← My Life as a Seer: The Lost Memoirs

21

21

THE CAYE HOSPITAL, 1929–1931—BỆNH VIỆN CAYCE, 1929–1931

It was very satisfying to see people coming into the hospital and really getting results, where so many had almost lost hope. Our first man came down from Philadelphia and was here only ten days. He went home feeling entirely a different man. I wish we could do as much good for everyone as we seemingly did for him.

Thật sự rất mãn nguyện khi thấy người ta vào bệnh viện và thật sự đạt kết quả, trong khi quá nhiều người gần như đã mất hy vọng. Bệnh nhân nam đầu tiên của chúng tôi xuống từ Philadelphia và chỉ ở đây mười ngày. Ông về nhà với cảm giác hoàn toàn là một con người khác. Ước gì chúng tôi có thể làm được nhiều điều thiện lành cho mọi người như dường như chúng tôi đã làm cho Ông.

We had an average of ten patients after a few months, and about sixty patients were treated in the first ten months or so, with invariably pleasing results. One patient left the hospital feeling quite well and carrying a bouquet of violets gathered from the flowerbed on the grounds. The hospital itself was really a beautiful place, more like a large home than a real hospital, as Mr. Blumenthal said. It was so delightful that many people, including our own Board of Trustees and officers, were besieging the place on weekends for rest, recreation, and pleasure. This was beginning to complicate affairs, owing to patients in the hospital, so we purchased more property on the other side of the boulevard from the hospital, on which we planned to construct a clubhouse for members of the Board and members of the Association, who desire to be near this beautiful work, and see it in process of application, or to study it, and at the same time enjoy the benefits and beauties of a lovely environment. Since Virginia Beach is noted for the health qualities of iodine and radium present in the sand, sand packs taken at Virginia Beach proved very vitalizing to the system. Morton also wanted to develop a nine-hole golf course, with the clubhouse and swimming pool right on the Beach.

Sau vài tháng, chúng tôi có trung bình mười bệnh nhân, và khoảng sáu mươi bệnh nhân được điều trị trong mười tháng đầu tiên hoặc hơn, với kết quả luôn đáng hài lòng. Một bệnh nhân rời bệnh viện với cảm giác khỏe khoắn và ôm một bó hoa violet hái từ khóm hoa trong khuôn viên. Bản thân bệnh viện thật sự là một nơi đẹp, giống một ngôi nhà lớn hơn là một bệnh viện thực thụ, như Ông Blumenthal nói. Nó dễ chịu đến mức nhiều người, bao gồm cả chính Hội đồng Quản trị và các viên chức của chúng tôi, liên tục kéo đến vào cuối tuần để nghỉ ngơi, giải trí và thưởng ngoạn. Điều này bắt đầu làm phức tạp tình hình, do có bệnh nhân trong bệnh viện, nên chúng tôi mua thêm bất động sản bên kia con lộ lớn đối diện bệnh viện, nơi chúng tôi dự định xây một nhà câu lạc bộ cho các Ủy viên Hội đồng và hội viên của Hội, những người muốn ở gần công trình xinh đẹp này, và chứng kiến nó trong quá trình ứng dụng, hoặc nghiên cứu nó, đồng thời tận hưởng lợi ích và vẻ đẹp của một môi trường tươi đẹp. Vì Virginia Beach nổi tiếng với phẩm chất sức khỏe của i-ốt và ra-đi-um có trong cát, các gói cát tại Virginia Beach tỏ ra rất tiếp sinh lực cho cơ thể. Morton cũng muốn phát triển một sân gôn chín lỗ, với nhà câu lạc bộ và hồ bơi ngay trên Bãi Biển.

Not all these dreams were realized, but improvements in the facilities were steadily made. A tennis court, shuffleboard and croquet ground were finished during the summer for the visitors’ recreation; bathhouses and a diet kitchen were added. The front porch was glassed in, adding a great deal to the comfort and pleasure of the patients. A new Burdick Light Bath Cabinet was installed, proving a benefit to all who required such treatments. A home for nurses and Association employees was erected. And we were told that there was the possibility that the War Department would grant the use of their land along the coast in front of the hospital. This would make it possible for the Association to improve and beautify the spot and greatly enhance the patients’ opportunities for recreation.

Không phải tất cả những giấc mơ ấy đều được hiện thực hóa, nhưng các tiện ích đã được cải thiện đều đặn. Một sân quần vợt, sân shuffleboard và sân croquet được hoàn tất trong mùa hè cho du khách giải trí; các nhà tắm và một bếp ăn theo chế độ dinh dưỡng được bổ sung. Hiên trước được lắp kính, tăng thêm rất nhiều sự thoải mái và niềm vui cho bệnh nhân. Một Buồng Tắm Ánh Sáng Burdick mới được lắp đặt, tỏ ra hữu ích cho tất cả những ai cần đến các trị liệu như vậy. Một khu nhà cho y tá và nhân viên của Hội được dựng lên. Và chúng tôi được cho biết có khả năng Bộ Chiến tranh sẽ cho phép sử dụng khu đất của họ dọc bờ biển trước mặt bệnh viện. Điều này sẽ giúp Hội có thể cải tạo, làm đẹp khu vực, và tăng cường đáng kể cơ hội giải trí cho bệnh nhân.

Approximately three thousand visitors came to the hospital in the first year. A large number later applied for more data and also for membership. Among the visitors during the summer months was Chester A. Robinson, a professor in the Bentley School of Accounting and Finance in Boston. Mr. Robinson was greatly interested in the work and had a life reading for himself before returning to Boston to resume his duties. The Reverend Robert B. H. Bell, an author and lecturer of Denver, Colorado, visited the hospital and presented me with an autographed copy of his latest book, The Challenge, which is an interpretation of the mind of the Master and a translation of the Sermon on the Mount from the original Greek.

Xấp xỉ ba ngàn lượt khách đã đến bệnh viện trong năm đầu tiên. Một số lượng lớn sau đó xin thêm dữ kiện và cả hội viên. Trong số những người đến thăm vào các tháng mùa hè có Chester A. Robinson, một giáo sư ở Trường Kế toán và Tài chính Bentley tại Boston. Ông Robinson rất quan tâm đến công việc và đã nhận một bài đọc đời sống cho chính mình trước khi trở về Boston tiếp tục nhiệm vụ. Mục sư Robert B. H. Bell, một tác giả và diễn giả ở Denver, Colorado, đã đến thăm bệnh viện và tặng tôi một cuốn mới nhất có chữ ký của ông, The Challenge, là một diễn giải về thể trí của Đức Thầy và một bản dịch Bài Giảng Trên Núi từ nguyên bản tiếng Hy Lạp.

I sometimes felt there were so many things we had to think about that I did become more involved in commerce, as the secretary-treasurer, than I should have. I didn’t shun any of the responsibility or try to make excuses for myself in any way. Even though I had to work much harder with readings that year than I ever have done in my life, and while it was unexpected even to me to be able to hold up under it, somehow, somewhere, the strength came to keep going, and I believe that it is true we will not be required to do more than we are given the strength to do, if we will use the strength and know that it is not of ourselves but of Him in whom we live and move and have our being. It is the same thing all along the line. We have just got to get that fact in the minds and the hearts of individuals, that we are assisting them to find their relationship with that all-creative energy, God, and that through Him we are able to do whatever we desire if we keep those desires and purposes one with His. For, as the readings have said over and over again, “First seek the Lord while He may be found, then all these things will be added unto you,” and whether it be the needs of a physician to carry on our institution, or whether it be for the strength to give the information necessary for the individual seeking, or whether it be the money to pay for the various things necessary to be used for the carrying on, these things will be provided in His way.

Đôi khi tôi cảm thấy có quá nhiều điều phải nghĩ tới đến nỗi, với vai trò thư ký–thủ quỹ, tôi đã dính vào chuyện thương mại nhiều hơn mức nên có. Tôi không né trách nhiệm hay tìm cách bào chữa cho mình theo bất kỳ cách nào. Dù năm đó tôi phải làm việc cực nhọc hơn với các bài đọc so với bất cứ thời nào trong đời, và ngay cả với chính tôi, khả năng trụ vững trước gánh nặng ấy cũng là điều ngoài dự liệu, vậy mà không hiểu bằng cách nào, ở đâu, sức mạnh đã đến để tôi tiếp tục, và tôi tin đúng là chúng ta sẽ không bị đòi hỏi làm quá sức lực được ban cho, miễn là chúng ta sử dụng sức lực ấy và biết rằng nó không đến từ bản thân mình mà từ Ngài, trong Ngài chúng ta sống, vận động và có hiện hữu. Xuyên suốt đường dài cũng chỉ là điều ấy. Chúng ta chỉ cần ghi khắc sự thật đó vào thể trí và con tim của từng người, rằng chúng ta đang trợ giúp họ tìm ra mối tương quan với năng lượng sáng tạo tối hậu, Thượng Đế, và rằng qua Ngài chúng ta có thể làm bất cứ điều gì chúng ta mong muốn nếu chúng ta giữ những ước muốn và mục đích hòa làm một với Ý của Ngài. Vì, như các bài đọc đã nói đi nói lại, “Trước hết hãy tìm Chúa khi Ngài còn có thể được tìm thấy, rồi mọi điều ấy sẽ được thêm cho các ngươi,” và dù đó là nhu cầu về một vị y sĩ để duy trì cơ sở của chúng ta, hay là sức mạnh để ban ra những thông tin cần thiết cho người cầu học, hay là tiền bạc để chi cho những thứ cần thiết để vận hành, thì những điều ấy sẽ được cung ứng theo cách của Ngài.

Most of the funds came from Morton, and I was to see to it that expenditures were made according to budgets provided by the Hospital Committee. I would skimp hard on one end to bolster the weak end, keeping Morton advised as to where we appropriated too much and where too little. He wanted the best of everything and for me to make Dr. House to understand that he could have all the money necessary to buy the best meats and vegetables, the very best food, the best cook in the state, the best nurses, assistants, and servants, such that in system, service, and efficiency our hospital would be the best in the state. We practically gave Dr. House a free hand to build the best hospital in the state of Virginia, regardless of expense.1

Phần lớn kinh phí đến từ Morton, và tôi phải đảm bảo các khoản chi tiêu được thực hiện theo ngân sách do Ủy ban Bệnh viện cung cấp. Tôi sẽ chắt chiu ở đầu này để chống đỡ đầu kia, luôn báo cho Morton biết chỗ nào chúng tôi chi quá tay và chỗ nào quá ít. Ông muốn mọi thứ đều tốt nhất và muốn tôi làm cho Bác sĩ House hiểu rằng ông có thể có đủ tiền để mua những loại thịt và rau tốt nhất, thức ăn thật ngon, thuê bếp trưởng giỏi nhất trong bang, các y tá, phụ tá và người phục vụ tốt nhất, sao cho về hệ thống, dịch vụ và hiệu quả, bệnh viện của chúng ta sẽ là tốt nhất trong bang. Về thực tế, chúng tôi trao cho Bác sĩ House một quyền tự do rộng rãi để xây dựng bệnh viện tốt nhất bang Virginia, bất kể chi phí.1

We had one of the new employees of the Hospital to stay at our house. This was Mildred Davis. Our household at the time consisted of my wife and the two boys, my father, Miss Gladys, and Mildred, who worked in the research department of the Hospital. My office was in my home, where all readings were made. Miss Gladys worked there with me.

Chúng tôi có một nhân viên mới của Bệnh viện ở trọ tại nhà mình. Đó là Mildred Davis. Khi ấy gia đình tôi gồm vợ và hai con trai, cha tôi, cô Gladys và Mildred, người làm việc tại bộ phận nghiên cứu của Bệnh viện. Văn phòng của tôi ở ngay tại nhà, nơi mọi bài đọc được thực hiện. Cô Gladys làm việc tại đó với tôi.

We had some very peculiar things that came up. Some things apparently were necessary to make us recognize that so long as we trust in dollars and in the prestige it may bring, we are weakening our own strength. So long as we trust in our own abilities we are made weak, even by that trust. But when we put our trust wholly in Him and ask that we may be used as the channel through which service may be rendered to our fellow man, then all these things come. It isn’t God that has need of our little pitiful labors. It isn’t that He is in need of anything from us. Rather that we are in need of everything from Him, and we must so conduct our lives as to keep Him first and foremost in everything we do and say.

Chúng tôi đã trải qua vài việc rất lạ lùng. Có những điều dường như là cần thiết để khiến chúng tôi nhận ra rằng hễ còn cậy vào đồng tiền và cái uy tín nó có thể mang lại, là chúng ta đang làm suy yếu chính sức mạnh của mình. Hễ còn cậy vào khả năng riêng, chúng ta lại bị chính niềm cậy ấy làm cho yếu đi. Nhưng khi chúng ta đặt trọn niềm tin vào Ngài và cầu xin để mình được dùng làm kênh qua đó việc phụng sự có thể được thực hiện cho đồng loại, thì mọi điều kia đều sẽ đến. Không phải Thượng Đế cần những lao tác nhỏ bé, đáng thương của chúng ta. Không phải Ngài thiếu điều gì nơi chúng ta. Trái lại, chính chúng ta thiếu mọi sự nơi Ngài, và chúng ta phải sống sao cho giữ Ngài ở hàng đầu, trên hết, trong mọi việc chúng ta làm và nói.

Considerable interest was shown in the educational end of the work, and the new books received by the library were much used. And a very interesting phase of the work was begun by the Historical Committee, composed of Miss Gladys, Hugh Lynn, and Thomas J. Sugrue, who had been a classmate of Hugh Lynn’s at Washington and Lee University and became interested in the work during summer visits with us. From the life readings of the members of the Association, the committee worked out the relations of various members to the other members, interpreted the individual’s own life reading, and connected his urges and abilities with those of the people with whom he contacts.

Mối quan tâm lớn được dành cho phương diện giáo dục của công việc, và sách mới mà thư viện nhận được được sử dụng rất nhiều. Và một mảng công việc rất thú vị được khởi sự bởi Ủy ban Lịch sử, gồm cô Gladys, Hugh Lynn và Thomas J. Sugrue, người đã từng là bạn cùng lớp của Hugh Lynn tại Đại học Washington and Lee và trở nên quan tâm đến công việc trong những lần thăm chúng tôi vào mùa hè. Từ các bài đọc đời sống của hội viên, ủy ban đã tìm ra mối liên hệ giữa các hội viên với những người khác, diễn giải bài đọc đời sống của từng người, và kết nối những thôi thúc, năng lực của người ấy với những người mà họ tiếp xúc.

The Association also had Mr. Shroyer working on the readings, separating the information in each reading into its various phases. From the physical readings he obtained the diagnoses and remedies prescribed, arranging these so they might be studied by medical researchers. The object of this research was to apply what was given to an individual to people having the same conditions. We expected many new cures might be discovered and more efficient methods of treatment.

Hội cũng có ông Shroyer làm việc với các bài đọc, tách thông tin trong từng bài theo các phương diện khác nhau. Từ các bài đọc thể xác ông lấy ra chẩn đoán và các phương thuốc được chỉ định, sắp xếp lại để các nhà nghiên cứu y học có thể khảo cứu. Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng điều đã cho một cá nhân vào những người có cùng tình trạng. Chúng tôi kỳ vọng có thể khám phá nhiều cách chữa mới và các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

From other readings the information was segregated into various departments—philosophical, historical, scientific, and material. Mr. Shroyer stated that his work would be finished when future generations have the information of the readings complete, in a manner most efficient for study and reference.2

Từ các bài đọc khác, thông tin được phân loại vào nhiều bộ phận—triết học, lịch sử, khoa học và vật chất. Ông Shroyer nói rằng công việc của ông sẽ hoàn tất khi các thế hệ tương lai có được thông tin từ các bài đọc một cách trọn vẹn, theo phương thức hiệu quả nhất cho việc học tập và tra cứu.2

At our meeting of the board of trustees in July 1929, many interesting developments came up for discussion and plans for the future were made in detail, and in view of the success of the past year the members felt greatly encouraged. After the meeting Morton was host to the officers and trustees of the Association at a banquet in the Cavalier Hotel. The affair marked the close of a successful year for the Association, and the beginning of another twelve months of what we believed were even brighter prospects.3

Tại cuộc họp hội đồng quản trị vào tháng Bảy năm 1929, nhiều diễn tiến thú vị được đưa ra thảo luận và các kế hoạch cho tương lai được lập chi tiết, và xét đến thành công của năm qua, các thành viên hết sức phấn khởi. Sau cuộc họp, Morton mở tiệc chiêu đãi các chức viên và quản trị viên của Hội tại khách sạn Cavalier. Buổi họp mặt đó đánh dấu kết thúc một năm thành công của Hội và khởi đầu mười hai tháng nữa với những triển vọng mà chúng tôi tin là còn tươi sáng hơn.3

In the fall of 1929 Hugh Lynn and Tom Sugrue started up a quarterly called The New Tomorrow as the first official publication for the Association. Tom did an editorial that put into perspective some of the experiences that led up to our building the hospital, starting with the first experiment to clear my voice in 1901. This is a part of what he wrote:

Vào mùa thu năm 1929, Hugh Lynn và Tom Sugrue khởi một bản tin hàng quý tên The New Tomorrow như ấn phẩm chính thức đầu tiên của Hội. Tom viết một bài xã luận đặt viễn tượng cho một số trải nghiệm dẫn đến việc chúng tôi xây bệnh viện, bắt đầu từ thí nghiệm đầu tiên để làm trong giọng nói của tôi vào năm 1901. Đây là một phần điều ông viết:

It was a long, hard road for Edgar Cayce, from the first fairy voice of childhood to the first ground broken for the Cayce Hospital. Man through his opaque mist of materialism sees little of the world beyond his length, breadth, and thickness, and because of his own conceit the attempts of truth boomerang from a solid wall of self. How difficult it is to make people understand something they cannot contact with the senses! How discouraging it is to see truth misinterpreted and misapplied, used as the individual sees fit, to suit best the desires of his own nature! How long to the goal it seems when the road is so winding and rough, so studded with stubble, so littered with deadwood, so cluttered with debris!

Đó là một con đường dài và gian khó đối với Edgar Cayce, từ tiếng nói thần tiên đầu đời đến nhát cuốc đầu tiên khởi công Bệnh viện Cayce. Con người qua màn sương đục của chủ nghĩa duy vật chỉ thấy chút ít về một thế giới vượt quá chiều dài, chiều rộng và chiều dày của mình, và vì tự phụ, những cố gắng của chân lý cứ dội lại từ bức tường kiên cố của bản ngã. Thật khó biết bao để khiến con người thấu hiểu điều mà họ không thể tiếp xúc bằng giác quan! Thật nản lòng biết bao khi thấy chân lý bị hiểu sai và vận dụng sai, bị sử dụng theo ý muốn cá nhân, sao cho hợp nhất với dục vọng của chính bản tính y! Đến đích sao mà xa xăm khi con đường quanh co gập ghềnh, lổn nhổn gốc rạ, ngổn ngang củi mục, bừa bộn phế thải!

To conquer self was the first task, and perhaps the hardest …

Chinh phục bản thân là nhiệm vụ đầu tiên, và có lẽ là khó nhất …

To convince himself that he was not a freak of nature, not an unconscious fraud, not a spiritual charlatan, was first of all the work of Edgar Cayce. For years he lived in self-conscious embarrassment because of his strange peculiarity, for years he feared to give the aid requested of him because he did not know nor understand the thing he did. For years his life was a mental torture, a seething indecision, a labyrinth of ideas, ideals, misbeliefs, and disillusions.

Tự thuyết phục mình rằng y không phải một kỳ quái của tự nhiên, không phải một kẻ lừa dối vô thức, không phải một tay lang băm tinh thần, đó là công việc trước hết của Edgar Cayce. Nhiều năm trời y sống trong sự ngượng ngập vì đặc điểm lạ kỳ của mình, nhiều năm trời y sợ phải ban trợ giúp khi được yêu cầu vì y không biết cũng không thấu hiểu điều mình làm. Nhiều năm đời y là cực hình trí não, là sự phân vân sục sôi, là mê cung ý tưởng, lý tưởng, tin lầm và vỡ mộng.

From the left came a cry of service, from the right a whisper of gain. Which way, Parnassus? No answer came. Time passed, and the mind that could not know of itself, learned from a world that clutched at stars and dragged its soul in mud. Reality stumbling skyward in the illusion of smut taught a lesson etched in pain and failure. The answer became obvious:

Từ bên trái vang lên tiếng kêu gọi phụng sự, bên phải là lời thì thầm của lợi lộc. Đi lối nào, Parnassus? Chẳng có câu trả lời. Thời gian trôi, và cái thể trí vốn không thể tự mình biết đã học từ một thế gian bấu víu lấy sao trời mà lại kéo linh hồn mình lê lết trong bùn. Thực tại vấp ngã mà vươn lên trời cao trong ảo tưởng nhơ nhớp đã dạy một bài học khắc bằng đau đớn và thất bại. Câu đáp đã trở nên hiển nhiên:

“Though I speak with the tongues of men and of angels, and have not love, I am become as sounding brass, or a tinkling cymbal. And though I have the gift of prophecy, and understand all mysteries and all knowledge, and though I have all faith, so that I could remove mountains, and have not love, I am nothing.”

“Dầu tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của thiên sứ, mà không có tình thương, thì tôi trở nên như đồng kêu lên hay chập cheng vang tiếng. Dầu tôi có ơn nói tiên tri, hiểu biết mọi sự mầu nhiệm và mọi sự hiểu biết, dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi dời non, mà không có tình thương, thì tôi chẳng ra gì.”

To Edgar Cayce had come an ideal, to him was shown the truth. And so he lived, and so he lives, and so he will live forever. He survived the cries that branded him charlatan, quack, spiritualist, clairvoyant, hypnotist, fake, and fraud. He survived the misunderstanding, pain, disillusionment, loss of friends, and attacks of enemies …

Với Edgar Cayce đã đến một lý tưởng, với y chân lý đã được tỏ bày. Và y đã sống như vậy, đang sống như vậy, và sẽ sống như vậy mãi mãi. Y đã vượt qua những tiếng la ó đóng dấu y là lang băm, bịp bợm, nhà thần linh học, người thông nhãn, nhà thôi miên, đồ giả mạo, kẻ lừa đảo. Y vượt qua sự hiểu lầm, đớn đau, vỡ mộng, mất bạn, và những cuộc công kích của kẻ thù …

It is a long time between the idea and the creation, the dream and the reality. In 1911 Edgar Cayce began working toward the establishment of a hospital. On May 6, 1927, The Association of National Investigators was incorporated. On June 19, 1928, the first ground was broken for the Cayce Hospital. On November 11, 1928, the Cayce Hospital was dedicated. On February 11, 1929, the first patient was treated in the Cayce Hospital.

Giữa lý tưởng và sáng tạo, giữa mộng và thực là một quãng dài. Năm 1911 Edgar Cayce bắt đầu làm việc hướng đến việc thành lập một bệnh viện. Ngày 6 tháng Năm, 1927, Hội Các Nhà Điều Tra Quốc Gia được pháp nhân hóa. Ngày 19 tháng Sáu, 1928, nhát cuốc đầu tiên khởi công Bệnh viện Cayce. Ngày 11 tháng Mười Một, 1928, Bệnh viện Cayce được cung hiến. Ngày 11 tháng Hai, 1929, bệnh nhân đầu tiên được điều trị tại Bệnh viện Cayce.

The dream is a reality, the ideal is achieved, the work has begun.

Giấc mơ đã thành thực tại, lý tưởng đã đạt, công việc đã khởi.

Mr. Blumenthal had an article in The New Tomorrow that was taken from a book he wrote for the Association, called Heaven on Earth. Morton’s article, “Our Philosophy,” told that the ideal of the Association was to foster and encourage physical, mental, and spiritual benefits amongst its members through psychic research that we might gain the necessary knowledge to fit us to work on earth for creation, as does the mighty creative energy of life function to sustain creation throughout the whole universe. Morton said, “We shall strive to throw our influence on the side of the good and the spiritual, in order that the generations of men may cling to the link that binds them to the universe, to the noble, the beautiful, the honorable, and to the whole ideal while in this earthly process of development, rather than permit the influences of the purely material life to drag the inner developing potentiality that manifests itself in the form of physical personalities in the mire of animalistic materialism, that turns love into passion and adultery, nobleness into wrath, hatred and temper, honor into greed and selfishness, beauty into filth and the imagination into slavery to physical desires.”4

Ông Blumenthal có một bài trong The New Tomorrow trích từ một cuốn sách ông viết cho Hội, mang tên Heaven on Earth. Bài của Morton, “Triết lý của chúng ta,” cho biết lý tưởng của Hội là thúc đẩy và khích lệ lợi ích thể xác, trí tuệ và tinh thần giữa các hội viên thông qua nghiên cứu thông linh để chúng ta có thể đạt được tri thức cần thiết nhằm thích nghi mình để tác động vào trần thế cho công cuộc sáng tạo, như năng lượng sáng tạo vĩ đại của Sự sống vận hành để duy trì công trình sáng tạo trong khắp vũ trụ. Morton nói, “Chúng ta sẽ cố gắng nghiêng ảnh hưởng về phía điều thiện và điều tinh thần, để các thế hệ người bám lấy mối liên kết gắn họ với vũ trụ, với điều cao quý, cái đẹp, điều đáng kính, và với cái toàn thể lý tưởng trong tiến trình phát triển trần thế này, thay vì để những ảnh hưởng của đời sống thuần vật chất kéo tiềm năng đang phát triển bên trong—vốn biểu hiện trong hình thức các phàm ngã thể xác—xuống bùn lầy của chủ nghĩa duy vật thú tính, thứ biến tình thương thành dục vọng và ngoại tình, phẩm cách thành phẫn nộ, hận thù và nóng nảy, danh dự thành tham lam và ích kỷ, vẻ đẹp thành ô uế và sức tưởng tượng thành nô lệ cho dục vọng xác thịt.”4

The New Tomorrow also had sad news to report to our members. Dr. House, chief of staff of the hospital, passed away on October 12, 1929. Not only was Dr. House a great physician, he was a master of the art of human nature, capable of understanding and curing those ills not listed in the medical books. He had been associated for many years with the work and thoroughly understood the administering of the physical readings. In the little time he was permitted to administer his duties in the hospital he performed his work in such a way as to register a lasting memory of efficiency and understanding which endeared him to the hearts of all he encountered. The memory of Dr. House will ever be an inspiration and guide to the servants of God and mankind who follow in his self-sacrificing footsteps.

The New Tomorrow cũng có tin buồn báo đến hội viên. Bác sĩ House, trưởng ban điều hành của bệnh viện, đã qua đời ngày 12 tháng Mười, 1929. Bác sĩ House không chỉ là một thầy thuốc lớn, ông còn là bậc thầy về nghệ thuật thấu hiểu bản tính con người, có khả năng hiểu và chữa những chứng bệnh không có trong sách y khoa. Ông đã cộng tác nhiều năm với công việc và hiểu tường tận việc điều hành các bài đọc thể xác. Trong quãng thời gian ngắn ngủi ông được đảm trách nhiệm vụ ở bệnh viện, ông đã hoàn thành công việc theo cách ghi dấu ấn bền lâu về hiệu năng và sự thấu hiểu, khiến mọi người ông gặp đều ghi lòng mến mến. Ký ức về Bác sĩ House sẽ mãi là nguồn cảm hứng và kim chỉ nam cho những tôi tớ của Thượng Đế và nhân loại bước theo chân ông trong sự hiến mình.

After some time Dr. Lyman A. Lydic, an osteopath from Dayton, came to take up his duties.5 Sister [Annie Cayce] also came from home to head the housekeeping of the institution.

Sau một thời gian, bác sĩ Lyman A. Lydic, một bác sĩ nắn xương đến từ Dayton, đã đến nhận nhiệm vụ.5 Chị [Annie Cayce] cũng từ nhà đến đảm trách việc quản gia của cơ sở.

The officers and trustees were frequent visitors to the hospital, and a large number of them spent Thanksgiving there. We were kept busy not only with visitors but with the work. We were booked up with appointments for physical readings, and there were more requests coming in every day from far and near. Each day brought new letters of thanks and hope, such as:

Các chức viên và quản trị viên thường xuyên đến thăm bệnh viện, và có rất nhiều người trong số họ dự Lễ Tạ ơn ở đó. Chúng tôi bận rộn không chỉ với khách thăm mà còn với công việc. Lịch hẹn cho các bài đọc thể xác kín hết, và mỗi ngày lại có thêm yêu cầu từ xa gần. Mỗi ngày mang đến những lá thư cảm ơn và hy vọng mới, như:

“Reading received this day. It is very wonderful at describing conditions which exist. Am ready and anxious to follow the suggested treatment as soon as I can find a convenient practitioner of osteopathy, there being none in our city to my knowledge. Am very sure of good results when I get the treatments under way.”

“Bài đọc nhận trong ngày hôm nay. Thật tuyệt vời khi mô tả những tình trạng thực có. Tôi sẵn sàng và nóng lòng làm theo phương pháp điều trị được đề nghị ngay khi tôi tìm được một bác sĩ nắn xương thuận tiện, vì theo tôi biết ở thành phố chúng tôi không có ai cả. Tôi rất chắc sẽ có kết quả tốt khi tôi khởi trị liệu.”

“Just exactly as we see it, and are following directions precisely, with visible results already.”

“Đúng y như chúng tôi nhìn thấy, và chúng tôi đang làm theo chỉ dẫn một cách chính xác, đã có kết quả thấy được.”

“The reading seems to fit my case and also coincide with the diagnoses of different doctors, but especially an osteopath. I will carry out your suggestions to the best of my ability.”

“Bài đọc dường như phù hợp với trường hợp của tôi và cũng trùng với chẩn đoán của các bác sĩ khác nhau, nhưng nhất là của một bác sĩ nắn xương. Tôi sẽ thực hiện các đề nghị của quý vị theo khả năng tốt nhất của tôi.”

“We feel that your reading is correct, and intend to carry it out to the limit, especially as we have no other course to follow. The doctor claims this will be a new discovery in medical science if our baby can be cured, as it is a rare case.”

“Chúng tôi cảm thấy bài đọc của ông là đúng, và dự định sẽ thực hiện đến mức tối đa, nhất là khi chúng tôi không còn con đường nào khác. Bác sĩ cho rằng điều này sẽ là một khám phá mới trong y học nếu em bé của chúng tôi có thể khỏi, vì đây là một ca hiếm.”

All our days were very busy, Sundays as well, as I taught a Bible class at the First Presbyterian Church and on Sunday evening Morton Blumenthal and I endeavored to give educational lectures at the hospital. A dream of mine seemed to foretell this activity. The dream was about a baby who was very remarkable, talking before an audience that was spellbound. It was being examined to see that it wasn’t just a midget, but a prodigy, and no one could find fault. The dream was interpreted as symbolic of conditions that would arise in the giving of speeches and activities, the baby suggesting what I felt as being little, or of no purpose in its environs; but the baby grows so as to make the hearts and souls of men of that turn which brings Life itself. The baby represented truth itself. It was a good dream.

Tất cả các ngày của chúng tôi đều rất bận, cả Chủ nhật cũng vậy, vì tôi dạy một lớp Kinh Thánh tại Nhà thờ Trưởng Lão Thứ Nhất và vào tối Chủ nhật, Morton Blumenthal và tôi cố gắng thực hiện các bài giảng giáo dục ở bệnh viện. Có một giấc mơ của tôi dường như đã báo trước hoạt động này. Giấc mơ là về một em bé rất phi thường, nói chuyện trước một cử tọa bị cuốn hút. Người ta đang kiểm tra để xem đó có phải chỉ là một chú lùn hay không, nhưng là một thần đồng, và không ai có thể bắt bẻ. Giấc mơ được diễn giải là tượng trưng cho những tình huống sẽ phát sinh trong việc diễn thuyết và các hoạt động; đứa bé gợi điều tôi cảm nhận là nhỏ bé, hay vô dụng trong hoàn cảnh của nó; nhưng đứa bé lớn lên để khiến trái tim và linh hồn con người xoay chuyển theo chiều hướng mang lại chính Sự Sống. Đứa bé tượng trưng cho chân lý. Đó là một giấc mơ tốt.

Crowds gathered in the lecture room each Sunday afternoon. On many occasions there were outbursts after the lectures from individuals who felt they must get up and express themselves. On alternate Sundays Mr. Blumenthal talked on philosophy—Creative Evolution, The Value of Introspection, My Idea of God, and The Fourth Dimensional Viewpoint were some of the absorbing things taken up by him. He also conducted a philosophy class on alternate Saturday afternoons. This class attracted considerable interest and was well attended. The textbook he used was Ouspensky’s Tertium Organum. Later Hudson’s Law of Psychic Phenomena, and Bergson’s Creative Evolution, with outside readings in James’s Varieties of Religious Experience and Pluralistic Universe, and Bergson’s Mind Energy.

Đám đông tụ họp trong phòng giảng mỗi chiều Chủ nhật. Nhiều lần, có những bùng nổ sau bài giảng từ những người cảm thấy họ phải đứng lên bày tỏ. Vào các Chủ nhật xen kẽ, ông Blumenthal nói về triết học—Tiến Hóa Sáng Tạo, Giá Trị của Sự Tự Tỉnh, Quan Niệm của Tôi về Thượng Đế, và Quan Điểm Bốn Chiều là vài đề tài hấp dẫn ông nêu lên. Ông cũng điều khiển một lớp triết học vào các chiều thứ Bảy cách tuần. Lớp này thu hút mối quan tâm đáng kể và có đông người theo học. Giáo trình ông dùng là Tertium Organum của Ouspensky. Sau đó là Hudson’s Law of Psychic Phenomena, và Creative Evolution của Bergson, cùng các bài đọc ngoài lề gồm Varieties of Religious Experience và Pluralistic Universe của James, và Mind Energy của Bergson.

In my Sunday afternoon talks for the patients and the members at large, I made no attempt to found a new sect, or an ism, or a body of thought, or to have a following of any kind. What I wanted to give was a better understanding of the Great Physician, that One who was able to heal by the touch of His hand. I wanted people to look at the mind as it relates to healing. I tried to help them to understand the information that was coming through the readings.

Trong các bài nói chuyện chiều Chủ nhật của tôi dành cho bệnh nhân và các hội viên nói chung, tôi không hề cố gắng lập ra một giáo phái mới, hay một -ism nào, hay một hệ tư tưởng, hoặc gây dựng một phe cánh nào. Điều tôi muốn mang đến là sự hiểu biết sâu hơn về Đấng Lương Y Vĩ Đại, Đấng có thể chữa lành chỉ bằng cái chạm tay Ngài. Tôi muốn mọi người nhìn thể trí trong mối liên hệ với sự chữa lành. Tôi cố giúp họ hiểu các thông tin đang được chuyển qua những bài đọc.

Soon after the hospital opened, there was talk among the trustees of Morton Blumenthal’s idea of starting a school in connection with the institution. Morton got a reading on it. Tim Brown and I thought it might start with but a few teachers who knew of our purpose and a very few students, and to have builded from that start as a foundation for a larger institution. But Morton wanted a university, and he purchased some land near the hospital for that purpose. Tim thought this wasn’t as we had anticipated, but he did not find fault with any particular person and he thought the experience would be beneficial to all and from this experience a greater institution might spring forth. As Morton was offering to finance the university and he was to be chairman of the board, it was done as he thought best.

Không lâu sau khi bệnh viện mở cửa, trong các quản trị viên đã có bàn bạc về ý tưởng của Morton Blumenthal khởi lập một trường học gắn với cơ sở. Morton xin một bài đọc về việc ấy. Tim Brown và tôi nghĩ có thể khởi đầu chỉ với vài giáo viên hiểu mục đích của chúng tôi và một số rất ít môn sinh, rồi xây dựng từ xuất phát điểm ấy làm nền cho một cơ sở lớn hơn. Nhưng Morton muốn một đại học, và ông đã mua một khu đất gần bệnh viện cho mục đích đó. Tim nghĩ điều này không như chúng tôi dự liệu, nhưng ông không trách cứ cá nhân nào và nghĩ rằng trải nghiệm ấy sẽ hữu ích cho tất cả, và từ trải nghiệm này có thể sinh ra một cơ sở vĩ đại hơn. Vì Morton đề nghị tài trợ cho đại học và ông sẽ là chủ tịch hội đồng, nên mọi việc được làm theo ý ông cho là tốt nhất.

Edwin Blumenthal met with a committee from Norfolk-Portsmouth Chamber of Commerce to inform them of the university plan. And in April 1930, the plans were reported by the press.6

Edwin Blumenthal họp với một ủy ban của Phòng Thương mại Norfolk–Portsmouth để thông tin cho họ về kế hoạch đại học. Và vào tháng Tư năm 1930, các kế hoạch đã được báo chí đưa tin.6

Dr. Brown gave a fine address at the convocation, which was held at my church [in September 1930]. As the classroom buildings were still being builded, the university opened in two hotels that were empty of summer visitors.

Bác sĩ Brown diễn một bài rất hay ở lễ khai khóa, được tổ chức tại nhà thờ của tôi [tháng Chín 1930]. Vì các tòa nhà lớp học vẫn còn đang được xây, đại học khai giảng trong hai khách sạn trống khách nghỉ mùa hè.

That October I realized that twenty years before, many were the reports given out in various newspapers of the country from a paper presented by Dr. Ketchum to the Clinic Research Society of Boston. In October 1930, the Cayce Hospital of Research and Enlightenment was in operation. Ten patients were in the hospital and eleven outside taking treatments there. Nearly a hundred appointments were waiting to be made for readings, as I was able to make only two appointments a day except when having check readings. I spent many a day in thought and effort, trying as I understand it to be used as a channel through which others may gain a consciousness of their abilities and talents, which—when made one with the creative forces—will bring them to an understanding of their relationship to their fellow man and the Creator. As I wonder and ponder over circumstances that arise in the life and lives of individuals seeking information through these sources, I indeed wonder what it is all about—and if there is not the thread of life running through it all, life as propounded by the Master Himself when He gave, “He that would have life must give himself, that he may have life more abundant. He that exalteth himself shall be debased, but he that maketh his will one with the Father shall ask in my name and shall in no wise be cast out. Seek and ye shall find. Knock and it shall be opened unto you—for through me ye have an advocate with the Father, and the Father that heareth in secret will reward thee openly.”

Tháng Mười năm đó tôi nhận ra rằng hai mươi năm trước, nhiều bài tường thuật đã được đăng tải trên các báo khác nhau trong nước về một bài thuyết trình của Bác sĩ Ketchum trước Hội Nghiên Cứu Phòng Khám ở Boston. Vào tháng Mười 1930, Bệnh viện Nghiên Cứu và Giác Ngộ Cayce đã đi vào hoạt động. Có mười bệnh nhân nội trú và mười một người ngoại trú đến điều trị. Gần một trăm cuộc hẹn đang chờ được xếp cho các bài đọc, vì tôi chỉ có thể làm hai cuộc hẹn mỗi ngày, trừ khi có bài đọc kiểm tra. Tôi đã trải qua biết bao ngày suy nghĩ và cố gắng, nỗ lực, cố sao—theo sự hiểu biết của tôi—được dùng làm kênh để người khác có thể đạt được một tâm thức về khả năng và tài năng của họ, những thứ—khi hợp nhất với các lực sáng tạo—sẽ mang họ đến sự thấu hiểu mối tương quan của mình với đồng loại và với Đấng Tạo Hóa. Khi tôi suy tư, nghiền ngẫm về những cảnh huống phát sinh trong đời sống và những kiếp sống của những người cầu học qua các nguồn này, tôi thật sự tự hỏi mọi sự là thế nào—và nếu không có sợi dây sự sống chạy xuyên qua tất cả, Sự sống như chính Đức Thầy đã giảng khi Ngài nói, “Ai muốn có sự sống thì phải hiến mình, để có sự sống dư dật hơn. Ai tôn cao mình sẽ bị hạ xuống, nhưng ai làm cho ý của mình hòa một với Cha thì sẽ cầu xin nhân danh Ta và chắc chắn chẳng bị loại bỏ. Hãy tìm sẽ gặp. Hãy gõ sẽ mở cho—vì qua Ta các ngươi có một Đấng Bào Chữa trước mặt Cha, và Cha, Đấng nghe nơi chốn kín nhiệm, sẽ thưởng các ngươi cách công khai.”

Many changes have taken place in the thought of peoples since the first reading was given years ago, but as I think and ponder over these changes, I can but wonder if it is not the evolution of man’s thought, man’s gaining an insight into the consciousness that may be had by pondering in his heart God’s revelations to man and man’s relation to God.

Nhiều đổi thay đã xảy ra trong tư tưởng con người từ khi bài đọc đầu tiên được ban nhiều năm trước, nhưng khi tôi nghĩ và suy gẫm về những đổi thay này, tôi chỉ có thể tự hỏi rằng chẳng phải đó là tiến trình tiến hóa của tư tưởng con người, là con người đạt được cái nhìn thấu nhập vào tâm thức có thể đạt được bằng cách gẫm suy trong tim những sự mặc khải của Thượng Đế cho loài người và mối tương quan của người với Thượng Đế đó sao.

About this time I had an unusual experience during a reading for a lady who came out from Norfolk. Was it a dream or a vision? I give it below in detail:

Vào khoảng thời gian này tôi có một trải nghiệm khác thường trong một bài đọc cho một phụ nữ đến từ Norfolk. Đó là mộng hay tầm nhìn? Tôi trình bày chi tiết dưới đây:

I was preparing to give a reading. As I went out, I realized that I had contacted Death, as a personality, as an individual, or as a being. Realizing this, I remarked to Death, “You are not as ordinarily pictured, with a black mask or hood, or as a skeleton, or like Father Time with a sickle. Instead you are fair, rosy, robust, and have a pair of shears or scissors.” I had to look twice at the feet or limbs, or even at the body, to see it take shape.

Tôi đang chuẩn bị khai mở một bài đọc. Khi tôi đi ra, tôi nhận ra mình đã tiếp xúc với Tử thần, như một nhân cách, một cá thể, hay một hữu thể. Nhận ra điều đó, tôi nói với Tử thần, “Ông không như người ta thường vẽ, với chiếc mặt nạ hay mũ trùm đen, hay như một bộ xương, hay giống Ông Thời Gian với lưỡi hái. Trái lại, Ông hồng hào, cường tráng, và có một cái kéo.” Tôi phải nhìn đôi chân, đôi tay, thậm chí cả thân thể đến hai lần mới thấy nó hiện hình.

But it replied, “Yes, Death is not what many seem to think. It is not the horrible thing that is so often pictured. Just a change. Just a visit. The shears or scissors, indeed, are the most representative implements to man of life and death. They, indeed, unite by dividing, and divide by uniting. The cord not, as usually thought, extending from the center—but is broken from the head, the forehead, that soft portion you see pulsate in the infant. Hence we see old people, unbeknown to themselves, gain strength from youth by kissing there—and youth gains wisdom from age by such kisses. Indeed the vibrations may be raised to such an extent as to rekindle or connect the cord, even as the Master did the son of the widow of Nain—for He took him not by the hand (which was bound to the body as the custom of the day) but rather stroked him on the head, and the body took life of Life itself. So, you see, the silver cord may be broken but Vibration—” and here it ended.

Nhưng Ông đáp, “Đúng vậy, Chết không như nhiều người vẫn tưởng. Nó không phải là điều khủng khiếp vẫn hay được mô tả. Chỉ là một sự đổi thay. Chỉ là một chuyến thăm. Cái kéo, thật vậy, là khí cụ đại diện nhất đối với con người về sự sống và cái chết. Chúng thật vậy, kết hợp bằng cách phân chia, và phân chia bằng cách kết hợp. Sợi dây không, như người ta vẫn tưởng, kéo dài từ trung tâm—mà bị đứt từ cái đầu, từ trán, ở nơi mềm mà ông thấy đập phập phồng nơi trẻ sơ sinh. Bởi vậy, chúng ta thấy người già, không tự biết, nhận sức lực từ tuổi trẻ bằng cách hôn nơi ấy—và tuổi trẻ nhận minh triết từ tuổi già bằng những cái hôn như vậy. Quả thật mức rung động có thể được nâng cao đến mức thắp lại hay nối lại sợi dây, như chính Đức Thầy đã làm với con trai của người góa phụ thành Nain—vì Ngài không nắm tay cậu (tay được buộc vào thân thể theo tục lệ thời bấy giờ) mà đúng hơn là vuốt đầu cậu, và thân xác ấy bắt lấy Sự sống từ Chính Sự Sống. Vậy ông thấy đấy, sợi dây bạc có thể bị đứt nhưng Rung động—” và ở đây thì dừng.

I felt some anxiety respecting the outcome of a meeting Morton had called. Mr. Shroyer came in, but I was feeling too bad even to talk. I felt too bad to even go to Sunday school. Some very drastic changes were inaugurated at the hospital. If these were necessary, all the more reason that we should be more patient and do our level best.

Tôi cảm thấy chút bất an về kết quả của một cuộc họp do Morton triệu tập. Ông Shroyer vào, nhưng tôi cảm thấy quá mệt để nói năng. Tôi mệt đến mức không thể đi học Trường Chủ nhật. Một vài thay đổi rất quyết liệt được khởi xướng ở bệnh viện. Nếu điều đó là cần, thì càng cần chúng tôi kiên nhẫn hơn và làm hết sức mình.

Soon after that Morton called a meeting of the board of the Association, at which he directed that no more patients were to be admitted to the hospital. I was somewhat surprised when he, who seemed to have been so very sincere in his undertaking in the work with the Association, took such radical steps or changes in his ideas. It may have been partially brought on by the economic conditions; it may have been partially caused by differences of opinion as to who should and who should not receive readings of materialistic or commercial nature. Anyway, his decision was to discontinue the hospital activities, close it, and disband the Association.7

Ngay sau đó Morton triệu tập một phiên họp của hội đồng của Hội, tại đó ông chỉ đạo không nhận thêm bệnh nhân vào bệnh viện nữa. Tôi khá ngạc nhiên khi ông, người có vẻ rất thành tâm trong công cuộc làm việc với Hội, lại có những bước đi hoặc thay đổi ý tưởng quyết liệt như vậy. Có thể một phần do điều kiện kinh tế; cũng có thể một phần do bất đồng ý kiến về việc ai nên, ai không nên nhận các bài đọc mang tính vật chất hay thương mại. Dù sao, quyết định của ông là chấm dứt các hoạt động của bệnh viện, đóng cửa, và giải tán Hội.7

When I was told that it was necessary to close the hospital, I wondered what it was all about. This was one of the saddest experiences of my whole life. I am not any different from other individuals who have their dreams and want to tell God how to do things. For years my great dream was to have a hospital, to have doctors and nurses and the best scientific means of treating people according to the readings. My dream at last was realized. The Cayce Hospital was in existence. It was working.

Khi tôi được cho biết rằng cần phải đóng cửa bệnh viện, tôi tự hỏi tất cả là vì điều gì. Đây là một trong những trải nghiệm buồn nhất của cả cuộc đời tôi. Tôi cũng chẳng khác gì những người khác có giấc mơ của mình và muốn chỉ dạy Thượng Đế cách làm việc. Nhiều năm trời giấc mơ lớn của tôi là có một bệnh viện, có bác sĩ và y tá và những phương tiện khoa học tốt nhất để điều trị con người theo các bài đọc. Giấc mơ của tôi rốt cuộc đã thành hiện thực. Bệnh viện Cayce đã hiện hữu. Nó đang vận hành.

Things had gone well with the hospital for some time, but finally friction developed and disturbances came and what seemed to Edgar some very selfish demands were made of him that did not seem just, under the circumstances. So he refused to comply, and that created more friction, which continued until the venture was dissolved and Edgar walked out empty-handed but clean-handed, relinquishing everything. He said in word and in action, “If that is your policy and that is what you want, you can have it all, for I do not want it that way.” He did not lay any claim to anything or any part, for he did not want to be a party to anything that would create hard feelings or contention. That was not the way he wanted the work to be promoted or conducted, and he would not feel right even remaining in the company or a party to anything that was creating such contention and ill feelings and making possible enemies of friends or causing such friction between friends and associations. It seemed plain that the ultimate aim of those taking part was self-interest, money and what it would buy, which was very different from Edgar’s purpose or desire. His desire from childhood had been simply to help his fellow man, never in any big way as the world defines big, but in the everyday opportunities, the little things that came under his observation and was within the bounds of his reach, and to make peace, joy, harmony, and contentment and happiness among men. Naturally, when there was friction, contention, and ill feelings, he could see that was not what he was striving for, and if that attitude could not be changed, he was ready to get away from it. From the beginning, when such disturbances came he continued to lend help as far as he was concerned individually, giving the readings or information when and where requested; and in that way many hundreds have been helped.

Mọi việc ở bệnh viện đã suôn sẻ một thời gian, nhưng rồi cuối cùng sinh ra ma sát và xáo trộn, và theo Edgar thì những yêu sách rất ích kỷ đã được đặt ra cho ông, điều đó xem ra không công bằng trong hoàn cảnh. Vậy nên ông từ chối đáp ứng, và điều đó tạo ra nhiều ma sát hơn, kéo dài cho đến khi công cuộc bị giải thể và Edgar ra đi tay trắng nhưng sạch tay, buông bỏ tất cả. Ông nói bằng lời và bằng hành động, “Nếu đó là đường lối của các ông và đó là điều các ông muốn, thì các ông cứ lấy hết, vì tôi không muốn theo cách đó.” Ông không đòi hỏi bất kỳ điều gì hay bất kỳ phần nào, vì ông không muốn dự phần vào điều có thể sinh ra bất hòa hay tranh chấp. Đó không phải là cách ông muốn công việc được thúc đẩy hay được điều hành, và ông sẽ không thấy thanh thản nếu còn ở lại trong tập thể hay dự phần vào điều đang gây ra tranh chấp, oán giận và có thể biến bạn thành thù, hoặc gây ma sát giữa bè bạn và cộng sự. Dường như rõ ràng rằng mục tiêu sau chót của những người tham dự là tư lợi, tiền bạc và những gì nó mua được, rất khác với mục tiêu hay ước muốn của Edgar. Ước muốn của ông từ thời thơ ấu chỉ đơn giản là giúp đồng loại, không bao giờ theo cách “to tát” như thế gian định nghĩa “to tát”, mà là trong những cơ hội hằng ngày, những việc nhỏ bé nằm trong tầm mắt và trong tầm tay, và để gây dựng hòa bình, vui mừng, hòa hợp, an lạc và hạnh phúc giữa loài người. Tự nhiên, khi có ma sát, tranh chấp và oán giận, ông nhìn ra đó không phải điều ông đang nỗ lực, và nếu thái độ ấy không đổi, ông sẵn sàng rời khỏi. Từ đầu, khi những xáo trộn như vậy nảy sinh, ông vẫn tiếp tục trợ giúp trong phần thuộc về cá nhân mình, ban các bài đọc hay thông tin khi và nơi được thỉnh cầu; và theo cách đó, đã có hàng trăm người được giúp.

No one can possibly imagine how it hurt, how it still hurts. Yet I am sure I must have been going at it in the wrong way. You cannot force people to believe anything. I learned that all over again. God gives us a free will. It is up to us to use it. We should glorify that we find good and not mention that we find bad—or let it alone, forget it.

Không ai có thể tưởng tượng được nó đã khiến tôi đau đớn thế nào, và vẫn còn đau thế nào. Dẫu vậy tôi tin mình đã đi sai cách. Bạn không thể ép ai tin bất cứ điều gì. Tôi học lại điều đó một lần nữa. Thượng Đế ban cho chúng ta ý chí tự do. Tùy chúng ta sử dụng nó. Chúng ta nên tôn vinh điều thiện mình tìm được và đừng nhắc điều xấu—hoặc để mặc, quên đi.

I have gone over every detail of the happenings in my own mind many times, for no one, not even I, can ever put into words what that meant to me; but put it all down as a very miserable failure on my part, and certainly I blame no one else but myself for its failure. I am sure everyone might find fault with everyone else, looking at it from their own viewpoint. Morton apparently lost interest in the phases of the phenomena that manifest through me. Whether it was a personal thing or a development for himself and that he found other channels [Patricia Devlin] more to his way of thinking, I do not know.8

Tôi đã lục lọi từng chi tiết của những diễn biến trong chính tâm trí mình nhiều lần, vì không ai, ngay cả tôi, có thể diễn đạt bằng lời điều đó có nghĩa thế nào với tôi; nhưng tôi ghi lại tất cả như một thất bại thảm hại của riêng tôi, và chắc chắn tôi không đổ lỗi cho ai khác ngoài chính mình về sự thất bại ấy. Tôi chắc ai cũng có thể bắt lỗi lẫn nhau, nhìn từ quan điểm riêng. Morton hình như đã mất hứng thú với những phương diện của hiện tượng biểu lộ qua tôi. Liệu đó là điều riêng tư hay một bước phát triển của riêng ông và ông đã tìm được những kênh khác [Patricia Devlin] phù hợp hơn với cách nghĩ của ông, tôi không biết.8

Tim Brown, vice-president of the Association, later offered his opinion in a letter to me:

Tim Brown, phó chủ tịch của Hội, sau đó nêu ý kiến của ông trong một lá thư gửi tôi:

“When I look back at the inception of the hospital and we had the first meeting to seek appropriations and donations, I felt, intuitively, that something was wrong with the method of organization and took this up with Morton. I thought it wiser to start out with a smaller building and to raise all the cost of same before starting to build so that it would be free from any mortgage or lien. I did not think that it was carrying out the spirit or sense of the Association to have it a one-man organization (one man carrying practically the whole financial burden) but that it would be more in order for each member to contribute some proportion, if it were only a dollar or so each month. I always had confidence in Morton, and still have, but as my feelings were so strong in the matter I held up the letting of the contract while I tried to get Morton to accede to my views. Morton was too enthusiastic. The readings said ‘Make a start’ and finally the contract was let and the building got under way.

“Khi nhớ lại từ lúc khởi xướng bệnh viện và chúng ta có cuộc họp đầu tiên để kêu gọi phân bổ và vận động đóng góp, tôi đã cảm thấy, theo trực giác, rằng có điều gì đó sai với phương thức tổ chức và tôi đã bàn điều này với Morton. Tôi nghĩ khôn ngoan hơn là khởi sự với một tòa nhà nhỏ hơn và gây quỹ đủ toàn bộ chi phí trước khi khởi công, để nó không bị bất kỳ khoản thế chấp hay cầm giữ nào. Tôi không nghĩ rằng việc để nó thành một tổ chức một-người (một người gánh hầu như toàn bộ gánh nặng tài chính) là thể hiện đúng tinh thần hay ý nghĩa của Hội, mà đúng hơn, mỗi hội viên nên góp một phần, dù chỉ là một đô la mỗi tháng. Tôi luôn tin tưởng Morton, và giờ vẫn vậy, nhưng vì cảm giác của tôi quá mạnh về việc này, tôi đã trì hoãn việc ký hợp đồng trong khi cố gắng thuyết phục Morton nghe theo quan điểm của tôi. Morton quá hăng hái. Các bài đọc nói ‘Hãy bắt đầu’ và cuối cùng hợp đồng được duyệt và công trình khởi sự.

“One summer, after the hospital had been built, there was a meeting at your house at which a young man wanted Morton, Eddie, and me to contribute $500 per month to help out in the moving of a boys school to Virginia Beach. The next day on our return to New York I told Morton that I did not want anything to do with this and we had all we could do to support the hospital. Morton gave up the idea of this but after the crash in 1929 he started the university. The backing of this university was the contributing factor to the dissolution of the hospital. Could the hospital have survived through the Depression years with so large a loan upon it, had Morton not overextended himself is not the question. There were underlying factors and forces, not apparent to me at this time, that brought about the dissolution. These forces could have been set up in the improper formation of the Association. Other forces not of unselfish service, could have crept in. It could have been the balancing of karmic forces or many other forces released.

“Một mùa hè, sau khi bệnh viện đã xây xong, có một cuộc họp ở nhà anh khi một thanh niên muốn Morton, Eddie và tôi góp 500 đô la mỗi tháng để hỗ trợ việc dời một trường thiếu niên đến Virginia Beach. Ngày hôm sau, trên đường về New York, tôi nói với Morton rằng tôi không muốn dính vào việc này và chúng ta đã quá tải khi duy trì bệnh viện. Morton bỏ ý tưởng này nhưng sau cú sụp năm 1929, ông lại khởi sự đại học. Việc hậu thuẫn cho đại học đó là yếu tố góp phần vào việc giải thể bệnh viện. Bệnh viện liệu có thể sống sót qua những năm Đại Khủng hoảng với khoản vay lớn như vậy không, nếu Morton không vươn tay quá sức mình—đó không phải là câu hỏi. Có những yếu tố và lực ẩn tàng, không hiển hiện với tôi lúc đó, đã đưa đến sự giải thể. Những lực này có thể đã được thiết lập ngay từ sự hình thành không đúng của Hội. Các lực không thuộc phụng sự vô tư có thể đã len vào. Đó có thể là sự quân bình của các lực nghiệp quả hoặc nhiều lực khác được giải phóng.

“Surely the contributing force in its entirety could not be laid to Morton, it could be buried deeply within the many of us members of the Association. Morton was only the channel of dissolution. I mention this, not to bring up unpleasant memories, but to try and visualize what we, as individuals, were to learn from this one experience.”

“Chắc chắn toàn bộ yếu tố góp phần không thể quy hết cho Morton, nó có thể chôn sâu bên trong nhiều người chúng ta là hội viên. Morton chỉ là kênh của sự giải thể. Tôi nhắc điều này, không phải để khơi lại kỷ niệm không vui, mà để cố hình dung xem chúng ta, với tư cách cá nhân, đã cần học gì từ trải nghiệm này.”

Before long the school got into a bad way. When they fell out within their own ranks, it brought on the beginning of the end.9 I did not know just what disposition would be made, whether they would allow the school to go on for the rest of the semester so the students might have credits for their work or not. There was a great deal of jealousy, animosity, and a lot of pure undefiled cussedness—and it’s such times as these that all such combined tends to make for very unsatisfactory, very unsavory conditions.

Không lâu sau, trường học rơi vào tình trạng tệ hại. Khi họ bất hòa trong chính nội bộ, điều đó mở đầu cho đoạn kết.9 Tôi không biết việc xử trí ra sao, liệu họ sẽ cho phép trường tiếp tục đến hết học kỳ để sinh viên có thể nhận tín chỉ cho công việc của họ hay không. Có rất nhiều ghen tuông, hằn học, và cả một đống thói xấu xa thuần túy—và vào những thời điểm như vậy, tất cả những thứ ấy cộng lại làm nên những điều kiện rất không vừa ý, rất không tốt đẹp.

I know Morton and Eddie were sincere in what they did and I certainly could never blame them for anything that happened. I just hope that I may some day call them my close friends again, for I loved them as my own closest friends. I hope all of us associated at the time have grown bigger and better men in the service of God and our love for our fellow man.10

Tôi biết Morton và Eddie chân thành trong những gì họ làm và chắc chắn tôi không thể đổ lỗi cho họ về bất cứ điều gì đã xảy ra. Tôi chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi có thể gọi họ là những người bạn thân gần gũi của mình một lần nữa, vì tôi yêu quý họ như những người bạn thân nhất của tôi. Tôi hy vọng tất cả chúng ta, những người cộng tác khi ấy, đều đã trở thành những con người lớn hơn và tốt hơn trong phụng sự Thượng Đế và tình yêu dành cho đồng loại.10

If the work is what we feel it is, it must succeed, even though it passes through the trial as by fire. If it isn’t right, it has no place. If I know myself, I only want to do the right and proper thing. As I have my own self received such wonderful gifts through these channels, I can only hope that I may be able to help others in a like manner. I trust that I can so conduct my own life that the sources may find me a channel that may be used in service to my fellow man.

Nếu công việc là điều chúng ta cảm thấy nó là, nó phải thành công, dù có đi qua sự thử luyện như bằng lửa. Nếu nó không đúng, nó chẳng có chỗ đứng. Nếu tôi tự biết mình, tôi chỉ muốn làm điều đúng và phải. Vì chính tôi đã nhận những ân huệ kỳ diệu qua những kênh này, tôi chỉ hy vọng mình có thể giúp người khác theo cách tương tự. Tôi tin rằng tôi có thể sống sao cho các nguồn ấy tìm thấy nơi tôi một kênh có thể được sử dụng để phụng sự đồng loại.

I hope I’ll be able to think right, act right, and do just as my Lord and Master would have me do—for it is that those who seek may know Him better that I care to carry on, yet when I feel that the life and light of my own loved ones were given through these channels, whatever the condition, when I am asked to try and be of aid I feel I must not refuse. If this phenomena manifested through me can be of value to others, I am sure—from my own personal experience for myself and loved ones—it is right that I at least try. Circumstances alter conditions. Perhaps sin lieth at the door. May we all consecrate ourselves, our lives, our endeavors, to His Cause, His Purpose, His way, whatever they may be. If we are not able, through the information, to make life more worthwhile, even for those who have just had physical disturbances, we feel that it has failed in its real purpose. Inasmuch as the hospital had been in operation for the aid of human ills, we feel like—being limited as we are—it is only just and right that we continue our endeavors in that direction.

Tôi hy vọng mình sẽ nghĩ đúng, làm đúng, và hành xử đúng như Chúa và Thầy của tôi muốn tôi làm—vì chính để những người tìm cầu có thể biết Ngài hơn mà tôi muốn tiếp tục, dẫu khi tôi cảm thấy rằng sự sống và ánh sáng của những người thân yêu của chính tôi đã được ban qua những kênh này, thì bất kể hoàn cảnh thế nào, khi tôi được xin hãy cố trợ giúp, tôi cảm thấy mình không thể từ chối. Nếu hiện tượng biểu lộ qua tôi này có thể hữu ích cho người khác, tôi chắc chắn—từ kinh nghiệm bản thân cho chính tôi và những người yêu dấu—rằng ít nhất tôi nên cố gắng. Hoàn cảnh làm đổi thay điều kiện. Có lẽ tội lỗi đang nằm ngay trước cửa. Nguyện tất cả chúng ta hiến dâng bản thân, đời sống, nỗ lực của mình cho Đại Sự của Ngài, Mục Đích của Ngài, con đường của Ngài, bất luận là gì. Nếu qua thông tin mà chúng ta không thể làm cho đời sống đáng sống hơn, ngay cả với những ai chỉ gặp rối loạn thể xác, chúng ta cảm thấy rằng nó đã thất bại trong mục đích thật sự của mình. Vì bệnh viện đã từng vận hành để cứu chữa các nỗi khổ của con người, chúng tôi cảm thấy—vì bị giới hạn như chúng tôi vốn vậy—chỉ công bằng và phải lẽ là tiếp tục nỗ lực theo hướng đó.

22

ASSOCATION FOR RESEARCH AND ENLIGHTENMENT, 1931–—HỘI NGHIÊN CỨU VÀ GIÁC NGỘ, 1931–

After the hospital closed and the Association of National Investigators was dissolved in February 1931, I wrote letters to all those who had stood by us through the years and been active or who had shown interest in the work, the oldest contacts and the newest. We called a meeting in March to decide whether or not the work should continue, whether or not there should be an organization at all, whether or not we should give up the work entirely.

Sau khi bệnh viện đóng cửa và Hội Các Nhà Điều Tra Quốc Gia được giải thể vào tháng Hai 1931, tôi viết thư cho tất cả những người đã sát cánh cùng chúng tôi qua năm tháng và từng tích cực hoặc bày tỏ quan tâm đến công việc, từ liên lạc lâu năm đến những người mới nhất. Chúng tôi triệu tập một cuộc họp vào tháng Ba để quyết định có tiếp tục công việc hay không, có nên có một tổ chức hay không, hay là nên bỏ hẳn công việc.

We took readings as to what should be done.1 We wanted to be very sure of our foundation in forming a new organization.

Chúng tôi xin các bài đọc về điều nên làm.1 Chúng tôi muốn rất chắc chắn về nền tảng khi lập một tổ chức mới.

It was a grand meeting that went on most all day at our house. People came from everywhere and assured us that they wanted the work to continue. Our friends in New York, practically every one of them, were very enthusiastic, if I am any judge, and I don’t think I was kidding myself. The local people at Virginia Beach and Norfolk were very enthusiastic, and if I lost a single friend by the break with Mr. Blumenthal, I am not aware of it. Possibly I would be the last to be aware of it, but seemingly there were a great many more to rally to the cause by that very thing.

Đó là một cuộc họp tuyệt vời kéo dài gần cả ngày ở nhà chúng tôi. Người ta đến từ khắp nơi và quả quyết rằng họ muốn công việc tiếp tục. Các bạn ở New York của chúng tôi, hầu như ai nấy đều rất nhiệt thành, nếu tôi có thể đánh giá đúng, và tôi không nghĩ mình tự dối mình. Người địa phương ở Virginia Beach và Norfolk rất nhiệt thành, và nếu tôi có mất một người bạn nào vì vụ rạn nứt với ông Blumenthal, thì tôi không hay biết. Có thể tôi sẽ là người biết sau cùng, nhưng có vẻ như rất nhiều người hơn nữa đã tập hợp lại vì chính điều này.

Three months later we had a pre-organization meeting. There were sixty or more present for this meeting. Not a great many from New York—Mr. Kahn, Mr. and Mrs. Levy, Mr. and Mrs. Zentgraf, and a Mr. Cravis from Atlantic City. The rest of them were from Norfolk and vicinity and North Carolina and Washington, D.C. Lester S. Parsons of Norfolk was the attorney. H. H. Jones, commercial agent for the Norfolk-Southern Railroad, was named president.

Ba tháng sau, chúng tôi có một cuộc họp tiền–tổ chức. Có khoảng sáu mươi người hoặc hơn tham dự. Không nhiều người từ New York—ông Kahn, vợ chồng ông bà Levy, vợ chồng ông bà Zentgraf, và một ông Cravis từ Atlantic City. Những người còn lại đến từ Norfolk và vùng phụ cận, Bắc Carolina và Washington, D.C. Lester S. Parsons ở Norfolk là luật sư. H. H. Jones, đại diện thương mại của Đường sắt Norfolk–Southern, được cử làm chủ tịch.

The trustees named were: Dr. Paul Kaufman, Dave Levy, Dave Kahn, Hugh Lynn, my father, Miss Esther Wynne, Miss Florence Edmonds, Mr. C. A. Barrett, Dr. McChesney, Dr. Job Taylor, Jerome Danzig, Mrs. Walsh, Dr. Scattergood, Mr. Zentgraf, Mr. F. D. Lawrence (vice-president of American National Bank of Portsmouth), and H. H. Jones. We also agreed to have official representatives in various parts of the country, to whom individuals could appeal for aid in obtaining a reading, also in understanding the information as may be given when they get the reading. These were to be from coast to coast, where people have expressed themselves as willing to be official representatives of the Association. Mildred Davis was named secretary, Mr. Shroyer the treasurer, and Mr. Preston business manager. It was quite an enthusiastic group. It is quite noteworthy that we had people in all walks of life—a very, very representative group of people, if I am any judge.

Những người được cử làm quản trị viên gồm: Bác sĩ Paul Kaufman, Dave Levy, Dave Kahn, Hugh Lynn, cha tôi, cô Esther Wynne, cô Florence Edmonds, ông C. A. Barrett, Bác sĩ McChesney, Bác sĩ Job Taylor, Jerome Danzig, bà Walsh, Bác sĩ Scattergood, ông Zentgraf, ông F. D. Lawrence (phó chủ tịch Ngân hàng Quốc gia American National Bank của Portsmouth), và H. H. Jones. Chúng tôi cũng đồng ý có đại diện chính thức ở nhiều nơi trong cả nước, để người dân có thể cầu viện nhờ giúp đỡ trong việc xin một bài đọc, cũng như hiểu các thông tin có thể được ban khi họ nhận bài đọc. Những đại diện này sẽ có từ bờ đông sang bờ tây, ở nơi những người sẵn lòng làm đại diện chính thức cho Hội. Mildred Davis được cử làm thư ký, ông Shroyer làm thủ quỹ, và ông Preston làm quản lý kinh doanh. Đó là một nhóm rất nhiệt huyết. Điều đáng lưu ý là chúng tôi có người thuộc mọi tầng lớp—một tập thể rất, rất tiêu biểu, nếu tôi đánh giá đúng.

Tom Sugrue suggested that it be named Association for Research and Enlightenment. Tom gave credit to Dr. William Moseley Brown, president of Atlantic University, for naming the organization. On June 6, 1931, the application for our state charter went in for that name. A very broad charter was applied for and granted in the Certificate of Incorporation on July 7, 1931. We tried to make sure that the same thing wouldn’t happen to A.R.E. as to A.N.I., that the organization would survive.

Tom Sugrue đề nghị đặt tên là Hội Nghiên Cứu và Giác Ngộ. Tom ghi công cho Bác sĩ William Moseley Brown, hiệu trưởng Đại học Atlantic, vì đã đặt tên cho tổ chức. Ngày 6 tháng Sáu, 1931, đơn xin hiến chương của tiểu bang cho tên đó được nộp. Một hiến chương rất rộng đã được xin và được cấp trong Giấy chứng nhận thành lập ngày 7 tháng Bảy, 1931. Chúng tôi cố đảm bảo rằng điều đã xảy đến với A.R.E. sẽ không giống như với A.N.I., rằng tổ chức sẽ trường tồn.

The purposes of the organization were set out in the charter as follows:

Mục đích của tổ chức được nêu trong hiến chương như sau:

To conduct and carry on psychic and scientific research, including physical, educational, psychic and social investigations, and to conduct medical research, general hospital work, establish hospitals, schools and sanitariums for consultations with reference to suggestions for the cure of, psychic treatment of, and psychic study of, disease of any and all kinds, and for medical and surgical aid, treatment and care of persons sick, deformed or suffering from bodily injuries; to assist and train suitable persons as nurses for the sick, and to conduct departments of the said corporation in research and study, aid and conduct hospitals, camps, physical training schools, mechanical laboratories and plants, lectures, schools, publications, history and archaeology, investigation of psychic phenomena, the giving and interpreting of psychic readings; philosophical study; to study or engage in community welfare work, conduct of study groups and classes for economic development, physical, medical and social clinics, libraries, endowments, charity and study courses, and any and all other class or kind of activity or work allowed under Chapter 151 of the Code of Laws of Virginia and any and all work incidental or necessary for the carrying out of the purposes of the said corporation.

Tiến hành và thực hiện nghiên cứu thông linh và khoa học, bao gồm điều tra thể chất, giáo dục, thông linh và xã hội, và tiến hành nghiên cứu y học, công tác bệnh viện tổng quát, lập bệnh viện, trường học và dưỡng viện để tham vấn liên quan đến việc đề nghị chữa trị, trị liệu thông linh và nghiên cứu thông linh các bệnh thuộc mọi loại, và cho việc trợ giúp, điều trị, chăm sóc y tế và phẫu thuật cho người ốm đau, tàn tật hoặc bị thương tích thân thể; trợ giúp và đào luyện những người thích hợp làm y tá chăm sóc bệnh nhân, và điều hành các bộ môn của pháp nhân nói trên về nghiên cứu và học tập, trợ giúp và điều hành bệnh viện, trại, trường huấn luyện thể chất, phòng thí nghiệm và xưởng cơ khí, các bài giảng, trường học, xuất bản, lịch sử và khảo cổ học, điều tra các hiện tượng thông linh, việc ban và diễn giải các bài đọc thông linh; học tập triết học; nghiên cứu hoặc tham gia công tác phúc lợi cộng đồng, tổ chức các nhóm và lớp học phục vụ cho phát triển kinh tế, các phòng khám thể chất, y học và xã hội, thư viện, quỹ hiến tặng, hoạt động từ thiện và các khóa học, và mọi loại hình hoạt động hay công tác khác được phép theo Chương 151 của Bộ Luật Virginia và mọi công việc phụ trợ hoặc cần thiết để thực hiện các mục đích của pháp nhân nói trên.

The said corporation shall have power to collect fees for the treatment and services rendered from those who are able to pay for the same, which shall be used for the maintenance and incidental expenses of the corporation and the advancement of its purposes, but shall not be used for private gain, and wherever desired to render free service where the persons needing the services of the said corporation are unable to pay such fees or expense. The purposes of the said corporation are to be philanthropic and benevolent and it is not organized for profit. It may accept donations, endowments or gifts from such persons as may desire to aid and assist the said corporation in its work.

Pháp nhân nói trên có quyền thu phí cho việc điều trị và dịch vụ đã cung cấp từ những người có khả năng chi trả, các khoản này sẽ được sử dụng cho việc duy trì và chi phí phụ trợ của pháp nhân và thúc đẩy các mục đích của nó, nhưng sẽ không dùng cho lợi ích riêng tư, và bất cứ khi nào mong muốn có thể cung cấp dịch vụ miễn phí khi những người cần dịch vụ của pháp nhân nói trên không có khả năng trả các khoản phí hoặc chi phí. Mục đích của pháp nhân nói trên là thiện nguyện và nhân ái và không tổ chức vì mục đích lợi nhuận. Pháp nhân có thể nhận quyên tặng, tài trợ hoặc quà tặng từ những người mong muốn hỗ trợ pháp nhân nói trên trong công việc của mình.

It was agreed that I would give readings for A.R.E. members and be paid a salary. The contract with me was then renewed year after year. The business manager would relieve me of responsibility in connection with the business details. Some of the board members later began to discuss the necessity of setting up a foundation to assure the continuance. Two years later, in May 1933, a Cayce Foundation dinner meeting was held in New York, and in 1935 the board appointed a committee to plan the establishing of the foundation to preserve the A.R.E. and the work, even after I had gone. We had wonderful people on the board.

Đã thống nhất rằng tôi sẽ thực hiện các bài đọc cho hội viên A.R.E. và được trả lương. Hợp đồng với tôi sau đó được gia hạn năm này qua năm khác. Quản lý kinh doanh sẽ giúp tôi miễn trừ trách nhiệm liên quan đến các chi tiết thương vụ. Vài thành viên hội đồng sau đó bắt đầu bàn bạc về sự cần thiết lập một quỹ để đảm bảo sự tiếp nối. Hai năm sau, vào tháng Năm 1933, một bữa tối gây quỹ cho Quỹ Cayce được tổ chức tại New York, và năm 1935, hội đồng chỉ định một ủy ban lập kế hoạch thành lập quỹ nhằm bảo tồn A.R.E. và công việc, ngay cả sau khi tôi đã đi xa. Chúng tôi có những con người tuyệt vời trong hội đồng.

Mr. Preston was very anxious that someone on the old board [of the A.N.I.] make a howl about the hospital property. The grounds looked very, very good, the shrubbery and the flowers wonderful, but they showed that they hadn’t been taken care of as they were when we were there—the tennis court was in bad shape. But we all felt rather loath to cause a wrangle about anything, even though we felt we had been mistreated. I was not able to give a reading on account of circumstances and the crosses that had been between Mr. Blumenthal and myself. Mr. Blumenthal asked for the house where we lived. It was perfectly all right, if he just hadn’t plain lied about it—that I just dislike in anyone.

Ông Preston hết sức nóng ruột muốn ai đó trong ban quản trị cũ [of the A.N.I.] làm ầm lên về tài sản của bệnh viện. Khuôn viên trông rất, rất tốt; bụi cây và hoa thì tuyệt đẹp, nhưng chúng cho thấy đã không được chăm sóc như khi chúng tôi còn ở đó—sân quần vợt thì xuống cấp. Nhưng tất cả chúng tôi đều khá ái ngại không muốn gây chuyện tranh cãi gì, dù chúng tôi cảm thấy mình đã bị đối xử tệ. Vì hoàn cảnh và những ngang trái giữa Ông Blumenthal và tôi, tôi đã không thể cho một buổi đọc. Ông Blumenthal đòi căn nhà nơi chúng tôi đã ở. Điều đó hoàn toàn ổn, nếu Ông ấy không trắng trợn nói dối về chuyện đó—điều mà tôi ghét ở bất cứ ai.

I had an experience that foretold this move. While giving a reading I saw this house all fixed up, and our home on the corner next to it. Hugh Lynn and Mildred had a printing press back in their office, and the whole building was enlarged and everything running like clockwork. The reading said this represented the breaking up of our little household in order that enlargements might ensue, even as Jesus passed through death that He might be the Savior and Lord of all. It suggested we make the moves that were necessary, and in faith believing that “All things work together for good to those that love His coming.” More too often is it interpreted “love the Lord.” But His coming, for His promise was that “I will not leave thee comfortless, but will come to thee.”

Tôi đã có một trải nghiệm báo trước cuộc chuyển dời này. Trong khi đang cho một buổi đọc, tôi thấy căn nhà ấy được sửa sang tươm tất, và nhà của chúng tôi ở góc sát bên. Hugh Lynn và Mildred có một máy in ở phía sau văn phòng của họ, và cả tòa nhà được nới rộng, mọi thứ vận hành trơn tru như máy. Bài đọc nói điều này tượng trưng cho sự tan rã của gia thất nhỏ bé của chúng tôi để những mở rộng có thể tiếp diễn, cũng như Đức Jesus đã đi qua cái chết để Ngài có thể trở thành Đấng Cứu Rỗi và Chúa Tể của hết thảy. Bài đọc gợi ý chúng tôi thực hiện những bước đi cần thiết, và trong đức tin tin tưởng rằng “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến sự Ngài đến.” Thường quá người ta lại diễn giải là “yêu mến Chúa.” Nhưng là sự Ngài đến, vì lời hứa của Ngài là: “Ta sẽ không để con mồ côi, song sẽ đến cùng con.”

We moved to the Wright Cottage on the ocean in front of the old hospital. Mr. Banks, a brother of the man who runs the Princess Anne Country Club, had the hospital building that summer and ran it as a hotel—the Prince Henry Hotel. Apparently he didn’t succeed, as he closed on Labor Day. To see it used as a hotel, if there is a great deal of sentiment, you can imagine what it meant for us to be in such an environment and not be able to help yourself. In some ways, I guess I had about as tough a deal as anybody could. Possibly I had it coming to me, or it wouldn’t have come.

Chúng tôi dọn đến Wright Cottage ở bờ biển phía trước bệnh viện cũ. Ông Banks, anh trai của người điều hành Princess Anne Country Club, tiếp quản tòa nhà bệnh viện mùa hè năm đó và vận hành nó như một khách sạn—Prince Henry Hotel. Có vẻ ông không thành công, vì đã đóng cửa vào Ngày Lao Động. Nhìn thấy nó được dùng làm khách sạn, nếu có nhiều tình cảm gắn bó, bạn có thể hình dung việc chúng tôi ở trong một môi trường như thế và không thể tự giúp mình có ý nghĩa thế nào. Ở một số phương diện, tôi đoán mình đã gặp một cuộc xử trí khắc nghiệt như bất kỳ ai có thể. Có lẽ tôi đáng phải chịu như vậy, nếu không thì nó đã không xảy đến.

Our new organization had a setback in the early months. Mr. Preston, the manager, went to New York to confer with some members of the board there, was taken quite ill and had to be in the hospital. This hindered the work in getting those things started that were his part of the job. In due course Hugh Lynn, who finished his college studies, took up these duties.

Tổ chức mới của chúng tôi gặp trở ngại trong những tháng đầu. Ông Preston, người quản lý, đi New York để bàn bạc với vài thành viên ban quản trị ở đó, lâm bệnh khá nặng và phải vào bệnh viện. Điều này cản trở công việc triển khai những điều thuộc phần việc của ông. Đến thời điểm thích hợp, Hugh Lynn, người đã xong việc học ở đại học, tiếp nhận các nhiệm vụ này.

During that first year we started a work that had been very sadly neglected before we were able to get enough of those whom I thought had the right feelings about it to combine their efforts. This was the spiritual healing group, composed of a very good circle.2 While you may rest assured that you have the prayers of each and everyone of these, I feel that He has promised, “If two or three are gathered together in My name, there am I in the midst of them,” and I feel that He is faithful to do that which is best for the individuals, in the things that may be applied physically and mentally, for their health as well as their happiness in every respect; though we recognize He knows best and He doeth all things well.

Trong năm đầu tiên đó, chúng tôi khởi sự một công việc đã bị bỏ bê rất đáng tiếc trước khi chúng tôi có thể tập hợp đủ những người mà tôi nghĩ có cảm nhận đúng đắn về việc ấy để cùng nhau góp sức. Đó là nhóm trị liệu tinh thần, gồm một vòng tròn rất tốt.2 Dù bạn có thể yên tâm rằng bạn có lời cầu nguyện của từng người trong số họ, tôi cảm thấy Ngài đã hứa, “Nếu có hai hoặc ba người nhóm lại nhân danh Ta, thì Ta ở giữa họ,” và tôi cảm thấy Ngài là Đấng thành tín để làm điều tốt nhất cho từng cá nhân, trong những điều có thể áp dụng về thể chất và tinh thần, vì sức khỏe cũng như hạnh phúc của họ trên mọi phương diện; dẫu chúng ta công nhận Ngài biết rõ nhất và Ngài làm mọi sự cách tốt lành.

During the first year or so many asked me, Why have an association? What is its value? What does it have to do with your work? The answer is that the Association has nothing whatsoever to do with my work, save making it possible for people to have the information which comes through me as a channel. How? Through cooperation! Those who have studied the lessons prepared by our Norfolk Study Group No. 1 know what cooperation means. When individuals work together toward something worthwhile, we have strength.

Trong năm đầu hoặc chừng ấy, nhiều người hỏi tôi: Vì sao phải có một hội? Giá trị của nó là gì? Nó liên quan gì đến công việc của ông? Câu trả lời là Hội hoàn toàn không dính dáng gì đến công việc của tôi, ngoại trừ làm cho người ta có thể tiếp cận những thông tin đi qua tôi như một kênh. Bằng cách nào? Thông qua hợp tác! Những ai đã học các bài học do Nhóm Học tập Norfolk Số 1 của chúng tôi soạn thảo đều biết hợp tác nghĩa là gì. Khi các cá nhân cùng làm việc hướng về điều gì xứng đáng, chúng ta có sức mạnh.

One afternoon while meditating, the same exuberant feeling came over me that used to years ago, but which had been lost to me for twenty-five years. I asked in this reading what it meant. It was said to be an experience of the inner self awakening to those potential forces as may be the more active in the body as developments come, in those of the meditations, with those active forces around or about same. As has been given, there shall be in the latter days, “Your young men shall dream dreams, your old men shall see visions, your maidens shall prophesy.” These are coming to pass, with the upheavals as are just before the world in many a quarter!

Một buổi chiều, khi đang tham thiền, cùng cảm xúc hân hoan ngày xưa lại trào dâng trong tôi, cảm xúc đã mất khỏi tôi suốt hai mươi lăm năm. Tôi hỏi trong buổi đọc này điều đó có nghĩa gì. Người ta nói đó là một trải nghiệm của cái ngã bên trong thức dậy với những năng lực tiềm tàng có thể trở nên chủ động hơn trong thân thể khi các phát triển diễn ra, trong các buổi tham thiền, với những lực hoạt động ở quanh đó. Như đã được ban truyền, trong những ngày sau rốt, “Trai trẻ sẽ thấy chiêm bao, người già sẽ thấy khải tượng, các thiếu nữ sẽ nói tiên tri.” Những điều này đang ứng nghiệm, cùng với những chấn động đang ở ngay trước thế giới trên nhiều phương diện!

The message I received was: Be ye faithful; even as ye would have mercy show mercy; as ye would have peace give peace; as ye would have patience shown be patient with others; for only in the attributes OF the living forces of God may ye find God; not in the material things that make of earthy gratifications!

Thông điệp tôi nhận được là: Hãy trung tín; như các ngươi muốn được thương xót thì hãy tỏ lòng thương xót; như các ngươi muốn có bình an thì hãy ban bình an; như các ngươi muốn được kiên nhẫn thì hãy kiên nhẫn với người khác; vì chỉ trong các thuộc tính CỦA những lực sống động của Thượng đế, các ngươi mới có thể tìm thấy Thượng đế; không phải trong những thứ vật chất làm nên các thỏa mãn trần tục!

I feel that my work in relation to the Association can be compared to a portion of the history in the Old Testament. When the children of Israel organized themselves under the direction of their leader, with individuals who were to act as the interpreters, two individuals—Nabab and Abihu—did not cooperate. They were destroyed. It is the same with a work of this nature. Unless the application is in sincerity, it will destroy the individual tampering with it.

Tôi cảm thấy công việc của mình liên hệ với Hội có thể so sánh với một phần lịch sử trong Cựu Ước. Khi con cái Israel tổ chức dưới sự hướng dẫn của vị lãnh đạo, với những cá nhân sẽ hành động như các người thông giải, có hai người—Nabab và Abihu—đã không hợp tác. Họ bị hủy diệt. Với một công việc như thế này cũng vậy. Trừ khi sự áp dụng được thực hiện trong thành tâm, nó sẽ hủy hoại cá nhân đùa bỡn với nó.

The Association may honestly correlate the individual findings which have been good and present them to others, thus assisting those who seek through this source not only to aid themselves but to aid others in gaining an understanding for themselves.

Hội có thể thành thật liên thông những phát hiện cá nhân vốn tốt và trình bày chúng cho người khác, nhờ vậy trợ giúp những ai tìm đến nguồn này không chỉ để giúp chính mình mà còn giúp người khác đạt được sự thấu hiểu cho chính họ.

The Association is not trying to revolutionize the world. If one person has been aided in finding his relationship to God, then the Association has been a marvelous success. On the other hand, if this has not been done, then it has been a failure—no matter how many members it may have or how great an outward show it may make. The Association stands on the results individuals receive. The results speak for themselves and for the Association.

Hội không cố làm cuộc cách mạng thế giới. Nếu một người đã được giúp để tìm ra mối tương giao của mình với Thượng đế, thì Hội đã là một thành công kỳ diệu. Ngược lại, nếu điều ấy chưa xảy ra, thì đó là sự thất bại—bất kể có bao nhiêu hội viên hay có làm ra vẻ bề ngoài lớn lao thế nào. Hội đứng vững trên những kết quả mà các cá nhân nhận được. Các kết quả tự chúng nói lên—cho chính chúng và cho Hội.

23

DIARY, 138—NHẬT KÝ, 1938

Friday, Mar. 18, 1938.1

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 1938.1

My birthday—at one time or another every one no doubt had felt they would like to have kept a diary, while this is not to be a diary, yet hope to make it a year at least out of a busy, interesting life. Best then to take stock and see from what premise, am reasoning, Live at Virginia Beach, Va. on 14th St. or Arctic Circle, opposite Catholic Church, am buying the home, known as the DeTreville house been here now since June 1932, my Father was with me for a while passed on last April 11th. At the time was visiting Sister Annie, in Nashville Tenn. Was buried in Hopkinsville, Ky our old home town. Am working with the Association for Research and Enlightenment, Inc. organized in July, 1931, Princess Anne Co. Va.

Sinh nhật tôi—vào lúc này hay lúc khác, hẳn ai cũng từng muốn giữ một cuốn nhật ký; tuy đây không phải là nhật ký theo nghĩa chặt, nhưng hy vọng ít nhất cũng ghi được một năm trong một đời sống bận rộn, thú vị. Tốt nhất là kiểm lại và xem tôi đang suy luận từ tiền đề nào. Sống ở Virginia Beach, Va., trên đường 14 hay Arctic Circle, đối diện Nhà thờ Công giáo, đang mua căn nhà này, được biết là nhà DeTreville—đã ở đây từ tháng Sáu 1932; Cha tôi ở với tôi một thời gian—qua đời ngày 11 tháng Tư vừa rồi. Khi đó đang thăm Chị Annie ở Nashville, Tenn. An táng tại Hopkinsville, Ky, quê cũ của chúng tôi. Tôi làm việc với Hội Nghiên cứu và Khai sáng, Công ty (Association for Research and Enlightenment, Inc.), tổ chức tháng Bảy, 1931, Quận Princess Anne, Va.

Wife Gertrude Cayce conducts the readings—Hugh Lynn Cayce oldest boy Mgr. of the Assn. he was 31 day before yesterday, is at present in N.Y. stopping with the Zentgrafts. Mr. Z. first Chair of board of Trustees, and one of the organizers of the Assn. Edgar Evans Cayce in school at Duke University, was 20 on last Feb. 9th. taking an engineers course—has one more year there. Miss Gladys Davis is the stenographer—has been since Sept. 1923.

Vợ là Gertrude Cayce điều khiển các buổi đọc—Hugh Lynn Cayce, con trai lớn, là quản lý của Hội; nó vừa tròn 31 hôm kia, hiện đang ở New York, trọ với nhà Zentgraft. Ông Z. là Chủ tịch đầu tiên của Ban Quản trị, và là một trong các nhà tổ chức của Hội. Edgar Evans Cayce học ở Đại học Duke, đã 20 tuổi hôm 9 tháng Hai vừa rồi, đang học khóa kỹ sư—còn một năm nữa ở đó. Cô Gladys Davis là tốc ký viên—đã làm từ tháng Chín 1923.

The day is cold and dark, rather dreary, a very good breakfast tho, as went out to the Lake in rear of house and caught me three little fish for my breakfast, they are very nice.

Ngày lạnh và u ám, khá ảm đạm, tuy bữa sáng rất ngon, vì tôi ra hồ sau nhà và câu được ba con cá nhỏ cho bữa sáng, chúng rất ngon.

The afternoon reading was for Mrs. Murdock, of Norfolk, a very lovely lady, in the evening a surprise party for me—Birthday party, there were Dr. Gena Crews, Mr. H. E. Poole, Boyde and Berlin Davis, Thomas Jefferson Davis, Mr. and Mrs. Gimbert, Mae Verhoeven, Mr. Godfrey, Miss Godfrey, Mr. and Mrs. Ellington, Mack and Margaret Wilkins, Mrs. Ellington’s sister the nurse, Mr. and Mrs. Miller, Frances Morrow, Miss Wynne, Helen S. Wheeler, Alvin Wheeler, Mrs. Lawrence, Mrs. Olds, Mr. and Mrs. Helms, Mrs. Kemp, Mrs. Peary, Mr. and Mrs. Oscar Smith, Mrs. Connock, Mrs. Ruth Holland, Miss (Boogie) Vincent, Mrs. Jones, Frances Jones, Miss Florence Edmonds, Mrs. Jane Williams, Mr. DeMaio, Mrs. Ruth LeNoir.

Buổi đọc chiều dành cho Bà Murdock, ở Norfolk, một quý bà rất dễ thương; tối đến có tiệc bất ngờ cho tôi—tiệc sinh nhật, gồm có Bác sĩ Gena Crews, Ông H. E. Poole, Boyde và Berlin Davis, Thomas Jefferson Davis, Ông và Bà Gimbert, Mae Verhoeven, Ông Godfrey, Cô Godfrey, Ông và Bà Ellington, Mack và Margaret Wilkins, em gái của Bà Ellington là y tá, Ông và Bà Miller, Frances Morrow, Cô Wynne, Helen S. Wheeler, Alvin Wheeler, Bà Lawrence, Bà Olds, Ông và Bà Helms, Bà Kemp, Bà Peary, Ông và Bà Oscar Smith, Bà Connock, Bà Ruth Holland, Cô (Boogie) Vincent, Bà Jones, Frances Jones, Cô Florence Edmonds, Bà Jane Williams, Ông DeMaio, Bà Ruth LeNoir.

A very lovely party, how can any one say what they feel when such a lovely group show such loving appreciation, and all the lovely things brought me, what a blessing to have friends, to feel that others care, yes, have given readings for each of these at one time or another, or practically all, and they must feel help has come, for year after year they have held this love feast for me, God bless every one of them. A regular show was put on, a curtain across one end of the room and Mother Goose rhymes were acted out by various members of the group. lovely lovely.

Một bữa tiệc rất đáng yêu, làm sao có thể nói hết cảm xúc khi một nhóm người dễ thương như vậy tỏ bày sự trân quý trìu mến, và tất cả những món quà xinh xắn họ mang đến cho tôi; có bạn bè là một phúc lành, cảm thấy người khác quan tâm, vâng, tôi đã cho buổi đọc cho từng người trong số họ vào lúc này hay lúc khác, hay hầu như tất cả; và hẳn họ cảm thấy họ đã được giúp, vì năm này qua năm khác họ đã giữ buổi “tiệc yêu thương” này cho tôi, xin Thượng đế chúc phúc từng người họ. Một màn trình diễn thật sự được dàn dựng, một tấm màn kéo ngang một đầu phòng và những vần đồng dao Mẹ Ngỗng được các thành viên khác nhau trong nhóm diễn xuất. dễ thương, dễ thương.

Sister’s picture came, very good, and Berlyn brought me a frame for it my, how she looks like Mother and Dad.

Ảnh của Chị gửi đến, rất đẹp, và Berlyn mang cho tôi một khung ảnh; ôi, trông Chị giống Mẹ và Cha quá đỗi.

Another birthday, how the milestones pass, may I fill each day given me with efforts to bring the consciousness of the Christ in the hearts and lives of those I meet and try and help. May I live as God would have me live.

Lại thêm một sinh nhật, những cột mốc trôi qua thế nào; nguyện tôi lấp đầy mỗi ngày được ban cho bằng nỗ lực đem tâm thức của Đức Christ vào lòng và đời sống của những ai tôi gặp gỡ và cố gắng giúp đỡ. Nguyện tôi sống như Thượng đế muốn tôi sống.

March, 19th 1938

Ngày 19 tháng Ba, 1938

Beautiful day, shrubs came from Allen Nurseries, planted them. Raspberries, currents, two pear trees, azaleas. grape, young berries, and Rhubarb, and a willow tree, lilly bulbs.

Ngày thật đẹp, cây bụi gửi đến từ Vườn ươm Allen, đã trồng. Mâm xôi, nho lý chua, hai cây lê, đỗ quyên, nho, dâu dại non, và đại hoàng, một cây liễu, củ loa kèn.

Feeling fair, reading for Mr. Taylor of Frisco, expecting E. E. this afternoon wants to go to engineers congress at Lexington, coming home for car. think will have to try a little fishing this afternoon if isn’t too cool.

Cảm thấy tạm ổn, buổi đọc cho Ông Taylor ở Frisco, trông E. E. chiều nay, muốn đi đại hội kỹ sư ở Lexington, về nhà lấy xe. nghĩ nếu không quá lạnh sẽ phải thử câu chút đỉnh chiều nay.

nothing new in mail this morning, pretty good catch—two nice cat and few perch—do like these to eat. E. E. came in afternoon about 4.30.

Không có gì mới trong thư sáng nay, mẻ câu khá—hai con cá trê ngon và vài con cá rô—tôi thích ăn mấy loại này. E. E. về buổi chiều khoảng 4 giờ 30.

19th was supposed to be a very important day—according to astroligist guess it is as any other, what we make it, tho Mar. 19, 1919 was the first time gave anything in reading about astrology, or the like, some say this the most important reading ever give, from astrological standpoint.

Ngày 19 được cho là một ngày rất quan trọng—theo nhà chiêm tinh; đoán nó cũng như những ngày khác thôi, tùy ta làm nên nó, tuy ngày 19 tháng Ba, 1919 là lần đầu tiên tôi cho điều gì trong buổi đọc về chiêm tinh, hay tương tự; có người nói đây là buổi đọc quan trọng nhất tôi từng cho, xét theo phương diện chiêm tinh.

suppose should give a thought for the day as Uncle Ezra does on the Alka-Seltzer programme: “The good we do lives after we are gone. so only good must be eternal, for it never dies, will be wonderful then to have the good we have tried to do as the clothing of our life hereafter. Yes, we are clothed with our tries to be good.”

Có lẽ nên đưa ra một “tư tưởng cho ngày” như Bác Ezra làm trong chương trình Alka-Seltzer: “Điều thiện ta làm vẫn sống sau khi ta đi. vậy chỉ có điều thiện là vĩnh cửu, vì nó không bao giờ chết; sẽ thật tuyệt diệu nếu điều thiện mà ta đã cố làm trở thành y phục của đời sống ta ở đời sau. Phải, chúng ta được ‘mặc’ bằng những nỗ lực trở nên tốt lành của mình.”

Sunday, Mar. 20th 1938

Chủ Nhật, 20 tháng Ba 1938

E. E. home for car. looking very well, says is studying hard, must has very good reports. didn’t go to church or S.S. Miss Gladys did, she is secy. Treas. believe now a very lovely day, tho looked for time as if it might rain. in afternoon, Mae Gimbert Verhoeven and sister Anne with Mr. Kelly came by, Mr. K. wanted appointment for reading. T. J. came for awhile, cute as can be. E. E. left for school about two or few minutes after, thought for the day—Keep sweet yourself if you would have those round you, keeping sweet or even liverable with.

E. E. về nhà lấy xe. trông rất khỏe, nói đang học chăm, hẳn có báo cáo rất tốt. không đi nhà thờ hay Trường Chúa Nhật. Cô Gladys có đi, cô ấy là Thư ký Kiêm Thủ quỹ, tôi tin vậy. một ngày rất đẹp, tuy có lúc tưởng như trời sẽ mưa. buổi chiều, Mae Gimbert Verhoeven và em gái Anne cùng Ông Kelly ghé qua, Ông K. muốn hẹn buổi đọc. T. J. đến chơi một lúc, dễ thương hết sức. E. E. về trường khoảng hai giờ hay vài phút sau đó, tư tưởng cho ngày—Hãy giữ lòng ngọt lành nếu bạn muốn những người quanh bạn giữ được ngọt lành, hay chí ít là dễ sống cùng.

Monday, Mar. 21st 1938

Thứ Hai, 21 tháng Ba 1938

First day of spring—and really seems like it too. lovely out, cut several Hyacinths from the yard, they are beautiful, when birds sing, sun shines, well the whole world looks and seems hopeful. no wonder the people of old worshipped the Sun.

Ngày đầu của mùa xuân—và đúng là như vậy nữa. trời đẹp, cắt được mấy bông dạ lan hương ngoài vườn, chúng thật đẹp; khi chim hót, nắng rọi, ôi cả thế gian trông và dường như đầy hy vọng. không lạ gì người xưa thờ Mặt Trời.

a few fishes in the afternoon, and to the picture show in evening—very good

Câu được ít cá chiều nay, và đi xem phim buổi tối—rất hay.

feeling fair—and can we but think right, would make a lot of difference.

Cảm thấy tạm ổn—và nếu ta có thể nghĩ cho đúng, sẽ tạo nên khác biệt lớn.

Thought for the day—beauty by comparison, and love by the gift, is too often our judgment of an experience.

Tư tưởng cho ngày—cái đẹp bởi so sánh, và tình thương bởi quà tặng—quá thường là cách ta phán đoán một trải nghiệm.

H. L. called in late evening.

Tuesday, Mar. 22nd 1938

Thứ Ba, 22 tháng Ba 1938

Another lovely morning, had to go into Norfolk for rent was due, Oh yes, had photo made for the booklets. a special reading for Mr. Goetz today, and an emergency for Mr. Savage for tomorrow, why H. L. phoned last night.

Lại một buổi sáng tuyệt đẹp, phải vào Norfolk vì đến hạn trả tiền thuê, Ồ đúng, có chụp ảnh cho tập sách nhỏ. một buổi đọc đặc biệt cho Ông Goetz hôm nay, và một buổi khẩn cấp cho Ông Savage ngày mai, vì sao tối qua H. L. điện thoại.

Mar. 25th 1938

Ngày 25 tháng Ba 1938

Days have passed, not so much neglect as lack of having much if anything to say. but yesterday for the first time since coming to the Beach in 1925 have I seen a robin make the place something like a home, Oh yes they pass over, stop and sing a lay, but to give the appearance of making the place a home or singing the mate call as if preparing for a home—guess they do not come so near the seashore for nesting tho only a few miles inland there are plenty—robins are among my favorite song birds—their early morning call is lovely—a note of sadness in the early morning yet a happiness—not just the same in any other unless it is the Cat bird. at evening mockingbirds aplenty—and their song is lovely here—some have nested in the little tree out front each year, hope with the willow just planted a few days ago, some other will make their home here, saw a thrush looking it over yesterday—also he gave forth one of his most beautiful lays—planted my strawberries yesterday—all the birds like them as well as I, so may or may not have a few more visitors from them lust for the berries—they like raspberries also and have a few of those coming in hope they all do well.

Mấy ngày trôi qua, không phải vì tôi bỏ bê mà vì không có mấy thứ, nếu có, đáng nói. nhưng hôm qua, lần đầu tiên kể từ khi về Bãi biển năm 1925, tôi đã thấy một con cổ đỏ khiến nơi này trông như một mái ấm; Ồ đúng là chúng bay qua, dừng lại cất một khúc hát, nhưng tỏ ra như muốn làm tổ hay cất tiếng gọi bạn đời như thể sửa soạn làm tổ—đoán chúng không làm tổ gần bờ biển như vậy, tuy chỉ cách vài dặm vào đất liền là có rất nhiều—cổ đỏ là một trong những loài chim hót tôi ưa thích—tiếng gọi sớm mai của chúng rất dễ thương—một nốt buồn trong sớm mai nhưng đồng thời là một niềm vui—không loài nào khác giống hệt, trừ khi là chim mèo. buổi chiều thì có nhiều chim nhại—và tiếng hót của chúng ở đây thật dễ thương—một vài con đã làm tổ ở cái cây nhỏ trước nhà mỗi năm, hy vọng với cây liễu vừa trồng mấy ngày trước, vài loài khác sẽ làm tổ ở đây; hôm qua thấy một con họ hoét ghé ngó—nó cũng cất lên một trong những khúc hót đẹp nhất—hôm qua trồng dâu tây—tất cả chim đều thích chúng như tôi, nên có thể sẽ có thêm vài vị khách thèm dâu—chúng cũng thích mâm xôi và tôi trồng thêm vài bụi, hy vọng tất cả đều phát triển tốt.

Madam Verdier arrived yesterday afternoon—apparently very well pleased as checked on at least three of the experiences she had as to appearances—phone call from Hardwicke son, may see them before they leave the vicinity—his Mother is with him so he said.

Bà Verdier đến chiều hôm qua—có vẻ rất hài lòng vì đã kiểm chứng được ít nhất ba trải nghiệm mà bà có về các hiện diện—điện thoại của con trai nhà Hardwicke, có thể gặp họ trước khi rời khu vực—anh nói Mẹ anh đi cùng.

Feeling pretty fair, bright and pretty but a cool wind, had to order more coal this morning guess that will last until summer—like the spring, especially when it is pretty and bright, lovely to look each day for a new shoot from some flower or bush putting forth its effort to be itself, and to the glory of its Maker, appears only man puts on a show for his fellow man—to impress them, but is that what the robin does when he sings to his mate trying to impress her with his lovely song—the study of nature tho must be a closer study of the Creator, and His thought of man—do the birds imitate man or man imitate nature. or what is the cycle anyway?

Cảm thấy khá, trời sáng và đẹp nhưng gió se lạnh, sáng nay phải đặt thêm than—đoán chừng sẽ đủ dùng đến mùa hè—tôi thích mùa xuân, nhất là khi trời đẹp và sáng; thật thích mỗi ngày đi tìm một chồi non mới từ một bông hoa hay bụi cây phô diễn nỗ lực để là chính nó, và vì vinh quang của Đấng Tạo Hóa; có vẻ chỉ con người mới phô diễn để trước mặt đồng loại—để gây ấn tượng với họ, nhưng đó có phải điều con cổ đỏ làm khi nó hót với bạn đời, cố gây ấn tượng với tiếng hót tuyệt diệu chăng—học hỏi thiên nhiên phải là học gần hơn về Đấng Tạo Hóa, và ý nghĩ của Ngài về con người—chim có bắt chước người hay người bắt chước thiên nhiên? hay chu kỳ là gì vậy?

Be yourself—yes that is right—but if this is only an experience, and we have lived before. and will again—which self are you being? Oh as looking for the new shoot—the new leaf, each experience is a new opportunity to express all the beauty of love, for God—in whom we live and have our being. don’t wonder. one is at times thought curious, unreasonable yes, plain nutty when they relate some of their experiences, that to them are very real. Like last evening, know I was not asleep, and don’t think it was purely imagination, but—years ago as a child used to see, talk with, play with, those that some told me did not exist—these came to me in one, two and a few times as many as three at once, and were not always the same, sometimes boys and sometimes girls, they told me their names, when they were with me and we played together. but last evening they all came at once, eight of them, five boys and three girls—their first question was do you remember us, and to be sure I did, no they appear not to have grown any, why, did they want to play, no, then what—when will you be with us again to discuss the things we used to? What does it mean, I do not know, am just wondering will they come again?

Hãy là chính mình—đúng thế—nhưng nếu đây chỉ là một trải nghiệm, và chúng ta đã sống trước kia, và sẽ còn sống nữa—thì bạn đang là “cái mình” nào? Ồ, như tìm chồi non—chiếc lá mới, mỗi trải nghiệm là một cơ hội mới để biểu hiện tất cả vẻ đẹp của tình yêu, dành cho Thượng đế—Đấng trong Ngài chúng ta sống và có hiện hữu. đừng thắc mắc. đôi khi người ta cho rằng mình kỳ quặc, thiếu lẽ phải, vâng, thẳng thừng là dở hơi khi kể lại vài trải nghiệm vốn rất thật với họ. Như tối qua, tôi biết mình không ngủ, và không nghĩ đó chỉ là tưởng tượng, nhưng—nhiều năm trước khi còn nhỏ tôi thường thấy, chuyện trò, chơi đùa với những người mà có người bảo tôi là không tồn tại—họ đến với tôi từng người một, từng hai người và vài lần đông đến ba, và không phải lúc nào cũng giống nhau, lúc là con trai lúc là con gái; họ nói cho tôi biết tên họ, khi họ ở với tôi và chúng tôi chơi cùng nhau. nhưng tối qua tất cả họ đến một lần, tám người, năm trai ba gái—câu đầu tiên: bạn còn nhớ chúng tôi chứ, và tất nhiên là tôi nhớ; không, trông họ chẳng lớn thêm, vậy họ muốn chơi à, không, thế thì gì—“bao giờ anh sẽ lại ở với chúng tôi để bàn luận những điều xưa kia?” Nó có nghĩa gì, tôi không biết, chỉ tự hỏi liệu họ có trở lại không?

In the reading for Madam Verdier, felt the presence of a master—not a disincarnate entity, a master of some realm—but a glow of orange seemed to be about them or maybe golden more than orange. no do not understand all this, but hope and believe it a growth of some kind.

Trong buổi đọc cho Bà Verdier, tôi cảm nhận sự hiện diện của một Chân sư—không phải một thực thể lìa xác, mà là một bậc thầy thuộc một cõi nào đó—nhưng dường như có một vầng sáng cam quanh họ, hay có lẽ vàng nhiều hơn là cam. không, tôi không hiểu hết điều này, nhưng hy vọng và tin đó là một sự tăng trưởng nào đó.

thought for the day—keep sweet yourself, would you have things pleasant about you.

Tư tưởng cho ngày—hãy giữ lòng ngọt lành, nếu bạn muốn mọi điều dễ chịu quanh mình.

Mar. 26th 1938

Ngày 26 tháng Ba 1938

Cold, dark, rainy, dreary day, the sunshine will have to be within, it looks today.

Lạnh, tối, mưa, ảm đạm, có vẻ hôm nay nắng sẽ phải đến từ bên trong.

Saw “Snow White” last night, a beautiful picture, simple, yet most extravagant what a wonderful mind must have conceived of animating the fairy story, possibly just giving it life again, who knows.

Tối qua xem “Bạch Tuyết,” một bộ phim đẹp, đơn giản mà cực kỳ phong phú; một trí tuệ kỳ diệu nào hẳn đã nghĩ ra việc làm sống động truyện cổ tích, có lẽ chỉ là thổi sự sống vào nó lần nữa, ai biết được.

Faired off in afternoon and was much brighter.

Chiều thì hửng, sáng sủa hơn nhiều.

A lot to say maybe, but how to say it—Madam Vermier was in to see us [for] another reading—leaving tho this afternoon. What a mind, travel has given her a perspective that one like myself seldom sees, or sees expressed so beautifully. Wonder what travel would do for me, but opportunities are ever present, if not for travel to gather from these we meet that as answers within ourselves. To the longing that must be within every heart—only when we become querulous and boresome even to ourselves do we lose the privilege of expanding to God’s love that is ever shed about us.

Có lẽ có nhiều điều để nói, nhưng nói thế nào đây—Bà Vermier đến gặp chúng tôi [for] một buổi đọc nữa—tuy chiều nay thì bà đi. Một trí tuệ thế nào, những chuyến đi đã đem lại cho bà một viễn cảnh mà người như tôi hiếm khi thấy, hay thấy được diễn đạt đẹp đến vậy. Tự hỏi du lịch sẽ đem lại gì cho tôi, nhưng cơ hội luôn hiện diện; nếu không phải cho các chuyến đi thì cũng để thu góp từ những người ta gặp gỡ những điều như đáp lời trong chính chúng ta. Cho nỗi khao khát hẳn có trong mỗi trái tim—chỉ khi ta trở nên hay càm ràm và khiến ngay cả chính mình cũng thấy chán chường, ta mới đánh mất đặc ân mở rộng ra với tình yêu của Thượng đế vốn luôn tuôn tràn quanh ta.

Sunday, Mar. 27, 1938

Chủ Nhật, 27 tháng Ba, 1938

What has the day as a marker for events meant to me, something—Oh yes, in 1900 this day awoke to realize could not speak above a whisper the beginning of that experience as may be said to be the work in which I am engaged now, step by step yet, no different from the beginnings as I see it—but who said “there is nothing new under the sun” couldn’t be new then the same old thing, “Know the Lord thy God is one” dressed up in a new bonnet or possibly a new dress, but the same truth, growing by unfoldment in our limited minds.

Ngày như một cột mốc cho các biến cố đã có ý nghĩa gì với tôi, điều gì đó—Ồ vâng, năm 1900 ngày này thức dậy tôi nhận ra mình không thể nói to hơn thì thầm—khởi đầu cho trải nghiệm có thể nói là công việc tôi đang làm bây giờ, từng bước một, nhưng theo tôi thấy thì không khác gì những khởi đầu ấy—ai đó đã nói “chẳng có gì mới dưới Mặt Trời” thì không thể mới; vẫn là điều cũ xưa, “Hãy biết Chúa, Thượng đế của ngươi là một” được đội chiếc mũ mới hay có lẽ khoác chiếc áo mới, nhưng vẫn là chân lý ấy, lớn lên bằng sự khai mở trong những tâm trí hạn cuộc của chúng ta.

Wed, Mar. 30th 1938

Thứ Tư, 30 tháng Ba 1938

What—nothing happened on 28th and 29th—Oh, yes, much but nothing said about it, not that much may not have been felt, but there are days when there just doesn’t seem to be words to say what you would wish to even. Oh, God, make me thankful for all the nice things people have written—let me so live that my life before men will be in keeping [with] what they feel has and does develop in their experience—keep me humble, yet glory in being a child of God.

Gì—không có gì xảy ra ngày 28 và 29 ư—Ồ, có nhiều nhưng không nói về nó, không phải vì không có nhiều điều cảm nhận, mà có những ngày dường như chẳng có lời lẽ nào để nói điều mình muốn nói dù chỉ là đôi phần. Lạy Thượng đế, xin làm con biết ơn vì tất cả những điều tốt đẹp người ta đã viết—xin cho con sống sao để đời sống con trước mặt người ta sẽ phù hợp [with] điều họ cảm thấy đã và đang phát triển trong trải nghiệm của họ—xin giữ con khiêm nhường, nhưng hãnh diện vì là con của Thượng đế.

How soon had to make application of the above, and would have to say hardly big enough to do so without feeling hurt, is it my ego, pride, or what that felt the hurt, of what Mr. W. had said—Oh God keep me, for thy namesake, let me live as thou would have me live, each day, each experience, let them be a growth toward the Light of thy kingdom, that must be within.

Chẳng bao lâu đã phải áp dụng điều trên, và phải nói rằng khó lòng làm được mà không thấy tổn thương; đó là cái tôi, là kiêu hãnh, hay điều gì khiến tôi thấy đau vì điều Ông W. đã nói—Lạy Thượng đế xin giữ con, vì danh Ngài, xin cho con sống như Ngài muốn con sống, mỗi ngày, mỗi trải nghiệm, xin cho chúng trở thành sự tăng trưởng hướng về Ánh sáng vương quốc Ngài, vốn phải ở bên trong.

April 3rd 1938

Ngày 3 tháng Tư 1938

Days again—nothing said—the boys home, Sat they painted their room, no Friday or Thursday afternoon—for Friday in town—trouble at H.H.R.—what will they do with it—Sat the hike—that is right—for Ecken and I built the birdhouse, hope we have a few Martins come stay with us. Mrs. Harris here for her reading, pleased.

Lại mấy ngày—không nói gì—mấy đứa con trai về nhà, Thứ Bảy chúng sơn phòng của chúng, không, là thứ Sáu hay chiều thứ Năm—vì thứ Sáu vào thị trấn—rắc rối ở H.H.R.—họ sẽ làm gì với nơi đó—Thứ Bảy thì đi bộ đường dài—đúng rồi—vì Ecken và tôi đóng một nhà chim, hy vọng vài con nhạn Martin sẽ đến ở với chúng tôi. Bà Harris đến cho buổi đọc, hài lòng.

Cool this morning, not quite so cold as was predicted by weather man, may be by night, hope doesn’t kill fruit, was 42 [degrees] on front porch this morning. guess that would be a very good record. but possibly am too dilatory about keeping it at all, let things keep me from saying what I feel too easily. guess grow more sensitive each day, but certainly should not let self grow foolishly so, sensitive—but make it constructive should be the way, for if that is not done then it makes hurt—yes, a deep hurt so—the hurt becomes personal, and self consciousness prevents one from being very helpful. and it is the helpful life that is worthwhile.

Sáng nay lạnh, không lạnh như dự báo của ông khí tượng, có thể đến tối, hy vọng không làm hỏng trái cây, sáng nay nhiệt kế ở hiên trước là 42 [degrees]. đoán đó sẽ là một ghi chép rất tốt. nhưng có lẽ tôi quá chần chừ không ghi lại chút nào, để những việc khác khiến mình quá dễ dàng không nói điều mình cảm thấy. đoán mỗi ngày mình trở nên nhạy cảm hơn, nhưng chắc chắn không nên để mình trở nên yếu đuối dại dột như vậy; nhạy cảm—nhưng hãy làm cho nó trở nên xây dựng—đó mới là cách; vì nếu không làm như thế thì nó gây tổn thương—vâng, một nỗi đau sâu sắc—thế là nỗi đau trở nên cá nhân, và sự tự ý thức khiến người ta khó lòng giúp ích nhiều. mà đời sống hữu ích mới đáng giá.

Played bridge in the afternoon, H. L., E. E., G. and I. Quite cool but sun shining in afternoon.

Buổi chiều chơi bài bridge, H. L., E. E., G. và tôi. Khá lạnh nhưng chiều có nắng.

April 4, 1938

Ngày 4 tháng Tư, 1938

Up early, as boys wanted to paint mothers room. T. about 42—sun pretty but a cool wind blowing from the west, feel fair and guess have pretty full week ahead, to keep well-balanced is not always easy.

Dậy sớm, vì mấy cậu bé muốn sơn phòng của mẹ. Nhiệt độ khoảng 42—trời đẹp nhưng gió lạnh thổi từ hướng tây, cảm thấy tạm ổn và đoán sẽ có một tuần khá bận phía trước, giữ thăng bằng không phải lúc nào cũng dễ.

April 5th, 1938

Ngày 5 tháng Tư, 1938

Sun shining, cool about 50, straightening up rooms, nothing special of note

Nắng đẹp, mát khoảng 50, sửa soạn các phòng, không có gì đặc biệt đáng ghi.

a bit of retrospection gives about

Chút hồi cố cho thấy—

Edgar Evans went back to school, Duke, this afternoon, saw picture alone tonight. Caught the big fish—bass—weighed 7¼.

Edgar Evans chiều nay trở lại trường, Duke, tối nay tôi đi xem phim một mình. Câu được con cá lớn—cá vược—nặng 7¼.

Life and all its ramifications are but the attempt of something to give expression—thus it behooves none of us to speak ill of the other fellow.

Đời sống và mọi mối nhánh của nó chỉ là nỗ lực của điều gì đó để biểu lộ—thế nên chẳng ai trong chúng ta nên nói xấu người khác.

April 6th, 1938

Ngày 6 tháng Tư, 1938

The note—225. now. Very fine day but cool about 52, What an experience to know, well you have been—but are not.

Âm điệu—225. bây giờ. Ngày rất đẹp nhưng mát, khoảng 52. Thật là trải nghiệm khi biết, ừ thì bạn “đã là”—nhưng lại không còn nữa.

April 9th, 1938

Ngày 9 tháng Tư, 1938

Rain yesterday and last night—and what a rain—all up in basement this morning—caught a pike on the trotline yesterday—was not aware there were any in the lake—very nice—wonder if he will stay in the box—water all over it, hope so.

Mưa hôm qua và đêm qua—và mưa gì đâu—sáng nay tầng hầm ngập hết—hôm qua câu được một con cá chó trên dây câu dầm—không biết trong hồ có loại ấy—rất ngon—tự hỏi nó có chịu ở trong thùng không—nước ngập khắp, hy vọng nó ở.

Dream—night before last—of Berlyn being tortured by Indians—and I came to the rescue.

Mộng—đêm hôm kia—thấy Berlyn bị người Da đỏ tra tấn—và tôi đến giải cứu.

looks like more rain today—feeling pretty good—temperature 66 at 9 A.M., spring I guess—tho weatherman says much colder by morning.

Có vẻ hôm nay còn mưa nữa—cảm thấy khá ổn—nhiệt độ 66 lúc 9 giờ sáng, chắc là xuân—dù ông khí tượng nói sáng mai sẽ lạnh hơn nhiều.

Could we keep our heads, at all times know God is near—and all is well? what a different world this would be.

Giá như ta giữ vững tâm trí, mọi lúc biết Thượng đế ở gần—và mọi sự đều ổn—thì thế giới này sẽ khác biết bao?

Sunday, Apr. 10th 1938

Chủ Nhật, 10 tháng Tư 1938

Sunshine this morning but strong wind, T. 44, phoned H. L. last evening, are to try L.v … this A.M.—do not feel that there is much to be gained. supposed to go to Norfolk this afternoon—group reading.

Nắng sáng nay nhưng gió mạnh, Nhiệt độ 44, tối qua gọi cho H. L., sáng nay thử L.v …—không cảm thấy có nhiều điều để đạt được. buổi chiều dự định vào Norfolk—buổi đọc nhóm.

Reading proved to be one of the most interesting ones have had in some time—went to Group this afternoon meeting at Mrs. Story—several not there—but all said had very good reading—messages to individuals—listened to radio in the evening, Keeping the mind, the body, the spirit all in accord isn’t easy—but is what may make one free.

Buổi đọc hóa ra là một trong những buổi thú vị nhất từ dạo gần đây—chiều nay dự nhóm họp tại nhà Bà Story—vài người không đến—nhưng mọi người đều nói buổi đọc rất hay—có các thông điệp cho từng người—tối nghe radio, Giữ cho tâm trí, thân thể, tinh thần hòa điệu chẳng dễ—nhưng đó là điều có thể khiến người ta được tự do.

Monday, April 11th, 1938

Thứ Hai, 11 tháng Tư, 1938

sunshine this morning but a cool wind, water going down but still quite a bit in basement.

Sáng có nắng nhưng gió mát, nước rút bớt nhưng tầng hầm vẫn còn khá nhiều nước.

don’t feel so hot, ate too much, am sure.

Không thấy khỏe lắm, ăn nhiều quá, chắc vậy.

meeting of Group #1 at Mrs. Ellingtons, we took dinner there, very good meeting.

Họp Nhóm #1 tại nhà Bà Ellington, chúng tôi ăn tối ở đó, buổi họp rất tốt.

Tuesday, April 12th 1938

Thứ Ba, 12 tháng Tư 1938

Another beautiful day, real spring, about 58 this morning, about noon quite a stiff wind blew up, turned somewhat cooler.

Lại một ngày đẹp, đúng là xuân, sáng khoảng 58, gần trưa nổi gió khá mạnh, trở lạnh đôi chút.

Very unusual experience for me this morning early—was 2 A.M. became conscious was out of my body, could see it lying there to all intent dead, was not fearful, did not know where I had been, but knew had been away from my body, saw myself gradually emerge again with the body, and each portion come to life and the circulation gradually renew itself in the different portions of same, then awaked, as if had I just come in from somewhere.

Một trải nghiệm rất khác thường với tôi vào sáng sớm nay—lúc 2 giờ sáng; tôi trở nên ý thức rằng mình ở ngoài thân, có thể thấy thân nằm đó như thể đã chết hẳn, không hề sợ, không biết mình vừa ở đâu, nhưng biết mình đã rời thân, thấy mình dần dần lại nhập vào thân, và mỗi phần trở lại sự sống, tuần hoàn dần dần làm mới trong từng phần, rồi tỉnh dậy, như thể vừa từ đâu đó trở về.

To group 7 this evening at Mrs. DeMao’s not such a large group but think very good meeting—Patience the subject—lesson part of first chapter of John.

Tối nay đến Nhóm 7 tại nhà Bà DeMao, nhóm không đông nhưng tôi nghĩ buổi họp rất tốt—Chủ đề: Nhẫn nại—phần bài học của chương đầu Phúc âm Giăng.

Mae had her Life reading this morning, am anxious to read same, must have been a very interesting one from what have heard thus far.

Sáng nay Mae có buổi đọc Đời sống, tôi nôn đọc lắm, chắc hẳn là một buổi rất thú vị theo những gì đã nghe đến giờ.

Oh to be of a service to my fellow man in the name of the Master is the burden of heart, yet realize am so very weak in many ways, will I ever be counted worthy?.

Ôi được phụng sự đồng loại nhân danh Đức Thầy là gánh nặng của lòng tôi, thế nhưng tôi biết mình rất yếu đuối trên nhiều phương diện; liệu tôi có bao giờ được kể là xứng đáng chăng?

The Lord bless and keep us all for His name sake

Nguyện Chúa chúc phúc và gìn giữ tất cả chúng ta vì danh Ngài

Sunday April 24th 1938

Chủ Nhật, 24 tháng Tư 1938

more than a week has passed since wrote here—and many things have happened that should have been made note of, but as didn’t perhaps just as well, possibly did not mean as much as would like to think they might, but will do better by you old book, for there might be those who would like to read here, hope so any way—but there have been some wonderful reports from people—some sad ones—this is life—the bitter with the sweet—but reports like Miss Coombe, Mr. Barber, Mrs. Botterill—well all seem worthwhile and am sure they are in their own experience. and Life is good when you keep well.

Hơn một tuần trôi qua từ lần cuối viết ở đây—và nhiều điều đã xảy ra lẽ ra nên ghi lại, nhưng vì không ghi, có lẽ cũng tốt, có thể chúng không có ý nghĩa nhiều như tôi muốn nghĩ; nhưng tôi sẽ làm tốt hơn với anh bạn sổ này, vì có thể sẽ có người muốn đọc ở đây—dù sao cũng mong vậy—nhưng đã nhận vài báo cáo tuyệt vời từ mọi người—và vài tin buồn—ấy là đời—đắng cay lẫn ngọt bùi—nhưng những báo cáo như của Cô Coombe, Ông Barber, Bà Botterill—ờ, tất cả đều đáng giá và tôi chắc chúng đáng giá trong trải nghiệm riêng của họ. và Đời là tốt khi bạn khỏe mạnh.

Dream lest evening disturbs me—was with a group of men, mostly of old acquaintances had come to a place. where the only way out was to climb down possibly a hundred feet between two walls—or projections of the walls, all sat round as if bewildered as how to get down, I started down, found there was one place could not get round without slipping, climbed back up—and told all there was a rope there, I would hold and lower them past this place, did, many walked away, few remained to see what I would do—began to descend, and as came to the place where had to be lowered—realized the unseen hand was holding me—for the good had done—awoke.

Giấc mộng tối qua làm tôi bận lòng—tôi ở với một nhóm đàn ông, phần lớn là bạn cũ, đã đến một nơi mà lối ra duy nhất là tụt xuống chừng trăm feet giữa hai bức tường—hay những nhô ra của tường, mọi người ngồi quanh như bối rối không biết xuống sao, tôi bắt đầu tụt xuống, thấy có một chỗ không thể vòng qua nếu không tuột, trèo ngược lên—và bảo mọi người có một sợi dây ở đó, tôi sẽ giữ và hạ họ qua đoạn ấy, tôi đã làm, nhiều người bỏ đi, ít người ở lại xem tôi sẽ làm gì—tôi bắt đầu xuống, và khi đến chỗ cần được hạ—tôi nhận ra Bàn tay Vô hình đang giữ tôi—vì điều thiện tôi đã làm—tôi tỉnh giấc.

Again dreamed—had had above dream—and was being shown what it meant was returning to Selma to Studio, place very badly need of repair—dust and dirt was cleaning up—when some one came for picture to be made—realized it was the first person that had come when I went to that place in 1912—now she had her little girl was expecting Gertrude and Miss Gladys—many people came in—for pictures—then realized My Father had come back—dress all in khaki with cap—asked him why—and where he had come from and told me all had thought him dead for a year—but he was not, and could not stay where he had been as people talk very uncomplimentary about him G & Miss Gladys came—when they saw him spoke—then Gertrude asked him why he had come he said just couldn’t stay where was—she said well we haven’t room here—so he said all right will go to the top of house and jump off. end.

Lại mơ—rằng vừa có giấc mơ trên—và được chỉ cho biết ý nghĩa của nó, là đang trở về Selma đến Studio, nơi rất cần sửa chữa—bụi bặm bẩn thỉu—đang lau dọn—thì có người đến chụp ảnh—nhận ra đó là người đầu tiên đến khi tôi tới nơi đó năm 1912—giờ cô ấy có cô con gái nhỏ—đang trông chờ Gertrude và Cô Gladys—nhiều người vào—để chụp hình—rồi nhận ra Cha tôi đã trở lại—mặc toàn kaki với mũ—tôi hỏi vì sao—và ông từ đâu đến, ông bảo mọi người tưởng ông chết đã một năm—nhưng ông không chết, và ông không thể ở nơi ông đã ở vì người ta nói những điều rất không hay về ông; G & Cô Gladys đến—khi thấy ông họ chào—rồi Gertrude hỏi vì sao ông đến, ông nói không thể ở nơi đó—cô ấy nói chúng con không có chỗ ở đây—ông nói thôi được, vậy lên nóc nhà và nhảy xuống. hết.

Seem more of a nightmare than a dream. will I be reminded of it?

Dường như ác mộng hơn là mộng. tôi sẽ bị nhắc lại về nó chăng?

Mrs. Story and Edith sick—do hope they come along all right—Keep self-conscious of the Christ spirit—by doing that He would have done Just being kind is the best way I know—but her does one keep from losing ones temper that is a hard one

Bà Story và Edith ốm—thật mong họ mau khá—Hãy giữ ý thức về tinh thần của Đức Christ—bằng cách làm điều Ngài hẳn sẽ làm. Chỉ cần tử tế là cách tốt nhất tôi biết—nhưng làm sao người ta giữ khỏi nổi nóng—ấy là điều khó.

Wed, Apr. 27th 1938

Thứ Tư, 27 tháng Tư 1938

How unappreciative we all appear at times—yet, who is to judge as to what real appreciation is, when we think of that in relation to our God, who is ever appreciative.

Đôi khi chúng ta trông thật vô ơn—và yet, ai có thể phán xét thế nào là lòng biết ơn thật, khi ta nghĩ về điều đó trong tương quan với Thượng đế của chúng ta, Đấng luôn biết ơn?

Unusual dream night before last regarding Lynn, who like my Father a few nights ago insisted he was not dead, nor ever had been—only been away for a while—but he looked so very thin—yet young again as knew him years ago. wonder what it means.

Giấc mộng khác thường đêm hôm kia liên quan đến Lynn, người—như Cha tôi vài đêm trước—khăng khăng rằng anh không chết, cũng chưa từng chết—chỉ là đi xa một thời gian—nhưng trông anh gầy lắm—dù lại trẻ như ngày xưa tôi biết anh. không biết nó có nghĩa gì.

Cool quite a stiff breeze, sun is bright—thermometer tho registers 60

Mát, gió khá mạnh, nắng sáng—dù nhiệt kế chỉ 60

worked in garden a bit this morning—everything there looks very nice,

Sáng nay làm vườn chút ít—mọi thứ trông rất đẹp,

Unusual experience this afternoon in a way—each time am able to go into the unconscious have to wait for the Light—without it cannot lose consciousness—usually it is a shaft of light-blue white light—or streaks of light—but this afternoon it appeared as buttons of light—or rosette—with their shading in the form of a rosette caught a nice big Ling this afternoon. a thought for the day—just as sincere as I am with my fellow man, just so is the vibration. atmosphere made for me. Like begets like—but am I to condemn if he does not respond? Rather the more reason to exert the Christ spirit.

Một trải nghiệm khác thường chiều nay theo một nghĩa—mỗi lần có thể đi vào vô thức, tôi phải chờ Ánh sáng—không có nó tôi không thể mất tri giác—thường thì đó là một luồng ánh sáng xanh-trắng—hay những vệt sáng—nhưng chiều nay nó xuất hiện như những “nút” ánh sáng—hay hoa thị—với các sắc độ như hình hoa thị. chiều nay câu được một con cá ling to. một tư tưởng cho ngày—tôi chân thành với đồng loại đến mức nào, thì rung động, bầu khí tôi tạo ra cho mình cũng đến mức đó. Tương tự sinh tương tự—nhưng tôi có nên kết án nếu người kia không đáp ứng? Đúng hơn, càng là lý do để biểu hiện tinh thần của Đức Christ.

Apr. 30, 1938

Ngày 30 tháng Tư, 1938

Lovely day—new bird songs today—there appears to be an unusual number of birds—or am I just aware of their presence? the early morning son of the—Tom-tit, the blue bird, lark, catbird, robin, the mocking bird; and the new ones sound like canaries—but are red, with brown and the female yellow and black, but lovely bird—used to call them weaver bird, but haven’t seen any before in years and years—Oh let’s not forget the red-wing, he is lovely. H. L. home from N.Y. for day or so.

Ngày đẹp—hôm nay có những tiếng chim mới—dường như có số lượng chim bất thường—hay tôi chỉ mới ý thức về sự hiện diện của chúng? ca sáng sớm của chim tít, chim lam, sơn ca, chim mèo, cổ đỏ, chim nhại; và những loài mới nghe như chim hoàng yến—nhưng có chim đực màu đỏ pha nâu và chim mái vàng-đen, nhưng thật tuyệt—xưa tôi gọi chúng là chim thợ dệt, nhưng bao năm rồi chưa từng thấy; Ồ đừng quên chim cánh đỏ, nó tuyệt lắm. H. L. từ New York về nhà vài ngày.

The last of April—how time appears to go at times and another, as if it will never come. Tired, weary, of what? Need a change of thought, I guess, or am I just too desirous of the material things of life?

Những ngày cuối tháng Tư—đôi lúc thời gian trôi nhanh thế, có lúc như không bao giờ đến. Mệt, uể oải, vì điều gì? Có lẽ cần đổi ý nghĩ, hay tôi quá ham muốn những thứ vật chất của đời?

Busy week, most every day taken. Hope I may have been of help somewhere along the line. What a curious phase of human experience we see now and then.

Tuần bận rộn, hầu như ngày nào cũng kín. Hy vọng đâu đó tôi đã giúp được ai. Thỉnh thoảng đời người có những khía cạnh thật lạ kỳ.

Help me to keep thy ways, O Lord, for thy ways are not past finding out. Let grace and mercy be with me ever.

Xin giúp con giữ các đường lối của Ngài, lạy Chúa, vì các đường lối Ngài chẳng vượt ngoài sự tìm biết. Xin ân sủng và thương xót ở cùng con luôn.

Sunday, May 1st 1938

Chủ Nhật, 1 tháng Năm 1938

Lovely May day. Many roses in bloom in yard. the red one the prettiest—Just had a note from Dorothy H. My what the manifestations of life take on at times. just hope can I offer the suggestion that will fill the heart with gladness and bring the best into the experience of each. Feeling fair. Mother still complaining of her eye from the spell she has had recently. What a troubled sleep! So many of those I think so much of? all mixed up in my dreams. Tried to write the lady in Cincinnati. regards “Survival of personality.” hope I said the right thing.

Ngày mồng Một đẹp. Nhiều hoa hồng nở trong vườn. hoa hồng đỏ đẹp nhất—Vừa nhận thư của Dorothy H. Ôi, đôi khi những biểu hiện của đời sống hiện ra kỳ lạ biết bao. chỉ mong tôi có thể đưa ra gợi ý sẽ làm đầy lòng người bằng niềm vui và đem điều tốt nhất vào trải nghiệm của mỗi người. Cảm thấy tạm ổn. Mẹ vẫn than đau mắt vì cơn vừa rồi bà gặp. Một giấc ngủ đầy trắc trở! Quá nhiều người tôi thương quý? tất cả hòa lẫn trong giấc mơ của tôi. Cố viết cho bà ở Cincinnati về “Sự tồn tại của phàm ngã.” Hy vọng tôi nói đúng điều cần nói.

I went to the picture show alone this evening.

Tối nay tôi đi xem phim một mình.

May all the joy of a sincere life keep me in the path of right for His namesake.

Nguyện mọi niềm vui của một đời sống chân thành giữ tôi trong đường ngay vì danh Ngài.

Monday, May 2nd 1938

Thứ Hai, 2 tháng Năm 1938

An unusual stress, financially. H. L. left for N.Y. again last evening. Mrs. Ellington and Jane brought us the material for upholstering the furniture. Mrs. E. is to help fix same today.

Một áp lực bất thường về tài chính. H. L. lại đi New York tối qua. Bà Ellington và Jane đem đến vải để bọc lại đồ đạc. Bà E. hôm nay sẽ giúp bọc.

May 3-4-5-6, 1938

Ngày 3-4-5-6 tháng Năm, 1938

Left blank—not because of nothing doing—rather lack of the incentive to record same. But what a lovely job Mrs. Ellington has done an the furniture this week, all but one piece finished and is better than had there been a professional doing it. Lovely what friends mean to everyone. Surely we should know better than most, for I’m sure we have the loveliest ever; thanks—all thanks to Him who is the giver of all good and perfect gifts; ours are friends, lovely ones.

Để trống—không phải vì không có gì—đúng hơn vì thiếu động lực để ghi lại. Nhưng Bà Ellington đã làm một công việc tuyệt đẹp với đồ đạc tuần này, chỉ còn một món chưa xong và làm còn hơn cả một thợ chuyên nghiệp. Dễ thương biết bao là ý nghĩa của bạn bè với mọi người. Hẳn chúng tôi phải biết điều ấy hơn nhiều người, vì tôi chắc chúng tôi có những người bạn dễ thương nhất; cảm tạ—mọi cảm tạ dâng Ngài, Đấng ban mọi ân tứ tốt lành và trọn vẹn; “của” của chúng tôi là bạn hữu, những người bạn đáng yêu.

Ecken came home Wed. evening will stay until Sunday afternoon—

Ecken về nhà tối thứ Tư sẽ ở đến chiều Chủ Nhật—

Saturday the 7th of May 1938

Thứ Bảy, ngày 7 tháng Năm 1938

Ecken and I went fishing this morning—fair luck—in the canoe on the Lake—some casting brought mediocre results, had lines a bit better. Well, really put in the afternoon—alone—on the Lake—some very good meditations—must go to Sunday school and church oftener—losing something that I’m sure I need—if nothing else the touch with our fellow man.

Sáng nay Ecken và tôi đi câu—khá khá—bằng xuồng độc mộc trên hồ—quăng mồi cho kết quả trung bình, thả dây thì khá hơn. Thật ra tôi dành trọn buổi chiều—một mình—trên hồ—vài buổi tham thiền rất tốt—cần đi Trường Chúa Nhật và nhà thờ thường xuyên hơn—đang mất đi điều gì đó mà tôi chắc mình cần—nếu không vì gì khác thì cũng vì mối chạm chạm với đồng loại.

Sunday May 8th 1938

Chủ Nhật, 8 tháng Năm 1938

Went to Sunday school this morn—was asked to teach the Bible Class. ‘There were Mr. Henley Moore, Mr. Peele, Mrs. Stith, Mrs. Skipper, Mrs. McTurnan, and Mr. Russell Hatchett. Lesson: Co-operation. Well, that might be significant. Hope I can give something that will be worthwhile. Mark. 9: 50 to 41. Text.

Sáng nay đi Trường Chúa Nhật—được mời dạy Lớp Kinh Thánh. Có Ông Henley Moore, Ông Peele, Bà Stith, Bà Skipper, Bà McTurnan, và Ông Russell Hatchett. Bài học: Hợp tác. Ồ, có lẽ có ý nghĩa. Hy vọng tôi có thể trao điều gì đó xứng đáng. Bài nền: Mác 9: 50 đến 41.

Looks as if it might rain, certainly hope it does, seems to me would be fine for the garden. Had strawberries and peas from garden today.

Trông như sắp mưa, thật mong mưa, theo tôi như vậy sẽ tốt cho vườn. Hôm nay có dâu tây và đậu xanh từ vườn.

Ecken left this afternoon for school again. We went by to see Edith and Florence Edmonds. We came home and had T. J. with us for the night—such a sweet baby he is! smart as can be makes over me as well as Gertrude, calls us Eddy Caky and Muddie Caky.

Chiều nay Ecken trở lại trường. Chúng tôi ghé thăm Edith và Florence Edmonds. Về nhà và đưa T. J. về ngủ cùng chúng tôi—em bé dễ thương làm sao! thông minh hết sức, làm nũng tôi cũng như Gertrude, gọi chúng tôi là Eddy Caky và Muddie Caky.

Monday May, 9th 1938

Thứ Hai, 9 tháng Năm 1938

A little rain in the night but not much—letter from Mr. W. glad to know there is no censure, also from Dave with check—closed the old Assn. account today.

Đêm có mưa nhẹ nhưng không nhiều—thư của Ông W. vui vì biết không có sự khiển trách, cũng có thư của Dave kèm chi phiếu—hôm nay đóng tài khoản Hội cũ.

Go to Group meeting tonight—Group #1 meet at Mrs. Storey’s.

Tối nay đi họp Nhóm—Nhóm #1 họp tại nhà Bà Storey.

The hope of the world is Love—love that thinketh not of self, but for and of the love of God, as one toward another.

Hy vọng của thế giới là Tình thương—tình thương không nghĩ đến mình, mà vì và bởi tình yêu của Thượng đế, như người này đối với người kia.

Tuesday, May 10th, 1938

Thứ Ba, ngày 10 tháng 5, 1938

Memories! What tricks our minds play us at times. I recall the 10th of May 1890—circus and all No, I didn’t go—that is why I recall so well. Worked in corn on the Seay place, in the field where there used to be the meeting of the little folk that played with me sometime before. Seems so long ago, yet as but yesterday.

Ký ức! Đôi khi thể trí ta bày trò với ta thật lạ lùng. Tôi nhớ ngày 10 tháng 5 năm 1890—gánh xiếc và mọi thứ. Không, tôi đã không đi—vì thế tôi mới nhớ rất rõ. Làm việc trong ruộng bắp ở trang trại Seay, trên cánh đồng nơi trước kia vẫn có buổi nhóm họp của những sinh linh bé nhỏ từng chơi với tôi một thời. Cảm thấy lâu lắm rồi, mà cũng như mới hôm qua.

Specials from H. L. today—and to meeting of group 3 in Norfolk tonight, good crowd and hope a good meeting.

Tin đặc biệt từ H. L. hôm nay—và tối nay dự họp nhóm 3 ở Norfolk, đông người và hi vọng buổi họp tốt đẹp.

Destiny of the Soul—Know thyself in His service if we would have his presence abiding consciously with us.

Định mệnh của Linh hồn—Hãy tự biết mình trong sự phụng sự Ngài nếu chúng ta muốn sự Hiện Diện của Ngài ở lại cùng chúng ta một cách hiển hiện trong tâm thức.

Lord of light and Love—keep thou my ways day by day—May I never blindly lead any astray. May I keep thy precepts ever.

Lạy Chúa của ánh sáng và Tình thương—xin Ngài gìn giữ đường lối của con từng ngày—Nguyện con chẳng bao giờ mù quáng dẫn ai lạc bước. Nguyện con giữ trọn các điều răn của Ngài.

Wed. May 11th 1938

Thứ Tư, ngày 11 tháng 5 năm 1938

Ominous looking outside this morning—think we need rain badly.

Bên ngoài trông điềm chẳng lành sáng nay—nghĩ rằng chúng ta đang rất cần mưa.

Am to go to Group 6 this evening.

Tối nay sẽ đến với Nhóm 6.

May 12-13-14-15

Ngày 12-13-14-15 tháng 5

A week that will long be resplendent with memories of meeting with the groups in Norfolk—each having its own special meaning to each group I’m sure—just hope I may have been of a little help here and there. Can’t say any special group is better than the other; each group has its members that have caught a vision of what may be had by keeping close to the Master. For me, this morning while in meditation, I had a vision of the Master coming close to me—laying His hand on me and blessing me, giving me encouragement.

Một tuần lễ sẽ còn rạng rỡ lâu dài với những hồi ức về các buổi gặp gỡ các nhóm ở Norfolk—mỗi nhóm hẳn có ý nghĩa đặc thù riêng với từng nhóm—chỉ mong rằng tôi đã có thể giúp được chút đỉnh đây đó. Không thể nói nhóm nào đặc biệt hơn nhóm nào; mỗi nhóm đều có những thành viên đã nắm bắt được một tầm nhìn về điều có thể đạt được bằng cách giữ gần gũi với Chân sư. Với riêng tôi, sáng nay khi tham thiền, tôi có một thị kiến về Chân sư đến gần tôi—đặt tay Ngài lên tôi và ban phước, khích lệ tôi.

A very good meeting at Sunday school—quite an interesting visitor, Mr. Powell of Baltimore, gave some very good suggestions to the class. I had already outlined some of these to the class—are to have class meeting evening of 27th—with Mrs. Skipper.

Một buổi nhóm Trường Chúa nhật rất tốt—một vị khách khá thú vị, Ông Powell ở Baltimore, đã đưa ra vài gợi ý rất hay cho lớp. Tôi đã phác thảo trước vài điều trong số đó cho lớp—sẽ có buổi họp lớp vào tối 27—với Bà Skipper.

Very blustery day out more like March than May today

Ngoài trời gió lộng, hôm nay giống tháng Ba hơn là tháng Năm.

May 19th 1938

Ngày 19 tháng 5 năm 1938

Very disturbing dream this morning—Was at a fete of some kind—games being played on the lawn of a very beautiful club somewhere—many friends sitting on lawn near a wood—Boyd Davis and I playing croquet—he rocaked [sic] my ball—it went into edge of wood—he called to Thomas Jefferson to run get Kakey’s ball—but I started after it—then his Mother—Berlyn called T. J. to run get Kakey’s ball—as I went into the wood saw a small clearing where the sun came through—was all covered with snakes of every size and description—and as many or more turtles of all sizes—they all began to move off into the wood. I called to Ecken to bring his gun and shoot some of them—when T. J. came up to me I picked him up—Tom Sugrue called that he had a gun and came up—there was now only one small snake left—he aimed at him—and as he fired the snake struck at me—and I saw his fangs were in my trousers near the bottom but had not struck the flesh—wondered how I was to remove them without allowing the poison getting in flesh, for was afraid to put T. J. down—awoke.

Một giấc mơ rất gây bối rối sáng nay—Ở một lễ hội nào đó—đang chơi trò trên bãi cỏ của một câu lạc bộ rất đẹp ở đâu đó—nhiều bạn bè ngồi trên bãi cỏ gần một khu rừng—Boyd Davis và tôi chơi croquet—anh ấy đánh bật bóng của tôi (rocaked [sic])—nó lăn vào rìa rừng—anh gọi Thomas Jefferson chạy đi nhặt quả bóng của Kakey—nhưng tôi đã chạy theo—rồi Mẹ anh—Berlyn gọi T. J. chạy đi nhặt bóng của Kakey—khi tôi bước vào rừng thì thấy một khoảng trống nhỏ nơi nắng xuyên qua—tràn ngập rắn đủ cỡ đủ loại—và rùa cũng nhiều không kém, đủ mọi kích thước—tất cả bắt đầu trườn đi vào rừng. Tôi gọi Ecken mang súng đến bắn vài con—khi T. J. đến gần tôi thì tôi bế nó lên—Tom Sugrue gọi rằng anh có súng và chạy đến—lúc này chỉ còn một con rắn nhỏ—anh nhắm vào nó—và khi anh bóp cò con rắn phóng tới tôi—và tôi thấy răng nanh nó đang cắm vào ống quần tôi gần phía gấu nhưng chưa chạm vào da thịt—tôi băn khoăn làm sao gỡ ra mà không để nọc độc thấm vào da, vì tôi sợ đặt T. J. xuống—tỉnh giấc.

May 20th 1938

Ngày 20 tháng 5 năm 1938

Last evening or early this morning dreamed again—for possibly the 51st or more time of walking with the veiled lady—only this time almost saw over the cliff am always trying to climb. I’ve never known or had the idea of who the lady is.

Đêm qua hoặc rạng sáng nay lại mơ—có lẽ lần thứ 51 hay hơn—về việc đi cùng người phụ nữ trùm khăn—chỉ khác là lần này gần như đã thấy qua khỏi vách đá mà tôi luôn cố trèo lên. Tôi chưa bao giờ biết hay có ý niệm người phụ nữ đó là ai.

May, 21st 1938

Ngày 21 tháng 5 năm 1938

This morning, after three and before five, dreamed of being with the Master and receiving a Blessing from him for my poor undertakings—he telling me—soon would be better—when I fully understood.

Sáng nay, sau ba giờ và trước năm giờ, mơ thấy ở cùng Chân sư và nhận Phước lành từ Ngài cho những nỗ lực nghèo nàn của tôi—Ngài bảo tôi—chẳng bao lâu mọi sự sẽ tốt hơn—khi tôi hiểu trọn.

This morning, in giving Life reading for someone, had the impression of being present at the time of the mourning of Moses—and of the readjustments made by Joshua as to who would lead each family in line of march—of seeing the Jordan divide—and of passing over with the children of Judah—the march about Jerico, its fall—and the repulsing of the army at Ai—trial of the offender—quite real of manner in which the choice was made—by lots—and as I was among the friends of the offender—was questioned at length by Joshua himself—saw distinctly how he looked—Must have been all of 6 feet 6 in. and weighed at least two twenty—clean shaven—and a veil over his face that shown like light even in sunshine—very powerful voice—sounded like music—a roar—but not harsh—vibrant tone—but like running water. Dress—loin cloth—baggy trousers—if could be called trousers and the mantle all of one piece of a dark blue color. Of seeing many of the elders of Israel as well as the priests—as well as the high priest with the wonderful dress. The stones in the vesture of the High Priest were used as the means of casting lots—and their color and the tone from them signified when the right Tribe, House and Family was chosen—and when the individual Achim was chosen—all the others went dead or dull—and there was a decided murmur of woe.

Sáng nay, khi thực hiện một bài đọc về đời sống cho ai đó, tôi có ấn tượng như đang hiện diện vào thời kỳ than khóc Moses—và những điều chỉnh do Joshua thực hiện về việc ai sẽ dẫn đầu mỗi gia tộc trong hàng ngũ—thấy sông Jordan tách ra—và sang bờ cùng các con cái Judah—cuộc diễu quanh Jerico, thành sụp đổ—và việc đẩy lui đoàn quân ở Ai—xét xử kẻ phạm lỗi—cảm thụ thật rõ cách thức lựa chọn được tiến hành—bằng bốc thăm—và vì tôi ở trong số những bạn hữu của người phạm lỗi—tôi bị Joshua chính mình tra hỏi rất lâu—tôi thấy rõ diện mạo ông—Hẳn phải cao đến 6 bộ 6 inch và nặng ít nhất hai trăm hai mươi—cạo râu nhẵn nhụi—và có một tấm khăn phủ trên mặt tỏa sáng như ánh sáng ngay cả dưới nắng—giọng nói rất mạnh mẽ—vang như nhạc—như tiếng gầm—nhưng không gắt—âm sắc rung động—tựa tiếng nước chảy. Y phục—khố—quần ống rộng—nếu có thể gọi là quần—và chiếc áo choàng liền một mảnh màu lam đậm. Thấy nhiều trưởng lão của Israel cũng như các tư tế—và cả Thượng Tế với trang phục lộng lẫy. Những viên đá trên lễ phục của Thượng Tế được dùng làm phương tiện bốc thăm—và màu sắc cùng âm điệu phát ra từ chúng báo hiệu khi đã chọn đúng Bộ lạc, Nhà và Gia đình—và khi cá nhân Achim được chọn—tất cả các viên khác đều lịm tắt hoặc trở nên mờ đục—và có một làn xì xào ai oán rõ rệt.

PART III

My Philosophy-Triết Lý của Tôi

24-

FAITH ‘THIS IS MY BELIEF’—ĐỨC TIN: ‘ĐÂY LÀ ĐIỀU TÔI TIN’

If a man dies, shall he live again? What is death? What comes next? This question, sounded throughout the ages, is one of the oldest that man has considered. We must each answer it within our own self. It is a matter of faith, of belief.

Nếu một người chết đi, liệu người ấy có sống lại chăng? Cái chết là gì? Tiếp theo là gì? Câu hỏi này, vang vọng qua các thời đại, là một trong những câu xưa nhất mà con người từng suy tư. Mỗi người chúng ta phải tự đáp trong chính mình. Đó là vấn đề của đức tin, của niềm tin.

This is my belief.

Đây là điều tôi tin.

I believe that when God breathed the breath of life into man, he became a living soul. The Spirit of God is life, whether in a blade of grass or in man. The soul of man is individual and lives on.

Tôi tin rằng khi Thượng đế hà hơi sự sống vào con người, người ấy trở thành một linh hồn sống. Thần Linh của Thượng đế là Sự sống, dù trong một ngọn cỏ hay trong con người. Linh hồn con người là cá thể và tiếp tục sống.

In the very first part of the Bible we find that Adam was forbidden to eat certain fruit in the Garden of Eden. In eating the forbidden fruit, he became conscious of his being. God reasoned with Adam that he must leave the garden lest he partake of the tree of life and live forever. Had Satan been correct when he said, “Ye shall not surely die if ye partake of this fruit!?” What brought physical death to man? His partaking of that which was forbidden. It brought death to the physical body, but not to the soul!

Ngay ở phần đầu tiên của Kinh Thánh, chúng ta thấy Adam bị cấm ăn một thứ quả trong Vườn Ê-đen. Khi ăn trái cấm, ông trở nên tự nhận biết về sự hiện hữu của mình. Thượng đế lý giải với Adam rằng ông phải rời vườn kẻo lại ăn trái của cây sự sống và sống đời đời. Liệu Sa-tan đã đúng khi hắn nói: “Các ngươi chắc chắn không chết nếu các ngươi ăn trái cây này!”? Điều gì đem đến cái chết thể xác cho con người? Chính là sự ăn dùng điều bị cấm. Nó đem sự chết đến cho thể xác, nhưng không cho linh hồn!

To become conscious of our continued existence is to become righteous in ourselves. Then we may become conscious of our continued existence, whether in the physical realm, the spiritual realm, or whatever stage of development through which we may be passing, from physical life unto spiritual life. As we pass through all the various stages, what are we attempting to gain? Righteousness within!

Trở nên tự nhận biết về sự tồn tại liên tục của mình là trở nên công chính ở trong chính mình. Khi ấy ta có thể trở nên tự nhận biết về sự tồn tại liên tục của mình, dù ở cõi hồng trần, cõi tinh thần, hay bất kỳ giai đoạn phát triển nào mà ta có thể đang trải qua, từ đời sống hồng trần sang đời sống tinh thần. Khi đi qua mọi giai đoạn khác nhau, ta đang cố đạt lấy điều gì? Sự công chính bên trong!

Jesus said that if we had His consciousness within us, we should know what He has said to us from the beginning. What was the beginning with Christ? “In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God.” So were our souls in the beginning. The Master said, “Ye say that ye have Abraham for your father. I say unto you that before Abraham was I am, and he rejoiced to see my day and he saw it and was glad.” Then many of those to whom He spoke these words walked no longer with Him, but turned away. Why? He was answering that same question which had bothered man from the beginning: If I die, will I live again?

Đức Jesus nói rằng nếu chúng ta có tâm thức của Ngài ở trong mình, chúng ta sẽ biết điều Ngài đã phán cùng chúng ta từ ban đầu. Khởi nguyên nơi Đức Christ là gì? “Lúc khởi nguyên có Linh từ, Linh từ ở cùng Thượng đế, và Linh từ là Thượng đế.” Linh hồn chúng ta cũng đã ở như thế từ ban đầu. Đức Thầy nói: “Các ngươi nói rằng các ngươi có Abraham làm cha. Ta nói với các ngươi rằng trước khi Abraham hiện hữu, Ta là, và ông đã hân hoan thấy ngày của Ta, ông đã thấy và vui mừng.” Thế là nhiều người được Ngài phán những lời ấy không còn bước đi cùng Ngài nữa, mà quay lưng. Vì sao? Ngài đang trả lời chính câu hỏi đã làm con người bối rối từ ban đầu: Nếu tôi chết, tôi có sống lại chăng?

He said to Nicodemus, “Know ye not that a man must be born again?” When Nicodemus asked, “How can such things be?” Jesus answered, “Are ye a teacher in Israel and know not these things?”

Ngài phán với Nicodemus: “Ngươi há chẳng biết rằng một người phải được sinh lại sao?” Khi Nicodemus hỏi: “Sao có thể có những điều như thế?” Đức Jesus đáp: “Ngươi làm thầy dạy trong Israel mà không biết các điều ấy sao?”

What is it to know the continuity of life? It is to be righteous within, and to have the consciousness of the Christ within. For God is Life. Christ is Life, and Light, unto all that seek to know Him.

Biết tính liên tục của sự sống là gì? Ấy là được công chính ở trong, và có tâm thức của Đức Christ ở trong. Vì Thượng đế là Sự sống. Đức Christ là Sự sống, và là Ánh sáng, cho mọi kẻ tìm biết Ngài.

Is there any other way? He is not the only way, but “he that climbeth up some other way is a thief and robber” to his own self! God is the Life. Jesus came to represent that Life, and the continuity of Life is in the immortality of the soul.

Có con đường nào khác chăng? Ngài không phải là con đường duy nhất, nhưng “ai leo lên bằng ngả nào khác thì là kẻ trộm và kẻ cướp” đối với chính mình! Thượng đế là Sự Sống. Đức Jesus đến để biểu hiện Sự sống đó, và tính liên tục của Sự sống nằm trong sự bất tử của linh hồn.

The soul is an individual thing. My soul is my own, with the ability to know itself, to be itself, and yet be one with God. That was the message Jesus gave to His disciples all the way through: “I of myself can do nothing,” but the life that is within, and the gift of God working in you will make you conscious of your relationship to your Maker.

Linh hồn là một thực thể cá thể. Linh hồn của tôi là của riêng tôi, với khả năng biết chính mình, là chính mình, và vẫn hợp nhất với Thượng đế. Đó là thông điệp Đức Jesus đã trao cho các môn đồ Ngài xuyên suốt: “Ta tự mình chẳng làm gì được,” nhưng Sự sống ở bên trong, và ân tứ của Thượng đế vận hành trong các ngươi sẽ làm cho các ngươi ý thức về mối tương quan của mình với Đấng Tạo Hóa.

How do we become conscious of our relationship with God? By living the fruits of the Spirit! Spirit is the Life, and Light, which makes us conscious of immortality, the continuation of our oneness with God. If God is Life, we then must be His to enjoy the consciousness of being one with Him.

Chúng ta trở nên ý thức về mối tương quan với Thượng đế bằng cách nào? Bằng cách sống các hoa trái của Thần Linh! Thần Linh là Sự sống, và Ánh sáng, vốn khiến chúng ta trở nên ý thức về sự bất tử, về sự tiếp nối hợp nhất của ta với Thượng đế. Nếu Thượng đế là Sự sống, thì chúng ta phải là của Ngài để được hưởng tâm thức hợp nhất với Ngài.

Continuity of Life, then, is being conscious of our oneness with God, through the channel that has been set before us by the example that came into the world to show us the way of Life. That consciousness exists after physical death, as the Bible clearly points out to us.

Vậy, tính liên tục của Sự sống là trở nên ý thức về sự hợp nhất của ta với Thượng đế, qua kênh dẫn đã được thiết lập trước cho chúng ta bằng tấm gương đã đến trần gian để chỉ cho ta Con đường của Sự sống. Tâm thức ấy vẫn tồn tại sau cái chết thể xác, như Kinh Thánh đã chỉ rõ cho chúng ta.

After Samuel passed on, Saul was still in trouble. He knew that Samuel had rebuked him for the manner of life he lived, yet he was in great distress and sought to know if Samuel would not give him another blessing, even though Samuel had passed from the physical plane of existence. So, Saul sought out a channel through which he might speak to Samuel—and he spoke to him. We see that Samuel’s consciousness had not changed one iota by having passed over to the other side, for his first words to Saul were along the same lines that he used while still on earth: “Why troublest thou me? Dost thou not know God has rejected thee already?”

Sau khi Samuel qua đời, Saul vẫn gặp khốn đốn. Ông biết Samuel đã quở trách ông về nếp sống ông đã sống, thế nhưng ông đang trong cảnh bối rối lớn và muốn biết liệu Samuel có ban cho ông một phước lành nữa không, dù Samuel đã rời cõi hồng trần. Vậy Saul tìm một kênh dẫn qua đó ông có thể nói chuyện với Samuel—và ông đã nói với ông ấy. Chúng ta thấy tâm thức của Samuel không hề thay đổi chút nào khi đã sang bờ bên kia, vì lời đầu tiên của ông với Saul vẫn theo cùng một hướng như khi còn tại thế: “Sao ngươi khuấy rối ta? Há ngươi chẳng biết Thượng đế đã ruồng bỏ ngươi rồi sao?”

Having passed over did not automatically make Samuel know more than he knew when he was here; not one bit more, for the manner of existence he had lived in this plane had developed him just so far. What did Christ say about this? “As the tree falls, so shall it lie!” When we pass into another plane of existence, our development begins right there in that plane, just as our birth in this physical plane began our development in this life.

Đi qua bờ bên kia không tự động làm cho Samuel biết nhiều hơn khi ông còn ở đây; không hơn một chút nào, vì nếp tồn tại ông đã sống trên cõi này chỉ phát triển ông đến chừng đó. Đức Christ đã nói gì về việc này? “Cây ngã hướng nào sẽ nằm hướng ấy!” Khi chúng ta bước sang một cõi tồn tại khác, sự phát triển của ta khởi ngay tại cõi ấy, cũng như sự chào đời ở cõi hồng trần khởi sự tiến trình phát triển trong đời này.

Therefore, I believe it is a gradual growth throughout. What is Life? God. The knowledge of God, then, is the growth into Life, or the continuity of Life itself.

Vì vậy, tôi tin rằng ấy là một sự tăng trưởng dần dần suốt cả. Sự sống là gì? Là Thượng đế. Vậy, tri thức về Thượng đế là sự tăng trưởng vào trong Sự sống, hay chính là tính liên tục của Sự sống.

Another example of continuity is pointed out to us in the parable which Christ gave of the rich man and Lazarus. They had both passed into what we call death, yet both were conscious. In other words, living is being conscious of your existence, or conscious of where you are. The rich man lifted his eyes, for he was in torment. Why? The place he occupied was his own building, his own development—and he was tormented in a flame. He had the consciousness that it was fire, for he wanted water to put it out. It was a continued existence for that man, who saw Lazarus in Abraham’s bosom. He recognized Abraham, although he had never seen him. He recognized Lazarus, although he may have never paid any attention to him while on earth.

Một ví dụ khác về tính liên tục được nêu trong dụ ngôn Đức Christ nói về người giàu có và Lazarus. Cả hai đều đã đi vào điều chúng ta gọi là cái chết, thế nhưng cả hai đều còn tâm thức. Nói cách khác, sống là có tâm thức về sự hiện hữu của mình, hay có tâm thức về nơi mình đang ở. Người giàu ngước mắt lên, vì ông ở trong chốn khổ hình. Vì sao? Nơi ông ở là do chính ông xây dựng, chính sự phát triển của ông—và ông bị dày vò trong một ngọn lửa. Ông có tâm thức đó là lửa, vì ông muốn có nước để dập tắt. Ấy là một sự tồn tại tiếp diễn cho người ấy, người trông thấy Lazarus ở trong lòng Abraham. Ông nhận ra Abraham, dù chưa từng thấy ông. Ông nhận ra Lazarus, dù có thể chưa từng ngó ngàng tới ông khi còn ở trần gian.

Most of us believe the Scriptures, or at least we believe the Bible is to further our knowledge and understanding. And if we will follow it, we will come to a greater knowledge of Life, of God. We will come to a greater concept of how great Life is.

Phần đông chúng ta tin Kinh Thánh, hoặc chí ít ta tin rằng Kinh Thánh giúp thăng tiến tri kiến và sự thấu hiểu của ta. Và nếu ta chịu theo đó mà sống, ta sẽ đạt một tri tri lớn hơn về Sự sống, về Thượng đế. Ta sẽ đạt một quan niệm lớn hơn về sự vĩ đại của Sự sống.

Now why are we not conscious of the continuity of life when we are in this physical plane. Why do we not remember when we lived before? I think we do not remember because we have not been righteous enough. Christ said that if we had His consciousness within us, He would bring to our remembrance all things from the very beginning.

Vậy tại sao khi còn ở cõi hồng trần chúng ta lại không có tâm thức về tính liên tục của sự sống. Vì sao chúng ta không nhớ khi mình đã sống trước đây? Tôi nghĩ ta không nhớ vì ta chưa đủ công chính. Đức Christ nói rằng nếu chúng ta có tâm thức của Ngài ở trong mình, Ngài sẽ khiến chúng ta nhớ lại mọi điều từ thuở ban đầu.

It bothered me a great deal as a child that God spoke to the people in the Bible and did not speak to us. Now I believe that He does speak to us, if we will only listen. So often we allow the desires of our physical bodies to so outweigh our desires for spiritual knowledge that we build barriers between ourselves and God.

Thuở nhỏ, điều làm tôi phiền lòng nhiều là Thượng đế đã phán với con người trong Kinh Thánh mà lại không phán với chúng ta. Giờ đây tôi tin rằng Ngài vẫn phán với chúng ta, nếu ta chịu lắng nghe. Quá thường khi chúng ta để cho dục vọng của thân thể hồng trần lấn át khát vọng tri thức tinh thần đến nỗi chúng ta dựng nên những bức tường ngăn giữa chính mình và Thượng đế.

What prevents us from knowing more about God? Ourselves! Nothing can separate us from the love of God but ourselves—nothing! It is the will of man that can make him conscious of the knowledge of God and of all Life; it is the will of man that can separate him from his God if he enjoys rather the pleasures of the flesh for a season.

Điều gì ngăn chúng ta biết nhiều hơn về Thượng đế? Chính là bản thân chúng ta! Không gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu của Thượng đế ngoài chính chúng ta—không gì cả! Chính ý chí của con người có thể làm cho y trở nên ý thức về tri thức của Thượng đế và của mọi Sự sống; cũng chính ý chí của con người có thể tách y khỏi Thượng đế mình nếu y thích thú các lạc thú của xác thịt trong một mùa hơn.

I choose to believe that each one of us has an individual soul, that there is One Spirit, the Spirit of God, going through each and every one, and that makes each and every one of us akin, that makes all life and nature akin; for life in every form is dependent upon that force we call God. For, as matter came into being, it was permeated with the Spirit of God that gives life, with its ability to carry itself on and make of itself that which has been determined by God that it should be. Man, who was chosen to be one with God and a companion with Him from the beginning, as Adam chose rather to go his own way. But God has prepared a way, through the Christ, that we might be more conscious at all periods of our development of the life of God that is within us.

Tôi chọn tin rằng mỗi người trong chúng ta có một linh hồn cá thể, rằng có Một Thần Linh, Thần Linh của Thượng đế, đi qua mỗi người trong hết thảy, và điều ấy làm cho chúng ta thân thuộc, khiến mọi sự sống và thiên nhiên thân thuộc; vì sự sống trong mọi hình thể đều lệ thuộc vào quyền năng mà ta gọi là Thượng đế. Bởi lẽ, khi chất liệu xuất hiện, nó đã được thấm nhuần bởi Thần Linh của Thượng đế vốn ban sự sống, cùng khả năng tự duy trì và tự trở thành điều đã được Thượng đế định liệu. Con người, được chọn để hợp nhất với Thượng đế và làm bạn hữu với Ngài từ thuở ban đầu, như Adam đã chọn đi đường riêng của mình. Nhưng Thượng đế đã chuẩn bị một Con đường, qua Đức Christ, để chúng ta có thể trở nên ý thức hơn—trong mọi chặng phát triển—về đời sống của Thượng đế ở trong ta.

I have had an experience, possibly eight or ten times while giving life readings, that tells something about the planes of existence beyond this one. It happens when I am in the so-called unconscious or super-conscious state. I remember nothing of the readings, but have a very vivid impression of this experience. I knew that my spirit, mind or soul was separate from my body and that it was seeking information for another person. I passed into outer darkness that was so dark that it actually hurt—and yet there was a stream of light that I knew that I must follow and allow nothing on either side of that light to distract me from my purpose. As I passed along the forms I became conscious of forms of movement toward the light. Coming to the next plane, I realized that the forms or figures were taking shape as humans, but rather as the exaggeration of human desires. Passing a little farther, these forms were gradually lost. Still, I had the consciousness that they were seeking the light, or more light. Finally, I passed through a place where individuals appeared much as they are today—as men and women—but satisfied with their position. The number of individuals in this state of satisfaction continued to grow, and then there were homes and cities where they were content to continue as they were.

Tôi đã có một trải nghiệm, có lẽ tám hay mười lần khi thực hiện các bài đọc đời sống, hé lộ đôi điều về các cõi tồn tại bên kia cõi này. Nó xảy ra khi tôi ở trong trạng thái được gọi là vô thức hay siêu tâm thức. Tôi không nhớ gì về nội dung các bài đọc, nhưng tôi có một ấn tượng rất sinh động về trải nghiệm này. Tôi biết rằng linh, trí hay linh hồn của tôi đã tách khỏi thân thể và đang đi tìm thông tin cho một người khác. Tôi đi vào bóng tối bên ngoài tối đến mức đau buốt—thế nhưng có một dòng ánh sáng mà tôi biết mình phải theo và không được để điều gì ở hai bên dòng sáng đó làm xao lãng mục đích. Khi đi dọc theo, tôi trở nên có tâm thức về những hình thể chuyển động hướng về ánh sáng. Bước sang cõi kế tiếp, tôi nhận ra các hình thể hay hình bóng bắt đầu mang dáng nét loài người, nhưng đúng hơn là sự phóng đại của các dục vọng con người. Đi xa hơn chút nữa, các hình thể ấy dần dần tan biến. Dẫu thế, tôi vẫn có tâm thức rằng họ đang tìm ánh sáng, hay nhiều ánh sáng hơn. Sau cùng, tôi đi qua một nơi mà các cá nhân hiện ra giống như hiện nay—như những người nam và nữ—nhưng thỏa mãn với địa vị của mình. Số người trong trạng thái tự mãn ấy cứ tăng dần, rồi có nhà cửa và thành thị, nơi họ bằng lòng tiếp tục như thế.

Still following the light, which grew stronger and stronger, I heard music in the beyond. Then came a space where all was springtime, all was abloom, all was summer. Some were happy, some desired to remain, but many were pressing on and on to the place where there might be great understanding, more light, more to be gained. Then I reached a place where I was seeking the records of the lives of people that lived in the earth.

Vẫn theo luồng ánh sáng, vốn càng lúc càng mạnh, tôi nghe nhạc ở cõi bên kia. Kế đó là một miền mà tất cả là xuân thì, tất cả bừng nở, tất cả là hạ. Có người hạnh phúc, có kẻ muốn ở lại, nhưng rất nhiều người đang dấn tới mãi, tới nơi có thể có sự thấu hiểu lớn lao, nhiều ánh sáng hơn, nhiều điều để đạt lãnh hơn. Rồi tôi đến nơi tôi đang tìm kiếm các ký lục về đời sống của những người đã sống ở trần gian.

Don’t ever think that your life isn’t being written in the Book of Life. I found it! I have seen it! It is being written. You are the writer!

Đừng bao giờ nghĩ rằng đời bạn không được ghi vào Sách Sự Sống. Tôi đã tìm thấy nó! Tôi đã thấy nó! Nó đang được chép ra. Chính bạn là người viết!

As to how close your life is going to be to your Savior and to your God, you alone can answer. You alone. It is your soul that you are developing. If we want to reach that consciousness of our immortality, if we would become aware of our relationship to God, we must live it here and now. And then the next step is given to us. That has been His promise, and His promises are sure.

Đời bạn sẽ gần gũi với Đấng Cứu Rỗi và với Thượng đế của bạn đến mức nào, chỉ mình bạn có thể đáp. Chỉ mình bạn. Chính linh hồn bạn là điều bạn đang phát triển. Nếu chúng ta muốn đạt tới tâm thức về sự bất tử của mình, nếu chúng ta muốn trở nên tự nhận biết về mối tương quan của mình với Thượng đế, chúng ta phải sống điều đó ngay tại đây và bây giờ. Rồi bước tiếp theo sẽ được ban cho ta. Ấy là lời hứa của Ngài, và lời hứa của Ngài là chắc chắn.

In developing our relationship with God, it doesn’t matter what we may claim to believe. What really matters is what difference our beliefs make in our lives. It doesn’t matter whether you believe that the whale swallowed Jonah, or whether Noah was in the Ark for a whole year or only forty days. What is important is how your belief has changed your attitude toward your fellow man, or toward God.

Trong việc phát triển mối tương quan của ta với Thượng đế, điều ta tuyên xưng tin gì không phải là trọng yếu. Điều thật sự quan trọng là niềm tin của ta tạo khác biệt gì trong đời sống của ta. Không quan trọng việc bạn tin rằng cá voi đã nuốt Jonah, hay Noah ở trong Tàu cả một năm hay chỉ bốn mươi ngày. Điều hệ trọng là niềm tin của bạn đã làm thay đổi thái độ của bạn đối với đồng loại, hay đối với Thượng đế, như thế nào.

The Bible tells us about God and how men related to him—everyone from Adam and Abraham, to Isaac and Moses, to Solomon and David. Each had his own idea of God, but what we learn is that they knew God through personal experiences. Can we not get this idea? God is a personal God. Not a God of war, or a God of plenty, nor even a God of an individual leader. He is a God of all. God is in all things, and our heritage is in Him. Just as we parents feel in respect to our children, God feels about His children, His people here in this world.

Kinh Thánh kể cho chúng ta về Thượng đế và cách con người tương quan với Ngài—từ Adam và Abraham, đến Isaac và Moses, đến Solomon và David. Mỗi người đều có ý niệm riêng của mình về Thượng đế, nhưng điều chúng ta học được là họ biết Thượng đế qua những kinh nghiệm cá nhân. Há chúng ta không thể nắm lấy ý niệm này sao? Thượng đế là một Thượng đế mang tính cá nhân. Không phải là một Thượng đế của chiến tranh, hay một Thượng đế của dư dật, cũng không phải chỉ là một Thượng đế của một nhà lãnh đạo cá nhân nào. Ngài là Thượng đế của tất cả. Thượng đế ở trong muôn vật, và cơ nghiệp của chúng ta ở trong Ngài. Cũng như cha mẹ cảm nhận đối với con cái mình thế nào, Thượng đế cảm thấy về con cái Ngài, dân Ngài ở thế gian này như thế.

God’s purpose is that we make ourselves a channel through which His spirit may manifest. Some may say they do not wish to be used by God in that way. I heard a woman say this about her little boy: “I know his father wants him to become a great artist, but I don’t want him to do anything that may be called the work of genius because he will have to suffer physically.” She might just as well have said she didn’t want her boy to give up the desire of the flesh for a spiritual life. To my mind, that is a sad outlook. We see what happens in the world when people have forgotten that there is a higher purpose to life than self indulgence. That purpose is to make their wills one with the Creator. We must prepare to be used as a channel that He may manifest through us. It isn’t that we are to be bossed around by someone else, for there is nothing in the world that we can do for God. What we do we do for the other fellow, for in so doing we become one with the will of the Father. He has given us control of the physical world that we may use it for helping our fellow man. We may be the channel through which the other fellow, less fortunate than ourselves, may be aided in whatever is needed for him to gain a better conception of his relation to his God.

Mục đích của Thượng đế là để chúng ta làm cho mình thành một kênh dẫn qua đó Thần Linh của Ngài có thể ngoại hiện. Có người có thể nói họ không muốn được Thượng đế dùng theo cách ấy. Tôi từng nghe một phụ nữ nói về cậu con trai nhỏ của bà: “Tôi biết cha nó muốn nó trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng tôi chẳng muốn nó làm gì có thể được gọi là công trình thiên tài vì nó sẽ phải chịu đau khổ thể xác.” Bà ấy có thể cũng nói rằng bà không muốn con trai mình từ bỏ dục vọng xác thịt để sống đời sống tinh thần. Theo tôi, đó là một cái nhìn buồn bã. Chúng ta thấy điều gì xảy ra trên thế giới khi người ta quên rằng đời sống có một mục đích cao hơn sự phóng túng bản thân. Mục đích ấy là làm cho ý chí của họ nên một với Đấng Tạo Hóa. Chúng ta phải chuẩn bị để được dùng làm một kênh dẫn để Ngài có thể ngoại hiện qua chúng ta. Không phải là chúng ta bị ai đó sai khiến, vì không có điều gì trong đời mà chúng ta có thể làm cho Thượng đế. Điều chúng ta làm là làm cho người khác, vì khi làm thế chúng ta trở nên một với ý muốn của Cha. Ngài đã trao cho chúng ta quyền quản trị thế giới hồng trần để chúng ta dùng nó hầu giúp đỡ đồng loại. Chúng ta có thể là kênh dẫn qua đó người khác, kém may mắn hơn chúng ta, được trợ giúp mọi điều cần cho họ để đạt một quan niệm đúng đắn hơn về mối tương quan của họ với Thượng đế của họ.

It would be well to remember the decision of the great Jewish leader who said, “Others may do as they may, but for me and my house, we will worship the living God.” We are confronted daily with problems that require just such a definite stand. Let us member His promise and be strong.

Sẽ hữu ích nếu nhớ đến quyết định của vị lãnh tụ lớn của người Do Thái khi ông nói: “Người khác có thể làm theo ý họ, nhưng phần tôi và nhà tôi, chúng tôi sẽ thờ phượng Thượng đế hằng sống.” Mỗi ngày chúng ta đều đối diện với những nan đề đòi hỏi một lập trường dứt khoát như thế. Chúng ta hãy nhớ lời hứa của Ngài và vững mạnh.

So, the question that has come down to every age comes down to every individual: What is your relationship to your God? It came to Enoch, to Noah, to Abraham, to Isaac, to Moses, to Joshua, to Saul, to David, to Solomon, and it comes just the same to you and to me today. What is our relationship to God?

Vì vậy, câu hỏi đã đi qua mọi thời đại nay đến với từng cá nhân: Mối tương quan của bạn với Thượng đế của bạn là gì? Nó đã đến với Enoch, với Noah, với Abraham, với Isaac, với Moses, với Joshua, với Saul, với David, với Solomon, và nó đến y như thế với bạn và tôi hôm nay. Mối tương quan của chúng ta với Thượng đế là gì?

Remember, that in serving Him we must serve our fellow man, that we must become a channel through which God may work His divine will here on earth. When the burdens become hard to bear and you feel yourself beginning to slip away from the path you know is right, draw nearer to your God and He will draw nearer to you. As a child comes and sits at the feet of its parents, seeking guidance, asking their help, just so we must approach through prayer the God who is our Father and Creator.

Hãy nhớ rằng, trong việc phụng sự Ngài chúng ta phải phụng sự đồng loại, rằng chúng ta phải trở nên một kênh dẫn qua đó Thượng đế có thể thực hiện Thiên ý của Ngài nơi trần gian. Khi gánh nặng trở nên khó mang và bạn cảm thấy mình bắt đầu trượt khỏi con đường mà bạn biết là đúng, hãy đến gần Thượng đế của bạn hơn và Ngài sẽ đến gần bạn. Như một đứa trẻ đến ngồi dưới chân cha mẹ, tìm sự chỉ dẫn, cầu xin giúp đỡ, cũng thế chúng ta phải tiếp cận qua cầu nguyện với Thượng đế là Cha và Đấng Tạo Hóa của chúng ta.

To know God we must believe that He is. We must seek to find His face. “Seek and ye shall find, knock and it shall be opened unto you.” Now in coming to know Him, is it not evident that as we consider and help our fellow man, so do we carry out God’s work? Our relationship to our God, then, becomes our relationship to our brother. There is nothing that we can do for God, but there is much that we can do for His children, our brothers.

Để biết Thượng đế, chúng ta phải tin rằng Ngài là. Chúng ta phải tìm kiếm để thấy Tôn Nhan Ngài. “Hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho.” Nay, trong việc đến để biết Ngài, chẳng phải hiển nhiên rằng khi chúng ta quan tâm và giúp đỡ đồng loại, tức là chúng ta đang thi hành công việc của Thượng đế sao? Mối tương quan của chúng ta với Thượng đế, như vậy, trở thành mối tương quan của chúng ta với huynh đệ mình. Không có gì chúng ta có thể làm cho Thượng đế, nhưng có rất nhiều điều chúng ta có thể làm cho con cái của Ngài, các huynh đệ của chúng ta.

As we go about in our daily work let us remember to lend a helping hand wherever we may, and know that in so doing we are fulfilling the will of the Creator and coming ever nearer to our God.

Khi chúng ta đi về trong công việc hằng ngày, hãy nhớ đưa tay giúp đỡ bất cứ nơi đâu có thể, và biết rằng khi làm như thế chúng ta đang thực thi ý muốn của Đấng Tạo Hóa và càng lúc càng đến gần Thượng đế của chúng ta.

People sometimes ask which religion, or denomination, would God have us follow. I find in nature an illustration of Life itself. Consider a field of corn. Life is found in the grain of the corn. The farmer plants it in the soil, works it, and then he reaps the harvest. Not everyone selects the same kind of corn. Not every man ploughs it alike. Not everyone sows it alike. Not everyone reaps it alike. Yet, in each case it brings forth the very best—the God or the Life within each grain, which is what the man is seeking. It sustains his body, and also produces seed to raise more. That’s religion. That’s how it is with the denominations.

Người ta đôi khi hỏi Thượng đế muốn chúng ta theo tôn giáo hay giáo phái nào. Tôi thấy trong thiên nhiên một ẩn dụ về chính Sự sống. Hãy nghĩ về một cánh đồng bắp. Sự sống hiện hữu trong hạt bắp. Người nông dân gieo nó vào đất, chăm sóc, rồi gặt mùa. Không phải ai cũng chọn cùng một giống bắp. Không phải ai cũng cày cấy như nhau. Không phải ai cũng gieo như nhau. Không phải ai cũng gặt như nhau. Thế nhưng, trong mỗi trường hợp, nó đều kết ra điều tốt nhất—tức Thượng đế hay Sự sống trong từng hạt, là điều người kia đang tìm. Nó nuôi thân xác người, và cũng sản sinh hạt giống để gây thêm. Ấy là tôn giáo. Các giáo phái cũng vậy.

Now, many ask when should we expect the Second Coming.

Giờ đây, nhiều người hỏi khi nào chúng ta nên kỳ vọng Sự Tái Lâm.

Very little is known about when Christ will come again. Jesus, Himself, said that it was given only to the Father to know the time of His return. We have, however, two sources of information upon which we may draw in forming our ideas about this question. We can turn to the Bible and to information received psychically for a clarification of various passages of Scripture and for further information.

Rất ít điều được biết về thời điểm Đức Christ sẽ đến lần nữa. Chính Đức Jesus nói rằng chỉ có Cha biết thời điểm Ngài trở lại. Tuy nhiên, chúng ta có hai nguồn thông tin có thể dựa vào để hình thành ý niệm về câu hỏi này. Ta có thể trở về với Kinh Thánh và với thông tin nhận được một cách thông linh để làm sáng tỏ các đoạn Kinh và có thêm dữ kiện.

But first, how did anyone ever get the idea that there is to be a Second Coming? Jesus said, “Let not your heart be troubled; ye believe in God, believe also in me. In my Father’s house are many mansions; if it were not so, I would have told you. I go to prepare a place for you. And if I go and prepare a place for you, I will come again, and receive you unto myself; that where I am, there ye may be also.”

Nhưng trước hết, làm sao có ai lại nảy ý tưởng rằng sẽ có Sự Tái Lâm? Đức Jesus nói: “Lòng các con chớ bối rối; các con tin Thượng đế, cũng hãy tin Ta. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; nếu không, Ta đã nói cho các con rồi. Ta đi để sắm sẵn cho các con một chỗ. Và nếu Ta đi sắm sẵn cho các con một chỗ, Ta sẽ trở lại, tiếp các con về với Ta, hầu nơi Ta ở, các con cũng ở đó.”

When we look into the history of the world as we know it today, how often has a great religious leader or prophet arisen? Plato said that our cycle of entering is about every thousand years. Judging from history itself, the period of time between each religious teacher who has come into the earth varies from 625 to 1,200 years.

Khi xét lịch sử thế giới như ta biết ngày nay, đã bao lần xuất hiện một vị lãnh tụ tôn giáo hay một nhà tiên tri lớn? Plato nói rằng chu kỳ nhập thế của chúng ta là khoảng mỗi ngàn năm. Xét từ lịch sử tự thân, khoảng thời gian giữa mỗi vị giáo huấn đến với trần gian dao động từ 625 đến 1.200 năm.

Do you ask, “Is that how often you say Christ has come?” No, I don’t say that; I don’t know how many times He has come; however, if we will consider the following passages of Scripture for a few moments, an interesting idea may be formulated. These are the passages:

Bạn hỏi, “Có phải ông nói Đức Christ đến với tần suất ấy?” Không, tôi không nói vậy; tôi không biết Ngài đã đến bao nhiêu lần; dẫu vậy, nếu chúng ta chịu suy gẫm vài đoạn Kinh sau đây một chút, có thể hình thành một ý niệm thú vị. Đây là các đoạn:

“In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. The same was in the beginning with God. All things were made by him; and without him was not any thing made that was made … He was in the world, and the world was made by him, and the world knew him not … And the Word was made flesh, and dwelt among us…” (See John 1:1–14)

“Lúc khởi nguyên có Linh từ, Linh từ ở cùng Thượng đế, và Linh từ là Thượng đế. Linh từ ấy thuở ban đầu vốn ở cùng Thượng đế. Muôn vật nhờ Ngài mà nên, chẳng có một vật chi đã nên mà không bởi Ngài … Ngài ở trong thế gian, thế gian đã nhờ Ngài mà nên, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài … Và Linh từ đã trở nên xác phàm, và ở giữa chúng ta…” (Xem Giăng 1:1–14)

Many people tell us that this is speaking of spiritual things. You must answer this for yourself. But if the Word was made flesh and dwelt among men, how can we be sure that this is not speaking materially, too?

Nhiều người bảo rằng đoạn này nói về những điều thuộc linh. Bạn phải tự mình đáp lấy. Nhưng nếu Linh từ đã trở nên xác phàm và ở giữa loài người, làm sao ta chắc rằng đoạn này không nói theo nghĩa vật chất nữa?

In talking with the judges of Israel at that time, the Master said:

Khi nói với các thẩm phán của Israel lúc bấy giờ, Đức Thầy phán:

“I know that ye are Abraham’s seed; but ye seek to kill me, because my word hath no place in you … If ye were Abraham’s children, ye would do the works of Abraham … Ye are of your father the devil…” (John 8:37–44)

“Ta biết các ngươi là dòng dõi Abraham; nhưng các ngươi tìm giết Ta, vì lời Ta chẳng dung chỗ trong các ngươi … Nếu các ngươi là con cái Abraham, thì hãy làm việc của Abraham … Các ngươi thuộc về cha mình là ma quỷ…” (Giăng 8:37–44)

In the flesh, yes, they were the children of Abraham, but in spirit they were not. For what did Abraham do? He was righteous, and his deeds were counted to him for righteousness because of his faith in the One God.

Xét về xác thịt, đúng vậy, họ là con cháu của Abraham, nhưng trong Thần Linh thì không. Vì Abraham đã làm gì? Ông công chính, và các việc làm của ông được kể là công chính bởi đức tin của ông nơi Một Thượng đế.

In this same chapter, the Master said, “Your father Abraham rejoiced to see my day, and he saw it, and was glad. Then said the Jews unto Him, Thou art not yet fifty years old, and hast thou seen Abraham? Jesus said unto them, “Verily, verily, I say unto you, Before Abraham was, I am.”

Cũng trong chương này, Đức Thầy phán: “Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan vì nghĩ sẽ thấy ngày của Ta; và ông đã thấy rồi, thì mừng rỡ. Người Do Thái bèn nói cùng Ngài rằng: Ngài chưa được năm mươi tuổi, đã thấy Abraham rồi sao? Đức Jesus phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, Trước khi Abraham hiện hữu, Ta là.”

Did Jesus mean that in a spiritual sense or a literal sense—or both? What do you think? I don’t know, but what we have been told psychically is this—take it for what it is worth and apply it in your own experience.

Đức Jesus muốn nói theo nghĩa tinh thần hay theo nghĩa đen—hay cả hai? Bạn nghĩ sao? Tôi không biết, nhưng điều chúng tôi được cho biết một cách thông linh là thế này—hãy tiếp nhận theo giá trị của nó và ứng dụng trong chính kinh nghiệm của bạn.

Now turn to the fourteenth chapter of Genesis and read where Abraham paid tribute to a certain individual, Melchizedek. No cause or reason is given except that the man came out in the place to bless him: a priest of the Most High God, without days, a man not born normally, but a high priest of the living God. “And Melchizedek, king of Salem, brought forth bread and wine: and he was the priest of the most high God. And he blessed him.”

Giờ hãy mở đến chương mười bốn của Sáng thế ký và đọc chỗ Abraham dâng phần mười cho một nhân vật tên Melchizedek. Không lý do hay nguyên cớ nào được nêu ra ngoại trừ việc người ấy đi ra nơi chốn để chúc phước cho ông: một thầy tế lễ của Thượng đế Chí Cao, không ngày tháng, một con người không sinh theo lẽ thường, nhưng là một thượng tế của Thượng đế hằng sống. “Melchizedek, vua Salem, đem bánh và rượu ra; người vốn là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao. Người chúc phước cho Abram.”

Was this the Master, this Melchizedek? Read it yourself. Maybe I’m wrong in thinking he was the Master, the man we know later as Jesus.

Phải chăng đó là Đức Thầy, là Melchizedek? Hãy tự đọc lấy. Có thể tôi sai khi nghĩ rằng đó là Đức Thầy, vị mà về sau ta biết là Đức Jesus.

Consider now, the book of Joshua. Who directed Joshua when he became the leader of Israel? Who walked out to lead Joshua after he crossed the Jordan? The Bible says, the Son of Man came out to lead the armies of the Lord. And after Joshua’s experience in meeting this man of God, all of the children of Israel were afraid of him. (See Joshua 5:13–15)

Giờ hãy xét sách Joshua. Ai đã hướng dẫn Joshua khi ông trở nên người lãnh đạo Israel? Ai đã đi ra để dẫn Joshua sau khi ông vượt Jordan? Kinh Thánh nói: Con của loài người đi ra để dẫn đạo các đạo binh của Đức Chúa Trời. Và sau kinh nghiệm của Joshua khi gặp vị người của Thượng đế này, mọi con cái Israel đều run sợ ông. (Xem Giô-suê 5:13–15)

From these references, let us draw a few conclusions and supplement them with psychic information. The Spirit of the Christ manifested in the earth many times before the coming of Jesus; at times it manifested through one like Melchizedek, and at other times it manifested as a spiritual influence through some teacher upholding the worship of the One God.

Từ những tham chiếu này, chúng ta hãy rút ra vài kết luận và bổ túc chúng bằng thông tin thông linh. Thần Linh của Đức Christ đã ngoại hiện ở trần gian nhiều lần trước khi Đức Jesus đến; có khi Ngài ngoại hiện qua một người như Melchizedek, và những khi khác Ngài ngoại hiện như một ảnh hưởng tinh thần qua một số vị thầy đề xướng việc thờ phượng Một Thượng đế.

What has this conclusion to do with the Second Coming? Well, in the light of the above, there ceases to be a second coming. Also, by considering conditions that made His appearance possible at various times—or, if you prefer, the one time as Jesus, we can deduce certain facts about the return of the Master.

Kết luận này liên quan gì đến Sự Tái Lâm? Ồ, dưới ánh sáng của điều trên, chẳng còn khái niệm “lần đến thứ hai”. Đồng thời, bằng cách xét các điều kiện khiến cho Sự xuất hiện của Ngài khả hữu vào những thời điểm khác nhau—hoặc, nếu bạn thích, vào một lần là Đức Jesus, chúng ta có thể suy diễn một số dữ kiện về sự trở lại của Đức Thầy.

How did He happen to come as Jesus of Nazareth? There has not been a revelation to man, of which we have any record, for over four hundred years. Then did darkness and dissipation on the part of man bring Christ into the world? If so, it is a reversal of the natural law: like begets like. The laws of God are not reversed at any time and never will be. They are immutable and hold true throughout any kingdom in the earth. The things we see developing in the various kingdoms in this earth are merely shadows of the celestial and terrestrial world. For we grow in grace and knowledge and understanding, as another Bible writer has said. By what means comes growth? By application of truths in our lives.

Làm sao Ngài lại đến với tư cách là Đức Jesus người Nazareth? Đã hơn bốn trăm năm không có một mặc khải nào cho loài người, theo sử liệu chúng ta có. Vậy, chính bóng tối và sự trụy lạc của con người đã đem Đức Christ vào thế gian sao? Nếu vậy, đó là một sự đảo ngược định luật tự nhiên: đồng khí tương cầu. Định luật của Thượng đế không bị đảo ngược bất kỳ lúc nào và sẽ không bao giờ. Chúng bất biến và chân thực trong mọi giới ở cõi trần. Những gì ta thấy phát triển trong các giới khác nhau ở trần gian chỉ là bóng của thế giới thiên thượng và địa thượng. Vì chúng ta tăng trưởng trong ân điển, trong tri kiến và sự thấu hiểu, như một tác giả Kinh Thánh khác đã nói. Sự tăng trưởng đến bằng phương tiện nào? Bằng việc ứng dụng chân lý trong đời sống chúng ta.

Then what brought about the coming of Jesus? A people who were sincere seekers—a little group founded for the purpose of seeking to make themselves channels whereby this great thing could come to pass. Who were these people? They were the most hated of all those mentioned in profane history, and scarcely mentioned in the Bible—the Essenes, the hated ones, the lowest of the Jews.

Vậy điều gì đã đưa đến sự giáng thế của Đức Jesus? Một dân tộc chân thành tìm kiếm—một nhóm nhỏ được thành lập với mục đích cố gắng làm cho mình trở thành các kênh dẫn nhờ đó điều vĩ đại này có thể xảy ra. Họ là ai? Họ là những người bị ghét bỏ nhất trong tất cả những nhóm được nói đến trong lịch sử thế tục, và hầu như không được nhắc đến trong Kinh Thánh—những người Essenes, những kẻ bị ghét, tầng lớp thấp nhất trong vòng người Do Thái.

How can we know this? We received it psychically. But how many more times was Zacharias allowed to go up and offer sacrifices, after being spoken to once, within the temple? Never again! For he had joined that hated group and thereby made his son—who by lineal descent was a high priest—an outcast.

Làm sao chúng ta biết điều này? Chúng tôi nhận được bằng con đường thông linh. Nhưng Zacharias còn được phép bao nhiêu lần nữa lên dâng tế lễ, sau khi đã một lần được phán bảo ở trong đền thờ? Không bao giờ nữa! Vì ông đã gia nhập nhóm bị ghét ấy và do đó biến con trai mình—người theo dòng dõi thẳng thì là một thượng tế—thành kẻ bị ruồng bỏ.

Who was the cousin of Elizabeth? Mary, the mother of Him we worship as our Lord and Master. Mary sought first her cousin Elizabeth, the mother of the great Essene, John the Baptist, to tell the great tidings that the angel had made known to her.

Ai là chị em họ của Elizabeth? Mary, mẹ của Đấng mà chúng ta tôn thờ là Chúa và Thầy của mình. Mary đã tìm đến chị họ Elizabeth trước nhất, mẹ của vị Essene vĩ đại là John the Baptist, để báo tin mừng mà thiên sứ đã truyền cho bà.

These Essenes, then, were consecrating and dedicating their lives, their inner selves, to make possible a meeting place for God and man, with such a spiritual degree of consecration that Jesus the Christ might come into the world. Thus there was a preparation, where there might be the meeting place for God and man. And if we will have a meeting place in our heart, our home, our group, our church, then we too can have the Christ come to us. When we have prepared the place, He will come—and not before.

Vậy, những người Essenes đã dâng hiến và thánh hiến đời sống mình, nội tâm mình, để làm khả hữu một nơi gặp gỡ giữa Thượng đế và con người, với một mức độ thánh hiến tinh thần đến nỗi Đức Jesus the Christ có thể đến với thế gian. Như thế đã có sự chuẩn bị, hầu có nơi gặp gỡ giữa Thượng đế và con người. Và nếu trong lòng, trong nhà, trong nhóm, trong giáo hội của mình, chúng ta cũng có một nơi gặp gỡ như thế, thì Đức Christ cũng có thể đến với chúng ta. Khi chúng ta đã chuẩn bị chốn ấy, Ngài sẽ đến—và không trước đó.

We can’t say that we are diligently seeking, but He has gone to somebody else. It isn’t common sense. We can’t say that somebody else has to prepare the way for us. He will come again, yes; and He will come as He is. His spirit is here always. It will abide with us always.

Chúng ta không thể nói rằng mình đang chuyên tâm tìm kiếm, nhưng Ngài đã đi đến với người khác. Điều ấy không hợp lẽ thường. Chúng ta không thể nói rằng phải có ai khác chuẩn bị đường cho chúng ta. Ngài sẽ đến lần nữa, đúng vậy; và Ngài sẽ đến như chính Ngài là. Thần Linh của Ngài hằng ở đây. Ngài sẽ ở với chúng ta luôn luôn.

In no place where the Master taught was He accepted, and He taught in Palestine, Egypt, India, Persia, China, and Japan, at least.

Ở không nơi nào Đức Thầy đã giảng dạy mà Ngài được tiếp nhận, và Ngài đã dạy ở Palestine, Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư, Trung Hoa, và Nhật Bản, ít nhất là vậy.

We believe that He descended into hell and taught those there. We read it in the Bible and we say it is true. But we don’t really believe it, else we would act like it! If we did believe it, we would never find fault with any soul in the world—never! For if we believe that He went into hell and taught the people there, how could we find fault with our next-door neighbor because his chickens got into our garden or he doesn’t believe exactly as we do?

Chúng ta tin rằng Ngài đã giáng xuống địa ngục và dạy dỗ những người ở đó. Chúng ta đọc điều ấy trong Kinh Thánh và chúng ta nói đó là thật. Nhưng chúng ta không thật sự tin, bằng không chúng ta đã hành động tương xứng! Nếu chúng ta tin, ta sẽ không bao giờ chê trách bất kỳ linh hồn nào trên đời—không bao giờ! Vì nếu ta tin rằng Ngài đã vào địa ngục và dạy dỗ người ở đó, làm sao ta có thể chê trách người láng giềng vì gà của họ vào vườn ta hay vì họ không tin đúng như ta tin?

Is this in your Bible: “Moreover I will endeavor that ye may be able after my decease to have these things always in remembrance.” (II Peter 1:15) Did you ever hear a sermon preached on it? The man who said that is the one of whom Christ said: “… flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven.” (Matt. 16:17) To the same man, perhaps only a few minutes afterward, He said, “Get thee behind me, Satan; thou art an offense unto me: for thou savourest not the things that be of God, but those that be of men”—the things of the flesh and not the things of the spirit. (Matt. 16:23)

Điều này có trong Kinh Thánh của bạn không: “Hơn nữa, tôi sẽ chuyên cần để sau khi tôi qua đời, anh em còn có thể luôn luôn nhớ lại những điều này.” (II Phi-e-rơ 1:15) Bạn đã bao giờ nghe một bài giảng nào về câu ấy chưa? Người đã nói câu đó chính là người mà Đức Christ phán rằng: “… chẳng phải thịt và huyết bày tỏ điều này cho ngươi, bèn là Cha Ta ở trên trời.” (Ma-thi-ơ 16:17) Và với người đó, có lẽ chỉ vài phút sau, Ngài phán: “Hỡi Sa-tan, hãy lùi ra đằng sau Ta; ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc của Thượng đế, chỉ nghĩ đến việc của loài người”—tức những điều của xác thịt chứ không phải những điều của Thần Linh. (Ma-thi-ơ 16:23)

The Master said, “Elias truly shall first come, and restore all things. But I say unto you, That Elias is come already, and they knew him not, but have done unto him whatsoever they listed. Likewise shall also the Son of man suffer of them. Then the disciples understood that he spake unto them of John the Baptist.” (Matt. 17:11–13)

Đức Thầy phán: “Quả thật, Ê-li sẽ đến trước và phục hồi muôn sự. Nhưng Ta nói cùng các ngươi, Ê-li đã đến rồi, mà người ta không nhận biết, lại đã đãi người theo ý họ muốn. Con người cũng sẽ chịu khổ bởi họ như vậy. Bấy giờ, môn đồ hiểu rằng Ngài phán về Giăng Báp-tít.” (Ma-thi-ơ 17:11–13)

Possibly you may say that He meant in the spirit and not in the flesh; but I don’t read it that way.

Có thể bạn sẽ nói rằng Ngài muốn nói về phương diện tinh thần chứ không phải về xác phàm; nhưng tôi không đọc như thế.

A warning was once given to a man of God that a certain country would be destroyed; but the man prayed and talked with God face to face, and God promised that if there were fifty righteous men he would save it. Then finally, if there were just ten righteous men, He could spare the city.

Một lần nọ có lời cảnh báo được trao cho một người của Thượng đế rằng một xứ nọ sẽ bị hủy diệt; nhưng người ấy đã cầu nguyện và nói chuyện cùng Thượng đế mặt đối mặt, và Thượng đế hứa rằng nếu có năm mươi người công chính thì Ngài sẽ cứu. Sau cùng, nếu chỉ có mười người công chính, Ngài cũng có thể dung tha thành.

I believe that the just people in the world keep it going. The just people are the ones who have been kind to the other fellow. For we may see evidences of the Christ Spirit about us right now, day by day: in kindness, patience, long-suffering, showing brotherly love, preferring our neighbor before ourselves. When there are possibly fifty, or a hundred, or a thousand, or a million, then the way may have been prepared for His coming. But all these just men must have united in their desire and supplication that the Christ physically walk among men again.

Tôi tin rằng những người công chính đang giữ cho thế giới này tiếp tục vận hành. Người công chính là kẻ đã tỏ lòng nhân ái với người khác. Vì chúng ta có thể thấy những dấu hiệu của Thần Linh Đức Christ quanh ta ngay bây giờ, từng ngày: ở lòng nhân từ, nhẫn nại, chịu đựng lâu dài, biểu lộ tình huynh đệ, nhường người lân cận hơn chính mình. Khi có thể là năm mươi, hay một trăm, hay một ngàn, hay một triệu, thì con đường có lẽ đã được chuẩn bị cho Sự đến của Ngài. Nhưng tất cả những người công chính ấy phải hợp nhất trong ước muốn và lời khẩn cầu rằng Đức Christ lại bước đi giữa loài người trong thân xác.

He for our sakes became flesh. How many times? Answer for yourself. How soon will He come again? When we make it possible. It was made possible at least once. It will be made possible again. When we live the life He has laid out for us, we are making it possible for Him, the Lord and Master of this world, to come again.

Vì cớ chúng ta, Ngài đã trở nên xác phàm. Bao nhiêu lần? Hãy tự đáp. Bao lâu nữa Ngài sẽ đến? Khi chúng ta làm cho điều ấy khả hữu. Điều ấy đã được làm cho khả hữu ít nhất một lần. Nó sẽ lại được làm cho khả hữu. Khi chúng ta sống đời sống Ngài đã vạch ra cho ta, là chúng ta đang làm cho điều ấy khả hữu để Ngài, Chúa Tể và Thầy của thế gian này, đến lần nữa.

“I will not leave you comfortless, but I will come again, and receive you unto myself, that where I am, there ye may be also.”

“Ta sẽ không để các con mồ côi đâu, nhưng Ta sẽ trở lại, tiếp các con về cùng Ta, hầu nơi Ta ở, các con cũng ở đó.”