12
DR. KECHUM, 1910: AN UNLIKELY PARTNER—BÁC SĨ KETCHUM, 1910: MỘT CỘNG SỰ KHÔNG NGỜ
After my experiences in Bowling Green, I went to Gadsden, Alabama, where I became associated with a young man in the photography business. My wife and boy remained in Hopkinsville, so I stayed in the home of this man’s parents, who were the most devout Christian people it has ever been my pleasure to know. I often talked with them about some of my experiences, but did not attempt any readings during my stay there.
Sau những trải nghiệm ở Bowling Green, tôi đến Gadsden, Alabama, nơi tôi cộng tác với một thanh niên trong nghề nhiếp ảnh. Vợ và con trai tôi vẫn ở Hopkinsville, nên tôi ở trong nhà cha mẹ của người thanh niên này, những người Cơ Đốc mộ đạo nhất mà tôi từng hân hạnh được biết. Tôi thường trò chuyện với họ về vài trải nghiệm của mình, nhưng không thử bất kỳ bài đọc nào trong thời gian ở đó.
My work as a photographer took me into the country a great deal, traveling about to schools, conventions, and various meetings in several counties. I chose to work outside the studio deliberately on account of wanting to be alone in the open, close to nature, as much as possible. I walked many a mile through the forests from one school district to another in Calhoun and Talladega counties.
Công việc nhiếp ảnh đưa tôi về nông thôn khá nhiều, đi đến các trường học, hội nghị, và nhiều cuộc nhóm họp ở vài quận. Tôi chủ tâm làm việc bên ngoài studio vì muốn ở một mình ngoài trời, gần với thiên nhiên, càng nhiều càng tốt. Tôi đã đi bộ không ít dặm đường xuyên rừng, từ khu học chính này sang khu khác ở các quận Calhoun và Talladega.
In May of that year, 1910, the president of the state normal school at Jacksonville, Alabama, had some correspondence with some of the more prominent investigators of the phenomena who had visited me in Bowling Green. He and one or two physicians undertook some experiments, several with very remarkable results—one an operation, one a deformity in the lower limbs, another a child with some very unusual condition, all responding under the treatments suggested. These were the first readings I had been able to do since my attempt to read the races in Latonia.
Vào tháng Năm năm ấy, 1910, hiệu trưởng trường sư phạm của tiểu bang ở Jacksonville, Alabama, có thư từ với vài nhà điều tra hiện tượng nổi bật hơn, những người đã đến thăm tôi ở Bowling Green. Ông và một hai bác sĩ tiến hành vài thử nghiệm, vài ca cho kết quả rất đáng chú ý—một là phẫu thuật, một là dị tật ở chi dưới, một nữa là một đứa trẻ với tình trạng rất bất thường, tất cả đều đáp ứng với các phương thức điều trị được gợi ý. Đây là những bài đọc đầu tiên tôi có thể thực hiện kể từ lần cố đọc các cuộc đua ở Latonia.
These cases caused considerable comment, and several other readings were then attempted in Anniston and other towns close by. Most of them were conducted by one of the young men students at Jacksonville, A. J. Hyde, who later became the postmaster at Nauvoo, Alabama. The Anniston paper had quite an article regarding some of the experiences.
Những ca này gây nhiều bàn tán, và sau đó vài bài đọc khác được thử ở Anniston và các thị trấn lân cận. Phần lớn do một sinh viên trẻ ở Jacksonville, A. J. Hyde, điều khiển, sau này anh trở thành trưởng bưu điện ở Nauvoo, Alabama. Tờ báo Anniston có một bài khá dài về một số trải nghiệm.
While working in Anniston, I returned home to Hopkinsville to visit my family for a few days. My father told me there was a physician in town, Wesley H. Ketchum, who was very anxious to meet me. We went around to his office and found Dr. Ketchum a very amiable, pleasant young man.1
Trong thời gian làm việc ở Anniston, tôi trở về Hopkinsville thăm gia đình ít ngày. Cha tôi bảo có một bác sĩ trong thị trấn, Wesley H. Ketchum, rất nóng lòng muốn gặp tôi. Chúng tôi đến văn phòng Ông và thấy Bác sĩ Ketchum là một thanh niên rất hòa nhã, dễ mến.1
“I have heard many stories about the things you have done through this country,” he said to me. “In fact, I live in the home of a lady whose hair was turned white overnight through one of your readings.”
“Tôi đã nghe nhiều câu chuyện về những điều anh đã làm trong vùng này,” Ông nói với tôi. “Thực ra, tôi sống trong nhà một bà mà mái tóc đã bạc trắng chỉ sau một đêm vì một bài đọc của anh.”
“What do you mean?” I said.
“Ý Ông là sao?” tôi nói.
“Well,” he replied with a smile, “You told her the dye she was using was injurious to her health.”
Ông mỉm cười đáp, “Anh đã nói với bà ấy rằng loại thuốc nhuộm bà dùng có hại cho sức khỏe.”
Father and I smiled at that one. Dr. Ketchum also had seen Professor Dietrich’s little girl, Aime.
Cha tôi và tôi cười về chuyện đó. Bác sĩ Ketchum cũng đã gặp cô con gái nhỏ của Giáo sư Dietrich, Aime.
“Dietrich and his wife are very enthusiastic, and I think they really believe in you,” said Ketchum. “I would like to see a demonstration.”
“Dietrich và vợ ông ấy rất nhiệt thành, và tôi nghĩ họ thực sự tin ở anh,” Ketchum nói. “Tôi muốn thấy một màn biểu diễn.”
I told him of my sad experiences during the latter part of my stay in Bowling Green, and about the young man who had been sent to the feeble-minded institution and was still there, and that I had tried to do something for him but had failed. My inability to give readings, I told him, led to my decision to leave it all alone. Only in the last few months had I been able to again experiment in physical diagnosis with several physicians in Alabama, I added.
Tôi kể cho Ông nghe những trải nghiệm buồn trong giai đoạn cuối ở Bowling Green, và về chàng trai đã bị đưa vào cơ sở dành cho người chậm phát triển trí tuệ và vẫn còn ở đó, và rằng tôi đã cố làm gì đó cho y nhưng thất bại. Tôi nói với Ông rằng việc tôi không thể cho bài đọc dẫn đến quyết định bỏ hết. Chỉ trong vài tháng gần đây tôi mới có thể lại thử nghiệm chẩn đoán thể chất với vài bác sĩ ở Alabama, tôi nói thêm.
“Well, I want to see it,” Ketchum said. “What do I have to do to get a reading for somebody?”
“Tôi muốn xem,” Ketchum nói. “Tôi phải làm gì để có một bài đọc cho ai đó?”
If he could get a written or verbal report from somebody who really needed it, I told him, I would try it. He asked me to wait a few minutes. He was gone from his office some fifteen or twenty minutes, returning with a piece of paper in his hand.
Tôi nói nếu Ông có được một yêu cầu bằng văn bản hay bằng lời từ ai đó thực sự cần, tôi sẽ thử. Ông bảo tôi đợi vài phút. Ông rời văn phòng chừng mười lăm hai mươi phút, rồi trở về với một mảnh giấy trong tay.
“I have this written request here. When can I get the reading?”
“Tôi có yêu cầu bằng văn bản đây. Khi nào tôi có thể lấy bài đọc?”
“We can try it now.”
“Chúng ta có thể thử ngay bây giờ.”
So I lay down on his examination table, and my father conducted the reading. I did not know Ketchum had a stenographer taking down what was said, as she came in after I was unconscious. When I awoke, Ketchum was standing over me, his thumbs in the armholes of his vest, rocking back and forth on his feet. He said, “Well, that is the most remarkable thing I ever saw in my life, but it is a fake, pure and simple, and I doubt if anyone except someone like myself would catch it. You are a mind reader. Do you know whom you were talking about?”
Thế là tôi nằm lên bàn khám của Ông, và cha tôi điều khiển bài đọc. Tôi không biết Ketchum có một tốc ký viên ghi chép, vì cô vào sau khi tôi đã bất tỉnh. Khi tôi tỉnh, Ketchum đứng cạnh tôi, hai ngón tay cái móc vào nách áo ghi-lê, đu đưa người qua lại. Ông nói, “À, đó là điều kỳ lạ nhất tôi từng thấy trong đời, nhưng đó là trò bịp, hoàn toàn đơn giản, và tôi nghi ngờ chẳng ai ngoài người như tôi mới nhận ra. Anh là người đọc ý nghĩ. Anh có biết anh vừa nói về ai không?”
I said, “No.”
Tôi nói, “Không.”
“Well, I think you do, for you talked about me, and I know what is the matter with me. I have appendicitis. I am going to be operated on next week, but you go along with a lot of bunk and tell me that so many moons ago I had an accident in which I wrenched my spine, which formed something of a lesion, which produced an unpleasantness in my right side, causing me to feel like I have appendicitis. Your reading suggested that I, a regular doctor, go to an osteopath for an adjustment, and that in a few days I will be all right. It is a lot of bunk. I know I have appendicitis, for I have been to six of the best doctors in the state and they all say so.”
“À, tôi nghĩ anh biết đấy, vì anh nói về tôi, và tôi biết tôi bị gì. Tôi bị viêm ruột thừa. Tuần sau tôi sẽ mổ, còn anh thì bày ra một mớ vớ vẩn và bảo rằng cách đây bao nhiêu trăng tôi bị một tai nạn làm vặn cột sống, hình thành một tổn thương, gây khó chịu ở sườn bên phải khiến tôi cảm thấy như bị viêm ruột thừa. Bài đọc của anh gợi ý rằng tôi, một bác sĩ chính quy, nên đến gặp một bác sĩ nắn chỉnh xương khớp (osteopath) để chỉnh lại, và trong vài ngày tôi sẽ ổn. Toàn chuyện tào lao. Tôi biết tôi bị viêm ruột thừa, vì tôi đã đến sáu bác sĩ giỏi nhất trong tiểu bang và họ đều nói vậy.”
“I have never seen you before,” I told Ketchum, “and I had no idea on whom the information was to be given. I don’t even know what was said. I have not claimed anything; I was not trying to show you anything, but merely trying to be of service through a channel by which many have told me they have gotten relief.”
Tôi nói với Ketchum, “Tôi chưa từng gặp Ông trước đây, và tôi không hề biết sẽ cho thông tin cho ai. Tôi thậm chí không biết đã nói gì. Tôi không nhận điều gì; tôi không cố cho Ông thấy điều gì, mà chỉ cố phụng sự qua một kênh mà nhiều người bảo tôi rằng họ đã nhận được sự nhẹ nhõm.”
Ketchum wasn’t the first doctor who didn’t believe in the phenomenon. But he surprised me by offering a proposition.
Ketchum không phải bác sĩ đầu tiên không tin vào hiện tượng. Nhưng Ông khiến tôi ngạc nhiên khi đưa ra một đề nghị.
“Cayce, if you tie up with me we can make a whole barrel of money,” he said. “I can take you to various centers, exhibit you, and collect real money for such experiments as you have done here, but in reality there isn’t a thing to it.”
“Cayce, nếu anh liên kết với tôi, chúng ta có thể kiếm cả một thùng tiền,” Ông nói. “Tôi có thể đưa anh đến nhiều trung tâm, trưng bày anh, và thu được tiền thật cho những thí nghiệm như anh vừa làm ở đây, nhưng thực ra chẳng có gì ở đó cả.”
“Doctor,” I said to him, “it may be a fake and everything you say about it may be true, but it isn’t my fake. If you will prove to me that this is a fake, and that the information is incorrect, I will certainly thank you and will never do another reading. As for trying to make money by fooling someone, far be it from me.” And I walked out of his office.
Tôi nói với Ông, “Thưa Bác sĩ, có thể đó là trò bịp và mọi điều Ông nói về nó là đúng, nhưng đó không phải trò bịp của tôi. Nếu Ông chứng minh cho tôi rằng đây là trò bịp, và rằng thông tin là sai, tôi nhất định cảm ơn Ông và sẽ không bao giờ làm một bài đọc nào nữa. Còn việc cố kiếm tiền bằng cách lừa người khác, xin miễn cho tôi.” Và tôi bước ra khỏi văn phòng Ông.
About nine o’clock that evening the telephone rang in my mother’s home. My father answered and it was Ketchum, asking that we come to his office. Ketchum met us at the door, holding his side with his right hand. Reaching his left hand to me, he said:
Khoảng chín giờ tối hôm đó điện thoại reo ở nhà mẹ tôi. Cha tôi nhấc máy, và đó là Ketchum, yêu cầu chúng tôi đến văn phòng Ông. Ketchum đón chúng tôi ở cửa, tay phải Ông ôm hông. Vươn tay trái ra phía tôi, Ông nói:
“Come in here. You are not a fake. I was just a plain fool. When you left here I got to thinking about what you said and I thought if that had happened, could it have produced the condition with which I am suffering, and the more I studied it the more plausible it seemed. Did you know that I have a copy of what you said?”
“Vào đây. Anh không phải trò bịp. Tôi chỉ là một thằng ngốc. Khi anh rời đây tôi nghĩ về những gì anh nói và tự hỏi nếu điều đó đã xảy ra, liệu nó có thể gây nên tình trạng tôi đang mắc phải không, và càng suy nghĩ tôi càng thấy hợp lý. Anh có biết tôi có bản sao những gì anh đã nói không?”
“No.”
“Không.”
“Well, I have, right here. So I said to myself, ‘Ketchum, don’t be foolish. He has dared you to prove it—now prove it.’ So I went up to see Dr. Oldham, the osteopath, and had an examination. As I sat in his room before he examined me, I asked if he knew you. He said, ‘Yes.’ I asked what he thought of you. He said, ‘Well, he does some very remarkable things. I treated the boy for several months. It is quite remarkable as to how well he outlines a case, but I believe the most he knows he learned from me. He gets an idea as to what is the trouble and has a general smattering of physiology and anatomy by his association with me for several months.’ Then I told him I had never seen you before this afternoon, and that you made no examination of me. I told Oldham, ‘He didn’t know whom he was going to give information on, and he has dared me to prove he is wrong. I want you to help me.’
“Có chứ, ngay đây. Thế là tôi tự nhủ, ‘Ketchum, đừng ngu nữa. Anh ta đã thách anh chứng minh—giờ hãy chứng minh đi.’ Tôi lên gặp Bác sĩ Oldham, bác sĩ nắn chỉnh xương khớp, để khám. Khi ngồi trong phòng Ông ấy trước khi khám, tôi hỏi liệu Ông ấy có biết anh không. Ông ấy nói, ‘Có.’ Tôi hỏi Ông ấy nghĩ gì về anh. Ông ấy nói, ‘À, cậu ta làm vài điều rất đáng chú ý. Tôi đã điều trị cho cậu ấy vài tháng. Thật đáng chú ý về mức độ cậu ấy phác thảo ca bệnh tốt thế nào, nhưng tôi tin phần lớn những gì cậu ấy biết là học từ tôi. Cậu ấy nắm được ý về vấn đề và có hiểu biết chung về sinh lý và giải phẫu qua thời gian làm việc với tôi trong vài tháng.’ Rồi tôi nói với Ông ấy rằng tôi chưa từng gặp anh trước chiều nay, và anh đã không khám tôi. Tôi nói với Oldham, ‘Anh ta không biết sẽ cho thông tin cho ai, và anh ta đã thách tôi chứng minh anh ta sai. Tôi muốn ông giúp tôi.’
“Oldham ran his hand along my spine and came to a certain area and named the specific vertebra, saying, ‘Here is your trouble.’ Then I asked him to look at the report you gave and it was the same! I asked him, ‘Oldham, what would that produce?’
“Oldham rà tay dọc cột sống tôi và tới một vùng nhất định rồi gọi tên đốt sống cụ thể, nói, ‘Đây là chỗ gây rắc rối.’ Rồi tôi bảo Ông ấy xem bản tường trình anh đưa ra, và nó y hệt! Tôi hỏi Ông ấy, ‘Oldham, điều đó sẽ gây ra gì?’
“He said, ‘I suspect, Doctor, you think you have appendicitis.’ Then I asked him what he would do about it? ‘I will place my hand here, I will have my wife hold your feet, and I will turn your body until we reduce this pressure,’ he replied. I said, ‘Read the next line on what Cayce said I should do, for that is precisely what he said!’
“Ông nói, ‘Tôi đoán, thưa Bác sĩ, ông nghĩ mình bị viêm ruột thừa.’ Rồi tôi hỏi Ông ấy sẽ xử lý thế nào? ‘Tôi sẽ đặt tay ở đây, tôi sẽ nhờ vợ tôi giữ chân ông, và tôi sẽ xoay thân ông cho đến khi chúng ta giải phóng được áp lực này,’ Ông ấy đáp. Tôi nói, ‘Đọc dòng tiếp theo xem Cayce bảo tôi nên làm gì, vì đó chính xác là những gì anh ta nói!’
“Cayce, I am convinced there is something very, very unusual about this. You have no right to hide this as you are doing.”
“Cayce, tôi tin rằng có điều gì đó rất, rất khác thường ở đây. Anh không có quyền giấu giếm như anh đang làm.”
I told him I had had many unpleasant experiences and, although several people had obtained real help, I didn’t know what to do with it.
Tôi nói với Ông rằng tôi đã trải qua nhiều điều không mấy dễ chịu và, dù vài người đã nhận được sự giúp đỡ thật sự, tôi không biết phải làm gì với việc này.
About a month after I returned to Alabama I received a wire from Dr. Ketchum asking me to come at once to give information for a very prominent citizen there. As he sent my railroad fare, I took leave of absence from my job, and I went back to Hopkinsville.
Khoảng một tháng sau khi tôi trở lại Alabama, tôi nhận được bức điện từ Bác sĩ Ketchum yêu cầu tôi đến ngay để cho thông tin cho một công dân rất có tiếng ở đó. Vì Ông gửi tiền vé tàu cho tôi, tôi xin nghỉ việc và quay lại Hopkinsville.
When I got home my father had in his hand a written request from the man’s family. When the reading was given, the man’s family was in an adjoining room, so I did not see any of them. Two stenographers took this report. There was very little comment after we had finished the reading. Ketchum simply said, “Well, this is a case where I will have to make further investigations to prove whether this is correct or not.” I then returned to my work and heard no more about the case.2
Khi về đến nhà, cha tôi có sẵn trong tay một yêu cầu bằng văn bản từ gia đình người đó. Khi bài đọc được cho, gia đình người ấy ở phòng kế bên, nên tôi không gặp ai trong họ. Hai nữ tốc ký ghi lại bản báo cáo này. Sau khi xong bài đọc, hầu như không có bình luận gì. Ketchum chỉ nói, “Đây là một ca mà tôi sẽ phải điều tra thêm để chứng minh điều này đúng hay không.” Rồi tôi trở lại công việc và không nghe gì thêm về ca ấy.2
The middle of the summer I moved to Montgomery, Alabama, to work for another photographer, Mr. Tressler. Several local cases were attempted during the latter part of the summer, with my cousin, Thomas E. Cayce, conducting the readings.
Giữa mùa hè tôi chuyển đến Montgomery, Alabama, làm việc cho một nhiếp ảnh gia khác, ông Tressler. Vài ca địa phương được thử trong phần cuối mùa hè, với người anh em họ của tôi, Thomas E. Cayce, điều khiển các bài đọc.
In October, without any warning or idea of it happening, I learned from the newspapers that the case on which I had been called to Hopkinsville to give a reading had been presented to the American Society of Clinical Research in Boston by Dr. Ketchum, and it had been reported by the Associated Press. The New York Times newspaper published an article, too. The headline said:
Tháng Mười, hoàn toàn không báo trước hay có ý nghĩ gì, tôi biết từ các tờ báo rằng ca bệnh mà tôi đã được gọi về Hopkinsville để cho bài đọc đã được Bác sĩ Ketchum trình bày trước American Society of Clinical Research ở Boston, và nó đã được Associated Press tường thuật. Báo New York Times cũng đăng một bài. Dòng tít nói:
ILLITERATE MAN BECOMES A DOCTOR WHEN HYPNOTIZED
NGƯỜI MÙ CHỮ TRỞ THÀNH BÁC SĨ KHI BỊ THÔI MIÊN
Strange Power Shown by Edgar Cayce Puzzles Physicians3
Năng lực lạ lùng do Edgar Cayce biểu lộ khiến các bác sĩ bối rối3
Other newspapers smelled a story and were trying everywhere to locate me. Since it had been reported that I was born and reared in Hopkinsville, my family was besieged by reporters. For some time I withstood all efforts by the press in making a report. Finally Dr. Ketchum, with Albert Noe, a Hopkinsville hotel owner, insisted on my coming for an interview. I found on arrival that over two thousand dollars in cash, checks, and money orders and more than twenty thousand letters had been received at my home. A great deal was carried in the newspapers throughout the country for several months in the fall of 1910. I did not know what to do about it all. Many friends and acquaintances advised this way and that. When Dr. Ketchum and Mr. Noe proposed to conduct a research society on a scientific and businesslike basis, that appealed to me, for I didn’t want to fool myself nor, most of all, anyone else. If I could be of help through these channels, was it a duty I owed my fellow man? Or was I seeking an easy way to induce my fellow man to invest money in something that was the bunk?
Các tờ báo khác đánh hơi thấy có chuyện và tìm mọi cách lần ra tôi. Vì có tin loan rằng tôi sinh ra và lớn lên ở Hopkinsville, gia đình tôi bị phóng viên vây bủa. Một thời gian tôi chịu đựng mọi nỗ lực của báo chí đòi phỏng vấn. Sau cùng Bác sĩ Ketchum, cùng với Albert Noe, một chủ khách sạn ở Hopkinsville, nằng nặc đòi tôi tới để được phỏng vấn. Khi đến nơi, tôi thấy hơn hai nghìn đô-la tiền mặt, séc và phiếu chuyển tiền và hơn hai mươi nghìn bức thư đã được gửi về nhà tôi. Suốt mấy tháng vào mùa thu năm 1910, báo chí cả nước đăng tải rất nhiều. Tôi không biết phải làm gì trước tất cả chuyện ấy. Nhiều bạn bè và người quen kẻ khuyên thế này, người bảo thế kia. Khi Bác sĩ Ketchum và Ông Noe đề nghị lập một hội nghiên cứu trên cơ sở khoa học và theo cung cách kinh doanh, điều đó hấp dẫn tôi, vì tôi không muốn tự dối mình và, quan trọng nhất, là không muốn dối gạt ai. Nếu tôi có thể giúp ích qua các kênh này, liệu đó có phải bổn phận tôi mắc nợ đồng loại chăng? Hay tôi đang tìm một con đường dễ dãi để xúi giục đồng loại đem tiền đầu tư vào một thứ nhảm nhí?
I asked several prominent men in political circles—judges of the city, county, circuit, and state courts—to be present at one of the experiences and to give me their honest opinion as representatives of the people and the law as to whether I would be considered a charlatan and a fake, or whether there was some real information that could be of interest and help to my fellow man. They reduced their opinions to writing, all agreeing that good would be accomplished with the record.
Tôi mời vài nhân vật nổi bật trong giới chính trị—các thẩm phán của tòa thành phố, quận, lưu động và tiểu bang—đến dự một trong các buổi trải nghiệm và cho tôi ý kiến chân thành của họ, với tư cách là đại diện cho dân chúng và pháp luật, rằng tôi sẽ bị coi là một kẻ lang băm, một kẻ giả mạo, hay rằng có một số thông tin thực sự có thể hữu ích, gây quan tâm và giúp đỡ cho đồng loại. Họ viết thành văn bản ý kiến của mình, tất cả đều đồng thuận rằng bản ghi chép đó sẽ đem lại điều tốt lành.
A contract was drawn between Mr. Noe, Dr. Ketchum, and myself. The contract specified that they were to do certain things and I was to do certain things, and whatever profit was made out of it was to be divided equally. In other words, they were to establish an office, furnish the necessary means, etc., for the work to be conducted, and charge certain fees for the work, and so on.4 Before I would enter into the contract, I asked several attorneys and doctors, who were supposed to be honorable, upright, good businessmen, to listen to one of the readings, question it themselves, and tell me whether I had a right to make such a contract or not. They approved. The contract was drawn. The judges of the court told me it was legal and everything. Offices were opened in Hopkinsville. Stenographers were employed, and every bit of the money that had been received was returned, with the request that the individuals become better acquainted with the channels through which they expected to receive information before sending their money.
Một bản hợp đồng được soạn giữa Ông Noe, Bác sĩ Ketchum và tôi. Hợp đồng ghi rõ họ sẽ làm những việc nhất định và tôi sẽ làm những việc nhất định, và mọi khoản lợi nhuận phát sinh sẽ được chia đều. Nói cách khác, họ sẽ lập văn phòng, cung cấp phương tiện cần thiết, v.v., để công việc được tiến hành, và thu một số khoản phí cho công việc, vân vân.4 Trước khi ký hợp đồng, tôi mời một số luật sư và bác sĩ, vốn được xem là đáng kính, liêm chính, những người làm ăn tốt, đến nghe một buổi đọc, tự họ đặt câu hỏi, và cho tôi biết liệu tôi có quyền ký một hợp đồng như vậy hay không. Họ chấp thuận. Hợp đồng được ký. Các vị thẩm phán tòa án bảo tôi rằng nó hợp pháp và mọi thứ ổn thỏa. Văn phòng được mở ở Hopkinsville. Thuê các tốc ký viên, và toàn bộ số tiền đã nhận được đều được hoàn trả, kèm theo lời đề nghị rằng từng cá nhân hãy làm quen kỹ hơn với các kênh mà họ dự liệu sẽ nhận thông tin trước khi gửi tiền của họ.
The office was on the second floor in the building adjoining the bookstore where I had worked. On the door was painted EDGAR CAYCE—PSYCHIC DIAGNOSTICIAN. Just across the little hall was a door painted CAYCE’S STUDIO, for I had made it part of the agreement—when I agreed to associate myself with Dr. Ketchum and Mr. Noe—that they would supply the space and equipment for a studio and furnish the office with as nice office furniture as could be had. This they had done.
Văn phòng nằm trên tầng hai của tòa nhà sát cạnh hiệu sách nơi tôi từng làm việc. Trên cửa sơn dòng chữ EDGAR CAYCE—NHÀ CHẨN ĐOÁN THÔNG LINH. Ngay phía bên kia hành lang nhỏ là cánh cửa sơn dòng CAYCE’S STUDIO, vì theo thỏa thuận—khi tôi đồng ý cộng tác với Bác sĩ Ketchum và Ông Noe—họ sẽ cung cấp không gian và trang thiết bị cho một phòng chụp và trang bị cho văn phòng những món đồ nội thất văn phòng tốt nhất có thể có. Họ đã làm đúng như vậy.
Upon entering the psychic diagnostician’s office, there was a little hallway about six by nine feet, with a nice rug, table, and a couple of chairs. A door led into the main office, which was about eighteen by twenty feet and had quite elaborate furniture—two very large overstuffed rocking chairs; two easy chairs, not rockers; a center table; a large desk at which my father officiated; and a typewriter desk and typewriter. Off the main room was the reading room. It had a high table, specially built, overstuffed, sufficiently long for me to lie upon to give the readings. There was a table and chair for the stenographer, but no chair for the conductor. He had to stand, as the table was too high for him to sit on it.
Bước vào văn phòng của nhà chẩn đoán thông linh, có một hành lang nhỏ khoảng sáu x chín feet, trải thảm đẹp, có bàn và dăm chiếc ghế. Một cánh cửa dẫn vào phòng làm việc chính, chừng mười tám x hai mươi feet, bày biện khá cầu kỳ—hai ghế bập bênh lớn bọc nệm; hai ghế bành, không phải ghế bập bênh; một bàn giữa; một bàn giấy lớn nơi cha tôi ngồi phụ trách; và một bàn máy chữ cùng máy chữ. Từ phòng chính có lối vào phòng dành cho các lần đọc. Phòng này có một chiếc bàn cao, đóng đặc biệt, bọc nệm, đủ dài để tôi nằm lên thực hiện các lần đọc. Có một chiếc bàn và ghế cho tốc ký viên, nhưng không có ghế cho người điều khiển buổi đọc. Ông ấy phải đứng, vì chiếc bàn quá cao để có thể ngồi lên.
I’ve never been able to give more than two—and sometimes three—readings in a day; consequently not a great amount of work could be done, so we were kept busy for the next few months. We attempted many cases locally and some at a distance.5
Tôi chưa bao giờ có thể thực hiện quá hai—và đôi khi là ba—lần đọc trong một ngày; do đó không thể làm được nhiều việc, nên trong vài tháng tiếp theo chúng tôi bận rộn suốt. Chúng tôi thử nhiều ca tại địa phương và vài ca ở xa.5
One case got written up in the newspapers as taken down by Miss Poole:
Một ca được đăng trên báo như do Cô Poole chép lại:
This psychic reading given by Edgar Cayce in Hopkinsville, Ky., this 1st day of December, 1910. Present: Edgar Cayce; L. B. Cayce, Conductor; L. P. Poole, Steno. EC: Mr. Boehme, yes, we have him here. Pretty near wore out.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Hopkinsville, Kentucky, ngày 1 tháng 12, 1910. Hiện diện: Edgar Cayce; L. B. Cayce, Người điều khiển; L. P. Poole, Tốc ký. EC: Ông Boehme, vâng, chúng ta có ông ấy ở đây. Gần như kiệt quệ.
Begin this at the head. Very poor capillary circulation through the whole body, especially near the head and facial muscles and brain and head proper and all the whole head. Capillary circulation is very weak, you see, for the whole system shows it just as it is shown in the head. Down the spine, refractory, dorsal, lumbar, cervical and shows abnormal condition throughout the eighth dorsal, second lumbar. Stomach all swiveled up and the liver too large, much impurity of blood. Circulation is weak through the trunk, through the extremities. Nerves very good for the circulation, you know. Pretty good nerve, pretty good willpower. This condition of the whole body is brought about by the whole system being run down, wore out, from lack of nutriment. Supply to the rest of the system from the stomach itself. Lack of the stomach in itself to supply the quantity needed by the system; the building material for the bone, muscle, nerve, for the blood, brain, for each different organism in itself. Supply from what is taken in by the digestion carried on in the stomach itself. Here we lack the amount of nutriment to carry all this. Calcium, iron, dirt—need more.
Bắt đầu ở phần đầu. Tuần hoàn mao mạch rất kém khắp toàn thân, đặc biệt gần đầu và các cơ mặt và não và phần đầu thực thụ và toàn bộ phần đầu. Tuần hoàn mao mạch rất yếu, thấy không, vì toàn bộ hệ thống thể hiện điều đó đúng như nó thể hiện ở phần đầu. Dọc cột sống, khó trị, lưng trên, thắt lưng, cổ và cho thấy tình trạng bất thường suốt vùng lưng ngực số tám, thắt lưng số hai. Dạ dày co quắt cả lại và gan quá to, nhiều tạp chất trong máu. Tuần hoàn yếu ở thân mình, ở các chi. Thần kinh rất tốt cho tuần hoàn, biết chứ. Thần kinh khá tốt, ý chí khá mạnh. Tình trạng của toàn thân này là do cả hệ thống bị suy sụp, kiệt quệ, vì thiếu dưỡng chất. Nguồn cung cho phần còn lại của hệ thống là từ chính dạ dày. Bản thân dạ dày thiếu khả năng cung cấp lượng cần thiết cho hệ thống; vật liệu xây dựng cho xương, cơ, thần kinh, cho máu, não, cho mỗi cơ quan khác nhau tự nó. Nguồn cung từ những gì được đưa vào qua tiêu hóa diễn ra ngay trong dạ dày. Ở đây chúng ta thiếu lượng dưỡng chất để gánh vác tất cả điều này. Canxi, sắt, đất—cần nhiều hơn.
The impoverished condition of the rest of the system depends on this, you see, from the condition we have here in the stomach now. We destroy this and we see it is gradually impoverished. Thus, we find the whole system here depended on what is taken in here. If you don’t get enough into the stomach to supply life we don’t have it. He has been able to take it. It hurts, it don’t hurt his head, his stomach hurt, wore out, needs a new one to rebuild this one and you cannot put a new one in it. To rebuild first cleanse with water. Wash it clean, thoroughly fill the system with water—pure water—and we take a light diet (not flesh, but cereals and vegetables), until the system is thoroughly cleaned and take iron and calcium. A reaction from the blood to the lungs and get a fuller capillary circulation. Digitalis and strychnine begin to supply the need. It is wore out, and get enough into the stomach to cleanse it thoroughly.
Tình trạng nghèo kiệt của phần còn lại của hệ thống phụ thuộc vào điều này, thấy không, từ tình trạng chúng ta đang có ở dạ dày bây giờ. Ta loại bỏ cái này đi thì thấy nó dần dần nghèo kiệt. Vậy nên, ta thấy toàn hệ thống ở đây lệ thuộc vào những gì được đưa vào đây. Nếu không đưa đủ vào dạ dày để cung cấp sự sống thì ta không có nó. Ông ấy đã có thể hấp thụ. Nó đau, nó không làm đau đầu, dạ dày ông ấy đau, kiệt quệ, cần một cái mới để tái tạo cái này và không thể đặt một cái mới vào đó. Để tái tạo, trước hết tẩy sạch bằng nước. Rửa sạch, tràn ngập hệ thống bằng nước—nước sạch—và ta dùng chế độ ăn nhẹ (không thịt, mà ngũ cốc và rau), cho đến khi hệ thống được làm sạch hoàn toàn và dùng sắt và canxi. Gây một phản ứng từ máu lên phổi và có được tuần hoàn mao mạch đầy đủ hơn. Digitalis và strychnine bắt đầu đáp ứng nhu cầu. Nó đã kiệt quệ, và đưa đủ vào dạ dày để tẩy sạch nó triệt để.
Boehme obtained another reading a few months later. Before we gave this reading, a gentleman from the press came in. He informed me that his name was Roswell Field of the Chicago Examiner and he wanted an interview. It was the first time I ever was interviewed by one of the big Chicago papers.
Boehme nhận một lần đọc khác vài tháng sau. Trước khi chúng tôi thực hiện lần đọc này, có một quý ông từ báo chí bước vào. Ông cho tôi biết tên là Roswell Field của tờ Chicago Examiner và muốn phỏng vấn. Đây là lần đầu tiên tôi được một tờ báo lớn ở Chicago phỏng vấn.
13
CHICAGO, 1911: EXAMINED BY THE EXAMINER—CHICAGO, 1911: ĐƯỢC EXAMINER “KHÁM XÉT”
Roswell Field was the brother of Marshall Field, a big businessman of Chicago. Roswell worked for the Chicago Examiner, a paper owned by Mr. Randolph Hearst. He did some interviews while he was in town and reported two or three articles for his newspaper. The first article ran on the front page with a picture of me with my baby, Hugh Lynn, and another picture of me giving a reading for Mr. Boehme, with my father standing beside me asking the questions, and the stenographer taking it down.1 This is what the Chicago newspaper said:
Roswell Field là em của Marshall Field, một doanh nhân lớn ở Chicago. Roswell làm việc cho tờ Chicago Examiner, một tờ báo thuộc sở hữu của Ông Randolph Hearst. Ông thực hiện vài cuộc phỏng vấn khi ở thị trấn và viết hai hay ba bài cho tờ báo của mình. Bài đầu đăng trang nhất với bức ảnh tôi bế con trai, Hugh Lynn, và một bức khác chụp tôi đang thực hiện một lần đọc cho Ông Boehme, với cha tôi đứng cạnh đặt câu hỏi, và nữ tốc ký viên ghi lại.1 Tờ báo Chicago viết như sau:
PSYCHIST DIAGNOSES AND CURES PATIENTS IGNORANT OF MEDICINE, TURNS HEALER IN TRANCE
NHÀ THÔNG LINH CHẨN ĐOÁN VÀ CHỮA TRỊ BỆNH NHÂN KHÔNG BIẾT Y HỌC, THÀNH THẦY THUỐC TRONG CƠN XUẤT THẦN
Kentuckian New
Người Kentucky Mới
Puzzle for Physicians
Câu Đố Cho Giới Y Khoa
Admits He Can Remember
Thú Nhận Không Nhớ
Nothing That Occurs in
Điều Gì Xảy Ra Trong
Hypnotic Sleep
Giấc Ngủ Thôi Miên
———
———
Solves Murder Mystery
Phá Giải Án Mạng
———
———
Remarkable and Successful
Các Ca Điều Trị Đáng Kinh Ngạc
Treatments Are Sworn To in Affidavits
Và Thành Công Được Tuyên Thệ
———
———
By Roswell Field
Bởi Roswell Field
HOPKINSVILLE, Ky., Feb. 18—”You have before you Mr. August Boehme of 632 Overton Street, Newport, Ky. Go over him carefully, examine him thoroughly and tell us what his condition is now.”
HOPKINSVILLE, Kentucky, 18 tháng 2—“Trước mặt ông là Ông August Boehme, số 632 phố Overton, Newport, Kentucky. Hãy xem xét ông ấy cẩn thận, khám thật kỹ và cho chúng tôi biết tình trạng hiện nay của ông ta.”
So spoke the “suggester,” the father of Edgar Cayce, Jr., the auto-hypnotist, or psychic diagnostician, to the man lying in a trance before him. Very slowly came the reply from the sleeping body.
Người “gợi ý”, cha của Edgar Cayce, Jr., nhà tự thôi miên, hay nhà chẩn đoán thông linh, nói với người đang nằm trong trạng thái xuất thần trước mặt ông. Rất chậm rãi, câu đáp vang lên từ thân thể đang ngủ.
“Mr. August Boehme of 632 Overton Street, Newport, Ky. Yes, we have him here. We have had him before. His condition here is much improved along the circulation, through the digestion, etc., etc.”
“Ông August Boehme, số 632 phố Overton, Newport, Kentucky. Vâng, chúng ta có ông ấy đây. Trước đây ta đã có ông ấy. Tình trạng của ông ấy ở đây đã cải thiện nhiều về tuần hoàn, qua tiêu hóa, v.v., v.v.”
But I am beginning at the wrong end of the story. Who is Edgar Cayce, Jr., and why should he, in a hypnotic condition, be interrogated as to the unseen Mr. Boehme of Newport? That is the question that is exciting the people of his town, perturbing the doctors and delighting the spiritualists, the psychologists and all other seekers after the truth if truth there is in the occult.
Nhưng tôi đang bắt đầu ở đầu sai của câu chuyện. Edgar Cayce, Jr. là ai, và vì sao ở trong trạng thái thôi miên, anh ta lại bị tra hỏi về ông Boehme vô hình ở Newport? Đó là câu hỏi đang kích động dân thị trấn, làm các bác sĩ bối rối và khiến những nhà thần linh học, các nhà tâm lý học và mọi kẻ khác mộ chân lý vui mừng—nếu thực sự có chân lý nào trong cõi huyền bí.
Tobacco War at Hopkinsville
Cuộc Chiến Thuốc Lá ở Hopkinsville
Far back in the mental recesses there is a lurking memory of Hopkinsville as once a center of sensations in which the famous Joe Mulhatton figured. There is a haunting recollection that in this pretty town first appeared the only original seven-legged calf, together with other prizes, the delight of Mr. Barnum’s professional life.
Tận sâu trong ký ức có một hồi ức mơ hồ về Hopkinsville từng là tâm điểm những chuyện giật gân có Ông Joe Mulhatton nổi tiếng dính vào. Có một kí ức ám ảnh rằng chính ở thị trấn xinh đẹp này con bê bảy chân nguyên bản duy nhất đã xuất hiện, cùng với những món “giải thưởng” khác, niềm hân hoan trong đời hành nghề của Ông Barnum.
There was a genuine sensation two years ago when the Night Riders swooped down on the town and suburbs, for Hopkinsville is the heart of a great tobacco raising country, and the tobacco war is a distinct part of martial history. But all these manifestations, great or trivial, have not the flavor of mystery and amazement caused by Edgar Cayce, Jr., farmer’s son, photographer and psychic diagnostician.
Hai năm trước từng xảy ra một biến cố thực sự khi Những Kỵ sĩ Ban đêm ào xuống thị trấn và vùng ven, vì Hopkinsville là trái tim của một vùng trồng thuốc lá lớn, và cuộc chiến thuốc lá là một phần riêng biệt của sử chiến. Nhưng tất cả những thị hiện ấy, lớn hay nhỏ, đều không có hương vị bí ẩn và kinh ngạc như câu chuyện của Edgar Cayce, Jr., con trai một nông dân, thợ ảnh và nhà chẩn đoán thông linh.
And I am going to tell you his story as nearly as possible as he told it to me.
Và tôi sẽ kể cho bạn câu chuyện của anh ấy, sát nhất có thể, như chính anh kể với tôi.
Near the end of Main Street in Hopkinsville, at the side of a narrow flight of stairs, is the sign, “Cayce Studio.” At the head of the stairs are two doors, one of them leading directly into a photography establishment, the other indicating a suite of rooms on the glass entrance of which is painted “Edgar Cayce, Jr., Psychic Diagnostician.” Know then at the outset that the photographer and the psychic diagnostician are identical.
Cuối phố Main ở Hopkinsville, bên cạnh một lối cầu thang hẹp, có tấm biển “Cayce Studio.” Trên đầu cầu thang có hai cánh cửa, một dẫn thẳng vào một cơ sở nhiếp ảnh, cánh kia chỉ một dãy phòng mà trên cửa kính sơn dòng “Edgar Cayce, Jr., Nhà Chẩn Đoán Thông Linh.” Vậy bạn hãy biết ngay từ đầu rằng người thợ ảnh và nhà chẩn đoán thông linh là một.
Possessed Psychic Powers
Sở Hữu Năng Lực Thông Linh
Locally for six or seven years, more or less nationally for perhaps four or five months, the fame of Edgar Cayce has been extending. It was rumored that although a simple, easygoing modest young man, with very little education, he possessed marvelous psychic powers. He was enabled to demonstrate that while in a trance, a cataleptic state, or whatever you may choose to call it, he departed from himself, became seemingly another person, could bring before his mental vision people a hundred, a thousand, three thousand miles away, and without the slightest previous knowledge of their physical condition, diagnose their cases and prescribe treatment for their ailments as his extraordinary mental sight directed.
Tại địa phương trong sáu hay bảy năm, và chừng bốn hay năm tháng trên phạm vi quốc gia, danh tiếng của Edgar Cayce lan rộng. Có lời đồn rằng dẫu là một chàng trai giản dị, dễ gần, khiêm tốn, học vấn rất ít, anh sở hữu năng lực thông linh kỳ diệu. Anh có thể chứng tỏ rằng khi ở trong trạng thái xuất thần, một trạng thái cứng đờ, hay gọi thế nào tùy bạn, anh rời khỏi chính mình, dường như trở thành một người khác, có thể đưa vào tầm nhìn trí óc của mình những người ở cách trăm, ngàn, ba ngàn dặm, và không có chút hiểu biết trước nào về tình trạng thể chất của họ, chẩn đoán bệnh tình và kê phương cách điều trị cho các chứng bệnh của họ theo sự chỉ dẫn của cái nhìn tinh diệu phi thường ấy.
More than this, he would talk in the parlance of the medical profession, discourse with a marvelous knowledge of anatomy and physiology, and make his diagnoses with extraordinary quickness and accuracy.
Hơn nữa, anh sẽ nói bằng cách nói của giới y học, diễn giải với một hiểu biết kỳ lạ về giải phẫu và sinh lý, và đưa ra chẩn đoán với tốc độ và độ chính xác khác thường.
When the doctors at the homes of the patients made their own diagnoses, they were compelled to admit that Cayce had not merely corroborated their own conclusions, but had given suggestions which had escaped them.
Khi các bác sĩ ở nhà bệnh nhân tự làm chẩn đoán, họ buộc phải thừa nhận rằng Cayce không chỉ xác nhận kết luận của chính họ, mà còn đưa ra những gợi ý mà họ bỏ sót.
Called Fake by Doctors
Bị Bác Sĩ Gọi Là Đồ Giả Hiệu
Doctors are a very ethical lot of gentlemen, and do not approve of such dabbling with the black art. So many of them, while openly wondering, declared that Cayce was a fake—but how and where? To conclude this imperfect introduction, it is necessary to say that when Cayce came out of his trance he was neither doctor nor diagnostician; he was merely a simple farmer’s boy, a photographer, if you please, who wouldn’t know a solar plexus nerve from a capillary circulation. He says so himself, and I take his word for it cheerfully.
Các bác sĩ là một nhóm quý ông rất mực coi trọng đạo đức, và họ không tán đồng những trò đùa giỡn với hắc thuật như thế. Vậy nên nhiều người trong họ, trong khi công khai tỏ ra ngạc nhiên, lại tuyên bố rằng Cayce là đồ giả—nhưng giả bằng cách nào và ở đâu? Để kết thúc đoạn mở đầu chưa mấy hoàn chỉnh này, cần phải nói rằng khi Cayce ra khỏi trạng thái xuất thần, anh ta không còn là bác sĩ cũng chẳng phải nhà chẩn đoán; anh chỉ là một chàng trai nông dân giản dị, là thợ ảnh, xin cứ thế đi, người mà đến thần kinh tùng thái dương với tuần hoàn mao mạch anh cũng chẳng phân biệt được. Anh tự nói như vậy, và tôi vui vẻ tin lời anh.
As I was only mildly interested in the photographer, but much so in the psychical gentleman, I turned from the studio and sought the diagnostician. I found him with his father sitting in a reception room, apparently “killing time” in the most approved Kentucky fashion. His appearance was neither conspicuously encouraging nor disappointing. His photograph, which is an admirable one, bears out the impression of a tall, slender young man, with good, honest eyes, sufficiently wide apart, a high forehead and just the ordinary features.
Vì tôi chỉ hơi hứng thú với người thợ ảnh, nhưng lại rất quan tâm đến vị quý ông mang tính cách thông linh, tôi rời phòng chụp và tìm đến nhà chẩn đoán. Tôi thấy anh cùng cha mình ngồi ở phòng tiếp khách, dường như “giết thời gian” theo kiểu Kentucky điển hình nhất. Vẻ ngoài của anh không đến nỗi gây kỳ vọng quá mức cũng chẳng gây thất vọng. Bức ảnh của anh, vốn rất đẹp, cho thấy ấn tượng về một người cao, dong dỏng, với đôi mắt trung thực, đặt cách nhau vừa đủ, vầng trán cao và những nét mặt hết sức bình thường.
He admitted that he is thirty-three years of age, although he does not look over twenty-five, and he told me how the Cayces came from France many years ago, and how one of his grandfathers married an Irish girl, thus showing the possible confusion of Cayce for Casey, pronounced exactly alike. He was born in Christian County, where his father was born also, and the Cayces have been Kentuckians for a hundred years.
Anh thừa nhận mình ba mươi ba tuổi, dù trông không quá hai mươi lăm, và kể với tôi rằng họ Cayce từ Pháp sang nhiều năm trước, và một người ông của anh đã cưới một cô gái Ireland, do đó dẫn tới khả năng nhầm lẫn Cayce thành Casey, phát âm giống hệt nhau. Anh sinh ở Quận Christian, nơi cha anh cũng sinh ra, và nhà Cayce đã là người Kentucky cả trăm năm nay.
Mr. Field then reported how the phenomenon was discovered when I had aphonia and used it to recover my voice. He asked me: “Didn’t it occur to you to use this power for your own advantage?”
Ông Field sau đó thuật lại cách hiện tượng được phát hiện khi tôi bị mất tiếng và dùng nó để lấy lại giọng. Ông hỏi tôi: “Anh không nghĩ tới chuyện dùng năng lực này vì lợi ích riêng của mình sao?”
I replied: “No, sir, I was ashamed of it. It seemed to me that I ought not to be exhibiting myself in such a way.”
Tôi đáp: “Không, thưa ông, tôi xấu hổ vì nó. Với tôi, có vẻ như tôi không nên phô bày bản thân theo cách như thế.”
Field asked how I happened to take up the psychic diagnosis seriously. I told him about my father’s cousin who was an invalid whom I had diagnosed. “He used to tell me that God had given me a gift, which I should use for the benefit of my fellow creatures. I was always ready to do what I could for sick people, but I couldn’t quite bring myself to take up the work as a business. I suppose I was still ashamed. Yes, I went into frequent trances for the benefit of local physicians, and I found that the ‘sleeps’ did not hurt me.”
Field hỏi làm sao tôi lại nghiêm túc theo đuổi việc chẩn đoán thông linh. Tôi kể với ông về người anh họ của cha tôi, một người bệnh kinh niên mà tôi đã chẩn đoán. “Ông thường bảo tôi rằng Thượng đế đã ban cho tôi một ân tứ, mà tôi nên dùng vì lợi ích của đồng loại. Tôi luôn sẵn lòng làm những gì có thể cho người bệnh, nhưng tôi không thể khiến mình xem công việc này như một nghề. Tôi nghĩ tôi vẫn còn xấu hổ. Đúng vậy, tôi thường xuyên vào trạng thái xuất thần vì lợi ích của các bác sĩ địa phương, và tôi nhận thấy những ‘giấc ngủ’ đó không hại gì tôi.”
“Do you mean to say that the trances do not affect you nervously?” he asked.
“Ý anh nói rằng các cơn xuất thần không ảnh hưởng thần kinh đến anh ư?” ông hỏi.
“On the contrary, they seem to do me good. I always feel refreshed and better when I get up. But I have an idea this is because I am really doing good for somebody else, or think I am. And the only times I ever felt languid or depressed were when I was gratifying idle curiosity or doing something I felt I shouldn’t have done. In those days the doctor would ask me to consider three or four cases during one sleep, but now I take only one at a time or three a day.”
“Ngược lại, dường như chúng khiến tôi khỏe hơn. Tôi luôn thấy sảng khoái và khá hơn khi dậy. Nhưng tôi nghĩ có lẽ vì tôi thực sự đang làm điều tốt cho ai đó, hoặc tôi nghĩ là như vậy. Và những lần duy nhất tôi thấy uể oải hay chán nản là khi tôi chiều theo tính tò mò vô ích hoặc làm điều mà tôi cảm thấy không nên làm. Hồi ấy bác sĩ thường bảo tôi xem ba hay bốn ca trong một lần ngủ, nhưng bây giờ tôi chỉ xem từng ca một hoặc ba ca một ngày.”
When the reporter asked me how I accounted for my power, I told him: “I don’t account for it. I don’t know anything about it. I simply know that they show me the copy when I get up, and it’s all Greek to me.”
Khi phóng viên hỏi tôi lý giải năng lực của mình thế nào, tôi nói với ông: “Tôi không lý giải nó. Tôi chẳng biết gì về nó. Tôi chỉ biết rằng họ cho tôi xem bản đánh máy khi tôi dậy, và với tôi thì mù tịt.”
He asked if I’d done any other kind of psychic work.
Ông hỏi liệu tôi có làm dạng công việc thông linh nào khác không.
“Yes, but I don’t like it. I really think that if I were to trifle with this gift, God would take it away from me.”
“Có, nhưng tôi không thích. Tôi thực sự nghĩ rằng nếu tôi đùa giỡn với ân tứ này, Thượng đế sẽ lấy nó khỏi tôi.”
Somebody in the room mentioned the Canada murder case, which happened when I was in Bowling Green. Field asked me to tell him about it.
Ai đó trong phòng nhắc tới vụ án mạng ở Canada, xảy ra khi tôi ở Bowling Green. Field bảo tôi kể cho ông về chuyện đó.
“A friend of mine there was from Canada, and his father sent him a newspaper containing a murder mystery. A girl had been found dead in a house, and her sister was shrieking hysterically, but unable then, or later, to say anything about it. My friend asked me if I could solve the mystery.
“Một người bạn của tôi ở đó là người Canada, và cha ông ấy gửi cho ông tờ báo có đăng một vụ án mạng bí ẩn. Một cô gái được phát hiện đã chết trong một căn nhà, và chị cô thì gào thét cuồng loạn, nhưng lúc đó, cũng như sau này, không thể nói gì về chuyện đã xảy ra. Bạn tôi hỏi liệu tôi có thể giải bí ẩn không.
“I went to sleep and described the murder as I saw it. The two girls had quarreled about a man, and one of the girls shot her sister and threw the pistol down the bathroom drain. I was able to repeat the conversation of the two girls, to describe the pistol, and to tell the police where to look for it. The plumbing was of the old-fashioned kind, and the pistol had gone way down into the sewer, where it had lodged. They found it at the spot I indicated. They also told the girl the conversation as I had repeated it, and she owned up to the murder. The Canadian people sent me the reward advertised, but my wife wouldn’t let me keep it. She said it was blood money. And I never needed money so much in my life.”
“Tôi đi vào giấc ngủ và mô tả vụ giết người như tôi thấy nó. Hai cô gái đã cãi nhau về một người đàn ông, và một cô đã bắn chết chị mình rồi ném khẩu súng xuống cống trong phòng tắm. Tôi có thể lặp lại cuộc đối thoại của hai cô, mô tả khẩu súng, và chỉ cho cảnh sát nơi tìm nó. Hệ thống ống nước kiểu cũ, và khẩu súng đã trôi xuống sâu trong cống, nơi nó mắc lại. Họ tìm thấy nó đúng chỗ tôi chỉ. Họ cũng nhắc lại với cô gái cuộc nói chuyện như tôi đã thuật, và cô đã nhận tội giết người. Người Canada gửi cho tôi khoản tiền thưởng đã đăng, nhưng vợ tôi không cho tôi giữ. Bà nói đó là tiền máu. Mà chưa bao giờ trong đời tôi lại cần tiền đến thế.”
Field wrote:
Field viết:
This impressed me as a pretty good story for a February morning, and I was in the humor for more. So I got out of him the story of his prediction of the death of President Spencer of the Southern Railroad, which was afterward corroborated by citizens.
Điều này khiến tôi thấy như một câu chuyện khá thú vị cho buổi sáng tháng Hai, và tôi đang hứng thú để nghe thêm. Vậy nên tôi hỏi thêm được ở anh câu chuyện về lời dự báo cái chết của Chủ tịch Spencer của Hãng Đường sắt Southern, điều mà sau đó được dân chúng xác nhận.
Cayce, in all his talk with me, betrayed nothing more than a passing interest in his accomplishment … He betrayed no feeling of animosity toward any of the doctors who do not subscribe to his feats, and, in short, manifested, so far as I could see, the greatest indifference to opinion which merely reflected on his power.
Cayce, trong toàn bộ cuộc trò chuyện với tôi, không bộc lộ gì hơn một mối quan tâm thoáng qua về thành tựu của mình … Anh không tỏ ra ác cảm với bất kỳ vị bác sĩ nào không thừa nhận những kỳ tích của anh, và, tóm lại, bộc lộ, theo như tôi nhận thấy, một thái độ điềm nhiên lớn lao trước những ý kiến chỉ đơn thuần phản ánh quyền năng của anh.
It was about the time when he was to diagnose the condition of a gentleman from Newport with which this story opens, and I was glad of the opportunity to witness the modus operandi. The sleeping room, if we may call it such, is just off the reception room. It is a small but well-lit room, and Cayce smiled when I asked him if I shouldn’t put out the electric light which shone in his eyes and would drive the average human being to the verge of frenzy.
Tới giờ anh sẽ chẩn đoán tình trạng của một quý ông đến từ Newport, với phần mở đầu của câu chuyện này, và tôi mừng vì có cơ hội chứng kiến phương thức tiến hành. Căn phòng dành cho ngủ, nếu được gọi như vậy, nằm ngay sát phòng tiếp khách. Đó là một căn phòng nhỏ nhưng sáng sủa, và Cayce mỉm cười khi tôi hỏi có nên tắt bóng điện đang chiếu thẳng vào mắt anh và vốn sẽ khiến người thường tới bờ vực phát điên.
A long, high couch is placed in the middle of the room with a chair and a table for the stenographer at its side. Cayce takes off his coat, waistcoat, necktie, and collar and lies flat on his back on the couch. The stenographer seats herself at the left, and Cayce’s father stands at his right. It was 4:15 when Cayce stretched himself on the couch, lying flat on his back with his hands folded on his stomach. He was wide awake but entirely free from restlessness.
Một chiếc ghế dài cao đặt giữa phòng với một chiếc ghế và chiếc bàn cho nữ tốc ký ở bên cạnh. Cayce cởi áo khoác, áo gi-lê, cà vạt và cổ áo rồi nằm ngửa thẳng người trên ghế. Tốc ký viên ngồi bên trái, và cha của Cayce đứng bên phải. Lúc 4:15, Cayce duỗi người trên ghế, nằm ngửa, hai tay đặt trên bụng. Anh hoàn toàn tỉnh táo nhưng không hề bồn chồn.
In four minutes his eyelids began to droop and his father repeated a formula, somewhat after this fashion: “Edgar, you are going to sleep. You are in perfect health. Your pulse is normal. Your respiration is as it should be and you are in every respect a well man.”
Bốn phút sau mi mắt anh bắt đầu sụp xuống và cha anh lặp lại một công thức ám thị, đại khái thế này: “Edgar, con đang đi vào giấc ngủ. Con hoàn toàn khỏe mạnh. Mạch con bình thường. Hô hấp của con như phải thế và ở mọi phương diện con là một người khỏe mạnh.”
Two minutes later his eyes closed and his father said: “Edgar, you are now asleep.” Then the following inquiries and answers are found in the appended stenographic report. The psychic voice at first was low and feeble, but it grew stronger, until toward the end it was the normal voice of a man awake.
Hai phút sau mắt anh khép lại và cha anh nói: “Edgar, con đang ngủ.” Rồi những câu hỏi và câu trả lời sau đây được ghi lại trong bản tốc ký đính kèm. Giọng nói thông linh lúc đầu nhỏ và yếu, nhưng dần mạnh lên, cho đến gần cuối thì là giọng bình thường của một người thức.
The questioning lasted about seven minutes, when, with the final “No,” the father said, repeating the former assurance of excellent physical condition, “Edgar, you will wake up in one minute and twenty seconds.” I took out my watch, and at the time specified he opened his eyes and rose from the couch, evidently not the worse for his experience. It seemed to me nothing more than a short, healthful nap, and I could discern nothing unusual in his manner at any time.
Cuộc hỏi đáp kéo dài khoảng bảy phút, rồi, với tiếng “Không” ở cuối, người cha nói, lặp lại lời khẳng định trước đó về tình trạng thể chất tuyệt hảo, “Edgar, con sẽ thức dậy sau một phút hai mươi giây.” Tôi rút đồng hồ ra, và đúng thời điểm đã ấn định anh mở mắt và ngồi dậy khỏi ghế, rõ ràng không bị trải nghiệm này làm hại. Với tôi, nó chẳng khác nào một giấc ngủ ngắn, khỏe khoắn, và tôi chẳng nhận thấy điều gì khác thường trong cung cách của anh ở bất kỳ lúc nào.
They say that occasionally he comes out of the sleep exhausted and nervous, but that is only when his visions have been peculiarly trying and unpleasant. So far as I could observe there was no manifestation of the rigor and coldness often associated with the cataleptic state. It would be a joy indeed to snatch forty winks with such ease and seemingly beneficial results.
Người ta nói đôi khi anh ra khỏi giấc ngủ trong tình trạng kiệt sức và bồn chồn, nhưng đó là chỉ khi các thị kiến của anh đặc biệt nặng nề và khó chịu. Theo những gì tôi quan sát, không có biểu hiện của sự cứng đờ và lạnh toát thường gắn với trạng thái cứng đờ. Quả là niềm vui nếu có thể chợp mắt một lát dễ dàng như thế và hình như còn được lợi ích như vậy nữa.
The stenographer transcribed her notes immediately after the diagnosis. I give them just as they come from her, following copy, spelling, and terms. As I remember the words, the transcription is faithful. It has been urged, and doubtless properly, that many mistakes are made either by Cayce’s manner of talking or by the stenographer, but physicians who are unhampered by prejudice say that this is natural and excusable.
Nữ tốc ký viên đánh máy ngay bản ghi chú của mình sau chẩn đoán. Tôi đăng lại đúng như chúng xuất phát từ cô ấy, theo bản chép, chính tả và thuật ngữ. Theo tôi nhớ thì việc chuyển chép là trung thực. Người ta từng nêu, và hẳn là đúng, rằng nhiều sai sót xảy ra hoặc do cách nói của Cayce hoặc do tốc ký viên, nhưng các bác sĩ không bị định kiến chi phối nói rằng điều đó là tự nhiên và có thể bỏ qua.
This is the report of Miss Faxon, the stenographer, omitting the father’s formula:
Đây là bản tường trình của Cô Faxon, nữ tốc ký viên, lược bỏ công thức ám thị của người cha:
This psychic reading given by Edgar Cayce in Hopkinsville, Kentucky, this 16th day of February, 1911. Present: Edgar Cayce; L. B. Cayce, Conductor; Katherine Faxon, Steno.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Hopkinsville, Kentucky, ngày 16 tháng 2, 1911. Hiện diện: Edgar Cayce; L. B. Cayce, Người điều khiển; Katherine Faxon, Tốc ký.
LBC: You have before you Mr. August Boehme, of Newport, Kentucky. Go over him carefully, examine him thoroughly, and tell us what his condition is now.
LBC: Trước mặt ông là Ông August Boehme, ở Newport, Kentucky. Hãy xem xét ông ấy cẩn thận, khám thật kỹ, và cho chúng tôi biết tình trạng hiện nay của ông ấy.
EC: Yes, we have him here; we have had him before. His condition here is much improved along the circulation, through the digestion, that is, the trouble we have had here in the digestion tract in the stomach itself, through the duodenum, through the effect of the pancrean juices on to the digestion, has been much improved by the treatment, both from the exterior and from the internal treatment, interior. What has been taken into the stomach has assimilated well, has assimilated with the juices made by the stomach itself, or by the body itself.
EC: Vâng, chúng ta có ông ấy ở đây; trước đây ta đã có ông ấy. Tình trạng của ông ấy ở đây đã cải thiện nhiều về tuần hoàn, qua tiêu hóa, tức là, vấn đề chúng ta gặp ở đây trong ống tiêu hóa ngay trong dạ dày, qua tá tràng, qua tác động của các dịch tụy lên tiêu hóa, đã được cải thiện nhiều nhờ điều trị, cả từ bên ngoài lẫn từ điều trị bên trong, nội trị. Những gì được đưa vào dạ dày đã được đồng hóa tốt, đã được đồng hóa với các dịch do chính dạ dày tạo ra, hoặc do thân thể tự tạo ra.
We find the capillary circulation, or that given out by the lymphatics, the action of the sympathetic nerve force in the system, is very much in the same condition as we have had before. We have the closeness of the skin; we have the pains here to the head at times; a filling up of the stomach, or that is, from the sympathetics of these actions impairing this, between the sympathetic, and cerebrospinal nerve force of the system, as it were a disconnection here along the regions of the solar plexus nerve at the stomach; they coming in conjunction then with these forces of the cerebrospinal and sympathetic nerve system, have produced on the system, this lackness of capillary circulation or lymphatic circulation. This, being carried to the extent it has, has produced then a condition in itself of closeness of the system, or lack of fat in the body.
Chúng ta thấy tuần hoàn mao mạch, hay cái do hệ bạch huyết đưa ra, hoạt động của mãnh lực thần kinh giao cảm trong hệ thống, vẫn rất giống như trước. Chúng ta có sự “bí bách” của da; thỉnh thoảng có các cơn đau lên đầu; sự đầy ứ ở dạ dày, hay tức là, từ hệ giao cảm, các hoạt động này làm suy kém điều này, giữa thần kinh giao cảm và mãnh lực thần kinh não-tủy của hệ thống, như thể có một sự mất kết nối ở đây dọc vùng thần kinh tùng thái dương tại dạ dày; khi chúng kết hợp với các mãnh lực của hệ thần kinh não-tủy và giao cảm, chúng đã tạo ra trên hệ thống này tình trạng thiếu hụt tuần hoàn mao mạch hay tuần hoàn bạch huyết. Tình trạng này, với mức độ như đã xảy ra, đã gây ra một trạng thái tự thân là sự bí bách của hệ thống, hay thiếu mỡ trong cơ thể.
The condition in itself has been improved here, in the stomach, but the lack of the connection between these, has made some nervous effect on the body …
Tình trạng tự thân ở đây, trong dạ dày, đã cải thiện, nhưng sự thiếu kết nối giữa những phần này đã tạo ra một số ảnh hưởng thần kinh trên cơ thể …
Q. What treatment would you prescribe for this now, to relieve these conditions?
H. Bây giờ ông sẽ kê điều trị gì để làm nhẹ các tình trạng này?
A. Keep what he has, in the system, that is, more of it, as we have taken it along into the intestinal tract of the stomach, but create a unison between the sympathetic and cerebrospinal nervous system, either by electrical force to these nerves, as along the spine and over the body, or by manipulation and resting of the muscular force of the body, by the hands. Perhaps in either way.
Đ. Duy trì những gì ông ấy đang có trong hệ thống, tức là, thêm nữa, như chúng ta đã đưa nó xuống ống ruột của dạ dày, nhưng tạo sự hòa hợp giữa hệ thần kinh giao cảm và não-tủy, hoặc bằng mãnh lực điện truyền đến các dây thần kinh này, như dọc cột sống và khắp thân thể, hoặc bằng xoa bóp và làm thư giãn lực cơ của thân thể, bằng tay. Có lẽ theo cách nào cũng được.
Q. Any other treatment?
H. Còn điều trị nào khác không?
A. No.
Đ. Không.
(signed) Katherine Faxon,
(đã ký) Katherine Faxon,
stenographer
tốc ký viên
This reporter from Chicago wrote another article about the case of Mr. Lucien Davis, a prominent man in town who was a patient of Dr. Ketchum. This is what his article said:
Vị phóng viên từ Chicago này viết một bài khác về trường hợp Ông Lucien Davis, một nhân vật nổi bật trong thị trấn, bệnh nhân của Bác sĩ Ketchum. Bài viết có đoạn:
One of the most remarkable cures the young man has effected was that of Lucien H. Davis, a prominent politician and wealthy contractor. Mr. Davis had been ill for some time and a number of physicians had told him he was a victim of appendicitis. Davis was about to undergo an operation when Cayce was called in and diagnosed the case as one of spinal trouble.
Một trong những ca chữa trị đáng chú ý nhất mà chàng trai trẻ này đã thực hiện là ca của Ông Lucien H. Davis, một chính khách có tiếng và là nhà thầu giàu có. Ông Davis lâm bệnh đã lâu và nhiều bác sĩ nói ông mắc viêm ruột thừa. Davis sắp trải qua một ca mổ thì Cayce được mời đến và chẩn đoán rằng đó là một ca tổn thương cột sống.
The diagnosis and treatment from a stenographer’s report, incorporated into a sworn affidavit, follow:
Bản chẩn đoán và phương pháp điều trị theo bản ghi của tốc ký viên, được đưa vào một bản tuyên thệ, như sau:
At the first cervical vertebrae, the second to the eighth dorsal, second and third lumbar, we find lesions which influence this case through the ganglia on either side, or through the sympathetic nervous system; in the region of the tenth and eleventh dorsal, there is a lesion that affects directly the solar plexus, which lies immediately behind the stomach—in other words we have spinal congestion.
Tại đốt sống cổ thứ nhất, từ đốt lưng thứ hai đến thứ tám, đốt thắt lưng thứ hai và thứ ba, chúng ta thấy các tổn thương ảnh hưởng đến ca này qua các hạch ở hai bên, hoặc qua hệ thần kinh giao cảm; ở vùng đốt lưng thứ mười và mười một, có một tổn thương ảnh hưởng trực tiếp đến đám rối thái dương, vốn nằm ngay sau dạ dày—nói cách khác, chúng ta có tình trạng xung huyết tủy sống.
We have in this case poor excretion of all waste products due to the overtaxed condition of the whole nervous system; all reactive forces are now affecting directly kidneys, liver and spleen. The whole system is easily irritated, pains shift from one part of the body to another, caused by lack of nerve force.
Chúng ta thấy trong ca này việc bài tiết tất cả các sản phẩm thải kém do tình trạng quá tải của toàn bộ hệ thần kinh; mọi lực phản ứng hiện đang ảnh hưởng trực tiếp đến thận, gan và lách. Toàn bộ hệ thống dễ bị kích thích, cơn đau di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác trên cơ thể, do thiếu lực thần kinh.
This condition has been brought about by long-continued overwork, overtaxed condition of all the animal forces—in other words, everything has been running at too high a tension. We find the slowing of the circulation subnormal pulse and sub-normal temperature. We find a lack of leukocytes; the spleen, also is not performing its functions properly; its functioning ability has been overtaxed, consequently inaction.
Tình trạng này xảy ra do lao lực kéo dài, tình trạng quá tải của mọi mãnh lực sinh vật—nói cách khác, mọi thứ đã vận hành ở mức căng thẳng quá cao. Chúng ta thấy nhịp tuần hoàn chậm, mạch dưới chuẩn và thân nhiệt dưới chuẩn. Chúng ta thấy thiếu bạch cầu; lách cũng không thực hiện đúng chức năng; khả năng hoạt động của nó bị quá tải, do đó bất hoạt.
Treatment is outlined which included electrical treatments and adjustments for the lesions. Definite reference is made to the appendix as follows:
Phác đồ điều trị được nêu ra gồm có các liệu pháp điện và nắn chỉnh cho các tổn thương. Một đoạn nhắc cụ thể đến ruột thừa như sau:
Trouble in the region of the appendix, is due to a lesion in the spine. Subcostal nerve being irritated at its root or origin produces pain and irritation at its distribution, which is in the caecum and vicinity of appendix; no organic trouble, purely functional.
Rắc rối ở vùng ruột thừa là do tổn thương ở cột sống. Thần kinh dưới sườn bị kích thích tại rễ hay nơi xuất phát gây đau và kích thích tại nơi phân bố của nó, tức là ở manh tràng và vùng lân cận ruột thừa; không có vấn đề thực thể, thuần túy là chức năng.
It is necessary only to add that Mr. Davis did not die ‘within six weeks’ as previously announced from time to time, but got well under the treatment and is now extremely alive and existing satisfactorily to himself.
Chỉ cần nói thêm rằng Ông Davis đã không chết “trong vòng sáu tuần” như từng được loan báo lúc trước, mà đã khỏi bệnh nhờ điều trị và giờ sống rất khỏe, theo cách hoàn toàn khiến chính ông hài lòng.
After Mr. Field returned to Chicago, I received a request from his managing editor that I be the guest of the newspaper in Chicago, and they would make arrangements for a demonstration. So Mr. Noe, my father, and I went to Chicago and were quartered at the LaSalle Hotel with one or two people to act as escorts, or guards, I do not know which. We were told arrangements were being made for the deans of some of the schools to see a demonstration.
Sau khi Ông Field trở về Chicago, tôi nhận được đề nghị từ tổng biên tập của ông rằng tôi hãy làm khách của tờ báo tại Chicago, và họ sẽ thu xếp một buổi trình diễn. Vậy là Ông Noe, cha tôi và tôi đi Chicago và được bố trí ở Khách sạn LaSalle, kèm theo một hai người đi cùng để hộ tống, hay bảo vệ, tôi cũng không rõ. Chúng tôi được báo là đang thu xếp để các khoa trưởng của vài trường đến xem buổi trình diễn.
After three or four days, about 10:30 or 11:00 o’clock one evening, we were told they had been unable to make connections but they had three physicians there, and if I would agree, one of them would present the case of one of his patients. They asked the physicians present if they would allow their names to be used if it was a success. They said no, and they also refused to let a physician we might select examine the patient. There was much discussion back and forth.
Sau ba bốn ngày, vào khoảng 10 giờ 30 hoặc 11 giờ đêm, người ta nói rằng họ không thu xếp được nhưng có ba vị bác sĩ ở đó, và nếu tôi đồng ý, một trong số họ sẽ đưa ra ca bệnh của một bệnh nhân của ông ta. Họ hỏi các bác sĩ có mặt liệu họ có cho phép dùng tên mình nếu buổi đó thành công không. Họ nói không, và họ cũng từ chối để một bác sĩ chúng tôi có thể chọn khám bệnh nhân. Tranh luận qua lại rất nhiều.
They insisted that I try to locate a missing woman named Dorothy Arnold and unravel several other mysteries that were troubling them locally at the time. My father was very insistent that we not attempt anything of that kind, but several of the reporters argued that I owed it to them, after all the newspaper notoriety they had given me. About two o’clock the next morning I finally agreed to take the case for the doctor.
Họ nằng nặc đòi tôi thử tìm một phụ nữ mất tích tên Dorothy Arnold và tháo gỡ vài bí ẩn khác đang làm họ bối rối tại địa phương khi ấy. Cha tôi rất quả quyết rằng chúng tôi không nên thử bất cứ thứ gì kiểu đó, nhưng vài phóng viên tranh luận rằng tôi mắc nợ họ, sau tất cả sự lừng danh trên báo chí mà họ đã dành cho tôi. Khoảng hai giờ sáng hôm sau, cuối cùng tôi đồng ý nhận ca cho vị bác sĩ.
When we had finished the reading and I was conscious, one physician asked the other if that was a description of his case and what was the matter with his patient.
Khi chúng tôi kết thúc lần đọc và tôi tỉnh dậy, một vị bác sĩ hỏi vị kia liệu đó có phải là mô tả ca bệnh của ông ta không và bệnh nhân của ông mắc gì.
“From what you have heard, what would you say was the matter?” he replied.
“Qua những gì ông nghe, ông sẽ nói bệnh nhân mắc gì?” ông kia đáp.
“I would say there wasn’t very much in the beginning, but you have allowed the case to gradually develop into locomotary ataxia.”
“Tôi sẽ nói lúc khởi đầu không nhiều, nhưng ông đã để ca bệnh dần dần phát triển thành chứng thất điều vận động.”
“That’s what he has now,” he replied.
“Đó chính là tình trạng hiện tại của ông ta,” người bác sĩ trả lời.
The third physician insisted that I attempt information for a very close relative of his. This man was a specialist, I learned later. Very little or nothing, I am told, was gotten on the case.
Vị bác sĩ thứ ba nằng nặc đòi tôi thử cung cấp thông tin cho một thân nhân rất gần gũi của ông. Tôi biết sau này người này là một chuyên gia. Hầu như không, hoặc chẳng có gì, theo tôi được kể, được khai thác từ ca này.
The reporters listened at the doctor’s description, wrote it up, and asked him to sign it. He absolutely refused. The next morning the headlines on the second section were, “He Came, We Saw, But He Did Not Conquer.” This article said I claimed many things and refused to do this, that, or the other; the doctors had said there was nothing whatever in what was given; the stenographers had failed to write anything at all, saying it was such gibberish that was not understandable and was a lot of bunk.
Các phóng viên nghe mô tả của bác sĩ, viết bài và yêu cầu ông ký tên. Ông nhất quyết từ chối. Sáng hôm sau, tựa lớn trên phần hai là, “Anh ta đến, chúng tôi thấy, nhưng anh ta không chinh phục.” Bài báo nói tôi tuyên bố nhiều điều và từ chối làm cái này, cái nọ; các bác sĩ nói chẳng có gì trong những gì được đưa ra; các tốc ký viên không ghi được gì cả, bảo rằng đó toàn là những câu lảm nhảm không hiểu nổi và là một mớ nhảm nhí.
That afternoon’s Chicago Examiner, however, had an article from Hopkinsville containing some fifteen or sixteen affidavits from individuals who claim to have been helped by my readings. That so many thought it was not bunk made me think there must be something to it.
Tuy nhiên, số Chicago Examiner buổi chiều hôm đó lại có một bài từ Hopkinsville đăng khoảng mười lăm hay mười sáu bản tuyên thệ của những cá nhân tuyên bố đã được các lần đọc của tôi giúp đỡ. Rằng nhiều người cho đó không phải chuyện nhảm khiến tôi nghĩ chắc hẳn phải có điều gì đó ở đây.
14
FAMILY CRISES: LIFE AND DEATH—KHỦNG HOẢNG GIA ĐÌNH: SỐNG VÀ CHẾT
About this time my wife, who had been ill for several months, began to get very much worse.1 Several physicians were attending her. The one in charge called me to his office after she had had a very bad night and said:
Khoảng thời gian này vợ tôi, người đã ốm mấy tháng, bắt đầu trở nặng hơn nhiều.1 Vài bác sĩ đang theo dõi bà. Vị phụ trách gọi tôi đến phòng mạch sau một đêm bà trở bệnh rất nặng và nói:
“Cayce, I’m sorry to tell you, old man, but your wife can’t live another week. There’s absolutely nothing we know in medical science that can do her any good, in her present condition. You know she has tuberculosis. One lung is choked. No air has been going through it for months. The other is now affected and you must know from the hemorrhages that it is bleeding. With her high temperature and with her little resistance, she cannot hold out. She is very weak, and the hemorrhages are very bad. She cannot stand another one of them. If there’s anything in this monkey business you’ve been doing with these fellows around here, you’d better try it on your wife.”
“Cayce, tôi rất tiếc phải nói với anh, anh bạn già ạ, nhưng vợ anh không thể sống qua tuần này. Không có bất cứ điều gì chúng tôi biết trong y khoa có thể giúp bà ấy được, trong tình trạng hiện nay. Anh biết bà ấy bị lao. Một lá phổi đã nghẹt. Không khí không đi qua lá đó suốt nhiều tháng. Lá kia nay cũng bị ảnh hưởng và anh hẳn biết qua các cơn xuất huyết rằng nó đang chảy máu. Với nhiệt độ cao của bà ấy và sức chống đỡ kém, bà ấy không thể trụ nổi. Bà ấy rất yếu, và các cơn xuất huyết rất nặng. Bà ấy không thể chịu nổi thêm một cơn nào nữa. Nếu có chút gì trong cái trò ba lăng nhăng anh đã làm với mấy tay ở đây, anh nên thử nó với vợ anh đi.”
Up to that time I had not given a reading for a member of my immediate family, except myself. I asked my wife’s mother and her aunt, Dr. House’s wife, to talk to Dr. Jackson. He told them the same thing. They suggested, “Let’s try a reading.” Of course, I knew the conditions were rather desperate.
Cho đến lúc đó tôi chưa từng thực hiện một lần đọc nào cho người thân thuộc ruột thịt, trừ chính tôi. Tôi nhờ mẹ vợ và bà dì của vợ, phu nhân Bác sĩ House, nói chuyện với Bác sĩ Jackson. Ông nói với họ đúng như thế. Họ đề nghị, “Hãy thử một lần đọc.” Dĩ nhiên, tôi biết tình hình là khá tuyệt vọng.
At some point we all have to face our own deeds, our own conduct before our fellow man; for we must surely meet our own selves often in the lives of individuals whom we have influenced by our activity. But will anyone ever understand what it meant to me to know that I was taking the life of one near and dear to me in my own hands and that the very force and power that I had been wishy-washy with for years must now be put to a crucial test?2
Đến một lúc nào đó tất cả chúng ta đều phải đối diện với chính việc mình làm, chính cách mình hành xử trước đồng loại; vì chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại chính mình nhiều lần trong cuộc đời của những người mà chúng ta đã ảnh hưởng bởi hoạt động của mình. Nhưng liệu có ai thấu được với tôi điều đó có nghĩa gì khi biết rằng tôi đang đặt sinh mạng của người thân yêu vào chính đôi tay mình và rằng chính sức mạnh, quyền năng mà bao năm qua tôi đã đối xử một cách lửng lơ nay phải đem ra thử thách tối hậu?2
I asked physicians and druggists, and sent for one specialist, to listen to the information and to tell me if there was any hope. When I awoke from this experience, the specialist told me, “Most remarkable! Most wonderful lecture I’ve ever heard on tuberculosis, and I’ve lectured at home and abroad, but I don’t see how she may be helped. May I see the case?”
Tôi mời các bác sĩ và dược sĩ, và cho gọi một vị chuyên gia, đến nghe thông tin và cho tôi biết có hy vọng gì không. Khi tôi thức dậy sau trải nghiệm này, vị chuyên gia bảo tôi, “Thật phi thường! Bài thuyết giảng kỳ diệu nhất tôi từng nghe về bệnh lao, và tôi đã giảng trong và ngoài nước, nhưng tôi không thấy làm sao có thể giúp bà ấy. Tôi có thể xem ca bệnh không?”
The druggist said, “Well, you offered a remedy—but I don’t believe it will compound.” But he said he would try it and see. It did compound, and with the first dose she took there were no more hemorrhages. Perhaps she wasn’t ever going to have any more anyway. In a few days there was no fever. Possibly the fever had already broken, I don’t know. Within two weeks she was decidedly on the mend, though it was several months before she was able to go about her household duties.
Người dược sĩ nói, “Vâng, ông đề xuất một phương dược—nhưng tôi không tin là có thể pha chế được.” Nhưng ông bảo sẽ thử xem. Và pha chế được, và với liều đầu tiên bà ấy uống thì không còn xuất huyết nữa. Có lẽ bà ấy sẽ không còn bị nữa dù không dùng thuốc. Vài ngày sau không còn sốt. Có thể cơn sốt đã hạ sẵn rồi, tôi không biết. Trong vòng hai tuần bà ấy hồi phục rõ rệt, dù phải vài tháng sau bà mới có thể đảm đang việc nhà.
The results were all one could ask, far beyond what anyone had ever dreamed. Then I began to think in real earnestness, for I had been told by some that I was all right when I was asleep but was too big a fool when awake to ever be worth anything to anyone to make money. Perhaps I am so even now.
Kết quả vượt quá mọi mong muốn, vượt xa hơn cả điều ai dám mơ. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ thật sự nghiêm túc, vì có người bảo tôi rằng khi ngủ tôi ổn, nhưng khi thức tôi quá đỗi ngốc nghếch để có thể hữu dụng cho ai mà kiếm tiền. Có lẽ đến giờ tôi vẫn vậy.
I laid it all aside again and went back to picture making. But it would not rest. Ever since that day, when the one so close to me was given back to me, I have looked upon all psychic phenomena with a different attitude. For after all, we come to this: no matter what the object in question, until it strikes home, it is a thing far off. For the Savior must become our personal Savior before He, to us as individuals, is the Savior. Just so, we may bicker and haggle and say all manner of hard things about anything we observe, but when it reaches in and gives ease and comfort to our physical bodies, and to our loved ones, then it becomes something worthwhile; and no matter what others may say, to us it is the real thing.
Tôi lại bỏ tất cả qua một bên và trở về với nghề chụp ảnh. Nhưng chuyện ấy không chịu yên. Từ ngày hôm đó, khi người thân cận với tôi được trao trả lại cho tôi, tôi nhìn mọi hiện tượng thông linh bằng một thái độ khác. Vì rốt cuộc, chúng ta đi đến chỗ này: bất kể đối tượng là gì, cho đến khi nó chạm đến nhà mình, nó vẫn là chuyện xa vời. Vì Đấng Cứu Thế phải trở thành Đấng Cứu Thế của chính ta trước khi, đối với ta như một cá nhân, Ngài là Đấng Cứu Thế. Cũng vậy, chúng ta có thể cãi vã, cò kè và buông mọi lời nặng nề về bất cứ điều gì mình thấy, nhưng khi nó chạm vào và mang lại xoa dịu, an ủi cho thân xác ta, và cho những người thân yêu, thì nó trở thành điều đáng giá; và bất kể người khác nói gì, đối với ta đó là điều chân thực.
A few days after the reading for my wife, in January or February 1911, I was at home with her. We were living at Gertrude’s mother’s cottage on East Seventh Street. The house had been redecorated a few months before. It was beautifully finished on the inside. All the woodwork had been grained like the floors. The outside was painted white and trimmed in green. A bookcase was in the hallway, the living room to the right as you entered the hall, the bedroom to the left, where Gertrude was ill.
Vài ngày sau lần đọc cho vợ tôi, vào tháng Giêng hay Hai năm 1911, tôi ở nhà với bà. Chúng tôi sống ở căn nhà nhỏ của mẹ Gertrude trên phố Đông Seventh. Ngôi nhà được trang trí lại vài tháng trước. Bên trong hoàn thiện rất đẹp. Tất cả gỗ được sơn giả vân như sàn nhà. Bên ngoài sơn trắng viền xanh. Có tủ sách ở hành lang, phòng khách bên phải khi vào cửa, phòng ngủ bên trái, nơi Gertrude đang bệnh.
One afternoon our doorbell rang. I went to the door and there stood a rather large, very imposing but brusque-looking gentleman.
Một buổi chiều chuông cửa reo. Tôi ra mở cửa và thấy một quý ông khá to con, rất bệ vệ nhưng trông cộc cằn.
“Is this Cayce?” he asked.
“Anh là Cayce phải không?” ông hỏi.
“Yes, sir.”
“Vâng, thưa ông.”
“Well, I’m Munsterberg from Harvard. I’m here to expose you. There’s been entirely too much written about you in the newspapers lately for this not to be a fake. I’ve exposed more fake mediums than any man in the country. Is this where you do your work?”
“Ta là Munsterberg từ Harvard. Ta đến để vạch trần anh. Báo chí gần đây viết về anh quá nhiều để chuyện này không phải là một trò bịp. Ta đã vạch trần nhiều đồng tử giả mạo hơn bất kỳ ai trong nước. Đây có phải nơi anh làm việc không?”
I told him no, that I had an office in town.
Tôi nói không, rằng tôi có văn phòng ở trong thị trấn.
“Well, what sort of a cabinet do you use?”
“Vậy anh dùng dạng buồng kín nào?”
All this time he was advancing into the house and I turned toward the living room. When I said, “I have no cabinet,” he said:
Trong lúc ấy ông ta vừa nói vừa sấn vào nhà và tôi quay người về phía phòng khách. Khi tôi nói, “Tôi không dùng buồng kín,” ông hỏi:
“Then what is your modus operandi?”
“Vậy phương thức thực hiện của anh là gì?”
I had no idea what he was talking about.
Tôi chẳng có ý niệm ông đang nói gì.
“Well, how do you do it?” he asked.
“Thế, anh làm như thế nào?” ông hỏi.
I told him I would just as soon lie on the floor, or outside in the street, or in the yard, as anywhere else. I did not know what it was, and I could only judge it by its results. “I am becoming convinced that the preparations have to be as much in the individual seeking the information as in myself. I do not claim anything for myself. The more I have seen of the readings the less I know. I would like you to investigate it, and if I am fooling myself or my fellow man, please tell me. Suppose, Doctor, that you see Mr. and Mrs. Dietrich. Suppose you see many of the individuals for whom this information has been given. Here is my wife who is very ill now. Would you like to see what was said? Would you like to examine her? Would you like to see what the physicians say about the compound suggested for her improvement? Would you like to see what has been prepared for her from the suggestions? The results are the only proofs I have. From my experiences with some people, however, I know there is something wrong, else there would not be such a confusion in my own mind. What it is, I do not know. Possibly it is in myself.”
Tôi nói với Ông rằng tôi cũng sẵn lòng nằm ngay dưới sàn, hay ngoài đường, hay ngoài sân, như ở bất cứ chỗ nào khác. Tôi không biết đó là gì, và tôi chỉ có thể phán đoán nó qua các kết quả. “Tôi ngày càng tin rằng sự chuẩn bị cần có nơi người cá nhân tìm kiếm thông tin cũng nhiều như nơi chính tôi. Tôi không tự nhận điều gì cho bản thân. Càng xem nhiều các bài đọc, tôi càng thấy mình biết ít đi. Tôi muốn Ông khảo sát nó, và nếu tôi đang tự lừa mình hay lừa đồng loại, xin hãy nói cho tôi biết. Giả sử, Thưa Bác sĩ, rằng Ông gặp Ông và Bà Dietrich. Giả sử Ông gặp nhiều người mà thông tin này đã được ban cho. Đây là vợ tôi, hiện đang rất ốm. Ông có muốn xem điều đã được nói không? Ông có muốn khám cho Bà ấy không? Ông có muốn xem các bác sĩ nói gì về hợp dược được đề nghị để cải thiện tình trạng của Bà ấy không? Ông có muốn xem những gì đã được chuẩn bị cho Bà ấy theo các gợi ý không? Các kết quả là những bằng chứng duy nhất tôi có. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm của tôi với một số người, tôi biết có điều gì đó không ổn, nếu không thì đã không có sự rối bời như vậy trong chính thể trí của tôi. Nó là gì, tôi không biết. Có thể nó ở nơi chính tôi.”
I produced a copy of the reading for Gertrude from the bookcase, asked him to read it, and if he was a doctor to examine her and see what he thought. But he informed me he was not an M.D.
Tôi lấy một bản bài đọc cho Gertrude từ tủ sách, bảo Ông đọc nó, và nếu Ông là bác sĩ thì hãy khám cho Bà ấy và cho biết ý kiến. Nhưng Ông cho hay Ông không phải là bác sĩ y khoa (M.D.).
Then he asked me about my education, what I had read, and went to the bookcase. There was a very good set of E. P. Roe, a few magazines, and quite a number of books of current literature, as I had made it a rule to give Gertrude a book each month of the bestsellers during the time I worked in the bookstore. He pulled out many of these, leaving some of them where they fell on the floor. He left in about thirty or forty minutes, telling me, “I will look in on you again.”
Rồi Ông hỏi tôi về học vấn của tôi, tôi đã đọc gì, và đi đến tủ sách. Ở đó có một bộ E. P. Roe rất tốt, vài tạp chí, và khá nhiều sách văn học đương thời, vì tôi đã đặt ra một quy luật là mỗi tháng tặng Gertrude một cuốn trong danh sách bán chạy nhất trong thời gian tôi làm ở hiệu sách. Ông lôi ra nhiều cuốn trong số đó, để lại vài cuốn rơi vãi trên sàn. Ông rời đi sau khoảng ba, bốn mươi phút, bảo tôi, “Tôi sẽ ghé lại thăm anh.”
The next morning when I arrived at the office, my father and the stenographer were there. I asked my father if there was an appointment that morning. He said there was a man coming from Cincinnati on the ten o’clock train. While I was telling my father of my experience the day before, Dr. Munsterberg arrived, wearing a great heavy coat, for this morning there was a little snow on the ground. He took a seat in one of the large rockers, had little to say, merely observing my father, the stenographer, and someone who had come in—I don’t remember whether it was Dr. Ketchum or Mr. Noe. He looked at many of the reports which were then being made by the stenographers.
Sáng hôm sau khi tôi đến văn phòng, cha tôi và cô tốc ký đã ở đó. Tôi hỏi cha tôi có cuộc hẹn nào buổi sáng không. Ông nói có một người từ Cincinnati đến trên chuyến tàu mười giờ. Trong khi tôi đang kể với cha tôi về trải nghiệm ngày hôm trước, Bác sĩ Munsterberg đến, mặc một chiếc áo khoác dày nặng, vì sáng nay có ít tuyết trên mặt đất. Ông ngồi vào một trong những chiếc ghế bập bênh lớn, ít nói, chỉ lặng lẽ quan sát cha tôi, cô tốc ký, và ai đó vừa bước vào—tôi không nhớ là Bác sĩ Ketchum hay Ông Noe. Ông xem nhiều bản báo cáo mà lúc đó các cô tốc ký đang thực hiện.
I went into the studio, as I had some plates to look after. I was printing proofs from these plates when my father called to me that Mr. Bomie had arrived for his reading.
Tôi đi vào xưởng, vì tôi có vài bản kính ảnh cần trông nom. Tôi đang in thử từ các bản kính này thì cha gọi tôi rằng Ông Bomie đã đến để nhận bài đọc của mình.
Mr. Bomie talked with my father, who was conducting the readings at that time. Dr. Munsterberg, still sitting in the rocker, had not removed his overcoat, though the room was sufficiently heated. I asked if he cared to witness the reading. He said:
Ông Bomie nói chuyện với cha tôi, người lúc đó đang phụ trách các bài đọc. Bác sĩ Munsterberg, vẫn ngồi trên ghế bập bênh, chưa cởi áo khoác, dù phòng đủ ấm. Tôi hỏi Ông có muốn chứng kiến bài đọc không. Ông nói:
“You’re going to lie on that table?”
“Anh định nằm trên cái bàn đó à?”
“Yes, sir,” I said.
“Vâng, thưa Ông,” tôi nói.
“Well, I can see it from here, and hear all I want to hear,” he said.
“Tôi có thể nhìn từ đây, và nghe tất cả những gì tôi muốn nghe,” Ông nói.
He preferred to sit at the door where he could see all the proceedings—yet not be in the room. I lay down on the elevated couch and gave the reading. When we had finished and I came out, Munsterberg called to Mr. Bomie—he didn’t rise from his chair—and asked:
Ông thích ngồi ở cửa nơi có thể thấy toàn bộ diễn tiến—mà không phải ở trong phòng. Tôi nằm xuống chiếc đi văng cao và cho bài đọc. Khi xong việc và tôi trở ra, Munsterberg gọi Ông Bomie—Ông không đứng dậy khỏi ghế—và hỏi:
“Where did you hear of Cayce?”
“Ông biết Cayce từ đâu?”
Mr. Bomie replied, “I read of him in the newspaper, the Cincinnati Star, I think it was.”
Ông Bomie đáp, “Tôi đọc về Ông ấy trên báo, tờ Cincinnati Star, tôi nghĩ vậy.”
“How much of your condition have you told Cayce?”
“Ông đã kể cho Cayce bao nhiêu về tình trạng của mình?”
“Nothing whatever. I never saw him before my first visit in my whole life. I only read something about him in the paper—I’d been a sufferer for a long time with no results, so I came to see him.”
“Hoàn toàn không gì cả. Tôi chưa bao giờ gặp Ông ấy trước lần đầu tiên trong cả cuộc đời. Tôi chỉ đọc được chút gì đó về Ông ấy trên báo—tôi đã chịu đau khổ lâu dài mà không kết quả, nên tôi đến gặp Ông ấy.”
“Well, what do you think of what he just told you?”
“Thế Ông nghĩ gì về điều Ông ấy vừa nói với Ông?”
“I think it is a better description of myself than I could possibly make.”
“Tôi nghĩ đó là một mô tả về chính tôi còn tốt hơn cả những gì tôi có thể tự mô tả.”
“Are you convinced?”
“Ông đã bị thuyết phục chưa?”
“I certainly am!”
“Chắc chắn rồi!”
“So am I! You do whatever he suggested. It may help where everything else has failed.”
“Tôi cũng vậy! Ông cứ làm theo những gì Ông ấy đề nghị. Nó có thể giúp nơi mọi thứ khác đã thất bại.”
Turning to me, he said, “Cayce, I would like to know more about this. I’ve never encountered anything like it. If you never do another case other than the little Dietrich child, your life has not been in vain. My opinion is that you are tied up with the wrong bunch. Keep your feet on the ground. Do not try to force anything. Keep just as sincere as you are at present. Be a constant listener to the voice within. I believe you will go far. You will hear from me again.”
Quay sang tôi, Ông nói, “Cayce, tôi muốn biết thêm về chuyện này. Tôi chưa từng gặp điều gì như thế. Nếu anh chẳng làm thêm ca nào khác ngoài đứa bé Dietrich tội nghiệp kia, thì đời anh cũng không uổng phí. Ý kiến của tôi là anh đang vướng vào một nhóm người không đúng. Hãy giữ vững đôi chân trên mặt đất. Đừng cố gắng ép buộc điều gì. Hãy giữ nguyên sự chân thành như hiện nay. Hãy luôn lắng nghe tiếng nói bên trong. Tôi tin anh sẽ đi xa. Anh sẽ còn nghe tin từ tôi.”
But I never did.
Nhưng tôi đã không bao giờ nghe.
I continued to read for Dr. Ketchum’s patients.3 But one day I awoke from a reading with the realization that something was wrong. Unknown to me, my associates felt we should turn to making money.4 Something was being misrepresented to me, for the old trouble that I had experienced during the latter part of my stay in Bowling Green seemed to be coming back. Immediately, I tried to get in touch with some of the people for whom we supposedly had been giving readings. Some of them informed me that they had not requested or received readings. When I faced my partners with this information, they said we had to make money faster. They had been getting information on the horse races. I told them I was through, that I could not go on.
Tôi tiếp tục cho bài đọc cho các bệnh nhân của Bác sĩ Ketchum.3 Nhưng một ngày kia tôi tỉnh dậy sau một bài đọc với nhận thức rằng có gì đó sai. Không cho tôi hay, các cộng sự của tôi cảm thấy chúng tôi nên quay sang kiếm tiền.4 Có điều gì đó đã bị bóp méo đối với tôi, vì rắc rối cũ mà tôi từng trải trong giai đoạn sau ở Bowling Green dường như đang quay lại. Lập tức, tôi cố liên lạc với một số người mà chúng tôi được cho là đã cho bài đọc. Một số người trong họ cho tôi biết rằng họ không hề yêu cầu hay nhận bài đọc. Khi tôi đối mặt với các đối tác với thông tin này, họ nói chúng tôi phải kiếm tiền nhanh hơn. Họ đã và đang lấy thông tin về các cuộc đua ngựa. Tôi bảo họ tôi chấm dứt, rằng tôi không thể tiếp tục.
Several months after I felt Mr. Noe had abused the privileges that had been given him, my father, being a party to the contract, brought suit to try to make both of us carry out our contract. The case was tried before a judge who had given me a written opinion that the contract was legal, and who had later offered to buy the contract for several thousand dollars from Mr. Noe. But now this judge ruled from his bench that the contract was illegal and dismissed the case.5 Something within me at the time made me rise and ask the judge if I might speak without being ruled in contempt of court. He said I might speak. That same something within me compelled me to say, “For the lie you have this day enacted, the worms of your body will eat you up while you are yet alive!”
Vài tháng sau khi tôi cảm thấy Ông Noe đã lạm dụng những đặc ân được trao cho Ông ấy, cha tôi, là một bên trong hợp đồng, đã khởi kiện để cố buộc cả hai chúng tôi thực hiện hợp đồng. Vụ án được xét xử trước một vị thẩm phán, người đã cho tôi một văn bản ý kiến rằng hợp đồng là hợp pháp, và sau đó đã đề nghị mua hợp đồng từ Ông Noe với giá vài nghìn đô la. Nhưng giờ vị thẩm phán này lại phán từ ghế xử rằng hợp đồng là bất hợp pháp và bác đơn.5 Lúc ấy, có điều gì đó bên trong khiến tôi đứng dậy và xin thẩm phán cho tôi được nói mà không bị coi là khinh miệt toà. Ông nói tôi có thể nói. Chính điều đó bên trong buộc tôi phải nói, “Vì lời dối trá mà Ông đã diễn hôm nay, bọ giòi trong thân thể Ông sẽ ăn mòn Ông khi Ông còn đang sống!”
In less than two years this was proved true, and he lived two years in this agony. Possibly it was only a coincidence—possibly it was because he was playing with fire.
Chưa đầy hai năm điều này được chứng thực, và Ông đã sống hai năm trong cơn thống khổ đó. Có lẽ chỉ là sự trùng hợp—có lẽ vì Ông đã đùa với lửa.
After that, I took a job working as a photographer in Selma, Alabama. My wife’s health had not improved sufficiently for her to accompany me. During the next several months, two or three readings were given on my wife’s condition. A physician was present, and some new friends I had made, but I did not talk about it very much, as I was trying my best to determine in my own mind whether I should forget about everything of the kind, or whether I should devote more time and thought to the readings.
Sau đó, tôi nhận công việc làm nhiếp ảnh gia ở Selma, Alabama. Sức khoẻ vợ tôi chưa khá lên đủ để đi cùng tôi. Trong vài tháng tiếp theo, hai hoặc ba bài đọc đã được cho tình trạng của vợ tôi. Có một vị bác sĩ hiện diện, và vài người bạn mới tôi đã kết giao, nhưng tôi không nói nhiều về chuyện đó, vì tôi đang cố hết sức để định liệu trong chính thể trí mình liệu tôi nên quên hết mọi thứ thuộc loại này đi, hay nên dành nhiều thời giờ và suy nghĩ hơn cho các bài đọc.
15
SELMA, 912–1919: CAYCE ART COMPANY—SELMA, 1912–1919: CÔNG TY NGHỆ THUẬT CAYCE
I had much time to myself after moving to Alabama, as there was little business in my studio, my family was still at home, and I had not yet become acquainted with many people in Selma. I often reviewed my life’s experiences to that time in a very prayerful, meditative mood.
Sau khi chuyển đến Alabama, tôi có nhiều thời gian cho riêng mình, vì công việc ở xưởng hơi ít, gia đình tôi vẫn còn ở nhà, và tôi chưa quen biết nhiều người ở Selma. Tôi thường ôn lại những kinh nghiệm đời mình cho tới lúc đó trong một tâm thế rất cầu nguyện, chiêm niệm.
One afternoon when I had been praying practically all day, and it had been raining steadily—it was very necessary for some finances to come from somewhere in order to meet my daily needs—I heard someone coming up the steps to the studio, which was on the second floor. I wondered, “Could this be an answer to my prayer? Am I going to be shown a very conclusive demonstration that God can and does use unseen channels to show us the way?” An elderly, little lady, all wet and bedraggled, her poor little bonnet sticking to her face, appeared. As she pulled it off and brushed her hair back, she said, “Mister, do you make large pictures here?” and I said, “Yes, ma’am.”
Một buổi chiều khi tôi đã cầu nguyện hầu như suốt ngày, và trời mưa rả rích—tài chính lúc ấy rất cần đến từ đâu đó để đáp ứng nhu cầu hằng ngày—tôi nghe ai đó đang bước lên bậc thang vào xưởng, vốn ở tầng hai. Tôi tự hỏi, “Có thể đây là lời đáp cho lời cầu nguyện của mình chăng? Mình sắp được cho thấy một minh chứng thật dứt khoát rằng Thượng đế có thể và thực sự dùng những kênh vô hình để chỉ cho chúng ta đường đi?” Một bà lão nhỏ nhắn, ướt sũng và lôi thôi, chiếc mũ con con tội nghiệp dính chặt vào mặt, xuất hiện. Khi bà gỡ nó ra và vuốt lại tóc, bà nói, “Ông ơi, ở đây có làm ảnh lớn không?” và tôi đáp, “Có, thưa Bà.”
She fumbled in her dress and brought out a little tintype. “I have a picture of my boy who is in Alaska. I would like to have the very best picture you can possibly make of this.”
Bà lục trong áo và lấy ra một tấm ảnh tintype nhỏ. “Tôi có một bức ảnh của con trai tôi đang ở Alaska. Tôi muốn có bức ảnh tốt nhất Ông có thể làm từ tấm này.”
I looked at the little faded print and told her what I thought could be done. She said, “Well, I will be very glad for you to do that, and I will pay you now if you will get this check cashed for me. This is from my boy. I have been to everyone in town, but nobody will cash it. I don’t know what to do.”
Tôi nhìn tấm ảnh phai màu và nói với Bà những gì tôi nghĩ có thể làm được. Bà nói, “Thế thì tôi rất mừng để Ông làm, và tôi sẽ trả tiền ngay nếu Ông đổi tấm séc này giúp tôi. Đây là từ con trai tôi. Tôi đã đến tất cả mọi nơi trong thị trấn, nhưng không ai chịu đổi. Tôi không biết phải làm sao.”
I took the check and asked her to wait a moment while I went down to the bank. Mr. Armstrong, the banker, told me, “Cayce, that check has been here three times today already. I am sure it is good, and I suspect this poor mother needs it. If you will endorse the check I will give you the money.” She had already endorsed it.
Tôi cầm séc và bảo Bà đợi một lát trong lúc tôi xuống ngân hàng. Ông Armstrong, người chủ ngân hàng, nói với tôi, “Cayce, tấm séc này đã có ở đây ba lần hôm nay rồi. Tôi chắc nó là séc tốt, và tôi đoán bà mẹ tội nghiệp này cần số tiền đó. Nếu anh chịu ký hậu, tôi sẽ đưa tiền cho anh.” Bà ấy đã ký sẵn rồi.
I told him, “Well, you know I haven’t any money here.”
Tôi nói với Ông, “Ông biết là tôi chẳng có tiền ở đây mà.”
“No, but you and I together will do this little mother a good turn,” he said.
“Không, nhưng anh và tôi cùng nhau sẽ làm một điều tốt cho bà mẹ nhỏ bé này,” Ông nói.
The delight expressed in her face as I gave her the money would be hard for anyone to forget. She paid me for her picture, which enabled me to take care of my obligations for the moment. Then she told me of her little girl, who was afflicted with infantile paralysis, and I in turn told her of some experiences I had had in the years before I came to Selma. She asked me to give her little girl a reading.
Niềm vui rạng ngời trên mặt Bà khi tôi đưa tiền là điều khó ai có thể quên. Bà trả tiền cho bức ảnh, giúp tôi có thể lo liệu các khoản cần kíp lúc ấy. Rồi Bà kể với tôi về cô con gái nhỏ của Bà, bị tật bại liệt trẻ em, và tôi lần lượt kể cho Bà nghe vài kinh nghiệm tôi đã có trong những năm trước khi đến Selma. Bà xin tôi cho cô bé một bài đọc.
A few days later she brought her daughter in. I got Mr. Alfred D. Butler, one of the boys in my Sunday school class, to conduct the reading. The child had a very crooked foot and limb. One physician in town agreed to give his services to see whether what was suggested in the information would help. In less than a year the little girl’s limb was almost perfectly normal. And as long as I lived in Alabama there was scarcely a week that some member of this family did not come in to see me; and they never came without bringing something as a love offering and saying “Thank you.”
Vài ngày sau Bà dẫn con gái tới. Tôi nhờ Ông Alfred D. Butler, một trong các cậu bé trong lớp Trường Chúa nhật của tôi, điều khiển buổi đọc. Cô bé bị chân và cẳng chân rất cong. Một bác sĩ trong thị trấn đồng ý góp công để xem liệu những gì được đề nghị trong thông tin có giúp gì không. Chưa đầy một năm, chân cô bé gần như bình thường hẳn. Và suốt quãng thời gian tôi sống ở Alabama, hầu như không tuần nào mà không có thành viên nào đó trong gia đình này ghé thăm tôi; và họ chẳng bao giờ đến tay không—luôn mang theo chút gì như một lễ vật của tình thương và nói “Cảm ơn.”
The father of the physician who took care of this little girl had been quite ill for some time. The trouble on the side of his head had been diagnosed as cancer. He asked if I would see what a reading would suggest for him. The suggestion was given for a compound, which has proven most helpful in hundreds of cases since then, though its preparation and combination in many instances has been changed for individual use. In this particular case the sore healed and never gave him any more trouble. He died several years later from another condition entirely, or was so diagnosed by his son and others.
Cha của vị bác sĩ chăm sóc em bé này đã ốm khá nặng một thời gian. Vết thương bên đầu của Ông đã được chẩn đoán là ung thư. Ông hỏi tôi liệu tôi có thể xem một bài đọc sẽ đề nghị gì cho Ông. Bài đọc đề nghị một hợp dược, thứ đã tỏ ra rất hữu hiệu trong hàng trăm ca sau đó, dù cách bào chế và phối hợp trong nhiều trường hợp đã được thay đổi cho phù hợp từng cá nhân. Trong trường hợp này, vết loét đã liền và không bao giờ làm phiền Ông nữa. Vài năm sau Ông qua đời do một tình trạng hoàn toàn khác, hoặc được con trai và những người khác chẩn đoán là như vậy.
In the latter part of that year I had a request from a lady in Lexington, Kentucky, whose husband had met Professor Dietrich. She was very anxious that I visit her home to give her a reading. After two or three letters were exchanged, I finally agreed to go. I arrived at her home without being able to induce anyone to accompany me, as I had no money to pay anyone else’s train fare. The lady who had called me was in the most pitiful condition of anyone I had ever seen. She could not move hand or foot, and appeared to be very badly swollen. It all seemed so hopeless to me, but I told her and her husband, as well as the physician present, some of my experiences throughout the years, especially of my wife’s condition. Gertrude’s healing, it seemed, was of special interest to them, as they had heard considerable from Professor Dietrich and others from the western part of the state, and insisted that I try to give the reading. I described to them as best I could what had been told me of how Mr. Layne, my father, and others had conducted the readings, and agreed to let the husband conduct this one. Afterward, they seemed well pleased with the information.
Cuối năm đó, tôi nhận một lời thỉnh cầu từ một bà ở Lexington, Kentucky, có chồng từng gặp Giáo sư Dietrich. Bà rất mong tôi đến nhà để cho Bà một bài đọc. Sau hai ba bức thư qua lại, cuối cùng tôi đồng ý đi. Tôi đến nhà Bà mà không thể thuyết phục ai đi cùng, vì tôi không có tiền trả vé tàu cho ai khác. Người phụ nữ gọi tôi đến đang ở trong tình trạng đáng thương nhất mà tôi từng thấy. Bà không cử động được tay chân, và trông sưng phù rất nặng. Tất cả có vẻ quá tuyệt vọng đối với tôi, nhưng tôi kể cho Bà và chồng Bà, cũng như vị bác sĩ có mặt, vài kinh nghiệm của mình suốt các năm qua, nhất là tình trạng của vợ tôi. Việc Gertrude được chữa lành hình như đặc biệt khiến họ quan tâm, vì họ đã nghe khá nhiều từ Giáo sư Dietrich và những người khác ở miền tây bang này, và khăng khăng đòi tôi cố gắng cho bài đọc. Tôi mô tả với họ tốt nhất có thể về những gì đã được kể cho tôi rằng Ông Layne, cha tôi và những người khác đã điều khiển các bài đọc ra sao, và đồng ý để người chồng điều khiển buổi này. Sau đó, họ có vẻ rất hài lòng với thông tin.
After returning to Selma, I had a letter from the husband, asking that I make a check reading. This information insisted that she was somewhat improved, but there had been a substitution for one of the ingredients in a compound by the doctor who prepared it, and that it had produced a bad rash over the body, but if they would change this she would improve steadily. About a month later I received a wire asking that I come once again to Lexington.
Sau khi trở về Selma, tôi nhận thư từ người chồng, xin tôi làm một bài đọc kiểm tra. Thông tin khẳng quyết rằng Bà đã khá hơn phần nào, nhưng đã có một sự thay thế một thành phần trong hợp dược bởi vị bác sĩ bào chế, và điều đó đã gây nổi rộp xấu khắp người, nhưng nếu họ thay đổi điều này thì Bà sẽ tiến triển đều đặn. Khoảng một tháng sau, tôi nhận được điện tín xin tôi lại đến Lexington lần nữa.
When I arrived in the home I was never more astonished in my life than to see this lady, who had looked so hopeless. She was sitting in a chair and looking very comfortable. Her feet and lower limbs seemed very much better, not swollen so badly. She asked the nurse to loosen her hair and give her the comb and brush. After she had done her hair, she told me, “A few days ago I was able to feed myself for the first time in three years, and it has been five years since I even attempted to raise my hands high enough to do up my own hair, and I wanted you to see the improvement.”
Khi tôi đến nhà, chưa bao giờ tôi kinh ngạc đến thế khi thấy người phụ nữ trước đó trông tuyệt vọng ấy. Bà đang ngồi trên ghế và trông rất dễ chịu. Bàn chân và cẳng chân xem ra khá hơn nhiều, không còn sưng tệ. Bà bảo cô y tá xõa tóc và đưa lược, bàn chải. Sau khi làm tóc xong, Bà nói với tôi, “Vài ngày trước tôi đã tự ăn được lần đầu tiên trong ba năm, và đã năm năm rồi tôi chẳng thể nào giơ tay đủ cao để tự vấn tóc, và tôi muốn Ông thấy sự cải thiện này.”
About eight or nine months later she invited me to her home to a reception which was given for her birthday, and to walk across the floor with her. During this party I met David E. Kahn, who lived next door to her. The Kahn family invited me over for a visit, and my first evening in the Kahns’ home will always be remembered. We discussed and recounted many of my experiences far into the night. I discussed with Mother Kahn my slant on life and the many changes in my outlook produced by my various experiences in relation to others who sought information through the readings.
Chừng tám chín tháng sau, Bà mời tôi đến nhà dự một buổi tiếp khách mừng sinh nhật Bà, và cùng Bà đi ngang căn phòng. Trong buổi tiệc này tôi gặp David E. Kahn, người sống cạnh nhà Bà. Gia đình Kahn mời tôi qua chơi, và buổi tối đầu tiên của tôi tại nhà họ Kahn sẽ luôn được nhớ. Chúng tôi bàn bạc và kể lại nhiều trải nghiệm của tôi tới khuya. Tôi thảo luận với Bà Kahn về góc nhìn của tôi đối với cuộc đời và nhiều đổi thay trong nhãn quan do các trải nghiệm khác nhau của tôi trong mối liên hệ với những người khác tìm kiếm thông tin qua các bài đọc.
She asked for a reading for Dave’s little brother Leon, who had been injured in an accident. Some help was promised, provided they could get the wholehearted cooperation of one who could give the suggested treatment. This was never accomplished. Very little help was obtained for the young man, and none permanently, with the result that he died.
Bà xin một bài đọc cho em của Dave, cậu Leon, người đã bị thương trong một tai nạn. Một số trợ giúp đã được hứa hẹn, miễn là họ có thể nhận được sự cộng tác hết lòng của người có thể cho phương pháp trị liệu được đề nghị. Điều này đã không thực hiện được. Cậu thanh niên nhận được rất ít giúp đỡ, và không có gì lâu dài, kết cục cậu qua đời.
I spent several days at that time in their home. The sincerity manifested by Dave, and especially the consideration and friendly advice given by Mother Kahn, have continued ever since to endear them to my heart and mind.
Lúc đó tôi ở lại nhà họ vài ngày. Sự chân thành thể hiện nơi Dave, và nhất là sự quan tâm và lời khuyên thân tình nơi Bà Kahn, kể từ đó đến giờ luôn khiến họ trở nên đáng yêu trong trái tim và thể trí tôi.
The first mental and spiritual reading, as they are called now, was given on one of these visits to Mother Kahn’s home. It was conducted by Dave himself, and it was for him. He acted in the capacity of questioner and also stenographer, for he took down the information in longhand. Many of our experiences together since that day in many parts of the country are a matter of record with him, and how we were guided by the readings, though I have no copies in my possession of information obtained at that time.
Bài đọc tinh thần và trí tuệ đầu tiên, như bây giờ chúng được gọi, đã được cho trong một trong các lần tôi đến nhà Bà Kahn. Dave tự điều khiển, và bài đó là cho chính anh. Anh đóng vai người đặt câu hỏi và cũng là tốc ký viên, vì anh ghi lại thông tin bằng bút thường. Nhiều trải nghiệm chung của chúng tôi từ ngày đó ở nhiều nơi trên đất nước đã được anh ghi chép, và cách chúng tôi được dẫn dắt bởi các bài đọc, dù tôi không có bản sao nào trong tay về những thông tin nhận được lúc ấy.
In other readings received it was suggested that in a few years there would be a mighty change in the country, and that as conditions developed Dave would leave home; his work would be in a line in which he had not been trained but which would affect his life throughout; it would be well for him to make preparations; that his family would be very much averse to this change, yet it would be better for him, as it would better equip him for experiences to come later.
Trong các bài đọc khác, đã được gợi ý rằng vài năm nữa sẽ có một thay đổi lớn trong đất nước, và khi các điều kiện phát triển Dave sẽ rời nhà; công việc của anh sẽ là một lĩnh vực mà anh chưa từng được đào luyện nhưng sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời anh; tốt hơn là anh nên chuẩn bị; gia đình anh sẽ rất phản đối sự thay đổi này, thế nhưng nó sẽ tốt cho anh, vì nó sẽ trang bị anh tốt hơn cho những trải nghiệm sẽ đến sau đó.
Later that year Gertrude was well enough to bring our boy, Hugh Lynn, and join me in Selma. In February of 1913 Hugh Lynn had a very bad accident. He had seen me make flash pictures in the studio. Some people came in one evening with several pet squirrels. I had made a picture of them, using flash powder. Through negligence I left a quantity of flash powder in a box on the camera stand. The next morning, as the maid was cleaning up, she knocked this box off on the floor. The boy found it. He said later he intended to scare the maid. He struck a match as she came down the stairs, and the head of the match fell in the box of powder. He was bending over it, and the flash and burn got him just above the nostril. There was very little hair left on the front of his head. It was literally blown and burned out.
Cuối năm đó Gertrude đã khoẻ đủ để đưa cậu con trai chúng tôi, Hugh Lynn, và đoàn tụ với tôi ở Selma. Tháng Hai năm 1913 Hugh Lynn gặp một tai nạn rất nặng. Cậu đã thấy tôi chụp ảnh chớp ở xưởng. Một tối có vài người mang theo mấy con sóc cảnh đến. Tôi đã chụp ảnh họ, dùng bột chớp. Do sơ suất tôi để lại một lượng bột chớp trong một hộp trên giá máy ảnh. Sáng hôm sau, khi cô hầu đang dọn dẹp, cô làm rơi cái hộp xuống sàn. Cậu bé nhặt được. Sau này cậu nói là định doạ cô hầu. Cậu quẹt một que diêm khi cô đi xuống cầu thang, và đầu que diêm rơi vào hộp bột. Cậu đang cúi sát, và luồng chớp cùng lửa đã làm phỏng ngay trên lỗ mũi. Phần tóc phía trước đầu hầu như chẳng còn gì. Nó bị thổi bay và cháy sạch.
I rushed downstairs when I heard the explosion and his scream and took him to the doctor. On examination, he informed me that it was quite hopeless with both eyes. My son was blind.
Tôi lao xuống khi nghe tiếng nổ và tiếng thét của con và đưa cậu đến bác sĩ. Khám xong, Ông cho biết cả hai mắt đều vô vọng. Con trai tôi đã mù.
Hugh Lynn suffered great pain and agony. By the fifth or sixth day several doctors and a specialist had seen him. I was advised that if they were to save his left eye it would be necessary to remove the right one. Hugh Lynn’s Sunday school teacher was sitting by the bed trying to quiet him, and the doctor told her to acquaint him with what it was necessary for the doctors to do. To the surprise of everyone, the little fellow raised on his elbow and said to the doctor, “Don’t take out my eyes. When my Daddy’s asleep, he is the best doctor in the world. He’ll tell you what to do, and you’ll do it, won’t you, Doctor?” Neither my wife nor I had considered it practical or reasonable to attempt a reading. But after his request, a reading was taken—and the suggestion was made to change the treatment somewhat, to add certain things. With the first application of tannic acid packs on his eyes, the child asked the nurse, “Is this Daddy’s medicine? I’m easy now.”
Hugh Lynn chịu đau đớn kinh khủng. Đến ngày thứ năm hay thứ sáu đã có vài bác sĩ và một chuyên gia thăm khám. Tôi được khuyên rằng nếu muốn cứu con mắt trái thì cần phải lấy mắt phải ra. Cô giáo Trường Chúa nhật của Hugh Lynn đang ngồi bên giường cố dỗ cậu yên, và bác sĩ bảo cô giải thích với cậu điều cần thiết mà các bác sĩ phải làm. Thật bất ngờ với mọi người, cậu bé nhỏ nhổm khuỷu tay dậy và nói với bác sĩ, “Đừng lấy mắt của cháu. Khi Ba cháu ngủ, Ba cháu là bác sĩ giỏi nhất thế giới. Ba sẽ chỉ cho bác sĩ phải làm gì, và bác sĩ sẽ làm theo, phải không ạ?” Cả vợ tôi lẫn tôi đều không nghĩ thực tế hay hợp lẽ để thử một bài đọc. Nhưng theo lời thỉnh cầu của con, bài đọc đã được thực hiện—và có gợi ý thay đổi việc điều trị đôi chút, thêm vài thứ. Với lần đắp miếng axit tannic đầu tiên lên mắt, đứa trẻ hỏi cô y tá, “Có phải thuốc của Ba không ạ? Giờ cháu thấy dễ chịu rồi.”
A few days later I saw all of the eyelid slough off, and the doctor who was present said, “Cayce, it does look so hopeless.” But the child insisted he was feeling better and didn’t have any more pain.
Vài ngày sau tôi thấy toàn bộ mí mắt bị tróc ra, và bác sĩ có mặt nói, “Cayce, trông chẳng có hi vọng gì.” Nhưng đứa trẻ khăng khăng là cậu thấy khá hơn và không còn đau.
In twelve days from the beginning of the treatment, a scale, as it were, dropped from his eyes as he got up one morning and he screamed out, “I can see!”
Mười hai ngày kể từ khi bắt đầu điều trị, như thể có một lớp vảy rơi khỏi mắt khi sáng hôm đó cậu ngồi dậy và hét to, “Con nhìn thấy rồi!”
Of course, much care was taken in protecting his eyes for a year or more, but his eyes healed completely, and by the time he was twenty-five years old there was not even a scar—unless he got very mad, and then it was livid across his face and forehead.1
Dĩ nhiên, phải rất cẩn trọng bảo vệ đôi mắt suốt một năm hoặc hơn, nhưng mắt cậu đã lành hoàn toàn, và lúc hai mươi lăm tuổi thậm chí chẳng còn vết sẹo nào—trừ khi cậu nổi giận lắm, thì có một vệt bầm chạy ngang mặt và trán.1
A year later, while making some photographs in a nearby town, I had quite an attack of cramps and nausea, which was diagnosed by our family physician, Dr. Gay, as appendicitis. He gave me some treatment for a few days. I improved somewhat and was able to keep going. Then I decided, if I really believed in the readings, I had better get one for myself. The information still insisted that an operation was necessary and should be performed immediately. That evening I called the doctor again and showed him the information. He examined me and carried me to the hospital that night. The next morning they performed the operation. It was said that I had a very bad case, which evidently had existed for several years. So, this was a verification of information given in Bowling Green many years before.
Một năm sau, khi đang chụp ảnh ở một thị trấn gần đó, tôi bị một cơn đau quặn và buồn nôn dữ dội, mà bác sĩ gia đình chúng tôi, Bác sĩ Gay, chẩn đoán là viêm ruột thừa. Ông cho tôi điều trị vài ngày. Tôi khá lên phần nào và có thể tiếp tục cầm cự. Rồi tôi quyết định, nếu tôi thật sự tin các bài đọc, tôi nên nhận một bài cho chính mình. Thông tin vẫn khẳng quyết rằng cần mổ và phải thực hiện ngay. Tối hôm đó tôi gọi bác sĩ lại và cho Ông xem thông tin. Ông khám cho tôi và đưa tôi vào bệnh viện đêm đó. Sáng hôm sau họ mổ. Người ta nói tôi bị một ca rất nặng, rõ ràng đã tồn tại vài năm. Như vậy, đây là một sự kiểm chứng cho thông tin đã được cho ở Bowling Green nhiều năm trước.
The latter part of that year the president of the Sunday school class of which I was a teacher came in one evening and requested a reading for his sister, as the doctors insisted she was mentally ill and there was no hope. Her family and physicians were present, though she was not even in the city at the time. The reading suggested that there was an imbedded wisdom tooth causing the greater trouble, and that the removal of this tooth would clear up conditions in a short while. A hurried trip was made to verify this condition, the tooth was located and removed. A few months later the young lady was herself again and in training for special work.
Cuối năm đó chủ tịch lớp Trường Chúa nhật mà tôi là giáo viên đến một tối và xin một bài đọc cho chị gái Ông, vì các bác sĩ khẳng quyết Bà bị bệnh tâm thần và không còn hy vọng. Gia đình Bà và các bác sĩ đều có mặt, dù Bà thậm chí không có ở trong thành phố lúc ấy. Bài đọc gợi ý rằng có một chiếc răng khôn mọc ngầm gây ra phần lớn rắc rối, và việc nhổ chiếc răng này sẽ sớm làm tình trạng sáng sủa. Một chuyến đi vội vàng được thực hiện để kiểm chứng, chiếc răng được tìm thấy và nhổ đi. Vài tháng sau cô gái lại trở về là chính mình và đang huấn luyện cho công việc chuyên môn.
Another member of my Sunday school class, Mr. Jones, had a good deal of trouble with loss of weight, and complained of headaches; seemingly nothing had done him any good. He asked that I give a reading for him. The treatment outlined for him proved most beneficial. A month or so later he got a reading for his oldest boy which straightened out the lad. Later he had information for his wife and younger son. All of these proved to be very satisfactory in every way. As he said to me, “A reading a year keeps the whole family in good shape, with no need of worrying about their health.”
Một thành viên khác trong lớp Trường Chúa nhật của tôi, Ông Jones, gặp khá nhiều rắc rối vì sụt cân, và kêu đau đầu; dường như chẳng có gì giúp ích cho Ông. Ông xin tôi cho một bài đọc. Phác đồ điều trị được đề ra cho Ông tỏ ra rất hữu hiệu. Một tháng hay lâu hơn, Ông xin bài đọc cho cậu con trai lớn và điều đó đã giúp đưa cậu vào nề nếp. Sau đó Ông nhận thông tin cho vợ và cậu con trai nhỏ. Tất cả đều tỏ ra rất khả quan trên mọi phương diện. Như Ông nói với tôi, “Một bài đọc mỗi năm giữ cho cả gia đình khoẻ mạnh, khỏi phải lo lắng về sức khoẻ.”
In the spring of 1915 I had a return of my trouble, aphonia. The specialist there declared it to be purely psychopathic, and he solicited the aid of a hypnotist who was one of the county officials. This man, on experimenting, declared that I was very susceptible to suggestion, but he had never seen a case exactly like mine. While he could control me to the first stage of hypnotic influence, I seemed to take control of myself after that and he was not able to do anything other than suggest that I wake up.
Mùa xuân năm 1915 tôi lại bị tái phát chứng aphonia (mất tiếng). Vị chuyên gia ở đó xác nhận đây hoàn toàn là tâm bệnh, và Ông đã nhờ sự trợ giúp của một nhà thôi miên là một viên chức quận. Người này, khi thực nghiệm, nói rằng tôi rất dễ bị ám thị, nhưng Ông chưa từng thấy ca nào giống hệt tôi. Trong khi Ông có thể khống chế tôi tới giai đoạn đầu của ảnh hưởng thôi miên, dường như sau đó tôi lại tự nắm quyền kiểm soát và Ông chẳng làm gì được ngoài việc đề nghị tôi thức dậy.
My condition lasted for several months, and I remember one incident during the time that was a wonder to many people. The building in which I had my studio and apartment caught fire. They were all very sure the excitement would make me speak out, but it seemed to work just the opposite. I could say and do nothing except stand and look, wave my arms, run in and out, assisting the firemen to get things out.
Tình trạng của tôi kéo dài vài tháng, và tôi nhớ một sự việc khi ấy khiến nhiều người kinh ngạc. Toà nhà nơi tôi có xưởng và căn hộ bị cháy. Mọi người đều chắc rằng nỗi kích động sẽ khiến tôi thốt ra tiếng nói, nhưng dường như lại tác dụng ngược. Tôi không thể nói hay làm gì ngoài đứng nhìn, vẫy tay, chạy ra chạy vào, phụ giúp lính cứu hoả chuyển đồ ra.
One evening we were trying to get information for myself, as I had been feeling badly, besides the return of the aphonia. The conductor made a mistake in stating just where my body was located; giving the address of an office across the street. When the body was not located there, he asked that the office be described, and there came the statement that a man in the office had been short in his accounts with the government and was trying to get it straight. We had no intimation otherwise that such a thing had even been suspected, but in a few months it was discovered. Of course, the reading had nothing whatever to do with bringing about his questioning. When the correct address was given, my body was located. Apparently, when information is given for me, there has to be just as specific an address given as for anyone else seeking information, and my body isn’t known from anyone else except by the suggestion.
Một tối chúng tôi đang cố xin thông tin cho chính tôi, vì tôi thấy mệt mỏi, ngoài chứng mất tiếng đang trở lại. Người điều khiển đã nhầm khi nêu vị trí thân thể tôi; đưa địa chỉ của một văn phòng bên kia đường. Khi thân thể không ở đó, Ông xin mô tả văn phòng, và xuất hiện lời tuyên rằng một người trong văn phòng đã bị thiếu hụt sổ sách với chính phủ và đang cố lo liệu cho ổn. Chúng tôi không hề có ám chỉ nào khác rằng điều như vậy đã bị nghi ngờ, nhưng vài tháng sau điều đó được phát hiện. Dĩ nhiên bài đọc hoàn toàn không dính dáng gì đến việc dẫn tới việc người kia bị thẩm vấn. Khi địa chỉ đúng được đưa ra, thân thể tôi được định vị. Rõ ràng, khi cho thông tin cho chính tôi, cũng phải nêu địa chỉ cụ thể y như với bất cứ ai khác tìm kiếm thông tin, và thân thể tôi không được biết đến khác với người khác ngoại trừ bằng ám thị.
One day a gentleman who was connected with the gas company came in and told me he had been a student of suggestive therapeutics and the like for some time. He had been in with some of the others watching the experiment. He said he would like to try a reading.
Một ngày nọ, một quý ông làm cho công ty gas đến và nói với tôi rằng Ông đã học tập về liệu pháp ám thị và những thứ tương tự một thời gian. Ông đã từng dự cùng vài người khác xem các thử nghiệm. Ông nói Ông muốn thử một bài đọc.
I am told that his suggestion was, “Now we are going rabbit hunting, and I want to you to call the dogs.” Those who were present said I seemed to take on the air of one who was watching a chase and very soon began to whistle for the dogs and after a bit quieted down, and the suggestion was given that I would wake up feeling all right and be able to talk normally, which I did! This man also had a reading a little later for his boy, as the physician had declared he was tubercular. Under the suggested treatment, he got along nicely and was able to throw it off entirely.
Tôi được kể rằng gợi ý của Ông là, “Giờ chúng ta đi săn thỏ, và tôi muốn anh gọi bầy chó.” Những người có mặt nói rằng tôi dường như lấy dáng vẻ của người đang xem một cuộc săn và rất nhanh sau đó bắt đầu huýt sáo gọi bầy chó và sau một lúc lắng xuống, và có gợi ý rằng tôi sẽ thức dậy thấy khoẻ khoắn và có thể nói bình thường, và tôi đã nói được! Người này cũng có một bài đọc sau đó không lâu cho cậu con trai, vì bác sĩ nói cậu bị lao. Dưới sự điều trị được đề nghị, cậu khoẻ dần và có thể vượt qua hoàn toàn.
This same man came to the studio one day almost out of breath. He had been running. “Cayce, do you want to save a woman’s life? Down where I am boarding is a lady whom the doctors say is dying, and they have already left her with the nurse.”
Chính người này một hôm chạy thục mạng đến xưởng tôi. Ông đã chạy. “Cayce, anh có muốn cứu mạng một phụ nữ không? Ở chỗ tôi trọ có một bà, các bác sĩ nói Bà sắp chết, và họ đã rời đi, chỉ để lại cô y tá.”
The reading suggested something which might be done immediately for relief, and pronounced the condition as the effects from pneumonia. When I was conscious again the man seemed quite excited. He said, “I have to go right now, but I must come back and tell you some of the things you gave that we weren’t looking for.”
Bài đọc đề nghị điều gì đó có thể làm ngay để giảm nhẹ, và xác quyết tình trạng là hậu quả do viêm phổi. Khi tôi tỉnh, người đàn ông có vẻ khá kích động. Ông nói, “Tôi phải đi ngay, nhưng tối nay tôi sẽ quay lại nói với anh vài điều anh đã đưa ra mà chúng tôi không hề ngờ tới.”
That evening he came in and said, “Well, the patient is resting easy. A new doctor who has been called says she is out of danger and there is no reason why she shouldn’t get along all right.” She did and is still living.
Tối đó Ông đến và nói, “Bệnh nhân đang nghỉ yên. Một bác sĩ mới được mời nói Bà đã qua cơn nguy hiểm và không có lý do gì Bà không thể bình phục.” Bà đã bình phục và tới giờ vẫn còn sống.
Then he said, “What I wanted to tell you was, this morning in the reading you said, ‘Do this (meaning what you had outlined, I suppose) and she will be all right, but the physician who has gone off and left her has only six months and six days to live.’”
Rồi Ông nói, “Điều tôi muốn nói với anh là, sáng nay trong bài đọc anh đã nói, ‘Hãy làm thế này (ý là những điều anh đã đề ra, tôi cho là vậy) và Bà ấy sẽ ổn, nhưng vị bác sĩ đã bỏ đi và để mặc Bà ấy chỉ còn sống được sáu tháng sáu ngày nữa.’”
Six months and six days after that time this physician dropped dead in front of his home. This was verified, for many knew of the prediction, if it might be called such.
Sáu tháng sáu ngày sau đó, vị bác sĩ ấy đột tử ngay trước cửa nhà. Điều này đã được kiểm chứng, vì nhiều người biết về lời dự báo, nếu có thể gọi là thế.
In the early part of 1916 I was again called to Lexington by Dave Kahn to give a reading for some of the people who had been present at the experiments during my previous visit. This proved to be a very satisfactory reading for a patient who had been pronounced a hopeless mental condition. He improved very fast, soon becoming well and strong,
Đầu năm 1916 tôi lại được gọi đến Lexington bởi Dave Kahn để cho một bài đọc cho vài người đã có mặt trong các cuộc thử nghiệm trong lần thăm trước. Điều này tỏ ra là một bài đọc rất thoả đáng cho một bệnh nhân từng bị tuyên là tình trạng tâm thần vô vọng. Ông ấy hồi phục rất nhanh, sớm khoẻ mạnh,
During the same visit Dave asked questions as to what his life work would be. It was said that he would be away from the fold for some time; he would go across many waters; he would go in honor, come in honor, and there would be a change entirely in his surroundings and line of work when he settled again; but it was not intimated what would be the cause of his leaving or as to how long he would be away.
Trong cùng chuyến thăm, Dave hỏi những câu về công việc đời mình sẽ là gì. Người ta nói rằng anh sẽ rời khỏi đàn một thời gian; anh sẽ băng qua nhiều vùng biển; anh sẽ ra đi trong vinh dự, trở về trong vinh dự, và sẽ có một thay đổi hoàn toàn trong môi trường và lĩnh vực công việc khi anh ổn định trở lại; nhưng không nói rõ nguyên nhân khiến anh rời đi là gì hay anh sẽ đi bao lâu.
Just before war was declared between the United States and Germany in 1917, I received a wire from Dave in New York, asking that I tell him what he was doing and how he must proceed with his undertaking. The reading said that war would be declared, there would be a call for volunteers, establishment of training camps and the like; that he was already trying to use political influence, which would get him nowhere, but he should apply through the regular channels and he would be commissioned in a department where he might be of the most service and have a more agreeable situation for himself; and that in the training camp to which he would go, he should arrange entertainment for the troops.
Ngay trước khi chiến tranh được tuyên bố giữa Hoa Kỳ và Đức vào năm 1917, tôi nhận được điện tín từ Dave ở New York, xin tôi cho biết anh đang làm gì và anh phải tiến hành công việc như thế nào. Bài đọc nói rằng chiến tranh sẽ được tuyên bố, sẽ có lời kêu gọi quân tình nguyện, lập các trại huấn luyện và tương tự; rằng anh đang cố dùng ảnh hưởng chính trị, điều sẽ không đưa anh đi đến đâu, mà anh nên nộp đơn qua các kênh chính thống và anh sẽ được phong sĩ quan trong một ngành mà anh có thể phụng sự hữu hiệu nhất và có hoàn cảnh dễ chịu hơn cho chính mình; và rằng trong trại huấn luyện nơi anh sẽ đến, anh nên thu xếp giải trí cho binh sĩ.
It was some months before all this came about, but it did, and almost identically with what his reading outlined. In camp he spoke to some of his superior officers about the readings, and we had considerable correspondence and some very satisfactory exchange of ideas, eventually a reading for a professor of Howe School in Indiana, which proved to be very satisfactory. He reported aid coming to his family, where seemingly everything else had failed.
Phải vài tháng sau mọi điều này mới xảy ra, nhưng đã xảy ra, hầu như y hệt những gì bài đọc của anh phác hoạ. Trong trại, anh nói với vài cấp trên về các bài đọc, và chúng tôi đã thư từ khá nhiều và có những trao đổi ý tưởng rất thoả đáng, cuối cùng là một bài đọc cho một giáo sư của Trường Howe ở Indiana, và điều đó cũng tỏ ra rất tốt. Ông báo tin gia đình mình nhận được sự trợ giúp, nơi mà dường như mọi thứ khác đã thất bại.
Some months later Dave was sent to Fort Worth, Texas. From there we received the request for information concerning his association with his superior officer. His reading said that he would not embark for many months, though they had already had orders to move, but when he did they would move to the East Coast and there he would have the opportunity either to remain in this country or go abroad with his division. It was recommended that by all means he should go. This offer would be made by his superior officer, who—though he expected to go—would not go abroad. This also came to pass and it was almost identical to the information in the reading.
Vài tháng sau Dave được cử đến Fort Worth, Texas. Từ đó chúng tôi nhận yêu cầu thông tin liên quan đến mối quan hệ của anh với cấp trên. Bài đọc của anh nói rằng anh sẽ chưa lên tàu trong nhiều tháng, dù họ đã có lệnh di chuyển, nhưng khi đi họ sẽ di chuyển đến Bờ Đông và ở đó anh sẽ có cơ hội hoặc ở lại trong nước hoặc ra nước ngoài cùng đơn vị. Khuyến nghị là dù thế nào đi nữa anh cũng nên đi. Lời đề nghị này sẽ do cấp trên của anh đưa ra, người—dù trông chờ sẽ đi—nhưng sẽ không ra nước ngoài. Điều này cũng đã xảy ra và hầu như y hệt thông tin trong bài đọc.
Dave and I exchanged many letters while he was in France, and many people in various parts of the country wrote to me following the interest aroused by Dave’s telling his experiences with the readings, as well as some of mine. One which seemed to be of particular interest was from a consul in Italy. A reading was given for him and his wife about his return to his post in Italy. A request came through this consul for a reading from one in the house of royalty. The letter was written in Italian, and of course I couldn’t read it, as I didn’t know any other language save American (I couldn’t even say that I knew English).
Dave và tôi đã trao đổi nhiều thư khi anh ở Pháp, và nhiều người ở nhiều nơi trong cả nước đã viết cho tôi sau khi Dave kể về trải nghiệm của anh với các bài đọc, cũng như vài trải nghiệm của tôi. Một chuyện có vẻ đặc biệt đáng chú ý là từ một vị lãnh sự ở Ý. Một bài đọc đã được cho Ông và vợ Ông về việc Ông trở lại nhiệm sở ở Ý. Qua vị lãnh sự này có yêu cầu một bài đọc từ một người trong Hoàng gia. Bức thư viết bằng tiếng Ý, và dĩ nhiên tôi không đọc được, vì tôi không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng Mỹ (tôi thậm chí không dám nói là mình biết tiếng Anh).
I succeeded in getting a fruit vendor in Selma to translate it for me. He seemed very excited to find that someone of so high a position in his own country was writing to a little photographer in Alabama for information concerning his wife’s physical condition. He was present when the information was given. To the astonishment of everyone, much of it was not understandable except to the fruit vendor, who declared it was given in Italian. The request was made that it be repeated in an understandable manner so that the stenographer could make a report to send to the individual, and this seemed to be most satisfactory.
Tôi nhờ được một người bán trái cây ở Selma dịch giúp. Ông có vẻ rất phấn khích khi thấy có người ở vị thế cao như vậy trong nước Ông đang viết cho một anh thợ ảnh nhỏ bé ở Alabama để xin thông tin về tình trạng thể xác của vợ mình. Ông có mặt khi thông tin được cho. Thật đáng kinh ngạc, nhiều phần trong đó chỉ mình người bán trái cây hiểu được, người này xác nhận rằng thông tin đã được truyền đạt bằng tiếng Ý. Yêu cầu được đưa ra là lặp lại theo cách dễ hiểu để cô tốc ký có thể lập bản báo cáo gửi cho đương sự, và việc này tỏ ra rất thoả đáng.
Quite a number of requests locally and throughout the country came about this time. I was called to Washington to give information for one high in authority. This, I am sure, must have been at least interesting, as I was called a year or so later for the same purpose.2
Cũng vào khoảng thời gian này, có khá nhiều yêu cầu tại địa phương và khắp cả nước. Tôi được gọi đến Washington để cho thông tin cho một người có địa vị cao trong chính quyền. Điều này, tôi chắc chắn, tối thiểu cũng là điều đáng quan tâm, vì khoảng một năm sau tôi lại được mời cho cùng mục đích.2
My last experience with a return of aphonia was possibly the most noteworthy. I do not know that I yet understand its whole import. This was the experience:
Trải nghiệm cuối cùng của tôi với việc tái phát chứng mất tiếng có lẽ là đáng ghi nhớ nhất. Tôi không biết mình đã hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nó chưa. Trải nghiệm là như sau:
For about ten days I had been unable to speak above a whisper. I felt that if I were able to get myself into the subconscious state, possibly I could again find relief. It was Sunday afternoon. My wife sent the older boy for a walk with his younger brother,3 who was then a very small baby. We retired to the bedroom, where I proceeded to put myself into the unconscious state. The experience lasted possibly thirty minutes, and it is the only one where I have been able to recall anything that transpired. There have been quite a number of times when I have had dreams in such a state. Was this a dream?
Khoảng mười ngày tôi không thể nói lớn hơn thì thào. Tôi cảm thấy rằng nếu tôi có thể tự đưa mình vào trạng thái tiềm thức, có lẽ tôi lại có thể tìm được sự nhẹ nhõm. Đó là chiều Chủ nhật. Vợ tôi cho cậu con lớn dắt em trai đi dạo,3 lúc ấy còn là một em bé rất nhỏ. Chúng tôi rút vào phòng ngủ, nơi tôi bắt đầu tự đưa mình vào trạng thái vô thức. Trải nghiệm kéo dài chừng ba mươi phút, và đây là lần duy nhất tôi có thể hồi tưởng điều gì đã xảy ra. Cũng đã có khá nhiều lần tôi có những giấc mơ trong trạng thái như vậy. Liệu đây có phải là mơ?
Apparently, there was spread before me all the graveyards in the world. I saw nothing save the abode of what we call the dead, in all portions of the world. Then, as the scene shifted, the graves seemed to be centered around India, and I was told by a voice from somewhere, “Here you will know a man’s religion by the manner in which his body has been disposed of.”
Rõ ràng là trước mắt tôi trải rộng mọi nghĩa trang trên thế giới. Tôi không thấy gì ngoài nơi ở của những gì chúng ta gọi là người chết, khắp các miền trên thế giới. Rồi, khi cảnh đổi, các ngôi mộ có vẻ tập trung quanh Ấn Độ, và một giọng nói từ đâu đó nói với tôi, “Ở đây anh sẽ biết tôn giáo của một người qua cách thân xác người ấy được an táng.”
The scene then changed to France, and I saw the soldiers’ graves. Among them were the graves of three boys who had been in my Sunday school class. Then I saw the boys, not dead but alive. Each of them told me how they met their death—one in machine-gun fire, another in the bursting of a shell, the other in heavy artillery fire. Two gave me messages to tell their loved ones at home. They appeared much in the same way and manner as they did the day each came to bid me good-bye when they left for the army during World War I.
Cảnh lại chuyển sang nước Pháp, và tôi thấy các mộ của binh sĩ. Trong số đó có mộ của ba cậu trai từng ở trong lớp Trường Chúa nhật của tôi. Rồi tôi thấy các cậu, không chết mà còn sống. Mỗi người kể cho tôi nghe họ đã gặp cái chết ra sao—một người trong làn đạn liên thanh, một người khác trong vụ nổ đạn pháo, người còn lại trong lửa đại bác. Hai người nhắn gửi tôi lời nhắn cho thân nhân ở nhà. Họ hiện ra gần như giống hệt dáng vẻ và phong thái của ngày mỗi người đến chào từ biệt tôi khi lên đường nhập ngũ trong Thế chiến thứ nhất.
As the scene changed again, I apparently reasoned with myself “This is what is called spiritualism. Can it be true? Are all these we call dead yet alive in some other plane of experience or existence? Could I see my own baby boy?” As if a canopy was raised, tier on tier of babies appeared. In the third or fourth row from the top, to the side, I recognized my own child, Milton Porter, who had died as a baby some years before that. He knew me, even as I knew him. He smiled his recognition, but no word of any kind passed.
Khi cảnh lại đổi, tôi dường như tự lý luận với mình “Đây là điều được gọi là thuyết thần linh học (spiritualism). Liệu nó có thật không? Có phải tất cả những người chúng ta gọi là đã chết vẫn còn sống trên một bình diện trải nghiệm hay hiện hữu khác? Liệu tôi có thể thấy chính đứa con trai bé bỏng của mình?” Như thể một tấm màn che được vén lên, tầng tầng lớp lớp các em bé hiện ra. Ở hàng thứ ba hay thứ tư từ trên xuống, về phía bên, tôi nhận ra chính con mình, Milton Porter, đã mất khi còn là em bé vài năm trước đó. Con nhận ra tôi, như chính tôi nhận ra con. Con mỉm cười tỏ sự nhận biết, nhưng không có lời nào được thốt ra.
The scene changed and there appeared a lady friend who was being buried in the local cemetery during that same hour, someone I had known very well and from whom I had purchased many flowers that were distributed by the children in my Sunday school classes. She talked with me about the changes that we call death, saying that it was really a birth. She spoke especially about the effect that a gift of flowers has upon people and that they should be given in life rather than at funerals or in death. As for what they mean, she said flowers speak to the invalid, the shut-ins, and mean so little to those who have passed from the material to the spiritual plane. Then she said, “But to be material for the moment, some months ago someone left $2.50 with you for me. You are not aware of this having been done, and will find it in a drawer of your desk marked with the date it was paid, August 8th, and there are two paper dollars and a fifty-cent piece. See that my daughter receives this, for she will need it. Be patient with the children, they are gaining much.”
Cảnh lại chuyển và hiện ra một người phụ nữ bạn tôi đang được an táng ở nghĩa trang địa phương đúng vào giờ ấy, một người tôi vốn quen thân và thường mua nhiều hoa của Bà để bọn trẻ trong lớp Trường Chúa nhật của tôi mang đi phân phát. Bà nói chuyện với tôi về những đổi thay mà chúng ta gọi là cái chết, rằng nó thực sự là một sự sinh ra. Bà nói đặc biệt về tác dụng mà một món quà là hoa có nơi con người và rằng hoa nên được tặng khi đang sống hơn là ở tang lễ hay trong cái chết. Còn về ý nghĩa của chúng, Bà nói hoa cất tiếng với người bệnh, người bị giam phòng, và hầu như chẳng có nghĩa gì với những người đã rời cõi vật chất sang bình diện tinh thần. Rồi Bà nói, “Nhưng để trở nên vật chất trong chốc lát, vài tháng trước ai đó đã gửi cho tôi $2.50 qua anh. Anh không để ý rằng việc này đã được thực hiện, và sẽ thấy nó trong một ngăn kéo bàn của anh, ghi ngày nhận, mùng 8 tháng 8, và có hai tờ giấy một đô và một đồng năm mươi xu. Hãy chuyển cho con gái tôi nhận số này, vì nó sẽ cần. Hãy kiên nhẫn với bọn trẻ, chúng đang học được nhiều điều.”
Again the scene changed, and a man appeared who had been a fellow officer for years in the church of which I was a member. He spoke of his son, Malcolm, saying that he would no doubt return to his position in the local bank. But he said that Malcolm would rather accept an offer that would be made from a moving-picture house. Then he spoke about the affairs of the church, and I was physically conscious again.
Cảnh lại đổi, và xuất hiện một người đàn ông từng là đồng chức viên với tôi nhiều năm trong Hội thánh mà tôi là thành viên. Ông nói về con trai Ông, Malcolm, rằng hẳn cậu sẽ trở lại vị trí ở ngân hàng địa phương. Nhưng Ông nói rằng Malcolm sẽ thích nhận một lời mời sẽ được đưa ra từ một rạp chiếu bóng. Rồi Ông nói về các công việc của Hội thánh, và tôi lại có ý thức thể chất.
When I awoke my voice was all right, I could talk normally, though my wife told me I had not said a word during the whole thirty minutes. After I told her about the dream, I went to look in the desk, and sure enough there was the envelope that the lady described. It had been received in August by one of the young ladies who had since left the studio (and this was in December).
Khi tôi tỉnh dậy, giọng tôi ổn cả, tôi nói bình thường, dù vợ tôi nói tôi đã không thốt một lời nào suốt ba mươi phút. Sau khi tôi kể cho Bà nghe giấc mơ, tôi đi tìm trong bàn, và quả thật có phong bì như người phụ nữ mô tả. Nó đã được nhận vào tháng Tám bởi một trong các cô gái trẻ sau đó đã rời xưởng (và lúc này là tháng Mười Hai).
The next day I had occasion to go to the bank, and the young man, Malcolm, took my deposit. When I asked when he had returned, he said last night. I asked if he expected to remain in the bank and he said he thought so. Then I told him I had something I would like to tell him, but that he could act as he felt right. He came to the studio within the hour, and I related to him the whole experience with his deceased father. Malcolm told me that on his way home from Washington he had stopped in Atlanta, where he had been approached by a friend who asked him to take over the management of a moving-picture theater, but that morning he had mailed a letter rejecting the offer. After hearing what his father said, however, he said he would immediately wire him accepting the job, which he did.
Hôm sau tôi có việc qua ngân hàng, và chàng trai, Malcolm, nhận khoản tiền gửi của tôi. Khi tôi hỏi cậu về lúc cậu trở lại, cậu nói tối hôm qua. Tôi hỏi cậu có định ở lại ngân hàng không và cậu nói cậu nghĩ là có. Rồi tôi nói với cậu rằng tôi có điều muốn kể, còn cậu có thể hành động theo điều cậu thấy là đúng. Cậu đến xưởng trong vòng một giờ, và tôi kể lại cho cậu toàn bộ trải nghiệm với người cha quá cố của cậu. Malcolm nói rằng trên đường về từ Washington cậu đã dừng ở Atlanta, nơi cậu được một người bạn mời quản lý một rạp chiếu bóng, nhưng sáng nay cậu đã gửi thư từ chối. Tuy nhiên, sau khi nghe những điều cha mình nói, cậu bảo sẽ lập tức điện báo nhận lời, và cậu đã làm vậy.
Whatever this experience meant, I do not know whether I have the whole interpretation. One thing I do know is that I have traveled in many portions of the country, north, south, east, and west. There are few, if any, cemeteries that do not appear familiar, so much so that when I see even a corner of one I can, with a few minutes’ reflection, tell many intimate things about that particular cemetery. What was it all about? I do not know.
Trải nghiệm này có ý nghĩa gì, tôi không biết mình đã hiểu hết chưa. Điều tôi biết là tôi đã đi qua nhiều miền của đất nước, bắc, nam, đông, tây. Có rất ít, nếu có, nghĩa trang nào trông không quen thuộc, đến mức khi tôi thấy chỉ một góc của một nơi, tôi có thể, sau vài phút trầm tư, kể nhiều điều rất thân mật về nghĩa trang cụ thể đó. Tất cả là về điều gì? Tôi không biết.
Some of the boys in my Sunday school class asked if I would undertake information as to just what might be expected in the affairs of the world. This was recorded on several dictaphone records. These were later destroyed by someone not knowing their meaning, after the young men who had hoped to preserve them had gone to war. This reading told about the breaking up of the western front in Europe, the fall of the Russian government, the rejection of religion that would come in Russia—but it stated that out of Russia would come a religion that would have a worldwide influence. This remains to be seen.
Vài cậu trai trong lớp Trường Chúa nhật của tôi hỏi liệu tôi có thử nhận thông tin về những gì có thể trông đợi trong thời cuộc. Điều này được ghi lại trên vài đĩa ghi âm Dictaphone. Sau đó chúng bị ai đó không biết ý nghĩa phá huỷ, sau khi các chàng trai, những người hy vọng giữ lại chúng, đã lên đường ra trận. Bài đọc này kể về sự vỡ của mặt trận phía tây ở châu Âu, sự sụp đổ của chính quyền Nga, sự khước từ tôn giáo sẽ đến ở Nga—nhưng nó nói rằng từ Nga sẽ xuất hiện một tôn giáo có ảnh hưởng toàn thế giới. Điều này còn phải chờ xem.
In December 1918 I received a request from a Mr. J. D. Thrash, who was a newspaper editor in Texas, asking for a physical reading, as well as some questions regarding business. Some letters passed before any information was given. Among these letters was one in which he asked for my birth date, saying he desired to have my horoscope cast. Soon after this I received several communications from astrologers telling me that on March 19, 1919, between 8:30 and 11:00 o’clock in the evening, I would be able to give a reading that would be of more interest to mankind as a whole than any I would be able to give during that year. This phase was so new to me that I think it bewildered rather than encouraged me. I was curious, however, and asked my wife to conduct this reading and present questions which we had prepared on the subject of astrology. I was asked to make this reading public. I did not care for notoriety, which I felt this would give, yet being curious and desiring to know what the reading would give at this time, I attempted it—and the following information (254–2) is the result:
Vào tháng Mười Hai 1918, tôi nhận được một lời thỉnh cầu từ Ông J. D. Thrash, một chủ bút báo ở Texas, xin một bài đọc về thể xác, cũng như một số câu hỏi liên quan đến chuyện làm ăn. Một vài lá thư qua lại trước khi bất kỳ thông tin nào được đưa ra. Trong số này có lá thư Ông hỏi ngày sinh của tôi, nói rằng Ông muốn lập lá số chiêm tinh cho tôi. Ngay sau đó tôi nhận được vài thư từ của các nhà chiêm tinh cho biết rằng vào tối ngày 19 tháng Ba, 1919, từ 8:30 đến 11:00 giờ, tôi sẽ có thể đưa ra một bài đọc có tầm quan tâm đối với nhân loại nói chung lớn hơn bất kỳ bài đọc nào tôi có thể đưa ra trong năm ấy. Khía cạnh này đối với tôi quá mới mẻ đến nỗi tôi nghĩ nó làm tôi hoang mang hơn là khích lệ. Tuy vậy tôi cũng hiếu kỳ, và nhờ vợ tôi chủ trì buổi đọc ấy và nêu các câu hỏi chúng tôi đã chuẩn bị về đề tài chiêm tinh. Tôi được yêu cầu công bố rộng rãi bài đọc này. Tôi không thích sự nổi danh, điều mà tôi cảm thấy việc này sẽ mang lại, nhưng vì tò mò và muốn biết bài đọc sẽ nói gì vào dịp này, tôi đã thử—và những thông tin sau đây (254–2) là kết quả:
You will have before you the body and enquiring mind of Edgar Cayce, and you will tell us how the psychic work is accomplished through this body, and will answer any other questions that I will ask you respecting this work.
Các ông sẽ có trước mặt mình thân thể và thể trí đặt câu hỏi của Edgar Cayce, và các ông sẽ cho chúng tôi biết công việc thông linh được thực hiện qua thân thể này như thế nào, và sẽ trả lời mọi câu hỏi khác mà tôi sẽ nêu liên quan đến công việc này.
EC: We have the body here—we have had it before. In this state the conscious mind is under subjugation of the subconscious or soul mind. The information obtained and given by this body is obtained through the power of mind over mind, or power of mind over physical matter, or obtained by the suggestion as given to the active part of the subconscious mind. It obtains its information from that which it has gathered, either from other subconscious minds—put in touch with the power of the suggestion of the mind controlling the speaking faculties of this body, or from minds that have passed into the Beyond, which leave their impressions and are brought in touch by the power of the suggestion. What is known to one subconscious mind or soul is known to another, whether conscious of the fact or not. The subjugation of the conscious mind putting the subconscious in action in this manner or in one of the other of the manners as described, this body obtains its information when in the subconscious state.
EC: Chúng tôi có thân thể ở đây—chúng tôi đã có nó trước đây. Trong trạng thái này, thể trí ý thức bị đặt dưới sự khuất phục của thể trí tiềm thức hay trí của linh hồn. Thông tin mà thân thể này thu nhận và đưa ra được thu nhận qua quyền năng của thể trí đối với thể trí, hoặc quyền năng của thể trí đối với vật chất hồng trần, hoặc thu nhận bằng sự ám thị được đưa cho phần đang hoạt động của thể trí tiềm thức. Nó nhận thông tin từ những gì nó đã tích lũy, hoặc từ các thể trí tiềm thức khác—được nối tiếp xúc nhờ quyền năng của ám thị của thể trí đang kiểm soát năng lực phát ngôn của thân thể này, hoặc từ những thể trí đã qua về Cõi Bên Kia, vốn để lại ấn tượng của họ và được đưa vào tiếp xúc nhờ quyền năng của ám thị. Điều gì được một thể trí tiềm thức hay linh hồn biết đến thì một thể trí khác cũng biết đến, dù có ý thức về sự kiện ấy hay không. Sự khuất phục thể trí ý thức, đưa thể trí tiềm thức vào hoạt động theo cách này hoặc theo một trong các cách khác như đã mô tả, thân thể này thu nhận thông tin khi ở trong trạng thái tiềm thức.
Q. Is this information always correct?
Hỏi. Thông tin này có luôn luôn đúng không?
A. Correct insofar as the suggestion is in the proper channel or in accord with the action of subconscious or soul matter.
Đáp. Đúng trong chừng mực ám thị đi đúng kênh hay phù hợp với hoạt động của chất liệu tiềm thức hay linh hồn.
Q. Do the planets have anything to do with the ruling of the destiny of men? If so, what? and what do they have to do with this body?
Hỏi. Các hành tinh có liên quan gì đến việc cai quản định mệnh của con người không? Nếu có, là gì? Và chúng liên quan thế nào đến thân thể này?
A. They do. In the beginning, as our own planet, Earth, was set in motion, the placing of other planets began the ruling of the destiny of all matter as created, just as the division of waters was and is ruled by the moon in its path about the Earth; just so as in the higher creation, as it began, is ruled by the action of the planets about the earth. The strongest power in the destiny of man is the Sun, first; then the closer planets, or those that are coming in ascendancy at the time of the birth of the individual; but let it be understood here, no action of any planet or any of the phases of the Sun, Moon, or any of the heavenly bodies surpass the rule of man’s individual willpower—the power given by the Creator of man in the beginning, when he became a living soul, with the power of choosing for himself. The inclination of man is ruled by the planets under which he is born. In this far the destiny of man lies within the sphere or scope of the planets. With the given position of the solar system at the time of the birth of an individual, it can be worked out—that is, the inclinations and actions without the willpower taken into consideration. As in this body here [Edgar Cayce] born March 18, 1877, three minutes past three o’clock, with the Sun descending, on the wane, the Moon in the opposite side of the Earth (old moon), Uranus at its zenith, hence the body is ultra in its actions. Neptune closest in conjunction or Neptune as it is termed in astrological survey, in the ninth house; Jupiter, the higher force of all the planets, save the Sun, in descendency, Venus just coming to horizon, Mars just set, Saturn—to whom all insufficient matter is cast at its decay—opposite the face of the Moon. Hence the inclination as the body is controlled by the astrological survey at the time of the birth of this body, either (no middle ground for this body) very good or very bad, very religious or very wicked, very rich or always losing, very much in love or hate, very much given to good works or always doing wrong, governed entirely by the will of the body. Will is the educational factor of the body; thence the patience, the persistence, the ever faithful attention that should be given to the child when it is young.
Đáp. Có. Thuở ban sơ, khi chính hành tinh của chúng ta, Trái Đất, được phát động, thì vị trí của các hành tinh khác bắt đầu cai quản định mệnh của mọi chất liệu đã được tạo thành, cũng như sự phân chia của các vùng nước đã và đang được Mặt Trăng cai quản trong quỹ đạo của nó quanh Trái Đất; tương tự như vậy trong sự sáng tạo cao hơn, khi nó khởi đầu, được cai quản bởi hoạt động của các hành tinh quanh Trái Đất. Quyền năng mạnh nhất trong định mệnh của con người là Mặt Trời, trước hết; rồi đến các hành tinh gần hơn, hoặc những hành tinh đi vào thế thượng phong vào lúc một cá nhân chào đời; nhưng cần hiểu rằng, không một hoạt động nào của bất kỳ hành tinh nào hay bất kỳ pha nào của Mặt Trời, Mặt Trăng, hay bất kỳ thiên thể nào vượt trội hơn quy luật về ý chí cá nhân của con người—quyền năng được Đấng Sáng Tạo ra con người ban ngay từ đầu, khi con người trở thành một linh hồn sống động, với quyền năng tự chọn cho chính mình. Xu hướng của con người chịu sự chi phối bởi các hành tinh dưới ảnh hưởng của chúng khi y sinh ra. Trong chừng mực này, định mệnh của con người nằm trong phạm vi hay tầm tác động của các hành tinh. Với vị trí đã cho của hệ mặt trời vào lúc một cá nhân sinh ra, có thể tính ra được—tức là, các khuynh hướng và hành động khi không tính đến ý chí. Như với thân thể này đây [Edgar Cayce] sinh ngày 18 tháng Ba, 1877, ba phút quá ba giờ, lúc Mặt Trời đang hạ, suy dần, Mặt Trăng ở phía đối diện Trái Đất (trăng già), Sao Thiên Vương ở tại thiên đỉnh, do đó thân thể này cực đoan trong hành động của mình. Sao Hải Vương ở gần vị trí đồng vị nhất, hay nói theo thuật ngữ chiêm tinh là đồng vị, ở nhà thứ chín; Sao Mộc, lực cao hơn của mọi hành tinh, trừ Mặt Trời, ở thế hạ phong, Sao Kim vừa lên đường chân trời, Sao Hỏa vừa lặn, Sao Thổ—nơi mọi chất liệu không còn đủ được quăng về khi suy tàn—đối nghịch với diện Mặt Trăng. Do vậy, về xu hướng, khi thân thể chịu kiểm soát bởi cục diện chiêm tinh lúc thân thể này chào đời, thì hoặc (không có con đường trung dung cho thân này) rất tốt hoặc rất xấu, rất mộ đạo hoặc rất độc ác, rất giàu hoặc luôn thua lỗ, rất mực yêu thương hoặc căm ghét, rất tận tâm làm việc thiện hoặc luôn làm sai trái, hoàn toàn được cai quản bởi ý chí của thân. Ý chí là yếu tố giáo dưỡng của thân; từ đó kiên nhẫn, bền chí, sự chú tâm trung tín không đổi nên được dành cho đứa trẻ khi nó còn nhỏ.
As to the forces of this body, the psychical is obtained through action of Uranus and of Neptune, always it has been to this body and always will, just outside the action of firearms, yet ever within them, just saved financially and spiritually by the action of great amount of water—the body should live close to the sea, should always have done so. The body is strange to other bodies in all of its actions, in the psychical life, in all of its ideas as expressed in the spiritual life as to its position on all matter pertaining to political, religious or economical positions. This body will either be very rich or very poor.
Về các lực của thân này, năng lực thông linh được thu nhận qua hoạt động của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, luôn luôn đã là như vậy với thân này và sẽ luôn như vậy, chỉ ở ngoài tác động của hỏa khí, nhưng vẫn luôn ở trong đó, được cứu thoát về tài chính và tinh thần nhờ tác động của một lượng nước lớn—thân nên sống gần biển, lẽ ra lúc nào cũng nên như vậy. Thân này lạ lùng đối với các thân khác trong mọi hành động của mình, trong đời sống thông linh, trong mọi ý tưởng như được biểu đạt trong đời sống tinh thần liên quan đến lập trường của mình đối với mọi vấn đề chính trị, tôn giáo hay kinh tế. Thân này hoặc sẽ rất giàu hoặc sẽ rất nghèo.
Q. Will this work hurt the body?
Hỏi. Công việc này có làm hại thân thể không?
A. Only through the action or power of suggestion over the body. This body is controlled in its work through the psychical or the mystic or the spiritual. It is governed by the life that is led by the person who is guiding the subconscious when in this state, or by the line of thought that is given to create ideas of expression to the subconscious.
Đáp. Chỉ qua tác động hay quyền năng của ám thị đối với thân. Thân này được kiểm soát trong công việc của mình qua phương diện thông linh, hay thần bí, hay tinh thần. Nó chịu sự cai quản bởi nếp sống của người đang hướng dẫn thể trí tiềm thức khi ở trong trạng thái này, hoặc bởi đường lối tư tưởng được đưa ra để tạo nên những ý tưởng biểu đạt cho tiềm thức.
As the ideas given the subconscious to obtain its information are good, the body becomes better; if bad or wicked it becomes under the same control. Then the body should not be held responsible save through the body controlling the body at such times.
Khi những ý tưởng được đưa cho tiềm thức để thu nhận thông tin là tốt, thân trở nên tốt hơn; nếu xấu hay độc ác, nó cũng trở nên như vậy dưới cùng sự kiểm soát đó. Vậy nên không nên quy trách nhiệm cho thân, trừ thông qua người đang kiểm soát thân thể vào những lúc như thế.
Q. Can this power be used to be of assistance to humanity and also to obtain financial gain?
Hỏi. Quyền năng này có thể được dùng để trợ giúp nhân loại và đồng thời thu lợi tài chính không?
A. There are many channels through which information obtained from this body in this state would be of assistance to humanity. To obtain financial gain from these is to obtain that which is just and right to those dependent upon this body for the things of life. Not those that would be destructive to the bodies themselves, physically or mentally, but that which is theirs by right should be obtained for such information.
Đáp. Có nhiều kênh mà qua đó thông tin thu nhận từ thân này trong trạng thái này sẽ hữu ích cho nhân loại. Để thu lợi tài chính từ các kênh ấy là để thu lấy điều công chính và đúng đắn cho những người lệ thuộc vào thân này vì những nhu cầu của đời sống. Không phải những điều sẽ hủy hoại chính các thân thể ấy, về thể xác hay thể trí, mà là những gì thuộc về họ một cách chính đáng thì nên được thu nhận đối với loại thông tin như vậy.
As to which is the best channel, it depends as to whether the information desired is in accord with the ideas of the body from which they are attempting to obtain them. When credence is given to the work in a material way, anyone is willing to pay in a financial way for such information; but without credence there can be nothing obtained.
Còn kênh nào là tốt nhất, điều đó tùy thuộc vào việc thông tin mong muốn có phù hợp với các ý tưởng của người mà họ đang cố gắng thu nhận thông tin từ đó hay không. Khi có niềm tin được dành cho công việc theo cách thức vật chất, bất cứ ai cũng sẵn lòng trả tiền cho loại thông tin như vậy; nhưng không có niềm tin thì không thể thu được gì.
Q. Is there any other information that this body should have now?
Hỏi. Có thông tin nào khác mà thân này nên biết bây giờ không?
A. The body should keep close in touch with the spiritual side of life; with sincerity to the spiritual side of life, if he is to be successful, mentally, physically, psychically and financially. The safest brace is in the spiritual nature of the body; sincerity of the work done or obtained through any channel with which this body is connected is governed by the masses through the action of the body towards the spiritual.
Đáp. Thân nên giữ sự tiếp xúc gần gũi với phương diện tinh thần của đời sống; với sự chân thành đối với phương diện tinh thần của đời sống, nếu ông ấy muốn thành công, về thể trí, thể xác, thông linh và tài chính. Chỗ nương chắc chắn nhất nằm trong bản tính tinh thần của thân; sự chân thành của công việc đã làm hoặc thu nhận qua bất kỳ kênh nào mà thân này có liên hệ đều được quần chúng đánh giá qua thái độ của thân đối với phương diện tinh thần.
This record has been described by many students of psychic phenomena to be the most phenomenal they have ever seen. The life readings (as they are called today) are an outgrowth, no doubt, of this experience, though they were not begun until several years later, in 1924 to be exact.
Bản ghi này đã được nhiều đạo sinh nghiên cứu hiện tượng thông linh mô tả là hiện tượng kỳ lạ nhất họ từng thấy. Các bài đọc về đời sống (như ngày nay chúng được gọi) hẳn đã nảy sinh, không nghi ngờ gì, từ trải nghiệm này, dù chúng đã không khởi sự cho đến vài năm sau, chính xác là năm 1924.
I had a telephone call one day from a man who wanted to make an appointment for a friend. He came to the studio that evening and we attempted to get the information. My father conducted the reading and said I apparently went to sleep as usual, but was unable to locate the patient. The next evening this was tried again with no results, and the next. On the fourth attempt very satisfactory information came. The friend, however, at that time was not present. There had been no information given that would suggest the trouble, nor have we ever been able to determine in our own minds why at times we are unable to get information. This had occurred before, though there had not been as concerted an effort to insist that information be given. There have been many times since that the same thing has occurred. We do not know why.
Một ngày nọ tôi nhận được cú điện thoại từ một người muốn hẹn cho bạn mình. Tối hôm ấy Ông đến phòng làm việc và chúng tôi cố gắng lấy thông tin. Cha tôi chủ trì buổi đọc và nói rằng xem ra tôi đã ngủ như thường lệ, nhưng không thể định vị được bệnh nhân. Tối hôm sau thử lại cũng không kết quả, và tối kế nữa cũng vậy. Đến lần thử thứ tư thì thông tin rất thỏa đáng được đưa ra. Tuy nhiên, lúc ấy người bạn không có mặt. Chưa hề có thông tin nào được đưa ra có thể gợi ý về chứng bệnh, và chúng tôi cũng chưa bao giờ có thể tự tìm ra vì sao đôi khi chúng tôi không thể lấy được thông tin. Chuyện này đã xảy ra trước đó, dù chưa khi nào có một nỗ lực phối hợp chặt chẽ để khăng khăng đòi thông tin phải được đưa ra. Từ đó về sau nhiều lần điều tương tự đã xảy ra. Chúng tôi không biết vì sao.
Then there was the case of a relative. Her family had no confidence whatever in the readings, but they had despaired of her life. She asked her younger sister one day to please wire me, as she felt I could help, for she had been told so in a dream the night before. Upon receipt of the wire I made the attempt at once. It was said there was little hope for her recovery, but there could be something given to keep up the strength and vitality until her baby was born, which would be perfectly normal and all right, and a girl—but the mother would die soon after. This was sent to the sister who had sent the wire. She had a physician prepare the compound; and when it was given, the patient asked, “Isn’t this what Edgar sent? I feel better already.” She lived forty days, but died a few hours after her little girl was born.
Rồi có trường hợp của một người bà con. Gia đình Bà hoàn toàn không tin vào các bài đọc, nhưng họ đã tuyệt vọng về sự sống của Bà. Một ngày nọ Bà nhờ em gái gửi điện cho tôi, vì Bà cảm thấy tôi có thể giúp, do Bà đã được báo như vậy trong một giấc mơ đêm trước. Vừa nhận điện tôi lập tức tiến hành. Bài đọc nói rằng ít hy vọng cho Bà hồi phục, nhưng có thể cho thứ gì đó để duy trì sức mạnh và sinh lực cho đến khi em bé ra đời, đứa trẻ sẽ hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh, và là một bé gái—nhưng người mẹ sẽ mất không lâu sau đó. Điều này được gửi cho người em gái đã điện cho tôi. Bà nhờ một bác sĩ bào chế phương dược; và khi nó được đưa cho bệnh nhân, Bà hỏi, “Đây có phải là thứ Edgar gửi không? Tôi đã thấy khỏe hơn rồi.” Bà sống được bốn mươi ngày, nhưng mất vài giờ sau khi cô bé con của Bà chào đời.
Two years later I was in the town where this child lived. I had never seen the child nor the father. As I sat down in a barber shop, a child playing around the room looked at me very straight and came over to climb in my lap; she put her little arms around my neck. The barber who was shaving her father told him somebody was talking to his little girl. He raised up—he didn’t know me—and asked the barber if he knew who I was. When the barber told him, the father got up and came over to speak to me.
Hai năm sau tôi ở thị trấn nơi đứa trẻ ấy sống. Tôi chưa bao giờ gặp đứa trẻ hay người cha. Khi tôi ngồi xuống trong một tiệm hớt tóc, một đứa bé đang chơi trong phòng nhìn tôi rất thẳng rồi bước lại leo vào lòng tôi; bé vòng đôi tay nhỏ ôm cổ tôi. Anh thợ cạo đang cạo râu cho cha bé nói với Ông ta rằng có ai đó đang nói chuyện với cô bé. Ông ấy ngẩng lên—Ông không biết tôi—và hỏi anh thợ cạo có biết tôi là ai không. Khi anh thợ nói cho biết, người cha đứng dậy và bước lại nói chuyện với tôi.
“The child is not affectionate with others,” he said. “Do you suppose there is anything in intuition, and the child knows who you are from what you did for her mother?”
“Con bé không hay thân mật với người khác,” Ông nói. “Ông có cho là có điều gì như trực giác không, và con bé biết ông là ai vì những gì ông đã làm cho mẹ nó chăng?”
I am still wondering.
Tôi vẫn còn băn khoăn.