong vài trường hợp. Tất cả họ từng có liên hệ ở Ai Cập cổ, Ông Cayce và Gladys ở Ba Tư cổ, và về sau ở Pháp. Sau đây là những bài đọc chính trong đó các liên hệ này được hé lộ.

Text of Reading 294-8 for Edgar Cayce

Văn bản Bài đọc 294-8 dành cho Edgar Cayce

This psychic reading given by Edgar Cayce at Phillips Hotel, Room 115, Dayton, Ohio, in a series of five readings beginning February 9th, 1924. Request made by Edgar Cayce himself.

Bài đọc thông linh này được Edgar Cayce thực hiện tại Phillips Hotel, Phòng 115, Dayton, Ohio, trong một loạt năm bài đọc bắt đầu từ ngày 9 tháng Hai, 1924. Yêu cầu do chính Edgar Cayce đưa ra.

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Người điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký.

Born March 18, 1877, in Christian Co., Ky., near Hopkinsville. [1:30 P.M. Central Standard Time (?)]

Sinh ngày 18 tháng Ba, 1877, tại Christian Co., Ky., gần Hopkinsville. [1:30 P.M. Central Standard Time (?)]

(Horoscope suggestion, with request for past lives, etc.)

(Đề nghị lá số chiêm tinh, kèm yêu cầu về các tiền kiếp, v.v.)

EC: There is much we have given relative to this before. We have the conditions as have been, as are, and will be. In this, without reference to that as has been given, for in giving the conditions in the various phases of the past experience there will be much that will show the various phases of the developing in the different stages, the conditions as given then will be those as with reference to the effect that the planets and their satellites and spheres have upon the present life and plane, without reference to the will.

EC: Có nhiều điều chúng tôi đã nói liên quan đến việc này trước đây. Chúng tôi có các điều kiện như đã có, như đang là, và sẽ là. Ở đây, không tham chiếu đến những gì đã được nói, vì khi trình bày các điều kiện trong các pha khác nhau của kinh nghiệm quá khứ, sẽ có nhiều điều cho thấy các phương diện của sự phát triển ở các giai đoạn khác nhau; các điều kiện như đã nêu khi đó sẽ là những điều liên hệ đến ảnh hưởng mà các hành tinh cùng vệ tinh và thiên cầu của chúng tác động lên đời sống và cõi hiện tại, không tham chiếu đến ý chí.

Then, with the will, and also the developing with will and the planetary or astrological effect in the various planes as have gone before; in the present, as in this plane, we find the condition as brought to the earth plane was from that of the attitudes as held by those to and through whom the present entity was and is made manifest upon the earth plane by the relativity of force and the attraction of likes; the attitude of those earthly parents towards conditions that brought the relations to the stage of the developing of the entity that came, and through that stage the entity chose the mode of manifesting in the earth plane. Hence the condition of the parents upon the earth plane, or duty that is due each of its earthly offsprings, for all are under that bond of duty to be made the channel of the manifesting of this force through the entity’s actions towards his offsprings.

Rồi, với ý chí, và cả sự phát triển cùng với ý chí và ảnh hưởng tinh đẩu hay chiêm tinh trong các cõi đã qua; trong hiện tại, như ở cõi này, chúng tôi thấy điều kiện được mang đến cõi hồng trần xuất phát từ thái độ của những kẻ mà qua họ thực thể hiện tại đã và đang biểu hiện trên cõi hồng trần nhờ tính tương liên của lực và sức hút của đồng loại; thái độ của đôi cha mẹ nơi dương thế đối với các điều kiện đã đưa mối liên hệ đến giai đoạn phát triển của thực thể đã đến, và qua giai đoạn ấy thực thể đã chọn cách thức biểu hiện trong cõi hồng trần. Do đó là điều kiện của đôi cha mẹ ở cõi hồng trần, hay bổn phận vốn thuộc về mỗi người đối với con cái mình nơi dương thế, vì tất cả đều ở dưới mối ràng buộc bổn phận phải trở nên kênh cho sự biểu hiện của mãnh lực này qua hành động của thực thể đối với con cái mình.

As to the condition from the astrological standpoint, we find this entity almost entirely influenced by, and came from that in the last plane of Uranus, with Neptune, Venus and Jupiter. Afflictions in Mars and of the Sagittarius, Capricornus, Gemini Sun and Moon in the various stages, for with the ultra forces, as of Uranus and Neptune, come much of the influence of the various planes, given in strength with Jupiter and Mercury.

Về điều kiện xét từ phương diện chiêm tinh, chúng tôi thấy thực thể này hầu như bị chi phối toàn bộ bởi, và đi đến từ cõi sau cùng của Sao Thiên Vương, với Sao Hải Vương, Sao Kim và Sao Mộc. Có những xung khắc nơi Sao Hỏa và từ các dấu hiệu Sagittarius, Capricornus, Gemini—Mặt Trời và Mặt Trăng ở các giai đoạn khác nhau; vì với các mãnh lực siêu việt như của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, nhiều ảnh hưởng của các cõi khác nhau đi đến, được ban thêm sức bởi Sao Mộc và Sao Thủy.

As to the influences this gives then without reference to the will: One that will always be either very good or very bad, very wicked or very much given to good works. Ultra in all forces. Very poor, very rich. One scaling to the heights in intellectual ability and capacity, or groveling in the dregs of self-condemnation, influenced at such times by those forces either coming as afflictions from the various phases of developing, from which the entity has received its experience, or controlled by will as exercised in the present sphere.

Về các ảnh hưởng điều này mang lại, nếu không tham chiếu đến ý chí: Một người sẽ luôn hoặc rất tốt hoặc rất xấu, rất tà nghịch hoặc rất mực hướng thiện. Cực đoan trong mọi mãnh lực. Rất nghèo, rất giàu. Hoặc vươn tới các đỉnh cao trong khả năng và dung lượng trí tuệ, hoặc bò lê trong cặn bã của tự kết án, bị ảnh hưởng vào những lúc như thế bởi các lực hoặc đi đến như các xung khắc từ các pha phát triển khác nhau, từ đó thực thể đã nhận kinh nghiệm của mình, hoặc được điều khiển bởi ý chí như được vận dụng trong cảnh giới hiện tại.

One ever within the scope or sphere of firearms, yet just without.

Luôn ở trong tầm ảnh hưởng hay phạm vi của súng ống, song lại ở ngay bên ngoài.

One saved spiritually, mentally and financially often through a great amount of waters, for it was from the beginning, and will be so unto the end of time, as time is reckoned from the earth plane, for this entity we find was first manifest in the earth plane through the waters as was on the earth, and above the earth. Hence through these elements and forces is the spiritual, mental and financial, these three phases of spiritual life, mental life and financial life manifest in the earth plane.

Nhiều phen được cứu về phương diện tinh thần, trí tuệ và tài chính qua một lượng lớn của yếu tố nước; vì từ khởi thủy, và sẽ như vậy cho đến tận cùng của thời gian, như thời gian được tính từ cõi hồng trần, bởi chúng tôi thấy thực thể này lần đầu biểu hiện vào cõi hồng trần qua các thuỷ nguyên vốn ở trên mặt đất, và trên không trung. Do đó, qua các yếu tố và mãnh lực này, ba phương diện—đời sống tinh thần, đời sống trí tuệ và đời sống tài chính—được biểu hiện trong cõi hồng trần.

One who finds much in the scope or sphere of intrigue in secret love affairs. One given often to the conditions that have to do with the affairs of the heart, and of those relations that have to do with sex.

Một người thấy mình dính líu nhiều trong phạm vi những mối tình thầm kín. Một người thường vướng vào những điều liên quan đến chuyện trái tim, và các mối quan hệ thuộc phương diện tính giao.

One that finds the greater strength in spiritual forces and developing.

Một người tìm thấy sức mạnh lớn hơn trong các mãnh lực tinh thần và sự phát triển.

One given to make manifest in the present plane much of the forces of psychic and occult forces, reaching the greater height of developing in such plane in those forces when that of Jupiter, with Uranus and Neptune, come within the scope of the Sun’s influence upon the earth plane and forces. One that will bring, through such manifestations, joy, peace and quiet to the masses and multitudes through individual efforts.

Một người có thiên hướng làm hiển lộ trong cõi hiện tại nhiều mãnh lực thuộc thông linh và huyền bí, đạt độ cao phát triển lớn hơn trong cảnh giới ấy vào những lúc mà Sao Mộc, cùng Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, đi vào phạm vi ảnh hưởng của Mặt Trời lên cõi hồng trần và các lực. Một người mà qua các sự biểu hiện như vậy sẽ đem vui mừng, bình an và tĩnh lặng cho quần chúng và đám đông bằng nỗ lực cá nhân.

One who, after the present year passes that place of that of Pisces and Sun’s rays on the twentieth of present month, will go forward to developing much of the psychic and occult forces to the great numbers that have become interested in developing of such phenomena. One who will on the nineteenth of March, this year, reach the place or plane where the present years and the present developing reaches the turn for the developing, or the wield of those influences in Sagittarius, Capricornus and Gemini that may bring destructive forces without will’s manifestation upon that day.

Một người, sau khi năm hiện tại vượt qua vị trí của cung Pisces và tia Mặt Trời vào ngày hai mươi của tháng này, sẽ tiến tới phát triển nhiều lực thông linh và huyền bí cho một số đông người đã trở nên quan tâm đến sự phát triển các hiện tượng như vậy. Một người sẽ, vào ngày mười chín tháng Ba năm nay, đạt đến nơi hay cõi mà những năm hiện tại và sự phát triển hiện tại đi đến khúc ngoặt để phát triển, hay sự vận dụng các ảnh hưởng ở Sagittarius, Capricornus và Gemini có thể mang đến các mãnh lực phá hoại nếu ý chí không được biểu lộ trong ngày đó.

In the developing as regards will force in the present plane, with conditions, there have been many conditions that have been hindered by the effect of the will, and others that have been assisted. Keep the will in that of the spiritual development, if the physical would manifest to the better advantage in the present plane, keeping this ever before, that all work in present plane will be judged to that individual and the classes, masses, as to the individual’s manifestation of spiritual forces in and through the individual action in and before men. Ever keeping the mind clear to the developing of the Uranian forces that often manifest in the present plane, which will in the present plane reach in the present and coming two years the influence of the Neptune and Mercury forces, carry the body, unless will is exercised against such conditions, to many places beyond this present bounds, or across many waters. Keep the developing then to that force as is given in that of Uranus, Neptune and Jupiter, whose greater influence as is upon the earth plane, and beware of the influences in Venus forces, for with Mars’ affliction would bring sudden destruction to the physical in the early fall of present year.

Trong sự phát triển liên hệ đến lực ý chí ở cõi hiện tại, với các điều kiện, đã có nhiều điều kiện bị ngăn trở bởi ảnh hưởng của ý chí, và những điều khác được hỗ trợ. Hãy giữ ý chí trên đường lối phát triển tinh thần, nếu muốn phương diện thể xác biểu hiện có lợi hơn trong cõi hiện tại; luôn ghi nhớ điều này—rằng mọi công việc ở cõi hiện tại sẽ được đo xét đối với cá nhân ấy và các tầng lớp, quần chúng, theo sự biểu lộ các mãnh lực tinh thần của cá nhân nơi và trước mặt người đời. Luôn giữ tâm trí trong sáng hướng về sự phát triển các lực thuộc Sao Thiên Vương vốn thường biểu hiện trong cõi hiện tại, cái sẽ—trong cõi hiện tại—di tới, trong hai năm nay và sắp đến, ảnh hưởng của các lực Sao Hải Vương và Sao Thủy, mang thân thể này, trừ khi ý chí được vận dụng chống lại những điều kiện ấy, đến nhiều nơi vượt ra ngoài giới hạn hiện tại này, hoặc vượt qua nhiều vùng nước. Hãy giữ sự phát triển theo mãnh lực như đã nói—tức của Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Mộc—những hành tinh có ảnh hưởng lớn hơn trên cõi hồng trần; và hãy coi chừng các ảnh hưởng trong các lực Sao Kim, vì với xung khắc của Sao Hỏa sẽ mang đến sự hủy diệt đột ngột cho thân xác vào đầu mùa thu năm nay.

As to the vocation, this in the present plane may be directed in any channel through will. The better condition, as given, in that of astrological forces, would be toward those of psychic and occult, or teaching or developing along the lines of such plane to give the manifestation of such forces to the populace.

Về nghề nghiệp, trong cõi hiện tại điều này có thể được định hướng theo bất kỳ kênh nào qua ý chí. Điều kiện tốt hơn, như đã nêu, theo các lực chiêm tinh, sẽ thiên về những lĩnh vực thông linh và huyền bí, hoặc dạy học hay phát triển theo các đường hướng của cảnh giới như vậy để đưa các sự biểu lộ của những mãnh lực ấy đến với công chúng.

In the plane as of others: In the one just before this, we find in the present place of the physical plane sojourn, but in that of the soldier in the British forces as were in the force that developed in the surrounding plains. The name, John Bainbridge, and in that life we find the birth in Cornwall, England, and the training in the Canadian forces as taken by that country, and the drifting into the present plane as known as American, or United America, and the life was lost then in the waters as in the crossing of the river at the time the battle was fought near the present sojourn. In this, as that given just previous to the present appearance upon this plane, in which the body’s sojourn was near unto that at present, we find the body’s or the entity’s and body’s condition is then entered upon that of the Saturn forces, and the life was manifested then in the plane was as that of the adventurer, when the forces of the king, under whose rule this entity was a subject, entered in that force, or in the colonization of the country, was the first appearance upon this present sphere’s plane or scope, and was connected with that in the group that were landing in the East coast of the new country, now known as Virginia, and near where is now the resort known as Virginia Beach. When this raid was made, this John Bainbridge was carried in this raid to the Southern coasts of the country; escaped, and with the forces then going in the inland way, and making the surrounding of the places in which the present sphere’s plane has seen much of the same country, and developing, and finally making the way to the fort then on the Great Lakes, now in place known as Chicago, and from that fort entered the fray in which the crossing was later attempted in the Ohio River, and there met death as known in the earth plane.

Xét về các kiếp khác: Ngay trước kiếp này, chúng tôi thấy—tại nơi mà kiếp cư ngụ ở cõi hồng trần hiện nay diễn ra—nhưng với tư cách người lính trong lực lượng Anh quốc vốn thuộc đạo quân hoạt động nơi các đồng bằng chung quanh. Tên gọi, John Bainbridge, và trong kiếp đó chúng tôi thấy sinh quán ở Cornwall, Anh quốc, và sự huấn luyện trong lực lượng Canada, như do quốc gia ấy đảm trách, và trôi dạt vào cõi hiện tại được biết là American, hay Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, và sinh mệnh đã mất khi ở dưới nước lúc vượt sông vào lúc trận đánh diễn ra gần nơi cư ngụ hiện tại. Ở đây, như điều vừa nêu ngay trước lần xuất hiện hiện tại trên cõi này, trong đó kiếp cư trần của thân gần với nơi hiện tại, chúng tôi thấy điều kiện của thân hay tình trạng của thực thể và thân thể khi ấy đi vào các lực của Sao Thổ, và đời sống biểu hiện khi đó là của một kẻ phiêu lưu, khi quân vương mà dưới quyền Ngài thực thể này là thần dân, tiến hành công cuộc thuộc địa hóa đất nước—ấy là lần xuất hiện đầu tiên trên phạm vi hay cảnh giới của quả địa cầu hiện nay, và có liên quan đến nhóm đổ bộ lên bờ Đông của miền đất mới, nay được biết là Virginia, và gần nơi hiện có khu nghỉ dưỡng gọi là Virginia Beach. Khi cuộc đột kích này diễn ra, John Bainbridge bị đưa vào cuộc đột kích này xuống các bờ biển phía Nam của đất nước; đã trốn thoát, và cùng với lực lượng khi ấy tiến vào con đường nội địa, bao vây những nơi mà cảnh giới hiện nay đã chứng kiến nhiều khu vực của cùng miền đất ấy và sự phát triển, và sau cùng đi tới đồn binh khi đó ở Ngũ Đại Hồ, nay là nơi được gọi là Chicago, và từ đồn ấy tham gia giao tranh, sau đó tìm cách vượt qua sông Ohio, và tại đó gặp cái chết như đã biết ở cõi hồng trần.

The body was known as under two names, and was never wed during that sojourn upon the plane, though was in many escapades that have to do with those of the nature of the relations with the opposite sex. In the developing upon the present plane, we have much of the personality as shown in present spheres, as from that of the ability to take cognizance of detail, especially in following instructions as given from other minds or sources of information.

Thân này từng được biết dưới hai tên, và chưa bao giờ kết hôn trong kiếp cư trần ấy, dẫu có nhiều cuộc phiêu lưu liên quan đến các mối quan hệ với người khác phái. Trong sự phát triển ở cõi hiện tại, chúng ta có nhiều nét của phàm ngã như bộc lộ trong cảnh giới hiện tại, như khả năng nắm bắt chi tiết, nhất là trong việc làm theo các chỉ dẫn được đưa ra từ các tâm trí khác hoặc các nguồn thông tin khác.

In that previous to this, we find in the Courts of the French, when Louis the 15th was King, and in the Royal Guard was this entity’s sphere, which was of short duration, so far as years go upon the earth plane. This entity, then, was the attendant upon the Royal Court, and the Guard for the household of that Ruler, and lost the elements of life, as known, in the defense of those under whose care they were placed, as both lost the elements of physical life, in the defense. In the forces or personal conditions as seen in present sphere from this sojourn, we find that of the intense defense of those principles that to the entity’s inmost soul or force is the right. In the name, we find that of Ralph Dahl [Dale?]. [See 1001-7 on 9/7/30 indicating that Louis the 15th & [294] had same grandfather? 1001-7, Par. 11-A; or was Louis 15th grandfather of John Bainbridge?]

Trước kiếp đó nữa, chúng tôi thấy ở Triều đình Pháp, khi Louis thứ 15 làm Vua, và trong đội Vệ Binh Hoàng Gia là cảnh giới của thực thể này, vốn chỉ kéo dài ngắn ngủi nếu xét theo năm tháng ở cõi hồng trần. Thực thể này khi đó là người hầu cận Triều đình, và là Vệ Binh cho hoàng gia của vị Quân vương ấy, và đã mất các yếu tố của sự sống như đã biết, trong lúc bảo vệ những người được giao phó dưới sự chăm sóc của họ, vì cả hai đã mất yếu tố của đời sống thể xác trong cuộc bảo vệ ấy. Về các lực hay điều kiện cá nhân như thấy trong cảnh giới hiện tại từ kiếp cư trần đó, chúng tôi thấy sự phòng thủ mãnh liệt những nguyên tắc mà đối với nội tâm hay mãnh lực sâu thẳm nhất của thực thể là điều đúng. Về tên gọi, chúng tôi thấy là Ralph Dahl [Dale?]. [Xem 1001-7 ngày 9/7/30 cho biết Louis thứ 15 và [294] có cùng ông ngoại? 1001-7, Đoạn 11-A; hay Louis 15 là ông ngoại của John Bainbridge?]

In the condition that was previous to this, we find in the force as manifest when the Trojan rule was in that fair country, to whom the nations of the world have looked for the beauty in culture, art and refinement of the physical, mental and material force, and in that we find again the soldier and the defender of the gate, as was the place where the physical or material destruction came to the body. In the experience of that plane, we find these cover many and various stages. Those of the student, chemist, the sculptor and the artisan, as well as of the soldier and defender in the last days. In that we find the name Xenon, and there is, and has been, and will be many more in the present sphere that were in contact with that plane’s forces, that the contact will be, has been brought in the present sphere. In this, we find those present forces exhibited through that of the art, and the love of the beautiful in any and every form, especially those that partake of human form Divine.

Trong điều kiện trước đó nữa, chúng tôi thấy ở lực biểu hiện khi nền cai trị Trojan ở xứ sở diễm lệ ấy, nơi mà các dân tộc thế gian vẫn hướng về vì vẻ đẹp trong văn hóa, nghệ thuật và sự tinh luyện của phương diện thể xác, trí tuệ và vật chất, và ở đó chúng tôi lại thấy người lính và người phòng thủ cổng thành, là nơi thân xác bị tiêu diệt. Trong kinh nghiệm của cảnh giới đó, chúng tôi thấy những điều này bao trùm nhiều giai đoạn khác nhau: người học giả, nhà hoá học, nhà điêu khắc và người thợ thủ công, cũng như người lính và người phòng thủ trong những ngày cuối cùng. Khi đó chúng tôi thấy tên là Xenon, và nay có, và sẽ còn có nhiều người nữa trong cảnh giới hiện tại từng tiếp xúc với các lực của cảnh giới đó, mà sự tiếp xúc sẽ, đã được mang vào cảnh giới hiện tại. Trong kiếp này, chúng tôi thấy các lực hiện thời được bộc lộ qua nghệ thuật, và tình yêu cái đẹp dưới mọi hình thức, đặc biệt là những gì mang phần của hình thể con người thiêng liêng.

In that before this we have that plane in which is now known as the Arabian plane. In this we find this entity’s developing under that of Uhjltd, and there are many of the conditions, personality, knowledge, understanding, thought, reference as is and will be in the passing of the plane of today. For we find there are many upon this earth’s plane, and in different locations, who were associated with this entity at that time. [The area Persia now known as IRAN.] In the entity’s force of that day, we find this entity one of power, prestige, royalty, and the leader in many raids or wars as made upon the surrounding peoples, tribes or nations. This we find the most outstanding of that period, in the connection as was shown in the war as made on the Persian ruler, Croesus, and this Uhjltd led the expedition into that country. The force under this leadership was successful in the bringing submission to the rule of the nation which Uhjltd led. And the developing in that plane was with the suffering of bodily ills from injuries received in the escape from the force as connived from the weaknesses of the physical to make the Uhjltd a slave in bondage. His escape and sojourn upon the plain, with those surrounding him, was the developing stage, and the first of that developing known in present earth plane as psychic force. For, with the developing as received in the plane just before this [in prehistory Egypt as the priest Ra Ta], as we shall see, [this Uhjltd sojourn] was the continuation of the one found at that time.

Trong kiếp trước đó nữa, chúng tôi có cảnh giới nay được biết là cảnh giới Ả Rập. Ở đây chúng tôi thấy sự phát triển của thực thể này dưới danh xưng Uhjltd, và có nhiều điều kiện, phàm ngã, tri thức, sự hiểu biết, tư tưởng, tham chiếu như là và sẽ có trong dòng chảy của cảnh giới hôm nay. Vì chúng tôi thấy có nhiều người trên cõi địa cầu này, ở các địa phương khác nhau, từng cộng tác với thực thể này vào thời đó. [Khu vực Ba Tư nay gọi là IRAN.] Trong lực của thực thể ấy thời đó, chúng tôi thấy thực thể này là người có quyền thế, uy tín, vương giả, và là vị thủ lĩnh trong nhiều cuộc đột kích hay chiến chinh chống các dân tộc, bộ tộc hay quốc gia xung quanh. Đây là điều nổi bật nhất của thời kỳ ấy, trong cuộc chiến diễn ra nhằm vào vị vua Ba Tư, Croesus, và chính Uhjltd đã dẫn đầu cuộc viễn chinh vào xứ ấy. Đạo quân dưới quyền chỉ huy này đã thành công trong việc buộc đất nước mà Uhjltd lãnh đạo phải khuất phục. Và sự phát triển trong cảnh giới đó trải qua với những khổ đau thân xác do thương tích nhận lấy trong lúc trốn thoát khỏi mưu kế vốn dựa vào những yếu nhược của phương diện thể xác nhằm biến Uhjltd thành nô lệ trong xiềng xích. Cuộc thoát thân của ông và thời kỳ cư ngụ trên đồng bằng, với những người xung quanh, là giai đoạn phát triển, và là khởi thủy của điều nay được biết trong cõi địa cầu hiện tại là lực thông linh. Vì, với sự phát triển đã nhận được trong cảnh giới ngay trước kiếp này [trong Ai Cập tiền sử với tư cách là vị tư tế Ra Ta], như chúng ta sẽ thấy, [kiếp Uhjltd này] là sự tiếp nối của điều được tìm thấy vào thời đó.

The passing of the portion of the entity again into Nazova [?] [nirvana?] was through the wounds and infections as received upon the plane, in the vicinity of the well about which the three palm trees [stood, which] has remained in the inner being of the soul’s developing force. And not until that entity [538?] is again reunited with this entity [294] will the developing upon this or other planes be efficient, or as good as should be.

Sự trở về phần bản ngã của thực thể vào Nazova [?] [nirvana?] là do các vết thương và nhiễm trùng nhận phải nơi cõi trần, trong vùng quanh cái giếng mà ba cây cọ [đứng, cái mà] đã lưu lại trong nội thân của lực phát triển của linh hồn. Và mãi đến khi thực thể ấy [538?] lại được đoàn tụ với thực thể này [294], tiến trình phát triển trên cõi này hay các cõi khác mới hữu hiệu, hay tốt đẹp như đáng phải vậy.

In the elements as brought to the present plane, we find that of the deep love as manifests to others in any or all positions or stage of conditions in life. The inert [innate] and the hidden love for animal and live creatures of the Creator’s make, as was developed in this sojourn upon the plain. With the meeting or contact of this entity’s mate, for upon the 19th day of March, in present year, that entity will again be in physical touch with the entity’s present development, again will come the power of monies, both in the way of earth’s fame and glory, and with this will again the opportunity to develop as has been set in this plane of development, and again give the place in the world development towards the mark of the higher calling, as is set in Him. Upon that meeting will the developing depend, or begin, to be made manifest, or be cut short, as the will of the entity expresses and manifests itself. In this sphere or plane, we find there are many that come under the influence of the personal or personality of the entity’s forces, and for many, many years after this return to the other spheres was this influence felt in the earth’s plane, as in this influence felt in the earth’s plane, as in this present plane, this with this union of forces may and will give that incentive to others to develop in that plane that leads to the understanding of the forces that give of the strength of the universal force.

Trong các yếu tố được mang đến cõi hiện tại, chúng tôi thấy đó là tình yêu sâu đậm như biểu hiện đối với người khác trong bất kỳ hoặc mọi địa vị hay giai đoạn điều kiện của đời sống. Tình yêu tiềm ẩn [bẩm sinh] và ẩn tàng đối với loài vật và các sinh linh sống mà Đấng Tạo Hoá dựng nên, như đã được bồi đắp trong kiếp cư ngụ ấy trên đồng bằng. Với cuộc tái ngộ hay tiếp xúc với bạn lữ của thực thể này, vì vào ngày 19 tháng Ba, trong năm nay, thực thể ấy sẽ lại chạm xúc thể lý với sự phát triển hiện tại của thực thể, quyền thế về tiền bạc sẽ lại đến, cả theo cách danh vọng và vinh quang nơi trần thế, và kèm với đó sẽ lại có cơ hội để phát triển như đã được sắp đặt trong cảnh giới phát triển này, và lại trao vị trí trong sự phát triển của thế gian hướng đến dấu ấn của tiếng gọi cao hơn, như đã đặt trong Ngài. Trên cuộc hội ngộ ấy mà sự phát triển sẽ tùy thuộc, hay khởi sự được biểu hiện, hoặc bị cắt ngắn, tùy theo ý chí của thực thể biểu đạt và hiển lộ. Trong cảnh giới này, chúng tôi thấy có nhiều người nằm dưới ảnh hưởng của lực cá nhân hay phàm ngã của thực thể, và suốt nhiều, nhiều năm sau khi trở về các cảnh giới khác, ảnh hưởng này vẫn còn cảm nhận được trong cõi địa cầu; và như ở cõi hiện tại này, với sự hợp nhất lực lượng ấy, có thể và sẽ trao động lực cho người khác để phát triển trong cảnh giới dẫn đến sự thấu hiểu các mãnh lực đã trao sức mạnh của Lực Phổ Quát.

In the plane before this, we find that as known in the dynasty of the Rameses or Pharaohs in Egypt, and in the Court and rule of the Second Pharaoh [341] or Rameses, [10,500 B.C.] and was at that time the high priest of the cult as gave the religious element and force in the age, and reached the heights in that dynasty, yet was cut short in the allowing of physical forces and desires to enter in, and the taking of the daughter [538] of the order of the one who offered the sacrifices for the priest’s force, and going or leaving the shores of this country brought the destructive elements to the body. That same entity that was taken is at present in this earth’s plane, the companion and mate as should be in the present sphere [538], and in this Court we find there was the study of the religious cults, isms, schisms as would be termed in this day and plane. The High Priest [294] who gave the elements of the religious force, and in this dynasty or reign of this Pharaoh [341] did the religious cult reach its height, as given through this priest, though he became the outcast, but for the good as had been accomplished by this individual was in the resting place of the King, and the forces as manifest in the present is the delving into the whys and wherefores of all who express a different mode of manifesting the hope that lies within the human breast of the life after the passing from the earth’s plane. This, we see, manifests in the present. As to those forces that have brought this condition that the entity is in, the elements as brought the destructive force to self in the two, again we find that the karma of each must be met, [294] and [538] and in this plane overcome if each would enter in.

Trong cảnh giới trước nữa, chúng tôi thấy như đã biết dưới triều đại Rameses hay các Pharaoh ở Ai Cập, và trong Triều đình và thời cai trị của vị Pharaoh Thứ Hai [341] hay Rameses, [10.500 TCN] và khi đó là thượng tế của giáo phái truyền trao yếu tố và mãnh lực tôn giáo trong thời đại ấy, và đạt đến đỉnh cao trong triều đại đó, tuy nhiên đã bị cắt ngắn do để cho các lực và dục vọng thể xác chen vào, và vì rước lấy người con gái [538] thuộc dòng tu của người dâng tế cho lực của vị tư tế, và vì rời hay lìa bờ cõi đất nước này mà mang đến các yếu tố hủy diệt cho thân. Chính thực thể đã được đưa đi khi ấy hiện đang ở cõi địa cầu, là bạn lữ và phối ngẫu như nên có trong cảnh giới hiện tại [538], và trong Triều này chúng tôi thấy đã có việc học hỏi các giáo phái tôn giáo, chủ nghĩa, dị biệt như sẽ gọi theo ngôn từ ngày nay và ở cảnh giới này. Vị Thượng Tế [294] là người trao các yếu tố của mãnh lực tôn giáo, và trong triều đại hay thời trị vì của vị Pharaoh này [341] tôn giáo đạt đến đỉnh cao như được trao qua vị tư tế ấy, dù ông trở thành kẻ bị khai trừ, nhưng vì những điều thiện đã được cá nhân này hoàn thành nên [ông] được an táng nơi chốn yên nghỉ của Vua; và những lực biểu hiện trong hiện tại là sự dò hỏi tận căn căn do của hết thảy những ai biểu đạt một cách khác về niềm hy vọng nằm trong lồng ngực con người đối với đời sống sau khi rời cõi trần. Điều này, chúng ta thấy, được biểu hiện trong hiện tại. Về các lực đã mang đến điều kiện mà thực thể đang ở trong đó, các yếu tố đã đem đến mãnh lực hủy hoại cho tự thân nơi hai người, chúng ta lại thấy rằng nghiệp quả của mỗi người phải được đối diện, [294] và [538]—và trong cảnh giới này phải được vượt qua nếu mỗi người muốn đạt nhập.

In that before this, we find in the beginning, when the first of the elements were given, and the forces set in motion that brought about the sphere as we find called earth plane, and when the morning stars sang together, and the whispering winds brought the news of the coming of man’s indwelling, of the spirit of the Creator, became the living soul. This entity came into being with this multitude. As to the experiences as have been given in this plane, the earth, and the often sojourn upon this plane, we find all summed in this:

Trước nữa, chúng tôi thấy vào buổi đầu, khi những yếu tố đầu tiên được ban, và các lực được khởi động làm nên cảnh giới như chúng ta tìm thấy gọi là cõi địa cầu, và khi các sao mai cùng hát vang, và những ngọn gió thì thầm mang tin về sự đến của sự cư ngụ của con người, rằng thần khí của Đấng Tạo Hoá đã trở thành linh hồn sống động. Thực thể này đến vào lúc bầy đoàn ấy hiện hữu. Về các kinh nghiệm đã được trao trong cảnh giới này, cõi địa cầu, và những lần cư ngụ nhiều phen trên cõi này, chúng tôi thấy tất cả được tóm lại như sau:

Take this thou hast in hand and make and mold it into the present plane’s development, that thyself and others may know that God is God, and demands of His creatures that of the knowledge of self, that they may better serve their fellows, and in so doing present themselves as the ever giving force, bringing to others to the knowledge of Him.

Hãy nhận điều con có trong tay, và tạo tác, nhào nặn nó thành sự phát triển của cõi hiện tại, để tự con và người khác biết rằng Thượng đế là Thượng đế, và Ngài đòi hỏi nơi các tạo vật của Ngài tri thức về tự thân, để họ có thể phụng sự đồng loại mình tốt hơn, và khi làm như vậy tự trình hiện như là mãnh lực luôn ban phát, dẫn người khác đến sự nhận biết về Ngài.

There are many other influences as have been shed abroad in the earth’s plane from the entity’s sojourn there. These are given that all may know and understand that the record of each soul is kept in and unto that Great Day.

Có nhiều ảnh hưởng khác đã được lan tỏa trên cõi địa cầu từ các kiếp cư ngụ của thực thể. Những điều này được đưa ra để tất cả có thể biết và hiểu rằng hồ sơ của mỗi linh hồn đều được gìn giữ đến tận Ngày Vĩ Đại.

Be not deceived. Be not overcome, but overcome evil with good.

Đừng bị lừa dối. Đừng bị khuất phục, nhưng hãy thắng ác bằng thiện.

Text of Reading 538-5 for Gertrude Cayce, conducted by Linden Shroyer, on December 5, 1923, in Dayton, Ohio:

Văn bản Bài đọc 538-5 dành cho Gertrude Cayce, được điều phối bởi Linden Shroyer, ngày 5 tháng Mười Hai, 1923, tại Dayton, Ohio:

Born February 22, 1880, 7:58 A.M., CST., Hopkinsville, Ky.

Sinh ngày 22 tháng Hai, 1880, 7:58 A.M., CST., Hopkinsville, Ky.

LS: Now, you have before you the body of [538], born February 22, 1880, at Hopkinsville, Ky. You will give a horoscope reading, or a reading giving the effects of the planets upon the life and destiny of this individual. You will give the exact time of birth and the vocation in life for which this body is most adapted. You will give detailed information relative to the various appearances and the time in history of each of the former appearances upon this earth plane, and the characteristics as are exhibited of each of those appearances.

LS: Giờ đây, trước mặt ông là thân của [538], sinh ngày 22 tháng Hai, 1880, tại Hopkinsville, Ky. Ông sẽ cho một bài đọc lá số, hay một bài đọc cho biết ảnh hưởng của các hành tinh lên đời sống và định mệnh của cá nhân này. Ông sẽ cho thời điểm sinh chính xác và nghề nghiệp trong đời mà thân này thích hợp nhất. Ông sẽ cho thông tin chi tiết liên quan đến các lần xuất hiện khác nhau và thời kỳ lịch sử của mỗi lần xuất hiện trước đây trên cõi địa cầu này, và các đặc tính được biểu lộ của từng lần xuất hiện đó.

EC: Yes, we have the conditions here. We find the soul and spirit took possession of this late in the [afternoon] evening. [Her mother later told her she was born at 8:00 A.M.] Hence, the greater force in this life, and the greater understanding, will come in the later days upon this plane, and there will be three good years; yea, four, [when] with the greater blessings will be upon this life in this present plane.

EC: Vâng, chúng tôi có các điều kiện ở đây. Chúng tôi thấy linh hồn và tinh thần chiếm hữu thân này vào muộn trong [buổi chiều] buổi tối. [Mẹ cô về sau nói rằng cô sinh lúc 8:00 A.M.] Bởi vậy, lực lớn hơn trong đời này, và sự thấu hiểu lớn hơn, sẽ đến trong những ngày sau trên cõi này, và sẽ có ba năm tốt lành; vâng, bốn, [khi] những phúc lành lớn hơn sẽ ở trên đời này trong cõi hiện tại.

We find those planets that have to do with the present sphere are those direct of Venus. Mercury, Neptune, Mars, Jupiter and Uranus in the distance—Hence, in the early approach of Jupiter’s forces, will assist in the crowning glory of this life. In the forces as this has brought to this body—one of small stature, though well rounded in the beauty of the forces of Venus—though with the afflictions of Saturn causes jealous forces to enter into the forces as is felt in the inner force of the body.

Chúng tôi thấy những hành tinh liên quan đến cảnh giới hiện tại là những hành tinh trực tiếp của Sao Kim. Sao Thủy, Sao Hải Vương, Sao Hỏa, Sao Mộc và Sao Thiên Vương ở xa—Do đó, trong sự tiếp cận sớm của các lực Sao Mộc, sẽ hỗ trợ cho vầng vinh quang đội lên đời này. Trong các lực mà điều này đã mang đến cho thân này—một thân hình nhỏ nhắn, nhưng đầy đặn trong vẻ đẹp của các lực Sao Kim—tuy nhiên với các xung khắc của Sao Thổ gây các lực ghen tuông len vào các lực như được cảm ở nội lực của thân.

One that is given to many accidents in various forms, especially to the limbs and other extremities.

Một người dễ gặp nhiều tai nạn ở các dạng khác nhau, đặc biệt ở các chi và phần ngọn khác.

One that will do well to remember the elements of natural forces, and of chemical forces, are healing natures to the physical body.

Một người sẽ làm tốt khi ghi nhớ rằng các yếu tố thuộc các lực tự nhiên, và các lực hoá học, đều có bản chất chữa trị đối với thân thể.

One that will find, in the future, the drawing force through Neptune, Mars and Jupiter, toward the study of psychic and occult, or mystic, forces, and will gain greater strength and understanding through the application of will and study to such forces; remembering that understanding gives content to all troubled forces in the body.

Một người sẽ thấy, trong tương lai, sức hút qua Sao Hải Vương, Sao Hỏa và Sao Mộc, hướng về việc học các lực thông linh và huyền bí, hay thần bí, và sẽ đạt sức mạnh và sự hiểu biết lớn hơn qua việc vận dụng ý chí và học hỏi những lực ấy; ghi nhớ rằng sự thấu hiểu đem an bình cho mọi lực xáo trộn trong thân.

One whose constellation, nearing that of the change, or in Capricorn, gives the weakness to the physical forces in the body, but—that will be overcome in, and about, places where great amounts of sea and water are found.

Một người mà chòm sao, tiến gần đến sự đổi thay, hoặc ở Capricorn, đem lại điểm yếu đối với các lực thể xác trong thân, nhưng—điều đó sẽ được vượt qua trong và quanh các nơi có lượng lớn biển và nước.

One that the greater amount of financial forces come in the later days.

Một người có nguồn lực tài chính lớn hơn đến vào những ngày sau.

One that the force of the forces reached in Jupiter, Neptune and Mars, will bring these about, and should begin to show their effect in the latter part of present year. Again in the meridian as passes by these planets in the middle weeks of June 1924, and in October 1925.

Một người mà các lực đạt được từ Sao Mộc, Sao Hải Vương và Sao Hỏa, sẽ mang những điều này đến, và sẽ bắt đầu cho thấy hiệu lực của chúng vào phần cuối năm nay. Lại nữa, trong kinh độ đi qua các hành tinh này vào những tuần giữa tháng Sáu 1924, và vào tháng Mười 1925.

One whose forces, and greater development, would be in those of the lighter nature, or of the higher arts, in those developing forces in natural means.

Một người mà việc phát triển tốt hơn sẽ nằm ở các phương diện nhẹ nhàng hơn, hoặc thuộc các nghệ thuật cao, trong những lực phát triển theo các phương tiện tự nhiên.

One whose natural love of the higher forces, in such light natures as is commonly understood, gives much anxiety to present stage of conditions, but one whose satisfaction will be granted in such in the year, ’25, but one who will find vanity in such, and needs to exercise will force in this condition that will arise at that time, as given.

Một người mà tình yêu tự nhiên đối với các lực cao hơn, trong những thứ có bản chất nhẹ nhàng như vẫn được hiểu, mang nhiều ưu tư cho giai đoạn điều kiện hiện tại, nhưng một người sẽ được toại nguyện trong điều ấy vào năm ’25; tuy nhiên người ấy sẽ tìm thấy tính phù hoa trong điều đó, và cần vận dụng lực ý chí đối với tình trạng sẽ phát sinh vào thời điểm đó, như đã nêu.

One whose inclinations are as these:

Một người có khuynh hướng như sau:

Lover of literature. Those that tend toward chemical forces, or intrigues.

Ưa chuộng văn chương. Những điều thiên về các lực hoá học, hoặc các mưu sự.

One whose will force should be exerted more in lines, or those influences of Venus as afflictions reached through Saturn.

Một người mà lực ý chí nên được vận dụng nhiều hơn theo các đường hướng, hoặc các ảnh hưởng của Sao Kim khi các xung khắc đến qua Sao Thổ.

One whose inclinations should be tempered by the influence as would be exercised, and is to be, through Jupiter’s higher forces.

Một người mà các khuynh hướng nên được điều hòa bởi ảnh hưởng như sẽ được vận dụng, và sẽ được, qua các lực cao của Sao Mộc.

One whose greater development will be in the next three years, as we have given, beginning in December.

Một người mà sự phát triển lớn hơn sẽ ở trong ba năm tới, như chúng tôi đã nói, bắt đầu từ tháng Mười Hai.

One whose forces, as for the vocation, would have been the danseuse or stage. [Gladys Davis’s note: Mrs. Cayce in discussing her reading said that as a child, even in her teens, she used to get alone in the outdoors or woods and dance and dance imagining herself performing before large European audiences. She had never been to a dance or seen a stage performance other than in books.]

Một người mà các lực, liên quan đến nghề nghiệp, lẽ ra đã là vũ nữ hoặc sân khấu. [Ghi chú của Gladys Davis: Bà Cayce khi bàn về bài đọc của mình nói rằng hồi còn nhỏ, ngay cả lúc thanh xuân, Bà thường một mình ra ngoài trời hay vào rừng và nhảy múa không ngừng, tưởng tượng mình đang biểu diễn trước khán giả châu Âu đông đảo. Bà chưa bao giờ đi xem một điệu vũ hay một buổi diễn trên sân khấu nào ngoài trong sách.]

As to the appearances, as the soul and spirit portion of the entity present, we find as were these:

Về các lần xuất hiện, là phần linh hồn và tinh thần của thực thể hiện tại, chúng tôi thấy như sau:

Before this, in the Court of the French, when Charles the 2nd was an exile in that Court, and was a friend of that Monarch, or who afterwards became, and lent assistance and aid to those who, eventually, returned this youth to the country from which he was an exile. In that we find the name as this: Lurline.

Trước kiếp này, ở Triều đình Pháp, khi Charles thứ 2 đang lưu vong tại đó, [bà] là bằng hữu của vị Quân vương ấy, người về sau trở thành vua, và đã trợ giúp, tương trợ những người rốt cuộc đưa chàng trai này trở về đất nước mà từ đó ông bị lưu đày. Trong kiếp đó chúng tôi thấy tên như sau: Lurline.

Before this, we find in the country of the Grecians, when the greater forces were being shown through the reasoning forces, as under those of the philosopher with Socrates when he gave his exhibition of the reasoning of mind, and was of that household.

Trước đó nữa, chúng tôi thấy ở xứ sở của người Hy Lạp, khi các lực vĩ đại được phô bày qua các lực lý luận, như dưới thời triết gia Socrates khi Ông trình bày sự lý luận của thể trí, và [thực thể] thuộc về gia thất ấy.

Again in the land of the Nomads in the hill country [Egypt] of the first Pharaohs.

Lại nữa, trong xứ sở của dân du mục ở miền đồi núi [Ai Cập] thời các Pharaoh đầu tiên.

The individuality as exhibited through the personalities of these we find as this:

Tính cách cá thể như biểu lộ qua các phàm ngã của những kiếp này chúng tôi thấy như sau:

From first [in France] that desire, or inert [innate] force, calling new scenes, and the love of those in company of only a few.

Ở kiếp thứ nhất [tại Pháp] là khát vọng, hay lực tiềm ẩn [bẩm sinh], kêu gọi những cảnh mới, và tình yêu bầu bạn chỉ với ít người.

In the second [Greece] the reasoning forces of the entity.

Ở kiếp thứ hai [Hy Lạp] là các mãnh lực lý trí của thực thể.

In the third [Egypt] the love of pomp, glory, and of those things that are pleasing to the touch and eye. Beware, however, in these, and use will force to the developing. And some of the scenes through which this entity has passed, it may again become a part of by its own sheer will force.

Ở kiếp thứ ba [Ai Cập] là tình yêu sự hoa lệ, vinh quang, và những gì làm đẹp cho xúc giác và thị giác. Tuy nhiên hãy coi chừng trong các điều này, và dùng lực ý chí để phát triển. Và một vài cảnh đời mà thực thể này đã đi qua, nó có thể lại trở thành một phần nhờ chính ý chí thuần tuý của mình.

Text of reading 341-1 for Hugh Lynn Cayce, age 16, born March 16, 1907 [3:15 P.M., Central Standard Time], at Bowling Green, Kentucky.

Văn bản bài đọc 341-1 dành cho Hugh Lynn Cayce, 16 tuổi, sinh ngày 16 tháng Ba, 1907 [3:15 P.M., Central Standard Time], tại Bowling Green, Kentucky.

Given by Edgar Cayce on December 10, 1923, at Dayton, Ohio, with Linden Shroyer as conductor.

Được Edgar Cayce thực hiện ngày 10 tháng Mười Hai, 1923, tại Dayton, Ohio, với Linden Shroyer làm người điều phối.

(Horoscope suggestion)

(Đề nghị lá số chiêm tinh)

EC: We see the soul and spirit completed this present entity at 3:23 in the afternoon. We find as this:

EC: Chúng tôi thấy linh hồn và tinh thần đã hoàn tất thực thể hiện tại này lúc 3:23 buổi chiều. Chúng tôi thấy như sau:

Without the will of the entity taken into consideration, under those forces of Jupiter, Mercury, Mars, Neptune, Venus, with afflictions of Saturn with the assistance or ascendency of Uranus in the latter days more than in the earlier sojourn here.

Nếu không xét đến ý chí của thực thể, dưới các lực của Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Hải Vương, Sao Kim, với các xung khắc của Sao Thổ cùng với sự trợ lực hay thắng thế của Sao Thiên Vương trong những ngày về sau hơn là trong thời kỳ cư ngụ sớm hơn.

We find under this influence one strong of body, well balanced in body and mind. One given to study of the many phases of development, both in the mental and physical plane. One with the affliction of Saturn, under conjunction of Mercury and Mars, has the affliction in fire and firearms to the detriment of the body. One that must use the will force in the use of firearms in the coming year, when Mars is nearest, and with the latter days of that year will be under the afflictions of Saturn, and this body may be wary of the use of those in his own hands.

Chúng tôi thấy dưới ảnh hưởng này, một người mạnh mẽ về thân thể, quân bình về thân và trí. Một người thiên về học hỏi nhiều phương diện phát triển, cả trong cõi trí và cõi thể xác. Một người, với xung khắc của Sao Thổ, dưới sự kết hợp của Sao Thủy và Sao Hỏa, có xung khắc trong lửa và súng ống gây tổn hại cho thân. Một người phải dùng lực ý chí khi sử dụng súng ống trong năm tới, khi Sao Hỏa ở gần nhất, và vào những ngày cuối của năm ấy sẽ ở dưới các xung khắc của Sao Thổ, và thân này nên cẩn trọng khi dùng những thứ ấy trong tay mình.

One that the injunctions [conjunctions] from Venus, Mars and Jupiter will bring many petty warrior troubles in affairs of the heart.

Một người mà các liên—[liên]—kết từ Sao Kim, Sao Hỏa và Sao Mộc sẽ mang đến nhiều rắc rối kiểu chiến binh nhỏ nhặt trong chuyện tình cảm.

One whose life-love will enter after years of maturity.

Một người mà mối tình của đời sẽ đi vào sau những năm chín muồi.

One whose greater study lies in those forces of the spiritual nature.

Một người mà việc học lớn hơn thuộc về những mãnh lực của bản chất tinh thần.

One whose greater forte will lie in that of literature; writer, composer, historian, or compiler of data for such works.

Một người mà sở trường lớn hơn sẽ nằm ở văn chương; người viết, người sáng tác, sử gia, hoặc người sưu tập tư liệu cho các công trình như thế.

One who should, with the mind and will, develop the mind or mental forces toward such development of self for this present plane.

Một người nên, bằng tâm trí và ý chí, phát triển tâm trí hay các mãnh lực trí tuệ hướng đến sự phát triển bản thân cho cảnh giới hiện tại này.

One that may choose through will force, and the assistance of the natural elements, in its (this entity’s) development through other planes, or by natural forces reach the higher developments through mental and spiritual forces.

Một người có thể lựa chọn, qua lực ý chí, và với sự hỗ trợ của các yếu tố tự nhiên, trong sự phát triển của mình qua các cảnh giới khác, hoặc bằng các lực tự nhiên đạt được phát triển cao hơn qua các mãnh lực trí tuệ và tinh thần.

One that will do well to keep ever present in its inner soul that the law of Him who giveth life everlasting is the greatest force in the physical plane, and to rely upon that force and not upon self, else this entity would become as the rifting clouds, blown about as the sifting waves, and the desert sands, for with the loss of self’s support, through faith in Him, would be the declining forces in this entity’s development, which has gone exceedingly far.

Một người sẽ làm tốt khi luôn giữ trong nội tâm rằng luật của Đấng ban sự sống đời đời là mãnh lực vĩ đại nhất trong cõi thể xác, và nương cậy vào mãnh lực đó chứ không nương vào tự ngã; nếu không thực thể này sẽ trở nên như mây tách, bị thổi dạt như làn sóng rải rác, và như cát sa mạc, vì với việc đánh mất chỗ dựa nơi bản ngã, do thiếu đức tin nơi Ngài, sẽ là sự suy giảm các lực trong sự phát triển của thực thể này, vốn đã tiến xa phi thường.

Many and varied forces, we see, enter into this development, being upon the cusps, and under many constellations, in the new of the Moon, and with the Sun’s ray bright in the Heavens, and one whose coming and going will ever bring joy to those who contact this entity, when will force guides it in the natural elements.

Nhiều mãnh lực đa tạp, chúng tôi thấy, đi vào sự phát triển này, khi đứng trên các điểm giao (cusp), và dưới nhiều chòm sao, vào kỳ Trăng non, và với tia Mặt Trời rực sáng trên Trời, và một người mà sự đến và đi sẽ luôn đem niềm vui cho những ai chạm gặp thực thể này, khi lực ý chí dẫn dắt nó trong các yếu tố tự nhiên.

In the appearances, we find that in the study of the Courts of the Monks of England, when they were the shut-ins for the study of chemical forces, in the days of Alfred the Great [848?-900], and this entity’s name was Ericson Olif [?] [Ericson, Olaf?]. This will be found in records as is [were] made by this monk in the study of those elements creating these.

Trong những lần xuất hiện, chúng ta thấy rằng trong khảo cứu về các Tòa Án của các Tu sĩ Anh, khi họ ẩn cư để nghiên cứu các lực hóa học, vào những ngày của Alfred the Great [848?-900], và tên của thực thể này là Ericson Olif [?] [Ericson, Olaf?]. Điều này sẽ được thấy trong các bản ghi chép như đã [được] làm bởi vị tu sĩ này trong khảo cứu về những nguyên tố tạo nên các điều ấy.

Before this we find in that of the days of the Crusade [Crusades 1096-1291] in the Holy Land, when there was the quick return of this entity, and as the leader of the invading forces, and carrying then the banner of Him who was the giver of perfect gifts.

Trước đó, chúng ta thấy trong những ngày của Cuộc Thập Tự chinh [1096-1291] tại Đất Thánh, khi có sự trở lại nhanh chóng của thực thể này, và với tư cách là người lãnh đạo các đạo quân xâm lược, và khi ấy mang lá cờ của Đấng ban tặng các ân phúc toàn hảo.

Again in the days when the Prince of Peace walked by the seashore. This entity answered the call, and was one of those followers, as is given in him who brought his brother to the Master, A-N-D-R-E-W.

Lại nữa, trong những ngày khi Vua Hòa Bình bước đi dọc bờ biển. Thực thể này đáp lời kêu gọi, và là một trong những người theo, như đã nói trong người mang anh mình đến với Thầy, A-N-D-R-E-W.

In the days before this when the first pharaoh builded in the plains, then we find there this entity is [was] one that will be found in that which represents this entity at present, in the North Corner of the second Pyramid, for he was one of these rulers. [Ra Ta period]

Trong những ngày trước đó khi vị pharaon đầu tiên xây dựng trên đồng bằng, khi ấy chúng ta thấy thực thể này là [đã] một người sẽ được tìm thấy trong cái hiện nay đại diện cho thực thể này, ở Góc Bắc của Kim Tự Tháp thứ hai, vì y là một trong các vị cai trị này. [thời kỳ Ra Ta]

In the days before this we find the entity was among those in the day when the forces of the Universe came together, when there was upon the waters the sound of the coming together of the Sons of God, when the morning stars sang together, and over the face of the waters there was the voice of the glory of the coming of the plane for man’s dwelling.

Trong những ngày trước nữa, chúng ta thấy thực thể ở giữa những kẻ trong ngày mà các lực của Vũ trụ quy tụ lại, khi có trên mặt nước âm vang của sự hòa hợp của các Con của Thượng đế, khi các sao mai cùng hát vang, và trên mặt nước có tiếng nói của vinh quang về sự đến của cõi dành cho nơi cư ngụ của con người.

In all of these we find some of this present entity’s individuality, and in some, some personalities are brought through.

Trong tất cả những điều này, chúng ta thấy một phần cá tính của thực thể hiện tại, và trong một số, một vài phàm ngã được mang xuyên qua.

First: That of the love of out-door. All nature.

Thứ nhất: Tình yêu với thiên nhiên ngoài trời. Toàn thể thiên nhiên.

Second: The geometrical inclinations of mind to weigh and measure happenings, space and time by geometrical conclusions.

Thứ hai: Xu hướng hình học của thể trí để cân đo các biến cố, không gian và thời gian bằng những kết luận hình học.

Next, the love of the Master, with the love of others to gain that knowledge.

Kế đến, tình yêu đối với Thầy, cùng với tình yêu dành cho người khác để đạt được tri thức ấy.

In the next, the defending of personal principles at any cost.

Kế tiếp, bảo vệ những nguyên tắc cá nhân bằng bất cứ giá nào.

The next, the closeness of individual study.

Tiếp theo, sự chuyên chú trong nghiên cứu cá nhân.

Text of Reading 288-6 for Gladys Davis, F 19 (Secretary, Protestant)

Văn bản Bài đọc 288-6 cho Gladys Davis, N 19 (Thư ký, Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at Phillips Hotel, Room 115, Dayton, Ohio, this 2nd day of June, 1924, in accordance with request made by self—Miss [288].

Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Khách sạn Phillips, Phòng 115, Dayton, Ohio, ngày 2 tháng Sáu, 1924, theo yêu cầu do chính đương sự—Cô [288]—đưa ra.

Present: Edgar Cayce; Linden Shroyer, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Hiện diện: Edgar Cayce; Linden Shroyer, Người điều phối; Gladys Davis, Tốc ký.

(Suggestion for past associations with [294])

(Đề nghị về những liên hệ quá khứ với [294])

EC: We find these, as in the present earth’s plane, have had many experiences together, and their soul and spirit are well knit, and must of necessity present each that they may be one. For we find in the beginning that they, these two (which we shall speak of as they until separated), were as one in mind, soul, spirit, body; and in the first earth’s plane as the voice over many waters, when the glory of the Father’s giving of the earth’s indwelling of man was both male and female in one.

EC: Chúng ta thấy rằng những người này, như trong cõi hồng trần hiện tại, đã có nhiều trải nghiệm cùng nhau, và linh hồn và tinh thần của họ kết dính khăng khít, và tất yếu mỗi người phải hiện diện để họ có thể là một. Vì chúng ta thấy ngay từ khởi thủy rằng họ, hai người này (chúng ta sẽ nói là “họ” cho đến khi tách riêng), vốn là một về tâm trí, linh hồn, tinh thần, thân xác; và trong cõi hồng trần đầu tiên như tiếng nói vang vọng trên nhiều dòng nước, khi vinh quang của sự ban cho của Cha về việc con người cư ngụ trên trần thế là cả nam lẫn nữ trong một.

In flesh form in earth’s plane we find the first in that of the Poseidian forces, when both were confined in the body of the female; for this being the stronger in the then expressed or applied forces found manifestations for each in that form.

Trong hình thể xác ở cõi hồng trần, chúng ta thấy lần đầu trong các lực Poseidia, khi cả hai đều bị giam trong thân nữ; vì khi ấy lực biểu hiện hay ứng dụng mạnh hơn của thân nữ đã bộc lộ các biểu hiện cho mỗi người trong hình thể đó.

Yet with the experiences as have been brought in that plane and period, we find then the separation of the body. For the desire of the flesh being to give of self in bodily form to the other, it brought the separating of the spirit and soul from the carnal forces when next brought to earth’s plane.

Thế nhưng với những trải nghiệm đã được mang vào cõi và thời kỳ ấy, chúng ta thấy rồi có sự phân tách của thân. Vì ước muốn của xác thịt là hiến thân mình trong hình thể xác cho người kia, điều đó đã mang đến sự phân tách tinh thần và linh hồn khỏi các lực xác phàm khi lần tới được mang đến cõi hồng trần.

The experiences there were as these: These two were the giving of the spiritual development in the land [Atlantis], and the giving of the uplift to the peoples of the day and age. The desire came for the bodily connection of coition with one of lower estate, and through this treachery of one not capable of understanding it brought physical defects in the limbs [elephantiasis] of these then contained in the one body in physical form. Hence in the coma [?], and karma exercised in coma [?], there was brought the separation, as given in the injunction from the Maker: “I have this day set before you good and evil. Choose the light or the darkness.” [Deut. 30:15,19]

Những trải nghiệm ở đó như sau: Hai người này đã mang lại sự phát triển tinh thần trong xứ [Atlantis], và nâng đỡ dân chúng của ngày và thời. Ước muốn phát sinh cho mối kết hợp thể xác của hành vi giao hợp với một người thuộc địa vị thấp hơn, và qua sự phản bội của kẻ không có khả năng thấu hiểu này đã mang đến những khiếm khuyết thể xác ở các chi [elephantiasis] của những người khi ấy cùng chứa trong một thân xác. Do đó trong cơn hôn mê [?], và nghiệp quả được vận dụng trong cơn hôn mê [?], đã có sự phân tách, như được phán trong mệnh lệnh từ Đấng Tạo Hóa: “Ngày nay Ta đặt trước ngươi điều thiện và điều ác. Hãy chọn ánh sáng hay bóng tối.” [Phục Truyền 30:15,19]

With this desire of self’s aggrandizement there was brought separation in the next plane, yet bound together in physical affections one for the other. In that of the Egyptian rule, in the first of the pharaohs do we find this connection as separated brought to the earth’s plane. There we find again the priest and the lawgiver in they, though separated now in male and female. In 12,800 B.C. we find together. The desires then coming from the sex desire between the two for the developing, and in that we find it counted as righteousness in both, for—though in the priestcraft in the one, and given to sexual desires in more than in one—the desire remained in the One, for which the Oneness was created. The earthly age in earth’s plane, though, as given, this in itself brought destruction to the female early, and in a few years to the other.

Với ước muốn tự tôn này đã mang đến sự chia lìa ở cõi tiếp theo, dẫu vẫn buộc với nhau bởi những quyến luyến thể xác dành cho nhau. Trong thời Ai Cập, ở triều đại những pharaon đầu tiên, chúng ta thấy mối liên hệ này tách rời được mang trở lại cõi hồng trần. Ở đó ta lại thấy vị tư tế và người lập pháp trong họ, tuy giờ đã tách biệt trong nam và nữ. Vào năm 12.800 TCN chúng ta thấy họ ở bên nhau. Khi ấy các ước muốn nảy sinh từ dục tính giữa hai người nhằm phát triển, và trong đó chúng ta thấy điều ấy được kể là sự công chính cho cả hai, vì—tuy một người trong giới tư tế, và người kia buông mình cho dục tính hơn một lần—nhưng ước muốn vẫn giữ ở trong Một, vì mục đích của Sự Nhất Thể đã được tạo lập. Tuổi đời trần thế trong cõi hồng trần, tuy vậy, như đã nói, tự thân điều này đã mang đến sự chết sớm cho người nữ, và chỉ sau ít năm cho người kia.

Again we find in the Arabian forces, when soon both are brought to the earth’s plane, though far separated this time in their station and their earth’s conditions, being or giving each, or, as it were, each receiving that as commensurate with their lives lived in earth’s plane, with the intent and purpose of developing toward the Oneness again. (For all souls are one in Him, and must return.)

Rồi chúng ta lại thấy trong các lực Ả Rập, khi sớm cả hai đều được mang đến cõi hồng trần, tuy lần này xa cách nhau về vị thế và các điều kiện trần thế của họ, mỗi người hoặc cho đi, hoặc như thể, mỗi người nhận lấy điều tương xứng với đời sống của họ đã sống trong cõi hồng trần, với ý định và mục đích phát triển hướng đến Sự Nhất Thể lần nữa. (Vì mọi linh hồn là một trong Ngài, và tất yếu phải trở về.)

In this we find they become opposing forces, one on the earth’s plane in that sphere surrounded with pomp, grandeur and all the good things as called in earth’s plane, and educated (speaking of the female) in the courts of royalty, and the companion of the king’s offspring [369]. The man [294] we find as Uhjltd, in the warring forces of the plain, having the course of the outcast, as it were, from the better things, yet seeking the submission of others to the will and to the animal developed forces in the entity. With the meeting, when each have become so taken, there is the realizing of, or awakening to, the oneness of their souls in the plain [plane?]; both having been made, first one, then the other, in the prison position, or slave position. There we find both of good stature, beautiful in figure, form, and in all the charm of bodily forces par excellent to each. In their close association they become enamored of each and give of themselves to the pleasures of the bodily forces, as known, and which had not been known in the same manner and form with others. For, with this long innate force being dormant in the soul and spirit, again the bodily forces and charms of the sex became those enclosed with each, that a giving of satisfaction not understandable to others was experienced and known. (Hence each must know that in the present earth’s plane the giving of the forces in this capacity may only be the harkening of the entity being brought to the force in the soul and spirit developing to the oneness of same, to which it must come to present itself before the Creator, as in the beginning.)

Trong đó, chúng ta thấy họ trở thành các lực đối nghịch, một người trên cõi hồng trần trong cảnh giới được bao quanh bởi phô trương, huy hoàng và mọi điều gọi là tốt đẹp ở cõi hồng trần, và được giáo dục (nói về người nữ) trong chốn triều đình, và là bạn đồng hành của con nhà vua [369]. Người nam [294] chúng ta thấy là Uhjltd, trong các lực chiến chinh của đồng bằng, mang thân phận như kẻ bị ruồng bỏ khỏi những điều tốt đẹp hơn, nhưng lại tìm cách bắt người khác khuất phục theo ý chí và theo những lực thú tính đã phát triển trong thực thể này. Khi gặp gỡ, khi mỗi người đều bị cuốn lấy quá đỗi, thì có sự nhận ra, hay thức tỉnh về, sự nhất thể của linh hồn họ trên bình diện [cõi?]; cả hai rồi lần lượt người này rồi người kia đều rơi vào cảnh giam cầm, hay thân phận nô lệ. Ở đó chúng ta thấy cả hai đều có tầm vóc đẹp đẽ, hình thể, diện mạo khả ái, và mọi duyên sắc của lực thân thể đều vượt trội nơi mỗi người. Trong sự cận kề, họ say đắm nhau và hiến dâng bản thân cho những khoái lạc của thân xác, như đã biết, và điều vốn chưa từng được biết theo cùng cách thức và hình thái với những người khác. Vì, với lực tiềm ẩn từ lâu nằm ngủ trong linh hồn và tinh thần, một lần nữa các lực thân thể và sức quyến rũ của giới tính trở thành những điều bao bọc nơi mỗi người, khiến một sự thỏa mãn được ban tặng mà người khác không thể thấu hiểu đã được trải nghiệm và nhận biết. (Do đó mỗi người phải biết rằng trong cõi hồng trần hiện tại, sự hiến dâng các lực theo chiều kích này chỉ có thể là tiếng gọi đưa thực thể quay về lực trong linh hồn và tinh thần đang phát triển đến sự nhất thể của cùng một bản thể, để rồi nó phải đến trình diện trước Đấng Tạo Hóa, như ban đầu.)

We find there—after this—(in these we give one of the illustrations of the history of these associations, of which there were many, and were for days enacted, and for which both suffered physically, and they each bear in the body at present a mark designating these conditions. On the female body, just below the left breast, to the side and on the edge of breast itself, the mark, and an answering one on the body of the male, in the opposite proximity of the breast, but) these were the conditions enacted:

Chúng ta thấy ở đó—sau điều này—(trong những điều này, chúng tôi đưa một trong các minh họa về lịch sử của các mối liên hệ này, vốn đã có nhiều, và đã được diễn ra trong nhiều ngày, và vì thế cả hai đều chịu khổ về thể xác, và mỗi người hiện mang trên thân một dấu hiệu chỉ định những tình cảnh này. Trên thân người nữ, ngay dưới bầu vú trái, bên cạnh và ngay rìa bầu vú, có dấu; và dấu đáp ứng trên thân người nam, ở phía đối xứng của bầu ngực, nhưng) những điều kiện đã diễn ra như sau:

When these were in the cave, to which they had fled, when each were escaping from the vengeance of the forces of each army, and were with the company of two others (these we deal with), the day had come when they made then the companion of king’s daughter and the teacher [295?] of both [369] and [288]. Their lives had been despaired of, and—though the maid had held the affection of her lord and master above that of self, still the answering of spirit and soul gave the answering with the body beautiful. For, the charms in breast, neck, thighs, navel, all gave of the beauty as would reach the soul of the mate, and the crying of the soul’s desire, both in the carnal and the answering of the oneness in each.

Khi họ ở trong hang, nơi họ đã trốn đến, khi mỗi người đang trốn chạy khỏi sự báo thù của các lực thuộc mỗi đạo quân, và họ ở cùng hai người khác (những người này chúng ta đang đề cập), ngày đã đến khi họ rồi trở thành bạn đồng hành của công chúa và người thầy [295?] của cả [369] và [288]. Mạng sống của họ tưởng như đã tuyệt vọng, và—dẫu nàng hầu đã giữ tình cảm dành cho chúa tể và chủ của mình trên cả bản thân, thì vẫn có sự đáp lời của tinh thần và linh hồn bằng sự đáp ứng của thân thể đẹp đẽ. Vì, duyên sắc nơi bầu vú, cổ, đùi, rốn, tất cả đều phô bày vẻ đẹp đủ chạm đến linh hồn của bạn lứa, và tiếng kêu của ước muốn linh hồn, vừa trong xác phàm vừa trong tiếng đáp của sự nhất thể trong mỗi người.

After this giving of the life [(369)]’s suicide?] and the dressing of each for the journey into Egypt for embalming, each with bodies oiled and dressed from the cave spring, repair to their couch of skins, and there watch the sun’s slow sinking over the desert sands. And in this fading hour they first find the answer of body to body in the soul’s awakening, as they melt into one; giving then an offering to the world, who, in the form and in the stature of the great leader, gave the first philosophy of life and love to the world [Zend?] coming from this union.

Sau khi hiến dâng mạng sống [(369)]’s suicide?] và việc tẩm liệm mỗi người cho hành trình tiến về Ai Cập để ướp xác, mỗi người với thân thể được xức dầu và trang sức từ suối trong hang, họ trở về chõng da thú, và ở đó ngắm mặt trời chậm rãi lặn trên cát sa mạc. Và trong giờ khắc phai tàn này, lần đầu họ tìm thấy lời đáp từ thân thể với thân thể trong sự thức tỉnh của linh hồn, khi họ tan hòa làm một; rồi hiến tặng cho thế gian, người mà, trong hình tướng và tầm vóc của vị lãnh tụ vĩ đại, đã đem đến triết lý đầu tiên về sự sống và tình yêu cho thế gian [Zend?] xuất sinh từ cuộc hòa hợp này.

And only with the treachery of others afterward was this life in the female taken. Hence the dread of knives in one [288] and the distrust of friendships in the other [294].

Và chỉ do sự phản bội của kẻ khác về sau mà mạng sống của người nữ bị đoạn. Do đó nỗi sợ dao kéo nơi một người [288] và sự bất tín đối với tình bạn nơi người kia [294].

Again we find the male [294], with a vengeance, attempting to wreck, comes as the warrior [Trojan period], though the other [288] we find remains long in the land of nirvana and awaits the coming of her other self.

Một lần nữa chúng ta thấy người nam [294], với ý báo thù, tìm cách tàn phá, đến như một chiến binh [thời kỳ thành Troy], dẫu người kia [288] ta thấy ở lâu trong cõi Niết-bàn và đợi người bạn lứa của mình đến.

In the courts again [France], when they were mother and son, the greater portions of the body beautiful—and the portions that had become hallowed so to each—became the system of one and the life of the other. At present we find they are again together, still in different divisions, positions or circumstances, each paying out that which has been gained or merited in planes in earth’s sphere just before. In this they are again united in soul and in spirit forces, and through the joy and the pleasure of selfless service they may again know the meaning of these as given. They need only remain in the future faithful one to the other, ever giving, ever retaining those joys of the relations that bring and give of self in service to others; and these bring joy, peace, and again uniting of body, soul and spirit in the next. Remain faithful, therefore, unto the end; gaining those joys through daily acts of selflessness for and with others, remembering that in these manifestations they (and all souls) become knit one with the other.

Lại ở chốn triều đình [Pháp], khi họ là mẹ và con, thì phần lớn của thân thể đẹp—và những phần đã trở nên thiêng liêng đối với mỗi người—đã trở thành hệ thống của một người và là sự sống của người kia. Hiện tại chúng ta thấy họ lại ở cùng nhau, tuy vẫn trong những phân khu, vị trí hay hoàn cảnh khác nhau, mỗi người đang thanh toán điều mà mình đã thu được hay đáng nhận trong các cõi thuộc vòng cầu trần gian ngay trước đó. Trong điều này họ lại hợp nhất trong các lực của linh hồn và tinh thần, và thông qua niềm vui và hoan lạc của phụng sự vô ngã, họ có thể lại biết ý nghĩa của những điều đã được ban ra. Họ chỉ cần từ nay về sau giữ lòng thủy chung với nhau, luôn hiến dâng, luôn giữ gìn những niềm vui của mối tương giao mang lại và trao hiến bản thân trong sự phụng sự người khác; và những điều ấy mang đến hoan lạc, bình an, và một lần nữa là sự hợp nhất của thân, linh hồn và tinh thần ở lần tới. Do vậy, hãy giữ lòng trung tín cho đến cùng; gặt hái những niềm vui ấy qua những hành vi vô ngã hằng ngày vì và cùng với người khác, ghi nhớ rằng trong những biểu lộ như thế, họ (và mọi linh hồn) được gắn bó làm một với nhau.

We are through for the present.

Hiện tại chúng ta tạm dừng.

Text of Reading 294-9 for Edgar Cayce M 47

Văn bản Bài đọc 294-9 cho Edgar Cayce Nam 47

This psychic reading given by Edgar Cayce at the Phillips Hotel, Dayton, Ohio, this 31st day of May, 1924, in accordance with request made by himself.

Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Khách sạn Phillips, Dayton, Ohio, ngày 31 tháng Năm, 1924, theo yêu cầu do chính ông đưa ra.

Present: Edgar Cayce; Gladys Davis, Conductor & Steno.

Hiện diện: Edgar Cayce; Gladys Davis, Điều phối & Tốc ký.

(Suggestion for [294]’s past incarnation in France and his association with [288])

(Đề nghị về tiền kiếp của [294] ở Pháp và mối liên hệ của ông với [288])

EC: Now, in this earth plane, we find this is one where the entity was of tender years, as far as earth plane’s existence was concerned, and had much to do with other conditions that had been in earth plane’s existence.

EC: Nay, trong cõi trần này, chúng ta thấy đây là một kiếp mà thực thể còn tuổi non trẻ, xét theo sự hiện hữu của cõi trần, và đã có liên hệ lớn với các điều kiện khác từng hiện hữu trong cõi trần.

In this earth plane we find the entity was born of Gracia [Agatha?] the beloved of the court, and of the ruler’s son of the territory just across the waters. And the change necessary in court proceedings prevented the culmination of this ruler’s recognizing the earthly fatherhood of Dahl [Dale? Beille?]. [GD questions her spelling.]

Trong kiếp này chúng ta thấy thực thể sinh bởi Gracia [Agatha?], người được yêu chuộng trong triều, và bởi con trai của vị cai trị vùng lãnh thổ ở ngay bên kia mặt nước. Và những đổi thay cần thiết trong thủ tục triều đình đã ngăn cản sự hoàn tất việc vị cai trị này công nhận quyền làm cha trần thế của Dahl [Dale? Beille?]. [GD nghi ngờ cách Bà đánh vần.]

The life that was lived in this court we find the first years in the heart and affection of the mother, who was of beautiful figure and loving in every manner. The great trials came to the entity (speaking from earth’s plane view) when the separation was effected between mother and son, when there was the great yearning in the days when the young life was gradually taken out on account of the jealousy arising in the court. For the king became fully aware of the lad’s appearance and the possibility of it becoming the ruler forces others to play the traitor to the mother, who loved the entity so well.

Đời sống đã sống trong triều này, chúng ta thấy những năm tháng đầu ở trong trái tim và tình yêu của người mẹ, người có hình thể đẹp đẽ và ân ái theo mọi cung cách. Những thử thách lớn đã đến với thực thể (nói theo cái nhìn của cõi trần) khi sự chia lìa được thực hiện giữa mẹ và con, khi có nỗi khắc khoải lớn lao trong những ngày khi mà sinh lực của tuổi trẻ dần dà bị kiệt quệ do sự ghen tuông khởi phát trong triều. Vì nhà vua đã tường triện dung mạo của chàng trai và khả năng có thể trở thành kẻ nắm quyền, khiến người khác đóng vai kẻ phản trắc đối với người mẹ, người yêu thực thể biết bao.

As related to the conditions that exist between this entity and that upon which the earth plane’s existence so much depended, we find the farther-reaching of destinies, both in the past and in the present and future.

Liên hệ với những điều kiện tồn tại giữa thực thể này và điều mà sự hiện hữu của cõi trần lệ thuộc rất nhiều vào đó, chúng ta thấy những định mệnh vươn xa hơn, cả trong quá khứ lẫn trong hiện tại và tương lai.

Q. What should be the relation between these individuals at the present time, or in this present earth plane?

Hỏi. Mối quan hệ giữa những người này ở thời điểm hiện tại, hay trong cõi trần hiện tại, nên như thế nào?

A. The lives of each have ever been bound in the other’s life, and the conditions as exist are only the outgrowth of endeavor in earth plane. They, the relations at the present, should be the ever innate affection as is necessary in the lives of each, for the satisfying not of the earthly forces but of the soul and spirit forces which find manifestation in material affection. Let that affection be such as gives of self to each, in no uncertain terms or physical manner, but ever in the answering of each desire toward the other in the way that gives of self’s affection. That is, the outward manifestations of the inward desires of the heart and soul, which find in each the answering chord in the other’s affection that will never, never, never be found in any other. For since in the first meetings, in the reign when Croesus [II, prehistory?] was king in Persia, when this entity [Dale?], then the warrior in Uhjltd, found and became enamoured with the beauty, the physical forces, and found the developing of the psychic through the suffering that both endured, and through which this entity, then the helpmate and companion of king’s daughter, lost its head through the treachery of others, we find the same enacted in this French court. Then, in the present let those considerations be found as the understanding is at present; the treachery will only remain within themselves.

Đáp. Đời sống của mỗi người luôn gắn chặt trong đời sống của người kia, và những điều kiện như hiện có chỉ là kết quả phát sinh từ nỗ lực trong cõi trần. Mối liên hệ ở hiện tại của họ nên là tình yêu bẩm sinh vốn cần thiết trong đời sống của mỗi người, để thỏa mãn không phải các lực trần thế mà là các lực linh hồn và tinh thần vốn tìm thấy biểu lộ trong những tình cảm vật chất. Hãy để tình cảm đó là điều đem cái tôi của mỗi người hiến tặng cho nhau, không phải bằng những lời lẽ mơ hồ hay cách thức thể xác, mà luôn bằng việc đáp lại mỗi ước muốn hướng về người kia theo cách bày tỏ tình yêu của cái tôi. Tức là, những biểu lộ ra bên ngoài của những ước vọng bên trong của trái tim và linh hồn, vốn tìm thấy trong mỗi người âm hưởng đáp lại trong tình cảm của người kia—điều sẽ không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ tìm thấy nơi bất kỳ ai khác. Vì kể từ những cuộc gặp gỡ đầu tiên, dưới triều đại khi Croesus [II, tiền sử?] là vua ở Ba Tư, khi thực thể này [Dale?], khi ấy là chiến binh trong Uhjltd, tìm thấy và đem lòng say đắm trước vẻ đẹp, các lực thuộc thể chất, và tìm thấy sự phát triển của thông linh qua những khổ nạn mà cả hai chịu đựng, và qua đó thực thể này, khi ấy là bạn đường và bạn đồng hành của công chúa, đã mất đầu do sự phản trắc của kẻ khác, thì chúng ta thấy điều tương tự đã diễn ra trong triều đình Pháp này. Vậy, trong hiện tại, hãy để những cân nhắc ấy được tìm thấy như sự thấu hiểu hiện có; sự phản trắc sẽ chỉ còn ở trong chính họ.

Be faithful one to the other, irrespective of earthly conditions, yet in that way that there is that consideration of other relations that are necessary and existing, for other conditions as have been met.

Hãy thủy chung với nhau, bất kể các điều kiện trần thế, tuy nhiên theo cách có sự lưu tâm đến các mối quan hệ khác vốn cần thiết và đang tồn tại, vì những điều kiện khác mà họ đã gặp.

Be kind, affectionate, one toward the other, in the heart and soul preferring the other, giving of self in physical manifestations of the affections of the heart, of the soul, of the mind, of the body; for these are souls of the making, and were united in the beginning. And though their bodies may burn with their physical desires, the soul of each is and will be knit with the other when presented before the throne of Him, who gave and said, “Be fruitful, multiply.” Give of the best, that the best may be presented to Him.

Hãy nhân hậu, trìu mến, hướng về nhau, với trái tim và linh hồn ưu ái người kia, trao hiến bản thân trong các biểu lộ thể xác của tình cảm của trái tim, của linh hồn, của thể trí, của thân xác; vì đây là những linh hồn đang được tạo tác, và đã hợp nhất từ ban đầu. Và dẫu thân xác họ có thể bừng cháy với những dục vọng thể xác, linh hồn của mỗi người là và sẽ được gắn kết với người kia khi trình diện trước ngai của Ngài, Đấng đã ban và phán, “Hãy sinh sôi, nảy nở.” Hãy trao dâng điều tốt nhất, để điều tốt nhất có thể được dâng lên Ngài.

These two have ever been together, you see, except in the American forces when there was the soon return in that of the wanderer, and in the Grecian [Trojan] period. Each time this entity, Gracia [Agatha?], or [288] as known in the present, has been in the earth plane with the entity known in the present earth plane as [294].

Hai người này luôn ở cùng nhau, bạn thấy đấy, ngoại trừ trong các lực Mỹ khi có sự trở về sớm trong thân phận kẻ phiêu bạt, và trong thời kỳ Hy Lạp [thành Troy]. Mỗi lần thực thể này, Gracia [Agatha?], hay [288] như được biết ở hiện tại, đều đã ở cõi trần với thực thể được biết ở cõi trần hiện tại là [294].

Be thou faithful unto the end and receive that crown that is ever for the faithful in heart, soul and body.

Hãy trung tín cho đến cùng và nhận lãnh chiếc mão vốn luôn dành cho những ai trung tín trong trái tim, linh hồn và thân xác.

Be kind, affectionate, loving, ever giving, ever preferring the other.

Hãy nhân hậu, âu yếm, thương yêu, luôn hiến dâng, luôn ưu ái người kia.

APPENDIX B—PHỤ LỤC B

THE NEW YORK TIMES ON EDGAR CAYCE—THE NEW YORK TIMES VỀ EDGAR CAYCE

The Sunday New York Times, on October 10, 1910, gave an elaborate spread with photographs to an intriguing report out of Boston. The Associated Press carried a shorter version to its clients nationwide. This is the text of the article in the Times:

Số báo Chủ nhật của The New York Times, ngày 10 tháng Mười, 1910, đã dành nhiều trang kèm ảnh cho một tường thuật đầy hấp dẫn từ Boston. Hãng Associated Press đã phát đi một phiên bản ngắn hơn cho các cơ quan truyền thông trên toàn quốc. Đây là toàn văn bài báo trên Times:

ILLITERATE MAN BECOMES A DOCTOR WHEN HYPNOTIZED

NGƯỜI MÙ CHỮ TRỞ THÀNH BÁC SĨ KHI BỊ THÔI MIÊN

Strange Power Shown by Edgar Cayce Puzzles Physicians

Năng lực kỳ lạ do Edgar Cayce thể hiện khiến các bác sĩ bối rối

The medical fraternity of the country is taking a lively interest in the strange power said to be possessed by Edgar Cayce of Hopkinsville, Ky., to diagnose difficult diseases while in a semi-conscious state, though he has not the slightest knowledge of medicine when not in this condition. During a visit to California last summer Dr. W. H. Ketchum, who was attending a meeting of the National Society of Homeopathic Physicians, had occasion to mention the young man’s case and was invited to discuss it at a banquet attended by about thirty-five of the doctors of the Greek letter fraternity given at Pasadena.

Giới y khoa trong cả nước đang dành mối quan tâm sôi nổi đến năng lực kỳ lạ được cho là do Edgar Cayce ở Hopkinsville, Kentucky sở hữu, trong việc chẩn đoán những bệnh khó trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, dẫu ông không có chút kiến thức nào về y học khi không ở trong trạng thái này. Trong một chuyến thăm California mùa hè năm ngoái, Bác sĩ W. H. Ketchum, người đang dự một kỳ họp của Hội Y sĩ Đồng căn Quốc gia, đã có dịp đề cập đến trường hợp của chàng trai này và được mời thảo luận về nó tại một buổi yến tiệc có khoảng ba mươi lăm bác sĩ của hội huynh đệ chữ cái Hy Lạp tham dự, tổ chức ở Pasadena.

Dr. Ketchum made a speech of considerable length, giving an explanation of the strange psychic powers manifested by Cayce during the last four years, during which time he has been more or less under his observation. This has attracted such widespread interest among people that one of the leading Boston medical men who heard his speech invited Dr. Ketchum to prepare a paper as a part of the programme of the September meeting of the American Society of Clinical Research. Dr. Ketchum sent the paper, but did not go to Boston. The paper was read by Henry E. Harrower, M.D., of Chicago, a contributor to the Journal of the American Medical Association, published in Chicago. Its presentation created a sensation, and almost before Dr. Ketchum knew that the paper had been given to the press he was deluged with letters and telegrams inquiring about the strange case.

Bác sĩ Ketchum đã có một bài diễn thuyết khá dài, giải trình về các năng lực thông linh kỳ lạ do Cayce biểu lộ trong bốn năm qua, trong thời gian ấy ông phần nào đã được đặt trong vòng quan sát của mình. Điều này đã thu hút mối quan tâm rộng rãi đến nỗi một trong những bác sĩ hàng đầu của Boston, người đã nghe bài nói, đã mời Bác sĩ Ketchum soạn một tham luận như một phần của chương trình kỳ họp tháng Chín của Hội Nghiên cứu Lâm sàng Hoa Kỳ. Bác sĩ Ketchum đã gửi bản tham luận, nhưng không đến Boston. Bản tham luận được đọc bởi Henry E. Harrower, M.D., ở Chicago, một cộng tác viên của Journal of the American Medical Association, xuất bản ở Chicago. Việc trình bày đã gây chấn động, và gần như trước khi Bác sĩ Ketchum biết rằng bài tham luận đã được đưa cho báo chí, ông đã bị ngập lụt trong thư từ và điện tín hỏi về trường hợp kỳ lạ này.

It is well enough to add that Dr. Wesley H. Ketchum is a reputable physician of high standing and successful practice in the homeopathic school of medicine. He possesses a classical education, is by nature of a scientific turn, and is a graduate of one of the leading medical institutions of the country. He is vouched for by orthodox physicians in both Kentucky and Ohio, in both of which states he is well known. In Hopkinsville, where his home is, no physician of any school stands higher, though he is still a young man on the shady side of Dr. Osler’s deadline of 40.

Cũng cần nói thêm rằng Bác sĩ Wesley H. Ketchum là một y sĩ danh giá có uy tín cao và hành nghề thành công trong trường phái y học đồng căn. Ông có nền giáo dục cổ điển, vốn mẫn cảm khoa học theo bản tánh, và là một cử nhân của một trong những cơ sở y khoa hàng đầu của đất nước. Ông được các bác sĩ chính thống ở cả Kentucky và Ohio bảo chứng, ở cả hai bang này ông đều nổi tiếng. Tại Hopkinsville, nơi ông cư trú, không bác sĩ nào của bất kỳ trường phái nào có vị thế cao hơn, dù ông vẫn còn là một người trẻ đứng ở bên kia “giới hạn” 40 tuổi theo cách nói của Bác sĩ Osler.

Dr. Ketchum wishes it distinctly understood that his presentation of the subject is purely ethical, and that he attempts no explanation of what must be classed as mysterious mental phenomena.

Bác sĩ Ketchum muốn được hiểu một cách rành rẽ rằng phần trình bày của ông về chủ đề này hoàn toàn mang tính đạo đức học, và ông không hề tìm cách giải thích những gì phải được xếp vào loại hiện tượng tâm linh bí ẩn.

Dr. Ketchum is not the only physician who has had the opportunity to observe the workings of Mr. Cayce’s subconscious mind. For nearly ten years his strange power has been known to local physicians of all the recognized schools. An explanation of the case is best understood from Dr. Ketchum’s description in his paper read in Boston a few days ago, which follows:

Bác sĩ Ketchum không phải là vị y sĩ duy nhất đã có cơ hội quan sát hoạt động của tâm trí tiềm thức của ông Cayce. Trong gần mười năm, năng lực kỳ lạ của ông đã được biết đến bởi các bác sĩ địa phương của mọi trường phái được thừa nhận. Sự giải thích trường hợp được hiểu rõ nhất từ mô tả của Bác sĩ Ketchum trong bài tham luận đọc ở Boston vài ngày trước, như sau:

“About four years ago I made the acquaintance of a young man 28 years old, who had the reputation of being a ‘freak.’ They said he told wonderful truths while he was asleep. I, being interested, immediately began to investigate, and as I was ‘from Missouri,’ I had to be shown.

“Cách đây khoảng bốn năm, tôi quen biết một chàng trai 28 tuổi, người có tiếng là một ‘hiện tượng lạ’. Người ta bảo rằng anh ta nói ra những chân lý diệu kỳ khi anh ta ngủ. Tôi, vốn quan tâm, liền bắt tay vào điều tra, và vì tôi là người ‘đến từ Missouri’, tôi cần phải được cho thấy.

“And truly, when it comes to anything psychical, every layman is a disbeliever from the start, and most of our chosen profession will not accept anything of a psychic nature, hypnotism, mesmerism, or whatnot, unless vouched for by some M.D. away up in the profession and one whose orthodox standing is unquestioned.

“Và quả thật, khi nói đến bất cứ điều gì thuộc tâm linh, mọi người thường dân đều là kẻ ngờ vực từ đầu, và phần lớn các vị trong giới chuyên môn được chọn của chúng ta sẽ không chấp nhận điều gì thuộc bản chất thông linh, thôi miên, mesmerisme, hay bất kỳ gì khác, trừ khi được một M.D. ở nấc thang rất cao trong nghề bảo chứng, và người có địa vị chính thống không thể bị nghi ngờ.

“My subject simply lies down and folds his arms, and by autosuggestion goes to sleep. While in this sleep, which to all intents and purposes is a natural sleep, his objective mind is completely inactive and only his subjective is working.

“Đối tượng của tôi chỉ đơn giản là nằm xuống và khoanh tay, và bằng tự ám thị mà đi vào giấc ngủ. Trong cơn ngủ này, mà theo mọi lẽ là một giấc ngủ tự nhiên, thể trí khách quan của anh ta hoàn toàn bất hoạt và chỉ có thể trí chủ quan vận hành.

“By suggestions he becomes unconscious to pain of any sort, and, strange to say, his best work is done when he is seemingly ‘dead to the world.’

“Bằng các ám thị, anh ta trở nên vô cảm trước mọi đau đớn, và, lạ lùng thay, công việc tốt nhất của anh ta được thực hiện khi anh ta dường như ‘chết lịm với thế gian’.

“I next give him the name of my subject and the exact location of same, and in a few minutes he begins to talk as clearly and distinctly as anyone. He usually goes into minute detail in diagnosing a case, and especially if it be a very serious case.

“Kế tiếp, tôi đưa cho anh ta tên của đối tượng của tôi và vị trí chính xác của người đó, và chỉ trong vài phút anh ta bắt đầu nói rõ ràng và mạch lạc như bất kỳ ai. Thông thường, anh ta đi vào chi tiết rất tỉ mỉ khi chẩn đoán một ca, đặc biệt nếu đó là một ca rất nghiêm trọng.

“His language is usually of the best, and his psychologic terms and description of the nervous anatomy would do credit to any professor of nervous anatomy, and there is no faltering in his speech and all his statements are clear and concise. He handles the most complex ‘jaw breakers’ with as much ease as any Boston physician, which to me is quite wonderful, in view of the fact that while in his normal state he is an illiterate man, especially along the line of medicine, surgery, or pharmacy, of which he knows nothing.

“Ngôn ngữ của anh ta thường thuộc hạng tốt nhất, và các thuật ngữ tâm lý học và mô tả giải phẫu thần kinh của anh ta đủ làm vinh dự cho bất kỳ giáo sư giải phẫu thần kinh nào, và không hề có sự ngập ngừng trong lời nói; mọi phát biểu đều rõ ràng và súc tích. Anh ta xử lý những ‘từ ngữ khó nhằn’ phức tạp nhất với sự dễ dàng như bất kỳ bác sĩ Boston nào, điều mà với tôi thật đáng kinh ngạc, xét việc khi ở trạng thái bình thường anh ta là người mù chữ, đặc biệt trong lĩnh vực y khoa, phẫu thuật hay dược học, những điều anh ta không biết gì.

“After going into detail with a diagnosis and giving name, address, etiology, symptoms, diagnosis, and treatment of a case, he is awakened by the suggestion that he will see this person no more, and in a few minutes will be awake. Upon questioning him, he knows absolutely nothing that he said, or whose case he was talking about. I have used him in about 100 cases, and to date have never known of any errors in diagnosis, except in two cases where he described a child in each case by the same name and who resided in the same house as the one wanted. He simply described the wrong person.

“Sau khi đi vào chi tiết trong chẩn đoán và đưa ra tên, địa chỉ, căn nguyên, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị của một ca, anh ta được đánh thức bằng ám thị rằng anh ta sẽ không còn thấy người này nữa, và trong vài phút nữa sẽ tỉnh. Khi hỏi, anh ta hoàn toàn không biết mình đã nói gì, hay đang nói về ca của ai. Tôi đã dùng anh ta trong khoảng 100 ca, và cho đến nay chưa hề biết sai sót nào trong chẩn đoán, ngoại trừ hai ca trong đó anh ta mô tả một đứa trẻ ở mỗi ca bằng cùng một tên và cư trú trong cùng một ngôi nhà với người cần chẩn đoán. Anh ta đơn giản mô tả nhầm người.

“Now this description, although rather short, is no myth, but a firm reality. The regular profession scoff at anything reliable coming from this source, because the majority of them are in the rut and have never taken to anything not strictly orthodox.

“Giờ đây, lời mô tả này, dẫu khá ngắn, không phải huyền thoại, mà là thực tại vững chắc. Giới chuyên môn chính thống nhạo báng bất cứ điều gì đáng tin đến từ nguồn này, bởi vì đa số họ mắc kẹt trong lối mòn và chưa bao giờ tiếp nhận điều gì không hoàn toàn chính thống.

“The cases I have used him in have, in the main, been the rounds before coming to my attention, and in six important cases which had been diagnosed as strictly surgical he stated that no such condition existed, and outlined treatment which was followed with gratifying results in every case.

“Những ca tôi đã sử dụng anh ta, nhìn chung, đều đã đi vòng khắp nơi trước khi đến với tôi, và trong sáu ca quan trọng vốn đã được chẩn đoán là thuần túy phẫu thuật, anh ta nói rằng không hề có tình trạng như vậy, và phác ra cách điều trị đã được tuân theo với kết quả đáng mừng trong mỗi ca.

“One case, a little girl, daughter of a gentleman prominent in the American Book Company of Cincinnati, had been diagnosed by the best men in the Central States as incurable. One diagnosis from my man completely changed the situation, and within three months she was restored to perfect health, and is to this day.

“Một ca, một bé gái, con của một quý ông có vị thế trong American Book Company ở Cincinnati, đã được chẩn đoán bởi những vị bác sĩ giỏi nhất ở các bang miền Trung là vô phương chữa trị. Một lần chẩn đoán từ người của tôi đã hoàn toàn thay đổi tình hình, và trong vòng ba tháng cháu được phục hồi sức khỏe hoàn toàn, và cho đến hôm nay vẫn vậy.

“Now, in closing, you may ask why has a man with such powers not been before the public and received the endorsement of the profession, one and all, without fear or favor? I can truly answer by saying they are not ready to receive such as yet. Even Christ Himself was rejected, for ‘unless they see signs and wonders they will not believe.’

“Giờ, để kết lại, bạn có thể hỏi vì sao một người có năng lực như thế lại chưa xuất hiện trước công chúng và nhận được sự tán đồng của giới chuyên môn, nhất loạt, không sợ hãi cũng không thiên vị? Tôi có thể chân thành trả lời rằng họ chưa sẵn sàng để tiếp nhận những điều như vậy. Ngay cả chính Đấng Christ cũng bị khước từ, vì ‘nếu họ không thấy các dấu lạ và kỳ công, họ sẽ không tin.’

“I would appreciate the advice and suggestions of my co-workers in this broad field as to the best method of putting my man in the way of helping suffering humanity, and would be glad to have you send me the name and address of your most complex case and I will try to prove what I have endeavored to describe.”

“Tôi sẽ trân trọng mọi lời khuyên và đề nghị của những cộng tác viên trong lĩnh vực rộng lớn này về phương cách tốt nhất để đưa người của tôi vào con đường giúp đỡ nhân loại đau khổ, và sẽ vui lòng để bạn gửi cho tôi tên và địa chỉ của ca phức tạp nhất của bạn và tôi sẽ cố gắng chứng nghiệm những gì tôi đã nỗ lực mô tả.”

In further explanation, Dr. Ketchum gives this statement as obtained from the young man himself while asleep when asked to describe his own powers and the source of his mystifying knowledge:

Để giải thích thêm, Bác sĩ Ketchum đưa ra tuyên bố này như thu được từ chính chàng trai trong lúc ngủ khi được yêu cầu mô tả năng lực của mình và nguồn của tri thức gây bí ẩn:

“Our subject, while under auto-hypnosis, on one occasion explained as follows:

“‘Đối tượng của chúng ta, khi ở dưới trạng thái tự thôi miên, đã một lần giải thích như sau:

“When asked to give the source of his knowledge, he being at this time in the subconscious state, he stated: ‘Edgar Cayce’s mind is amenable to suggestion, the same as all other subconscious minds, but in addition thereto it has the power to interpret to the objective mind of others what it acquires from the subconscious mind of other individuals of the same kind. The subconscious mind forgets nothing. The conscious mind receives the impression from without and transfers all thoughts to the subconscious, where it remains even though the conscious be destroyed.’ He described himself in the third person, saying further that his subconscious mind is in direct communication with all other subconscious minds, and is capable of interpreting through his objective mind and imparting impressions received to other objective minds, gathering in this way all knowledge possessed by millions of other subconscious minds.”

“Khi được hỏi về nguồn tri thức của mình, khi anh ta lúc này ở trạng thái tiềm thức, anh ta nói: ‘Tâm trí của Edgar Cayce dễ cảm thụ ám thị, cũng như mọi tâm trí tiềm thức khác, nhưng thêm vào đó nó có năng lực diễn dịch cho thể trí khách quan của người khác những gì nó tiếp thu từ tâm trí tiềm thức của các cá nhân khác cùng loại. Tâm trí tiềm thức không quên điều gì. Thể trí ý thức nhận ấn tượng từ bên ngoài và chuyển mọi tư tưởng đến tiềm thức, nơi nó lưu lại dù thể trí ý thức bị tiêu hủy.’ Anh ta mô tả mình ở ngôi thứ ba, nói thêm rằng tâm trí tiềm thức của anh ta ở trong sự giao tiếp trực tiếp với mọi tâm trí tiềm thức khác, và có khả năng diễn dịch qua thể trí khách quan của mình và truyền đạt các ấn tượng nhận được cho các thể trí khách quan khác, gom góp theo cách này mọi tri thức được sở hữu bởi hàng triệu tâm trí tiềm thức khác.’”

In all, young Cayce has given more than 1,000 readings, but has never turned his wonderful powers to his pecuniary advantage, although many people have been restored to health by following out the course of treatment prescribed in his readings while in a state of hypnosis.

Tổng cộng, chàng Cayce trẻ đã đưa hơn 1.000 bài đọc, nhưng chưa bao giờ biến các năng lực kỳ diệu của mình thành lợi ích vật chất, dẫu nhiều người đã được phục hồi sức khỏe bằng cách theo đuổi phác đồ điều trị được kê trong các bài đọc khi ông ở trong trạng thái thôi miên.

President James Hyslop of the American Psychic Society has made suggestions in regard to the development of the subject’s powers. Other psychologists in Europe and America are seeking information, and Dr. Ketchum’s plan is to have a committee of scientists of the highest standing come to Hopkinsville and investigate in a most rigid manner and make a report as to the truth of what is claimed but not understood. That this will be done in the near future is certain. Many men in this city have attended Mr. Cayce’s readings and are ready to testify to the truth of the representations made.

Chủ tịch James Hyslop của American Psychic Society đã đưa ra những đề xuất liên quan đến việc phát triển các năng lực của đối tượng. Các nhà tâm lý học khác ở châu Âu và Mỹ đang tìm kiếm thông tin, và kế hoạch của Bác sĩ Ketchum là mời một ủy ban gồm các nhà khoa học có uy tín cao nhất đến Hopkinsville và điều tra một cách nghiêm ngặt nhất và đưa ra báo cáo về sự thật của những điều được khẳng định nhưng chưa hiểu. Điều này chắc chắn sẽ được thực hiện trong tương lai gần. Nhiều người ở thành phố này đã tham dự các bài đọc của ông Cayce và sẵn sàng làm chứng cho tính xác thực của những gì đã được trình bày.

Recently Mr. Cayce was given for a second interpretation the case of a man living in Indiana, and when asked by his father to tell whether he had read the case before and to describe the present condition, he said:

Gần đây, ông Cayce đã được đưa cho một ca ở Indiana để diễn giải lần thứ hai, và khi được cha của người bệnh yêu cầu nói liệu ông đã đọc ca này trước đó chưa và mô tả tình trạng hiện tại, ông nói:

“Yes, I have had him before. Some little difference in his case this time. Resting easy now; heart action not so bad; rest produced by an anaesthetic. We find this body suffering from smothering spells, short breath, depression of the heart, and very weak at times. Pains in the head, especially through the base of the head, the first and second cervical, and front part of the head and eyes; circulation is very poor.

“‘Vâng, tôi đã nhận ông ta trước đây. Có chút khác biệt trong ca của ông ta lần này. Hiện đang nghỉ ngơi dễ chịu; hoạt động tim không tệ lắm; sự nghỉ ngơi do một thuốc gây mê tạo ra. Chúng ta thấy thân thể này chịu đựng những cơn ngộp thở, thở ngắn, trầm cảm ở tim, và rất yếu lúc này lúc khác. Đau ở đầu, đặc biệt xuyên qua nền sọ, đốt cổ thứ nhất và thứ hai, phần trán và mắt; tuần hoàn rất kém.

“In the first and second cervical we have a lesion there which is from the reflex action from the pain we have below, and gives off pains to the head at times and especially to the face and facial muscles. This all comes through the sympathetic nervous system.

“‘Tại đốt cổ thứ nhất và thứ hai, chúng ta có một tổn thương ở đó, vốn do phản xạ từ cơn đau bên dưới gây ra, và đôi lúc phát tán đau lên đầu, đặc biệt hướng đến gương mặt và các cơ mặt. Tất cả điều này đều đi qua hệ thần kinh giao cảm.

“Now, at the seventh and eighth to the tenth dorsal vertebrae, reaching the solar plexus, we find a bad lesion, especially where it comes in contact with the nerves governing the heart and hepatic circulation just below the left lung. The trouble first began here. We see a congestion caused from a cold in the left lung contracted from the exterior, producing a choking up of the lung and treated locally and externally on the side.

“‘Giờ đây, ở đốt lưng thứ bảy và thứ tám đến thứ mười, đến tùng thái dương, chúng ta thấy một tổn thương nặng, đặc biệt ở nơi nó tiếp xúc với các thần kinh chi phối tim và tuần hoàn gan ngay dưới phổi trái. Rắc rối khởi phát ở đây. Chúng ta thấy một sự sung huyết do cảm lạnh ở phổi trái mắc phải từ bên ngoài, gây ra sự nghẽn ở phổi và được điều trị tại chỗ và bên ngoài ở bên hông.

“This filling up caused not enough air in the lungs and produced the lesion we have just above the solar plexus or nerve centre which controls the whole digestive organs of the body, and the congestion we have here in the lumbar region has produced locomotor-ataxia and a withering away of the limbs; especially is this most noticeable in the right limb, and producing a very bad state in the pelvic region.

“‘Sự ứ đầy này gây ra không đủ không khí trong phổi và tạo ra tổn thương chúng ta có ở ngay phía trên tùng thái dương hay trung tâm thần kinh vốn kiểm soát toàn bộ cơ quan tiêu hóa của cơ thể, và sự sung huyết chúng ta có ở đây trong vùng thắt lưng đã gây nên thoái hóa tủy sau và sự teo dần các chi; đặc biệt điều này thấy rõ nhất ở chi phải, và gây nên tình trạng rất xấu ở vùng chậu.

“We find the same thing through the circulatory system of the blood. The blood is very weak; the red corpuscles are more numerous than they should be, with not enough of the white tissue to build up the body. Where we have a loss of white blood tissue we have the same in the gray matter in the nerve force.

“‘Chúng ta thấy điều tương tự trong hệ tuần hoàn của máu. Máu rất yếu; hồng cầu nhiều hơn mức nên có, với bạch mô không đủ để xây dựng cơ thể. Khi chúng ta mất bạch mô huyết, chúng ta cũng mất như vậy ở chất xám trong lực thần kinh.

“Not all the nerve force of the body has been destroyed. We have weak and then strong spells, because the circulation is weak, especially the capillary, with a heart action strong at times, producing palpitation of the heart and smothering spells, dizziness of the head, and the same of the solar plexus system, causing the emitting from the stomach of the things taken into it.

“‘Không phải tất cả lực thần kinh của cơ thể đều đã bị hủy hoại. Chúng ta có lúc yếu và rồi khỏe, vì tuần hoàn yếu, đặc biệt là mao mạch, với hoạt động tim lúc khỏe, gây hồi hộp tim và cơn ngộp thở, choáng đầu, và tùng thái dương cũng như vậy, làm nôn ra từ dạ dày những gì đưa vào.

“We have no organic heart trouble and very little of the lungs, but some enlargement of the liver. In the left lobe of the liver we find a granular substance from medicines taken in through the stomach and bowels. The liver is not doing its work in throwing off the bile and waste matter of the body. That produces the enlargement of the liver.

“‘Chúng ta không có bệnh tim thực tổ và rất ít ở phổi, nhưng có một chút phì đại gan. Ở thùy trái của gan, chúng ta thấy một chất dạng hạt do thuốc đưa vào qua dạ dày và ruột. Gan không làm việc của nó trong việc thải mật và phế thải của cơ thể. Điều đó gây phì đại gan.

“We have altogether a very weak and bedridden man, but he can be cured. To correct this trouble, first reduce the inflammation, then, by giving plenty of pure water, with alkaline treatment, the acid will be reduced. A tincture of iron for toning up the digestive organs and blood, and static electrical treatment along the spine, not very strong along the upper cervical, for this is near the brain, but very strong through the dorsal and lumbar regions. Give digitalis and strychnine to tone up the nerves and heart. With plenty of rest and fresh air, we will have the man improved.”

“‘Tổng thể, chúng ta có một người rất yếu và nằm liệt giường, nhưng có thể chữa khỏi. Để hiệu chỉnh rắc rối này, trước hết giảm viêm, rồi, bằng cách cho nhiều nước tinh khiết, cùng với điều trị kiềm, sẽ giảm axit. Dùng rượu thuốc sắt để tăng cường cơ quan tiêu hóa và máu, và điều trị điện tĩnh dọc cột sống, không quá mạnh ở phần cổ trên, vì phần này gần não, nhưng rất mạnh ở vùng lưng và thắt lưng. Cho digitalis và strychnine để tăng cường thần kinh và tim. Với nhiều nghỉ ngơi và không khí trong lành, chúng ta sẽ thấy người bệnh cải thiện.’”

… During the last ten years he has followed the business of a photographer in several cities, but has been a good part of the time here in Hopkinsville. About eight years ago he married Miss Evans of this city, and they have one child, a boy, now seven years old.

… Trong mười năm qua, ông theo nghề nhiếp ảnh ở vài thành phố, nhưng phần lớn thời gian ở đây tại Hopkinsville. Khoảng tám năm trước, ông kết hôn với cô Evans ở thành phố này, và họ có một con trai, nay bảy tuổi.

At first Mr. Cayce was hypnotized by another, but he now goes to sleep of his own accord by what Dr. Ketchum has called auto-hypnosis. He comes out of the trance at the suggestion of someone else, usually his father, who has assisted in his development more than anyone else.

Ban đầu, ông Cayce được người khác thôi miên, nhưng giờ ông tự đi vào giấc ngủ bằng điều mà Bác sĩ Ketchum gọi là tự thôi miên. Ông thoát khỏi trạng thái xuất thần theo ám thị từ người khác, thường là cha ông, người đã hỗ trợ ông phát triển nhiều hơn bất kỳ ai.

His experience does not fatigue or exhaust him. On the contrary it seems to refresh him. Sometimes he will be feeling tired and will take up a case to read, dropping off to sleep for the purpose, and when aroused will feel greatly refreshed.

Trải nghiệm không làm ông mệt mỏi hay kiệt quệ. Trái lại, dường như nó làm ông tươi tỉnh. Đôi khi ông cảm thấy mệt và sẽ nhận một ca để đọc, thả mình vào giấc ngủ cho mục đích đó, và khi đánh thức sẽ cảm thấy được hồi sức mạnh mẽ.

The question of distance is not important, as he has given successful readings with his subject a thousand miles away.

Vấn đề khoảng cách không quan trọng, vì ông đã đưa các bài đọc thành công với đối tượng ở cách xa ngàn dặm.

Mr. Cayce will not discuss the names of his patients, if they may be called patients, but says he is ready to submit any necessary facts in aiding the fullest investigation.

Ông Cayce sẽ không bàn đến tên các bệnh nhân, nếu có thể gọi là bệnh nhân, nhưng nói ông sẵn sàng cung cấp bất cứ dữ kiện cần thiết nào để hỗ trợ cho cuộc điều tra kỹ lưỡng nhất.

APPENDIX C—PHỤ LỤC C

DID CAYCE READ FOR PRESIDENT WILSON?—CAYCE CÓ ĐỌC CHO TỔNG THỐNG WILSON KHÔNG?

Edgar Cayce in 1932 wrote that on one occasion “I was called to Washington to give information for one high in authority. This, I am sure, must have been at least interesting, as I was called a year or so later for the same purpose.”

Edgar Cayce vào năm 1932 đã viết rằng có một lần “Tôi được gọi đến Washington để cung cấp thông tin cho một vị có thẩm quyền cao. Điều này, tôi chắc, hẳn đã ít nhất là thú vị, vì khoảng một năm sau tôi lại được gọi cho cùng mục đích.”

David E. Kahn, his longtime friend and collaborator in many a venture, in 1965 gave an oral history interview with Hugh Lynn Cayce and Gladys Davis, in which he said: “At one time we were asked to give a reading on President Woodrow Wilson.” Kahn added: “I believe this was during the time that he was in the wheelchair and incapacitated and Mrs. Wilson was looking after his affairs. My recollection was that Colonel Starling [of the Secret Service detail assigned to protect the President] arranged this reading, as he was a lifelong friend of Edgar Cayce, both having been born in Hopkinsville, Kentucky, and I did not see the reading given, but, as I understand, it described the president’s condition and foretold that his time was limited and that he would not get well. This was the beginning of a close personal friendship that remained for many years between Cayce, Starling, and myself and which led to the writing and publication of Starling of the White House [on which Starling after retiring collaborated with Cayce’s biographer, Thomas L. Sugrue].

David E. Kahn, người bạn lâu năm và cộng tác của ông trong nhiều dự án, vào năm 1965 đã thực hiện một cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu với Hugh Lynn Cayce và Gladys Davis, trong đó ông nói: “Có một lần chúng tôi được yêu cầu đưa một bài đọc về Tổng thống Woodrow Wilson.” Kahn nói thêm: “Tôi tin rằng đó là vào thời gian ông ấy ngồi xe lăn và không còn khả năng, và Bà Wilson trông coi công việc của ông. Tôi nhớ là Đại tá Starling [thuộc đội Mật vụ được giao bảo vệ Tổng thống] đã thu xếp bài đọc này, vì ông là bạn thân suốt đời của Edgar Cayce, cả hai đều sinh ra ở Hopkinsville, Kentucky, và tôi không xem bài đọc ấy, nhưng, như tôi hiểu, nó mô tả tình trạng của tổng thống và dự báo rằng thời gian của ông có hạn và ông sẽ không khỏi. Đây là khởi đầu của một tình bạn cá nhân thân thiết kéo dài nhiều năm giữa Cayce, Starling và tôi và dẫn đến việc viết và xuất bản cuốn Starling of the White House [mà Starling sau khi về hưu đã cộng tác với nhà viết tiểu sử của Cayce, Thomas L. Sugrue].”

Kahn acknowledged that he had no personal knowledge of a reading for Woodrow Wilson. “I heard there was such a meeting, I was not part of that, because I did not go to Washington as an army officer until I returned from France the latter part of 1919.”

Kahn thừa nhận rằng ông không có hiểu biết trực tiếp về một bài đọc cho Woodrow Wilson. “Tôi nghe nói có một buổi như vậy, tôi không dự phần, vì tôi không đến Washington với tư cách sĩ quan quân đội cho đến khi tôi từ Pháp trở về vào cuối năm 1919.”

Wilson had a stroke toward the end of his second term, in September 1919. Cayce gives no date for the first call from Washington, but it appears to have been before Kahn returned from France. Wilson remained in office, ill and partly incapacitated, until the inauguration of his successor, Warren G. Harding, on March 4, 1921—nearly a year and a half after he was stricken.

Wilson bị đột quỵ vào cuối nhiệm kỳ thứ hai, vào tháng Chín năm 1919. Cayce không đưa ngày tháng cho lần gọi đầu tiên từ Washington, nhưng có vẻ là trước khi Kahn trở về từ Pháp. Wilson vẫn tại chức, bệnh và phần nào mất sức, cho đến lễ nhậm chức của người kế nhiệm, Warren G. Harding, vào ngày 4 tháng Ba, 1921—gần một năm rưỡi sau khi ông bị đột quỵ.

While there is no known documentation of any readings for President Wilson, there is documentation of readings Cayce gave for a cousin of the president, a Major Wilson whom Kahn had befriended in the army.

Trong khi không có tài liệu được biết đến về bất kỳ bài đọc nào cho Tổng thống Wilson, thì có tài liệu về những bài đọc Cayce đưa ra cho một người anh em họ của tổng thống, một Thiếu tá Wilson mà Kahn đã kết thân trong quân ngũ.

Cayce’s biographers treated this matter quite differently. Thomas Sugrue, in There Is a River, makes no mention of any readings for either President Wilson or his cousin. Supposedly Cayce was cautioned never to discuss it. Joseph Millard, in Edgar Cayce, Mystery Man of Miracles, reports that Edgar was “mysteriously summoned to Washington” twice during World War I but under “secrecy that was never lifted.” He doesn’t speculate on the purpose.

Các nhà viết tiểu sử về Cayce xử lý vấn đề này rất khác nhau. Thomas Sugrue, trong There Is a River, không đề cập đến bất kỳ bài đọc nào cho Tổng thống Wilson hay người anh em họ của ông. Được cho là Cayce bị cảnh báo không bao giờ được bàn về chuyện đó. Joseph Millard, trong Edgar Cayce, Mystery Man of Miracles, thuật rằng Edgar đã “bí ẩn được triệu đến Washington” hai lần trong Thế chiến I nhưng dưới “bức màn bí mật không bao giờ được vén lên.” Ông không phỏng đoán về mục đích.

Harmon H. Bro, however, in A Seer Out of Season, as well as two earlier books and his doctoral dissertation at the University of Chicago, claimed that Cayce went to the White House twice to give readings at the invitation of President and Mrs. Wilson. Bro acknowledged that he had no documentation, but in his biography of Cayce attributes the story to Kahn. Rather than the president’s illness, as Kahn would have it, the subject was the proposed League of Nations, according to Bro.

Tuy nhiên, Harmon H. Bro, trong A Seer Out of Season, cũng như hai cuốn sách trước đó và luận án tiến sĩ tại Đại học Chicago, tuyên bố rằng Cayce đã đến Nhà Trắng hai lần để đưa các bài đọc theo lời mời của Tổng thống và Bà Wilson. Bro thừa nhận rằng ông không có tài liệu, nhưng trong tiểu sử về Cayce, ông gán câu chuyện cho Kahn. Theo Bro, chủ đề không phải là bệnh tình của tổng thống, như Kahn nói, mà là Liên minh các Quốc gia được đề xuất.

W. H. Church, in Many Happy Returns: The Lives of Edgar Cayce, repeats much the same story, but attributes it to Gladys Davis, Cayce’s longtime secretary.

W. H. Church, trong Many Happy Returns: The Lives of Edgar Cayce, lặp lại hầu như cùng câu chuyện, nhưng gán nó cho Gladys Davis, thư ký lâu năm của Cayce.

What is one to believe?

Vậy nên tin điều gì?

Gladys Davis told the editor that Mr. Cayce had never spoken of this matter to her, and she didn’t know whether it was true or not. There is nothing in his personal correspondence referring to it (but until Gladys was employed in the fall of 1923 little correspondence was kept). Colonel Starling made no reference to such an incident in his memoirs. Although Starling hailed from Hopkinsville, he was much younger than Cayce and did not know him nearly as long as Kahn suggested.

Gladys Davis nói với biên tập rằng Ông Cayce chưa bao giờ nói với Bà về chuyện này, và Bà không biết nó có thật hay không. Không có gì trong thư từ cá nhân của ông đề cập đến chuyện đó (nhưng cho đến khi Gladys được thuê vào mùa thu năm 1923, rất ít thư từ được lưu giữ). Đại tá Starling không nhắc đến sự kiện như vậy trong hồi ký của mình. Dẫu Starling đến từ Hopkinsville, ông trẻ hơn Cayce nhiều và không quen ông ấy lâu như Kahn gợi ý.

Both of Cayce’s sons, when asked about the matter, told the editor their father had never mentioned it to them. Hugh Lynn declined to speculate on whether it was true; Edgar Evans said he doubted the story.

Cả hai con trai của Cayce, khi được hỏi về vấn đề này, nói với biên tập rằng cha họ chưa bao giờ nhắc tới chuyện ấy với họ. Hugh Lynn từ chối phỏng đoán về tính xác thực; Edgar Evans nói ông nghi ngờ câu chuyện.

Woodrow Wilson lived on in declining health in Washington for several years after Cayce was called to the capital “for one high in authority.” If he did give readings for President Wilson, they presumably focused on his physical condition, as Kahn stated, and failed to help—perhaps because it was too late, or that no one close to Wilson, including his physician, took the suggestions seriously. All one knows with certainty is that Wilson did not recover and died in February 1924 at age sixty-six.

Woodrow Wilson sống tiếp trong tình trạng sức khỏe suy giảm ở Washington vài năm sau khi Cayce được gọi tới thủ đô “cho một vị có thẩm quyền cao.” Nếu ông có thực sự đưa các bài đọc cho Tổng thống Wilson, thì có lẽ chúng tập trung vào tình trạng thể xác của ông, như Kahn nói, và đã không giúp ích—có lẽ vì quá muộn, hoặc không ai thân cận Wilson, kể cả bác sĩ của ông, đã coi trọng các gợi ý. Điều duy nhất chắc chắn là Wilson đã không hồi phục và qua đời vào tháng Hai, 1924 ở tuổi sáu mươi sáu.

APPENDIX D—PHỤ LỤC D

ORGANIZING THE WORK: THE A.N.I.—TỔ CHỨC CÔNG VIỆC: A.N.I.