← Sharing the Light I-Song ngữ_upscaled

(Abridged)

(Abridged)

(Tóm tắt)

In studying the life of Christ, it is well to remember that the Gospels do not tell the history of external events in time alone. They also re­veal eternal truths and laws of being, and describe interior attain­ments and subjective experiences of illumined men.

Khi nghiên cứu cuộc đời của Đức Christ, điều tốt là nên nhớ rằng các sách Phúc Âm không chỉ kể lại lịch sử của các sự kiện bên ngoài theo thời gian. Chúng cũng tiết lộ những chân lý và định luật vĩnh cửu của sự tồn tại, và mô tả những thành tựu nội tại và những kinh nghiệm chủ quan của những người được soi sáng.

The story related of the Christ is enacted within and by the soul of every man. In this allegorical way of writing, every individual is not only a historical character, but also a personification of an attribute, a power and a weakness of every human being. The central figure in the Gospels, the Lord Himself, for example, mystically represents the Di­vine in all Nature and in man, the Christos within, the Christ indwell­ing, the Logos of the Soul, the Divine ‘Voice’.

Câu chuyện liên quan đến Đức Christ được thực hiện bên trong và bởi linh hồn của mỗi người. Trong cách viết ngụ ngôn này, mỗi cá nhân không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà còn là một sự nhân cách hóa của một thuộc tính, một sức mạnh và một điểm yếu của mỗi con người. Nhân vật trung tâm trong các sách Phúc Âm, chính Đức Chúa, chẳng hạn, một cách huyền bí đại diện cho Thượng đế trong tất cả Tạo Hóa và trong con người, Đức Christ bên trong, Đức Christ ngự trị, Logos của Linh Hồn, ‘Tiếng Nói’ Thiêng Liêng.

Thus spiritually interpreted, cosmic symbolism apart, the life of Christ has two special human meanings; it describes the life of Jesus of Nazareth, especially the passage by Jesus, the man, illumined and in­spired, through the Five Great Initiations or expansions of conscious­ness, and it also describes the inner life and five Initiations of every successful aspirant to the hastened attainment of perfection, or ascent in advance of the race to Christhood or Adeptship.

Do đó, được giải thích về mặt tinh thần, không kể đến biểu tượng vũ trụ, cuộc đời của Đức Christ có hai ý nghĩa nhân văn đặc biệt; nó mô tả cuộc đời của Đức Jesus người Nazareth, đặc biệt là sự vượt qua của Đức Jesus, con người, được soi sáng và truyền cảm hứng, thông qua Năm Cuộc Điểm Đạo Vĩ Đại hoặc sự mở rộng của tâm thức, và nó cũng mô tả cuộc sống nội tâm và năm Cuộc Điểm Đạo của mọi người chí nguyện thành công để đạt được sự hoàn thiện nhanh chóng, hoặc sự thăng lên trước nhân loại để đạt được Địa vị Christ hoặc Địa vị Chân sư.

If we watch our own lives from this point of view, we will see that these five stages of unfoldment are foreshadowed in ordinary human experience. Nations as well as individuals have their nativities or con­versions, their baptisms of sorrow, their temptations, transfigurations or upliftments, betrayals and crucifixions, their recoveries and their as­censions. These may be regarded as rehearsals for that life in which, within the Sanctuary, the Christ life will be lived out in full and ‘the measure of the stature of the fullness of Christ’ be attained (Ephesians 4:13).

Nếu chúng ta theo dõi cuộc sống của chính mình từ quan điểm này, chúng ta sẽ thấy rằng năm giai đoạn khai triển này được báo trước trong kinh nghiệm thông thường của con người. Các quốc gia cũng như các cá nhân đều có sự ra đời hoặc chuyển đổi, lễ rửa tội bằng nỗi buồn, những cám dỗ, sự biến hình hoặc nâng đỡ, sự phản bội và đóng đinh, sự phục hồi và thăng thiên của họ. Những điều này có thể được coi là những buổi diễn tập cho cuộc đời mà trong đó, bên trong Thánh Địa, cuộc đời Đức Christ sẽ được sống trọn vẹn và ‘tầm vóc của sự viên mãn của Đức Christ’ sẽ đạt được (Ê-phê-sô 4:13).

The particular interpretation I am now going to offer is especially applicable to all those who enter upon the Way of Holiness, who pass through the straight gate and enter the narrow way. At a certain stage in evolution the soul wakens, the Personality responds and consciously begins to live the Christ life and to tread the way of the Cross. When, at last, the spiritual life is thus fully entered upon by the awakened soul, the experiences of our Lord, His disciples and the other actors in the drama, are all passed through in an intensified form.

Cách giải thích đặc biệt mà tôi sắp đưa ra đặc biệt áp dụng cho tất cả những người bước vào Con Đường Thánh Thiện, những người đi qua cổng hẹp và bước vào con đường chật hẹp. Ở một giai đoạn nhất định trong quá trình tiến hóa, linh hồn thức tỉnh, phàm ngã đáp ứng và bắt đầu sống một cách có ý thức cuộc đời Đức Christ và bước đi trên con đường Thập Giá. Khi, cuối cùng, đời sống tinh thần được linh hồn đã thức tỉnh bước vào một cách trọn vẹn, những kinh nghiệm của Đức Chúa, các đệ tử của Ngài và những diễn viên khác trong vở kịch, đều được trải qua ở một hình thức mãnh liệt hơn.

The Symbolism of Easter

Biểu Tượng Phục Sinh

Let us now look from this point of view at the symbolism of Easter, concentrating upon Pilate, the bearing of the Cross, the Cruci­fixion, the Passion and the Resurrection of Christ.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn từ quan điểm này vào biểu tượng của Lễ Phục Sinh, tập trung vào Philatô, việc vác Thập Giá, Sự Đóng Đinh, Cuộc Khổ Nạn và Sự Phục Sinh của Đức Christ.

Pilate personifies the formal, worldly mind in the process of illu­mination, his wife representing the intuitive faculty. She has a dream by ‘day’. Pilate himself was not directly illumined for he was not then in an intuitive state. His wife’s message reached him from a distance but ineffectively. He fell under the blackmailing of the crowd and their insistent demand for Jesus. The mind’s desire for office, its readiness to betray ideals through fear and for self-gratification, are portrayed, the crowd representing also the astro-physical demands. Pilate fails for that life, pandering to the crowd instead of standing impersonally for justice and truth. So it is really Pilate who is being judged, as also every other judge.

Philatô nhân cách hóa thể trí trần tục, hình thức trong quá trình soi sáng, vợ y đại diện cho năng lực trực giác. Bà có một giấc mơ vào ‘ban ngày’. Bản thân Philatô không được soi sáng trực tiếp vì lúc đó y không ở trong trạng thái trực giác. Thông điệp của vợ y đến với y từ xa nhưng không hiệu quả. Y rơi vào sự tống tiền của đám đông và yêu cầu dai dẳng của họ đối với Đức Jesus. Mong muốn của thể trí đối với chức vụ, sự sẵn sàng phản bội lý tưởng vì sợ hãi và để tự thỏa mãn, được khắc họa, đám đông cũng đại diện cho những yêu cầu vật lý-cảm dục. Philatô thất bại trong cuộc đời đó, chiều theo đám đông thay vì đứng vô tư vì công lý và sự thật. Vì vậy, thực sự chính Philatô đang bị phán xét, cũng như mọi thẩm phán khác.

Ultimately Pilate may have recovered and attained, for when chidden for writing on the inscription, which was nailed over the head of Jesus, ‘The King of the Jews’, instead of: ‘He saith, I am the King of the Jews’, he answered: ‘What I have written, I have written’. The mind, when at last fully illumined, stands firm for principle, but in the first tests he appears to have failed, as all men are prone to do. During the interrogation, our Lord confirmed this universal nature of His life, saying, ‘Everyone that is of the truth heareth My voice’.

Cuối cùng, Philatô có thể đã phục hồi và đạt được, vì khi bị khiển trách vì đã viết trên dòng chữ, dòng chữ được đóng trên đầu Đức Jesus, ‘Vua của người Do Thái’, thay vì: ‘Y nói, Ta là Vua của người Do Thái’, y đã trả lời: ‘Những gì ta đã viết, ta đã viết’. Thể trí, khi cuối cùng được soi sáng hoàn toàn, đứng vững vì nguyên tắc, nhưng trong những bài kiểm tra đầu tiên, y dường như đã thất bại, như tất cả mọi người đều có khuynh hướng làm. Trong cuộc thẩm vấn, Đức Chúa của chúng ta đã xác nhận bản chất phổ quát này của cuộc đời Ngài, nói rằng, ‘Mọi người thuộc về chân lý đều nghe tiếng Ta’.

Jesus thereupon came forth, wearing the crown of thorns and the purple cloak (mockeries of royalty to the crowd, realities in fact) and he (Pilate) said to them: ‘Behold the man’. And they cried: ‘Crucify Him! Crucify Him!’ Thus the lower human attributes cry out against their disciplining by the inner self and try to prevent their ultimate dis­appearance, which is inevitable, as the Christ life is more and more fully lived.

Đức Jesus sau đó bước ra, đội vương miện gai và mặc áo choàng màu tía (những trò chế nhạo hoàng gia đối với đám đông, thực tế trên thực tế) và y (Philatô) nói với họ: ‘Hãy xem người này’. Và họ kêu lên: ‘Đóng đinh Y! Đóng đinh Y!’ Như vậy, những thuộc tính thấp kém của con người kêu gào chống lại sự kỷ luật của chúng bởi bản ngã bên trong và cố gắng ngăn chặn sự biến mất cuối cùng của chúng, điều không thể tránh khỏi, khi cuộc đời Đức Christ ngày càng được sống trọn vẹn hơn.

Pilate is said, then, to have washed his hands of responsibility. This act portrays the state of mind that refuses to respond to illumina­tion and denies both intuition and conscience (the wife’s message). This is inevitable, once error is deliberately chosen. The mind must close itself against the experience, must, as Pharaoh also did, harden the heart, otherwise there is no peace. The soul that in pride deliber­ately chooses the wrong path must cut itself off from the Higher Self, or endure the unbearable torture and humiliation of outraged con­science. If, however, it can humbly acknowledge the error, accept the humiliation, and take its stand heroically for the right, then it will re­cover in that incarnation, as Peter did after the denial. There is great ne­cessity, both in the normal and in the spiritual life, for humbly acknowledging error and making full restitution.

Người ta nói rằng Philatô đã rửa tay khỏi trách nhiệm. Hành động này khắc họa trạng thái thể trí từ chối đáp ứng sự soi sáng và phủ nhận cả trực giác và lương tâm (thông điệp của người vợ). Điều này là không thể tránh khỏi, một khi lỗi lầm được cố ý chọn lựa. Thể trí phải tự đóng lại trước kinh nghiệm, phải, như Pha-ra-ôn cũng đã làm, làm cứng trái tim, nếu không sẽ không có sự bình an. Linh hồn cố ý chọn con đường sai trái trong kiêu hãnh phải tự cắt đứt khỏi Chân Ngã, hoặc chịu đựng sự tra tấn và tủi nhục không thể chịu đựng được của lương tâm bị xúc phạm. Tuy nhiên, nếu nó có thể khiêm tốn thừa nhận sai lầm, chấp nhận sự tủi nhục và dũng cảm đứng về phía điều đúng đắn, thì nó sẽ phục hồi trong kiếp đó, như Phêrô đã làm sau khi chối bỏ. Có một sự cần thiết lớn, cả trong cuộc sống bình thường và trong đời sống tinh thần, để khiêm tốn thừa nhận sai lầm và hoàn trả đầy đủ.

Christ Bears the Cross

Đức Christ Vác Thập Giá

Then another aspect of the drama of the soul on the pathway of hastened attainment is enacted—Christ bears His own Cross. This must be done. The Initiate must accept and meet his just debts to Na­ture and to man. All enlightened people must recognise their sufferings as self-created and expiatory. Christ rightly is made to bear His Cross, for repudiation or attempted evasion would merely postpone the full expiation. Hence the saying, ‘If man refuses, seeks to throw down, his cross, it will crush him in its fall’. Yet the ordeal is never unbearable. Aid is given. Simon of Cyrene relieved Him of the Cross. This reveals that the task of attaining self-illumination, though severe, is not be­yond the Initiate’s power, as is portrayed in this incident of the assis­tance given to Christ.

Rồi một khía cạnh khác của tấn tuồng linh hồn trên con đường đạt đạo được đẩy nhanh chóng được diễn ra—Đức Christ vác Thập Giá của Ngài. Điều này phải được thực hiện. Điểm đạo đồ phải chấp nhận và đáp ứng những món nợ chính đáng của y đối với Tạo Hóa và con người. Tất cả những người giác ngộ phải nhận ra những đau khổ của họ là do tự tạo và mang tính chuộc tội. Đức Christ được giao vác Thập Giá một cách đúng đắn, vì sự chối bỏ hoặc cố gắng trốn tránh chỉ đơn thuần là trì hoãn sự chuộc tội hoàn toàn. Do đó, có câu nói rằng, ‘Nếu con người từ chối, tìm cách vứt bỏ thập giá của mình, nó sẽ nghiền nát y khi rơi xuống’. Tuy nhiên, thử thách không bao giờ là không thể chịu đựng được. Sự giúp đỡ được ban cho. Simon người Cyrene đã giúp Ngài vác Thập Giá. Điều này cho thấy rằng nhiệm vụ đạt được sự tự soi sáng, mặc dù khắc nghiệt, nhưng không vượt quá khả năng của Điểm đạo đồ, như được miêu tả trong sự việc Ngài Christ được giúp đỡ này.

The Crucifixion

Sự Đóng Đinh

Now we are at the scene of the Crucifixion—Golgotha or Cal­vary, the place of the skull. The skin, the symbol of the illusion of sepa­rateness, is pierced in many places. The position of the nails through the hands and feet makes an inverted triangle, showing Spirit down pointing into matter. The wounded head with the outstretched hands makes an upward pointing triangle, thus completing the combined symbol of upward and downward pointing triangles. Two trinities are shown. The crown of thorns portrays the true royalty of Spirit and of the spiritualised life in perfected man. His inner kingship is ever unper­ceived and unrecognisable to unillumined man and therefore the spiri­tual crown is thought by him to be of thorns.

Bây giờ chúng ta đang ở cảnh Đóng Đinh—Golgotha hay Calvary, nơi của chiếc sọ. Lớp da, biểu tượng của ảo tưởng về sự tách biệt, bị đâm thủng ở nhiều nơi. Vị trí của những chiếc đinh xuyên qua tay và chân tạo thành một hình tam giác ngược, cho thấy Tinh Thần hướng xuống vật chất. Cái đầu bị thương với hai bàn tay dang ra tạo thành một hình tam giác hướng lên trên, do đó hoàn thành biểu tượng kết hợp của các hình tam giác hướng lên và hướng xuống. Hai bộ ba được thể hiện. Vương miện gai miêu tả vương quyền đích thực của Tinh Thần và của đời sống tinh thần trong con người hoàn thiện. Vương quyền nội tại của Ngài luôn không được những người chưa giác ngộ nhận thấy và không thể nhận ra, và do đó, vương miện tinh thần được họ cho là bằng gai.

The spear wound in the side represents the last surrender of the self-personality, the final piercing of the skin, symbol of ahankara, led up to by all the wounds from the flagellations onwards. The spear wound also indicates the decision that the heart would henceforth ever be open for the outflow of inward life and wisdom and the inflow and acceptance of the world’s evil, as well as its inspiration to the light. Hate and evil are voluntarily accepted and then transmuted by the true alchemy of the Spirit, to be later sent out to the world as blessing and as power. This is one of the characteristic actions and powers of the Arhat or Initiate of the fourth degree. A soldier is chosen to deliver the wound, representing the obedience, discipline and training of the mind and body of the Christ-to-be, which are essential to success. The spear is the world’s hate, plunged into the Initiate’s heart, there to be trans­muted into all-embracing love.

Vết thương do ngọn giáo đâm vào sườn tượng trưng cho sự đầu hàng cuối cùng của phàm ngã, sự đâm thủng cuối cùng của lớp da, biểu tượng của ahankara, được dẫn đến bởi tất cả các vết thương từ các cuộc hành xác trở đi. Vết thương do ngọn giáo cũng chỉ ra quyết định rằng trái tim từ nay sẽ luôn rộng mở cho dòng chảy ra của sự sống và minh triết bên trong và dòng chảy vào và chấp nhận cái ác của thế giới, cũng như nguồn cảm hứng của nó đối với ánh sáng. Sự thù hận và cái ác được tự nguyện chấp nhận và sau đó được chuyển hóa bởi thuật giả kim đích thực của Tinh Thần, để sau này được gửi đến thế giới như một phước lành và như một quyền năng. Đây là một trong những hành động và quyền năng đặc trưng của một vị A la hán hay Điểm đạo đồ của cấp độ thứ tư. Một người lính được chọn để gây ra vết thương, tượng trưng cho sự vâng lời, kỷ luật và rèn luyện trí óc và thân thể của Đấng Christ-tương lai, vốn rất cần thiết để thành công. Ngọn giáo là sự thù hận của thế giới, đâm vào trái tim của Điểm đạo đồ, để ở đó được chuyển hóa thành tình yêu bao trùm tất cả.

The ever-open heart, the Sacred Heart, is a symbol of the psycho­logical fact that the Christ-to-be voluntarily renders Himself appar­ently defenceless before the world and all its evils, which it is His will to save. Defencelessness, displayed as a power at the Nativity as a little child, reaches its apotheosis in the apparent helplessness on the Cross. The reed sceptre portrays the irresistible power of gentleness.

Trái tim luôn rộng mở, Trái Tim Thiêng Liêng, là một biểu tượng của sự thật tâm lý rằng Đấng Christ-tương lai tự nguyện khiến Ngài dường như không có khả năng tự vệ trước thế giới và tất cả những điều ác của nó, vốn là ý chí của Ngài để cứu rỗi. Sự không có khả năng tự vệ, được thể hiện như một quyền năng tại Lễ Giáng Sinh như một đứa trẻ nhỏ, đạt đến đỉnh cao trong sự bất lực rõ ràng trên Thập Giá. Vương trượng bằng cây sậy miêu tả quyền năng không thể cưỡng lại của sự dịu dàng.

The wounded head from which blood and perspiration stream, symbolise renunciation of egoism and separateness in terms of intel­lect (the head), surrender of selfhood, and also the complete opening of the mind to all truth and to all seekers for truth. The free but wise deliv­erance of that truth is also indicated.

Cái đầu bị thương mà từ đó máu và mồ hôi tuôn ra, tượng trưng cho sự từ bỏ chủ nghĩa cá nhân và sự tách biệt về mặt trí tuệ (cái đầu), sự đầu hàng bản ngã, và cả sự mở rộng hoàn toàn của thể trí đối với mọi sự thật và đối với tất cả những người tìm kiếm sự thật. Sự giải thoát tự do nhưng khôn ngoan của sự thật đó cũng được chỉ ra.

The Longing of the Spirit

Sự Khao Khát của Tinh Thần

Christ’s thirst is only mentioned by St John, who brings in much cosmic symbolism. It may be interpreted as the longing of matter-im­prisoned Spirit for free Spirit, the source, the human thirst for perfec­tion, and the passion or fever of the suffering, inseparable from the final stages of the Path of hastened attainment, the price to be paid for taking the kingdom of heaven (Nirvana) by storm.

Cơn khát của Đức Christ chỉ được Thánh John đề cập, vốn mang đến nhiều biểu tượng vũ trụ. Nó có thể được hiểu là sự khao khát của Tinh Thần bị giam cầm trong vật chất đối với Tinh Thần tự do, nguồn cội, cơn khát của con người đối với sự hoàn hảo và niềm đam mê hay cơn sốt của sự đau khổ, không thể tách rời khỏi các giai đoạn cuối cùng của Thánh Đạo đạt đạo được đẩy nhanh, cái giá phải trả để chiếm lấy vương quốc thiên đàng (Niết bàn) bằng vũ lực.

The bitter draught offered in response to the cry, T thirst’, sym­bolises the bitterness of the experience of betrayal and utter loneliness experienced by all men at times, and in accentuated form at Arhatship. We may remember that repeatedly we live out these experiences in lesser degree. Eventually the full realisation will be ours. Ordinarily human life is a reading of the parts and a rehearsal for the enactment of the full drama when the Path is entered upon.

Ly nước đắng được dâng lên để đáp lại tiếng kêu, ‘Ta khát’, tượng trưng cho sự cay đắng của trải nghiệm bị phản bội và sự cô đơn tột cùng mà tất cả mọi người đều trải qua đôi khi, và ở dạng được nhấn mạnh tại địa vị A la hán. Chúng ta có thể nhớ rằng chúng ta liên tục sống những trải nghiệm này ở mức độ thấp hơn. Cuối cùng, sự nhận ra đầy đủ sẽ là của chúng ta. Cuộc sống con người bình thường là một sự đọc các phần và một buổi diễn tập cho việc diễn lại toàn bộ tấn tuồng khi Thánh Đạo được bước vào.

The betrayal, blindness and heartless cruelty of the multitude, for whom the whole endeavour is made, are indeed bitter experiences. Yet ever the enlightened one prays: ‘Father, forgive them. They know not what they do’. This also is an ideal for all.

Sự phản bội, mù quáng và tàn ác vô tâm của đám đông, vì họ mà toàn bộ nỗ lực được thực hiện, thực sự là những trải nghiệm cay đắng. Tuy nhiên, người giác ngộ luôn cầu nguyện: ‘Lạy Cha, xin tha thứ cho họ. Họ không biết họ đang làm gì’. Đây cũng là một lý tưởng cho tất cả mọi người.

This period and experience of the Initiate of the fourth great stage, symbolised in the account of the crucifixion, is the bitterest of all or­deals. He knows the deeper darkness of an hour, when a gulf seems to open up between life infinite and life embodied. He experiences for a certain time, which seems eternity, the quintessence of loneliness, and drinks the bitter draught of solitude, defamation, isolation and be­trayal. The Father, who was yet realized in the darkness of Gethsemane, is veiled in the passion of the cross. He knows an almost cosmic loneliness as if he alone existed, all support from without and from within seeming for a time to be withdrawn, even non-existent. Naught bridges the gulf upon which hangs his helpless soul, and then it is that from the heart, which feels itself to be deserted, there rings out the cry:

Giai đoạn và trải nghiệm này của Điểm đạo đồ của giai đoạn vĩ đại thứ tư, được tượng trưng trong câu chuyện về sự đóng đinh, là cay đắng nhất trong tất cả các thử thách. Y biết bóng tối sâu thẳm hơn của một giờ, khi một vực thẳm dường như mở ra giữa sự sống vô hạn và sự sống thể hiện. Y trải nghiệm trong một khoảng thời gian nhất định, dường như là vĩnh cửu, tinh túy của sự cô đơn, và uống ly nước đắng của sự cô độc, phỉ báng, cô lập và phản bội. Đức Cha, Đấng vẫn được nhận ra trong bóng tối của Vườn Gethsemane, được che giấu trong niềm đam mê của thập giá. Y biết một sự cô đơn gần như vũ trụ như thể chỉ có một mình y tồn tại, mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài và từ bên trong dường như trong một thời gian bị rút lại, thậm chí không tồn tại. Không có gì bắc cầu qua vực thẳm mà linh hồn bất lực của y treo lơ lửng, và rồi chính từ trái tim, vốn cảm thấy mình bị bỏ rơi, vang lên tiếng kêu:

‘My God, my God, why hast Thou forsaken me?’

‘Lạy Chúa của con, lạy Chúa của con, sao Ngài lìa bỏ con?’

The Goal of Identity with God

Mục Tiêu Đồng Nhất với Thượng Đế

Why this last ordeal? It is necessary because the goal is full reali­sation of the individual’s unity and identity with the whole. This expe­rience which is so terrible at the time leads to the transcendent discovery, ‘I and my Father are one’. In the very passion of the Cross, the agony and the quintessence of loneliness, the mighty truth at last dawns fully upon him that he is the Eternal, the Eternal is himself, that he is one and identical with God, and through Him with all that lives.

Tại sao lại có thử thách cuối cùng này? Nó là cần thiết vì mục tiêu là sự nhận ra đầy đủ về sự hợp nhất và đồng nhất của cá nhân với toàn thể. Trải nghiệm này, vốn rất khủng khiếp vào thời điểm đó, dẫn đến khám phá siêu việt, ‘Ta và Cha ta là một’. Trong chính niềm đam mê của Thập Giá, sự đau khổ và tinh túy của sự cô đơn, sự thật vĩ đại cuối cùng cũng hoàn toàn lóe lên trong y rằng y là Đấng Vĩnh Hằng, Đấng Vĩnh Hằng là chính y, rằng y là một và đồng nhất với Thượng Đế, và qua Ngài với tất cả những gì đang sống.

Then at last he is able to say with full realisation: ‘I and my Father are One’. He is then beyond the possibility of a sense of separateness ever any more. The mystical power of the true atonement, meaning at-one-ment are then at his disposal and he become a Saviour of the World. He can then finally affirm ‘I and my Father are One, and Lo, I am with you always even to the end of the world’. He is resurrected from the tomb of self-separateness and the physical body. He is free, in the wondrous Easter of the soul.

Rồi cuối cùng y có thể nói với sự nhận ra đầy đủ: ‘Ta và Cha ta là Một’. Khi đó, y vượt ra ngoài khả năng cảm thấy sự tách biệt thêm nữa. Quyền năng thần bí của sự chuộc tội đích thực, có nghĩa là sự hợp nhất, khi đó nằm trong tầm tay y và y trở thành Đấng Cứu Rỗi của Thế Giới. Khi đó, cuối cùng y có thể khẳng định ‘Ta và Cha ta là Một, và Này, Ta luôn ở cùng các con cho đến tận thế’. Y được phục sinh từ ngôi mộ của sự tự tách biệt và thể xác. Y được tự do, trong Lễ Phục Sinh kỳ diệu của linh hồn.

Thus the story of our Lord is the story of man becoming perfect. One day each one of us will live out in full that immortal story. Then the Christ power, first born becoming conscious in us as a little child will grow, ultimately to conquer death and shine forth in the measure of the stature of the fullness of Christ.

Như vậy, câu chuyện về Đức Chúa của chúng ta là câu chuyện về con người trở nên hoàn hảo. Một ngày nào đó, mỗi người chúng ta sẽ sống trọn vẹn câu chuyện bất tử đó. Rồi quyền năng của Đức Christ, người con đầu lòng trở nên ý thức trong chúng ta như một đứa trẻ nhỏ, sẽ lớn lên, cuối cùng chinh phục cái chết và tỏa sáng theo tầm vóc của sự viên mãn của Đức Christ.

Theosophy in Australia, 3, 3 June 1959, p. 6

Thông Thiên Học ở Úc, 3, 3 tháng 6 năm 1959, tr. 6

164—

Scriptural Allegories of Discipleship and Initiation—Những Phép Ẩn Dụ Kinh Thánh về Địa Vị Đệ Tử và Điểm Đạo

A legendary story from the life of the Lord Buddha tells that on two occasions He took one of His young disciples on a walk through the town near where they were resting. On the way, they passed a street sweeper—one of the lowest of the castes in Hinduism in India—who was sweeping up the tinsel, faded leaves and petals of a garland recently used by a bride. When, later, the Lord and the young disciple returned to the ashram, the Lord asked: ‘Did you see anything of inter­est on our walk today?’ He said, ‘No, Lord, I saw nothing at all impor­tant today’. ‘No one?’ said the Lord. ‘Well, there was that poor old sweeper, but I cannot see that he was of any importance’. The next day the Lord again took the disciple for the same walk through the town, and there again was the same sweeper. This time the Lord stopped and spoke to the sweeper, saying, ‘Oh, sweeper, do you like doing this work of yours?’ The man said, ‘Lord, I loathe it with my whole heart and soul’. ‘What would you do, what do you long for, if you were free?’ The sweeper replied, ‘Lord, from my boyhood I have yearned to become Thy disciple and sit at Thy feet’. Then the Lord said, ‘Come, my disciple’, and took him into the brotherhood of the Bhikkhus, the Sangha. When they had returned the Lord again spoke to the young disciple, saying: ‘You must learn to see beneath the outer husks and there discern the conditions of discipleship shining like a lamp in an earthen jar’.

Một câu chuyện huyền thoại từ cuộc đời của Đức Phật kể rằng có hai lần Ngài dẫn một trong những đệ tử trẻ của Ngài đi dạo qua thị trấn gần nơi họ đang nghỉ ngơi. Trên đường đi, họ đi ngang qua một người quét đường—một trong những người thuộc đẳng cấp thấp nhất trong Ấn Độ giáo ở Ấn Độ—người đang quét những sợi kim tuyến, những chiếc lá úa và những cánh hoa của một vòng hoa mà cô dâu mới sử dụng gần đây. Khi, sau đó, Đức Chúa và người đệ tử trẻ trở về tu viện, Đức Chúa hỏi: ‘Hôm nay con có thấy điều gì thú vị trong chuyến đi dạo của chúng ta không?’ Y nói, ‘Lạy Chúa, hôm nay con không thấy điều gì quan trọng cả’. ‘Không ai sao?’ Đức Chúa nói. ‘Chà, có người quét đường nghèo khổ đó, nhưng con không thấy rằng ông ta có tầm quan trọng nào cả’. Ngày hôm sau, Đức Chúa lại dẫn người đệ tử đi dạo qua thị trấn, và lại có người quét đường đó. Lần này, Đức Chúa dừng lại và nói chuyện với người quét đường, nói rằng, ‘Ồ, người quét đường, ông có thích làm công việc này của mình không?’ Người đàn ông nói, ‘Lạy Chúa, con ghét nó bằng cả trái tim và tâm hồn’. ‘Ông sẽ làm gì, ông khao khát điều gì, nếu ông được tự do?’ Người quét đường trả lời, ‘Lạy Chúa, từ khi còn nhỏ, con đã khao khát trở thành đệ tử của Ngài và ngồi dưới chân Ngài’. Rồi Đức Chúa nói, ‘Hãy đến, đệ tử của ta’, và đưa y vào huynh đệ đoàn của các Bhikkhu, Sangha. Khi họ đã trở về, Đức Chúa lại nói với người đệ tử trẻ, nói rằng: ‘Con phải học cách nhìn xuyên qua lớp vỏ bên ngoài và ở đó nhận ra những điều kiện của địa vị đệ tử đang tỏa sáng như một ngọn đèn trong một chiếc bình đất’.

We may perhaps ask ourselves what it was in the old sweeper, outwardly so lowly, that the disciple could not see, and which the Lord did see, ‘shining as a lamp in an earthen jar?’ In other words, what is it that the Master looks for in a neophyte, and in the end finds, as requi­site qualifications for discipleship? Presumably the Master sees into the innermost depths of the Individuality of each aspirant, looks far into the Ego within and doubtless deeper still into the Monad itself. There will be seen, beyond the ‘sweeper aspect’, the degree of inter-relationship, if any, between Personality, Ego and Monad and the way in which that Monadic influence has begun to affect the outer life.

Có lẽ chúng ta có thể tự hỏi điều gì ở người quét đường già, bề ngoài rất thấp kém, mà người đệ tử không thể thấy, và điều mà Đức Chúa đã thấy, ‘tỏa sáng như một ngọn đèn trong một chiếc bình đất?’ Nói cách khác, điều gì mà Chân sư tìm kiếm ở một người sơ cơ, và cuối cùng tìm thấy, như là những phẩm chất cần thiết cho địa vị đệ tử? Có lẽ Chân sư nhìn vào tận sâu thẳm bên trong của Tính Cá Thể của mỗi người chí nguyện, nhìn xa vào Chân ngã bên trong và chắc chắn là sâu hơn nữa vào chính Chân Thần. Ở đó sẽ thấy, vượt ra ngoài ‘khía cạnh người quét đường’, mức độ tương quan, nếu có, giữa Phàm ngã, Chân ngã và Chân Thần và cách thức mà ảnh hưởng của Chân Thần đó đã bắt đầu ảnh hưởng đến cuộc sống bên ngoài.

We may assume that for many lives after individualisation the Monad continues its own life in its own world of eternal existence, spark within the One Flame as it is. There, untouched by time, unaware of and unsullied by events, it remains ‘serene above the water floods’. In symbolic terms, the microcosmic utterance of the Word and the outbreathing of the Monadic great Breath have not yet occurred. The creative Word from within the Dweller in the Innermost, the micro­cosm, has not yet been spoken. Although the Ego in the Causal Body is, in consequence, not as yet dynamited by active spiritual energy, the latent divine powers have been germinating, the inherent powers are as yet unfructified. Metaphorically the Ego sleeps, as yet uncharged, unawakened by Monadic power. Gabriel has not yet appeared and spo­ken the microcosmic Word of Annunciation and so Mary (the Ego in the Causal Body) is as yet spiritually virginal. If the analogy is permis­sible, the Gospel account of the life of Jesus may be read as also the story of the evolution of each human being from the time of spiritual awakening (Annunciation and Nativity) to Adeptship (Ascension). The conditions for discipleship not yet being Egoically present, the Personality in its turn is as yet unawakened. In mystic terms, its lamp, like those of the so-called foolish virgins, is not yet lit. Thus in Person­ality, Ego and Monad, cosmic, solar and microcosmic evolution fol­lows its normal course. John the Baptist, as the compelling voice of conscience has not yet been clearly heard preaching in ‘the wilderness’.

Chúng ta có thể cho rằng trong nhiều kiếp sau khi biệt ngã hóa, Chân Thần tiếp tục cuộc sống của riêng Ngài trong thế giới tồn tại vĩnh cửu của riêng Ngài, tia lửa bên trong Ngọn Lửa Duy Nhất như nó vốn là. Ở đó, không bị thời gian chạm đến, không hay biết và không bị vấy bẩn bởi các sự kiện, Ngài vẫn ‘thanh thản trên những dòng nước lũ’. Về mặt biểu tượng, lời nói vi mô của Linh từ và sự thở ra của Hơi Thở vĩ đại của Chân Thần vẫn chưa xảy ra. Linh từ sáng tạo từ bên trong Kẻ Chận Ngõ Bên Trong Nhất, tiểu thiên địa, vẫn chưa được nói ra. Mặc dù Chân ngã trong Thể Nguyên Nhân, do đó, vẫn chưa bị năng lượng tinh thần chủ động làm nổ tung, nhưng những quyền năng thiêng liêng tiềm ẩn đã nảy mầm, những quyền năng vốn có vẫn chưa sinh hoa trái. Theo nghĩa bóng, Chân ngã ngủ, vẫn chưa được nạp năng lượng, chưa được đánh thức bởi quyền năng của Chân Thần. Gabriel vẫn chưa xuất hiện và nói Linh từ vi mô của Truyền Tin và vì vậy Mary (Chân ngã trong Thể Nguyên Nhân) vẫn còn trinh khiết về mặt tinh thần. Nếu sự tương tự được cho phép, câu chuyện Phúc Âm về cuộc đời của Đức Jesus cũng có thể được đọc như câu chuyện về sự tiến hóa của mỗi con người từ thời điểm thức tỉnh tinh thần (Truyền Tin và Giáng Sinh) đến địa vị Chân sư (Thăng Thiên). Các điều kiện cho địa vị đệ tử vẫn chưa có mặt ở cấp độ Chân ngã, đến lượt mình, Phàm ngã vẫn chưa được đánh thức. Về mặt thần bí, ngọn đèn của nó, giống như những ngọn đèn của những trinh nữ dại dột, vẫn chưa được thắp sáng. Như vậy, trong Phàm ngã, Chân ngã và Chân Thần, sự tiến hóa vũ trụ, thái dương và vi mô tuân theo tiến trình bình thường của nó. John the Baptist, với tư cách là tiếng nói thúc ép của lương tâm vẫn chưa được nghe rõ ràng rao giảng trong ‘vùng hoang dã’.

The absence of a logical explanation of the conditions and experi­ences of human life does not unduly disturb such spiritually and intel­lectually unawakened persons. They do not mind very much—if they ever think of it—that life does not appear to make sense. The thirst for knowledge, the divine discontent and the inexpressible longing of the inner man for the infinite have not yet been experienced. High idealism also is not yet present and thus far, in Monad, Ego and successive per­sonalities, one may presume, the conditions for discipleship have not become apparent. The rule of life continues, not unnaturally, to be in considerable measure: each for himself and the devil take the hind­most.

Việc thiếu một lời giải thích hợp lý về các điều kiện và trải nghiệm của cuộc sống con người không làm xáo trộn quá mức những người chưa thức tỉnh về mặt tinh thần và trí tuệ như vậy. Họ không bận tâm lắm—nếu họ từng nghĩ về nó—rằng cuộc sống dường như không có ý nghĩa. Cơn khát tri thức, sự bất mãn thiêng liêng và nỗi khao khát không thể diễn tả của con người bên trong đối với sự vô hạn vẫn chưa được trải nghiệm. Chủ nghĩa lý tưởng cao cả cũng chưa có mặt và cho đến nay, trong Chân Thần, Chân ngã và các phàm ngã kế tiếp, người ta có thể cho rằng các điều kiện cho địa vị đệ tử vẫn chưa trở nên rõ ràng. Quy tắc của cuộc sống tiếp tục, một cách tự nhiên, ở một mức độ đáng kể: mỗi người vì mình và ma quỷ bắt kẻ chậm chân nhất.

Eventually, however, the microcosmic hour strikes. A mystery begins to be enacted within the individual. The Monad speaks the cre­ative Word. The Ego hears and responds, and in due time, inwardly im­pelled, the Personality begins the great quest. Prophecies of the Messianic Age, followed by the call to repentance are heard. Gabriel, the Archangel of the Annunciation, personification of Atma as messen­ger of the Monad, announces the coming Nativity. Mary, the Ego in the Causal Body symbolically bows in assent and thereafter begins to be fructified by the power of the Divine Voice.

Tuy nhiên, cuối cùng, giờ vi mô điểm. Một bí ẩn bắt đầu được diễn ra bên trong cá nhân. Chân Thần nói Linh từ sáng tạo. Chân ngã nghe và đáp ứng, và đến thời điểm thích hợp, bị thúc đẩy từ bên trong, Phàm ngã bắt đầu cuộc tìm kiếm vĩ đại. Những lời tiên tri về Thời Đại Messiah, tiếp theo là lời kêu gọi ăn năn được nghe thấy. Gabriel, Tổng lãnh thiên thần của Lễ Truyền Tin, hiện thân của Atma với tư cách là sứ giả của Chân Thần, loan báo Lễ Giáng Sinh sắp đến. Mary, Chân ngã trong Thể Nguyên Nhân tượng trưng cho sự cúi đầu đồng ý và sau đó bắt đầu được sinh hoa trái bởi quyền năng của Tiếng Nói Thiêng Liêng.

The Personality may not at first be very much aware of these changes for at this stage all is going on deep within the awakening Soul but the mystic Nativity, the Christmas of the soul, will occur, bringing to active life in Ego and Personality both spiritual wisdom and spiritual intelligence. Even so the Personality awakens slowly. Life after life the outer man increasingly responds to that inner call, the whisper of the Soul. A whisper indeed this in the beginning, difficult to hear, as if from a region, a distance so remote, later it will be heard fully, as John the Baptist within calls to the heights. Gradually, idealism increasingly assumes its place as a guide and a motive for living. Then inwardly and naturally impelled, the search for truth begins. The symbolical Quest of the Holy Grail is undertaken. One day, and probably before long, with Sir Galahad, the aspirant will affirm that he saw the Holy Grail, and heard a voice calling, ‘Galahad and O Galahad, follow thou Me’, as Tennyson wonderfully puts it.

Phàm ngã có thể không nhận thức được nhiều về những thay đổi này ngay từ đầu vì ở giai đoạn này, mọi thứ đang diễn ra sâu bên trong Linh Hồn đang thức tỉnh, nhưng Lễ Giáng Sinh thần bí, Lễ Giáng Sinh của linh hồn, sẽ xảy ra, mang đến sự sống động trong Chân ngã và Phàm ngã cả minh triết tinh thần và trí tuệ tinh thần. Ngay cả như vậy, Phàm ngã thức tỉnh chậm chạp. Hết kiếp này đến kiếp khác, con người bên ngoài ngày càng đáp ứng với tiếng gọi bên trong đó, tiếng thì thầm của Linh Hồn. Thật vậy, đây là một tiếng thì thầm lúc ban đầu, khó nghe, như thể từ một vùng, một khoảng cách rất xa, sau này nó sẽ được nghe đầy đủ, khi John the Baptist bên trong kêu gọi lên các tầng cao. Dần dần, chủ nghĩa lý tưởng ngày càng chiếm vị trí của nó như một người hướng dẫn và một động cơ để sống. Rồi bị thúc đẩy một cách tự nhiên và từ bên trong, cuộc tìm kiếm sự thật bắt đầu. Cuộc Tìm Kiếm Chén Thánh mang tính biểu tượng được thực hiện. Một ngày nào đó, và có lẽ không lâu nữa, với Ngài Galahad, người chí nguyện sẽ khẳng định rằng y đã nhìn thấy Chén Thánh, và nghe thấy một giọng nói kêu gọi, ‘Galahad và ôi Galahad, hãy theo Ta’, như Tennyson đã diễn đạt một cách tuyệt vời.

The intellect is however far from inactive. The mind-brain experi­ences a yearning, a thirst for comprehension, enlightenment. The indi­vidual thus awakened can no longer float along any more, living helplessly amidst the mystery of life, lost in the maze of human exis­tence. The demand for logic, for understanding, for knowledge, be­comes stronger and stronger. Life must now make sense and there will be no more rest until this is achieved. Success is assured, for as a sen­tence in a book on Yoga states: ‘When once the desire for Self-realisa­tion is experienced, the process has already begun’. Every sincere aspirant is thus moved from within.

Tuy nhiên, trí tuệ không hề bất động. Thể trí-bộ não trải nghiệm một sự khao khát, một cơn khát sự thấu hiểu, sự khai sáng. Do đó, cá nhân đã thức tỉnh không còn có thể trôi nổi nữa, sống bất lực giữa sự huyền bí của cuộc sống, lạc lối trong mê cung của sự tồn tại của con người. Nhu cầu về logic, về sự thấu hiểu, về tri thức, ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Giờ đây, cuộc sống phải có ý nghĩa và sẽ không còn sự nghỉ ngơi cho đến khi điều này đạt được. Thành công được đảm bảo, vì một câu trong một cuốn sách về Yoga có viết: ‘Một khi mong muốn Tự-giác ngộ được trải nghiệm, quá trình đã bắt đầu’. Do đó, mọi người chí nguyện chân thành đều được thúc đẩy từ bên trong.

As the process of spiritual and intellectual awakening or ‘birth’ continues, increased capacity to help others is developed. This culmi­nates in a consciously formed deathless resolve: for the atmic will is now beginning to affect the mind, the body and the heart. With Ramaswami Iyer76 the aspirant says: ‘I will find the Mahatma or die’. So also Tensing Norkay affirmed on that very last morning when he and Sir Edmund Hillary awoke on the full moon of May ready for the last stage of the ascent of Everest, lofty and icy cold, before them, ‘This day I will reach the summit or die’. So also the deathless resolve of the Lord Gautama Buddha who whilst all slept—beautiful Yasodara, possibly with little Rahula in her arms, and the maidens and servants all asleep—rose, resolved, stole forth on tip-toe, called for Kantaka, his horse and Channa, his charioteer, and rode forth leaving behind all he held most dear, save truth itself. Channa held the nostrils of Kantaka as the Lord went forth to solve the mystery of human life. He cut off His hair and handed it and Kantaka back to Channa, re­solved to find the cause and so the prevention—of human suffering. This resolve he kept until the end.

Khi quá trình thức tỉnh tinh thần và trí tuệ hay ‘sự sinh ra’ tiếp tục, khả năng giúp đỡ người khác ngày càng được phát triển. Điều này lên đến đỉnh điểm trong một quyết tâm bất tử được hình thành một cách có ý thức: vì ý chí atma hiện đang bắt đầu ảnh hưởng đến thể trí, thể xác và trái tim. Với Ramaswami Iyer, người chí nguyện nói: ‘Tôi sẽ tìm thấy vị Mahatma hoặc chết’. Tương tự, Tensing Norkay đã khẳng định vào buổi sáng cuối cùng đó khi Ông và Ngài Edmund Hillary thức dậy vào ngày trăng tròn tháng Năm, sẵn sàng cho giai đoạn cuối cùng của cuộc chinh phục đỉnh Everest, cao chót vót và lạnh giá, trước mặt Các Ngài, ‘Hôm nay tôi sẽ lên đến đỉnh hoặc chết’. Tương tự như vậy là quyết tâm bất tử của Đức Phật Gautama, khi mọi người đều ngủ—Yasodara xinh đẹp, có lẽ với Rahula bé nhỏ trong vòng tay Bà, và những người hầu gái và người hầu đều ngủ—đã đứng dậy, quyết tâm, lẻn ra ngoài, gọi Kantaka, con ngựa của Ngài và Channa, người đánh xe của Ngài, và cưỡi đi bỏ lại tất cả những gì Ngài yêu quý nhất, ngoại trừ chính sự thật. Channa giữ lỗ mũi của Kantaka khi Đức Chúa rời đi để giải quyết sự huyền bí của cuộc sống con người. Ngài cắt tóc và trao nó và Kantaka lại cho Channa, quyết tâm tìm ra nguyên nhân và do đó là cách ngăn ngừa—nỗi khổ của con người. Ngài giữ vững quyết tâm này cho đến cuối cùng.

Such, in part, one may assume, are some of the conditions for discipleship—inward awakening, inward resolve and steadfast pursuit of truth. When they exist there cannot be much real choice concerning the acceptance of these ideals and this way of life, for the Monadic call, the Egoic response permit little or no real escape. From then onwards, ‘There is no other path at all to go’.

Một phần, người ta có thể cho rằng, đây là một số điều kiện để trở thành đệ tử—sự thức tỉnh bên trong, quyết tâm bên trong và sự theo đuổi chân lý kiên định. Khi chúng tồn tại, không thể có nhiều lựa chọn thực sự liên quan đến việc chấp nhận những lý tưởng này và cách sống này, vì tiếng gọi Chân Thần, sự đáp ứng Chân Ngã cho phép ít hoặc không có sự trốn thoát thực sự. Từ đó trở đi, ‘Không có con đường nào khác để đi cả’.

Thus another condition for discipleship is met. It might be called ‘total commitment’—perhaps the very key to success after awaken­ing. Total commitment, holding nothing back, and without thought of reward, is, one would assume, a decisive attribute. Another essential would surely be sincerity. Any form of hypocrisy or pretence in seek­ing the Path whilst perhaps better than not seeking it all, would cer­tainly delay progress, for sincerity in seeking the feet of the Master implies that one goal, one purpose for living is being followed in utter­most truthfulness. Systematic self-discipline and self-training would then also be essential, a form of yoga being practised as a part of life.

Do đó, một điều kiện khác để trở thành đệ tử được đáp ứng. Nó có thể được gọi là ‘sự cam kết hoàn toàn’—có lẽ là chìa khóa thành công sau khi thức tỉnh. Sự cam kết hoàn toàn, không giữ lại điều gì và không nghĩ đến phần thưởng, người ta cho rằng, là một thuộc tính quyết định. Một điều thiết yếu khác chắc chắn sẽ là sự chân thành. Bất kỳ hình thức đạo đức giả hoặc giả vờ nào trong việc tìm kiếm Thánh Đạo trong khi có lẽ tốt hơn là không tìm kiếm nó chút nào, chắc chắn sẽ trì hoãn sự tiến bộ, vì sự chân thành trong việc tìm kiếm bàn chân của Chân sư ngụ ý rằng một mục tiêu, một mục đích sống đang được theo đuổi một cách trung thực nhất. Sau đó, kỷ luật tự giác và tự rèn luyện có hệ thống cũng sẽ rất cần thiết, một hình thức yoga đang được thực hành như một phần của cuộc sống.

Fortunately, as long ago the sweeper is said to have found that day in India, no sincere aspirant is ever alone in his quest, for from the time of his awakening his Teacher watches over and awaits him. However lowly in his outer life, like the Lord Buddha in the story, the Mas­ter-to-be discerns in an aspirant the conditions for discipleship. In darkest failure, as long as he never gives up, and in light and in victory, as long as he is not proud, the Master is with the neophyte, guiding and inspiring him.

May mắn thay, như người quét rác được cho là đã tìm thấy ngày đó ở Ấn Độ từ rất lâu trước đây, không có người chí nguyện chân thành nào đơn độc trong cuộc tìm kiếm của mình, vì kể từ thời điểm thức tỉnh, Huấn Sư của y theo dõi và chờ đợi y. Dù thấp kém đến đâu trong cuộc sống bên ngoài của mình, giống như Đức Phật trong câu chuyện, Chân sư-tương lai nhận ra ở một người chí nguyện những điều kiện để trở thành đệ tử. Trong thất bại đen tối nhất, miễn là y không bao giờ bỏ cuộc, và trong ánh sáng và trong chiến thắng, miễn là y không kiêu ngạo, Chân sư ở cùng với người sơ cơ, hướng dẫn và truyền cảm hứng cho y.

Such, in part, one leams, is the Path of Discipleship, open today as always, and such in outline are some of the attributes in those who hear the Master’s call, ‘Follow Me and I will make you fishers of men’. Scriptural accounts of prophecy, preaching in the wilderness, Annun­ciation and the Nativity of a Saviour of men can be regarded, I suggest, as allegories descriptive of the approach to and entry upon the Path.

Một phần, người ta học được, đây là Con Đường Đệ Tử, luôn rộng mở như mọi khi, và tóm tắt một số thuộc tính ở những người nghe thấy tiếng gọi của Chân sư, ‘Hãy theo Ta và Ta sẽ khiến các con trở thành những người đánh bắt người’. Các tường thuật trong kinh sách về lời tiên tri, thuyết giảng trong vùng hoang dã, Lễ Truyền Tin và Lễ Giáng Sinh của một Đấng Cứu Thế của loài người có thể được coi, tôi gợi ý, như những câu chuyện ngụ ngôn mô tả về sự tiếp cận và gia nhập Thánh Đạo.

The Theosophist, Vol. 88, August 1967, p. 319

The Theosophist, Tập. [88], tháng 8 năm [1967], tr. [319]

165—

A Theosophical View of Christmas—Quan Điểm Thông Thiên Học về Lễ Giáng Sinh

At Christmas time Christians throughout the world celebrate the birth of the Christ child in Bethlehem nearly 2000 years ago. In the Theosophical Society, where we seek the mystical meaning behind the teachings of world faiths, we celebrate also another birth, not limited to time, but which perpetually occurs. We celebrate the birth of the Christ in all Nature and especially in the human race.

Vào thời điểm Giáng Sinh, các Kitô hữu trên khắp thế giới kỷ niệm sự ra đời của hài nhi Đức Christ ở Bethlehem gần 2000 năm trước. Trong Hội Thông Thiên Học, nơi chúng ta tìm kiếm ý nghĩa huyền bí đằng sau những giáo lý của các tín ngưỡng thế giới, chúng ta cũng kỷ niệm một sự ra đời khác, không giới hạn trong thời gian, mà xảy ra vĩnh viễn. Chúng ta kỷ niệm sự ra đời của Đức Christ trong tất cả Thiên Nhiên và đặc biệt là trong nhân loại.

I refer to the mystical birth of the Christ-child in the heart of the individual man. As the time approaches at which his long pilgrimage towards perfection will be completed, and he will become the Christ in His triumphant achievement of ‘perfection’, there occurs in the aspi­rant a great change, an inward birth which is the awakening of the hith­erto latent Christ-consciousness in him. This is referred to in mystical Christianity as the birth of the Christ-child in man, that which St Paul yearned to bring about in the hearts of his converts. In this Christmas article I wish to present a mystical interpretation of this birth in the in­dividual, and of the stages of growth which follow it as portrayed in the gospel-drama of the life of Christ.

Tôi muốn nói đến sự ra đời huyền bí của hài nhi Đức Christ trong trái tim của mỗi người. Khi thời điểm đến gần mà cuộc hành hương dài ngày của y hướng tới sự hoàn hảo sẽ hoàn thành, và y sẽ trở thành Đức Christ trong thành tựu ‘hoàn hảo’ đầy vinh quang của Ngài, thì ở người chí nguyện xảy ra một sự thay đổi lớn, một sự ra đời bên trong vốn là sự thức tỉnh của tâm thức Đức Christ vốn tiềm ẩn cho đến nay trong y. Điều này được gọi trong Kitô giáo huyền bí là sự ra đời của hài nhi Đức Christ trong con người, điều mà Thánh Paul khao khát mang lại trong trái tim của những người cải đạo của Ông. Trong bài viết Giáng Sinh này, tôi muốn trình bày một cách giải thích huyền bí về sự ra đời này trong cá nhân và các giai đoạn tăng trưởng tiếp theo nó như được mô tả trong vở kịch phúc âm về cuộc đời của Đức Christ.

The first stage is the birth of the Christ-child. This means that the neophyte becomes ‘as a little child’, feeble (from the worldly point of view), innocent and pure. This state of feebleness and innocence repre­sents renunciation of the riches and rewards of this world, the attain­ment of complete dispassion. In this sense the neophyte becomes a little child, caring no more for the earthly treasures which his fellow men are seeking. When this great renunciation is made—actually it is effortless, the transient losing its hold on him as he awakens to the eter­nal—by a strange paradox, as the story tells, the kings of the earth unite to lay their treasures at His feet. In other words his material needs are always provided for; possessing nothing, he is never in need.

Giai đoạn đầu tiên là sự ra đời của hài nhi Đức Christ. Điều này có nghĩa là người sơ cơ trở nên ‘như một đứa trẻ nhỏ’, yếu ớt (theo quan điểm trần tục), ngây thơ và thuần khiết. Trạng thái yếu ớt và ngây thơ này thể hiện sự từ bỏ sự giàu có và phần thưởng của thế giới này, đạt được sự vô tư hoàn toàn. Theo nghĩa này, người sơ cơ trở thành một đứa trẻ nhỏ, không còn quan tâm đến những kho báu trần thế mà đồng loại của y đang tìm kiếm. Khi sự từ bỏ lớn lao này được thực hiện—thực tế là nó dễ dàng, cái phù du mất đi sự kìm kẹp đối với y khi y thức tỉnh với cái vĩnh cửu—bởi một nghịch lý kỳ lạ, như câu chuyện kể, các vị vua của trái đất hợp nhất để đặt kho báu của Các Ngài dưới chân Ngài. Nói cách khác, những nhu cầu vật chất của y luôn được đáp ứng; không sở hữu gì, y không bao giờ thiếu thốn.

Thus having in himself experienced spiritually a new birth, he is received in the inner worlds into the august presence of the ‘just men made perfect’, those who have gone before and have reached the goal. Before Them, and at the hands of One of their number, he receives his spiritual knighthood, that true accolade, of which all outer knight­hoods are but the shadow and symbol. At the touch of the thyrsus, he awakens to the knowledge, the living experience, that life is one.

Do đó, sau khi tự mình trải nghiệm một sự tái sinh về mặt tinh thần, y được tiếp nhận trong các cõi bên trong vào sự hiện diện trang nghiêm của ‘những người công chính đã trở nên hoàn hảo’, những người đã đi trước và đã đạt đến mục tiêu. Trước Các Ngài, và dưới bàn tay của một trong số Các Ngài, y nhận được tước hiệp sĩ tinh thần của mình, sự tán dương thực sự đó, mà tất cả các tước hiệp sĩ bên ngoài chỉ là cái bóng và biểu tượng. Khi chạm vào thyrsus, y thức tỉnh với tri thức, kinh nghiệm sống, rằng cuộc sống là một.

Then he is a free man, free of home, of family, of race, as Mary the Mother of Jesus learnt. For when chiding Him for His absence from home, she received in the temple the gentle rebuke: ‘Wist ye not that I must be about my Father’s business?’

Sau đó, y là một người tự do, tự do khỏi nhà cửa, gia đình, chủng tộc, như Mary Mẹ của Đức Jesus đã học được. Vì khi trách Ngài vì sự vắng mặt của Ngài ở nhà, Bà đã nhận được trong đền thờ lời khiển trách nhẹ nhàng: ‘Con không biết rằng Con phải lo việc của Cha Con sao?’

As gradually He realizes the fruits of the new birth, and experi­ences increasingly the living fact of the unity of all life, the portals of the second gateway open before Him. A further inner experience oc­curs, symbolised in the gospel drama by baptism in the waters of Jor­dan at the hands of John the Baptist. These are the waters of this world’s sorrows in which he, who would be a Saviour of man, must be baptised, that he may know and learn to relieve them.

Khi dần dần Ngài nhận ra những thành quả của sự tái sinh, và ngày càng trải nghiệm sự thật sống động về sự hợp nhất của tất cả sự sống, các cổng của cổng thứ hai mở ra trước Ngài. Một trải nghiệm nội tâm nữa xảy ra, được tượng trưng trong vở kịch phúc âm bằng lễ rửa tội trong dòng nước Jordan dưới bàn tay của John the Baptist. Đây là vùng nước của những nỗi buồn của thế giới này, nơi mà y, người sẽ là Đấng Cứu Thế của con người, phải được rửa tội, để y có thể biết và học cách xoa dịu chúng.

Here we may pause for a moment, and note that the experiences of these great stages, five in number, are passed through in miniature in the lives of every one of us, as if to prepare us for the great experience which will one day be ours. Thus we also have our minor baptisms in the waters of the world’s sorrows, our temptations, our victories, our transfigurations, our Gethsemanes, as also our crucifixions. Courage is easier to maintain amidst difficulties, and self-control in happiness, if one remembers that these experiences are rehearsals, as it were, for the great events through which later we shall live. After sorrow comes power, and we are told that after Jordan new floods of power de­scended on Him; that the heavens opened, and He went forth into the world clothed with divine authority.

Ở đây chúng ta có thể tạm dừng một lát và lưu ý rằng những kinh nghiệm của những giai đoạn vĩ đại này, có năm giai đoạn, được trải qua thu nhỏ trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, như thể để chuẩn bị cho chúng ta cho kinh nghiệm vĩ đại mà một ngày nào đó sẽ là của chúng ta. Do đó, chúng ta cũng có những lễ rửa tội nhỏ của mình trong vùng nước của những nỗi buồn của thế giới, những cám dỗ, những chiến thắng, những sự biến hình, những Gethsemane, cũng như những cuộc đóng đinh của chúng ta. Dễ dàng duy trì lòng dũng cảm giữa những khó khăn và tự chủ trong hạnh phúc hơn, nếu người ta nhớ rằng những kinh nghiệm này là những buổi diễn tập, như thể, cho những sự kiện lớn mà sau này chúng ta sẽ sống qua. Sau nỗi buồn là sức mạnh, và chúng ta được cho biết rằng sau Jordan, những dòng sức mạnh mới đã giáng xuống Ngài; rằng các tầng trời mở ra, và Ngài bước ra thế giới khoác lên mình quyền năng thiêng liêng.

Then follow the great temptations in the wilderness, symbol of this world’s materialism and selfishness. The Initiate is tempted to misuse and debase His new-found powers by their exercise in order to gratify personal ambition and desire. Eventually He triumphs saying: ‘Get thee behind me, Satan’, and moves on to the right use of His power, to heal the sick, to raise the dead, and to perform many mira­cles. At this time also He begins to draw around Him as disciples, those whom He perceives to be approaching the Path of swift Unfoldment, which He Himself is treading and whom thereafter He guides upon the way. Then the third Portal opens before Him portrayed by the Trans­figuration on the Mount.

Sau đó là những cám dỗ lớn trong vùng hoang dã, biểu tượng cho chủ nghĩa vật chất và sự ích kỷ của thế giới này. Người Điểm đạo bị cám dỗ lạm dụng và làm suy đồi những quyền năng mới tìm thấy của Ngài bằng cách thực hiện chúng để thỏa mãn tham vọng và ham muốn cá nhân. Cuối cùng, Ngài chiến thắng khi nói: ‘Hãy lui ra khỏi Ta, Satan’, và tiến tới việc sử dụng đúng đắn quyền năng của Ngài, để chữa lành bệnh tật, để làm cho người chết sống lại và để thực hiện nhiều phép lạ. Vào thời điểm này, Ngài cũng bắt đầu thu hút xung quanh mình những người mà Ngài nhận thấy đang tiếp cận Con Đường Khai Mở nhanh chóng, mà chính Ngài đang bước đi và sau đó Ngài hướng dẫn trên con đường. Sau đó, Cổng thứ ba mở ra trước Ngài được mô tả bằng Sự Biến Hình trên Núi.

The Mount is a much used symbol in the Bible, and refers to the higher consciousness, where alone Elijah could commune with God, Moses receive the Commandments and Jesus preach His great sermon, pray and be transfigured.

Ngọn núi là một biểu tượng được sử dụng nhiều trong Kinh Thánh, và đề cập đến tâm thức cao hơn, nơi mà chỉ có Elijah mới có thể giao tiếp với Thượng đế, Moses nhận Mười Điều Răn và Đức Jesus thuyết giảng bài giảng vĩ đại của Ngài, cầu nguyện và được biến hình.

There He experiences a brief time of illumination and of peace. Side by side with others who have gone before and who recognise the divinity unfolding within Him, He sees the future, and, knowing that which awaits Him, voluntarily He moves down into the Garden of Gethsemane, symbol of the dark night of the soul, which all who seek the inner heights must know. It is often foreshadowed for many of us in the bereavements, betrayals, and lonelinesses, which we are called upon to endure. We should endure them bravely, and without bitter­ness, even welcoming them for they foreshadow indeed help to make possible—a great attainment.

Ở đó, Ngài trải nghiệm một thời gian ngắn soi sáng và bình an. Bên cạnh những người khác đã đi trước và nhận ra sự thiêng liêng đang mở ra bên trong Ngài, Ngài thấy tương lai, và, biết những gì đang chờ đợi Ngài, tự nguyện Ngài di chuyển xuống Vườn Gethsemane, biểu tượng cho đêm tối của linh hồn, mà tất cả những ai tìm kiếm những đỉnh cao bên trong phải biết. Nó thường được báo trước cho nhiều người trong chúng ta trong những mất mát, phản bội và cô đơn mà chúng ta được kêu gọi chịu đựng. Chúng ta nên chịu đựng chúng một cách dũng cảm và không cay đắng, thậm chí chào đón chúng vì chúng báo trước thực sự giúp có thể—một thành tựu lớn.

In the darkness of Gethsemane Christ experienced the quintes­sence of loneliness. He saw His disciples sleeping around Him, no hand being outstretched to help Him in the hour of His need. Rarely, we are told, does a soul pass through this stage without a cry of an­guish: ‘Couldst thou not have watched with Me one hour?’ Yet, de­spite the shrinking of human nature from the Cup, it is accepted. The God within triumphs over the mortal man. His will is surrendered to the Divine.

Trong bóng tối của Gethsemane, Đức Christ đã trải nghiệm tinh túy của sự cô đơn. Ngài thấy các đệ tử của Ngài đang ngủ xung quanh Ngài, không có bàn tay nào vươn ra để giúp Ngài trong giờ phút Ngài cần. Hiếm khi, chúng ta được cho biết, một linh hồn vượt qua giai đoạn này mà không có một tiếng kêu đau khổ: ‘Các con không thể thức với Ta một giờ sao?’ Tuy nhiên, bất chấp sự co rúm của bản chất con người khỏi Chén, nó vẫn được chấp nhận. Thượng đế bên trong chiến thắng con người phàm trần. Ý chí của Ngài được giao phó cho Đấng Thiêng Liêng.

Follows the fourth great stage, the Crucifixion, which means the death of the personal self, the end of all separateness, so often achieved only with pain. Here the Initiate knows the deeper darkness of an hour when a gulf seems to open up between Father and Son, between life In­finite and life embodied. It is the greatest of all ordeals. The hour of hoped-for triumph becomes one of deepest ignominy. He sees His ene­mies exultant around Him, He is deserted, even betrayed by His friends and He drinks the bitter draught—another great symbol—of isola­tion, defamation and betrayal. He is utterly alone, naught bridging the gulf in which hangs his helpless soul. The Father, who yet was realized in Gethsemane, is veiled in the passion of the cross. Then from the heart which feels itself deserted rings out the cry: ‘My God, My God, why hast Thou forsaken Me?’

Tiếp theo là giai đoạn vĩ đại thứ tư, Cuộc Đóng Đinh, có nghĩa là cái chết của bản ngã cá nhân, sự kết thúc của mọi sự tách biệt, thường chỉ đạt được bằng đau đớn. Ở đây, Người Điểm đạo biết bóng tối sâu thẳm hơn của một giờ khi một vực thẳm dường như mở ra giữa Cha và Con, giữa sự sống Vô Hạn và sự sống thể hiện. Đó là thử thách lớn nhất trong tất cả. Giờ phút hy vọng chiến thắng trở thành một trong những sự ô nhục sâu sắc nhất. Ngài thấy kẻ thù của Ngài hân hoan xung quanh Ngài, Ngài bị bỏ rơi, thậm chí bị bạn bè của Ngài phản bội và Ngài uống thứ thuốc đắng—một biểu tượng vĩ đại khác—của sự cô lập, phỉ báng và phản bội. Ngài hoàn toàn đơn độc, không có gì bắc cầu qua vực thẳm nơi linh hồn bất lực của Ngài treo lơ lửng. Đức Cha, Đấng vẫn được nhận ra ở Gethsemane, bị che đậy trong sự đam mê của thập giá. Sau đó, từ trái tim cảm thấy mình bị bỏ rơi vang lên tiếng kêu: ‘Lạy Thượng đế của Con, lạy Thượng đế của Con, sao Ngài lìa bỏ Con?’

Why this last dread ordeal? Apparently it is necessary and must be experienced by all ere the triumphant goal is won; necessary be­cause that goal is not only union, but identity with God; He must know God to be His very self, that He is the Eternal—the Eternal is Himself. Then He is able with full realisation to utter—free from all possibility of separateness any more—the mighty, liberating words: ‘I and the Father are One’.

Tại sao lại có thử thách kinh hoàng cuối cùng này? Rõ ràng là nó cần thiết và phải được trải nghiệm bởi tất cả trước khi mục tiêu chiến thắng đạt được; cần thiết vì mục tiêu đó không chỉ là sự hợp nhất, mà là sự đồng nhất với Thượng đế; Ngài phải biết Thượng đế là chính bản thân Ngài, rằng Ngài là Đấng Vĩnh Hằng—Đấng Vĩnh Hằng là chính Ngài. Sau đó, Ngài có thể với sự nhận thức đầy đủ để thốt ra—thoát khỏi mọi khả năng tách biệt nữa—những lời mạnh mẽ, giải phóng: ‘Ta và Cha là Một’.

The Resurrection symbolises the complete mastery of the lower self, freedom from the necessity of further rebirth, victory over death itself, having been attained. This is followed quite naturally by Ascen­sion into full experience and conscious employment of His divinity and its powers.

Sự Phục Sinh tượng trưng cho sự làm chủ hoàn toàn bản ngã thấp hơn, sự tự do khỏi sự cần thiết phải tái sinh thêm nữa, chiến thắng bản thân cái chết, đã đạt được. Điều này được theo sau một cách tự nhiên bởi Sự Thăng Thiên vào trải nghiệm đầy đủ và việc sử dụng có ý thức sự thiêng liêng và quyền năng của Ngài.

The goal of human life at last is won. That which was born in Him at first ‘as a little child’ has grown to ‘The measure of the stature of the fullness of Christ’.

Cuối cùng, mục tiêu của cuộc sống con người đã đạt được. Điều đã được sinh ra trong Ngài lúc đầu ‘như một đứa trẻ nhỏ’ đã lớn lên đến ‘Tầm vóc của sự viên mãn của Đức Christ’.

May this great truth which we celebrate at this, the Feast of Christmas, become manifest in our lives; may we know the joy of a new birth, and our feet be set upon the Path which leads to life eternal.

Cầu mong chân lý vĩ đại này mà chúng ta kỷ niệm vào dịp này, Lễ Giáng Sinh, trở nên hiển nhiên trong cuộc sống của chúng ta; cầu mong chúng ta biết được niềm vui của một sự tái sinh, và bàn chân của chúng ta được đặt trên Thánh Đạo dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu.

Theosophy in Australia, 3, 6 December 1937, p. 2

Thông Thiên Học ở Úc, [3], [6] tháng 12 năm [1937], tr. [2]

166—

The Christmas of the Soul—Lễ Giáng Sinh của Linh Hồn

A point of view concerning the Scriptures which, though ex­tremely old, can seem quite revolutionary to orthodox Christians is that the four Gospels do not record the history of external events in time alone. Far more even than that, they also reveal eternal truths, whilst at the same time describing spiritual experiences of every human being. In this view the immortal story of the Christ life is seen as a universal life, your life and my life. Furthermore we can be aware of this after we are spiritually awakened or, as it is said, ‘reborn’, or born again.

Một quan điểm liên quan đến Kinh Thánh, mặc dù cực kỳ cũ, có vẻ khá mang tính cách mạng đối với các Kitô hữu chính thống là bốn sách Phúc Âm không chỉ ghi lại lịch sử các sự kiện bên ngoài trong thời gian. Thậm chí hơn thế nữa, chúng cũng tiết lộ những chân lý vĩnh cửu, đồng thời mô tả những kinh nghiệm tinh thần của mọi con người. Theo quan điểm này, câu chuyện bất tử về cuộc đời Đức Christ được xem như một cuộc đời phổ quát, cuộc đời của bạn và cuộc đời của tôi. Hơn nữa, chúng ta có thể nhận thức được điều này sau khi chúng ta được thức tỉnh về mặt tinh thần hoặc, như người ta nói, ‘tái sinh’ hoặc được sinh ra một lần nữa.

This is a transforming experience. The ‘birth’ of a new outlook on life from within the soul occurs. A deepening intuitive sense of unity with God and with beings develops, and this leads to a Christ like life of self-surrender and sacrificial love. Thereafter this new found reali­sation dominates the thoughts, the motives, the words and the deeds of the outer man, and he becomes completely transformed, reorganised. Mystically he is said to be reborn, or as Our Lord said, ‘born again’. This is the Nativity within man, for which St Paul yearned when he wrote his converts: ‘I travail in birth again until Christ be formed in you’.

Đây là một trải nghiệm biến đổi. Sự "khai sinh" một cái nhìn mới về cuộc sống từ bên trong linh hồn xảy ra. Một ý thức trực giác sâu sắc hơn về sự hợp nhất với Thượng đế và với các hữu thể phát triển, và điều này dẫn đến một cuộc sống giống như Đức Christ về sự đầu hàng bản thân và tình yêu hi sinh. Sau đó, sự nhận biết mới tìm thấy này chi phối những suy nghĩ, động cơ, lời nói và hành động của con người bên ngoài, và y trở nên hoàn toàn biến đổi, được tổ chức lại. Một cách huyền bí, y được cho là tái sinh, hay như Đức Chúa của chúng ta đã nói, "tái sinh một lần nữa". Đây là Sự Giáng Sinh bên trong con người, mà Thánh Paul khao khát khi viết cho những người cải đạo của Ông: "Ta đau đớn sinh nở một lần nữa cho đến khi Đức Christ được hình thành trong các ngươi".

Let us examine the story of the first Christmas from this point of view. The Archangel Gabriel may be thought of as representing the in­nermost Spirit in man. Then his voice speaking the words of Annunci­ation would represent the spiritually creative and fructifying power of the divine self in man. Mary is the immortal self of each one of us in its vesture of light, rendered receptive. Mary listens to the power of the Spirit, and the Christ Child who, in consequence, is born of Mary is the Christ nature coming to power within man, the newly-awakened power of universal love and of that spiritual intuitiveness which re­veals to the mind the oneness of all life and all living things. This inte­rior birth is, indeed; immaculate, being wholly interior and spiritual; for in this reading of the gospel story Joseph represents the formal, log­ical, concrete mind of a well developed individual. Valuable though this legal power of the mind can be, it cannot give birth to the intuition. By its very nature it is mentally analytical and factual. The intuition, on the other hand, brings swift realisation of underlying principles and ac­curate premonitions which are independent of the action of the formal mind. Not the analytical mind but the immortal self, with its capacity for abstract thought, personified by Mary, alone is able to give birth to this intuitive power.

Chúng ta hãy xem xét câu chuyện về Lễ Giáng Sinh đầu tiên từ quan điểm này. Tổng lãnh thiên thần Gabriel có thể được coi là đại diện cho Tinh Thần sâu kín nhất trong con người. Sau đó, tiếng nói của Ngài nói những lời Truyền Tin sẽ đại diện cho sức mạnh sáng tạo và sinh hoa trái về mặt tinh thần của bản ngã thiêng liêng trong con người. Đức Mẹ Maria là bản ngã bất tử của mỗi chúng ta trong lớp áo ánh sáng của nó, được làm cho dễ tiếp thu. Đức Mẹ Maria lắng nghe sức mạnh của Tinh Thần, và Hài Đồng Jesus, vốn do đó, được sinh ra từ Đức Mẹ Maria là bản chất Đức Christ đến với sức mạnh bên trong con người, sức mạnh mới được đánh thức của tình yêu phổ quát và của trực giác tinh thần vốn tiết lộ cho thể trí sự hợp nhất của tất cả sự sống và tất cả những sinh vật sống. Sự khai sinh nội tại này, thật vậy; tinh khiết, hoàn toàn nội tại và tinh thần; vì trong cách đọc câu chuyện phúc âm này, Joseph đại diện cho thể trí cụ thể, hợp lý, hình thức của một cá nhân phát triển tốt. Mặc dù sức mạnh hợp pháp này của thể trí có thể có giá trị, nhưng nó không thể khai sinh ra trực giác. Về bản chất, nó có tính phân tích và thực tế về mặt trí tuệ. Mặt khác, trực giác mang lại sự nhận biết nhanh chóng về các nguyên tắc cơ bản và những linh cảm chính xác vốn độc lập với hành động của thể trí hình thức. Không phải thể trí phân tích mà là bản ngã bất tử, với khả năng tư duy trừu tượng, được nhân cách hóa bởi Đức Mẹ Maria, một mình có thể khai sinh ra sức mạnh trực giác này.

Where did all this wonder occur? In Bethlehem, and in one sense Bethlehem is the whole world itself, spiritual and material. The inn represents the accentuation of the outer material world which all man­kind visits, and there stays awhile on the journey of life. ‘There is no room in the inn’. The fullness of the inn symbolises the attitude of the worldly mind concerned with time, place, and things to the most won­drous beautiful, delicate and real events. The worldly mind, the inn, is full of worldly interests, motives, activities and naturally and rightly so for a time. So the wondrous birth of the Christ consciousness cannot occur there.

Tất cả sự kỳ diệu này đã xảy ra ở đâu? Ở Bethlehem, và theo một nghĩa nào đó, Bethlehem là toàn bộ thế giới, cả tinh thần và vật chất. Quán trọ đại diện cho sự nhấn mạnh của thế giới vật chất bên ngoài mà tất cả nhân loại ghé thăm, và ở lại đó một thời gian trên hành trình cuộc đời. "Không có chỗ trong quán trọ". Sự đầy ắp của quán trọ tượng trưng cho thái độ của thể trí trần tục vốn quan tâm đến thời gian, địa điểm và mọi thứ đối với những sự kiện thực sự đẹp đẽ, tinh tế và kỳ diệu nhất. Thể trí trần tục, quán trọ, đầy những mối quan tâm, động cơ, hoạt động trần tục và một cách tự nhiên và đúng đắn trong một thời gian. Vì vậy, sự khai sinh kỳ diệu của tâm thức Đức Christ không thể xảy ra ở đó.

In another sense the inn is the physical body; the stable represents the physical heart, and the manger is the chamber or vault or cave within the heart wherein the Christ consciousness of love and unity is born and ‘fed’.

Theo một nghĩa khác, quán trọ là thể xác; chuồng ngựa đại diện cho trái tim thể xác, và máng cỏ là căn phòng hoặc hầm hoặc hang động bên trong trái tim, nơi tâm thức Đức Christ về tình yêu và sự hợp nhất được sinh ra và "nuôi dưỡng".

The apparent poverty of the manger of a stable of an inn symbol­ises that renunciation of all desire for possessions which must precede spiritual rebirth. At His birth and throughout His life, the Lord of Love, who as the Second Aspect of the Trinity is the greatest of all, volun­tarily chose to appear in the most helpless guise, an infant, and in the humblest of all places, a stable. In His manhood also He chose to be de­spised and rejected of men. He, who by a word stilled a raging storm, and whom legions of angels obeyed, could have shown His greatness at any moment. He did not do so. He surrendered and was murdered, and His body was publicly displayed to the mockery and scorn of man­kind. Think what He could have done and did not. In His birth in a sta­ble, and in that later humility and surrender, He actually displayed His mightiest power, and by the same method may every man. He thus taught the greatest spiritual truth, that life is fulfilled by renunciation. An old saying goes: ‘You must lose your heart and search for it in ev­ery quarter. When you find it, you will know it as the heart of all things’.

Sự nghèo khó rõ ràng của máng cỏ của một chuồng ngựa của một quán trọ tượng trưng cho sự từ bỏ mọi ham muốn sở hữu vốn phải đi trước sự tái sinh tinh thần. Khi mới sinh ra và trong suốt cuộc đời, Đức Chúa Tình Yêu, vốn là Trạng Thái Thứ Hai của Ba Ngôi là vĩ đại nhất trong tất cả, đã tự nguyện chọn xuất hiện trong hình hài bất lực nhất, một đứa trẻ sơ sinh, và ở nơi khiêm tốn nhất trong tất cả các nơi, một chuồng ngựa. Trong thời trai tráng của Ngài, Ngài cũng chọn bị khinh miệt và bị người đời chối bỏ. Ngài, vốn chỉ bằng một lời nói đã dẹp yên một cơn bão dữ dội, và người mà quân đoàn thiên thần tuân lệnh, có thể đã thể hiện sự vĩ đại của Ngài bất cứ lúc nào. Ngài đã không làm như vậy. Ngài đã đầu hàng và bị sát hại, và thi thể của Ngài đã được trưng bày công khai cho sự chế giễu và khinh miệt của nhân loại. Hãy nghĩ xem Ngài có thể đã làm gì và đã không làm. Trong sự ra đời của Ngài trong một chuồng ngựa, và trong sự khiêm nhường và đầu hàng sau đó, Ngài thực sự đã thể hiện sức mạnh vĩ đại nhất của Ngài, và bằng phương pháp tương tự, mọi người đều có thể. Do đó, Ngài đã dạy chân lý tinh thần vĩ đại nhất, rằng cuộc sống được hoàn thành bằng sự từ bỏ. Một câu nói cũ có nội dung: "Bạn phải đánh mất trái tim mình và tìm kiếm nó ở mọi nơi. Khi bạn tìm thấy nó, bạn sẽ biết nó là trái tim của vạn vật".

What then do the shepherds and the wise men from the East who brought their gifts symbolise? In one meaning, the shepherds are the highest qualities of the awakened soul, especially its protective, heal­ing and nutrifying powers. When they are active, the soul is open to il­lumination, can see and hear the angels who symbolise the streams of spiritual power and wisdom descending from on high as messengers from above into the soul, calling upon it to recognise the oneness of life, the fact of the brotherhood of man. Hence the words of the angels’ song: ‘Peace on earth and good will toward men’. It is the dawning from above of both pure spiritual power and the vision of the oneness of life, promise of the later consummation proclaimed by the Christ: ‘I and my Father are One’.

Vậy thì những người chăn cừu và các nhà thông thái từ phương Đông mang theo quà tặng của họ tượng trưng cho điều gì? Theo một nghĩa nào đó, những người chăn cừu là những phẩm chất cao nhất của linh hồn đã thức tỉnh, đặc biệt là sức mạnh bảo vệ, chữa lành và nuôi dưỡng của nó. Khi chúng hoạt động, linh hồn sẽ mở ra với sự soi sáng, có thể nhìn và nghe thấy các thiên thần vốn tượng trưng cho các dòng sức mạnh và minh triết tinh thần giáng xuống từ trên cao như những sứ giả từ trên cao vào linh hồn, kêu gọi nó nhận ra sự hợp nhất của sự sống, sự thật về tình huynh đệ của con người. Do đó, những lời trong bài hát của các thiên thần: "Bình an dưới thế và thiện ý đối với loài người". Đó là sự bình minh từ trên cao của cả sức mạnh tinh thần thuần khiết và tầm nhìn về sự hợp nhất của sự sống, lời hứa về sự hoàn thành sau này được Đức Christ tuyên bố: "Ta và Cha ta là Một".

In another meaning, the shepherds refer to those great shepherds of souls who are the perfected men of earth. St Paul writes of them as ‘just men made perfect’ and displays in many ways a knowledge of the mystical meaning of the gospel story. For, as I earlier quoted, he wrote in Galatians 4:19: ‘I travail in birth again until Christ be formed in you’. This can only refer to an interior nativity, a Christmas of the soul indeed.

Theo một nghĩa khác, những người chăn cừu đề cập đến những người chăn dắt vĩ đại của các linh hồn vốn là những người hoàn thiện của trái đất. Thánh Paul viết về Các Ngài là "những người công chính đã trở nên hoàn thiện" và thể hiện bằng nhiều cách sự hiểu biết về ý nghĩa huyền bí của câu chuyện phúc âm. Vì, như tôi đã trích dẫn trước đó, Ông đã viết trong Galatians 4:19: "Ta đau đớn sinh nở một lần nữa cho đến khi Đức Christ được hình thành trong các ngươi". Điều này chỉ có thể đề cập đến một sự giáng sinh nội tại, một Lễ Giáng Sinh của linh hồn thực sự.

The Magi from the East, traditionally three, may refer to the three aspects of the inner, immortal self of man, spiritual will, spiritual wis­dom, and spiritual intelligence. Each of these parts of the soul of man is at that time sufficiently awakened to contribute its special powers or gifts to empower, guide and inspire the newly reborn one in the life into which it has now entered, the new and living way.

Các Đạo sĩ từ phương Đông, theo truyền thống là ba người, có thể đề cập đến ba khía cạnh của bản ngã bất tử, nội tại của con người, ý chí tinh thần, minh triết tinh thần và trí tuệ tinh thần. Mỗi bộ phận này của linh hồn con người vào thời điểm đó đã đủ thức tỉnh để đóng góp sức mạnh hoặc quà tặng đặc biệt của nó để trao quyền, hướng dẫn và truyền cảm hứng cho người mới tái sinh trong cuộc sống mà nó vừa bước vào, con đường sống động và mới mẻ.

This mystical view of the nativity of Christ is also expressed by Angelus Silesius: ‘Though Christ a thousand times in Bethlehem be born and not within thyself, thy soul will be forlorn. The cross on Golgotha thou lookest to in vain unless within thyself it be set up again’. There again is a direct reference to the mystical nativity, the Christmas of the soul.

Quan điểm huyền bí này về sự giáng sinh của Đức Christ cũng được Angelus Silesius bày tỏ: "Mặc dù Đức Christ ngàn lần được sinh ra ở Bethlehem và không ở trong chính bạn, linh hồn bạn sẽ bị bỏ rơi. Bạn nhìn lên thập giá trên Golgotha một cách vô ích trừ khi bên trong bạn nó được dựng lại". Ở đó một lần nữa có một tham chiếu trực tiếp đến sự giáng sinh huyền bí, Lễ Giáng Sinh của linh hồn.

Theosophy in New Zealand, Vol. 38, No. 4, 1977, p. 81

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 38, Số 4, 1977, tr. 81

167

The Occult Significance of Christmas—Ý Nghĩa Huyền Bí của Lễ Giáng Sinh

The Bible stories, it has been stated, not only contain a record of historical events, they also reveal eternal truths and interior expe­riences and attainments of individual men and women. The cen­tral figure in the Gospel story, the Christ, mystically represents also the Divine in Nature and in man, the Christos within. The story which is told of the Christ is a universal one, being enacted within and by the Soul of every human being.

Các câu chuyện trong Kinh Thánh, như đã nêu, không chỉ chứa đựng một bản ghi các sự kiện lịch sử, chúng còn tiết lộ những chân lý vĩnh cửu và những trải nghiệm nội tại và những thành tựu của từng người nam và nữ. Nhân vật trung tâm trong câu chuyện Phúc Âm, Đức Christ, một cách huyền bí cũng đại diện cho Thần Tính trong Tự Nhiên và trong con người, Christos bên trong. Câu chuyện kể về Đức Christ là một câu chuyện phổ quát, được thực hiện bên trong và bởi Linh Hồn của mọi con người.

Christmas is a thanksgiving, and a remembrance of the birth in Palestine 2,000 years ago of Him who became known as Jesus the Christ. It is also the story of the birth of the Christ, age by age, within the human heart; it is a festival of spiritual birth, a call to the spiritual life. For humanity, the beautiful story of the Nativity describes in sym­bol the entry by the spiritually awakened man and woman upon the Path or way of holiness, the adoption of the selfless, dedicated, spiri­tual life. The Nativity of Christ represents the beginning of a new cycle, of whatever order.

Lễ Giáng Sinh là một lễ tạ ơn, và một sự tưởng nhớ về sự ra đời ở Palestine cách đây 2.000 năm của Ngài, Đấng đã trở nên nổi tiếng với tên gọi Jesus Đức Christ. Nó cũng là câu chuyện về sự ra đời của Đức Christ, hết thời đại này đến thời đại khác, trong trái tim con người; nó là một lễ hội của sự ra đời tinh thần, một lời kêu gọi cuộc sống tinh thần. Đối với nhân loại, câu chuyện tuyệt đẹp về Sự Giáng Sinh mô tả bằng biểu tượng sự gia nhập của người nam và nữ đã thức tỉnh về mặt tinh thần trên Thánh Đạo hoặc con đường thánh thiện, việc chấp nhận cuộc sống tinh thần, tận tâm, vị tha. Sự Giáng Sinh của Đức Christ đại diện cho sự khởi đầu của một chu kỳ mới, thuộc bất kỳ trật tự nào.

There are three main interpretations of the Bible story—the cos­mic, the Monadic and the occult or initiatory. In the cosmos, it des­cribes the birth of a universe at the dawn of the Creative Day. In man, it describes his spiritual ascent or birth into a higher level of conscious­ness, and so a new and spiritual ideal of life. The festival of Christmas has been interpreted as a call to enter upon the ‘strait and narrow way’

Có ba cách giải thích chính về câu chuyện Kinh Thánh—vũ trụ, Chân Thần và huyền bí hoặc điểm đạo. Trong vũ trụ, nó mô tả sự ra đời của một vũ trụ vào buổi bình minh của Ngày Sáng Tạo. Trong con người, nó mô tả sự thăng tiến tinh thần hoặc sự ra đời của y vào một cấp độ tâm thức cao hơn, và do đó là một lý tưởng mới và tinh thần về cuộc sống. Lễ hội Giáng Sinh đã được giải thích như một lời kêu gọi bước vào "con đường hẹp và chật chội"

(Matthew 7:14) which leads to life eternal. There are said to be four main keys and one clue to an understanding of the symbology used in the story of the Nativity. The four keys are: All true spiritual and intui­tive perceptions first occur within oneself. Each parable dramatises ex­periences of the Soul. People described therein are personifications of the principles of man. All objects have a symbolical meaning. A clue is the impossibility of a physical virgin birth which is a cover or blind to turn away the profane from the great Mystery, concealing its inner meaning, and yet it is a clue which reveals the inner spiritual truth to those who can follow it. In making the impossible seem to occur, the authors arrest the attention of the student, warning him to interpret, not literally but allegorically—not as a physical event but as a spiritual revelation. The awakening to power of spiritual vision of Divine Love and Wisdom from within the Soul, is indeed the result of an immaculate conception and a virgin birth.

(Ma-thi-ơ 7:14) vốn dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu. Người ta nói rằng có bốn chìa khóa chính và một manh mối để hiểu về hệ biểu tượng được sử dụng trong câu chuyện về Sự Giáng Sinh. Bốn chìa khóa là: Tất cả những nhận thức trực giác và tinh thần đích thực đầu tiên xảy ra bên trong chính mình. Mỗi dụ ngôn kịch tính hóa những trải nghiệm của Linh Hồn. Những người được mô tả trong đó là những nhân cách hóa các nguyên tắc của con người. Tất cả các đối tượng đều có một ý nghĩa tượng trưng. Một manh mối là sự bất khả thi của một sự ra đời đồng trinh về thể xác vốn là một vỏ bọc hoặc tấm bình phong để ngăn những kẻ phàm tục khỏi Đại Bí Ẩn, che giấu ý nghĩa bên trong của nó, và tuy nhiên, nó là một manh mối tiết lộ chân lý tinh thần bên trong cho những người có thể theo dõi nó. Bằng cách làm cho điều không thể dường như xảy ra, các tác giả thu hút sự chú ý của học viên, cảnh báo y giải thích, không theo nghĩa đen mà theo nghĩa bóng—không phải là một sự kiện thể xác mà là một sự mặc khải tinh thần. Sự thức tỉnh sức mạnh của tầm nhìn tinh thần về Tình Yêu và Minh Triết Thiêng Liêng từ bên trong Linh Hồn, thực sự là kết quả của một thụ thai tinh khiết và một sự ra đời đồng trinh.

How to Interpret

Làm thế nào để Giải thích

Let us now look at the main actors in the great drama and the main objects stressed in in the story, but in order to interpret them and under­stand fully the meaning, we must remember that man is sevenfold—a threefold immortal, spiritual being, the Microcosmic Trinity, the Tri­ple Self of man, manifesting through four mortal bodies of mind, emo­tion, vitality and flesh. Each of these seven parts of man is personified in the story of the Nativity.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét các diễn viên chính trong vở kịch vĩ đại và các đối tượng chính được nhấn mạnh trong câu chuyện, nhưng để giải thích chúng và hiểu đầy đủ ý nghĩa, chúng ta phải nhớ rằng con người là thất phân—một hữu thể tinh thần, bất tử tam phân, Tam Ngôi Tiểu Thiên Địa, Tam Ngã của con người, biểu hiện thông qua bốn thể phàm ngã của thể trí, cảm xúc, sinh lực và xác thịt. Mỗi bộ phận trong số bảy bộ phận này của con người được nhân cách hóa trong câu chuyện về Sự Giáng Sinh.

Gabriel, the Angel of the Annunciation, represents the innermost spirit in man, the Divine Spark or Monad. The Creative Will descend­ing from the Monad is symbolised by the lily in Gabriel’s hand. Mary represents the divine intelligence, the spiritual soul or Ego, which alone is able to hear the voice of the indwelling spirit. The Christ Child, who is ‘born’ after this inwardly fructifying power has de­scended, represents love and intuition. Since it is wholly spiritual, this interior ‘birth’ is indeed immaculate. These three then, Gabriel, Mary and the Christ represent the three-fold spiritual Self of man.

Gabriel, Thiên Thần Truyền Tin, đại diện cho tinh thần sâu kín nhất trong con người, Tia Lửa Thiêng Liêng hoặc Chân Thần. Ý Chí Sáng Tạo giáng xuống từ Chân Thần được tượng trưng bởi hoa huệ trong tay Gabriel. Đức Mẹ Maria đại diện cho trí tuệ thiêng liêng, linh hồn tinh thần hoặc Chân Ngã, vốn một mình có thể nghe thấy tiếng nói của tinh thần ngự trị. Hài Đồng Jesus, vốn được "sinh ra" sau khi sức mạnh sinh hoa trái bên trong này đã giáng xuống, đại diện cho tình yêu và trực giác. Vì nó hoàn toàn tinh thần, nên "sự ra đời" nội tại này thực sự là tinh khiết. Ba điều này sau đó, Gabriel, Đức Mẹ Maria và Đức Christ đại diện cho Tam Ngã tinh thần của con người.

Joseph stands for the formal logical mind, and valuable though this power of the intellect may be, it cannot by itself give birth to the in­tuition. The tame, domesticated animals in the manger represent the emotions—purified, controlled and harmonised. When these are wild and untamed they endanger the Soul of man, but when tamed and trained they are well represented by docile domestic beasts of burden. The manger in the stable of the inn is the source of life and nutriment. It represents the Etheric Double of man, the container of the vital forces that keep the physical body alive, the latter being represented by the stable. These four then, Joseph, the animals, the manger and the stable symbolise the four-fold mortal aspect of man.

Joseph đại diện cho thể trí hợp lý hình thức, và mặc dù sức mạnh này của trí tuệ có thể có giá trị, nhưng tự nó không thể khai sinh ra trực giác. Những con vật thuần hóa, được thuần dưỡng trong máng cỏ đại diện cho những cảm xúc—được thanh lọc, kiểm soát và hài hòa. Khi những điều này hoang dã và không được thuần hóa, chúng sẽ gây nguy hiểm cho Linh Hồn của con người, nhưng khi được thuần hóa và huấn luyện, chúng được đại diện tốt bởi những con thú thồ hàng ngoan ngoãn. Máng cỏ trong chuồng ngựa của quán trọ là nguồn sống và chất dinh dưỡng. Nó đại diện cho Thể Dĩ Thái Đôi của con người, vật chứa các lực sinh lực vốn giữ cho thể xác sống, thể xác sau được đại diện bởi chuồng ngựa. Bốn điều này sau đó, Joseph, những con vật, máng cỏ và chuồng ngựa tượng trưng cho khía cạnh phàm ngã tứ phân của con người.

Other Truths

Những Chân Lý Khác

Let us now look at aspects of the Nativity in greater detail, and us­ing keys of the Sacred Language, see what other truths are hidden be­neath the veil of allegory and symbol. Bethlehem, where Christ was born, may be regarded as symbolical of the whole world of men, mate­rial and spiritual, and the inn the accentuation of personal material in­terest. It is thus correctly described as being ‘full’. Accordingly, ‘there was no room for them in the inn’ (Luke 2:7). The wondrous birth of the Christ consciousness cannot occur in the realm of the worldly mind, dominated—not unnaturally—by the pursuit of personal pleasures and the attribute of possessiveness.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét các khía cạnh của Sự Giáng Sinh một cách chi tiết hơn, và sử dụng các chìa khóa của Ngôn Ngữ Thiêng Liêng, xem những chân lý nào khác bị che giấu dưới bức màn ngụ ngôn và biểu tượng. Bethlehem, nơi Đức Christ được sinh ra, có thể được coi là tượng trưng cho toàn bộ thế giới loài người, vật chất và tinh thần, và quán trọ là sự nhấn mạnh về lợi ích vật chất cá nhân. Do đó, nó được mô tả chính xác là "đầy". Theo đó, "không có chỗ cho họ trong quán trọ" (Lu-ca 2:7). Sự ra đời kỳ diệu của tâm thức Đức Christ không thể xảy ra trong lĩnh vực của thể trí trần tục, bị chi phối—một cách không tự nhiên—bởi việc theo đuổi những thú vui cá nhân và thuộc tính chiếm hữu.

In a deeper occult sense, then, the manger is the secret place of the Soul, where wonderful transformations occur. It is here that the birth of the Christ Child takes place.

Theo một nghĩa huyền bí sâu sắc hơn, thì máng cỏ là nơi bí mật của Linh Hồn, nơi những biến đổi kỳ diệu xảy ra. Chính tại đây mà sự ra đời của Hài Đồng Jesus diễn ra.

Every world religion has as its heart its sanctuaries or centres of the Great Mysteries. To these, every earnest aspirant whose motive is utterly selfless, whose heart is pure, can find his or her way. There spir­itual wisdom is imparted, the Soul is enlightened, its unfoldment is quickened and, when the time is ripe, the Great Initiations are be­stowed. In this sense then the manger of the inn typifies a secret sanctu­ary, despised by the world as a resting place, yet it is there that the mystic birth occurs in the presence of the august assembly of the Adepts Who are the Shepherds of Souls, and it is there that the Wise Men come.

Mọi tôn giáo trên thế giới đều có trái tim là những khu bảo tồn hoặc trung tâm của Đại Bí Ẩn. Đối với những điều này, mọi người chí nguyện chân thành có động cơ hoàn toàn vị tha, có trái tim trong sạch, đều có thể tìm thấy con đường của mình. Ở đó, minh triết tinh thần được truyền đạt, Linh Hồn được soi sáng, sự khai mở của nó được đẩy nhanh và, khi thời điểm chín muồi, những Cuộc Điểm Đạo Vĩ Đại được ban cho. Theo nghĩa này, máng cỏ của quán trọ tiêu biểu cho một khu bảo tồn bí mật, bị thế giới coi thường như một nơi nghỉ ngơi, nhưng chính ở đó mà sự ra đời huyền bí xảy ra trước sự hiện diện của hội đồng trang trọng của các Chân sư vốn là những Người Chăn Dắt Linh Hồn, và chính ở đó mà các Nhà Thông Thái đến.

Renunciation

Sự Từ Bỏ

This story of the birth of the Christ Child in feebleness and pov­erty in the manger of a stable of an inn, symbolises the surrender of all earthly possessions and powers, for the Initiate surrenders all, lays aside all personal desires and emotions, and gives up forever all pride of possession. Thus is taught the great lesson of renunciation. Every­one who is spiritually newborn is selfless, detached and symbolically a child. The Lord of Love himself voluntarily chose to appear in the most helpless guise, an infant, and in the humblest of all places, a sta­ble, surrounded by domestic animals. Yet the kings of the earth, the three Wise Men of the Bible story, came to visit the Babe in the stable and to lay their treasures—gold, frankincense and myrrh—at the Christ Child’s feet. Mystically interpreted, there are present at the First Initiation Adept sponsors (the Wise Men), and there then occurs a de­scent of Atma, Buddhi and Manas and the powers of each—symbol­ised by gold, frankincense and myrrh, the gifts of the Wise Men.

Câu chuyện về sự ra đời của Hài Đồng Jesus trong sự yếu đuối và nghèo khó trong máng cỏ của một chuồng ngựa của một quán trọ này, tượng trưng cho sự đầu hàng tất cả những tài sản và quyền lực trần thế, vì người được Điểm Đạo đầu hàng tất cả, gạt bỏ mọi ham muốn và cảm xúc cá nhân, và từ bỏ mãi mãi mọi niềm kiêu hãnh về quyền sở hữu. Như vậy, bài học vĩ đại về sự từ bỏ được dạy. Mọi người được tái sinh về mặt tinh thần đều vị tha, tách rời và mang tính biểu tượng là một đứa trẻ. Chính Đức Chúa Tình Yêu đã tự nguyện chọn xuất hiện trong hình hài bất lực nhất, một đứa trẻ sơ sinh, và ở nơi khiêm tốn nhất trong tất cả các nơi, một chuồng ngựa, được bao quanh bởi những con vật nuôi trong nhà. Tuy nhiên, các vị vua của trái đất, ba Nhà Thông Thái trong câu chuyện Kinh Thánh, đã đến thăm Hài Nhi trong chuồng ngựa và đặt kho báu của họ—vàng, nhũ hương và mộc dược—dưới chân Hài Đồng Jesus. Được giải thích một cách huyền bí, có mặt tại Cuộc Điểm Đạo Thứ Nhất là những người bảo trợ Chân sư (các Nhà Thông Thái), và sau đó có sự giáng xuống của Atma, Bồ Đề và Manas và sức mạnh của mỗi người—được tượng trưng bằng vàng, nhũ hương và mộc dược, những món quà của các Nhà Thông Thái.

Symbol of the Star

Biểu Tượng của Ngôi Sao

The Wise Men were led to the inn by a star. The symbol of the star has many meanings, but in the initiatory sense it represents the Atma, the spiritual will, the forthshining spiritual power of the Initiate, and the shining symbol of the world’s great King, the One Initiator on this earth, in Whose name and by Whose power all Initiations are con­ferred. When a candidate reaches the portals of Initiation, the Star flashes forth to indicate the approval of this great Ruler of the world under the Solar Deity, the Great One Who is in charge of evolution on this earth.

Các nhà thông thái được dẫn đến quán trọ bởi một ngôi sao. Biểu tượng của ngôi sao có nhiều ý nghĩa, nhưng theo nghĩa điểm đạo, nó đại diện cho Atma, ý chí tinh thần, sức mạnh tinh thần tỏa sáng của Điểm Đạo Đồ, và biểu tượng tỏa sáng của vị Vua vĩ đại của thế giới, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất trên trái đất này, trong danh Ngài và bởi quyền năng của Ngài mà tất cả các Cuộc Điểm Đạo được ban cho. Khi một ứng viên đến được cổng Điểm Đạo, Ngôi Sao lóe lên để biểu thị sự chấp thuận của Đấng Thống Trị vĩ đại của thế giới này dưới quyền của Thái dương Thượng đế, Đấng Cao Cả, vốn phụ trách sự tiến hóa trên trái đất này.

Theosophy in New Zealand, Vol. 44, No. 4, 1983, p. 81

Theosophy in New Zealand, Vol. [44], No. [4], [1983], tr. [81]

168—

Christian Theology and the Spiritual Needs of Modern Man—Thần Học Cơ Đốc Giáo và Các Nhu Cầu Tinh Thần của Con Người Hiện Đại

Our subject is at least fourfold since it includes consideration of theology itself, particularly Christian theology, theological doc­trines and dogmas, developments occurring without and within the Christian Denomination and the ideal and underlying reality be­neath the proclamations and practices evident in Christianity today.

Chủ đề của chúng ta ít nhất là tứ phân vì nó bao gồm việc xem xét bản thân thần học, đặc biệt là thần học Cơ đốc giáo, các học thuyết và giáo điều thần học, những phát triển xảy ra bên ngoài và bên trong Giáo Phái Cơ đốc giáo và thực tế lý tưởng và tiềm ẩn bên dưới những lời tuyên bố và thực hành rõ ràng trong Cơ đốc giáo ngày nay.

The Nature and Origin of Theology

Bản Chất và Nguồn Gốc của Thần Học

What then is theology, and how might one clearly define the cen­tral idea of Christianity? Three possible definitions are: a system of re­ligious theory or observance founded upon an interpretation of Scripture; religious knowledge or belief about God methodically for­mulated and based upon the Bible as the Word of God; divinely re­vealed truths about salvation.

Vậy thần học là gì, và làm thế nào người ta có thể định nghĩa rõ ràng ý tưởng trung tâm của Cơ đốc giáo? Ba định nghĩa có thể là: một hệ thống lý thuyết hoặc tuân thủ tôn giáo dựa trên sự giải thích Kinh Thánh; kiến thức hoặc niềm tin tôn giáo về Thượng đế được xây dựng một cách có phương pháp và dựa trên Kinh Thánh như là Lời của Thượng đế; những chân lý được Thượng đế tiết lộ về sự cứu rỗi.

Dr Paul Tilich wrote, ‘A theological system is supposed to satisfy two basic needs: the statement of the Christian Message and the inter­pretation of this truth for every new generation’.

Tiến sĩ Paul Tilich đã viết, 'Một hệ thống thần học được cho là đáp ứng hai nhu cầu cơ bản: tuyên bố Thông Điệp Cơ đốc giáo và giải thích chân lý này cho mọi thế hệ mới'.

The Christian message consists of two fundamental convictions: Jesus Christ is the Son of God, and God sent Christ to earth to live as humans live, to suffer as humans suffer, to die for mankind’s redemp­tion and gloriously to rise again. In the Fourth Gospel we read: ‘For

Thông điệp Cơ đốc giáo bao gồm hai xác tín cơ bản: Đức Jesus Christ là Con của Thượng đế, và Thượng đế đã gửi Đức Christ xuống trái đất để sống như con người sống, để chịu đựng như con người chịu đựng, để chết vì sự cứu chuộc của nhân loại và sống lại một cách vinh quang. Trong Phúc Âm Thứ Tư, chúng ta đọc: 'Vì

God so loved the world that He gave His only begotten Son so that whosoever believeth in Him should not perish, but have everlasting life (John 3:16). To these two doctrines, most nominal Christians assent.

Thượng đế yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16). Hầu hết các Cơ đốc nhân hữu danh đều tán thành hai học thuyết này.

How then did dogmatic theology arise? After the untimely death of their Lord, the Apostles and their immediate followers and converts carried on His work by virtue of His Power and His Voice, still actively at work within them, as have done and do many Christians today. Offi­cially persecuted and martyred, betrayed and scorned by individuals, the early Christians held firm to their faith, which through them was transmitted to the world.

Vậy thì thần học giáo điều đã phát sinh như thế nào? Sau cái chết yểu của Đức Chúa, các Tông Đồ và những người theo và cải đạo trực tiếp của Các Ngài đã tiếp tục công việc của Ngài nhờ Quyền Năng và Tiếng Nói của Ngài, vẫn tích cực hoạt động bên trong họ, như nhiều Cơ đốc nhân ngày nay đã và đang làm. Bị đàn áp và tử đạo một cách chính thức, bị phản bội và khinh miệt bởi các cá nhân, những Cơ đốc nhân ban đầu đã giữ vững đức tin của họ, đức tin này đã được truyền bá ra thế giới thông qua họ.

Unfortunately, this period of deep spiritual unity, inspiration, liv­ing experience, did not endure. Gradually it gave way to a process of crystallisation of the waters of living Truth into fixed dogmas and from this birth of theology and creed in the third and fourth centuries, sprang intolerance and sectarianism.

Thật không may, giai đoạn thống nhất tinh thần sâu sắc, cảm hứng, kinh nghiệm sống động này đã không kéo dài. Dần dần, nó nhường chỗ cho một quá trình kết tinh các dòng nước Chân Lý sống động thành các giáo điều cố định và từ sự ra đời của thần học và tín điều này trong thế kỷ thứ ba và thứ tư, sự không khoan dung và bè phái đã nảy sinh.

This was indeed a misfortune, for Christianity like all other Faiths is a way of life, not a theological system with which one must be in in­tellectual agreement. Indeed, one may, I suggest, legitimately chal­lenge and even deny main doctrines and still be worthy of the title ‘Christian’.

Đây thực sự là một điều bất hạnh, vì Cơ đốc giáo giống như tất cả các Tín Ngưỡng khác là một cách sống, không phải là một hệ thống thần học mà người ta phải đồng ý về mặt trí tuệ. Thật vậy, tôi cho rằng, người ta có thể thách thức một cách hợp pháp và thậm chí phủ nhận các học thuyết chính và vẫn xứng đáng với danh hiệu 'Cơ đốc nhân'.

Astounding Diversity

Sự Đa Dạng Đáng Kinh Ngạc

How many nominal Christians are there? Of two hundred and fifty thousand million or more people on earth, some eight and a half hundred million—one out of every three are listed as Christian. Of these, four hundred and eighty four million are Roman Catholic, forty one million Presbyterian and forty million Anglican or Church of Eng­land. Strangely enough, within these and many other denominations one finds such a diversity of belief that has developed amongst them in the last 2,000 years that it is now difficult to recognise that they all be­long to the same Faith and acknowledged Lord.

Có bao nhiêu Cơ đốc nhân hữu danh? Trong số hai trăm năm mươi nghìn triệu người trở lên trên trái đất, có khoảng tám trăm năm mươi triệu người—cứ ba người thì có một người được liệt kê là Cơ đốc nhân. Trong số này, bốn trăm tám mươi bốn triệu người là Công giáo La Mã, bốn mươi mốt triệu người theo Trưởng lão và bốn mươi triệu người theo Anh giáo hoặc Giáo hội Anh. Điều kỳ lạ là, trong số này và nhiều giáo phái khác, người ta thấy một sự đa dạng về niềm tin đã phát triển giữa họ trong 2.000 năm qua đến nỗi bây giờ khó có thể nhận ra rằng tất cả họ đều thuộc cùng một Tín Ngưỡng và thừa nhận Đức Chúa.

Roman Catholicism remains, however, very definite concerning dogma. In the first week of July, 1968, His Holiness the Pope pro­claimed an inflexible affirmation of traditional Catholic doctrine. In addition to the already accepted Apostles’ Creed (2nd Century), the Athanasian Creed (A.D. 361), the Nicene Creed (A.D. 381) and the

Tuy nhiên, Công giáo La Mã vẫn rất rõ ràng về giáo điều. Vào tuần đầu tiên của tháng 7 năm 1968, Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố một sự khẳng định không linh hoạt về học thuyết Công giáo truyền thống. Ngoài Tín Điều Các Tông Đồ (thế kỷ thứ 2) đã được chấp nhận, Tín Điều Athanasian (năm 361 sau Công Nguyên), Tín Điều Nicene (năm 381 sau Công Nguyên) và

Statements in the Council of Trent (A.D. 1500), he proclaimed the fol­lowing inflexible affirmation of traditional Catholic doctrine, but little changed from mediaeval days.

Các Tuyên Bố trong Công Đồng Trent (năm 1500 sau Công Nguyên), Ngài đã tuyên bố sự khẳng định không linh hoạt sau đây về học thuyết Công giáo truyền thống, nhưng ít thay đổi so với những ngày thời trung cổ.

‘We believe in one only God, Father, Son and Holy Spirit, Cre­ator of things visible, such as this world, of things invisible, such as the pure spirits which are also called angels. He is He Who is’.

'Chúng tôi tin vào một Thượng đế duy nhất, Cha, Con và Chúa Thánh Thần, Đấng Sáng Tạo ra những thứ hữu hình, chẳng hạn như thế giới này, những thứ vô hình, chẳng hạn như các tinh thần thuần khiết cũng được gọi là thiên thần. Ngài là Đấng vốn là'.

‘We believe that in Adam all have sinned’. This repeats the pro­nouncement by the Council of Trent, which maintained that original sin is transmitted ‘not by imitation but by propagation’.

'Chúng tôi tin rằng trong Adam, tất cả đều đã phạm tội'. Điều này lặp lại tuyên bố của Công Đồng Trent, vốn duy trì rằng tội tổ tông được truyền lại 'không phải do bắt chước mà do sinh sản'.

‘Because everyone is a sinner born, baptism should be adminis­tered even to little children... in order that, though born deprived of supernatural grace, they may be reborn’.

'Bởi vì mọi người đều sinh ra là tội nhân, nên phép báp têm nên được thực hiện ngay cả cho trẻ nhỏ... để, mặc dù sinh ra bị tước đoạt ân sủng siêu nhiên, chúng có thể được tái sinh'.

‘We believe in the infallibility enjoined by the successor of Peter when he teaches ex cathedra (on matters of faith and morals) as pastor and teacher of all the faithful’.

'Chúng tôi tin vào sự bất khả ngộ được quy định bởi người kế vị của Peter khi ông giảng dạy ex cathedra (về các vấn đề đức tin và đạo đức) với tư cách là mục sư và giáo viên của tất cả những người trung thành'.

‘In the reality itself independently of our mind, the bread and wine have ceased to exist after the Consecration so that they are the adorable Body and Blood of the Lord’.

'Trong chính thực tế độc lập với tâm trí của chúng ta, bánh và rượu đã ngừng tồn tại sau Lễ Hiến Tế để chúng là Thân Thể và Máu đáng tôn thờ của Đức Chúa'.

‘We believe in the life eternal. We believe that the souls of all those who die in the grace of Christ, whether they must still be purified in Purgatory, or from the moment they leave their bodies, Jesus takes them to Paradise. They are the people of God in the eternity beyond death which will be finally conquered on the day of the resurrection when these souls will be reunited with their bodies. Those who refuse God will go to “the fire that will not be extinguished’.

'Chúng tôi tin vào cuộc sống vĩnh cửu. Chúng tôi tin rằng linh hồn của tất cả những ai chết trong ân sủng của Đức Christ, dù họ vẫn phải được thanh tẩy trong Luyện Ngục, hay từ thời điểm họ rời khỏi thân thể, Đức Jesus sẽ đưa họ đến Thiên Đàng. Họ là dân của Thượng đế trong cõi vĩnh hằng vượt ra ngoài cái chết, vốn cuối cùng sẽ bị chinh phục vào ngày phục sinh khi những linh hồn này sẽ được đoàn tụ với thân thể của họ. Những người từ chối Thượng đế sẽ đi vào “lửa không hề tắt”'.

Papal Infallibility

Sự Bất Khả Ngộ của Giáo Hoàng

Since the First Vatican Council of 1870, it has been a dogma of the Roman Catholic Church that the Pope, when he thus speaks ex cathedra on matters of faith or morals, is infallible. The Catholic un­derstanding of infallibility has been largely based on the several Scrip­tural passages in which Jesus enjoins the Apostles to teach all mankind. Protestant scholars on the question, argue that these texts do not prove or imply infallibility. What they say is only that Christ wanted the Apostles to teach his gospel, and that they had certain knowledge of what to teach. They had such unforgettable memories of all the main events and teaching of Jesus that they could not err in com­municating to their audiences. Their infallibility was not of the theo­logical but of the natural kind which is another name for unshakeably certain knowledge.

Kể từ Công Đồng Vatican Thứ Nhất năm 1870, giáo hội Công giáo La Mã đã có một giáo điều rằng Giáo Hoàng, khi Ngài nói ex cathedra về các vấn đề đức tin hoặc đạo đức, là bất khả ngộ. Sự hiểu biết của Công giáo về sự bất khả ngộ phần lớn dựa trên một số đoạn Kinh Thánh trong đó Đức Jesus truyền cho các Tông Đồ dạy dỗ toàn nhân loại. Các học giả Tin Lành về vấn đề này, lập luận rằng những văn bản này không chứng minh hoặc ngụ ý sự bất khả ngộ. Những gì họ nói chỉ là Đức Christ muốn các Tông Đồ dạy phúc âm của Ngài, và họ có kiến thức chắc chắn về những gì cần dạy. Họ có những ký ức khó quên về tất cả các sự kiện chính và giáo lý của Đức Jesus đến nỗi họ không thể sai lầm trong việc truyền đạt cho khán giả của mình. Sự bất khả ngộ của họ không phải là loại thần học mà là loại tự nhiên, vốn là một tên gọi khác cho kiến thức chắc chắn không thể lay chuyển.

Another traditional argument for infallibility is that the Apostles in their teaching had the special protection of the Holy Spirit, and that the church is heir to that divine guidance. The particular infallibility that is claimed for the Pope is based, in part, on Jesus’ words to Peter in Matthew 16:18, ‘You are Peter, and on this rock I will build my church’.

Một lập luận truyền thống khác cho sự bất khả ngộ là các Tông Đồ trong giáo lý của họ đã nhận được sự bảo vệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần, và rằng giáo hội là người thừa kế sự hướng dẫn thiêng liêng đó. Sự bất khả ngộ đặc biệt được tuyên bố cho Giáo Hoàng dựa trên một phần lời của Đức Jesus với Peter trong Ma-thi-ơ 16:18, 'Ngươi là Peter, và trên đá này ta sẽ xây dựng giáo hội của ta'.

The New Freedom

Sự Tự Do Mới

Revolutionary changes are now occurring both without and within the Roman Catholic Church as is well known. What followed Vatican II has been called by Catholics themselves ‘the most momen­tous upheaval of any branch of Christendom since the Reformation’. Instituted by Pope John XXIII and nurtured by his successor Pope Paul VI, changes directly affecting the life and worship of the world’s al­most 500 million Catholics are taking place with overpowering sud­denness, and these indirectly the attitudes of a thousand million or so other religionists around the world.

Những thay đổi mang tính cách mạng hiện đang xảy ra cả bên ngoài và bên trong Giáo hội Công giáo La Mã như mọi người đều biết. Những gì theo sau Vatican II đã được chính những người Công giáo gọi là 'cuộc biến động quan trọng nhất của bất kỳ nhánh nào của Cơ đốc giáo kể từ cuộc Cải Cách'. Được khởi xướng bởi Giáo Hoàng John XXIII và được nuôi dưỡng bởi người kế nhiệm của Ngài là Giáo Hoàng Paul VI, những thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sự thờ phượng của gần 500 triệu người Công giáo trên thế giới đang diễn ra với một sự đột ngột áp đảo, và những điều này gián tiếp ảnh hưởng đến thái độ của khoảng một nghìn triệu người theo tôn giáo khác trên khắp thế giới.

Birth control, mixed marriages, priestly celibacy and other con­troversial topics are now openly discussed in the church press. In re­ports of widespread disagreement within the Council of Fathers, the Christian of today has witnessed the crumbling before his eyes of the illusion of solid universal agreement among church authorities. The most controversial issue is, however, that of birth control. In an encyc­lical released last July, Pope Paul VI reaffirmed the traditional stand against contraception.

Việc kiểm soát sinh sản, hôn nhân khác đạo, sự độc thân của linh mục và các chủ đề gây tranh cãi khác hiện đang được thảo luận công khai trên báo chí của giáo hội. Trong các báo cáo về sự bất đồng lan rộng trong Hội Đồng Giáo Phụ, Cơ đốc nhân ngày nay đã chứng kiến sự sụp đổ trước mắt mình về ảo tưởng về sự đồng thuận phổ quát vững chắc giữa các nhà chức trách của giáo hội. Tuy nhiên, vấn đề gây tranh cãi nhất là vấn đề kiểm soát sinh sản. Trong một thông điệp được phát hành vào tháng 7 năm ngoái, Giáo Hoàng Paul VI đã tái khẳng định lập trường truyền thống chống lại việc ngừa thai.

Another openly debated question, particularly in Holland, is whether priests should be allowed to marry. In 1966, a survey of 1700 of the nation’s 3000 priests showed 80 per cent in favour of choice in the matter of celibacy. Protestant-Catholic marriages in Holland are common, often celebrated in the presence of both a Catholic priest and a Protestant minister. Dutch non-Catholics no longer have to promise to bring up their children in the Catholic Church—as long as they teach Christian principles. Even inter-faith Communion is practised.

Một câu hỏi khác được tranh luận công khai, đặc biệt là ở Hà Lan, là liệu các linh mục có nên được phép kết hôn hay không. Năm 1966, một cuộc khảo sát 1700 trong số 3000 linh mục của quốc gia cho thấy 80% ủng hộ sự lựa chọn trong vấn đề độc thân. Hôn nhân giữa người Tin Lành và Công giáo ở Hà Lan là phổ biến, thường được cử hành với sự hiện diện của cả một linh mục Công giáo và một mục sư Tin Lành. Những người Hà Lan không theo đạo Công giáo không còn phải hứa sẽ nuôi dạy con cái của họ trong Giáo hội Công giáo—miễn là họ dạy các nguyên tắc Cơ đốc giáo. Ngay cả Lễ Rước Lễ giữa các tôn giáo cũng được thực hành.

Are these challenges to authority and tradition to be regarded as merely a transient phenomenon? Apparently not and such a view is supported by the noted Catholic commentator Daniel Callahan in his book The New Church: ‘The new freedom is here to stay. Not all the condemnations that any anxious Pope or bishop could pronounce would make more than a momentary difference. For the new freedom is not limited to a small controllable elite, but is a genuine movement of the people, springing from a sudden and wholly unexpected vision of what the church can become, of what it must no longer be’.

Liệu những thách thức đối với quyền lực và truyền thống này có được coi là chỉ là một hiện tượng nhất thời? Rõ ràng là không và quan điểm như vậy được ủng hộ bởi nhà bình luận Công giáo nổi tiếng Daniel Callahan trong cuốn sách The New Church của ông: 'Sự tự do mới ở đây để tồn tại. Không phải tất cả những lời lên án mà bất kỳ Giáo Hoàng hoặc giám mục lo lắng nào có thể tuyên bố sẽ tạo ra nhiều hơn một sự khác biệt nhất thời. Vì sự tự do mới không giới hạn ở một nhóm ưu tú nhỏ có thể kiểm soát được, mà là một phong trào thực sự của người dân, nảy sinh từ một tầm nhìn đột ngột và hoàn toàn bất ngờ về những gì giáo hội có thể trở thành, về những gì nó không còn phải là'.

One strange example of these developments is that in the U.S.A. alone, thousands of Catholics are forming their own religious commu­nities. They and Protestants are giving up established religious rituals of their Churches in order to try to find God in what is referred to as the underground church. Ignoring the traditions of centuries these people seek to worship their own Lord in their own way, to bring joy and vital­ity to Church practices. More and more younger priests are willing to celebrate the new illegal Masses in small groups meeting in secret. Protestants usually join the underground as a way of escaping the pres­sures that established society brings to bear upon the organised Churches. Sometimes formal Liturgy is replaced by guitar playing, singing and dancing, discussions and formal dinners. In supposed con­sequence, attendance at regular parish Masses is said to be declining rapidly in many dioceses.

Một ví dụ kỳ lạ về những phát triển này là ở riêng Hoa Kỳ, hàng ngàn người Công giáo đang thành lập các cộng đồng tôn giáo của riêng họ. Họ và những người Tin Lành đang từ bỏ các nghi lễ tôn giáo đã được thiết lập của Giáo hội của họ để cố gắng tìm Thượng đế trong cái được gọi là giáo hội ngầm. Bỏ qua các truyền thống của nhiều thế kỷ, những người này tìm cách thờ phượng Đức Chúa của riêng họ theo cách riêng của họ, để mang lại niềm vui và sức sống cho các hoạt động của Giáo hội. Ngày càng có nhiều linh mục trẻ sẵn sàng cử hành các Thánh Lễ bất hợp pháp mới trong các nhóm nhỏ họp bí mật. Những người Tin Lành thường tham gia vào giới ngầm như một cách để thoát khỏi những áp lực mà xã hội đã thiết lập gây ra cho các Giáo hội có tổ chức. Đôi khi Phụng Vụ chính thức được thay thế bằng chơi guitar, ca hát và nhảy múa, thảo luận và ăn tối trang trọng. Trong hậu quả được cho là, người ta nói rằng số người tham dự các Thánh Lễ giáo xứ thông thường đang giảm nhanh chóng ở nhiều giáo phận.

What then is essential to the Christian life, or further to the true re­ligious life for mankind today? For answers, let us look at certain of these dogmas and developments in the light of Theosophy which is de­scribed as an esoteric synthesis of all world Faiths.

Vậy thì điều gì là cần thiết cho đời sống Cơ đốc giáo, hoặc hơn nữa là đời sống tôn giáo đích thực cho nhân loại ngày nay? Để có câu trả lời, chúng ta hãy xem xét một số giáo điều và sự phát triển này dưới ánh sáng của Thông Thiên Học, vốn được mô tả là một tổng hợp huyền bí của tất cả các Tín Ngưỡng trên thế giới.

Original Sin

Tội Tổ Tông

The Thirty nine Articles of Religion of the Church of England state that ‘original Sin standeth not in the following of Adam (as the Pelagians do vainly talk) but it is the fault and corruption of the Nature of every man, that naturally is engendered of the offspring of Adam; whereby man is very far gone from original righteousness, and is of his own nature inclined to evil, so that the flesh lusteth always contrary to the spirit; and therefore in every person born into this world, it deserveth God’s wrath and damnation. And this infection of nature doth remain, yea in them that are regenerated; whereby the lust of the flesh, called in Greek phronema sarkes, which some do expound the wisdom, some sensuality, some the affection, some the desire, of the flesh, is not subject to the Law of God.. Again, ‘the condition of Man after the fall of Adam is such, that he cannot turn and prepare himself, by his own natural strength and good works, to faith, and calling upon God; Wherefore we have no power to do good works pleasant and accept­able to God, without the grace of God by Christ preventing us, that we may have a good will, and working with us, when we have that good will’.

Ba mươi chín Điều Tín Ngưỡng của Giáo hội Anh tuyên bố rằng 'Tội Tổ Tông không phải là sự noi theo Adam (như những người Pelagian nói một cách vô ích) mà là lỗi lầm và sự tha hóa Bản Tính của mọi người, vốn tự nhiên được sinh ra từ dòng dõi của Adam; do đó, con người đã đi rất xa khỏi sự công bình ban đầu, và bản chất của nó nghiêng về điều ác, đến nỗi xác thịt luôn luôn ham muốn trái ngược với tinh thần; và do đó, trong mọi người sinh ra trên thế giới này, nó đáng phải chịu cơn thịnh nộ và sự nguyền rủa của Thượng đế. Và sự lây nhiễm bản chất này vẫn còn, vâng, ở những người đã được tái sinh; do đó, sự ham muốn của xác thịt, được gọi trong tiếng Hy Lạp là phronema sarkes, mà một số người giải thích là sự khôn ngoan, một số người là sự dâm dục, một số người là tình cảm, một số người là ham muốn, của xác thịt, không tuân theo Luật của Thượng đế... Một lần nữa, 'tình trạng của Con Người sau sự sa ngã của Adam là như vậy, đến nỗi y không thể quay lại và chuẩn bị cho mình, bằng sức mạnh tự nhiên và những việc làm tốt của mình, để có đức tin và kêu cầu Thượng đế; Do đó, chúng ta không có quyền làm những việc lành đẹp lòng và được Thượng đế chấp nhận, nếu không có ân sủng của Thượng đế bởi Đức Christ ngăn ngừa chúng ta, để chúng ta có thể có một ý chí tốt, và làm việc với chúng ta, khi chúng ta có ý chí tốt đó'.

The views thus officially stated are hardly acceptable to the stu­dent of Theosophy. For him, at the dawn of the emanation from the Absolute of the finite Universe, the Spirit of man embarks upon a great pilgrimage from pure spirit into densest matter—involution. In due course a return journey begins: Miscalled ‘original sin’, meaning the sex relationship of Adam and Eve, it is rather regarded as an inevitable concomitant of the involutionary process, and definitely not as a delib­erately committed wickedness for which every human being has ever since been condemned to be born in sin. Whatever stain there may have been will ultimately be left behind and the fruitage will be pre­served in the form of full knowledge of, and capacity to wield, the mightiest of all the powers in Nature and in man—the divine power to create universes and all that they contain. The whole process of ‘de­scent’, or involution, be it remembered, is a perfectly natural one. For a period it does bring suffering and degradation, but it cannot be truth­fully described as a tragic ‘Fall’.

Những quan điểm được tuyên bố chính thức như vậy khó có thể được chấp nhận đối với học viên Thông Thiên Học. Đối với y, vào buổi bình minh của sự xuất lộ từ Tuyệt Đối của Vũ Trụ hữu hạn, Tinh Thần của con người dấn thân vào một cuộc hành hương vĩ đại từ tinh thần thuần khiết vào vật chất đậm đặc nhất—giáng hạ tiến hoá. Đến thời điểm thích hợp, một cuộc hành trình trở về bắt đầu: Bị gọi sai là 'tội tổ tông', có nghĩa là mối quan hệ tình dục của Adam và Eve, nó được coi là một hệ quả tất yếu của quá trình giáng hạ tiến hoá, và chắc chắn không phải là một hành vi gian ác cố ý mà mọi con người kể từ đó đã bị kết án phải sinh ra trong tội lỗi. Bất kỳ vết nhơ nào có thể đã có cuối cùng sẽ bị bỏ lại phía sau và thành quả sẽ được bảo tồn dưới dạng kiến thức đầy đủ về, và khả năng sử dụng, sức mạnh vĩ đại nhất trong tất cả các sức mạnh trong Tự Nhiên và trong con người—sức mạnh thiêng liêng để tạo ra các vũ trụ và tất cả những gì chúng chứa đựng. Toàn bộ quá trình 'giáng xuống', hay giáng hạ tiến hoá, cần phải nhớ rằng, là một quá trình hoàn toàn tự nhiên. Trong một khoảng thời gian, nó mang lại đau khổ và suy thoái, nhưng không thể mô tả một cách trung thực là một 'Sự Sa Ngã' bi thảm.

The Resurrection

Sự Phục Sinh

With regard to the resurrection of the body of man, originally it was believed that the particles of the physical body of every man rose from the grave, were knit into a heavenly body and went to live up in the sky. The Resurrection of Christ, on the other hand, meant that Christ Himself did truly rise from death and took again His body with flesh and bones, at first untouchable by Mary Magdelene77, but later touchable by St Thomas78, ascended into Heaven where He stays until His return to judge all men.

Liên quan đến sự phục sinh của thể xác con người, ban đầu người ta tin rằng các hạt của thể xác của mỗi người trỗi dậy từ mộ, được kết lại thành một thiên thể và lên sống trên bầu trời. Mặt khác, Sự Phục Sinh của Đức Christ có nghĩa là chính Đức Christ đã thực sự sống lại từ cõi chết và lấy lại thân xác với da thịt và xương cốt, ban đầu không thể chạm vào được bởi Mary Magdelene, nhưng sau đó có thể chạm vào được bởi Thánh Thomas, đã thăng lên Thiên Đàng, nơi Ngài ở lại cho đến khi Ngài trở lại để phán xét tất cả mọi người.

One theosophical view that of macrocosmic resurrection is that evolution naturally follows involution. Human or microcosmic resur­rection on the other hand refers to the ascent of man from the domina­tion of matter to freedom therefrom in full spiritual realisation. The doctrine is, however, susceptible of various interpretations. Thus ap­proached, the Monad-bearing Divine Life personified by Christ79 of the Universe is emanated into matter of deepening degrees of density until the densest is reached where it is metaphorically ‘dead’ on the ‘cross of matter’ with its four directions of space and buried in a rock tomb80. Eventually, under cyclic law, this Life of the Logos embarks upon a journey of return to its Source. In the course of time, matter no longer imprisons Spirit which then transcends material limitations. The hu­man Monads, or microcosms, follow the same dual path, participate in this liberation and in this sense the spirit of man, also personified by Christ81, becomes resurrected not bodily but in terms of consciousness—or freed from the limitations both of the flesh and the egoistic principle in the mind. Such is one view of the resurrection of man.

Một quan điểm thông thiên học về sự phục sinh vĩ mô là sự tiến hóa tự nhiên tuân theo sự giáng hạ tiến hóa. Mặt khác, sự phục sinh vi mô hay của con người đề cập đến sự thăng lên của con người từ sự thống trị của vật chất đến sự tự do khỏi nó trong sự chứng ngộ tinh thần trọn vẹn. Tuy nhiên, giáo lý này có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Như vậy, Sự Sống Thiêng Liêng mang Chân Thần được nhân cách hóa bởi Đức Christ của Vũ Trụ được xuất lộ vào vật chất với các mức độ đậm đặc ngày càng tăng cho đến khi đạt đến mức đậm đặc nhất, nơi nó được ví như là "chết" trên "thập giá vật chất" với bốn phương không gian và được chôn trong một ngôi mộ đá. Cuối cùng, theo định luật tuần hoàn, Sự Sống của Hành Tinh Thượng đế này bắt đầu một cuộc hành trình trở về Nguồn Cội của nó. Theo thời gian, vật chất không còn giam cầm Tinh Thần, sau đó vượt qua những giới hạn vật chất. Các Chân Thần của con người, hay các vũ trụ thu nhỏ, đi theo cùng một con đường kép, tham gia vào sự giải phóng này và theo nghĩa này, tinh thần của con người, cũng được nhân cách hóa bởi Đức Christ, được phục sinh không phải về thể xác mà về mặt tâm thức—hay được giải thoát khỏi những giới hạn của cả thể xác và nguyên tắc vị kỷ trong thể trí. Đó là một quan điểm về sự phục sinh của con người.

Whilst this will occur for all human Monads in the course of evo­lutionary time, certain men evolve so far ahead of the Race that by liv­ing a particular mode of life, known as ‘treading the Path’ (of hastened attainment) and outgrowing the natural human egoism (ahamkara) they become freed or ‘resurrected’ not in but from the ‘tomb’ and ‘deadness’ of the flesh.

Trong khi điều này sẽ xảy ra đối với tất cả các Chân Thần của con người trong quá trình thời gian tiến hóa, một số người tiến hóa vượt xa Nhân Loại đến mức bằng cách sống một lối sống đặc biệt, được gọi là "bước đi trên Thánh Đạo" (để đạt được nhanh chóng) và vượt qua lòng vị kỷ tự nhiên của con người (ahamkara), họ trở nên tự do hay "phục sinh" không phải trong mà là từ "ngôi mộ" và "cái chết" của thể xác.

The Atonement

Sự Chuộc Tội

The doctrine of the Atonement by Christ for the sins of mankind and for all individuals who ‘believe in Him’ is also susceptible of a theosophical interpretation. The attainment of Christhood or Adeptship, for example, brings full and conscious realisation of one­ness with the Christ-nature within every human being. The symbols of Christ as Bridegroom and the Heavenly Marriage are appropriately used to describe this interior unification. Oneness achieved, the as­cended One pours forth into, and shares with, every human being His own perfected spiritual power, life and consciousness. In varying de­grees according to capacity to respond, this enables the human being in bodily life to resist temptation, to renounce the world, the flesh and the devil and ultimately to realize his or her own spiritual selfhood as an immortal and an eternal being.

Giáo lý về Sự Chuộc Tội của Đức Christ cho tội lỗi của nhân loại và cho tất cả các cá nhân "tin vào Ngài" cũng có thể được diễn giải theo thông thiên học. Ví dụ, việc đạt được địa vị Đức Christ hay Chân sư mang lại sự chứng ngộ đầy đủ và có ý thức về sự hợp nhất với bản chất Đức Christ bên trong mỗi con người. Các biểu tượng của Đức Christ như Chàng Rể và Hôn Nhân Thiêng Liêng được sử dụng một cách thích hợp để mô tả sự hợp nhất nội tại này. Khi đạt được sự hợp nhất, Đấng đã thăng lên tuôn đổ vào, và chia sẻ với, mọi người sức mạnh, sự sống và tâm thức tinh thần hoàn hảo của Ngài. Ở các mức độ khác nhau tùy theo khả năng đáp ứng, điều này cho phép con người trong cuộc sống thể xác chống lại sự cám dỗ, từ bỏ thế gian, thể xác và ma quỷ và cuối cùng nhận ra bản ngã tinh thần của mình như một hữu thể bất tử và vĩnh cửu.

Thus viewed, the Atonement is an interior procedure, an atone­ment in point of fact. A transmission of light rather than a transfer of blood and an inpouring of spiritualised and perfected life. It is the shedding of wisdom, not of physical blood and water from the wounds of the Christ upon the cross.

Như vậy, Sự Chuộc Tội được xem như là một thủ tục nội tại, một sự chuộc tội trên thực tế. Một sự truyền dẫn ánh sáng hơn là một sự chuyển giao máu và một sự tuôn đổ sự sống tinh thần và hoàn hảo. Đó là sự đổ xuống của minh triết, không phải máu và nước thể xác từ những vết thương của Đức Christ trên thập giá.

One’s thought is thus lead to the Christ Indwelling, the interior Christ Principle and Nature (Atma-Buddhi) in every human being, the ‘Christ in you’82 and ‘the God that worketh in you’ of St Paul. Our Lord Himself affirmed this, His unfailing Presence in man to his disciple, ‘I am in my Father and ye in me, and I in you’ and to all mankind in His last words upon the Cross, ‘Lo, I am with you always even unto the end of the world’.83

Do đó, người ta được dẫn dắt đến Đức Christ An Trú, Nguyên Tắc và Bản Chất Đức Christ nội tại (Atma-Bồ đề) trong mỗi con người, "Đức Christ trong bạn" và "Thượng đế làm việc trong bạn" của Thánh Paul. Chính Đức Chúa của chúng ta đã khẳng định điều này, Sự Hiện Diện không lay chuyển của Ngài trong con người với đệ tử của Ngài, "Ta ở trong Cha Ta và các con ở trong Ta, và Ta ở trong các con" và với tất cả nhân loại trong những lời cuối cùng của Ngài trên Thập Giá, "Này, Ta luôn ở cùng các con cho đến tận thế".

Moreover, this interior atonement does not prevent the operation of the Law of Cause and Effect nor wipe out the effects of the operation of karma upon those who have deliberately, wilfully and continuously sinned, does not wash their souls until they are whiter than snow, re­gardless of evil deliberately done.

Hơn nữa, sự chuộc tội nội tại này không ngăn cản sự vận hành của Định luật Nhân Quả cũng như không xóa bỏ những ảnh hưởng của sự vận hành của nghiệp quả đối với những người đã cố ý, cố tình và liên tục phạm tội, không rửa sạch linh hồn của họ cho đến khi chúng trắng hơn tuyết, bất kể điều ác đã cố ý gây ra.

The Christ Indwelling

Đức Christ An Trú

This approach would seem to bring us near to the heart of Chris­tianity, even of all religions, for the existence within man of the Christ Presence, is indeed man’s assurance of ‘salvation’ or ultimate attain­ment of Christhood. This divine ministration was declared by the Lord to be universal and implies in Him all-inclusive wisdom, love and compassion. One remembers His words, ‘And other sheep I have which are not of this fold: them also I must bring, and they shall hear my voice; and there shall be one fold and one shepherd’.84

Cách tiếp cận này dường như đưa chúng ta đến gần trái tim của Cơ đốc giáo, thậm chí của tất cả các tôn giáo, vì sự tồn tại bên trong con người về Sự Hiện Diện của Đức Christ, thực sự là sự đảm bảo của con người về "sự cứu rỗi" hay sự đạt được cuối cùng của địa vị Đức Christ. Sự phù trợ thiêng liêng này đã được Đức Chúa tuyên bố là phổ quát và ngụ ý trong Ngài sự minh triết, tình thương và lòng trắc ẩn bao gồm tất cả. Người ta nhớ lại những lời của Ngài, "Ta còn có những con chiên khác không thuộc đàn này: Ta cũng phải dẫn chúng về, và chúng sẽ nghe tiếng Ta; và sẽ chỉ có một đàn và một người chăn".

Thus the Lord Christ Himself regards all beings as if they were His only child and this concern for all, we are assured, will never cease and He will not depart from the earth until every human being reaches Christhood, or is ‘saved'; for His ministration never ebbs but always flows, never declines but is always at its maximum. In this sense the term ‘Christ’ implies also a supreme wisdom and love operating as a function within the depth of man’s being, Christhood pertaining to the beyond which is also within, like the moon reflected in water or a flower in a mirror.

Như vậy, chính Đức Christ xem tất cả chúng sinh như thể chúng là đứa con duy nhất của Ngài và mối quan tâm này đối với tất cả, chúng ta được đảm bảo, sẽ không bao giờ ngừng và Ngài sẽ không rời khỏi trái đất cho đến khi mọi người đạt đến địa vị Đức Christ, hoặc được "cứu rỗi"; vì sự phù trợ của Ngài không bao giờ suy yếu mà luôn tuôn chảy, không bao giờ suy giảm mà luôn ở mức tối đa. Theo nghĩa này, thuật ngữ "Đức Christ" cũng ngụ ý một sự minh triết và tình thương tối thượng hoạt động như một chức năng trong chiều sâu hữu thể của con người, địa vị Đức Christ liên quan đến cõi bên kia vốn cũng ở bên trong, giống như mặt trăng phản chiếu trong nước hoặc một bông hoa trong gương.

This view, however imperfectly here expressed, lifts our subject far above the limitations of dogma, doctrine and domination. One rises in thought to that level at which God and man exist as one, and the Lord Christ is revealed not only as a Divine Visitant to earth two thou­sand years ago, but also as an essential part of the spiritual Self of man, the Christ Indwelling.

Tuy nhiên, quan điểm này, dù được diễn đạt một cách không hoàn hảo ở đây, nâng chủ đề của chúng ta vượt xa những giới hạn của giáo điều, học thuyết và sự thống trị. Người ta trỗi dậy trong tư tưởng đến cấp độ mà Thượng đế và con người tồn tại như một, và Đức Christ được tiết lộ không chỉ là một Khách Viếng Thăm Thiêng Liêng đến trái đất hai nghìn năm trước, mà còn là một phần thiết yếu của Chân Ngã tinh thần của con người, Đức Christ An Trú.

Certain Christian mystics have carried the teaching further saying with Angelus Silesius,

Một số nhà thần bí Cơ đốc giáo đã mang giáo lý đi xa hơn khi nói với Angelus Silesius,

“Though Christ a thousand times in Bethlehem be born And not within thyself,

"Dù Đức Christ ngàn lần sinh ra ở Bethlehem Và không ở trong chính bạn,

Thy soul will be forlorn.

Linh hồn bạn sẽ bị bỏ rơi.

The Cross on Golgotha thou lookest to in vain,

Bạn nhìn lên Thập Giá trên Đồi Sọ một cách vô ích,

Unless within thyself it be set up again”.

Trừ khi bên trong bạn nó được dựng lại".

Temporal and Eternal Truths

Những Sự Thật Tạm Thời và Vĩnh Cửu

Let us now consider a further theosophical view of the Gospel Story. This is that the scriptures and mythologies of ancient people are composed of allegories and symbols and are not intended to be read alone as literal and historical literature. According to this view, the Gospels not only tell the history of external events in time, but also re­veal eternal truths such as the laws of being and the interior mystical experiences and attainments of nations and of men. The related inci­dents have both a temporal significance as history and in addition at least four timeless meanings, Cosmic, Solar, Human and Initiatory or concerning the Path Life and its attainments.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét một quan điểm thông thiên học khác về Câu Chuyện Phúc Âm. Đó là kinh sách và thần thoại của người xưa được cấu thành từ những câu chuyện ngụ ngôn và biểu tượng và không nhằm mục đích chỉ được đọc như văn học lịch sử và theo nghĩa đen. Theo quan điểm này, các sách Phúc Âm không chỉ kể lại lịch sử của các sự kiện bên ngoài theo thời gian, mà còn tiết lộ những sự thật vĩnh cửu như các định luật của hữu thể và những kinh nghiệm và thành tựu thần bí nội tại của các quốc gia và của con người. Các sự cố liên quan có cả ý nghĩa tạm thời như lịch sử và ngoài ra ít nhất bốn ý nghĩa vượt thời gian, Vũ Trụ, Thái Dương, Con Người và Điểm Đạo hoặc liên quan đến Sự Sống trên Thánh Đạo và những thành tựu của nó.

As we have seen, the central Figure in the Gospels thus also repre­sents the Divine within all Nature and in man as the Christ In-dwelling, the Logos of the Soul. So the Gospel story is also enacted within and by the Soul of every human being, the Nativity of Christ, for example, representing a spiritual ‘rebirth’. In the Cosmos, the Nativity describes the ‘birth’ of a Universe, the dawn of a new Creative Day. In man, it describes his spiritual ascent or ‘birth’ into a new level of conscious­ness, and so a new and spiritual ideal of life, accompanied by the devel­opment or ‘gifts’, of hitherto hidden powers, the Christmas of the Soul.

Như chúng ta đã thấy, Hình Tượng trung tâm trong các sách Phúc Âm do đó cũng đại diện cho Thần Tính bên trong tất cả Thiên Nhiên và trong con người như Đức Christ An Trú, Hành Tinh Thượng đế của Linh Hồn. Vì vậy, câu chuyện Phúc Âm cũng được diễn ra bên trong và bởi Linh Hồn của mỗi con người, Sự Giáng Sinh của Đức Christ, chẳng hạn, đại diện cho một sự "tái sinh" tinh thần. Trong Vũ Trụ, Sự Giáng Sinh mô tả "sự ra đời" của một Vũ Trụ, bình minh của một Ngày Sáng Tạo mới. Trong con người, nó mô tả sự thăng tiến tinh thần hoặc "sự ra đời" của y vào một cấp độ tâm thức mới, và do đó một lý tưởng sống mới và tinh thần, đi kèm với sự phát triển hoặc "những món quà" về những quyền năng trước đây bị che giấu, Lễ Giáng Sinh của Linh Hồn.

I close with what I regard as an ideal Act of Faith:

Tôi xin kết thúc bằng những gì tôi coi là một Hành Động Đức Tin lý tưởng:

‘We believe that God is Love, and Power, and Truth and Light; that perfect justice rules the world; that all His sons shall one day reach His feet, however far they stray. We hold the Fatherhood of God, the Brotherhood of man; we know that we do serve Him best when best we serve our brother man. So shall His blessing rest on us and peace for­ever more. Amen’ {The Liturgy of the Liberal Catholic Church).

"Chúng ta tin rằng Thượng đế là Tình Thương, và Quyền Năng, và Sự Thật và Ánh Sáng; rằng công lý hoàn hảo cai trị thế giới; rằng tất cả các con trai của Ngài một ngày nào đó sẽ đến chân Ngài, dù họ có đi lạc đến đâu. Chúng ta nắm giữ Quyền Phụ của Thượng đế, Tình Huynh Đệ của con người; chúng ta biết rằng chúng ta phụng sự Ngài tốt nhất khi chúng ta phụng sự đồng loại của mình tốt nhất. Như vậy, phước lành của Ngài sẽ ở trên chúng ta và bình an mãi mãi. Amen" {Phụng Vụ của Giáo Hội Công Giáo Tự Do).

Theosophy in New Zealand, Vol. 30, No. 3, 1969, p. 57

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 30, Số 3, 1969, tr. 57

169—

Christmas and the Soul of Man—Lễ Giáng Sinh và Linh Hồn Con Người

The student of mystical Christianity sees timeless truths mirrored in the incidents of the life of our Lord, each of which has its cos­mic, solar, planetary, racial, individual, psychological and physi­cal significance.

Đạo sinh của Cơ đốc giáo thần bí thấy những sự thật vượt thời gian được phản ánh trong các sự kiện trong cuộc đời của Đức Chúa của chúng ta, mỗi sự kiện đều có ý nghĩa vũ trụ, thái dương, hành tinh, chủng tộc, cá nhân, tâm lý và thể chất.

The five great stages of birth, baptism, transfiguration, crucifix­ion and ascension symbolise successive phases in the inception, the evolution and the ‘perfection’ of life and form.

Năm giai đoạn vĩ đại của sự ra đời, lễ rửa tội, sự biến hình, sự đóng đinh và sự thăng thiên tượng trưng cho các giai đoạn kế tiếp nhau trong sự khởi đầu, sự tiến hóa và sự "hoàn thiện" của sự sống và hình tướng.

At Christmas time, Christians celebrate the first or opening phase. Mystically this is termed an initiation, which means a beginning, whether of a Solar System, a planet, a race or an individual life, physi­cal, psychical, or spiritual.

Vào thời điểm Giáng Sinh, các Kitô hữu kỷ niệm giai đoạn đầu tiên hoặc giai đoạn mở đầu. Về mặt thần bí, đây được gọi là một cuộc điểm đạo, có nghĩa là một sự khởi đầu, cho dù là của một Hệ Mặt Trời, một hành tinh, một chủng tộc hay một cuộc đời cá nhân, thể chất, tâm linh hay tinh thần.

All dawns, all births, all initiations are represented and as it were focussed in the mystery drama of the birth of the Christ Child in Beth­lehem. The incidents, the environment, the conditions of that birth all have a profound esoteric meaning. The prophecies, the Annunciation, the great crowd of people in the city, the manger, the stable, the birth and the swaddling clothes, the presence of animals, Joseph’s trade and Mary’s purity, the shepherds, the angels and their song, the three pil­grim kings or Magi and their three gifts, the massacre of the innocents and the flight to Egypt—all these have their sevenfold significance.

Tất cả các bình minh, tất cả các sự ra đời, tất cả các cuộc điểm đạo đều được đại diện và như thể được tập trung vào vở kịch bí ẩn về sự ra đời của Hài Nhi Christ ở Bethlehem. Các sự kiện, môi trường, điều kiện của sự ra đời đó đều có một ý nghĩa huyền bí sâu sắc. Những lời tiên tri, Lễ Truyền Tin, đám đông người trong thành phố, máng cỏ, chuồng ngựa, sự ra đời và quần áo quấn tã, sự hiện diện của động vật, nghề nghiệp của Joseph và sự trong sạch của Mary, những người chăn cừu, các thiên thần và bài hát của họ, ba vị vua hành hương hay Magi và ba món quà của họ, vụ thảm sát những người vô tội và cuộc chạy trốn đến Ai Cập—tất cả những điều này đều có ý nghĩa thất phân của chúng.

In this article I offer a psycho-spiritual interpretation of the birth of the Christ Child which Christians celebrate at Christmas time. The manger of the stable of the inn suggests the extreme of unworldliness and simplicity and refers to the condition of mind and heart to which the individual has quite naturally come when a certain phase of spiri­tual evolution is entered upon.

Trong bài viết này, tôi đưa ra một cách giải thích tâm lý-tinh thần về sự ra đời của Hài Nhi Christ mà các Kitô hữu kỷ niệm vào thời điểm Giáng Sinh. Máng cỏ của chuồng ngựa của quán trọ cho thấy sự cực đoan của sự siêu trần và giản dị và đề cập đến trạng thái của thể trí và trái tim mà cá nhân đã hoàn toàn tự nhiên đạt đến khi một giai đoạn nhất định của sự tiến hóa tinh thần được bước vào.

Theosophically, this phase, which is a veritable spiritual rebirth, might be described as the awakening of the Buddhic vehicle and the dawning of Buddhic consciousness. To use an analogy from plant life, the birth of the Christ Child in the human heart might be described as the quite natural germination of the seeds of Buddhic consciousness in the Ego of man.

Về mặt Thông Thiên Học, giai đoạn này, vốn là một sự tái sinh tinh thần thực sự, có thể được mô tả là sự thức tỉnh của vận cụ Bồ đề và sự bình minh của tâm thức Bồ đề. Để sử dụng một phép loại suy từ đời sống thực vật, sự ra đời của Hài Nhi Christ trong trái tim con người có thể được mô tả là sự nảy mầm hoàn toàn tự nhiên của hạt giống tâm thức Bồ đề trong Chân Ngã của con người.

In Christian mysticism this is called the Christ consciousness be­cause one effect of this germination upon the individual is the revela­tion of the oneness of all life. First in momentary flashes, and later continuously, the ‘newborn’ knows himself as one with all. As sym­bolised by the prophecies, this realisation has been slowly dawning upon him for several lives, but hitherto it has been largely an intellec­tual concept. Now it begins to be a living experience. The neophyte en­ters vividly into the life experiences of others. He shares their sorrows, knows as his own their joys, their hopes, their fears. He knows also that the fulfilment of his life is intimately bound up with the fulfilment of all life, not only human but animal, plant, mineral and angelic.

Trong thần bí học Cơ đốc giáo, điều này được gọi là tâm thức Đức Christ bởi vì một tác động của sự nảy mầm này đối với cá nhân là sự mặc khải về sự hợp nhất của tất cả sự sống. Đầu tiên trong những khoảnh khắc thoáng qua, và sau đó liên tục, "người mới sinh" biết mình là một với tất cả. Như được tượng trưng bởi những lời tiên tri, sự nhận ra này đã từ từ lóe lên trong y trong nhiều kiếp, nhưng cho đến nay nó phần lớn là một khái niệm trí tuệ. Bây giờ nó bắt đầu là một kinh nghiệm sống động. Người sơ cơ bước vào một cách sinh động vào những kinh nghiệm sống của người khác. Y chia sẻ nỗi buồn của họ, biết niềm vui, hy vọng, nỗi sợ hãi của họ như của chính mình. Y cũng biết rằng sự viên mãn của cuộc đời y gắn bó mật thiết với sự viên mãn của tất cả sự sống, không chỉ của con người mà còn của động vật, thực vật, khoáng vật và thiên thần.

This self-unification with all life is called the ‘Christ Conscious­ness’ because our Lord displayed it to the highest possible degree. Such words of His as: ‘Inasmuch as ye have done it unto the least of these my little ones, ye have done it unto Me’: ‘Lo, I am with you al­ways, even unto the end of the world’—these sayings describe the state of consciousness known in technical occultism as omnipresence.

Sự tự hợp nhất với tất cả sự sống này được gọi là "Tâm Thức Đức Christ" bởi vì Đức Chúa của chúng ta đã thể hiện nó ở mức độ cao nhất có thể. Những lời của Ngài như: "Khi các ngươi đã làm điều đó cho một trong những người bé mọn nhất của ta, thì các ngươi đã làm điều đó cho Ta": "Này, Ta luôn ở cùng các ngươi, cho đến tận thế"—những câu nói này mô tả trạng thái tâm thức được biết đến trong huyền bí học chuyên môn là sự hiện diện khắp nơi.

Two great psychological changes quite naturally both precede and accompany entry into this state. They consist first of mental and emotional simplification and second of self-unification or the fusion of hitherto separated aspects of human nature into a unit, As a result of the first change, personal desire gradually disappears. The individual ‘wants’ no more. Emotionally and intellectually he becomes independ­ent of externals for he has found a wellspring of life, of happiness and of truth within himself. His feelings become pure, white, still. His intellect is free of supposition, free of doubt, ‘simple’, calm, direct. Ex­ternally imposed creeds, dogmas, and beliefs influence him no more; his mind is established in recognition of—not obsession by—certain basic metaphysical formulae which has become for him the keys of life, his theosophia. The second change, of self-unification or the fu­sion of emotion and intellect into a single centre of awareness and action, quite naturally accompanies this.

Hai thay đổi tâm lý lớn hoàn toàn tự nhiên vừa đi trước vừa đi kèm với việc bước vào trạng thái này. Chúng bao gồm thứ nhất là sự đơn giản hóa về thể trí và cảm xúc và thứ hai là sự tự hợp nhất hoặc sự dung hợp của các khía cạnh trước đây tách biệt của bản chất con người thành một đơn vị. Do kết quả của sự thay đổi đầu tiên, ham muốn cá nhân dần biến mất. Cá nhân không còn "muốn" nữa. Về mặt cảm xúc và trí tuệ, y trở nên độc lập với những yếu tố bên ngoài vì y đã tìm thấy một mạch nước sự sống, hạnh phúc và sự thật bên trong mình. Cảm xúc của y trở nên thuần khiết, trắng trong, tĩnh lặng. Trí tuệ của y không còn giả định, không còn nghi ngờ, "đơn giản", điềm tĩnh, trực tiếp. Các tín điều, giáo điều và niềm tin do bên ngoài áp đặt không còn ảnh hưởng đến y nữa; thể trí của y được thiết lập trong sự nhận biết—chứ không phải ám ảnh—bởi một số công thức siêu hình cơ bản đã trở thành chìa khóa của cuộc đời y, theosophia của y. Sự thay đổi thứ hai, về sự tự hợp nhất hoặc sự dung hợp của cảm xúc và trí tuệ thành một trung tâm nhận thức và hành động duy nhất, hoàn toàn tự nhiên đi kèm với điều này.

Clear-minded and unified the individual has symbolically be­come ‘as a little child’.

Với thể trí minh mẫn và hợp nhất, cá nhân đã tượng trưng cho việc trở thành "như một đứa trẻ".

This is an entirely natural process; it is the result of interior changes, of the unfoldment of the life within. It is therefore not forced. Indeed it seems doubtful whether it can be brought about artificially. Rather is it an inevitable occurrence, utterly spontaneous, perfectly natural, even thoughtless or at any rate thought-free. Tagore beauti­fully expresses the spontaneity of this change in his words: ‘He who can open the bud, does it so simply’.

Đây là một quá trình hoàn toàn tự nhiên; nó là kết quả của những thay đổi bên trong, của sự mở ra của sự sống bên trong. Do đó, nó không bị ép buộc. Thật vậy, có vẻ đáng nghi ngờ liệu nó có thể được tạo ra một cách nhân tạo hay không. Thay vào đó, nó là một sự kiện không thể tránh khỏi, hoàn toàn tự phát, hoàn toàn tự nhiên, thậm chí vô tư hoặc ít nhất là không có tư tưởng. Tagore diễn đạt một cách tuyệt vời tính tự phát của sự thay đổi này trong những lời của ông: "Người có thể mở nụ hoa, làm điều đó rất đơn giản".

Perhaps the most phenomenal concomitant of this condition of spiritual ‘budding’ is its physical result. The karma of material adver­sity begins to be outworn. As a result although no direct effort is made to obtain even the necessities of physical life, the ‘new-born’ is never in need. Although he works harder than before, his motive is not per­sonal gain. He gives himself to, loses himself in a great cause. All his wants are supplied, sometimes in abundance. Symbolically, the kings of the earth unite to lay their treasures at the Christ Child’s feet.

Có lẽ hệ quả phi thường nhất của trạng thái "nảy mầm" tinh thần này là kết quả thể chất của nó. Nghiệp quả về nghịch cảnh vật chất bắt đầu bị hao mòn. Do đó, mặc dù không có nỗ lực trực tiếp nào được thực hiện để có được ngay cả những nhu yếu phẩm của cuộc sống thể chất, "người mới sinh" không bao giờ thiếu thốn. Mặc dù y làm việc chăm chỉ hơn trước, động cơ của y không phải là lợi ích cá nhân. Y hiến mình cho, đánh mất mình trong một sự nghiệp vĩ đại. Tất cả những gì y muốn đều được cung cấp, đôi khi rất nhiều. Theo biểu tượng, các vị vua của trái đất hợp nhất để đặt kho báu của họ dưới chân Hài Nhi Christ.

What remains after this interior death and rebirth? That which re­mains is the individual centre of awareness. But the word individual does not imply separated Individuality. For one of the great experi­ences which follows the process of denudation is the progressive fad­ing of the sense of separateness. A state of unity with all is entered, first, as already said, in exhilarating flashes and later as a permanent condition of consciousness.

Điều gì còn lại sau cái chết và tái sinh nội tại này? Cái còn lại là trung tâm tâm thức cá nhân. Nhưng từ cá nhân không ngụ ý Tính Cá Thể tách biệt. Vì một trong những trải nghiệm tuyệt vời sau quá trình lột xác là sự mờ dần dần của cảm giác tách biệt. Một trạng thái hợp nhất với tất cả được bước vào, trước tiên, như đã nói, trong những khoảnh khắc phấn khởi và sau đó là một trạng thái tâm thức vĩnh viễn.

This individual centre of awareness, this sublimated self-hood, displays three attributes or powers—those of intuition, reason and will. Intuition and reason are gradually fused into one and they, with the fruits of their combined activity, remain as constituent attributes of the newborn Self.

Trung tâm tâm thức cá nhân này, bản ngã thăng hoa này, thể hiện ba thuộc tính hoặc quyền năng—đó là trực giác, lý trí và ý chí. Trực giác và lý trí dần dần hợp nhất thành một và chúng, với thành quả hoạt động kết hợp của chúng, vẫn là những thuộc tính cấu thành của Bản Ngã mới sinh.

The third attribute of the Self consists of an awakened and burn­ing will to know, to ascend, to conquer. This arises from fathomless depths within the centre of existence. Its presence and activity is expe­rienced as a continuous and mounting determination to break all fet­ters, pierce all resistance to its own free, full and perfect manifestation. Once awakened it never sleeps. Although its decrees may not always be ratified in action, especially at first, such temporary frustration has no effect upon it. Ever the will to victory mounts to become the one in­creasing purpose of life, the one exalting power.

Thuộc tính thứ ba của Bản Ngã bao gồm một ý chí thức tỉnh và cháy bỏng để biết, để thăng lên, để chinh phục. Điều này phát sinh từ những chiều sâu khôn lường bên trong trung tâm tồn tại. Sự hiện diện và hoạt động của nó được trải nghiệm như một quyết tâm liên tục và gia tăng để phá vỡ mọi xiềng xích, xuyên thủng mọi sự kháng cự đối với sự biểu hiện tự do, trọn vẹn và hoàn hảo của chính nó. Một khi đã thức tỉnh, nó không bao giờ ngủ. Mặc dù các sắc lệnh của nó có thể không phải lúc nào cũng được phê chuẩn trong hành động, đặc biệt là lúc đầu, nhưng sự thất vọng tạm thời như vậy không có ảnh hưởng gì đến nó. Ý chí chiến thắng luôn tăng lên để trở thành mục đích sống duy nhất, quyền năng tôn vinh duy nhất.

Though concentrated at burning-glass intensity in the individual, this will is known by him as impersonal, universal and in this resides its potency. Unconquerable, undiminished, pertaining to eternity, it becomes the fiery centre upon which individual existence is established.

Mặc dù tập trung ở cường độ thấu kính hội tụ trong cá nhân, nhưng ý chí này được y biết đến là vô ngã, phổ quát và ở đây có hiệu lực của nó. Bất khả chiến bại, không suy giảm, thuộc về vĩnh cửu, nó trở thành trung tâm rực lửa mà trên đó sự tồn tại cá nhân được thiết lập.

Thus the One Will crowns, completes the three-fold centre of awareness in man, which remains when all else has been ‘slain’. Intu­ition, reason and the intellectual light which is the result of their blended activity—these, fused in and empowered by the fire of will, these remain. They also are symbolised by the three kings, whose gifts represent the powers of the three attributes of intuition, intellect and will.

Do đó, Ý Chí Duy Nhất lên ngôi, hoàn thành trung tâm tâm thức tam phân trong con người, vốn vẫn còn khi mọi thứ khác đã bị ‘giết chết’. Trực giác, lý trí và ánh sáng trí tuệ vốn là kết quả của hoạt động pha trộn của chúng—những điều này, được hợp nhất và trao quyền bởi ngọn lửa ý chí, vẫn còn. Chúng cũng được tượng trưng bởi ba vị vua, có quà tặng đại diện cho quyền năng của ba thuộc tính trực giác, trí tuệ và ý chí.

Such is the condition of the individual in whom the ‘new birth’ has occurred. Such is part of the time-free significance of the great event which we celebrate at Christmas time. Every annual celebration has its extension into and association with the everlasting verities mir­rored in the event in time. Year by year, the Christ Child is born in the hearts of individuals throughout the world. From the remotest ages, men and women have found and trodden the steep and narrow way, have entered in at the straight gate which only opens inwards and leads to victory over death and ascent ‘to the right hand of the Father’.

Đó là trạng thái của cá nhân mà trong đó ‘sự tái sinh’ đã xảy ra. Đó là một phần ý nghĩa vượt thời gian của sự kiện trọng đại mà chúng ta kỷ niệm vào dịp Giáng sinh. Mọi lễ kỷ niệm hàng năm đều có sự mở rộng và liên kết với những chân lý vĩnh cửu được phản ánh trong sự kiện theo thời gian. Năm này qua năm khác, Hài Nhi Christ được sinh ra trong trái tim của các cá nhân trên khắp thế giới. Từ những thời đại xa xôi nhất, những người nam và nữ đã tìm thấy và bước đi trên con đường dốc và hẹp, đã bước vào cổng hẹp vốn chỉ mở vào trong và dẫn đến chiến thắng trước cái chết và sự thăng lên ‘bên hữu của Cha’.

The great outpouring upon the world which occurs at Christmas time quickens the evolution of all life in all kingdoms of Nature, has­tens for all beings the time of new-birth. Thus every Christmas consti­tutes to all men a great spiritual opportunity. A gateway opens, a light beckons, angel presences minister to the soul, encouraging its re­sponse. The Initiates and Adepts Who have passed through draw near; for They are the Shepherds of Souls. The animal in man is irradiated by spiritual light and is therefore more easily sublimated. At Christmas time the individual and the race thus receive a spiritual stimulus under which if they choose they can move rapidly forward on their evolutionary pilgrimage.

Lần tuôn đổ vĩ đại trên thế giới xảy ra vào dịp Giáng sinh thúc đẩy sự tiến hóa của mọi sự sống trong tất cả các giới của Thiên Nhiên, đẩy nhanh thời điểm tái sinh cho tất cả chúng sinh. Do đó, mỗi dịp Giáng sinh tạo thành một cơ hội tinh thần lớn cho tất cả mọi người. Một cổng mở ra, một ánh sáng vẫy gọi, sự hiện diện của thiên thần phục vụ linh hồn, khuyến khích sự đáp ứng của nó. Các điểm đạo đồ và Chân sư vốn đã vượt qua đến gần; vì Các Ngài là những Người Chăn Dắt Linh Hồn. Con vật trong con người được chiếu rọi bởi ánh sáng tinh thần và do đó dễ dàng được thăng hoa hơn. Vào dịp Giáng sinh, cá nhân và nhân loại do đó nhận được một sự kích thích tinh thần mà theo đó nếu họ chọn, họ có thể tiến nhanh trên cuộc hành hương tiến hóa của mình.

The great essential would seem to be that the individual and the race should live up to their evolutionary position. He who passes through the great gateway forsakes those indulgences, habits and am­bitions which he has outgrown. He responds to the call of the highest within him and of the higher life. He becomes ‘as a little child’ in pu­rity, desirelessness and intellectual clarification. For this is part of the mystical meaning of the words of the Christ: ‘Unless ye shall receive the Kingdom of Heaven as a little child, ye shall in no wise enter therein’.

Điều thiết yếu lớn lao dường như là cá nhân và nhân loại nên sống theo vị thế tiến hóa của họ. Y vốn vượt qua cổng lớn từ bỏ những thú vui, thói quen và tham vọng mà y đã vượt qua. Y đáp lại tiếng gọi của điều cao cả nhất bên trong y và của cuộc sống cao cả hơn. Y trở nên ‘như một đứa trẻ nhỏ’ trong sự thuần khiết, vô dục và sự làm sáng tỏ trí tuệ. Vì đây là một phần ý nghĩa huyền bí trong những lời của Đức Christ: ‘Nếu các ngươi không nhận được Thiên Giới như một đứa trẻ nhỏ, các ngươi sẽ không thể vào đó được’.

Christmas is a great reminder of these truths, an annual call to mankind symbolically to ‘sell all that thou hast and follow Me’. The majority of men ‘turn sorrowfully away, for they are of great posses­sions’. The few forsake all and follow Him. Thereafter He makes of them ‘fishers of men’.

Giáng sinh là một lời nhắc nhở tuyệt vời về những sự thật này, một lời kêu gọi hàng năm đối với nhân loại một cách tượng trưng để ‘bán tất cả những gì ngươi có và đi theo Ta’. Phần lớn những người nam và nữ ‘buồn bã quay đi, vì họ có rất nhiều của cải’. Số ít từ bỏ tất cả và đi theo Ngài. Sau đó, Ngài biến họ thành ‘những người đánh bắt người’.

Theosophy in Australia, 3, 6 December 1938, p. 4

Theosophy in Australia, 3, 6 December 1938, tr. 4

170—

The Life of Christ as Revelation of Ageless Truths—Cuộc Đời của Đức Christ như Sự Mặc Khải của Những Chân Lý Vĩnh Cửu