← OLD DIARY LEAVES 4

CHAPTER XXI—CHƯƠNG XXI

CHAPTER XXI—CHƯƠNG XXI

EXPERIMENTS WITH DR. BERNHEIM—CÁC THÍ NGHIỆM VỚI BÁC SĨ BERNHEIM

(1891)

(1891)

WE now come to the experiments. The reader will please observe that I did my best to keep the judicial frame of mind, giving no clue as to my own beliefs, and in copying the account I ponder over each detail in the light of subsequent experience, with the desire to say nothing which shall be open to adverse criticism. My first visit was to the Faculté de Médecine, where I found the eminent Professor, Dr. H. Bernheim, who received me most courteously. His appearance is very attractive, his manners suave and refined. In stature he is short, but one forgets that in looking at his rosy face, kind and cheerful eyes, and intellectual forehead. His voice is sympathetic and perfectly attuned to his gestures. I mention these personal details because they have much to do with Dr. Bernheim’s marvellous success as a hypnotiser, as I saw with my own eyes. The Professor obligingly gave me two hours of his overcrowded time that afternoon, and we discussed the issues between his and Charcot’s schools. He expressed very strong incredulity about the reality [363] of his great rival’s tripartite hypnotism, declaring that his (Charcot’s) hysteriacs were all under the control of suggestion. The next morning, by appointment, I met him in his clinic at the Hôpital Civil, and spent the entire morning in the different wards, following him from bed to bed, and watching and recording his hypnotic treatments and demonstrations. The reader will kindly understand that hypnotism is used here only as an auxiliary to pharmaceutical and dietetic prescriptions, not as a substitute. He was, of course, attended by his chief subordinate, Dr. Simon, chief de clinique, and also by Dr. Voirin, Dr. Sterne, and others—all skilled and erudite hypnotists. I learnt more about practical hypnotism from watching him that one morning than I had from all my book-reading; and having myself had to deal with several thousand Indian patients in the way of therapeutic suggestion, or mesmeric healing, his looks, tones, and gestures possessed for me a world of significance. I made up my mind that he was one of the most consummate actors I ever encountered. While he was telling his patients that they were this or that, or would feel one or the other sensation—they watching him closely every instant—there was not a tone of his voice, a change of his countenance, or a movement of his body which did not seem to confirm the, sometimes preposterous, ideas he suggested, and no patient looking at him could have had the least suspicion that the Professor did not believe what he was telling him or her to believe for their good.

GIỜ đây chúng ta đi vào các thí nghiệm. Xin người đọc lưu ý rằng tôi đã cố hết sức giữ tâm thế công minh, không để lộ manh mối gì về các tín niệm riêng của mình, và khi sao chép bản tường thuật, tôi nghiền ngẫm từng chi tiết dưới ánh sáng của kinh nghiệm về sau, với ước muốn không nói điều gì có thể mở cửa cho phê bình bất lợi. Chuyến thăm đầu tiên của tôi là tới Faculté de Médecine, nơi tôi gặp vị Giáo sư lỗi lạc, Bác sĩ H. Bernheim, người tiếp tôi hết sức niềm nở. Dung mạo Ngài rất dễ mến, phong thái nhu hòa và tinh luyện. Thân Ngài tầm thấp, nhưng người ta quên điều đó khi nhìn khuôn mặt hồng hào, đôi mắt nhân ái và tươi vui, vầng trán trí tuệ. Giọng nói Ngài truyền cảm và hoàn toàn hòa điệu với cử chỉ. Tôi nêu những chi tiết cá nhân này vì chúng liên quan nhiều đến thành công kỳ diệu của Bác sĩ Bernheim trong vai trò nhà thôi miên, như chính mắt tôi thấy. Chiều hôm ấy, Giáo sư ân cần dành cho tôi hai giờ trong quỹ thời gian quá tải của Ngài, và chúng tôi thảo luận những vấn đề giữa trường phái của Ngài và của Charcot. Ngài bày tỏ sự hoài nghi rất mạnh mẽ về tính hiện thực [363] của phương pháp thôi miên tam phân của đối thủ vĩ đại của Ngài, quả quyết rằng các bệnh nhân cuồng loạn (của Charcot) đều nằm dưới sự khống chế của gợi ý. Sáng hôm sau, theo như đã hẹn, tôi gặp Ngài tại phòng khám ở Hôpital Civil, và dùng trọn buổi sáng ở các khu, theo Ngài từ giường này qua giường khác, quan sát và ghi chép các điều trị và trình diễn thôi miên của Ngài. Xin người đọc hiểu cho rằng thôi miên ở đây chỉ dùng như một trợ cụ cho các toa thuốc dược liệu và tiết thực, không phải là thay thế. Dĩ nhiên, Ngài được tháp tùng bởi cấp phó chính, Bác sĩ Simon, chief de clinique, và còn có Bác sĩ Voirin, Bác sĩ Sterne và những người khác — tất cả đều là các nhà thôi miên tinh thông và bác học. Chỉ bằng việc quan sát Ngài một buổi sáng ấy, tôi đã học được về thôi miên thực hành nhiều hơn là từ tất cả sách vở; và vì bản thân tôi đã từng phải đối diện với vài ngàn bệnh nhân Ấn Độ theo cách gợi ý trị liệu hay trị liệu bằng thôi miên từ, ánh mắt, âm điệu và cử chỉ của Ngài đối với tôi chất chứa cả một thế giới ý nghĩa. Tôi quyết rằng Ngài là một trong những bậc diễn xuất hoàn toàn nhất mà tôi từng gặp. Khi Ngài nói với bệnh nhân rằng họ là thế này thế kia, hay sẽ cảm thấy cảm giác này hay cảm giác khác — họ dõi nhìn Ngài sát sao từng khoảnh khắc — thì không một âm sắc nào của giọng, một biến đổi nào trên diện mạo, hay một cử động nào của thân thể Ngài mà không dường như xác nhận những ý niệm (đôi khi thật lố bịch) mà Ngài gợi ý, và không một bệnh nhân nào nhìn Ngài mà có thể mảy may ngờ rằng vị Giáo sư không tin điều Ngài đang bảo họ tin vì lợi ích của chính họ.

[364]

[364]

Dr. Bernheim first led the way to ward II in the men’s department. He comes to a patient, tells him to look at him for a moment, tells him to sleep, the patient does so; he recalls him to consciousness, produces by suggestion muscular contraction, with insensibility to pin-pricks, and then silently presenting his hand to either side of the head, to the back and to the forehead, the patient’s head or trunk quickly inclines towards the operator’s hand, as a suspended needle towards an approaching magnet. Suggestion, simple suggestion by gesture, the Professor explains.

Bác sĩ Bernheim dẫn đường đến khu II ở khu nam. Ngài đến gần một bệnh nhân, bảo anh ta nhìn Ngài một lát, bảo anh ta ngủ, bệnh nhân liền làm vậy; Ngài gọi anh ta về lại ý thức, tạo ra do gợi ý sự co rút bắp thịt, kèm theo vô cảm với các mũi kim châm, rồi Ngài lặng lẽ đưa tay đến bên nào của đầu, ra sau gáy và lên trán, đầu hay thân bệnh nhân lập tức nghiêng nhanh về phía bàn tay người điều khiển, như một kim treo nghiêng về phía nam châm đang đến gần. Gợi ý, gợi ý đơn giản bằng cử chỉ, Giáo sư giải thích.

In bed No.4 lies a patient not hitherto hypnotised. He is put to sleep almost immediately, the Professor saying in a low, persuasive voice, something like the following: “You have pain now? Yes? But it will pass away; see, it lessens; your eyes grow heavy, heavy; yes, they... grow... heavy... and you feel like sleep... ing. It is good for you to sleep... sleep... good... good... Now you sleep... Do you understand?... sleep... sleep!” And it is done: in less than three minutes he is asleep. The Doctor tests him by suddenly lifting an arm and letting go. If the patient is not asleep he will naturally keep the arm suspended, not knowing what the Doctor wishes of him. If asleep, the arm will fall heavily as soon as let go. If the eyelid be lifted, the eyeball is seen rolled upward and fixed. Stick a pin into him anywhere, he does not feel it: he is an inert, unresisting carcase that you may carve and cut, burn and pinch. [365] as you choose, without his knowledge that aught is transpiring.

Trên giường số 4 nằm một bệnh nhân trước đây chưa từng bị thôi miên. Người ấy được đưa vào giấc ngủ gần như tức khắc, Giáo sư nói với giọng trầm, khuyên nhủ, một điều gì như sau: “Anh đang đau phải không? Phải? Nhưng cơn đau sẽ qua đi; xem này, nó giảm bớt; mắt anh trở nên nặng, nặng; phải, chúng... đang... nặng... và anh thấy buồn... ngủ. Ngủ là tốt cho anh... ngủ... tốt... tốt... Bây giờ anh ngủ... Anh hiểu chứ?... ngủ... ngủ!” Và xong: chưa đến ba phút anh ta đã ngủ. Bác sĩ thử bằng cách bất ngờ nhấc cánh tay rồi buông ra. Nếu bệnh nhân chưa ngủ, tự nhiên anh ta sẽ giữ tay treo lơ lửng, không biết bác sĩ muốn mình làm gì. Nếu đã ngủ, tay sẽ rơi nặng nề ngay khi được buông ra. Nếu nâng mí mắt lên, nhãn cầu thấy đảo lên trên và cố định. Chích kim vào bất cứ chỗ nào, anh ta cũng không cảm thấy: người ấy là một thân thể trơ lì, không kháng cự mà anh có thể rạch và cắt, đốt và véo [365] theo ý anh, mà anh ta hoàn toàn không hay biết điều gì đang xảy ra.

While we were at this bed another patient, an asthmatic and very sensitive man, entered the ward and saluted the Professor. The latter simply said “Sleep!” and there, in his tracks, as he stood, he fell into obliviousness. Then the least hint that he saw, felt, heard, or tasted anything was instantaneously accepted. The Doctor, pointing to me, said: “You met this gentleman yesterday on the Place Dombasle and he lost something.” The patient said yes, he recollected it all, and thereupon invented a scene to fit the suggestion. Glibly he said I had lost my purse, the police were called, he searched for and found the purse; I had given him two francs as a reward, he had spent the money for liquor, got drunk, was engaged in a quarrel, and waked up this morning, somehow, in the hospital, feeling bad, with headache and a bad taste in his mouth!

Trong lúc chúng tôi còn ở giường này thì một bệnh nhân khác, một người suyễn và rất nhạy, bước vào khu và chào Giáo sư. Ngài chỉ đơn giản nói “Ngủ!” và ngay tại chỗ, khi còn đang đứng, y rơi vào quên lãng. Rồi chỉ cần ám chỉ nhỏ nhất rằng y thấy, cảm, nghe hay nếm điều gì là lập tức được tiếp nhận. Bác sĩ, chỉ tay về phía tôi, nói: “Hôm qua anh đã gặp vị quý ông này ở Place Dombasle và anh ta đã làm mất một vật gì.” Bệnh nhân nói phải, anh ta nhớ hết, và liền bịa ra một cảnh cho phù hợp với gợi ý. Lưu loát, anh ta nói tôi làm mất chiếc ví, cảnh sát được gọi, anh ta tìm kiếm và tìm lại chiếc ví; tôi đã cho anh ta hai franc làm tiền thưởng, anh ta tiêu tiền uống rượu, say xỉn, dính vào một vụ cãi lộn, rồi sáng nay tỉnh lại, bằng cách nào đó, trong bệnh viện, thấy mệt, nhức đầu và miệng có vị khó chịu!

Dr. Bernheim went to another patient, a convalescent, a person of good character, hypnotised him in an instant, and told him that when he came to himself again he would watch until we had gone to the extreme end of the ward, and then cautiously go to another man’s bed, on the opposite side of the room, and steal something from him. Awaking him, the Professor led us on from bed to bed until we had reached the end of the ward, where we stopped as if engaged in looking at another patient, but in reality keeping an eye upon the one under a suggestion to act criminally.

Bác sĩ Bernheim đến với một bệnh nhân khác, đang hồi phục, một người có hạnh kiểm tốt, thôi miên anh ta tức khắc, và bảo rằng khi tỉnh lại anh ta sẽ chờ đến khi chúng tôi đi đến tận cuối khu, rồi lén lút đến giường của một người khác, ở phía đối diện căn phòng, và trộm của anh ta một thứ gì đó. Đánh thức, Giáo sư dẫn chúng tôi đi từ giường này qua giường khác cho đến khi tới cuối khu, nơi chúng tôi dừng lại như thể đang xem một bệnh nhân khác, nhưng thật ra là dõi theo người đã được gợi ý hành động phạm tội.

[366]

[366]

Thinking us unmindful of him, he rose, looked right and left as if to see if the coast were clear, swiftly crossed to the bed indicated by the Doctor, stole some small object, which he concealed in his hand, returned to his own bed, and thrust it under his pillow. The Doctor then returned, and, putting on a severe expression, demanded what he had been doing over at the opposite bed; saying he was convinced that he had stolen something, and thus for the first time had become a thief. The man’s face flushed, his eyes fell, but presently he looked the Doctor squarely in the face and denied that he had taken anything. “Why do you lie to me, my man? I saw you go and take something.” The victim tried, but in vain, to stick to the falsehood, and as the Doctor moved towards the bed, he anticipated him, drew the stolen object—a snuff-box—from beneath his pillow, and stood looking like a detected thief. Being pressed to say why he had done it, whether it was voluntary or because of suggestion, he said he had done it entirely of his own accord without the Doctor’s prompting: he had seen the box lying there, fancied it, and went and took it. The Doctor then rehypnotised him, told him to forget the entire transaction, and forbade him to receive such a criminal suggestion again from anybody whatsoever. Thus, the Doctor told me, he killed in the germ any possible evil effect the suggestion might otherwise subsequently have had upon the man’s moral sense. Let my readers take warning and invariably counteract and extirpate any wrong predisposition they may have engendered by [367] suggestion in a hypnotised or mesmerised patient’s mind while under their control, otherwise they incur an awful responsibility.

Tưởng rằng chúng tôi không để tâm đến mình, anh ta đứng dậy, đảo mắt nhìn trái phải như thăm dò xem đường có thoáng không, băng nhanh qua chiếc giường mà bác sĩ đã chỉ, đánh cắp một vật nhỏ, giấu trong lòng bàn tay, quay về giường mình, và nhét nó xuống dưới gối. Bác sĩ liền quay lại, và với vẻ nghiêm khắc, chất vấn anh ta đã làm gì ở chiếc giường bên kia; nói rằng Ngài tin chắc anh ta đã ăn cắp thứ gì, và như vậy lần đầu tiên đã trở thành kẻ trộm. Mặt người ấy đỏ bừng, mắt cúi xuống, nhưng rồi anh ta nhìn thẳng vào mặt Bác sĩ và chối rằng mình lấy gì. “Sao anh nói dối tôi, anh bạn? Tôi thấy anh đi và lấy một vật.” Nạn nhân cố bám lấy lời nói dối nhưng không thành, và khi Bác sĩ bước về phía giường, anh ta đón đầu, rút vật đánh cắp — một hộp đựng thuốc hít — từ dưới gối ra, đứng đó trông như một tên trộm vừa bị bắt quả tang. Khi bị thúc ép nói vì sao làm vậy, là tự ý hay do gợi ý, anh ta nói hoàn toàn tự mình làm, không do Bác sĩ xui khiến: anh ta thấy chiếc hộp nằm đó, thích nó, và đi lấy. Bác sĩ liền thôi miên lại, bảo anh ta quên toàn bộ sự việc, và cấm anh ta từ nay nhận một gợi ý phạm tội như thế từ bất cứ ai. Như vậy, Bác sĩ nói với tôi, Ngài đã giết ngay từ mầm bất cứ hậu quả xấu nào mà gợi ý ấy lẽ ra có thể có về sau đối với lương tri của người ấy. Cầu mong độc giả lưu tâm và hãy luôn luôn hóa giải và diệt trừ bất kỳ khuynh hướng sai trái nào mà họ có thể đã gây nên do [367] gợi ý trong tâm trí một bệnh nhân bị thôi miên hay bị thôi miên từ, khi người ấy còn nằm dưới sự kiểm soát của họ, nếu không họ sẽ mang một trách nhiệm khủng khiếp.

In bed No. 14 lay a square-built, pale-complexioned, blue-eyed man, suffering from rheumatic knee-joint. The joint was stiff and greatly swollen, and so painful that the man could not bear even the weight of the bed-clothes. He was passing sleepless nights, racked with pain. Within two minutes Professor Bernheim had thrown him into the hypnotic lethargy; insensible to everything, he let us touch, press, pound, and raise his inflamed knee. He was told in few words that the acute inflammation would begin to subside, the pain would be gone, he could bear touching and handling it, and could bend and unbend the bad knee as well as he ever could. He was awakened, yawning as if from sound natural sleep, and seeing us about his bed, seemed surprised, and looked inquiringly from one to another: evidently he had forgotten all that had passed. “And how are you, my man?” asked the Professor; “how is your knee?” “Knee?” echoed he; “why, M. le Docteur, it is as before.” “No, you are mistaken, my man; the pain is gone.” The patient thought, felt his knee, found no pain there, and joyfully said to the patient in the next bed: “Vraiment c’est partie, la douleur aiguë!” (Really, the sharp pain is gone.) “And now you can move it,” continued the Professor. “Impossible, M. le Docteur,” rejoined the sufferer. Assured that he could, and ordered to try, he very cautiously extended the foot, then more and [368] more until the leg was straightened. He cried out to all his neighbors to see the miracle, and we moved on. The whole thing had not occupied five minutes. I saw the man daily for a week after that, and there was no relapse, and he was rapidly convalescing.

Trên giường số 14 nằm một người đàn ông tầm vóc vuông vức, nước da nhợt, mắt xanh, mắc chứng khớp gối thấp. Khớp cứng và sưng to, đau đến nỗi người ấy không chịu nổi cả sức nặng của chăn giường. Anh ta đang trải qua những đêm mất ngủ, bị hành hạ bởi đau đớn. Trong vòng chưa đầy hai phút, Giáo sư Bernheim đã đưa anh vào trạng thái lịm ngủ thôi miên; vô cảm với mọi thứ, anh để mặc cho chúng tôi chạm, ấn, gõ và nâng đầu gối viêm sưng. Anh được bảo ngắn gọn rằng tình trạng viêm cấp tính sẽ bắt đầu giảm, cơn đau sẽ biến mất, anh có thể chịu được việc chạm vào và cử động nó, và có thể gấp duỗi chiếc đầu gối đau cũng tốt như trước kia. Anh được đánh thức, ngáp dài như vừa từ giấc ngủ tự nhiên say sưa, và thấy chúng tôi quanh giường mình, có vẻ ngạc nhiên, nhìn dò hỏi từ người này qua người khác: hiển nhiên anh quên hết những gì đã xảy ra. “Nào, anh thế nào rồi?” Giáo sư hỏi; “đầu gối của anh ra sao?” “Đầu gối ạ?” anh ta nhắc lại; “thưa ông bác sĩ, vẫn như trước.” “Không, anh nhầm rồi, anh bạn; cơn đau đã hết.” Bệnh nhân ngẫm nghĩ, sờ đầu gối, chẳng thấy đau, và vui mừng nói với người bệnh ở giường bên cạnh: “Vraiment c’est partie, la douleur aiguë!” (Thật vậy, cơn đau nhói đã đi rồi.) “Giờ anh có thể cử động nó,” Giáo sư tiếp. “Không thể, thưa Bác sĩ,” người đau bệnh đáp. Được quả quyết rằng anh có thể, và được lệnh thử, anh rất thận trọng duỗi bàn chân, rồi [368] thêm nữa cho đến khi cái chân được duỗi thẳng. Anh kêu lên bảo mọi người láng giềng nhìn phép lạ, và chúng tôi đi tiếp. Toàn bộ việc ấy không mất quá năm phút. Tôi thăm người này mỗi ngày suốt một tuần sau đó, và không có tái phát, anh ta hồi phục nhanh chóng.

The epileptic young man in bed 3 bis of ward IX was the subject of an interesting experiment. He was easily hypnotised while in the act of eating his dinner, just brought him. The Doctor made him keep on eating while asleep, and while we stood by he finished his meal and the plate was removed. But he kept on eating, “dining with Duke Humphrey,” as if the plate and food were still there. After letting him go on thus for a quarter of an hour he was awakened, and at once cried out for his dinner, denying that he had eaten it, and complaining of being so hungry that he had cramps in the stomach. Though the empty plate was shown him, he still disbelieved, and charged the nurse with having stolen his dinner. At last he was again hypnotised, told to recollect having eaten, reawakened, and then, when asked if he was hungry, said he had eaten quite enough and was satisfied.

Chàng trai động kinh ở giường 3 bis của khu IX là đối tượng của một thí nghiệm thú vị. Anh ta dễ bị thôi miên trong lúc đang ăn bữa trưa vừa được mang đến. Bác sĩ bắt anh tiếp tục ăn trong lúc ngủ, và khi chúng tôi đứng bên, anh ăn xong phần ăn và chiếc đĩa được dọn đi. Nhưng anh vẫn cứ ăn, “ăn tối với Công tước Humphrey”, như thể chiếc đĩa và thức ăn vẫn còn đó. Để mặc cho anh tiếp tục như vậy trong một phần tư giờ, anh được đánh thức, và liền kêu đòi bữa trưa, chối rằng mình đã ăn, và than đói đến mức bị chuột rút dạ dày. Dù chiếc đĩa trống được đưa ra cho xem, anh vẫn không tin, và đổ cho cô y tá đã đánh cắp phần ăn của mình. Sau cùng, anh bị thôi miên lại, được bảo nhớ lại việc đã ăn, đánh thức, rồi khi được hỏi còn đói không, anh nói đã ăn đủ và thấy thoả mãn.

An old man in bed 12 was hypnotised and told that yesterday he was in Paris and had been electrified. It was curious to watch the development of this suggestion. He went on to tell us that he had been in Paris, and, crossing the Place de la Concorde, he had seen a man there with an electrical apparatus and had taken a shock. The memory of it was so vivid that he again grasped the terminal tubes of the battery, [369] again felt the current running through him; he writhed and twisted until he could bear (the maya) no longer; tried, but could not let go the tubes; cried out to be released, was released, and fell back in bed exhausted, with the perspiration oozing out all over his forehead and wetting his hair. It was reality itself, yet nothing but an illusion—the product of a suggestion. For some minutes after being awakened he kept rubbing his arm, and complaining of the pain that had been caused by an electrical treatment he had undergone. The illusion was then removed and he was once more comfortable.

Một lão ông ở giường 12 bị thôi miên và được bảo rằng hôm qua ông ở Paris và đã bị điện giật. Thật thú vị khi quan sát sự phát triển của gợi ý này. Ông kể tiếp với chúng tôi rằng mình đã ở Paris, và khi băng qua Place de la Concorde, ông thấy một người ở đó có bộ máy điện và đã nhận một cú sốc. Ký ức về nó sống động đến mức ông lại nắm chặt các ống cực của bình điện, [369] lại cảm thấy dòng điện chạy qua người; ông quặn mình và xoắn vặn cho đến khi không thể chịu đựng (ảo lực) lâu hơn; cố gắng mà không thể buông các ống; kêu giải thoát, được giải thoát, và ngã vật trở lại giường kiệt sức, mồ hôi rịn khắp trán và ướt tóc. Đó là thực tại tự thân, vậy mà chẳng qua chỉ là một ảo tưởng — sản phẩm của gợi ý. Vài phút sau khi được đánh thức ông vẫn xoa cánh tay, và than đau do một trị liệu điện mà ông đã trải qua. Sau đó ảo tưởng được hóa giải và ông lại dễ chịu như trước.

In the female ward No. xiii was a young woman of 24, a hysteriac, who had undergone a long course of suggestive therapeutics. She was a fidgety and quick-tempered person, and in her neurotic crises apt to be troublesome and rebellious to the house surgeon when he would try to hypnotise her. He had treated her successfully, but had failed to destroy her waking sensitiveness to touch and contact with a magnet. Upon coming to her bed, Dr. Bernheim hypnotised her and made the suggestion that upon awakening she would see a pretty bouquet of flowers on her bed. Being awakened, she saw it, smelt the visionary flowers, and went through the motions of putting the bouquet into the empty glass on her bed-table. Suddenly she fell into a hysterical crisis, whereupon the gentle-faced, kind-looking Doctor showed his latent decision of character. The more she rebelled against taking his suggestions, the more positively and peremptorily

Ở khu nữ số xiii có một cô gái 24 tuổi, một người cuồng loạn, đã trải qua một liệu trình dài gợi ý trị liệu. Cô bồn chồn và nóng nảy, và trong các cơn rối loạn thần kinh dễ sinh rắc rối và chống đối bác sĩ nội trú khi anh muốn thôi miên cô. Anh đã điều trị thành công, nhưng thất bại trong việc triệt tiêu tính nhạy cảm khi thức của cô với chạm và với nam châm. Khi đến giường cô, Bác sĩ Bernheim thôi miên cô và gợi ý rằng lúc thức dậy cô sẽ thấy một bó hoa xinh đẹp trên giường. Khi được đánh thức, cô thấy nó, ngửi những bông hoa ảo cảnh, và làm động tác cắm bó hoa vào chiếc ly trống trên bàn đầu giường. Đột nhiên cô rơi vào một cơn cuồng loạn, khi đó vị Bác sĩ hiền hậu, gương mặt nhân ái bộc lộ quyết đoán tiềm ẩn của tính cách. Cô càng chống lại việc tiếp thụ các gợi ý của Ngài, giọng Ngài càng trở nên dứt khoát và mệnh lệnh; cuối cùng kẻ nổi loạn hoang dại khuất phục, và Ngài áp đặt lên cô bất cứ ý tưởng gợi ý nào Ngài muốn.

[370] he repeated them; the more she thrashed around, the sterner grew his voice; at last the wild rebel succumbed, and he imposed upon her whatsoever suggested idea he chose.

[370]

The young woman in bed 1 of female ward xiii was a most interesting subject. Her name we will call Hortense; she was unmarried, not bad-looking, had a sweet smile, was very sensitive, and evidently a young person of unblemished character. She was subject to gastric pains and insomnia. At the first word from the Doctor she slept as calmly as a child. He told her she had taken from the postman a letter from her sister, and, being requested to read it, went on fluently composing a letter in German (she is of Alsace). The Doctor then suggested a basket of fine peaches; she saw them, and generously proceeded to distribute them among us. Then a dog covered with mud was suggested; she drew her tidy skirts about her and tried to drive it away. Then the Doctor gave us a splendid example of the wonderful fact of “inhibition”. He told her when hypnotised, that upon awaking she would neither see him, feel his touch, nor hear his voice; he should seem to her as if absent. Awakened, Dr. Simon asked her where Dr. Bernheim was, saying that all of us had stepped away for a moment, leaving him by her chair. She looked at each one of us in turn, Dr. Bernheim among the rest, and said she did not know; he must have gone into the other ward. “But I am here, Hortense; do you not see me?” said the Doctor in a rather [371] loud tone. She seemed deaf to his voice, although he actually stood beside her, and went on chatting with Dr. Simon. Then Dr. Bernheim bawled into her ear; he passed his hand over her face, pinched her ear, tickled her nostril and the corner of her eye with a feather; then he scratched the cornea with a knifepoint, lifted a side of her dress and pricked her on the leg below and above the knee, but she showed no sign that she either saw, heard, or felt what he was doing. But when Dr. Simon made as if he would lift the other side of her skirt to examine the other limb, she blushed from offended modesty and pushed his hand away. It was most evident that Dr. Bernheim had, for the time being, been obliterated so far as her senses were concerned. The reader will now understand the value of the statement I made in the first chapter of “O.D.L.” in the Theosophist for March, 1892 (footnote), on the alleged sudden disappearance of a Coptic adept from the sofa whereon he was sitting in H. P. B.’s room at Cairo. There is no difference whatever between that and Dr. Bernheim’s case as regards the psychological principle involved; both are examples of “inhibition” of the senses; but there is this difference in detail, that our hypnotist audibly speaks his command, while the Eastern adept simply thinks it.

Cô gái trẻ ở giường số 1 của khu nữ xiii là một đối tượng cực kỳ thú vị. Chúng ta gọi tên cô là Hortense; cô chưa chồng, không đến nỗi xấu, có nụ cười hiền, rất nhạy cảm, và hiển nhiên là một thiếu nữ có hạnh kiểm không tì vết. Cô mắc đau dạ dày và mất ngủ. Nghe Bác sĩ nói một lời, cô ngủ yên như một đứa trẻ. Ngài bảo cô rằng cô đã nhận từ người phát thư một lá thư của chị mình, và được yêu cầu đọc, cô bèn lưu loát “sáng tác” một bức thư bằng tiếng Đức (cô là người Alsace). Bác sĩ rồi gợi ý một giỏ đào ngon; cô thấy chúng, và hào phóng phân phát cho chúng tôi. Rồi một con chó lấm bùn được gợi ý; cô kéo gọn váy và cố xua nó đi. Sau đó, Bác sĩ cho chúng tôi một minh hoạ tuyệt vời về sự kiện kỳ diệu mang tên “ức chế”. Ngài bảo cô khi đang bị thôi miên rằng lúc thức dậy cô sẽ không thấy Ngài, không cảm thấy tay Ngài chạm, cũng không nghe thấy giọng Ngài; đối với cô Ngài sẽ như thể vắng mặt. Được đánh thức, Bác sĩ Simon hỏi cô Bác sĩ Bernheim ở đâu, nói rằng tất cả chúng tôi vừa bước đi một lát, chỉ để Ngài ở lại bên ghế cô. Cô nhìn từng người chúng tôi, có cả Bác sĩ Bernheim trong số đó, và nói cô không biết; chắc Ngài đã đi sang khu khác. “Nhưng Ta đang ở đây, Hortense; con không thấy Ta ư?” Bác sĩ nói với giọng khá [371] lớn. Cô dường như điếc với giọng của Ngài, dẫu rằng Ngài đang đứng ngay bên cạnh, và tiếp tục chuyện trò với Bác sĩ Simon. Rồi Bác sĩ Bernheim gào vào tai cô; Ngài đưa tay qua mặt cô, véo tai, cù mũi và khoé mắt bằng một chiếc lông chim; rồi Ngài cà đầu nhọn con dao lên giác mạc, nhấc một bên váy cô và chích vào chân bên dưới và bên trên đầu gối, nhưng cô không tỏ dấu hiệu nào là thấy, nghe hay cảm điều Ngài đang làm. Thế nhưng khi Bác sĩ Simon định nhấc bên kia váy để khám chân còn lại, cô đỏ mặt vì thuần phong và gạt tay anh ra. Rõ ràng nhất là, trong một thời gian, Bác sĩ Bernheim đã bị xoá khỏi các giác quan của cô. Giờ đây người đọc sẽ hiểu giá trị của lời tôi đã nói trong chương đầu “O.D.L.” trên tạp chí Theosophist số tháng Ba, 1892 (chú thích), về vụ được cho là một vị chân sư Coptic đột nhiên biến mất khỏi chiếc ghế salon mà Ngài đang ngồi trong phòng của H. P. B. ở Cairo. Không có bất kỳ khác biệt nào giữa trường hợp đó và trường hợp của Bác sĩ Bernheim về nguyên tắc tâm lý học liên hệ; cả hai đều là ví dụ của sự “ức chế” các giác quan; nhưng có khác biệt này trong chi tiết, rằng nhà thôi miên của chúng ta cất lời dạy bảo, còn vị chân sư phương Đông chỉ cần nghĩ đến điều ấy.

But Hortense afforded us another and still more serious bit of instruction. Dr. Bernheim said, pointing to me: “Do you know this gentleman?” “No, sir,” she replied; “I see him now for the first time.” The Doctor told her she was mistaken; that she had met [372] me in the street the day before; that I had taken a fancy to have her as a mistress, had agreed upon a salary of fcs. 100 per month, and had actually paid her fcs. 25 on account of the first month’s salary. The girl’s face first expressed indignation that she should be taken as such a person; but she pondered over it as though testing the story by memory, her face changed, a less noble expression came across it, she looked at the Doctor and myself attentively and then said: “Why, certainly, how could I have forgotten it? It all comes back to me now.” Saying so, she rose and told me she was ready. “Ready for what?” asked Dr. Bernheim, “To go with monsieur.” “But, Hortense, reflect a moment; you cannot do that, you are a virtuous girl; and then, again, what will your sister and other relatives think?” “I care nothing for my family,” she petulantly cried; “they are nothing to me. The gentleman spoke to me very kindly yesterday, he offers me a good salary, has paid me something on account; so I shall go with him.” “But where?” asked Dr. B. “Wherever he likes,” she said. “And do what?” “Whatever he wishes.” Saying nothing, I moved away towards the door of the ward, went down the corridor, and descended two or three steps of the grand staircase. Hortense followed at my heels without a word. I stopped on the stairs and asked her where she was going. “With you, monsieur,” she replied. “Ah! yes; now I remember,” I said; “but first let us return for a moment, as I did not bid Dr. Bernheim good-bye.” She followed me [373] back, Dr. Bernheim dehypnotised her, ordered her to forget all that had passed, and we went on to another bedside. I saw her on several following days, but she showed no sign of anything of an unusual nature having passed between us. I asked the Professor if he really believed that the young woman would have followed me to my hotel and abandoned herself to me. He replied that most certainly she would, and cases of the sort had already come before the legal tribunals; the moral nature was in such cases completely paralysed for the time being. The suggestion would ultimately wear off, but meanwhile the victim would be absolutely powerless to protect herself. I commend the subject to the attention of people, female or male, old or young, who thoughtlessly permit themselves to be hypnotised by the first comer. Here we have seen a virtuous girl compelled to surrender herself to a strange man’s pleasure, and an honest man turned into a thief and a liar. Beware the hypnotiser whose perfect purity and benevolence of purpose and experimental skill are not known to you. There is less risk in entering a tiger’s den unarmed than in exposing yourself indiscriminately.

Nhưng Hortense còn đem đến cho chúng tôi một bài học khác, nghiêm trọng hơn nữa. Bác sĩ Bernheim chỉ tay về phía tôi và nói: “Cô có biết vị quý ông này không?” “Thưa không,” cô đáp; “tôi nay mới thấy ông ấy lần đầu.” Bác sĩ bảo cô lầm rồi; rằng cô đã gặp [372] tôi hôm qua ngoài phố; rằng tôi đã đem lòng thích có cô làm tình nhân, đã thoả thuận một khoản lương 100 fcs. mỗi tháng, và tôi đã thực trả cho cô 25 fcs. ứng trước vào lương tháng đầu. Mặt cô gái thoạt tiên bộc lộ phẫn nộ vì bị xem như hạng người như thế; nhưng cô trầm ngâm như đang dò lại câu chuyện bằng ký ức, gương mặt đổi khác, một biểu hiện kém cao thượng hiện ra, cô nhìn Bác sĩ và tôi chăm chú rồi nói: “Ô, dĩ nhiên, sao tôi có thể quên được? Tất cả nay đã trở lại với tôi.” Nói rồi, cô đứng lên và bảo tôi cô đã sẵn sàng. “Sẵn sàng làm gì?” Bác sĩ Bernheim hỏi, “Đi với ông đây.” “Nhưng, Hortense, suy nghĩ lại đã; cô không thể làm thế, cô là một cô gái đoan chính; và rồi, còn chị cô và người thân khác sẽ nghĩ sao?” “Tôi mặc kệ gia đình,” cô gắt gỏng kêu; “họ chẳng là gì đối với tôi. Vị quý ông hôm qua nói với tôi rất tử tế, ông ấy trả lương tốt, đã đưa tôi một phần; vậy nên tôi sẽ đi với ông ấy.” “Nhưng đi đâu?” Bác sĩ hỏi. “Ông ấy muốn đi đâu cũng được,” cô đáp. “Và làm gì?” “Bất cứ điều gì ông ấy muốn.” Không nói gì, tôi đi về phía cửa khu, xuống hành lang, và bước xuống hai ba bậc cầu thang lớn. Hortense lặng lẽ theo sát sau tôi. Tôi dừng lại trên thang và hỏi cô định đi đâu. “Đi với ông, thưa ông,” cô trả lời. “À! phải; giờ tôi nhớ rồi,” tôi nói; “nhưng trước hết ta quay lại một chút đã, vì tôi chưa chào tạm biệt Bác sĩ Bernheim.” Cô theo tôi [373] quay lại, Bác sĩ Bernheim giải thôi miên cô, ra lệnh cô quên tất cả những gì đã xảy ra, và chúng tôi đi đến giường khác. Tôi gặp cô trong vài ngày tiếp theo, nhưng cô không tỏ chút dấu hiệu nào rằng có điều gì bất thường đã xảy ra giữa chúng tôi. Tôi hỏi Giáo sư có thật Ngài tin cô gái trẻ sẽ theo tôi về khách sạn và tự phó mặc mình cho tôi không. Ngài đáp rằng chắc chắn là như vậy, và những trường hợp như thế đã đưa ra trước toà án; bản tính luân lý trong các trường hợp ấy hoàn toàn bị tê liệt trong một thời gian. Gợi ý cuối cùng sẽ phai đi, nhưng trong khi ấy nạn nhân hoàn toàn bất lực để tự bảo vệ. Tôi khuyên những người, nữ hay nam, già hay trẻ, vô tư để mình bị thôi miên bởi kẻ đầu tiên chạm trán, hãy lưu tâm đến đề tài này. Ở đây chúng ta đã thấy một cô gái đoan chính bị buộc phải đầu hàng trước ý muốn của một người đàn ông xa lạ, và một người lương thiện biến thành kẻ trộm và kẻ dối trá. Hãy coi chừng nhà thôi miên mà mục đích hoàn toàn thanh khiết và nhân ái cùng kỹ năng thực nghiệm của người ấy không phải là điều các bạn biết chắc. Bước vào hang cọp tay không còn ít rủi ro hơn là phó mặc mình một cách bừa bãi như thế.

Professor Bernheim made other experiments for me, but the above will suffice to show his great skill and his exceeding kindness to his Indian visitor. We lunched together that day, and his conversation was extremely interesting and instructive, as may be imagined. As his plans were all made to take his family to Switzerland the next morning, he could not pursue a full course of experiments with me as he [374] desired, but obligingly turned me over to Drs. Simon and Sterne, with whom I completed, so far as I could, the researches which led me to Nancy. They principally related to the problem of metallotherapy (the alleged pathological effect of certain metals upon contact with the skin of persons of different temperaments), and to the action of drugs at a distance. Dr. Burcq, of Paris, first called the attention of the Faculté de Médecine to the former, and gave it its name, while Dr. Luys, Director of La Charité Hospital, was the godfather of the latter.

Giáo sư Bernheim đã làm thêm những thí nghiệm khác cho tôi, nhưng ngần ấy đủ để cho thấy tay nghề siêu việt của Ngài và lòng tử tế quá mực đối với người khách Ấn Độ. Hôm đó chúng tôi dùng bữa trưa cùng nhau, và câu chuyện của Ngài cực kỳ thú vị và bổ ích, hẳn các bạn cũng đoán được. Vì kế hoạch của Ngài đã định sẽ đưa gia đình sang Thuỵ Sĩ vào sáng hôm sau, Ngài không thể theo đuổi trọn một chuỗi thí nghiệm với tôi như Ngài [374] mong muốn, nhưng ân cần chuyển tôi sang cho các Bác sĩ Simon và Sterne, với họ tôi đã hoàn tất, trong khả năng, những khảo cứu đưa tôi đến Nancy. Chúng chủ yếu liên quan đến vấn đề liệu pháp kim loại (tác dụng bệnh lý được cho là của một số kim loại khi tiếp xúc với da của những người có khí chất khác nhau), và đến tác dụng của dược chất từ xa. Bác sĩ Burcq, ở Paris, là người đầu tiên lưu ý Faculté de Médecine về vấn đề thứ nhất này và đặt tên cho nó, trong khi Bác sĩ Luys, Giám đốc Bệnh viện La Charité, là người đỡ đầu cho vấn đề thứ hai.

In my article upon the Salpêtrière researches I reported a single experiment made for me by Dr. Guinon upon a woman in whom muscular contraction of the arm was provoked by laying a gold coin upon her wrist, but at Nancy our experiments were much more serious. I had with me an English sovereign, a silver 1 franc piece, a copper sou, a silver 2 franc, an American (gold) quarter-eagle, and a sugar cough-lozenge. All were wrapped in paper, and, of course, indistinguishable from each other. We tried them twice upon the turbulent hysterical girl, several times upon Hortense, also upon another female patient, and upon a boy of 9 years in the Children’s Ward, No.7; we tried them both wrapped and uncovered, and neither of them produced the least effect unless it was suggested by the doctors that this metal would do so and so, and the others something else. Upon suggestion, gold made one patient laugh, another weep; silver made one sing, caused a blister on another; and copper, [375] similarly, made one sneeze, another cough. In one case, the patient being put to sleep, there was no effect either from the coins or the sugar lozenge, even when suggestion was resorted to, the reason being—as I was told—that the patient had sunk so deep into catalepsy that even the Doctor’s suggestions did not reach her inner consciousness. With Hortense the most excellent subject in the hospital, no normal effect followed the application of either metal, but when she was told that the lozenge was gold and would burn her, she instantly pitched it off and began rubbing her arm, upon which a redness of the skin was observable at the point of contact. In the case of the troublesome girl, she seemed at first sensitive to gold and silver, but indifferent to copper, while they were visible to her, but when wrapped in paper and indistinguishables all proved equally inert. I varied all these experiment, many times, always with the same result. The Nancy school, as before remarked, ascribe the Salpêtrière results of this kind to pure suggestion, and of course it would be fair for me to apply the same rule to their own tests; their disbelief in metallotherapy being as potential in influencing their hypnotic patients to resist the action of metals, as the contrary belief of Professor Charcot’s school might cause the hypnotised patients to be sensitive to metals. But how about my own case? If anything, I inclined to the theory of Burcq and Charcot, that metals do affect persons; in fact, I might even go further and say I actually believe it; yet the Nancy patients, though given over [376] to me to experiment upon as I chose, and by me tested and tried in many ways, were not acted upon by my gold, silver, or copper coins, and were powerfully affected, upon suggestion, by the simple, inert tablet of sugar! I leave it, therefore, with the Scotch verdict, “Not proven.”

Trong bài viết của tôi về các khảo cứu tại Salpêtrière, tôi có thuật lại một thí nghiệm đơn lẻ được Bác sĩ Guinon làm cho tôi trên một phụ nữ, nơi sự co rút bắp tay được gây ra bằng cách đặt một đồng vàng lên cổ tay cô ấy, nhưng ở Nancy các thí nghiệm của chúng tôi nghiêm túc hơn nhiều. Tôi có với mình một đồng sovereign Anh, một đồng bạc 1 franc, một đồng xu đồng, một đồng bạc 2 franc, một đồng vàng quarter-eagle của Mỹ, và một viên ngậm trị ho bằng đường. Tất cả đều được gói trong giấy, và dĩ nhiên không thể phân biệt được với nhau. Chúng tôi thử hai lần trên cô gái cuồng loạn bướng bỉnh, nhiều lần trên Hortense, cũng trên một bệnh nhân nữ khác, và trên một cậu bé 9 tuổi ở Khu Trẻ em, số 7; chúng tôi thử chúng cả khi còn gói và khi mở ra, và chẳng cái nào gây được tác dụng nhỏ nhất trừ khi các bác sĩ gợi ý rằng kim loại này sẽ gây điều nọ điều kia, còn những cái khác sẽ gây điều khác. Theo gợi ý, vàng làm một bệnh nhân cười, một bệnh nhân khác khóc; bạc làm một người hát, gây phồng rộp trên người khác; và đồng, [375] tương tự, làm một người hắt hơi, một người khác ho. Một trường hợp, khi bệnh nhân bị đưa vào ngủ, không có tác dụng nào từ các đồng tiền hay viên ngậm đường, ngay cả khi đã dùng đến gợi ý, lý do — như tôi được bảo — là bệnh nhân đã chìm quá sâu vào trạng thái cứng đờ đến nỗi ngay cả các gợi ý của Bác sĩ cũng không chạm tới tâm thức bên trong của cô. Với Hortense, đối tượng tuyệt hảo nhất trong bệnh viện, không có tác dụng bình thường nào theo sau việc áp đặt bất cứ kim loại nào, nhưng khi cô được bảo rằng viên ngậm là vàng và sẽ đốt rát cô, cô lập tức hất nó đi và bắt đầu xoa cánh tay, trên đó thấy ửng đỏ da tại điểm tiếp xúc. Với cô gái rắc rối kia, thoạt đầu cô có vẻ nhạy với vàng và bạc, nhưng dửng dưng với đồng, khi chúng còn trong tầm mắt cô, nhưng khi được gói trong giấy và không thể phân biệt, tất cả đều tỏ ra vô hiệu như nhau. Tôi biến hoá các thí nghiệm này nhiều lần, luôn luôn với cùng kết quả. Như đã nói, trường phái Nancy quy các kết quả loại này tại Salpêtrière về thuần gợi ý, và dĩ nhiên sẽ công bằng nếu tôi áp cùng quy tắc đó vào các kiểm nghiệm của họ; sự hoài nghi của họ đối với liệu pháp kim loại có thể tác động mạnh mẽ không kém trong việc ảnh hưởng các bệnh nhân bị thôi miên của họ kháng cự tác động của kim loại, như niềm tin ngược lại của trường phái Giáo sư Charcot có thể khiến các bệnh nhân bị thôi miên mẫn cảm với kim loại. Nhưng còn trường hợp của riêng tôi thì sao? Nếu có gì, tôi thiên về thuyết của Burcq và Charcot rằng kim loại có tác động đến người; thực ra, tôi còn có thể đi xa hơn mà nói rằng tôi thực sự tin như vậy; thế nhưng các bệnh nhân của Nancy, dù được giao cho [376] tôi để thí nghiệm theo ý, và do tôi tự mình kiểm tra và thử theo nhiều cách, lại không bị ảnh hưởng bởi các đồng vàng, bạc hay đồng của tôi, và trái lại bị tác động mạnh mẽ, theo gợi ý, bởi viên đường vô thưởng vô phạt! Do vậy, tôi tạm để vấn đề với phán quyết kiểu Scotland: “Chưa được chứng minh.”

It will be seen that the question is a very delicate one, and we are very far from having got to the bottom of it. The experiments at Nancy are interesting and important, but so we may say have been the very numerous observations made by different mesmeric experimentalists on the effects of metallic substances upon their subjects. It cannot be at all certain that a physician of the standing of Dr. Burcq could have been utterly mistaken as to the influence of metals upon sick patients having been so marked as to warrant his reporting them to the Academy of Medicine as the basis for a new system of therapeutics. Then, again, there are many persons who, on touching brass, taste its peculiar aura on their tongues; furthermore, what are we to say as to the well-known fact that a globule of mercury held in the palm of the hand will sometimes produce salivation? Last of all, there are the delicate and multifarious researches of Baron von Reichenbach, whose eminence as a metallurgical chemist is historical, and about whose discoveries something will be said in the next chapter.

Sẽ thấy rằng vấn đề này rất tinh tế, và chúng ta còn rất xa mới chạm tới đáy. Các thí nghiệm ở Nancy thú vị và quan trọng, nhưng ta cũng có thể nói y như vậy về vô số quan sát do những nhà thực nghiệm thôi miên khác nhau thực hiện về tác động của các chất kim loại trên đối tượng của họ. Không thể nào chắc chắn rằng một thầy thuốc cỡ Bác sĩ Burcq lại hoàn toàn lầm lẫn về ảnh hưởng của kim loại trên bệnh nhân đến mức đáng để ông báo cáo với Hàn lâm viện Y khoa như nền tảng cho một hệ trị liệu mới. Rồi nữa, có nhiều người, khi chạm vào đồng thau, nếm được mùi vị đặc trưng của khí toả của nó trên lưỡi; hơn nữa, ta sẽ nói gì về sự kiện hiển nhiên rằng một giọt thuỷ ngân đặt trên lòng bàn tay đôi khi sẽ gây chảy nước bọt? Sau hết, còn có những khảo cứu tinh vi và đa dạng của Nam tước von Reichenbach, người mà uy tín như một nhà hoá luyện kim là điều thuộc lịch sử, và về những khám phá của ông chúng ta sẽ nói đôi điều trong chương tới.

CHAPTER XXII—CHƯƠNG XXII

MRS. BESANT BIDS ADIEU TO THE SECULARISTS—BÀ BESANT GIÃ BIỆT NHỮNG NGƯỜI THẾ TỤC

(1891)

(1891)

WE now pass on to the question of the action of drugs at a distance. The experiment with bottled drugs I could not try, because the matter had been deferred to my last day at Nancy, the experimental bottles in the hospital laboratory were empty, and I could not wait over to get them filled. But from the entire staff, including Dr. Bernheim, I heard that they had thoroughly tested the matter many times, and found that the drug action under such circumstances was due to suggestion. An apothecary in Nancy had repeated Dr. Luys’ experiment over and over again, until he became perfectly convinced that that eminent savant’s theory that drugs would affect persons from a distance was correct. He then asked Dr. Bernheim to try the experiment for himself. The Professor took eight vials of dark brown glass, so opaque as not to be seen through, and filled them with scammony, emetics, strychnine, a salivant, etc. and one with plain distilled water; the vials being numbered, but not marked so that [378] either of the experimentalists could know the contents; they were also hermetically sealed. Not one produced its proper symptoms in a patient. After giving five hours to the tests, at last both the Professor and the apothecary were satisfied that whatever action there was had been provoked by suggestion alone. Bernheim tells me he has repeated all Charcot’s published experiments, with contradictory results. Among other things, he has produced a blister artificially by hypnotic suggestion, and by suggestion prevented a real fly-blister from blistering; while upon the same patient, at the same time, another blister, made exactly like the other and of identical materials, blistered the skin upon suggestion.

GIỜ chúng ta chuyển sang vấn đề tác dụng của dược chất từ xa. Thí nghiệm với các dược chất đựng trong chai tôi không thể thử, vì việc ấy bị hoãn tới ngày cuối cùng của tôi ở Nancy, các chai thí nghiệm trong phòng thí nghiệm bệnh viện đều trống rỗng, và tôi không thể nán lại để chờ nạp. Nhưng từ toàn bộ ê-kíp, kể cả Bác sĩ Bernheim, tôi nghe rằng họ đã kiểm nghiệm kỹ nhiều lần, và thấy rằng tác dụng của dược chất trong hoàn cảnh như vậy là do gợi ý. Một dược sĩ ở Nancy đã lặp lại thí nghiệm của Bác sĩ Luys hết lần này đến lần khác, cho đến khi ông hoàn toàn xác tín rằng thuyết của vị học giả lỗi lạc ấy — rằng thuốc có thể tác động đến người ở khoảng cách — là đúng. Ông bèn nhờ Bác sĩ Bernheim tự mình thử nghiệm. Giáo sư lấy tám lọ thuỷ tinh nâu sẫm, mờ đục đến mức không nhìn xuyên qua, và nạp chúng bằng scammony, thuốc gây nôn, strychnin, một chất gây tiết nước bọt, v.v., và một lọ chứa nước cất thuần; các lọ được đánh số, nhưng không ghi nhãn để [378] cả hai nhà thí nghiệm đều không thể biết bên trong là gì; chúng cũng được hàn kín. Không một lọ nào gây ra triệu chứng thích hợp của nó trên bệnh nhân. Sau khi dành năm giờ cho các kiểm tra, cuối cùng cả Giáo sư và người dược sĩ đều hài lòng rằng bất cứ tác dụng nào có được đều chỉ do gợi ý. Bernheim nói với tôi rằng Ngài đã lặp lại tất cả các thí nghiệm được công bố của Charcot, với kết quả trái ngược. Trong số các điều khác, Ngài đã gây phồng rộp nhân tạo bằng gợi ý thôi miên, và bằng gợi ý đã ngăn một miếng cao dán gây phồng rộp khỏi làm phồng rộp; trong khi trên cùng một bệnh nhân, cùng lúc, một miếng cao dán khác, làm đúng y như kia và cùng vật liệu, đã làm phồng rộp da theo gợi ý.

Again I say that I do not consider the case closed, for the evidence is not all in. Some years ago, as I have related in an early chapter, I assisted at some experiments made in New York City by Professor J. R. Buchanan in the psychometrical perception of the properties of dry drugs wrapped in paper on which were no external distinguishing marks. The tests were made in the presence of a number of newspaper reporters and others. There were equal quantities of such differing substances as tartaric acid, opium, ginger, quinine, soda carbonate, salt, cayenne pepper, black pepper, sugar, etc., all in powders, and all done up as powders are prepared by the apothecary. About eight or ten of the company, if my memory serves, were selected for the experiments. The packages were put into a hat, shaken up and passed around to the

Một lần nữa tôi nói rằng tôi không xem vụ này đã khép lại, vì bằng chứng chưa đầy đủ. Vài năm trước, như tôi đã thuật trong một chương đầu, tôi có dự một số thí nghiệm do Giáo sư J. R. Buchanan thực hiện tại Thành phố New York về năng lực trắc tâm nhận biết các tính chất của các dược chất khô gói trong giấy không có dấu hiệu phân biệt bên ngoài. Các kiểm tra được làm trước sự chứng kiến của một số phóng viên báo chí và những người khác. Có những lượng bằng nhau của các chất khác biệt như axit tartaric, thuốc phiện, gừng, quinin, natri cacbonat, muối, ớt cayenne, tiêu đen, đường, v.v., tất cả dưới dạng bột, và tất cả được gói theo cách dược sĩ vẫn gói bột. Chừng tám hay mười người trong nhóm, nếu tôi nhớ đúng, được chọn làm đối tượng thí nghiệm. Các gói được cho vào một cái mũ, xốc lên và chuyền quanh cho

MRS.[379] experimenters, who each drew out one. They were then bidden to hold them in the palms of their closed hands, make themselves passive, have no preconceptions, and see if they could tell what was in the packages. The majority failed, but two of the number succeeded with their packages, and also with others successively given them to hold. One young man, of about 25 years of age, rapidly distinguished the substance under his observation, and the correctness of his impressions was verified by opening the papers and examining the contents. Then, again, if I am not mistaken, we ought to regard as a higher form of this same faculty that intuitive power which is possessed by many clairvoyants, of seeing what remedy, chemical, vegetable, or other, is a specific for the malady which she also clairvoyantly detects in the patient. If we do not postulate the existence of auras throughout all the kingdoms of nature, we could hardly understand, on any commonsense hypothesis, the different phenomena above enumerated; whereas, conceding the auras, and also a certain condition of nerve-sensitiveness to them in the individual, the mystery is explained. We may supplement these observations with a reference to Baron Von Reichenbach. His renowned and classical work appeared in English translation in 1850, one edition having been brought out by the late Dr. Gregory, Professor of Chemistry at the University of Edinburgh, the other by the famous pioneer of mesmerism, Dr. Ashburner. Von Reichenbach was one of the greatest chemists of his day, the discoverer [380] of glycerine and creosote, and renowned for his metallurgical researches. His announcement of his discovery of a new and potent force of nature, which he called Odyle, drew upon him the malevolent attacks of contemporaries whose envy and malice were aroused by the grandeur of his success. Not even yet, after fifty years’ interval, has justice been done to him; but Karma can wait. The chief point in his discovery was that there exists in nature a force which is neither electricity nor magnetism, but has, nevertheless, polarities like them; it flows at right angles with the electric current, impregnates the whole globe, affects all the different kingdoms of nature, and extends throughout space, every celestial orb being apparently, like our earth, a focal centre of it. The Baron made experiments for years with a number of persons of both sexes and different social conditions, some invalids, others in robust health, which showed that this force when associated with crystals and other bodies—the human body included—has luminosity as well as polarity. He divided the positives and negatives in groups, the reading of which is very instructive: the odylo-negatives gave the sensitives a feeling of warmth, odylo-positives one of cold. The reader will find the classification on pages 177-9 of Dr. Gregory’s translation. To the touch “almost all metals felt warm to the hand, but all, also, yielded the emanations which the patient called cool air. In the order of their energy they were nearly thus: chromium, osmium, nickel, iridium, lead, tin, cadmium, zinc, titanium, mercury,

MRS.[379] những người thí nghiệm, mỗi người rút ra một gói. Họ được bảo cầm gói trong lòng bàn tay khép kín, tự đặt mình vào trạng thái thụ cảm, đừng định kiến, và xem liệu có thể nói gói bột chứa gì. Đa số thất bại, nhưng hai người trong số đó thành công với gói của mình, và cũng thành công với các gói khác lần lượt đưa cho họ cầm. Một chàng trai trẻ, chừng 25 tuổi, nhanh chóng phân biệt được chất đang khảo sát, và tính đúng đắn của ấn tượng được kiểm chứng bằng cách mở giấy và xem xét nội dung. Rồi nữa, nếu tôi không lầm, chúng ta nên xem như một dạng cao hơn của cùng năng lực này là quyền năng trực giác vốn được nhiều người thông nhãn sở hữu, nhìn thấy phương dược nào — hoá chất, thảo mộc hay khác — là đặc hiệu cho chứng bệnh mà cô ta cũng trực thị phát hiện trên bệnh nhân. Nếu chúng ta không mặc nhiên nhìn nhận sự hiện hữu của các hào quang khắp các giới tự nhiên, chúng ta khó mà hiểu, trên bất kỳ giả thuyết lẽ thường nào, các hiện tượng khác nhau kể trên; còn nếu thừa nhận các hào quang, và thêm vào đó là một tình trạng nhạy cảm thần kinh nhất định đối với chúng nơi cá nhân, thì huyền bí được giải thích. Chúng ta có thể bổ sung những quan sát này bằng một dẫn chiếu tới Nam tước Von Reichenbach. Tác phẩm lừng danh và kinh điển của ông ra mắt bằng bản dịch tiếng Anh vào năm 1850, một ấn bản do cố Giáo sư Gregory, Giáo sư Hoá học tại Đại học Edinburgh, ấn hành, ấn bản kia do vị tiền phong lừng danh của thuật thôi miên từ, Bác sĩ Ashburner, xuất bản. Von Reichenbach là một trong những nhà hoá học vĩ đại nhất thời ông, người phát hiện [380] glycerin và creosote, và lừng danh vì các khảo cứu luyện kim. Tuyên bố của ông về phát hiện một lực mới và mạnh của thiên nhiên, mà ông gọi là Odyle, đã kéo theo những công kích ác ý từ các đồng thời, những kẻ đố kỵ và thù hằn bị khơi dậy bởi tầm vóc to lớn của thành công ấy. Ngay cả đến nay, sau năm mươi năm, công lý vẫn chưa được thực thi cho ông; nhưng Nghiệp quả có thể chờ. Điểm chủ chốt trong phát hiện của ông là: tồn tại trong tự nhiên một lực không phải điện cũng chẳng phải từ, nhưng dẫu vậy có tính lưỡng cực như chúng; nó chảy vuông góc với dòng điện, thấm nhuần toàn cầu, tác động lên mọi giới khác nhau của tự nhiên, và lan khắp không gian, mỗi thiên thể có vẻ như, giống Trái Đất chúng ta, là một tâm điểm hội tụ của nó. Nam tước đã làm thí nghiệm nhiều năm với một số người thuộc cả hai giới và các địa vị xã hội khác nhau, có người ốm yếu, có người cường tráng, cho thấy lực này khi gắn với tinh thể và các vật khác — kể cả thân người — có tính phát quang cũng như lưỡng cực. Ông chia những người dương và âm thành các nhóm, và đọc chúng rất bổ ích: các đối tượng âm-odyle cho người nhạy cảm cảm giác ấm, các đối tượng dương-odyle cho cảm giác lạnh. Người đọc sẽ thấy bảng phân loại ở các trang 177-9 trong bản dịch của Bác sĩ Gregory. Khi chạm “gần như mọi kim loại đều cho cảm giác ấm tay, nhưng tất cả cũng đồng thời toả ra những phát xạ mà bệnh nhân gọi là luồng không khí mát. Theo trình tự năng lực, chúng hầu như như sau: chromium, osmium, nickel, iridium, chì, thiếc, cadmium, kẽm, titanium, thuỷ ngân,

MRS.[381] palladium, copper, silver, gold, iron, platinum. A thin copper plate, of nearly 800 square inches, placed near and opposite to the bed of the patient, caused the sensation of a lively current of fresh, cool air, which by degrees seemed to penetrate the whole bed, and was very agreeable to the patient. A zinc plate of the same size produced a similar effect, but not so powerfully. Plates of lead and iron were still weaker”. When the surface of a mirror was turned towards the patient the effect was marked. “The radiation from the polished metal through the glass diffused that ethereal and delightful coolness described in section 182 as proceeding from sulphur and gypsum, also through glass. She felt her whole person, from head to foot, pervaded by a pleasurable sense of comfort.” But the crushing fact for the opponents of the theory that substances can act at a distance is, that the Baron was able to conduct the emanations of metals through wires to distances of more than 100 feet. For example (op. cit., p. 150), “Mlle. Reichel felt the sulphur to diffuse coolness at 124 feet. Astonished at this, I tried a copper plate of more than 4 square feet. It diffused warmth to the distance of 94 feet.

MRS.[381] palladium, đồng, bạc, vàng, sắt, bạch kim. Một tấm đồng mỏng, gần 800 inch vuông, đặt gần và đối diện giường bệnh nhân, gây cảm giác một luồng không khí mát lạnh sống động, dần dần dường như thấm vào cả chiếc giường, và rất dễ chịu với bệnh nhân. Một tấm kẽm cùng kích thước tạo hiệu quả tương tự, nhưng không mạnh bằng. Những tấm chì và sắt yếu hơn nữa”. Khi bề mặt một chiếc gương được quay về phía bệnh nhân, hiệu ứng rất rõ. “Bức xạ từ kim loại đã được đánh bóng xuyên qua kính khuếch tán cái mát dịu, thanh nhẹ được mô tả trong mục 182 như phát ra từ lưu huỳnh và thạch cao, cũng xuyên qua kính. Cô cảm thấy cả thân mình, từ đầu đến chân, thấm đẫm một cảm giác dễ chịu.” Nhưng sự kiện đè bẹp đối với những người phản đối thuyết rằng vật chất có thể tác động từ xa, là Nam tước đã có thể dẫn truyền phát xạ của kim loại qua dây tới khoảng cách hơn 100 phít. Thí dụ (sđd., tr. 150), “Cô Reichel cảm thấy lưu huỳnh toả mát ở 124 phít. Ngạc nhiên vì điều đó, tôi thử một tấm đồng hơn 4 foot vuông. Nó toả ấm ở khoảng cách 94 phít.

A plate of iron, 6 feet square, was felt warm … … at 146 feet.

Một tấm sắt, 6 foot vuông, được cảm thấy

Thin lead foil of the same size,... “ 75 “

ấm … … ở 146 phít.

Tin foil, … … “ 70 “

Lá chì mỏng cùng cỡ,... “ 75 “

Zinc plate, … … “ 64 “

Lá thiếc, … … “ 70 “

Silver paper (genuine) of 1 square foot, “ 24 “

Tấm kẽm, … … “ 64 “

Gold paper (genuine) of 3 square feet, “ 67·5 “

Giấy bạc (thật) 1 foot vuông, “ 24 “

[382]

Giấy vàng (thật) 3 foot vuông, “ 67·5 “

An electrophorus plate, 16 inches in diameter … … at 98 feet

[382]

A mirror of about 10·5 square feet, “ 106 “

Một tấm electrophorus, đường kính 16 insơ

A small bottle of oxygen gas, … “ 19 “

… … ở 98 phít

“A number of other substances, such as brass utensils, porcelain vessels, glass, surfaces of stone, colored paper, 60 boards of wood, linen, open or shut doors, lustres suspended from the roof, trees, human beings, horses, dogs, cats approaching her, pools of water, especially after having been long exposed to sunshine—in short, all and everything of a material nature acted on her, diffusing in some cases warmth, in others coolness; and many things acted so strongly as to attract her attention and annoy her; others so feebly that, becoming accustomed to them, she no longer regarded them.”

Một chiếc gương chừng 10·5 foot vuông, “ 106 “

From the foregoing results he deduced a general principle, which he formulates in the following words:

Một bình nhỏ khí oxy, … “ 19 “

“All solid bodies in contact with persons sufficiently sensitive excite peculiar feelings, differing in degree according to their chemical nature; these sensations are chiefly those of an apparent change of temperature, such as cool, tepid, or warm, with which a pleasant or a disagreeable sensation keeps pace, more or less uniformly. Lastly, these reactions are in all respects similar to those produced by the force of magnets, crystals, the human hand, etc.”

“Một số vật chất khác, như đồ dùng bằng đồng thau, các vật bằng sứ, thuỷ tinh, bề mặt đá, giấy màu, 60 tấm ván gỗ, vải lanh, cửa mở hoặc đóng, đèn chùm treo trần, cây cối, con người, ngựa, chó, mèo tiến lại gần cô, vũng nước, nhất là sau khi phơi nắng lâu — tóm lại, mọi thứ thuộc vật chất đều tác động lên cô, khuếch tán trong một số trường hợp là ấm, trường hợp khác là mát; nhiều thứ tác động mạnh đến mức thu hút chú ý và làm cô khó chịu; một số khác thì yếu đến mức, khi đã quen, cô không còn lưu tâm.”

And now, to avoid prolixity, I shall conclude with a few words about the discoverer of “the therapeutic

Từ các kết quả trên, ông rút ra một nguyên lý tổng quát, được ông công thức hoá như sau:

MRS.[383] suggestion,” the future of which seems so full of promise as a remedial agency to the human race. This public benefactor is a French physician named Ambroise August Liébault, a native of Favières, in the department of Meurthe et Moselle. He was born September 16, 1823, and was the twelfth child of his parents, who were cultivators. They wanted him to be a priest, and he was put to study with that object; but he felt it was not his proper vocation, and took up the study of medicine, and in due course won the degree of Bachelier ès Lettres (our B.A.); that of Doctor of Medicine he took in 1851 at Strasbourg. The French Academy Committee’s report of 1829 on Animal Magnetism interested him much, and he tested the theory by many practical experiments. Later, the report by the great surgeon, Velpeau, to the French Academy, upon the subject of Braidism, i.e., Hypnotism, caused him to continue his researches with additional ardor, and they resulted in his discovery of Therapeutic Suggestion (the healing of disease by suggestion), which has made his name known throughout the medical world. He was obliged to go on very cautiously in the dissemination of his theory on account of the prejudiced opposition of the profession, and at last removed in 1864 to Nancy, where he hoped to find a freer scope and less dogmatic intolerance. But he was disappointed, for the Faculty of the College would not even listen to him or look at his experiments, regarding him as a crack-brained innovator. They would even have persecuted him as a charlatan if he [384] had not confined his hypnotic treatments to the poorer classes, and cured their diseases without money and without price.

“Mọi vật rắn khi tiếp xúc với những người đủ nhạy cảm đều gây nên các cảm giác đặc thù, khác nhau về độ mạnh tuỳ theo bản chất hoá học của chúng; những cảm giác này chủ yếu là cảm giác về sự đổi thay nhiệt độ bề ngoài, như mát, ấm vừa hay ấm nóng, đi kèm một cảm giác dễ chịu hay khó chịu, ít nhiều đồng đều. Sau chót, các phản ứng này hoàn toàn giống với những phản ứng do lực của nam châm, tinh thể, bàn tay người, v.v., gây ra.” Và giờ, để tránh dông dài, tôi kết lại bằng đôi lời về người phát hiện ra “gợi ý trị liệu”, tương lai của nó dường như đầy hứa hẹn như một phương dược cho nhân loại. Vị ân nhân công cộng này là một thầy thuốc người Pháp tên Ambroise August Liébault, sinh quán ở Favières, thuộc địa hạt Meurthe et Moselle. Ông sinh ngày 16 tháng Chín, 1823, là người con thứ mười hai của cha mẹ ông, những người làm nghề canh tác. Họ muốn ông làm linh mục, và ông được cho học theo hướng đó; nhưng ông cảm thấy đó không phải thiên chức của mình, và chuyển sang học y, và đến thời điểm thích hợp đạt học vị Bachelier ès Lettres (tương đương Cử nhân Văn chương); học vị Bác sĩ Y khoa ông lấy năm 1851 tại Strasbourg. Bản phúc trình của Uỷ ban Hàn lâm viện Pháp năm 1829 về Thôi miên động vật làm ông rất quan tâm, và ông kiểm tra học thuyết bằng nhiều thí nghiệm thực tiễn. Về sau, bản phúc trình của vị phẫu thuật gia vĩ đại, Velpeau, gửi Hàn lâm viện Pháp, về chủ đề Braidism, tức Thôi miên, khiến ông tiếp tục nghiên cứu với nhiệt tâm gia tăng, và chúng đưa tới phát hiện Gợi ý Trị liệu (chữa bệnh bằng gợi ý), điều đã làm tên tuổi ông được biết đến khắp giới y học. Ông buộc phải tiến rất thận trọng trong việc phổ biến học thuyết của mình vì sự chống đối đầy thành kiến của giới chuyên môn, và cuối cùng dời đến Nancy năm 1864, nơi ông hy vọng tìm được không gian tự do hơn và bớt độc đoán ngoan cố. Nhưng ông thất vọng, vì Khoa của Trường không thèm nghe ông hay nhìn các thí nghiệm của ông, xem ông như một kẻ đầu óc rối loạn vì cải tân. Họ thậm chí đã muốn bức hại ông như một kẻ lang băm nếu ông [384] đã không giới hạn các điều trị thôi miên của mình cho giới nghèo khổ, và chữa bệnh cho họ không nhận một xu công cán.

When I tell the reader that this sort of thing went on for eighteen years, he ever playing the part of public benefactor, and his proud colleagues standing aloof Bernheim included, it will be seen how loyal Liébault was to his discovered truth, how persistent in altruistic well-doing. The Faculty were unanimous in the assertion that he was crazy because he took no fees from the sick poor who crowded his consultation-room! But the tide turned at last: after he had hypnotised ten thousand patients and produced an infinity of cures, some of almost a miraculous character, a friend of Professor Bernheim’s personally testified to the latter as to what he had seen in Liébault’s clinique, and Dr. B., still overcautious, came, saw, tested, retested, managed patients in his own way, tried some in the hospital, was successful, and, with the moral courage which characterises great souls, stepped forth as the disciple, defender, and interpreter of the patient, generous little Nancy doctor of the Rue-Grégoire. Of course, he brought over in time all the rest of the Faculty of Medicine, and non-medical men, like Professor Liegois and others whose names are now celebrated, and the Nancy school of therapeutic suggestion became a fact, and Bernheim its prophet. From the first, its chief antagonist was the Charcot school of La Salpêtrière, which includes some very clever and world-renowned advocates, and so the

Khi tôi nói với độc giả rằng chuyện ấy kéo dài trong mười tám năm, ông mãi đóng vai một ân nhân công cộng, còn các đồng liêu kiêu hãnh của ông đứng xa mà nhìn — kể cả Bernheim — các bạn sẽ thấy Liébault trung tín đến mức nào với chân lý mà ông tìm ra, và bền bỉ trong thiện hạnh vị tha ra sao. Khoa đều nhất trí quả quyết rằng ông điên rồ vì không lấy thù lao của các người nghèo bệnh tật chen kín phòng khám của ông! Nhưng rồi thuỷ triều cũng đổi: sau khi ông đã thôi miên mười ngàn bệnh nhân và tạo nên vô vàn ca chữa, có ca gần như phép lạ, một người bạn của Giáo sư Bernheim đích thân chứng thực với vị sau về những gì ông ta thấy tại phòng khám của Liébault, và Bác sĩ B., vẫn thận trọng quá mức, đã đến, thấy, kiểm tra, tái kiểm tra, điều khiển bệnh nhân theo cách riêng, thử một số ca tại bệnh viện, thành công, và với can đảm đạo đức đặc trưng cho những tâm hồn lớn, đã bước ra như người môn đệ, người biện hộ và người diễn giải cho vị bác sĩ Nancy nhỏ bé, kiên nhẫn, hào phóng ở Rue-Grégoire. Dĩ nhiên, theo thời gian, Ngài đưa cả phần còn lại của Khoa Y, và cả những người ngoài ngành y, như Giáo sư Liegois và những người khác, nay tên tuổi đã lừng danh, gia nhập, và trường phái Nancy về gợi ý trị liệu trở thành một thực tại, còn Bernheim là người phát ngôn của nó. Từ đầu, đối thủ chính của nó là trường phái Charcot ở La Salpêtrière, vốn quy tụ những nhà biện hộ rất sắc sảo và lừng danh thế giới, và vì vậy

MRS.[385] whole profession is now ranged in two parties, and bitter controversy ranges all along the line.

MRS.[385] toàn ngành nay chia làm hai phe, và cuộc bút chiến gay gắt đang lan suốt toàn tuyến.

Almost like a pilgrim before a shrine, I knocked one day at the heavy wooden gate in the wall that encloses Dr. Liébault’s house and garden. Presently it was opened, and there stood before me, courteously bowing, an elderly gentleman, with shortish, grizzled hair and full beard, a straight nose, firm mouth, serious and determined expression, and a full, broad forehead, well rounded out in the superior region—that, phrenologically speaking, of the intellectual faculties. I presented my card and mentioned my name, whereupon the old gentleman grasped my hand with warmth, declared that he knew me well through mutual friends, and bade me enter. It was a small garden, with gravelled walks, and thickly planted with flowering bushes and fruit and shade trees. A turn towards the right brought us to the house, and, as the weather was fine, we sat outside in garden seats. After the usual exchange of courtesies, we engaged in a lengthy conversation about hypnotism and cognate subjects, which was most interesting. He introduced me to his wife and daughter, the latter a sweet girl, evidently the apple of his eye. They kept me to dinner, and the Doctor showed me with honest pride a splendid bronze statue by Mercié of “David slaying Goliath,” which had been presented to him on 25th May, 1890, by a number of eminent physicians of different lands on the occasion of his formal retirement from practice. They had flocked [386] to Nancy from their various distant lands to offer their homage to the veteran psychologist, had given him a public banquet, and placed in his hands an album filled with their signed photographs. These tardy honors had not spoilt the old man in the least; he was as modest and gentle as possible in speaking of them and of his realised triumph, in old age, over the bigoted professional prejudice against which he had had to fight his way for twenty long years. I have jokingly told him that the artist Mercié had well symbolised in his bronze the Doctor’s battle and victory over Ignorance. I have met great men in my time, but never one who wore his greatness more humbly and unpretentiously than Dr. Liébault. I have a list of the contributors to this testimonial, numbering sixty-one names, all well known, many eminent in the medical profession in Germany, Austria, Belgium, Brazil, Canada, Spain, the United States, France, Great Britain, Holland, Italy, Russia, Sweden, and Switzerland. The Revue de l’ Hypnotisme for June 1891 contains a full report of the banquet and the moving speeches of M. Dumontpallier, of Paris, Van Renterghem, of Amsterdam, and Dr. Liébault’s response. Dr. van Renterghem voiced a great fact in saying:

Gần như một người hành hương trước một điện thờ, một hôm tôi gõ lên cánh cổng gỗ nặng nề trên bức tường bao quanh nhà và vườn của Bác sĩ Liébault. Chẳng bao lâu cổng mở, và trước mặt tôi, cúi chào nhã nhặn, là một quý ông lớn tuổi, tóc hoa râm cắt ngắn, râu đầy, mũi thẳng, miệng kiên nghị, vẻ mặt nghiêm trang và quả quyết, trán rộng và đầy đặn, nổi cao ở vùng thượng đỉnh—nói theo khoa sọ học, là khu vực của các năng lực trí tuệ. Tôi đưa danh thiếp và xưng tên, lập tức vị lão ông nắm tay tôi nồng hậu, nói rằng Ông biết tôi rõ qua các bạn chung, và mời tôi vào. Đó là một khu vườn nhỏ, có lối đi sỏi, trồng dày những bụi hoa và các cây ăn trái, cây bóng mát. Rẽ về bên phải là tới nhà, và vì trời đẹp, chúng tôi ngồi ngoài trời trên ghế vườn. Sau những câu xã giao thường lệ, chúng tôi đàm đạo khá lâu về thôi miên và những chủ đề liên quan, cực kỳ thú vị. Ông giới thiệu tôi với vợ và con gái—cô sau là một thiếu nữ dịu hiền, hiển nhiên là con cưng của Ông. Họ giữ tôi ở lại dùng bữa, và Bác sĩ, với niềm tự hào chân thật, cho tôi xem pho tượng đồng tuyệt đẹp của Mercié “Đa-vít hạ Gô-li-át”, được tặng cho Ông ngày 25 tháng Năm năm 1890 bởi nhiều bác sĩ ưu tú ở các xứ khác nhau nhân dịp Ông chính thức về hưu. Họ đã nườm nượp [386] kéo về Nancy từ những miền xa để bày tỏ tôn kính đối với nhà tâm lý học lão thành, mở yến tiệc công khai để vinh danh Ông, và dâng lên tay Ông một quyển album đầy ảnh có chữ ký của họ. Những vinh dự muộn màng ấy chẳng hề làm hư hỏng cụ ông chút nào; khi nói về chúng và về thắng lợi đã thành, vào tuổi xế chiều, trước định kiến nghề nghiệp hẹp hòi mà Ông phải đấu tranh suốt hai mươi năm dài, Ông khiêm nhường và dịu dàng hết mức có thể. Tôi đã đùa rằng nghệ sĩ Mercié đã tượng trưng thật khéo trong pho đồng trận chiến và chiến thắng của Bác sĩ trước Vô minh. Tôi từng gặp những người lớn lao trong đời, nhưng chưa từng gặp ai mang sự vĩ đại của mình khiêm cung và không phô trương như Bác sĩ Liébault. Tôi có danh sách những người đóng góp cho tặng phẩm này, gồm sáu mươi mốt tên tuổi, đều nổi tiếng, nhiều vị là bậc ưu tú trong ngành y ở Đức, Áo, Bỉ, Brazil, Canada, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Pháp, Anh quốc, Hòa Lan, Ý, Nga, Thụy Điển và Thụy Sĩ. Số tháng Sáu năm 1891 của tờ Revue de l’Hypnotisme đăng toàn văn tường thuật buổi yến tiệc và những diễn văn xúc động của Ông Dumontpallier ở Paris, Ông Van Renterghem ở Amsterdam, cùng lời đáp từ của Bác sĩ Liébault. Bác sĩ van Renterghem đã nói lên một sự thật lớn khi phát biểu:

It has often happened—too often, alas! as history shows—that the pioneers, the workers of the first hour, have had, as their sole reward for all their efforts and sacrifices, only contempt and outrage. The instances are rare, and may be counted, where such

Đã nhiều lần—quá nhiều lần, than ôi! như lịch sử cho thấy—những người mở đường, những người lao tác từ phút giây đầu, cho tất cả nỗ lực và hy sinh của mình, phần thưởng duy nhất lại chỉ là khinh miệt và lăng mạ. Những trường hợp hiếm hoi—và có thể đếm được—nơi những

MRS.[387] admirable lives have at length been crowned with honor and glory. But such a rare fact is here produced, and, remembering the injustice with which humanity has so often made its benefactors to suffer, we feel happy indeed to be in the way of repairing the injustice of which one public benefactor has been the victim during long years—the more so since the injustice has been borne in the noblest manner. Most frequently, great souls, ignored, let themselves fall into despair and misanthropy. But let us testify frankly that one cannot imagine to himself a man less bitter, less misanthropic, than the venerated M. Liébault. Alexander von Humboldt said that the first condition of genius is patience. You will concur with me that in this respect M. Liébault has surpassed all the geniuses of his time.”

BÀ[387] đời sống đáng khâm phục như thế sau cùng được triều thiên bằng danh dự và vinh quang. Nhưng ở đây đã xuất hiện một sự kiện hiếm hoi như vậy, và, nhớ lại những bất công mà nhân loại quá thường gây cho những ân nhân của mình, chúng ta quả thật vui mừng được góp phần sửa chữa bất công mà một vị ân nhân công chúng đã phải chịu đựng suốt nhiều năm—lại càng vui mừng hơn nữa vì sự bất công ấy đã được gánh chịu theo cung cách cao quý nhất. Thường thì, những tâm hồn lớn lao, vì bị phớt lờ, tự buông mình vào tuyệt vọng và yếm thế. Nhưng hãy thành thật làm chứng rằng người ta không thể hình dung một con người nào ít cay nghiệt, ít yếm thế hơn vị khả kính Ông Liébault. Alexander von Humboldt từng nói điều kiện thứ nhất của thiên tài là kiên nhẫn. Quý vị hẳn sẽ đồng ý với tôi rằng về phương diện này, Ông Liébault đã vượt tất cả thiên tài cùng thời.”

I quote this as corroborative of my estimate of this dear altruist, in whose company I passed delightful hours during my visit.

Tôi trích dẫn điều này như sự xác nhận đánh giá của tôi về người vị tha đáng mến ấy, bên cạnh Ông tôi đã trải qua những giờ phút thật thú vị trong chuyến thăm.

When I come to look at it, everyone of us practises suggestion every day of our lives: as parents, giving children our rules of conduct; as business men, persuading each other as our interests prompt; as lawyers, persuading jurymen and judges; as preachers, winning over people to our sects; and as priests, keeping them in the straight paths of our doxies: the physician cures his patient by suggesting hopes of recovery and the efficacy of medicines; the flag in the forefront of battle is a suggestion that the nation honors its braves; the lover suggests domestic bliss to his sweetheart—and [388] so on throughout the whole tangle of human relations. Finally, by the practice of Yoga we teach ourselves to suggest to ourselves self-control and the development of latent spiritual potentialities. From birth to death, the whole family of mankind are acting and reacting upon each other by interchange of thought, called psychical suggestion, and by interblending of auras, resulting in sympathetic mutual relations; the ideal outcome of which should be, in that far-distant day when humanity shall have progressed, the establishment of a reign of good-will on earth and a loving brotherhood of nations. And the modern discoverer of this power, which the good may use, like gods, beneficently, and the bad, like demons, with infernal selfishness, was Dr. Liébault, founder of the Nancy school of hypnotism.

Khi suy ngẫm, tôi thấy mỗi chúng ta ai nấy đều thực hành “đề nghị” (gợi ý) mỗi ngày trong đời: làm cha mẹ, chúng ta đưa cho con trẻ những điều quy định về cách sống; làm người buôn bán, chúng ta thuyết phục nhau theo những gì quyền lợi mách bảo; làm luật sư, chúng ta thuyết phục bồi thẩm và thẩm phán; làm giảng sư, chúng ta cảm hóa người ta theo giáo phái của mình; và làm giáo sĩ, chúng ta giữ họ đi đúng theo nẻo đạo mà mình rao giảng: người thầy thuốc chữa bệnh nhân bằng cách khơi gợi niềm hy vọng bình phục và hiệu lực của dược phẩm; lá cờ ở tuyến đầu trận mạc là gợi ý rằng quốc gia tôn vinh những người quả cảm; người đang yêu gợi mở cảnh phúc lứa đôi cho người thương—và [388] cứ thế trong cả mớ bòng bong của các tương quan nhân sinh. Sau rốt, qua thực hành Yoga, chúng ta tự dạy mình gợi ý cho chính mình về tự chủ và phát triển các tiềm năng tinh thần còn ẩn tàng. Từ sinh đến tử, cả gia đình nhân loại tác động và đáp ứng lẫn nhau qua sự trao đổi tư tưởng—gọi là gợi ý tâm linh—và qua sự giao thoa của các hào quang, đưa đến những liên hệ cảm ứng tương hỗ; kết quả lý tưởng của quá trình ấy, vào một ngày rất xa khi nhân loại đã tiến bộ, ắt là sự thiết lập một triều đại thiện chí trên mặt đất và một tình huynh đệ yêu thương giữa các dân tộc. Và người phát hiện hiện đại về quyền năng này—mà người thiện có thể dùng, như các thần, để làm ích; và kẻ ác, như quỷ dữ, để thỏa mãn vị kỷ ghê gớm—chính là Bác sĩ Liébault, người sáng lập phái Nancy về thôi miên.

I left Nancy on the 21st of August for Spa, viâ Longwy and Luxembourg. Through the stupidity of the railway officials I had to make a detour of 50 leagues, and so pass the battlefield of Mar le Duc, where there was a desperate struggle between the French and Germans in 1870; slept at Luxembourg, and reached Spa before noon on the next day. The occasion of my visit was to meet an American lady, a very earnest member of our Society. It certainly gives a serious man a profound contempt for high society to see its representatives wasting their time in the inane amusements of the gambling-rooms at these fashionable watering-places. Fancy a lot of full-grown, presumably intelligent men and women MRS.[389] crowding around a long table on which are a number of tiny toy horses, with tiny jockeys astride them, moved by mechanism, and running races towards a goal—at best a pastime for children—working themselves up into a state of excitement and betting large sums as to which little horse will get in first! The spectator of such a scene can hardly help reflecting what a pitiful waste of time this is, and how blind to the real dignity of their humanity must these well-dressed idlers be, as though the supply of soul-stuff had run short just before they were being made.

Ngày 21 tháng Tám tôi rời Nancy đi Spa, qua Longwy và Luxembourg. Vì sự ngu ngốc của nhân viên đường sắt tôi phải đi vòng hơn 50 dặm, và thế là đi ngang qua chiến trường Mar le Duc, nơi đã diễn ra cuộc chiến khốc liệt giữa Pháp và Đức năm 1870; ngủ đêm ở Luxembourg, và tới Spa trước trưa ngày hôm sau. Dịp tôi tới đó là để gặp một phu nhân người Mỹ, một hội viên rất mực nhiệt thành của Hội chúng tôi. Hẳn một người nghiêm túc phải sinh lòng khinh bỉ sâu xa đối với “thượng lưu” khi thấy những đại diện của họ phung phí thời giờ vào các trò vô bổ trong phòng cờ bạc ở những chốn nghỉ dưỡng thời thượng như thế. Hãy tưởng tượng một đám người lớn, nam nữ có vẻ trí thức, BÀ[389] chen chúc quanh một chiếc bàn dài, trên đó là những con ngựa đồ chơi tí hon, với những tay kỵ sĩ tí hon cưỡi ở trên, chuyển động bằng cơ cấu, chạy đua tới đích—cùng lắm cũng chỉ là một trò chơi con nít—vậy mà họ tự khuấy động mình vào cơn phấn khích và cá cược những món tiền lớn xem con ngựa bé xíu nào về trước! Người xem cảnh tượng ấy khó mà không tự nhủ rằng đây là sự hoang phí thời gian đáng thương nhường nào, và những kẻ rỗi rãi ăn mặc bảnh bao kia mù lòa ra sao trước phẩm giá đích thực của nhân tính họ—như thể cội nguồn tinh anh linh hồn đã cạn kiệt ngay trước khi họ được nặn thành người.

To a travelling American, the sight of a king is always interesting, and so I was gratified to see and exchange salutes with the tall, handsome, soldierly-looking King of Belgium, who walked about, with his wife and daughter, amid the crowds with perfect freedom.

Đối với một người Mỹ đi đường, việc gặp một ông vua luôn thú vị, nên tôi hân hạnh được nhìn thấy và chào hỏi vị Vua Bỉ cao lớn, khôi ngô, phong thái nhà binh, Ông đi dạo giữa đám đông cùng vợ và con gái hoàn toàn tự do.

I found on reaching London most of the staff of Headquarters away on their holidays, Mrs. Besant was there, and I had the opportunity of hearing her give a splendid lecture at the Blavatsky Lodge on “East and West: the Future of the T. S.”. On the 28th I went to Canterbury to see my dear old friend Stainton Moses, the most brilliant of the writers on Spiritualism, so well known as “M. A. (Oxon)”. No two men could have been more drawn to each other than he and I; our friendship, begun through correspondence while I was still at New York, had continued unshaken throughout all changes and frictions between our respective parties, the Spiritualists [390] and Theosophists. The recollection of this visit to Canterbury is one of my pleasantest memories, because of the delightful hours we passed together in wanderings about the ancient town and in the cathedral, and in affectionate talk. I can see before me now the picture of him standing on the railway platform, watching my receding train, and waving his hand in a farewell that was doomed to be eternal—that is, so far as this incarnation is concerned.

Khi về đến London, phần đông nhân viên Trụ sở đang nghỉ phép, Bà Besant có mặt, và tôi có dịp nghe Bà thuyết một bài tuyệt vời ở Hội Blavatsky về “Đông và Tây: Tương lai của Hội T. S.”. Ngày 28 tôi đi Canterbury thăm người bạn già khả ái Stainton Moses, cây bút sáng chói bậc nhất của Thần linh học, vốn quá quen thuộc dưới bút hiệu “M. A. (Oxon)”. Khó mà có hai người gắn bó nhau hơn Ông và tôi; tình bạn của chúng tôi, khởi đầu qua thư từ khi tôi còn ở New York, vẫn bền chặt bất chấp mọi đổi thay và va chạm giữa hai phe của chúng tôi—Thần linh học [390] và Thông Thiên Học. Ký ức về chuyến thăm Canterbury này là một trong những kỷ niệm đẹp nhất của tôi, bởi những giờ êm đềm chúng tôi cùng nhau lang thang khắp thị trấn cổ kính và trong nhà thờ lớn, cùng những cuộc chuyện trò âu yếm. Tôi còn như thấy trước mắt mình bóng Ông đứng trên sân ga, dõi theo đoàn tàu đang xa dần, vẫy tay tạm biệt—một lời vĩnh quyết đã định—ít ra là trong kiếp lâm phàm này.

Returning to London, I escorted Mrs. Besant to the “Hall of Science” to hear her farewell address to the Secularists. With a curious incapacity for introspection, the leaders of that party had passed a vote that she should not be allowed to lecture any more on Theosophy if she wished to continue to speak from the Secularist platform. The poor creatures did not see that they were virtually setting up a new orthodoxy—that of Disbelief—and arrogating to themselves disciplinary authority over the pretended Freethinkers of their party. Annie Besant had given to that movement nearly all its culture and idealism, had thrown over its crude iconoclasm the iridescent veil of her own refinement and eloquence: Mr. Bradlaugh was their Hercules and embodiment of strength, she their Hypatia, embodiment of culture and winsome eloquence. They could afford to lose her least of all, and yet they were too blind to see that the inevitable result of their meditated tyranny would be to drive her out of their association into Theosophy, where independence of action and thought is not only tolerated, but enjoined.

Trở lại London, tôi tháp tùng Bà Besant đến “Hội trường Khoa học” nghe Bà đọc bài từ biệt phái Thế tục. Với một khả năng tự xét mình kỳ lạ, các lãnh đạo của phái ấy đã bỏ phiếu rằng Bà không được phép giảng về Thông Thiên Học nữa nếu còn muốn diễn thuyết trên diễn đàn Thế tục. Những con người tội nghiệp ấy không thấy rằng họ thực chất đang dựng lên một thứ chính thống mới—đó là Bất tín—và tự trao cho mình uy quyền kỷ luật đối với những người được gọi là Tự do tư tưởng của phe họ. Annie Besant đã đem đến cho phong trào ấy hầu như toàn bộ văn hóa và lý tưởng của nó, đã phủ lên chủ nghĩa bài trừ thô bạo của họ tấm màn ngũ sắc của chính sự tinh tế và hùng biện của Bà: Ông Bradlaugh là lực sĩ Hercules của họ, hiện thân của sức mạnh; còn Bà là Hypatia của họ, hiện thân của văn hóa và hùng biện duyên dáng. Họ là những người không sao có thể chịu mất Bà hơn bất kỳ ai khác, vậy mà họ quá mù quáng để thấy rằng kết quả tất yếu của mưu đồ bạo quyền của họ sẽ là đẩy Bà ra khỏi tổ chức, đưa Bà vào Thông Thiên Học, nơi sự độc lập trong hành động và tư tưởng không những được dung thứ mà còn được khuyến dụ.

MRS.[391]

BÀ[391]

I sat on the platform with her looking over the large audience of intelligent faces, and felt very sorry to think that these useful pioneers of a new era of religious activity were so foolishly losing their best friend. Mrs. Besant’s, address vibrated with pathos as she defined the false position in which they sought to place her, and the imperative necessity that she should be true to the basic principle of their party by keeping perfect liberty of action in matters of conscience. Evidently a deep impression was made upon the majority; and I judged from the applause that if a poll of opinions had been taken she would have been asked to abide with the old friends with whom she had battled so many years against popular superstition and bigoted prejudice. But the critical moment was allowed to pass, since there was no one in the hall brave enough to rise and make the necessary motion; and so she and I passed out into the street, and, in the carriage on the way home, exchanged sympathetic views as to the future of the Secularist party.

Tôi ngồi trên bục cùng Bà, nhìn ra đông đảo gương mặt thông minh trong khán phòng, và rất buồn khi nghĩ rằng những người mở đường hữu dụng cho một kỷ nguyên mới của hoạt động tôn giáo như thế lại dại dột đến mức đánh mất người bạn tốt nhất của họ. Diễn từ của Bà Besant rung lên bi cảm khi Bà nêu rõ tình thế giả tạo mà họ muốn đặt Bà vào, và sự cần thiết dứt khoát rằng Bà phải trung thành với nguyên lý nền tảng của phe họ bằng cách giữ trọn tự do hành động trong những điều hệ đến lương tâm. Hiển nhiên đa số đã xúc động sâu sắc; và theo những tràng vỗ tay, tôi đoán rằng nếu trưng cầu ý kiến tại chỗ, hẳn Bà đã được mời ở lại với những bạn cũ, cùng họ chiến đấu suốt bao năm chống lại mê tín phổ thông và định kiến hẹp hòi. Nhưng khoảnh khắc quyết định đã bị bỏ lỡ, vì trong hội trường không ai đủ can đảm đứng lên nêu kiến nghị cần thiết; thế là Bà và tôi bước ra phố, và trên xe trở về, chúng tôi cùng trao đổi những nhận định cảm thông về tương lai của phái Thế tục.

From the fact that the address was published in full in the Daily Chronicle, and commented upon by, virtually, the whole British press, I am able to give a few extracts to show the general drift of her argument. She said that it was upon 28th February, 1875 that she had stood for the first time on that platform and spoken to a Freethought audience. She had written for the National Reformer under the pseudonym of “Ajax,” a name which she had chosen because the words which were said to have broken from the lips of that mighty [392] hero, when the darkness came down on him and his army, were, “Light, more light!” And then she uttered this noble sentiment: “It is that cry for light which has been the keynote of my own intellectual life. It was and is so—wherever the light may lead me, through whatever difficulties. “She eloquently referred to the profound friendship which had existed between Mr. Bradlaugh and herself, and said that if there was one thing above all others which Charles Bradlaugh did, it was to keep the Freethought platform free from any narrowness of doctrine or belief recalled the stormy days of 1875-6 when their windows were broken, stones were thrown at them, and they walked the streets to and from the hall through brandished sticks. She said that she had broken with Christianity in 1872, and broke with it once and for all; she had nothing to unsay, nothing to undo, nothing to retract as regards her position then and now; she stood on the same ground as heretofore, and in passing into the newer light of Theosophy, her return to Christianity had “become even more impossible than in any older days of the National Secular Society”. She sharply distinguished from each other two very different schools of Materialism; one of which “cares nothing for man, but only for itself; which seeks only personal gain, and cares only for the moment. With that materialism neither I nor those with whom I have worked had anything in common. (Cheers.) That is the materialism which destroys the glory of human life, a materialism which can only be held by the degraded; never a

Nhờ việc diễn từ được đăng toàn văn trên tờ Daily Chronicle, và hầu như toàn bộ báo chí Anh quốc đều bình luận, tôi có thể trích vài đoạn để cho thấy hướng lập luận chung của Bà. Bà nói rằng chính vào ngày 28 tháng Hai năm 1875 Bà đã lần đầu đứng trên diễn đàn đó và nói với thính chúng Tự do tư tưởng. Bà từng viết cho tờ National Reformer dưới bút danh “Ajax”, cái tên Bà chọn vì những lời được cho là đã bật ra từ miệng vị [392] anh hùng hùng tráng ấy khi màn đêm phủ xuống Ông và quân đội, là: “Ánh sáng, thêm ánh sáng nữa!” Rồi Bà cất lên tư tưởng cao đẹp này: “Chính tiếng kêu cầu ánh sáng ấy là chủ âm của đời sống trí tuệ của tôi. Nó đã và vẫn như thế—dù ánh sáng có dẫn tôi đi tới đâu, qua bao nhiêu khó khăn.” Bà nói đầy hùng biện về mối thâm tình giữa Ông Bradlaugh và mình, và rằng nếu có điều gì trên hết thảy Ông Charles Bradlaugh đã làm, thì đó là giữ cho diễn đàn Tự do tư tưởng không bị bất kỳ sự chật hẹp nào về giáo điều hay tín niệm. Bà nhắc lại những ngày bão táp 1875–6 khi cửa kính của họ bị đập vỡ, đá ném vào họ, và họ đi trên đường—đến và rời khỏi hội trường—giữa những cây gậy vung vẩy. Bà nói Bà đã đoạn tuyệt với Cơ đốc giáo năm 1872, và đã đoạn tuyệt dứt khoát; Bà không có gì phải rút lời, không có gì phải hoàn nguyên, chẳng có gì phải rút lại về lập trường khi ấy và bây giờ; Bà đứng trên cùng một nền tảng như trước, và khi bước vào ánh sáng mới của Thông Thiên Học, việc trở về với Cơ đốc giáo đã “trở nên bất khả hơn cả so với những ngày xưa trong Hội Quốc gia Thế tục”. Bà phân biệt rành rẽ hai trường phái Duy vật rất khác nhau; một, “chẳng màng gì tới con người, chỉ nghĩ tới bản thân; chỉ tìm tư lợi, chỉ sống cho khoảnh khắc. Với thứ duy vật ấy, tôi cũng như những người tôi từng cộng tác, không có gì chung cả. (Vỗ tay.) Đó là chủ nghĩa duy vật hủy hoại vinh quang của đời sống con người, một thứ duy vật chỉ có kẻ suy đồi mới có thể ôm giữ; chẳng bao giờ là một

MRS.[393] materialism preached from this platform, or the training schools which have known many of the noblest intellects and purest hearts. To the materialism of such men as Clifford and Charles Bradlaugh I have no sort of reproach to speak, and never shall. (Cheers.) I know it is a philosophy which few are able to live out—to work without self as an object is the great lesson of human life. But there are problems in the universe which materialism not only does not solve, but which it declares are insoluble—difficulties which materialism cannot grapple with, about which it says man must remain dumb for evermore. I came to problem after problem for which scientific materialism had no answer. Yet these things were facts. I came across facts for which my philosophy had no place. What was I to do? Was I to say that nature was not greater than my knowledge, and that because a fact was new it was an illusion? Not thus had I learned the lesson of materialistic science. When I found that there were facts of life other than as the materialists defined it, I determined still to go on—although the foundations were shaking—and not be recreant enough in the search after truth to draw back because it wore a face other than the one I had expected, I had read two books by Mr. Sinnett, and these threw an intelligible light on a large number of facts which had always remained unexplained in the history of man. The books did not carry me very far, but they suggested a new line of investigation, and from that time forward I looked for other clues. Those clues were not definitely [394] found until early in the year 1889. I had experimented then and before in Spiritualism, and found many facts and much folly in it. (Cheers.) In 1889 I had a book given me to review—a book written by H. P. Blavatsky, entitled The Secret Doctrine. I suppose I was given it to review because I was thought to be more or less mad on such subjects. (Laughter and cheers.) I knew on studying that book that I had found the clue I had been seeking, and I then asked for an introduction to the writer, feeling that one who had written it might tell something of a path along which I might travel.”

BÀ[393] thứ duy vật được rao giảng từ diễn đàn này, hay từ những trường huấn luyện nơi từng biết bao trí tuệ cao quý và những tấm lòng tinh khiết. Với chủ nghĩa duy vật của những người như Clifford và Charles Bradlaugh, tôi không hề có điều gì để chê trách, và sẽ chẳng bao giờ có. (Vỗ tay.) Tôi biết đó là một triết học mà ít ai có thể sống trọn—làm việc mà không lấy bản ngã làm mục đích là bài học lớn của đời người. Nhưng có những vấn đề trong vũ trụ mà chủ nghĩa duy vật không những không giải quyết nổi, mà còn tuyên bố là bất khả giải—những khó khăn mà duy vật không thể vật lộn nổi, và bảo rằng con người phải mãi mãi câm nín. Tôi chạm đến hết vấn đề này đến vấn đề khác mà duy vật khoa học không có lời đáp. Vậy mà những điều ấy là sự kiện. Tôi gặp những sự kiện mà triết lý của tôi không có chỗ chứa. Tôi phải làm gì? Tôi sẽ bảo rằng tự nhiên không lớn hơn tri thức của tôi, và bởi một sự kiện là mới lạ nên nó là ảo ảnh sao? Không phải thế tôi đã học bài học của khoa học duy vật. Khi tôi thấy có những sự kiện của đời sống khác với cách duy vật định nghĩa, tôi quyết định vẫn cứ tiến lên—dù nền tảng đang rung chuyển—và không đến nỗi bội bạc trong cuộc tìm kiếm chân lý để quay lưng lại chỉ vì nó mang gương mặt khác với điều tôi kỳ vọng. Tôi đã đọc hai cuốn của Ông Sinnett, và chúng soi một luồng sáng dễ hiểu lên một số lớn các sự kiện vốn bao giờ cũng chưa được giải thích trong lịch sử loài người. Những cuốn ấy không đưa tôi đi rất xa, nhưng gợi ra một hướng điều tra mới, và từ đó về sau tôi tìm những manh mối khác. Các manh mối ấy chưa được [394] tìm thấy minh bạch cho đến đầu năm 1889. Khi ấy tôi đã từng—và trước đó cũng đã—thực nghiệm trong Thần linh học, và thấy trong đó nhiều sự kiện và cũng nhiều điều dại dột. (Vỗ tay.) Năm 1889, tôi được đưa cho một cuốn sách để điểm—một cuốn do H. P. Blavatsky soạn, nhan đề Giáo Lý Bí Nhiệm. Tôi cho rằng người ta đưa tôi điểm sách vì họ nghĩ tôi ít nhiều là kẻ dở người về những đề tài ấy. (Cười và vỗ tay.) Tôi biết, ngay khi học cuốn ấy, rằng tôi đã tìm được manh mối bấy lâu kiếm tìm, và rồi tôi xin được giới thiệu với tác giả, cảm thấy rằng người đã viết được như thế hẳn có thể nói chút gì về một con đường mà tôi có thể đi.”

After defending the character of Mme. Blavatsky and the Theosophical Society, she concluded with this powerful peroration:

Sau khi bênh vực nhân cách của Bà Blavatsky và của Hội Thông Thiên Học, Bà kết luận bằng đoạn kết hùng biện mạnh mẽ này:

“Every month which has passed since Madame Blavatsky left has given me more and more light. Are you, I would ask, quite wise to believe that you are right, and that there is nothing in the universe you do not know? (Hear, hear.) It is not a safe position to take up. It has been taken up in other days and always assailed. It was taken up by the Roman Church, by the Protestant Church. If it is to be taken up by the Freethought party now, are we to regard the body as the one and final possessor of knowledge, which may never be increased? That, and nothing less, is the position you are taking at the present time. (“Yes,” “Yes,” “No,” “No,” cheers and hisses.) What is the reason I leave your platform? Why do I do so? I shall tell you. Because your

“Mỗi tháng kể từ khi Bà Blavatsky rời xa, đối với tôi, lại đem đến thêm ánh sáng. Tôi xin hỏi, quý vị có thật khôn ngoan khi tin rằng mình đúng, và rằng trong vũ trụ không có điều gì ngoài sự hiểu biết của quý vị? (Phải, phải.) Đó không phải là một lập trường an toàn. Nó đã từng được nêu lên trong những ngày khác và luôn bị công kích. Nó đã từng được nêu lên bởi Giáo hội La Mã, bởi Giáo hội Tin Lành. Nếu giờ đây phái Tự do tư tưởng cũng nêu lên điều ấy, chúng ta có nên xem tổ chức này là chủ thể duy nhất và sau rốt của tri thức, một kho tàng chẳng bao giờ được tăng thêm? Chính điều đó—và không kém—là lập trường quý vị đang giữ lúc này. (“Đúng,” “Đúng,” “Không,” “Không,” vỗ tay và huýt sáo.) Vì sao tôi rời diễn đàn của quý vị? Cớ gì tôi làm vậy? Tôi sẽ nói cho quý vị. Bởi vì

MRS.[395]

BÀ[395]

Society sends me off it. The reason this is my last lecture is, because when the hall passes into the hands of the National Secular Society, I should not be permitted to say anything going against the principles and objects of that Society. (Hear, hear.) Now I shall never speak under such conditions. (Cheers.) I did not break with the great Church of England and ruin my social position in order that I might come to this platform and be told what I should say. (Cheers.) Our late leader would never have done it. (Cheers.) I do not challenge the right of your Society to make any conditions you like. But, my friends and brothers, is it wise? I hold that the right of the speaker to speak is beyond all limitation, save of the reason. If you are right, discussion will not shake your platform; if you are wrong, it would act as a corrective. (Cheers.) While I admit your right to debar me, I sorely misjudge the wisdom of the judgment. (Hear, hear.)

Hội của quý vị đuổi tôi khỏi đó. Lý do đây là bài diễn thuyết cuối cùng của tôi là vì khi hội trường vào tay Hội Quốc gia Thế tục, tôi sẽ không được phép nói điều gì đi ngược lại những nguyên tắc và mục tiêu của Hội. (Phải, phải.) Giờ thì tôi sẽ không bao giờ nói năng trong những điều kiện như thế. (Vỗ tay.) Tôi đã không đoạn tuyệt với Giáo hội Anh quốc và phá hỏng địa vị xã hội của mình để rồi đến diễn đàn này mà bị bảo phải nói gì. (Vỗ tay.) Vị lãnh đạo quá cố của chúng ta sẽ không bao giờ làm như thế. (Vỗ tay.) Tôi không tranh cãi quyền của Hội quý vị trong việc đặt ra bất cứ điều kiện gì quý vị thích. Nhưng, các bạn và huynh đệ của tôi, điều ấy có khôn ngoan chăng? Tôi chủ trương rằng quyền nói năng của diễn giả vượt trên mọi giới hạn, trừ giới hạn của lý trí. Nếu quý vị đúng, tranh luận sẽ không làm lung lay diễn đàn của quý vị; nếu quý vị sai, nó sẽ là phương thuốc hiệu chỉnh. (Vỗ tay.) Trong khi tôi thừa nhận quyền cấm cửa tôi của quý vị, tôi rất buồn phải nói rằng tôi đánh giá rất thấp sự khôn ngoan của phán quyết ấy. (Phải, phải.)

“In bidding you farewell, I have no words save words of gratitude. In this hall for well-nigh seventeen years I have met with a kindness which has never changed, a loyalty which has never broken, a courage which has always been ready to stand by me. Without your help, I should have been crushed many a year ago; without the love you gave me, my heart had been broken many, many years since. But not even for you shall a gag be placed on my mouth; not even for your sake will I promise not to speak of that which I know now to be truth. (Cheers.) I should commit a treachery to truth and conscience if I allowed anyone [396] to stand between my right to speak and that which I believe I have found. And so, henceforth, I must speak in other halls than in yours. Henceforth, in this hall—identified with so much of struggle land pain, and so much also of the strongest joy nature can know—I shall be a stranger. To you, friends and comrades of so many years—of whom I have spoken no harsh words since I left you, for whom I have none but words of gratitude—to you I say farewell; going out into a life shorn indeed of many friends, but with a true conscience and a good heart. I know that those to whom I have pledged my services are true and pure and bright. I would never have left your platform unless I had been compelled. I must take my dismissal if it must be. To you now, and for the rest of this life, I bid farewell.”

“Khi nói lời từ biệt cùng quý vị, tôi chỉ có những lời biết ơn. Gần mười bảy năm qua, trong hội trường này, tôi đã nhận một tấm lòng tử tế chưa bao giờ đổi thay, một lòng trung thành chưa bao giờ đứt vỡ, một dũng khí luôn sẵn sàng kề vai tôi. Không có sự giúp đỡ của quý vị, chắc tôi đã bị đè bẹp từ nhiều năm trước; không có tình thương quý vị dành, trái tim tôi đã vỡ tự bao năm trước nữa. Nhưng dù là vì quý vị, tôi cũng sẽ không để chiếc ‘bịt miệng’ đặt lên môi mình; dù vì quý vị, tôi cũng sẽ không hứa là sẽ không nói về điều mà giờ đây tôi biết là chân lý. (Vỗ tay.) Tôi sẽ phản bội chân lý và lương tâm nếu tôi để bất kỳ ai [396] đứng giữa quyền được nói của tôi và điều mà tôi tin là mình đã tìm thấy. Và thế nên, từ nay, tôi phải nói ở những hội trường khác chứ không phải của quý vị. Từ nay, trong hội trường này—nơi gắn với biết bao đấu tranh và đau đớn, và cũng gắn với biết bao niềm hỷ lạc mạnh mẽ nhất mà con người có thể biết—tôi sẽ là người xa lạ. Với các bạn, những bằng hữu và đồng chí suốt bao năm—những người mà từ khi rời quý vị tôi chưa từng nói một lời gay gắt nào, và với quý vị tôi chỉ có lời biết ơn—tôi xin từ biệt; ra đi vào một đời sống quả đã bị cắt gọt khỏi nhiều bạn bè, nhưng với một lương tâm ngay thực và một trái tim lành mạnh. Tôi biết rằng những vị mà tôi đã dâng hiến công sức là chân chính, thanh khiết và sáng rỡ. Tôi sẽ chẳng bao giờ rời diễn đàn của quý vị nếu không bị buộc phải làm vậy. Tôi phải nhận lấy sự bãi miễn của mình nếu nó phải đến. Còn bây giờ, và cho đến hết đời này, tôi nói lời từ biệt.”

Her concluding words were spoken with deep emotion, and it was very evident that the hearts of the majority of the audience were touched; tears could be seen in many eyes, and as she left the platform the hall rang again and again with deafening cheers.

Những lời kết của Bà cất lên trong xúc cảm sâu xa, và hiển nhiên trái tim của đa số thính giả đã được chạm đến; có thể thấy lệ trên nhiều khóe mắt, và khi Bà rời bục, hội trường vang dội hết lần này đến lần khác những tràng hoan hô điếc tai.

CHAPTER XXIII—CHƯƠNG XXIII

FROM STOCKHOLM TO KYOTO—TỪ STOCKHOLM ĐẾN KYOTO

(1891)

(1891)

BARON HARDEN-HICKEY had been so expeditious with his translation of the Buddhist Catechism that I was able on the 31st of August—only three weeks after we had made our arrangement in Paris about its publication—to read the printer’s proofs in London.

Nam tước Harden-Hickey đã mau mắn đến mức với bản dịch “Giáo lý Vấn đáp Phật giáo” của Ông, tôi đã có thể vào ngày 31 tháng Tám—chỉ ba tuần sau khi chúng tôi thỏa thuận ở Paris về việc xuất bản—đọc bản in thử ở London.

On the 2nd of September I went to the Aquarium to see “Joseph Balsamo, the Boy Mesmerist,” who gave a striking, but revolting, exhibition of phenomena by suggestion upon a wretched sensitive. If anything can be a prostitution of a noble science, it is these public degradations of subjects by travelling, charlatan mesmerisers: the drinking of lamp-oil and eating of tallow candles under the delusion that they are delicious food, and the compulsory doing of acts which lower the sense of manhood, are such outrages upon the private rights of the individual that the most ardent advocate of mesmerism would not object to have them forbidden by law. For my part, I do not wonder that these mesmeric and hypnotic public exhibitions have been prohibited by the authorities [398] of different countries of Europe when I see what terrible after-effects sometimes follow the peripatetic “lecturer’s” demonstrations of his power of hypnotic suggestion. One of the perils of our times is the abuse of this mysterious faculty, and no one who has the least friendly regard for a relative or friend should abstain from warning him or her—especially her—of the danger incurred in lending themselves for such experiments. We have seen in our time women giving such exhibitions, one at least, a powerful mesmeriser, but this makes the risk no less, nor her offence the more excusable. There was at the Aquarium, at the same time, a Frenchman calling himself Alexandre Jacques, who was making a fifty days’ fast, under medical supervision. I saw him on the thirty-fourth day, and had quite a talk with him. He told me that he ate nothing, but took a herb powder which sustains life. He said that it was composed of common herbs, to be found almost everywhere. His weight was diminishing at the rate of 4 ozs. daily, but he appeared to be in good health. When the famous Dr. Tanner made his forty days’ fast at New York, some twenty years ago, under the strictest medical observation, night and day, some of the medical profession persisted in declaring it a fraud, because they believed it an impossibility for a man to go so long without nourishment. But if anyone wishes to have such doubts removed, he need only go among the Jains at Bombay and see elderly women making this very protracted fast with great ease at a certain period of the year.

Ngày 2 tháng Chín tôi đến Nhà Thủy cung xem “Joseph Balsamo, Cậu bé Nhà thôi miên,” người đã trình diễn những hiện tượng gợi ý đầy ấn tượng nhưng ghê tởm trên một nạn nhân mẫn cảm tội nghiệp. Nếu có điều gì có thể xem là sự làm ô uế một khoa học cao quý, thì chính là những màn làm nhục công khai các đối tượng bởi những kẻ thôi miên lang bạt và lang băm: uống dầu đèn và ăn nến mỡ bò trong ảo giác rằng đó là mỹ vị, và bị bắt làm những việc hạ thấp phẩm giá đàn ông—ấy là những sự xúc phạm tới quyền riêng tư của cá nhân đến mức mà người nhiệt thành biện hộ nhất cho thuật thôi miên cũng sẽ không phản đối nếu bị pháp luật cấm đoán. Phần tôi, tôi không ngạc nhiên khi thấy các màn trình diễn thôi miên công khai đã bị nhà chức trách [398] ở nhiều nước châu Âu cấm bỏ, khi tôi chứng kiến những di chứng đáng sợ đôi khi theo sau các màn phô trương quyền lực gợi ý thôi miên của “diễn giả” lưu động. Một hiểm họa của thời đại chúng ta là sự lạm dụng năng lực huyền bí này, và bất cứ ai có chút thiện cảm với thân thuộc hay bạn bè đều không nên quên cảnh báo họ—nhất là phái nữ—về hiểm họa khi đem mình làm đối tượng cho những thí nghiệm như vậy. Chúng ta đã thấy trong thời của mình có phụ nữ trình diễn những màn ấy—ít ra một người là nhà thôi miên mạnh—nhưng điều đó không làm rủi ro bớt đi, cũng chẳng làm lỗi của nàng dễ tha thứ hơn. Đồng thời ở Nhà Thủy cung cũng có một người Pháp tự xưng Alexandre Jacques đang thực hiện một cuộc nhịn ăn năm mươi ngày dưới sự giám sát y khoa. Tôi gặp ông ta vào ngày thứ ba mươi tư, và chuyện trò khá lâu. Ông nói ông không ăn gì, chỉ dùng một loại bột thảo mộc giúp duy trì sự sống. Ông bảo nó gồm những thảo mộc thường, có mặt hầu khắp nơi. Cân nặng của ông giảm với tốc độ 4 ounce mỗi ngày, nhưng ông dường như vẫn khỏe mạnh. Khi bác sĩ trứ danh Tanner thực hiện cuộc nhịn ăn bốn mươi ngày ở New York, cách đây chừng hai mươi năm, dưới sự quan sát y khoa nghiêm ngặt suốt ngày đêm, vẫn có người trong giới y học khăng khăng gọi đó là bịp bợm, vì họ tin rằng con người không thể sống lâu đến thế mà không có dưỡng chất. Nhưng nếu ai muốn xóa tan ngờ vực như vậy, chỉ cần đến giữa các tín đồ Kỳ-na giáo ở Bombay và xem những phụ nữ lớn tuổi thực hiện cuộc nhịn ăn rất dài này một cách rất nhẹ nhàng vào một thời điểm nhất định trong năm.

[399]

[399]

They are supposed to gain great merit by this asceticism; and the ludicrous part of it is that this merit has a certain commercial value, and they sell it for solid rupees to self-indulgent co-religionists who do not feel like mortifying the flesh, but are quite willing to get merit vicariously! Is this very different from the once prevalent traffic in papal pardons, so briskly carried on at the time when Luther dashed his mailed fist against the Vatican door, or the paying of men in cassocks to pray souls out of purgatory?

Người ta cho rằng họ được đại công đức qua pháp hạnh khổ hạnh này; và điều khôi hài là công đức ấy lại có giá trị thương mại nhất định, và họ bán nó lấy ru-pi thật cho những đồng đạo phóng túng không muốn khổ hạnh thân xác, nhưng rất sẵn lòng vicariously thu gom công đức! Điều này có khác mấy đâu với cuộc buôn bán một thời khá thịnh với chiếu chỉ ân xá của giáo hoàng, rôm rả vào thời Luther giáng cú đấm bọc thép vào cánh cửa Vatican, hay việc trả tiền cho những người mặc áo thụng để cầu nguyện giải thoát linh hồn khỏi luyện ngục?

A fortnight before the day fixed for my sailing for New York, our friends at Stockholm telegraphed a request that I would visit them before my departure; and as the prospect was most agreeable, I consented, and left London on 4th September for that place, viâ Hull and Göteborg. The passenger season had closed, and the stories that I had read about the dangers of that tempestuous North Sea, with schoolboy reminiscences of the maelstrom, made me think that I was going to run an exceptional risk in making the voyage, and I actually made my will before leaving London. When, however, I found that I was sailing on as smooth a stretch of water as heart could desire and under a bright sunshine, I felt as though I wanted to find some corner where I could hide my mortification. Without adventure I reached Stockholm on the third evening, and was greeted at the station by all our members, headed by the good Dr. Zander, who took me to his house. An indelible impression was made upon my mind during my three [400] days’ stay by the sweet hospitality and charming naturalness of the Swedish people. It was a case of love at first sight; and now that, during the past summer, I have revisited Sweden and been in the other Scandinavian countries, the impression is strengthened. In all my life I never met such uniformly delightful people. Hospitality is with them as much a religious duty as it is with the Hindus; and I fully indorse the opinion expressed by a Swedish lady, in a recent letter, where she says: “In my country the very fact that a person is a foreigner entitles him to double consideration, hospitality, and politeness.” Every hour of the day had its engagements, mostly public. There was a Branch meeting, at which I responded to an address of welcome; the next day, a lecture at the Hall of the Academy of Sciences, to an excellent audience; three conversaziones! a supper every evening, and a farewell dinner and surprise party at Dr. Zander’s house on the day of my departure. The pleasant recollections of the visit have been since marred by a disagreeable lesson as to the mendacity of hysterics, and the danger of being alone with such persons under any circumstances.

Hai tuần trước ngày tôi định khởi hành đi New York, các bạn ở Stockholm điện khẩn mời tôi ghé thăm trước khi tôi đi; thấy viễn cảnh rất thú vị, tôi đồng ý và rời London ngày 4 tháng Chín để tới đó, qua Hull và Göteborg. Mùa khách đã mãn, và những chuyện tôi từng đọc về hiểm nguy của Biển Bắc hay giông tố, thêm ký ức thời học trò về cơn lốc xoáy biển cả, khiến tôi nghĩ rằng mình đang liều một cuộc phiêu lưu đặc biệt khi xuống tàu, đến nỗi tôi đã thực sự viết chúc thư trước khi rời London. Thế nhưng, khi thấy mình đang lênh đênh trên một dải nước êm như lòng mong và dưới nắng tươi, tôi chỉ muốn tìm một góc nào trốn đi cho đỡ ngượng. Chuyến đi không có sự cố, tôi tới Stockholm vào đêm thứ ba, và được toàn thể hội viên ra đón ở ga, dẫn đầu là vị bác sĩ dễ mến Zander, người đưa tôi về nhà Ông. Một ấn tượng không phai đã in sâu trong tâm tôi suốt [400] ba ngày ở đó bởi lòng hiếu khách dịu dàng và sự tự nhiên duyên dáng của người Thụy Điển. Đó là tình yêu ngay từ cái nhìn đầu; và nay, trong mùa hè vừa qua, tôi đã trở lại Thụy Điển và đến các nước Bắc Âu khác, ấn tượng ấy càng được củng cố. Trong đời tôi chưa từng gặp những con người nhất quán dễ mến như thế. Hiếu khách đối với họ là một bổn phận gần như tôn giáo, hệt như với người Ấn; và tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của một thiếu nữ Thụy Điển bày tỏ trong lá thư gần đây, rằng: “Ở nước tôi, chính việc một người là ngoại quốc đã đủ khiến người ấy đáng được đối đãi gấp đôi về sự để tâm, lòng hiếu khách và phép lịch sự.” Mỗi giờ trong ngày đều có hẹn, phần nhiều là sinh hoạt công cộng. Có một buổi họp Chi bộ, nơi tôi đáp từ chào mừng; hôm sau, một bài giảng ở Hội trường Viện Hàn lâm Khoa học, trước một thính chúng tuyệt hảo; ba buổi đàm đạo! tối nào cũng có tiệc tối, và một bữa tiệc chia tay cùng buổi liên hoan bất ngờ tại nhà Bác sĩ Zander vào ngày tôi rời đi. Những kỷ niệm đẹp của chuyến thăm sau đó đã nhuốm chút buồn bởi một bài học khó chịu về thói nói dối của cơn cuồng cảm, và sự nguy hiểm của việc ở riêng với những người như thế trong bất cứ hoàn cảnh nào.

On the second day of my visit I was invited to an audience with his Majesty Oscar II, King of Sweden and Norway, at his palace outside the town. I found him a most cultured gentleman, gracious and unpretentious in his manners. His reception of me was all that I could have asked, and he kept me talking for more than an hour on Masonry, Symbolism, Religion, [401] Spiritualism, and Theosophy, on all of which subjects he gave proofs of extensive reading and sound reflection. He at once relieved me of the embarrassment of standing, inviting me to sit with him at a small table, where each of us drew figures on paper, illustrative of the symbolical expression of religious and scientific ideas by different nations. His Majesty cordially invited me to stop a day or two longer at Stockholm, so that I might become acquainted with a person for the sanctity of whose character he entertained a great respect, but I was obliged to hurry back to London to continue my voyage, and we parted with cordial expressions of mutual good-will. Of course, it is universally known that King Oscar is one of the best linguists and most cultivated men in Europe, an Oriental scholar and a patron of learning, and the reader may imagine what pleasant recollections I must have of my interview with him in his own palace.

Ngày thứ hai trong chuyến thăm tôi được mời yết kiến Đức vua Oscar II, Quốc vương Thụy Điển và Na Uy, tại cung điện của Ngài ngoài thành. Tôi thấy Ngài là một quý ông văn nhã, lịch thiệp và không kiểu cách. Ngài tiếp tôi nồng hậu vượt điều tôi có thể mong, và giữ tôi trò chuyện hơn một giờ về Hội viên Tam điểm, Biểu tượng học, Tôn giáo, [401] Thần linh học, và Thông Thiên Học—về tất cả những đề tài ấy, Ngài cho thấy bằng chứng đọc rộng và suy tư chín chắn. Ngài lập tức giải tỏa sự ngượng ngập của tôi khi phải đứng, mời tôi cùng ngồi với Ngài bên một chiếc bàn nhỏ, nơi mỗi người chúng tôi vẽ những hình minh họa trên giấy, diễn đạt tượng trưng những ý niệm tôn giáo và khoa học của các dân tộc khác nhau. Đức Vua thân ái mời tôi nán lại Stockholm thêm dăm bữa để tôi làm quen với một nhân vật mà Ngài rất kính trọng vì sự thánh thiện, nhưng tôi buộc phải vội vã trở lại London để tiếp tục hành trình, và chúng tôi chia tay với những lời chúc thiện cảm nồng hậu. Tất nhiên, ai cũng biết Đức vua Oscar là một trong những học giả ngoại ngữ giỏi nhất và là một trong những người có học vấn nhất ở châu Âu, một học giả Á Đông và một vị bảo trợ học thuật, và độc giả có thể hình dung tôi đã có những kỷ niệm đẹp đẽ thế nào về buổi diện kiến tại chính cung điện của Ngài.

I returned to London viâ Copenhagen, Kiel, Hamburg, Bremen, Osnabrûck, and Flushing, but when I went to claim my luggage I found that my trunk had been left behind en route, although booked through from Stockholm. This was a serious matter, for I was to sail from Liverpool in three days; to make things worse, my steamer and railway tickets, as far as Yokohama and Colombo, were in the trunk, together with half my clothes and some money. Telegraphing and worrying did no good, and I had to sail without it. The greatest annoyance was the behavior of the Messageries people, who actually would not give me [402] a duplicate ticket until I had got the Manager of the great London bank where I keep my sterling account to sign a guarantee. When I went to tell him about this preposterous demand, he said it was something novel in his experience, but as he happened to know me for an old customer, he kindly complied with the French company’s demand. As for the American line, they granted me the duplicate tickets without a moment’s hesitation. I recovered the trunk ultimately at Colombo, on my way home from Japan.

Tôi trở về London qua Copenhagen, Kiel, Hamburg, Bremen, Osnabrück và Flushing, nhưng khi ra nhận hành lý thì phát hiện chiếc rương của tôi đã bị bỏ lại đâu đó dọc đường, dù đã được ghi gửi thẳng từ Stockholm. Đây là chuyện rất nghiêm trọng, vì chỉ ba ngày nữa tôi sẽ rời Liverpool; tệ hơn nữa, vé tàu biển và tàu hỏa của tôi, đi tận đến Yokohama và Colombo, nằm trong chiếc rương ấy, cùng với nửa số quần áo và ít tiền. Điện tín và xoay sở đều vô hiệu, và tôi đành nhổ neo mà không có nó. Điều phiền toái nhất là thái độ của hãng Messageries, họ thật sự không chịu cấp cho tôi [402] vé trùng bản nếu tôi không mời Giám đốc ngân hàng lớn ở London, nơi tôi mở tài khoản bảng Anh, ký giấy bảo lãnh. Khi tôi đến trình bày về yêu cầu vô lý ấy, Ông nói đó là điều mới lạ trong kinh nghiệm của Ông, nhưng vì Ông biết tôi là khách hàng lâu năm, Ông đã tử tế đáp ứng yêu cầu của công ty Pháp. Còn tuyến Mỹ thì cấp vé trùng bản cho tôi không một giây lưỡng lự. Sau cùng tôi lấy lại được chiếc rương ở Colombo, trên đường về từ Nhật.

My boat was one of the largest and swiftest of the “ocean greyhounds”; she rushed through the water like a swordfish at the rate of 20 miles an hour, even in the roughest seas. This was all very well for those who liked speed at whatsoever cost, but my recollection is that it was the most uncomfortable ocean travelling I ever did, for, what with the working of the engines and the thrashing of the propellers, the ship was in a constant vibration that was enough to upset the nerves of most people. Withal, she pitched and rolled so that barely a fourth of the passengers appeared at the table. I met some delightful people on board, whom I shall be very glad to see again, and happily escaped the usual call for a lecture: both the sick and the well were engaged in thinking much more of their stomachs than of their souls. The members of my own family, my friends Fullerton and Neresheimer, and others, met me on landing, and I was enjoying the prospect of getting speedily to my sister’s house, but my unfortunate notoriety barred the way. A [403] dozen reporters, representing the principal New York journals, wanted to interview me, and as this could not be done conveniently on the wharf, Mr. Neresheimer had engaged a drawing-room at the Astor House, and had placed small tables around the four sides for the convenience of the reporters. Thither I was taken, installed in a big chair, given a cigar, allowed to remove my coat, as it was a very warm evening, and then subjected to a cross-questioning about my doings within the twelve years since my departure for India, and, generally, the condition and prospects of the Theosophical movement. It was a most amusing episode, this interview at wholesale; but being an old journalist myself, I managed to give the young fellows the sort of “copy” they wanted, and the next morning my arrival was heralded by the whole press, and my portrait appeared in the five principal dailies. Of course it was very late before I could get to bed.

Tàu của tôi là một trong những “chó săn đại dương” lớn và nhanh nhất; nó lao qua nước như cá kiếm với tốc độ 20 dặm một giờ, ngay cả trong biển động. Điều ấy rất hợp cho những ai ưa tốc độ bằng mọi giá, nhưng theo ký ức của tôi, đó là chuyến đi biển khó chịu nhất tôi từng có, vì cùng với tiếng máy rung và chân vịt quạt nước, con tàu luôn chấn động không ngừng, đủ để làm thần kinh của đa số người ta rối loạn. Hơn nữa, tàu chúi và lắc đến độ chỉ khoảng một phần tư hành khách ra bàn ăn. Tôi gặp vài người rất dễ mến trên tàu, những người tôi sẽ rất vui lòng gặp lại, và may mắn thoát được lời mời “giảng” như thường lệ: người ốm lẫn người khỏe đều chăm chăm nghĩ đến dạ dày của mình hơn là linh hồn. Các thành viên gia đình tôi, các bạn tôi là Fullerton và Neresheimer, cùng những người khác, đón tôi khi tàu cập bến, và tôi đang hăm hở mong đến nhà chị gái cho nhanh, nhưng tiếng tăm chẳng lành của tôi lại chặn đường. Có [403] cả chục ký giả đại diện các nhật báo lớn của New York muốn phỏng vấn tôi, và vì không tiện làm việc đó ngay trên bến, Ông Neresheimer đã thuê một phòng khách ở Astor House, đặt những bàn nhỏ dọc bốn bức vách cho tiện ký giả. Tôi được đưa tới đó, an vị vào một chiếc ghế lớn, đưa một điếu xì gà, cho phép cởi áo khoác vì tối rất nóng, rồi bị hỏi dồn về những việc tôi đã làm trong mười hai năm kể từ ngày rời Ấn Độ, và nói chung, về tình trạng và viễn cảnh của phong trào Thông Thiên Học. Đây là một màn khôi hài, một cuộc phỏng vấn “bán buôn”; nhưng vì bản thân tôi là một nhà báo lão luyện, tôi xoay xở để cho các chàng trai trẻ đúng thứ “bài vở” họ cần, và sáng hôm sau, tin tôi về đến được cả báo giới đồng loạt đăng, còn chân dung tôi xuất hiện trên năm nhật báo hàng đầu. Dĩ nhiên là rất khuya tôi mới lên giường được.

I found New York greatly changed in many respects; many of my old friends were dead, and many landmarks had disappeared. I, too, had changed in a marked degree, for after so many years of the placid intellectual life of the Orient, the mad quiver and rush of American life upset me greatly. I could not have realised that so radical a change would have come over me. My brothers wanted me to look at the giant buildings which had sprung up towards the sky and other so-called improvements; but I told them that I would not exchange my desk and library, and the restfulness of my Adyar home, if anyone should [404] offer to give me the biggest of the buildings on condition that I should return to live at New York. Yet it was very sweet to meet so many old friends, some even of my school days, and the relatives whom I had not seen for so long. But I was not sorry when the time came for me to hurry across the continent towards the lands of the Rising Sun. My family was now the members of the Society; my friends, my working colleagues; my home, the Adyar Headquarters; my ambitions, aspirations, hopes, loves, and very life had passed into the Society; my country had become the wide world. Not that I loved America and my kinsfolk less, but that I loved the cause more.

Tôi thấy New York đổi thay rất nhiều mặt; nhiều bạn cũ của tôi đã qua đời, và nhiều dấu tích xưa đã biến mất. Còn tôi, tôi cũng thay đổi thấy rõ, bởi sau bao năm sống đời trí tuệ êm đềm của phương Đông, cái rung lắc điên cuồng và nhịp gấp gáp của đời sống Mỹ làm tôi bấn loạn. Tôi không thể ngờ mình lại thay đổi đến thế. Các anh em muốn tôi ngắm những tòa nhà khổng lồ mọc lên vươn tới trời và các “cải thiện” khác; nhưng tôi bảo họ rằng tôi sẽ không đổi bàn giấy và thư viện của mình, và sự an tĩnh của căn nhà Adyar, dẫu có ai đề nghị tặng tôi tòa nhà to nhất với điều kiện tôi quay về sống ở New York. Dẫu vậy, được gặp lại bao bạn cũ, thậm chí có người từ thời đi học, và những bà con thân thuộc tôi xa cách đã lâu, thật là dễ chịu. Nhưng tôi cũng không buồn khi đến lúc phải vội băng qua lục địa hướng về xứ sở Mặt Trời mọc. Giờ đây gia đình tôi là hội viên của Hội; bằng hữu của tôi là các cộng sự; nhà của tôi là Trụ sở Adyar; hoài bão, khát vọng, hy vọng, tình thương và chính đời sống của tôi đã hóa thân vào Hội; quê hương tôi đã trở thành cả thế giới. Không phải tôi yêu nước Mỹ và bà con ít hơn, mà là tôi yêu sự nghiệp nhiều hơn.

My American visit was intended to be a mere transit, not a tour. It was now the end of September, and I had to be at home early in December to make ready for the Convention; meanwhile, I had some 15,000 miles of travel before me. While at New York I gave one public lecture to a very large audience, in Scottish Rite Hall, on Madison Avenue. The chairman, an amiable F.T.S., must have been unaccustomed to facing such crowds, for, intending to just merely introduce me, he wandered off into a discourse on Theosophy which must have taken close on forty-five minutes, and tired the audience very much. Meanwhile, I sat there like a simple auditor, and was half tempted, when I finally did get the floor, to say that as my friend had fully enlightened them about Theosophy, it was not worth my while to detain them any longer, and with that make my bow and retire.

Chuyến đi Mỹ của tôi chỉ dự định là một chặng quá cảnh, không phải một chuyến diễn thuyết. Lúc này đã là cuối tháng Chín, và tôi phải về nhà đầu tháng Mười Hai để chuẩn bị cho Đại hội; trong khi đó, tôi còn phải đi độ mười lăm ngàn dặm nữa. Ở New York, tôi có đọc một bài thuyết trình công khai trước một thính chúng rất đông ở Hội trường Nghi thức Scotland trên Đại lộ Madison. Vị chủ tọa, một hội viên T. S. dễ mến, hẳn không quen đối diện đám đông như vậy, vì thay vì chỉ giới thiệu tôi sơ lược, ông lại miên man nói về Thông Thiên Học chừng bốn mươi lăm phút, làm cử tọa khá mệt. Trong lúc đó, tôi ngồi yên như một thính giả, và đã nửa muốn, khi cuối cùng cầm được micro, nói rằng vì bạn tôi đã trình bày đầy đủ về Thông Thiên Học, không đáng để tôi giữ quý vị lại lâu hơn, rồi cúi chào và lui.

[405]

[405]

But as, clearly, that would not do, I went on with my address, and was very heartily applauded at the close. Then followed a pleasant experience, when one old friend after another came up to the platform and shook hands with me.

Nhưng rõ ràng làm vậy thì không xong, nên tôi tiếp tục bài nói, và được vỗ tay nồng nhiệt khi kết thúc. Sau đó là một trải nghiệm dễ chịu, khi những người bạn cũ lần lượt lên bục bắt tay tôi.

On the 28th I took the overland train of the Pennsylvania Road, and soon was spinning across the continent at the rate of 45 miles an hour. It almost seemed as though some tricksy elementals of the luggage department had been following me from Stockholm onward, for, having lost one trunk between there and London, I now found that the other had been left behind at Chicago by mistake. Then we had an accident to our sleeping-car which was quite enough to stimulate the nerves of an excitable person; for in the night of the 2nd, eight of its wheels flattened out—fortunately without doing any harm to us--and we were transferred to an ordinary carriage, where we passed a very miserable time until morning.

Ngày 28 tôi lên chuyến tàu xuyên lục địa của tuyến Pennsylvania, và chẳng mấy chốc là vun vút qua lục địa với tốc độ 45 dặm một giờ. Hầu như có vẻ như có những tinh linh hành khí nghịch ngợm ở bộ phận hành lý đi theo tôi từ Stockholm, vì mất một chiếc rương giữa nơi đó và London, giờ tôi phát hiện chiếc còn lại bị bỏ quên ở Chicago do nhầm lẫn. Rồi chúng tôi gặp một tai nạn với toa ngủ đủ để kích thích thần kinh người dễ xúc động: vì trong đêm mồng 2, tám bánh xe bị bẹt—may mắn thay không gây hại cho chúng tôi—và chúng tôi bị chuyển sang một toa thường, nơi chúng tôi trải qua một đêm rất khổ sở cho đến sáng.

I was met at Sacramento by Mrs. Gilbert and Dr. Cook, the President and Secretary of our local Branch, and hospitably entertained at the house of the latter. Among my visitors was a gentleman who had been employed as a clerk in my office when I was Special Commissioner of the War Department. Some of the callers asked my advice on confidential personal matters, domestic and otherwise. It is one of the peculiar features of my tours that I am regarded as a sort of father confessor, to whom all are free to confide their secrets and ask for comfort in their [406] sorrows. One gets in this way not only an idea of the extent of misery that prevails in social life, but also of the weakness of will which is too common among people who have fixed their aspirations on the Higher Life, but find the path full of stumbling-stones. The satisfaction one has in lightening, by ever so little, this burden of private grief, more than compensates for the trouble given by the seekers after advice.

Tôi được Bà Gilbert và Bác sĩ Cook—Chủ tịch và Thư ký Chi bộ địa phương—đón tại Sacramento, và được Bác sĩ Cook mời về nhà tiếp đãi nồng hậu. Trong các vị khách có một quý ông từng làm thư ký trong văn phòng tôi khi tôi là Ủy viên Đặc biệt của Bộ Chiến tranh. Vài người đến thăm hỏi xin lời khuyên về những chuyện riêng tư cần giữ kín, gia đạo và những việc khác. Một nét đặc thù trong những chuyến đi của tôi là tôi được xem như một thứ cha giải tội, ai cũng có thể tự do tâm sự bí mật và xin an ủi trong [406] nỗi sầu của họ. Theo cách ấy người ta không chỉ hình dung được mức độ khổ đau lan rộng trong đời sống xã hội, mà còn thấy cả sự yếu đuối của ý chí quá thường gặp ở những người đã hướng chí thượng, nhưng thấy con đường đầy đá vấp. Sự thỏa nguyện khi ta làm nhẹ đi, dù chỉ một chút, gánh nặng sầu riêng tư ấy, bù đắp hơn cả cho phiền toái do những người tìm lời khuyên gây ra.

On the evening of Sunday the 4th I lectured in public on “Theosophy and H. P. B.,” and a conversazione followed. The next morning I made the short journey to San Francisco, and became the guest of that sympathetic and cultured gentleman, Dr. Jerome A. Anderson. The chief workers of the city called on me, and on the following day the Branch gave me a formal reception, with a friendly address, to which I responded. Mr. Judge, who had been making a tour on the Pacific Coast, was in San Francisco at the time of my arrival, also a guest of Dr. Anderson, and here practised—for the time being, most successfully—another deception upon me. It was in connection with the mysterious Rosicrucian Jewel, formerly belonging to Cagliostro, but in my time worn by H. P. B.1 I say “mysterious” with reason, because the pure white crystals with which it was set had the occult property of changing their color to a dark green, and sometimes muddy brown, when she was out of health. I shall not dwell upon the details of his

Tối Chủ nhật mồng 4, tôi nói chuyện công khai về “Thông Thiên Học và H. P. B.”, sau đó là một buổi đàm đạo. Sáng hôm sau tôi đi chuyến ngắn đến San Francisco, và làm khách của vị quân tử cảm thông và có văn hóa, Bác sĩ Jerome A. Anderson. Những người hoạt động chủ chốt của thành phố đến thăm tôi, và hôm sau Chi bộ tổ chức tiếp đón chính thức, đọc lời chào mừng thân ái, tôi đáp từ. Ông Judge, người vừa đi thăm dọc Bờ Tây Thái Bình Dương, có mặt ở San Francisco lúc tôi tới, cũng là khách của Bác sĩ Anderson, và lần này Ông lại—tạm thời, rất thành công—đánh lừa tôi một phen nữa. Ấy là liên quan đến Bảo vật Hồng Hoa Thập Tự huyền bí, trước đây thuộc về Cagliostro, còn thời tôi thì do H. P. B. đeo.1 Tôi nói “huyền bí” là có cớ, vì những viên pha lê trắng tinh nạm trên đó có tính chất huyền diệu là đổi màu sang xanh thẫm, và đôi khi nâu đục, khi Bà lâm bệnh. Tôi sẽ không sa đà vào chi tiết lời dối trá của Ông,

1 [Now worn by Mrs. Besant.—ED.]

1 [Hiện do Bà Besant đeo.—BTV.]

[407] falsehood, as it will have to be spoken of in connection with the transactions at London, when he was cited before a Judicial Committee which I convened to try him on the charges of malfeasance brought against him.

[407] vì tôi sẽ phải nói về nó trong những diễn biến ở London, khi tôi triệu tập một Ủy ban Tư pháp để xử Ông về cáo buộc hành vi sai trái.

The ladies of our local Branch had organised a charming scheme of moral and religious instruction for children, to which they gave the name “The Children’s Hour.” A special exhibition of it was given for my information, and it delighted me very much. The motive was to impress upon the youthful minds the idea of the fundamental resemblance between the world religions, and the advisability of learning to be kind and tolerant to all men, of whatsoever race or creed. A senior girl represented Theosophia, and others the Founders of religions—Krishna, Zoroaster, Gautama Buddha, Christ, Mahommed, etc. Each of these held a staff carrying a symbolical pennant. A simple yet excellent dialogue was framed, in which Theosophia put questions to each of the flag-holders, to give him or her the chance to quote from the Scriptures of the Founder of that religion verses which embodied the Theosophical spirit. The children wore pretty dresses, there was some little marching and other exercises, and all seemed to enjoy the occasion. It would be a good thing if this device were adopted throughout the whole Society, for it is calculated to be of great service in implanting Theosophical ideas in the youthful mind.

Các quý bà của Chi bộ địa phương đã tổ chức một đề án rất duyên dáng nhằm giáo dục đạo đức và tôn giáo cho trẻ em, họ đặt tên là “Giờ của Trẻ em”. Một buổi trình diễn đặc biệt được thực hiện để tôi biết, và tôi vô cùng thích thú. Động cơ là gieo vào tâm trí non trẻ ý niệm về sự tương đồng căn bản giữa các tôn giáo thế giới, và khuyến khích học biết sự tử tế và khoan hòa với mọi người, bất kể chủng tộc hay tín ngưỡng. Một thiếu nữ lớn tuổi đóng vai Theosophia, những em khác đóng vai các Đấng Sáng lập tôn giáo—Krishna, Zoroaster, Đức Phật Gautama, Đức Christ, Mahommed, v.v. Mỗi em cầm một trượng có gắn cờ hiệu tượng trưng. Một bài đối thoại giản dị nhưng rất hay được dàn dựng, trong đó Theosophia đặt câu hỏi cho từng người cầm cờ, để em đó có dịp trích từ Kinh điển của Đấng Sáng lập tôn giáo ấy những câu hàm chứa tinh thần Thông Thiên Học. Bọn trẻ vận y phục xinh xắn, có chút đi đều và những động tác khác, và dường như tất cả đều rất thích. Thật hay nếu thiết kế này được áp dụng khắp toàn Hội, vì nó có thể rất hữu ích để gieo mầm tư tưởng Thông Thiên Học vào tâm trí trẻ thơ.

The, to me, most delightful incident of my San Francisco visit was a meeting with three brothers of [408] the Steele family, with whom I was brought into contact at Amherst, Ohio, in 1851-2-3, and whom I may almost regard as my greatest benefactors in this incarnation, since it was from them, and the other bright minds and noble souls connected with them in a Spiritualistic group, that I first learned to think and aspire along the lines which led me ultimately to H. P. B. and the Theosophical movement. The family had migrated to California, become great landed proprietors—rancheros—and attained to places of distinction in that State: one was a judge, another a senator, a third President of the great Society of the Grangers. The hours we passed together were full of unalloyed delight, and the life-pictures which had been concealed behind the veil of latent memory for forty years came out again, vivid and real. On the evening of the 7th I lectured at Metropolitan Temple on the same subject as at Sacramento; Mr. Judge was chairman, and we had on the platform a life-size photograph of H. P. B., standing on an easel. On the 8th I embarked on the “Belgic” for Yokohama, a host of T. S. friends seeing me off, and loading me with flowers.

Điều làm tôi thích thú nhất trong chuyến thăm San Francisco là gặp lại ba anh em [408] nhà Steele, những người tôi quen ở Amherst, Ohio, trong các năm 1851–2–3, và gần như tôi có thể xem là ân nhân lớn nhất trong kiếp này, vì chính từ họ, và những trí tuệ sáng láng cùng tâm hồn cao quý gắn với họ trong một nhóm Thần linh học, mà tôi lần đầu học biết suy tư và hướng vọng theo những đường lối đưa tôi rốt cuộc đến với H. P. B. và phong trào Thông Thiên Học. Gia đình ấy đã sang California, thành những địa chủ lớn—rancheros—và đạt tới những địa vị danh giá trong tiểu bang: một vị là thẩm phán, một vị là thượng nghị sĩ, vị thứ ba là Chủ tịch Hội Nông gia Granger vĩ đại. Những giờ chúng tôi dành cho nhau trôi qua đầy hân hoan tinh ròng, và những bức tranh đời sống, từng bị tấm màn ký ức tiềm ẩn che khuất suốt bốn mươi năm, lại hiện ra, sống động và chân thực. Tối mồng 7 tôi giảng ở Đền Metropolitan cùng đề tài như tại Sacramento; Ông Judge chủ tọa, và trên bục có một bức ảnh H. P. B. cỡ người thật đặt trên giá vẽ. Ngày mồng 8 tôi xuống tàu “Belgic” đi Yokohama, đông đảo bạn hữu T. S. tiễn đưa, chất đầy hoa cho tôi.

The Pacific Ocean was true to its name, a calm sea and sunshine following me almost all the way across. We had a few rough days and some rolling of the ship, but not enough to cause much inconvenience. It seemed as though I had not finished with the meeting of persons who would bring back to me the memory of the olden days, for the surgeon of the [409] “Belgic” proved to be the son of a charming lady whom I had known as a schoolgirl at New York many years before her marriage; moreover, he was the living image of his mother. When I came to recall the past I realised that but for the advice of this lady and her elder sister, I should never have gone to Cleveland, Ohio, in 1851, whence I went to Elyria, thence to Amherst and the Steeles; those ladies, then, formed the first link between my home-life at New York and my spiritual enfranchisement at Amherst. By this I do not mean that I had ever been a follower of my parents’ religion, or sectarian of any sort, but that, until I became associated with the Amherst circle, my mind had been lying fallow, waiting for the sowing of the seeds of Theosophical thought.

Thái Bình Dương quả xứng với tên gọi của mình, biển êm trời đẹp hầu như suốt hải trình. Chúng tôi có vài ngày gió động và con tàu có lắc lư, nhưng không đến mức gây khó chịu nhiều. Hình như tôi vẫn chưa kết thúc việc gặp những người nhắc tôi nhớ thời xưa, vì bác sĩ trên tàu [409] “Belgic” hóa ra là con trai của một thiếu nữ duyên dáng mà tôi từng quen từ thời còn là nữ sinh ở New York, trước khi Bà lập gia đình; hơn nữa, chàng lại giống mẹ như tạc. Khi nhớ lại dĩ vãng, tôi nhận ra rằng nếu không có lời khuyên của Bà và người chị, có lẽ tôi đã không đến Cleveland, Ohio, vào năm 1851, rồi từ đó đi Elyria, sau nữa tới Amherst và gặp gia đình Steele; vậy thì hai chị em ấy chính là mối liên kết đầu tiên giữa đời sống gia đình của tôi ở New York và sự giải phóng tinh thần của tôi ở Amherst. Tôi không có ý nói rằng tôi từng theo tôn giáo của cha mẹ, hay từng là giáo phái đồ theo bất cứ nghĩa nào, mà là trước khi gắn bó với nhóm Amherst, tâm trí tôi như một thửa ruộng còn để không, đợi ngày được gieo hạt giống tư tưởng Thông Thiên Học.

After a voyage of seven days we reached Honolulu, and stopped there twenty-four hours before continuing the journey. We went ashore and looked about the place, some of us going to see Dr. Trousseau’s ostrich farm. The birds were kept in paddocks, with an avenue running through the middle, and wide enough so that persons passing through could not be reached by the iron beaks of the male birds, who are not at all friendly at certain seasons. The proprietor of the farm, with whom I had some conversation, expressed himself as well satisfied with the profits of the undertaking, saying that the yield of plumes fit for commerce was a good deal larger than the average. We sailed again on the 16th, taking our fine weather along with us. On the 19th I accepted an invitation given me [410] at the urgent request of a large missionary party on board to lecture on Theosophy, and thenceforward, throughout the voyage, this subject was very much talked about. On the 21st we crossed the l80th meridian of longitude, and thus, in a Pickwickian sense, blotted out Tuesday, it being Monday until noon, and then Wednesday. I had to laugh when I recalled the ingenious employment of this device by Jules Verne to make his eccentric hero get around the world in eighty days, and thus win the bet at the London Club, which depended on this result. The festive missionaries relieved the tedium of their voyage by a lot of hymn-singing.

Sau bảy ngày lênh đênh, chúng tôi đến Honolulu, và dừng lại hai mươi bốn giờ trước khi tiếp tục hành trình. Chúng tôi vào bờ dạo chơi, vài người trong chúng tôi đến xem trại nuôi đà điểu của Bác sĩ Trousseau. Lũ chim được nuôi trong những ô rào, với một lối đi dọc ở giữa đủ rộng để người qua lại không bị mỏ cứng như sắt của chim trống với tới—vào những mùa không mấy thân thiện. Chủ trại, người tôi có chuyện trò, bày tỏ là rất hài lòng với lợi nhuận của việc kinh doanh, nói rằng sản lượng lông đạt chuẩn thương mại cao hơn mức trung bình nhiều. Chúng tôi nhổ neo ngày 16, mang theo thời tiết đẹp. Ngày 19, theo lời nài nỉ thiết tha của một nhóm giáo sĩ truyền giáo đông đảo trên tàu, tôi nhận lời giảng về Thông Thiên Học, và từ đó, suốt hải trình, đề tài này được nói đến rất nhiều. Ngày 21, chúng tôi vượt qua kinh tuyến 180°, và như thế—nói vui theo kiểu Pickwick—xóa bỏ ngày thứ Ba: buổi sáng còn là thứ Hai, đến trưa đã thành thứ Tư. Tôi đã phải bật cười khi nhớ đến mẹo khéo mà Jules Verne dùng để cho nhân vật lập dị của Ông đi vòng quanh thế giới trong tám mươi ngày, và thế là thắng vụ cá cược ở Câu lạc bộ London, vốn lệ thuộc vào kết quả này. Các vị giáo sĩ vui tính trên tàu xua tan buồn chán hành trình bằng những màn hát thánh ca rộn ràng.

We reached Yokohama at 7 p.m. on the 28th of October, the 20th day according to the calender after leaving Frisco, but including the day which had been nominally obliterated. We were inexpressibly shocked to learn on arriving that on the morning of that very day one of the most disastrous earthquakes in the history of Japan had spread devastation over a wide area: thousands of buildings, including some of the strongest temples, had been destroyed, and thousands of persons killed. It was not a promising time for me to get the High Priests together to consider my Fourteen Propositions. However, I got them translated into Japanese by Mr. N. Amenomori, an excellent English scholar, of Yokohama. He completed the task the same day, so that I was able to leave on the 31st for Kobé, en route for Kyoto. As the earthquake had broken up the railway, I went by the P. & O. S.S.

Chúng tôi tới Yokohama lúc 7 giờ tối ngày 28 tháng Mười, tức ngày thứ 20 theo lịch kể từ khi rời Frisco, nhưng tính cả ngày vốn chỉ bị xóa trên danh nghĩa. Chúng tôi bàng hoàng khôn tả khi hay tin ngay buổi sáng hôm đó, một trong những trận động đất thảm khốc nhất trong lịch sử Nhật Bản đã gieo tàn phá trên một vùng rộng lớn: hàng ngàn tòa nhà, kể cả một số ngôi chùa kiên cố nhất, đã bị phá hủy, và hàng ngàn người thiệt mạng. Không phải là thời điểm thuận lợi để tôi triệu tập các Chánh Tăng để bàn về Mười bốn Mệnh đề của mình. Tuy nhiên, tôi đã nhờ Ông N. Amenomori, một học giả tiếng Anh xuất sắc ở Yokohama, dịch chúng sang tiếng Nhật. Ông hoàn tất việc ấy ngay trong ngày, nên tôi có thể rời đi vào ngày 31 đến Kobé, trên đường tới Kyoto. Vì động đất đã làm hư hỏng đường sắt, tôi đi bằng tàu P. & O. S.S.

[411]

[411]

“Ancona,” and the weather being delightful, had fine views of the coast and of Fugi San, the snow-capped sacred mountain, whose glittering cone, figures so very often in Japanese paintings. It was certainly one of the most charming journeys in the world—almost like fairyland. We reached Kobé at 1.30 p.m. on 1st November, and I put up at the Hiogo Hotel, at the waterside, where I had the honor and pleasure of meeting Professor John Milne, the world-renowned seismologist.

“Ancona”, và vì thời tiết dễ chịu, tôi đã được thưởng ngoạn những cảnh quan tuyệt đẹp của bờ biển và Fugi San, ngọn núi thiêng phủ tuyết, có đỉnh nón lấp lánh vốn xuất hiện rất thường xuyên trong các bức họa Nhật Bản. Quả là một trong những hành trình duyên dáng nhất thế giới—hầu như như chốn thần tiên. Chúng tôi tới Kobé lúc 1 giờ 30 chiều ngày 1 tháng Mười Một, và tôi trọ tại Khách sạn Hiogo bên bờ nước, nơi tôi có vinh dự và niềm vui được gặp Giáo sư John Milne, nhà địa chấn học lừng danh thế giới.

From what I heard I had good reason to fear that it would be very difficult for me to get the signatures of the Chief Priests of the sects to my Platform, as a number of them had left Kyoto for the scenes of earthquake disaster. However, I determined, since I was on the ground, to overcome all obstacles, in view of the immense importance of the object sought. I went on to Kyoto on the 2nd, and put up at my old inn, Nakumraya’s Hotel. I notified the two Hongwanjis and the Ko-sai-kai—the General Committee of all the sects, which I had induced them to form on the occasion of my former visit—of my arrival. My rooms were thronged with visitors the next and following days. Among the old acquaintances were Mr. Nirai, formerly a leading member of the Young Men’s Buddhist Committee which sent Noguchi as a sub-committee to Madras to personally escort me to Japan; and that highly influential and agreeable priest, Shaku Genyu San of the Shin-gon sect. He was a most enlightened man, open to all good suggestions [412] for the advancement of his religion, and travelled with me over the empire when I was there before. We had a very earnest discussion over the Fourteen Propositions, the wording of which he found perfectly satisfactory; but he put it to me why it was necessary for the Northern Church to sign these condensed bits of doctrine when they were so familiar that every priest-pupil throughout the empire had them by heart: there was infinitely more than that in the Mahayana. In reply I said: “If I should bring you a basketful of earth dug out of a slope of Fuji San, would that be part of your sacred mountain or not?” “Of course it would,” he answered. “Well, then,” I rejoined, “all I ask is that you will accept these Propositions as included within the body of Northern Buddhism; that they are a basketful of the mountain, but not the whole mountain itself.” That view of the case seemed to be quite convincing; and when I had argued at length upon the vital necessity of having some common ground laid out on which the Northern and Southern Churches might stand in harmony and brotherly love, offering a united front to a hostile world, he promised to do his best to have my wish accomplished. He then left me to go and see some of his leading colleagues, and on the 4th returned with a favorable report and signed the document on behalf of the Ko-sai-kai, thus giving my scheme the imprimatur of the approval of the united sects, even although I should secure no other signatures. But I did, as personally, and through the medium of [413] Shaku San, the Chief Priests who were within reach of Kyoto could have the thing explained to them. Before leaving for Kobé on the 9th I had got all the sects except the Shin-shu to sign the paper. This latter sect, as the reader may remember, occupies an entirely anomalous position in Buddhism, as their priests marry—in direct violation of the rule established by the Buddha for his Sangha—have families and hold property; for example, a temple will pass from father to son. At the same time they are by far the cleverest sectarian managers in all Japan, drawing immense revenues from the public, and building superb temples everywhere. They are, par excellence, the most aristocratic religious body in the empire. They excuse their infraction of the monastic rules on the ground that they are samaneras, semilaymn, not full moenks. The principal men among them whom I needed to see were away in the earthquake districts, where they had suffered great losses; and as my time was extremely limited, and the people whom I saw would not give me a definite answer, I had to do without those signatures. However, as they were represented in the Ko-sai-kai, Shaku San’s signature on its behalf virtually gave me the consent of the whole body of Northern Buddhists. My joy in achieving this result may readily be imagined.

Theo những gì tôi nghe được, tôi có lý do chính đáng để e rằng sẽ rất khó cho tôi lấy được chữ ký của các Chánh Tăng của các tông phái vào Cương lĩnh của tôi, vì một số vị đã rời Kyoto đến các vùng xảy ra thảm họa động đất. Tuy nhiên, tôi quyết định, một khi đã có mặt tại chỗ, thì phải vượt qua mọi trở ngại, xét đến tầm quan trọng to lớn của mục tiêu theo đuổi. Tôi đi tiếp tới Kyoto vào ngày mồng 2, và trọ tại quán trọ cũ của tôi, Khách sạn của Nakumraya. Tôi báo tin cho hai Hongwanji và Ko-sai-kai—Ủy ban Tổng Quát của tất cả các tông phái, mà trước đây tôi đã khuyên họ lập ra nhân dịp chuyến thăm trước—về việc tôi đã tới. Phòng tôi chật kín khách thăm ngày kế tiếp và những ngày sau đó. Trong số những người quen cũ có Ông Nirai, trước là một thành viên chủ chốt của Ủy ban Thanh niên Phật tử, vốn đã cử Noguchi làm tiểu ban sang Madras để đón tôi sang Nhật; và vị tăng sĩ có ảnh hưởng sâu rộng, hòa nhã, Shaku Genyu San của tông Chân Ngôn. Ngài là một người hết sức khai sáng, cởi mở với mọi gợi ý tốt đẹp [412] nhằm phát triển tôn giáo của mình, và đã cùng tôi đi khắp đế quốc khi tôi ở đó trước đây. Chúng tôi đã thảo luận rất nghiêm túc về Mười bốn Mệnh đề, mà cách diễn đạt theo Ngài là hoàn toàn thỏa đáng; nhưng Ngài nêu với tôi rằng tại sao lại cần Giáo hội Bắc tông ký vào những đoạn giáo lý cô đọng này, khi chúng quá quen thuộc đến mức mỗi học tăng trên khắp đế quốc đều thuộc nằm lòng: trong Đại thừa còn vô cùng nhiều điều hơn thế. Tôi đáp: “Nếu tôi mang đến cho Ngài một giỏ đất đào từ sườn Fugi San, thì đó có phải là một phần của ngọn núi thiêng của Ngài hay không?” “Dĩ nhiên là phải,” Ngài đáp. “Vậy thì,” tôi nói tiếp, “điều tôi xin chỉ là Ngài chấp nhận những Mệnh đề này như nằm trong thân thể của Phật giáo Bắc tông; rằng chúng là một giỏ đất của ngọn núi, chứ không phải toàn bộ ngọn núi.” Cách nhìn đó dường như hoàn toàn thuyết phục; và khi tôi đã trình bày dài về nhu cầu sống còn phải có một nền tảng chung để Giáo hội Bắc tông và Nam tông có thể đứng cùng nhau trong hòa hợp và tình huynh đệ, đưa ra một mặt trận thống nhất trước một thế giới thù nghịch, Ngài hứa sẽ làm hết sức để đáp ứng nguyện vọng của tôi. Rồi Ngài rời tôi để đi gặp một số đồng liêu chủ chốt, và ngày mồng 4 trở lại với một báo cáo tích cực và ký văn kiện thay mặt Ko-sai-kai, như vậy là trao cho đề án của tôi dấu ấn chấp thuận của các tông phái hợp nhất, dẫu cho tôi có không lấy được thêm chữ ký nào khác đi nữa. Nhưng tôi đã có thêm, vì đích thân tôi, và thông qua [413] Shaku San, các Chánh Tăng ở trong tầm với của Kyoto có thể được giải thích về việc này. Trước khi rời Kobé vào ngày mồng 9, tôi đã lấy được chữ ký của tất cả các tông phái, trừ phái Shin-shu. Tông phái này, như độc giả có thể nhớ, chiếm một vị trí hoàn toàn dị thường trong Phật giáo, vì tăng sĩ của họ lập gia đình—trái hẳn với giới luật do Đức Phật thiết lập cho Tăng-già—có gia đình và sở hữu tài sản; chẳng hạn, một ngôi chùa sẽ truyền từ cha sang con. Đồng thời, họ là những nhà quản trị giáo phái khéo léo nhất ở toàn Nhật Bản, thu được nguồn thu nhập khổng lồ từ công chúng, và xây chùa chiền tráng lệ khắp nơi. Họ, tiêu biểu hơn cả, là đoàn thể tôn giáo quý tộc nhất trong đế quốc. Họ biện hộ cho việc vi phạm giới luật tu viện trên cơ sở rằng họ là các sa-di, bán tục, không phải tỳ-kheo trọn vẹn. Những vị chủ chốt trong họ mà tôi cần gặp đã đi tới các vùng động đất, nơi họ chịu tổn thất lớn; và do thời gian của tôi cực kỳ hạn hẹp, còn những người tôi gặp thì không cho một câu trả lời dứt khoát, nên tôi đành không có các chữ ký ấy. Tuy nhiên, vì họ có đại diện trong Ko-sai-kai, chữ ký của Shaku San thay mặt cơ quan này trên thực tế đã cho tôi sự đồng thuận của toàn thể Phật giáo Bắc tông. Niềm vui của tôi khi đạt kết quả này hẳn có thể dễ dàng hình dung.

CHAPTER XXIV—CHƯƠNG XXIV

THE BUDDHIST PLATFORM SUCCESSFULLY INAUGURATED—CƯƠNG LĨNH PHẬT GIÁO ĐƯỢC KHAI XƯỚNG THÀNH CÔNG

(1891)

(1891)

I THINK that I could hardly be accused of vain-glorious boasting if I should say that an event of such importance as that described in the last chapter deserved to be made much of by all Western Orientalists, especially such as devote themselves to Pali literature and the study of Buddhism. Certainly, its significance was recognised throughout the Buddhistic nations of the East. Yet, within the ten years which have elapsed since the signing, scarcely any notice whatever has been taken of it by the European and American scholars. I am afraid I shall have to ascribe this to a small-minded prejudice against our Society, out of which, they think, no good can come. Time, however, will set that right.

TÔI NGHĨ rằng khó có thể cáo buộc tôi là khoe khoang hư vinh nếu tôi nói rằng một sự kiện quan trọng như được mô tả ở chương trước xứng đáng được tất cả các nhà Đông phương học phương Tây đề cao, đặc biệt là những ai chuyên tâm vào văn học Pali và nghiên cứu Phật giáo. Chắc chắn là ý nghĩa của nó đã được nhìn nhận khắp các quốc gia Phật giáo ở phương Đông. Thế nhưng, trong mười năm đã trôi qua kể từ khi ký kết, hầu như chẳng có mấy sự lưu ý nào tới nó từ các học giả châu Âu và châu Mỹ. Tôi e rằng mình buộc phải quy việc này cho một định kiến nhỏ nhen chống lại Hội của chúng ta, từ đó, theo họ nghĩ, chẳng thể sinh điều gì tốt đẹp. Tuy nhiên, thời gian sẽ giải quyết điều đó.

To get the signatures needed was not such a very easy matter after all; I had to pass through an experience of that procrastinating and preternaturally cautious policy which seems peculiar to the Chinese [415] and Japanese character. I wrote in my Diary: “There is a lot of polite humbugging going on about signing my Platform—idle excuses of all sorts.” But by the 7th of November things were looking decidedly better; in fact, I could quite well have been satisfied to take it away with me as it stood that evening. The next morning all was finished and the document complete. To celebrate the event, a dinner in the Japanese style was given me, at which 178 persons were present. If I quote the full text of the Platform, with the names of the signers, the document will be placed on permanent record, and my readers have the chance of judging for themselves as to its importance. Here it is:

Để có được các chữ ký cần thiết cũng không phải là chuyện quá dễ; tôi đã phải trải qua kinh nghiệm về cái chính sách lần lữa và thận trọng đến mức dị thường, dường như là đặc tính của người Trung Hoa [415] và người Nhật. Tôi viết trong Nhật ký: “Có quá nhiều xã giao kiểu quanh co đang diễn ra quanh việc ký Cương lĩnh của tôi—đủ loại viện cớ vu vơ.” Nhưng đến ngày mồng 7 tháng Mười Một, mọi việc trông rõ ràng khả quan hơn; thực ra, tôi có thể hài lòng mang nó theo như tình trạng tối hôm đó. Sáng hôm sau, mọi việc hoàn tất và văn kiện đã hoàn chỉnh. Để mừng sự kiện, người ta thết tôi một bữa theo kiểu Nhật, với 178 người hiện diện. Nếu tôi trích nguyên văn Cương lĩnh, cùng tên các vị ký, thì văn kiện sẽ được đặt vào hồ sơ vĩnh viễn, và độc giả của tôi có cơ hội tự đánh giá tầm quan trọng của nó. Đây là bản ấy:

“FUNDAMENTAL BUDDHISTIC BELIEFS

“NHỮNG TÍN NIỆM NỀN TẢNG CỦA PHẬT GIÁO

“I. Buddhists are taught to show the same tolerance, forbearance, and brotherly love to all men, without distinction, and an unswerving kindness towards the members of the animal kingdom.

“I. Phật tử được dạy phải thể hiện lòng khoan dung, nhẫn nại, và tình huynh đệ như nhau đối với mọi người, không phân biệt, cùng với một lòng nhân từ không gì lay chuyển đối với các loài trong giới động vật.

“II. The universe was evolved, not created; and it functions according to law, not according to the caprice of any God.

“II. Vũ trụ được tiến hóa, không phải được tạo ra; và nó vận hành theo định luật, chứ không theo ý thích thất thường của bất kỳ Thượng đế nào.

“III. The truths upon which Buddhism is founded are natural. They have, we believe, been taught in successive kalpas, or world periods, by certain illuminated Beings called BUDDHAS, the name BUDDHA meaning ‘Enlightened’.

“III. Những chân lý làm nền tảng cho Phật giáo là tự nhiên. Chúng, theo chúng tôi tin, đã được truyền dạy qua các kalpa kế tiếp, hay các thời kỳ thế giới, bởi những Đấng Giác Ngộ nhất định được gọi là CÁC ĐỨC PHẬT, danh xưng PHẬT nghĩa là ‘Bậc Giác Ngộ’.

“IV. The fourth Teacher in the present Kalpa was Sakya Muni, or Gautama Buddha, who was born in a royal family in India about 2,500 years ago. He is [416] an historical personage, and his name was Siddhartha Gautama.

“IV. Vị Giáo chủ thứ tư trong Kalpa hiện tại là Sakya Muni, hay Đức Phật Cồ-đàm (Gautama), sinh trong một hoàng gia Ấn Độ khoảng 2.500 năm trước. Ngài [416] là một nhân vật lịch sử, và danh xưng của Ngài là Siddhartha Gautama.

“V. Sakya Muni taught that ignorance produces desire, unsatisfied desire is the cause of rebirth, and rebirth the cause of sorrow. To get rid of sorrow, therefore, it is necessary to escape rebirth; to escape rebirth, it is necessary to extinguish desire; and to extinguish desire, it is necessary to destroy ignorance.

“V. Sakya Muni dạy rằng vô minh sinh ra dục vọng, dục vọng không được thỏa mãn là nguyên nhân của tái sinh, và tái sinh là nguyên nhân của khổ đau. Vậy, để thoát khổ, cần thoát khỏi tái sinh; để thoát khỏi tái sinh, cần diệt dục; và để diệt dục, cần phá trừ vô minh.

“VI. Ignorance fosters the belief that rebirth is a necessary thing. When ignorance is destroyed, the worthlessness of every such rebirth, considered as an end in itself, is perceived, as well as the paramount need of adopting a course of life by which the necessity for such repeated rebirths can be abolished. Ignorance also begets the illusive and illogical idea that there is only one existence for man, and the other illusion that this one life is followed by states of unchangeable pleasure or torment.

“VI. Vô minh nuôi dưỡng niềm tin rằng tái sinh là điều tất yếu. Khi vô minh bị diệt, người ta thấy rõ sự vô giá trị của mọi tái sinh như một cứu cánh tự thân, cũng như nhu cầu tối thượng của việc chọn một lối sống nhờ đó sự tất yếu của các tái sinh lặp đi lặp lại như thế có thể bị bãi bỏ. Vô minh cũng sinh ra ý niệm hư ảo và phi lý rằng con người chỉ có một đời sống, và một ảo tưởng khác rằng sau đời sống duy nhất ấy là những trạng thái khoái lạc hay thống khổ bất biến.

“VII. The dispersion of all this ignorance can be attained by the persevering practice of an all-embracing altruism in conduct, development of intelligence, wisdom in thought, and destruction of desire for the lower personal pleasures.

“VII. Sự tiêu tan của toàn bộ vô minh này có thể đạt được bằng sự thực hành kiên trì tinh thần vị tha bao trùm trong hành vi, phát triển trí tuệ, minh triết trong tư tưởng, và diệt trừ ham muốn các khoái lạc cá nhân thấp kém.

“VIII. The desire to live being the cause of rebirth, when that is extinguished, rebirths cease, and the perfected individual attains by meditation that highest state of peace called Nirvâna.

“VIII. Vì ham muốn sống là nguyên nhân của tái sinh, khi điều đó được dập tắt, tái sinh chấm dứt, và bậc đã thành tựu viên mãn bằng thiền định đạt đến trạng thái an tĩnh tối thượng gọi là Niết-bàn.

“IX. Sakya Muni taught that ignorance can be dispelled and sorrow removed by the knowledge of the four Noble Truths, viz.:

“IX. Sakya Muni dạy rằng vô minh có thể được xua tan và khổ đau có thể được loại trừ bằng sự hiểu biết về bốn Chân lý Cao quý, tức:

[417]

[417]

1. The miseries of existence;

1. Những nỗi khổ của hiện hữu;

2. The cause productive of misery, which is the desire, ever renewed, of satisfying oneself without being able ever to secure that end;

2. Nguyên nhân sinh ra khổ, tức lòng ham muốn, luôn được làm mới, muốn thỏa mãn bản thân mà chẳng bao giờ đạt được cứu cánh đó;

3. The destruction of that desire, or the estranging of oneself from it;

3. Sự diệt trừ ham muốn ấy, hay sự xa lìa bản thân khỏi nó;

4. The means of obtaining this destruction of desire.

4. Phương tiện để đạt được sự diệt trừ ham muốn này.

“The means which he pointed out is called the Noble Eightfold Path; viz., Right

“Phương tiện mà Ngài chỉ ra được gọi là Bát Chánh Đạo; tức: Chánh kiến;

Belief; Right Thought; Right Speech; Right Action; Right Means of Livelihood;

Chánh tư duy; Chánh ngữ; Chánh nghiệp; Chánh mạng;

Right Exertion; Right Remembrance; Right Meditation.

Chánh tinh tấn; Chánh niệm; Chánh định.

“X. Right Meditation leads to spiritual enlightenment, or that development of that Buddha-like faculty which is latent in every man.

“X. Thiền định đúng dẫn đến giác ngộ tinh thần, tức sự phát triển năng lực như Phật, vốn tiềm ẩn trong mỗi con người.

“XI. The essence of Buddhism, as summed up by the Tathâgata (Buddha) himself, is—

“XI. Yếu chỉ của Phật giáo, như được Đức Như Lai (Phật) tự mình tóm lược, là—

To cease from all sin,

Dừng mọi điều ác,

To get virtue,

Tu dưỡng đức hạnh,

To purify the heart.

Thanh lọc tâm.

“XII. The universe is subject to a natural causation known as ‘Karma’. The merits and demerits of a being in past existences determine his condition in the present one. Each man, therefore, has prepared the causes of the effects which he now experiences.

“XII. Vũ trụ chịu sự chi phối của một nhân quả tự nhiên gọi là ‘Nghiệp’. Công và tội của một hữu tình trong các đời sống trước quyết định tình trạng của y trong đời sống hiện tại. Mỗi người, do đó, đã chuẩn bị các nguyên nhân cho những kết quả mà y hiện đang trải nghiệm.

“XIII. The obstacles to the attainment of good Karma may be removed by the observance of the following precepts, which are embraced in the moral code of Buddhism, viz., (1) Kill not; (2) Steal not;

“XIII. Những chướng ngại đối với sự đạt được thiện nghiệp có thể được loại trừ bằng việc giữ các giới sau đây, vốn nằm trong luật luân lý của Phật giáo, tức: (1) Không sát sinh; (2) Không trộm cắp;

[418]

[418]

(3) Indulge in no forbidden sexual pleasure; (4) Lie not; (5) Take no intoxicating or stupefying drug or liquor. Five other precepts, which need not be here enumerated, should be observed by those who would attain, more quickly than the average layman, the release from misery and rebirth.

(3) Không tà dâm; (4) Không nói dối; (5) Không dùng chất say hay mê dược. Năm giới khác, không cần liệt kê ở đây, nên được gìn giữ bởi những ai muốn mau chóng hơn người cư sĩ bình thường đạt đến sự giải thoát khỏi khổ đau và tái sinh.

“XIV. Buddhism discourages superstitious credulity. Gautama Buddha taught it to be the duty of a parent to have his child educated in science and literature. He also taught that no one should believe what is spoken by any sage, written in any book, or affirmed by tradition, unless it accord with reason.

“XIV. Phật giáo không khuyến khích lòng mê tín cả tin. Đức Phật Cồ-đàm dạy rằng bổn phận của cha mẹ là cho con cái được học khoa học và văn chương. Ngài cũng dạy rằng không ai nên tin điều do bất kỳ bậc hiền triết nào nói, viết trong bất kỳ cuốn sách nào, hay do truyền thống khẳng định, nếu điều đó không phù hợp với lý trí.

_____

_____

“Drafted as a common platform upon which all Buddhists can agree.

“Thảo thành một cương lĩnh chung mà trên đó tất cả Phật tử có thể đồng thuận.

“(Sd.) H. S. OLCOTT, P.T.S.

“(Ký) H. S. OLCOTT, P.T.S.

_____

_____

“BURMAH

“MIẾN ĐIỆN

“Approved on behalf of the Buddhists of Burmah, this 3rd day of February, 1891 (A.B. 2434):

“Chuẩn y thay mặt Phật tử Miến Điện, ngày mồng 3 tháng Hai, 1891 (A.B. 2434):

“Tha-tha-na-baing Sayadawgyi; Aung Myi Shwe bôn Sayadaw; Me-ga-waddy Sayadaw; Hmat-khaya Sayadaw; Htî-lin Sayadaw; Myadaung Sayadaw; Hla-htwe Sayadaw; and sixteen others.

“Tha-tha-na-baing Sayadawgyi; Aung Myi Shwe bôn Sayadaw; Me-ga-waddy Sayadaw; Hmat-khaya Sayadaw; Htî-lin Sayadaw; Myadaung Sayadaw; Hla-htwe Sayadaw; và mười sáu vị khác.

[419]

[419]

“CEYLON

“TÍCH LAN

“Approved on behalf of the Buddhists of Ceylon, this 25th day of February, 1891 (A.B. 2434). Mahanuwara upawsatha puspârâma vihârâdhipati Hippola Dhamma Rakkhita Sobhitâbhidhana Mahâ Nâyaka Sthavirayan-wahanse wamha.

“Chuẩn y thay mặt Phật tử Tích Lan, ngày 25 tháng Hai, 1891 (A.B. 2434). Mahanuwara upawsatha puspârâma vihârâdhipati Hippola Dhamma Rakkhita Sobhitâbhidhana Mahâ Nâyaka Sthavirayan-wahanse wamha.

“(Hippola Dhamma Rakkhita Sobhitâbhidhana, High Priest of Malwatte Vihara at Kandy.)

“(Hippola Dhamma Rakkhita Sobhitâbhidhana, Chánh Tăng chùa Malwatte tại Kandy.)

“(Sd.) HIPPOLA

“(Ký) HIPPOLA

“Mahanuwara Asgiri Vihârâdhipati Yatawattç Chandajottyâbhidhana Mahâ Nâyaka Sthavirayan wahanse wamha.

“Mahanuwara Asgiri Vihârâdhipati Yatawattç Chandajottyâbhidhana Mahâ Nâyaka Sthavirayan wahanse wamha.

“(Yatawattç Chandajottyabhidhana, High Priest of Asgiri Vihara at Kandy.)

“(Yatawattç Chandajottyabhidhana, Chánh Tăng chùa Asgiri tại Kandy.)

“(Sd.) YATAWATTE

“(Ký) YATAWATTE

“Hikkaduwe Srî Sumangala Sripâdasthâne saha Kolamba palate pradhana Nayâka Sthavirayo (Hikkaduwe Srî Sumangala, High Priest of Adam’s Peak and the District of Colombo).

“Hikkaduwe Srî Sumangala Sripâdasthâne saha Kolamba palate pradhana Nayâka Sthavirayo (Hikkaduwe Srî Sumangala, Chánh Tăng núi Adam và Quận Colombo).

“(Sd.) H. SUMANGALA

“(Ký) H. SUMANGALA

“Maligâwe Prâchina Pustakâlâyâdhyahshaka Sûriyagoda Sonuttara Sthavirayo (Suriyagoda Sonuttara, Librarian of the Oriental Library at the Temple of the Tooth Relic at Kandy).

“Maligâwe Prâchina Pustakâlâyâdhyahshaka Sûriyagoda Sonuttara Sthavirayo (Suriyagoda Sonuttara, Thủ thư Thư viện Đông phương tại Chùa Xá Lợi Răng ở Kandy).

“(Sd.) S.SONUTTARA

“(Ký) S.SONUTTARA

“Sugata Sâsanadhaja Vinayâ chairya Dhammâlankârâbhidhâna Nayâka Sthavira.

“Sugata Sâsanadhaja Vinayâ chairya Dhammâlankârâbhidhâna Nayâka Sthavira.

“(Sd.) DHAMA’LANKARA

“(Ký) DHAMA’LANKARA

[420]

[420]

“Pawara neruttika chariya Maha Vibhavi Subhuti, of Waskaduwa.

“Pawara neruttika chariya Maha Vibhavi Subhuti, ở Waskaduwa.

“(Sd.) W. SUBHUTI

“(Ký) W. SUBHUTI

“JAPAN

“NHẬT BẢN

“Accepted as included within the body of Northern Buddhism.

“Chấp nhận như nằm trong thân thể của Phật giáo Bắc tông.

“Shaku Genyu (Shin Gon Su Sect).

“Shaku Genyu (tông Shin Gon Su).

“Fukuda Nichiyo (Nichiren „).

“Fukuda Nichiyo (tông Nichiren).

“Sanada Seyko (Zen Shu „).

“Sanada Seyko (tông Zen Shu).

“Ito Quan Shyu.

“Ito Quan Shyu.

“Takehana Hakuyo (Jodo „).

“Takehana Hakuyo (tông Jodo).

“Kono Rioshin (Ji-Shu „).

“Kono Rioshin (tông Ji-Shu).

“Kira Ki-ko (Jodo Seizan „).

“Kira Ki-ko (tông Jodo Seizan).

“Harutani Shinsho (Tendai „).

“Harutani Shinsho (tông Tendai).

“Manabe Shun-myo (Shin Gon Su „).

“Manabe Shun-myo (tông Shin Gon Su).

“CHITTAGONG

“CHITTAGONG

“Accepted for the Buddhists of Chittagong.

“Chấp nhận thay mặt Phật tử Chittagong.

“Nagawa Parvata Viharashipati.

“Nagawa Parvata Viharashipati.

“Guna Megu Wini-Lankara.

“Guna Megu Wini-Lankara.

“Harbang, Chittagong, Bengal.”

“Harbang, Chittagong, Bengal.”

The reader will observe that whereas the Fourteen Propositions are approved unreservedly by the Buddhist priests of Ceylon, Burmah, and Chittagong, they are accepted by those of Japan as “included within the body of Northern Buddhism”.

Độc giả sẽ nhận thấy rằng trong khi Mười bốn Mệnh đề được các tăng sĩ Phật giáo ở Tích Lan, Miến Điện và Chittagong chuẩn y vô điều kiện, thì các vị ở Nhật Bản chấp nhận chúng như là “nằm trong thân thể của Phật giáo Bắc tông”.

On the 7th of November I saw the funeral procession of Prince Kinni, uncle of the emperor.

Ngày mồng 7 tháng Mười Một, tôi xem đám tang của Hoàng tử Kinni, chú của Hoàng đế.

[421]

[421]

Shinto and Buddhist priests took part in the ceremony; plants and trees in tubs were carried before the corpse, and a great profusion of flowers. Then followed a battalion of the imperial guard, with officers in blazing uniforms; then diplomatic functionaries in full dress; then the pupils of the military schools; and bringing up the rear, citizens riding in jinrickshas.

Các tăng sĩ Thần đạo và Phật giáo đều tham gia nghi lễ; cây cảnh trong chậu và cây lớn được rước đi trước linh cữu, và hoa rất nhiều. Tiếp theo là một tiểu đoàn thị vệ Hoàng gia, với các sĩ quan trong quân phục rực rỡ; rồi các nhà ngoại giao trong lễ phục; rồi học sinh các trường quân sự; và khép đoàn là các công dân ngồi xe kéo tay.

On another evening I saw a public exhibition of the marvellous juggling for which the Japanese are renowned, but as it was substantially of the same character as that described in Chapter VII of the present Series, I need not dwell on details. I may say, however, that a second sight of the performance of some of the most wonderful tricks did not help me to a comprehension of the juggler’s secrets.

Một buổi tối khác, tôi xem một buổi trình diễn công cộng các trò ảo thuật kỳ diệu mà người Nhật nổi tiếng, nhưng vì về cơ bản cùng loại với những gì đã mô tả ở Chương VII của Loạt hiện tại, tôi không cần đi sâu vào chi tiết. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng xem lần thứ hai những tiết mục kỳ diệu nhất cũng không giúp tôi hiểu được bí quyết của nhà ảo thuật.

After paying ceremonial visits to the High Priests of both Hongwanjis—the Higachi and Nischi (the former personage having the social rank of Duke)—and other Chief Priests of sects, and after giving another address at Chounin Temple before the Kosai-kai and a monster audience, I left Kyoto for Kobé on the 9th, with Hogen San, one of the young priest-students who had been sent in 1889, by my advice, to study Sanskrit and Pali under Sumangala, and Noguchi San, my old friend, and on the 10th embarked on the Messageries S.S. “Oxius” in a rain storm. We reached Woo-sung, the port of Shanghai, in the evening of the 12th. Most of the passengers went up to the city by water, a distance of fourteen miles, the next morning,

Sau khi thực hiện các cuộc thăm viếng nghi lễ tới các Chánh Tăng của cả hai Hongwanji—Higachi và Nischi (vị trước có phẩm trật xã hội là Công tước)—và các Chánh Tăng của những tông phái khác, và sau khi có một bài diễn thuyết nữa tại chùa Chounin trước Ko-sai-kai và một thính chúng khổng lồ, tôi rời Kyoto đi Kobé vào ngày mồng 9, cùng với Hogen San, một trong các vị tăng sinh trẻ đã được gửi đi năm 1889, theo lời khuyên của tôi, để học Sanskrit và Pali với Sumangala, và Noguchi San, bạn cũ của tôi, và ngày mồng 10 lên tàu Messageries “Oxius” giữa cơn mưa bão. Chúng tôi tới Woo-sung, cảng của Thượng Hải, vào tối ngày 12. Phần lớn hành khách đi thuyền vào thành phố, cách mười bốn dặm đường thủy, sáng hôm sau,

[422] and spent the day looking through the Chinese quarter—a most unpleasant excursion, by reason of the unnameable smells which almost suffocate one. We returned to the ship by moonlight, and sailed at 3 p.m. on the 14th for Hong Kong. His Excellency the French Ambassador to Japan and family were on board as passengers, and I had the great pleasure of becoming well acquainted with them. The four children had a most talented governess, a Polish lady, who had an admirable system of instruction. Her pupils were learning four languages simultaneously; but one language was assigned to each of four consecutive days, and they were allowed to speak, write, and read only that language. The parents lent themselves to this system in their intercourse with their children, and the result was that the latter were getting a thorough proficiency in each language.

[422] và dành cả ngày đi xem khu Hoa kiều—một cuộc dạo chơi hết sức khó chịu, vì những mùi không thể gọi tên hầu như khiến người ta nghẹt thở. Chúng tôi trở về tàu dưới ánh trăng, và nhổ neo lúc 3 giờ chiều ngày 14 đi Hồng Kông. Đức Ngài Đại sứ Pháp tại Nhật Bản và gia đình là hành khách trên tàu, và tôi rất hân hạnh được làm quen thân mật với họ. Bốn đứa trẻ có một nữ gia sư rất tài năng, một phu nhân Ba Lan, người có một hệ thống giảng dạy tuyệt vời. Học trò của bà đang học bốn ngôn ngữ cùng lúc; nhưng mỗi ngôn ngữ được chỉ định cho một trong bốn ngày liên tiếp, và họ chỉ được phép nói, viết, và đọc ngôn ngữ đó. Cha mẹ cũng thuận theo hệ thống này trong giao tiếp với con cái, và kết quả là bọn trẻ đạt được sự tinh thông vững chắc trong từng ngôn ngữ.

Hong Kong was reached on the 17th, and we were all delighted with the appearance of that great commercial mart. I went by the funicular railway to the top of the “Peak,” and enjoyed a magnificent view of the harbor and environs. The next morning we sailed for Saigon, the coquettish-looking little French capital of their Cochin China possessions. As I had been there twice before, I stayed on board until evening, when I took a drive and walk with some Japanese passengers. We sailed for Singapore early on “the morning of the 22nd and reached there on the second day; at 5 p.m. we left again for Colombo. The weather from Japan onward had been rather [423] rough, but it was fair with us from Singapore to Colombo, where we arrived at 1 p.m. on the 29th.

Chúng tôi tới Hồng Kông ngày 17, và tất cả đều say sưa với diện mạo của thương cảng lớn ấy. Tôi đi bằng đường sắt leo núi lên đỉnh “Peak”, và thưởng ngoạn một quang cảnh hùng vĩ của cảng và vùng phụ cận. Sáng hôm sau, chúng tôi nhổ neo đi Sài Gòn, thủ đô nhỏ xinh như làm dáng của các sở hữu Nam Kỳ thuộc Pháp. Vì đã từng tới đó hai lần, tôi ở lại trên tàu đến chiều tối, rồi đi dạo và đi xe với vài hành khách Nhật. Chúng tôi khởi hành đi Singapore từ rất sớm “sáng ngày 22” và tới nơi vào ngày thứ hai; lúc 5 giờ chiều lại rời đi Colombo. Thời tiết từ Nhật trở đi khá [423] dữ, nhưng từ Singapore đến Colombo thì thuận với chúng tôi, và chúng tôi cập bến Colombo lúc 1 giờ trưa ngày 29.

The High Priest Sumangala congratulated me warmly on my success with the Platform, and expressed the hope of a more friendly intercourse between the Southern and Northern Divisions.

Hòa thượng Tối cao Sumangala nồng nhiệt chúc mừng thành công của tôi với Cương lĩnh, và bày tỏ hy vọng về một mối giao hảo thân ái hơn giữa hai Bộ phận Bắc tông và Nam tông.

A cruel report that Miss Pickett’s death had been the result of suicide having been spread by certain malevolent persons, among them Dr. Daly, I felt it my duty to make a thorough inquiry, and, associating myself with Count Axel Wachtmeister as a committee, with Proctor Mendes, Mr. Peter d’ Abrew, and Miss Roberts as interpreters, a number of witnesses were examined, and every effort made to arrive at the truth. The result was our entire conviction that it had been an accident occurring to her when she was walking in a fit of somnambulism. It was very gratifying to see with what affection her memory was cherished by the whole Buddhist community, her slanderers having nearly all been half-caste Christians, than whom no more rancorous bigots exist. The fact is that she had committed the unpardonable offence of making a public profession of Buddhism, and had come to undertake the education of Sinhalese girls of respectable families, whom the missionaries had been marking out as their prey for many years. As they dared not kill her—as once they tried to do to me—they spread the falsehood that she had killed herself.

Một lời đồn độc ác rằng cái chết của Cô Pickett là kết quả của việc tự tử đã bị một số kẻ ác ý phát tán, trong đó có Bác sĩ Daly, nên tôi thấy bổn phận mình là phải điều tra thấu đáo, và, cùng với Bá tước Axel Wachtmeister lập thành một ủy ban, với Proctor Mendes, Ông Peter d’Abrew, và Cô Roberts làm thông dịch, chúng tôi đã thẩm vấn nhiều nhân chứng, và cố gắng hết sức để đi đến sự thật. Kết quả là niềm xác tín hoàn toàn của chúng tôi rằng đó là một tai nạn xảy đến với cô khi cô đi bộ trong một cơn mộng du. Thật an ủi khi thấy ký ức về cô được toàn thể cộng đồng Phật tử trìu mến gìn giữ, còn những kẻ vu khống cô hầu hết là các tín đồ Cơ Đốc lai, mà không đâu có những kẻ cuồng tín độc địa hơn. Sự thực là cô đã phạm “tội” không thể tha thứ là công khai tuyên xưng Phật giáo, và đã đến để đảm nhận việc giáo dục các nữ sinh Tích Lan thuộc các gia đình đứng đắn, những người đã từ nhiều năm bị các nhà truyền giáo nhắm làm con mồi. Vì họ không dám giết cô—như họ đã từng một lần tìm cách giết tôi—họ bèn tung tin thất thiệt rằng cô đã tự sát.

Mrs. Maire Musæus Higgins, widow of Mr. Anthony Higgins, F.T.S., of Washington, D.C., had answered [424] an appeal in the Path, Mr. Judge’s magazine, for help for the Women’s Education Society from qualified lady teachers. No inducements of salary or luxurious living were held out—quite the contrary. Mrs. Higgins was then in the receipt of a salary of $900 as a clerk in the Post Office Department of Washington, a sum amply sufficient for all her wants. She was a native of Mecklenburg-Schwerin, and daughter of a judge of the High Court. Having adopted teaching as a profession, she had passed all the examinations up to the highest, and was highly qualified for any teaching post. Her heart was touched by the appeal of the Sinhalese women, and she wrote me tendering her services without conditions. After due consideration and consultation all round, the offer was accepted and money sent her for her passage tickets out. I found her at Colombo, on my return from Japan, acting with the W. E. S. On the 7th of December I presided at an adjourned meeting of that Society. Mrs. Weerakoon resigned the Presidency, and Mrs. Higgins was elected Executive President. The accounts which were laid before the meeting were found hopelessly confused and laid on the table. This is not at all to be wondered at, considering that, up to that time, Sinhalese ladies had never acted together as an organised body, nor had the least familiarity with book-keeping or accounts. Being aware of the inevitable difficulties that would assail Mrs. Higgins if certain of the ladies on the Managing Board of the Society were allowed to interfere with her household and school management,

Bà Maire Musæus Higgins, quả phụ của Ông Anthony Higgins, F.T.S., ở Washington, D.C., đã hồi đáp [424] một lời kêu gọi trên Path, tạp chí của Ông Judge, về việc trợ giúp cho Hội Giáo dục Phụ nữ từ các nữ giáo viên có đủ tư cách. Không hề có lời hứa hẹn nào về lương bổng hay đời sống tiện nghi—trái lại là khác. Khi ấy Bà Higgins đang nhận mức lương 900 đô-la với tư cách là thư ký tại Bộ Bưu điện ở Washington, một khoản thừa đủ cho mọi nhu cầu của bà. Bà là người bản xứ Mecklenburg-Schwerin, con gái một vị thẩm phán Tòa Thượng thẩm. Sau khi chọn nghề dạy học, bà đã vượt qua mọi kỳ thi đến bậc cao nhất, và hoàn toàn đủ điều kiện cho bất kỳ vị trí giảng dạy nào. Trái tim bà được cảm động bởi lời thỉnh cầu của những phụ nữ Tích Lan, và bà viết cho tôi, tình nguyện phục vụ vô điều kiện. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng và tham vấn khắp nơi, lời đề nghị được chấp thuận và tiền vé tàu ra đi được gửi cho bà. Tôi gặp bà tại Colombo, khi trở về từ Nhật Bản, đang cộng tác với W. E. S. Ngày mồng 7 tháng Mười Hai, tôi chủ tọa một phiên họp hoãn lại của Hội ấy. Bà Weerakoon từ chức Chủ tịch, và Bà Higgins được bầu làm Chủ tịch Điều hành. Các khoản sổ sách được trình ra trước cuộc họp bị phát hiện là rối bời không thể cứu vãn và được cho đặt lại lên bàn. Điều này hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên, vì cho đến lúc đó, các bà Tích Lan chưa bao giờ cùng nhau hoạt động như một đoàn thể có tổ chức, cũng chẳng hề có chút quen thuộc với việc kế toán hay sổ sách. Nhận rõ những khó khăn tất yếu sẽ ập đến với Bà Higgins nếu một số quý bà trong Ban Quản trị của Hội được phép can thiệp vào việc quản trị gia đình và nhà trường của bà,

[425] by reason of their ignorance, and, in some cases, illiteracy, I had Mrs. Weerakoon come forward in the presence of the audience and formally relinquish on behalf of the Society all right of meddling. This gave the new régime a fair start, and all would have gone on well until now if this sensible arrangement had been adhered to. But it was not, and the result was the ultimate withdrawal of Mrs. Higgins, after a long trial, and the starting by her of a girls’ school on her own account. Of this I shall have to speak later. After a stay of ten days, I left Colombo for Madras in the P. & O. S.S. “Chusan”. We anchored off Madras harbor after dark on the 12th, in a pelting rain. I landed the next morning, and received the usual hearty welcome from my Indian colleagues and Messrs. B. Keightley and S. V. Edge. At Adyar I found Miss Anna Ballard, an American journalist, who had been travelling professionally, and had come to make me a protracted visit.

[425] do bởi sự thiếu hiểu biết, và, trong vài trường hợp, mù chữ, tôi đã mời Bà Weerakoon bước ra trước sự chứng kiến của cử tọa và chính thức thay mặt Hội từ bỏ mọi quyền can thiệp. Điều này đã cho chế độ mới một khởi đầu thuận lợi, và mọi chuyện lẽ ra đã diễn tiến tốt đẹp cho đến nay nếu sắp đặt khôn ngoan đó được giữ đúng. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và kết cục là sự rút lui sau cùng của Bà Higgins, sau một thời gian dài thử thách, và việc bà mở một trường nữ riêng của mình. Về điều này, tôi sẽ phải nói sau. Sau mười ngày lưu lại, tôi rời Colombo đi Madras trên tàu P. & O. S.S. “Chusan”. Chúng tôi thả neo ngoài khơi cảng Madras sau khi trời tối vào ngày 12, giữa cơn mưa xối xả. Tôi lên bờ sáng hôm sau và nhận sự tiếp đón nồng hậu như lệ thường từ các đồng sự Ấn Độ của tôi và các Ông B. Keightley và S. V. Edge. Ở Adyar, tôi gặp Cô Anna Ballard, một nữ ký giả người Mỹ, người đã đi du lịch nghề nghiệp và đến để thăm tôi dài ngày.

From this time forward my time was fully taken up with editorial work, official correspondence, and preparations for the Annual Convention. An unprecedented number of European and American ladies came to that year’s meeting. Among them, Miss F. Henrietta Müller, B.A. (Cantab.), that most ardent and eccentric lady reformer, who allowed her furniture to be sold in London for taxes as a protest against the denial of women’s rights, who became, in India, a fervent worker with us for the revival of Eastern Philosophy, going so far as to adopt a young Hindu [426] as a son and make her will in his favor, and who, more recently, rushed back into the Christian fold, repudiating us, our Indian colleagues, and the movement in general. Withal, a kind-hearted and generous friend so long as the momentary mood lasted. That excellent young man and devoted son, the young Count Wachtmeister, was also among the delegates present. He is one of the most accomplished non-professional musicians I ever met, and I deeply regretted our not having a piano at Adyar, so that he might have delighted the Delegates by his skill.

Từ đây trở đi, thời giờ của tôi kín đặc với việc biên tập, công văn chính thức, và chuẩn bị cho Đại hội Thường niên. Một số lượng chưa từng có các phụ nữ châu Âu và châu Mỹ đã đến dự Đại hội năm đó. Trong số họ có Cô F. Henrietta Müller, B.A. (Cantab.), một nhà cải cách nhiệt thành và kỳ khôi, người đã để đồ đạc của mình ở London bị phát mãi để đóng thuế như một sự phản kháng việc phủ nhận quyền của phụ nữ, người ở Ấn Độ đã trở thành một cộng sự nhiệt tình với chúng tôi trong việc phục hưng Triết học Đông phương, đến mức nhận một thanh niên Ấn giáo [426] làm con nuôi và lập di chúc để lại tài sản cho cậu, và gần đây lại vội vã trở về với vòng tay Kitô giáo, đoạn tuyệt với chúng tôi, với các đồng sự Ấn Độ của chúng tôi, và với phong trào nói chung. Dẫu vậy, bà vẫn là một người bạn tốt bụng và rộng rãi chừng nào tâm trạng nhất thời còn kéo dài. Vị thanh niên xuất sắc và người con chí hiếu ấy, chàng Bá tước trẻ Wachtmeister, cũng ở trong số các đại biểu. Chàng là một trong những nhạc sĩ không chuyên điêu luyện nhất mà tôi từng gặp, và tôi vô cùng tiếc vì ở Adyar không có đàn piano để chàng có thể làm các Đại biểu say mê bởi kỹ nghệ của mình.

The Convention met as usual at noon on 27th December, an exceptionally large number of countries being represented. Besides leading men from all parts of India, we had people from Ceylon, Japan, England, America,Burmah, Tibet, and Sweden. It is always encouraging to the Hindus to see these foreigners coming from distant lands and personally testifying to the spread of our movement.

Đại hội nhóm họp như thường lệ vào giữa trưa ngày 27 tháng Mười Hai, với số lượng quốc gia được đại diện đông đảo khác thường. Ngoài các vị lãnh đạo từ mọi miền Ấn Độ, chúng tôi có người từ Tích Lan, Nhật Bản, Anh, Mỹ, Miến Điện, Tây Tạng và Thụy Điển. Điều này luôn đem lại khích lệ cho người Hindu khi thấy những người ngoại quốc từ các xứ xa xôi đến tận nơi và tự mình làm chứng cho sự lan rộng của phong trào chúng ta.

In my Annual Address, after an outlook over the state of the whole movement, I put on record my views as to the non-sectarian basis of our Society and the evil of intolerance; and as, within the past twelve-month (1900) even, I have had to defend that basis against a prevalent misconception in several countries, which was preventing excellent persons from joining us, I feel it a duty to quote my remarks on the occasion in question. I said:

Trong Diễn văn Thường niên, sau khi điểm qua cục diện toàn phong trào, tôi ghi lại quan điểm của mình về nền tảng phi giáo phái của Hội và cái xấu của sự bất khoan dung; và vì ngay trong mười hai tháng vừa qua (1900), tôi vẫn phải bảo vệ nền tảng ấy trước một sự hiểu lầm phổ biến ở nhiều xứ, điều đang ngăn cản những người xuất sắc gia nhập với chúng ta, tôi cảm thấy bổn phận phải trích lời tôi đã phát biểu trong dịp ấy. Tôi nói:

“My belief is that if less intolerance towards Christianity had been shown hitherto by the Founders [427] of the Society and their colleagues, we should have suffered and made to suffer less, and would to-day have had a thousand Christian wellwishers where we have one. We may truly say we have had cruel provocation, but that does not really excuse us for lacking the courage to return good for evil, and so proving untrue to our ideal of brotherhood. So imperfect have we all been in our consistency of behavior, that, years ago, the Masters told us that being a Fellow of the Theosophical Society was not at all equivalent to being a real Theosophist, i.e., a knower and doer of godlike things. To return: it is, of course, no more important to humanity as a whole that Theosophy should be recognised and practised within the Christian than within the Hindu, the Buddhist, or any other Church: on the other hand, it is equally important; and our Society will not have fully proven its capacity for usefulness until it has kindly and patiently helped earnest and willing followers of each and every religion to find the key, the one only master-key, by which their own Scriptures can be understood and appreciated. I deplore our intolerance, counting myself a chief offender; and I do especially protest against and denounce a tendency which is growing among us to lay the foundations of a new idolatry. As the co-Founder of the Society, as one who has had constant opportunities for knowing the chosen policy and wishes of our Masters, as one who has, under them and with their assent, borne our flag through sixteen years of battle, I protest against the first giving way to the [428] temptation to elevate either them, their agents, or any other living or dead personage to the divine status, or their teachings to that of infallible doctrine. Not one word was ever spoken, transmitted, or written to me by the Masters that warranted such a course, nay, that did not inculcate the very opposite. I have been taught to lean upon myself alone, to look to my Higher Self as my best teacher, best guide, best example, and only savior. I was taught that no one could or ever would attain to the perfect knowledge save upon those lines; and so long as you keep me in my office, I shall proclaim this as the basis, the only basis and the palladium of the Society. I am led to make the above remarks by what I have seen going on of late.”

“Niềm tin của tôi là nếu ít bất khoan dung hơn đối với Kitô giáo đã từng được thể hiện trước nay bởi các vị Sáng lập [427] của Hội và các đồng sự của họ, thì chúng ta đã phải chịu ít và khiến người khác chịu ít hơn, và ngày nay hẳn đã có một ngàn thiện hữu Kitô giáo nơi chúng ta chỉ có một. Chúng ta có thể chân thành nói rằng mình đã phải chịu những khiêu khích tàn nhẫn, nhưng điều đó thật sự không biện hộ cho việc chúng ta thiếu can đảm để lấy thiện đáp ác, và thế là phản bội lý tưởng huynh đệ của mình. Tất cả chúng ta đã không nhất quán trong hành xử đến mức, nhiều năm trước, các Chân sư đã nói với chúng ta rằng là một Hội viên của Hội Thông Thiên Học tuyệt không tương đương với việc là một Nhà Thông Thiên Học chân chính, tức một bậc thức giả và hành giả những điều như thần thánh. Nói tiếp: dĩ nhiên, đối với nhân loại nói chung thì việc Thông Thiên Học được thừa nhận và thực hành trong Kitô giáo không hề quan trọng hơn so với trong Ấn giáo, Phật giáo, hay bất kỳ tôn giáo nào khác: mặt khác, nó cũng quan trọng ngang vậy; và Hội của chúng ta sẽ chưa chứng tỏ đầy đủ năng lực hữu ích của mình cho đến khi Hội đã ân cần và kiên nhẫn giúp những người thành tâm và sẵn lòng theo mỗi và mọi tôn giáo tìm ra chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa chủ duy nhất, nhờ đó họ có thể hiểu và trân trọng Kinh điển của chính mình. Tôi lấy làm tiếc về sự bất khoan dung của chúng ta, bản thân tôi là kẻ lỗi lầm hàng đầu; và tôi đặc biệt phản đối và lên án một khuynh hướng đang gia tăng trong chúng ta là đặt nền móng cho một tân ngẫu tượng. Với tư cách đồng Sáng lập Hội, với tư cách người đã có những cơ hội liên tục để biết chính sách được chọn và ước muốn của các Chân sư, với tư cách người đã, dưới sự hướng dẫn của Các Ngài và với sự đồng ý của Các Ngài, mang lá cờ của chúng ta qua mười sáu năm chiến đấu, tôi phản đối việc dù chỉ bắt đầu [428] bị cám dỗ tôn Các Ngài, các vị đại diện của Các Ngài, hay bất kỳ nhân vật sống hay đã khuất nào lên hàng thần thánh, hoặc tôn lời dạy của họ lên thành giáo điều vô ngộ. Không một lời nào đã từng được nói, chuyển đạt, hay viết cho tôi bởi các Chân sư mà biện minh cho một đường lối như thế, trái lại, không lời nào không dạy điều ngược lại. Tôi đã được dạy phải tựa vào chính mình, phải nhìn lên Chân ngã của mình như bậc thầy, bậc dẫn đường, tấm gương tốt nhất, và là vị cứu tinh duy nhất. Tôi đã được dạy rằng không ai có thể hay sẽ đạt đến tri kiến viên mãn nếu không đi trên những nẻo ấy; và chừng nào các bạn còn đặt tôi vào chức vụ của mình, tôi sẽ tuyên xưng điều này như nền tảng, nền tảng duy nhất và là bảo vật hộ mệnh của Hội. Tôi được thúc đẩy nói những lời trên bởi những điều gần đây tôi đã thấy đang diễn ra.”

With regard to H. P. B.’s sudden death, and the bringing of her ashes to Adyar, I said:

Về cái chết đột ngột của H. P. B., và việc mang tro cốt của Bà về Adyar, tôi nói:

“The blackest sorrow of the year, or rather of all our years, was the sudden death of Madame H. P. Blavatsky, at London, on the 8th of May last. The awfulness of the shock was increased by its suddenness. She had been an invalid for years, it is true, but we had seen her more than once snatched back from the very brink of the grave, and at the time of her demise she had laid plans for continued work in the near future. Some building was being done by her order at the London Headquarters; she had pending engagements unsettled, among them a most important one with myself. Her niece saw her on the previous day, and made an appointment with her. In short, I do not believe she meant to die, or knew she would die [429] when she did. Generally, of course, she knew that she was liable to depart after certain work had been finished, but circumstances make me think she was surprised by a physical crisis, and died before she expected she would. If she had lived, she would have undoubtedly left her protest against her friends making a saint of her or a bible out of her magnificent though not infallible writings. I helped to compile her Isis Unveiled, while Mr. Keightley and several others did the same by The Secret Doctrine. Surely we know how far from infallible are our portions of the books, to say, nothing about hers. She did not discover nor invent Theosophy, nor was she the first or the ablest agent, scribe, or messenger of the Hidden Teachers of the Snowy Mountains. The various Scriptures of the ancient nations contain every idea now put forth, and in some cases possess far greater beauties and merits than any of her or our books. We need not fall into idolatry to signify our lasting reverence and love for her, the contemporary teacher, nor offend the literary world by pretending that she wrote with the pen of inspiration. Nobody living was a more staunch and loyal friend of hers than I, nobody will cherish her memory more lovingly. I was true to her to the end of her life, and now I shall continue to be true to her memory. But I never worshipped her, never blinded my eyes to her faults, never dreamt that she was as perfect a channel for the transmission of occult teaching as some others in history had been, or as the Masters would have been glad to have found.

“Nỗi sầu đen tối nhất của năm, đúng hơn của tất cả các năm của chúng ta, là cái chết đột ngột của Bà H. P. Blavatsky, tại London, ngày mồng 8 tháng Năm vừa qua. Sự kinh hoàng của cú sốc càng lớn vì tính đột ngột của nó. Đúng là Bà đã là một người bệnh trong nhiều năm, nhưng chúng ta đã thấy Bà không chỉ một lần được kéo trở lại từ bờ vực huyệt mộ, và vào lúc viên tịch, Bà còn định kế làm việc tiếp trong tương lai gần. Một vài công trình xây dựng đang được tiến hành theo lệnh của Bà tại Trụ sở London; Bà còn các cam kết đang treo, trong đó có một việc hệ trọng bậc nhất với chính tôi. Cháu gái của Bà gặp Bà vào ngày trước, và có hẹn với Bà. Tóm lại, tôi không tin Bà định chết, hay biết rằng Bà sẽ chết [429] vào lúc Bà qua đời. Nói chung, dĩ nhiên, Bà biết mình có thể ra đi sau khi một số công việc được hoàn tất, nhưng những hoàn cảnh khiến tôi nghĩ rằng Bà đã bị một cơn khủng hoảng thể xác bất ngờ, và mất trước khi Bà dự liệu. Nếu còn sống, hẳn Bà sẽ không nghi ngờ gì để lại lời phản đối việc bạn bè Bà phong thánh cho Bà hay biến những trước tác lộng lẫy nhưng không vô ngộ của Bà thành thánh điển. Tôi đã giúp biên soạn Isis Unveiled của Bà, trong khi Ông Keightley và vài người khác làm tương tự với The Secret Doctrine. Chắc chắn chúng tôi biết những phần của mình trong các sách ấy còn cách sự vô ngộ rất xa, chưa nói gì tới phần của Bà. Bà không phát hiện cũng không phát minh ra Thông Thiên Học, và Bà cũng không phải là vị đại diện, người chép, hay sứ giả đầu tiên hay xuất sắc nhất của các Vị Thầy Ẩn Tàng ở dãy Núi Tuyết. Các Kinh điển của những dân tộc cổ đều chứa mọi ý tưởng nay được nêu ra, và trong vài trường hợp còn có vẻ đẹp và ưu điểm vượt xa bất kỳ tác phẩm nào của Bà hay của chúng tôi. Chúng ta không cần sa vào sùng bái ngẫu tượng để bày tỏ lòng tôn kính bền lâu và tình thương dành cho Bà, vị giáo sư đương thời, cũng không nên xúc phạm giới văn chương bằng cách giả vờ rằng Bà viết bằng ngòi bút linh cảm. Không ai sống nay từng là bạn trung kiên và trung thành của Bà hơn tôi, cũng không ai sẽ trân quý ký ức về Bà trìu mến hơn tôi. Tôi đã thủy chung với Bà đến cuối đời Bà, và giờ tôi sẽ tiếp tục thủy chung với ký ức về Bà. Nhưng tôi chưa bao giờ thờ phượng Bà, chưa bao giờ tự bịt mắt trước những thiếu sót của Bà, chưa từng mơ rằng Bà là một kênh truyền đạt giáo lý huyền môn hoàn hảo như một vài người khác trong lịch sử đã từng là, hay như các Chân sư hẳn đã vui mừng nếu tìm được.

[430]

[430]

As her tried friend, then; as one who worked most intimately with her, and is most anxious that she may be taken by posterity at her true high value; as her co-worker; as one long ago an accepted, though humble, agent of the Masters; and finally, as the official head of the Society and guardian of the personal rights of its Fellows—I place on record my protest against all attempts to create an H. P. B. School, sect, or cult, or to take her utterances as in the least degree above criticism. The importance of the subject must be my excuse for thus dwelling upon it at some length. I single out no individuals, mean to hurt nobody’s feelings. I am not sure of being alive very many years longer, and what duty demands I must say while I can.

Vậy nên, với tư cách bạn đã được thử thách của Bà; với tư cách người đã cộng tác mật thiết với Bà, và hết sức mong mỏi hậu thế sẽ đánh giá Bà đúng với giá trị cao quý chân thực; với tư cách đồng sự của Bà; với tư cách người từ lâu đã là một đại diện, dẫu khiêm hạ, của các Chân sư; và sau hết, với tư cách người đứng đầu chính thức của Hội và là người gìn giữ quyền lợi cá nhân của các Hội viên—tôi ghi vào hồ sơ lời phản đối mọi nỗ lực lập ra một Trường, một giáo phái, hay một giáo phái tôn sùng H. P. B., hoặc xem các phát ngôn của Bà là vượt trên phê phán ở bất cứ mức độ nào. Tầm quan trọng của vấn đề phải là lý do biện minh cho việc tôi dừng lại ở đây khá lâu. Tôi không chỉ đích danh ai, không có ý làm tổn thương tình cảm của bất kỳ ai. Tôi không chắc mình sẽ sống được bao năm nữa, và điều mà bổn phận đòi hỏi thì tôi phải nói khi còn có thể.

“And now, brethren and friends, I come to a matter of the deepest, saddest interest. H. P. Blavatsky’s body was cremated by her order, often reiterated and at long intervals. Before leaving India for Europe for the last time, she executed what proved to have been her last Will and Testament, and the original document is on file here as provided by law. Its date is the 31st of January, 1885. The witnesses were P. Sreenivasa Row, E. H. Morgan, T. Subba Row, and C. Ramiah. It contains a clause to the effect that she wishes her ashes to be buried within the compound of the Headquarters at Adyar; and another requesting that annually, on the anniversary of her death, some of her friends should assemble here and read a chapter of The Light of Asia and one of Bhagavad-Gita.

“Và giờ đây, chư huynh đệ và bằng hữu, tôi đến với một việc hệ trọng và sầu thảm nhất. Thi hài H. P. Blavatsky đã được hỏa táng theo lệnh của Bà, vốn được lập lại nhiều lần và ở những khoảng cách dài. Trước khi rời Ấn Độ sang Âu châu lần cuối, Bà đã lập một văn bản vốn trở thành Di chúc cuối cùng của Bà, và bản gốc hiện lưu tại đây theo quy định pháp luật. Văn kiện đề ngày 31 tháng Giêng, 1885. Nhân chứng là P. Sreenivasa Row, E. H. Morgan, T. Subba Row, và C. Ramiah. Trong đó có một điều khoản nói rằng Bà muốn tro cốt của mình được an táng trong khuôn viên Trụ sở tại Adyar; và điều khoản khác đề nghị rằng hàng năm, vào ngày kỵ của Bà, một số bằng hữu của Bà nên tụ họp tại đây và đọc một chương của The Light of Asia và một chương của Bhagavad-Gita.

[431]

[431]

In compliance with her sacred wish, therefore, I have brought her ashes from London; across the Atlantic, across the American continent, across the Pacific, from Japan to Ceylon, and thence hither, that they may find the last resting-place she longed for, the holiest tomb that a servant of the Indian sages could have. Together we came, she and I, from New York to India, over seas and lands, in the beginning of 1879, to re-light the torch at the temple-door of Gnyânam: together have we come now—I living, she a memory and a handful of dust—again in 1891 Parted are we in body, yet united in heart and soul for our common cause, and knowing that we shall one day, in a future birth, again be comrades, co-disciples and colleagues. My private duty towards her is fulfilled: I now turn over to the Society the honorable custody of her ashes, and as President shall see that her last wishes are fulfilled so far as feasible.”

Vậy nên, để tuân theo ước nguyện thiêng liêng của Bà, tôi đã mang tro cốt Bà từ London; vượt Đại Tây Dương, vượt lục địa Mỹ, vượt Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Tích Lan, rồi từ đó về đây, để tro cốt được an nghỉ tại nơi Bà hằng mong mỏi, ngôi mộ linh thiêng nhất mà một người phụng sự các bậc hiền triết Ấn Độ có thể có. Cùng nhau chúng tôi đã đi, Bà và tôi, từ New York sang Ấn Độ, vượt biển cả và lục địa, vào đầu năm 1879, để thắp lại đuốc nơi cửa đền của Gnyânam: và giờ đây lại cùng nhau—tôi còn sống, Bà là ký ức và một nắm tro—trở lại vào năm 1891. Chúng tôi lìa nhau nơi thân xác, nhưng tâm hồn và linh hồn vẫn liên kết cho sự nghiệp chung, và biết rằng một ngày kia, trong một kiếp vị lai, chúng tôi sẽ lại là bạn đồng hành, đồng môn và đồng sự. Bổn phận riêng tư của tôi đối với Bà nay đã tròn: giờ tôi trao cho Hội quyền trông coi vinh dự tro cốt của Bà, và với tư cách Chủ tịch sẽ bảo đảm rằng di nguyện sau cùng của Bà được thực hiện trong chừng mực khả thi.”

I then removed a silken covering, and exposed a closed, handsomely engraved Benares vase, in which were the ashes of Madame Blavatsky. All present rose to their feet and stood in solemn silence until the mortuary urn was re-covered.

Tôi liền kéo tấm phủ lụa ra, để lộ một bình Benares chạm khắc đẹp đẽ, đậy kín, trong đó là tro cốt của Bà Blavatsky. Tất cả hiện diện đều đứng dậy và đứng lặng trang nghiêm cho đến khi bình tro được phủ lại.

When it came to a discussion as to the disposal of the ashes, my suggestion for the building of a mausoleum or dagoba within our compound met with general disapproval. The subject of the disposal of the ashes of the dead having never before been mooted by me, I was greatly struck—and, I must confess, equally pained—to find how absolutely antagonistic were the [432] views of Indian and Western peoples on this question. In the opinion of my Hindu colleagues, to have planted Madame Blavatsky’s ashes in or near our premises would have defiled them so that no orthodox Hindu could come there without going through purificatory ceremonies afterwards. In the course of the discussion, they put it to me whether a believer in the Higher Self ought to regard the dust of the body which the ego’s personality had occupied as anything better than refuse to be got rid of as soon as possible, preferably by the Hindu method of casting it into a running stream or into the sea. My answer was, that since it was also their custom to preserve in tombs the corpses of recognised Yogis, it seemed to me a shame and a mark of ingratitude that the ashes of one who had been possessed of not only the knowledge but also the transcendental powers of an advanced Yogi, and who had so dearly loved India, and so unselfishly worked for the spiritual welfare of the Indians, should not be buried, as she had requested in her Will, at the Headquarters. Finding at last that my arguments would not avail to overcome their deep-rooted prejudices, and feeling personally hurt at what I conceived to be cold ingratitude, I finally consented to the adoption of a resolution to the effect that I should have full power to dispose of the ashes as I thought best. My private conviction was that at the bottom they were willing to have me do what I liked, provided that I did not bring the matter to their notice, and so compromise their caste responsibilities in case they [433] should knowingly allow me to carry out H. P.B.’s wishes.

Khi đến phần thảo luận về việc xử trí tro cốt, đề nghị của tôi xây một lăng mộ hay tháp bảo (dagoba) trong khuôn viên của chúng ta đã gặp sự không đồng tình chung. Vì trước đây tôi chưa bao giờ đưa ra vấn đề xử trí tro cốt người quá cố, nên tôi rất đỗi ngạc nhiên—và, thú thực, cũng đau lòng không kém—khi thấy quan điểm của người Ấn Độ và người Tây phương [432] khác nhau tuyệt đối về câu chuyện này. Theo ý kiến của các đồng sự Hindu của tôi, việc đặt tro cốt của Bà Blavatsky trong hay gần khuôn viên của chúng ta sẽ làm ô uế nơi ấy đến mức không một người Hindu chính thống nào có thể đến đó mà không phải thực hiện các nghi thức tẩy uế sau đó. Trong quá trình thảo luận, họ nêu với tôi rằng một người tin ở Chân ngã Cao hơn có nên xem bụi tro của thân xác mà phàm ngã của chân ngã đã từng cư ngụ là điều gì hơn là thứ cần loại bỏ càng sớm càng tốt, tốt nhất là theo phương thức của người Hindu, ném xuống dòng nước chảy hoặc ra biển. Tôi đáp rằng, vì cũng là tục lệ của họ bảo tồn trong lăng mộ di thể của những vị du-già sư được thừa nhận, nên theo tôi, thật là điều đáng hổ thẹn và dấu hiệu của vô ơn nếu tro cốt của một người không chỉ hữu tri mà còn có các năng lực siêu việt của một du-già sư cao cấp, và đã hết lòng yêu mến Ấn Độ, vô tư làm việc cho phúc lợi tinh thần của người Ấn, lại không được an táng, như Bà đã yêu cầu trong Di chúc, tại Trụ sở. Sau cùng, thấy rằng lý lẽ của tôi không thể thắng nổi thành kiến ăn sâu của họ, và cảm thấy cá nhân bị tổn thương trước điều tôi cho là lạnh lùng vô ơn, tôi rốt cuộc đã đồng ý thông qua một nghị quyết trao cho tôi toàn quyền xử trí tro cốt theo điều tôi cho là tốt nhất. Niềm xác tín riêng của tôi là, sâu xa, họ sẵn lòng để tôi làm điều mình muốn, miễn là tôi đừng đưa chuyện ấy ra trước họ, để tránh làm tổn hại trách nhiệm đẳng cấp của họ, trong trường hợp [433] họ biết mà vẫn để tôi thực hiện di nguyện của H. P. B.

It should be remembered that for years I had been trying to disembarrass myself of the responsibility of having the Government bonds belonging to the Society vested in my name, for no one could foresee the certainty of my escaping the accidents of travel, and so leaving the money to be entangled in my private affairs and subject to the risks of legal complications. Again and again I had brought it forward at Conventions, and this time got a resolution passed for the execution of a Trust Deed. In due course this document was drafted and executed, and was duly registered in the office of the Registrar of Deeds at Saidapet.

Nên nhớ rằng suốt nhiều năm, tôi đã cố gắng giải tỏa trách nhiệm việc các công trái của Chính phủ thuộc về Hội đứng tên tôi, vì không ai có thể lường chắc tôi tránh khỏi những tai nạn đường xa, và như thế để số tiền bị vướng vào việc riêng của tôi và chịu rủi ro rắc rối pháp lý. Hết lần này đến lần khác, tôi đã trình chuyện này tại các Đại hội, và lần này đã có một nghị quyết được thông qua để lập một Văn tự Ủy thác. Văn kiện này được soạn thảo và ký kết đúng hạn, và được đăng ký hợp lệ tại Văn phòng Đăng ký Văn khế ở Saidapet.

Many lectures were given before the Convention by Delegates, and addresses at the public celebration of our sixteenth Anniversary at Pachaiappah’s Hall. After a most successful session, throughout which excellent feeling prevailed, the Convention adjourned sine die on the 29th.

Nhiều bài thuyết trình đã được các Đại biểu đọc trước Đại hội, và các diễn văn tại buổi lễ kỷ niệm công khai lần thứ mười sáu của chúng ta ở Hội trường Pachaiappah. Sau một kỳ họp rất thành công, suốt thời gian đó bầu không khí tốt đẹp luôn ngự trị, Đại hội bế mạc vô thời hạn vào ngày 29.

Advantage was taken of the presence of a number of ladies at the Convention to get them together and discuss the question of female education in India. Various suggestions were made, but, owing to the ignorance of the ladies as to the real status of woman in the Hindu household, they were nearly all impracticable. Finally a suggestion of mine was adopted, that an address should be issued by the ladies to the Hindu public with a view to ascertaining the feasibility of organising a Women’s Educational League for India,

Nhân có nhiều quý bà hiện diện tại Đại hội, người ta đã mời họ nhóm họp để thảo luận vấn đề giáo dục phụ nữ ở Ấn Độ. Nhiều đề nghị được nêu ra, nhưng do sự thiếu hiểu biết của các bà về địa vị thực của người phụ nữ trong gia đình Hindu, hầu hết đều bất khả thi. Sau cùng, một đề nghị của tôi được chấp thuận, rằng các bà nên ban hành một bản kêu gọi gửi tới công chúng Hindu nhằm thăm dò tính khả thi của việc tổ chức một Liên đoàn Giáo dục Phụ nữ cho Ấn Độ,

[434]

[434]

Such a movement having been successfully begun in Ceylon, it appeared possible that a similar one could be started in India, with some modifications adapted to the different conditions of domestic Indian life. The practical difficulty in the way of any such movement would be the lack of ready-made leaders, the restrictions upon women consequent upon the widespread prevalence of the zenana or purdah system being extremely embarrassing. Of course, the choice of Brahmo ladies in that capacity would be quite unthinkable outside their own small and entirely unorthodox community; orthodox ladies would probably never accept their leadership, any more than they would that of any European lady who was a recognised Christian, for a suspicion would at once arise that it was a new trick of the missionaries to gain converts, or open the way for the breaking down of caste. That no such difficulty would attach to a movement managed by professedly Theosophical white ladies is plain enough when we see the light in which Mrs. Besant is regarded in the Hindu family. Recognising this, it has for many years been a cherished plan of mine to get out from Western countries lady members of our Society like Miss Palmer, Mrs. Higgins, Mlle. Kofel, Miss Weeks, and others who have had training as teachers, and who would come out with the intention of devoting themselves exclusively to this work of creating a Women’s League. This, however, is a matter for the future, for it requires special capital and a thoroughly digested programme before I should consent to have it begun.

Vì một phong trào như thế đã được khởi sự thành công ở Tích Lan, có vẻ là điều khả dĩ để khởi động một phong trào tương tự ở Ấn Độ, với một số điều chỉnh thích nghi các điều kiện khác biệt của đời sống gia đình Ấn. Trở lực thực tế đối với bất cứ phong trào nào như vậy sẽ là thiếu những lãnh đạo sẵn có, các hạn chế đặt lên phụ nữ do sự phổ biến rộng khắp của chế độ zenana hay purdah gây trở ngại cực kỳ. Tất nhiên, việc chọn các quý bà Brahmo vào vai trò ấy là điều không thể nghĩ tới ngoài cộng đồng nhỏ bé và hoàn toàn không chính thống của riêng họ; các quý bà chính thống hầu như chẳng bao giờ chấp nhận sự lãnh đạo của họ, cũng như của bất kỳ quý bà châu Âu nào là người Kitô giáo được thừa nhận, vì lập tức sẽ dấy lên nghi ngờ rằng đó là một mẹo mới của các nhà truyền giáo để chiêu dụ cải đạo, hay mở đường phá vỡ đẳng cấp. Rằng một khó khăn như vậy sẽ không gắn với một phong trào do những quý bà da trắng công khai là nhà Thông Thiên Học điều hành, điều đó hiển nhiên nếu ta nhìn cách người Hindu trong gia đình nhìn nhận Bà Besant. Nhận thức điều này, từ nhiều năm qua tôi đã ấp ủ kế hoạch mời từ các nước phương Tây những nữ Hội viên của chúng ta như Cô Palmer, Bà Higgins, Cô Kofel, Cô Weeks, và những người khác đã được đào tạo làm giáo viên, và sẽ sang với chủ ý dành trọn tâm lực cho công việc kiến tạo một Liên đoàn Phụ nữ. Tuy nhiên, đây là việc của tương lai, vì nó đòi hỏi nguồn vốn riêng và một chương trình được chuẩn bị chín chắn trước khi tôi có thể đồng ý cho bắt đầu triển khai.

[435]

[435]

Among the interesting personages at the Convention was a Lama of the Tibetan Buddhist Monastery of Peking. He brought me the following memorandum from Babu Sarat Chandra Das, the Tibetan Translator to the Government of Bengal:

Trong số những nhân vật thú vị tại Đại hội có một vị Lạt-ma của Tu viện Phật giáo Tây Tạng ở Bắc Kinh. Ngài mang đến cho tôi bản ghi nhớ sau đây của Babu Sarat Chandra Das, Thông dịch viên tiếng Tây Tạng của Chính quyền Bengal:

“Lama Tho-chiya, of a Manchurian family, belongs to Yung-ho-kung, the great Buddhist Monastery of Peking, which I visited in 1885.

“Lạt-ma Tho-chiya, thuộc một gia đình Mãn Châu, là tu sĩ của Yung-ho-kung, đại Tu viện Phật giáo ở Bắc Kinh, nơi tôi đã đến thăm năm 1885.

“He is a friend of His Excellency Shang Tai, the present Chinese Imperial President (Amban) of Lhasa.

“Ngài là bạn của Ngài Thượng thư Shang Tai, vị Tổng Thống Đế quốc Trung Hoa (Amban) tại Lhasa đương nhiệm.

“During his stay here, Lama Tho-chiya was my guest. He now proceeds to Buddha Gaya with only 20 rupees, which I have put into his pocket. He is deserving of help in every way. He has come thus far from Manchuria, travelling on foot.”

“Trong thời gian ở đây, Lạt-ma Tho-chiya là khách của tôi. Hiện nay Ngài lên đường đến Buddha Gaya chỉ với 20 ru-pi, do tôi lận vào túi cho Ngài. Ngài xứng đáng được giúp đỡ mọi bề. Ngài đã đi bộ từ Mãn Châu đến tận đây.”

The Lama’s portrait may be seen in the annual group photograph of 1891, seated between Miss Müller and Mr. Keightley, and it will be noted how delicate, refined, and spiritual are his features, and how little they resemble the Mongolian type.

Ảnh chân dung của vị Lạt-ma có thể thấy trong bức ảnh tập thể hằng năm của năm 1891, Ngài ngồi giữa Cô Müller và Ông Keightley; cần lưu ý rằng các nét mặt của Ngài rất tinh tế, nhã nhặn và thấm đượm phong thái tinh thần, và hầu như chẳng giống chút nào với kiểu hình Mông Cổ.

On the last day of year, Dr. Emma Ryder told me that, while practising at Bombay, she had come to know that Mme. Coulomb and the missionaries had arranged a scheme by which Mrs. Besant was to be dragged into court on a pretext, so as to reopen the old scandal against H. P. B.; moreover, that that woman was malicious to a degree. The plot, however, if ever made, came to naught, for Mrs. Besant was not molested in any way.

Ngày cuối năm, Bác sĩ Emma Ryder kể với tôi rằng khi hành nghề ở Bombay, Bà biết được rằng Bà Coulomb và các nhà truyền giáo đã sắp đặt một âm mưu nhằm lôi Bà Besant ra tòa với một cái cớ, để khơi dậy vụ tai tiếng cũ chống lại H. P. B.; hơn nữa, người đàn bà ấy còn độc địa đến mức khó tưởng. Tuy nhiên, nếu có âm mưu nào được bày ra thì cũng đổ vỡ, vì Bà Besant không hề bị quấy nhiễu theo bất cứ cách nào.

Mr. Keightley and I sat the old year out and shook hands for luck on the threshold of the New Year. My [436] journeying in the year 1891 footed up to 43,000 miles by sea and land. Of course the most conspicuous event of that past twelvemonth was the death of Mme. Blavatsky, upon the 8th of May, in the 7th month of the 17th year of our association in this work.

Ông Keightley và tôi cùng ngồi tiễn năm cũ và bắt tay chúc vận may trên ngưỡng cửa Năm Mới. Hành trình của tôi [436] trong năm 1891 cộng lại là 43.000 dặm đường biển và đường bộ. Dĩ nhiên sự kiện nổi bật nhất của mười hai tháng vừa qua là cái chết của Bà Blavatsky, vào ngày 8 tháng Năm, trong tháng thứ 7 của năm thứ 17 kể từ khi chúng tôi cùng kết hội trong công cuộc này.