← Sharing the Light I-Song ngữ_upscaled

When the Pupil is Ready, The Master Appears—Khi Đệ Tử Sẵn Sàng, Chân Sư Xuất Hiện

When the Pupil is Ready, The Master Appears—Khi Đệ Tử Sẵn Sàng, Chân Sư Xuất Hiện

Whenever a worthy neophyte’s aspiring thoughts are turned in search of those aspects of the eternal wisdom which he can assimilate, and of that Temple of the Mysteries where that wisdom is to be found, he is never refused admission to the Sanctuary, for this is a law both of life itself and of the Mysteries, under which law no one ever selflessly cries for light in vain. The sincere search for truth, understanding and knowledge, sought for their own sake and solely with altruistic motives, must always be assisted by the Guardians of those treasures and granted in the full­est measures to the neophyte according to his karma and interior development.

Bất cứ khi nào những tư tưởng đầy khát vọng của một người sơ cơ xứng đáng hướng đến việc tìm kiếm những khía cạnh của minh triết vĩnh cửu mà y có thể đồng hóa, và Đền thờ của Những Điều Huyền Bí, nơi có thể tìm thấy minh triết đó, y không bao giờ bị từ chối vào Thánh Địa, vì đây là một định luật của cả bản thân sự sống và của Những Điều Huyền Bí, theo định luật này, không ai bao giờ vô tư kêu xin ánh sáng một cách vô ích. Sự tìm kiếm chân thành về chân lý, sự thấu hiểu và tri thức, được tìm kiếm vì lợi ích của chính chúng và chỉ với những động cơ vị tha, phải luôn được hỗ trợ bởi những Người Bảo Vệ những kho báu đó và được ban cho người sơ cơ ở mức độ đầy đủ nhất theo nghiệp quả và sự phát triển nội tại của y.

Theosophy in New Zealand, Vol. 39, No. 4, 1979, p. 78

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 39, Số 4, 1979, tr. 78

16

One Word for All Aspirants—Try—Một Lời Cho Tất Cả Những Người Chí Nguyện—Hãy Cố Gắng

Stairway to Discipleship

Cầu Thang Đến Địa Vị Đệ Tử

Following our Keynote for 1979: ‘One word for all aspirants: Try’, from the revered Master Kuthumi, I offer thoughts upon the Path­way to Discipleship which is in actuality a stairway. The disciple to be mounts this stairway step by step and ultimately arrives at the ‘door’ of the Master’s ‘house’ and ‘home’ and His Presence therein—a wonderful experience; for the Master’s consciousness includes a state of uttermost selflessness, resultant happiness mounting on occasion to bliss and the ability to solve all problems ‘intellectually’ as it were and to know all truth from the most mun­dane—the atom—to the most sublime—the Supreme Source of all, the Godhead without and within him (one Being).

Tiếp theo Chủ Đề Chính của chúng ta cho năm 1979: ‘Một lời cho tất cả những người chí nguyện: Hãy Cố Gắng’, từ Chân sư Kuthumi đáng kính, tôi xin đưa ra những suy nghĩ về Con Đường đến Địa Vị Đệ Tử, vốn thực chất là một cầu thang. Đệ tử phải leo lên cầu thang này từng bước một và cuối cùng đến ‘cánh cửa’ ‘nhà’ và ‘tổ ấm’ của Chân sư và Sự Hiện Diện của Ngài ở đó—một trải nghiệm tuyệt vời; vì tâm thức của Chân sư bao gồm một trạng thái vô ngã tột cùng, hạnh phúc kết quả đôi khi lên đến cực lạc và khả năng giải quyết tất cả các vấn đề ‘về mặt trí tuệ’ như nó vốn là và biết tất cả chân lý từ trần tục nhất—nguyên tử—đến cao cả nhất—Nguồn Tối Cao của tất cả, Thượng đế bên ngoài và bên trong y (một Hữu thể).

The disciple, of course, enters this Presence very gradually and guardedly with the Master watching as each ‘stair’ is mounted—sometimes joyously and with relative ease, sometimes with re­strictions but always with high endeavour.

Đệ tử, tất nhiên, bước vào Sự Hiện Diện này rất dần dần và thận trọng với Chân sư theo dõi khi mỗi ‘bậc thang’ được leo lên—đôi khi vui vẻ và tương đối dễ dàng, đôi khi có những hạn chế nhưng luôn luôn với nỗ lực cao.

Each mounting and each successive ‘step’ brings its own interior award, reward—chiefly in terms of participating in the Master’s state of consciousness. This includes reductions—step by step—of the il­lusion of separateness and entry into the experience of the truth of unity.

Mỗi lần leo lên và mỗi ‘bước’ kế tiếp mang lại phần thưởng bên trong của riêng nó, phần thưởng—chủ yếu là về việc tham gia vào trạng thái tâm thức của Chân sư. Điều này bao gồm việc giảm bớt—từng bước một—ảo tưởng về sự tách biệt và bước vào trải nghiệm về chân lý của sự hợp nhất.

Eventually, as Adeptship is approached and reached, the to­tality of one single life in every separate form is fully known. Thus, Jesus is made to say ‘I and my Father are one’.

Cuối cùng, khi Địa vị Chân sư được tiếp cận và đạt được, toàn bộ một cuộc sống duy nhất trong mọi hình tướng riêng biệt được biết đến đầy đủ. Vì vậy, Đức Jesus đã nói ‘Ta và Cha ta là một’.

This wondrous path, this ‘stairway’ is ever present and al­ways available to the individual who instinctively believes in its existence and unyieldingly resolves to find and ascend it to the ‘heights’—namely, realized unbreakable oneness with all else that exists and so of course with all sentient creatures and beings.

Con đường kỳ diệu này, ‘cầu thang’ này luôn hiện diện và luôn sẵn sàng cho cá nhân, người theo bản năng tin vào sự tồn tại của nó và kiên quyết giải quyết để tìm và leo lên nó đến ‘đỉnh cao’—cụ thể là, nhận ra sự hợp nhất không thể phá vỡ với tất cả những gì tồn tại và do đó tất nhiên là với tất cả các sinh vật và hữu thể hữu tri.

On the summit, mystically though very effectively, stands a ‘Caller’ or an embodied ‘Power’, an incarnate ‘Truth revealer’ who calls perpetually to all human beings but is heard in this ep­och by only the few.

Trên đỉnh, một cách huyền bí nhưng rất hiệu quả, có một ‘Người Gọi’ hoặc một ‘Quyền Năng’ được thể hiện, một ‘người tiết lộ Chân lý’ hóa thân, người liên tục kêu gọi tất cả con người nhưng chỉ được một số ít nghe thấy trong thời đại này.

The message includes the ‘Call’—‘Mount these stairs, for on the summit which is attainable by you, exists indestructible peace of heart and mind, a serenity that nothing on earth below can ever destroy’.

Thông điệp bao gồm ‘Lời Kêu Gọi’—‘Hãy leo lên những bậc thang này, vì trên đỉnh mà bạn có thể đạt được, tồn tại sự bình yên không thể phá hủy của trái tim và thể trí, một sự thanh thản mà không có gì trên trái đất bên dưới có thể phá hủy’.

‘Climb, then, for the banisters exist to which you may turn when­ever aid is needed, especially a sense of the danger of falling into the depths below or lack of the strength needed to reach the heights’.

‘Vậy thì hãy leo lên, vì có những tay vịn tồn tại mà bạn có thể quay sang bất cứ khi nào cần sự giúp đỡ, đặc biệt là cảm giác về sự nguy hiểm của việc rơi xuống vực sâu bên dưới hoặc thiếu sức mạnh cần thiết để đạt đến đỉnh cao’.

Since the ‘Caller’ is ever there and ever ‘calling’, no one at­tempts the great ascent in loneliness, the required help being ever available.

Vì ‘Người Gọi’ luôn ở đó và luôn ‘kêu gọi’, nên không ai cố gắng thực hiện cuộc leo lên vĩ đại trong cô đơn, sự giúp đỡ cần thiết luôn sẵn sàng.

One warning is included in the ‘Call’. It tells of one danger from which the whole undertaking may fail, if only temporarily. This danger is in one word—selfishness—meaning, a personal desire to bene­fit in some aspect of human life from occult and spiritual success.

Một cảnh báo được bao gồm trong ‘Lời Kêu Gọi’. Nó kể về một mối nguy hiểm mà từ đó toàn bộ nỗ lực có thể thất bại, dù chỉ là tạm thời. Mối nguy hiểm này nằm trong một từ—ích kỷ—có nghĩa là, một mong muốn cá nhân được hưởng lợi trong một số khía cạnh của cuộc sống con người từ thành công huyền bí và tinh thần.

‘Therefore’, says the ‘Call’, ‘even at the very first step, before it is taken, in fact, eliminate wholly and completely every trace of desire for personal gain of any kind; for this is the tragic mistake the “Judas Iscariot” error—the betrayal by a kiss, a pretence of devotion, for personal gain which can lead to occult or even physical suicide, as in his case’.

‘Do đó’, ‘Lời Kêu Gọi’ nói, ‘ngay cả ở bước đầu tiên, trước khi nó được thực hiện, trên thực tế, hãy loại bỏ hoàn toàn và triệt để mọi dấu vết của mong muốn đạt được lợi ích cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào; vì đây là sai lầm bi thảm, lỗi “Judas Iscariot”—sự phản bội bằng một nụ hôn, một sự giả vờ tận tâm, vì lợi ích cá nhân có thể dẫn đến tự sát huyền bí hoặc thậm chí thể xác, như trong trường hợp của y’.

‘Fill your whole being’, the warning continues—‘every atom of your heart and your mind with ONE IDEA, ONE IDEAL: THE WELFARE OF ALL THAT EXISTS and, of course, especially of all that can and that does ever suffer.

‘Hãy lấp đầy toàn bộ hữu thể của bạn’, cảnh báo tiếp tục—‘mọi nguyên tử trong trái tim và thể trí của bạn với MỘT Ý TƯỞNG, MỘT LÝ TƯỞNG: PHÚC LỢI CỦA TẤT CẢ NHỮNG GÌ TỒN TẠI và, tất nhiên, đặc biệt là của tất cả những gì có thể và luôn đau khổ.

‘THIS IS THE GREAT SAFEGUARD, the one salvation by means of which alone the great interior ascent may successfully be made—COMPLETE SELFLESSNESS’.

‘ĐÂY LÀ SỰ BẢO VỆ TUYỆT VỜI, sự cứu rỗi duy nhất mà nhờ đó có thể thực hiện thành công cuộc leo lên vĩ đại bên trong—SỰ VÔ NGÃ HOÀN TOÀN’.

This, of course, leads to the holding out of a helping hand to others in whom may also be born the yearning for the heights.

Điều này, tất nhiên, dẫn đến việc chìa tay giúp đỡ những người khác, những người cũng có thể nảy sinh khát khao đạt đến đỉnh cao.

This is the surest ‘banister’ of all, the unbreakable and im­movable support, holding on to which success in the great inborn endeavour is assured.

Đây là ‘tay vịn’ chắc chắn nhất trong tất cả, sự hỗ trợ không thể phá vỡ và không thể lay chuyển, bám vào đó thành công trong nỗ lực bẩm sinh vĩ đại được đảm bảo.

In the words spoken to His disciples by the great Teacher of the New Testament: ‘Become Fishers of men’, meaning seek, find and help others similarly inspired.

Trong những lời mà Huấn Sư vĩ đại của Tân Ước đã nói với các đệ tử của Ngài: ‘Hãy trở thành những Người đánh bắt cá’, có nghĩa là tìm kiếm, tìm thấy và giúp đỡ những người khác có cùng nguồn cảm hứng.

Such, in part, are thoughts associated with our ideal for 1979: ‘One word for all aspirants—TRY! ’

Đó là một phần những suy nghĩ liên quan đến lý tưởng của chúng ta cho năm 1979: ‘Một lời cho tất cả những người chí nguyện—HÃY CỐ GẮNG! ’

Theosophy in New Zealand, Vol. 40, No. 2, 1979, p. 33

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 40, Số 2, 1979, tr. [2]33

17

Failure and Success—Thất Bại và Thành Công

When the soul looks back at its own defects, it sees that they are numerous, far out-numbering the victories. Year after year it seems to have been beaten, to have weakly given way. At the time each defeat seems final. Despair of victory becomes a constant bitter draught. True, the soul struggles on after each defeat, but victo­ries seem few and fleeting, whilst failures are continuous.

Khi linh hồn nhìn lại những khiếm khuyết của chính nó, nó thấy rằng chúng rất nhiều, vượt xa số lượng những chiến thắng. Năm này qua năm khác, dường như nó đã bị đánh bại, đã yếu ớt nhượng bộ. Vào thời điểm đó, mỗi thất bại dường như là cuối cùng. Tuyệt vọng về chiến thắng trở thành một thứ thuốc đắng liên tục. Đúng vậy, linh hồn tiếp tục đấu tranh sau mỗi thất bại, nhưng những chiến thắng dường như ít ỏi và phù du, trong khi những thất bại thì liên tục.

If, however, one looks back later in life, when perhaps there may have been certain victories, one sees less the defeats and acts of surrender, than the struggle which preceded each of them. Then it is perceived that every effort, every attempt at self-mastery, even though temporarily unsuccessful was actually developing power: No defeat is all failure. Struggles which are apparently ineffective are never entirely futile. Their effect is cumulative. Every moment of effort brings an accession of strength until at last strength matches weakness, becomes sufficient for all demands.

Tuy nhiên, nếu người ta nhìn lại sau này trong cuộc đời, khi có lẽ đã có những chiến thắng nhất định, người ta sẽ thấy ít hơn những thất bại và hành động đầu hàng, hơn là cuộc đấu tranh đã xảy ra trước mỗi thất bại đó. Sau đó, người ta nhận thấy rằng mọi nỗ lực, mọi cố gắng để tự chủ, mặc dù tạm thời không thành công, thực sự đang phát triển sức mạnh: Không có thất bại nào là hoàn toàn thất bại. Những cuộc đấu tranh dường như không hiệu quả không bao giờ hoàn toàn vô ích. Hiệu quả của chúng là tích lũy. Mỗi khoảnh khắc nỗ lực mang lại thêm sức mạnh cho đến khi cuối cùng sức mạnh phù hợp với điểm yếu, trở nên đủ cho mọi yêu cầu.

Thus there is a law of conservation of energy in the moral as well as the physical world. No genuine effort is ever wasted, and as long as an effort is made, no defeat is a complete failure.

Như vậy, có một định luật bảo toàn năng lượng trong thế giới đạo đức cũng như vật chất. Không có nỗ lực chân thành nào bị lãng phí, và chừng nào còn nỗ lực, thì không có thất bại nào là hoàn toàn thất bại.

All failures come from within, as do all successes. No external power is either to be blamed for the one or praised for the other. The seeds of both are present in the aspirant from the beginning: which shall sprout and grow the stronger depends upon the individual, especially his mode of thought and life.

Mọi thất bại đều đến từ bên trong, cũng như mọi thành công. Không có thế lực bên ngoài nào bị đổ lỗi cho điều này hay được ca ngợi cho điều kia. Hạt giống của cả hai đều có mặt trong người chí nguyện ngay từ đầu: hạt giống nào sẽ nảy mầm và phát triển mạnh hơn tùy thuộc vào cá nhân, đặc biệt là phương thức suy nghĩ và cuộc sống của y.

Occultism infallibly shows a person up. Everything good or bad in him comes out. That is the value of it to the strong, the danger of it to the weak. Occultism is a force which can either bum up dross and reveal fine gold, or light up passion, inflame desire, accentuate pride.

Huyền bí học chắc chắn cho thấy một người như thế nào. Mọi thứ tốt hay xấu trong y đều lộ ra. Đó là giá trị của nó đối với người mạnh mẽ, sự nguy hiểm của nó đối với người yếu đuối. Huyền bí học là một mãnh lực có thể đốt cháy cặn bã và tiết lộ vàng tốt, hoặc thắp lên đam mê, khơi dậy ham muốn, làm nổi bật sự kiêu hãnh.

The same agency is capable of either effect. All who approach this devouring flame should beware; for it both exalts and consumes. The pure of heart have nought to fear. The prideful and the passionate are in danger from the taking of the first step. ‘Be on guard’ is blazoned over the doorway leading to the Outer Court. ‘Watch closely’ is writ­ten on the walls within. ‘Know Thyself appears above the door lead­ing to the Sanctuary.

Cùng một tác nhân có khả năng tạo ra một trong hai hiệu ứng. Tất cả những ai đến gần ngọn lửa thiêu đốt này nên cẩn thận; vì nó vừa tôn vinh vừa thiêu đốt. Người trong sạch trong tim không có gì phải sợ. Kẻ kiêu ngạo và đam mê đang gặp nguy hiểm khi thực hiện bước đầu tiên. ‘Hãy cảnh giác’ được giăng lên trên cửa dẫn đến Sân Ngoài. ‘Hãy theo dõi chặt chẽ’ được viết trên các bức tường bên trong. ‘Hãy Tự Biết Mình’ xuất hiện phía trên cánh cửa dẫn đến Thánh Địa.

It is not the Hierophants Who are responsible for the dangers, the tests and the falls. It is Nature Herself—especially Nature manifest as man. The Hierophants have neither the right nor the power to deny any individual entrance to any door that he can find open and pass through. They may warn, guide, inspire, but They may not use force. The ardent soul that presses on takes his own life in his own hands.

Không phải Các Hiệu trưởng chịu trách nhiệm cho những nguy hiểm, những thử thách và những thất bại. Chính là Bản Thân Tự Nhiên—đặc biệt là Tự Nhiên biểu hiện như con người. Các Hiệu trưởng không có quyền cũng như quyền lực để từ chối bất kỳ cá nhân nào vào bất kỳ cánh cửa nào mà y có thể tìm thấy đang mở và đi qua. Các Ngài có thể cảnh báo, hướng dẫn, truyền cảm hứng, nhưng Các Ngài không thể dùng vũ lực. Linh hồn nhiệt thành thúc đẩy cuộc sống của chính mình trong tay mình.

The Hierophants but watch, knowing that both victory and en­lightenment and defeat and failure occur.

Các Hiệu trưởng chỉ quan sát, biết rằng cả chiến thắng và khai sáng cũng như thất bại và thất bại đều xảy ra.

They also know that these are experienced within the auric enve­lope of the candidate for Adeptship.

Các Ngài cũng biết rằng những điều này được trải nghiệm bên trong noãn hào quang của ứng viên cho Địa vị Chân sư.

Theosophy in New Zealand, Vol. 3, No. 3, 1942, p. 66

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 3, Số 3, 1942, tr.66

18

The Pathway of Light—Con Đường Ánh Sáng

One of the greatest sources of inspiration for mankind must surely be the ideal of the Pathway of hastened attainment or quickened evolutionary progress. The aspiration to tread this Path is entirely an interior experience brought about when the phase of development is entered at which both the Path may be found and trodden and guidance along that Path be received from a Master of the Wisdom. Upon this Pathway, the possibility exists of the attainment of Discipleship of one of the Masters, and in due course, acceptance as an Initiated member of the Great Brotherhood of Adepts.

Một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất cho nhân loại chắc chắn phải là lý tưởng về Con Đường đạt được nhanh chóng hoặc tiến bộ thăng thượng tiến hoá nhanh chóng. Khát vọng bước đi trên Con Đường này hoàn toàn là một trải nghiệm nội tại, xảy ra khi giai đoạn phát triển được bước vào, tại đó cả Con Đường có thể được tìm thấy và bước đi, đồng thời sự hướng dẫn dọc theo Con Đường đó được nhận từ một Chân sư Minh Triết. Trên Con Đường này, có khả năng đạt được Địa vị Đệ tử của một trong các Chân sư, và đến thời điểm thích hợp, được chấp nhận làm thành viên Điểm đạo của Đại Huynh Đệ Đoàn Chân sư.

Broadcasting in America

Phát thanh ở Mỹ

A wealth of spiritual, philosophic and scientifically occult in­formation and guidance on treading the Path exists in the form of books and letters, some of these being written or inspired by Mas­ters of the Wisdom, they themselves having retained physical bod­ies. Such truly great works include: The Mahatma Letters', The Voice of the Silence—H. P. Blavatsky; Light on the Path and The Idyll of the White Lotus—M. Collins; The Bhagavad Gita -trans­lated by A. Besant; In the Outer Court and Our Elder Brethren—A. Besant; The Buddhist Catechism—H. S. Olcott; The Masters and the Path—C. W. Leadbeater; The Crest-Jewel of Wisdom—Shri Shankaracharaya; In His Name—C. Jinarajadasa; At the Feet of the Master—J. Krishnamurti.

Một kho tàng thông tin và hướng dẫn huyền bí tinh thần, triết học và khoa học về việc bước đi trên Con Đường tồn tại dưới dạng sách và thư, một số trong số này được viết hoặc được truyền cảm hứng bởi Các Chân sư Minh Triết, bản thân Các Ngài đã giữ lại thể xác. Những tác phẩm thực sự vĩ đại như vậy bao gồm: ‘Những Bức Thư Mahatma’, Tiếng Nói của Im Lặng—Bà H. P. Blavatsky; Ánh Sáng trên Đường Đạo và Bài Ca Về Hoa Sen Trắng—Bà M. Collins; Bhagavad Gita -do Bà A. Besant dịch; Trong Sân Ngoài và Các Huynh Trưởng Của Chúng Ta—Bà A. Besant; Giáo Lý Phật Giáo—Ông H. S. Olcott; Các Chân Sư và Con Đường—Ông C. W. Leadbeater; Viên Ngọc Trên Đỉnh Minh Triết—Shri Shankaracharaya; Trong Danh Ngài—Ông C. Jinarajadasa; Dưới Chân Thầy—J. Krishnamurti.

These books are also regarded as priceless contributions to the welfare and progress of all humanity. I venture to say, therefore, that the elimination or reduction of references to the existence of the Path of Discipleship and the possibility of its being trodden would be a very great deprivation both to members of the Society and to readers of theosophical literature. This is especially true in these days when spiri­tual guidance and moral upliftment are so urgently needed.

Những cuốn sách này cũng được coi là những đóng góp vô giá cho phúc lợi và sự tiến bộ của toàn thể nhân loại. Vì vậy, tôi mạo muội nói rằng việc loại bỏ hoặc giảm bớt các tham chiếu đến sự tồn tại của Con Đường Đệ Tử và khả năng bước đi trên nó sẽ là một sự tước đoạt rất lớn đối với cả các thành viên của Hội và độc giả của văn học thông thiên học. Điều này đặc biệt đúng trong những ngày này khi sự hướng dẫn tinh thần và sự nâng cao đạo đức rất cần thiết.

A great Master has written: ‘Nature has linked all parts of her Em­pire together by subtle threads of magnetic sympathy, and, there is a mutual correlation even between a star and a man; thought runs swifter than the electric fluid, and your thought will find me if projected by a pure impulse, as mine will find, has found, and often impressed your mind. We may move in cycles of activity divided — not entirely sepa­rated from each other. Like the light in the sombre valley seen by the mountaineer from his peaks, every bright thought in your mind, my Brother, will sparkle and attract the attention of your distant friend and correspondent. If thus we discover our natural Allies in the Shadow-World—your world and ours outside the precincts—and it is our law to approach every such an one if even there be but the fee­blest glimmer of the true “Tathagata” light within him—then how far easier for you to attract us’.10

Một Chân sư vĩ đại đã viết: ‘Tự Nhiên đã liên kết tất cả các phần của Đế Chế của Bà lại với nhau bằng những sợi dây cảm thông từ tính tinh tế, và có một mối tương quan lẫn nhau ngay cả giữa một ngôi sao và một con người; tư tưởng chạy nhanh hơn chất lưu điện, và tư tưởng của bạn sẽ tìm thấy tôi nếu được phóng chiếu bởi một xung động thuần khiết, như tư tưởng của tôi sẽ tìm thấy, đã tìm thấy và thường gây ấn tượng với thể trí của bạn. Chúng ta có thể di chuyển trong các chu kỳ hoạt động được chia—không hoàn toàn tách biệt nhau. Giống như ánh sáng trong thung lũng ảm đạm được người leo núi nhìn thấy từ đỉnh núi của mình, mọi tư tưởng tươi sáng trong thể trí của bạn, huynh đệ của tôi, sẽ lấp lánh và thu hút sự chú ý của người bạn và người viết thư ở xa của bạn. Nếu như vậy chúng ta khám phá ra những Đồng Minh tự nhiên của mình trong Thế Giới Bóng Tối—thế giới của bạn và thế giới của chúng ta bên ngoài khu vực—và đó là quy luật của chúng ta để tiếp cận mọi người như vậy, ngay cả khi chỉ có một tia sáng yếu ớt nhất của ánh sáng “Như Lai” chân thật bên trong y—thì bạn sẽ dễ dàng thu hút chúng ta hơn bao nhiêu’.

To fail to keep within the teachings of Theosophy the great ideal of Discipleship of an Adept Teacher would, I am personally assured, be to take the Heart and the Soul out of the Ancient Wisdom; for the Path concept constitutes the hidden Life and Light of Theosophia.

Tôi cá nhân chắc chắn rằng, nếu không giữ trong những giáo lý của Thông Thiên Học lý tưởng vĩ đại về Địa vị Đệ tử của một Huấn Sư Chân sư, thì sẽ lấy đi Trái Tim và Linh Hồn khỏi Minh Triết Cổ Xưa; vì khái niệm Con Đường cấu thành Sự Sống và Ánh Sáng ẩn giấu của Thông Thiên Học.

How the Masters May Become Realities for the Student of Theosophy

Làm Thế Nào Các Chân Sư Có Thể Trở Thành Hiện Thực Đối Với Đạo Sinh Thông Thiên Học

Dwell in thought upon all available material concerning the revered Masters.

Hãy suy ngẫm về tất cả các tài liệu có sẵn liên quan đến Các Chân sư đáng kính.

Carefully note a special interest in One or more of Them arising in your mind and heart as you do so.

Hãy cẩn thận ghi lại một sự quan tâm đặc biệt đến Một hoặc nhiều Ngài trong số Họ phát sinh trong thể trí và trái tim của bạn khi bạn làm như vậy.

If so moved, become absorbed in Their purpose: ‘To Popu­larise a Knowledge of Theosophy’.

Nếu được thúc đẩy như vậy, hãy hòa mình vào mục đích của Các Ngài: ‘Phổ Biến Kiến Thức về Thông Thiên Học’.

Perceive increasingly the tremendous importance, both to humanity as a whole and to every single individual, of this Their purpose.

Ngày càng nhận thức được tầm quan trọng to lớn, cả đối với nhân loại nói chung và đối với mọi cá nhân, về mục đích này của Các Ngài.

Form and follow the habit of dwelling upon these great Pres­ences, granting Them ever increasing time and place in your own thought and your unfolding motives for living, thus becoming increas­ingly absorbed in the concept of the existence of the Great Brother­hood and, when natural, of an individual Master.

Hình thành và tuân theo thói quen suy ngẫm về những Hiện Diện vĩ đại này, dành cho Các Ngài ngày càng nhiều thời gian và vị trí trong tư tưởng của riêng bạn và những động cơ sống đang mở ra của bạn, do đó ngày càng hòa mình vào khái niệm về sự tồn tại của Đại Huynh Đệ Đoàn và, khi tự nhiên, của một Chân sư cá nhân.

1. Do not always regard a Master as being restrictively located or using physical consciousness. Rather remember, and often repeat, the following beautiful words of H. P. Blavatsky: ‘He standeth now like a white pillar to the West upon whose face the rising sun of thought eter­nal casts its first most glorious beams. His mind like a becalmed and boundless ocean stretcheth out in shoreless space. He holdeth life and death in His strong hands’.11

Đừng luôn coi một Chân sư bị giới hạn về vị trí hoặc sử dụng tâm thức thể xác. Thay vào đó, hãy nhớ và thường xuyên lặp lại những lời tuyệt đẹp sau đây của Bà H. P. Blavatsky: ‘Giờ đây, Ngài đứng như một cây cột trắng về phía Tây, trên khuôn mặt của Ngài, mặt trời mọc của tư tưởng vĩnh cửu chiếu những tia sáng vinh quang nhất đầu tiên. Thể trí của Ngài giống như một đại dương vô tận và tĩnh lặng trải dài trong không gian vô bờ bến. Ngài nắm giữ sự sống và cái chết trong đôi tay mạnh mẽ của Ngài’.

Allow these ideas increasingly to absorb your interest in life, and in your most effective and practical work to be done for Human­ity’s sake. Form the habit of healing and helping groups and individu­als, if only mentally and privately, invoking and visualising the Masters’ Names and aid.

Hãy để những ý tưởng này ngày càng thu hút sự quan tâm của bạn đến cuộc sống và trong công việc hiệu quả và thiết thực nhất của bạn được thực hiện vì lợi ích của Nhân Loại. Hình thành thói quen chữa lành và giúp đỡ các nhóm và cá nhân, dù chỉ là về mặt trí tuệ và riêng tư, cầu khẩn và hình dung Danh Hiệu và sự trợ giúp của Các Chân sư.

Very privately and humbly offer yourself as a channel for the Masters’ benedictions to the world and, when so moved, mentally re­peat His Name or Their Names.

Một cách rất riêng tư và khiêm tốn, hãy hiến dâng bản thân bạn như một kênh dẫn những lời chúc phúc của Các Chân sư đến thế giới và, khi được thúc đẩy như vậy, hãy lặp lại trong trí Danh Hiệu của Ngài hoặc Danh Hiệu của Các Ngài.

Permit and even enforce all the above to become increasingly the very meaning, purpose and motive for your existence, your present incarnation, and your work, dedicating yourself without the very slightest thought of personal gain.

Cho phép và thậm chí thực thi tất cả những điều trên để ngày càng trở thành ý nghĩa, mục đích và động cơ cho sự tồn tại của bạn, sự lâm phàm hiện tại của bạn và công việc của bạn, cống hiến bản thân mà không hề có ý nghĩ nhỏ nhặt nào về lợi ích cá nhân.

Regularly and wisely practice the Science of Yoga.

Thường xuyên và khôn ngoan thực hành Khoa Học Yoga.

Theosophy in New Zealand, Vol. 44, No. 2, 1938, p. 42

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 44, Số 2, 1938, tr. [2]42[/h2]

19

The Pathway to Sorrow-Less-Ness—Con Đường Dẫn Đến Bớt-Đau-Khổ

The Theosophical Society may perhaps be described as an aid provided by the Masters, using which man may travel more easily, and more safely, and more swiftly than is normal, to the evolutionary stature of Adeptship. Hastened progress is very important both to the individual and the race, because it lifts them both out of sorrow, thereby reducing the extent of the pain in the world. Indeed the whole Race of men on earth—and indeed on other planets on the Round and Chain—is thereby lifted onwards towards sorrowlessness. The compassionate heart, whether of man or Superman, is ideally ever preoccupied with this one urgent ne­cessity—the reduction and ultimate removal of sorrow and suf­fering from the world. All the efforts of all the Adepts may be said to have this as their main objective. In other words, to bring all men to Nirvana is the paramount objective, as far as the human race is concerned, of the Great Brotherhood of Initiates and Adepts.

Hội Thông Thiên Học có lẽ có thể được mô tả như một sự trợ giúp do Các Chân sư cung cấp, sử dụng sự trợ giúp này, con người có thể di chuyển dễ dàng hơn, an toàn hơn và nhanh chóng hơn so với bình thường, đến tầm vóc thăng thượng tiến hoá của Địa vị Chân sư. Tiến bộ nhanh chóng là rất quan trọng đối với cả cá nhân và nhân loại, bởi vì nó nâng cả hai thoát khỏi đau khổ, do đó làm giảm mức độ đau đớn trên thế giới. Thật vậy, toàn bộ Nhân Loại trên trái đất—và thực sự là trên các hành tinh khác trên Vòng Tuần Hoàn và Dãy—do đó được nâng lên hướng tới sự bớt đau khổ. Trái tim từ bi, dù là của con người hay Siêu nhân, về mặt lý tưởng luôn bận tâm đến một nhu cầu cấp thiết này—giảm bớt và cuối cùng là loại bỏ đau khổ và thống khổ khỏi thế giới. Tất cả những nỗ lực của tất cả các Chân sư có thể được cho là có mục tiêu chính này. Nói cách khác, đưa tất cả mọi người đến Niết Bàn là mục tiêu tối thượng, liên quan đến nhân loại, của Đại Huynh Đệ Đoàn Các Điểm Đạo Đồ và Chân sư.

This supreme purpose is nowhere more clearly revealed than in the life and teachings of both the Lord Buddha and the Lord Christ. Their compassion for all creatures was immeasurable. None were excluded from their perfect love, none overlooked, none forgotten, none ignored. All beings, from the smallest insect to the most sensitive man, were included in Their consciousness and became the subjects of Their meditation and ministration.

Mục đích tối cao này không được tiết lộ rõ ràng hơn ở đâu so với trong cuộc đời và những lời dạy của cả Đức Phật và Đức Christ. Lòng trắc ẩn của Các Ngài đối với tất cả chúng sinh là vô lượng. Không ai bị loại trừ khỏi tình yêu hoàn hảo của Các Ngài, không ai bị bỏ qua, không ai bị lãng quên, không ai bị phớt lờ. Tất cả chúng sinh, từ côn trùng nhỏ nhất đến con người nhạy cảm nhất, đều được bao gồm trong tâm thức của Các Ngài và trở thành đối tượng của thiền định và sự giúp đỡ của Các Ngài.

Compassion for all that lives expressed in thought, motive, word and deed—this is the age-old message of the Teachers of the Race to a world seeking health, happiness, serenity and peace.

Lòng trắc ẩn đối với tất cả những gì sống được thể hiện trong tư tưởng, động cơ, lời nói và việc làm—đây là thông điệp lâu đời của Các Huấn Sư của Nhân Loại gửi đến một thế giới đang tìm kiếm sức khỏe, hạnh phúc, thanh thản và bình an.

Theosophy in New Zealand, Vol. 38, No. 4, 1977, p. 87

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 38, Số 4, 1977, tr. [2]87[/h2]

20—

The Ideal of Selflessness—Lý Tưởng Về Sự Vị Tha

Christians are familiar with the story of King Herod of Judea who carried out the terrible crime known as the Massacre of the Inno­cents. The account is given in the second chapter of St Matthew:

Các Kitô hữu quen thuộc với câu chuyện về Vua Herod của Judea, người đã thực hiện tội ác khủng khiếp được gọi là Vụ Thảm Sát Những Người Vô Tội. Câu chuyện được kể trong chương thứ hai của Thánh Matthew:

Now when Jesus was born in Bethlehem of Judea in the days of Herod the king, behold, there came wise men from the east to Jerusalem.

Bây giờ khi Đức Jesus được sinh ra ở Bethlehem thuộc Judea vào thời Herod làm vua, kìa, có những nhà thông thái từ phương đông đến Jerusalem.

Saying, Where is he that is born King of the Jews? for we have seen his star in the east, and are come to worship him. When Herod the king had heard these things, he was troubled, and all Jerusalem with him....

Nói rằng, Ngài là Vua của người Do Thái mới sinh ở đâu? vì chúng ta đã thấy ngôi sao của Ngài ở phương đông, và chúng ta đến để thờ phượng Ngài. Khi Vua Herod nghe những điều này, ông ta đã lo lắng, và cả Jerusalem cũng vậy....

Then Herod, when he saw that he was mocked of the wise men, was exceeding wroth, and sent forth, and slew all the children that were in Bethlehem, and in all the coasts thereof from two years old and under, according to the time which he had diligently enquired of the wise men.

Sau đó, Herod, khi thấy mình bị các nhà thông thái chế giễu, đã vô cùng tức giận, và sai đi, và giết tất cả những đứa trẻ ở Bethlehem, và ở tất cả các vùng ven biển của nó từ hai tuổi trở xuống, theo thời gian mà ông ta đã siêng năng hỏi các nhà thông thái.

We are reminded of a not dissimilar ‘fall’ or ‘descent’ by Judas Is­cariot. Judas Iscariot had been chosen by the Lord Jesus Christ as one of his disciples and must therefore have been regarded as a trustworthy devotee. Unfortunately, however, Judas fell under the temptation of fi­nancial gain, and betrayed his Master for thirty pieces of silver. This he carried out in the Garden of Gethsemane, St Matthew records the event as follows:

Chúng ta được nhắc nhở về một ‘sự sa ngã’ hoặc ‘sự xuống dốc’ không khác mấy của Judas Iscariot. Judas Iscariot đã được Đức Chúa Jesus Christ chọn làm một trong những môn đệ của Ngài và do đó hẳn phải được coi là một người sùng đạo đáng tin cậy. Tuy nhiên, thật không may, Judas đã rơi vào sự cám dỗ của lợi ích tài chính, và phản bội Huấn Sư của mình để lấy ba mươi miếng bạc. Ông ta đã thực hiện điều này trong Vườn Gethsemane, Thánh Matthew ghi lại sự kiện này như sau:

Then one of the twelve, called Judas Iscariot, went unto the chief priests, And said unto them, What will ye give me, and I will deliver him unto you? And they covenanted with him for thirty pieces of silver.

Sau đó, một trong mười hai người, tên là Judas Iscariot, đã đến gặp các thầy tế lễ cả, Và nói với họ, Các ông sẽ cho tôi cái gì, và tôi sẽ giao Ngài cho các ông? Và họ đã giao ước với ông ta ba mươi miếng bạc.

And from that time he sought opportunity to betray him....

Và từ thời điểm đó, ông ta đã tìm cơ hội để phản bội Ngài....

And while [Jesus] yet spake, lo, Judas, one of the twelve, came, and with him a great multitude with swords and staves, from the chief priests and elders of the people.

Và trong khi [Đức Jesus] vẫn còn nói, kìa, Judas, một trong mười hai người, đến, và cùng với ông ta là một đám đông lớn mang gươm và gậy, từ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão của dân chúng.

Now he that betrayed him gave them a sign, saying.

Bây giờ, kẻ đã phản bội Ngài đã cho họ một dấu hiệu, nói rằng.

Whomsover I shall kiss, that same is he: hold him fast.

Tôi hôn ai, thì đó là người đó: hãy giữ chặt người đó.

And forthwith he came to Jesus, and said, Hail, Master; and kissed him.

Và ngay lập tức ông ta đến với Đức Jesus, và nói, Chào Huấn Sư; và hôn Ngài.

And Jesus said unto him, Friend, wherefore art thou come? Then came they, and laid hands on Jesus, and took him.

Và Đức Jesus nói với ông ta, Bạn hữu, sao ngươi đến đây? Sau đó họ đến, và đặt tay lên Đức Jesus, và bắt Ngài.

Thus, not only did the trusted disciple betray his Master for per­sonal gain but he did so by means of a pretence of devotion (this is a warning to all aspirants to discipleship and advancement in the inner life that from the time of taking the first step forward—even before it is taken, in fact—every trace of selfish desire must be wholly elimi­nated from their character).

Như vậy, người môn đệ được tin tưởng không chỉ phản bội Huấn Sư của mình vì lợi ích cá nhân mà ông ta còn làm như vậy bằng cách giả vờ sùng đạo (đây là một lời cảnh báo cho tất cả những người chí nguyện cho địa vị đệ tử và sự tiến bộ trong đời sống nội tâm rằng từ thời điểm thực hiện bước tiến đầu tiên—thậm chí trước khi nó được thực hiện, trên thực tế—mọi dấu vết của ham muốn ích kỷ phải được loại bỏ hoàn toàn khỏi tính cách của họ).

If this defect exists the aspirant’s progress will always be threat­ened by the danger of attempting to use whatever occult or spiritual powers may have been developed for personal benefit. In order, there­fore, to be saved from occult suicide, it is necessary to fill one’s heart and mind with a paramount ideal—the welfare of all that lives and es­pecially of all that suffers. This is the great safeguard against the Judas Iscariot tragedy; it is the one means by which the spiritual ascent may successfully be made, namely, total and unwavering selflessness.

Nếu khuyết điểm này tồn tại, sự tiến bộ của người chí nguyện sẽ luôn bị đe dọa bởi nguy cơ cố gắng sử dụng bất kỳ quyền năng huyền bí hoặc tinh thần nào có thể đã được phát triển vì lợi ích cá nhân. Do đó, để được cứu khỏi sự tự sát huyền bí, cần phải lấp đầy trái tim và thể trí của một người bằng một lý tưởng tối thượng—phúc lợi của tất cả những gì sống và đặc biệt là của tất cả những gì đau khổ. Đây là sự bảo vệ tuyệt vời chống lại thảm kịch Judas Iscariot; đó là phương tiện duy nhất mà sự thăng tiến tinh thần có thể được thực hiện thành công, cụ thể là, sự vị tha hoàn toàn và không lay chuyển.

One is reminded of a somewhat similar but less destructive action of King Kamsa, the uncle of the Lord Sri Krishna. In the Hindu scrip­ture we read:

Người ta được nhắc nhở về một hành động có phần tương tự nhưng ít mang tính hủy diệt hơn của Vua Kamsa, chú của Đức Chúa Sri Krishna. Trong kinh sách Hindu, chúng ta đọc:

Kamsa was driving his chariot when a voice from the sky addressed him and said: “O fool, the eighth child born from the womb of the girl you are now conducting will be your slayer”. Kamsa was extremely wicked and sinful, ruthless and impudent, nay, a veritable disgrace to the family of the Bhojas. As soon as he heard the voice he seized, sword in hand, his cousin by her braid with a view to killing her on the spot.

Kamsa đang lái xe ngựa thì một giọng nói từ trên trời vọng xuống và nói: “Hỡi kẻ ngốc, đứa con thứ tám sinh ra từ bụng người con gái mà ngươi đang dẫn đi sẽ là kẻ giết ngươi”. Kamsa cực kỳ độc ác và tội lỗi, tàn nhẫn và xấc xược, thậm chí là một nỗi ô nhục thực sự cho gia tộc Bhojas. Ngay khi nghe thấy giọng nói, y liền nắm lấy bím tóc của người em họ bằng tay cầm kiếm, với ý định giết Bà ngay tại chỗ.

Fearful that a child of Devaki would rob him of his throne, and even his life, Kamsa placed her and her husband Vasudeva in prison and ordered that every child that was born of them was to be immediately destroyed. His evil plot was not fulfilled, however, when the Lord Sri Krishna was born, for the bars of the prison were magically unfastened and the guards put to sleep. Thereupon Vasudeva, the father, took the new-born child across the river into the forest where his foster-mother was also being delivered of a baby. He persuaded her to make an exchange, so that Sri Krishna was thereby saved from attack by the soldiers of Kamsa.

Lo sợ rằng một đứa con của Devaki sẽ cướp ngôi của mình, thậm chí cả mạng sống của mình, Kamsa đã tống Bà và chồng là Vasudeva vào tù và ra lệnh rằng mọi đứa trẻ sinh ra từ họ phải bị tiêu diệt ngay lập tức. Tuy nhiên, âm mưu xấu xa của y đã không thành khi Đức Chúa Sri Krishna ra đời, vì song sắt nhà tù đã tự động mở ra một cách kỳ diệu và lính canh ngủ thiếp đi. Sau đó, Vasudeva, người cha, đã đưa đứa trẻ sơ sinh qua sông vào khu rừng nơi mẹ nuôi của Ngài cũng đang sinh con. Ông thuyết phục Bà đổi con, nhờ đó Sri Krishna được cứu khỏi sự tấn công của binh lính của Kamsa.

When the spiritual life is entered upon and the aspirant presses forward towards the highest ideal, then it is that great trials appear to menace his progress.

Khi đời sống tinh thần bắt đầu và người chí nguyện tiến lên phía trước hướng tới lý tưởng cao nhất, thì đó là lúc những thử thách lớn xuất hiện đe dọa sự tiến bộ của y.

During his ministry, the Lord Gautama Buddha gathered around himself a number of chosen and so, presumably, faithful disciples. It is recorded in the Buddhist scriptures that all of these were indeed trust­worthy save one, his own brother Devadatta who ardently desired the leadership of the Order and plotted against the Buddha.

Trong thời gian hành đạo, Đức Phật Gautama đã tập hợp xung quanh Ngài một số đệ tử được chọn và có lẽ là trung thành. Kinh điển Phật giáo ghi lại rằng tất cả những người này đều đáng tin cậy, ngoại trừ một người, em trai của Ngài là Devadatta, vốn tha thiết mong muốn được lãnh đạo Giáo đoàn và âm mưu chống lại Đức Phật.

In the midst of the discourse [by the Lord Buddha], Devadatta rose from his seat and, arranging his upper robe over one shoulder, stretched out his joined palms to the Master, saying:

Giữa bài thuyết giảng [của Đức Phật], Devadatta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, chỉnh lại áo choàng trên một vai, giơ hai lòng bàn tay chắp lại trước Chân sư, nói:

“Master, you have now grown aged and stricken in years.

"Chân sư, Ngài đã già và nhiều tuổi rồi.

You have accomplished a long journey and the span of your life has nearly run. It is time that you dwelt at ease in enjoyment of that happiness which is reached even in this world. Let the Exalted One give up the direction of the Order to me. I will be its leader”. Devadatta was an accomplished speaker with a clear enunciation, and the beauty of his voice captivated people. But even so, a murmur of dissent ran through those that heard him. The Master looked upon him with great sorrow and said quietly: “You have said enough, Devadatta. Desire not to be the leader of the Order..."

Ngài đã hoàn thành một cuộc hành trình dài và quãng đời của Ngài gần như đã hết. Đã đến lúc Ngài an nhàn tận hưởng hạnh phúc ngay cả trong thế giới này. Xin Đấng Tối Cao giao quyền điều hành Giáo đoàn cho con. Con sẽ là người lãnh đạo." Devadatta là một diễn giả tài ba với cách phát âm rõ ràng, và vẻ đẹp trong giọng nói của y đã thu hút mọi người. Nhưng dù vậy, một tiếng thì thầm phản đối vang lên trong số những người nghe y nói. Chân sư nhìn y với nỗi buồn lớn lao và nhẹ nhàng nói: "Ngươi đã nói đủ rồi, Devadatta. Đừng mong muốn trở thành người lãnh đạo Giáo đoàn..."

This was the first attempt that Devadatta made to overthrow the Master...

Đây là nỗ lực đầu tiên mà Devadatta thực hiện để lật đổ Chân sư...

Then Devadatta knew that if the Master was to be killed he alone would have to do the deed. With this object in view he climbed a crack on Vultures’ Peak and stood on the edge of it. And when the Master paced to and fro in meditation along the path beneath, Devadatta hurled down a mighty rock. But it struck a projecting piece of the mountain-side and only a small splinter of it hit the Master ’ s foot, mak­ing it bleed. The Master looked up sadly, saying: ‘Oh foolish one, Great is the demerit you are bringing upon yourself.'

Sau đó, Devadatta biết rằng nếu Chân sư bị giết thì chỉ một mình y phải làm việc đó. Với mục đích này, y trèo lên một kẽ nứt trên Đỉnh Kền Kền và đứng trên mép của nó. Và khi Chân sư bước đi tới lui trong thiền định dọc theo con đường bên dưới, Devadatta đã ném xuống một tảng đá lớn. Nhưng nó đã va vào một mảng nhô ra của sườn núi và chỉ một mảnh nhỏ của nó trúng vào chân của Chân sư, khiến nó chảy máu. Chân sư buồn bã ngước lên và nói: "Ôi kẻ ngốc, ngươi đang mang đến cho mình một điều vô cùng bất thiện."

Devadatta, having failed in this second attempt to supplant the Master, now went to the keepers of the fierce elephant, Nalagiri, a man-slayer, and said: ‘As you know, I am the King’s confidential ad­viser and also I can arrange increase in food rations and in pay for men who do my bidding’.

Devadatta, sau khi thất bại trong nỗ lực thứ hai này để thay thế Chân sư, giờ đây đã đến gặp những người quản tượng dữ tợn, Nalagiri, một kẻ giết người, và nói: "Như các ngươi đã biết, ta là cố vấn bí mật của Nhà Vua và ta cũng có thể sắp xếp tăng khẩu phần ăn và trả lương cho những người làm theo lệnh của ta".

‘Yes, Venerable Sir’, they replied, knowing what he said was true. ‘Whatever are your orders, they shall be carried out by us’.

"Vâng, thưa Ngài đáng kính", họ trả lời, biết những gì y nói là sự thật. "Bất cứ mệnh lệnh nào của Ngài, chúng con sẽ thực hiện."

Devadatta continued: ‘When the sage, Gautama, passes down this road, let loose the elephant Nalagiri’.

Devadatta tiếp tục: "Khi nhà hiền triết, Gautama, đi xuống con đường này, hãy thả con voi Nalagiri ra".

As the people were speaking, the Master was putting forth his power of friendship and suffusing Nalagiri with loving heart.

Khi mọi người đang nói chuyện, Chân sư đã phát huy sức mạnh tình bạn của Ngài và thấm nhuần Nalagiri bằng trái tim yêu thương.

Before he reached the Master, the elephant put down his trunk and went quietly up.

Trước khi đến được Chân sư, con voi đã hạ vòi xuống và lặng lẽ tiến lên.

The Master stroked his forehead and spoke to him. Then Nalagiri took the dust from the feet of the Blessed One and went back to the ele­phant stables, turning round from time to time to look at the Master, and to those who saw, it seemed that the elephant’s eyes were filled with the same love as the Master’s. From that time, Nalagiri was tame and docile, and people said: ‘Elephants can be tamed with sticks and goads, but the great elephant among men tamed Nalagiri without any of these things’.

Chân sư xoa trán nó và nói chuyện với nó. Sau đó, Nalagiri lấy bụi từ chân của Đấng Chân Phúc và quay trở lại chuồng voi, thỉnh thoảng quay lại nhìn Chân sư, và đối với những người nhìn thấy, dường như đôi mắt của con voi tràn ngập tình yêu thương giống như của Chân sư. Từ đó trở đi, Nalagiri trở nên thuần hóa và ngoan ngoãn, và mọi người nói: "Voi có thể được thuần hóa bằng gậy và gậy nhọn, nhưng con voi vĩ đại trong số những người đã thuần hóa Nalagiri mà không cần bất kỳ thứ gì trong số này".

From Footprints of Gautama the Buddha by M. B. Byles The Theosophist, Vol. 103, April 1982, p. 262

Trích từ Footprints of Gautama the Buddha của M. B. Byles The Theosophist, Tập. 103, tháng 4 năm 1982, tr. 262

21

The Virtue of Humaneness—Đức Tính Nhân Bản

Since kindness is of such supreme importance to the health and happiness of man, it merits close examination. There are, I submit, at least four basic reasons for humaneness:

Vì lòng tốt có tầm quan trọng tối cao đối với sức khỏe và hạnh phúc của con người, nên nó xứng đáng được xem xét kỹ lưỡng. Tôi xin trình bày ít nhất bốn lý do cơ bản cho tính nhân bản:

By kindness alone can man ratify the fact of the unity of Life. The One Life has been described as a conscious, hyper-sensitive, electric, creative energy. All effects, pleasurable or painful, pro­duced upon one living creature are communicated by this electric, ‘telegraphic’ Life-force, elan vital, throughout the whole of mani­fested life. Cruelty to sentient Life in one form is cruelty to all, for Life is one. Injury even to a single being can have far reaching ef­fects, harm to one causing harm to all. The same is true of humaneness.

Chỉ bằng lòng tốt, con người mới có thể xác nhận sự thật về tính duy nhất của Sự Sống. Sự Sống Duy Nhất đã được mô tả như một năng lượng sáng tạo, điện, siêu nhạy cảm, có ý thức. Tất cả các tác động, dễ chịu hoặc đau đớn, được tạo ra trên một sinh vật sống được truyền đạt bởi Sinh lực 'điện báo', sinh khí này, trên toàn bộ sự sống biểu hiện. Tàn ác với Sự Sống hữu tri ở một dạng là tàn ác với tất cả, vì Sự Sống là một. Ngay cả việc gây thương tích cho một sinh vật duy nhất cũng có thể gây ra những ảnh hưởng sâu rộng, gây hại cho một người gây hại cho tất cả. Điều tương tự cũng đúng với tính nhân bản.

Universal love is the highest possible ratification in conduct of the fact of unity. One must be humane for love’s sake. All else is hate, darkness, disobedience, cosmic lawlessness.

Tình thương phổ quát là sự xác nhận cao nhất có thể có trong hành vi về sự thật của sự hợp nhất. Người ta phải nhân ái vì tình yêu thương. Tất cả những thứ khác là hận thù, bóng tối, bất tuân, vô luật pháp vũ trụ.

The health and the happiness of all sentient beings depend upon their mutual, humane relationship. We are all dependent upon one an­other for our well-being, progress, fulfilment. Especially are all an­imals dependent upon man, being helpless before him.

Sức khỏe và hạnh phúc của tất cả chúng sinh hữu tri phụ thuộc vào mối quan hệ nhân ái, tương hỗ của chúng. Tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào nhau để có được hạnh phúc, tiến bộ, viên mãn. Đặc biệt, tất cả các loài động vật đều phụ thuộc vào con người, vì chúng bất lực trước con người.

Under the law of compensation, or cause and effect, man reaps as he sows. Cruelty inevitably brings suffering, kindness brings happiness.

Theo luật bù trừ, hay nhân quả, con người gặt hái những gì mình gieo. Sự tàn ác chắc chắn mang lại đau khổ, lòng tốt mang lại hạnh phúc.

There can be no evasion, no permanent, scientific self-protec­tion from the results of the breaking of the laws of unity, harmony and love. There are no law-raid shelters. The whole vast product of the modern world’s pharmacopoeia and medical practice cannot avail to protect mankind from the results of breaking the law of Life, the very law of being, which is love. The prevalent ill-health of modern man demonstrates this principle of immutable and inevitable law conclusively.

Không thể trốn tránh, không thể tự bảo vệ mình một cách khoa học, vĩnh viễn khỏi những kết quả của việc phá vỡ các định luật về sự hợp nhất, hài hòa và yêu thương. Không có nơi trú ẩn tránh luật pháp. Toàn bộ sản phẩm rộng lớn của dược điển và thực hành y học của thế giới hiện đại không thể giúp bảo vệ nhân loại khỏi những kết quả của việc phá vỡ luật Sự Sống, chính luật của sự tồn tại, vốn là tình yêu thương. Tình trạng sức khỏe kém phổ biến của con người hiện đại chứng minh nguyên tắc luật bất biến và không thể tránh khỏi này một cách thuyết phục.

Fortunately, the crusade for kindness is growing in volume and power. It is a glorious crusade, for it has two objectives: to banish cru­elty from the world and to lead mankind along the way of health and happiness.

May mắn thay, cuộc thập tự chinh vì lòng tốt đang ngày càng lớn mạnh về quy mô và sức mạnh. Đó là một cuộc thập tự chinh vinh quang, vì nó có hai mục tiêu: loại bỏ sự tàn ác khỏi thế giới và dẫn dắt nhân loại trên con đường sức khỏe và hạnh phúc.

I repeat that, in addition to the wise conduct of life, humaneness, which is obedience to the law of love in thought, feeling, word and deed, is the only way to enduring physical health as also to lasting world peace.

Tôi xin nhắc lại rằng, ngoài cách sống khôn ngoan, tính nhân bản, vốn là sự tuân theo luật yêu thương trong suy nghĩ, cảm xúc, lời nói và hành động, là con đường duy nhất dẫn đến sức khỏe thể chất lâu dài cũng như hòa bình thế giới lâu dài.

Theosophy in New Zealand, Vol. 37, No. 4, 1976, p. 86

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 37, Số 4, 1976, tr. 86

22

Spiritual Vision [1]—Tầm Nhìn Tinh Thần [1]

One cannot deny that there are certain difficulties and even dan­gers inseparable from the attempt to achieve interior vision at this period of human evolution. If one has followed this path in other lives and can live at least a part of one’s present life in retreat, then the practices of yoga, carried out under expert guidance are reasonably safe.

Người ta không thể phủ nhận rằng có những khó khăn nhất định và thậm chí cả những nguy hiểm không thể tách rời khỏi nỗ lực đạt được tầm nhìn nội tại trong giai đoạn tiến hóa của con người này. Nếu một người đã đi theo con đường này trong những kiếp sống khác và có thể sống ít nhất một phần cuộc đời hiện tại của mình trong ẩn dật, thì những thực hành yoga, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của chuyên gia là tương đối an toàn.

Those aspirants who are born in western bodies in this life, often find that their work consists largely of action, that their dharma now is active service of the world. Yet, to be effective, service must be wisely planned and intelligently directed and this demands a measure of spiri­tual vision.

Những người chí nguyện sinh ra trong thân thể phương Tây trong kiếp này, thường thấy rằng công việc của họ phần lớn bao gồm hành động, rằng pháp của họ bây giờ là phụng sự thế giới một cách tích cực. Tuy nhiên, để có hiệu quả, sự phụng sự phải được lên kế hoạch một cách khôn ngoan và được chỉ đạo một cách thông minh và điều này đòi hỏi một mức độ tầm nhìn tinh thần.

There is a great need at the present time for originality of thought and action, for more personal realization of spiritual truth and less de­pendence upon book knowledge and the vision of others. We require far more first-hand knowledge of spiritual truth and far less vain repeti­tion of second-hand information, if we are to stand firm amid the many diverse points of view, both religious and scientific, which are now be­ing presented to us. The burning question for all would-be servants of the world is: How can each one of us establish ourselves firmly on the rock of first-hand knowledge? How can we know for our selves?

Hiện nay, có một nhu cầu lớn về tính độc đáo trong suy nghĩ và hành động, để nhận ra chân lý tinh thần một cách cá nhân hơn và ít phụ thuộc hơn vào kiến thức sách vở và tầm nhìn của người khác. Chúng ta cần kiến thức trực tiếp về chân lý tinh thần nhiều hơn và ít lặp lại vô ích thông tin gián tiếp hơn, nếu chúng ta muốn đứng vững giữa nhiều quan điểm khác nhau, cả tôn giáo và khoa học, hiện đang được trình bày cho chúng ta. Câu hỏi cấp bách cho tất cả những người muốn phụng sự thế giới là: Làm thế nào mỗi người chúng ta có thể tự thiết lập một cách vững chắc trên nền tảng kiến thức trực tiếp? Làm thế nào chúng ta có thể tự mình biết?

One answer is: By the development and use of the Intuition.

Một câu trả lời là: Bằng cách phát triển và sử dụng Trực Giác.

Here we are on perfectly safe ground, for everyone of us possesses the faculty of intuition in embryo; it is already beginning to show itself in the world as the power of synthetic or causal thought and especially in America, where it is known as the ‘hunch’. There is hardly a single subject upon which we cannot gain first-hand knowl­edge by the process of intuitive investigation. This demands that we free ourselves from the habit and limitations of analytical and deduc­tive thinking, and, rising above the concrete mind, enter into egoic consciousness wherein intuition is the natural means of cognition.

Ở đây chúng ta đang ở trên một nền tảng hoàn toàn an toàn, vì mỗi người chúng ta đều sở hữu khả năng trực giác trong phôi thai; nó đã bắt đầu thể hiện bản thân trên thế giới như là sức mạnh của tư duy tổng hợp hoặc nhân quả và đặc biệt là ở Mỹ, nơi nó được gọi là 'linh cảm'. Hầu như không có một chủ đề nào mà chúng ta không thể có được kiến thức trực tiếp bằng quá trình điều tra trực quan. Điều này đòi hỏi chúng ta phải giải phóng bản thân khỏi thói quen và những hạn chế của tư duy phân tích và suy diễn, và, vượt lên trên hạ trí, đi vào tâm thức chân ngã, nơi trực giác là phương tiện nhận thức tự nhiên.

Browning truly said: ‘To know rather consists in opening out a way whence the imprisoned Splendour may escape, than effecting an entry for a light supposed to be without’.

Browning đã nói một cách chân thành: 'Biết đúng hơn là mở ra một con đường để từ đó Sự Huy Hoàng bị giam cầm có thể thoát ra, hơn là thực hiện một lối vào cho một ánh sáng được cho là ở bên ngoài'.

By clairvoyance alone we see only that which is without; we are limited to objective vision, and see but the form which hides the truth. We must possess the power to see, know and identify ourselves with the life within the form in order to discover truth itself.

Chỉ bằng thông nhãn, chúng ta mới thấy những gì ở bên ngoài; chúng ta bị giới hạn trong tầm nhìn khách quan, và chỉ thấy hình tướng che giấu sự thật. Chúng ta phải sở hữu sức mạnh để nhìn, biết và đồng nhất mình với sự sống bên trong hình tướng để khám phá ra chính sự thật.

These two, clairvoyance and intuition, used together, constitute a perfect instrument for research. But the truest vision is the intuitive; all supposed seership which is not based upon intuitive perception can never be perfectly reliable and scientifically accurate. The true seer must be an interpreter, for without the gift of understanding, all vision fails. Knowledge lies within us and there must we seek for it. Simi­larly, knowledge lies within the object of research, not in the form which covers it; for Truth is life, not form.

Hai điều này, thông nhãn và trực giác, được sử dụng cùng nhau, tạo thành một công cụ hoàn hảo cho nghiên cứu. Nhưng tầm nhìn chân thật nhất là trực giác; tất cả những gì được cho là khả năng nhìn thấu suốt mà không dựa trên nhận thức trực quan sẽ không bao giờ có thể hoàn toàn đáng tin cậy và chính xác về mặt khoa học. Nhà tiên tri thực sự phải là một người phiên dịch, vì nếu không có món quà thấu hiểu, mọi tầm nhìn đều thất bại. Kiến thức nằm trong chúng ta và chúng ta phải tìm kiếm nó ở đó. Tương tự, kiến thức nằm trong đối tượng nghiên cứu, không phải trong hình tướng bao phủ nó; vì Chân lý là sự sống, không phải hình tướng.

The following are among the many definitions of intuition which have been given:

Sau đây là một trong nhiều định nghĩa về trực giác đã được đưa ra:

‘Intuition is primary knowledge antecedent to all teaching or rea­soning’.—Practical Standard Dictionary.

'Trực giác là kiến thức sơ khai trước mọi sự giảng dạy hoặc lý luận'.—Từ điển Tiêu chuẩn Thực tế.

‘There is an intuition which is verily the Voice of the Spirit’.

'Có một trực giác thực sự là Tiếng Nói của Tinh Thần'.

‘Intuition is a recognition of truth at sight’.—Annie Besant.

'Trực giác là sự nhận biết chân lý ngay khi nhìn thấy'.—Annie Besant.

H.P.B. [Helena P. Blavatsky] says ‘Intuition soars above ratioci-native thought; changeless, infinite; ‘that absolute wisdom’ which transcends the ideas of time and space. It is the ‘eye’ of the seer; a fac­ulty through which direct and certain knowledge is obtained. It is ‘in the sanctuary of the heart’; does not waver between right and wrong; ‘it is clear vision’; in a region where truth dominates; as if all knowl­edge was brought to a head. “By will he collects his mind into itself’; it seems to act “in a vertical manner”. ’12

Bà H.P.B. [Helena P. Blavatsky] nói 'Trực giác vượt lên trên tư duy lý luận; bất biến, vô hạn; 'minh triết tuyệt đối' vượt qua những ý niệm về thời gian và không gian. Nó là 'con mắt' của nhà tiên tri; một khả năng thông qua đó có được kiến thức trực tiếp và chắc chắn. Nó 'ở trong thánh địa của trái tim'; không dao động giữa đúng và sai; 'đó là tầm nhìn rõ ràng'; trong một khu vực nơi chân lý thống trị; như thể tất cả kiến thức được đưa đến một đầu mối. "Bằng ý chí, y thu thập tâm trí của mình vào chính nó"; dường như nó hoạt động "theo chiều dọc". '

Emerson in his highest moments has the true intuitive vision as is clearly shown in such a striking sentence as:

Emerson trong những khoảnh khắc cao cả nhất của mình có tầm nhìn trực quan thực sự như được thể hiện rõ ràng trong một câu nổi bật như:

‘Our globe, seen by God, is a transparent law, not a mass of facts’ (Circle).

'Địa cầu của chúng ta, được Thượng đế nhìn thấy, là một định luật minh bạch, không phải là một khối sự kiện' (Vòng tròn).

‘And this, because the heart in thee is the heart of all; not a wall, not an intersection is there anywhere in nature, but one blood rolls un­interruptedly an endless circulation through all men, as the water of the globe is all one sea, and, truly seen, its tide is one’ (The Over Soul).

'Và điều này, bởi vì trái tim trong ngươi là trái tim của tất cả; không phải một bức tường, không phải một giao lộ nào có ở bất cứ đâu trong tự nhiên, mà là một dòng máu chảy không ngừng một vòng tuần hoàn vô tận qua tất cả mọi người, như nước của địa cầu là tất cả một biển, và, được nhìn thấy một cách chân thật, thủy triều của nó là một' (Đại Hồn).

Of such a vision, such a knowledge, Mr Krishnamurti says:

Về một tầm nhìn như vậy, một kiến thức như vậy, Ông Krishnamurti nói:

‘Knowledge of the Self is life eternal; for the Self is the eternal; it has no beginning, and in the end, no death, and no birth. It is’.

'Kiến thức về Bản Thể là sự sống vĩnh cửu; vì Bản Thể là vĩnh cửu; nó không có khởi đầu, và cuối cùng, không có cái chết, và không có sự ra đời. Nó là'.

A report was made by Professor R. A. Baker of the College of the City of New York, who with Dr Washington Platt of Syracuse had sent questionnaires to 1,450 scientists inquiring into their experience with hunches as applied to their work. Of the 232 who replied, only 17 per cent had never experienced the phenomenon; 50 per cent had done so occasionally and the remaining 33 per cent frequently.

Một báo cáo đã được thực hiện bởi Giáo sư R. A. Baker của Trường Cao đẳng Thành phố New York, người cùng với Tiến sĩ Washington Platt của Syracuse đã gửi bảng câu hỏi cho 1.450 nhà khoa học hỏi về kinh nghiệm của họ với linh cảm được áp dụng vào công việc của họ. Trong số 232 người trả lời, chỉ có 17% chưa bao giờ trải qua hiện tượng này; 50% thỉnh thoảng đã làm như vậy và 33% còn lại thường xuyên.

The hunch, as defined by Professor Baker, is ‘a unifying or clari­fying idea which springs into consciousness suddenly as a solution to a problem in which we are intensely interested’. ‘In typical cases’, he adds, ‘it follows a long period of study, but comes into consciousness at a time when we are not consciously working on the problem. It springs from a wide knowledge of facts, but is essentially a leap of the imagination in that it goes beyond a mere necessary conclusion which any reasonable man would draw from the data at hand. It is a process of creative thought’.

Linh cảm, như được định nghĩa bởi Giáo sư Baker, là 'một ý tưởng thống nhất hoặc làm rõ bỗng nhiên xuất hiện trong tâm thức như một giải pháp cho một vấn đề mà chúng ta vô cùng quan tâm'. Ông nói thêm, 'Trong những trường hợp điển hình, nó theo sau một thời gian dài nghiên cứu, nhưng đi vào tâm thức vào thời điểm chúng ta không ý thức làm việc về vấn đề đó. Nó xuất phát từ một kiến thức rộng lớn về các sự kiện, nhưng về cơ bản là một bước nhảy vọt của trí tưởng tượng ở chỗ nó vượt ra ngoài một kết luận cần thiết đơn thuần mà bất kỳ người hợp lý nào cũng sẽ rút ra từ dữ liệu có sẵn. Đó là một quá trình tư duy sáng tạo'.

Hunches may have various degrees of completeness and accu­racy. The overwhelming majority of scientists who reported having had them said that the revelations came as a central idea only. Several stated that when the central idea had presented itself, their minds then with great rapidity filled in the details. A small but notable minority said that a hunch presented the plan complete in all detail’s. Only 7 per cent reported that their hunches always turned out correct. The rest gave figures of correctness varying from 90 to 10 per cent.

Linh cảm có thể có nhiều mức độ hoàn chỉnh và chính xác khác nhau. Phần lớn các nhà khoa học báo cáo đã có chúng cho biết rằng những mặc khải đến như một ý tưởng trung tâm. Một số người nói rằng khi ý tưởng trung tâm đã xuất hiện, tâm trí của họ sau đó đã nhanh chóng điền vào các chi tiết. Một thiểu số nhỏ nhưng đáng chú ý cho biết rằng một linh cảm đã trình bày kế hoạch hoàn chỉnh trong mọi chi tiết. Chỉ có 7% báo cáo rằng linh cảm của họ luôn đúng. Phần còn lại đưa ra các số liệu về độ chính xác khác nhau từ 90 đến 10%.

Nineteen per cent said that their minds were fully conscious when the hunch came along: 28 percent said they were ‘on the margin of con­sciousness’, and 13 percent said they were unconscious. Forty percent were not clear or gave no answers.

Mười chín phần trăm cho biết rằng tâm trí của họ hoàn toàn tỉnh táo khi linh cảm đến: 28% cho biết họ đang 'ở bên lề của tâm thức' và 13% cho biết họ đang bất tỉnh. Bốn mươi phần trăm không rõ ràng hoặc không đưa ra câu trả lời.

Fifty three per cent of the scientists answering the questionnaire said that they deliberately used devices to create conditions favourable to the hunch. The commonest of these devices was ‘temporarily aban­doning the problem and taking up other work’. Others included ‘a pe­riod of idleness and complete relaxation not spent in attacking any other problem; going over the problem just before retiring for the night; physical occupation or exercise’, and the use of stimulants.

Năm mươi ba phần trăm các nhà khoa học trả lời bảng câu hỏi cho biết họ đã cố ý sử dụng các phương tiện để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho linh cảm. Phương tiện phổ biến nhất trong số này là ‘tạm thời từ bỏ vấn đề và bắt đầu công việc khác’. Những phương tiện khác bao gồm ‘một khoảng thời gian nhàn rỗi và thư giãn hoàn toàn không dùng để giải quyết bất kỳ vấn đề nào khác; xem xét vấn đề ngay trước khi đi ngủ; hoạt động thể chất hoặc tập thể dục’ và sử dụng chất kích thích.

Professor Baker, discussing the conditions for helpful action of the mind on the margin of consciousness and beyond, says: ‘We must have a great interest in the problem and a desire for its solution. Mate­rial should be stored in the mind in a systematic fashion and should be well digested, so as to be useful. There must be a sense of well being and sense of freedom from interruption. There should be an absence of obstacles to the proper functioning of the mind. And finally, there are certain types of direct positive stimuli to mental activity. This last in­cludes some form of contact with other scientific minds, either through reading or discussion’.

Giáo sư Baker, khi thảo luận về các điều kiện để thể trí có hành động hữu ích ở giới hạn của tâm thức và xa hơn, nói: ‘Chúng ta phải có sự quan tâm lớn đến vấn đề và mong muốn giải quyết nó. Tài liệu phải được lưu trữ trong thể trí một cách có hệ thống và phải được tiêu hóa tốt để có thể hữu ích. Phải có cảm giác an lạc và cảm giác không bị gián đoạn. Không được có những trở ngại đối với chức năng thích hợp của thể trí. Và cuối cùng, có một số loại kích thích tích cực trực tiếp đối với hoạt động trí tuệ. Điều này bao gồm một số hình thức tiếp xúc với các thể trí khoa học khác, thông qua đọc hoặc thảo luận’.

The value of temporary abandonment of a problem is more than mere rest, Professor Baker believes. It allows the scientist to attack his work again from a new intellectual standpoint, especially if he has not worked on the matter for some time. ‘A problem unsolved remains in the mind as a challenge to its ability’, he says. ‘Again and again, semi-consciously, unconsciously, the mind attacks the problem. While we are consciously at work on something else this process continues.

Giá trị của việc tạm thời từ bỏ một vấn đề không chỉ là nghỉ ngơi đơn thuần, Giáo sư Baker tin như vậy. Nó cho phép nhà khoa học tấn công lại công việc của mình từ một quan điểm trí tuệ mới, đặc biệt nếu y đã không làm việc về vấn đề này trong một thời gian. Ông nói: ‘Một vấn đề chưa được giải quyết vẫn còn trong thể trí như một thách thức đối với khả năng của nó’. ‘Hết lần này đến lần khác, bán tâm thức, vô thức, thể trí tấn công vấn đề. Trong khi chúng ta đang ý thức làm việc khác, quá trình này vẫn tiếp tục.

‘When we finally take the problem up anew, the mind has made actual progress toward its solution. Sometimes, indeed, the complete solution appears in the form of a hunch. There are many instances of this recorded in literature as well as in the answers to our questionnaires’.

‘Khi cuối cùng chúng ta xem xét lại vấn đề, thể trí đã có những tiến bộ thực tế hướng tới giải pháp của nó. Đôi khi, thật vậy, giải pháp hoàn chỉnh xuất hiện dưới dạng một linh cảm. Có rất nhiều trường hợp về điều này được ghi lại trong văn học cũng như trong các câu trả lời cho bảng câu hỏi của chúng tôi’.

The above, in substance, was taken from an issue of The New York Sunday Times.

Những điều trên, về cơ bản, được lấy từ một số báo của tờ The New York Sunday Times.

How is this vision to be attained so that it can be used with cer­tainty and at will?

Làm thế nào để đạt được tầm nhìn này để nó có thể được sử dụng một cách chắc chắn và theo ý muốn?

Upon this path of knowledge, as upon all others in the end, the as­pirant finds himself flung back upon the life within himself. He must rise above the forms of things into the formless worlds, there to investi­gate; for, there, all knowledge lies open to him. To become a seer he must open up the unused channels between the higher and lower self, between the life and the form of the cosmos of his nature.

Trên con đường tri thức này, cũng như trên tất cả những con đường khác cuối cùng, người chí nguyện thấy mình bị ném trở lại cuộc sống bên trong chính mình. Y phải vượt lên trên các hình tướng của vạn vật để tiến vào những thế giới vô tướng, để ở đó khảo sát; vì, ở đó, tất cả tri thức đều mở ra cho y. Để trở thành một nhà ngoại cảm, y phải mở ra những kênh chưa sử dụng giữa chân ngã và phàm ngã, giữa sự sống và hình tướng của vũ trụ thuộc bản chất của y.

First we must be quite certain of our motive and of our goal. There is a grave danger in all attempts to awaken and use the higher powers of consciousness and the hidden powers of the body before the tempo­ral man is thoroughly purged of all personal ambition and desire. The only permissible motive wherewith to approach the inner sanctuary of Nature and to develop increasing power, wisdom and knowledge is to become increasingly strong, wise and intelligent in the service of the world. The only permissible desire is for the union of the temporal with the eternal. All other ambition must steadfastly be sublimated into self­lessness, all other desire transmuted into will. The would-be seer must become ‘passion-proof.

Trước tiên, chúng ta phải hoàn toàn chắc chắn về động cơ và mục tiêu của mình. Có một mối nguy hiểm lớn trong tất cả các nỗ lực đánh thức và sử dụng các năng lực cao hơn của tâm thức và các năng lực tiềm ẩn của thể xác trước khi phàm ngã được thanh lọc hoàn toàn khỏi mọi tham vọng và ham muốn cá nhân. Động cơ duy nhất được phép để tiếp cận thánh địa bên trong của Tạo Hóa và phát triển ngày càng tăng cường năng lực, minh triết và tri thức là để trở nên ngày càng mạnh mẽ, khôn ngoan và thông minh hơn trong việc phụng sự thế giới. Ham muốn duy nhất được phép là sự hợp nhất của phàm ngã với vĩnh hằng. Mọi tham vọng khác phải kiên định thăng hoa thành vị tha, mọi ham muốn khác phải chuyển hóa thành ý chí. Nhà ngoại cảm tương lai phải trở thành ‘bất nhiễm ái dục’.

This consummation demands a regular regime of self-training and character development and a systematic exercise of the higher as­pects of consciousness by meditation. Many teachers, eastern and western, have written upon this subject and the reader is directed to their many authoritative works for detailed guidance. The author has himself published three books on self-training and the study and prac­tice of meditation: First Steps on the Path; Thus Have I Heard, and Be Ye Perfect.

Sự viên mãn này đòi hỏi một chế độ rèn luyện bản thân và lập hạnh thường xuyên, đồng thời rèn luyện một cách có hệ thống các khía cạnh cao hơn của tâm thức bằng tham thiền. Nhiều huấn sư, phương Đông và phương Tây, đã viết về chủ đề này và người đọc được hướng dẫn đến nhiều tác phẩm có thẩm quyền của Các Ngài để được hướng dẫn chi tiết. Tác giả đã tự xuất bản ba cuốn sách về rèn luyện bản thân và nghiên cứu và thực hành tham thiền: Những Bước Đầu Tiên Trên Đường Đạo; Tôi Nghe Như Vầy, và Hãy Nên Hoàn Thiện.

Mr Krishnamurti is regarded by many as a great revealer to man­kind of one way to find liberation and eternal peace. Speaking of self-training as a way to truth, he says:

Ông Krishnamurti được nhiều người coi là một người mặc khải vĩ đại cho nhân loại về một con đường tìm thấy sự giải thoát và an lạc vĩnh cửu. Nói về việc rèn luyện bản thân như một con đường dẫn đến chân lý, Ông nói:

‘By self-discipline I do not mean repression, but rather self-disci­pline through understanding, which will lead you to liberation—that poise of reason and love. If you would find truth, that discipline of the self, which is the seed of reason and love, must take place every mo­ment of the day, must be focussed acutely in everything that you do. Truth lies in the process, not in the attainment. While living, manifest­ing, working in the daily life you find it. In the training of that self lies the truth—in nothing else’.

‘Với tự kỷ luật, tôi không có ý nói là đàn áp, mà là tự kỷ luật thông qua thấu hiểu, vốn sẽ dẫn bạn đến giải thoát—sự cân bằng của lý trí và tình thương. Nếu bạn muốn tìm thấy chân lý, thì kỷ luật tự giác đó, vốn là hạt giống của lý trí và tình thương, phải diễn ra mỗi khoảnh khắc trong ngày, phải tập trung cao độ vào mọi việc bạn làm. Chân lý nằm trong quá trình, không nằm trong sự đạt được. Trong khi sống, biểu lộ, làm việc trong cuộc sống hàng ngày, bạn sẽ tìm thấy nó. Trong việc rèn luyện bản thân đó có chân lý—không có gì khác’.

‘Right comprehension does not come in a flash. It is the result of continual, ceaseless struggle, all day long. It is by continual readjust­ment, shifting, destroying, gathering, that you acquire comprehension’.

‘Sự lĩnh hội đúng đắn không đến trong một khoảnh khắc. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh liên tục, không ngừng nghỉ, suốt cả ngày. Chính nhờ sự điều chỉnh, thay đổi, phá hủy, thu thập liên tục mà bạn có được sự lĩnh hội’.

To maintain successfully a discipline which takes place ‘every moment of the day’ and is ‘focussed acutely in everything that you do’ is indeed a difficult task. In order to succeed, the attitude of the aspirant must be that of all great men who have achieved success in any field of human endeavour, especially great explorers, inventors, pioneers, statesmen and financiers. The attitude is the same, but the goal is ut­terly different. The spiritual neophyte seeks not physical exploration, but the discovery of the Self; not the aggrandizement of the personal­ity, but its disappearance as a separate organism; not worldly dominion and temporal power, but rather escape from the dominance of the world. Renunciation of temporal power is an essential step towards omnipotence; renunciation of temporal affection is essential to omni­presence and renunciation of temporal knowledge is essential to omni­science.

Để duy trì thành công một kỷ luật diễn ra ‘mỗi khoảnh khắc trong ngày’ và ‘tập trung cao độ vào mọi việc bạn làm’ quả thực là một nhiệm vụ khó khăn. Để thành công, thái độ của người chí nguyện phải giống như thái độ của tất cả những người vĩ đại đã đạt được thành công trong bất kỳ lĩnh vực nỗ lực nào của con người, đặc biệt là những nhà thám hiểm, nhà phát minh, nhà tiên phong, chính khách và nhà tài chính vĩ đại. Thái độ là như nhau, nhưng mục tiêu hoàn toàn khác. Người sơ cơ tinh thần không tìm kiếm sự khám phá thể xác, mà là khám phá Bản Thể; không phải là sự khuếch trương của phàm ngã, mà là sự biến mất của nó như một sinh vật riêng biệt; không phải là sự thống trị thế tục và quyền lực trần thế, mà là sự thoát khỏi sự thống trị của thế giới. Sự từ bỏ quyền lực trần thế là một bước thiết yếu để tiến tới toàn năng; sự từ bỏ tình cảm trần thế là điều cần thiết để có mặt khắp nơi và sự từ bỏ tri thức trần thế là điều cần thiết để có được sự toàn trí.

Much, however, can be learned from those who seek temporal re­wards, the explorer, the inventor and the man of business, each of whom is but seeking his goal in his own way, and at his stage—which may be quite a lofty one—each is using appropriate means to achieve his fullest self-expression.

Tuy nhiên, có thể học hỏi được nhiều điều từ những người tìm kiếm phần thưởng trần thế, nhà thám hiểm, nhà phát minh và doanh nhân, mỗi người chỉ tìm kiếm mục tiêu của mình theo cách riêng và ở giai đoạn của mình—vốn có thể là một giai đoạn khá cao—mỗi người đang sử dụng các phương tiện thích hợp để đạt được sự tự biểu hiện đầy đủ nhất của mình.

Mr Krishnamurti describes self-discipline and singleness of pur­pose as it applies to spiritual achievement:

Ông Krishnamurti mô tả sự tự kỷ luật và tính đơn nhất của mục đích khi nó áp dụng cho thành tựu tinh thần:

‘The uttermost simplicity in the arrangement of life, an atmo­sphere of quiet recollectedness, a relentless concentration on the real, all these must be created to make the new life a reality. Comfort that puts to sleep the alertness and intensity of life, all bustle and hurry that drown the voice of life, all distractions that are for a life that has no pur­pose, all these must go; in the quiet of a wide-awake one-pointedness must the work be done’.

‘Sự đơn giản tột độ trong việc sắp xếp cuộc sống, một bầu không khí tĩnh lặng hồi tưởng, một sự tập trung không ngừng vào thực tại, tất cả những điều này phải được tạo ra để biến cuộc sống mới thành hiện thực. Sự thoải mái ru ngủ sự tỉnh táo và cường độ của cuộc sống, tất cả sự hối hả và vội vã nhấn chìm tiếng nói của cuộc sống, tất cả những xao nhãng dành cho một cuộc sống vô mục đích, tất cả những điều này phải biến mất; trong sự tĩnh lặng của sự nhất tâm tỉnh táo, công việc phải được thực hiện’.

And again:

Và một lần nữa:

‘What remains after this process of elimination, of withdrawal, of destruction of all those unessential things? I will tell you what remains. A calm mind, and a heart that cannot be disturbed, that is pliable, ener­getic, enthusiastic. Balanced, strong, certain, ecstatic, clear and pure, resolute and determined, is the mind and heart of him who has rejected all these things’.

‘Điều gì còn lại sau quá trình loại bỏ, rút lui, phá hủy tất cả những thứ không cần thiết đó? Tôi sẽ cho bạn biết điều gì còn lại. Một thể trí điềm tĩnh và một trái tim không thể bị xáo trộn, vốn dễ uốn nắn, tràn đầy năng lượng, nhiệt huyết. Cân bằng, mạnh mẽ, chắc chắn, ngây ngất, rõ ràng và thuần khiết, kiên quyết và quyết tâm, là thể trí và trái tim của người đã từ bỏ tất cả những điều này’.

Of the final result, he says:

Về kết quả cuối cùng, Ông nói:

‘To be liberated, to live in the realm of the eternal, to be conscious of that truth, means to be beyond birth and death—because birth is in the past and death is in the future—beyond space, beyond past and present is the delusion of time. The man who has attained such libera­tion knows that perfect harmony which is constantly and eternally present; he lives unconditionally in that eternity which is now’.

‘Được giải thoát, được sống trong cõi vĩnh hằng, được ý thức về chân lý đó, có nghĩa là vượt lên trên sinh và tử—bởi vì sinh thuộc về quá khứ và tử thuộc về tương lai—vượt lên trên không gian, vượt lên trên quá khứ và hiện tại là ảo tưởng về thời gian. Người đã đạt được sự giải thoát như vậy biết được sự hài hòa hoàn hảo vốn luôn hiện diện và vĩnh cửu; y sống vô điều kiện trong sự vĩnh hằng đó, vốn là bây giờ’.

Such, expressed as only one who knows can express it, is the method of achievement of spiritual vision; such indeed is the goal of human life.

Như vậy, được diễn đạt như chỉ người biết mới có thể diễn đạt, là phương pháp đạt được tầm nhìn tinh thần; quả thực đó là mục tiêu của cuộc sống con người.

Theosophy in New Zealand, Vol. 34, No. 2, 1973, p. 5

Theosophy in New Zealand, Tập. 34, Số 2, 1973, tr. 5

23

Spiritual Vision [2]—Tầm Nhìn Tinh Thần [2]

First-Hand Knowledge

Tri Thức Trực Tiếp

The achievement of spiritual vision referred to in the preceding article in this series is won by gradual processes. To aid in their comprehen­sion, a brief survey of the solution of human consciousness and its modes of cognition may prove of value.

Việc đạt được tầm nhìn tinh thần được đề cập trong bài viết trước trong loạt bài này đạt được bằng các quá trình dần dần. Để hỗ trợ sự lĩnh hội của họ, một cuộc khảo sát ngắn gọn về giải pháp của tâm thức con người và các phương thức nhận thức của nó có thể chứng tỏ có giá trị.

The following chart indicates the stage of human development from the beginning of human life on this planet until the end of the world period. No chart of this kind can be entirely accurate, for exten­sive overlapping, repetition of the past, and foreshadowing of the fu­ture continually occur; it will, however, serve as a guide to Fifth-Race men who seek at this period to unfold and to use the powers which will be quite normal in later races.

Biểu đồ sau đây chỉ ra giai đoạn phát triển của con người từ khi bắt đầu sự sống của con người trên hành tinh này cho đến khi kết thúc giai đoạn thế giới. Không có biểu đồ nào thuộc loại này có thể hoàn toàn chính xác, vì sự chồng chéo rộng rãi, sự lặp lại của quá khứ và sự báo trước của tương lai liên tục xảy ra; tuy nhiên, nó sẽ phục vụ như một hướng dẫn cho những người Arya thuộc Chủng Dân Thứ Năm, những người đang tìm kiếm vào thời điểm này để mở ra và sử dụng những năng lực vốn sẽ hoàn toàn bình thường ở các chủng dân sau này.

SEQUENCE OF DEVELOPMENT OF HUMAN SENSES AND POWERS

TRÌNH TỰ PHÁT TRIỂN CÁC GIÁC QUAN VÀ NĂNG LỰC CỦA CON NGƯỜI

Race

Sense

Consciousness

Objective

Apotheosis

1

2

3

Hearing

Touch

Sight

No dimension

dimensional

dimensional Physical action

Towards physical manifestation

Physical development and Self-realisation

4

Taste

3-dimensional Feeling

Emotional evelopment and Self-realisation

Realisation of The Supreme as Beauty

5

Smell

Perspective. Intelligence, Concrete and Abstract

Faculty of Analysis Lower Mental development and Self-realisation.

Omniscience

6

Vision of unity

Intuition Bliss

Faculty of intellectual synthesis.

Higher Mental and Buddhic development and Self-realisation. Union with the Supreme.

Omnipresence

7

Vision of the Self

Spiritual will. Power

Nirvanic development And Self-realisation. Self-identifica­tion with the Supreme.

‘The dewdrop slips into the shining sea’.

Omnipotence

From this chart it will be seen that in the present search for intu­itive, spiritual vision of truth, we are attempting to employ as an instru­ment of research a natural power or sense of Sixth-Race men. We are seeking to force Nature, to hasten the evolution of our senses beyond the normal rate of their development.

Từ biểu đồ này, có thể thấy rằng trong việc tìm kiếm tầm nhìn trực giác, tinh thần về chân lý hiện tại, chúng ta đang cố gắng sử dụng một năng lực tự nhiên hoặc giác quan của những người thuộc Chủng Dân Thứ Sáu như một công cụ nghiên cứu. Chúng ta đang tìm cách thúc ép Tạo Hóa, đẩy nhanh sự tiến hóa của các giác quan của chúng ta vượt quá tốc độ phát triển bình thường của chúng.

We have already considered the mechanism of consciousness, the force by which it may be operated, the character development and the self-training required for the awakening and use of spiritual vision. We may now proceed to examine changes in consciousness which accom­pany attempts to awaken and to use that power.

Chúng ta đã xem xét cơ chế của tâm thức, mãnh lực mà nó có thể được vận hành, sự phát triển tính cách và sự rèn luyện bản thân cần thiết để đánh thức và sử dụng tầm nhìn tinh thần. Bây giờ chúng ta có thể tiến hành kiểm tra những thay đổi trong tâm thức đi kèm với những nỗ lực đánh thức và sử dụng năng lực đó.

It is perhaps well at this point of the practical application of inte­rior powers to utter a warning against too much self-interest, too much dreaminess into the other worlds and giving too much rein to the imag­ination. In all true research, we must be supremely alert, holding al­ways in readiness the critical faculty and applying to our discoveries the sanest common sense. The effect of inner unfoldment must be to make us more and not less physically efficient and alive. If it makes us unworldly and inefficient down here, then it is not true spiritual devel­opment, and will not make us more useful servants of the Masters and of the world.

Có lẽ tốt nhất vào thời điểm này của việc ứng dụng thực tế các năng lực nội tại là đưa ra một lời cảnh báo chống lại quá nhiều tư lợi, quá nhiều mơ mộng vào các thế giới khác và trao quá nhiều quyền hành cho trí tưởng tượng. Trong tất cả các nghiên cứu đích thực, chúng ta phải hết sức tỉnh táo, luôn sẵn sàng năng lực phê phán và áp dụng ý thức thông thường lành mạnh nhất vào những khám phá của mình. Hiệu quả của sự khai mở bên trong phải là làm cho chúng ta hiệu quả và sống động hơn về thể chất chứ không phải kém hơn. Nếu nó làm cho chúng ta siêu trần và kém hiệu quả ở dưới này, thì đó không phải là sự phát triển tinh thần đích thực và sẽ không làm cho chúng ta trở thành những người phụng sự hữu ích hơn cho Các Chân sư và thế giới.

With this consideration always before us, let us suppose that we decide to become self-conscious in our own subtler bodies and on the planes of nature, to which they correspond. What do these things really mean to us? Very often merely a diagram or perhaps a convenient men­tal classification or reference file. That which is derived from a dia­gram is, at best, but from information. It has its value, but in this quest it must be supplemented by life knowledge.

Với sự cân nhắc này luôn ở trước mắt, chúng ta hãy giả sử rằng chúng ta quyết định trở nên tự ý thức trong các thể vi tế hơn của chính mình và trên các cõi của tự nhiên, vốn tương ứng với chúng. Những điều này thực sự có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Rất thường xuyên chỉ là một sơ đồ hoặc có lẽ là một tệp phân loại hoặc tham khảo thể trí thuận tiện. Điều có được từ một sơ đồ, tốt nhất, chỉ là từ thông tin. Nó có giá trị của nó, nhưng trong nhiệm vụ này, nó phải được bổ sung bằng tri thức cuộc sống.

If, therefore, we determine to gain a complete knowledge of our own constitution—and what more important study can there be?—we may well begin with the physical body. After attending to the pre­liminaries, concerning privacy, posture, relaxation, calming the emo­tions and harmonizing the mind, we may deliberately focus and maintain for some minutes our full awareness in the body, affirming: ‘This is my physical body, my instrument, not myself. I investigate my experience of my body and of the physical world with which I am sur­rounded. I realize myself fully as physical man’.

Do đó, nếu chúng ta quyết tâm đạt được tri thức hoàn chỉnh về cấu trúc của chính mình—và có thể có nghiên cứu nào quan trọng hơn không?—chúng ta có thể bắt đầu tốt với thể xác. Sau khi tham gia vào các thủ tục sơ bộ, liên quan đến sự riêng tư, tư thế, thư giãn, làm dịu cảm xúc và hài hòa thể trí, chúng ta có thể cố ý tập trung và duy trì trong vài phút nhận thức đầy đủ của mình trong cơ thể, khẳng định: ‘Đây là thể xác của tôi, công cụ của tôi, không phải bản thân tôi. Tôi khảo sát trải nghiệm của mình về cơ thể và thế giới hồng trần mà tôi được bao quanh. Tôi nhận ra bản thân mình một cách trọn vẹn như một người hồng trần’.

Then after a pause, rising in consciousness to the realm of feeling, if only in imagination at first, we may further affirm: ‘This is my emo­tional body, my instrument, not my self. My consciousness is focussed in it. I feel and know it. I realize myself as emotional man’. Gradually, from this state of positive affirmation, we may extend the conscious­ness and begin to respond self-consciously to impacts from the emo­tional world, to study and record emotional experience. During this process we must retain a measure of physical and mental alertness, re­cording, testing and experimenting with emotional consciousness.

Sau đó, sau một khoảng dừng, trỗi dậy trong tâm thức đến cõi cảm xúc, nếu chỉ trong trí tưởng tượng lúc ban đầu, chúng ta có thể khẳng định thêm: ‘Đây là thể cảm xúc của tôi, công cụ của tôi, không phải bản thân tôi. Tâm thức của tôi tập trung vào nó. Tôi cảm nhận và biết nó. Tôi nhận ra bản thân mình như một người cảm xúc’. Dần dần, từ trạng thái khẳng định tích cực này, chúng ta có thể mở rộng tâm thức và bắt đầu đáp ứng một cách tự ý thức với những tác động từ thế giới cảm xúc, để nghiên cứu và ghi lại trải nghiệm cảm xúc. Trong quá trình này, chúng ta phải duy trì một mức độ tỉnh táo về thể chất và trí tuệ, ghi lại, kiểm tra và thử nghiệm với tâm thức cảm xúc.

Similarly, we may rise above the limitations of emotion, letting desire fall away, as we realize ourselves as mental man. We may grad­ually extend outwards onto the mental plane, feel the conditions there, study mental phenomena and our reactions to then. Again, we must re­peatedly experiment, test and record.

Tương tự, chúng ta có thể vượt lên trên những giới hạn của cảm xúc, để ham muốn rơi rụng, khi chúng ta nhận ra bản thân mình là người trí tuệ. Chúng ta có thể dần dần mở rộng ra bên ngoài vào cõi trí, cảm nhận các điều kiện ở đó, nghiên cứu các hiện tượng trí tuệ và các phản ứng của chúng ta đối với chúng. Một lần nữa, chúng ta phải liên tục thử nghiệm, kiểm tra và ghi lại.

By a supreme effort of will, we may the take the leap into the formless worlds, rise into causal consciousness, affirming: ‘I am not my physical body. I am not the desires which affect it. I am not my mind. I am the Divine Flame within my heart, eternal, ancient, without beginning, without end. More radiant than the sun, purer than the snow subtler than the ether, is the Spirit, the Self within my heart’.

Bằng một nỗ lực ý chí tối thượng, chúng ta có thể thực hiện bước nhảy vọt vào những thế giới vô tướng, trỗi dậy vào tâm thức nhân quả, khẳng định: ‘Tôi không phải là thể xác của tôi. Tôi không phải là những ham muốn ảnh hưởng đến nó. Tôi không phải là thể trí của tôi. Tôi là Ngọn Lửa Thiêng Liêng trong trái tim tôi, vĩnh cửu, cổ xưa, không có khởi đầu, không có kết thúc. Rạng rỡ hơn mặt trời, thuần khiết hơn tuyết, vi tế hơn dĩ thái, là Tinh Thần, Bản Thể trong trái tim tôi’.

Then after a pause in contemplation, we may affirm with all our power of realization ‘I am that Self, that Self am I’.

Sau đó, sau một khoảng dừng trong chiêm ngưỡng, chúng ta có thể khẳng định với tất cả năng lực nhận thức của mình ‘Tôi là Bản Thể đó, Bản Thể đó là Tôi’.

Eventually this powerful mantram opens out the consciousness into the blazing light of the spiritual worlds. But at first it must be fol­lowed by further contemplation in utter stillness and mental equipoise. Spiritual awareness gradually awakens, as the consciousness reaches the apotheosis of impersonality and for a moment, or maybe an hour, ‘the dewdrop’ of individual consciousness ‘slips into the shining sea’ of the consciousness of the Supreme.

Cuối cùng, mantram mạnh mẽ này mở ra tâm thức vào ánh sáng rực rỡ của các thế giới tinh thần. Nhưng lúc đầu, nó phải được tiếp nối bằng sự chiêm ngưỡng sâu hơn trong sự tĩnh lặng hoàn toàn và sự thăng bằng trí tuệ. Nhận thức tinh thần dần dần thức tỉnh, khi tâm thức đạt đến đỉnh cao của tính vô ngã và trong một khoảnh khắc, hoặc có thể là một giờ, ‘giọt sương’ của tâm thức cá nhân ‘trượt vào biển cả rạng ngời’ của tâm thức của Đấng Tối Cao.

By continuous practice along these lines we may gradually learn to live in ‘the shining sea’, and acquire the art of true contemplation in which alone the hidden and inexpressible glory of the Self is revealed. By steady perseverance we may enter into and truly begin to know something of the fiery power and Splendour of the ‘Shining Augoeides’, which is the true Self of man, and realize ourselves as the Divine Spark, which is the heart of the Eternal Flame. In Chapter V of my book The Science of Seership, I describe some of the results of this particular method of exploration of levels of consciousness.

Bằng cách thực hành liên tục theo những đường lối này, chúng ta có thể dần dần học cách sống trong ‘biển cả rạng ngời’ và có được nghệ thuật chiêm ngưỡng đích thực, trong đó chỉ có vinh quang tiềm ẩn và không thể diễn tả của Bản Thể được tiết lộ. Bằng sự kiên trì vững chắc, chúng ta có thể bước vào và thực sự bắt đầu biết điều gì đó về năng lực rực lửa và Sự Huy Hoàng của ‘Augoeides Rạng Ngời’, vốn là Bản Thể đích thực của con người, và nhận ra bản thân mình là Tia Lửa Thiêng Liêng, vốn là trái tim của Ngọn Lửa Vĩnh Hằng. Trong Chương V của cuốn sách Khoa Học về Nhãn Thông của tôi, tôi mô tả một số kết quả của phương pháp khám phá các cấp độ tâm thức cụ thể này.

Meditation does indeed reveal the existence of a fire aspect of man, as also of the universe. Within the heart of every atom, as every man, there exists a living fire, there bums a hidden flame. This spiritual fire is the manifestation of the third aspect of the Logos throughout all Nature. It is the Pentecostal Flame, it is the divine Afflatus, the fire of genius in man. It is the power by which all Nature is continually transformed and renewed.

Tham thiền thực sự tiết lộ sự tồn tại của một khía cạnh lửa của con người, cũng như của vũ trụ. Bên trong trái tim của mỗi nguyên tử, như mỗi con người, tồn tại một ngọn lửa sống, có một ngọn lửa ẩn cháy. Ngọn lửa tinh thần này là sự biểu hiện của phương diện thứ ba của Thượng đế trong khắp Tự Nhiên. Đó là Ngọn Lửa Lễ Ngũ Tuần, đó là Cảm Hứng thiêng liêng, ngọn lửa thiên tài trong con người. Đó là sức mạnh mà nhờ đó toàn bộ Tự Nhiên liên tục được biến đổi và đổi mới.

At this present period of planetary life, under the impulse of cy­clic laws, this hidden fire would seem to be burning more brightly and more powerfully than has been the case for many centuries. A plane­tary Pentecost would seem to be approaching, for the hidden fire is stir­ring everywhere. In the heart of the planet itself, in the earth crust, in rock, in metal and in jewel, in water and in air, in angel and in man, the universal fire is becoming newly self-revealed. An age of fire is fast approaching—an age of genius in every human activity, in science, in art, in government, and especially in religious life. Mighty forces are indeed stirring in our globe, are slowly being discovered by the chem­ist, the physicist, the electrician, the astronomer, and are being felt by artists, men of letters, as well as by men of action. They are manifest­ing as an inner driving power, and upwelling life, an inspiration to greater effort and a more magnificent achievement in every depart­ment of human endeavour. The aspirant is advised to discover and study this fiery power in himself and in Nature.

Vào thời điểm hiện tại của đời sống hành tinh, dưới sự thúc đẩy của các định luật tuần hoàn, ngọn lửa ẩn này dường như đang cháy sáng hơn và mạnh mẽ hơn so với nhiều thế kỷ trước. Một Lễ Ngũ Tuần hành tinh dường như đang đến gần, vì ngọn lửa ẩn đang khuấy động ở khắp mọi nơi. Trong trái tim của chính hành tinh, trong lớp vỏ trái đất, trong đá, trong kim loại và trong ngọc, trong nước và trong không khí, trong thiên thần và trong con người, ngọn lửa phổ quát đang trở nên tự biểu lộ một cách mới mẻ. Một kỷ nguyên của lửa đang nhanh chóng đến gần—một kỷ nguyên của thiên tài trong mọi hoạt động của con người, trong khoa học, trong nghệ thuật, trong chính phủ và đặc biệt là trong đời sống tinh thần. Các mãnh lực vĩ đại thực sự đang khuấy động trong địa cầu của chúng ta, đang dần được các nhà hóa học, nhà vật lý, nhà điện học, nhà thiên văn học khám phá và đang được các nghệ sĩ, nhà văn cũng như những người hành động cảm nhận. Các mãnh lực này đang biểu hiện như một động lực thúc đẩy bên trong, một sự sống trào dâng, một nguồn cảm hứng cho những nỗ lực lớn hơn và một thành tựu tráng lệ hơn trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người. Người chí nguyện được khuyên nên khám phá và nghiên cứu sức mạnh lửa này trong chính mình và trong Tự Nhiên.

Of this fiery element, an angel sang: ‘In every rock, in every stone, jewel, plant, animal, and man, it ceaselessly exerts an influence in the direction of change; because of its presence nothing in Nature can ever stand still; it ensures the growth of the system. Its power is wielded, not only by the nature spirits who labour instinctively in the cause of change, but by the great fire-angels who consciously produce all changes throughout the system, so that the new birth which results may grow ever nearer and nearer to the likeness of its archetype in the mind of God. Thus, fire is “the power that maketh all things new” and change its universal watchword, the fundamental law throughout the whole realm of fire, the word by which its energies are freed and its denizens invoked.

Về yếu tố lửa này, một thiên thần đã hát: ‘Trong mọi tảng đá, trong mọi viên đá, ngọc, cây, động vật và con người, nó không ngừng tác động một ảnh hưởng theo hướng thay đổi; vì sự hiện diện của nó, không có gì trong Tự Nhiên có thể đứng yên; nó đảm bảo sự tăng trưởng của hệ thống. Sức mạnh của nó được sử dụng, không chỉ bởi các tinh linh tự nhiên vốn lao động một cách bản năng vì mục đích thay đổi, mà còn bởi các Thái dương Thiên Thần vĩ đại, Các Ngài vốn ý thức tạo ra mọi thay đổi trong toàn hệ thống, để sự tái sinh vốn có thể đến ngày càng gần hơn với hình mẫu của nó trong thể trí của Thượng đế. Do đó, lửa là “sức mạnh làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ” và thay đổi là khẩu hiệu phổ quát của nó, định luật cơ bản trong toàn bộ cõi lửa, là linh từ mà nhờ đó các năng lượng của nó được giải phóng và cư dân của nó được khẩn cầu.

‘When the spark leaps from the flint, divinity is revealed; when the fire is lighted on the hearth, the sacred Presence is invoked; where that divinity is revealed and that Presence is invoked, man and angel should both pay homage to that to which they owe their life. The days of fire worship must return; within men’s hearts and minds the sacred fire of the divine life must bum more brightly as each man knows him­self to be the earthly counterpart of the central fiery Man who reigns omnipotent, whose throne is set both in his heart and in the fiery heart of the universe.

‘Khi tia lửa bắn ra từ đá lửa, thiên tính được tiết lộ; khi ngọn lửa được thắp trên lò sưởi, Sự Hiện Diện thiêng liêng được khẩn cầu; nơi mà thiên tính đó được tiết lộ và Sự Hiện Diện đó được khẩn cầu, con người và thiên thần đều nên tỏ lòng tôn kính đối với những gì mà họ mang ơn sự sống của mình. Những ngày thờ lửa phải trở lại; trong trái tim và thể trí của con người, ngọn lửa thiêng liêng của sự sống thiêng liêng phải cháy sáng hơn khi mỗi người biết mình là đối phần trần thế của Đấng Thiên Nhân rực lửa trung tâm, Đấng trị vì toàn năng, ngai vàng của Ngài được đặt cả trong trái tim y và trong trái tim rực lửa của vũ trụ.

‘Fire is the parent of Spring, the promise of renewal in all worlds; fire dwells in the heart of man, fire warms his blood; in his invisible self he is a man of fire.

‘Lửa là cha mẹ của Mùa Xuân, là lời hứa đổi mới trong tất cả các cõi giới; lửa ngự trong trái tim của con người, lửa sưởi ấm máu của y; trong bản thể vô hình của y, y là một người của lửa.

Hymn to Fire

Bài Ca Tụng Lửa

Hail Spirits of the Fire!

Kính chào Các Tinh Linh của Lửa!

Hail Spirits of the Fire!

Kính chào Các Tinh Linh của Lửa!

In all your countless numbers,

Trong vô số số lượng của Các Ngài,

In all your manifold degrees,

Trong tất cả các cấp độ đa dạng của Các Ngài,

We greet you, Brethren of the Fire!

Chúng ta chào đón Các Ngài, Các Huynh Đệ của Lửa!

Oh holy Fire! Oh wondrous Flame!

Ôi Lửa thiêng liêng! Ôi Ngọn Lửa kỳ diệu!

Transformer of the universe, regenerator of all worlds,

Đấng Biến Đổi vũ trụ, Đấng tái tạo tất cả các cõi giới,

Life giver to. all form.

Đấng ban sự sống cho tất cả hình tướng.

The glory of Thy fiery power fills heaven and earth,

Vinh quang sức mạnh rực lửa của Ngài tràn ngập trời và đất,

And all the wide dominions that lie between the stars.

Và tất cả các lãnh địa rộng lớn nằm giữa các vì sao.

Thou art the spark within the stone, the life within the tree,

Ngài là tia lửa trong viên đá, là sự sống trong cây,

Thou art the fire on the hearth, the Splendour of the Sun,

Ngài là ngọn lửa trên lò sưởi, là Sự Huy Hoàng của Mặt Trời,

Thine is the hand which paints the roseate mom,

Tay Ngài là tay vẽ nên buổi sớm mai ửng hồng,

Thine the fiery beauty of the sunset sky;

Vẻ đẹp rực lửa của Ngài là bầu trời hoàng hôn;

Thine the warm breath of flower scented summer breeze,

Hơi thở ấm áp của Ngài là làn gió mùa hè thơm ngát hương hoa,

Thine the power that maketh all things new.

Sức mạnh của Ngài là sức mạnh làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ.

Fire to Fire, we offer our souls to Thee,

Lửa với Lửa, chúng con dâng linh hồn mình cho Ngài,

Draw us close to Thy fiery heart,

Hãy kéo chúng con đến gần trái tim rực lửa của Ngài,

That we may lose ourselves in Thee.

Để chúng con có thể lạc mình trong Ngài.

Oh Fire Divine! Bum fiercely in our lives,

Ôi Lửa Thiêng Liêng! Hãy cháy dữ dội trong cuộc sống của chúng con,

That darkness, lust and hate may be dispelled

Để bóng tối, dục vọng và hận thù có thể bị xua tan

And human souls shine forth in purity,

Và linh hồn con người tỏa sáng trong sự thuần khiết,

With all the dazzling glory of the Sun.

Với tất cả vinh quang rực rỡ của Mặt Trời.

Cleanse us oh lordly Fire; rejuvenate our hearts and minds;

Xin hãy thanh tẩy chúng con, hỡi Lửa cao quý; xin hãy trẻ hóa trái tim và thể trí của chúng con;

Bum up the dross, recharge the will

Hãy đốt cháy cặn bã, nạp lại ý chí

And send us forth to labour in Thy name,

Và phái chúng con đi lao động trong danh Ngài,

Thy chosen men of Fire.—Amen’.13

Những người của Lửa được Ngài chọn.—Amen’.

Meditation on these words will lift the aspirant into the realization of the One Flame and of his identity therewith.

Tham thiền về những lời này sẽ nâng người chí nguyện vào sự nhận ra Ngọn Lửa Duy Nhất và sự đồng nhất của y với Ngài.

As he serves, perfects his character and thus mediates, he will feel this fiery power stirring within himself, will become irresistibly im­pelled towards the attainment of union with the one universal Flame. On this mighty fiery tide he may ascend, following the fiery path of Enoch and Elijah, borne upon wings of flame into the surpassing glory of the Supreme. Such ascent is quite possible, for in this state of con­sciousness the Ego of a developed man dwells continuously.

Khi y phụng sự, hoàn thiện tính cách của mình và do đó làm trung gian, y sẽ cảm thấy sức mạnh rực lửa này khuấy động bên trong mình, sẽ bị thôi thúc một cách không thể cưỡng lại để đạt được sự hợp nhất với Ngọn Lửa phổ quát duy nhất. Trên dòng chảy rực lửa hùng mạnh này, y có thể thăng lên, đi theo con đường rực lửa của Enoch và Elijah, được mang trên đôi cánh lửa vào vinh quang vượt trội của Đấng Tối Cao. Sự thăng lên như vậy là hoàn toàn có thể, vì trong trạng thái tâm thức này, chân ngã của một người đã phát triển cư ngụ liên tục.

From Egoic consciousness he may proceed to explore self-con­sciously the inner spiritual worlds, plunging into the fathomless depths of his own being and discovering the immeasurable power and Splen­dour of that God which is his deepest Self.

Từ tâm thức chân ngã, y có thể tiến hành khám phá một cách tự giác các cõi giới tinh thần bên trong, lao vào chiều sâu vô tận của bản thể mình và khám phá sức mạnh và Sự Huy Hoàng vô lượng của Thượng đế vốn là Bản Thể sâu sắc nhất của y.

In the buddhic world is gained the first full realization of the unity of Life. There is union. There Truth is perceived direct. Subject and object disappear, for we are above them and perceive the one Life within them both. There too is the Lord of Unity, the Lord Christ, the perfected embodiment of the Christ consciousness in the Logos and in man. There also are all Christs, Masters, Perfect Ones, and we are one with Them; one with all that lives, one with Life in every form.

Trong cõi Bồ đề, người ta đạt được sự nhận ra đầy đủ đầu tiên về sự hợp nhất của Sự Sống. Có sự hợp nhất. Ở đó Chân Lý được nhận thức trực tiếp. Chủ thể và đối tượng biến mất, vì chúng ta ở trên chúng và nhận thức Sự Sống duy nhất bên trong cả hai. Ở đó cũng có Đức Chúa Tể của Sự Hợp Nhất, Đức Christ, hiện thân hoàn hảo của tâm thức Christ trong Thượng đế và trong con người. Ở đó cũng có tất cả các Đức Christ, Chân sư, Đấng Hoàn Hảo và chúng ta là một với Các Ngài; một với tất cả những gì sống, một với Sự Sống trong mọi hình tướng.

Illumined by that light we may go on questioning and adventur­ing, ever seeking new worlds to conquer, new realms to explore; cer­tain of victory, we become conscious of growing power and self-mastery with every forward step.

Được soi sáng bởi ánh sáng đó, chúng ta có thể tiếp tục chất vấn và phiêu lưu, luôn tìm kiếm những thế giới mới để chinh phục, những cõi giới mới để khám phá; chắc chắn về chiến thắng, chúng ta trở nên ý thức về sức mạnh ngày càng tăng và khả năng tự chủ với mỗi bước tiến về phía trước.

The tears of Alexander are not for us, for with every forward step we take, new worlds to conquer are revealed, new peaks to climb, new lands for our adventuring. Even the atmic or nirvanic world is not be­yond our reach, for we have an atmic vehicle.

Những giọt nước mắt của Alexander không dành cho chúng ta, vì với mỗi bước tiến về phía trước mà chúng ta thực hiện, những thế giới mới để chinh phục được tiết lộ, những đỉnh cao mới để leo lên, những vùng đất mới cho cuộc phiêu lưu của chúng ta. Ngay cả cõi atma hay Niết Bàn cũng không nằm ngoài tầm với của chúng ta, vì chúng ta có một vận cụ atma.

Still higher than the Monad is the Logos, Our Lord the Sun, whose wondrous life pervades and sustains His’ solar fields. We must reach out and try to be one with Him, to realize His centre in the Sun,

Vẫn cao hơn Chân Thần là Thượng đế, Đức Chúa Tể Mặt Trời của chúng ta, Đấng mà sự sống kỳ diệu của Ngài thấm nhuần và duy trì các địa hạt thái dương của Ngài. Chúng ta phải vươn ra và cố gắng hợp nhất với Ngài, để nhận ra trung tâm của Ngài trong Mặt Trời,

His all-pervading Immanence throughout all worlds begin to know His mighty power, to shine with His wondrous light, and to become radiant messengers of His power and light to men.

Sự Hiện Diện bao trùm tất cả của Ngài trong tất cả các cõi giới bắt đầu biết sức mạnh vĩ đại của Ngài, tỏa sáng với ánh sáng kỳ diệu của Ngài và trở thành những sứ giả rạng rỡ về sức mạnh và ánh sáng của Ngài cho con người.

Theosophy in New Zealand, Vol. 34, No. 2, 1973, p. 2

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 34, Số 2, 1973, tr. 2

24

Meditation—Elixir of Life—Tham Thiền—Thuốc Trường Sinh

(The following Talks in the form of Question and Answer were given by Mr Hodson at Pumpkin Hollow during his recent tour of the United States. They make fascinating and fruitful reading, covering many aspects of this important part of the spiritual life.)

(Những Cuộc Nói Chuyện sau đây dưới hình thức Hỏi và Đáp đã được Ông Hodson đưa ra tại Pumpkin Hollow trong chuyến lưu diễn gần đây của Ông ở Hoa Kỳ. Chúng tạo nên một bài đọc hấp dẫn và hiệu quả, bao gồm nhiều khía cạnh của phần quan trọng này trong đời sống tinh thần.)

Question: How do you prevent meditation from becoming nothing more than an exercise in thinking?

Câu hỏi: Làm thế nào để ngăn việc tham thiền trở thành không gì khác hơn là một bài tập tư duy?

Answer: In our daily life we normally identify ourselves with our physical bodies—our flesh. It takes a real effort of will to realize that we have been under a delusion all the time. In yoga you must break that illusion and your mind is the instrument to use. Deliberately we prac­tice, saying ‘I am the Spiritual Self until it becomes a reality. It is a quick refocusing of Self identity and a transcendence of the personal self. I have done it so long that I know it is a fact. This affirmation is an exercise and you must use it as such until the reality pervades the con­sciousness. It is like beginning to learn the piano. First you learn the notes, then you learn the fingering and the touch. After this you learn some airs and then you keep repeating them until you can play them correctly—eventually you can begin to interpret the subtleties of the music. Obviously the first stage is semi-automatic.

Trả lời: Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường đồng hóa mình với thể xác—thịt da của chúng ta. Cần phải có một nỗ lực thực sự của ý chí để nhận ra rằng chúng ta đã ở dưới một ảo tưởng trong suốt thời gian qua. Trong yoga, bạn phải phá vỡ ảo tưởng đó và thể trí của bạn là công cụ để sử dụng. Chúng ta cố ý thực hành, nói ‘Tôi là Bản Thể Tinh Thần cho đến khi nó trở thành hiện thực. Đó là một sự tái tập trung nhanh chóng vào sự đồng nhất Bản Thể và một sự siêu việt bản ngã. Tôi đã làm điều đó quá lâu nên tôi biết đó là một sự thật. Lời khẳng định này là một bài tập và bạn phải sử dụng nó như vậy cho đến khi thực tế thấm nhuần tâm thức. Nó giống như bắt đầu học piano. Đầu tiên bạn học các nốt nhạc, sau đó bạn học cách đặt ngón tay và cách chạm. Sau đó, bạn học một số giai điệu và sau đó bạn tiếp tục lặp lại chúng cho đến khi bạn có thể chơi chúng một cách chính xác—cuối cùng bạn có thể bắt đầu giải thích những sự tinh tế của âm nhạc. Rõ ràng giai đoạn đầu là bán tự động.

When you begin the second part, thought becomes less and less obtrusive and when you get to the affirmation, ‘I am the Divine’ the thinking process is almost stopped. A kind of realization in light is tak­ing place—immortal, imperishable, radiant spiritual light throughout the universe. Thinking now takes on the quality of the higher manas—of intuition. With the final affirmation, ‘I am that Eternal Self, that Self am I’, thought ceases. Don’t think any more. Become as it were ‘de­mented’. I realize that this is advice which is for the average person very nearly impossible to follow since you can’t really still your mind. But in this and other forms of yoga it falls still. My mind, very early now, falls still as if mentality had become dissolved. If, in the middle of your meditation your mind falls still, do not disturb it. Don’t imag­ine that you must get on with the exercise if there comes a marvellous blessed moment when all is still without and within. Such a state means that the Ego and the Higher Self are continuing the meditation in the higher world. Don’t stir!

Khi bạn bắt đầu phần thứ hai, tư tưởng ngày càng ít xâm phạm hơn và khi bạn đến với lời khẳng định, ‘Tôi là Đấng Thiêng Liêng’, quá trình tư duy gần như dừng lại. Một loại nhận ra trong ánh sáng đang diễn ra—ánh sáng tinh thần bất tử, không thể diệt vong, rạng rỡ trong khắp vũ trụ. Tư duy giờ đây mang phẩm chất của thượng trí—của trực giác. Với lời khẳng định cuối cùng, ‘Tôi là Bản Thể Vĩnh Cửu đó, Bản Thể đó là Tôi’, tư tưởng chấm dứt. Đừng suy nghĩ nữa. Hãy trở nên như thể ‘mất trí’. Tôi nhận ra rằng đây là lời khuyên mà đối với người bình thường là gần như không thể làm theo vì bạn không thể thực sự làm cho thể trí của mình tĩnh lặng. Nhưng trong hình thức yoga này và các hình thức khác, nó trở nên tĩnh lặng. Thể trí của tôi, rất sớm bây giờ, trở nên tĩnh lặng như thể tâm trí đã tan biến. Nếu, ở giữa buổi tham thiền của bạn, thể trí của bạn trở nên tĩnh lặng, đừng làm phiền nó. Đừng tưởng tượng rằng bạn phải tiếp tục với bài tập nếu có một khoảnh khắc thiêng liêng tuyệt vời khi mọi thứ đều tĩnh lặng bên trong và bên ngoài. Một trạng thái như vậy có nghĩa là chân ngã và Chân Ngã đang tiếp tục tham thiền trong cõi giới cao hơn. Đừng khuấy động!

Question: In this meditation is the consciousness centred in the heart or in the middle of the head?

Câu hỏi: Trong buổi tham thiền này, tâm thức có tập trung vào trái tim hay ở giữa đầu?

Answer: The idea of the meditation is ‘To become one with the inner ruler immortal seated in the heart of all beings’. The words, ‘the inner ruler immortal seated in the heart of all beings’, come from the Bhagavad Gita. In my opinion the meaning of the word ‘heart’ is the centre of existence—the heart of your nature. At the heart of your na­ture is the universal Deity. It is the Egyptian idea of heart. It has very little to do with the body. Seated in the heart of all beings means the heart of your nature. If you think of it as a sphere, it would be the cen­tre. If I may speak personally, nearly always now—rightly or wrongly—all my meditations go on in the middle of my head. I find the spirit situated in the third ventricle of the brain—the hypothalamus. This morning when I said, ‘The Self in me is one—the Self which I am is one with the Self of all’, for some reason this morning it was the sun which was shining everywhere within and without. I slipped away into what you might call solar reflection—perhaps a partial identity with the Solar Logos in the centre of the sun.

Trả lời: Ý tưởng của buổi tham thiền là ‘Trở nên hợp nhất với người cai trị bên trong bất tử ngự trong trái tim của tất cả chúng sinh’. Những lời, ‘người cai trị bên trong bất tử ngự trong trái tim của tất cả chúng sinh’, đến từ Bhagavad Gita. Theo ý kiến của tôi, ý nghĩa của từ ‘trái tim’ là trung tâm của sự tồn tại—trái tim của bản chất bạn. Ở trái tim của bản chất bạn là Thượng đế phổ quát. Đó là ý tưởng về trái tim của người Ai Cập. Nó rất ít liên quan đến cơ thể. Ngự trong trái tim của tất cả chúng sinh có nghĩa là trái tim của bản chất bạn. Nếu bạn nghĩ về nó như một hình cầu, nó sẽ là trung tâm. Nếu tôi có thể nói một cách cá nhân, gần như luôn luôn bây giờ—dù đúng hay sai—tất cả các buổi tham thiền của tôi đều diễn ra ở giữa đầu tôi. Tôi thấy tinh thần nằm ở tâm thất thứ ba của não—vùng dưới đồi. Sáng nay khi tôi nói, ‘Bản Thể trong tôi là một—Bản Thể mà tôi là một với Bản Thể của tất cả’, vì một lý do nào đó sáng nay đó là mặt trời đang chiếu sáng khắp mọi nơi bên trong và bên ngoài. Tôi trượt vào cái mà bạn có thể gọi là phản chiếu thái dương—có lẽ là một sự đồng nhất một phần với Thái dương Thượng đế ở trung tâm của mặt trời.

Some people meditate in the heart—especially the more devo­tional types. The centre of consciousness is in the heart. Don’t think you have got to obey some rule. We are all different, therefore rules don’t really govern us. That was pure Vedanta which I did with you in this morning’s meditation. It is the meditation of the great teacher, Shri Shankaracharya. Quoting from his book, ‘The meditator peels the sheafs of the self from the atma one by one. What remains is the wit­ness’. This is what we did this morning. We undressed ourselves as it were and got to the control core of our existence. It does require prac­tice since it is an exercise, but sooner or later, with diligent practice, the intellection part does fade out until there remains only a still awareness which is often more vivid and marvellous than thinking. Remain in it and refresh yourself in it.

Một số người tham thiền trong trái tim—đặc biệt là những người sùng đạo hơn. Trung tâm của tâm thức là ở trong trái tim. Đừng nghĩ rằng bạn phải tuân theo một quy tắc nào đó. Tất cả chúng ta đều khác nhau, do đó các quy tắc không thực sự chi phối chúng ta. Đó là Vedanta thuần túy mà tôi đã thực hiện với bạn trong buổi tham thiền sáng nay. Đó là buổi tham thiền của Huấn Sư Vĩ Đại, Shri Shankaracharya. Trích dẫn từ cuốn sách của Ông, ‘Người tham thiền bóc từng lớp vỏ của bản thể khỏi atma. Những gì còn lại là nhân chứng’. Đây là những gì chúng ta đã làm sáng nay. Chúng ta đã cởi bỏ quần áo của mình và đi đến cốt lõi kiểm soát sự tồn tại của chúng ta. Nó đòi hỏi sự thực hành vì nó là một bài tập, nhưng sớm hay muộn, với sự thực hành siêng năng, phần trí tuệ sẽ mờ dần cho đến khi chỉ còn lại một nhận thức tĩnh lặng, thường sống động và kỳ diệu hơn là tư duy. Hãy ở trong đó và làm mới bản thân trong đó.

The exact words and techniques of this meditation may be found in my little pamphlet, A Yoga of Light (revised edition, 1966).

Các từ và kỹ thuật chính xác của buổi tham thiền này có thể được tìm thấy trong cuốn sách nhỏ của tôi, A Yoga of Light (phiên bản sửa đổi, 1966).

Sometimes it is well to start a meditation by, so to speak, charging the atmosphere with a chanting of the word—the sacred word ‘Om’ or ‘Aum’ which means ‘I am my Father’—‘I am That’—‘That am I’. It means unity and implies everything a meditating yogi seeks to under­stand. It is an invocation, a benediction, a promise and an affirmation. It is an invocation, to the God which you are—to the Divine; it is a benediction, a blessing, and an affirmation. The very sound vibrations of this magical, wonderful, simple syllable sets the brain cells going as it vibrates through the head and into the aura. To some extent, it re­leases you from body consciousness.

Đôi khi, tốt hơn là nên bắt đầu một buổi tham thiền bằng cách, có thể nói, nạp năng lượng cho bầu không khí bằng cách xướng linh từ—linh từ thiêng liêng ‘Om’ hoặc ‘Aum’ có nghĩa là ‘Tôi là Cha tôi’—‘Tôi là Cái Đó’—‘Cái Đó là Tôi’. Nó có nghĩa là sự hợp nhất và ngụ ý mọi thứ mà một hành giả yoga tham thiền tìm cách thấu hiểu. Đó là một lời khẩn cầu, một lời chúc lành, một lời hứa và một lời khẳng định. Đó là một lời khẩn cầu, đến Thượng đế mà bạn là—đến Đấng Thiêng Liêng; đó là một lời chúc lành, một phước lành và một lời khẳng định. Chính những rung động âm thanh của âm tiết kỳ diệu, tuyệt vời, đơn giản này khiến các tế bào não hoạt động khi nó rung động qua đầu và vào hào quang. Ở một mức độ nào đó, nó giải phóng bạn khỏi tâm thức thể xác.

It is important that you remember that no words or affirmations or statements of any single member of the Theosophical Society is in the least binding or to be regarded as even a correct statement and least of all a final statement of either Theosophy or the truth. So in attempting to answer any question, I shall be merely offering my thoughts for con­sideration—for what they are worth and nothing more. Everything I say will be almost inevitably coloured by my experience and studies.

Điều quan trọng là bạn phải nhớ rằng không có lời nói hoặc lời khẳng định hoặc tuyên bố nào của bất kỳ thành viên nào của Hội Thông Thiên Học là ràng buộc dù chỉ là nhỏ nhất hoặc được coi là thậm chí là một tuyên bố chính xác và ít nhất là một tuyên bố cuối cùng về Thông Thiên Học hoặc chân lý. Vì vậy, khi cố gắng trả lời bất kỳ câu hỏi nào, tôi sẽ chỉ đưa ra những suy nghĩ của mình để xem xét—về giá trị của chúng và không hơn thế nữa. Mọi điều tôi nói gần như chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và nghiên cứu của tôi.

Question: Is there any special kind of breathing which should be used in meditation?

Câu hỏi: Có loại hô hấp đặc biệt nào nên được sử dụng trong tham thiền không?

Answer: The Theosophical idea of meditation, as I understand it, is a method of orienting the mind toward abstract truth in the hope of ever deeper and deeper comprehension, not only comprehension with the intellect but ever deepening awareness and experience of truth it­self and of unity with whatever source of truth there may be. While cer­tain forms of breathing could be useful, my understanding and experience is that they are in no sense necessary.

Trả lời: Ý tưởng Thông Thiên Học về tham thiền, như tôi hiểu, là một phương pháp định hướng thể trí hướng tới chân lý trừu tượng với hy vọng ngày càng thấu hiểu sâu sắc hơn, không chỉ thấu hiểu bằng trí tuệ mà còn là nhận thức và trải nghiệm ngày càng sâu sắc hơn về chính chân lý và sự hợp nhất với bất kỳ nguồn chân lý nào có thể có. Mặc dù một số hình thức hô hấp nhất định có thể hữu ích, nhưng sự hiểu biết và kinh nghiệm của tôi là chúng không cần thiết theo bất kỳ nghĩa nào.

The contemplation of the Divine is a mento-spiritual activity and it would seem that the sooner you forget the body and all its procedures the better. The more you concentrate on your body and its procedures the worse. Therefore forget the body—forget the self and become as soon as possible absorbed in the Divine. This may be a very general and unsatisfactory answer but it is what I believe.

Việc chiêm ngưỡng Đấng Thiêng Liêng là một hoạt động trí tuệ-tinh thần và dường như bạn càng sớm quên đi cơ thể và mọi hoạt động của nó thì càng tốt. Bạn càng tập trung vào cơ thể và các hoạt động của nó thì càng tệ. Vì vậy, hãy quên đi cơ thể—quên đi bản thân và càng sớm càng tốt hòa mình vào Đấng Thiêng Liêng. Đây có thể là một câu trả lời rất chung chung và không thỏa đáng nhưng đó là điều tôi tin.

Now there are forms of breathing which have certain effects in preparing the mind and body for such successful contemplation. The simplest of all is the slowing down of the breathing. All meditation should begin by seeing that the body is in a completely relaxed state—every muscle, every nerve should be completely relaxed. Then and then alone can the inner Self make the great flight ‘from the alone to the Alone’ as Plotinus calls it. Normally, when you begin to withdraw, your breathing becomes slower by itself without attention.

Hiện nay, có những hình thức hô hấp có những tác dụng nhất định trong việc chuẩn bị thể trí và cơ thể cho sự chiêm ngưỡng thành công như vậy. Đơn giản nhất trong tất cả là làm chậm nhịp thở. Mọi sự tham thiền nên bắt đầu bằng việc đảm bảo rằng cơ thể ở trong trạng thái hoàn toàn thư giãn—mọi cơ bắp, mọi dây thần kinh đều phải hoàn toàn thư giãn. Chỉ khi đó, Chân Ngã bên trong mới có thể thực hiện chuyến bay vĩ đại ‘từ cô độc đến Tuyệt Đối’ như Plotinus gọi. Thông thường, khi bạn bắt đầu rút lui, hơi thở của bạn sẽ tự chậm lại mà không cần chú ý.

There is a form of breathing in which you breathe in through one nostril and out through the other. This is called the sun and the moon breathing or the positive and the negative breathing. This is done rhythmically with pauses, the idea, being to harmonize the positive and negative magnetic forces in the body by inhaling negative and positive prana. Thus complete bodily equipoise is obtained and the conscious­ness can be addressed to the highest truths.

Có một hình thức thở trong đó bạn hít vào bằng một lỗ mũi và thở ra bằng lỗ mũi kia. Đây được gọi là cách thở mặt trời và mặt trăng hoặc cách thở dương và âm. Điều này được thực hiện nhịp nhàng với những khoảng dừng, với ý tưởng là hài hòa các lực từ tính dương và âm trong cơ thể bằng cách hít vào prana âm và dương. Do đó, sự cân bằng toàn diện của cơ thể đạt được và tâm thức có thể được hướng đến những chân lý cao nhất.

I want to seriously warn everybody against any form of breathing in which the consciousness is fixed upon a part of the body—espe­cially the sacrum and the solar plexus. The rule in occultism is that you should not concentrate on any organ or part of your body lower than your heart. In my opinion the ideal is to forget the body—get away from it into the consciousness of the Higher Self and beyond. In the be­ginning you may practice restrained breathing in which you inhale slowly in a controlled manner deep into the diaphragm, restrain the breath for eight, twelve, or sixteen counts and then exhale slowly. This is said to harmonize and sensitize the body but eventually such prac­tices are unnecessary.

Tôi muốn nghiêm túc cảnh báo mọi người về bất kỳ hình thức thở nào mà tâm thức tập trung vào một bộ phận của cơ thể—đặc biệt là xương cùng và tùng thái dương. Quy tắc trong huyền bí học là bạn không nên tập trung vào bất kỳ cơ quan hoặc bộ phận nào trên cơ thể thấp hơn tim của bạn. Theo ý kiến của tôi, lý tưởng là quên đi cơ thể—thoát khỏi nó để đi vào tâm thức của Chân Ngã Cao Hơn và hơn thế nữa. Ban đầu, bạn có thể thực hành thở có kiểm soát, trong đó bạn hít vào chậm rãi một cách có kiểm soát sâu vào cơ hoành, nín thở trong tám, mười hai hoặc mười sáu nhịp đếm rồi thở ra chậm rãi. Người ta nói rằng điều này giúp hài hòa và làm nhạy cảm cơ thể nhưng cuối cùng những thực hành như vậy là không cần thiết.

Question: In the meditation you recommend is there any stimula­tion of the chakras?

Câu hỏi: Trong thiền định mà Ngài khuyên có bất kỳ sự kích thích nào đối với các luân xa không?

Answer: There is a place in yoga, which is the science of achiev­ing union with the Divine or absorption therein, for knowledge con­cerning the various chakras and their functions and awakening. Yet, in pure meditation my experience has been that it is better to forget the whole mechanism of consciousness and get away from it into the high­est state you can enter and be absorbed into the One light—into one vast ocean of light—like water in water, space in space, light in light as written in the Upanishads. When you even draw near to this state the bodily mechanisms including the chakras, just fade out of the con­sciousness altogether. Any quickening or awakening of the chakras occurs naturally without your attention.

Trả lời: Có một vị trí trong yoga, vốn là khoa học đạt được sự hợp nhất với Đấng Thiêng Liêng hoặc sự hòa nhập vào đó, để có kiến thức liên quan đến các luân xa khác nhau và các chức năng và sự thức tỉnh của chúng. Tuy nhiên, trong thiền định thuần túy, kinh nghiệm của tôi cho thấy tốt hơn là nên quên đi toàn bộ cơ chế của tâm thức và thoát khỏi nó để đi vào trạng thái cao nhất mà bạn có thể đạt được và hòa mình vào Ánh sáng Duy Nhất—vào một đại dương ánh sáng bao la—giống như nước trong nước, không gian trong không gian, ánh sáng trong ánh sáng như được viết trong Upanishads. Ngay cả khi bạn đến gần trạng thái này, các cơ chế của cơ thể bao gồm cả các luân xa, sẽ hoàn toàn biến mất khỏi tâm thức. Bất kỳ sự thúc đẩy hoặc thức tỉnh nào của các luân xa đều xảy ra một cách tự nhiên mà bạn không cần chú ý.

The word chakra is a Sanskrit word meaning wheel and is applied in occultism to seven whirling centres of soul force in the Etheric, As­tral and Mental Bodies. They function as channels for the inflow of certain energies into the physical body and as gateways for conscious­ness out of the physical body. For the latter function the most impor­tant is the chakra at the top of the head known as the Sahasrara Padma or the Thousand-Petalled Lotus. If you want to concern yourself with chakras and the forces which energize them, I would advise keeping to the Sahasrara chakra which enables consciousness perhaps to free it­self more readily from the limitations of the body.

Từ luân xa là một từ tiếng Phạn có nghĩa là bánh xe và được áp dụng trong huyền bí học cho bảy trung tâm xoáy của mãnh lực linh hồn trong Thể Dĩ Thái, Thể Cảm Dục và Thể Trí. Chúng hoạt động như các kênh dẫn năng lượng nhất định vào thể xác và là cổng cho tâm thức ra khỏi thể xác. Đối với chức năng thứ hai, quan trọng nhất là luân xa ở đỉnh đầu được gọi là Sahasrara Padma hay Hoa Sen Ngàn Cánh. Nếu bạn muốn quan tâm đến các luân xa và các lực tiếp thêm sinh lực cho chúng, tôi khuyên bạn nên giữ luân xa Sahasrara, vốn có thể cho phép tâm thức giải phóng bản thân dễ dàng hơn khỏi những hạn chế của cơ thể.

Question: Isn’t it selfish to spend much time endeavouring to at­tain a supernormal state of consciousness?

Câu hỏi: Dành nhiều thời gian để cố gắng đạt được một trạng thái tâm thức siêu phàm có ích kỷ không?

Answer: It depends on the motive—the ideal motive in yoga is to be more effective in the service of your fellow men which of course is totally unselfish. It is an axiom, so to speak, in occult philosophy that there is only One Life and that all appearances of separated individual­ities are elusive. This one all-pervading, preserving, vital power, life and consciousness is likened to an ocean pervading every atom in all things and blending them in unity. Thus we are all literally one. So far as man is concerned we are without divisions of any kind—we are a unit.

Trả lời: Điều đó phụ thuộc vào động cơ—động cơ lý tưởng trong yoga là để có hiệu quả hơn trong việc phụng sự đồng loại của bạn, điều này tất nhiên là hoàn toàn vị tha. Có thể nói, trong triết học huyền bí, có một tiên đề rằng chỉ có Một Sự Sống và tất cả những biểu hiện của các cá thể tách biệt đều khó nắm bắt. Sức mạnh, sự sống và tâm thức duy trì, tràn ngập tất cả này được ví như một đại dương tràn ngập mọi nguyên tử trong vạn vật và hòa trộn chúng trong sự hợp nhất. Vì vậy, tất cả chúng ta theo nghĩa đen là một. Về con người, chúng ta không có bất kỳ sự phân chia nào—chúng ta là một thể thống nhất.

Is the monk in his cell, the nun in her cell, the yogis in jungles, caves and ashrams—all those who have deliberately withdrawn from the world and their fellows with the object of concentrating on the at­tainment of this realization—are they selfish? As far as I can answer I would definitely say no, since attainment of oneness with the Infinite by any one unit of life is shared by all. An upliftment of consciousness or increase of power in any one individual thrills throughout the whole of humanity and is shared by all since we are one. The motive must be to attain a realization of unity with the Divine.

Liệu nhà sư trong phòng giam của mình, nữ tu trong phòng giam của mình, các yogi trong rừng rậm, hang động và tu viện—tất cả những người đã cố ý rút lui khỏi thế giới và đồng loại của họ với mục đích tập trung vào việc đạt được sự nhận thức này—có ích kỷ không? Theo như tôi có thể trả lời, tôi chắc chắn sẽ nói không, vì việc đạt được sự hợp nhất với Vô Hạn bởi bất kỳ đơn vị sự sống nào đều được chia sẻ bởi tất cả. Sự nâng cao tâm thức hoặc gia tăng sức mạnh ở bất kỳ cá nhân nào đều lan tỏa khắp toàn thể nhân loại và được chia sẻ bởi tất cả vì chúng ta là một. Động cơ phải là đạt được sự nhận biết về sự hợp nhất với Đấng Thiêng Liêng.

I must qualify this answer by saying that there are people who think they can increase their power over others and bend them to their will through occult means. That, of course, would be entirely selfish.

Tôi phải nói rõ câu trả lời này bằng cách nói rằng có những người nghĩ rằng họ có thể gia tăng quyền lực của mình đối với người khác và uốn nắn họ theo ý muốn của mình thông qua các phương tiện huyền bí. Tất nhiên, điều đó hoàn toàn ích kỷ.

Motivation is the deciding factor.

Động lực là yếu tố quyết định.

Question: How can one control his wandering mind and emo­tional upsets when he tries to meditate?

Câu hỏi: Làm thế nào người ta có thể kiểm soát tâm trí lang thang và những xáo trộn cảm xúc khi cố gắng thiền định?

Answer: This is a personal problem and can be solved only by personally examining an individual to find out the root causes of his troubles. You must know the whole case through and through from childhood on. A general answer is to forget your personal self alto­gether. The key to spirituality is self-forgetfulness and it is also the key to happiness—in fact it is essential to happiness.

Trả lời: Đây là một vấn đề cá nhân và chỉ có thể được giải quyết bằng cách đích thân kiểm tra một cá nhân để tìm ra nguyên nhân gốc rễ của những rắc rối của y. Bạn phải biết toàn bộ trường hợp từ đầu đến cuối từ thời thơ ấu. Một câu trả lời chung là hãy quên đi bản thân cá nhân của bạn hoàn toàn. Chìa khóa để đạt đến tinh thần là sự quên mình và nó cũng là chìa khóa để hạnh phúc—thực tế nó là điều cần thiết cho hạnh phúc.

Yoga is a process of self-forgetfulness how to get rid of self, if you like. I am not my body. I am not my emotions. I am not my mind—these are the garments that I am wearing. I am my true essential Self—I am That. It is as if you removed all your clothes and stood naked in the presence of the Supreme. Each day, in privacy, with the body re­laxed, the thoughts must be withdrawn from the transient, ephemeral world around us and centred on the eternal verities and held there with the realization of oneness with all—‘I and my Father are One’. Or, in the words of the Hindu sage, ‘I am in my Father and I in you and you in Me’—oneness, oneness, oneness! Forget your self and get on with the great work of the spiritual Self which brings increased efficiency, in­creased capacity, increased mastery of life.

Yoga là một quá trình tự quên mình, làm thế nào để loại bỏ bản thân, nếu bạn muốn. Tôi không phải là cơ thể của tôi. Tôi không phải là cảm xúc của tôi. Tôi không phải là thể trí của tôi—đây là những bộ quần áo mà tôi đang mặc. Tôi là Chân Ngã thiết yếu thực sự của tôi—Tôi là Cái Đó. Giống như bạn cởi bỏ hết quần áo và đứng trần truồng trước Đấng Tối Cao. Mỗi ngày, trong sự riêng tư, với cơ thể thư giãn, những suy nghĩ phải được rút khỏi thế giới phù du, chóng tàn xung quanh chúng ta và tập trung vào những chân lý vĩnh cửu và giữ ở đó với sự nhận biết về sự hợp nhất với tất cả—‘Tôi và Cha tôi là Một’. Hoặc, theo lời của nhà hiền triết Hindu, ‘Tôi ở trong Cha tôi và Tôi ở trong bạn và bạn ở trong Tôi’—sự hợp nhất, sự hợp nhất, sự hợp nhất! Hãy quên đi bản thân và bắt tay vào công việc vĩ đại của Chân Ngã tinh thần, vốn mang lại hiệu quả gia tăng, năng lực gia tăng, khả năng làm chủ cuộc sống gia tăng.

If you are going in for occultism, at the very beginning you must arouse and exercise your will. Nothing can be accomplished unless you are really determined about it—determined with a certain final­ity. Bring the will to bear—that is the answer to your question. Rise above your problems and have done with them.

Nếu bạn đang tham gia vào huyền bí học, ngay từ đầu bạn phải khơi dậy và rèn luyện ý chí của mình. Không có gì có thể đạt được trừ khi bạn thực sự quyết tâm về nó—quyết tâm với một sự dứt khoát nhất định. Hãy sử dụng ý chí—đó là câu trả lời cho câu hỏi của bạn. Hãy vượt lên trên những vấn đề của bạn và giải quyết chúng.

Question: Does a time come when you are too old to practice these spiritual disciplines?

Câu hỏi: Có đến lúc bạn quá già để thực hành những kỷ luật tinh thần này không?

Answer: No, as long as the brain has the resiliency and capacity to think upon the eternal do so. When the brain becomes too affected by the ageing process you may have to stop. Meditation and contempla­tion of the Divine is one of the most health-preserving and youth-pre­serving procedures you can follow. If you touch the higher consciousness, you touch the elixir of life. You plunge into it and are, as it were, new-born each time. Thus effective meditation keeps you young.

Trả lời: Không, miễn là bộ não có khả năng phục hồi và khả năng suy nghĩ về những điều vĩnh cửu thì hãy cứ làm như vậy. Khi bộ não bị ảnh hưởng quá nhiều bởi quá trình lão hóa, bạn có thể phải dừng lại. Tham thiền và chiêm ngưỡng Đấng Thiêng Liêng là một trong những thủ thuật bảo tồn sức khỏe và bảo tồn tuổi trẻ nhất mà bạn có thể tuân theo. Nếu bạn chạm vào tâm thức cao hơn, bạn sẽ chạm vào thuốc trường sinh. Bạn lao vào nó và, như thể, được tái sinh mỗi lần. Vì vậy, thiền định hiệu quả giúp bạn trẻ trung.

Question: To succeed in meditation do you have to be a vegetarian?

Câu hỏi: Để thành công trong thiền định, bạn có phải là người ăn chay không?

Answer: No, no, you don’t have to be anything. In Theosophy there are no rules of life. Everybody does exactly as they like so long as they leave other people equally free and don’t infringe on their free­dom. There are no demands for vegetarianism in our movement.

Trả lời: Không, không, bạn không cần phải là bất cứ điều gì. Trong Thông Thiên Học không có quy tắc sống. Mọi người làm chính xác những gì họ thích miễn là họ để những người khác được tự do như nhau và không xâm phạm quyền tự do của họ. Không có yêu cầu nào về ăn chay trong phong trào của chúng ta.

Nevertheless, let us look at this question—let us analyse it. Most of the occultists from Pythagoras through Plato including Indian ashrams of today insist on vegetarianism. Why? It is not a rule im­posed by an Adept or a. guru or the head of a school—it is a law of na­ture. According to a German aphorism, ‘What you eat you are’. There is a certain truth in that since by absorbing and building into your body animal tissues, animal foods and animal matters which have been sub­jected to the influences of the next kingdom below us, you, in a sense, animalize yourself. Nowadays, in psychosomatics, it is very well known that emotions have a very powerful influence on the body con­sciousness. Nearly all food animals die in horror, anguish and terror and that is implanted in their cells. When those cells become embodied in a human being one presumes that the anguish, horror and terror enter with them into the psyche.

Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét câu hỏi này—chúng ta hãy phân tích nó. Hầu hết các nhà huyền bí học từ Pythagoras qua Plato bao gồm cả các tu viện Ấn Độ ngày nay đều nhấn mạnh vào việc ăn chay. Tại sao? Đó không phải là một quy tắc do một Chân sư hay một guru hay người đứng đầu một trường học áp đặt—đó là một quy luật của tự nhiên. Theo một câu cách ngôn của Đức, ‘Bạn ăn gì thì bạn là người đó’. Có một sự thật nhất định trong đó vì bằng cách hấp thụ và xây dựng vào cơ thể bạn các mô động vật, thực phẩm động vật và các chất động vật đã phải chịu ảnh hưởng của giới tiếp theo bên dưới chúng ta, bạn, theo một nghĩa nào đó, tự động vật hóa bản thân. Ngày nay, trong tâm sinh lý học, người ta biết rất rõ rằng cảm xúc có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức cơ thể. Gần như tất cả các động vật làm thực phẩm đều chết trong kinh hoàng, đau khổ và kinh hãi và điều đó được cấy vào các tế bào của chúng. Khi những tế bào đó trở thành hiện thân trong một con người, người ta cho rằng sự đau khổ, kinh hoàng và kinh hãi đi vào tâm lý cùng với chúng.

The objective of meditation is the realization of unity with all. When that unity is even approached, there is a strange and wonderful feeling of compassion, a sort of sublime and gentle tenderness for ev­erybody and everything. Thus, ideally, one hesitates to kill any living thing out of compassion. There is an indescribable and immeasurable amount of suffering inseparable from the meat trade so if you eat meat so it is said—you are associating yourself with that suffering. You are allowing yourself for your pleasure—you may think it a necessity—to associate with and participate in, the horrors of the abbatoir and the slaughter house. Now all this is contrary to the ideal of spirituality.

Mục tiêu của thiền định là nhận ra sự hợp nhất với tất cả. Ngay cả khi sự hợp nhất đó được tiếp cận, có một cảm giác kỳ lạ và tuyệt vời về lòng trắc ẩn, một loại dịu dàng cao thượng và dịu dàng dành cho mọi người và mọi thứ. Vì vậy, về mặt lý tưởng, người ta do dự giết bất kỳ sinh vật sống nào vì lòng trắc ẩn. Có một lượng đau khổ không thể diễn tả và không thể đo lường được không thể tách rời khỏi ngành kinh doanh thịt, vì vậy nếu bạn ăn thịt, người ta nói rằng—bạn đang liên kết mình với sự đau khổ đó. Bạn đang cho phép bản thân vì niềm vui của mình—bạn có thể nghĩ đó là một sự cần thiết—để liên kết và tham gia vào những nỗi kinh hoàng của lò mổ và lò giết mổ. Bây giờ tất cả điều này là trái với lý tưởng của tinh thần.

The purpose of the physical side of meditation, the breathing and the postures, the chanting and any work you may do on your chakras—the purpose of all of that is solely to make your whole being more and more sensitive, more and more refined. You develop, as it were, from long wave, through medium on to short wave reception of signals from your heavenly Self. You therefore take care to build into your body only materials which will enhance that sensitization. This is why the leaders of occult schools insist on their pupils being strict vegetari­ans. The Hindus have this beautiful idea which they call ahimsa, or harmlessness. The ‘a’ is negative in Sanskrit and himsa means hurting. Thus ahimsa means non-hurting in thoughts, emotions, words, hands, voice or person. Essentially this is yoga since the goal is to become ab­solutely compassionate, loving and kind to all both humans and ani­mals. It is a glorious ideal. Meat eating contradicts this ideal so they teach us against it as being contrary to the laws of nature. Meat eating bedulls the body, whereas the ideal of yoga is to make it more sensi­tive. It is like driving your car with the handbrake on all the time. The same is true of alcohol and tobacco. However, we theosophists are of course entirely free to make up our own minds on these matters.

Mục đích của khía cạnh thể xác của thiền định, hơi thở và tư thế, tụng kinh và bất kỳ công việc nào bạn có thể làm trên các luân xa của mình—mục đích của tất cả những điều đó chỉ là làm cho toàn bộ con người bạn ngày càng nhạy cảm hơn, ngày càng tinh tế hơn. Bạn phát triển, như thể, từ sóng dài, qua trung bình đến sóng ngắn để thu tín hiệu từ Chân Ngã thiên thượng của bạn. Do đó, bạn cẩn thận chỉ xây dựng vào cơ thể bạn những vật liệu sẽ tăng cường sự nhạy cảm đó. Đây là lý do tại sao các nhà lãnh đạo của các trường phái huyền bí nhấn mạnh rằng học trò của họ phải là người ăn chay trường. Người Hindu có ý tưởng tuyệt vời này mà họ gọi là ahimsa, hay vô tổn hại. Chữ ‘a’ là phủ định trong tiếng Phạn và himsa có nghĩa là gây tổn thương. Vì vậy, ahimsa có nghĩa là không gây tổn thương trong suy nghĩ, cảm xúc, lời nói, tay, giọng nói hoặc con người. Về bản chất, đây là yoga vì mục tiêu là trở nên hoàn toàn trắc ẩn, yêu thương và tử tế với tất cả mọi người, cả con người và động vật. Đó là một lý tưởng vinh quang. Ăn thịt mâu thuẫn với lý tưởng này nên họ dạy chúng ta chống lại nó vì nó trái với quy luật của tự nhiên. Ăn thịt làm đờ đẫn cơ thể, trong khi lý tưởng của yoga là làm cho nó nhạy cảm hơn. Nó giống như lái xe của bạn với phanh tay luôn bật. Điều tương tự cũng đúng với rượu và thuốc lá. Tuy nhiên, chúng ta, những nhà thông thiên học, tất nhiên hoàn toàn tự do đưa ra quyết định của riêng mình về những vấn đề này.

Theosophy in New Zealand, Vol. 30, No. 3, 1968, p. 55

Thông Thiên Học ở New Zealand, Tập. 30, Số 3, 1968, tr. 55

25

Pathways to the Source of Light—Những Con Đường Dẫn Đến Nguồn Ánh Sáng