As due to my ideal of candour, I must recall a circumstance which threw a doubt once upon my competency as a witness as to the above incident. While in London in 1884, I was examined as a witness before a Special Committee of the Society for Psychical Research, and told the above story among others. A member of the committee in cross-examination, so to say, put to me the question how I could be sure that Madame Blavatsky had not employed some tall Hindu to play this farce on me, and that as to the supposed mysterious details my fancy might not have played me false. I was thereupon seized with such a disgust for their cruel suspicion of H. P. B., and their seemingly dishonourable shirking of palpable spiritual facts under cover of assumed astuteness, that I hastily answered, among other things, that I had never until that moment seen a Hindu in my life. The circumstance of my having actually made in 1870 the voyage across the Atlantic with two Hindu gentlemen, one of whom was later our close friend at Bombay—Mooljee Thackersey—entirely slipped out of my mind. This was a clear case of amnesia (loss of memory) for I had not the least intention or interest in concealing so commonplace a circumstance; the meeting of 1870, fourteen years before the examination of me by the S. P. R., had left no such mark in my memory as to be recalled in my moment of anger, and so the force of my testimony was weakened to that extent. A meeting with Hindus five years or so before I knew H. P. B., and, through her, the real India, would not have been of paramount importance to a man of such multifarious acquaintance-ships and adventures as myself. Yes, it was amnesia; but amnesia is not lying, and my story is true, even though some may doubt it. And this is the fitting place for me to say that, as some of my chapters were written while travelling, away from my books and papers, and especially as much of it is written from memory only of the long-past events, I beg indulgence for any unintentional mistakes that may be discovered. I try my best to be accurate and certainly shall be truthful.
Vì lý tưởng thẳng thắn của mình, tôi phải nhắc lại một tình huống đã từng gieo sự nghi ngờ về năng lực làm chứng của tôi trong biến cố vừa thuật. Khi ở London năm 1884, tôi được mời làm chứng trước một Ủy ban Đặc biệt của Hội Nghiên cứu Thông linh, và đã kể câu chuyện trên cùng các câu chuyện khác. Một uỷ viên trong phần “đối chất”, có thể nói vậy, đã hỏi tôi làm sao tôi chắc chắn rằng Madame Blavatsky không thuê một người Ấn cao lớn nào đến đóng trò lừa này với tôi, và rằng về những chi tiết tưởng như mầu nhiệm thì trí tưởng tượng của tôi không tự vẽ vời. Lập tức tôi tràn ngập chán ghét trước sự nghi ngờ tàn nhẫn của họ đối với H. P. B., và sự trốn tránh xem thường những sự kiện tinh thần hiển nhiên dưới tấm áo giả vờ tinh ranh, đến nỗi tôi hấp tấp trả lời, ngoài các điều khác, rằng tôi chưa từng thấy một người Ấn nào trong đời cho đến khoảnh khắc đó. Việc tôi đã thực sự vượt Đại Tây Dương năm 1870 cùng hai quý ông Ấn Độ, một trong hai về sau là bạn thân của chúng tôi ở Bombay—Mooljee Thackersey—hoàn toàn trượt khỏi trí nhớ. Đây là một trường hợp rõ ràng của chứng quên (mất trí nhớ), vì tôi hoàn toàn không có ý định hay lợi ích gì mà lại giấu giếm một chuyện tầm thường đến thế; cuộc gặp năm 1870, mười bốn năm trước khi tôi được S. P. R. thẩm vấn, đã không để lại dấu ấn gì đủ mạnh trong ký ức để được gợi lại trong cơn phẫn nộ chợt bùng ấy, và vì thế sức nặng lời chứng của tôi đã bị suy giảm phần nào. Một cuộc gặp người Ấn năm năm hay hơn trước khi tôi biết H. P. B. và, qua Bà, Ấn Độ thật, sẽ không phải điều hệ trọng hàng đầu với một người có các mối giao du và cuộc phiêu bạt phong phú như tôi. Vâng, đó là chứng quên; nhưng chứng quên không phải là nói dối, và câu chuyện của tôi là thật, dù ai đó có thể nghi hoặc. Và đây là nơi thích hợp để tôi nói rằng, do một số chương được viết trong khi đi đường, xa sách vở và giấy tờ, và nhất là vì nhiều phần chỉ viết dựa vào ký ức về các sự kiện đã xa, tôi mong được lượng thứ cho những sai sót vô tình có thể bị phát hiện. Tôi cố gắng hết sức để chính xác và dứt khoát sẽ chân thực.
I now pass on to my personal experiences in projections of the Double. In connection with this phenomenon let me give a word of caution to the less advanced student of practical psychology; the power of withdrawing the astral body from the physical is no necessary proof of high spiritual development. The contrary isbelieved, by perhaps the majority of dabblers in occultism, but they are wrong. A first and sufficient proof is that the emergence of the astral body happens very often with men and women who have given little or no time to occult research, have followed no yogic system, have made no attempts to do the thing, have usually been frightened or much ashamed and vexed when convicted of it, and have not been in the least remarkable above the average of persons for purity of life and thought, spirituality of ideal, or the “gifts of the spirit” of which the Scripture speaks; often the very opposite. Then, again, the annals of the Black Art teem with numberless instances of the visible, and invisible (save clairvoyantly), projection of the Double by wicked persons bent on mischief; of bilocations, hauntings of hated victims, lycanthropical masqueradings, and other “damnable witchcrafts “. Then, again, there are the three or four or more thousand cases of projections of the Double by all sorts and conditions of men, some no better than they should be, if not a good deal worse occasionally, that have been recorded and winnowed down by the S.P.R., and the yet more thousands not garnered into their cast-iron granary; all combining to prove the truth of my warning, that one must not in the least take the mere fact that a certain person can travel—whether consciously or unconsciously it matters not—in the astral body as evidence that that person is either better, wiser, more spiritually advanced, or better qualified to serve as Guru, than any other person not so endowed. It is simply the sign that the subject of the experience has, either congenitally or by subsequent effort, loosened the astral body in its sheath, and so made it easier for it to go out and return again, when the outer body is naturally or hypnotically asleep, hence un-obstructive. The reader will recall, in this connection, the satin picture of M. A. Oxon’s experiments in this direction which H. P. B. made for me. Somehow or other, I have never found the time for self-training in yoga since I took up my line of practical work in our theosophical movement. I never seemed to care whether I acquired any psychical powers or not, never aspired to guruship, nor cared whether I could or could not attain Liberation during this life. To serve mankind always seemed to me the best of yogas, and the ability to do even a little towards spreading knowledge and diminishing ignorance, an ample reward. So it never entered my mind in the early days that I might train myself as a seer or a wonder-worker, a metaphysician or an adept; but I have been going on all these years on the hint given me by a Master, that the best way to seek them was through the Theosophical Society: a humble sphere, perhaps, yet one well within my limited capabilities, thoroughly congenial and at the same time useful. In telling about my early goings out of the body, I must not be thought, therefore, to be pluming myself upon my supposed high spiritual development, nor intending to boast of special cleverness as a psychic. The fact is, I presume, I was helped to get this, along with many other psychical experiences, as a basis of the special education needed by one who had such work as mine cut out for him.
Giờ tôi chuyển sang những trải nghiệm cá nhân của mình về việc phóng chiếu Song trùng. Liên quan đến hiện tượng này, cho phép tôi gửi một lời cảnh giác tới những đạo sinh còn ít kinh nghiệm của tâm lý học thực hành; năng lực rút thể cảm dục khỏi thể xác không phải bằng chứng tất yếu của sự phát triển tinh thần cao. Điều ngược lại lại được phần đông những người tò mò về huyền bí học tin là đúng, nhưng họ đã sai. Bằng chứng đầu tiên và đủ đầy là việc xuất ly thể cảm dục xảy ra rất thường nơi những người nam và nữ ít hoặc hầu như không dành thì giờ cho việc khảo cứu huyền bí, không theo hệ thống yoga nào, chẳng thử làm điều ấy, thường kinh sợ hoặc xấu hổ và bực bội khi bị bắt quả tang, và chẳng nổi bật hơn người trung bình về thanh khiết đời sống và tư tưởng, về lý tưởng tinh thần hay “các ân tứ của Thần Linh” mà Kinh Thánh nói; thậm chí là trái ngược. Rồi nữa, ký sự của Hắc thuật đầy ắp vô số trường hợp phóng chiếu Song trùng có thể thấy được, và vô hình (trừ khi nhìn bằng thông nhãn), bởi những kẻ gian ác mưu hại; những hiện tượng hiện diện lưỡng xứ, ám theo các nạn nhân bị ghét, giả trang hoá sói, và các “tà phép đáng nguyền rủa” khác. Rồi lại nữa, có ba bốn nghìn hay hơn trường hợp phóng chiếu Song trùng bởi đủ hạng người, một số chẳng hơn người ta mong đợi, nếu không nói đôi khi tệ hơn nhiều, đã được S.P.R. ghi chép và sàng lọc, và còn hàng nghìn trường hợp khác chưa thu vào kho chứa cứng nhắc của họ; tất cả hợp lại chứng minh cho lời cảnh báo của tôi, rằng tuyệt đối không nên lấy thực tế một người có thể du hành—dù có ý thức hay vô thức không quan trọng—trong thể cảm dục làm bằng chứng rằng người ấy tốt hơn, khôn hơn, tiến bộ tinh thần hơn, hay xứng đáng làm Đạo sư hơn, so với người khác không có năng lực ấy. Đó đơn giản chỉ là dấu hiệu rằng chủ thể của trải nghiệm đã, hoặc bẩm sinh, hoặc do nỗ lực về sau, làm lỏng sự kết nối của thể cảm dục trong vỏ của nó, nhờ vậy khiến nó dễ dàng xuất ra và trở về, khi thân ngoài ngủ tự nhiên hay bị thôi miên, do đó không còn cản trở. Bạn đọc hẳn sẽ nhớ, liên quan điều này, bức tranh trên sa-tanh về những thí nghiệm theo hướng đó của M. A. Oxon mà H. P. B. làm cho tôi. Không hiểu sao, tôi chưa từng thu xếp được thời gian tự luyện yoga kể từ khi tôi chọn lấy con đường công việc thực tế trong phong trào Thông Thiên Học của chúng ta. Tôi dường như không bận tâm liệu mình có đạt được quyền năng thông linh nào hay không, không mong địa vị Đạo sư, cũng không bận chuyện có đạt Giải thoát trong kiếp này hay không. Phụng sự nhân loại với tôi dường như là yoga tối hảo, và năng lực làm được dù một chút ít trong việc truyền bá tri thức và giảm bớt vô minh, đã là phần thưởng dư dật. Bởi vậy trong những ngày đầu, ý nghĩ tự rèn luyện mình thành nhà thông nhãn hay người tạo hiện, nhà siêu hình hay bậc chân sư, chưa bao giờ vào tới đầu tôi; tôi đã đi suốt những năm qua theo gợi ý một vị Chân sư đã trao tôi, rằng cách tốt nhất để tìm Các Ngài là qua Hội Thông Thiên Học: một phạm vi khiêm tốn, có lẽ vậy, song nằm gọn trong giới hạn khả năng của tôi, hoàn toàn tương hợp và đồng thời hữu ích. Vậy nên, khi kể về những lần đầu tôi xuất ly, xin đừng nghĩ rằng tôi đang khoe khoang về sự phát triển tinh thần cao giả định của mình, hoặc có ý khoe khéo về tài thông linh. Thực tế, tôi đoán rằng tôi được trợ giúp để có điều này, cùng với nhiều trải nghiệm thông linh khác, làm nền cho chương trình giáo dục đặc thù cần thiết cho người được định phó thác công việc như của tôi.
Here is one of my facts: H. P. B. and I had one evening in 1876, while we were living in West 34th St., [55] finished writing a chapter of the original draft of Isis Unveiled, and on parting for the night, laid away the great pile of “copy” in a pasteboard box, with the first page on top, the last at the bottom of the heap. She occupied the flat directly under my own, in the second story of the apartment-house, and both of us, of course, locked our outer doors to keep out thieves. While undressing it occurred to me that if I had added certain three words to the final sentence of the last paragraph, the sense of the whole paragraph would have been strengthened. I was afraid I might forget them in the morning, so the whim came to me that I might try to go down to the writing-room below stairs in my Double and perhaps write them phenomenally. Consciously, I had never travelled thus before, but I knew how it must be attempted, viz., by fixing the intention to do it firmly in the mind when falling asleep, and I did so. I knew nothing more until the next morning, when, after dressing and taking my breakfast, I stopped in at H. P. B.’s flat to bid her good-bye on my way to my office. “Well”, she said, “pray tell me what the deuce you were doing here last night after you went to bed?” “Doing”, I replied, “what do you mean?” “Why”, she rejoined, “I had got into bed and was lying there quietly, when lo! I saw my Olcott’s astral body oozing through the wall. And stupid and sleepy enough you seemed, too! I spoke to you, but you did not reply. You went to the writing-room and I heard you fumbling with the papers; and that’s all. What were you about?” I then told her of my intended experiment: we went together into the other room, emptied out the pile of MS., and on the last page, at the end of the concluding paragraph, found two of the intended three words fully written out in my own handwriting and the third begun, but not finished: the power of concentration seeming to have become exhausted, and the word ending in a scrawl! How I handled the pencil, if I did handle it, or how I wrote the words without handling it, I cannot say: perhaps I was able just that once to precipitate the writing with the help of one of H. P. B.’s benevolent elementals, by utilising molecules of the plumbago from either of the lead pencils lying on the table along with the manuscript. Be it as it may, the experience was useful.
Đây là một sự kiện của tôi: Một buổi tối năm 1876, khi chúng tôi đang sống ở Phố Tây 34, H. P. B. và tôi vừa viết xong một chương của bản thảo gốc Isis Unveiled, và khi chia tay đi nghỉ đêm, đã xếp chồng “bản thảo” vào một chiếc hộp bìa cứng, với trang đầu ở trên cùng, trang cuối ở đáy chồng giấy. Bà ở căn hộ ngay dưới căn của tôi, trên tầng hai của toà nhà, và dĩ nhiên cả hai chúng tôi đều khoá cửa ngoài để phòng trộm. Trong lúc thay đồ, tôi chợt nghĩ rằng nếu thêm ba từ nhất định vào câu cuối của đoạn cuối, ý nghĩa toàn đoạn sẽ được tăng cường. Tôi sợ sáng mai lại quên, nên chợt nảy ý thử xuống phòng viết dưới nhà trong Song trùng của mình và có lẽ sẽ viết chúng theo lối hiện tượng. Có ý thức mà nói, tôi chưa từng du hành như vậy bao giờ, nhưng tôi biết phải thử như thế nào, tức là cố định vững vàng ý định thực hiện trong tâm khi chìm vào giấc ngủ, và tôi đã làm như vậy. Tôi chẳng biết gì thêm cho đến sáng hôm sau, khi sau khi mặc quần áo và ăn sáng xong, tôi ghé căn hộ của H. P. B. chào Bà trên đường đi làm. “Vâng,” Bà nói, “xin cho biết rốt cuộc đêm qua sau khi đi ngủ ông làm gì ở đây thế?” “Làm gì ư,” tôi đáp, “ý Bà là sao?” “Ơ này,” Bà tiếp, “Tôi đã lên giường và nằm yên, thì kìa! Tôi thấy thể cảm dục của Olcott nhà tôi rịn qua bức tường. Và ông trông ngớ ngẩn, lại ngái ngủ lắm! Tôi gọi mà ông không đáp. Ông vào phòng viết và tôi nghe tiếng ông lục đụng giấy tờ; và thế thôi. Ông làm trò gì vậy?” Tôi bèn kể cho Bà nghe thí nghiệm dự định của mình: chúng tôi cùng vào phòng kia, đổ chồng bản thảo ra, và trên trang cuối, ở cuối đoạn kết, thấy hai trong ba từ dự định đã được viết trọn bằng chính bút tích của tôi và từ thứ ba đã bắt đầu, nhưng chưa xong: dường như năng lực tập trung đã cạn, và từ ấy kết thúc bằng một nét ngoằn ngoèo! Tôi đã cầm bút bằng cách nào, nếu có cầm, hay đã viết ra những chữ ấy ra sao nếu không cầm bút, tôi không thể nói: có lẽ lần ấy tôi đủ khả năng để ngưng tụ chữ viết với trợ giúp của một trong các hành khí thiện lành của H. P. B., bằng cách sử dụng các phân tử than chì từ một trong những cây bút chì trên bàn cùng với bản thảo. Dẫu thế nào đi nữa, trải nghiệm ấy thật hữu ích.
The reader should take note of the fact that my writing in the phenomenal way stopped at the point where, from inexperience, I let my will wander away from the work in hand. To fix it immovably is the one thing indispensable, just as it is the necessary concomitant of good work on the normal intellectual plane. In the Theosophist for July, 1888 (Art. “Precipitated Pictures at New York”), I explained the connection between the concentration of trained will-power and the permanency of precipitated writings, pictures, and other similar proofs of the creative power of the mind. I instanced the very interesting and suggestive details of the projection of the Double and the precipitation of writing, given by Wilkie Collins in his novel, The Two Destinies-a book, in its way, as well worth reading by any student of occultism, [56] as Zanoni, A Strange Story, or The Coming Race. I cited, further, the case of the Louis portrait precipitated for Mlle. Liebert and myself, which faded out by the next morning, but was caused by H. P. B. to subsequently reappear at Mr. Judge’s request, and to be so “fixed” as to be still as sharp and fresh after the lapse of many years as when first made. But no amount of reading or experimentation at second hand can compare with even one little original experience, like the one of mine above described, in its power to make one realise the truth of the universal cosmic operation of thought creating form. The sloka Bahûsyam Prajâyeyaiti, etc. (VIth Anuvâka, 2nd Valli, Taittiryiâka-Upanishad), “He (Brahmâ) wished, may I be many, may I grow forth. He brooded over himself. After he had thus brooded, he sent forth all, whatever there is. Having sent forth, he entered it”; is to me profoundly instructive. It has a meaning immeasurably deeper, truer, more suggestive to one who has himself meditated and then created form, than to him whose eyes have but read the words on the page, without the echoing assent coming from within one’s being.
Bạn đọc nên lưu ý rằng việc viết bằng phương cách hiện tượng của tôi đã dừng đúng lúc mà, do thiếu kinh nghiệm, tôi để ý chí rời khỏi công việc đang làm. Cố định nó bất động là điều kiện nhất thiết, đúng như nó là yếu tố đồng hành không thể thiếu của công việc tốt trên bình diện trí tuệ bình thường. Trong Theosophist số tháng 7, 1888 (bài “Precipitated Pictures at New York”), tôi đã giải thích mối liên hệ giữa sự tập trung của ý chí được rèn luyện và tính bền vững của những chữ viết, bức tranh ngưng tụ và các bằng chứng tương tự về quyền năng sáng tạo của tâm. Tôi đã nêu những chi tiết thú vị và gợi ý về việc phóng chiếu Song trùng và ngưng tụ chữ viết, do Wilkie Collins trình bày trong tiểu thuyết The Two Destinies—một cuốn, theo cách của nó, đáng để bất kỳ đạo sinh huyền bí học nào đọc, như Zanoni, A Strange Story hay The Coming Race. Tôi cũng dẫn trường hợp bức chân dung Louis được ngưng tụ cho Mlle. Liebert và tôi, vốn phai nhạt vào sáng hôm sau, nhưng sau đó đã được H. P. B. làm cho tái hiện theo yêu cầu của ông Judge, và được “cố định” đến nay vẫn sắc nét tươi mới sau nhiều năm như lúc mới thành. Nhưng không lượng đọc sách hay thí nghiệm gián tiếp nào có thể so sánh, về sức mạnh làm người ta thấu triệt chân lý về tác động vũ trụ phổ quát của tư tưởng tạo hình, với dù chỉ một trải nghiệm nhỏ do chính mình, như trải nghiệm của tôi vừa kể. Bài kệ Bahûsyam Prajâyeyaiti, v.v. (Anuvâka VI, Valli II, Taittiriyaka-Upanishad), “Ngài (Brahmâ) ước: ước chi Ta là nhiều, ước chi Ta phát lộ. Ngài chiêm nghiệm chính mình. Sau khi đã chiêm nghiệm như vậy, Ngài tuôn đổ ra tất cả, bất cứ điều gì hiện hữu. Khi đã tuôn đổ, Ngài đi vào trong đó”; đối với tôi thật vô cùng chỉ giáo. Nó có ý nghĩa sâu xa vô lượng, chân thực, gợi mở hơn vô hạn đối với người đã tự mình tham thiền rồi sáng tạo hình tướng, so với kẻ mắt chỉ đọc chữ trên trang giấy mà không có tiếng vọng đồng tình từ nội tâm.
I recall another case of my projecting my Double, which illustrates the law known as “repercussion”. The reader may find the amplest materials for forming a correct opinion on this subject in the literature of Witchcraft, Sorcery, and Magic. The word “repercussion” means, in this connection, the reacting upon one’s physical body of a blow, stab, or other injury, inflicted upon the Double while it is projected and moving about as a separate entity: “bilocation” is the simultaneous appearance of a person in two places; one appearance that of the physical, the other that of the astral body, or Double. M. d’Assier discusses both in his Posthumous Humanity, and in my English version of that excellent work, I add remarks of my own upon the subject. Speaking of the infliction of injuries upon their victims by sorcerers who could duplicate their bodies and visit them in the Double, the author says (p. 224): “The sorceress entered into the house of him against whom she had a revenge to gratify, and vexed him in a thousand ways. If the latter were resolute, and had a weapon available, it would often happen that he would strike the phantom, and upon recovering from her trance, the sorceress would find upon her own body the wounds she had received in the phantasmal struggle.”
Tôi nhớ một trường hợp khác tôi phóng chiếu Song trùng, minh hoạ cho quy luật gọi là “phản ứng dội (repercussion)”. Bạn đọc có thể tìm thấy tư liệu phong phú nhất để hình thành ý kiến đúng đắn về đề tài này trong văn liệu về Phù thủy, Yếm bùa và Ma thuật. Từ “phản ứng dội” ở đây có nghĩa là sự phản chiếu, tác động trở lại trên thể xác của một cú đánh, nhát đâm hay thương tổn khác, giáng lên Song trùng trong lúc nó được phóng chiếu và di chuyển như một thực thể riêng rẽ: “hiện diện lưỡng xứ (bilocation)” là sự xuất hiện đồng thời của một người ở hai nơi; một là sự xuất hiện của thể xác, một là của thể cảm dục, hay Song trùng. M. d’Assier bàn về cả hai trong Posthumous Humanity, và trong bản dịch Anh ngữ của tôi về tác phẩm xuất sắc ấy, tôi có thêm nhận xét riêng về chủ đề này. Nói về việc những pháp sư gây thương tổn cho nạn nhân bằng cách phân thân và đến thăm họ trong Song trùng, tác giả viết (tr. 224): “Mụ phù thuỷ đi vào nhà của kẻ mà mụ có thù cần trả, và quấy nhiễu hắn bằng đủ ngàn cách. Nếu kẻ ấy quả quyết và có sẵn vũ khí, thường khi hắn chém vào ảo ảnh, và khi ra khỏi cơn xuất thần, mụ phù thuỷ sẽ thấy trên cơ thể mình các vết thương mà mụ đã nhận trong cuộc vật lộn huyễn thân.”
Des Mousseaux, the Catholic writer against Sorcery and other “black arts”, quotes from the judicial archives of England, the case of Jane Brooks, who persecuted a child named Richard Jones after a very malicious fashion. At one of her visitations, the child screamed out that the phantom of Jane was present and pretended to touch it with the point of his finger. A witness named Gilson, springing to the place indicated, slashed at it with a knife, although the phantom was visible only to the child. The house of Jane Brooks was at once visited by Gilson, with the child’s father and a constable, and she was found sitting on her stool holding one of her hands with the other. She denied that anything had happened to her hand, but the other being snatched away, the concealed one was found covered with blood, and bearing just such a wound as the child had said had been inflicted on the hand of the phantom by Gilson’s knife. A great number of similar cases are on record, all going to prove that any accident or injury to the projected Double reacts and reproduces itself upon the physical body in the identical spot. [57] This brings me to my own experience.
Des Mousseaux, nhà văn Công giáo phản bác Phù thủy và các “hắc thuật” khác, trích từ hồ sơ tư pháp Anh vụ Jane Brooks, kẻ đã hành hạ một đứa trẻ tên Richard Jones bằng những trò hiểm độc. Trong một lần mụ đến, đứa trẻ la lên rằng ảo ảnh của Jane hiện diện và giả vờ chạm vào nó bằng đầu ngón tay. Một nhân chứng tên Gilson liền phóng tới nơi được chỉ và vung dao chém vào đó, dẫu ảo ảnh chỉ có đứa bé trông thấy. Nhà của Jane Brooks lập tức bị Gilson cùng cha đứa bé và một viên cảnh sát xét, và mụ được thấy đang ngồi trên ghế, tay này nắm tay kia. Mụ chối rằng tay mụ có chuyện gì, nhưng khi tay kia bị kéo ra, bàn tay được giấu lộ ra đầy máu, mang đúng vết thương mà đứa bé nói đã gây ra trên tay ảo ảnh bởi nhát dao của Gilson. Rất nhiều ca tương tự được ghi chép, tất cả đều chứng minh rằng bất kỳ tai nạn hay thương tích nào giáng lên Song trùng khi được phóng chiếu đều phản ứng và tái tạo trên thể xác ở đúng vị trí ấy. Điều này đưa tôi đến trải nghiệm của chính mình.
In our writing-room at the “Lamasery” there hung upon the wall, beside the chimney, a Swiss cuckoo-clock, which it was my methodical custom to wind up nightly before retiring to my own room. One morning, on going to my toilet-glass after my bath, I noticed that my right eye was black and blue, as though I had received a blow from a fist. I could not account for it in the least, and I was the more puzzled on finding that I had no pain in the injured part. In vain I racked my brain for an explanation. In my bed-room there was no post pillar, projecting corner, or other obstruction from which I could have received injury, supposing that I had been walking about in my sleep—a habit I had never acquired, by the way. Then, again, a shock, rude enough to have blackened my eye like this, must, of necessity, have wakened me instantaneously at the time, whereas I had slept the night through as quietly as usual. So my bewilderment continued, until I met H. P. B. and a lady friend, who had shared her bed that night, at the breakfast table. The lady friend gave me the clue to the enigma. She said: “Why, Colonel, you must have hit yourself last night when you came in to wind the cuckoo clock!” “Wind the clock,” I replied, “what do you mean by that? Did you not lock the door when I went to my room?” “Yes,” she said, “I locked it myself; and however could you have come in? Yet both Madame and I saw you pass the sliding-doors of our bed-room and heard you pulling the chain to wind the clock. I called, but you did not answer, and I saw nothing more.” Well, then, I thought, if I did enter the room in my Double and wind the clock, two things are inevitable, (a)the clock must show that it was wound last night and not have run down; (b) there must be some obstacle on my path between the door and the opposite chimney against which I could have hit my eye. We examined the premises and found:
Trong phòng viết của chúng tôi tại “Lamasery” có treo trên tường, cạnh lò sưởi, một chiếc đồng hồ cúc cu Thuỵ Sĩ, và tôi theo thói quen ngăn nắp của mình vẫn lên dây nó hằng đêm trước khi về phòng. Một buổi sáng, khi soi gương sau khi tắm, tôi thấy mắt phải bị bầm tím, như thể vừa nhận một cú đấm. Tôi hoàn toàn không thể giải thích, và càng bối rối hơn vì thấy không đau chỗ thương. Tôi vò đầu tự hỏi mãi. Trong phòng ngủ của tôi không có cột, trụ, góc nhô hay vật cản nào có thể gây thương tích, giả sử tôi có đi lại trong lúc ngủ—mà đó lại là một thói tôi chưa từng có. Rồi nữa, một cú va mạnh đủ làm bầm mắt như vậy tất yếu phải đánh thức tôi dậy ngay tức thì, trong khi đêm ấy tôi ngủ yên như thường. Sự bối rối cứ thế kéo dài, cho đến khi tôi gặp H. P. B. và một người bạn nữ của Bà, người đêm ấy ngủ chung giường, tại bàn ăn sáng. Người bạn nữ đã cho tôi đầu mối. Cô nói: “Ông Đại tá ơi, hẳn đêm qua ông đã va vào đâu đó khi vào lên dây đồng hồ cúc cu!” “Lên dây đồng hồ ư,” tôi đáp, “cô nói gì vậy? Cô đã khoá cửa khi tôi về phòng, phải không?” “Phải,” cô nói, “tôi tự tay khoá; vậy thì làm sao ông vào? Thế mà cả Madame lẫn tôi đều thấy ông đi ngang qua cửa trượt phòng ngủ và nghe tiếng ông kéo dây lên đồng hồ. Tôi có gọi, nhưng ông không đáp, và tôi không thấy gì thêm.” Vậy thì, tôi nghĩ, nếu tôi có vào phòng trong Song trùng và lên dây đồng hồ, hai điều là tất yếu, (a) đồng hồ hẳn đang chạy và hiển nhiên đã được lên dây vào đêm qua chứ không phải bị đứng; (b) hẳn có vật cản nào đó trên đường tôi đi từ cửa đến lò sưởi bên kia mà tôi có thể đã va mắt vào. Chúng tôi kiểm tra căn phòng và thấy:
1. That the clock was going and had apparently been wound up at the usual time.
1. Đồng hồ đang chạy và dường như đã được lên dây vào giờ thường lệ.
2. Just near the door hung a small hanging bookshelf, the farthest front corner of one of whose shelves was of the exact height to catch my eye if I had run against it. Then there came back to me the dim recollection of myself moving towards the door from the far side of the room, with my right hand outstretched as if to feel for the door, a sudden shock, “the seeing of stars”—as it is commonly expressed—and then oblivion until morning.
2. Ngay gần cửa treo một kệ sách nhỏ, góc ngoài cùng phía trước của một trong các ngăn kệ có độ cao vừa đúng để chạm vào mắt tôi nếu tôi có va vào. Rồi ký ức lờ mờ chợt trở lại: tôi nhớ mình đang di chuyển về phía cửa từ bên kia phòng, với tay phải vươn ra như để dò cửa, một cú va mạnh, “thấy sao bay”—như người ta thường nói—và rồi lịm đi cho đến sáng.
That is curious, it seems to me; very curious that a blow which, received upon the physical head, must almost inevitably have at once awakened one, should, when falling upon the projected Double, have left its substantial mark behind it by repercussion upon the physical body, without bringing me to consciousness. And the case is instructive in other aspects, as well. It shows that, provided the conditions are favourable for the slipping of the Double out of the physical body, the “duplication” is likely to occur under the stimulus of a thought-prepossession, for instance, that of a daily habit of doing any certain thing at a fixed hour. Supposing the conditions unfavourable for “projection” or “duplication”, the subject would, under another set of onditions, become somnambulistic, rise from bed, go and do what was on his or her mind, and return to bed and to deep slumber without remembering anything that had occurred. The editors of the English version of the Dabistan say: “It is impossible to fix the epoch at which particular opinions and practices orginated... particularly the belief that a man may attain the faculty to quit and to reassume his body, or to consider it as a loose garment, which he may put off at pleasure for ascending to the world of light, and on his return be reunited with the material elements. All these matters are considered very ancient” (Dabistan, Preface, lxxix). One of my most interesting experiences has been to encounter persons in different parts of the world, until then strangers, who have averred that they had seen me in public places, that I had visited them in the astral body, sometimes talked on occult matters with them, sometimes healed them of diseases, sometimes even gone with them on the astral plane to visit our Masters; yet without my keeping any remembrance of the several incidents. Yet, when one comes to think of it, it is not so improbable, after all, that one whose whole life and every waking thought and wish is bound up in this great movement of ours; who has no desire save for its success, no ambition save to push it forward to its ultimate goal, should carry his prepossession into the realms of sleep, and float through the currents of the Astral Light towards the kindred beings who are held by the same magnet to the same attractive centre of wish and aspiration. In its truest sense—
Điều đó thật lạ lùng, theo tôi; rất lạ lùng là một cú đánh, nếu giáng trúng đầu thể xác, hầu như chắc chắn sẽ lập tức đánh thức người bị đánh, thì khi giáng xuống Phân thân đang phóng chiếu, lại để lại dấu ấn thực chất của nó trên thân thể xác qua sự dội ngược, mà không làm tôi tỉnh lại. Và trường hợp này cũng giàu tính chỉ giáo ở những khía cạnh khác. Nó cho thấy rằng, miễn khi các điều kiện thuận hợp cho sự tuột ra của Phân thân khỏi thể xác, thì “sự nhân đôi” rất có thể xảy ra dưới kích thích của một ám ảnh tư tưởng—chẳng hạn, thói quen hằng ngày làm một việc nào đó vào một giờ cố định. Giả sử các điều kiện bất lợi cho “phóng chiếu” hay “nhân đôi”, thì đối tượng, dưới một chuỗi điều kiện khác, sẽ trở nên mộng du, rời giường, đi làm việc đang vương vấn trong tâm, rồi trở về giường và chìm vào giấc ngủ sâu mà không nhớ gì về những gì đã xảy ra. Các biên tập viên ấn bản tiếng Anh của Dabistan nói: “Không thể ấn định thời kỳ mà những quan kiến và thực hành riêng biệt khởi nguyên... nhất là niềm tin rằng một người có thể đạt năng năng để rời bỏ rồi lại tái nhập thân thể của mình, hoặc coi nó như một y phục lỏng lẻo mà người ấy có thể cởi ra theo ý thích để thăng lên thế giới ánh sáng, và khi trở về thì lại tái hiệp với các yếu tố vật chất. Tất cả những điều này đều được coi là rất cổ xưa” (Dabistan, Lời tựa, lxxix). Một trong những kinh nghiệm thú vị nhất của tôi là được gặp những người ở các nơi khác nhau trên thế giới—trước đó đều là người xa lạ—họ quả quyết rằng đã thấy tôi ở nơi công cộng, rằng tôi đã viếng họ trong thể cảm dục, đôi khi nói chuyện huyền bí với họ, đôi khi chữa lành bệnh cho họ, thậm chí đôi khi còn cùng họ du hành trên cõi cảm dục để thăm các Chân sư của chúng ta; vậy mà tôi lại không lưu giữ một ký ức nào về từng biến cố ấy. Tuy nhiên, khi suy nghĩ, rốt cuộc điều đó cũng không quá khó tin: rằng một người mà toàn bộ đời sống và từng tư tưởng, ước muốn lúc thức đều gắn bó với phong trào vĩ đại của chúng ta; người không có ước vọng nào khác ngoài thành công của nó, không tham vọng nào ngoài việc thúc đẩy nó tiến đến cứu cánh tối hậu, thì sẽ mang theo ám ảnh ấy vào cõi ngủ, và trôi dạt theo những dòng lưu của Ánh sáng Cảm dục tới với những hữu tình đồng khí, vốn bị cùng một nam châm hút về cùng một trung tâm hấp dẫn của ước vọng và khát cầu. Theo nghĩa chân thật nhất của nó—
“It is the secret sympathy,
“Ấy là mối đồng cảm thầm kín,
The silver link, the silver tie,
Sợi bạc liên hệ, mối dây bạc thiêng,
Which heart to heart, and mind to mind,
Buộc tim với tim, trí với trí,
In body and in soul can bind.”
Trong thân và trong hồn kết liên.”
CHAPTER XXV
CHƯƠNG XXV
SWAMI DAYÂNAND
SWAMI DAYÂNAND
IF I should fail to introduce the episode of our brief and unpleasant connection with Swami Dayânand Sarasvati and his Arya Samaj, this could not be called a true history of the beginnings of our Society. I should prefer to omit it altogether if I could, for it is not agreeable to record the details of vanished hopes, bitter misunderstandings, and faded illusions. Now that both H. P. B. and the Swami are dead, and that sixteen years have passed since we voted for a blending of the two societies together, I feel at liberty to give the clue to what has been hitherto a sort of mystery as regards the incident, and to explain the hidden causes of the union and subsequent quarrel between the great Pandit and ourselves.
Nếu tôi không kể đoạn ngắn ngủi mà không đẹp đẽ trong mối giao kết của chúng tôi với Swami Dayânand Sarasvati và Arya Samaj của Ngài, thì điều này không thể được gọi là một lịch sử chân thực về buổi đầu của Hội chúng ta. Tôi đã muốn bỏ hẳn nó đi nếu có thể, vì không thú vị gì khi ghi chép các chi tiết về những hy vọng đã phai, những hiểu lầm cay đắng, và những ảo tưởng tàn phai. Nay cả H. P. B. lẫn Swami đều đã qua đời, và mười sáu năm đã trôi qua từ khi chúng ta bỏ phiếu dung hợp hai hội lại, tôi cảm thấy có thể tự do đưa ra manh mối cho điều cho đến nay vẫn là một kiểu điều bí ẩn liên quan đến biến cố ấy, và giải thích các nguyên nhân ẩn khuất của sự liên minh rồi cuộc tranh cãi sau đó giữa bậc Đại Pandit và chúng tôi.
I have told all that concerns the formation of the Theosophical Society; how it originated; what were its avowed aims and objects; and how it gradually faded into a small, compact body, of which the two Founders were the dual energy: a mere nucleus of the present organisation. I make bold to say that not a line can be produced which goes to show that our religious opinions were ever concealed or misrepresented, to whatsoever exoteric creed our correspondents may have belonged. If, therefore, Swami Dayânand and his followers ever misunderstood our position and that of the Theosophical Society, the fault was theirs, not ours. Our two hearts drew us towards the Orient, our dreams were of India, our chief desire to get into relations with the Asiatic people. No way, however, had yet opened on the physical plane, and our chance of getting out to our Holy Land seemed very slight, until one evening in the year 1877 an American traveller, who had recently been in India, called. He happened to sit so that, in looking that way I noticed on the wall above him the framed photograph of the two Hindû gentlemen with whom I had made the Atlantic passage in 1870. I took it down, showed it to him, and asked if he knew either of the two. He did know Moolji Thackersey and had quite recently met him in Bombay. I got the address, and by the next mail wrote to Moolji about our Society, our love for India and what caused it. In due course he replied in quite enthusiastic terms, accepted the offered diploma of membership, and told me about a great Hindû pandit and reformer, who had begun a powerful movement for the resuscitation of pure Vedic religion. At the same time he introduced to my notice, in complimentary terms, one Hurrychund Chintamon, President of the Bombay Arya Samaj, with whom I chiefly corresponded thereafter; and whose evil treatment of us on arrival at Bombay is a matter of history. The latter nominated several Hindû gentlemen of Bombay for membership, spoke most flatteringly of Swami Dayânand, and brought about an exchange of letters between the latter and myself as chiefs of our respective societies. Mr. Hurrychund wrote to me, on reading my explanations of our views as to the impersonality of God—an Eternal and Omnipresent Principle which, under many different names, was the same in all religions—that the principles of the Arya Samaj were identical with our own, and suggested that, in that case, it was useless to keep up two societies, when by amalgamating we would increase our powers of usefulness and our chances of success. [58] Neither then nor ever since have I cared for the empty honour of leadership, and so I was but too glad to take second place under the Swami, whom I was made to look up to as immeasurably my superior in every respect. The letters of my Bombay correspondents, my own views about Vedic philosophy, the fact of his being a great Sanskrit pandit and actually playing the part of a Hindu Luther, prepared me to believe without difficulty what H. P. B. told me later about him. This was neither more nor less than that he was an adept of the Himalayan Brotherhood inhabiting the Swami’s body; well known to our own teachers, and in relations with them for the accomplishment of the work he had in hand. What wonder that I was as ready as possible to fall in with Hurrychund’s scheme to amalgamate the T. S. with the Arya Samaj, and to sit at the Swami’s feet as pupil under a master! To make such a connection I should have been ready, if required, to be his servant and to have rendered him glad service for years to come, without hope of reward. So, the matter being explained to my colleagues in New York, our Council, in May, 1878, passed a vote to unite the two societies and change the title of ours to “The Theosophical Society of the Arya Samaj.” This was notified to the Swami, and in due time he returned to me the draft of a new Diploma (now before me as I write) which I had sent him, signed, as requested, with his name and stamped with his own seal. I had this engraved, issued it to a few members who wished to enlist under the new scheme, and put forth a circular reciting the principles under which we intended to work.
Tôi đã kể tất cả những điều liên quan đến sự thành lập Hội Thông Thiên Học; nó khởi nguyên thế nào; những mục đích và tôn chỉ công khai của nó là gì; và cách nó dần thu nhỏ thành một khối nhỏ, chặt, mà hai Đấng Đồng Sáng lập là nguồn song lực: chỉ là một hạch nhỏ của tổ chức hiện nay. Tôi dám nói rằng không thể đưa ra một dòng nào cho thấy rằng quan kiến tôn giáo của chúng tôi từng bị che giấu hay xuyên tạc, bất kể các tín điều ngoại môn mà những người thư từ với chúng tôi có thể thuộc về. Do đó, nếu Swami Dayânand và các môn đồ của Ngài từng hiểu lầm lập trường của chúng tôi và của Hội Thông Thiên Học, thì lỗi là ở họ, không phải ở chúng tôi. Hai trái tim chúng tôi kéo về phương Đông, giấc mơ của chúng tôi là Ấn Độ, ước muốn chủ chốt là tạo liên hệ với các dân tộc Á châu. Tuy nhiên, trên cõi hồng trần chưa mở ra đường nào, và cơ hội để chúng tôi đến Thánh Địa của mình có vẻ rất mong manh, cho đến một buổi tối năm 1877, một du khách người Mỹ vừa ở Ấn Độ về ghé thăm. Ông ta tình cờ ngồi ở vị trí mà khi nhìn về phía ấy tôi thấy trên tường, phía trên ông, bức ảnh đóng khung của hai quý ông Hindû mà tôi từng cùng vượt Đại Tây Dương năm 1870. Tôi lấy xuống, đưa cho ông xem, và hỏi có biết ai trong hai vị không. Ông biết Moolji Thackersey và vừa mới gặp ông này ở Bombay. Tôi lấy địa chỉ, và bằng chuyến thư kế tiếp viết cho Moolji về Hội của chúng tôi, tình yêu của chúng tôi dành cho Ấn Độ và nguyên do của nó. Đến kỳ, ông trả lời bằng những lời rất hứng khởi, nhận tấm văn bằng hội viên được gửi tặng, và kể tôi nghe về một vị đại pandit và nhà cải cách Hindû, người đã khởi xướng một phong trào hùng mạnh nhằm phục hưng tôn giáo Veda thuần khiết. Đồng thời ông giới thiệu với tôi, bằng lời lẽ trân trọng, một người tên Hurrychund Chintamon, Chủ tịch Arya Samaj Bombay, người mà về sau tôi chủ yếu thư từ; và việc ông ấy đối xử tệ với chúng tôi khi đặt chân đến Bombay là điều đã thành lịch sử. Vị này đề cử một số quý ông Hindû ở Bombay làm hội viên, nói những lời ca ngợi nhất về Swami Dayânand, và dẫn đến việc trao đổi thư từ giữa Ngài và tôi, như những người đứng đầu các hội tương ứng. Ông Hurrychund viết cho tôi, sau khi đọc các giải thích của tôi về quan niệm của chúng tôi liên quan đến tính phi nhân vị của Thượng đế—một Nguyên lý Vĩnh cửu và Hiện diện khắp nơi vốn, dưới nhiều danh xưng khác nhau, là đồng nhất trong mọi tôn giáo—rằng các nguyên tắc của Arya Samaj đồng nhất với nguyên tắc của chúng tôi, và gợi ý rằng, trong trường hợp ấy, giữ hai hội song song là vô ích, vì khi hợp nhất chúng ta sẽ gia tăng năng lực hữu ích và cơ hội thành công. Vào lúc ấy và cả từ đó về sau, tôi không hề mảy may quan tâm đến hư vinh của chức vị lãnh đạo, nên tôi quá đỗi vui mừng mà nhận vị trí thứ hai dưới quyền Swami, người mà tôi được dẫn dụ nhìn lên như vượt trội tôi vô lượng phương diện. Những lá thư của các bạn thư từ Bombay, quan điểm riêng của tôi về triết học Veda, thực tế là Ngài là một đại pandit Sanskrit và thực sự đang đóng vai một Luther Ấn giáo, đã chuẩn bị để tôi dễ dàng tin điều mà sau này H. P. B. nói với tôi. Đó không gì khác hơn là Ngài là một chân sư của Huynh đoàn Hy Mã Lạp Sơn đang cư trú trong thân thể của vị Swami; vốn quen thuộc với các Huấn sư của chúng tôi, và liên hệ với Các Ngài để hoàn thành công việc mà Ngài đảm đang. Còn gì lạ khi tôi sẵn sàng hết mức để đi theo kế hoạch của Hurrychund nhằm dung hợp T. S. với Arya Samaj, và ngồi dưới chân Swami như môn đồ dưới một vị thầy! Để có được mối liên hệ như thế, tôi đã sẵn sàng, nếu cần, làm người phục dịch của Ngài và vui lòng phục dịch trong nhiều năm tới, không mong phần thưởng. Vậy nên, sau khi giải thích sự việc với các đồng sự ở New York, Hội đồng của chúng tôi, vào tháng Năm 1878, đã thông qua nghị quyết hợp nhất hai hội và đổi danh xưng của chúng tôi thành “Hội Thông Thiên Học của Arya Samaj.” Việc này được thông báo cho Swami, và đến kỳ Ngài gửi trả cho tôi bản thảo Văn bằng mới (hiện ở ngay trước mặt tôi khi viết những dòng này) mà tôi đã chuyển cho Ngài, được ký theo yêu cầu bằng tên Ngài và đóng bằng ấn của chính Ngài. Tôi cho khắc bản này, phát hành cho một vài hội viên muốn ghi danh theo đề án mới, và đưa ra một thông tri thuật lại các nguyên tắc theo đó chúng tôi dự định hoạt động.
So far all went well, but, in due course, I received from India an English translation of the rules and doctrines of the Arya Samaj, made by Pandit Shyamji Krishnavarma, a protégé of the Swami’s which gave us a great shock—gave me, at least. Nothing could have been clearer than that the Swami’s views had radically changed since the preceding August, when the Lahore Arya Samaj published his defence of his Veda Bhâshya against the attacks of his critics, in the course of which he quoted approvingly the opinions of Prof. Max Müller, Messrs. Colebrooke, Garrett, and others, that the God of the Vedas was an impersonality. It was evident that the Samaj was not identical in character with our Society, put rather a new sect of Hinduism—a Vedic sect accepting Swami Dayânand’s authority as supreme judge as to which portions of the Vedas and Shâstras were and were not infallible. The impossibility of carrying out the intended amalgamation became manifest, and we immediately reported that fact to our Indian colleagues. The Theosophical Society resumed its status quo ante; and H. P. B. and I drafted and the Council put out two circulars, one defining what the Theosophical Society was, the other (dated September, 1878), defining a new body, the “Theosophical Society of the Arya Samaj of Aryavart,” as a bridge between the two mother societies, giving in detail the translation of the A. S. rules, etc., and leaving our members perfectly free to join the “link-society”, as I called it, and comply with its by-laws, or not.
Cho đến đây mọi việc đều tốt đẹp, nhưng rồi tôi nhận được từ Ấn Độ một bản dịch tiếng Anh về điều lệ và giáo lý của Arya Samaj, do Pandit Shyamji Krishnavarma, một người được Swami đỡ đầu, soạn dịch, và điều đó đã gây cho chúng tôi—ít nhất là cho tôi—một cú sốc lớn. Không gì có thể rõ ràng hơn việc quan điểm của Swami đã thay đổi tận gốc kể từ tháng Tám trước đó, khi Lahore Arya Samaj ấn hành bài biện hộ cho Veda Bhâshya của Ngài trước công kích của các nhà phê bình, trong đó Ngài trích dẫn với sự tán thành ý kiến của Giáo sư Max Müller, các ông Colebrooke, Garrett, và những người khác rằng Thượng đế của Veda là phi nhân vị. Rõ ràng Samaj không đồng nhất về tính cách với Hội của chúng tôi, mà là một tông phái mới của Ấn giáo—một tông Veda chấp nhận thẩm quyền của Swami Dayânand như vị phán quan tối hậu về phần nào của Veda và Shâstra là vô ngộ và phần nào thì không. Tính bất khả thi trong việc thực hiện sự dung hợp đã định trở nên hiển nhiên, và chúng tôi lập tức báo điều đó cho các đồng sự Ấn Độ. Hội Thông Thiên Học trở lại tình trạng như trước; và H. P. B. cùng tôi thảo, rồi Hội đồng phát hành hai thông tri: một định nghĩa Hội Thông Thiên Học là gì, cái kia (đề ngày Chín tháng Chín, 1878) định nghĩa một thể chế mới, “Hội Thông Thiên Học của Arya Samaj xứ Aryavart,” như một cây cầu nối giữa hai hội mẹ, trình bày chi tiết bản dịch điều lệ của A. S., v.v..., và để hội viên chúng tôi hoàn toàn tự do gia nhập “hội liên kết”, như tôi gọi, và tuân thủ những quy chế của nó, hoặc không.
Our London Branch, which after more than two years of preliminary pourparlers, had formally organised on the 27the June 1878, under the title of the “British Theosophical Society,” [59] issued its first public circular as “The British Theosophical Society of the Arya Samaj of Aryavart.” If the digression may be excused, I will quote here, for their historical interest, some passages Out of my copy of this circular, viz.:
Chi nhánh London của chúng tôi, sau hơn hai năm thương thảo tiền đề, đã chính thức tổ chức vào ngày 27 tháng Sáu, 1878, với danh hiệu “Hội Thông Thiên Học Anh quốc,” đã phát hành thông tri công khai đầu tiên với danh hiệu “Hội Thông Thiên Học Anh quốc của Arya Samaj xứ Aryavart.” Xin thứ lỗi một sự ngoại đề, tôi sẽ trích ở đây, vì giá trị lịch sử, một số đoạn trong bản sao thông tri này của tôi, như sau:
“1. The British Theosophical Society is founded for the purpose of discovering the nature and powers of the human soul and spirit by investigation and experiment.
“1. Hội Thông Thiên Học Anh quốc thành lập nhằm mục đích khám phá bản tính và năng lực của linh hồn và tinh thần con người bằng điều tra và thực nghiệm.
“2. The object of the Society is to increase the amount of human health, goodness, knowledge, wisdom, and happiness.
“2. Mục đích của Hội là gia tăng lượng sức khoẻ, thiện lương, tri thức, minh triết và hạnh phúc của nhân loại.
“3. The Fellows pledge themselves to endeavour, to the best of their powers, to live a life of temperance, purity, and brotherly love. They believe in a Great First Intelligent Cause, and in the Divine Sonship of the spirit of man, and hence in the immortality of that spirit, and in the universal brotherhood of the human race.
“3. Các bạn đồng hội cam kết nỗ lực, trong khả năng cao nhất của mình, sống đời tiết độ, thanh khiết và tình huynh đệ. Họ tin vào một Nguyên Nhân Thông Tuệ Đệ Nhất Cao Cả, và vào Tư cách Con Thiêng của tinh thần con người, và do đó vào sự bất tử của tinh thần ấy, cũng như vào tình huynh đệ phổ quát của nhân loại.
“4. The Society is in connection and sympathy with the Arya Samaj of Aryavart, one object of which Society is to elevate, by a true spiritual education, mankind out of degenerate, idolatrous, and impure forms of worship, wherever prevalent.”
“4. Hội có liên hệ và đồng cảm với Arya Samaj xứ Aryavart, một trong các mục đích của Hội ấy là nâng cao nhân loại, bằng một nền giáo dục tinh thần chân chính, ra khỏi những hình thức thờ phụng suy đồi, sùng bái hình tượng, và ô uế, ở bất cứ nơi nào còn thịnh hành.”
This was a clear, frank, and unobjectionable programme, the reflection of the tone, though not of the actual letter of my New York T.S. circular of the same year. In both, the aspiration for the attainment of spiritual knowledge through the study of natural, especially of occult, phenomena is declared, as well as the brotherhood of mankind. In drafting the New York circular it occurred to me that the membership of, and supervising entities behind, the Society would be naturally grouped in three divisions, viz., new members not detached from worldly interests; pupils, like myself, who had withdrawn from the same or were ready to do so; and the adeptsthemselves, who, without being actually members, were at least connected with us and concerned in our work as a potential agency for the doing of spiritual good to the world. With H. P. B.’s concurrence I defined these three groups, calling them sections, and sub-dividing each into three degrees. This, of course, was in the hope and expectation that we should have more practical guidance in adjusting the several grades of members than we had had—or have since had, I may add. In the New York circular, Clause VI said:
Đây là một chương trình rõ ràng, thẳng thắn, không có gì đáng chê trách, phản ánh giọng điệu, dù không phải là chữ nghĩa nguyên văn, của thông tri T. S. New York của tôi cùng năm ấy. Trong cả hai, khát vọng đạt tri thức tinh thần thông qua việc học các hiện tượng tự nhiên, đặc biệt là các hiện tượng huyền bí, được tuyên xưng, cũng như tình huynh đệ của nhân loại. Khi thảo thông tri New York, tôi chợt nghĩ rằng hội viên, và các chủ thể giám thị ẩn sau, của Hội, tự nhiên sẽ được nhóm lại thành ba phân hệ, tức: hội viên mới chưa tách khỏi các mối lợi thế gian; môn sinh, như riêng tôi, đã rút khỏi hoặc sẵn sàng rút khỏi; và chính các chân sư, những vị tuy không thật là hội viên, nhưng tối thiểu liên kết với chúng tôi và quan tâm đến công việc của chúng tôi như một tiềm cơ để làm điều thiện tinh thần cho thế giới. Với sự đồng thuận của H. P. B., tôi định nghĩa ba nhóm này, gọi là các “ban,” và lại chia mỗi ban thành ba đẳng. Dĩ nhiên, điều này đặt trên hy vọng và kỳ vọng rằng chúng tôi sẽ có sự chỉ dẫn thực tiễn hơn trong việc điều chỉnh các bậc hạng hội viên khác nhau so với những gì chúng tôi đã có—hay, tôi có thể nói thêm, đã có về sau. Trong thông tri New York, Khoản VI viết:
“The objects of the Society are various. It influences its fellows to acquire an intimate knowledge of natural law, especially its occult manifestations.”
“Mục đích của Hội là đa dạng. Hội cảm hoá các bạn đồng hội đạt một tri thức mật thiết về định luật tự nhiên, đặc biệt là các biểu hiện huyền bí của nó.”
Then follow these sentences written by H. P. B.:
Rồi tiếp theo là những câu do H. P. B. chấp bút:
“As the highest development, physically and spiritually, on earth of the creative cause, man should aim to solve the mystery of his being. He is the procreator of his species, physically, and having inherited the nature of the unknown but palpable cause of his own creation, must possess in his inner, psychical self, this creative power in lesser degree. He should, therefore, study to develop his latent powers, and inform himself respecting the laws of magnetism, electricity, and all other forms of force, whether of the seen or unseen universes.”
“Là sự phát triển cao nhất, cả về thể chất lẫn tinh thần, trên Địa cầu của nguyên nhân sáng tạo, con người nên nhắm tới việc giải được huyền cơ của chính sự hiện hữu của mình. Y là người sinh sản giống loài mình về mặt thể chất, và vì thừa hưởng bản tính của nguyên nhân vô danh song hữu chứng của chính sự tạo sinh của y, nên ắt hẳn trong nội thể tâm linh của y phải sở hữu quyền năng sáng tạo ấy ở mức độ giảm phân. Vì vậy, y nên học để phát triển các năng lực tiềm ẩn, và tự trang bị kiến thức về các định luật của từ điện, điện khí, và mọi hình thức mãnh lực khác, dù thuộc vũ trụ hữu hình hay vô hình.”
I then proceed as follows:
Sau đó tôi viết tiếp như sau:
“The Society teaches and expects its fellows to personally exemplify the highest morality and religious aspirations; to oppose the materialism of science and every form of dogmatic theology...; to make known,among Western nations the long-suppressed facts about Oriental religious philosophies, their ethics, chronology, esoterism symbolism...; to disseminate a knowledge of the sublime teachings of that pure esoteric system of the archaic period which are mirrored in the oldest Vedas, and in the philosophy of Gautama Buddha, Zoroaster, and Confucius; finally, and chiefly, to aid in the institution of a Brotherhood of Humanity, wherein all good and pure men of every race shall recognise each other as the equal effects (upon this planet) of one Un-Create, Universal, Infinite and Everlasting Cause.”
“Hội giáo hoá và mong các bạn đồng hội tự thân nêu gương đạo đức tối cao và hoài vọng tôn giáo; chống lại chủ nghĩa duy vật của khoa học và mọi hình thái thần học giáo điều...; làm cho các quốc gia phương Tây biết đến những sự kiện lâu bị che giấu về các triết học tôn giáo phương Đông, đạo đức của chúng, niên đại, nội môn, biểu tượng...; truyền bá tri thức về các giáo huấn siêu phàm của hệ thống nội giáo thuần khiết thời cổ xưa, được phản chiếu trong các Veda cổ nhất, và trong triết học của Gautama Buddha, Zoroaster, và Khổng Tử; sau cùng, và chủ yếu, trợ giúp trong việc thiết lập một Huynh đệ Nhân loại, trong đó mọi người thiện lương và thanh khiết của mọi chủng tộc sẽ nhận ra nhau như những hiệu quả bình đẳng (trên hành tinh này) của một Nguyên Nhân Vô Tạo, Phổ Quát, Vô Hạn và Vĩnh Cửu.”
The parenthesis (upon this planet) was written in by H.P.B.
Dấu ngoặc (trên hành tinh này) do H. P. B. viết chen vào.
The step we were taking in resuming the Society’s autonomy upon discovering the sectarian character of the Arya Samaj, thus drew from us the above categorical declaration of principles, in which, the reader will observe, were embraced—
Bước chúng tôi đi khi nối lại quyền tự trị của Hội sau khi phát hiện tính giáo phái của Arya Samaj, đã khiến chúng tôi đưa ra tuyên ngôn nguyên tắc minh bạch như trên, trong đó, độc giả sẽ thấy, bao gồm—
1. The study of occult science;
1. Nghiên cứu khoa học huyền bí;
2. The formation of a nucleus of universal brotherhood; and
2. Hình thành một hạch của tình huynh đệ phổ quát; và
3. The revival of Oriental literature and philosophy. In short, all the three Declared Objects upon which the Theosophical Society has been building itself up during the subsequent seventeen years.
3. Phục hưng văn học và triết học phương Đông. Tóm lại, cả ba Mục Tiêu Tuyên Bố mà Hội Thông Thiên Học đã xây dựng suốt mười bảy năm sau đó.
If our Bombay friends had previously been under the least misapprehension as regards the aims and principles of our Society, the above circular removed the last excuse for its continuance.The preamble to the Arya Samaj circular issued by us in September, 1878,—three months only before our departure for India—called attention to Pandit Shyamji’s translation of the Samaj rules, embodied in the circular, and said: “The observance of these rules is obligatory only upon such fellows as may voluntarily apply for admission to the Arya Samaj; the rest will continue to be, as heretofore, unconnected with the special work of the Samaj.” It went on to say that our Society, with the design of aiding “in the establishment of a Brotherhood of Humanity, had organised sections (meaning groups) in which room is provided for persons born in the most varied religious faiths, requiring only that applicants shall sincerely wish to learn the sublime truths first written by the Aryans in the Vedas and in different epochs promulgated by sages and seers, and to order their lives accordingly. And also, should they so desire, labour to acquire that control over certain forces of nature which a knowledge of her mysteries imparts to its possessor.” The occult training and developments of H. P. B. and her grade of pupils were here hinted at. The phrase shows that the chief original motive of the Founders of the Society was to promote this kind of study; it being their firm conviction that with the development of the psychical powers and spiritual insight all religious knowledge was attainable, and all ignorant religious dogmatism must vanish. The circular adds that “the Society has thus welcomed, and its members dwell in harmony with Buddhists, Lamaists,Brahmanis, Parsis, Confucianists, and Jews,” etc., which was strictly true, applicants from all these religious bodies having already been enrolled as fellows. The incongruity of this platform with that of the Arya Samaj is unmistakable and seen at a glance. For Rule 2 in Shyamji’s version reads:
Nếu các bạn ở Bombay trước đó có chút hiểu lầm nào về mục tiêu và nguyên tắc của Hội chúng tôi, thì thông tri trên đã xoá bỏ cái cớ cuối cùng cho sự kéo dài của nó. Lời nói đầu của thông tri Arya Samaj do chúng tôi phát hành vào tháng Chín, 1878,—chỉ ba tháng trước khi chúng tôi khởi hành sang Ấn—gọi sự chú ý đến bản dịch điều lệ Samaj của Pandit Shyamji, được thể hiện trong thông tri, và nói: “Việc tuân thủ những điều lệ này chỉ là nghĩa vụ đối với những bạn đồng hội nào tự nguyện xin gia nhập Arya Samaj; còn lại, như trước nay, sẽ không liên đới với công việc đặc thù của Samaj.” Thông tri tiếp tục nói rằng Hội của chúng tôi, với mục đích trợ lực “cho việc thiết lập một Huynh đệ Nhân loại, đã tổ chức các ban (nghĩa là nhóm) trong đó có chỗ cho những người sinh ra trong các tín ngưỡng tôn giáo rất đa tạp, chỉ yêu cầu người xin gia nhập là chân thành mong học những chân lý siêu phàm vốn được chủng tộc Arya ghi chép trước nhất trong các Veda, và qua những thời kỳ khác nhau được hiền triết và tiên tri công bố, và sắp xếp đời sống của mình tương ứng. Và cũng, nếu họ mong muốn, nỗ lực thu nhận quyền làm chủ nhất định đối với các mãnh lực của thiên nhiên, điều mà sự hiểu biết về các huyền cơ của nàng ban cho người sở đắc.” Ở đây ám chỉ đến lộ trình huấn luyện huyền bí và những thành tựu của H. P. B. cùng các môn sinh thuộc cấp của Bà. Cụm từ cho thấy động cơ khởi nguyên chủ yếu của các Đấng Sáng lập Hội là xúc tiến loại học tập này; vì họ tin chắc rằng với sự phát triển các năng lực tâm linh và tuệ giác tinh thần, mọi tri thức tôn giáo đều khả đắc, và mọi giáo điều tôn giáo ngu muội ắt tiêu tán. Thông tri bổ thêm rằng “Hội đã chào đón, và các hội viên của Hội sống hoà thuận với Phật tử, Lạt-ma giáo đồ, Bà-la-môn, Parsis, Nho gia, và Do Thái,” v.v..., điều này hoàn toàn đúng sự thật, bởi từ tất cả các cộng đồng tôn giáo ấy đã có người nộp đơn và ghi danh làm bạn đồng hội. Sự bất tương dung giữa cương lĩnh này với cương lĩnh của Arya Samaj là không thể lẫn lộn và thấy rõ ngay. Vì Điều lệ 2 trong bản dịch của Shyamji viết:
“The four texts of the Vedas shall be received and regarded as containing within themselves all that is necessary to constitute them an extraordinary authority in all matters relating to human conduct.”
“Bốn bản văn của Veda sẽ được tiếp nhận và coi như chứa đựng trong bản thân chúng tất cả những gì cần có để khiến chúng trở thành một thẩm quyền phi phàm trong mọi vấn đề liên quan đến hạnh kiểm con người.”
Nothing is said here about any other religious scripture being an authority in human conduct, nor any benevolent interest expressed in the religious welfare of non-Vedic peoples; in short, it is a sectarian body, not eclectic. In saying which I pronounce no opinion as to whether the Samaj is a good or a bad sect, a conservative or a progressive one, or whether its establishment by the Swami was a blessing or the reverse to India. I simply mean that it is a sect, and that, our Society not being one and standing upon a quite different platform, could not properly be merged by us into the Samaj, although we could be and wished to be friends.
Ở đây không nói gì đến bất cứ kinh điển tôn giáo nào khác như là một thẩm quyền về hạnh kiểm, cũng không biểu đạt mối quan tâm nhân ái nào đến phúc lợi tôn giáo của các dân tộc phi Veda; tóm lại, đó là một thể chế giáo phái, không phải dung hợp. Nói thế không phải tôi phát biểu ý kiến xem Samaj là một giáo phái tốt hay xấu, bảo thủ hay tấn bộ, hay việc Swami sáng lập nó là phúc lành hay ngược lại cho Ấn Độ. Tôi chỉ muốn nói rằng đó là một giáo phái, và rằng, vì Hội của chúng tôi không phải là giáo phái và đứng trên một cương lĩnh hoàn toàn khác, nên chúng tôi không thể hợp nhất đúng đắn vào Samaj, dù chúng tôi có thể và mong được làm bạn.
As further showing the arbitrary authority which the Swami claimed and exercised in prescribing which of the Sâstras were and were not “authoritative”, I quote, from the same Rule 2 of the Arya Samaj, the following:
Để làm rõ hơn nữa quyền uy độc đoán mà Swami đòi hỏi và thực thi trong việc định ra kinh sách nào của Shâstra là và không là “có thẩm quyền,” tôi trích, cũng từ Điều 2 của Arya Samaj, như sau:
“The Brâhmanas beginning with the Shatapatka; the six Angas or limbs of the Vedas, beginning with the Shikshâ; the four Upavedas; the six Darshanas or Schools of Philosophy; and the 1,127 Lectures on the Vedas, called Shâkhâs, or the branches—these shall be accepted as exponents of the meaning of the Vedas, as well as of the history of the Aryas. So far as these shall concur with the views of the Vedas, they shall be considered as ordinary authority.”
“Các Brâhmana bắt đầu với Shatapatka; sáu Anga hay chi của Veda, bắt đầu với Shikshâ; bốn Upaveda; sáu Darshana hay các Trường phái Triết học; và 1.127 Bài giảng về Veda, gọi là Shâkhâ, hay các chi nhánh—những thứ này sẽ được tiếp nhận như là các bản văn giải minh ý nghĩa của Veda, cũng như lịch sử của người Arya. Trong mức độ chúng tương hợp với các quan điểm của Veda, chúng sẽ được coi như có thẩm quyền thông thường.”
Here is defined a sect, a sect of Hinduism, a sect based on the lines traced by its founder. The Swami, it will be seen, in passing, puts himself in opposition to the whole body of orthodox pandits, since he excludes from his list of inspirational books many that are held by them as sacred.
Ở đây xác định một giáo phái, một giáo phái của Ấn giáo, một giáo phái dựa trên đường lối do người sáng lập vạch ra. Có thể thấy, nhân đây, Swami tự đặt mình đối lập với toàn bộ cộng đồng pandit chính thống, vì Ngài loại khỏi danh sách các sách linh hứng của mình nhiều tác phẩm được họ tôn là thánh điển.
For instance, Smritis are omitted by the Swami, as not being conclusive authorities. But Manu, Chap. II, 10, holds that “Vedas” are “revelations” and “Smritis” (Dharma Sâstras) are “traditions”; these two are irrefutable in all matters, for by these two virtues arose. It is therefore maintained that Smritis must be respected as “authority”.
Chẳng hạn, Smriti bị Swami loại trừ, vì không là thẩm quyền quyết định. Nhưng Manu, Chương II, 10, chủ trương rằng “Veda” là “mặc khải” và “Smriti” (Dharma Sâstra) là “truyền thống”; hai thứ này là bất khả bác trong mọi vấn đề, bởi nhờ hai thứ này mà đức hạnh nảy sinh. Do đó, Smriti phải được trọng như “thẩm quyền.”
Things remained thus until the arrival of the Founders in India and their meeting, soon after, with Swami Dayânand at Saharanpur. The chances for our entanglement in a series of misunderstandings were, of course, greatly enhanced by the necessity for the Swami and ourselves having to talk with each other through interpreters, who, however well up in ordinary English, lacked the fluency which would enable them to render correctly our views upon the abstruse questions of philosophy, metaphysics, and occult science which had to be discussed.We certainly were made to understand that Swami Dayânand’s conception of God was that of the Vedântic Parabrahman, hence in accord with our own. Under this mistake—as it afterwards was declared by him to be—I lectured at Meerut to the Arya Samaj in his presence, and declared that now all causes of misunderstanding had been removed and the two societies were really twins. Yet it was not so: they were no more akin than our Society was with the Brahmo Samaj or any Christian or other sect. Disruption was inevitable, and in due time it came. The Swami, losing his temper, tried to repudiate his own words and acts, and finally turned upon us with abuse and denunciations, and put forth a circular to the public and posted handbills in Bombay to call us charlatans and I do not know what else. This forced us in self-defence to state our case and produce our proofs, and this was done in an extra Supplement to the Theosophist, of date July, 1882, in which all the evidence is cited in full and engraved facsimilies are given of an important document bearing the Swami’s signature and the certificate of Mr. Seervai, then our Recording Secretary. Thus, after a disturbed relationship of about three years, the two societies were wrenched apart and each went on its own way.
Mọi việc cứ thế cho đến khi hai Đấng Sáng lập đặt chân đến Ấn Độ và chẳng bao lâu gặp Swami Dayânand tại Saharanpur. Khả năng để chúng tôi vướng vào một chuỗi hiểu lầm, dĩ nhiên, tăng cao vì Swami và chúng tôi phải nói chuyện qua thông dịch viên, những người, dù khá thông thạo tiếng Anh thường dụng, lại thiếu độ linh hoạt cần thiết để có thể chuyển ngữ đúng các quan điểm của chúng tôi về những vấn đề thâm áo của triết học, siêu hình học, và khoa học huyền bí cần phải thảo luận. Chúng tôi, quả thực, đã được làm cho hiểu rằng quan niệm của Swami Dayânand về Thượng đế là Parabrahman theo phái Vedânta, do đó tương hợp với quan niệm của chúng tôi. Dưới sự ngộ nhận này—về sau Ngài tuyên bố là sai—tôi đã thuyết giảng tại Meerut trước Arya Samaj có Ngài hiện diện, và tuyên bố rằng nay mọi nguyên nhân hiểu lầm đã được xoá, và hai hội thật là sinh đôi. Nhưng không phải vậy: chúng không tương cận với nhau hơn Hội của chúng tôi với Brahmo Samaj hay bất cứ giáo phái Kitô nào khác. Đoạn tuyệt là tất yếu, và đến kỳ thì xảy ra. Swami, nổi nóng, cố phủ nhận chính lời nói và hành vi của mình, rốt cuộc quay sang mắng nhiếc và kết án chúng tôi, rồi phát một thông tri tới công chúng và dán yết thị ở Bombay để gọi chúng tôi là lang băm và còn những gì nữa tôi không rõ. Điều này buộc chúng tôi, để tự vệ, phải trình bày trường hợp của mình và đưa ra bằng chứng, và điều đó đã được thực hiện trong một Phụ bản đặc biệt của The Theosophist, đề ngày tháng Bảy, 1882, trong đó toàn bộ chứng cứ được dẫn nguyên văn và có in bản khắc facsimile của một văn kiện quan trọng có chữ ký của Swami và lời chứng của ông Seervai, lúc ấy là Thư ký Ghi chép của chúng tôi. Thế là, sau một quan hệ rối ren chừng ba năm, hai hội bị bứt rời và mỗi bên đi theo con đường riêng.
The inherent disruptive elements were (1) My discovery that the Swami was simply that—i.e., a pandit ascetic—and not an adept at all; (2) The fact that the Samaj was not standing upon the eclectic platform of the Theosophical Society; (3) The Swami’s disappointment at our receding from our first consent to accept Harischandra’s bid for the. amalgamation; (4) His vexation—expressed to me in very strong terms—that I should be helping the Ceylon Buddhists and the Bombay Parsis to know and love their religions better than heretofore, while, as he said, both were false religions. I have also doubted whether his and our intermediary correspondent, Hurrychund Chintamon, had ever explained to him just what our views and the real platform of our Society were. The subsequent discovery of the fact that he (Hurrychund) had pocketed the Rs. 600-odd sent him by us for the Arya Samaj, and his restitution of the money at Bombay under H. P. B.’s compulsion, incline me to the opinion that he deceived both the Swami and ourselves in this respect, and that, but for my getting Shyamji’s translation of the Samaj Rules, we should have gone on under the same misapprehension until coming out to India.
Các yếu tố tự thân gây đổ vỡ là (1) Khám phá của tôi rằng Swami đơn thuần là thế—tức một pandit khổ hạnh—chứ không phải một chân sư; (2) Sự thật là Samaj không đứng trên cương lĩnh dung hợp của Hội Thông Thiên Học; (3) Sự thất vọng của Swami khi chúng tôi rút lui khỏi sự đồng ý ban đầu là chấp thuận đề nghị dung hợp của Harischandra; (4) Sự bực bội của Ngài—đã nói với tôi bằng những lời rất mạnh—vì tôi lại giúp Phật tử Tích Lan và Parsis Bombay hiểu và yêu tôn giáo của họ hơn trước, trong khi theo lời Ngài, cả hai đều là tôn giáo sai lạc. Tôi cũng ngờ rằng liệu người trung gian thư từ giữa Ngài và chúng tôi, Hurrychund Chintamon, đã từng giải thích cho Ngài biết lập trường thật và cương lĩnh thực sự của Hội chúng tôi hay chưa. Việc về sau phát hiện ra rằng ông ta (Hurrychund) đã bỏ túi hơn 600 Rs. mà chúng tôi gửi cho ông để chuyển cho Arya Samaj, và việc ông hoàn trả tiền tại Bombay dưới sự buộc của H. P. B., khiến tôi thiên về ý kiến rằng ông ta đã đánh lừa cả Swami lẫn chúng tôi trong điểm này, và rằng, nếu tôi không nhận được bản dịch Điều lệ Samaj của Shyamji, chúng tôi đã cứ tiếp tục trong ngộ nhận cho tới lúc ra Ấn Độ.
It is quite useless and waste of room for me to proceed further in this affair, since those who care for details can find them given at length in the extra Supplement to the Theosophist above mentioned. The Swami was undoubtedly a great man, a learned Sanskrit Pandit, with immense pluck, force of will and self-reliance—a leader of men. When we first met him, in 1879, he had recently recovered from an attack of cholera and his physique was more refined and delicate than usual. I thought him strikingly handsome; tall, dignified in carriage, and gracious in manner towards us, he made a very strong impression upon our imaginations. But when I next saw him—at Benares, I believe, some few years later,—he was quite changed, and not for the better. He had grown obese, the fat stood in rolls on his half-nude body, and hung in “double-chin” masses from his under jaw. His breadth detracted from his height, so that he actually seemed to me shorter, and the poetical expression had left his Dantesque face. I have, fortunately, a souvenir of his earlier self in a copy in oils of a photograph, which was given me in Northern India. He is dead and gone now, but his Samaj survives and has spread throughout Northern India to the extent of two or three hundred branches. Annie Besant and I enjoyed a visit to the chief Samaj—at Lahore—during our recent visit to the Punjâb and helped a little, I hope, to mollify the hard feelings which the Samajists have, to my great regret, long held towards us.
Tôi thấy hoàn toàn vô ích và lãng phí chỗ để đi xa hơn trong vụ việc này, vì ai quan tâm chi tiết có thể tìm thấy đầy đủ trong Phụ bản đặc biệt của The Theosophist đã nói. Swami, không nghi ngờ gì, là một người vĩ đại, một Pandit Sanskrit uyên bác, với lòng can đảm bao la, ý chí kiên cường và sự tự cậy nơi mình—một lãnh tụ. Khi chúng tôi lần đầu gặp Ngài, năm 1879, Ngài vừa bình phục sau một cơn dịch tả và thể trạng của Ngài tinh gọn, thanh thoát hơn thường lệ. Tôi thấy Ngài cực kỳ tuấn tú; cao lớn, phong thái đường bệ, và xử sự với chúng tôi một cách niềm nở, Ngài gây ấn tượng rất mạnh vào trí tưởng của chúng tôi. Nhưng khi tôi gặp lại Ngài—tại Benares, tôi tin vậy, vài năm sau—Ngài đã đổi khác hẳn, và không phải theo chiều hướng tốt. Ngài phát phì, mỡ xếp thành từng nếp trên thân thể bán khoả, và chảy thành mỡ cằm đôi quanh hàm dưới. Bề ngang làm mất đi vẻ cao, khiến thực sự Ngài trông có vẻ lùn hơn, và vẻ thi vị đã rời khỏi gương mặt mang dáng Dante của Ngài. May thay, tôi có một kỷ vật về dung nhan thuở trước của Ngài: một bức sơn dầu chép theo ảnh, được tặng cho tôi ở miền Bắc Ấn Độ. Ngài nay đã khuất, nhưng Samaj của Ngài vẫn tồn tại và đã lan khắp miền Bắc Ấn, chừng hai ba trăm chi hội. Annie Besant và tôi đã được dịp thăm Samaj chính—ở Lahore—trong chuyến thăm gần đây của chúng tôi tới Punjâb và hy vọng đã góp phần nhỏ để làm dịu bớt những cảm tình gay gắt mà các Samajist, điều tôi vô cùng tiếc, từ lâu đã nắm giữ đối với chúng tôi.
The world is wide enough for us all, and it is better that we all should try to live together as brethren.
Thế giới đủ rộng cho tất cả chúng ta, và tốt hơn là chúng ta đều cố gắng sống với nhau như huynh đệ.
CHAPTER XXVI
CHƯƠNG XXVI
MME. BLAVATSKY AT HOME
BÀ BLAVATSKY Ở NHÀ
H. P. B. has been mainly dealt with public capacity; let us now see how she appeared in the home.
H. P. B. phần lớn đã được nói đến trong tư cách công chúng; giờ hãy xem Bà hiện ra thế nào trong mái ấm.
But first, does anyone know why she so much preferred to be called “H. P. B.”, and so abhorred the title of “Madame”? That she should not like to be addressed by the surname Blavatsky, is not so strange when one remembers the facts of that wretched marriage, as given by Mr. Sinnett in his Incidents etc. It brought neither credit nor happiness to her, nor peace to the consort whom she, for a wager, tied to herself, for better for worse. Yet before she would marry the other Mr. B., at Philadelphia, she stipulated that she should not change her surname, and did not, save in the subsequent divorce papers, wherein she styles herself by her second husband’s name. The title “Madame” she had a sort of loathing for, as she associated it with a female dog of that name that an acquaintance of hers owned in Paris, and which was specially disliked by her. I think the apparent eccentricity of calling herself by her three initials had a deeper significance than has been generally suspected. It meant that the personality of our friend was so blended with those of several of her Masters that, in point of fact, the name she bore but seldom applied to whatever intelligence was momentarily controlling it; and the Asiatic personage who was speaking to you through her lips was certainly neither Helena, nor the widow of Genl. Blavatsky, nor a woman at all. But each of these shifting personalities contributed towards the making of a composite entity, the sum of them all and of Helena Petrovna herself, which might as well be designated “H. P. B.” as anything else. The case recalls to my mind that of the composite photograph—an apparently real entity, yet but a blending of a dozen or more—which Sir Francis Galton first brought to our notice in his Inquiry into Human Faculty. My theory may seem untenable, at first sight, by those who did not know her so intimately as myself, yet I incline to the belief that it is the correct one.
Nhưng trước hết, có ai biết vì sao Bà lại ưa được gọi là “H. P. B.” đến thế, và lại ghét tước xưng “Madame” đến vậy không? Việc Bà không thích được gọi bằng họ Blavatsky cũng không lạ, khi nhớ lại sự thật về cuộc hôn nhân khốn khổ ấy, như ông Sinnett đã kể trong Incidents v.v... Nó chẳng mang lại danh giá hay hạnh phúc cho Bà, cũng chẳng yên bình cho người phối ngẫu mà Bà, vì một vụ cá độ, đã buộc ràng vào mình, dù tốt hay xấu. Vậy mà trước khi Bà chịu kết hôn với ông B. khác ở Philadelphia, Bà đã đặt điều kiện là không đổi họ, và Bà đã không đổi, trừ trong giấy tờ ly hôn sau đó, trong đó Bà xưng theo họ người chồng thứ hai. Tước xưng “Madame” thì Bà gần như ghê sợ, vì Bà liên hệ nó với một con chó cái mang tên ấy của một người quen ở Paris, mà Bà đặc biệt ghét. Tôi nghĩ cái vẻ lập dị khi tự gọi bằng ba chữ cái đầu có ý nghĩa sâu xa hơn người ta vẫn tưởng. Nó có nghĩa là phàm ngã của người bạn chúng tôi hoà trộn đến độ như một với phàm ngã của vài vị Huấn sư của Bà đến nỗi, thực ra, cái tên Bà mang hiếm khi áp vào đúng trí năng nào đang tạm thời điều khiển nó; và vị nhân vật Á châu đang nói với bạn qua môi Bà chắc chắn không phải Helena, cũng không phải goá phụ của Tướng Blavatsky, cũng chẳng phải một phụ nữ. Nhưng mỗi phàm ngã chuyển dịch ấy đều góp phần vào việc cấu thành nên một thực thể hỗn hợp, tổng của tất cả chúng và của chính Helena Petrovna, mà gọi là “H. P. B.” cũng ổn như gọi bằng bất cứ gì khác. Trường hợp này gợi tôi nhớ đến bức ảnh hợp thể—một thực thể có vẻ là thật, nhưng chỉ là sự pha trộn của chục hình trở lên—mà Sir Francis Galton lần đầu đưa vào tầm chú ý của chúng ta trong tác phẩm Inquiry into Human Faculty. Lý thuyết của tôi thoạt nhìn có thể có vẻ không đứng vững với những ai không biết Bà thân mật như tôi, nhưng tôi thiên về tin rằng đó là lý giải đúng.
The routine of our life at the “Lamasery” was the following. We breakfasted at about 8, dined at 6, and retired at some small hour in the morning, according to our work and its interruption by visitors. H. P. B. lunched at home and I in town, somewhere near my law-office. When we first met I was a very active member of the Lotos Club, but the writing of Isis put an end, once for all, to my connection with clubs and worldly entanglements in general. After breakfast I left for my office and H. P. B. set herself for work at the desk. At dinner, more often than not, we had guests, and we had few evenings alone; for even if no visitors dropped in, we usually had somebody stopping with us in our apartment. Our house-keeping was of the simplest; we drank no wine or spirits, and ate but plain food. We had one maid-of-all-work, or rather a procession of them coming and going, for we did not keep one very long. The girl went to her home after clearing away the dinner things, and thenceforward we had to answer the door ourselves. That was not much; but a more serious affair was to supply tea, with milk and sugar, for a roomful of guests at, say, 1 A.M., when H. P. B., with lofty disregard of domestic possibilities, would invite herself to take a cup, and in a large way exclaim: “Let’s all have some: what do you say?” It was useless for me to make gestures of dissent, she would pay no attention. So after sundry fruitless midnight searches for milk or sugar in the neighbourhood, the worm turned, and I put up a notice to this effect:
Nếp sinh hoạt của chúng tôi ở “Lamasery” như sau. Chúng tôi ăn sáng khoảng 8 giờ, dùng bữa tối lúc 6 giờ, và đi nghỉ vào một giờ nào đó gần sáng, tuỳ công việc và mức bị viếng thăm làm gián đoạn. H. P. B. ăn trưa ở nhà còn tôi ở phố, đâu đó gần văn phòng luật của tôi. Khi mới gặp nhau, tôi còn là một hội viên rất năng nổ của Lotos Club, nhưng việc viết Isis đã chấm dứt dứt khoát mối liên hệ của tôi với các câu lạc bộ và nói chung là mọi ràng buộc thế tục. Sau bữa sáng tôi rời đi đến văn phòng và H. P. B. vào bàn làm việc. Lúc ăn tối, thường hơn là hiếm, chúng tôi có khách, và ít khi có buổi tối nào ở một mình; bởi ngay cả khi không ai ghé chơi, chúng tôi thường có ai đó đang ở trọ cùng chúng tôi trong căn hộ. Việc nội trợ của chúng tôi hết sức đơn giản; chúng tôi không uống rượu vang hay mạnh, và chỉ ăn đồ giản dị. Chúng tôi có một cô “làm tất cả,” hay đúng hơn là một đoàn người giúp việc nối nhau đến rồi đi, vì không giữ được ai lâu. Cô gái về nhà sau khi dọn dẹp xong chén bát của bữa tối, và từ đó chúng tôi phải tự ra mở cửa. Chuyện đó không đáng kể; nhưng việc nghiêm trọng hơn là phải lo trà, sữa và đường cho một phòng khách đông người vào lúc, giả dụ, 1 giờ sáng, khi H. P. B., với sự bất chấp thanh nhàn gia dụng rất oai vệ, sẽ tự mời mình dùng một tách, và hào sảng thốt: “Chúng ta cùng uống đi: các vị nói sao?” Tôi ra hiệu phản đối cũng vô ích, Bà chẳng thèm để ý. Thế là sau vài lần lục tìm vô bổ giữa đêm để kiếm sữa hay đường ở lân cận, con sâu quằn quại, và tôi treo một tờ thông báo như sau:
“TEA”
“TRÀ”
“Guests will find boiling water and tea in the kitchen, perhaps milk and sugar, and will kindly help themselves.”
“Khách sẽ tìm thấy nước sôi và trà trong bếp, có lẽ có sữa và đường, và xin vui lòng tự phục vụ.”
This was so akin to the Bohemian tone of the whole establishment that nothing was thought of it, and it was most amusing later on to see the habitués getting up quietly and going off to the kitchen to brew tea for themselves. Fine ladies, learned professors, famous artists and journalists, all jocosely became members of our “Kitchen Cabinet”, as we called it.
Điều này phù hợp đến kỳ lạ với giọng điệu phóng khoáng của cả nơi cư trú, đến nỗi chẳng ai bận tâm, và thật buồn cười về sau khi thấy các khách quen cứ lặng lẽ đứng dậy và đi thẳng xuống bếp để tự pha trà. Các quý bà quý cô, giáo sư học vấn uyên bác, nghệ sĩ và ký giả danh tiếng, tất cả vui vẻ trở thành thành viên “Nội các Nhà bếp” của chúng tôi, như chúng tôi gọi nó.
H. P. B. had not even a rudimentary notion of housekeeping. Once, wishing boiled eggs, she laid the raw eggs on the live coals! Sometimes our maid would walk off on a Saturday evening and leave us to shift as we might for the day’s meals. Then was it H..P. B. who catered and cooked? Nay, verily, but her poor colleague. She would either sit and write and smoke cigarettes, or come into the kitchen and bother. In my Diary for 1878, I find this in the entry for April 12: “The servant ‘vamosed the ranch’ without preparing dinner; so the Countess L. P. turned in and helped me by making an excellent salad. Besides her, we had O’Donovan to dinner.” He was a rare chap, that Irishman; a sculptor of marked talent, an excellent companion, with a dry humour that was irresistible. H. P. B. was very fond of him and he of her. He modelled her portrait from life in a medallion, which was cast in bronze and which is in my possession. What he may be now I know not, but at that time he was fond of a glass of good whiskey (if any whiskey may be called good), and once made a roomful roar with laughter by a repartee he gave to one of the company present. They were drinking together, and the person in question after tasting his glass, put it down with the exclamation, “Pah! what bad whiskey that is!” O’Donovan, turning to him with solemn gravity, laid a hand upon his arm and said: “Don’t, don’t say that. There is no bad whiskey, but some is better than other.” He was a Roman Catholic by birth, though nothing in particular, it appeared, in actual belief. But, seeing how hot and angry H.P.B. would always get when Roman Catholicism was mentioned, he used to pretend that he believed that that creed would eventually sweep Buddhism, Hinduism, and Zoroastrianism from the face of the earth. Although he played this trick on her twenty times, H. P. B. was invariably caught again in the trap whenever O’Donovan set it for her. She would fume and swear, and call him an incurable idiot and other pet names, but to no purpose: he would sit and smoke in dignified silence, without changing face, as if he were listening to a dramatic recitation in which the speaker’s own feelings had no share. When she had talked and shouted herself out of breath, he would slowly turn his head towards some neighbour and say: “She speaks well, doesn’t she; but she don’t believe that; it is only her repartee. She will be a good Catholic some day.” And then, when H. P. B. exploded at this crowning audacity, and made as if to throw something at him, he would slip away to the kitchen and make himself a cup of tea! I have known him bring friends there just to enjoy this species of bear-baiting; but H. P. B. never nourished malice, and after relieving herself of a certain number of objurgations, would be as friendly as ever with her inveterate teaser.
H. P. B. không có nổi khái niệm sơ đẳng về việc nội trợ. Có lần, muốn luộc trứng, Bà đặt trứng sống lên than hồng! Đôi khi cô người làm bỏ đi tối thứ Bảy, để mặc chúng tôi tự xoay xở bữa ăn ngày hôm sau. Lúc ấy có phải H. P. B. đi chợ và nấu nướng không? Chẳng hề, thật vậy, mà là cộng sự tội nghiệp của Bà. Hoặc Bà ngồi viết và hút thuốc lá cuộn, hoặc vào bếp và gây vướng víu. Trong Nhật ký 1878 của tôi, có dòng này ở mục ngày 12 tháng Tư: “Người hầu ‘chuồn khỏi nhà’ mà không chuẩn bị bữa tối; thế là nữ Bá tước L. P. xắn tay và giúp tôi bằng cách làm một món xà lách tuyệt hảo. Ngoài Bà, chúng tôi có O’Donovan cùng dự bữa.” Anh chàng ấy lạ lắm, người Ireland; một nhà điêu khắc giàu tài, một bạn đồng hành tuyệt hảo, với lối hài hước khô mà không ai cưỡng nổi. H. P. B. rất mến anh và anh cũng mến Bà. Anh nặn chân dung Bà từ mẫu sống trong một phù điêu, đúc bằng đồng và hiện ở trong tay tôi. Giờ anh thế nào tôi không rõ, nhưng khi đó anh ưa một ly whiskey ngon (nếu có thứ whiskey nào có thể gọi là ngon), và có lần đã khiến cả phòng cười nghiêng ngả bởi một câu ứng đối anh dành cho một người có mặt. Họ cùng uống, và người kia sau khi nếm một hớp, đặt ly xuống và kêu: “Pah! whiskey tệ quá!” O’Donovan quay sang, rất trang trọng đặt tay lên cánh tay ông ta và nói: “Đừng, đừng nói thế. Không có whiskey tệ, chỉ là có loại ngon hơn loại khác.” Anh sinh ra là người Công giáo La Mã, nhưng dường như thực tế không tin theo điều gì cụ thể. Nhưng thấy H. P. B. cứ nóng bừng và giận dữ mỗi khi nhắc đến Công giáo La Mã, anh hay giả vờ rằng mình tin giáo phái ấy rồi sẽ quét sạch Phật giáo, Ấn giáo, và Bái hoả giáo khỏi mặt đất. Dù đã giở trò ấy với Bà hai chục lần, H. P. B. lần nào cũng sập bẫy mỗi khi O’Donovan gài. Bà sẽ bừng bừng quát tháo, mắng anh là đồ ngu bất trị và các mỹ từ khác, nhưng vô ích: anh ngồi hút thuốc trong im lặng đường bệ, không đổi sắc mặt, như thể đang nghe một bài ngâm kịch mà cảm xúc của người nói chẳng dính dáng gì đến mình. Khi Bà nói và la đến đứt hơi, anh chậm rãi quay đầu về phía một người bên cạnh và nói: “Bà ấy nói hay, phải không; nhưng Bà ấy không tin thế đâu; chỉ là câu ứng đối thôi. Một ngày kia Bà ấy sẽ là người Công giáo tốt.” Và rồi, khi H. P. B. bùng nổ trước sự hỗn xược đỉnh điểm ấy, và như thể sắp ném gì đó vào anh, thì anh lỉnh xuống bếp và tự pha cho mình một tách trà! Tôi từng biết anh dẫn bạn bè đến chỉ để thưởng thức kiểu “chọc gấu” này; nhưng H. P. B. không bao giờ nuôi hiềm, và sau khi trút ra một số lời thoá mạ nhất định, Bà lại thân thiện như thường với gã chọc ghẹo bất trị của mình.
One of our frequent and most appreciated visitors was Prof. Alexander Wilder, a quaint personality, the type of the very large class of self-educated American yeomanry; men of the forceful quality of the Puritan Fathers; men of brain and thought, intensely independent, very versatile, very honest, very plucky and patriotic. Prof. Wilder and I have been friends since before the Rebellion, and I have always held him in the highest esteem. His head is full of knowledge, which he readily imparts to appreciative listeners. He is not a college-bred or city-bred man, I fancy, but if one wants sound ideas upon the migration of races and symbols, the esoteric meaning of Greek philosophy, the value of Hebrew or Greek texts, or the merits and demerits of various schools of medicine, he can give them as well as the most finished graduate. A tall, lank man of the Lincoln type, with a noble, dome-like head, thin jaws, grey hair, and language filled with quaint Saxon-Americanisms. He used to come and talk by the hour with H.P.B., often lying recumbent on the sofa, with—as she used to say—”one long leg resting on the chandelier, the other on the mantel-piece.” And she, as stout as he was thin, as voluble as he was sententious and epigrammatic, smoking innumerable cigarettes and brilliantly sustaining her share of the conversation. She got him to write out many of his ideas to use in Isis, and they will be found there quoted. The hours would slip by without notice until he sometimes found himself too late for the last train to Newark, and would have to stop in town all night. I think that, of all our visitors, he cared about the least of all for H. P. B.’s psychical phenomena: he believed in their scientific possibility and did not doubt her possession of them, but philosophy was his idol, and the wonders of mediumship and adeptship interested him only in the abstract.
Một trong những khách thường xuyên và được trân quý nhất của chúng tôi là Giáo sư Alexander Wilder, một nhân cách khác thường, tiêu biểu cho một lớp rất lớn những người nông dân Mỹ tự học; những người mang phẩm chất mãnh liệt của các Tổ phụ Thanh giáo; người trí tuệ và tư tưởng, cực kỳ độc lập, rất đa năng, rất trung thực, rất can đảm và yêu nước. Giáo sư Wilder và tôi là bạn từ trước thời Nội chiến, và tôi luôn giữ ông nơi cao quý nhất. Đầu óc ông đầy ắp tri thức, mà ông truyền đạt rộng rãi cho những người nghe biết trân trọng. Tôi đoán ông không phải người đào tạo chính quy hay con nhà thành phố, nhưng nếu ai muốn có ý tưởng chắc chắn về sự di dân của các giống dân và các biểu tượng, thâm nghĩa nội môn của triết học Hy Lạp, giá trị của các văn bản Hebrew hay Hy Lạp, hoặc ưu và khuyết của các trường phái y học khác nhau, thì ông có thể đưa ra cũng tốt như người tốt nghiệp hoàn hảo nhất. Một người cao, gầy kiểu Lincoln, trán vòm cao quý, quai hàm gầy, tóc hoa râm, ngôn ngữ đầy những thành ngữ Saxon-Mỹ cổ kính. Ông thường đến chuyện trò hàng giờ với H. P. B., nhiều khi nằm dài trên ghế sô-pha, với—như Bà hay nói—”một chân dài gác lên chùm đèn, chân kia lên lò sưởi.” Còn Bà, mập mạp như ông thì gầy, hoạt ngôn như ông thì súc tích, nói những câu cách ngôn, hút vô số điếu và rực rỡ duy trì phần đối thoại của mình. Bà khiến ông viết ra nhiều ý tưởng để dùng trong Isis, và ta sẽ thấy chúng được trích ở đó. Giờ giấc trôi qua mà chẳng ai để ý cho đến khi đôi khi ông thấy mình lỡ chuyến tàu cuối về Newark, và phải ở lại thành phố qua đêm. Tôi nghĩ rằng, trong tất cả khách của chúng tôi, ông là người bận tâm ít nhất với các hiện tượng tâm linh của H. P. B.: ông tin vào khả năng khoa học của chúng và không nghi ngờ Bà sở hữu chúng, nhưng triết học là thần tượng của ông, và những kỳ tích của đồng tử và địa vị chân sư chỉ hấp dẫn ông về mặt trừu tượng.
Yet some of H.P.B.’s phenomena were strange enough, in all conscience. Besides those heretofore described, I find mention of others in my Diary, among them this curious one:
Tuy vậy, một số hiện tượng của H. P. B. cũng đủ kỳ dị, hẳn thế. Ngoài những điều đã mô tả, tôi thấy ghi lại những điều khác trong Nhật ký, trong đó có điều kỳ lạ này:
I met one day in the lower part of the city (New York) an acquaintance with whom I stopped for a few moments to chat. He was very prejudiced against H. P. B., and spoke very harshly against her, keeping to his opinion despite all I could say. At last he used such objectionable language that, in sheer disgust, I hastily left him and went on my way. I go home as usual in time for dinner, and went to my room—the one marked “G” on the plan given in Chapter XXIV was then my sleeping apartment—to make my toilet. H. P. B. came along the passage to the open door, and from thence bade me good evening. The washing-stand was in the N. W. corner, opposite the door, and the “hard-finished” white wall above it uncovered with pictures or anything. After finishing my washing I turned towards the shaving-stand, behind me and just in front of the window, to brush my hair, when I saw something of a green colour reflected in the glass. A second glance showed it to be a sheet of green paper with writing upon it, and to be attached to the wall just over the washing-stand where I had the moment before been occupied without seeing anything save the blank wall before my eyes. I found the paper attached to the plastering by pins at the four corners, and the writing to be a number of Oriental texts from Dhammapâda and Sûtras, written in a peculiar style and signed at the lower corner by one of the Masters. The verses were reproaches to my address for having allowed H.P.B. to be reviled without defending her; unmistakably referring to my encounter down town with the person I had met, although no names were mentioned. I had not been five minutes in the house since my return, had spoken to nobody about the incident, nor exchanged with anyone in the house more than the few words of greeting with H. P. B. from the door of my room. In fact, the incident had passed out of my mind. This is one of those phenomena of the higher class which involve the power of thought-reading, or clairaudience at a distance, and either that of producing written documents without contact, or of writing them in the ordinary way, attaching them to the wall before my return home, and then inhibiting my sight so as to make them invisible for the moment, but visible the next instant by the restoration to me of my normal vision. This seems the more probable explanation of the two, yet, even then see how fine is the phenomenon, first, in the clairaudience at the distance of three miles, and then in the inhibition of my sight without arousing the slightest suspicion in my mind of the trick being played upon me. I had carefully kept this green paper until 1891, when it was with me on my round-the-world tour, and was appropriated by somebody without my permission.I should be glad to recover it. Another production of H. P. B.’s has disappeared along with it. It is a caricature representing my supposed ordeal of initiation into the school of adepts, and most comical picture it is. In the lower foreground I stand with a Hindu fehta (turban) as my only article of dress, undergoing a catechetical examination by Master K. H. In the lower right-hand corner a detached hand holds in space a bottle of spirits, and a bony bayadere, who looks like a starved Irish peasant in a time of potato-blight, is dancing a pas de fascination. In the upper corner H. P. B., wearing a New Jersey sunhood and Deccanee men’s turn-up shoes, and carrying a bell-shaped umbrella with a flag marked “Jack” streaming from its point, bestrides an elephant and holds out a mammoth hand to “control the elements” for my helping, while another Master stands beside the elephant watching my ordeal. A funny little elemental in a cotton nightcap and holding a lighted candle, says, “My stars! what’s that?” from a perch on K. H.’s “shoulder, and a series of absurd questions and answers written below my Interrogator’s book, complete the nonsensical satire. From this description the reader may judge of the joviality of H. P. B.’s temperament at that period, and of the kindly license allowed us in our dealings with the Teachers. The mere thought of such irreverence will doubtless make cold chills to run down the spines of some of H. P. B.’s latest pupils. I do not know how I could better illustrate this joyous exhuberance of hers than by quoting the expression used by a Hartford reporter in writing to his paper. “Madame laughed,” he writes. “When we write Madame laughed, we feel as if we were saying Laughter was present! for of all clear, mirthful, rollicking laughter that we ever heard, here is the very essence. She seems, indeed, the Genius of the mood she displays at all times, so intense is her vitality.” This was the tone of our household; and her mirthfulness, epigrammatic wit, brilliance of conversation, caressing friendliness to those she liked or wanted to have like her, fund of anecdote and, chiefest attraction to most of her callers, her amazing psychical phenomena—made the “Lamasery” the most attractive salon of the metropolis from 1876 to the close of 1878.
Một ngày nọ ở khu hạ thành (New York) tôi gặp một người quen và dừng lại chuyện vài phút. Ông ta rất thành kiến với H. P. B., và nói những lời rất khắc nghiệt về Bà, cứ giữ ý kiến mình mặc tôi nói gì. Rốt cuộc ông dùng những lời lẽ khó chấp nhận đến nỗi, vì chán ghét, tôi vội bỏ đi và tiếp tục đường mình. Tôi về nhà như thường lệ trước giờ ăn tối, và vào phòng—phòng đánh dấu chữ “G” trên sơ đồ đưa ở Chương XXIV lúc đó là phòng ngủ của tôi—để sửa soạn. H. P. B. đi dọc hành lang đến cửa mở, và từ đó chào tôi buổi tối. Giá để rửa mặt ở góc tây bắc, đối diện cửa, và bức tường trắng “đánh hồ” phía trên trống trơn không treo tranh hay gì cả. Rửa mặt xong, tôi quay về bàn cạo râu, sau lưng tôi và ngay trước cửa sổ, để chải tóc, thì thấy có gì đó màu xanh lá phản chiếu trong gương. Nhìn lại lần nữa, thấy đó là một tờ giấy xanh lá có chữ viết trên, và được gắn vào tường ngay trên giá rửa mặt nơi lúc trước tôi vừa bận mà trước mắt chỉ thấy bức tường trống. Tôi thấy tờ giấy được ghim vào lớp vữa bằng kim ở bốn góc, và mấy dòng chữ là một số văn bản Đông phương từ Dhammapâda và các Sûtra, viết theo lối chữ lạ và ký ở góc dưới bởi một trong các Huấn sư. Các bài kệ trách móc tôi vì đã để cho H. P. B. bị phỉ báng mà không bênh vực; rõ ràng ám chỉ cuộc chạm trán của tôi ở khu trung tâm với người tôi gặp, dù không nêu tên ai. Từ lúc trở về nhà tôi chưa ở trong nhà quá năm phút, chưa nói với ai về biến cố ấy, cũng chẳng trao đổi với người nào trong nhà quá vài lời chào với H. P. B. từ cửa phòng. Thật vậy, biến cố ấy đã trôi khỏi tâm trí tôi. Đây là một trong những hiện tượng bậc cao, bao hàm quyền năng đọc tư tưởng, hoặc thông nhĩ từ xa, và hoặc là năng lực tạo ra văn bản viết mà không tiếp xúc, hoặc là viết theo lối thường, gắn chúng lên tường trước khi tôi về, rồi kìm hãm thị giác của tôi để khiến chúng tạm thời vô hình, nhưng liền sau đó trở nên hữu hình bằng cách trả lại cho tôi thị giác bình thường. Cách giải thích sau có vẻ khả hữu hơn, tuy vậy, ngay cả thế hãy xem hiện tượng tinh mỹ đến dường nào: trước hết là thông nhĩ ở khoảng cách ba dặm, rồi là sự kìm hãm thị giác của tôi mà chẳng gợi chút khả nghi nào trong tâm rằng có trò ảo thuật đang diễn ra. Tôi đã cẩn trọng giữ tờ giấy xanh này cho đến 1891, khi nó đi cùng tôi trong chuyến vòng quanh thế giới, và bị ai đó lấy mất mà không xin phép. Tôi rất mong được thu hồi nó. Một tác phẩm khác do H. P. B. tạo cũng biến mất cùng nó. Đó là bức biếm hoạ mô tả cuộc thử luyện được cho là của tôi khi điểm đạo vào trường của các chân sư, và là một bức vẽ khôi hài khôn tả. Ở góc dưới tiền cảnh là tôi, chỉ đội chiếc fehta (khăn xếp) của người Hindu làm vật phục duy nhất, đang chịu một cuộc vấn đáp giáo lý bởi Chân sư K. H. Ở góc dưới bên phải một bàn tay rời giữ lơ lửng một chai rượu mạnh, và một vũ nữ bayadere gầy guộc như một nông dân Ireland lúc mất mùa khoai tây đang múa một điệu mê hoặc. Ở góc trên, H. P. B., đội mũ tròn che nắng New Jersey và mang đôi giày mũi hất của đàn ông Deccanee, tay cầm một chiếc ô hình chuông với lá cờ ghi “Jack” tung bay ở đỉnh, cưỡi trên lưng voi và vươn một bàn tay khổng lồ để “chế ngự các hành tố” phụ giúp tôi, trong khi một Huấn sư khác đứng cạnh con voi quan sát cuộc thử luyện của tôi. Một hành khí nhỏ xíu đội mũ ngủ bằng vải bông và cầm một cây nến cháy, thốt: “Lạy các vì sao của tôi! kia là gì vậy?” từ một chỗ bám trên “vai” của K. H., và một chuỗi câu hỏi đáp ngớ ngẩn viết dưới cuốn sổ Vấn giả của tôi, hoàn tất màn châm biếm quái đản. Từ mô tả này, độc giả có thể đo mức độ vui tươi của khí chất H. P. B. thời ấy, và quyền tự do dễ thương mà chúng tôi được phép trong cách đối đãi với các Huấn sư. Chỉ ý nghĩ về thứ “bất kính” như thế cũng đủ khiến một số học trò muộn thời của H. P. B. sởn gai ốc. Tôi không biết có thể minh hoạ sức sống vui dào dạt của Bà hay hơn bằng cách trích câu của một phóng viên Hartford khi viết cho báo ông. “Madame cười,” ông viết. “Khi chúng tôi viết Madame cười, chúng tôi có cảm giác như đang nói Nụ cười đã hiện diện! vì trong tất cả những tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên, tưng bừng mà chúng tôi từng nghe, đây là cái tinh tuý. Bà dường như, thật vậy, là Thần Nữ của tâm trạng mà Bà phô ra mọi lúc, sinh lực của Bà mãnh liệt đến thế.” Đó là điệu sống trong gia thất chúng tôi; và sự vui nhộn, dí dỏm cách ngôn, tài đối thoại rực rỡ, sự thân ái âu yếm với những người Bà thích hay muốn họ thích Bà, kho tàng giai thoại và, hấp lực chủ chốt đối với hầu hết khách đến thăm, những hiện tượng huyền bí tuyệt lạ của Bà—tất cả đã làm “Lamasery” trở thành phòng khách hấp dẫn nhất của thủ đô từ 1876 đến cuối 1878.
A very interesting phenomenon is that of duplication of objects, the making of two or more out of one. I have given some instances above, and here is another which was described in the New York correspondence of the Hartford Daily Times of December 2, 1878. The correspondent passes an evening with us and meets a number of other visitors, from one of whom, an English artist, he gets the following story of what he saw H. P. B. do:
Một hiện tượng rất đáng chú ý là sự nhân đôi đồ vật, làm thành hai hay nhiều từ một. Tôi đã nêu vài thí dụ ở trên, và đây là một thí dụ nữa được thuật trong mục phóng sự New York của tờ Hartford Daily Times ngày 2 tháng Mười Hai, 1878. Phóng viên trải một buổi tối với chúng tôi và gặp một số khách khác, và từ một người trong đó, một nghệ sĩ người Anh, ông nhận được câu chuyện sau về điều ông thấy H. P. B. làm:
“I know it will seem incredible to you, my dear fellow,” said my friend, “for it does to me as I look back upon it; yet, at the same time, I know my senses could not have deceived me. Besides, another gentleman was with me at the time. I have seen Madame create things.” “Create things!” I cried. “Yes, create things,—produce them from nothing. I can tell you of two instances.”Madame, my friend, and myself were out one day looking about the stores, when she said she desired some of these illuminated alphabets which come in sheets, like the painted sheets of little birds, flowers, animals, and other figures, so popular for decorating pottery and vases. She was making a scrap-book, and wished to arrange her little page in these pretty colored letters. Well, we hunted everywhere but could not find any, until at last we found just one sheet, containing the twenty-six letters, somewhere on Sixth Avenue. Madame bought that one and we went home. She wanted several, of course, but not finding them proceeded to use what she could of this. My friend and I sat down beside her little table, while she got her scrap-book and busily began to paste her letters in. By and bye she exclaimed, petulantly, ‘I want two S’s, two P’s, and two A’s’. I said, ‘Madame, I will go and search for them down town. I presume I can find them somewhere.’
“Tôi biết điều này sẽ có vẻ khó tin đối với anh, bạn thân mến của tôi,” người bạn tôi nói, “vì chính tôi khi nhớ lại cũng thấy vậy; tuy nhiên, đồng thời, tôi biết các giác quan của mình không thể đã đánh lừa tôi. Hơn nữa, lúc đó còn có một quý ông khác đi cùng tôi. Tôi đã thấy Bà làm ra vật thể.” “Làm ra vật thể!” tôi kêu lên. “Vâng, tạo ra vật thể,—sản sinh chúng từ hư vô. Tôi có thể kể cho anh hai trường hợp.” Một ngày kia, Madame, bạn tôi và tôi cùng đi dạo xem các cửa hàng, khi Bà nói Bà muốn vài bộ chữ cái trang trí in màu, loại in sẵn trên tờ như các tờ hình chim, hoa, thú và hình khác, rất thịnh hành để trang trí đồ gốm và bình. Bà đang làm một cuốn sổ gom tư liệu, và muốn sắp chữ trang nhỏ của mình bằng những chữ cái màu xinh xắn này. Chúng tôi lục khắp nơi mà không tìm được, mãi sau mới thấy đúng một tờ, gồm đủ hai mươi sáu chữ cái, ở đâu đó trên Đại lộ Sáu. Madame mua tờ đó và chúng tôi về nhà. Tất nhiên Bà muốn có vài tờ, nhưng vì không tìm ra thêm nên đành dùng những gì có thể từ tờ này. Bạn tôi và tôi ngồi xuống cạnh bàn nhỏ của Bà, trong khi Bà mang sổ gom tư liệu ra và bận rộn bắt đầu dán chữ vào. Rồi một lát sau Bà bực bội kêu, ‘Tôi cần hai chữ S, hai chữ P và hai chữ A’. Tôi nói, ‘Madame, tôi sẽ xuống phố tìm. Tôi đoán đâu đó tôi có thể kiếm được.’
“‘No, you need not,’” she answered. Then, suddenly looking up, said, ‘Do you wish to see me make some? ‘
“‘Không cần đâu,’” Bà đáp. Rồi, bỗng ngẩng lên, nói, ‘Anh có muốn xem tôi làm ra vài chữ không?‘
“‘Make some? How? Paint some?’
“‘Làm ra vài chữ? Bằng cách nào? Vẽ vài chữ à?’
“‘No, make some exactly like these.’
“‘Không, làm ra vài chữ y như thế này.’
“‘But how is that possible? These are printed by machinery.’
“‘Nhưng làm sao có thể? Những chữ này được in bằng máy.’
“‘It is possible—see!’
“‘Có thể chứ—xem đây!’
“She put her finger upon the S and looked upon it. She looked at it with infinite intensity. Her brow ridged out. She seemed the very spirit of will. In about half a minute she smiled, lifted her finger, took up two S’s exactly alike, exclaiming, ‘It is done!’ She did the same with the P’s.
“Bà đặt ngón tay lên chữ S và nhìn chằm chằm vào nó. Bà nhìn nó với cường độ vô biên. Trán nổi gân. Bà dường như là tinh thần của ý chí. Chừng nửa phút sau Bà mỉm cười, nhấc ngón tay lên, nhặt lên hai chữ S y hệt, kêu lên, ‘Xong rồi!’ Bà làm y như vậy với chữ P.
“Then my friend thought: ‘If this is trickery, it can be detected. In one alphabet can be but one letter of a kind. I will try her.’ So he said: ‘Madame, supposing this time, instead of making two letters separately, you join them together thus A—A—?’
“Rồi bạn tôi nghĩ: ‘Nếu đây là trò bịp, có thể vạch trần. Trong một bộ chữ chỉ có một chữ cùng loại. Ta sẽ thử Bà.’ Thế là ông nói: ‘Madame, giả sử lần này, thay vì làm hai chữ rời, Bà nối chúng lại như thế này A—A—?’
“‘It makes no difference to me how I do it,’ she replied indifferently, and placing her finger on the A, in a few seconds she took it up, and handed him two A’s, joined together as he desired. They were as if stamped from the same piece of paper. There were no seams or (artificial) joinings of any kind. She had to cut them apart to use them. This was in broad daylight, in the presence of no one but myself and friend, and done simply for her own convenience.
“‘Tôi làm thế nào cũng không khác gì,’ Bà thờ ơ đáp, và đặt ngón tay lên chữ A, vài giây sau Bà nhấc lên và đưa cho ông ta hai chữ A nối liền nhau đúng như ông muốn. Chúng như thể được dập ra từ cùng một mảnh giấy. Không có đường ráp hay mối nối (nhân tạo) nào. Bà phải cắt chúng rời ra để dùng. Mọi việc diễn ra giữa ban ngày, chỉ có tôi và bạn tôi hiện diện, và đơn giản là để tiện cho công việc của Bà.
“We were both astounded and lost in admiration. We examined these with the utmost care. They seemed as much alike as two peas. But if you wish, I can show you the letters this moment. ‘Madame, may we take your scrap-book to look at?’
“Cả hai chúng tôi đều kinh ngạc và tràn đầy thán phục. Chúng tôi soi xét những chữ này hết sức kỹ lưỡng. Chúng giống nhau như hai hạt đậu. Nhưng nếu anh muốn, ngay lúc này tôi có thể cho anh xem những chữ đó. ‘Madame, chúng tôi có thể mang cuốn sổ của Bà ra xem không?’
“‘Certainly, with pleasure,’ returned Madame, courteously. We waited impatiently until Mr. P. could open the volume. The page was beautifully arranged, and read thus, in brilliant letters:
“‘Dĩ nhiên, rất hân hạnh,’ Madame nhã nhặn đáp. Chúng tôi nôn nóng chờ đến khi Ông P. mở được tập sách. Trang giấy được sắp xếp rất đẹp, và đọc như sau, bằng các chữ rực rỡ:
“THIRD VOLUME, SCRAP-BOOK OF THE
“QUYỂN THỨ BA, SỔ GOM TƯ LIỆU CỦA
THEOSOPHICAL SOCIETY
HỘI THÔNG THIÊN HỌC
New York, 1878
New York, 1878
THEIR TRIBULATIONS and TRIUMPHS” ‘There,’ said he, pointing to the S in Scrap and the S in Society, ‘those are the letters she used, and this is the one she made.’ There was no difference in them.” [60]
NHỮNG NỖI GIAN TRUÂN và CHIẾN THẮNG CỦA HỌ” ‘Đấy,’ ông nói, chỉ vào chữ S trong chữ Scrap và chữ S trong chữ Society, ‘đó là những chữ Bà dùng, và đây là chữ Bà đã làm ra.’ Chúng không khác nhau chút nào.”
There was nothing out of the common in the furnishing and decoration of our apartment save in the dining-room and work-room—which was at the same time our reception-room and library all in one—and they were certainly quaint enough. The dead wall of the dining-room which separated it from H.P.B.’s bed-room was entirely covered with a picture in dried forest leaves, representing a tropical jungle scene. An elephant stood, ruminating beside a pool of water, a tiger was springing at him from the back-ground, and a huge serpent was coiled around the trunk of a palm tree. A very good representation of it is given on p. 205 of Frank Leslie’s Popular Monthly for February, 1892; although the picture of the room, the Hindu servant bringing in the roast, and the dining party at table drinking wine, is ridiculously inaccurate. The room was not like the picture; we had no Hindu servant; we did not have a drop of wine or spirits in the house; our furniture was totally different from the artist’s sketch of it. I have never heard of another wall-picture of the sort mentioned, and it seemed to strike all our guests as entirely appropriate in such a home as the “Lamasery”. The whole forest scene grew out of the covering with autumn leaves, of a figure of an elephant cut from brown paper. I made another similar invention in the work-room. The entrance-door was in an angle made by cutting off a corner, and above it the wall formed a square of perhaps 4 X 5 ft. One day I found at a curiosity-shop a splendidly mounted lioness-head; the eyes glaring, the jaws wide open, the tongue retracted, the teeth white and menacing. On getting it home and looking around for a place to put it, this square of wall struck my eye, and there I hung my trophy. By an arrangement of long, dried grasses, I made it seem as though an angry lioness were creeping through the jungle and ready to spring upon the visitors who chanced to look up at her. It was one of our jokes to have new-comers seated in an easy chair that faced the door, and enjoy their start when their eyes wandered from H. P. B. to glance around the room. If the visitor chanced to be a hysterical old maid who screamed on seeing the trophy, H. P. B. would laugh heartily. In two corners of the room I stood palm-fronds that touched the ceiling and bent over their tips in graceful curves; little stuffed monkeys peered out over the curtain cornices; a fine stuffed snake lay on top of the mantel mirror, hanging its head over one corner; a large stuffed baboon, decked out with a collar, white cravat and pair of my spectacles, carrying under one arm the manuscript of a lecture on “Descent of Species,” and dubbed “Professor Fiske”, stood upright in a corner; a fine large grey owl sat perched on a bookcase; a toy lizard or two crawled up the wall; a Swiss cuckoo clock hung to the left of the chimney breast; small Japanese cabinets, carved wooden images of Lord Buddha and a Siamese talapoin, curios of sorts and kinds, occupied the top of the cottage piano, wall brackets, corner étagères and other convenient spaces; a long writing table took up the centre of the room; some book shelves with our scanty library rose above its farther end, between the two Eighth Avenue windows; and chairs and a divan or two filled up the floor space, so that one had to pick one’s way to get to the farther end of the chamber. A hanging four-light gas chandelier with a drop-light over the table gave us the necessary physical illumination; the other, H. P. B. supplied. A pair of sliding glass doors (seldom closed) divided the work-room from her little bed-room, and on the wall over the doors we constructed a huge double triangle of thin punched steel sheets. Altogether the room was very artistic and pleasing to its occupants and guests, the theme of many a description in newspapers and talk among our friends. No frame could have been more appropriate for setting off the bizarre personality of its mysterious occupant, H. P. B. Many were the pen sketches of the room that appeared in the American papers of the day; among them the following by the same correspondent of the Hartford paper, from whose interesting letters the above extracts were copied:
Trong việc bài trí và trang hoàng căn hộ của chúng tôi chẳng có gì lạ thường, trừ phòng ăn và phòng làm việc—mà đồng thời cũng là phòng tiếp khách và thư viện gộp một—và hẳn là chúng khá kỳ quặc. Bức tường chết của phòng ăn, ngăn với phòng ngủ của H. P. B., được phủ kín một bức tranh bằng lá rừng khô, mô tả cảnh rừng rậm nhiệt đới. Một con voi đứng nhai lại bên vũng nước, một con hổ từ hậu cảnh chồm tới nó, và một con trăn khổng lồ quấn quanh thân một cây cọ. Trên trang 205 của Frank Leslie’s Popular Monthly số tháng Hai năm 1892 có đăng một bức vẽ mô tả khá tốt; dẫu vậy, bức tranh về căn phòng, người đầy tớ Ấn mang món quay vào, và thực khách ngồi bàn uống rượu, thì sai lạc một cách khôi hài. Căn phòng chẳng giống bức vẽ; chúng tôi không có đầy tớ người Ấn; trong nhà không có lấy một giọt rượu vang hay rượu mạnh; đồ đạc của chúng tôi hoàn toàn khác với phác hoạ của hoạ sĩ. Tôi chưa từng nghe nói về một bức tranh tường nào cùng loại như thế, và nó dường như khiến mọi khách đến thăm đều cảm thấy hoàn toàn phù hợp với một mái nhà như “Lamasery”. Toàn bộ cảnh rừng phát triển từ việc phủ lá mùa thu lên một hình voi cắt từ giấy màu nâu. Tôi làm thêm một sắp đặt tương tự ở phòng làm việc. Cửa vào nằm ở một góc do cắt chéo một góc mà thành, và phía trên cửa, bức tường tạo thành một hình chữ nhật chừng 4 X 5 bộ. Một hôm tôi tìm được ở một cửa hàng đồ lạ một đầu sư tử cái nhồi xác gắn rất đẹp; mắt trừng trừng, hàm mở to, lưỡi co lại, răng trắng và đe doạ. Mang về nhà và tìm chỗ treo, góc tường ấy đập vào mắt tôi, và tôi treo chiến lợi phẩm ở đó. Bằng cách sắp xếp những búi cỏ khô dài, tôi làm cho nó trông như một sư tử cái giận dữ đang len qua rừng rậm và sắp vồ lên khách nào tình cờ ngước nhìn. Một trong những trò đùa của chúng tôi là để người mới đến ngồi vào một ghế êm đối diện cửa, và thưởng thức cú giật mình của họ khi ánh mắt rời khỏi H. P. B. để đảo quanh phòng. Nếu khách tình cờ là một cô bà cổ lỗ dễ xúc động, hét lên khi trông thấy chiến lợi phẩm, H. P. B. sẽ cười sang sảng. Ở hai góc phòng, tôi dựng các tàu dừa chạm mái, cong duyên dáng ở đầu ngọn; những con khỉ nhồi xác nhỏ ló ra sau diềm rèm; một con rắn nhồi xác đẹp nằm trên đỉnh gương lò sưởi, thòng đầu xuống một góc; một con khỉ đầu chó lớn nhồi xác, đeo cổ áo, nơ trắng và một cặp kính của tôi, kẹp dưới tay bản thảo bài giảng về “Nguồn gốc các loài,” và được đặt tên là “Giáo sư Fiske”, đứng thẳng ở một góc; một con cú xám to đẹp đậu trên nóc tủ sách; một hai con thằn lằn đồ chơi bò lên tường; một chiếc đồng hồ cúc cu Thuỵ Sĩ treo bên trái bức tường lò sưởi; các tủ nhỏ Nhật Bản, tượng gỗ chạm Đức Phật và một vị sư Xiêm, đồ cổ các loại và kiểu dáng, chiếm lĩnh mặt trên cây đàn piano loại nhà tranh, giá treo tường, kệ góc và những khoảng trống tiện dụng khác; một bàn viết dài chiếm giữa phòng; vài giá sách với thư viện nghèo nàn của chúng tôi vươn lên trên đầu xa của bàn, giữa hai cửa sổ Đại lộ số Tám; ghế và vài ghế trường kỷ lấp đầy khoảng sàn, đến nỗi phải lách mà đi mới tới được đầu trong của gian phòng. Một chùm đèn gas treo bốn ngọn có đèn thả trên bàn cho chúng tôi thứ ánh sáng hồng trần cần thiết; còn thứ kia, do H. P. B. cung cấp. Một cặp cửa kính trượt (hiếm khi đóng) ngăn phòng làm việc với phòng ngủ nhỏ của Bà, và trên tường phía trên cửa, chúng tôi dựng một hình đôi tam giác khổng lồ bằng các tấm thép mỏng dập lỗ. Tóm lại, căn phòng rất nghệ thuật và dễ làm hài lòng người ở và khách viếng, là đề tài của nhiều miêu tả trên báo và lời bàn tán giữa bạn bè chúng tôi. Không khung nào thích hợp hơn để làm nổi bật phàm ngã kỳ dị của cư dân bí ẩn của nó, H. P. B. Đã có nhiều bức ký hoạ căn phòng bằng bút xuất hiện trên các tờ báo Mỹ đương thời; trong số đó có đoạn sau của chính phóng viên tờ Hartford, từ những bức thư hấp dẫn của ông mà các trích đoạn trên được chép lại:
“Madame was seated in her little work-room and parlor, all in one, and we may add her curiosity-shop as well, for never was apartment more crammed with odd, elegant, old, beautiful, costly, and apparently worthless things, than this. She had cigarette in mouth, and scissors in hand, and was hard at work clipping paragraphs, articles, items, criticisms, and other matter, from heaps of journals from all parts of the world, relating to herself, to her book, to the Theosophical Society, to any and everything connected with her life-work and aims. She waved us to a seat, and while she intently read some article we had a chance to observe the walls and furniture of this NEW YORK LAMASERY. Directly in the centre stood a stuffed ape, with a white ‘dickey’ and necktie around his throat, manuscript in paw, and spectacles on nose. Could it be a mute satire on the clergy? [61] Over the door was the stuffed head of a lioness, with open jaws and threatening aspect; the eyes glaring with an almost natural ferocity. A god in gold occupied the centre of the mantelpiece; Chinese and Japanese cabinets, fans, pipes, implements, and rugs, low divans and couches, a large desk, a mechanical bird which sang as mechanically, albums, scrap-books, and the inevitable cigarette-holders, papers, and ash-pots, made the loose rich robe in which the Madame was apparelled seem in perfect harmony with her surroundings. A rare, strange countenance is hers. A combination of moods seems to constantly play over her features. She never seems quite absorbed by one subject. There is a keen, alert, subtle undercurrent of feeling and perception perceivable in the expression of her eyes. It impressed us then, and has invariably, with the idea of a double personality: as if she were here, and not here; talking and yet thinking, or acting far away. Her hair, light, very thick, and naturally waved, has not a grey thread in it. Her skin, evidently somewhat browned by exposure to sea and sun, has no wrinkles; her hands and arms are as delicate as a girl’s. Her whole personality is expressive of self-possession, command, and a certain sangfroid which borders on masculine indifference, without for a moment overstepping the bounds of womanly delicacy.”
“Madame ngồi trong phòng làm việc nhỏ kiêm phòng khách, và ta có thể thêm rằng đây cũng là tiệm đồ lạ của Bà, vì chưa từng có gian phòng nào nhồi nhét nhiều thứ kỳ quái, thanh nhã, cổ xưa, đẹp đẽ, đắt tiền, và có vẻ vô giá trị như thế. Bà ngậm điếu thuốc, cầm kéo trên tay, và đang miệt mài cắt các đoạn, bài, mẩu tin, bài phê bình, và những thứ khác, từ cả đống báo chí khắp nơi trên thế giới, liên quan đến chính Bà, đến sách của Bà, đến Hội Thông Thiên Học, đến bất kỳ và mọi thứ gắn với sự nghiệp và chí hướng đời Bà. Bà ra hiệu cho chúng tôi ngồi, và trong khi Bà chăm chú đọc một bài nào đó chúng tôi có dịp quan sát tường và đồ đạc của LAMASERY NEW YORK này. Ngay chính giữa là một con vượn nhồi xác, cổ quấn ‘cổ áo’ trắng và cà vạt, chân ôm bản thảo, mũi đeo kính. Có thể đó là một lối châm biếm câm lặng nhắm vào giới giáo sĩ chăng? Trên cửa là đầu sư tử cái nhồi xác, há miệng đe doạ; mắt trừng trừng với vẻ dữ tợn gần như tự nhiên. Một vị thần mạ vàng chiếm giữa mặt lò sưởi; tủ Trung Hoa và Nhật Bản, quạt, tẩu, vật dụng, và thảm, ghế trường kỷ thấp và đi-văng, một bàn lớn, một con chim cơ khí hót y như máy, album, sổ gom tư liệu, và những ống cắm thuốc lá điếu không thể thiếu, giấy tờ, gạt tàn, khiến chiếc áo choàng rộng rãi mà Madame khoác dường như tuyệt đối hoà điệu với không gian chung quanh. Khuôn diện của Bà thật hiếm, lạ. Như một tổ hợp các tâm trạng liên tiếp lướt qua nét mặt. Bà dường như không bao giờ hoàn toàn bị một chủ đề cuốn hết. Có một dòng ngầm sắc sảo, linh hoạt, vi tế của cảm và tri có thể nhận ra trong biểu cảm đôi mắt Bà. Lúc đó và luôn luôn, nó khiến chúng tôi có ấn tượng về một phàm ngã đôi: như thể Bà vừa ở đây vừa không ở đây; đang nói mà đang nghĩ, hay đang hành động tận đâu đâu. Tóc Bà, màu sáng, rất dày, và gợn sóng tự nhiên, không có một sợi bạc. Da Bà, hiển nhiên rám đôi chút vì gió biển và nắng, không có nếp nhăn; tay và cánh tay mảnh dẻ như tay một cô gái. Toàn phàm ngã Bà biểu đạt sự tự chủ, uy nghi, và một thứ bình thản pha chút lãnh đạm như đàn ông, song không vượt quá ranh giới của sự tế nhị nữ tính dù chỉ một lúc.”
It has been remarked above, if I remember, that what made a visit to the Lamasery so piquant, was the chance that on any given occasion the visitor might see H. P. B. do some wonder in addition to amusing, delighting, or edifying him or her with her witty and vivacious talk. In a pause in the conversation, perhaps a guest would hold up a finger, say “Hush!” and then, all listening in breathless silence, musical notes would be heard in the air. Sometimes they would sound faintly far away in the distance, then coming nearer and gaining volume until the elfin music would float around the room, near the ceiling, and finally die away again in a lost chord and be succeeded by silence. Or it might be that H. P. B. would fling out her hand with an imperious gesture and ping! ping! would come, in the air whither she pointed, the silvery tones of a bell. Some people fancy that she must have had a concealed bell under her dress for playing her tricks; but the answer to that is that, not only I but others, have, after dinner, before rising from the table, arranged a series of finger-glasses and tumblers, with various depths of water in them to cause them to give out different notes when struck, and then tapping their edges with a lead-pencil, a knife-blade, or some other thing, have had her duplicate in space every note drawn from the “musical glasses.” No trick bell worked beneath a woman’s skirts would do that. Then, again, how often have people been present when she would lay her hand on a tree-trunk, a house wall, a clock case, a man’s head, or wherever else she might be asked to try it, and cause the fairy bell to ring within the substance of the solid body she had her hands in contact with. I was with her at Mr. Sinnett’s house at Simla when, all of us standing on the veranda, she made the musical sounds to come towards us on the air of the starlit night, from across the dark valley into which descended the hill-slope on which the house was built. And I was present when she made a bell to ring inside the head of one of the greatest of the Anglo-Indian civilians, and another to sound inside the coat pocket of another very high civilian at the other side of the room from where she sat.
Như tôi nhớ, đã nói ở trên rằng điều làm cho một chuyến thăm Lamasery trở nên cay nồng đặc biệt là khả năng rằng vào bất kỳ dịp nào, khách có thể thấy H. P. B. làm một điều kỳ diệu ngoài việc làm vui, khiến thích thú, hay làm lợi ích cho anh ta hay cô ta bằng lời nói dí dỏm và sinh động của Bà. Trong một quãng lặng của câu chuyện, có lẽ một vị khách sẽ đưa ngón tay lên, nói “Suỵt!” và rồi, tất cả nín thở lắng nghe, những nốt nhạc sẽ vang lên trong không trung. Đôi khi chúng vang xa xa mờ mờ, rồi đến gần và lớn dần cho đến khi âm nhạc yêu tinh bay lượn quanh phòng, gần trần, và sau cùng tắt dần trong một hợp âm lạc mất và nhường chỗ cho tĩnh lặng. Hoặc có thể H. P. B. sẽ tung tay ra với một cử chỉ oai nghi, và kính coong! kính coong! sẽ vang lên, trong không khí nơi Bà chỉ, tiếng ngân bạc của một chiếc chuông. Có người tưởng Bà hẳn giấu một chiếc chuông dưới váy để diễn trò; nhưng câu trả lời là, không chỉ tôi mà những người khác, sau bữa tối, trước khi rời bàn, đã sắp một dãy ly thuỷ tinh khum miệng và cốc, với mực nước khác nhau để khi gõ phát ra những nốt khác nhau, rồi gõ nhẹ vào vành bằng bút chì, lưỡi dao, hay vật gì khác, thì đã khiến Bà lặp lại trong không gian từng nốt tạo ra từ “những chiếc ly biết nhạc.” Không có chiếc chuông lừa nào giấu dưới tà váy phụ nữ làm được như thế. Rồi, nữa, biết bao lần người ta có mặt khi Bà đặt tay lên thân cây, tường nhà, vỏ đồng hồ, đầu một người, hay bất cứ chỗ nào được đề nghị thử, và làm cho chiếc chuông tiên reo lên từ trong chất liệu của khối rắn mà tay Bà đang tiếp xúc. Tôi ở cùng Bà tại nhà Ông Sinnett ở Simla khi, tất cả cùng đứng trên hiên, Bà khiến âm thanh nhạc tiến về phía chúng tôi trên không khí đêm đầy sao, từ bên kia thung lũng tối nơi sườn đồi đổ xuống dựng căn nhà. Và tôi có mặt khi Bà làm một chiếc chuông reo trong đầu một vị quan dân sự Anglo-Indian lỗi lạc nhất, và một chiếc khác ngân trong túi áo khoác của một quan dân sự rất cao cấp khác ở phía bên kia phòng nơi Bà đang ngồi.
She never could give any satisfactory scientific explanation of the modus operandi. One day when she and I were alone and talking of it, she said: “Now, see here;you are a great whistler; how do you form instantaneously any given note you wish to produce?” I replied that I could not exactly say how I did it, except that a certain arrangement of the lips and compression of air within the mouth, the knack of which had been acquired by many years of practice, caused each note to sound simultaneously with the act of my thinking of it. “Well now, tell me: when you would sound a note do you think that, to produce it, you must pout your lips, compress your breath, and work your throat-muscles in certain prescribed ways, and then proceed to do it?” “Not at all,” I said; “long habit had made the muscular and pneumatic actions automatic.” “Well, then, that’s just the thing: I think of a note; automatically or instinctively I work the astral currents by my trained will; send a sort of cross-current out from my brain to a certain point in space, where a vortex is formed between this current and the great current flowing in the astral light according to the earth’s motion, and in that vortex sounds out the note I think. Just, you see, as the note you mean to whistle sounds in the air-tube formed by your lips, when you put them into the right position, work your lip and throat-muscles in the right way, and force your breath to rush out of this channel or lip-orifice. It is impossible for me to explain any better. I can do it, but can’t tell you how I do it. Now try any notes you please and see if I cannot imitate them.” I struck a note out of one of the tumblers at random, and instantly its echo, as if the soul of it ringing in Fairyland, would sound in the air; sometimes just overhead, now in this corner, now in that. She sometimes missed the exact note, but when I told her so she would ask me to sound it again, and then the note would be exactly reflected back to us out of the Âkâsha.
Bà chưa bao giờ đưa ra được một lời giải thích khoa học thoả đáng về cách thức vận hành. Một hôm khi chỉ có hai chúng tôi và chuyện trò về việc này, Bà nói: “Nào, xem nhé; anh là tay huýt sáo cừ khôi; làm sao anh định hình tức thì bất cứ nốt nào anh muốn tạo ra?” Tôi đáp rằng tôi không thể nói chính xác mình làm thế nào, ngoài việc một kiểu đặt môi và nén khí trong miệng nào đó, cái bí quyết có được nhờ nhiều năm tập luyện, khiến mỗi nốt vang lên đồng thời với lúc tôi nghĩ đến nó. “Vậy giờ, nói tôi nghe: khi anh định phát ra một nốt, anh có nghĩ rằng, để tạo nó, anh phải bĩu môi, nén hơi, và vận dụng cơ cuống họng theo những cách cố định nào đó, rồi sau đó mới bắt tay làm không?” “Không hề,” tôi nói; “thói quen lâu ngày khiến những động tác cơ và khí hoàn toàn tự động.” “Thì đấy, chính là điều đó: tôi nghĩ đến một nốt; một cách tự động hay theo bản năng tôi vận dụng các dòng cảm dục bằng ý chí đã được rèn luyện; phóng ra từ não tôi một kiểu dòng chéo đến một điểm nhất định trong không gian, nơi một xoáy được hình thành giữa dòng này và đại dòng chảy trong quang cảm dục theo chuyển động của Trái Đất, và trong xoáy đó cất lên nốt mà tôi nghĩ. Cũng như, anh thấy đấy, nốt anh định huýt vang lên trong ống không khí tạo bởi môi anh, khi anh đặt môi vào đúng vị trí, vận dụng cơ môi và cổ họng đúng cách, và ép hơi thốc qua kênh hay lỗ môi ấy. Tôi không thể giải thích hay hơn. Tôi làm được, nhưng không thể nói anh rõ bằng cách nào. Giờ anh cứ thử bất kỳ nốt nào anh muốn và xem tôi có bắt chước được không.” Tôi gõ ngẫu nhiên một nốt từ một trong những chiếc cốc, và tức khắc tiếng vọng của nó, như linh hồn của nó ngân lên nơi Xứ Thần Tiên, sẽ vang trong không trung; đôi khi ngay trên đầu, lúc ở góc này, lúc ở góc kia. Đôi khi Bà chệch nốt, nhưng khi tôi nói vậy Bà sẽ bảo tôi đánh lại, và rồi nốt ấy sẽ được phản chiếu trở lại với chúng tôi một cách chính xác từ trong Âkâsha.
In connection with the above read what Mrs. Speer says (Light, January 28, 1893) about the musical sounds that used to accompany M. A. Oxon.
Liên hệ với điều trên, xin đọc những gì Bà Speer nói (Light, ngày 28 tháng Giêng, 1893) về những âm thanh nhạc thường đi theo M. A. Oxon.
“September 19th.— Before meeting this evening we heard the ‘fairy bells’ playing in different parts of the garden where we were walking; at times they sounded far off, seemingly playing at the top of some high elm trees, music and stars mingling together, then they would approach nearer to us, eventually following us into the séance-room, which opened on to the lawn. After we were seated the music still lingered with us, playing in the corners of the room, and then over the table round which we were sitting. They played scales and chords by request, with the greatest rapidity, and copied notes Dr. S. made with his voice. After Mr. S M. was entranced the music became louder and sounded like brilliant playing on the piano. There was no instrument in that room.”
“Ngày 19 tháng Chín.— Trước buổi gặp tối nay chúng tôi nghe ‘chuông tiên’ reo ở nhiều nơi khác nhau trong khu vườn nơi chúng tôi đang đi dạo; đôi lúc chúng vọng xa, dường như reo trên ngọn vài cây du cao, âm nhạc và các vì sao hoà làm một, rồi chúng đến gần hơn chúng tôi, rốt cuộc theo chúng tôi vào phòng cầu hồn, nơi mở cửa ra bãi cỏ. Khi chúng tôi đã ngồi, âm nhạc vẫn lảng vảng với chúng tôi, reo ở các góc phòng, rồi trên chiếc bàn quanh đó chúng tôi đang ngồi. Họ (chuông) chơi các gam và hợp âm theo yêu cầu, với tốc độ tuyệt vời, và chép lại các nốt mà Bác sĩ S. cất bằng giọng. Sau khi Ông S M. được nhập xác, âm nhạc trở nên lớn hơn và nghe như chơi piano chói ngời. Không có nhạc cụ nào trong phòng ấy.”
The musical phenomena were evidently identical with those of H. P. B., but with the radical difference that she produced the sounds at will, while in Stainton Moseyn’s case they were beyond his control and most brilliant when his body was entranced. The Speer Circle had a great deal of these “fairy bells” first and last, and, some very unconvincing theories given by the spirits to account for them. For instance, Benjamin Franklin’s alleged spirit told them (Light, March 18, 1893, p. 130) that “the sound you call fairy bells represents a spirit instrument, one used in the spheres.” Yet he adds: “We could do much more for you had our medium a musical organisation, but it is a bad one for music.” Why, if it were to be drawn from an instrument? That is almost like saying that Thalberg or Paderevsky could play their instrument better if the gasman of the building were not deaf in one ear! We may safely deny the “spirit-instrument” theory, for we have the explanation in the fact that the more musical the temperament of the medium naturally, the more melodious the fairy bells can be made to jingle in his presence. Moreover, in the case of a medium, the more deeply he is plunged into trance, the nearer and clearer may be the tintinnabulation of the bells, bells, bells!
Những hiện tượng âm nhạc này rõ ràng đồng nhất với của H. P. B., nhưng có khác biệt căn bản là Bà tạo âm theo ý chí, còn trong trường hợp của Stainton Moseyn thì chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của ông và rực rỡ nhất khi thân ông ở trạng thái xuất thần. Nhóm Speer đã gặp rất nhiều “chuông tiên” như thế suốt đầu đến cuối, và nhận được vài thuyết giải rất kém thuyết phục do các “vong linh” đưa ra để cắt nghĩa. Chẳng hạn, “vong” được cho là của Benjamin Franklin nói với họ (Light, 18 tháng Ba, 1893, tr. 130) rằng “âm thanh mà các bạn gọi là chuông tiên tượng trưng cho một nhạc khí linh thể, một thứ dùng ở các cảnh giới.” Vậy mà ông ta lại thêm: “Chúng tôi có thể làm nhiều hơn cho các bạn nếu đồng tử của chúng tôi có cơ cấu âm nhạc, còn hiện thời thì rất dở về mặt âm nhạc.” Tại sao, nếu nó được rút ra từ một nhạc cụ? Điều đó gần như nói rằng Thalberg hay Paderevsky có thể chơi nhạc cụ của mình hay hơn nếu người thắp gas của toà nhà không bị điếc một tai! Chúng ta có thể yên tâm bác bỏ thuyết “nhạc cụ linh thể,” vì chúng ta có lời giải ở chỗ: khí chất tự nhiên của đồng tử càng thiên về âm nhạc thì chuông tiên có thể được làm cho ngân nga du dương hơn trong sự hiện diện của người ấy. Hơn nữa, trong trường hợp một đồng tử, càng chìm sâu vào xuất thần, tiếng ngân leng keng của chuông càng gần và càng rõ!
CHAPTER XXVII
CHƯƠNG XXVII
ILLUSIONS
ẢO TƯỞNG
THE elemental messenger of H. P. B. once rang the fairy bell with pathetic effect, at the moment when her pet canary died. It is fixed indelibly in my memory from the fact that it is associated with the recollection of H. P. B.’s feeling of genuine sorrow. It was just an ordinary little hen canary, not much to look at for beauty, but an amazingly industrious housewife; lovable became so evidently honest. I forget where we got her, but think H. P. B. brought her from Philadelphia and that I bought her mate—a splendid singer—in New York. No matter; we had them a long time and they came to be almost like children, as it were. We used to let them fly about the room at their pleasure, and the male bird would reward us by perching on a picture-frame near our work-table and singing most melodiously. The hen would light upon our table in the most fearless way, walk, chirping, right under our noses, and pick up and carry away for nest-building near the ceiling, up in thebronze ornament on the chandelier pipe, any ends of twine or other likely materials. She seemed especially to value the long thin snippings of paper cut off by H. P. B. when pasting and readjusting her foolscap MSS. sheets. Little “Jenny” would sometimes wait until her mistress had cut off a piece of paper and dropped it on the table or floor, and then hop to it and carry it off, to the approving song of her handsome husband, “Pip.” There was a Turkish carpet with fringed ends on the floor, and this gave Jenny all she could do. The little creature would take one of the strands in her beak, brace herself square upon her feet, and then lean back and tug and jerk with all her might, trying in vain to get it loose.
Sứ giả hành khí của H. P. B. đã từng rung chuông tiên với hiệu ứng bi ai, đúng vào lúc con chim hoạ mi nhỏ cưng của Bà chết. Nó in hằn không phai trong ký ức tôi vì gắn liền với hồi tưởng về nỗi buồn chân thành của H. P. B. Đó chỉ là một con hoạ mi mái bình thường, không có gì nổi bật về đẹp mã, nhưng là một bà nội trợ làm việc không biết mệt; đáng yêu vì hiển nhiên hết sức ngay thật. Tôi quên mất chúng tôi có nó từ đâu, nhưng nghĩ rằng H. P. B. mang nó từ Philadelphia và tôi mua bạn đời của nó—một tay hót tuyệt hay—ở New York. Dù thế nào; chúng tôi nuôi chúng đã lâu và chúng trở nên gần như con cái, nói cách vậy. Chúng tôi thường thả chúng bay quanh phòng tuỳ thích, và con trống đền đáp bằng cách đậu lên khung tranh gần bàn làm việc của chúng tôi và hót ngọt lịm. Con mái đáp xuống bàn chúng tôi một cách bạo dạn nhất, ríu rít đi lại ngay dưới mũi chúng tôi, và nhặt mang đi để làm tổ trên cao gần trần, trong cái đồ trang trí bằng đồng trên ống đèn chùm, bất cứ đầu sợi nào hay vật liệu có vẻ hợp. Nó dường như đặc biệt quý những dải giấy mỏng dài do H. P. B. xén ra khi dán và chỉnh các tờ bản thảo khổ foolscap của Bà. Cô bé “Jenny” đôi khi chờ đến khi bà chủ cắt một mảnh giấy và thả nó xuống bàn hay sàn, rồi nhảy tới và tha đi, giữa khúc ca tán thưởng của ông chồng khôi ngô “Pip.” Trên sàn có một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ tua hai đầu, và thứ này cho Jenny việc làm không dứt. Con bé sẽ ngậm một sợi tua trong mỏ, đứng tì vững trên đôi chân, rồi ngả người ra sau và giật giật hết sức, cố công vô ích để giật nó rời ra.
The nest-building was finished at last, and then Jenny began sitting up aloft over our table, her little head showing beyond the edge of the bronze cup, or ornament, on the gas-pipe. Pip sang his sweetest, and we waited for the hatching out of the eggs with pleasurable interest. The weeks passed on and Jenny still sat and we waited, but no young birds twittered, and we wondered what could be up. At last one day when the bird was away after seed and water, I placed a chair on our writing-table, H. P. B. held it, and I mounted for a peep. The nest was absolutely empty, neither fledgling there nor shell, whether full or broken: we had been fooled by our busy little canary-hen. H. P. B. gave the only possible explanation by saying that “Jenny had been sitting on her illusions”: that is, she had persuaded herself that she had laid eggs, and that it was her duty to hatch them out!
Cuối cùng việc làm tổ cũng xong, và Jenny bắt đầu ấp trên cao ngay phía trên bàn chúng tôi, cái đầu bé xíu của nó ló qua mép cái chén đồng, hay đồ trang trí, trên ống gas. Pip hót ngọt ngào nhất, và chúng tôi chờ trứng nở với hứng thú. Tuần này qua tuần khác và Jenny vẫn ấp, chúng tôi vẫn chờ, nhưng chẳng có chú non nào ríu rít, và chúng tôi tự hỏi có chuyện gì. Rốt cuộc một ngày kia khi chim mẹ rời tổ đi kiếm hạt và nước, tôi đặt một chiếc ghế lên bàn viết, H. P. B. giữ, còn tôi trèo lên nhìn thử. Cái tổ hoàn toàn trống không, chẳng có chim non cũng chẳng có vỏ, dù rỗng hay vỡ: chúng tôi đã bị cô hoạ mi bận rộn đánh lừa. H. P. B. đưa ra lời giải thích duy nhất có thể là nói rằng “Jenny đã ấp những ảo tưởng của mình”: tức là, nó đã tự thuyết phục rằng mình đẻ trứng, và bổn phận là phải ấp nở!
All went well with us and the birds for many months, but at last our quartette was broken up by the death of Jenny. She was found lying at her last gasp on her back in her cage. I took her out and placed her in H. P. B.’s hand, and we mourned together over our pet. H. P. B. kissed her, gently stroked her plumage, tried to restore her vitality by magnetic breathing, but nothing availed; the bird’s gasps grew feebler and feebler, until we saw it could only be a question of minutes. Then the stern, granite-faced H. P. B. melted into tenderness, opened her dress, and laid little Jenny in her bosom; as if to give her life by placing her near the heart that was beating in pity for her. But it was useless; there came a last gasp, a last flutter of the birdie’s heart, and then? Then, sharp and sweet and clear in the Âkâsha near us, rang out a fairy bell, the requiem of the passing life; and H. P. B. wept for her dead bird.
Mọi việc với chúng tôi và đôi chim đều êm ấm suốt nhiều tháng, nhưng cuối cùng bộ tứ của chúng tôi tan vỡ vì cái chết của Jenny. Nó được thấy nằm ngửa trong lồng, thoi thóp những hơi cuối. Tôi bế nó ra đặt vào tay H. P. B., và chúng tôi buồn bã cùng nhau vì thú cưng. H. P. B. hôn nó, nhẹ nhàng vuốt mượt lông, cố hồi phục sinh lực bằng cách thổi khí từ trường, nhưng vô ích; nhịp thở chim yếu dần, yếu dần, cho đến khi chúng tôi thấy chỉ còn là chuyện từng phút. Rồi H. P. B. nghiêm nghị như đá granit bỗng hoá mềm, mở áo, đặt bé Jenny vào lòng ngực; như thể trao lại sự sống bằng cách đặt nó gần trái tim đang đập vì thương xót nó. Nhưng cũng vô ích; đến một hơi thở cuối, một nhịp rung cuối cùng của trái tim nhỏ bé, và rồi? Rồi, sắc và ngọt và trong, trong Âkâsha cạnh chúng tôi, ngân lên một tiếng chuông tiên, khúc cầu hồn tiễn đưa sự sống vừa rời; và H. P. B. đã khóc cho chú chim đã khuất của Bà.
Speaking of the possibilities of Mâyâ, shall we classify in that category the following phenomenon? One day, in moving about at the table, H. P. B. sent a huge splotch of ink over a light lawn wrapper that she was wearing. There must have been a teaspoonful of the fluid and it ran in a dozen streams down the front of the skirt to the floor. The dress was ruined. I shall drop a veil over the remarks that were elicited from her, merely saying that they were strong rather than poetical. Yet she soon showed me that the evil was not remediless,for, stepping towards her bedroom, but without crossing the threshold, she turned her back to me and went to passing her hands over the whole dress, or so much of it as she could reach; and in another moment turning towards me, lo! the light spotted wrapper had disappeared and she stood there clothed in one of a chocolate colour. Was this a Mâyâ? If so, when will a Mâyâ wear out? For she wore the brown dress until it had had its turn of use, and I never saw the light one again.
Nói về những khả thể của Mâyâ, lẽ nào chúng ta xếp vào đó hiện tượng sau đây? Một ngày kia, trong lúc xoay xở bên bàn, H. P. B. làm đổ một bãi mực lớn lên chiếc áo khoác vải mỏng màu sáng mà Bà đang mặc. Hẳn có đến một thìa cà phê chất lỏng, và nó chảy thành cả chục vệt trên vạt áo trước xuống sàn. Chiếc áo hỏng rồi. Tôi xin phủ tấm màn lên những lời lẽ đã bật ra từ Bà, chỉ nói rằng chúng mạnh mẽ hơn là thi vị. Tuy vậy chẳng mấy chốc Bà cho tôi thấy tai hoạ không phải vô phương cứu chữa, vì, bước về phía phòng ngủ, nhưng không qua ngưỡng cửa, Bà quay lưng về phía tôi và đưa tay vuốt lên khắp chiếc áo, hay phần nào chạm tới được; và giây sau khi quay lại phía tôi, kìa! chiếc áo sáng màu lấm chấm biến mất và Bà đang đứng đó khoác một chiếc màu nâu sẫm. Đó có phải là một Mâyâ? Nếu vậy, một Mâyâ thì bao giờ mới “mòn”? Vì Bà đã mặc chiếc áo nâu ấy cho đến khi nó tới lượt “hết đát,” và tôi không còn thấy chiếc áo sáng nữa.
She told me once in great glee of a Mâyâ that had been put off on herself. She was travelling in the desert, she said, with a certain Coptic white magician who shall be nameless, and, camping one evening, expressed the ardent wish for a cup of good French café cu lait. “Well, certainly, if you wish it so much,” said the guardian guide. He went to the baggage-camel, drew water from the skin, and after awhile returned, bringing in his hand a cup of smoking, fragrant coffee mixed with milk. H. P. B. thought this, of course, was a phenomenal production, since her companion was a high adept and possessed of very great powers. So she thanked him gratefully, and drank, and was delighted, and declared she had never tasted better coffee at the Café de Paris. The magician said nothing, but merely bowed pleasantly and stood as if waiting to receive back the cup. H. P. B. sipped the smoking beverage, and chatted merrily, and—but what is this? The coffee has disappeared and naught but plain water remains in her cup! It never was anything else; she had been drinking and smelling and sipping the Mâyâ of hot, fragrant Mocha. Of course, it will be said that such an illusion as that may be seen at any travelling mesmeriser’s show, where paraffine oil is made to taste like chocolate and vinegar like honey. But there is the difference that the illusion in the case of H.P.B. was produced in silence, by simple thought-transference, and upon a subject who herself had the power of casting glamours over third persons. From the crude mesmeric experimentation in a village hall, for pay, to the highest example of mâyâvic glamour thrown silently upon one person or a crowd by an Eastern juggler, fakir, sanyâsi, or adept, it is but a difference in degree. One principle runs throughout all these and all other phenomena, the observation of which is the function of the bodily senses. Whether the Mâyâ be induced from without by the spoken word, the suggestive gesture, or the silent will of another, or it be self-engendered by the deceived imagination acting through the will upon the senses, it is all one, and he who thoroughly masters the rationale of the show of the village showman and the naked Indian juggler, will be able to grasp the theory of Mâyâ on a cosmic scale. When one is living in daily association with a person who possesses this power of casting glamour at will over one, the thought becomes most burdensome after a while, for one never knows whether what is apparently spoken or seen is really so or not. Not even such a visit as the one made me by the Mahâtma, with the concomitants of his touching me and speaking to me, and my feeling him as a man of substantial body like myself, would really be proof that I was not under a glamour at the time. It will be remembered that this train of thought came up in my mind during the course of our conversation, and when we were about to part, and that the Mahâtma smilingly gave me the test I wanted by leaving his turban, a tangible cotton cloth with his cryptograph worked on it, on my table.
Có lần Bà kể tôi nghe một chuyện Mâyâ bị “gài” chính mình khiến Bà khoái trá. Bà nói Bà đang đi trong sa mạc với một nhà pháp thuật bạch pháp người Copt mà tôi không nêu tên, và, khi cắm trại một buổi chiều, Bà bộc lộ ước muốn nồng cháy là có một tách café au lait Pháp hảo hạng. “Vâng, dĩ nhiên, nếu Bà mong đến thế,” vị hộ đạo đáp. Ông ra phía lạc đà chở hành lý, múc nước từ túi da, và lát sau trở lại, tay bưng một tách cà phê bốc khói thơm ngát pha sữa. H. P. B. nghĩ rằng đây tất nhiên là một sản phẩm hiện tượng, vì bạn đồng hành của Bà là một chân sư bậc cao và sở hữu quyền năng rất lớn. Thế là Bà cảm ơn ông trìu mến, và uống, và thích thú, và quả quyết rằng chưa bao giờ uống cà phê ngon hơn ở Café de Paris. Pháp sư không nói gì, chỉ cúi chào nhã nhặn và đứng như đợi nhận lại tách. H. P. B. nhấp thức uống bốc khói, và trò chuyện vui vẻ, và—nhưng thế này là sao? Cà phê biến mất và chỉ còn lại nước lã trong tách! Xưa nay vốn là như thế; Bà đã uống, ngửi, nhấm Mâyâ của Mocha nóng thơm. Tất nhiên, sẽ có người nói rằng thứ ảo giác như vậy có thể thấy ở bất cứ buổi diễn của tay thôi miên lang bạt nào, nơi dầu paraffin được làm cho có vị sô-cô-la và giấm thành mật ong. Nhưng khác biệt là ở chỗ ảo giác trong trường hợp của H. P. B. được tạo ra trong im lặng, bằng chuyển ý nghĩ, và tác động lên một chủ thể mà chính người ấy cũng có năng lực giăng ảo lên người thứ ba. Từ các thí nghiệm thôi miên thô sơ trong hội quán làng, để lấy tiền, đến mẫu mực cao nhất của màn hoá ảo mâyâvic được ném ra trong im lặng lên một người hay cả đám đông bởi một ảo thuật gia, fakir, sannyâsi, hay chân sư Đông phương, chỉ là khác nhau về mức độ. Một nguyên lý vận hành xuyên suốt tất cả những điều này và mọi hiện tượng khác, những thứ mà chức năng quan sát thuộc về các giác quan thể xác. Dù Mâyâ được gây từ bên ngoài bởi lời nói, cử chỉ gợi ý, hay ý chí câm nín của kẻ khác, hoặc nó tự sinh trong nội tâm bởi trí tưởng bị đánh lừa vận hành qua ý chí lên các giác quan, thì cũng như nhau, và ai thấu triệt lý lẽ của màn diễn của tay làm trò nơi thôn dã và tay ảo thuật trần truồng xứ Ấn trên dây, thì sẽ có thể nắm được thuyết Mâyâ trên quy mô vũ trụ. Khi sống chung ngày này qua ngày khác với một người có năng lực tuỳ ý giăng ảo lên mình, ý nghĩ ấy dần đè nặng, vì ta không bao giờ biết điều đang được nói hay thấy bề ngoài có thật hay không. Ngay cả một lần thăm như lần vị Mahâtma đến với tôi, với những điều đi kèm là Ngài chạm vào tôi và nói với tôi, còn tôi cảm nhận Ngài như một thân xác rắn chắc như chính tôi, cũng chưa thể thật sự là bằng chứng rằng khi ấy tôi không bị giăng ảo. Hẳn anh còn nhớ rằng mạch suy tư này khởi lên trong tâm tôi trong lúc cuộc trò chuyện của chúng tôi đang diễn ra và khi sắp chia tay, và rằng vị Mahâtma, mỉm cười, đã cho tôi phép thử tôi muốn bằng cách để lại chiếc khăn xếp của Ngài, một mảnh vải bông hữu hình có ký hiệu riêng thêu trên đó, trên bàn của tôi.
How much we read in folk-lore tales about “fairy gold” and “fairy jewels” which by the next dawn are found turned into bits of twigs, leaves, straw, or other rubbish! Such stories one finds current in almost every land and among every people. I have heard them in India. In such cases the principle of Mâyâ is illustrated; but it would seem, from the instance I gave of the Mahâtma refunding the half-dollar I had spent for the drawing materials with which his portrait was to be made for me, that the same person who could make the Mâyâ of money at will, might also be able to either create real coin, or by the law of apport, bring it to one from some distant place where it lay at the moment.
Chúng ta đọc biết bao trong cổ tích dân gian về “vàng tiên” và “châu báu tiên” mà đến mờ sáng hôm sau thấy đã hoá thành mẩu cành khô, lá, rơm, hay rác rưởi khác! Những chuyện như thế gần như đâu đâu cũng có, trong mọi dân tộc. Tôi đã nghe ở Ấn Độ. Trong những trường hợp đó, nguyên lý Mâyâ được minh hoạ; nhưng dường như, từ ví dụ tôi nêu về việc vị Mahâtma hoàn lại cho tôi nửa đô-la mà tôi đã tiêu mua đồ vẽ để vẽ chân dung Ngài cho tôi, thì cùng một người có thể làm ra Mâyâ của tiền theo ý, cũng có thể, hoặc là tạo đồng tiền thật, hoặc là, theo định luật dẫn nhập vật thể, mang nó đến cho ai đó từ một nơi xa nơi nó đang nằm.
—