CHAPTER IX—CHƯƠNG IX
RETURN TO CEYLON—TRỞ VỀ TÍCH LAN
(1889)
(1889)
ON the evening of the same day I formed—well, no, I can hardly say formed, but went through the ceremony of forming—a local Branch, T. S., with Hongwanji officials for officers. The Branch never did any practical work as such, and, for commonsense reasons that were explained to me, I was not dissatisfied. When discussing the question of the extension of T. S. work to Japan with some of the most enlightened statesmen in the sects, they said that if I would come and settle in the country they would make as many Branches and give me as many thousand members as I chose; but otherwise it would be useless, for the spirit of sectarianism was so rife that they could never consent to come into an organisation where, of necessity, some must be officers and the others simple members, and it would be an even chance if the leaders were not of some sect antipathetic to their own. Only a white man, a foreigner outside all their sects and social groups, could carry on such a Society successfully: moreover, he would have to be a sincere Buddhist, else his motives [150] would be open to misconstruction; and as I was the only man they knew who possessed these requirements, they made me the offer in question. The knowledge of this circumstance, added to my intimacy with the Sinhalese and Burmese nations, caused me to see that, if I could be spared from the Theosophical movement proper, and were free to occupy myself exclusively with Buddhistic interests, I could very soon build up an International Buddhistic League that might send the Dharma like a tidal wave around the world. This was the chief motive which prompted me to offer my resignation of the Presidency, and to pass it over to H. P. B., for reasons specified in my Annual Address before the Fifteenth Convention of the T. S. (Theosophist, vol. xii). Old readers will be able to recall the effect of this offer on her. She found that she had crowded me too far, and that if she let me go, something like an avalanche of official responsibility would come tumbling on her head; so she wrote and cabled that if I resigned she would at once quit the Society. Still, this would not have stopped me if a far higher personage than she had not come and told me that the Buddhist scheme must be postponed, and that I must not leave the post confided to me. The Buddhist League is, therefore, a great and splendid work that lies in the closed hand of the future; for it goes without saying that it can never be effected by any existing organisation known as a Buddhistic agency.
Tối cùng ngày, tôi thành lập—à, không, khó có thể nói là “thành lập”, mà đúng hơn là cử hành nghi thức “thành lập”—một Chi bộ địa phương của Hội Thông Thiên Học (T. S.), với các chức sắc của Hongwanji làm nhân sự điều hành. Chi bộ ấy không hề làm được công việc thực tiễn nào, và với những lẽ thường đã được giải thích cho tôi, tôi không bất mãn. Khi bàn về việc mở rộng hoạt động của T. S. sang Nhật với vài vị cận sự am hiểu nhất trong các tông phái, họ nói rằng nếu tôi chịu đến cư trú ở nước họ, họ sẽ lập bao nhiêu Chi bộ và kết nạp bao nhiêu ngàn hội viên tùy ý tôi; còn nếu không thì vô ích, vì tinh thần bè phái quá thịnh hành đến nỗi họ chẳng bao giờ chịu vào một tổ chức mà, tất yếu, có người phải làm chức sự còn người khác chỉ là hội viên bình thường, và rất có thể lãnh đạo lại thuộc một tông phái kỵ với họ. Chỉ có một người da trắng, ngoại cuộc đối với mọi tông phái và nhóm xã hội của họ, mới có thể điều hành một Hội như thế thành công; hơn nữa, người ấy phải là một Phật tử chân thành, bằng không động cơ [150] sẽ bị xuyên tạc; và vì tôi là người duy nhất họ biết hội đủ các điều kiện ấy, họ đưa ra lời mời nói trên. Biết rõ tình huống ấy, cộng thêm sự quen thuộc của tôi với hai dân tộc Tích Lan và Miến Điện, khiến tôi nhận ra rằng nếu tôi được miễn trừ khỏi phong trào Thông Thiên Học theo đúng nghĩa, và được tự do chuyên tâm vào Phật sự, thì tôi có thể rất sớm xây dựng một Liên đoàn Phật giáo Quốc tế đủ sức đưa Giáo pháp lan tỏa như một cơn sóng triều khắp hoàn cầu. Đó là động lực chính khiến tôi đề nghị từ nhiệm Chủ tịch, và chuyển giao cho Bà H. P. B., vì những lý do đã nêu trong Diễn văn Thường niên trước Khóa Hội thứ Mười lăm của T. S. (Theosophist, tập xii). Những độc giả lâu năm hẳn còn nhớ hiệu ứng của đề nghị này nơi Bà. Bà nhận ra rằng Bà đã dồn tôi đi quá xa, và rằng nếu để tôi đi, một thứ “tuyết lở” trách nhiệm hành chính sẽ đổ ập lên đầu Bà; nên Bà viết và điện rằng nếu tôi từ nhiệm, Bà sẽ lập tức rời Hội. Tuy vậy, điều đó cũng chưa chắc đã ngăn tôi, nếu một vị cao cả hơn Bà rất nhiều đã không đến và bảo tôi rằng kế hoạch Phật giáo ấy phải hoãn lại, và rằng tôi không được rời vị trí đã phó thác cho mình. Vì vậy, Liên đoàn Phật giáo là một công trình lớn lao và rực rỡ còn nằm trong bàn tay khép kín của tương lai; bởi không cần nói cũng rõ, nó không thể được thực hiện bởi bất kỳ tổ chức hiện có nào vốn được biết như là cơ quan Phật giáo.
On 5th May I said farewell to the assembled Chief Priests of all the sects, advising them most strongly to [151] keep up the Central Committee, and use it as the best practical instrument in cases where something had to be done for Buddhism as a whole. At 3 p.m. I lectured for the last time in Kyoto before H. E. the Governor, the Chief Justice, and many other persons of influence—military, civil, and ecclesiastic. On the 6th I left for Osaka by the noon train, and thence took steamer for Okayama. The boat was small, the saloon a den into which eleven persons were packed—like an overcrowded sheepfold, it seemed to me; and as the between-decks was built far a smaller race than ours, I had to bend nearly double to walk through. We landed at San Banco at 3 in the morning, and took refuge in a hotel at the landing. The Governor of Okayama, Mr. Chisoka, kindly sent his carriage for me in the morning, and was very polite in his attentions during my visit to the place. I was put up at the Club, in a splendid garden laid out in the unique Japanese style, with stone and wooden bridges, little islets, artificial mounds, stone lanterns, dwarfed and quaintly-trimmed trees, and abundance of flowers. At 3 p.m. I gave my first lecture before the public. The local committee had, for inscrutable reasons, issued 10,000 tickets, but as not more than half that number could squeeze into the building, there was much confusion outside. Some medical students, who had came early and placed themselves near the platform with intent to create a disturbance, made just one little attempt. When I said that Buddhism had brought with it into Japan the refinements of life, a young [152] fellow sitting close by my feet cried out “No! No!” Remembering Noguchi’s forewarning at Madras, and knowing how to deal with such young conspirators, I stopped speaking, turned towards him, looked at him steadily until he felt that he was under observation by the whole audience, and then continued my remarks. After that a flock of lambs could not have kept more quiet. Later in the day, the Governor called and took me to an exhibition of autographs of noted personages, i.e., signatures, with or without accompanying sentences or single words, written vertically on large rolls of silk paper, in big characters, with brush and Indian ink. There were also some pictures, of which His Excellency purchased and gave me one representing a Japanese warrior of the old style, mounted on horse-back. A second public-lecture and an address to priests were given on the following day, after which we left in a small boat, sculled by four men, for Takamatsu, which was reached at 5 p.m. Mr. Tadas Hyash, the Governor, formerly of the Japanese Legations at Washington and London, called on me, and in the evening I lectured to 2,000 people. The trip across the Inland Sea was lovely.
Ngày 5 tháng Năm, tôi từ biệt chư vị Trụ trì của mọi tông phái, mạnh mẽ khuyên các Ngài tiếp tục duy trì Ủy ban Trung ương và dùng nó như khí cụ thực tiễn nhất trong các trường hợp cần làm điều gì vì Phật giáo nói chung. Lúc 3 giờ chiều, tôi thuyết giảng lần cuối ở Kyoto trước Ngài Thống đốc, Chánh án và nhiều nhân vật có ảnh hưởng—quân sự, dân sự và giáo sĩ. Ngày mồng 6, tôi đi Osaka bằng chuyến tàu trưa, rồi từ đó xuống tàu thủy đi Okayama. Con tàu nhỏ, phòng ăn là một cái ổ mà mười một người bị nhét vào—làm tôi thấy như một chuồng cừu quá tải; và vì boong dưới được thiết kế cho một chủng người thấp bé hơn chúng ta, tôi phải lom khom gần gập người mới đi qua được. Chúng tôi cập bến San Banco lúc 3 giờ sáng, và trú tạm ở một khách sạn tại bến. Thống đốc Okayama, ông Chisoka, tử tế cho xe đến rước tôi vào buổi sáng, và rất mực niềm nở trong suốt thời gian tôi thăm nơi đây. Tôi được thu xếp ở Câu lạc bộ, trong một khu vườn lộng lẫy theo phong cách Nhật độc đáo, với cầu đá, cầu gỗ, đảo nhỏ, gò nhân tạo, đèn đá, cây kiểng cắt tỉa khéo léo, và vô vàn hoa. Lúc 3 giờ chiều, tôi có bài nói đầu tiên trước công chúng. Ủy ban địa phương, vì những lý do khó hiểu, đã phát hành 10.000 vé, nhưng vì không quá một nửa số đó có thể chen vào tòa nhà, nên bên ngoài khá hỗn loạn. Một số sinh viên y khoa, đến sớm và ngồi sát bục với ý định gây rối, đã thử một phen. Khi tôi nói Phật giáo đã mang đến cho Nhật Bản những tinh hoa của đời sống, một cậu ngồi ngay dưới chân tôi kêu “Không! Không!” Nhớ lời cảnh báo của Noguchi ở Madras, và biết cách đối trị những nhóm âm mưu non nớt, tôi dừng lại, quay về phía cậu ta, nhìn chằm chằm cho đến khi cậu cảm thấy bị cả khán phòng dõi theo, rồi tiếp tục. Sau đó thì bầy chiên non cũng không thể ngoan hơn. Cuối ngày, Thống đốc đến thăm và đưa tôi đến xem một triển lãm thủ bút của các nhân vật nổi danh, tức là chữ ký, có hoặc không kèm câu văn hay chữ đơn, viết dọc trên những cuộn giấy lụa khổ lớn, bằng bút lông và mực tàu. Cũng có vài bức họa, trong đó Ngài mua tặng tôi một bức vẽ một võ sĩ Nhật phong cách cổ, cưỡi ngựa. Hôm sau, có buổi thuyết giảng công cộng thứ hai và một bài nói với chư tăng; sau đó, chúng tôi lên một con thuyền nhỏ, bốn người chèo, đi Takamatsu, đến nơi lúc 5 giờ chiều. Ngài Tadas Hyash, Thống đốc, nguyên là viên chức tại các Phái bộ Nhật ở Washington và Luân Đôn, đến thăm tôi; tối đến, tôi thuyết giảng cho 2.000 người. Chuyến vượt qua Nội Hải thật là tuyệt mỹ.
At 10 the next morning a lecture was given on “The Evidences of Buddhism” to a great assemblage, which was very cordial. That afternoon an exhibition of Japanese wrestling was given us in the public park, in the presence of the Governor. It is needless to describe it, since it has been so often described by travellers; suffice it to say that the style is quite [153] different from ours, and that the favorite athlete was a very fat man, whose weight was enough to crush down any antagonist on whom he might succeed in getting the upper hold. We left at 3 p.m. by steamer for Imabaru, and had a miserable time of it on board. There was almost every conceivable inconvenience to endure; but as the others seemed to regard them with indifference, I could do no less. It was a splendid day, and the picture before us on approaching the landing was striking. A stone-paved slope leading up from the water’s edge was black with thousands of people, who also lined the crest and spread away to right and left. A boat, with purple silk awnings from the temple, and national and Buddhist flags flying, took me to the stone pier, amid the bursting of bombs, the ringing of bells, and the roar of shouting voices. The projection into the air of paper bells, umbrellas, dragons, fish, and other devices, when the clay bombs burst high up overhead, was something new to me. What charmed me most, however, was the projection of a Buddhist flag, made of thin strips of paper of the conventional colors, so arranged with a tiny parachute at the top end of a retaining string and 5 oz. of small shot in a little bag at the lower end as to stand up straight in the air as though nailed to a pole, while it fluttered in the gentle breeze and the sun shone vividly through the colors as it floated very gently away to leeward. Instantly the fiction of the seeing by Constantine of the figure of a Cross in the air, with the legend In hoc signo vinces, came to my mind. Pointing to the [154] lovely object before us in the sky, I said--referring to that story, that was probably false—”But there, my brothers, you see the symbol of our religion, under which we may conquer the minds and hearts of men of all nations if we unite for fraternal co-operation.” The lecture was fixed for 9 the next morning, and after it we left by specially chartered steamer for Hiroshima, one of the most important political and military centres of the empire. The day was fine, the boat dressed with flags, the Buddhist flag at the fore and peak. After a run of five hours we arrived, and found an even more enthusiastic welcome awaiting us. The throngs at the pier and through the town were immense; a number of bombs were fired, from them two very large and several smaller Buddhist flags emerging; a military company of boys, with muskets, fifes, and drums, as an escort, and hundreds of school children, boys and girls, drawn up in two lines for us to pass through. The Senior Army Surgeon, Dr. Endo, a staunch Buddhist and holder of the Imperial University Igakushi degree of Doctor of Medicine, drove me in his own carriage in the very imposing procession in which we moved slowly towards our assigned quarters. The Committee of Reception wore as a badge a gilt circular plate transpierced with the Svastika emblem, so pretty that I procured a supply of them to introduce among the Sinhalese, and it was adopted by the Women’s Education Society of Ceylon as their badge. On the morrow I addressed an audience of 5,000, and, later, the school children. On the 13th
Lúc 10 giờ sáng hôm sau, một bài thuyết giảng về “Những Chứng Cứ của Phật giáo” được trình bày trước một đại chúng rất đông, bầu không khí hết sức nồng hậu. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi được xem một cuộc đấu vật Nhật Bản ở công viên công cộng, trước sự hiện diện của vị Thống đốc. Khỏi cần mô tả, vì nó đã được các du khách kể lại quá nhiều lần; chỉ cần nói rằng lối đấu ấy hoàn toàn [153] khác với lối của chúng ta, và vận động viên được ưa chuộng nhất là một người rất béo, cân nặng đủ để đè bẹp bất kỳ đối thủ nào nếu ông ta giành được thế thượng phong. Chúng tôi rời đi lúc 3 giờ chiều bằng tàu hơi nước đến Imabaru, và có một khoảng thời gian khổ sở trên tàu. Hầu như có đủ mọi điều bất tiện có thể tưởng tượng để phải chịu đựng; nhưng vì những người khác có vẻ thờ ơ với chúng, tôi cũng không thể khác hơn. Trời rất đẹp, và quang cảnh trước mắt khi chúng tôi tiến gần bến thật ấn tượng. Một con dốc lát đá dẫn lên từ mép nước đen nghịt hàng ngàn người, những người khác thì đứng san sát trên đỉnh dốc và tỏa ra hai bên. Một chiếc thuyền, có mái che bằng lụa tím của ngôi chùa, treo cờ quốc gia và cờ Phật giáo, chở tôi vào bến đá, giữa tiếng pháo nổ giòn, chuông ngân vang, và tiếng hò reo ầm ầm. Khi những quả bom đất sét nổ tung ở rất cao trên đầu, vô số chuông giấy, dù giấy, rồng, cá, và các hình trang trí khác được phóng vọt lên không trung—đó là điều mới lạ đối với tôi. Tuy nhiên, điều làm tôi thích thú nhất là sự phóng lên của một lá cờ Phật giáo, làm bằng những dải giấy mỏng với các màu truyền thống, được sắp xếp cùng một chiếc dù nhỏ ở đầu trên của sợi dây giữ, và một túi nhỏ đựng 5 ounce đạn chì ở đầu dưới, khiến nó đứng thẳng trong không trung như thể bị đóng đinh vào một cột cờ, trong khi vẫn phấp phới trước làn gió nhẹ, và ánh nắng chiếu xuyên qua các màu thật rực rỡ khi nó nhẹ nhàng trôi xuống phía khuất gió. Lập tức, giai thoại về việc Constantine thấy hình Thánh Giá trên không trung, với câu In hoc signo vinces, hiện lên trong trí tôi. Chỉ tay về phía [154] vật thể tuyệt đẹp trước mắt chúng ta trên bầu trời, tôi nói—ám chỉ câu chuyện ấy, mà có lẽ không đúng sự thật—“Nhưng kìa, các huynh đệ của tôi, các anh thấy biểu tượng của tôn giáo chúng ta, dưới đó chúng ta có thể chinh phục trí và tâm của những người thuộc mọi quốc gia nếu chúng ta hợp nhất trong tinh thần hợp tác huynh đệ.” Bài thuyết giảng được ấn định vào lúc 9 giờ sáng hôm sau, và sau đó chúng tôi rời đi bằng một chiếc tàu thuê đặc biệt đến Hiroshima, một trong những trung tâm chính trị và quân sự quan trọng nhất của đế quốc. Trời quang đãng, con tàu được trang hoàng cờ xí, cờ Phật giáo treo ở mũi và trên đỉnh cột buồm. Sau năm giờ chạy tàu, chúng tôi đến nơi, và thấy một sự chào đón còn nồng nhiệt hơn đang chờ đợi. Đám đông ở bến và suốt trong thành phố thật khổng lồ; nhiều quả pháo được bắn, từ đó phóng ra hai lá cờ Phật giáo rất lớn và vài lá nhỏ hơn; một đội quân nhí gồm các cậu bé, mang súng trường, kèn pípphơ và trống, làm đội hộ tống; và hàng trăm học sinh trai gái xếp thành hai hàng cho chúng tôi đi qua. Y sĩ Trưởng Lục quân, Bác sĩ Endo, một Phật tử kiên định và người mang học vị Igakushi Tiến sĩ Y khoa của Đại học Đế quốc, chở tôi bằng cỗ xe của Ông trong đoàn rước hết sức trang nghiêm tiến chậm tới nơi ở đã sắp đặt cho chúng tôi. Ủy ban Đón tiếp đeo phù hiệu là một đĩa tròn mạ vàng xoi thủng hình biểu tượng Svastika, đẹp đến mức tôi đặt mua một số để giới thiệu cho người Sinhala, và sau đó Hội Giáo dục Phụ nữ Tích Lan đã chọn làm phù hiệu của họ. Ngày hôm sau tôi diễn thuyết trước 5.000 người, và sau đó nói chuyện với học sinh. Đến ngày 13
[155]
[155]
(May) another 5,000 audience, and after that an address to the senior boys of the Buddhist School. Then came a special lecture before H. E. the Governor of Hiroshima, Viscount Nodzu, the General commanding the District, and the other principal officers and officials, after which the Governor gave me a collation. I considered it a very great privilege to make the acquaintance of General Nodzu, for he was at the same time a most staunch Buddhist, one of the greatest soldiers of the empire, and a man of the most blameless character in every respect. In the recent war with China, it will be remembered, he commanded one of the two wings of the invading army, and won for himself great renown. Letters have comparatively recently been exchanged between us about the religious state of his country, in which his friendly regard for myself was clearly shown.
(Tháng Năm) lại có một thính chúng 5.000 người, và tiếp theo là một buổi nói chuyện với các thiếu niên lớn của Trường Phật giáo. Rồi đến một buổi thuyết giảng đặc biệt trước Ngài Thống đốc Hiroshima, Tử tước Nodzu, vị Tổng chỉ huy Đạo quân trong Quân khu, và các quan chức chính yếu khác, sau đó Thống đốc khoản đãi tôi một bữa nhẹ. Tôi coi là một đặc ân lớn được làm quen với Tướng Nodzu, vì đồng thời Ngài là một Phật tử cực kỳ kiên trung, một trong những vị tướng vĩ đại nhất của đế quốc, và là một con người có phẩm hạnh không chê vào đâu được trên mọi phương diện. Trong cuộc chiến gần đây với Trung Hoa, như mọi người còn nhớ, Ngài chỉ huy một trong hai cánh của đạo quân viễn chinh, và đã tự giành được vinh quang lớn. Không lâu trước đây, giữa chúng tôi có trao đổi thư tín về tình trạng tôn giáo của đất nước Ngài, trong đó sự quý mến của Ngài dành cho cá nhân tôi được thể hiện rất rõ.
Our Hiroshima visit ended that night, and we pushed on by water towards Shimonoséki. It poured in torrents when we got to the pier, yet the Committee had had it lighted up with torches as bright as day; flags were flying, friends thronging, the air was rent with cheers. We had to change boats at Bakwan and make a fresh start at 3 a.m. We got to Shimonoséki at 7 p.m., and found only a few waiting, for the boat had been expected at 2, and the multitude had dispersed after waiting several hours. We stopped only three hours and left at 10 for Nagatsu, where there were the usual crowds, bomb-firing, flags, parades of schoolboys, etc. From one bomb was flung out a [156] very long streamer of paper, on which was written in giant characters the words “Olcott San is come”! This, I was told, was to notify the inhabitants of the surrounding districts, so that they might come into town. (San is the common honorific suffix, having something of the same value as our Esquire.) At 1 p.m. I lectured in the theatre to 3,500 people, some of whom had come 50 miles, and others shorter distances, from neighboring islands, and camped all night in the theatre. Others had taken their places at daybreak. We left Shimonoséki at 8 p.m. by the Yokohama-Shanghai mail steamer “Tokio Maru” for Nagasaki. She was a very fine and commodious boat, seeming quite palatial after my experience, in small coasting steamers, and the supper and breakfast served us were something to remember. To my great surprise and pleasure, the breakfast bill-of-fare contained those popular American dishes, boiled hominy and buck-wheat cakes, neither of which had I tasted since leaving home. There seems a confusion of entries in my Diary, so that I do not see how I got from Nagatsu to take the steamer, but I certainly did, and it appears that the Committee took the size of my audience there, 2,500, all admitted by tickets, as a measure by which to calculate the average size of my audiences throughout the tour. So that as 75 lectures in all were given, the gross number of my auditors at the above average would be 187,500, and when one remembers that the Committee managed to bring me before all classes and conditions of men, one maybe prepared to believe [157] the statements made to the Adyar Convention of 1890 by the Japanese Delegates in their address, to which place will be given in the proper connection. Certainly, it was one of the most remarkable events in contemporary history; and we Theosophists are compelled to see in the results the working beneath the surface of influences far more potent than the efforts of the inferior agent who helped to throw the shuttle in the loom of Karma.
Chuyến thăm Hiroshima của chúng tôi kết thúc trong đêm ấy, và chúng tôi tiếp tục đi đường thủy hướng tới Shimonoséki. Khi chúng tôi đến bến, mưa như trút nước, vậy mà Ủy ban đã cho thắp đuốc sáng như ban ngày; cờ bay phấp phới, bè bạn tề tựu đông đảo, không khí vỡ òa tiếng hoan hô. Chúng tôi phải đổi tàu ở Bakwan và khởi hành lại lúc 3 giờ sáng. Chúng tôi đến Shimonoséki lúc 7 giờ tối, và chỉ thấy vài người chờ đón, vì tàu vốn được mong lúc 2 giờ, và đám đông đã giải tán sau nhiều giờ đợi chờ. Chúng tôi chỉ dừng lại ba giờ và rời đi lúc 10 giờ đến Nagatsu, nơi có những cảnh thường thấy: đám đông, đốt pháo, cờ xí, diễu hành của các thiếu niên học sinh, v.v. Từ một quả pháo bắn ra [156] một dải giấy rất dài, trên đó viết bằng những chữ khổng lồ câu “Ông Olcott đã đến”! Tôi được cho biết đó là để báo tin cho dân cư các vùng lân cận, để họ kéo về thị trấn. (San là hậu tố kính ngữ thông dụng, có giá trị tương đương với cách xưng hô lịch sự “Quý ông” nơi chúng tôi.) Lúc 1 giờ trưa tôi diễn thuyết trong nhà hát trước 3.500 người, trong đó có người đi 50 dặm, có người ở các đảo lân cận đi quãng ngắn hơn, và cắm trại suốt đêm trong nhà hát. Những người khác thì chiếm chỗ từ hừng đông. Chúng tôi rời Shimonoséki lúc 8 giờ tối bằng chiếc tàu thư Yokohama–Shanghai “Tokio Maru” đi Nagasaki. Đó là một con tàu rất đẹp và tiện nghi, trông như cung điện so với những trải nghiệm của tôi trên các tàu ven bờ nhỏ, và bữa tối cùng bữa sáng phục vụ cho chúng tôi thật đáng nhớ. Rất bất ngờ và hân hoan, tôi thấy trong thực đơn bữa sáng có những món Mỹ quen thuộc: bắp giã luộc và bánh kiều mạch, hai món mà tôi chưa được nếm lại từ khi rời nhà. Hình như trong Nhật ký của tôi có chút lẫn lộn ghi chép, nên tôi không hiểu bằng cách nào tôi từ Nagatsu ra đi để đi tàu, nhưng chắc chắn tôi đã đi, và dường như Ủy ban đã lấy quy mô thính chúng của tôi ở đó, 2.500 người, đều vào bằng vé, làm thước đo để tính cỡ trung bình của thính chúng suốt chuyến diễn thuyết. Như vậy, vì tổng cộng có 75 bài thuyết giảng, số người nghe tổng quát theo mức trung bình nói trên sẽ là 187.500, và khi nhớ rằng Ủy ban xoay xở để đưa tôi đến trước mọi tầng lớp và hạng người, ta có thể sẵn sàng tin [157] những lời trình bày trước Đại hội Adyar năm 1890 của các Đại biểu Nhật Bản trong bản diễn văn của họ, mà tôi sẽ trích dẫn ở chỗ thích hợp. Chắc chắn, đó là một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử đương thời; và chúng ta, những người Thông Thiên Học, buộc phải thấy trong các kết quả ấy sự vận hành âm thầm của những ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với nỗ lực của tác nhân hèn mọn chỉ góp phần quăng thoi trong khung cửi của Nghiệp.
The steamer landed us at Nagasaki at 10 a.m. on the 18th of May, and I lectured at 3 p.m. My excellent and respected interpreter, Professor Sakuma, was confined to bed the next day, and my experiences at the second lecture were not of the happiest kind, for I had two interpreters: one would listen to me and tell the other briefly in Japanese what I had said, while the second would render it to the audience. It is enough to make one shudder to think what misconceptions as to my views must have been given to the public by this roundabout plan. The Committee gave me a farewell banquet, and then there was a lantern-and-jinricksha procession to escort me to the harbor—all of which splendor made me lose my steamer for Kumamoto, my southernmost place on the programme. We got away the next day at noon, and landed at Missooni at 6, spending the night there, and going by jinricksha the next day. The intestinal troubles again attacked me and gave me much pain. I tried to lecture to a great crowd in the theatre on the 21st, but as Professor Sakuma was laid up at Nagasaki, and two amateur interpreters broke down [158] in an attempt to see me through, I had to give up the attempt. Somehow, I seem to have succeeded better the next day, for I see that I lectured in a temple to a crowd which packed the building and filled the courtyard, and at 3 p.m. before the Governor and other chief officials, military and civilian, after which we returned by jinricksha to rejoin the steamer at Missooni.
Tàu đưa chúng tôi cập bến Nagasaki lúc 10 giờ sáng ngày 18 tháng Năm, và tôi diễn thuyết lúc 3 giờ chiều. Vị thông dịch xuất sắc và đáng kính của tôi, Giáo sư Sakuma, hôm sau phải nằm liệt giường, và trải nghiệm của tôi ở buổi thuyết giảng thứ hai không mấy vui vẻ, vì tôi phải dùng hai người thông dịch: một người nghe tôi rồi nói ngắn gọn bằng tiếng Nhật cho người kia, còn người thứ hai thì chuyển dịch cho thính giả. Chỉ nghĩ tới những hiểu lầm về quan điểm của tôi có thể đã được công chúng tiếp nhận qua cách làm vòng vo như vậy cũng đủ khiến người ta rùng mình. Ủy ban khoản đãi tôi một bữa tiệc chia tay, rồi có một đoàn rước đèn lồng và xe kéo tay tiễn tôi ra bến—tất cả sự lộng lẫy ấy khiến tôi lỡ chuyến tàu đi Kumamoto, nơi cực nam trong chương trình của tôi. Ngày hôm sau chúng tôi khởi hành lúc trưa, và cập bến Missooni lúc 6 giờ, ngủ lại đêm ở đó, và hôm sau đi bằng xe kéo tay. Cơn rối loạn đường ruột lại tái phát và làm tôi rất đau. Tôi cố giảng cho một đám đông lớn trong nhà hát ngày 21, nhưng vì Giáo sư Sakuma còn nằm liệt ở Nagasaki, và hai người thông dịch nghiệp dư thì đành bỏ cuộc [158] khi cố gắng giúp tôi, tôi buộc phải bỏ dở ý định. Bằng cách nào đó, dường như tôi đã làm tốt hơn vào ngày hôm sau, vì tôi thấy mình đã diễn thuyết tại một ngôi chùa trước một đám đông chật kín tòa nhà và tràn cả ra sân, và lúc 3 giờ chiều thuyết trình trước Thống đốc và các quan chức cao cấp khác, cả quân sự lẫn dân sự, sau đó chúng tôi trở lại bằng xe kéo tay để kịp xuống tàu ở Missooni.
We got to Nagasaki at noon on the 23rd, where I went ashore and passed a pleasant day. I was presented a dwarf orange tree on which were two or three dozen fruits growing, two Buddhist flags in silk crêpe, and other tokens of regard. A lecture on “Practical Religion” was given at a Hongwanji temple in the afternoon, and I returned to the steamer at bedtime. The next two days were passed at sea amid charming surroundings, and a part of the time, was utilised in drafting a Memorandum about the rules which should be adopted by the Chief Priests for sending students to Colombo to pursue their studies in Sanskrit, Pali, and Sinhalese, under the High Priest Sumangala. We reached Kobé on Sunday the 26th, and went to a town named Hameiji, two hours by rail, to lecture, and got back by 8.30 p.m. The morning of the 27th was taken up with getting my return tickets and with other preparations for leaving, and at 4 p.m. I gave my 76th and last lecture at a new preaching hall of the local Hongwanji to an overflowing audience. As I stood there facing the door, the whole town and harbor of Kobé was spread out before me like a beautiful [159] picture, lighted up by dazzling sunshine. I hardly ever saw anything more charming. A last dinner was given me at a regular Japanese hotel in the native fashion, my hosts being the members of the Joint General Committee, who were most kind and cordial. After dinner I had many invitations to write Buddhist moralities and my name in Chinese characters on the paper or silk scrolls called Kakomono, which, mounted on map-rollers, are suspended in Japanese houses as ornaments, or, when the scroll (then called mendara) bears a religious picture, as objects promotive of devotional feeling. I had done numberless things of the kind throughout my tour, until, as I told the Committee, I had squeezed my brain dry of Buddhistic axioms. But this being our time of parting, they urged me to compliance, so I went ahead as usual. Finally, a certain lay member of the Committee who was too much inclined to drink Saké, the national beverage—a slightly alcoholic liquor obtained from rice—importuned me to do a Kakomono for him. I protested, on the ground that while at Kyoto I had done two or three for his temple, but he said that was for others, not for himself; so, as he was an obliging, cheerful sort of fellow, I consented. He brought me a piece of fine silk, the Indian-ink cake, small water-bottle and mixing saucer, and a large hair pencil. I asked him what he wanted me to write. “Oh, some sound Buddhistic maxim,” he replied. So, spreading the silk out on a little lacquered stand, I painted this: “Break thy Saké-bottle if thou wouldst reach Nirvana.” There [160] was a general roar of laughter when it was translated to him, and he was good-natured enough to join in the merriment.
Chúng tôi đến Nagasaki vào trưa ngày 23, tôi lên bờ và có một ngày thú vị. Tôi được tặng một cây cam lùn trĩu độ hai ba chục quả, hai lá cờ Phật giáo bằng lụa crêpe, và những vật bày tỏ sự quý mến khác. Buổi chiều, tôi có một bài diễn thuyết về “Tôn giáo Thực hành” tại một ngôi chùa của phái Hongwanji, và tối thì trở về tàu. Hai ngày kế tiếp trôi qua trên biển giữa khung cảnh hết sức nên thơ, và một phần thời gian được dùng để soạn một Bản Ghi nhớ về các quy tắc mà các vị Trưởng giáo nên áp dụng khi gửi học tăng đến Colombo học Sanskrit, Pali và tiếng Sinhala dưới sự chỉ dạy của Đại Trưởng lão Sumangala. Chúng tôi đến Kobé vào Chủ nhật ngày 26, và đi đến một thị trấn tên Hameiji, mất hai giờ đường sắt, để diễn thuyết, và trở lại lúc 8 giờ 30 tối. Buổi sáng ngày 27 dành cho việc lấy vé khứ hồi và những chuẩn bị khác cho việc rời đi, và lúc 4 giờ chiều, tôi có bài thuyết giảng thứ 76 và cũng là cuối cùng, tại một giảng đường mới của phái Hongwanji địa phương, trước một thính phòng chật kín người. Đứng đối diện cửa, trước mắt tôi, toàn bộ thị trấn và bến cảng Kobé hiện ra như một [159] bức tranh tuyệt mỹ, rực rỡ trong nắng chói chang. Tôi hiếm khi thấy cảnh nào duyên dáng hơn. Một bữa tối chia tay được khoản đãi tôi tại một khách sạn Nhật Bản theo lối bản địa, chủ tiệc là các thành viên của Ủy ban Hỗn hợp, những người hết sức tử tế và nồng hậu. Sau bữa tối, tôi nhận được nhiều lời mời viết những câu răn Phật giáo và viết tên tôi bằng chữ Hán lên các cuộn giấy hoặc lụa gọi là Kakomono, loại cuộn được gắn vào trục như bản đồ và treo trong nhà người Nhật như đồ trang trí, hoặc, khi cuộn (lúc ấy gọi là mendara) mang một bức họa tôn giáo, thì làm đối tượng gợi lên tâm tình sùng tín. Trong suốt chuyến đi, tôi đã làm vô số việc như thế, đến nỗi, như tôi nói với Ủy ban, tôi đã vắt cạn óc về các châm ngôn Phật giáo. Nhưng vì đây là lúc chia tay, họ nài nỉ tôi nhận lời, nên tôi lại làm như thường lệ. Cuối cùng, một cư sĩ trong Ủy ban—người hơi quá chuộng rượu Saké, quốc ẩm—nài nỉ tôi viết một tấm Kakomono cho Ông. Tôi từ chối, lấy cớ rằng lúc ở Kyoto tôi đã viết hai ba tấm cho chùa của Ông rồi, nhưng Ông nói đó là cho người khác, không phải cho chính Ông; vậy nên, vì Ông là người vui tính và hay giúp đỡ, tôi đồng ý. Ông mang đến cho tôi một tấm lụa đẹp, thỏi mực tàu, bình nước nhỏ và đĩa hòa mực, và một cây bút lông lớn. Tôi hỏi Ông muốn tôi viết gì. “Ôi, một châm ngôn Phật giáo vững vàng nào đó,” Ông đáp. Thế là, trải tấm lụa ra trên một cái kỷ sơn mài nhỏ, tôi viết: “Nếu muốn đạt Niết-bàn, hãy đập vỡ bình Saké của ngươi.” Nghe dịch cho Ông, [160] cả phòng cười ầm lên, và Ông vui vẻ cười theo.
The next day we were steaming down the Inland Sea on the French mail steamer “Oxus,” having left Kobé at 5 a.m. Among the passengers was a Father Villion, a Roman Catholic priest and savant, who had lived 23 years in Japan, and was thoroughly versed in the language and literature, as well as in Northern Buddhism. Shanghai was reached on the 30th, and the passengers went ashore to look about. I passed some pleasant hours with my compatriots, the American Consul-General, Judge O. N. Denny, Adviser to the King of Korea, Mrs. Denny, and others. I also had as close an inspection of the Chinese town as I shall ever care to make, and was almost choked with the foul smells, which excel anything of the sort I ever came to a knowledge of. In the evening the Master of the local temple of the Hongwanji, and the Chief Priest of a Chinese Buddhist temple, and Mr. Shevey Yessan, Minister of Provincial Military Affairs, came aboard to call on me. The Chief Priest made me the valuable present for our Library of a copy of the Lalita Vishtara, or Legendary Life of the Buddha, in folio, in several volumes, every other page being faced with a full-page picture engraved on wood. Every important detail of the life of the Buddha, as we have it narrated to us in the canon, is there depicted in outline engravings, which are simply admirable examples of the art. In some there are hosts of figures of men and gods. This [161] is the book first translated by Eugene Burnouf, and which really introduced the story of the Buddha to the notice of the Western scholars. From the Chinese General and the Chief Priest 1 had a warm invitation to come and make a tour in China like that in Japan, but I had to decline it for various reasons.
Ngày hôm sau, chúng tôi xuôi Biển Nội địa trên chiếc tàu thư Pháp “Oxus”, rời Kobé lúc 5 giờ sáng. Trong số hành khách có Cha Villion, một linh mục Công giáo La Mã và học giả, đã sống 23 năm ở Nhật Bản, rất thạo ngôn ngữ, văn học, cũng như Phật giáo Bắc truyền. Đến Shanghai ngày 30, hành khách lên bờ dạo chơi. Tôi có vài giờ dễ chịu với những người đồng quốc, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, Thẩm phán O. N. Denny, Cố vấn của Quốc vương Triều Tiên, Bà Denny, và những người khác. Tôi cũng có dịp quan sát kỹ khu phố người Hoa đến mức tôi chẳng bao giờ còn muốn xem kỹ hơn nữa, và suýt ngạt vì mùi hôi thối, nặng hơn bất cứ thứ gì cùng loại mà tôi từng biết đến. Buổi tối, vị Trụ trì ngôi chùa địa phương của phái Hongwanji, và vị Trưởng giáo của một ngôi chùa Phật giáo Trung Hoa, cùng Ông Shevey Yessan, Bộ trưởng Quân vụ Tỉnh, lên tàu thăm tôi. Vị Trưởng giáo tặng tôi một món quà quý cho Thư viện: một bản Lalita Vishtara, tức Truyền Kỳ về Đời Sống của Đức Phật, khổ lớn, gồm nhiều tập, trang này đối diện với mỗi trang kia là một bức tranh toàn trang khắc gỗ. Mọi chi tiết quan trọng về đời sống Đức Phật, như chúng ta có được trong kinh điển, đều được minh họa bằng các bức khắc nét viền, thật là những mẫu mực đáng khen của nghệ thuật. Có bức có vô số hình người và chư thiên. Đây [161] là cuốn sách mà trước hết Eugene Burnouf đã dịch, và thực sự đưa câu chuyện về Đức Phật đến với sự chú ý của các học giả phương Tây. Tôi cũng nhận được lời mời nồng hậu từ vị Tướng Trung Hoa và vị Trưởng giáo, mời tôi sang Trung Hoa thực hiện một chuyến thuyết giảng như ở Nhật Bản, nhưng vì nhiều lẽ tôi đành từ chối.
Under a queer arrangement of the Messageries Maritimes Company the homeward bound boats wait at Shanghai until relieved, a fortnight later, by the next ship in the list. Thus, we were transhipped at Shanghai to the “Natal” and dropped down the river to Woosung, in readiness to start with the next day’s ebb tide. That night I was aroused from sleep to receive visits from the Chief Priest of the Zen-shin Temple and a Delegate from the General, who brought a letter of thanks from him for a reply I had sent to a letter of his. Presents of books were also made me. The ship weighed anchor at 1 a.m. and sailed for Hong Kong. The day was fine and clear. We reached Hong Kong on the second day, but the weather was so damp and hot that I did not go ashore until the morrow, when I found a scene of desolation in the city. A cloud-burst, two days previously, had discharged 24 inches of water and caused a loss of $1,500,000 to Government, besides enormous losses to merchants. The main street was buried 3 feet deep in sand washed down from the hills, the sewers had burst, some houses had been swept away, and great trees, uprooted, had been washed down into the town. The funicular railway track, climbing to the Peak,
Theo một sắp xếp lạ lùng của Hãng Messageries Maritimes, các tàu về châu Âu phải đợi ở Shanghai đến khi được thay phiên, tức hai tuần sau, bởi con tàu kế tiếp trong danh sách. Thế nên, chúng tôi chuyển tàu ở Shanghai sang chiếc “Natal” và xuôi sông xuống Woosung, sẵn sàng nhổ neo khi thủy triều ròng ngày hôm sau. Đêm ấy, tôi bị đánh thức khỏi giấc ngủ để tiếp vị Trưởng giáo của chùa Zen-shin và một Đại biểu của vị Tướng, người mang đến thư cảm ơn của ông vì một bức thư tôi đã hồi đáp. Tôi cũng được tặng sách. Tàu nhổ neo lúc 1 giờ sáng và đi Hong Kong. Trời đẹp và trong. Chúng tôi đến Hong Kong vào ngày thứ hai, nhưng thời tiết ẩm và nóng đến nỗi tôi không lên bờ cho đến hôm sau, khi tôi thấy một cảnh hoang tàn trong thành phố. Một trận mưa như vỡ trời, hai ngày trước, đã trút xuống 61 cm nước và gây thiệt hại 1.500.000 đô la cho Chính phủ, chưa kể những tổn thất khổng lồ của giới thương nhân. Đại lộ chính bị vùi dưới lớp cát dày gần một mét trôi từ đồi xuống, cống ngầm vỡ tung, vài căn nhà bị cuốn trôi, và những cây cổ thụ bật rễ bị nước cuốn dồn về phố. Đường cáp leo lên đỉnh Núi,
[162] was broken up, and long stretches had completely disappeared. On the 6th, at noon, we sailed for Saigon, and got there on the 9th. A party of us went ashore to pass the time and see the quaint types of humanity and strange objects that abound. The steamer sailed the next morning for Singapore, and got there on the 11th, and to Colombo on the 18th, without notable incident, save that on emerging from the Straits of Sumatra we were buffeted by the monsoon and had rough weather the rest of the way. Our welcome was enthusiastic at our Theosophical Headquarters that evening. The High Priest presided, W. Subhuti and a representative of the Wimelasara sect were present, and an improvised audience filled the place to suffocation. The room was tastefully decorated with flowers, leaf compositions, and garlands, and brilliantly illuminated with Japanese flags, while trophies of Buddhist and Japanese flags increased the festive appearance of the hall. An hour before the time of meeting the Headquarters was packed, hundreds being turned away for want of standing room. The first number on the programme was the reading of an Address from the Women’s Education Society by Miss M. E. De Silva, this being the first time when a Sinhalese young lady had ever read an address in English. A few brief remarks by Sumangala Thero preceded my report of the mission for international religious comity, in the course of which I introduced four young Japanese Samaneras (theological students), who had, on my appeal, been sent here to study under the High Priest [163] and Pandit Batuvantudawe, and take back with them copies of the Tripitakas of the Southern Canon. The Japanese each made short addresses, expressive of the hope of their sects that there might henceforth be a close brotherly relationship between the two hitherto isolated sections of the Buddhist family, after which the High Priest said: “You have all heard Colonel Olcott’s account of his mission to Japan, and it must have made you all glad and proud to hear it. The propagation and improvement of Buddhism is the noblest work in the world, and that is the work in which Colonel Olcott has been engaged. It is true that there is a slight difference between the Northern and Southern Churches, but still the Japanese are Buddhists as we are, and are struggling against the maleficent influence of Christianity as we are, and we therefore look upon them as brothers. We must never forget the cordial reception they have given to Colonel Olcott as our representative, and the brotherly love that they have shown towards us. I trust that this may be the commencement of a real spiritual union between all Buddhist countries.” The four young priests from Japan preceded my return to Adyar by a steamer earlier than mine, under the charge of Dharmapala, and had settled down by the time of my arrival.
[162] bị xé toạc, và những đoạn dài hoàn toàn biến mất. Ngày mồng 6, lúc trưa, chúng tôi rời Sài Gòn, và đến nơi ngày mồng 9. Một nhóm chúng tôi lên bờ dạo chơi giết thời gian và ngắm những hạng người lạ mắt cùng những vật kỳ lạ phong phú ở đó. Sáng hôm sau tàu nhổ neo đi Singapore, đến nơi ngày 11, và đến Colombo ngày 18, không có biến cố đáng kể nào, trừ việc khi ra khỏi Eo biển Sumatra thì bị gió mùa vùi dập và gặp sóng gió suốt quãng đường còn lại. Tối hôm ấy, tại Trụ sở Thông Thiên Học của chúng tôi, chúng tôi được chào đón nồng nhiệt. Vị Đại Trưởng lão chủ tọa, W. Subhuti và một vị đại diện của tông phái Wimelasara hiện diện, và một thính phòng dựng tạm chật ních người đến nghẹt thở. Phòng được trang trí khéo léo với hoa, các sắp đặt bằng lá và tràng hoa, và rực sáng với cờ Nhật Bản, trong khi những chùm cờ Phật giáo và Nhật Bản càng làm cho khung cảnh hội trường thêm tưng bừng. Một giờ trước giờ khai mạc, Trụ sở đã chật như nêm, hàng trăm người bị từ chối vì không còn chỗ đứng. Mục đầu tiên trong chương trình là đọc một Bản Diễn văn của Hội Giáo dục Phụ nữ do Cô M. E. De Silva trình bày, đây là lần đầu tiên một thiếu nữ Tích Lan đọc một bài diễn văn bằng tiếng Anh. Vài lời phát biểu ngắn của Tôn giả Sumangala mở đường trước phần tường thuật của tôi về sứ mệnh giao hảo tôn giáo quốc tế, trong đó tôi giới thiệu bốn vị Sa di người Nhật (học tăng), là những người đã, theo lời kêu gọi của tôi, được gửi đến đây học với Đại Trưởng lão [163] và Pandit Batuvantudawe, và mang về sao bản Tam Tạng của Bộ Kinh Nam truyền. Mỗi vị Nhật Bản đều có bài phát biểu ngắn, bày tỏ hy vọng của tông phái mình rằng từ nay sẽ có mối liên hệ huynh đệ mật thiết giữa hai bộ phận bấy lâu nay biệt lập của gia đình Phật giáo, sau đó Đại Trưởng lão nói: “Các vị đã nghe toàn bộ tường thuật của Đại tá Olcott về sứ mệnh của Ông ở Nhật Bản, và hẳn đã làm tất cả quý vị vui mừng và hãnh diện khi nghe. Sự truyền bá và cải thiện Phật giáo là công việc cao quý nhất trên đời, và đó là công việc mà Đại tá Olcott đã đảm nhiệm. Quả thật có một vài khác biệt nhỏ giữa Bắc Tông và Nam Tông, nhưng người Nhật vẫn là Phật tử như chúng ta, và họ đang đấu tranh chống lại ảnh hưởng tai hại của Ki-tô giáo như chúng ta, nên chúng ta xem họ là huynh đệ. Chúng ta không bao giờ được quên sự đón tiếp nồng hậu mà họ đã dành cho Đại tá Olcott với tư cách là đại diện của chúng ta, và tình huynh đệ mà họ đã dành cho chúng ta. Tôi tin rằng đây có thể là khởi đầu của một mối liên hiệp tinh thần thực sự giữa tất cả các quốc độ Phật giáo.” Bốn vị tăng trẻ từ Nhật Bản lên tàu về Adyar sớm hơn tôi một chuyến, dưới sự hướng dẫn của Dharmapala, và đã ổn định chỗ ở khi tôi về đến nơi.
A glance at the map of Japan will show the large extent of area which my tour covered, viz., from Sendai, in the extreme north, to Kumamoto, in the far south of the empire. From day of arrival to day [164] of embarkation I was ashore 107 days; during which time I visited 33 towns and delivered 76 public and semi-public addresses, reaching, as above stated, 187,500 hearers. This was more work of the sort than I had ever done before, the nearest approach to it having been in my Galle Province tour for the Sinhalese Buddhistic Fund, when I lectured 57 times within 100 days.
Nhìn lướt qua bản đồ Nhật Bản sẽ thấy diện tích rộng lớn mà chuyến đi của tôi bao phủ, tức là từ Sendai, tận cực bắc, đến Kumamoto, ở miền nam xa của đế quốc. Từ ngày đặt chân đến ngày [164] xuống tàu ra đi, tôi ở trên bờ 107 ngày; trong thời gian đó, tôi thăm 33 thị trấn và đọc 76 bài diễn thuyết công khai và bán công khai, đến được, như đã nêu, 187.500 người nghe. Đó là khối lượng công việc thuộc loại này nhiều hơn bất cứ lần nào tôi từng làm trước đó; gần nhất là chuyến đi ở Tỉnh Galle để gây Quỹ Phật giáo của người Sinhala, khi tôi thuyết giảng 57 lần trong vòng 100 ngày.
To finish the story of the Japan tour, it will be better that we should insert here the testimony of Mr. Tokusawa, as given by him to the T. S. Convention of 1890, as it gives in a condensed statement the tangible and permanent results of my mission. Mr. Tokusawa said:
Để kết câu chuyện về chuyến đi Nhật Bản, tốt hơn là chúng ta chèn vào đây lời chứng của Ông Tokusawa, như Ông đã trình bày trước Đại hội của Hội Thông Thiên Học năm 1890, vì nó tóm tắt những kết quả cụ thể và bền vững của sứ mệnh của tôi. Ông Tokusawa nói:
“Brothers,—My presence, and that of this Buddhist priest, Mr. Kozen Gunaratne, indicates the influence which your Society, through the President, has acquired in our distant country. With my little smattering of English, it is impossible for me to describe all that Colonel Olcott has done there. The effect of his tour through Japan last year has been so great and so lasting that the current of public opinion has been actually turned in the opposite direction. The letters and newspapers received weekly at Colombo by myself and compatriots prove what I have just stated. It is wonderful that one man could have done so much. When I think of the condition of my religion three years ago, I feel inclined to shudder, because it was then at its lowest ebb. The more I reflect upon these evil times, the more inclined I am to bless our Theosophical Society and Colonel Olcott. A comparison [165] between the state of Buddhism then and now justifies what I say... Till quite recently the more educated of our people regarded Buddhism and its priests with contempt. A few staunch followers of the Lord Buddha’s doctrine tried to counteract the influence of the Christians, but it was in vain. It was at this dark moment that the Buddhists came to hear of the work of Colonel Olcott, and asked his aid and sympathy. Therefore, last year, Mr. Noguchi was sent to this country to persuade the Colonel to go to Japan and make a lecturing tour through the whole country. This, I am happy to say, he did, and his success was far beyond our most sanguine expectations. Buddhism took life again, and Buddhists began everywhere to undertake the revival of their ancient faith. Among the most conspicuous effects of this revival are the three Buddhist Universities and various Colleges now about to be instituted, and the establishment of about 300 periodicals advocating and defending Buddhism. The spread of materialism and scepticism was checked; the insufficiency of Christianity for our wants was shown, and the truth of Buddhism vindicated. A reaction of a most marvellous character has—as I have remarked—set in favor of Buddhism. The founding of many Buddhist schools, Buddhist newspapers and religious journals are the visible results of the Colonel’s mission. Imperial princes and princesses have begun to take a prominent part in Buddhistic education and propaganda. An imperial princess has become the patroness of the Buddhist Women’s Society [166] of Nagoya, which was founded soon after he had lectured in that city, and in consequence of his tribute to women. An imperial prince has become President of the ‘Dasa Sila Society,’ a body founded ten years ago for promoting the observance of the Ten Precepts of Buddhism, but which, owing to the streng opposition of the Christian and sceptical classes, had died out. After the Colonel’s mission it has been revived, and is now working. The people now look to the Colonel as their benefactor, and to many he is almost their father. The Christians have ceased to be so aggressive as before: their converts are inventing a new form of their faith. Yes, the mission of Colonel Olcott to Japan will be recorded in history. The Japanese will ever remain grateful to him and to his Society; and I hope, brothers, you will always take a kindly interest in our people.”
“Các huynh đệ,—Sự hiện diện của tôi và của vị tăng Phật giáo này, Ông Kozen Gunaratne, cho thấy ảnh hưởng mà Hội của các vị, qua vị Chủ tịch, đã giành được tại đất nước xa xôi của chúng tôi. Với vốn tiếng Anh ít ỏi, tôi không thể mô tả hết mọi việc mà Đại tá Olcott đã làm ở đó. Hiệu quả của chuyến diễn thuyết của Ông qua Nhật Bản năm ngoái quá lớn và lâu bền đến nỗi dòng chảy của dư luận đã thực sự quay đầu theo hướng ngược lại. Những lá thư và tờ báo tôi và đồng bào tôi nhận được hàng tuần ở Colombo chứng minh điều tôi vừa nói. Thật kỳ diệu khi một người có thể làm được nhiều đến vậy. Khi tôi nghĩ về tình trạng tôn giáo của tôi ba năm trước, tôi thấy rùng mình, vì lúc ấy nó ở mức suy vi nhất. Càng suy ngẫm về thời buổi tệ hại ấy, tôi càng muốn chúc lành cho Hội Thông Thiên Học của chúng ta và Đại tá Olcott. Một sự so sánh [165] giữa tình trạng Phật giáo khi đó và bây giờ chứng minh lời tôi nói... Cho đến thời gian chưa lâu, những người học thức hơn trong chúng tôi coi Phật giáo và giới tăng lữ với ánh mắt khinh miệt. Một vài tín đồ kiên định của giáo pháp Đức Phật nỗ lực kháng cự ảnh hưởng của người Ki-tô giáo, nhưng uổng công. Chính vào lúc đen tối ấy, người Phật tử nghe đến công việc của Đại tá Olcott, và cầu viện sự giúp đỡ cùng cảm thông của Ông. Thế nên, năm ngoái, Ông Noguchi đã được gửi đến đất nước này để thuyết phục Đại tá sang Nhật Bản và diễn thuyết khắp xứ. Điều này, tôi vui mừng nói, Ông đã làm, và thành công vượt quá mọi kỳ vọng lạc quan nhất của chúng tôi. Phật giáo như sống lại, và người Phật tử khắp nơi bắt tay vào chấn hưng đức tin cổ truyền của họ. Trong những hiệu quả nổi bật nhất của cuộc phục hưng ấy là ba Đại học Phật giáo và các Trường Cao đẳng hiện sắp được thành lập, và sự ra đời của khoảng 300 tờ báo, cổ vũ và bảo vệ Phật giáo. Sự lan tràn của chủ nghĩa duy vật và hoài nghi bị chặn lại; sự bất cập của Ki-tô giáo đối với nhu cầu của chúng tôi được chỉ rõ, và chân lý của Phật giáo được minh oan. Một phản ứng kỳ diệu nhất—như tôi đã nói—đã trỗi dậy nghiêng về phía Phật giáo. Sự thành lập nhiều trường Phật giáo, các báo Phật giáo và tạp chí tôn giáo là những kết quả hữu hình của sứ mệnh của Đại tá. Các hoàng thân và công chúa của hoàng gia bắt đầu đóng vai trò nổi bật trong giáo dục và hoằng pháp Phật giáo. Một công chúa hoàng gia đã trở thành vị bảo trợ của Hội Phụ nữ Phật giáo [166] ở Nagoya, hội được thành lập chẳng bao lâu sau khi Ông thuyết giảng tại thành phố ấy, và do lòng tôn vinh phụ nữ của Ông mà ra. Một hoàng tử hoàng gia đã trở thành Hội trưởng ‘Hội Dasa Sila’, một hội lập cách đây mười năm để cổ vũ việc trì giữ Mười Giới của Phật giáo, nhưng do sự chống đối mạnh mẽ của giới Ki-tô giáo và hoài nghi, đã suy tàn. Sau sứ mệnh của Đại tá, hội đã phục hoạt và hiện đang hoạt động. Dân chúng nay coi Đại tá là ân nhân của họ, và với nhiều người, Ông gần như là người cha của họ. Người Ki-tô giáo không còn hung hăng như trước: những người cải đạo của họ đang bày ra một hình thức mới cho đức tin của họ. Vâng, sứ mệnh của Đại tá Olcott đến Nhật Bản sẽ được ghi vào lịch sử. Người Nhật sẽ mãi mãi biết ơn Ông và Hội của Ông; và tôi hy vọng, các huynh đệ, các vị sẽ luôn dành thiện cảm cho dân tộc chúng tôi.”
Naturally, I should have liked to go home and have some rest after the Japan tour, but it could not be done, so I stopped three weeks in the island, visiting Anuradhapura, where I lectured under the shade of the historical Bo-tree (whose original stock, a cutting from the sacred Bo-tree of Buddha Gya, under which the Bodhisattva Siddhartha had attained enlightenment, had been brought from India by the Princess Sanghamitta, daughter of the Emperor Asoka); Matale (where I formed a T. S. Branch); Kandy (where a big procession took me through the streets, and where I gave two lectures); Gampola; Marvanwella, in the four Korales; Kaigalle; Kurunegalle, where I formed another Branch, and where the picturesque surroundings [167] at my open air lecture so vividly linger in my memory that I must give them more than a parenthesis. How I wished for a photographer to take the scene! Back of me rose a hill in which is excavated a rock temple of Buddha. A spur called Elephant Rock sprang out from the hillside. A crowd of 1,500 or so were clustered in a natural amphitheatre at my feet; to the right, front, and left was a grove of old cocoanut trees without undergrowth, and from the trunks were suspended Buddhist flags and other decorations, giving the needed touch of bright color to make the picture perfect. Messrs. Leadbeater, Hogen, and Kawakami, the latter two from Japan, addressed the crowd, and received great applause. The name given to the new Branch, the Maliyadeva, was that of the last of the historical great adepts, the time of whose decease I am not acquainted with, but it was long ago. Since then Ceylon has had no recognised real Arahat, and it is no wonder that its Buddhism has been growing less and less spiritual, until now one would search in vain from Hambantotte to Uva for a single man to whom the Sinhalese could look up with adoring reverence as the embodiment of the truth of the efficacy of the esoteric Yogic system practised and taught by the Founder. That is what makes my work so hard among them; all they care for is the intellectual and moral training of their families; the spiritual is something beyond their grasp; and when I first went to the island, they even told me the ridiculous story that the time for development of Arahats had elapsed, whereas (as [168] shown in the Buddhist Catechism) the Buddha himself expressly declares that there would never be lack of Arahats so long as the members of his Sangha continued to observe the Ten Precepts. [20]
Tự nhiên, tôi đã muốn về nhà nghỉ ngơi sau chuyến đi Nhật Bản, nhưng không thể, vậy nên tôi dừng lại ba tuần trên đảo, thăm Anuradhapura, nơi tôi diễn thuyết dưới bóng cây Bồ-đề lịch sử (gốc cội nguyên thủy, một nhánh của cây Bồ-đề thiêng tại Buddha Gya, dưới đó Bồ-tát Siddhartha đã chứng ngộ, được Công chúa Sanghamitta, con gái Hoàng đế Asoka, mang từ Ấn Độ sang); Matale (nơi tôi thành lập một Chi bộ Hội T. S.); Kandy (nơi một cuộc rước lớn đưa tôi dọc các đường phố, và tôi đọc hai bài diễn thuyết); Gampola; Marvanwella, ở bốn Korales; Kaigalle; Kurunegalle, nơi tôi thành lập thêm một Chi bộ, và nơi khung cảnh hữu tình của buổi diễn thuyết ngoài trời [167] còn lưu lại rất sống động trong ký ức tôi đến nỗi tôi phải kể nhiều hơn là gói trong ngoặc đơn. Tôi đã ước sao có nhiếp ảnh gia để chụp khung cảnh ấy! Sau lưng tôi là một ngọn đồi có khoét một hang chùa đá thờ Phật. Một mỏm gọi là Đá Voi vươn ra từ sườn đồi. Khoảng 1.500 người tụ lại thành một giảng đường thiên nhiên dưới chân tôi; bên phải, phía trước và bên trái là một rặng dừa già không có tầng dưới, và từ những thân cây treo các lá cờ Phật giáo cùng những đồ trang trí khác, tạo nên những điểm màu tươi sáng cần thiết để bức tranh trở nên hoàn hảo. Các Ông Leadbeater, Hogen và Kawakami, hai ông sau đến từ Nhật Bản, phát biểu trước đám đông và nhận được những tràng pháo tay vang dội. Tên được đặt cho Chi bộ mới, Maliyadeva, là tên của vị đại chân sư cuối cùng trong sử sách, thời đại viên tịch của Ngài tôi không rõ, nhưng đã từ lâu. Từ đó đến nay, Tích Lan không có một vị A-la-hán chân chính nào được nhìn nhận, và chẳng lạ gì Phật giáo ở đây ngày càng kém phần tinh thần, cho đến nay, từ Hambantotte đến Uva, người ta cũng khó tìm được một người mà người Sinhala có thể ngước nhìn với lòng sùng kính như hiện thân của chân lý về hiệu quả của hệ thống Yoga nội môn do Đấng Sáng lập thực hành và truyền dạy. Đó là điều khiến công việc của tôi giữa họ trở nên khó nhọc; tất cả điều họ quan tâm là đào luyện trí dục và đức hạnh cho gia đình; còn tinh thần thì vượt ngoài tầm với; và khi tôi mới đến đảo, họ còn kể cho tôi câu chuyện nực cười rằng thời kỳ phát triển các vị A-la-hán đã chấm dứt, trong khi (như [168] nêu trong Sách Giáo Lý Phật giáo) chính Đức Phật đã tuyên bố rõ ràng rằng sẽ chẳng bao giờ thiếu các bậc A-la-hán chừng nào các thành viên Tăng-già của Ngài còn trì giữ Mười Giới.
My tour also took me to several wards in Colombo and to Matara, far away down in the Southern Province, where that saintly woman Mrs. Cecilia Dias Ilangakoon lived, and where I lectured at her large house, in presence of the Chief Priests of the Province, all of whom were interested to hear about the state of Buddhism in Japan. It was during this visit of her that Mrs. Ilangakoon gave into my possession the splendid collection of the Tripitikas, in 60 volumes which she has had copied for me by 12 copyists at a cost of £300, and which work occupied two years in the doing. It is, perhaps, the finest collection of palm-leaf writings to be seen in India. Mrs. Ilangakoon also promised me to add to it the Tikka, or Commentary, which would fill about the same number of volumes; and an old relative of hers at Galle told me last season, when I called on him, that she had put a clause in her will to that effect, but all I can say is, that while I have reason to know that there is a clause ordering the Tikka to be prepared, it has not come to my hands as yet, although her estate was large, and the cost could well have been afforded. Possibly her representatives or executors are not so [169] friendly in feeling towards us as she was, and so have indefinitely postponed the fulfilment of her wishes. I visited Kataluwa, and then Galle, where great courtesies were shown me; thence back to Colombo, and, on the 8th of July, sailed for Madras. The ever blessed Adyar saw me again on the 11th, as glad a person to get home as ever was.
Chuyến đi của tôi cũng đưa tôi đến vài khu ở Colombo và đến Matara, tận miền Nam, nơi Bà Cecilia Dias Ilangakoon, người phụ nữ thánh thiện ấy, cư ngụ, và nơi tôi thuyết giảng tại tòa nhà lớn của Bà, trước sự hiện diện của các vị Trưởng giáo của Tỉnh, tất cả đều quan tâm lắng nghe tình hình Phật giáo ở Nhật Bản. Trong chuyến thăm này, Bà Ilangakoon đã trao cho tôi quyền sở hữu bộ sưu tập tuyệt hảo Tam Tạng, gồm 60 quyển, mà Bà cho 12 người sao chép cho tôi với chi phí 300 bảng, và công việc kéo dài hai năm. Có lẽ đó là bộ sưu tập văn bản trên lá cọ đẹp nhất ở Ấn Độ. Bà Ilangakoon cũng hứa sẽ bổ sung Tikka, tức là Bộ Luận giải, có lẽ sẽ đầy chừng ấy quyển; và một người bà con lớn tuổi của Bà ở Galle nói với tôi mùa trước, khi tôi ghé thăm, rằng Bà đã ghi một điều khoản trong di chúc về việc ấy, nhưng tất cả những gì tôi có thể nói là, trong khi tôi có lý do để biết rằng có một điều khoản yêu cầu biên soạn Tikka, đến nay nó vẫn chưa đến tay tôi, dù tài sản của Bà rất lớn, hoàn toàn đủ sức chi trả. Có thể những người đại diện hay người thi hành di chúc của Bà không [169] có thiện cảm như Bà, nên đã hoãn vô thời hạn việc thực hiện ý nguyện của Bà. Tôi thăm Kataluwa, rồi Galle, nơi tôi được tiếp đãi trọng hậu; từ đó trở lại Colombo, và ngày 8 tháng Bảy, xuống tàu đi Madras. Adyar phúc lành muôn thuở lại thấy tôi vào ngày 11, chẳng ai mừng được về nhà hơn tôi.
CHAPTER X—CHAPTER X
A VISIT TO EUROPE—MỘT CHUYẾN THĂM CHÂU ÂU
(1889)
(1889)
THE arrangement of our Japanese books and pictures, the fitting together of the pieces of a huge brass lantern (a replica of those in the great Shin Shu Temple at Kyoto, which had been made specially for our Library at the expense of the Joint Committee of all sects at a cost of $250), and the reading up of back files of exchanges to get in touch with the movement, took up my time pretty thoroughly in the first days. Then there were no end of visitors always dropping in and visits to make. On the 21st (July) a reception at Adyar was arranged in my honor by the three “Commissioners” in whose hands I had placed the management of Society affairs, as a precaution against any complications that might happen during my absence from home. It was “largely attended, the Library looked splendid, and everybody seemed pleased”--so says the Diary. Certainly, this cordial good-feeling was very pleasant to me. A great curiosity prevailing in the Indian community to hear about Japan, I gave a public lecture in Pachaiappah’s Hall on the 27th.
Việc sắp đặt lại sách và tranh Nhật Bản, lắp ghép các mảnh của chiếc đèn lồng bằng đồng khổng lồ (bản sao của loại đặt trong ngôi Đại Tự Shin Shu ở Kyoto, được làm riêng cho Thư viện chúng tôi bằng chi phí 250 đô la của Ủy ban Hỗn hợp của tất cả các phái), và đọc lại các tập báo trao đổi còn tồn để nắm bắt phong trào, đã chiếm trọn những ngày đầu của tôi. Rồi lại luôn có khách đến thăm và những cuộc viếng thăm cần thực hiện. Ngày 21 (tháng Bảy), một buổi tiếp đón ở Adyar được tổ chức để vinh danh tôi bởi ba vị “Ủy viên” mà tôi đã ủy thác quyền quản lý công việc của Hội, như một biện pháp phòng xa trước mọi rắc rối có thể xảy tới trong khi tôi vắng nhà. Buổi tiếp đón “có rất đông người tham dự, Thư viện trông thật huy hoàng, và ai nấy có vẻ hài lòng”—Nhật ký chép vậy. Chắc chắn, cảm tình nồng hậu ấy khiến tôi rất vui. Do giới Ấn Độ đang rất hiếu kỳ muốn nghe chuyện về Nhật Bản, tôi đã có một bài diễn thuyết công khai tại Sảnh Pachaiappah ngày 27.
[171]
[171]
Two hours before the time appointed the hall was crowded. Theosophists and others came from Kumbakonam, Coimbatore, and other distant places to hear me, and there was much enthusiasm shown and the best possible feeling for the Japanese. The Hindus seemed very proud of their achievements, and were thrilled when I told them that, invariably, when I had to address the select audiences of political and military personages and the nobles, they asked me to tell them all about the Hindus, and explain why they and the Sinhalese had “lost their countries”. Evidently they determined to profit by the mistakes of other nations, and not do anything to break through the impregnability of the defensive wall of their patriotism. I told the Hindus that I had forewarned the Japanese that their overthrow, like their own, would date from the period when the religious spirit should almost die out of their national character, for then, being given over to the demoralising tendencies of purely worldly ambitions and the pleasures of physical life, the vital sap in them as a nation would dry up, they would become effeminate, and be vanquished and trodden underfoot by some more virile race. I told the Hindus that I was sorry to see some evidences in Japan of national decadence from this very cause. I found religious observances becoming perfunctory, the priesthood largely slothful (like those of Ceylon and India), and losing their influence day by day. I recall an incident which occurred at a lecture of mine at one of the big towns included in the third portion of my programme, that through the [172] southern part of the empire. I called the attention of a monster audience to the fact that the Buddhist priests were growing less and less respected (there were some 400 present in the audience) because they were not observing the Ten Precepts. As these words were translated to them there was a loud roar of applause and the priests were abashed. I stood still until silence was again restored, and then, stepping forward one step and raising my hand, I cried out: “How dare you condemn the priests in this unthinking way? Are you any better behaved than they? Do you observe even the Five Precepts prescribed for the householder? These men in robes are your own kinsmen, born in your own families, of the same parents, and amid the same surroundings. They are no better nor worse than yourselves; and if they do not realise the ideal sketched for them by the Buddha, it is the fault of the Buddhist community, which shuts its eyes to their weaknesses, but still keeps up the form of saluting their outside dress, as if the man inside might be what he liked and it was nobody’s business. If you want your priests to be good, be good yourselves; if you want them to keep the Precepts, keep them yourselves; if you show them that you know how they ought to behave, and will not support them unless they do so behave, then, believe me, you will see the Priesthood of Japan swept clean at once by a wave of reform, and their ecclesiastical rank will once more carry with it the right to be honored.” The applause that thundered out after these words was something [173] wonderful. I begged the Hindus to take to themselves this admonition if they wanted to cleanse the foulness out of their most sacred shrines and give the temples of their gods a pure atmosphere in which a real Devata could breathe and act without the sense of suffocation. A pure village community, such as was everywhere to be found in the forefathers’ times throughout Bharata Varsha, would make impossible such horrible scandals as turned up now from time to time in the British police Magistrates’ Courts in India; no Mahants would have to be prosecuted for seduction, coining, embezzlement, and theft of temple treasures; no sacred fanes turned into brothels, no real jewels stolen and replaced with mock ones in glass, no ruining of families, or connivance in murders of marked individuals, be heard of. I think the better part of my audience approved of my plain talk, but to me it did not matter one cowrie whether they did or did not: there was a truth to tell, and I told it—that was all.
Hai tiếng trước giờ, sảnh đường đã chật kín. Những người Thông Thiên Học và người khác đến từ Kumbakonam, Coimbatore, và những nơi xa xôi khác để nghe tôi, và có rất nhiều nhiệt tình cùng thiện cảm tuyệt vời dành cho người Nhật. Người Ấn dường như rất tự hào về những thành tựu của họ, và xúc động khi tôi kể rằng, hễ có dịp tôi phải nói chuyện trước những thính giả tuyển chọn gồm các nhân vật chính trị, quân sự và giới quý tộc, thì họ đều nhờ tôi nói hết về người Ấn và giải thích vì sao họ và người Sinhala đã “mất nước”. Rõ ràng họ quyết chí rút kinh nghiệm từ sai lầm của các dân tộc khác, và không làm điều gì gây rạn vỡ bức tường phòng thủ bất khả xâm phạm là lòng ái quốc của họ. Tôi nói với người Ấn rằng tôi đã cảnh báo người Nhật rằng sự suy vong của họ, như của chính người Ấn, sẽ khởi từ thời điểm khi tinh thần tôn giáo gần như tàn lụi khỏi tính cách dân tộc; bởi khi ấy, phó mặc cho khuynh hướng suy đồi của những tham vọng thuần thế tục và những lạc thú đời sống thể xác, nhựa sống dân tộc của họ sẽ khô kiệt, họ sẽ trở nên nhu nhược, và bị một chủng tộc cường tráng hơn chinh phục và giày xéo. Tôi nói với người Ấn rằng tôi lấy làm tiếc khi thấy một vài dấu hiệu suy thoái quốc gia ở Nhật Bản vì chính nguyên nhân này. Tôi thấy các nghi thức tôn giáo trở nên chiếu lệ, hàng giáo phẩm phần nhiều lười biếng (như ở Tích Lan và Ấn Độ), và ngày một mất ảnh hưởng. Tôi nhớ một sự kiện xảy ra trong một bài diễn thuyết của tôi ở một trong các thành phố lớn thuộc phần ba của chương trình, tức [172] miền nam đế quốc. Tôi lưu ý một thính phòng khổng lồ rằng các vị tăng Phật giáo ngày càng ít được tôn trọng (có khoảng 400 vị tăng hiện diện) vì họ không trì giữ Mười Giới. Khi những lời này được chuyển dịch, tiếng vỗ tay vang dội nổi lên và các vị tăng bối rối. Tôi đứng yên đến khi im lặng được lập lại, rồi bước lên một bước, giơ tay và kêu lên: “Sao các vị dám lên án các vị tăng theo cách thiếu nghĩ suy như vậy? Các vị có cư xử tốt đẹp hơn họ không? Các vị có trì giữ nổi năm giới dành cho cư sĩ không? Những người mặc áo này là bà con ruột thịt của các vị, sinh trong chính gia đình các vị, có cùng cha mẹ và cùng hoàn cảnh. Họ không hơn cũng không kém các vị; và nếu họ không thể hiện được lý tưởng mà Đức Phật phác họa cho họ, thì đó là lỗi của cộng đồng Phật tử, vốn nhắm mắt làm ngơ trước những yếu kém của họ, mà vẫn duy trì thói cúi lạy chiếc áo bên ngoài, như thể con người bên trong muốn ra sao cũng mặc, chẳng ai bận tâm. Nếu các vị muốn tăng chúng tốt, hãy tốt đi đã; nếu các vị muốn họ giữ Giới, hãy giữ đi đã; nếu các vị cho họ thấy rằng các vị biết họ nên cư xử thế nào, và sẽ không ủng hộ họ trừ phi họ cư xử đúng như vậy, thì, tin tôi đi, các vị sẽ thấy Giới Tăng lữ ở Nhật Bản tức khắc được gột rửa bởi một làn sóng cải cách, và phẩm trật giáo hội của họ sẽ một lần nữa đi liền với quyền được tôn kính.” Tràng pháo tay nổ ra sau những lời này thật [173] kinh ngạc. Tôi nài người Ấn hãy tự nhận lấy lời răn này nếu họ muốn tẩy uế những nhơ nhớp khỏi các thánh điện thiêng nhất và đem lại cho đền thờ của các thần một bầu không khí tinh sạch, nơi một vị Devata thực sự có thể thở và hành động mà không cảm thấy ngột ngạt. Một cộng đồng làng thuần tịnh, như từng có ở khắp nơi thời tổ phụ trên đất Bharata Varsha, sẽ khiến những vụ tai tiếng khủng khiếp thỉnh thoảng phơi bày trước các Tòa Án Hình sự của nhà chức trách Anh ở Ấn Độ trở nên bất khả: sẽ không có các vị trụ trì bị truy tố vì quyến rũ, làm tiền giả, biển thủ và trộm báu vật của đền; không có thánh điện bị biến thành nhà chứa, không có việc đánh tráo châu báu thật bằng đồ giả thủy tinh, không có cảnh hủy hoại gia đình, hay thông đồng sát hại những người bị đánh dấu. Tôi nghĩ phần tốt đẹp hơn của thính giả tán đồng lời thẳng thắn của tôi, nhưng với tôi thì chẳng đáng một đồng vỏ sò xem họ có tán đồng hay không: có một sự thật cần nói, và tôi đã nói—vậy thôi.
Other events of no great importance followed, but on 8th August—just four weeks from the date of my return from Japan and Ceylon—I embarked for Marseilles on the French steamer “Tibre,” from which we transhipped at Colombo into the “Djemnah” and went on our way. At Alexandria the two sons of the then reigning Khedive, of whom the elder is now his father’s successor, embarked as passengers, amid the thunders of cannon, the manning of the yards, and bedecking with flags of the war ships in the harbor, and the attendance on board of the several Ministers of [174] the Egyptian Government. At Suez, H. P. B.’s and my old friend Captain Charles Dumont, Traffic Manager of the Canal Co., came aboard to see me. There were the usual dancing, charades, lotteries for charity, and singing on board during the voyage, and I only mention them because among the singers was a Batavian planter, an amateur vocalist, who had such a superb voice that I urged him strongly to go upon the stage. He could reach the ut de poitrine, of high C, with perfect ease.
Các việc khác không mấy quan trọng nối tiếp, nhưng ngày 8 tháng Tám—vừa tròn bốn tuần kể từ ngày tôi trở về từ Nhật Bản và Tích Lan—tôi lên tàu Pháp “Tibre” đi Marseilles, rồi chuyển tàu tại Colombo sang chiếc “Djemnah” để đi tiếp. Ở Alexandria, hai Hoàng tử, con của vị Khedive đương triều lúc bấy giờ, trong đó người anh nay là người kế vị cha, đã lên tàu với tư cách hành khách, giữa tiếng đại bác rền vang, hàng thủy thủ lên boong, cờ xí phấp phới trên các chiến hạm trong cảng, và các vị [174] Bộ trưởng của Chính phủ Ai Cập lên tàu tháp tùng. Tại Suez, bạn cũ của H. P. B. và của tôi, Thuyền trưởng Charles Dumont, Trưởng phòng Giao thông của Công ty Kênh đào, lên tàu thăm tôi. Trong suốt chuyến đi, có những tiết mục như khiêu vũ, đóng kịch câm, xổ số từ thiện và ca hát như thường lệ, và tôi chỉ kể vì trong số các ca sĩ có một chủ đồn điền người Batavia, một ca sĩ nghiệp dư, có giọng hát tuyệt vời đến nỗi tôi khuyên Ông hết sức nên lên sân khấu. Ông có thể lên nốt đô ngực, tức C cao, một cách hoàn toàn dễ dàng.
We got to Marseilles on 1st September, and the venerable and learned Baron Spedalieri welcomed me again to France and took me to his house for breakfast. The Exposition Universelle of 1889 was then open, and I was, as usual at such shows, simply crushed with the sense of the vastness of its exhibits, and the impossibility of getting even a fugitive idea of the details. The fact is that one should visit at one of these World-shows only the department of Art and Industry in which he is specially interested, leaving all else to pass the eye as a flitting pageant. But my friend Count d’Adhêmar gave me a treat by taking me to see the revolting, yet marvellous, displays of psychical phenomena by the Aïsonas of Africa, the well-known sect of Mussalman mystics and sorcerers, whose feats surpass belief. I saw them stand on braziers of live coals with naked feet, pierce their cheeks, arms, and tongues with iron stilettos or long needles—some having heavy balls of iron or lead fastened to one end—lie with naked stomachs over [175] sharp sword blades while a second man jumped on their backs, thrust daggers through the skin of their sides, chew up and swallow broken glasses and lamp-chimneys, bite scorpions in two, and eat live snakes. The piercing of the tongue transversely by a ball-weighted skewer, and then letting the heavy weight pull it to the perpendicular by twisting the flexible tongue, was a gruesome sight. It was not a show to take hysterical women to see. Before the performance began, the party of Aïsonas sat cross-legged in a semi-circle, with their Chief or Sheikh at the middle, and all beat rhythmical taps on very large tambourines, say, perhaps—as I recollect them—4 feet in diameter. This went on for a while, the rate of vibration never varying, until at last one of them cast aside his tambourine, sprang up with a shout, knelt before the Sheikh, who passed his hands over him, and then stepped on the live coals, or went on with one of the other feats. After a feat, the performer returned to the Sheikh, removed the weapon or weapons from the wounds, and the Sheikh would just stroke the place with his hand. Not a drop of blood would flow and the wound would close. Now this meant hypnotism, clearly and unmistakably, and the question is who was hypnotised—the performer only, or both he and the onlookers? For I not only saw the transpiercings of the flesh, but was allowed to handle the weapons, and feel the weight of the metal balls on them with my own hands. The rhythmic tapping of the drum-like tambourine was a hypnotic agency. One sees the [176] same thing at Salvation Army meetings, when converts get the “change of heart” as the result of the hypnotising cadence of beaten drums and booming brasses, and the swing of the moving tunes. But this conceded, what next? What is this hypnotic action which makes the human body invulnerable to fire and to wounds by sharp instruments, prevents the natural flow of blood, and makes the open wound to close and granulate on the stroking passage of a hypnotist’s magnetic hands over the surface of the skin? We have not yet begun to get at the mysterious potentialities of this science of Anton Mesmer, widened out and re-christened by Charcot of La Salpêtrière, and other unpopularity-dodgers!
Chúng tôi đến Marseilles ngày 1 tháng Chín, và vị Baron Spedalieri, bậc lão thành uyên bác, lại chào đón tôi đến nước Pháp và mời tôi về nhà Ông dùng bữa sáng. Triển lãm Hoàn Vũ năm 1889 khi ấy đang mở cửa, và như thường lệ với những cuộc triển lãm kiểu này, tôi chỉ biết bị choáng ngợp bởi sự bao la của trưng bày và sự bất khả của việc nắm bắt, dẫu chỉ là thoáng qua, những chi tiết. Thực ra, khi đến một cuộc triển lãm tầm cỡ thế giới, người ta chỉ nên thăm ngành Nghệ thuật hay Công nghiệp mà mình đặc biệt quan tâm, còn lại để lướt qua như một đám rước thoáng qua trước mắt. Nhưng người bạn tôi, Bá tước d’Adhêmar, đãi tôi một bữa no mắt khi đưa tôi đến xem những màn biểu diễn ghê rợn mà kỳ diệu về hiện tượng tâm linh của các Aïsonas ở châu Phi, giáo phái Hồi giáo nổi tiếng gồm những nhà thần bí và pháp sư, với những kỳ tích vượt khỏi niềm tin. Tôi thấy họ đứng trên chậu than hồng bằng đôi chân trần, xuyên má, cánh tay và lưỡi bằng những mũi dao nhọn hay kim dài—có cái gắn những quả cầu sắt hay chì nặng ở một đầu—nằm sấp bụng trần trên [175] lưỡi gươm sắc trong khi một người khác nhảy lên lưng họ, đâm dao xuyên làn da hai bên sườn, nhai nuốt thủy tinh vỡ và ống khói đèn, cắn đôi bọ cạp, và ăn rắn sống. Màn xuyên ngang lưỡi bằng xiên có gắn quả nặng và rồi để sức nặng kéo tuột nó xuống phương thẳng đứng bằng cách vặn xoắn chiếc lưỡi mềm là một cảnh tượng rợn người. Không phải là buổi diễn để đưa các phụ nữ dễ xúc động đi xem. Trước khi bắt đầu, nhóm Aïsonas ngồi xếp bằng thành nửa vòng tròn, Giáo trưởng (Sheikh) ngồi giữa, tất cả gõ nhịp đều đều trên những chiếc trống lục lạc rất lớn, ước chừng—theo trí nhớ tôi—đường kính chừng 1,2 mét. Việc này diễn ra một lúc, tốc độ rung động không đổi, cho đến khi một người bỗng quăng chiếc trống lục lạc, bật dậy hét lớn, quỳ trước Giáo trưởng, người xoa tay trên người anh ta, rồi anh ta bước lên than hồng, hoặc bước vào một tiết mục khác. Xong màn, người biểu diễn trở lại trước Giáo trưởng, rút vũ khí khỏi vết thương, và Giáo trưởng chỉ vuốt tay qua chỗ ấy. Không một giọt máu chảy ra và vết thương khép miệng. Điều này rõ ràng và không thể nhầm lẫn là thôi miên, và câu hỏi đặt ra là ai bị thôi miên—chỉ người diễn, hay cả người diễn lẫn người xem? Vì tôi không chỉ thấy tận mắt những cú xuyên da thịt, mà còn được sờ tận tay các thứ vũ khí, và tự tay cảm nhận sức nặng của những quả cầu kim loại gắn trên đó. Nhịp gõ của trống lục lạc là một tác nhân thôi miên. Người ta thấy [176] điều tương tự ở các buổi nhóm của Quân đoàn Cứu Thế, khi người tân tín nhận “sự đổi mới tâm” nhờ nhịp điệu thôi miên của tiếng trống và đồng khí vang dội, và những điệu nhạc lắc lư. Nhưng thừa nhận vậy rồi, tiếp theo là gì? Cái tác động thôi miên nào khiến thân thể con người không bị lửa và dao nhọn làm tổn thương, ngăn chặn sự chảy máu tự nhiên, và làm cho vết thương mở khép miệng và hạt hóa chỉ với động tác vuốt tay mang từ lực của nhà thôi miên lướt qua bề mặt da? Chúng ta vẫn chưa bắt đầu chạm tới những tiềm năng bí ẩn của khoa học do Anton Mesmer khai mở, rồi được Charcot ở La Salpêtrière và những người tránh bị tai tiếng đổi tên và mở rộng!
H. P. B. greeted me warmly on my arrival in London, 4th September, at 7 p.m., and kept me talking, after the good old New York fashion, until 2 a.m. I found Mrs. Annie Besant living in the house, having just come over from the Secularists into our camp, with bag and baggage. This was when her subsequent splendid career as Theosophical lecturer, author, editor, and teacher began, only ten years ago; does it not seem strange that she should have ever been anything else than a Theosophist? Is it not almost incredible that she should have once been so incredulous about our ideas, the existence of the Great Teachers, the possibility of infinitely extending human knowledge by widening the area of human consciousness? Strange that she should have been a Materialist, hard as nails against the claims of spiritual existence and the promoters of [177] that philosophy? One thinks she must have been but masquerading then in borrowed robes, while always in her heart a spiritualist. Certainly that is what I saw in her at our first meeting, despite her air of a woman of the toiling class, with her thick, laced boots, her skirts somewhat shortened to keep them tidy when trudging through the muddy streets of the East End, her red neckerchief of the true Socialist tinge, and her close-cut hair—in short, an Annie Militant. Some of our people of the upper class in society were prepossessed against her, thinking that no great good could come from her importation of her fads and cranks into our respectable body! Some even protested to me against having her living at Headquarters, as it might keep influential women away. But what I found in her is written in my Diary of 5th September, the evening of our first meeting: “Mrs. Besant I find to be a natural Theosophist: her adhesion to us was inevitable, from the attractions of her nature towards the mystical. She is the most important gain to us since Sinnett.” And note that her Autobiography had not then been written to uncover the shine of her awakened spirit “within the day lamp of the body,” as Maimonides puts it; she had not, I believe, made one public discourse in support of Theosophy, nor had she said one word of the sort during the conversation between her and H. P. B. and myself, But when conducting her to the door I looked into her kind, grand eyes, and all this sense of her character passed like a flash into my own consciousness, I recollect taking her then by the hand [178] and saying, just at parting: “I think you will find yourself happier than you have ever been in your life before, for I see you are a mystic and have been frozen into your brain by your environment. You come now into a family of thinkers who will know you as you are and love you dearly.” She will be able to say whether these were not my prophetic words at that first meeting. How marvellously she has altered for the better during these past ten years only those can realise who knew her in 1889; she is not the same woman—she feels her soul. Blessings on her!
H. P. B. đón tôi nồng nhiệt khi tôi đến London, lúc 7 giờ tối ngày 4 tháng Chín, và giữ tôi chuyện trò, theo phong cách New York xưa, đến tận 2 giờ sáng. Tôi thấy Bà Annie Besant đang sống trong nhà, Bà vừa rời hàng ngũ những người thế tục để về với chúng ta, mang theo toàn bộ hành trang. Từ đây bắt đầu sự nghiệp rực rỡ sau này của Bà như một diễn giả, tác giả, chủ bút và nhà giáo Thông Thiên Học, mới chỉ mười năm trước đây thôi; có phải là lạ không khi nghĩ rằng Bà từng là gì khác ngoài một người Thông Thiên Học? Có phải gần như không thể tin nổi rằng Bà đã từng hoài nghi đến thế về các tư tưởng của chúng ta, về sự hiện hữu của các Bậc Thầy Vĩ Đại, về khả năng mở rộng vô hạn tri thức con người bằng cách mở rộng phạm vi tâm thức con người? Lạ thật khi Bà từng là một người theo chủ nghĩa duy vật, cứng rắn như thép trước những tuyên bố về tồn tại tinh thần và những người cổ xúy [177] triết học ấy? Người ta nghĩ có lẽ Bà chỉ khoác áo mượn tạm khi ấy, trong khi trái tim vẫn luôn là một người theo tinh thần. Chắc chắn đó là điều tôi thấy nơi Bà trong lần gặp đầu, bất chấp dáng vẻ một phụ nữ thuộc tầng lớp lao động, với đôi giày buộc dây đế dày, áo váy hơi ngắn để giữ sạch khi lội qua các con phố lầy lội ở Đông London, chiếc khăn cổ đỏ đúng sắc thái Xã hội chủ nghĩa, và mái tóc cắt ngắn—tóm lại, một Annie chiến đấu. Một vài người thuộc tầng lớp thượng lưu trong hàng ngũ chúng ta có định kiến với Bà, cho rằng chẳng có điều tốt đẹp lớn lao nào sẽ đến từ việc Bà mang các mốt và tính khí kỳ quặc vào thân thể đáng kính của chúng ta! Có người thậm chí phản đối tôi việc để Bà sống tại Trụ sở, vì có thể làm các phụ nữ có ảnh hưởng tránh xa. Nhưng điều tôi nhận ra nơi Bà đã được tôi ghi trong Nhật ký ngày 5 tháng Chín, buổi tối sau lần gặp đầu: “Tôi thấy Bà Besant là một người Thông Thiên Học bẩm sinh: việc Bà gia nhập với chúng ta là tất yếu, do sức hút tự nhiên của tâm hồn Bà hướng về điều huyền nhiệm. Bà là mối bổ sung quan trọng nhất cho chúng ta kể từ Sinnett.” Và lưu ý rằng Hồi ký Tự thuật của Bà khi ấy chưa được viết để phơi lộ ánh sáng của tinh thần Bà “trong cây đèn thân xác,” như Maimonides nói; theo tôi biết, Bà chưa hề đọc một bài diễn thuyết công khai nào ủng hộ Thông Thiên Học, cũng chưa nói một lời như thế trong cuộc chuyện trò giữa Bà, H. P. B. và tôi. Nhưng khi tiễn Bà ra cửa, tôi nhìn vào đôi mắt nhân hậu, cao quý của Bà, và tất cả cảm nhận về nhân cách Bà vụt truyền [178] vào tâm thức tôi như tia chớp. Tôi nhớ đã nắm tay Bà lúc chia tay và nói: “Tôi nghĩ Bà sẽ thấy mình hạnh phúc hơn bao giờ hết trong đời, vì tôi thấy Bà là một nhà huyền nhiệm và đã bị môi trường đông cứng trong trí năng. Bà nay bước vào một gia đình của những người tư tưởng, những người sẽ nhận ra Bà như chính Bà và thương mến Bà tha thiết.” Bà sẽ có thể xác nhận liệu đó có phải là lời tiên tri của tôi ngay trong cuộc gặp đầu tiên. Chỉ những ai từng biết Bà năm 1889 mới có thể hiểu Bà đã thay đổi kỳ diệu dường nào trong mười năm qua; Bà không còn là người phụ nữ như trước nữa—Bà cảm nhận được linh hồn mình. Xin chúc phúc cho Bà!
On the following day she and I called together on Mr. Bradlaugh at his residence. I had made his acquaintance and heard him lecture in New York in 1873, and had been one of his sponsors for Honorary Membership of the Lotos Club, so our personal relations had a pleasant basis. I found him ageing fast, yet full of that virile strength which made him stand like an oak among men. In the course of the conversation I remarked how deep was my regret that our gain of Mrs. Besant was at his expense, but that the step had been taken of her own motion, not because of any solicitation on our part. He sadly replied that it was a great and deep loss to him, but that Mrs. Besant was a woman who would always act according to the promptings of her conscience, and he had nothing to say. Even if he should, it would be useless.
Ngày hôm sau, tôi và Bà cùng đến thăm Ông Bradlaugh tại tư gia. Tôi đã quen biết và nghe Ông thuyết giảng ở New York năm 1873, và tôi từng là một trong những người bảo trợ để Ông trở thành Hội viên Danh dự của Câu lạc bộ Lotos, nên quan hệ cá nhân giữa chúng tôi có nền tảng dễ chịu. Tôi thấy Ông già đi nhanh, nhưng vẫn tràn đầy sức mạnh nam tính khiến Ông đứng vững như cây sồi giữa đám người. Trong câu chuyện, tôi bày tỏ niềm tiếc nuối sâu sắc rằng việc chúng ta có được Bà Besant là tổn thất của Ông, nhưng rằng bước đi ấy là do chính Bà chủ động, không phải vì bất kỳ sự vận động nào từ phía chúng ta. Ông buồn bã đáp rằng đó là một mất mát lớn và sâu sắc với Ông, nhưng Bà Besant là một người phụ nữ sẽ luôn hành xử theo tiếng gọi lương tâm, và Ông chẳng có gì để nói. Dẫu có nói, cũng vô ích.
On the next Sunday evening I went to hear Mrs. Besant on “Memory,” at the Hall of Science—a very able and forcible discourse, the first I had ever heard [179] from her. So favorable a chance to hear so grand an orator was not to be lost, so I went alone or with others several times to her lectures, and escorted her to the Hall of Science on that memorable evening when she pathetically bade farewell to her Freethinker colleagues, since they had decided that she ought not to be longer allowed to work with them because she had taken up with views so diametrically opposed to theirs. Vivid indeed was her oration when she protested in the sacred name of Freethought against the disloyal attitude of Freethinkers towards an old and tried colleague, who had simply exercised the prerogative for which she had battled during so many years. She showed as clearly as day the inconsistency and shortsightedness of that policy. At the same time her speech brought back to my own mind the fact that their position towards Theosophy was the very one she herself had formerly taken up in the National Reformer, the organ of Mr. Bradlaugh and herself. A Madras Freethinker had written to ask of the editors whether a Secularist could consistently be also a Theosophist, and Mrs. Besant, for herself and co-Editor, had answered him editorially that the two were incompatible. We copied that decision with comments into the Theosophist, the comments being somewhat strong, with hints that the Secularists of the Mrs. Besant type were getting to be as dogmatic as the Pope. Neither of us then foresaw how soon she would have to drink at the hand of her own party of the bitter chalice she was once commending to our lips.
Vào tối Chủ nhật kế tiếp tôi đi nghe bà Besant diễn thuyết về “Ký ức” tại Hall of Science—một bài nói chuyện rất xuất sắc và hùng biện, là bài đầu tiên tôi từng được nghe [179] từ Bà. Cơ hội thuận lợi để nghe một nhà hùng biện vĩ đại như thế thì không thể bỏ lỡ, nên tôi đã đi, một mình hoặc cùng người khác, vài lần tới các buổi diễn thuyết của Bà, và hộ tống Bà đến Hall of Science vào buổi tối đáng ghi nhớ khi Bà cảm động nói lời từ biệt với các đồng sự Freethinker, vì họ đã quyết định rằng Bà không nên được phép tiếp tục làm việc với họ nữa do Bà đã chấp nhận những quan điểm đối nghịch tuyệt đối với họ. Quả thật bài diễn thuyết của Bà rực lửa khi Bà nhân danh thiêng liêng của phong trào Tự do tư tưởng mà phản kháng thái độ bất trung của những người theo Tự do tư tưởng đối với một đồng sự lâu năm và đáng tin cậy, người chỉ đơn giản thực thi đặc quyền mà Bà đã đấu tranh trong bao năm. Bà cho thấy rõ ràng như ban ngày sự bất nhất và thiển cận của chính sách đó. Đồng thời, bài nói của Bà gợi lại trong tâm trí tôi sự thực là lập trường của họ đối với Thông Thiên Học chính là lập trường mà trước kia tự Bà đã nêu ra trên tờ National Reformer, cơ quan ngôn luận của ông Bradlaugh và Bà. Một người theo chủ nghĩa Thế tục ở Madras đã viết hỏi các chủ bút rằng liệu một người Thế tục có thể nhất quán mà cũng là một nhà Thông Thiên được không, và bà Besant, với tư cách cá nhân và đồng Chủ bút, đã trả lời trên mục xã luận rằng hai điều ấy không tương thích. Chúng tôi đã chép lại quyết định đó kèm bình luận vào The Theosophist, với những lời bình khá mạnh, bóng gió rằng những người Thế tục thuộc kiểu bà Besant đang trở nên giáo điều chẳng khác gì Giáo hoàng. Khi ấy chẳng ai trong chúng tôi đoán trước được là chẳng bao lâu nữa Bà sẽ phải uống từ tay chính phe mình chén đắng mà xưa kia Bà từng khuyên chúng tôi kề môi.
[180]
[180]
Besides the desirable acquaintances made at that time was the undesirable one of the notorious Diss Debar, “the Precipitation Medium of the U. S. A.”: a showy, smooth-talking person, who was either a very remarkable medium or a very extraordinary humbug. The evidence of Mr. Luther R. Marsh, of New York, a great lawyer, and formerly law-partner of Daniel Webster, was enthusiastic in favor of her mediumship, and it was rumored that they were privately married. She told me that this was so, and that Mr. Marsh was shortly coming to London to meet her: moreover, she called herself Mrs. Marsh. She was a stout, black-haired woman, with an ample figure and a sort of fetching way, like that nameless gift of your Parisian woman. She was dressed in black and wore the cross of a foreign order (the Legion, I think) on her bosom—a hit of dramatic finesse, for it might mean so much. My entry says that I was “not convinced” of her good faith. She had picked up some American lady with much money, but not much brains, and had constituted her paymaster. She wanted lodgings for both, so I referred her to a place in the neighborhood and they went there, but within the next few days there was no end of a row, a seizure of luggage—if I remember aright—bills unpaid, and the flitting of the decorated mistress of wonders. Subsequently, I believe, she was prosecuted for swindling and imprisoned, but my memory has not charged itself with the real facts of the case. She has plunged out of public sight, and I have heard nothing about [181] her for years. But I was informed that she had told wild stories of her intimacy with H. P. B., and some very occult and very wonderful work that they were doing together—all sheer falsehood.
Bên cạnh những mối quen biết đáng quý lúc bấy giờ, lại có một mối quen chẳng đáng chút nào: đó là mụ Diss Debar khét tiếng, “Đồng tử Ngưng tụ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”: một người đàn bà phô trương, nói năng trơn tru, hoặc là một đồng tử rất phi thường, hoặc là một kẻ bịp bợm siêu hạng. Lời chứng của ông Luther R. Marsh, ở New York, một luật sư lừng danh, trước từng là cộng sự pháp lý của Daniel Webster, tỏ ra nhiệt thành ủng hộ năng lực đồng tử của mụ, và có lời đồn rằng họ đã bí mật kết hôn. Mụ bảo tôi đúng là như vậy, và rằng ông Marsh chẳng bao lâu sẽ tới London gặp mụ: hơn nữa, mụ xưng là bà Marsh. Mụ là một người đàn bà đẫy đà, tóc đen, thân hình đẫy đà và có kiểu dáng “quyến rũ”, giống như thứ duyên vô danh của các phụ nữ Paris. Mụ mặc đồ đen và đeo trên ngực cây thập tự của một Huân chương ngoại quốc (tôi nghĩ là Bắc Đẩu Bội Tinh)—một cú diễn kịch khéo léo, vì nó có thể khiến người ta nghĩ rất nhiều điều. Tôi ghi rằng mình “chưa tin” vào thiện chí của mụ. Mụ đã vớ được một bà Mỹ có nhiều tiền nhưng không nhiều đầu óc, và cắt cử bà ta làm “kẻ mở hầu bao”. Mụ muốn thuê phòng cho cả hai, nên tôi giới thiệu một nơi gần đó và họ đã đến đó, nhưng trong vài ngày kế sau thì rắc rối nảy sinh không dứt, nào là tịch thu hành lý—nếu tôi nhớ đúng—nào là hóa đơn chưa trả, rồi bà chủ nhân của những trò kỳ diệu kia lẳng lặng cao chạy xa bay. Về sau, tôi nhớ là mụ bị truy tố vì tội lừa đảo và bị bỏ tù, nhưng trí nhớ tôi không lưu trữ các dữ kiện xác thực của vụ việc. Mụ đã lặn khỏi mắt công chúng, và nhiều năm rồi tôi chẳng nghe [181] chút gì về mụ. Nhưng tôi được cho hay mụ từng bịa những câu chuyện hoang đường về sự thân mật với H. P. B., và về vài công việc rất huyền bí, rất kỳ diệu mà họ đang cùng làm—tất cả đều hoàn toàn bịa đặt.
On the 17th (September) I gave my first public lecture in London at South Place Chapel, Mr. Moncure D. Conway’s place of worship. The building was packed Mrs. Besant took the chair. My topic was “The Theosophical Society and Its Work”. At the close I was fairly bombarded with questions from all parts of the hall, and finally that serio-comic incident occurred which I have mentioned elsewhere, but which may be repeated here, as this is the proper connection. A voice from the right-hand gallery called out loudly: “I would like to know how it is that Colonel Olcott is so familiar with all the Eastern religions when I scarcely know one perfectly although I have given twenty years to its study?” It was a foolish thing to ask, for the answer was so obvious; but just as I was about to say something of a conciliatory nature, a loud response came from the opposite gallery—it was the one word “Brains”. That sent the house into convulsions of merriment, and neither Mrs. Besant nor I could refrain from smiling. The querist was a great authority on Assyriology. The London papers gave long notices of the discourse, but a short quotation from the Pall Mall Gazette will suffice:
Ngày 17 (tháng Chín) tôi có buổi diễn thuyết công khai đầu tiên ở London tại South Place Chapel, nơi thờ tự của ông Moncure D. Conway. Tòa nhà chật kín—bà Besant chủ tọa. Đề tài của tôi là “Hội Thông Thiên Học và Công việc của Hội”. Kết thúc, tôi bị dồn dập hỏi dồn từ khắp các phía trong hội trường, và rồi xảy ra tình huống nửa nghiêm nửa khôi hài mà tôi đã nói ở chỗ khác, nhưng có thể nhắc lại ở đây, vì đặt trong mạch văn này là thích hợp. Một giọng từ dãy ghế tầng gác bên tay phải cất to: “Tôi muốn biết làm sao Đại tá Olcott lại có thể quen thuộc với tất cả các tôn giáo phương Đông trong khi tôi còn chẳng rành một tôn giáo nào dù tôi đã dành hai mươi năm nghiên cứu nó?” Hỏi như thế là dại, vì câu trả lời quá hiển nhiên; nhưng ngay khi tôi sắp nói vài lời mang tính xoa dịu, thì từ tầng gác đối diện vang lên một tiếng đáp lớn—chỉ một chữ “Trí óc”. Cả khán phòng bèn cười nghiêng ngả, và cả bà Besant lẫn tôi đều không nén được cười. Người chất vấn là một nhà uyên thâm về Assyri học. Các báo London đăng dài dòng về buổi diễn thuyết, nhưng trích một đoạn ngắn từ Pall Mall Gazette cũng đủ:
“It is no unusual thing to see an array of thoughtful faces at South Place Chapel, yet it may be questioned whether the walls of that simple, unpretending building [182] have hitherto looked down upon an assemblage bespeaking more respect, by reason of its high mental capacity and ability, than that which occupied the chapel’s sitting and standing room at night. The occasion was Colonel Olcott’s Theosophical lecture, Mrs. Besant presiding. There were present bronzed Anglo-Indians, Easterns in fez and goggles, medical, theological, and science students and teachers, representative South Place people, agnostics, freethinkers, and spiritualists—how many different ‘ists’ were really in evidence it is scarcely possible to set down. To this heterogeneous gathering Mrs. Besant introduced the lecturer Colonel Olcott is—as already mentioned in your columns—a man of striking and commanding personality. His hair is silvery, his flowing beard white and soft, his forehead massive, and his whole aspect venerable. He neither makes any pretension to eloquence nor strives after effect. He says what he has to say in the plainest possible way. His manner is certainly sincere and his method convincing.”
“Chẳng hiếm khi thấy một rừng gương mặt trầm tư ở South Place Chapel, song có thể đặt câu hỏi liệu bức tường của tòa nhà giản dị, khiêm nhường ấy [182] đã từng nhìn xuống một cử tọa gợi nên nhiều tôn trọng, bởi năng lực và khả năng trí tuệ cao của họ, hơn khán phòng đã lấp kín mọi chỗ ngồi và đứng tối nay hay chưa. Dịp ấy là buổi diễn thuyết Thông Thiên Học của Đại tá Olcott, bà Besant chủ tọa. Có mặt là những người Anglo-Ấn rám nắng, người phương Đông đội mũ fez và đeo kính, sinh viên và giảng sư y học, thần học và khoa học, những người tiêu biểu của South Place, những người bất khả tri, người theo tự do tư tưởng, và các nhà thần linh học—có bao nhiêu ‘ist’ khác nhau thật khó mà kể. Với đám đông pha tạp ấy, bà Besant giới thiệu diễn giả—đại tá Olcott—như đã nhắc trên báo của quý tờ—là một người có diện mạo nổi bật và gây uy nghi. Tóc Ông bạc, râu buông dài, trắng và mềm, trán rộng, và toàn bộ vẻ diện mạo đáng kính. Ông không làm bộ hùng biện cũng không đuổi theo hiệu quả. Ông nói điều cần nói theo lối giản dị nhất có thể. Dáng điệu của Ông quả là chân thành và phương pháp thì thuyết phục.”
The Theosophist (Supplement, November, 1889), in taking over the P. M. G.’s report, says:
The Theosophist (Phụ lục, tháng Mười Một, 1889), khi đăng lại bản tường thuật của P. M. G., viết:
“There are in London, among a host of ways of making a living, offices called ‘Newspaper-cutting Agencies,’ which supply subscribers with cuttings upon any desired subject from the newspapers of Great Britain and the Colonies. From such an agency we have received already nearly one hundred excerpts from British journals which speak about Colonel Olcott’s opening lecture and Theosophy in general.
“Ở London, trong vô số cách mưu sinh, có những văn phòng gọi là ‘Cơ quan cắt báo,’ cung cấp cho người đăng ký các mẩu cắt liên quan đến bất kỳ chủ đề nào mong muốn từ các báo chí của Đại Anh và các Thuộc địa. Từ một cơ quan như vậy chúng tôi đã nhận được gần một trăm trích đoạn từ các tờ báo Anh viết về bài mở màn của Đại tá Olcott và về Thông Thiên Học nói chung.
[183]
[183]
The prevailing tone is one of chaff or bitterness, though there are instances of sober interest in, and respect for, the themes we preach. What is conspicuously shown is the existence of popular interest in us and our doings and sayings. Another striking proof is, that at one and the same time Madame Blavatsky was writing an article on Theosophy, bespoken by the North American Review, the leading review of the United States, and Colonel Olcott one on the ‘Genesis of Theosophy’ for the (Conservative) National Review, of London—the latter article in reply to one on the same subject by Mr. Legge in the same periodical.”
Giọng điệu chủ đạo là giễu cợt hoặc cay độc, tuy cũng có những trường hợp bộc lộ sự quan tâm nghiêm túc và tôn trọng đối với các chủ đề chúng tôi rao giảng. Điều cho thấy nổi bật là sự quan tâm phổ biến đang tồn tại đối với chúng tôi và những điều chúng tôi làm, chúng tôi nói. Một bằng chứng nổi bật khác là, cùng một thời điểm, Madame Blavatsky viết một bài về Thông Thiên Học, do North American Review, tờ tạp chí hàng đầu của Hợp chủng quốc, đặt bài, và Đại tá Olcott viết bài ‘Nguồn khởi của Thông Thiên Học’ cho tờ National Review (bảo thủ) của London—bài sau nhằm đáp lại một bài về cùng chủ đề của ông Legge trên cùng tạp chí.”
The lecture brought me one bit of bad luck in prompting Dr. Bowles Daly, an Irish journalistic writer and author, to seek our acquaintance. He manifested so much interest in our work and talked so smoothly as to win my confidence. He joined the Society, and after a while came out to Adyar. He had told me that he owned two houses in London, which he should sell, and then follow me out. He would give his services quite gratuitously. Later, it turned out that he had not a copper, and on that plea demanded a salary and allowances from the Sinhalese, among whom he ultimately went to work. He had a certain sort of ability and any amount of self-push, but proved to be quite ignorant of Eastern literature, and so was useless to me as an assistant editor, the capacity in which we had agreed that he was to be engaged. He went, as above said, to Ceylon; enlarged our Buddhist school at Galle into a weak College; did some hard work; gave rein [184] to a furious temper; drove the boarding scholars out of the school building with a belt buckle on Wesak Day because their recitation of the gathas and silas annoyed him upstairs; was chosen a member of a Provincial Buddhist Committee; tried to wean from me the love of the Sinhalese; insulted and enraged some of the leading Buddhists; denounced wholesale the entire Sangha; and at last moved off to Calcutta, where he tried to prejudice the public against Theosophy, and finally became mixed up in several disagreeable public incidents. At last accounts he was in the Australian colonies. But for his ungovernable temper and his free indulgence in vulgar abuse, he might have done good service to a movement which always needs efficient helpers. I should not have ventured to invite him out to India but for his declaration that his services would be as free and unremunerated as our own; a declaration which he repeated to H. P. B. when I took him to her room, after the agreement had been arrived at between us (and after he had borrowed £20 of me on some excuse about having to make his preparations for leaving, a fact which caused H. P. B.’s eyebrows to rise when I told her about it). The loan was repaid at Adyar.
Bài diễn thuyết đem lại cho tôi một điều xui xẻo nhỏ khi thúc đẩy bác sĩ Bowles Daly, một ký giả người Ireland, nhà văn, đến tìm kết giao. Ông tỏ ra rất quan tâm tới công việc của chúng tôi và nói năng trơn tru đến độ chiếm được lòng tin của tôi. Ông gia nhập Hội, và ít lâu sau ra Adyar. Ông bảo tôi rằng ông sở hữu hai căn nhà ở London, sẽ bán đi, rồi theo tôi ra đó. Ông sẽ cống hiến công sức hoàn toàn miễn phí. Về sau, hóa ra ông chẳng có một đồng, và vin vào cớ đó để đòi lương và phụ cấp từ người Tích Lan, nơi cuối cùng ông đến làm việc. Ông có một kiểu khả năng nào đó và thừa sự tự đẩy mình lên, nhưng chứng tỏ quá thiếu hiểu biết về văn học phương Đông, nên vô dụng với tôi trong vai trò phụ tá biên tập, vai trò mà chúng tôi đã nhất trí sẽ mời ông đảm nhiệm. Ông như đã nói, đi Tích Lan; biến ngôi trường Phật giáo của chúng tôi ở Galle thành một trường Cao đẳng èo uột; làm việc cật lực; buông lỏng [184] một cơn nóng giận ghê gớm; dùng khóa thắt lưng đuổi các học trò nội trú ra khỏi tòa nhà vào ngày Rằm Vesak vì việc họ tụng gathas và silas khiến ông bực mình ở tầng trên; được bầu vào một Ủy ban Phật giáo cấp tỉnh; cố làm cho người Tích Lan bớt thương tôi; xúc phạm và chọc giận một số Phật tử lãnh đạo; mạt sát cả thể toàn bộ Tăng đoàn; và cuối cùng dạt tới Calcutta, nơi ông tìm cách gây thành kiến với công chúng chống lại Thông Thiên Học, và rốt cuộc dây dưa vào vài vụ việc công khai khó chịu. Theo tin cuối cùng, ông ở các thuộc địa Úc. Nếu không vì tính khí không kìm được và thói buông lời thô lỗ, ông có lẽ đã có thể phụng sự tốt cho một phong trào luôn cần những người trợ giúp hữu hiệu. Tôi đã không dám mời ông sang Ấn Độ nếu không vì tuyên bố của ông rằng công sức của ông sẽ tự do và không thù lao như của chúng tôi; một tuyên bố mà ông đã lặp lại với H. P. B. khi tôi dẫn ông vào phòng Bà, sau khi thỏa thuận đã đạt được giữa chúng tôi (và sau khi ông đã mượn của tôi 20 bảng với cớ phải chuẩn bị cho việc lên đường, một sự việc khiến lông mày của H. P. B. nhướng lên khi tôi kể cho Bà). Khoản vay được hoàn lại ở Adyar.
At the time of my visit I had the chance to see of what infinite tenderness and unselfish compassion Mrs. Besant was capable. An old friend of hers, a fellow-reformer and very well-known man, was utterly prostrated by overwork of the brain, and his life in peril. She took him into her house, nursed him like a sister,
Vào thời điểm tôi thăm viếng, tôi có dịp chứng kiến lòng từ ái vô biên và trắc ẩn vô ngã mà bà Besant có khả năng bộc lộ. Một người bạn cũ của Bà, bạn đồng cải cách, một nhân vật rất quen thuộc, bị kiệt quệ hoàn toàn vì làm việc trí óc quá độ, tính mạng bị đe dọa. Bà đưa ông về nhà, chăm sóc như một người chị,
[185] calmed his ravings, and, I believe, saved his life. It made it all the more sad for me when that same man, possibly—nay, probably, it must have been—in another access of nervous debility, turned upon his gentle nurse and said cruel things against her in the press. I was all the more sorry because of my great appreciation of his noble traits of character. I did a good deal of literary work for H. P. B. in those days. She had a table placed beside her own desk, and we fell at once into the old fashion of the New York “lamasery” when we toiled on the composition of Isis Unveiled, night after night, until the small hours of the morning. I wrote letters and articles for her magazine, and helped her on her occult teaching papers for her E. S. pupils. She resented my acceptance of invitations for parlor-talks on Theosophy, visits to important persons whom we wanted to interest, and lecturing tours—wanting to keep me tied to her desk-side. But this could not be, for the general interests of the movement had to be considered first of all; and though she called me a “mule” and all sorts of pet names of the kind, I did what was to be done. Yet it was a real sacrifice to have to deny myself the pleasure of the close companionship, for, as in New York, when we two were working together alone, the door between us and the Teachers seemed ever open; uplifting ideas came pouring into my mind, and the spiritual intercourse was very real. Her habit of counting on me as an ever willing and loyal helper had become so fixed, and our tie was so much closer and so different from that [186] between her and our juniors, that she appeared to delight in the renewal of the latter. In those pleasant hours she used to tell me all she thought of those around her, and consult me as to how to treat them, and the best way to push on the movement. When certain persons would come in and pet and flatter her, she, when they were gone, should the occasion demand it, would paint to me their real characters. Meanwhile, the object of my European visit was silently yet surely being accomplished, H. P. B.’s angry feelings were subsiding, and all danger of a disruption was swiftly passing away. Things which had seemed to her as mountains became molehills when we came to look at them calmly. Thus had it always been. The new Rule about doing away with Entrance Fees and Annual Dues, adopted at the last Adyar Convention, and which had so exasperated the British and American Sections, and dissatisfied even the Indian, was temporarily got over, after much delay, by my issuing the following Executive Notice:
[185] làm dịu những cơn mê sảng, và, tôi tin, đã cứu mạng ông. Vì thế càng làm tôi buồn hơn khi chính người ấy, có lẽ—mà rất có thể, hẳn là—trong một cơn suy nhược thần kinh nữa, đã quay lại với người y tá dịu dàng của mình và nói những điều tàn nhẫn chống lại Bà trên báo chí. Tôi càng buồn vì tôi rất trân trọng những phẩm chất cao đẹp trong tính cách của ông. Thời gian ấy tôi làm khá nhiều việc văn bút cho H. P. B. Bà đặt một chiếc bàn cạnh bàn làm việc của Bà, và lập tức chúng tôi trở lại lối cũ ở “tu viện” New York khi cả hai cùng lao nhọc soạn viết Isis Unveiled đêm này qua đêm khác cho tới tờ mờ sáng. Tôi viết thư và bài cho tạp chí của Bà, và giúp Bà soạn các bài giảng huyền bí cho học viên E. S. Bà không bằng lòng việc tôi nhận lời mời nói chuyện về Thông Thiên Học tại các phòng khách, thăm viếng những nhân vật quan trọng mà chúng tôi muốn gây hứng thú, và đi diễn thuyết xa—Bà muốn trói tôi cạnh chiếc bàn của Bà. Nhưng như vậy thì không thể, vì lợi ích chung của phong trào phải được đặt lên trước hết; và dù Bà gọi tôi là “con la” và đủ thứ tên cưng kiểu đó, tôi vẫn làm điều cần làm. Dẫu vậy, đó là một sự hy sinh thực sự khi tôi phải tự khước từ niềm vui bầu bạn khắng khít, vì, như ở New York, khi chúng tôi hai người làm việc với nhau một mình, cánh cửa giữa chúng tôi và các Vị Thầy dường như luôn mở; những ý tưởng nâng thăng tuôn vào tâm trí tôi, và cuộc giao cảm tinh thần là rất thực. Thói quen của Bà là dựa vào tôi như một người trợ giúp luôn sẵn lòng và trung tín đến mức đã trở nên cố định, và mối dây của chúng tôi gắn bó và khác biệt rất nhiều so với [186] giữa Bà với các bạn trẻ của chúng ta, nên Bà dường như hân hoan khi mối dây ấy được nối lại. Trong những giờ phút dễ chịu ấy, Bà kể tôi nghe tất cả những gì Bà nghĩ về những người quanh mình, và hỏi ý tôi về cách đối xử với họ, và cách tốt nhất để thúc đẩy phong trào. Khi có người nào đó vào nịnh nọt và tâng Bà, thì khi họ đi khỏi, nếu hoàn cảnh đòi hỏi, Bà sẽ phác họa cho tôi thấy chân tướng của họ. Trong khi ấy, mục đích của chuyến Âu du của tôi đang âm thầm nhưng chắc chắn được hoàn tất, cơn giận của H. P. B. đang lắng xuống, và mọi nguy cơ rạn nứt đang nhanh chóng tiêu tan. Những việc Bà xem như núi non hóa thành gò kiến khi chúng tôi bình tĩnh nhìn lại. Trước nay vẫn như vậy. Quy luật mới về việc bãi bỏ Lệ phí Gia nhập và Niên liễm, được thông qua ở Đại hội Adyar gần nhất, vốn đã làm phía Anh và Mỹ phát cáu, và ngay cả Ấn Độ cũng bất mãn, đã tạm thời được gỡ sau nhiều trì hoãn, bằng việc tôi ban hành Thông báo Hành chính sau đây:
“Pending the final decision of the General Council regarding fees and dues, I hereby direct that the following rule shall be observed. Each Section is at liberty to alter within its own jurisdiction the amount of entrance fees and annual dues (hitherto fixed at, etc., etc.); and each Section, as an autonomous part of the Theosophical Society, shall collect said fees and dues, as determined by them, in the name and by the authority of the Theosophical Society, and apply the same to the Society’s work as the sectional governing [187] body shall from time to time determine... The Indian Section... having unanimously recommended that the entrance fee and annual dues shall be restored to Rs. 10 and Re. 1 respectively, the recommendation is hereby approved...”
“Trong khi chờ quyết định cuối cùng của Tổng Hội đồng về phí và niên liễm, tôi theo đây chỉ thị áp dụng quy luật sau. Mỗi Khu bộ được tự do điều chỉnh trong phạm vi quyền hạn của mình mức lệ phí gia nhập và niên liễm (từ trước vẫn ấn định là, v.v.); và mỗi Khu bộ, với tư cách là một bộ phận tự trị của Hội Thông Thiên Học, sẽ thu các khoản phí và niên liễm ấy, theo như họ đã quyết định, nhân danh và theo thẩm quyền của Hội Thông Thiên Học, và sử dụng chúng cho công việc của Hội như cơ quan quản trị [187] cấp Khu bộ sẽ quy định theo thời thời... Khu bộ Ấn Độ... đã nhất trí kiến nghị rằng lệ phí gia nhập và niên liễm sẽ được khôi phục lại mức 10 Rs. và 1 Re. tương ứng, kiến nghị này theo đây được phê duyệt...”
The fact is that the new resolutions passed by the Convention of 1888 were universally reprobated, and thus fell to the ground one more experiment which I allowed to be tried to stop the clamors of some who thought that in an ideal Society like ours things should not be managed on the prudent business plan, but that we should trust to the sporadic generosity of our members and the general public. The deficit in the year’s account was made up by taking from the Theosophist cash-box Rs. 1,308-2-11. Verb. sap.
Sự thực là các nghị quyết mới do Đại hội năm 1888 thông qua đã bị phê phán khắp nơi, và như thế thêm một thí nghiệm nữa mà tôi cho phép thử nghiệm nhằm dập tắt tiếng la ó của một số người vốn cho rằng trong một Hội lý tưởng như của chúng ta thì mọi việc không nên quản trị theo lối doanh nghiệp thận trọng, mà nên phó mặc cho lòng hào phóng bột phát của hội viên và công chúng, đã rơi vào quên lãng. Phần thâm hụt trong niên khóa được bù bằng cách lấy từ hòm tiền mặt của The Theosophist số tiền 1.308-2-11 Rs. Verb. sap.
There was still another matter to be settled, viz., to please the two Western Sections and calm H. P. B. by giving her some delegation of my powers that would really facilitate the settlement of passing questions without the delay involved in a reference to Adyar. She, it will be recollected, wanted to act as my representative with full discretionary powers; but as I had no great opinion of her discretion in matters of a practical kind, I concluded to make a compromise, to be tried as an experiment. So it was done in this way:
Còn một việc nữa cần giải quyết, ấy là làm vừa ý hai Khu bộ phương Tây và làm dịu H. P. B. bằng cách trao cho Bà một phần ủy quyền của tôi sao cho thực sự giúp giải quyết những vấn đề thời sự mà không cần trì hoãn vì phải tham chiếu về Adyar. Như sẽ còn nhớ, Bà muốn hành động như đại diện của tôi với toàn quyền tùy nghi; nhưng vì tôi không đánh giá cao sự “tùy nghi” của Bà trong những việc thực tiễn, tôi quyết định đưa ra một thỏa hiệp, như một cuộc thử nghiệm. Và đã làm như sau:
“LONDON, 25th December, 1889.
“LONDON, ngày 25 tháng Mười Hai, 1889.
“In compliance with the unanimous request of the Council of the British Section, and to obviate the inconvenience and delay of reference to Headquarters [188] of current local questions requiring my official adjudication, I hereby appoint H. P. Blavatsky as Chairman, and Annie Besant, William Kingsland, and Herbert Burrows as Members, of an Appellate Board, to be known as ‘The President’s Commissioners’ for Great Britain and Ireland; and, furthermore, I hereby delegate to the aforesaid Commissioners for the United Kingdom the appellate jurisdiction and executive powers conferred upon me under the Constitution and Rules of the Society, and declare them to be my personal representatives and official proxies for the territory named until the present order be superseded.
“Chiếu theo yêu cầu nhất trí của Hội đồng Khu bộ Anh, và để tránh sự bất tiện và trì hoãn vì phải tham chiếu về Trụ sở [188] đối với các vấn đề địa phương đương thời cần phán quyết chính thức của tôi, tôi theo đây bổ nhiệm H. P. Blavatsky làm Chủ tọa, và Annie Besant, William Kingsland, Herbert Burrows làm Thành viên, của một Hội đồng Phúc thẩm, gọi là ‘Các Ủy viên của Chủ tịch’ cho Đại Anh và Ireland; và hơn nữa, tôi theo đây ủy quyền cho các Ủy viên nói trên của Vương quốc Anh thẩm quyền phúc thẩm và quyền hành pháp được trao cho tôi theo Hiến chương và Quy luật của Hội, và tuyên bố họ là đại diện cá nhân và ủy nhiệm chính thức của tôi cho lãnh thổ nói trên cho đến khi mệnh lệnh này bị thay thế.
“Provided, however, that all executive orders and decisions made on my behalf by the said Commissioners shall be unanimously agreed to and signed by the four Commissioners above designated.”
“Với điều kiện rằng mọi mệnh lệnh hành pháp và quyết định ban hành nhân danh tôi bởi các Ủy viên nói trên phải được cả bốn Ủy viên đã nêu nhất trí tán thành và ký tên.”
This looked to her a larger Xmas present than it really was, for the words italicised in the concluding sentence made the condition that the four Commissioners, and not H. P. B. alone, should make me responsible for their official decisions. I selected the other three from my respect for their practical good sense and steadfastness of will, believing that they would suffer nothing very revolutionary to be done to upset the steady working of the Society. Some of our worthy colleagues had--as H. P. B. so considerately informed me from time to time in her letters--made themselves merry over my fustian “Executive Orders,” but if either one of them had tried to keep in sound and working order such an incongruous and [189] unmanageable body of eccentrics as the Theosophical Society, so that it might ultimately settle down upon a strong foundation of wise autonomy, being independent within constitutional limits, and yet coherent as a whole Federation, they perhaps would have felt more like crying than laughing. Even now, one very well known Secessionist, whose habitual impulse is to be against every semblance of orderly administration and follow only his personal caprice, is calling the skies to witness how the Society has degenerated into rival camps of slaves, following different popes, and bidding them join his guerilla company. Heaven knows where can be found another society so conservatively conducted as ours, yet with so little restraint upon individual rights. But there are some whose military conceptions cannot rise above the level of bush-whacking. At any rate, the results have fully justified my policy; and if the Society is ready to enter the twentieth century as a powerful social force, it is because I listened to all good advice, let my cranky associates play with their fads until they themselves threw them aside as unworkable, and when a stress came, showed the “mulish” quality which H. P. B. so vigorously denounced. The complete restoration of pleasant relations between us was proved by her issuing the notice that she had appointed me her sole agent in Esoteric Section affairs for Asiatic countries, with very large discretionary powers, which has been above quoted. So, the cyclone having blown itself out, we went on with our joint literary work in her [190] writing-room at Lansdowne Road. Needless to say, our Indian friends breathed freer when they heard the news.
Với Bà, điều này trông như một món quà Giáng Sinh lớn hơn thực tế, vì các chữ in nghiêng trong câu kết đã đặt điều kiện là cả bốn Ủy viên, chứ không riêng H. P. B., mới có thể khiến tôi chịu trách nhiệm về các quyết định chính thức của họ. Tôi chọn ba người kia vì kính trọng sự khôn ngoan thực tiễn và ý chí vững vàng của họ, tin rằng họ sẽ không dung thứ điều gì quá cách mạng có thể làm đảo lộn sinh hoạt ổn định của Hội. Một số đồng sự khả ái của chúng ta—như H. P. B. đã ân cần thông tin cho tôi từ thời gian này sang thời gian khác trong thư của Bà—từng cười cợt những “Mệnh lệnh Hành chính” khoa trương của tôi, nhưng nếu bất kỳ ai trong họ từng thử giữ cho một cơ cấu bất nhất và [189] khó quản như Hội Thông Thiên Học vận hành êm thắm và lành mạnh, để rồi rốt cuộc nó có thể đặt nền vững chắc trên cơ sở tự trị khôn ngoan, độc lập trong các giới hạn hiến định, nhưng vẫn gắn kết như một Liên đoàn, thì có lẽ họ sẽ thấy muốn khóc hơn là muốn cười. Ngay lúc này, một nhân vật ly khai rất quen mặt, người mà xung lực quen thuộc là chống lại mọi biểu hiện của trật tự hành chính và chỉ theo ý riêng, đang ngửa mặt kêu trời rằng Hội đã suy vi thành các phe đối địch của những kẻ nô lệ, theo các giáo chủ khác nhau, và hô hào họ nhập vào đội du kích của ông ta. Trời biết ở đâu mới tìm được một hội đoàn được điều hành bảo thủ như chúng ta, mà lại hạn chế ít đến thế đối với các quyền cá nhân. Nhưng có những người mà quan niệm “quân sự” không thể vượt khỏi mức đánh du kích. Dù sao, kết quả đã biện minh hoàn toàn cho đường lối của tôi; và nếu Hội sẵn sàng bước vào thế kỷ XX như một lực lượng xã hội hùng hậu, thì đó là vì tôi lắng nghe mọi lời khuyên tốt, để cho các đồng sự “kỳ quặc” của mình chơi với các mốt của họ cho đến khi chính họ tự vứt bỏ vì không dùng được, và khi gặp cơn căng thẳng, tôi bộc lộ phẩm chất “cứng đầu như la” mà H. P. B. từng đả kích dữ dội. Việc nối lại trọn vẹn mối quan hệ êm đẹp giữa chúng tôi được chứng thực qua việc Bà ra thông báo bổ nhiệm tôi làm đại diện duy nhất của Bà trong các công việc của Ban Nội Môn ở các xứ Á châu, với quyền tùy nghi rất rộng, như đã dẫn ở trên. Vậy là, khi cơn bão đã tự tan, chúng tôi tiếp tục công việc văn bút chung trong [190] phòng viết của Bà ở Lansdowne Road. Nói cũng thừa, bằng hữu Ấn Độ của chúng tôi thở phào khi nghe tin.
Before leaving England for home I received through the Rev. S. Asahi, Chief Priest of Tentoku Temple, Tokio, an ecclesiastic of great influence, the following highly gratifying imperial communication:
Trước khi rời Anh về nhà, tôi nhận được qua Mục sư S. Asahi, Trụ trì chùa Tentoku, Tokyo, một giáo phẩm có ảnh hưởng lớn, thông điệp dưới đây từ hoàng gia, khiến tôi rất hân hoan:
“TOKIO, 18th October, 1889.
“TOKIO, ngày 18 tháng Mười, 1889.
“TO BARON TORUKU TAKASAKI.
“GỬI NAM TƯỚC TORUKU TAKASAKI.
“His Imperial Majesty has accepted the present of a stone image and five other articles which were offered him by Colonel H. S. Olcott with an explanatory memorandum accompanying each article. I beg Your Excellency to inform that gentleman of His Majesty’s acceptance.
“Hoàng Thượng đã chuẩn y nhận tặng phẩm là một tượng đá và năm vật phẩm khác do Đại tá H. S. Olcott dâng, kèm theo mỗi vật là một bản thuyết minh. Tôi kính nhờ Ngài cho vị Quân nhân đó hay việc Hoàng Thượng đã chấp thuận.
“VICE-MINISTER OF THE IMPERIAL HOUSEHOLD.”
“THỨ TRƯỞNG PHỦ HOÀNG GIA.”
The presents accepted by His Majesty were, the original model of the Buddhist Flag, a carved stone image from Buddha Gaya, leaves from the sacred Bo-trees of Anuradhapura and Buddha Gaya, and photographs of several noted shrines. With this hint of imperial good wishes, no wonder the nation turned en masse towards the messenger of Southern Buddhism and took to heart the message! It should be added that an explanation of the instant popularity of the Buddhist Flag may be found in the fact that when first shown to the Japanese priests, they consulted their own sacred writings and found that the colors of the [191] vertical stripes were identically as therein described as to be seen in the aura of the Buddha. Some readers may also recollect that the Tibetan Envoy to the Government of India told me at Darjeeling that they were those of the flag of the Dalai Lama. Our Colombo Buddhist colleagues were therefore wiser than they knew when they suggested the idea of the Buddhu râsâ for the proposed Buddhist Flag of all nations.
Những tặng phẩm được Hoàng Thượng chuẩn nhận gồm mẫu nguyên bản của Phật kỳ, một tượng đá khắc từ Bồ Đề Đạo Tràng, lá từ các cây Bồ-đề thiêng ở Anuradhapura và Bồ Đề Đạo Tràng, và ảnh chụp một số đền chùa nổi tiếng. Với gợi ý thiện chí từ hoàng gia như thế, không lạ gì cả quốc gia quay sang đón chào sứ giả của Phật giáo Nam truyền và ghi tâm khắc cốt sứ điệp! Cũng nên nói thêm rằng lời giải thích cho việc Phật kỳ được phổ cập tức khắc ở Nhật là ở chỗ khi vừa nhìn thấy lá cờ, các tăng sĩ Nhật đã tra cứu kinh điển của chính họ và thấy rằng màu sắc của các [191] sọc dọc y hệt như được mô tả trong đó về những màu được thấy trong hào quang của Đức Phật. Một số độc giả cũng có thể nhớ rằng Đặc sứ Tây Tạng bên Chính phủ Ấn Độ nói với tôi ở Darjeeling rằng đó là những màu của lá cờ Đạt-lai Lạt-ma. Các đồng nghiệp Phật tử ở Colombo của chúng tôi vì vậy đã khôn ngoan hơn họ tưởng khi gợi ý ý niệm về Buddhu râsâ cho Phật kỳ chung của các quốc gia.
CHAPTER XI—CHƯƠNG XI
TRAVELS AND LECTURES IN THE BRITISH ISLES—DU HÀNH VÀ DIỄN THUYẾT Ở CÁC ĐẢO ANH
(1889)
(1889)
I VERY often paste into my Diary visiting-cards of notable callers, small handbills of my lectures, specimens of admission tickets to our anniversaries, and such like mementos of current events, and find it sometimes useful and always interesting. For example, to those who know H. P. B. only as a name, and regard her as a sort of mysterious Priestess, it would be perhaps interesting to look at the card I am just turning to in the Diary of 1889:
Tôi rất thường dán vào Nhật ký các thiệp thăm của những vị khách đáng chú ý, các tờ rơi nhỏ của những buổi diễn thuyết của tôi, các mẫu vé vào cửa dự kỷ niệm hội của chúng ta, và những kỷ vật tương tự về các sự kiện thời sự, và thấy điều đó đôi khi hữu ích mà luôn thú vị. Chẳng hạn, với những ai chỉ biết H. P. B. như một cái tên và xem Bà như một dạng Nữ tư tế huyền bí, có lẽ sẽ thấy thú vị khi nhìn tấm thiệp mà tôi vừa lật tới trong Nhật ký năm 1889:
MADAME BLAVATSKY
MADAME BLAVATSKY
AT HOME
TIẾP KHÁCH TẠI GIA
Saturdays, 4 to 10 o’clock
Thứ Bảy, từ 4 đến 10 giờ
18 Lansdowne Road,
18 Lansdowne Road,
Notting Hill, W.
Notting Hill, W.
And this old one of the earliest days at Bombay:
Và tấm thiệp cũ này từ những ngày đầu ở Bombay:
[A CORONET]
[MỘT VƯƠNG MIỆN]
H. P. BLAVATSKY,
H. P. BLAVATSKY,
Corresponding Sec. of the Theosophical Society,
Thư ký Thông tín của Hội Thông Thiên Học,
New York,
New York,
Bombay
Bombay
[193]
[193]
There are many cards pasted in the Diary for that year, among them those of some of the most eminent statesmen, soldiers, civilians, and nobles of Japan, and, most conspicuous of all, the cards of the Chinese General and Chief Priests who visited me on board ship at Shanghai. These are on thin crimson paper, 3½[7] inches in size!
Có nhiều thiệp dán trong Nhật ký của năm ấy, trong đó có thiệp của một số chính khách, tướng lĩnh, quan dân sự và quý tộc lỗi lạc của Nhật Bản, và nổi bật hơn cả là các thiệp của Vị Tướng Trung Hoa và các Trụ trì đã thăm tôi trên tàu ở Shanghai. Những thiệp này in trên giấy mỏng màu đỏ thắm, cỡ 3½[7] inch!
On 1st October I left London for a short tour in Wales, during which I lectured at Merthyr Tydvil and Tenby, the audiences being, as I was told, unusually large. From the latter place I went on to Liverpool, where I had the joy of meeting my sister after a separation of eleven years. She was, in the earliest days of the T. S. in New York, a staunch friend and defender of H. P. B., one instance of her magnanimous loyalty having been her inducing her husband to take a flat in the same apartment house where we had our headquarters and residence, so that by her presence a stop might be put to the silly and malicious gossip that our personal relations were not of a proper character. For this unsuggested act of devotion I was ever afterwards grateful. We talked, walked, and drove, and saw the sights together and lived the past over again. One thing that gave us exquisite pleasure was an organ recital by Mr., afterwards Sir, W. T. Best, at St. George’s Hall. The great organ there, it will be remembered, has 8,000 pipes, and its tone and compass are magnificent. Under the master’s playing we were enraptured to hear the sounds of rolling and crashing thunder among [194] crags, the echoing fall of waters, the rush of winds, the cries of animals and songs of birds, the strains of musical instruments, and the soaring voices of men and women. We sat spell-bound, and sighed when the last note was played.
Ngày 1 tháng Mười tôi rời London cho một chuyến ngắn qua xứ Wales, trong đó tôi diễn thuyết ở Merthyr Tydvil và Tenby, khán giả như tôi được cho biết là đông bất thường. Từ nơi sau, tôi đi tiếp tới Liverpool, nơi tôi vui mừng gặp lại chị gái sau mười một năm xa cách. Vào những ngày rất đầu của Hội tại New York, Chị là một người bạn kiên định và là người bảo vệ H. P. B., một minh chứng cho lòng trung thành hào hiệp của Chị là việc Chị thuyết phục chồng thuê một căn hộ trong cùng tòa nhà chung cư nơi chúng tôi đặt trụ sở và cư trú, để nhờ có sự hiện diện của Chị mà chấm dứt những lời đàm tiếu ngớ ngẩn và độc địa rằng mối quan hệ cá nhân giữa chúng tôi không đứng đắn. Vì hành vi cống hiến không ai gợi ý ấy tôi mãi mãi biết ơn. Chúng tôi chuyện trò, đi dạo, đi xe, cùng ngắm cảnh và sống lại dĩ vãng. Một điều mang lại cho chúng tôi niềm hân hoan tuyệt mỹ là buổi độc tấu đàn organ của ông—về sau là Ngài—W. T. Best, tại St. George’s Hall. Cây đại phong cầm ở đó, như vẫn được nhớ, có 8.000 ống sáo, âm sắc và âm vực tuyệt mỹ. Dưới bàn tay bậc thầy, chúng tôi say đắm nghe những tiếng sấm lăn và sấm dội giữa [194] vách đá, tiếng nước đổ vang vọng, cơn gió ào ạt, tiếng kêu của loài vật và tiếng hót của chim muông, âm thanh của nhạc cụ, và giọng hát vút cao của những người nam và nữ. Chúng tôi ngồi như bị thôi miên, và thở dài khi nốt nhạc cuối cùng vang lên.
My next move was across the rough Irish Channel to Ireland, the unhappy land of the lightest-hearted people in the world. On arrival at Dublin my ever esteemed friend, Mr. F. J. Dick, took me to his house, and, like all our local members, showed me every possible kindness. I found in the Branch T. S. some very earnest and thoughtful men and women, eager to know the truth and brave enough to proclaim it at every hazard. On the 14th, in the evening, I lectured in the “Antient Concert Rooms” on the locally revolutionary subject, “Have We Lived on Earth Before?” Whether because of it or not, the place was crowded, and many were turned away from the doors. The Dublin papers had their say about it, and the Jarvey, or local Punch, printed some funny verses that set the town laughing. But the criticisms also set many to thinking, and strengthened our movement; which being so, the jesting did not matter in the least. Some public speakers do not realise that the only fatal weapon to fear is that of silence; if one’s book, article, lecture, concert, or play is left unnoticed, that is bad; abuse, however truculent, is almost as beneficial as praise—much better than flattery. Of course some unkind things were said against us, but what else could have been anticipated from [195] the Irish Press? Yet the Methodist Times showed an unexpected generosity when it said:
Bước kế tiếp của tôi là vượt qua eo biển Irish Channel gồ ghề để tới Ireland, xứ sở bất hạnh của những con người có trái tim hồn nhiên nhất thế gian. Tới Dublin, người bạn luôn được tôi kính trọng, ông F. J. Dick, đưa tôi về nhà ông, và như tất cả hội viên địa phương của chúng tôi, dành cho tôi mọi sự tử tế có thể. Tôi nhận ra trong Chi bộ T. S. có những người nam và nữ rất tha thiết và sâu nghĩ, khao khát biết chân lý và can đảm tuyên xưng nó bằng mọi giá. Tối ngày 14, tôi diễn thuyết tại “Antient Concert Rooms” về đề tài mang tính cách mạng ở địa phương, “Chúng ta đã từng sống trên Đất này chưa?” Có phải vì vậy hay không, mà nơi ấy chật kín, và nhiều người phải quay đi từ cửa. Báo chí Dublin nói lên tiếng nói của họ, và tờ Jarvey, hay Punch địa phương, in những vần thơ dí dỏm làm cả thành phố bật cười. Nhưng các lời bình phẩm cũng khiến nhiều người suy nghĩ, và làm mạnh thêm phong trào của chúng tôi; nếu vậy, lời đùa cợt chẳng hề gì. Một số diễn giả công cộng không nhận ra rằng vũ khí chí tử duy nhất phải sợ là sự im lặng; nếu cuốn sách, bài báo, bài diễn thuyết, buổi hòa nhạc hay vở kịch của ai đó bị bỏ bẵng, thì đó mới là điều tệ; sự công kích, dù kịch liệt, hầu như có lợi chẳng kém lời khen ngợi—và tốt hơn nhiều so với nịnh bợ. Dĩ nhiên những lời không tử tế đã được nói ra chống lại chúng tôi, nhưng còn có thể mong đợi gì khác từ [195] báo chí Ireland? Tuy vậy, tờ Methodist Times đã tỏ ra rộng lượng bất ngờ khi viết:
“Dublin is being honored by a visit from Colonel Olcott, the President of the Theosophical Society. There has been a Lodge of the Society meeting in the city for some time, and it is said to number in its membership many students of Trinity College. Whether the President’s visit will win adherents for Theosophy remains to be seen; but his lectures have roused much controversy, and public attention is being called to the movement.”
“Dublin đang được vinh dự đón tiếp Đại tá Olcott, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học. Tại thành phố này đã có một Hội Quán của Hội nhóm họp một thời gian, và người ta nói rằng trong hội viên có nhiều sinh viên của Trinity College. Liệu chuyến thăm của Chủ tịch có giành về cho Thông Thiên Học những người ủng hộ hay không còn phải chờ xem; nhưng các bài diễn thuyết của Ông đã khơi nhiều tranh luận, và công chúng đang được kêu gọi chú ý đến phong trào.”
With Mr. B. Keightley, who had accompanied me from England, I next went to Limerick, but nearly missed arriving in time for my advertised lecture. A stupid railway porter so misdirected me that at a certain junction we were being carried away towards Cork, and had got as far as Blarney in the wrong train before we could turn back. Of course, no lover of Irish humor would miss the chance of visiting the famous Blarney Castle, although it was raining, and we had to tramp through the mud to it, so we went, and came away satisfied. We got to Limerick in time to eat something at Mr. Gibson’s house and make change of dress before the lecture, which was on “Among the Orientals”. The next day we regretfully left our friends and returned to Dublin. On the 17th I went by a fast train, in four hours, to Belfast, and lectured in Ulster Minor Hall to a most thoughtful audience, taking the subject of Reincarnation, under the same title as in Dublin. Among the hearers were [196] a good many undergraduates who took copious notes. The Rev. J. C. Street, an Unitarian preacher, of great local fame, made an excellent presiding officer, and nothing could have been fairer than the tone of his introductory and closing remarks. The Northern Whig, the leading paper, I believe, in the North of Ireland, contained the following report of the proceedings:
Cùng ông B. Keightley, người tháp tùng tôi từ Anh, tôi đi tiếp tới Limerick, nhưng suýt trễ giờ cho buổi diễn thuyết đã quảng cáo. Một nhân viên nhà ga vụng về chỉ dẫn sai khiến tôi tại một ga nối tuyến bị đưa tuốt về hướng Cork, và đã chạy xa tới tận Blarney trên một chuyến tàu sai trước khi có thể quay lại. Dĩ nhiên, chẳng ai yêu mến óc hài hước Ireland lại bỏ lỡ cơ hội thăm tòa lâu đài Blarney danh tiếng, dù trời mưa và chúng tôi phải lội bùn tới đó, nên chúng tôi đi, và ra về mãn nguyện. Chúng tôi kịp tới Limerick để ăn chút gì ở nhà ông Gibson và thay đồ trước buổi diễn thuyết, đề tài là “Giữa người Đông phương”. Hôm sau, chúng tôi rời bạn bè trong luyến tiếc và trở lại Dublin. Ngày 17, tôi đi một chuyến tàu nhanh, trong bốn giờ, tới Belfast, và diễn thuyết tại Ulster Minor Hall trước một khán giả rất nhiều suy tư, lấy đề tài Tái sinh, dưới cùng đầu đề như ở Dublin. Trong số thính giả [196] có khá nhiều sinh viên đại học ghi chép cẩn thận. Mục sư J. C. Street, một nhà giảng đạo Nhất nguyên, rất lừng danh địa phương, làm chủ tọa tuyệt hảo, và không gì công bằng hơn giọng điệu của ông trong các lời dẫn nhập và bế mạc. Tờ Northern Whig, tôi tin là tờ báo hàng đầu ở Bắc Ireland, đăng bản tường thuật sau:
“The Ulster Minor Hall was very well filled last evening, when Colonel Henry S. Olcott, President of the Theosophical Society, lectured on the above subject. From the composition of the audience, it was evident that curiosity to hear the tenets of the non-fashionable cult expounded by so eminent an authority as Colonel Olcott was the leading motive which had brought them together. There was a fair representation of local scientific men, including Professor Everett, and there were also several clergymen, among whom were Rev. Dr. A. C. Murphy, Rev. Dr. Magee (Dublin), Rev. W. R. L. Kinahan, and Rev. J. Bell. The Secularist Society were in strong force, as was also the student element—divinity and otherwise—while not a few ladies were among the attendance. Colonel Olcott, an elderly gentleman with a fine head and a commanding presence, was introduced by Rev. Mr. Street, who was his sole companion on the platform. The lecturer’s style was fluent and forcible, yet quiet withal, and he dealt with his subject simply in an explanatory—never in a declamatory—manner. His brief history of the origin and progress of the [197] Theosophical Society; and his still briefer treatment of the theory of pre-incarnation, was given with the air of a man who had an immense store of power in reserve. At the conclusion of the lecture a number of questions, more or less pertinent to the subject dealt with, were asked by different members of the audience, and answered by Colonel Olcott. It is not very probable that the Theosophical Society will recruit its membership very heavily from Belfast; but, however this may be, the Society could scarcely have a more able and courteous pioneer to represent them amongst us than their President.
“Tối qua, Ulster Minor Hall chật kín khi Đại tá Henry S. Olcott, Chủ tịch Hội Thông Thiên Học, diễn thuyết về đề tài trên. Xét thành phần thính giả, rõ ràng là sự tò mò muốn nghe các tín điều của một giáo phái không thời thượng do chính một nhà uyên thâm như Đại tá Olcott giảng giải là động lực chính dẫn họ đến đây. Có sự hiện diện khá đông đảo của giới khoa học địa phương, trong đó có Giáo sư Everett, và cũng có nhiều giáo sĩ, gồm Mục sư Tiến sĩ A. C. Murphy, Mục sư Tiến sĩ Magee (Dublin), Mục sư W. R. L. Kinahan, và Mục sư J. Bell. Hội Thế tục hiện diện đông đảo, cũng như thành phần sinh viên—thần học và các ngành khác—trong khi cũng có không ít quý bà tham dự. Đại tá Olcott, một vị cao niên có cục đầu đẹp và diện mạo uy nghi, được Mục sư Street giới thiệu, người là đồng bạn duy nhất của ông trên diễn đàn. Lối diễn thuyết của diễn giả lưu loát và mạnh mẽ, nhưng vẫn điềm đạm, và ông xử lý đề tài một cách thuần giải thích—không hề hùng biện. Lược sử ngắn gọn của ông về nguồn gốc và tiến trình [197] của Hội Thông Thiên Học; và phần xử lý còn ngắn gọn hơn về thuyết tiền-thân, được trình bày với phong thái của một người còn dồi dào uy lực để dành. Kết thúc bài diễn thuyết, nhiều câu hỏi, ít nhiều liên quan đề tài, được các thính giả khác nhau nêu ra và được Đại tá Olcott trả lời. Khó mà tin Hội Thông Thiên Học sẽ chiêu mộ được nhiều hội viên lắm ở Belfast; nhưng dẫu thế nào, Hội khó có được một sứ giả tiên phong nào vừa tài năng vừa nhã nhặn hơn vị Chủ tịch của họ.
“Rev. J. C. Street, in taking the chair, said he had been asked to do so by the Branch in Dublin, as there was no local representation of the Theosophical Society in Belfast. He was not himself a member of the organisation, and, until a comparatively recent date, he had been unaware even of its existence. He owed his first acquaintance with its objects and aims to the book published by Mrs. Besant, Why I Became a Theosophist; and last Sunday, in his own church, he had referred to the subject of that book at some length, quite independently, however, of any connection with Colonel Olcott’s visit to Belfast. After all, therefore, it was not, perhaps, inappropriate that he should have been asked to preside that evening.”
“Mục sư J. C. Street, khi nhận ghế chủ tọa, nói ông được Chi bộ ở Dublin thỉnh cầu vì Belfast không có đại diện địa phương của Hội Thông Thiên Học. Bản thân ông không phải là hội viên của tổ chức này, và cho đến gần đây, ông còn chưa biết tới sự hiện hữu của nó. Ông biết lần đầu về mục đích và hoài bão của Hội là nhờ cuốn sách của bà Besant, Vì sao tôi trở thành một nhà Thông Thiên; và Chủ nhật vừa rồi, tại chính nhà thờ của mình, ông đã đề cập đến chủ đề của cuốn sách ấy khá dài, hoàn toàn độc lập, tuy nhiên, với bất kỳ liên hệ nào đến chuyến thăm Belfast của Đại tá Olcott. Vì thế, không phải là không thích hợp khi ông được mời chủ tọa tối nay.”
We had a still greater surprise in store for the prejudiced public; it was this:
Chúng tôi còn một cú bất ngờ lớn hơn dành cho công chúng đầy thiên kiến; ấy là:
Lepracaun! Banshee! Deence She! Matha de Danaun!
Lepracaun! Banshee! Deence She! Matha de Danaun!
[198]
[198]
A LECTURE
MỘT BÀI DIỄN THUYẾT
ENTITLED
MANG TÊN
“THE IRISH FAIRIES SCIENTIFICALLY CONSIDERED,”
“CÁC THẦN TIÊN IRELAND DƯỚI CÁI NHÌN KHOA HỌC,”
will (by special request) be delivered by
sẽ (theo thỉnh cầu đặc biệt) được trình bày bởi
COLONEL OLCOTT
ĐẠI TÁ OLCOTT
(President of the Theosophical Society)
(Chủ tịch Hội Thông Thiên Học)
On Monday evening, 21st October, at eight o’clock, in the
Vào tối Thứ Hai, ngày 21 tháng Mười, lúc tám giờ, tại
ANTIENT CONCERT ROOMS,
ANTIENT CONCERT ROOMS,
Great Brunswick Street.
Great Brunswick Street.
_______
_______
“Lay your ear close to the hill,
“Áp tai bạn sát sườn đồi,
Do you not catch the tiny clamor,
Không nghe rộn ràng lảnh lót
Busy click of an elfin hammer,
Tiếng búa lùn-cỏ lách cách,
Voice of the Lepracaun singing shrill
Giọng chàng Lepracaun véo von
As he merrily plies his trade?”
Say sưa vừa ca vừa rèn?”
This was said to be the first time that this most popular of Irish beliefs—superstitions, the conceited ignorants call it—had been handled in this serious manner. The Daily News (London) gave an editorial column to it, and said that unquestionably I must be a man of moral courage to stand up and defend a belief that it had been so long the fashion to laugh at—or words to that effect. The fact is, I wanted to give the tens of thousands of good people who secretly cherished this charming tradition the comfort of knowing that, under the classification of Nature Spirits, or Elementals, the existence of their fairies is believed in by a vast majority of mankind. To prepare for the lecture, I spent as much time as I could at the [199] National Library, in Kildare Street, looking up every book that treated the subject. I found most of the authors who pretended to speak in the name of Science displaying as much ignorance as prejudice; and one—I think it was Grant Allen—remarked that “the Irish fairies went out when the Board Schoolmaster opened his doors”. He did not see that the easy way to account for this fact is that the cultivation of the lower rationalistic faculty tends to cut off the finer soul-perceptions which put man in close touch with the finer forces of Nature, and to destroy whatever clairvoyant faculty he may have inherited. So that while the “fairies” do vanish, it is only from the sight of the so-called educated brain, the unspoiled peasantry enjoying now, as they ever did, the realisation of the next subtler plane of consciousness. [21] One thing struck me, viz., that the Isle of Man is said by tradition to have been a great centre of magic and magicians; and when I put this in connection with the mysterious arms of Man, three bent human legs united at the [200] centre, I recognised it as a form of the Svastika deliberately adopted by the old Manx occultists, probably from still more ancient teachers, to preserve and hand down the concept of the action of spirit in matter which, in the Svastika, forms a component of the T. S. Seal. I had a large and attentive audience at the lecture, and the vote of thanks at the close was moved by that great Keltic scholar and authority, Douglas Hyde, whose words of praise were precious. Mr. W. Q. Judge, who was in Ireland on a visit to his relatives, was present.
Người ta bảo đây là lần đầu tiên tín niệm phổ cập nhất của người Ireland—kẻ tự phụ ngu dốt thì gọi là mê tín—được xử lý theo lối nghiêm túc như vậy. Tờ Daily News (London) dành hẳn một cột xã luận cho đề tài, và nói rằng không nghi ngờ gì tôi phải là người có can đảm đạo đức mới dám đứng lên bênh vực một tín niệm mà bấy lâu nay thiên hạ vẫn quen cười cợt—đại ý như vậy. Sự thật là tôi muốn đem đến niềm an ủi cho hàng chục ngàn người tử tế đang âm thầm giữ gìn truyền thống đáng yêu này, rằng, dưới phân loại các Tinh linh Tự nhiên, hay Hành khí, sự hiện hữu của các thần tiên của họ được đa số nhân loại tin nhận. Để chuẩn bị cho bài diễn thuyết, tôi dành nhiều thì giờ nhất có thể tại [199] Thư viện Quốc gia, ở phố Kildare, tra cứu mọi cuốn sách bàn đến chủ đề. Tôi thấy phần lớn các tác giả tự nhân danh Khoa học lại bộc lộ nhiều vô tri không kém thiên kiến; và một người—tôi nghĩ là Grant Allen—nhận xét rằng “các thần tiên Ireland biến mất khi người thầy trường phổ thông mở cửa lớp”. Ông ta không thấy rằng cách giải thích dễ nhất cho sự kiện này là việc nuôi dưỡng thái quá năng lực lý tính cấp thấp có xu hướng cắt đứt các tri giác tinh tế hơn của linh hồn vốn đặt con người vào tiếp xúc thân thiết với các lực tinh vi của Tự nhiên, và phá hủy bất cứ khả năng thông nhãn nào mà người ta có thể đã thừa hưởng. Thành thử, trong khi “thần tiên” đúng là biến mất, thì đó chỉ là biến khỏi cặp mắt của bộ óc gọi là có học, còn giới nông dân chưa bị “làm hư” thì nay vẫn như xưa, hưởng nếm [200] sự thực chứng về cảnh giới tinh tế hơn của tâm thức. Một điều khiến tôi chú ý, ấy là Đảo Man theo truyền thuyết từng là trung tâm lớn của thuật pháp và pháp sư; và khi tôi đặt điều này bên cạnh huy hiệu bí ẩn của Man, ba chân người co lại và gắn nhau ở tâm điểm, tôi nhận ra đó là một dạng của chữ Svastika được các nhà huyền thuật Manx xưa cố ý chọn lấy, có lẽ từ các bậc thầy cổ xưa hơn nữa, nhằm lưu giữ và truyền lại khái niệm về hành động của tinh thần trong vật chất, điều mà trong hình Svastika tạo thành một thành tố của Ấn triện Hội T. S. Tôi có một khán phòng đông và chú ý trong buổi diễn thuyết, và lời cảm ơn bế mạc do nhà học giả và thẩm quyền lớn về Celt, Douglas Hyde, đề xuất, những lời khen của ông thật quý báu. Ông W. Q. Judge, lúc ấy đang thăm thân nhân ở Ireland, cũng có mặt.
Christendom, and only succumbing when the “Board Schoolmaster” opens his doors, and, as above remarked, drowns intuition by the abnormal stimulus of the intellect of the lower Manas. Blackwood’s writer says:
Thế giới Kitô giáo, và chỉ chịu khuất phục khi người “thầy trường phổ thông” mở cửa lớp, và, như đã nói, nhấn chìm trực giác bằng sự kích thích bất thường của trí năng của hạ trí. Tác giả trên tạp chí Blackwood viết:
[201]
[201]
The next day I returned to Liverpool after a heart-searching fit of seasickness, for the provocation of which this uneasy stretch of water is unequalled if we except that one to be crossed between Tuticorin and Colombo on those cockleshells, the “Aska” and “Amra,” that the B. I. S. N. Co. provide for their passenger victims.
Hôm sau tôi trở lại Liverpool sau một cơn say sóng cào gan, mà hiếm có thủy trình nào chọc tức được như khúc nước này, nếu không kể đoạn vượt giữa Tuticorin và Colombo trên những chiếc “vỏ sò” là các tàu “Aska” và “Amra” mà hãng B. I. S. N. cung ứng cho những hành khách-nạn nhân của mình.
My sister rejoined me in London, and we had a week or so more together.
Chị gái tôi lại hội ngộ cùng tôi ở London, và chúng tôi còn thêm khoảng một tuần nữa bên nhau.
I was plied with an unusual number of questions after a lecture at Birmingham, in the Masonic Hall—before a large audience. This “heckling” is almost unknown in India, where the audience, after delivering their volleys of applause, let one quietly depart; but it is, I think, a useful custom, for it often makes one see his subject in new lights, and gives him the chance to drive home his arguments by fresh illustrations and altered presentations. It usually happens that the answering of these questions takes up as much time as the original lecture.
Tôi bị “tra khảo” bằng một số câu hỏi nhiều bất thường sau một bài nói ở Birmingham, tại Hội trường Tam điểm—trước một khán giả đông đảo. Lối “chất vấn” này hầu như không thấy ở Ấn Độ, nơi cử tọa, sau khi nổ những tràng vỗ tay, để người ta yên lặng rời đi; nhưng tôi nghĩ đó là một tập quán hữu ích, vì nó thường khiến người ta nhìn đề tài dưới những ánh sáng mới, và cho cơ hội để đóng đinh lập luận bằng các minh họa mới và cách trình bày khác. Thường thì việc trả lời những câu hỏi ấy mất chừng từng ấy thời gian như bài diễn thuyết gốc.
[202]
[202]
On 4th November I lectured at Lee, Staffordshire, and the next day at Westminster Town Hall, London. On Wednesday, M. A. Oxon, C. C. Massey, intimate friends of fifteen years, and I dined together, and spent a delightful evening in varied talk about persons and things, chiefly Spiritualism and Theosophy. Oxon showed me the cover of one of the mysteriously diverted letters that I describe in the first volume of these memoirs; letters addressed to me at New York from various parts of the world, but by some occult agency arrested in transit, and dropped on the sorters’ tables in the Philadelphia G. P.O., by them stamped on the back and delivered to me at H. P. B.’s house by the city postman, without having passed through the New York G. P.O., or being stamped in the addressed city. This particular one was posted at Hartford (Conn.) and bore the stamps of Hartford and Philadelphia, but not that of New York, although addressed to my office in that city. I had sent the cover to Oxon as a curiosity, as I did all the others received to other friends and correspondents.
Ngày 4 tháng Mười Một tôi diễn thuyết tại Lee, Staffordshire, và hôm sau ở Westminster Town Hall, London. Thứ Tư, M. A. Oxon, C. C. Massey, đôi bạn thân mười lăm năm, và tôi cùng ăn tối, và có một buổi tối thú vị, chuyện trò đủ chuyện người và việc, chủ yếu là Thần linh học và Thông Thiên Học. Oxon cho tôi xem bì thư của một trong những lá thư bị đổi hướng một cách thần bí mà tôi đã tả ở tập đầu hồi ký này; những lá thư gửi cho tôi ở New York từ khắp nơi trên thế giới, nhưng bằng cơ năng huyền bí nào đó đã bị chặn giữa đường, rơi xuống bàn phân loại ở Bưu điện Trung ương (G.P.O.) Philadelphia, được họ đóng dấu mặt sau và phát cho tôi tại nhà H. P. B. bởi bưu tá thành phố, mà không hề đi qua Bưu điện Trung ương New York hay bị đóng dấu ở thành phố nhận. Lá thư đặc biệt này gửi từ Hartford (Conn.) và mang dấu của Hartford và Philadelphia, chứ không có dấu New York, dù gửi tới văn phòng tôi ở thành phố đó. Tôi đã gửi bì thư cho Oxon như một vật lạ, như tôi vẫn gửi tất cả bì thư nhận được cho các bạn bè và thân hữu khác.
Among my visits of the month was one to Middleton Park, the country-seat of my friends the Earl and Countess of Jersey, where, with other notabilities, I had the pleasure of meeting the recently appointed Governor of Madras, now Lord Northcote of Exeter, and Lady Northcote. I was glad to hear him say that the Conservative party as a whole had great respect for Mr. Bradlaugh for his abilities and his powerful character; they found him also always well prepared [203] for the debates in which he might engage, having evidently studied out his subject thoroughly and having his facts ready for orderly presentation. They would have been but too glad to have won him over to their side, had that been possible. On Sunday our house party went to the quaint old village church, full of ancient reminiscences, and I was greatly interested in the, to me, unique experience.
Trong những chuyến thăm viếng tháng ấy có một chuyến đến Middleton Park, dinh thự ở thôn dã của đôi bạn tôi là Bá tước và Phu nhân Jersey, nơi, cùng với các nhân vật đáng chú ý khác, tôi hân hạnh gặp vị Toàn quyền mới bổ nhiệm của Madras, nay là Lord Northcote of Exeter, và Phu nhân Northcote. Tôi vui khi nghe ông nói rằng đảng Bảo thủ nói chung rất tôn trọng ông Bradlaugh vì tài năng và bản lĩnh mạnh mẽ; họ cũng thấy ông luôn chuẩn bị [203] rất tốt cho các cuộc tranh luận mà ông tham gia, rõ ràng là đã nghiên cứu kỹ lưỡng đề tài và có sẵn dữ kiện để trình bày mạch lạc. Họ sẽ rất mừng nếu có thể chiêu mộ ông về phe họ, nếu điều đó có thể. Chủ nhật, cả nhóm khách trong nhà chúng tôi đi nhà thờ làng cổ kính, đầy những hoài niệm xưa, và tôi rất thích thú với trải nghiệm độc đáo—với tôi—ấy.
Returned to town, I had a serious consultation with Massey, in his capacity of a barrister, as to the expediency of allowing H. P. B. to go into Court to prosecute some of her slanderers. He most emphatically protested against it, saying that, however strong a case she might have, there was but faint chance of getting a verdict from the average jury or judge: prejudices were entirely too strong: it was better for her to continue to bear all in silence. This was my opinion also.
Trở lại thành, tôi có một cuộc tham vấn nghiêm túc với Massey, với tư cách luật sư, về sự khôn ngoan hay không nếu để H. P. B. ra tòa kiện một số kẻ phỉ báng Bà. Ông phản đối rất quyết liệt, nói rằng, dù vụ của Bà có mạnh đến đâu, thì cũng ít có cơ trúng án từ một bồi thẩm hay thẩm phán trung bình: thiên kiến quá mạnh; tốt hơn là Bà tiếp tục nhẫn nhịn mà im lặng. Đó cũng là ý kiến của tôi.
Dr. Lloyd Tuckey, now so widely known as an authority on therapeutic hypnotism, had me to dinner one day, and together we tried an instructive experiment. A certain subject whom he had found readily responsive to almost every suggestion he had made to her when hypnotised had suddenly become insensitive, and he could no longer control her mental action. The problem was to be solved, and we were to explore somewhat new ground. After much talk together, I found that her change dated from a certain former occasion when a lady and the Doctor were rather amusing themselves in the presence of the hypnotised, and presumably insensible, subject, with something [204] rather ludicrous in her expression or appearance. It at once struck me that very likely the hypnosis had not been deep enough to completely obliterate external consciousness; and that resenting, as almost every woman will, the idea of affording cause of laughter to another woman in the presence of a physician whom she held in high esteem, and whose esteem she coveted, she had created in herself the rooted determination never again to make it possible for her to be thrown into a state where she should not retain her perfect self-control The Doctor kindly allowed me to try if I could not remove this prepossession by kind discussion, so I sent him out of the room and remained with the subject alone. I appealed to her natural benevolence of heart to do what she could to make the Doctor better able to treat the sick by increasing his knowledge of abnormal nervous states, representing as a highly meritorious act her willingness to share in the merit of such altruism. At first she shook her head and set her lips, but little by little the pure springs of her kindly ideal of helping the sick and suffering were touched, and she consented to once more make herself passive to the Doctor’s suggestions. He then returned from the other room, hypnotised her, and she was as responsive as before. Has this not a strong bearing upon the question of the perversion of the moral sense in hypnosis at the pleasure of the experimenter? And yet experiments which I saw made by Professor Bernheim at the Nancy Civil Hospital seem to strengthen the view that a really good hypnotic subject can keep [205] no liberty of impulse against the will of an experienced operator. It is a puzzle still unsolved.
Bác sĩ Lloyd Tuckey, nay được biết rộng rãi là một thẩm quyền về thôi miên trị liệu, đã mời tôi ăn tối một hôm, và chúng tôi cùng thử một thí nghiệm bổ ích. Một đối tượng mà ông thấy trước kia đáp ứng rất dễ dàng hầu như mọi gợi ý mà ông đưa ra khi thôi miên cô ấy bỗng trở nên vô cảm, và ông không còn kiểm soát được hoạt động tâm trí của cô nữa. Vấn đề cần giải, và chúng tôi sẽ thăm dò phần đất khá mới. Sau nhiều trao đổi, tôi phát hiện rằng sự đổi khác của cô bắt đầu từ một lần trước kia khi một bà và Bác sĩ đang khá là mua vui trước mặt đối tượng bị thôi miên, và giả định là vô cảm, bằng điều gì đó hơi khôi hài trong vẻ mặt hay dung mạo của cô. Lập tức tôi nghĩ rất có thể mức thôi miên chưa đủ sâu để xóa hẳn nhận thức ngoại giới; và rằng, cũng như hầu như mọi phụ nữ đều vậy, cô đã phật ý trước ý tưởng làm trò cười cho một phụ nữ khác ngay trước mặt một y sĩ mà cô rất kính trọng và mong chiếm sự kính trọng ấy, nên cô đã nhen trong mình quyết tâm ăn sâu là không bao giờ để tái diễn tình trạng bị đưa vào một trạng thái mà cô không giữ được tự chủ hoàn toàn. Bác sĩ tốt bụng cho phép tôi thử xem có thể xóa định kiến ấy bằng sự thảo luận thiện ý không, nên tôi mời ông ra khỏi phòng và ở lại với đối tượng một mình. Tôi đánh thức nơi cô lòng nhân hậu tự nhiên để làm điều có thể giúp Bác sĩ điều trị người bệnh tốt hơn bằng cách gia tăng kiến thức của ông về các trạng thái thần kinh bất thường, trình bày sự sẵn lòng cùng gánh công đức của loại vị tha như thế như một việc làm rất đáng khen. Lúc đầu cô lắc đầu và mím môi, nhưng dần dần các mạch nguồn trong trẻo của lý tưởng giúp người bệnh, người khổ được chạm tới, và cô ưng thuận một lần nữa để mình trở nên thụ động trước các gợi ý của Bác sĩ. Rồi ông quay lại từ phòng bên, thôi miên cô, và cô lại đáp ứng như xưa. Việc này há không có hệ quan trọng mạnh mẽ đối với vấn đề băng hoại cảm quan đạo đức trong trạng thái thôi miên theo ý thích của người thí nghiệm đó sao? Tuy nhiên, những thí nghiệm mà tôi thấy Giáo sư Bernheim thực hiện ở Bệnh viện Dân sự Nancy dường như củng cố quan điểm rằng một đối tượng thôi miên thực sự tốt thì không giữ được tự do xung năng nào chống lại ý chí của một người điều khiển lão luyện. Đây vẫn là một ẩn đề chưa giải.
Speaking of hypnotism recalls an evening in H. P. B.’s sitting-room at Lansdowne Road, when Carl Hansen, the Danish professional hypnotist, made some experiments of an edifying nature. He is one of the most successful practitioners in the world, and, in fact, so successful have his demonstrations been that more than one Government has forbidden him to give them in public. It was, I think, on the evening above referred to that one of the company present—Mrs. Besant—was made to seem to the subject to have disappeared from the room. Although she stood directly in front of him and spoke to him, he seemed neither to see nor hear her. She took from H. P. B.’s whist-table a handkerchief and dangled it by one corner before the subject’s eyes, but he did not see her hand holding it, though he did see the handkerchief, and was much amused at its self-suspension in the air. Turning to H. P. B., he said: “Madame, you must be doing some magic, for I see a handkerchief out there with nothing to hold it up: what is it?” Mrs. Besant then held against her back a playing-card, drawn at random and face downward from a pack, and again the subject saw it, and not Mrs. Besant: her body was transparent to his psychical vision. This was an astounding experiment, for neither Mrs. Besant nor any of the others in the room had knowledge of the value of the card until the subject called it out, and we each verified his accuracy. If Hansen had seen it [206] first, then we might presume that it was a case of telepathy, but he did not. Let the Materialist explain the phenomenon—if he can. A fortnight later, I presided at a private reception and conversazione given him by a lady friend, at which he made other excellent demonstrations. Among them was this: He applied to a person’s right upper arm a small silver match-box, telling him that the skin beneath it would become red and inflamed, but the corresponding tract on the other arm would be perfectly insensible to touch or pricking. The experiment was a perfect success at the first trial. At this, as at two previous soirées at which I had met him, he suggested that a certain one of the company would become invisible to the subject; and so the latter, when asked to count the persons present, invariably failed to count the one designated, or to see anything but empty space at the point where the person was actually standing. His bodily vision was inhibited as to that one individual, but all the others were visible to him.
Nói đến thuật thôi miên khiến tôi nhớ lại một buổi tối trong phòng tiếp khách của H. P. B. ở đường Lansdowne, khi Carl Hansen, một nhà thôi miên chuyên nghiệp người Đan Mạch, đã thực hiện vài thí nghiệm mang tính giáo huấn. Ông là một trong những người hành nghề thành công nhất thế giới, và, trên thực tế, các buổi biểu diễn của ông thành công đến mức đã có hơn một chính phủ cấm ông biểu diễn trước công chúng. Tôi nghĩ chính vào buổi tối vừa nhắc đến đó, một người trong số những người có mặt—Bà Besant—đã bị làm cho dường như biến mất khỏi căn phòng trước mắt người chịu thôi miên. Dù Bà đứng ngay trước mặt anh ta và nói chuyện với anh ta, anh dường như chẳng nhìn thấy cũng chẳng nghe thấy Bà. Bà lấy từ bàn đánh whist của H. P. B. một chiếc khăn tay và cầm lủng lẳng nó bằng một góc trước mắt người chịu thôi miên, nhưng anh không thấy bàn tay Bà đang cầm khăn, dù anh có thấy chiếc khăn tay, và còn rất thích thú trước cảnh nó tự treo lơ lửng trong không trung. Quay sang H. P. B., anh ta nói: “Thưa Bà, hẳn là Bà đang làm phép thuật gì đó, vì tôi thấy ngoài kia có một chiếc khăn tay mà chẳng có gì giữ nó: đó là cái gì vậy?” Bà Besant sau đó để một lá bài dựa vào lưng mình, được rút ngẫu nhiên và để úp mặt từ một bộ bài, và lần nữa người chịu thôi miên thấy nó, chứ không thấy Bà Besant: thân thể Bà đối với thị kiến tâm linh của anh là trong suốt. Đây là một thí nghiệm gây sửng sốt, vì cả Bà Besant lẫn những người khác trong phòng đều không biết giá trị của lá bài cho đến khi người chịu thôi miên đọc lên, và từng người trong chúng tôi đều kiểm chứng sự chính xác của anh ta. Nếu Hansen đã thấy nó [206] trước, thì chúng ta có thể giả định đó là một trường hợp viễn cảm, nhưng ông đã không thấy. Xin mời Nhà duy vật giải thích hiện tượng này—nếu ông ta có thể. Nửa tháng sau, tôi chủ tọa một buổi tiếp tân riêng và buổi đàm đạo do một nữ thân hữu tổ chức cho ông, tại đó ông thực hiện những màn trình diễn xuất sắc khác. Trong số đó có màn này: Ông áp một bao diêm bạc nhỏ lên phần trên cánh tay phải của một người, bảo rằng làn da bên dưới sẽ đỏ lên và viêm, nhưng vùng tương ứng trên cánh tay kia sẽ hoàn toàn không cảm giác với sờ chạm hay chích. Thí nghiệm thành công hoàn hảo ngay lần đầu. Trong buổi này, cũng như ở hai buổi tối trước đó nơi tôi đã gặp ông, ông đề nghị rằng một người nào đó trong đám sẽ trở nên vô hình đối với người chịu thôi miên; và thế là người này, khi được yêu cầu đếm số người hiện diện, luôn luôn bỏ sót người đã được chỉ định, hoặc chỉ thấy khoảng không trống rỗng ở vị trí nơi người ấy thực sự đang đứng. Thị giác thân xác của anh ta bị ức chế đối với riêng cá nhân đó, nhưng tất cả những người khác thì anh vẫn trông thấy.
A London paper having published a statement of its New York correspondent, early in October, to the effect that Dr. Coues had asserted that Madame Blavatsky had been expelled from the Theosophical Society, she addressed to the editor an amusingly combative letter, from which the following paragraphs are quoted:
Một tờ báo London đã đăng một tường thuật của phóng viên ở New York, vào đầu tháng Mười, nói rằng Bác sĩ Coues đã quả quyết Bà Blavatsky bị khai trừ khỏi Hội Thông Thiên Học, nên Bà đã gửi cho chủ bút một bức thư mang giọng điệu đấu biện khá khôi hài, và dưới đây là vài đoạn trích:
“If you would have the truth, then I may as well give it you now. Madame Blavatsky, as one of the [207] chief founders of the T. S., cannot be expelled from the Society, for several good reasons, the least of which is that there is no one in the Society having authority to do so—not even the President-Founder, Colonel Olcott—and in such a case Madame Blavatsky might, with as much good right, return the compliment and expel him. But as it is not likely that our President will ever become a lunatic, no such event threatens the Theosophical Society just now.
“Nếu ông muốn biết sự thật, vậy tôi có thể cho ông biết ngay bây giờ. Bà Blavatsky, là một trong số những [207] vị đồng sáng lập đứng đầu của Hội T. S., không thể bị khai trừ khỏi Hội, vì nhiều lý do xác đáng, mà nhỏ nhất trong số đó là chẳng có ai trong Hội có thẩm quyền làm việc ấy—ngay cả Chủ tịch-Sáng lập, Đại tá Olcott—và trong một trường hợp như vậy thì Bà Blavatsky, với quyền hạn ngang như thế, có thể đáp lễ và khai trừ ông ta. Nhưng vì rất khó có chuyện Chủ tịch của chúng ta lại trở thành kẻ điên, nên không có biến cố nào như vậy đang đe doạ Hội Thông Thiên Học vào lúc này.
“Let, then, the Yankee cock-and-bull story—just set afloat by its author, an ex-Theosophist, who WAS HIMSELF EXPELLED FROM our AMERICAN SECTION TWO MONTHS AGO FOR SLANDER, as the whole Theosophical Society knows—remain for what it is worth, and make the INITIATED readers merry.
“Vậy thì, câu chuyện bịa đặt kiểu Yankee—vừa được tung ra bởi chính tác giả của nó, một cựu hội viên Thông Thiên Học, KẺ CHÍNH BẢN THÂN ĐÃ BỊ KHAI TRỪ KHỎI PHÂN BỘ MỸ CỦA CHÚNG TÔI HAI THÁNG TRƯỚC VÌ TỘI VU KHỐNG, như cả Hội Thông Thiên Học đều biết—hãy cứ để nó có giá trị đúng như thế, và làm cho độc giả đã ĐƯỢC NHẬP MÔN được một phen vui thích.
“London, October 9.”
“London, ngày 9 tháng Mười.”
[The capitals are Madame Blavatsky’s.-ED.]
[Chữ in hoa là của Bà Blavatsky.-Ban biên tập.]
The comical picture she paints of the two Founders expelling each other reminds one of the equally amusing historical incident of the three Popes of unsavory memory—Gregory VI, Silvester III, and Benedict IX—who contended with each other in the eleventh century for the chair of St. Peter, hurled their bulls of excommunication at each other’s heads, and resorted to military force to sustain their several pretensions!
Bức tranh khôi hài Bà vẽ về cảnh hai vị Sáng lập khai trừ lẫn nhau khiến người ta nhớ lại một sự kiện lịch sử cũng vui không kém về ba vị Giáo hoàng có tiếng không tốt—Gregory VI, Silvester III và Benedict IX—những người đã tranh nhau vào thế kỷ XI chiếc ghế Thánh Phê-rô, ném sắc chỉ vạ tuyệt thông vào đầu nhau, và dùng cả vũ lực quân sự để chống lưng cho các đòi hỏi của mỗi bên!
As I could not return to India in time for the usual Convention, none was held in 1889, but in place of it a Conference at Bombay was arranged for and held.
Vì tôi không thể trở về Ấn Độ kịp dự Đại hội thường niên, nên năm 1889 đã không có Đại hội nào được tổ chức, mà thay vào đó là một Hội nghị tại Bombay được thu xếp và tiến hành.
[208]
[208]
There had been something like a deadlock occasioned by the passage of the unpopular Rules of 1888 and the unrest provoked by H. P. B.’s revolutionary action in Europe, but as the Report of the Conference (Theosophist, January, 1890) says: “The meeting was in every respect a remarkable success... One circumstance which greatly contributed to the good-feeling and cheerfulness of the Brothers in Conference was the news that New York, London, and Adyar were in future to pull together in unity and unison, and that, for the present at least, the disintegrating forces... had been overcome and silenced.” Our trusty veteran colleague, Judge N. D. Khandalvâlâ, occupied the chair, and conducted the business of the meeting with perfect and successful impartiality. The Conference recommended the retention of the policy of fees. At the close a very cordial vote of confidence in the Founders was passed by acclamation. As it mirrors the feeling of her colleagues towards H. P. B., and was a great solace to her in her retirement, I will quote it:
Đã có một tình trạng như bế tắc do việc thông qua những Quy luật 1888 không được lòng người và làn sóng xao động khơi lên bởi hành động mang tính cách mạng của H. P. B. ở châu Âu, nhưng như Bản Báo cáo của Hội nghị (Theosophist, Tháng Giêng, 1890) nói: “Cuộc họp đã thành công xuất sắc trên mọi phương diện... Một yếu tố đóng góp rất lớn vào bầu không khí thân thiện và phấn chấn của các Huynh đệ trong Hội nghị là tin tức rằng New York, London và Adyar từ nay sẽ cùng nhau kéo một hướng trong sự hợp nhất và đồng điệu, và rằng, ít nhất là hiện tại, các lực ly tán... đã bị khắc chế và làm câm lặng.” Vị đồng sự kỳ cựu đáng tin cậy của chúng ta, Thẩm phán N. D. Khandalvâlâ, giữ ghế chủ tọa, và điều khiển công việc của cuộc họp với sự vô tư hoàn hảo và thành công. Hội nghị khuyến nghị duy trì chính sách thu phí. Cuối buổi, một nghị quyết bỏ phiếu tín nhiệm rất nồng ấm dành cho các vị Sáng lập đã được thông qua bằng đồng thanh hoan hô. Vì nó phản chiếu tình cảm của đồng sự đối với H. P. B., và là niềm an ủi lớn cho Bà trong thời gian lui về ở ẩn, tôi xin dẫn lại:
“Resolved,—That this Conference of the Fellows of the Indian Section of the Theosophical Society regards with unfeigned indignation the malicious attempts made lately to injure the Society by cowardly attacks on Madame Blavatsky, who, as well as her equally devoted colleague Colonel Olcott, has freely given her whole energies for the past fifteen years to the establishment of a nucleus of Universal Brotherhood, and the revival of Eastern Philosophy and Religion.
“Quyết nghị,—Hội nghị này của các Huynh đệ thuộc Phân bộ Ấn Độ của Hội Thông Thiên Học bày tỏ sự phẫn nộ chân thành đối với những mưu toan hiểm độc gần đây nhằm làm tổn hại Hội bằng những đòn tấn công hèn hạ vào Bà Blavatsky, người mà cũng như vị đồng sự tận tụy không kém là Đại tá Olcott, đã hiến dâng trọn vẹn năng lực của mình suốt mười lăm năm qua để dựng lập một hạt nhân của Tình Huynh Đệ Đại Đồng, và khơi dậy Triết học và Tôn giáo Đông phương.
[209]
[209]
“The Conference wishes to convey to both the Founders of the Society the assurance of its most cordial and grateful recognition of the great services they have rendered to India, and are now rendering to the world at large.”
“Hội nghị mong chuyển đến cả hai vị Sáng lập của Hội lời bảo đảm về sự ghi nhận chân thành và biết ơn nhất đối với những công lao lớn lao mà các Ngài đã cống hiến cho Ấn Độ, và hiện đang cống hiến cho cả thế giới.”
An attempt was made to form a Ceylon Section, under, first, Mr. Leadbeater, next, C. F. Powell, and lastly, Dr. Daly, but it proved impracticable, and was finally abandoned. The Sinhalese are not much given to study, being rather practical than ideal, more workers than dreamers; besides which, they have no class like that of the Brahmins, who have a hereditary proclivity for philosophical and metaphysical speculation. Although Branches which we organised in 1880 are still active and turning out excellent work, it is altogether within the lines of Buddhism. They neither understand nor wish to understand the contents of other religious systems; and when they speak of themselves as Branches of our Society, it is always with this reservation, that they do their best for Buddhism and acknowledge the President-Founder as their principal adviser and leader—when anything particularly knotty has to be solved, or any great obstacle has to be cleared away.
Đã có một nỗ lực nhằm lập một Phân bộ Tích Lan, lần lượt do Ông Leadbeater, rồi C. F. Powell, và sau cùng là Bác sĩ Daly phụ trách, nhưng rốt cuộc tỏ ra không khả thi, và cuối cùng bị bỏ dở. Người Sinhala ít thiên về việc học, thiên về thực tế hơn là lý tưởng, làm nhiều hơn là mộng tưởng; ngoài ra, họ không có một giai tầng như Bà-la-môn, vốn có khuynh hướng di truyền đối với suy tư triết học và siêu hình. Tuy các Chi bộ mà chúng tôi tổ chức năm 1880 vẫn còn hoạt động và làm việc xuất sắc, nhưng tất cả đều nằm trọn trong phạm vi Phật giáo. Họ không hiểu cũng không muốn hiểu nội dung của các hệ tôn giáo khác; và khi họ tự xưng là Chi bộ của Hội chúng ta, thì luôn kèm theo mệnh đề bảo lưu này, rằng họ làm hết sức mình cho Phật giáo và thừa nhận Chủ tịch-Sáng lập là cố vấn và lãnh đạo chính của họ—khi cần giải quyết điều gì đó đặc biệt nan giải, hay phải tháo gỡ chướng ngại lớn lao nào đó.
In the month of December the Society lost a very important worker in Pandit N. Bhashyacharya, F.T.S., Director of the Adyar Library, who succumbed to blood poisoning. He was one of the best Sanskrit Pandits of India; wonderfully well read in that classical literature; a good English scholar; a public speaker [210] equally at home in four languages; a brave man and an enlightened reformer. He gave us his private collection of palm-leaf MSS., thus forming the nucleus of the now large and fine collection in the Adyar Library. A handsome commemorative tablet in chiselled brass has been placed in the Oriental section to his memory.
Vào tháng Mười Hai, Hội đã mất một cộng sự viên rất quan trọng là Pandit N. Bhashyacharya, F.T.S., Giám đốc Thư viện Adyar, người đã qua đời vì nhiễm độc huyết. Ông là một trong những Pandit tiếng Sanskrit xuất sắc nhất của Ấn Độ; uyên bác kỳ diệu về nền văn học kinh điển ấy; giỏi tiếng Anh; một diễn giả trước công chúng [210] có thể diễn thuyết thoải mái bằng bốn ngôn ngữ; một người dũng cảm và nhà cải cách sáng suốt. Ông đã trao cho chúng tôi bộ sưu tập bản thảo lá buôn riêng của mình, nhờ đó hình thành hạt nhân cho bộ sưu tập nay đã lớn và đẹp tại Thư viện Adyar. Một tấm bia kỷ niệm mỹ lệ bằng đồng chạm đã được đặt tại khu Đông phương để tưởng nhớ ông.
I was fortunate enough to make, during this visit, the acquaintance of the late Mrs. Louise Cotton, a successful palmist, and author of a handbook on the subject. She came one morning to see H. P. B., and read her palm and those of Mrs. Besant and myself all accurately. Yet, as I have elsewhere said, it seems to me as if this palm-reading partakes more than anything else of the nature of Psychometry, because I have noticed that the palmisters of India and those of the West are about equally successful although reading the hand-lines by two quite opposite systems. For instance, the Line of Life is traced downward towards the wrist in the one system, and upward from the wrist in the other. The same remark perhaps applies to readings by Phrenology, Physiognomy, and Buchanan’s Sarcognomy: far better results are obtained by one observer than by another equally skilled, because the one reads character as much by psychometrical faculty, and could be as successful if he read with closed eyes, whereas the other goes by the physical signs observable on the surface of the body. One evening, in 1885, being in London, I took tea with the Governor of Newgate Prison, in company with a dear old friend, Captain Edward Costello, formerly of the Rifle Brigade,
Tôi may mắn được dịp, trong chuyến thăm này, làm quen với cố Bà Louise Cotton, một nhà xem chỉ tay mát tay, và là tác giả một cuốn sổ tay về đề tài này. Bà đến gặp H. P. B. vào một buổi sáng, và xem chỉ tay của Bà, của Bà Besant và của tôi, tất cả đều chính xác. Thế nhưng, như tôi đã nói ở chỗ khác, dường như đối với tôi sự xem chỉ tay còn mang bản chất của Thuật trắc tâm hơn bất cứ thứ gì khác, bởi tôi nhận thấy những nhà xem chỉ tay ở Ấn Độ và ở phương Tây thành công gần như ngang nhau dù đọc các đường chỉ tay bằng hai hệ thống gần như đối nghịch. Chẳng hạn, Đường Sinh mệnh được lần theo đi xuống về phía cổ tay trong một hệ thống, và đi lên từ cổ tay trong hệ thống kia. Nhận xét tương tự có lẽ cũng áp dụng cho việc xem bằng Thuật đo sọ, thuật tướng mạo, và Sarcognomy của Buchanan: kết quả tốt hơn nhiều đạt được bởi người quan sát này so với người khác có kỹ năng tương đương, vì người thứ nhất đọc Tính cách không kém bằng năng lực trắc tâm, và có thể thành công như nhau nếu ông ta đọc mà nhắm mắt, trong khi người kia lại dựa vào các dấu hiệu vật lý có thể quan sát trên bề mặt thân thể. Một buổi tối năm 1885, khi ở London, tôi dùng trà với Viên Quản ngục Newgate, cùng với một người bạn già thân mến, Đại úy Edward Costello, trước đây thuộc Lữ đoàn Súng Trường,
[211] a Peninsular veteran. The conversation turning on Phrenology, as the Governor was showing me the skulls of some notorious criminals, I asked whether he had ever noticed in the heads of great malefactors that excessive development of the posterior portion of the cranium and smallness of the anterior and superior parts which Gall’s system associated with criminal propensities. He said he had not noticed any marked difference between them and the heads of ordinary decent citizens. “Here for instance,” continued he, “are the skulls of [I won’t be sure, but I think it was Jack Shephard and some other equally notorious rascal]... and... and yet you see they are quite like other men’s.” They were, in fact; but I told him that Professor J. R. Buchanan, of America, who had proposed some modifications in the rules of Phrenology, asserted that great activity in any organ of the brain caused a gradual absorption of the bone of the skull in the part which touched it. Thus, if that theory be true, we ought to find, on putting a lighted candle inside the skull, such and such parts translucent, while such others as cover the moral and spiritual faculties should be opaque. “Capital idea,” said the Governor; “suppose we try the experiment.” A lighted candle was brought inserted into each skull, and sure enough the bone over the criminal convolutions was thinnest of all, in some instances so very thin as to let the light shine as through an old horn lantern.
[211] một cựu chiến binh Bán đảo. Câu chuyện chuyển sang Thuật đo sọ, khi vị Quản ngục đang cho tôi xem sọ của vài tên tội phạm khét tiếng, tôi hỏi liệu ông đã bao giờ để ý thấy ở đầu của những kẻ đại ác có sự phát triển quá mức vùng sau hộp sọ và sự nhỏ bé của phần trước và phần trên, điều mà hệ thống của Gall gắn liền với các khuynh hướng phạm tội. Ông nói ông không nhận thấy sự khác biệt đáng kể nào giữa chúng với đầu của những công dân lương thiện bình thường. “Đây chẳng hạn,” ông tiếp tục, “là những chiếc sọ của [tôi không dám chắc, nhưng tôi nghĩ đó là Jack Shephard và một tay du đãng tai tiếng khác]... và... và ông thấy đấy chúng hoàn toàn giống đầu người khác.” Quả đúng như vậy; nhưng tôi nói với ông rằng Giáo sư J. R. Buchanan, người Mỹ, người đã đề xuất một vài điều chỉnh trong các quy tắc của Thuật đo sọ, quả quyết rằng hoạt động mạnh mẽ của bất kỳ cơ quan nào của bộ não sẽ khiến phần xương sọ tiếp xúc với nó dần dần bị tiêu mòn. Như thế, nếu lý thuyết đó đúng, khi chúng ta đặt một cây nến cháy bên trong sọ, chúng ta phải thấy những phần như thế trở nên trong mờ, còn những phần khác bao phủ các năng lực đạo đức và tinh thần thì phải mờ đục. “Ý tưởng tuyệt vời,” vị Quản ngục nói; “chúng ta thử nghiệm xem sao.” Một cây nến cháy được mang tới, đặt vào trong mỗi chiếc sọ, và quả nhiên phần xương bao phủ các cuộn não của kẻ phạm tội là mỏng nhất, trong một số trường hợp mỏng đến mức để ánh sáng xuyên qua như qua một chiếc đèn sừng cổ.
On 29th November I took train for Edinburgh to visit our Branch, which was originally formed in
Ngày 29 tháng Mười Một tôi lên tàu hỏa đi Edinburgh thăm Chi bộ của chúng ta, vốn được thành lập ban đầu vào
[212]
[212]
1884, under the presidency of the late Mr. Cameron, the penmaker. It may be remembered by my constant readers my surprise and gratification to be accosted at the close of my lecture by the most popular preacher of Edinburgh, with thanks and blessings for the eclectic religious views I had presented as those sustained by our Society, and fundamental in all the great religions; views which, he said, he was preaching from his pulpit every Sunday; and how he had bade me godspeed. It may also be recalled that after the lecture I formed the Scottish T. S., giving it, as I had the Bengal T. S. of Calcutta, a general superintendence and leadership over future Scottish Branches. Well, the continuance of this privilege had not been earned by work, but, on the contrary, the one Branch formed had been long inactive, and had now retired behind closed doors, veiling its activities and the personalities of its members under cover of privacy. As of partly Scottish blood—how many strains have not we Americans—and always an interested observer of the national trend of thought, I had, and have, the deep conviction that, when the chains of narrow sectarian dogmatism are flung off, a body of splendid philosophical leaders will step from Scotland into the European arena of our movement, and push it on to a brilliant future. I am counting on that; it will come.
năm 1884, dưới quyền chủ tọa của cố Ông Cameron, người làm bút. Những độc giả thường xuyên của tôi hẳn còn nhớ sự ngạc nhiên và hài lòng của tôi khi được vị giảng đạo được ưa chuộng nhất Edinburgh chào đón ngay sau buổi diễn thuyết, với lời cảm ơn và chúc phúc vì những quan điểm tôn giáo chiết trung mà tôi trình bày là quan điểm được Hội chúng ta duy trì, và là nền tảng trong mọi tôn giáo lớn; những quan điểm mà, ông nói, ông đang giảng từ tòa giảng mỗi Chủ nhật; và ông đã chúc tôi thượng lộ bình an. Cũng có thể nhớ rằng sau buổi diễn thuyết, tôi đã thành lập Hội T. S. Scotland, trao cho Hội này, như tôi đã làm với Hội T. S. Bengal ở Calcutta, sự giám sát chung và lãnh đạo đối với các Chi bộ Scotland tương lai. Ấy vậy mà, đặc ân này đã không được xứng công bởi công việc, mà trái lại, Chi bộ duy nhất được lập đã bấy lâu không hoạt động, và nay lại lui về sau cánh cửa khép kín, che giấu hoạt động và danh tính hội viên dưới màn riêng tư. Với phần máu Scotland—chúng ta người Mỹ mang biết bao huyết hệ—và luôn là người quan sát quan tâm tới xu hướng tư tưởng dân tộc, tôi đã, và đang, có niềm xác tín sâu sắc rằng, khi xiềng xích của giáo điều bè phái hẹp hòi được vứt bỏ, sẽ có một đội ngũ những nhà lãnh đạo triết học lừng lẫy bước ra từ Scotland vào đấu trường châu Âu của phong trào chúng ta, và thúc đẩy nó tiến đến một tương lai rực rỡ. Tôi trông đợi điều đó; nó sẽ đến.
My welcome at Edinburgh was cordial in the extreme, and I found a most congenial atmosphere in the company of the gentlemen whom I met at a private lecture at the residence of my host and hostess.
Lời chào đón dành cho tôi tại Edinburgh nồng hậu hết mực, và tôi thấy một bầu không khí thật tương đắc trong vòng các quý ông mà tôi gặp gỡ tại một buổi diễn thuyết riêng ở tư gia của vị chủ và phu nhân.
[213]
[213]
Returned to London, I had a series of public lectures, private calls, conversation-meetings, and other functions to attend to, much to H. P. B.’s dissatisfaction, as above noted. Then came a visit to Bradford, where that joyous-hearted, keen-brained friend, Oliver Firth, has held the fort for us for many years. My visit was with the object of fulfilling an engagement to lecture on “The Awakening of Japan,” in a “star” course in which Sir Charles Dilke, Bart., M.P., had given the opening discourse. Mr. W. Pollard Byles, Editor of the Bradford Observer (now M.P.), presided, and said some very kind things at the close. The same gentleman presided at my lecture on “Theosophy” on the next evening. On the 17th (December) I lectured at Newcastle, and the next day returned to London, to preside at a meeting of the British Section, T. S. Finally, my tickets for the return journey to India had to be taken, and on the 26th I left for Colombo via Marseilles, after a most affectionate farewell from H. P. B., and followed by the kind wishes of all friends. I was still feeling badly from the effects of a renewed attack of my old enemy, the diarrhoea of Burmese Expedition and Japan Tour fame, which had troubled me no little during my whole stay in England.
Trở lại London, tôi có một loạt các buổi diễn thuyết công cộng, thăm viếng riêng, buổi đàm đạo, và các sự vụ khác phải đảm đương, khiến H. P. B. không vui, như đã nói ở trên. Rồi đến chuyến thăm Bradford, nơi người bạn hồn nhiên vui tươi và trí tuệ sắc sảo, Oliver Firth, đã giữ vững vị trí cho chúng ta suốt nhiều năm. Chuyến đi của tôi là để thực hiện một cam kết diễn thuyết về “Sự Thức Tỉnh của Nhật Bản”, trong một loạt diễn giả “ngôi sao” mà Ngài Charles Dilke, Nam tước, Nghị sĩ, đã có bài mở màn. Ông W. Pollard Byles, Chủ bút tờ Bradford Observer (nay là Nghị sĩ), chủ tọa, và đã nói vài lời rất tốt đẹp vào cuối buổi. Cũng chính ông chủ tọa buổi diễn thuyết của tôi về “Thông Thiên Học” vào tối hôm sau. Ngày 17 (tháng Mười Hai) tôi diễn thuyết ở Newcastle, và ngày hôm sau trở lại London, để chủ tọa một cuộc họp của Phân bộ Anh, T. S. Cuối cùng, vé tàu trở lại Ấn Độ phải được mua, và ngày 26 tôi rời đi Colombo qua Marseilles, sau một cuộc chia tay rất trìu mến với H. P. B., và trong lời chúc thân tình của tất cả bằng hữu. Tôi vẫn còn mệt mỏi vì ảnh hưởng của một cơn tái phát kẻ thù cũ, chứng tiêu chảy gắn với Chiến dịch Miến Điện và Chuyến Du Nhật Bản, thứ đã làm tôi khổ sở không ít suốt thời gian ở Anh.
The advantage of a metaphysician putting aside his dreamings and taking to physics when travelling was humorously illustrated in the case of young E. D. Fawcett, the author, who was going out with me to help us at Adyar. At the Charing Cross station he lost the following things: his Gibus hat, railway ticket [214] to Marseilles (cost £6), two boxes of books, and 150 cigars. “Nothing surprising, then, that I should have entered in my Diary: “If he goes on moving about like this he will be in danger of losing his head!” As he does not mind being teased about his absent-mindedness, I have risked telling this story.
Lợi điểm của một nhà siêu hình tạm gác mộng tưởng để quay sang vật lý khi đi du hành đã được minh họa một cách hài hước trong trường hợp chàng trai E. D. Fawcett, nhà văn, người cùng đi với tôi để giúp chúng ta ở Adyar. Tại ga Charing Cross, anh đã làm mất những thứ sau đây: chiếc mũ chóp gập Gibus, vé tàu [214] đi Marseilles (giá £6), hai thùng sách, và 150 điếu xì gà. “Không có gì ngạc nhiên cả,” nên tôi đã ghi vào Nhật ký: “Nếu anh còn di chuyển kiểu này thì có ngày anh có nguy cơ mất cả cái đầu!” Vì anh không ngại bị trêu chọc về tính đãng trí, tôi mạo kể câu chuyện này.
The old year going out and the new one coming in saw me on board the “Oxus” at sea, four days out from Marseilles, and bound for Colombo.
Khoảnh khắc năm cũ qua đi và năm mới đến đã thấy tôi ở trên con tàu “Oxus” giữa biển, bốn ngày rời Marseilles, hướng về Colombo.