These three correspond to the quality of each of the three aspects which express the one Life.
Ba guna vừa kể tương ứng với đặc tính của mỗi một trong ba trạng thái biểu lộ Sự Sống duy nhất.
In such a brief commentary as this perforce must be it is not possible to enlarge to any extent upon this subject, but some idea can be gained as to what is meant by the consummation of non-attachment when applied to the macrocosm or the microcosm. The three gunas have all been used, full experience through the use of form has been acquired, consciousness, perception or awareness through attachment to an object or to a form has been developed, all resources have been utilised, [33] and the spiritual man (logoic or human) has no further use or need for them. He is therefore freed from the gunas, released from form taking as the result of attachment, and enters into a new state of consciousness upon which it is useless for us to speculate.
Trong thiên luận giải vắn gọn này, đương nhiên không thể nào bàn rộng về vấn đề nói trên đến mức khả quan. Thế nhưng, vẫn khả dĩ có được chút ý niệm về vấn đề khi áp dụng sự hoàn toàn buông xả vào đại vũ trụ hay tiểu vũ trụ. Chân thần (của Thượng Đế hay của con người) đã sử dụng cả ba guna; đã thu đạt đầy đủ kinh nghiệm qua việc sử dụng hình hài, sắc tướng; đã phát triển tâm thức, nhận thức hay ý thức qua sự gắn bó với một đối tượng hay hình [33] thể; đã dùng tất cả các nguồn lực, và nay không còn sử dụng hay còn cần đến chúng nữa. Vì thế, Ngài trở nên tự do đối với các guna. Ngài thoát khỏi tình trạng khoác lấy hình thể do bám chấp, và nhập vào một trạng thái tâm thức mới mẻ mà chúng ta chưa thể nào suy đoán.
17. The consciousness of an object is attained by concentration on its fourfold nature: the form, through examination; the quality (or guna), through discriminative participation; the purpose, through inspiration (or bliss) and the soul, through identification.
17. Hành giả ý thức được đối tượng bằng cách chú tâm vào bốn khía cạnh của nó: hình thể, qua việc khảo sát; đặc tính (hay guna), qua việc tham cứu có phân biện; mục đích, qua nguồn hứng khởi (hay phúc lạc); và linh hồn qua sự đồng nhất.
It will be apparent therefore that the statement "as a man thinketh so is he" (Prov. 23:7) is based on occult facts. Every form of any kind has a soul, and that soul or conscious principle is identical with that in the human form; identical in its nature though not in its scope of development, or its degree. This is equally true of the great Lives or superhuman Existences in which man himself "lives and moves and has his being" (Acts 17: 28) and to Whose state of development he aspires.
Thế nên, chúng ta thấy rõ rằng câu cách ngôn “người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó” (Prov. 23: 7) vốn dựa vào sự kiện thực tế nội môn. mọi hình thể hay sắc tướng đều có một linh hồn. Linh hồn hay nguyên khí hữu thức ấy vốn đồng nhất với cái thức trong hình hài con người. Đây là đồng nhất trong bản tính, dù lại khác biệt về phạm vi hay mức độ phát triển. Điều này cũng đúng với các Chân linh cao cả hay những Đấng siêu nhân mà chúng ta “sống, di chuyển và hiện tồn” trong các Ngài (Acts 17: 28), và ngưỡng vọng trạng thái phát triển của các Ngài.
As the aspirant chooses with care the "objects" upon which he will meditate, he through these objects, builds himself a ladder by means of which he arrives eventually at the objectless. As his mind assumes increasingly the meditative attitude of the soul, the brain becomes also increasingly subjugated to the mind as the mind is to the soul. Thus is the lower man gradually identified with the spiritual man who is omniscient [34] and omnipresent. This meditative attitude is assumed through a fourfold process:—
Khi người chí nguyện thận trọng chọn lựa “các đối tượng” để tham thiền, y tự tạo một cái thang để tiến lên qua các đối tượng đó, nhờ thế mà rốt cuộc đạt đến cái phi đối tượng. Bấy giờ thể trí của y ngày càng có tâm thái thiền của linh hồn. Tương tự, bộ não cũng trở nên ngày càng phục tùng thể trí giống như thể trí tuân phục linh hồn. Bằng cách này, phàm nhân dần dần đồng nhất với con người tinh thần, là chân thần toàn tri và vô sở bất tại. Hành giả đạt được tâm thái thiền nói trên qua tiến trình gồm bốn bước: —
1. Meditation on the nature of a particular form, realising, as the form is pondered upon, that it is but a symbol of an inner reality, our whole tangible objective world being built up of form, of some kind (human, subhuman and superhuman), which expresses the life of hosts of sentient beings.
1. Tham thiền về tính chất của một hình thể. Khi suy [35] ngẫm về hình thể đó, y nhận thấy rằng nó chỉ là biểu tượng của một thực tại ẩn bên trong. Toàn bộ thế giới khách quan, hữu hình của chúng ta là sự tích tập của hình hài, sắc tướng thuộc loại nào đó (con người, các loài hạ đẳng, và các siêu nhân), biểu lộ sự sống của vô số chúng sinh hữu tình.
2. Meditation upon the quality of any particular form, so that an appreciation of its subjective energy may be gained. It should be borne in mind that the energy of an object may be regarded as the colour of that object, and hence the words of Patanjali IV, 17 become illuminating in this connection and serve as a commentary upon this second point. This is called "discriminative participation," and through it the student arrives at that knowledge of energy in himself which is one with the object of his meditation.
2. Tham thiền về đặc tính của một hình thể, để đánh giá được năng lượng nội tại của nó. Cần lưu ý rằng năng lượng của một vật thể có thể được xem là màu sắc của nó. Vì thế, lời của Patanjali trong Quyển IV, Câu 17 có thể soi sáng và giải thích vấn đề trong điểm thứ hai này. Đây gọi là “sự tham cứu có phân biện”, và qua đó người môn sinh biết được năng lượng nào nơi chính mình là một với đối tượng mà y đang suy ngẫm.
3. Meditation upon the purpose of any particular form. This involves consideration of the idea back of or underlying any form manifestation and its display of energy. This realisation carries the aspirant onward to a knowledge of that part in the plan or purpose of the All which is the motivating factor in the form's activity. Thus through the part, the Whole is contacted and an expansion of consciousness takes place, involving bliss or joy. Beatitude always follows upon realisation of the unity of the part with the Whole. From meditation upon the tattvas, the energies or principles, or upon the tanmatras or [35] elements composing spirit-matter, a knowledge of the purpose or plan for the microcosmic or macrocosmic manifestations eventuates and with this knowledge comes bliss.
3. Tham thiền về mục đích của một hình thể. Bước này xem xét cái ý niệm ẩn sau hoặc ẩn trong một thể biểu hiện và năng lượng mà nó phát lộ. Nhận thức vừa kể giúp hành giả dần dần biết được phần nào trong Thiên cơ hay mục đích của Toàn thể là yếu tố thôi thúc hình thể ấy hoạt động. Bằng cách này, thông qua một thành phần, hành giả giao tiếp với Toàn thể, và mở rộng tâm thức, với niềm an lạc, hoan hỉ. Trạng thái phúc lạc bao giờ cũng kèm theo nhận thức về sự hợp nhất của một thành phần với Toàn thể. Khi suy ngẫm về tattva, tức là các năng lượng hay nguyên khí, hoặc suy ngẫm về tanmatra hay là các yếu tố cấu thành tinh thần-vật chất, rốt cuộc hành giả biết được mục đích của Thiên cơ dành cho cuộc biểu hiện tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Sự hiểu biết này kèm theo niềm an lạc.
In these three are to be found correspondences to the three aspects, spirit, soul and body, and an illuminating study for the earnest student.
Ba điều nói trên tương ứng với ba trạng thái, tinh thần, linh hồn và thân xác, mang lại ánh sáng khai ngộ cho người môn sinh quan tâm nghiên cứu.
4. Meditation upon the soul, upon the One who uses the form, who energises it into activity and who is working in line with the plan. This soul, being one with all souls and with the Oversoul subserves the one plan and is group-conscious.
4. Tham thiền về linh hồn. Suy ngẫm về Sự Sống nội tại [36] sử dụng hình thể và cung cấp năng lượng cho hình thể đó đi vào hoạt động, và hành hóa đúng theo Thiên cơ. Linh hồn này là một với tất cả các linh hồn khác và là một với Đại hồn, cùng phụng sự Thiên cơ duy nhất và có ý thức tập thể.
Thus through these four stages of meditation upon an object, the aspirant arrives at his goal, knowledge of the soul, and of the soul powers. He becomes consciously identified with the one reality, and this in his physical brain. He finds that truth which is himself and which is the truth hidden in every form and in every kingdom of nature. Thus he will eventually arrive (when knowledge of the soul itself is gained) at a knowledge of the All-Soul and become one with it.
Thế là, qua bốn giai đoạn tham thiền về một đối tượng, hành giả đạt được mục tiêu là biết được linh hồn và các quyền năng của linh hồn. Y đồng nhất một cách hữu thức với thực tại duy nhất, và điều này xảy ra trong bộ não thân xác của y. Y tìm thấy sự thực đó nơi chính mình và vốn là sự thực ẩn trong mọi hình thể và trong mọi giới tiến hóa của thiên nhiên. Khi đã biết được chính linh hồn, rốt cuộc y biết được Đại hồn và hợp nhất với Đại hồn.
18. A further stage of samadhi is achieved when through one-pointed thought, the outer activity is quieted. In this stage the chitta is responsive only to subjective impressions.
18. Hành giả đạt được thêm một giai đoạn của samadhi khi nhờ chuyên tâm mà khiến cho hoạt động bên ngoài trở nên yên lặng. Trong giai đoạn này, chitta chỉ ứng đáp với các ấn tượng nội tại thâm sâu.
The word "samadhi" is subject to various interpretations, and is applied to different stages of yogi achievement. This makes it somewhat difficult for the average student when studying the various commentaries. Perhaps one of the easiest ways to realise its meaning is to remember that [36] the word "Sama" has reference to the faculty of the mind-stuff (or chitta) to take form or to modify itself according to the external impressions. These external impressions reach the mind via the senses. When the aspirant to yoga can control his organs of sense-perception so that they no longer telegraph to the mind their reactions to that which is perceived, two things are brought about:
Từ “samadhi” (nhập định) được giải thích theo nhiều lối khác nhau, và áp dụng cho những giai đoạn thành tựu khác nhau của nhà yogi. Điều này khiến cho người môn sinh trình độ trung bình thấy phần nào khó khăn khi nghiên cứu những bản luận giải khác nhau. Có lẽ một trong những cách dễ nhất để nhận thức ý nghĩa của từ này là lưu ý rằng từ “sama” chỉ về khả năng của trí tuệ chất (hay chitta) có thể khoác lấy hình thể hay tự biến thái theo các ấn tượng từ bên ngoài. Các ấn tượng ngoại lai này đến với thể trí qua các giác quan. Khi người chí nguyện thực hành yoga có thể kiểm soát được các cơ quan dùng cho nhận thức giác quan của mình, để chúng không còn truyền đến thể trí các phản ứng của chúng đối với những gì cảm nhận được, thì có hai điều xảy ra:
a. The physical brain becomes quiet and still,
a. Bộ não của thân xác trở nên yên lặng,
b. The mind stuff or the mental body, the chitta, ceases to assume the various modifications and becomes equally still.
b. Trí tuệ chất hay thể trí, chitta, không còn khoác lấy những biến thái khác nhau và cũng trở nên yên lặng.
This is one of the early stages of samadhi but is not the samadhi of the adept. It is a condition of intense internal activity instead of external; it is an attitude of one-pointed concentration. The aspirant is, however, responsive to impressions from the subtler realms and to modifications arising from those perceptions which are still more subjective. He becomes aware of a new field of knowledge, though as yet he knows not what it is. He ascertains that there is a world which cannot be known through the medium of the five senses but which the right use of the organ of the mind will reveal. He gets a perception of what may lie back of the words found in a later sutra as translated by Charles Johnston, which expresses this thought in particularly clear terms:
Đây là một trong những giai đoạn đầu của samadhi, nhưng không phải là trình độ samadhi của bậc hoàn thiện. Đây là một tình trạng hoạt động cường liệt ở bên trong thay vì bên ngoài. Đây là tâm thái tập trung, chuyên nhất. Tuy nhiên, hành giả ứng đáp với các ấn tượng từ những lĩnh vực tế vi hơn, và ứng đáp với các biến thái phát sinh từ những nhận thức còn thâm sâu hơn nữa. Y ý thức một lĩnh vực hiểu biết mới, dù vẫn chưa biết đó là gì. Y xác định rằng có một thế giới không thể biết được qua trung gian của năm giác quan, nhưng sẽ hiển lộ khi dùng trí tuệ đúng cách. Y hiểu thâm nghĩa khả dĩ có của một câu kinh sau này do Charles Johnston chuyển dịch, phát biểu ý tưởng nói trên qua ngôn từ đặc biệt rõ ràng:
"The seer is pure vision... he looks out through the vesture of the mind." (Book II. Sutra 20.)
“Người tri kiến chính là cái thấy thuần khiết... y nhìn ra xuyên qua lớp áo là cái trí.” (Quyển II. Câu 20.)
The preceding sutra dealt with what may be [37] called meditation with seed or with an object; this sutra suggests the next stage, meditation without seed or without that which the physical brain would recognise as an object.
Câu kinh trước bàn về những gì có thể gọi là tham thiền hữu chủng hay là tham thiền về một đối tượng. Câu này nói lên giai đoạn kế tiếp, tham thiền vô chủng, tức là không có điều gì mà bộ não của thân xác có thể nhận biết như một đối tượng.
It might be of value here if the six stages of meditation dealt with by Patanjali are mentioned as they give a clue to the entire process of unfoldment dealt with in this book:
Ở đây nên kể ra sáu giai đoạn của tham thiền được Patanjali đề cập đến. Chúng cho ta manh mối của toàn bộ tiến trình khai mở được nói đến trong sách này:
1. Aspiration,
1. Nguyện vọng tinh thần,
2. Concentration,
2. Tập trung,
3. Meditation,
3. Tham thiền,
4. Contemplation,
4. Nhập định,
5. Illumination,
5. Khai ngộ,
6. Inspiration.
6. Linh cảm.
It is of value here to note that the student begins by aspiring to that which lies beyond his ken and ends by being inspired by that which he has sought to know. Concentration (or intense focussing) results in meditation and meditation flowers forth as contemplation.
Ở đây chúng ta thấy rằng người môn sinh bắt đầu với nguyện vọng hướng đến những gì ở ngoài phạm vi hiểu biết của mình và kết thúc khi được linh cảm bởi những gì y đã tìm biết. Tập trung (hay là chuyên tâm) dẫn đến tham thiền và tham thiền bừng nở trong trạng thái nhập định hay chiêm ngưỡng.
19. The samadhi just described passes not beyond the bounds of the phenomenal world; it passes not beyond the Gods and those concerned with the concrete world.
19. Trạng thái samadhi vừa mô tả vẫn chưa vượt khỏi phạm vi của thế giới hiện tượng. Trạng thái này chưa vượt qua giới Thiên thần và những gì liên quan đến thế giới cụ thể.
It should be noted here that the results achieved in the processes dealt with in sutras seventeen and eighteen only carry the aspirant to the edge of the realm of the soul, to the new field of knowledge of which he has become aware. He is still confined to the three worlds. All that he has succeeded in doing is stilling the modifications of [38] the mental body so that for the first time the man (on the physical plane and in his physical brain) becomes cognisant of what lies beyond those three worlds—that is, the soul, its range of vision and its knowledge. He has yet to strengthen his link with the soul (dealt with in sutras twenty-three to twenty-eight) and then having transferred his consciousness into that of the real or spiritual man, he must begin working from that new stand-point or vantage point.
Cần lưu ý rằng những kết quả đạt được trong các tiến trình mà các câu mười bảy và mười tám đã bàn, chỉ đưa hành giả đến ranh giới lĩnh vực của linh hồn. Chúng chỉ đưa y đến phạm vi hiểu biết mới mà nay y đã ý thức được. Y vẫn còn bị giam hãm trong tam giới. Tất cả những gì y đã thực hiện thành công [35] là làm yên lặng các biến thái của thể trí. Nhờ đó mà lần đầu tiên (ở cõi trần và trong bộ não của thân xác) y nhận biết được những gì ở ngoài phạm vi của tam giới − là linh hồn, phạm vi thị kiến và hiểu biết của linh hồn. Y còn phải tăng cường mối liên kết với linh hồn (đề cập trong các câu từ hai mươi ba đến hai mươi tám). Và sau khi đã chuyển tâm thức vào lĩnh vực của chân thần, y phải bắt đầu làm việc từ vị thế hay trình độ đó.
The idea has been expressed by some translators as the condition in which the aspirant becomes aware "of the rain cloud of knowable things." The raincloud has not precipitated sufficiently for the rain to fall from heavenly heights onto the physical plane or for the "knowable things" to become known to the physical brain. The cloud is perceived as the result of intense concentration and the stilling of the lower modifications, but until the soul or Master has assumed control the knowledge of the soul cannot be poured into the physical brain via the sixth sense, the mind.
Ý tưởng nói trên được một số dịch giả gọi là tình trạng mà hành giả ý thức được “đám mây mang những điều khả tri.” Đám mây này chưa ngưng tụ đúng mức để cho cơn mưa hiểu biết tuôn đổ từ những cảnh giới cao siêu xuống cõi trần, hoặc để bộ não của thân xác có thể biết được “những điều khả tri” vừa kể. Đám mây là kết quả của sự tập trung chuyên chú và làm cho các biến thái cấp thấp trở nên yên lặng. Thế nhưng, [39] nếu linh hồn hay vị Chủ nhân chưa hoàn toàn chế ngự thì sự hiểu biết của linh hồn chưa thể tuôn đổ vào não bộ trong thân xác qua thể trí, là giác quan thứ sáu.
The science of yoga is a real science and only as students approach it by the correct stages and employ the scientific methods, will the true samadhi or realization be achieved.
Yoga là một khoa học thực sự. Chỉ khi người môn sinh tiếp cận khoa này theo những giai đoạn đúng với phương pháp khoa học, y mới đạt được sự nhận thức hay trạng thái samadhi đích thực.
20. Other yogins achieve samadhi and arrive at a discrimination of pure spirit through belief, followed by energy, memory, meditation and right perception.
20. Những nhà yogi khác đạt được samadhi và phân biệt được tinh thần thuần khiết qua sự tin tưởng, kế đến là nỗ lực, ghi nhớ, tham thiền và nhận thức đúng.
In the previous groups of yogins dealt with, perception was limited to the phenomenal world, [39] though we must understand by that only the three worlds of mental perception, astral perception and of the physical senses. The energies producing concretion and the motive power of thought as it produces effects on the physical plane are contacted and known. Here however the yogin translates himself into more spiritual and subtler realms and becomes aware of that which the self (in its true nature) perceives and knows. He enters into the world of causes. The first group might be regarded as comprising all who are treading the path of discipleship, and covers the time from their entrance upon the Probationary Path until they have taken the second Initiation. The second group is comprised of those higher disciples who—having controlled and transmuted the entire lower nature—make a contact with their monad, spirit or "Father in Heaven" and discern what that monad perceives.
Trong những nhóm nhà yogi mà trước đây chúng ta đã bàn, sự nhận thức chỉ giới hạn trong thế giới hiện tượng. Cần hiểu rằng đó chỉ là ba cảnh giới của nhận thức hạ trí, nhận thức cảm dục, và cảm nhận của các giác quan trong thể xác. Họ tiếp xúc và biết được những năng lượng mang lại sự cụ thể hóa và động lực của tư tưởng tạo nên những hiệu quả ở cõi trần. Tuy nhiên, ở đây nhà yogi bước vào những lĩnh vực có tính tinh thần tế vi hơn, và ý thức được những gì mà chính chân ngã hiểu biết và nhận thức. Y đi vào thế giới của các nguyên nhân. Có thể xem nhóm thứ nhất là gồm những người đang dấn bước trên đường đệ tử. Giai đoạn này bao gồm thời điểm họ bước vào Con đường Dự bị cho đến khi được Điểm đạo lần thứ hai. Nhóm thứ hai là các đệ tử trình độ cao hơn. Sau khi đã chế ngự và siêu hóa trọn cả phàm tính, họ có thể giao tiếp với chân thần, tinh thần hay là “Cha ở trên Trời” và biết được những điều chân thần nhận thức.
The first form of realisation comes to those who are in process of synthesising the six lower centres into the head centre, through the transmutation of the lower four into the higher three, and then of the heart and throat into the head. The second group—through a knowledge of the law—works with all the transmuted and purified centres. They know how to achieve the real samadhi or state of occult abstraction through their ability to withdraw the energies into the thousand petalled lotus of the head, and from thence to abstract them through the other two subtler bodies until all is centred and focussed in the causal vehicle, the karana sarira, the egoic lotus. We are told by [40] Patanjali that this is produced by the following five stages. Students should bear in mind that these stages relate to soul activities, to egoic realisation and not to the reactions of the lower man and the physical brain.
Loại nhận thức thứ nhất đến với những người đang trong tiến trình tổng hợp sáu luân xa thấp vào luân xa đầu. Họ thực hiện điều này bằng cách siêu hóa bốn luân xa thấp [40] vào ba luân xa cao hơn, và sau đó tổng hợp luân xa tim và luân xa cổ họng vào luân xa đầu. Nhờ hiểu biết định luật, nhóm thứ hai làm việc với tất cả các luân xa đã thanh luyện và siêu hóa. Họ biết cách đạt được samadhi thực sự hay là trạng thái trừu tượng hóa của nội môn, nhờ khả năng thu năng lượng vào hoa sen ngàn cánh ở đầu. Từ đó, họ rút tâm thức qua hai thể tinh vi hơn, cho đến khi hoàn toàn tập trung và chuyên chú trong thể nguyên nhân, là karana sarira, hay là hoa sen chân ngã. Patanjali cho biết hành giả đạt đến trình độ này qua năm giai đoạn dưới đây. Người môn sinh cần ghi nhớ rằng các giai đoạn này vốn liên quan đến hoạt động của linh hồn, đến nhận thức của chân ngã, chứ không hề liên quan đến các phản ứng của phàm nhân và của não bộ trong thân xác.
1. Belief. On his own plane the soul rehearses a condition analogous to the belief of the aspirant in the soul or Christ aspect, only in this case the objective is the realisation of that which the Christ or soul is seeking to reveal, the spirit or Father in Heaven. First the disciple arrives at a realisation of the angel of His Presence, the solar angel, ego or soul. This is the achievement of the previous group. Then the Presence itself is later contacted and that Presence is pure spirit, the absolute, the Father of Being. The self and the not-self have been known by this group of initiates. Now the vision of the not-self dims and passes away and only spirit is known. Belief must ever be the first stage. First the theory, then the experiment, and lastly realisation.
1. Tin tưởng. Trên cảnh giới của mình, linh hồn thực hiện một điều tương tự như việc người chí nguyện tin tưởng vào linh hồn hay tâm thức Christ. Chỉ duy trong trường hợp này mục tiêu là nhận thức được những gì mà tâm thức Christ hay linh hồn tìm cách hiển lộ, là tinh thần hay là Cha ở trên Trời. Trước hết, người đệ tử đến mức nhận thức được vị đại diện cho Chân như, Phật tính hay Thiên tính nơi mình. Vị đại diện này còn được gọi là thần thái dương, chân ngã hay linh hồn. Đây là thành tựu của nhóm trước. Về sau, hành giả giao tiếp với Chân như, là tinh thần thuần khiết, là đấng tuyệt đối, là Cha của Sự Sống. Nhóm điểm đạo đồ này đã biết rõ thế nào là chân ngã và phi-ngã. Giờ đây, hình ảnh của phi-ngã mờ dần, rồi tan biến, chỉ còn tinh thần ngự trị. Niềm tin bao giờ cũng là giai đoạn đầu. Bước đầu là học lý thuyết, sau đó là thực nghiệm, và cuối cùng là nhận thức chân lý.
2. Energy. When the theory is grasped, when the goal is perceived, then activity ensues—that right activity and that correct use of force which will bring the goal nearer and make theory fact.
2. Nỗ lực. Khi đã thấu đáo phần lý thuyết, khi đã nhận thức được mục tiêu, thì tiếp theo là nỗ lực − đó là hoạt động [41] đúng đắn với nỗ lực đúng cách để tiến đến gần mục tiêu hơn, và biến lý thuyết thành sự thực.
3. Memory, or right mindfulness. This is an interesting factor in the process as it involves right forgetfulness, or the elimination out of the consciousness of the ego of all those forms which have hitherto veiled the Real. These forms are either self-chosen or self-created. This leads to a condition of true apprehension or the ability to register correctly that which the soul has perceived, [41] and the power to transfer that correct perception to the brain of the physical man. This is the memory referred to here. It does not refer so specifically to recollection of the things of the past, but covers the point of realisation and the transference of that realisation to the brain where it must be registered and eventually recollected at will.
3. Ghi nhớ, hay chánh niệm. Đây là một yếu tố thú vị trong tiến trình vì nó bao gồm việc thải trừ tạp niệm, hay là loại khỏi tâm thức của chân ngã tất cả những hình thái mà từ trước đến nay đã che án Sự thực. Những hình thái này hoặc là do mỗi người tự chọn hay tự tạo. Bước này dẫn đến sự thấu hiểu đích thực hay là khả năng ghi nhận đúng những gì mà linh hồn đã nhận thức, và năng lực truyền đạt nhận thức đúng đắn này đến não bộ của phàm nhân. Đây là sự ghi nhớ những điều vừa kể. Đây không phải là hồi tưởng về những điều trong quá khứ. Nó bao gồm trình độ nhận thức và việc chuyển di sự nhận thức đó đến não bộ. Bấy giờ não có nhiệm vụ ghi nhận, và rốt cuộc hành giả có thể nhớ lại nhận thức đó tùy ý muốn.
4. Meditation. That which has been seen and registered in the brain and which has emanated from the soul must be meditated upon and thus woven into the fabric of the life. It is through this meditation that the soul-perceptions become real to the man upon the physical plane. This meditation therefore is of a very high order as it follows upon the contemplative stage and is soul-meditation with the object of illuminating the vehicle upon the physical plane.
4. Tham thiền. Hành giả cần suy ngẫm về những gì đã thấy và ghi nhận trong não bộ mà vốn đã phát xuất từ linh hồn. Bằng cách đó, y hòa nhập chúng vào trong đời sống. Chỉ nhờ cố gắng tham thiền này mà những nhận thức từ linh hồn mới trở thành sự thực đối với phàm nhân ở cõi trần. Thế nên, trình độ tham thiền này rất cao siêu, vì nó theo sau giai đoạn chiêm ngưỡng, và là sự tham thiền của linh hồn với mục tiêu soi sáng vận cụ của mình ở cõi trần.
5. Right perception. The experience of the soul, and the knowledge of the spirit or Father aspect begins to form part of the brain content of the Adept or Master. He knows the plan as it is to be found on the highest levels and is in touch with the Archetype. It is, if I might illustrate in this way, that this class of yogins have reached the point where they can perceive the plan as it exists in the mind of the "Grand Architect of the Universe." They are now en rapport with Him. In the other class of Yogins, the point reached is that in which they are able to study the blue-prints of the great plan and thus can intelligently co-operate in the building of the Temple of the Lord. The perception referred to here is of such a high [42] order as to be almost inconceivable to any but advanced disciples, but in an appreciation of the stages and grades there comes to the aspirant, not only an understanding of what is his immediate problem and of where he stands, but also an appreciation of the beauty of the entire scheme.
5. Nhận thức đúng. Sự thể nghiệm của linh hồn, và hiểu biết của tinh thần hay Chân thần bắt đầu thâm nhập vào não bộ của bậc Trọn lành hay vị Chân sư. Ngài biết được Thiên cơ theo thực nghĩa ở cấp cao nhất và thấu đáo mô hình nguyên thủy của Thiên cơ. Có thể nói rằng chính những nhà yogi này đã đạt đến trình độ có thể thấu hiểu Thiên cơ hiện có trong trí tuệ của “Đấng Đại kiến tạo Vũ trụ.” Nay họ có thể hòa hợp với Ngài. Nhóm các nhà yogi nói trên chỉ đạt đến [42] trình độ có thể nghiên cứu các chi tiết của Thiên cơ vĩ đại và hợp tác một cách thông tuệ để xây dựng Ngôi đền của Chúa. Sự nhận thức được đề cập ở đây có tính cách cao siêu đến đỗi hầu như chỉ những đệ tử cấp cao mới hiểu được. Thế nhưng, nếu đánh giá được các giai đoạn và đẳng cấp này, người chí nguyện tìm đạo không những thấy được vấn đề khó khăn và vị trí của mình hiện nay, mà còn cảm nhận được sự mỹ lệ của Thiên cơ.
21. The attainment of this stage (spiritual consciousness) is rapid for those whose will is intensely alive.
21. Những ai có ý chí mạnh mẽ và linh hoạt sẽ mau đạt được giai đoạn (tâm thức tinh thần) này.
This would naturally be so. As the will, reflected in the mind, becomes dominant in the disciple, he has awakened that aspect of himself which is en rapport with the will aspect of the Logos, the first or Father aspect. The lines of contact are as follows:
Đây là điều đương nhiên. Vì khi ý chí, phản ánh trong thể trí, trở nên yếu tố nổi bật trong người đệ tử, thì bấy giờ y đã đánh thức được phương diện đó nơi chính mình. Nó vốn hòa hợp với trạng thái ý chí của Thượng Đế, là trạng thái thứ nhất của Đấng Cha lành. Sự liên giao đi theo đường hướng sau đây:
1. Monad or the Father in Heaven, the will aspect,
1. Chân thần hay là Cha ở trên Trời, trạng thái ý chí,
2. Atma or spiritual will, the highest aspect of the soul,
2. Atma hay ý chí tinh thần, trạng thái cao nhất của linh hồn,
3. The mental body or intelligent Will, the highest aspect of the personality,
3. Thể trí hay ý chí thông minh, trạng thái cao nhất của phàm ngã,
4. The head centre.
4. Luân xa đầu.
This is the line followed by the raja-yogins and it brings them to a realisation of the spirit and to adeptship. There is yet another line:
Đây là con đường của người thực hành Raja Yoga. Nhờ đó họ nhận thức được tinh thần và tiến đến trình độ của bậc hoàn thiện. Còn có một đường hướng khác nữa là:
1. Monad,
1. Chân thần,
2. The Son or Christ aspect,
2. Trạng thái Chúa Con hay trạng thái Christ,
3. The love aspect, or wisdom aspect,
3. Trạng thái bác ái, hay trạng thái minh triết,
4. Buddhi or spiritual love, the second aspect of the soul,
4. Bồ-đề hay tình thương tinh thần, trạng thái thứ hai của linh hồn, [43]
5. The emotional body, the second aspect of the personality, [43]
5. Thể tình cảm, trạng thái thứ hai của phàm ngã,
6. The heart centre.
6. Luân xa tim.
This is the line followed by the bhakti, the devotee and the saint and brings him to a knowledge of the soul and of sainthood. The former line is that to be followed by our Aryan race. This second line was the path of attainment for the Atlanteans.
Đây là con đường của người thực hành Bhakti Yoga, người sùng tín và vị thánh. Qua đó họ biết được linh hồn và đạt đến trình độ thánh thiện. Con đường thứ nhất giống dân Aryan đang theo đuổi. Trong khi đường hướng thứ hai là con đường thành đạt dành cho giống dân Atlantis.
If students would follow these tabulations with care much light would come. The necessity for a strong energetic will becomes apparent if the path of Initiation is studied. Only an iron will, and a steady, strong, unswerving endurance will carry the aspirant along this path and out into the clear light of day.
Người môn sinh nghiên cứu kỹ bảng liệt kê nói trên sẽ nhận được nhiều ánh sáng. Khi học về con đường Điểm đạo, chúng ta sẽ thấy rõ rằng người ứng viên nhất thiết phải có ý chí mạnh mẽ và năng nổ. Chỉ ý chí đanh thép, sự bền lòng kiên định, cường mãnh, không hề lay chuyển, mới giúp người chí nguyện tiến lên trên con đường này và bước vào ánh sáng thanh thiên, bạch nhật.
22. Those who employ the will likewise differ, for its use may be intense, moderate or gentle. In respect to the attainment of true spiritual consciousness there is yet another way.
22. Việc sử dụng ý chí cũng có nhiều mức độ khác nhau, có thể mãnh liệt, vừa phải hay nhẹ nhàng. Để đạt tâm thức tinh thần đích thực, hãy còn có một con đường khác nữa.
It would be wise here to make clear the two ways whereby men reach the goal,—knowledge of the spiritual life, and emancipation. There is the way of Yoga as outlined by Patanjali whereby, through the use of the will, discrimination between the self and the not-self is achieved and pure spirit is arrived at. This is the way for the fifth or Aryan race, for those whose function it is to develop the fifth principle or mind and thus become true sons of mind. It is their part to become the five-pointed star, the star of the perfected man, in all his glory. Through following this way the five planes of human and superhuman evolution are dominated and atma (or the [44] will of God, the Father aspect) stand revealed through the medium of buddhi (or the Christ consciousness), having for its vehicle, manas or higher mind.
Ở đây nên giải rõ hai con đường giúp mọi người đạt đến mục tiêu, − hiểu biết sự sống tinh thần, và giải thoát. Đó là con đường Yoga mà Patanjali đã phác thảo. Trên con đường này, hành giả sử dụng ý chí, phân biện giữa chân ngã và phi-ngã, và thấu đạt đến tinh thần thuần khiết. Đây là con đường dành cho giống dân thứ năm hay là dân Aryan. Đây cũng là con đường dành cho những ai có chức năng phát triển nguyên khí thứ năm hay trí tuệ, và nhờ thế mà thực sự trở thành những người con của trí tuệ. Chính họ trở thành ngôi sao năm cánh, ngôi sao của bậc trọn lành, trong nguồn vinh quang viên mãn. Đi theo con đường này, hành giả chế ngự được năm cảnh giới tiến hóa của nhân loại và siêu nhân loại. [44] Bấy giờ, atma (hay là ý chí thiêng liêng, trạng thái thứ nhất) hiển lộ qua trung gian của bồ-đề (hay tâm thức Christ), dùng manas tức là thượng trí làm phương tiện.
The other way is the may of pure devotion. Through intense adoration and entire consecration the aspirant arrives at a knowledge of the reality of spirit. This is the way of least resistance for many; it was the method of attainment for the race preceding the Aryan. It largely ignores the fifth principle and is the sublimation of sensuous perception, being the way of intense feeling. Through following this method the four planes are dominated and buddhi (or the Christ) stands revealed. Students should differentiate clearly between these two ways, remembering that the white occultist blends the two and if in this life he follows the way of Raja Yoga with fervour and love it will be because in other lives he set his foot upon the way of devotion and found the Christ, the Buddhi within. In this life he will recapitulate his experience, plus the intense exercise of the will and control of the mind which will eventually reveal to him his Father in Heaven, the point of pure spirit.
Con đường kia là con đường hoàn toàn sùng tín. Với lòng sùng kính mạnh mẽ và hiến dâng trọn vẹn, người chí nguyện dần dần biết được thực tính của tinh thần. Đây là con đường ít trở ngại nhất dành cho phần đông nhân loại, và đã là phương pháp thành đạt dành cho giống dân có trước giống dân Aryan. Phương pháp này hầu như không kể đến nguyên khí thứ năm. Đó là sự thăng hoa của nhận thức giác quan, là con đường của xúc cảm mãnh liệt. Theo đúng phương pháp này, hành giả chế ngự được bốn cảnh giới và làm hiển lộ bồ-đề (hay tâm thức Christ). Người môn sinh cần phân biệt rõ giữa hai con đường này, và lưu ý rằng huyền bí gia của chánh đạo có khả năng hòa hợp cả hai. Nếu trong kiếp sống này y đi theo con đường Raja Yoga với lòng nhiệt thành và tình thương, thì đó là vì trong những kiếp khác y đã dấn bước trên con đường sùng tín, và đã tìm thấy Đấng Christ, tức là Bồ-đề tâm nơi chính mình. Trong kiếp sống này, y tóm lược lại kinh nghiệm đã có, đồng thời sử dụng ý chí mạnh mẽ và kiểm soát trí tuệ. Rốt cuộc, qua cố gắng đó y được khải thị về tinh thần thuần khiết hay là Cha ở trên Trời.
Commentators upon this sutra point out that those who follow the method of Raja Yoga and use the will are divided into three main groups. These can correspondingly be divided into nine. There are those who use the will with such intensity that exceedingly rapid results are achieved, attended however with certain dangers and risks. There is the risk of uneven development, [45] of a negation of the heart side of nature, and of certain destructions which will later have to be remedied. Then there are those aspirants whose progress is less rapid, and who are exponents of the middle path. They proceed steadily and moderately and are called the "discriminative adepts" as they permit no excesses of any kind. Their method is to be recommended to men in this particular cycle. Again there are those gentle souls whose will may be regarded as characterised by an imperturbable pertinacity and who go steadily, undeviatingly forward, eventually arriving at their goal. They are distinguished by intense tenacity. Their progress is slow. They are the "tortoises" of the Path just as the first group are the "hares."
Các nhà luận giải câu kinh này nói rằng những người thực hành theo phương pháp Raja Yoga và sử dụng ý chí được chia thành ba nhóm chính. Các nhóm này còn được chia thành chín nhóm tương ứng. Có những người sử dụng ý chí mạnh mẽ đến mức họ đạt được kết quả hết sức nhanh chóng. Tuy nhiên, cố gắng như thế có kèm theo những nguy cơ và nguy hiểm. Đó là nguy cơ phát triển không đồng đều, và phủ nhận vai trò của cái tâm trong bản tính của hành giả, cùng [46] với một số hủy diệt mà về sau cần phải hàn gắn. Kế đến là những người chí nguyện tiến bước không mau lẹ như trên, và tiêu biểu cho trung đạo. Họ tiến hành đều đặn, liên tục với mức độ vừa phải. Họ được gọi là “chuyên gia có phân biện” vì không cho phép bất cứ sự thái quá nào. Người trong thời kỳ hiện nay nên áp dụng phương pháp của họ. Cũng có những linh hồn dịu dàng, với đặc trưng kiên trì, điềm tĩnh. Họ tiến tới đều đều, liên tục, không lệch hướng, và rốt cuộc đạt đến mục tiêu. Họ có đặc điểm rất kiên định, nhưng tiến độ chậm chạp. Họ là “con rùa” trên Đường Đạo, trong khi nhóm đầu được xem là “thỏ.”
In some of the old books there are detailed accounts of these three groups of aspirants and they are portrayed under three symbols:
Trong một số cổ thư có minh họa chi tiết về ba nhóm người tìm đạo nói trên theo ba biểu tượng dưới đây:
1. The intense group are depicted as goats, and aspirants of this type are frequently found in incarnation under the sign Capricorn,
1. Nhóm có ý chí mạnh được gọi là dê. Những người chí nguyện loại này thường đầu thai dưới cung ma kết,
2. The moderate group are depicted by a fish, and many born under the sign Pisces are found in this category,
2. Nhóm có ý chí vừa phải được gọi là cá. Nhiều người trong họ ra đời dưới cung Song ngư,
3. The gentle or slow group are pictured as crabs and often come into incarnation under the sign Cancer.
3. Nhóm có ý chí yếu hay chậm chạp được gọi là cua. Họ thường chào đời dưới cung Cự giải.
In these three groups are to be found various subdivisions and it is interesting to note that in the archives of the Lords of Karma, the majority of these three groups pass into the sign of Libra (or the balances) towards the close of their endeavour. [46] When in incarnation under this sign they balance the pairs of opposites with care, they equalise their one-sided development, modifying the unevenness of their efforts hitherto, and begin to "set an even pace." They frequently then enter the sign of Aquarius and become bearers of water, having to carry "on their heads the bowl of living water." Thus the rapidity of their climb up the mount of initiation has to be modified, or "the water will be spilt and the bowl be shattered." Because the water is intended to slake the thirst of the masses, they must hasten their progress for the need is great. Thus the "first shall be last and the last shall be first" and the hare and the tortoise meet at the goal.
Ba nhóm nói trên còn bao gồm những nhóm phụ khác nhau. Điều thú vị là trong văn khố của các Đấng Nghiệp quả Tinh quân có ghi đa số những người thuộc ba nhóm vừa kể đều đi vào cung Thiên xứng (hay là cái cân) khi gần đến cuối chu kỳ cố gắng của mình. Nhập thế dưới thiên tượng này, họ thận trọng cân bằng các cặp đối cực. Họ làm cho sự phát triển phiến diện của mình trở nên cân đối. Họ sửa đổi những gì không đồng đều trong cố gắng của mình từ trước đến nay, và bắt đầu “áp dụng một nhịp độ thăng bằng.” Thường thì sau đó họ đi vào thiên tượng Bảo bình và trở thành người mang bình nước, phải đội “trên đầu bình nước của sự sống.” Do đó, họ phải điều chỉnh tốc độ khi nhanh chóng leo lên đỉnh núi [47] điểm đạo, nếu không “nước sẽ bị sánh ra ngoài và bình sẽ bị vỡ.” mặt khác, cũng bởi nước này là nhằm giải khát cho đại chúng, nên họ phải tiến bước nhanh hơn vì nhu cầu quá lớn. Thế là, “người đi đầu trở thành người cuối, và người ở cuối lại tiến lên hàng đầu.” Thỏ và rùa cùng gặp nhau tại mục tiêu.
23. By intense devotion to Ishvara, knowledge of Ishvara is gained.
23. Hành giả biết được Ishvara khi hết lòng sùng kính Ishvara.
Ishvara is the son in manifestation through the sun. This is the macrocosmic aspect. Ishvara is the son of God, the cosmic Christ, resplendent [chói lọi, rực rỡ; lộng lẫy] in the heart of each of us. The word "heart" is here used in its occult connotation. The following correspondences may be found illuminating and should be studied with care.
Ishvara là người con biểu hiện thông qua mặt trời. Đây là trạng thái đại vũ trụ. Ishvara là con của Thượng Đế, là Đấng Christ vũ trụ, chiếu sáng rực rỡ trong tâm của mỗi chúng ta. Từ “tâm” được dùng ở đây theo hàm nghĩa huyền môn. Những phần tương ứng sau đây có thể soi sáng vấn đề và cần nghiên cứu kỹ.
Aspect
Quality
Centre
Macrocosm
Spirit
Father
Monad
Will
Head
Central spiritual sun.
Soul
Son
Ego
Love
Heart
Heart of the sun.
Body
Holy Spirit
Personality
Active Intelligence
Throat
Physical sun.
Trạng thái
Đặc tính
Luân xa
Đại vũ trụ
Tinh thần. Đức Chúa Cha Chân thần
Ý chí
Đầu...
mặt trời tinh thần trung ương.
Linh hồn. Đức Chúa Con Chân ngã
Bác ái.
Tim
Tâm của mặt trời.
Thân xác. Chúa Thánh Phàm ngã
Thông tuệ Linh hoạt
Cổ họng
mặt trời vật chất.
Ishvara is the second aspect, and therefore the [47] real meaning of this sutra is that through intense devotion to, and love of Ishvara, the Christ in manifestation, that Christ or soul may be contacted or known. Ishvara is God in the heart of every child of God; He is to be found in the cave of the heart; He is to be reached through pure love and devoted service, and when reached He will be seen seated upon the twelve petalled lotus of the heart, holding in his hands the "jewel in the lotus." Thus the devotee finds Ishvara. When the devotee becomes the raja yogin then Ishvara will reveal to him the secret of the jewel. When Christ is known as king upon the throne of the heart, then He will reveal the Father to His devotee. But the devotee has to tread the Path of Raja Yoga, and combine intellectual knowledge, mental control and discipline before the revelation can be truly made. The mystic must eventually become the occultist: the head qualities and the heart qualities must be equally developed, for both are equally divine.
Ishvara là trạng thái thứ hai. Vì thế, thực nghĩa của câu này là khi hành giả hết lòng sùng kính, và yêu thương Ishvara, Đấng Christ biểu hiện, thì y có thể giao tiếp hay biết được tâm thức Christ hay linh hồn. Ishvara là Thượng Đế ngự trong tâm của mỗi người con của Thượng Đế. Ngài ngự ở nơi sâu kín của luân xa tim. Hành giả chỉ tìm thấy Ngài qua tình thương thuần khiết và phụng sự hết lòng. Khi đến với Ngài, người sùng tín thấy Ngài ngự trên hoa sen mười hai [48] cánh của luân xa tim, tay Ngài cầm giữ “viên ngọc quí trong Hoa Sen.” Đó là cách người sùng tín tìm thấy Ishvara. Khi người sùng tín trở thành nhà raja-yogi thì Ishvara sẽ tiết lộ cho y biết bí mật của viên ngọc này. Khi người sùng tín biết được Đấng Christ là vị vua ngự trên ngôi của luân xa tim thì Ngài sẽ hiển lộ Đấng Cha lành cho người tôn sùng Ngài. Thế nhưng, người sùng tín phải dấn bước lên Con Đường Raja Yoga, và kết hợp sự hiểu biết của tri thức, sự chế ngự và giới luật thể trí, trước khi có thể thực sự được khải thị. Rốt cuộc, thần bí gia phải trở thành huyền bí gia: những phẩm tính của đầu và phẩm tính của tim phải được phát triển như nhau, vì cả hai đều thiêng liêng.
24. This Ishvara is the Soul, untouched by limitation, free from karma and desire.
24. Ishvara là Linh hồn, không hề bị giới hạn, siêu thoát khỏi nghiệp quả và dục vọng.
Here we have the picture of the spiritual man as he is in reality. His relation to the three worlds is shown. This is the state of the master or the adept, of the soul who has come into its birthright, and is no longer under control of the forces and energies of the lower nature. There is given in this and the following three sutras, a picture of the liberated man who has passed through the cycle of incarnation and through [48] struggle and experience has found the true self. Here is depicted the nature of the solar angel, the son of God, the ego or the higher self. He is stated to be
Trên đây là mô tả thực tính của con người tinh thần, và mối liên hệ của người với tam giới. Đây là trạng thái của vị Chân sư hay một bậc toàn thông, của linh hồn đã phát huy các quyền bẩm sinh, và không còn bị chi phối bởi các mãnh lực và năng lượng của phàm tính. Câu này và ba câu sau đưa ra hình ảnh của con người siêu thoát, đã thoát vòng luân hồi và đã tìm thấy chân ngã qua phấn đấu và kinh nghiệm. Ở đây nói lên bản tính của vị thần thái dương, người con của Thượng Đế, là chân nhân hay chân ngã. Chúng ta được biết rằng chân ngã
1. Untouched by limitation. He is no longer "cribbed, cabined and confined" by the lower quaternary. He is no longer crucified upon the cross of matter. The four lower sheaths—dense, etheric, emotional and mental—are no longer his prison. They are but instruments which he can use or vacate at will. His will functions freely and if he stays within the realm of the three worlds, it is of his own choice, and his self-imposed limitation can be terminated at will. He is master in the three worlds, a son of God dominating and controlling the lower creations.
1. Không hề bị giới hạn. Chân ngã không còn “bị giam hãm, gò bó và hạn chế” bởi bốn hạ thể. Chân ngã không còn bị đóng đinh trên thập tự giá của vật chất. Bốn hạ thể − thể xác, thể dĩ thái, thể tình cảm và thể trí − không còn là nhà tù của chân ngã. Nay chúng chỉ là những khí cụ mà chân ngã có thể tùy ý sử dụng hay từ bỏ. Chân ngã hoạt động tự do. Nếu [49] chân ngã lưu lại trong lĩnh vực của tam giới, thì đó là do chân ngã tự chọn, và chân ngã có thể chấm dứt sự tự giới hạn này tùy ý muốn. Chân ngã là chủ nhân trong tam giới. Chân ngã là con của Thượng Đế, chế ngự và kiểm soát các công trình sáng tạo trong ba cõi thấp này.
2. Free from Karma. Through knowledge of the law he has adjusted all his karma, paid all his debts, cancelled all his obligations, settled all claims against him, and through his subjective realisation has entered consciously into the world of causes. The world of effects is left behind, in so far as the three worlds are concerned. Thus he no longer (blindly and through ignorance) sets in motion conditions which must produce evil effects. He works ever with the law and every demonstration of energy (the spoken word and the initiated action) is undertaken with a full knowledge of the result to be attained. Thus nothing he does produces evil results and no karma is thereby entailed. Average men deal with effects and blindly work their way through them. The Master deals with causes, and the effects He [49] produces, through the wielding of the law, do not limit or hold him.
2. Siêu thoát khỏi Nghiệp quả. Vì hiểu biết định luật nên chân ngã đã điều chỉnh toàn bộ nghiệp quả của mình, đã thanh toán mọi khoản nợ, làm tròn mọi nghĩa vụ, và giải quyết mọi ân oán trong đời. Với nhận thức thâm sâu, chân ngã hữu ý đi vào thế giới của nguyên nhân, rời bỏ thế giới của hậu quả là tam giới. Thế là chân ngã không còn (do mù quáng và vô minh) tạo ra những tình trạng dẫn đến hậu quả xấu xa. Chân ngã bao giờ cũng hoạt động đúng theo định luật và mọi sự phát biểu năng lượng (qua lời nói và hành động tự phát) đều được thực hiện với đầy đủ hiểu biết về kết quả sẽ xảy ra. Vì thế, không sở hành nào của chân ngã sẽ mang lại kết quả xấu, và do đó mà không gây nghiệp quả. Kẻ thường nhân làm việc với các hậu quả, và mù quáng tìm đường đi qua các hậu quả đó. Vị Chân sư làm việc với các nguyên nhân, và không bị ràng buộc hay hạn chế bởi những hậu quả Ngài tạo ra do vận dụng định luật.
3. Free from desire. No longer do the things of sensuous perception on any of the three planes attract or allure Him. His consciousness is inward and upward. It is no longer downward and outgoing. He is at the centre and the periphery no longer attracts him. The longing for experience, the craving for physical plane existence, and the desire for the form aspect in its many variations has for him no appeal. He has experienced, He knows, He has suffered, and He has been forced into incarnation through His longing for the not-self. Now all that is ended and He is the freed soul.
3. Siêu thoát khỏi dục vọng. Những sự vật của cảm nhận giác quan trong tam giới không còn hấp dẫn hay quyến rũ được Ngài. Tâm thức của Ngài nay hướng nội và hướng thượng, và không hề hướng ngoại hay hướng hạ. Ngài ngự ở tâm điểm và những gì ở ngoại vi không còn hấp dẫn được Ngài. Sự khát khao kinh nghiệm, sự thèm muốn đời sống ở cõi trần, và sự ham mê những loại hình hài, sắc tướng khác nhau không còn sức thu hút đối với Ngài. Ngài đã thể nghiệm và biết, đã đau khổ và bị buộc phải đầu thai do lòng khao khát cái phi-ngã. Nay tất cả đều chấm dứt, và Ngài là linh hồn giải thoát. [50]
25. In Ishvara, the Gurudeva, the germ of all knowledge expands into infinity.
25. Trong Ishvara, vị Thầy thiêng liêng, mầm mống của toàn tri mở ra vô hạn.
In the macrocosmic sense God is the Master of all and He is the sum total of omniscience, being (as is easily seen) the sum total of all states of consciousness. He is the soul of all things, and the soul of the atom of matter as well as the souls of men are a part of His infinite realisation. The soul of the human being is potentially the same, and as soon as the consciousness ceases to identify itself with its vehicles or organs, the germ of all knowledge begins to expand. In the disciple, the adept, Master or Mahatma, in the Christ, the Buddha, and in the Lord of the World, Who is mentioned in the Bible as the Ancient of Days, this "germ of all knowledge" can be seen at differing stages of unfoldment. God consciousness [50] is theirs, and they pass from one initiation to another. At each stage a man is a master but ever beyond the point attained another possible expansion becomes apparent and ever the process is the same. This process may be summed up in the following statements:
Theo ý nghĩa đại vũ trụ, Thượng Đế là vị Thầy của tất cả. Ngài bao gồm sự toàn tri, và (dĩ nhiên) là tất cả các trạng thái tâm thức. Ngài là linh hồn của muôn loài vạn vật. Linh hồn của hạt nguyên tử vật chất cũng như linh hồn của mọi người đều là thành phần trong nhận thức vô hạn của Ngài. Linh hồn của con người cũng có tiềm năng đó, và khi tâm thức không tự đồng hóa với các vận cụ hay cơ quan của nó, thì mầm mống của toàn tri bắt đầu nảy nở. Có thể thấy “mầm mống toàn tri” trong những giai đoạn khai mở khác nhau, trong người đệ tử, vị cao đồ, vị Chân sư hay Thánh sư, trong Đức Christ, Đức Phật, và trong Đức Chúa tể Hoàn cầu, là vị có danh hiệu Đấng Thái cổ trong Kinh thánh. Tất cả đều có tâm thức của Thượng Đế, và họ vượt qua hết cuộc điểm đạo này đến cuộc điểm đạo khác. Khi hành giả thấu đáo được một giai đoạn, thì ngay trên trình độ đó bao giờ cũng thấy rõ một lĩnh vực mở mang tâm thức khác khả dĩ có. Tiến trình này luôn luôn là như thế, và có thể tóm lược như sau:
1. An urge, or determination to achieve the new knowledge,
1. Một sức thôi thúc, hay quyết tâm đạt được kiến thức mới,
2. The holding of the consciousness already unfolded and its utilisation, and from the point achieved working forward towards further realisation,
2. Giữ vững và sử dụng tâm thức đã khai mở, và từ trình độ đã đạt cố gắng tiến đến mức nhận thức rộng lớn hơn,
3. The overcoming of the difficulties incident to the limitations of the vehicles of consciousness and to karma,
3. Vượt qua những khó khăn do sự hạn chế trong vận cụ của tâm thức và do nghiệp quả,
4. The occult tests which are imposed upon the pupil when he shows ability,
4. Những trắc nghiệm nội môn áp dụng cho người đạo sinh khi y tỏ ra có năng lực,
5. The triumph of the pupil,
5. Người đạo sinh chiến thắng vẻ vang,
6. The recognition of his triumph and attainment by the guides of the race, the planetary Hierarchy,
6. Đại đoàn Chưởng giáo, các vị hướng đạo của nhân loại công nhận sự chiến thắng và thành đạt của y,
7. The vision of what lies ahead.
7. Thấy được bước kế tiếp. [51]
Thus does the unfoldment proceed and in each cycle of endeavor the evolving son of God comes into his birthright and takes the position of a knower, "One who has heard the tradition, experienced the dissolution of that hitherto held, seen that which is hidden from those who abide by the tradition, substituted that which is newly seen, donated the acquired possession to those who hold out empty hands, and passed on to inner halls of learning." Students would do well in studying these few [51] sutras relating to Ishvara to bear in mind that they have reference to the son of God, the second person of the Trinity as He manifests through the medium of the solar system, to the macrocosmic soul. The secondary meaning has reference also to the divine son of God, the second aspect monadic, as He manifests through the medium of a human being. This is the microcosmic soul. The following synonyms of the Ishvara aspect may be found of value.
Sự khai mở cứ tiếp diễn như thế, và trong mỗi chu kỳ cố gắng người con của Thượng Đế đang tiến hóa tìm thấy quyền năng bẩm sinh của mình với vị thế của một người hiểu biết. “Y đã nghe giáo huấn truyền thống, đã thấy sự tan rã của những gì mà y gìn giữ bấy lâu, đã thấy những điều ẩn giấu đối với kẻ chỉ biết theo truyền thống, thay thế giáo huấn ấy với những điều mới thấy được, trao tặng những điều đã hoạch đắc cho những ai kêu cầu với bàn tay không, và tiến vào phòng học tập ở bên trong.” Khi nghiên cứu những câu có liên quan đến Ishvara này, người môn sinh cần lưu ý rằng các câu ấy đều nói về người con của Thượng Đế. Đó là ngôi thứ hai của Ba ngôi thiêng liêng khi Ngài biểu hiện qua trung gian của một thái dương hệ, với tính cách linh hồn đại vũ trụ. Cũng có ý nghĩa chỉ về người con của Thượng Đế, là trạng thái thứ hai của chân thần, khi chân thần biểu hiện qua trung gian của một con người. Đây là linh hồn tiểu vũ trụ. Sau đây là những từ đồng nghĩa của trạng thái Ishvara, cần nên nghiên cứu.
The Macrocosm.
Ishvara, the second aspect
Whose nature is love.
The Son of God
The revealer of the Father.
The cosmic Christ
God in incarnation.
Vishnu
Second person of the Hindu Trimurti.
The soul of all things
Atoms and souls are synonymous terms.
The All-Self
The sum total of all selves.
I am That
Group consciousness.
AUM
Word of Revelation.
The Word
God in the Flesh.
The Gurudeva
The Master of all.
The light of the world
Shining in darkness.
The Microcosm.
The second aspect
Love wisdom.
The son of the Father
The revealer of the Monad.
The Christ
Christ in you, the hope of glory.
The Soul
Consciousness.
The higher Self
The Lord of the bodies.
The Ego
The Self-realizing Identity.
The Word
God in incarnation.
AUM
The Word of revelation.
The Master
The self on the throne.
The radiant Augoeidas
The light within.
The spiritual Man
Utilizing the lower man.
[52]
Ishvara, phương diện thứ hai
Bản chất của Ngài là tình thương
Con của Thượng Đế
Đấng mặc khải Đức Cha
Đấng Christ Vũ trụ
Thượng Đế trong sự nhập thế
Vishnu
Ngôi thứ hai trong bộ ba Trimurti của Ấn Độ giáo
Linh hồn của muôn vật
Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa
Đại Ngã
Tổng hợp của mọi tiểu ngã
Ta là Cái Đó
Tâm thức tập thể
AUM
Linh từ của sự Mặc khải
Linh từ
Thượng Đế trong Xác Phàm
Gurudeva
Chân sư của muôn loài
Ánh sáng của thế gian
Chiếu soi trong bóng tối
Phương diện thứ hai
Bác ái – Minh triết
Con của Đức Cha
Đấng mặc khải Chân Thần
Đấng Christ
Đấng Christ trong các bạn, niềm hy vọng vinh quang
Linh hồn
Tâm thức
Chân ngã cao
Đấng Chủ của các thể
Chân ngã
Bản ngã tự nhận biết chính mình
Linh từ
Thượng Đế trong sự nhập thế
AUM
Linh từ của sự Mặc khải
Chân sư
Cái ngã ngự trên ngai vàng
Hào quang sáng chói (Augoeides)
Ánh sáng nội tâm
Con người tinh thần
Vận dụng con người thấp hơn
26. Ishvara (the Gurudeva), being unlimited by time condition, is the teacher of the primeval Lords.
26. Ishvara (vị Thầy thiêng liêng), không hề bị hạn định bởi thời gian, là huấn sư của các vị chúa nguyên thủy.
Since the conditions of time and space existed there have been those who have achieved omniscience, those whose germ of knowledge has been subjected to proper culture and thus developed, until it flowered forth into the full glory of the liberated soul. This condition became possible through certain factors:
Kể từ khi điều kiện thời gian và không gian hiện hữu, đã có những người đạt được sự toàn tri. Đó là những người mà mầm mống hiểu biết đã được vun bồi thích hợp và phát triển, cho đến khi bừng nở thành nguồn vinh quang viên mãn của linh hồn giải thoát. Có thể thực hiện điều này theo những phương cách:
1. The identity of each individual soul with the Oversoul.
1. Sự đồng nhất mỗi linh hồn cá nhân với Đại hồn.
2. The attractive force of that Oversoul as it drew the separated soul of all things gradually back into Itself. This is the force of evolution itself, the great attractive agent which recalls the outgoing points of divine Life, the units of consciousness, back to their source. It involves the response of the individual soul to cosmic soul force.
2. Lực hấp dẫn của Đại hồn, thu hút các linh hồn riêng rẽ của vạn vật dần dần về với Đại hồn. Đây chính là lực tiến hóa, tác nhân hấp dẫn vĩ đại kêu gọi các Sinh linh thiêng liêng, các đơn vị tâm thức hướng ngoại, quay về nguồn cội [53] của mình. Đây cũng là sự ứng đáp của linh hồn cá nhân với mãnh lực của linh hồn vũ trụ.
3. The intensive training given towards the climax by the occult Hierarchy whereby souls receive a stimulation and vitalisation which enables them to make more rapid progress.
3. Cuộc huấn luyện chuyên sâu của Đại đoàn Chưởng giáo, nhờ đó mà các linh hồn nhận được sự kích thích và sinh động để họ tiến bước nhanh hơn hướng đến đỉnh cao.
The occult student must remember that this process has gone on in the wheels and cycles preceding our planet Earth. The primeval Lords, or Sages, are those great Adepts Who—having "tasted experience" under the Law of Rebirth, were initiated into the mysteries by the one Initiator, the representative in our planet of the [53] Oversoul. They in their turn became teachers and initiators into the mysteries.
Người môn sinh huyền bí học cần ghi nhớ rằng tiến trình này đã tiếp diễn trong những cuộc tuần hoàn và chu kỳ có trước Địa cầu chúng ta. Những vị Chúa, hay những vị Thánh triết nguyên thủy, là những bậc Trọn lành cao cả đã “nếm trải kinh nghiệm” theo Luật Tái sinh. Các ngài đã được khải thị các bí nhiệm bởi Đấng điểm đạo Duy nhất, là đại diện của Đại hồn trên hành tinh chúng ta. Rồi đến lượt các ngài trở thành huấn sư và đấng điểm đạo cho hậu thế đi vào các bí nhiệm nói trên.
The one Master is found within; it is the soul, the inner ruler, the thinker on his own plane. This one Master is a corporate part of the Whole, of the All-Soul. Each expansion of consciousness which a man undergoes fits him to be a Master to those who have not taken a similar expansion. Therefore—mastery being achieved—there is nothing (speaking in terms of the human kingdom) to be found except Masters who are likewise disciples. All are learners and all are teachers, differing only in degree of realisation. For instance:
Vị Thầy duy nhất bao giờ cũng có ở nội tâm. Đó là linh hồn, đấng ngự trị nội tại, là người suy tưởng trên cảnh giới của mình. Vị Thầy duy nhất này là phần hiện thể của cái Toàn thể, của Đại hồn. Khi một người mở mang tâm thức thì người đó trở thành vị Thầy đối với những người khác chưa trải qua sự triển khai tương tự. Đây là phương cách trở nên thành thạo trong giới nhân loại. Vì thế, tất cả đều là những vị Thầy và đồng thời cũng là đệ tử. Tất cả đều là học viên, và tất cả cũng là huấn sư, chỉ khác nhau ở trình độ nhận thức. Ví dụ như:
a. Aspirants to the Path are disciples of lesser disciples,
a. Người chí nguyện trên Đường Đạo là môn sinh của những đệ tử cấp thấp,
b. Probationers on the Path are disciples of higher ones,
b. Người đệ tử dự bị trên Đường Đạo là môn sinh của những đệ tử cấp cao,
c. Accepted disciples are the disciples of an adept and of a Master,
c. Các đệ tử chính thức là môn đệ của một cao đồ và của Chân sư,
d. An adept is the disciple of a Master,
d. một cao đồ là đệ tử của Chân sư,
e. A Master is the disciple of a Mahatma,
e. Chân sư là đệ tử của Thánh sư, [54]
f. The Mahatmas are the disciples of still higher initiates,
e. Các Thánh sư là đệ tử của những điểm đạo đồ cao cấp hơn nữa,
g. These in turn are the disciples of the Christ or of that official who is at the head of the teaching department,
f. Những vị này lại là đệ tử của Đức Christ hay là vị trưởng ngành giáo dục,
h. The head of the teaching department is a disciple of the Lord of the World,
g. Vị trưởng ngành giáo dục là đệ tử của Đức Chúa tể Hoàn cầu,
i. The Lord of the World is the disciple of one of the three planetary spirits who represent the three major aspects, [54]
h. Đức Chúa tể Hoàn cầu là đệ tử của một trong ba vị hành tinh Thượng Đế đại diện cho ba trạng thái chính,
j. These are again disciples of the solar Logos.
i. Các vị này lại là đệ tử của Đức Thái dương Thượng Đế.
It will be apparent therefore to the careful student how interdependent all are and how the achievement of one will profoundly affect the entire body. Discipleship can be regarded as a generic term covering all those states or conditions of being in the fourth and fifth kingdoms (human and spiritual) wherein certain expansions of consciousness are brought about through specific training.
Vì thế, người môn sinh nghiên cứu kỹ sẽ thấy rõ rằng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau đến đâu, và bằng cách nào mà sự thành tựu của một đơn vị sẽ ảnh hưởng sâu xa đến toàn cơ thể. Con đường đệ tử có thể được xem là một từ chung bao gồm toàn bộ các trạng thái hay điều kiện sống trong giới thứ tư và giới thứ năm (giới nhân loại và giới tinh thần). Trong đó những cuộc mở mang tâm thức nhất định được thực hiện qua việc rèn luyện cụ thể.
27. The Word of Ishvara is AUM (or OM). This is the Pranava. (See Book I. Sutra 1.)
27. Linh từ của Ishvara là AUM (hay OM). Đây là Pranava. (Xem Quyển I. Câu 1.)
Students should remember that there are three basic Words or sounds in manifestation. This is the case as far as the human kingdom is concerned. They are:
Các môn sinh cần ghi nhớ rằng có ba Linh từ hay ba âm thanh căn bản trong cuộc biểu hiện. Điều này đúng với giới nhân loại. Đó là:
I. The Word, or note of Nature. This is the Word or the sound of all forms existing in physical plane substance, and as is usually known, it is sounded on the fundamental note "FA." It is a note with which the white occultist has nothing to do, for his work is concerned not with the increase of tangibility but with the demonstration of the subjective or the intangible. This is the Word of the third aspect, the Brahma or Holy Ghost aspect.
I. Linh từ, hay là nốt của Thiên nhiên. Đây là Linh từ hay là âm thanh của tất cả các hình thể hiện hữu trong vật chất cõi hồng trần. Như chúng ta thường biết, nó được ngân lên trên nốt “FA” cơ bản. Đây là nốt mà huyền bí gia của chánh đạo không sử dụng. Lý do là vì công tác của họ không liên quan đến việc làm gia tăng phương diện hữu hình, mà nhằm phát biểu khía cạnh nội tại hay vô hình. Đây là Linh từ của trạng thái thứ ba, của Brahma hay Chúa Thánh thần. [55]
II. The Sacred Word. This is the Word of Glory, the AUM. This is the Pranava, the sound of conscious Life itself as It is breathed forth into all forms. It is the Word of the second aspect, and just as the Word of Nature when rightly [55] emanated provides the forms which are intended to reveal the soul or second aspect, so the Pranava, when rightly expressed, demonstrates the Father or Spirit through the medium of the soul. It is the Word of the incarnated sons of God. In such a short commentary as this, it is not possible to write a treatise on this secret of secrets, and this great mystery of the ages. All that can be done is to collate certain facts about the AUM, and leave the student to extend the concept and grasp the significance of the brief statements made according to the state of his intuition.
II. Thánh ngữ. Đây là Linh từ Vinh quang, là AUM. Đây là Pranava, âm thanh của chính Sự Sống hữu thức khi Sự Sống được truyền vào tất cả các hình hài, sắc tướng. Khi được phát ra đúng cách, Linh từ của Thiên nhiên cung ứng các hình thể để nhằm hiển lộ linh hồn hay trạng thái thứ hai. Tương tự, khi được phát biểu đúng cách, Pranava cũng làm hiển lộ Đấng Cha lành hay Tinh thần qua trung gian của linh hồn. Đây là Linh từ của những người con lâm phàm của Thượng Đế. Trong phần luận giải ngắn ngủi này, không thể nào viết một thiên khảo luận về điều bí mật này của các bí mật, và bí nhiệm vĩ đại này qua các thời đại. Tất cả những gì có thể làm là đối chiếu một số sự kiện về Thánh ngữ AUM, và để cho người môn sinh triển khai ý niệm cũng như thấu hiểu ý nghĩa của những câu vắn tắt được đưa ra, tùy theo trình độ trực giác của y.
III. The Lost Word. The idea of this Lost Word has been preserved for us in Masonry. It is the Word of the first aspect, the spirit aspect, and only the initiate of the third degree can truly begin the search for this word for only the freed soul can find it. This word concerns the highest initiations and it is profitless for us further to consider it.
III. Linh từ Thất truyền. Ý tưởng về Linh từ Thất truyền đã được Hội Tam điểm giữ gìn cho chúng ta. Đây là Linh từ của trạng thái thứ nhất, trạng thái tinh thần. Chỉ những người được điểm đạo lần thứ ba mới có thể bắt đầu tìm kiếm linh từ này, vì chỉ linh hồn đã giải thoát mới có thể tìm thấy nó. Linh từ này liên quan đến các cuộc điểm đạo cao nhất, nên chúng ta có bàn thêm cũng chẳng ích chi.
The following statements about the Sacred Word can therefore be made and should be studied with care:
Vì thế, có thể đưa ra những điều sau đây về Thánh ngữ để người môn sinh nghiên cứu kỹ:
1. The AUM is the Word of glory, and is the Christ in us, the hope of glory.
1. AUM là Linh từ vinh quang, là Đấng Christ trong chúng ta, nguồn hy vọng vinh quang.
2. The Word when rightly apprehended causes the second, or Christ aspect of divinity to shine forth resplendently.
2. Khi được hiểu đúng, Linh từ này làm cho trạng thái Christ, trạng thái thứ hai của thiên tính bừng chiếu rạng ngời.
3. It is the sound which brings into manifestation the incarnated soul (macrocosmic or microcosmic), the ego, the Christ, and causes the "radiant Augoeides" to be seen on earth. [56]
3. Đây là âm thanh giúp linh hồn lâm phàm (của đại vũ trụ hay tiểu vũ trụ), chân nhân, Đấng Christ đi vào cuộc [56] biểu hiện, và làm cho “phóng quang của Chân nhân” hiển lộ ở trần gian.
4. It is the Word which is the releaser of consciousness and when correctly understood and used, releases the soul from the limitations of form in the three worlds.
4. Đây là Linh từ khai phóng tâm thức và, khi được hiểu đúng và sử dụng đúng, sẽ giải thoát linh hồn ra khỏi sự hạn chế của hình hài, sắc tướng trong tam giới.
5. The AUM is the synthesiser of the three aspects and therefore is primarily the Word of the human kingdom in which the three lines of divine life meet—spirit, soul and body.
5. AUM là từ tổng hợp ba trạng thái, và vì thế chính yếu là Linh từ của giới nhân loại trong đó ba phương diện của sự sống thiêng liêng − tinh thần, linh hồn và thân xác − phối hợp.
6. It is also the Word of the fifth, the Aryan race, in a special sense. The work of that race is to reveal in a newer and fuller way the nature of the inner Identity, of the soul within the form, the son of mind, the solar angel, the fifth principle.
6. Theo một ý nghĩa đặc biệt, AUM cũng là Linh từ của giống dân thứ năm, giống dân Aryan. Nhiệm vụ của giống dân này là làm hiển lộ, theo cách mới mẻ hơn và đầy đủ hơn, bản tính của Đấng ngự trị ở nội tâm, là linh hồn bên trong hình thể, người con của trí tuệ, vị thần thái dương, nguyên khí thứ năm.
7. The significance of the Word only becomes apparent after the "light within" is realised. By its use the "spark" becomes a radiant light, the light becomes a flame, and the flame eventually becomes a sun. By its use the "sun of righteousness arises" in the life of every man.
7. Hành giả chỉ hiểu rõ ý nghĩa của Linh từ này sau khi nhận thức được “ánh sáng nội tâm.” Khi được sử dụng, “tia sáng” trở thành ánh sáng chói rạng, ánh sáng trở thành ngọn lửa, và rốt cuộc ngọn lửa trở thành ngôi mặt trời. Khi được sử dụng, “ngôi mặt trời công chính xuất hiện” trong cuộc sống của mọi người.
8. Each of the three letters has relation to the three aspects, and each can be applied to any of the known triplicities.
8. Mỗi một trong ba mẫu tự này đều có liên quan đến ba trạng thái, và mỗi mẫu tự đều có thể áp dụng cho bất cứ bộ ba nào mà chúng ta đã biết.
9. The Master, the God within, is indeed the Word, the AUM, and of this Master (found at the heart of all beings) it is true that "in the beginning was the Word, and the Word was with God (thus duality) and the Word was God." Through its use man arrives at a realisation of:
9. Vị Thầy, hay Thượng Đế nội tâm, thực sự là Linh từ, là AUM. Đối với vị Thầy này (ngự ở tâm của cả chúng sinh) quả thực là “lúc khởi thủy đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời cùng với Thượng Đế (tạo thành lưỡng nguyên) và Ngôi Lời chính là Thượng Đế.” Khi sử dụng Linh từ, hành giả nhận thức được: [58]
a. His own essential divinity,
a. Thiên tính chính yếu của mình,
b. The purpose of the form-taking process, [57]
b. mục đích của quá trình khoác lấy hình thể,
c. The constitution and nature of those forms,
c. Sự cấu tạo và tính chất của các hình thể đó,
d. The reality of consciousness, or the relation of the divine self or spirit to the form, its polar opposite.
d. Thực tính của tâm thức, hay là mối liên hệ của chân ngã thiêng liêng hay tinh thần với hình thể, là đối cực của tinh thần.
This relation, in its evolutionary working out, we call consciousness and the essential characteristic of this consciousness is love.
Mối liên hệ này, trong diễn trình tiến hóa, được gọi là tâm thức, và đặc trưng của tâm thức là tình thương.
10. The Guru or Master who leads a pupil up to the door of initiation and who watches over him in all the initial and subsequent tests and processes likewise represents the Word, and through the scientific use of this great sound He produces a certain stimulation and vitalisation in the centres of the disciple, thus rendering certain developments possible.
10. Vị Tôn sư hay Chân sư hướng dẫn đệ tử đến cửa điểm đạo, và trông nom y trong tất cả các cuộc trắc nghiệm và những tiến trình ban đầu và về sau, thì Ngài cũng tiêu biểu cho Linh từ. Khi sử dụng âm thanh vĩ đại này một cách khoa học, Ngài tạo ra sự kích thích và tăng cường nhất định trong các luân xa của người đệ tử, để khả dĩ có một số phát triển.
More about the Sacred Word is not advisable to add here. Enough has been given to indicate to the aspirant its purpose and potency. There will have to be communicated in other ways and at other times further information as the student—through study and self initiated effort—arrives at just conclusions. It might be added, that this great Word, when meditated upon, gives the clue to the true esoteric meaning of the words in the Secret Doctrine by H. P. Blavatsky:
Không nên nói nhiều hơn về Thánh ngữ ở đây. Những điều đã nói trên là đủ cho người chí nguyện thấy được mục đích và mãnh lực của Thánh ngữ. Khi người môn sinh đã có những kết luận đúng đắn qua nghiên cứu và tự cố gắng, thì y sẽ được truyền đạt thêm thông tin theo những cách khác, và vào thời điểm khác. Có thể nói thêm rằng khi tham thiền về Linh từ vĩ đại này, hành giả sẽ tìm thấy manh mối thực nghĩa nội môn của những điều mà H. P. Blavatsky đã ghi trong Giáo lý Bí nhiệm:
"Life we look upon as the One Form of Existence, manifesting in what we call Matter; or what, incorrectly separating them, we name Spirit, Soul and Matter in man. Matter is the vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the vehicle on a higher plane for the [58] manifestation of Spirit, and these three are a Trinity synthesized by Life, which pervades them all."
“Sự Sống mà chúng ta cho là Dạng Hiện tồn Duy nhất, vốn biểu hiện trong cái gọi là Vật chất; hoặc trong cái mà, do tách biệt sai lầm, chúng ta gọi là Tinh thần, Linh hồn và Vật chất trong con người. Vật chất là phương tiện cho Linh hồn biểu hiện trên cõi đời này. Linh hồn là phương tiện trên cõi cao cho Tinh thần biểu hiện. Ba trạng thái này là Tam vị nhất thể được tổng hợp bởi Sự Sống vốn thấm nhuần tất cả.” [59]
28. Through the sounding of the Word and through reflection upon its meaning, the Way is found.
28. Bằng cách xướng lên Thánh ngữ và suy ngẫm về ý nghĩa của nó, hành giả tìm thấy Đường Đạo.
This is a very general paraphrase but conveys nevertheless the correct significance of the terms used in the Sanskrit. Only Vivekananda, among the many translators, gives this interpretation, putting it as follows:
Đây là câu nói rất tổng quát nhưng vẫn chuyển đạt được thâm nghĩa của các thuật ngữ tiếng Bắc Phạn được dùng. Trong số nhiều dịch giả, chỉ có Vivekananda chuyển dịch được ý nghĩa này như sau:
"The repetition of the OM and meditating upon its meaning (is the Way)."
“Thường xuyên trì niệm Thánh ngữ OM và tham thiền về ý nghĩa của Nó (là Đường Đạo).”
The other translators omit the final three words, though the inference is clear.
Các dịch giả khác bỏ sót ba từ cuối, dù rằng rõ ràng có sự suy diễn này.
The expression "the sounding of the Word" must not be too literally interpreted; the esoteric "sounding forth" is based upon a study of the Law of Vibration, and the gradual tuning of the lower vibrations of the sheaths or vestures of consciousness so that they synchronise with the note or sound of the conscious indweller. Speaking correctly, the Word is to be sounded by the soul or the ego on its own plane, and the vibration will subsequently affect the various bodies or vehicles which house that soul. The process is therefore a mental one and can only really be done by those who—through meditation and discipline, coupled with service—have made a conscious at-one-ment with the soul. Aspirants to this condition have to [59] utilise the potent factors of the imagination, visualisation and perseverance in meditation to reach this initial stage. It should be noted that this stage has to be reached, even if only in a relatively small degree, before the aspirant can become an accepted disciple.
Không nên giải thích cụm từ “xướng lên Thánh ngữ” theo ý nghĩa quá cụ thể. Sự “xướng lên” về mặt nội môn dựa vào việc nghiên cứu Luật Rung động, và dần dần điều chỉnh rung động thấp độ của các thể hay các lớp áo của tâm thức. Nhờ thế mà chúng rung động đồng bộ với nốt hay âm thanh của chân nhân hữu thức ở nội tâm. Nói đúng ra, Thánh ngữ được linh hồn hay nhân ngã xướng lên trên cảnh giới của mình. Sau đó, rung động này sẽ ảnh hưởng đến các thể hoặc vận cụ khác nhau là nhà của linh hồn. Vì thế, đây là một tiến trình trí tuệ, chỉ có thể thực sự được tiến hành bởi những ai đã hữu thức hợp nhất với linh hồn − qua hành thiền, nghiêm trì giới luật, cùng với công tác phụng sự. Những người nào chí quyết hành trì điều kiện này thì phải sử dụng các yếu tố mạnh mẽ của trí tưởng tượng, hình dung, và bền lòng tham thiền để tiến đến giai đoạn đầu nói trên. Cần lưu ý rằng phải đạt được giai đoạn vừa kể, cho dù chỉ với mức độ tương đối nhỏ, trước khi người chí nguyện có thể trở thành đệ tử nhập môn.
The process of sounding the Word is dual, as is emphasized here.
Việc xướng lên Thánh ngữ là một tiến trình kép, như được nhấn mạnh ở đây. [60]
There is, first of all, the act of the ego, solar angel, higher self or soul, as he sounds out the Word from his own place, on the abstract levels of the mental plane. He directs that sound, via the sutratma and the vestures of consciousness to the physical brain of the man in incarnation, the shadow or reflection. This "sounding forth" has to be constantly repeated. The Sutratma is that magnetic link, spoken of in the Christian Bible as the "silver cord," that thread of living light which connects the Monad, the Spirit in man, with the physical brain.
Trước hết là hành động của chân nhân, thần thái dương, chân ngã hay linh hồn, khi chân nhân xướng lên Thánh ngữ từ cảnh giới của mình, ở các cấp trừu tượng của cõi trí. Chân nhân hướng âm thanh này, qua sutratma và các lớp áo của tâm thức đến não bộ trong thân xác của con người ở cõi trần, là hình bóng hay phản ảnh của chân nhân. Sự “xướng lên” này phải được lặp lại liên tục. Sutratma là đường liên kết từ lực, mà trong Thánh kinh Thiên Chúa giáo gọi là “sợi dây bạc”. Nó là sinh quang tuyến, nối kết Chân thần, hay Tinh thần trong mỗi người với não bộ của xác thân.
Secondly, there is the earnest reflection of the man in his physical brain upon that sound as he recognizes it. The two poles of being are hinted at here: the soul and the man in incarnation, and between these two is found the thread, along which the Pranava (or word) vibrates. Students of the esoteric science have to recognize the technique of the processes outlined. In the case of the sounding forth of the Word we have the following factors:
Thứ đến là sự chuyên tâm suy ngẫm của hành giả trong não bộ của xác thân về âm thanh đó khi y nhận biết nó. Ở đây có gợi ý về hai cực của sự sống: linh hồn và phàm nhân ở cõi trần. Giữa hai cực này là đường dẫn truyền rung động của Pranava (hay linh từ). Người môn sinh huyền bí cần phải nhận biết được kỹ thuật của các tiến trình đã phác thảo. Trong việc xướng lên Thánh ngữ chúng ta có các yếu tố sau đây:
1. The soul who sends, or breathes it forth,
1. Linh hồn xướng lên, hay thở ra Thánh ngữ,
2. The sutratma or thread along which the sound vibrates, is carried or transmitted, [60]
2. Sutratma hay là đường liên kết, chuyển tải hay truyền tải các rung động của âm thanh này, [60]
3. The vestures of consciousness, mental, emotional and etheric which vibrate in response to the vibration or breath and are stimulated thereby,
3. Những lớp áo của tâm thức, là thể trí, thể tình cảm và thể dĩ thái rung động ứng đáp với sự rung động hay hơi thở nói trên, và do đó mà được kích thích,
4. The brain which can be trained to recognize that sound and vibrate in unison with the breath,
4. Bộ não có thể được rèn luyện để nhận biết được âm thanh ấy và rung động hòa hợp với linh hồn,
5. The subsequent act of the man in meditation. He hears the sound (called sometimes the "still small Voice," or the "Voice of the Silence"), he recognizes it for what it is and in deep reflection he assimilates the results of his soul's activity.
5. Sau đó là tác động của hành giả trong tham thiền. Y nghe được âm thanh (đôi khi gọi là “Tiếng nói tế vi, an tĩnh,” hay là “Tiếng nói của Im lặng”). Y nhận thức được thực tính của tiếng nói này, và trong suy ngẫm sâu xa y đồng hóa kết quả hoạt động của linh hồn mình.
Later when the aspirant has passed on into the mysteries and has learnt how to unify the soul and the lower man so that they function as a coordinated unit on earth, the man learns to sound the Word on the physical plane with the object of awakening the forces which are latent within him and thereby arouse the centres. Thus he participates increasingly in the creative, magical and psychical work of manifestation, with the object ever in view of benefiting his fellow men and thus furthering the plans of the planetary hierarchy.
Về sau, người chí nguyện đi vào các bí nhiệm và học cách thống nhất linh hồn và phàm nhân để cả hai hoạt động như một đơn vị phối hợp ở cõi trần. Bấy giờ hành giả học cách xướng lên Thánh ngữ ở cõi trần với mục đích khơi dậy những mãnh lực còn ẩn tàng nơi mình, và bằng cách đó thức động các luân xa. Nhờ thế, y ngày càng tham gia nhiều hơn vào công tác sáng tạo, huyền thuật và tâm linh trong cuộc biểu hiện. mục tiêu của y bao giờ cũng nhằm mang lại lợi ích cho đồng bào của mình, và xúc tiến kế hoạch của Đại đoàn Chưởng giáo hành tinh.
29. From this comes the realization of the Self (the Soul) and the removal of all obstacles.
29. Cố gắng này giúp nhận thức được chân ngã (Linh hồn) và loại trừ mọi chướng ngại.
When the Master within is known, the assertion of his power becomes increasingly felt, and the aspirant submits his entire lower nature to the control of that new ruler.
Khi hành giả biết được vị Thầy ở nội tâm, y ngày càng cảm nhận sự triển khai năng lực của người, và y đặt trọn cả phàm tính dưới sự chế ngự của vị chủ nhân mới này.
It should be noted here that the eventual complete [61] removal of all obstacles transpires after the initial flash of realization. The sequence of happenings is as follows:
Ở đây cần lưu ý rằng, rốt cuộc tất cả các chướng ngại hoàn toàn bị loại trừ sau khi có tia chớp đầu tiên của nhận thức. [61] Sự việc xảy ra theo trình tự sau đây:
1. Aspiration after knowledge of the soul,
1. Thiết tha muốn biết được linh hồn,
2. Realization of the obstacles, or an understanding of the things which prevent true knowledge.
2. Nhận thức được các trở ngại, hay là hiểu được những điều ngăn trở sự hiểu biết đích thực,
3. Intellectual comprehension as to the nature of those obstacles,
3. Trong trí thấu hiểu tính chất của những chướng ngại nói trên,
4. Determination to eliminate them,
4. Quyết tâm loại trừ chúng,
5. A sudden flash or vision of the soul Reality,
5. Trong chớp mắt bỗng nhiên thấy được Thực tính của linh hồn,
6. Fresh aspiration and a strong determination to make that fleeting vision a permanent reality in the lower plane experience,
6. Nguyện vọng mới mẻ và quyết tâm mạnh mẽ muốn chuyển cái nhìn thoáng qua này thành thực tế thường xuyên trong kinh nghiệm ở cõi thấp,
7. The battle of Kurukshetra, with Krishna, the soul, heartening Arjuna, the aspirant, on to steady and continuous effort. The same thought is to be found in the Old Testament, in the case of Joshua before the walls of Jericho.
7. Cuộc chiến Kurukshetra, trong đó Krishna là linh hồn khuyến khích Arjuna, là người chí nguyện, giữ vững cố gắng bền bỉ và liên tục. Chính tư tưởng này cũng có trong kinh Cựu Ước, với câu chuyện của Joshua đứng trước thành Jericho.
It might be well here to conclude this comment with Sutras 31, 32, 33 and 34, of Book IV:
Ở đây nên kết thúc phần luận giải này với các Câu 31, 32, 33 và 34, của Quyển IV:
31. When, through the removal of the hindrances and the purification of all the sheaths, the totality of knowledge becomes available, naught further remains for the man to do.
31. Khi đã giải trừ chướng ngại và tinh luyện các thể, hành giả có toàn bộ hiểu biết, và không còn điều gì phải làm thêm.
32. The modifications of the mind-stuff (or qualities of matter) through the inherent nature of the three gunas come to an end, for they have served their purpose.
32. Các biến thái của trí tuệ chất (hay đặc tính của vật chất), qua tính chất cố hữu của ba guna, nay chấm dứt, vì chúng đã phục vụ xong mục đích.
33. Time, which is the sequence of the modifications of the mind, likewise terminates, giving place to the Eternal Now.
33. Thời gian, vốn là trình tự các biến thái của thể trí, cũng chấm dứt, nhường chỗ cho Hiện tại Vĩnh cửu.
34. The state of isolated Unity becomes possible when the three qualities of matter (the three gunas or potencies of Nature. A.B.) no longer exercise any hold over the Self. The pure Spiritual Consciousness withdraws into the One. [62]
34. Có thể đạt đến trạng thái nhất như tự tại khi ba đặc tính của vật chất (là ba guna hay ba mãnh lực của thiên nhiên. A.B.) không còn cầm giữ Chân ngã. Tâm thức Tinh thần thuần khiết rút vào Đấng duy nhất. [62]
30. The obstacles to soul cognition are bodily disability, mental inertia, wrong questioning, carelessness, laziness, lack of dispassion, erroneous perception, inability to achieve concentration, failure to hold the meditative attitude when achieved.
30. Những trở ngại đối với nhận thức về linh hồn là thể xác suy yếu, trí năng trì trệ, nghi vấn lệch lạc, thiếu chú tâm, lười biếng, thiếu hạnh vô dục, nhận thức sai lầm, không thể tập trung, không giữ được tâm thái thiền khi đã đạt.
Obstacle I. Bodily disability.
Trở ngại 1. Thể xác suy yếu.
It is interesting to note that the first obstacle has relation to the physical body. Aspirants would do well to remember this and should seek to adjust the physical vehicle to the demands later to be made upon it. These adjustments will be great and they fall into four groups:
Điều cần lưu ý là trở ngại đầu tiên có liên quan đến thể xác. Người chí nguyện nên ghi nhớ điều này và cố gắng điều chỉnh thân xác thế nào để nó đáp ứng được yêu cầu về sau. Những điều chỉnh này rất quan trọng và gồm có bốn phương diện:
1. The rendering of the body immune to the attacks of disease or indisposition. This is in itself a triple process involving:
1. Làm cho thân xác miễn nhiễm đối với những cơn bệnh và tình trạng đau yếu. Đây là một tiến trình gồm ba phần:
a. The eradication of present disease,
a. Loại trừ chứng bệnh hiện tại,
b. The refining and the purifying of the body so as to rebuild it eventually,
b. Tinh luyện và thanh lọc thân xác để rốt cuộc nó được tái xây dựng,
c. The protection of the body from future attack and its utilization as a vehicle of the soul.
c. Bảo vệ thân xác khỏi bị nhiễm bệnh về sau, và dùng nó như một vận cụ của linh hồn.
2. The strengthening and refining of the etheric body in order that it may be finally tuned up so that the work of force direction may be safely undertaken. The disciple has to pass the forces used in his work through his body.
2. Tăng cường và thanh lọc thể dĩ thái để cuối cùng nó được cải thiện. Nhờ đó, hành giả có thể thực hiện việc lèo lái mãnh lực một cách an toàn. Người đệ tử phải cho các mãnh lực dùng trong công tác đi qua cơ thể mình.
3. The unfoldment and awakening of the centres in the etheric body, the centralization of the fires of the body and their just progression up the [63] spine, in order to make union with the fire of the soul.
3. Khai mở và thức động các luân xa trong thể dĩ thái, tập trung các loại lửa trong cơ thể và cho chúng tiến lên theo cột sống để hợp nhất với lửa của linh hồn. [63]
4. The coordination of the physical body in its two divisions and its subsequent alignment with the soul via the sutratma or the thread, which is the magnetic link.
4. Phối hợp hai thành phần nói trên của thể xác. Sau đó cho nó chỉnh hợp với linh hồn qua sutratma, tức là tuyến liên kết từ lực.
The third adjustment spoken of can only safely be undertaken after the first three means of yoga have been used and developed. These are:
Chỉ có thể thực hiện việc điều chỉnh thứ ba nói trên một cách an toàn sau khi hành giả đã sử dụng và phát triển ba phương tiện đầu tiên của yoga. Đó là:
1. The five commandments, (See: Book II. Sutras 28 and 29.)
1. Năm điều răn, (Xem: Quyển II. Các Câu 28 đến 29.)
2. The five rules, (See: Book II. Sutras 32 to 46.)
2. Năm qui tắc, (Xem: Quyển II. Các Câu 32 đến 46.)
3. Right poise. (See: Book II. Sutras 46 to 48.)
3. Tư thế đúng. (Xem: Quyển II. Các Câu 46 đến 48.)
This is a point often forgotten by aspirants to yoga, and hence the disasters and trouble so often seen amongst those who prematurely occupy themselves with the awakening of the centres and the arousing of the serpent fire. Only when the entire relation of the aspirant to the social economy (as dealt with in the commandments), only when the task of purifying and regulating the threefold lower nature has been worked at (as outlined in the rules), and only as a balanced and controlled condition of the emotional nature has been brought about and right poise achieved, can the aspirant to Raja Yoga safely proceed to the more esoteric and occult work connected with the fires of his little system. This point cannot be too strongly emphasized. Only at a very advanced stage of discipleship will it be safe for the man to deal consciously with the vital fires and direct [64] their right progression up the spine. Few there are as yet who have "kept the law and the commandments."
Đây là điểm mà người chí nguyện tu tập yoga thường hay quên. Vì thế mà quá thường xảy ra tai biến và khó khăn trong số những người vội vàng tự ý đánh thức các luân xa và khơi dậy luồng hỏa xà. Chỉ khi nào toàn bộ các quan hệ của người chí nguyện với cuộc sống xã hội (như bàn trong các điều răn) đã trở nên tốt đẹp; chỉ khi nào y đã thực hiện được việc tinh luyện và điều hòa ba phương diện của phàm tính (như nêu trong các qui tắc); và chỉ khi nào đã có được tư thế đúng đắn, thì bấy giờ người chí nguyện thực hành Raja Yoga mới có thể an toàn xúc tiến công tác có tính cách nội môn và huyền môn hơn, liên quan đến các loại lửa trong hệ thống nhỏ bé của mình. Cần hết sức chú ý điểm này. Chỉ đến một giai đoạn rất cao trên con đường đệ tử, hành giả mới có thể hữu thức vận dụng các loại lửa sinh động và cho chúng đi lên qua cột sống một cách an toàn. [64] Vẫn còn ít người đã “nghiêm trì giới luật và tuân thủ các điều răn.”
Obstacle II. Mental inertia.
Trở ngại II. Trí năng trì trệ.
The next great basic obstacle (for these obstacles are given in the order of their relative power over average man) is inability to think clearly about the problem of attainment. Unless clear thinking precedes action, insufficient momentum will be found coupled with failure to appreciate the magnitude of the problem. Mental inertia is due to the lethargic condition of the "vesture of consciousness" which we call the mental body and to the heavy rate of rhythm found in most people. That is the reason why Raja Yoga necessarily makes a greater appeal to mental types than to pure devotees, and it accounts for the fact that those whose mental bodies are well equipped and actively used can more quickly be trained in this sacred science. For the majority of people, the awakening of the mental body, the development of an intellectual interest, and the substitution of mind control in place of control by the emotions has to precede any later realisation of the need of soul culture. The apparatus of thought must be contacted and used before the nature of the thinker can be intelligently appreciated.
Các trở ngại nói trên được đưa ra theo thứ tự, tùy mức độ ảnh hưởng tương đối của chúng đối với người bình thường. Vì thế mà trở ngại lớn kế tiếp là thiếu khả năng suy nghĩ rõ ràng về vấn đề cần thực hiện. Nếu không suy nghĩ rõ ràng trước khi hành động, hành giả sẽ thiếu động năng và không thể đánh giá được tầm mức lớn lao của vấn đề. Trí năng trì trệ là do tình trạng thờ ơ, chậm chạp trong “lớp áo của tâm thức” được gọi là thể trí, và do nhịp độ rung động nặng nề trong hầu hết mọi người. Đó là lý do tại sao mà Raja Yoga chỉ đương nhiên hấp dẫn nhiều đối với những mẫu người có trí năng hơn là những người chỉ thuần sùng tín. Thực tế cũng cho thấy rằng những ai có thể trí trang bị tốt và được sử dụng tích cực thì có thể rèn luyện nhanh hơn trong khoa học thánh triết này. Với đa số mọi người, trước họ cần thức động thể trí, phát triển sự quan tâm về tri thức, và kiểm soát qua trí năng thay vì để cho tình cảm chi phối. Về sau, họ mới có thể nhận thức được nhu cầu khai mở nguồn sống linh hồn. Hành giả phải vận dụng và sử dụng cái khí cụ này của tư tưởng trước khi y có thể sáng suốt nhận định được bản tính của chủ thể suy tưởng.
When this is realised, the contribution to human development by the great schools of thought we call Mental Science, Christian Science, New Thought and other groups which lay the emphasis upon the mental states will be more justly appraised. [65] The human family is only now becoming aware of the "vesture of consciousness" which we call the mental body.
Với nhận thức nói trên, người ta mới đánh giá đúng hơn về sự góp phần của các trường phái tư tưởng lớn như Khoa [65] học Trí tuệ, Khoa học Thiên Chúa giáo, Tân Tư tưởng và những đoàn nhóm khác chú trọng vào các trạng thái trí tuệ. Chỉ đến nay gia đình nhân loại mới bắt đầu ý thức được “lớp áo của tâm thức” mà các môn sinh huyền bí gọi là thể trí.
The majority of men have as yet to build that vesture which occult students call the mental body. From among those who are so doing, the true raja yogins will be gathered.
Phần đông nhân loại còn phải kiến tạo lớp áo gọi là thể trí này. Những ai đang làm điều đó mới có thể thực sự là nhà raja yogi.
Obstacle Ill. Wrong questioning.
Trở ngại III. Nghi vấn lệch lạc.
This is the next stage and is also dependent upon a certain amount of mental development. Some translators call this 'doubt.' This wrong questioning is that which is based upon lower perception and the identification of the real man with that illusory instrument, his mental body. This leads him to question the eternal verities, to doubt the existence of the fundamental realities and to seek for the solution of his problems in that which is ephemeral and transitory, and in the things of the senses.
Giai đoạn kế tiếp này cũng tùy theo trình độ phát triển trí tuệ. một số dịch giả gọi đây là sự ‘nghi ngờ.’ Nghi vấn lệch lạc là do nhận thức thấp kém, và do chân nhân tự đồng hóa với cái khí cụ dễ bị ảo tưởng của mình, là thể trí. Điều này khiến hành giả ngờ vực các chân lý vĩnh cửu, nghi ngờ sự hiện hữu của các thực tại nền tảng. Vì thế, y tìm cách giải quyết các vấn đề của mình bằng những điều phù du, nhất thời, và các sự vật của giác quan.
There is a questioning which is right and proper. It is that "asking of questions" spoken of by the Christ in the words "Ask and ye shall receive." This faculty of enquiry is deliberately cultivated in their disciples by all true Masters in the Orient. They are taught to formulate questions about the inner realities and then to find the answer for themselves through a search for that source of all knowledge, latent at the heart of all beings. To ask intelligently and to find the answer, they must first free themselves from all outer imposed authority and from all tradition and from the imposition of every theological [66] dogma, whether religious or scientific. Only thus can the reality be found and the truth be seen.
Có một cách hỏi đúng đắn và thích hợp. Đó là việc “đặt câu hỏi” mà Đức Christ đã nói đến trong câu “Người nào hỏi tất sẽ được.” Tất cả các Chân sư ở Đông phương đều thận trọng bồi dưỡng nơi đệ tử của mình năng lực tìm hiểu này. Các Ngài hướng dẫn họ tham vấn về những điều thực tế nội tại, rồi sau đó tìm thấy lời giải đáp cho chính mình bằng cách tìm đến nguồn cội của mọi hiểu biết ẩn tàng trong tâm của cả chúng sinh. Để đặt câu hỏi một cách thông minh và tìm thấy đáp án, trước hết họ phải tự mình thoát ra khỏi mọi thẩm quyền áp đặt từ bên ngoài, thoát khỏi mọi truyền thống, và thoát khỏi mọi giáo điều thần học, dù đó là thuộc về tôn giáo hay khoa học. [66] Chỉ bằng cách đó, họ mới có thể thấy được thực tại và chân lý.
"When thy Soul shall pass beyond the forest of delusion, thou shalt no more regard what shall be taught, or what has been taught.
“Khi linh hồn vượt qua khu rừng ảo tưởng, hành giả sẽ không còn bận tâm đến những gì sẽ được giảng dạy hay đã được giảng dạy.
When withdrawn from traditional teaching thy Soul shall stand steadfast, firm in soul-vision, then thou shalt gain union with the Soul." Gita II.51.52.
“Khi từ bỏ giáo huấn theo truyền thống, linh hồn sẽ trụ vững trong thị kiến tinh thần, và hành giả hợp nhất với Linh hồn.” Chí Tôn Ca II.51.52.
Obstacle IV. Carelessness.
Trở ngại IV. Thiếu chú tâm.
The attitude of mind dealt with here has been translated by some as "light-mindedness." It is really that versatile mental attitude which makes one-pointedness and attention so difficult to achieve. It is literally the thought-form-making tendency of the mind stuff which has also been described as the "mind's tendency to flit from one object to another." See Book III, Sutra 11.
Thái độ này của thể trí được một số dịch giả gọi là “cái trí vẩn vơ.” Đây thực sự là thái độ của thể trí thường thay đổi, khiến khó có thể nhất tâm và chuyên chú. Đúng ra, đây là khuynh hướng tạo-hình-tư-tưởng của trí tuệ chất, cũng được mô tả là “khuynh hướng của cái trí bay nhảy từ đối tượng này sang đối tượng khác.” Xem Quyển III, Câu 11.
Obstacle V. Laziness.
Trở ngại V. Lười biếng
All the commentators agree as to this translation, employing the terms, sloth, languor or laziness. This refers not so much to mental inertia (for it may accompany acute mental perception) as to that slothfulness of the entire lower man which prevents him from measuring up to the intellectual recognition and the inner aspiration. The aspirant has been told what he has to do, the "means of yoga" have been clear to him. He has glimpsed the ideal and is aware of the obstacles; he knows theoretically just what steps he has to take but there is no correspondence between his activity and his knowledge. There is a gap between his aspiration and his performance. [67] Though he longs to achieve and to know, it is too hard work to fulfill the conditions. His will is not yet strong enough to force him forwards. He permits time to slip by and does nothing.
Tất cả các nhà luận giải đều đồng ý về cách dịch này, và dùng những từ như chậm lụt, thờ ơ, lười biếng. Điều này không liên quan nhiều đến sự trì trệ của thể trí (vì có thể kèm theo nhận thức trí tuệ sắc sảo), mà chỉ về sự chậm lụt chung của phàm nhân khiến y không thích ứng được với nhận thức của trí năng và nguyện vọng nội tâm. Người chí nguyện đã biết được những gì cần phải làm. Y đã hiểu rõ “các phương tiện của yoga.” Y đã thoáng thấy lý tưởng hợp nhất và ý thức được các trở ngại. Về mặt lý thuyết, y biết đúng những bước cần thực hiện, nhưng sự hiểu biết của y không đi đôi với thực hành. Có một khoảng cách giữa nguyện vọng tinh thần của y và điều y thực hiện. Dù y khao khát muốn thành đạt và hiểu biết, nhưng làm tròn các điều kiện này thật quá khó khăn. [67] Ý chí của y chưa đủ mạnh để giúp y tiến tới. Y để cho thời gian trôi qua mà chẳng làm gì cả.
Obstacle VI. Lack of dispassion.
Trở ngại VI. Thiếu hạnh vô dục
This has been well translated by some as "addiction to objects." This is the desire for material and sensuous things. It is love of sense perceptions and attraction for all that brings a man back again and again into the condition of physical plane existence. The disciple has to cultivate "dispassion" or that attitude which never identifies itself with forms of any kind, but which is ever detached and aloof, freed from limitations imposed by possessions and belongings. This is covered in many places in the various sutras and need not be enlarged upon here.
Trở ngại này được một số người dịch rất hay là “bám chặt vào các đối tượng.” Đây tức là sự ham muốn những thứ vật chất và thuộc về giác quan. Đây chính là sự ưa thích các cảm nhận của giác quan và bị hấp dẫn bởi tất cả những gì hết lần này đến lần khác đưa con người vào vòng luân hồi, trở lại điều kiện sống ở cõi trần. Người đệ tử phải vun bồi “hạnh vô dục” hay là thái độ không bao giờ tự đồng hóa với bất cứ loại hình hài sắc tướng nào. Y luôn luôn từ bỏ, buông bỏ và thoát khỏi các hạn chế của những thứ mà y chiếm hữu và sở hữu. Điều này được đề cập đến trong nhiều câu kinh khác nhau, nên không cần bàn rộng ở đây.
Obstacle VII. Erroneous perception.
Trở ngại VII. Nhận thức sai lầm.
This inability to perceive correctly and to vision things as they really are, is the natural outcome of the six previous obstacles. As long as the thinker identifies himself with form, as long as the lesser lives of the lower vestures of consciousness can hold him in thrall, and as long as he refuses to separate himself from the material aspect, just so long will his perceptions remain erroneous. Vision is of various kinds and these might be enumerated as follows:
Thiếu khả năng nhận thức đúng và thấy được thực tính của sự vật, là hậu quả đương nhiên của sáu trở ngại nói trên. Ngày nào chủ thể tư tưởng (người suy tưởng) còn tự đồng hóa với hình hài, sắc tướng; ngày nào những sinh linh thấp kém trong các hạ thể của tâm thức còn có thể cầm giữ y trong tình trạng nô lệ; và ngày nào y chưa chịu tách mình ra khỏi phương diện vật chất; thì ngày ấy các nhận thức của y vẫn còn sai lầm. Thị kiến có nhiều loại khác nhau, có thể kể ra như sau:
1. Physical vision reveals the nature of the physical plane, and is achieved through the medium of the eyes, photographing through the lens of the eye, the aspect of the tangible form, upon [68] the wonderful film which every man possesses. It is circumscribed and limited.
1. Thị giác của xác thân cho thấy tính chất của cõi trần. Cái thấy này có được qua trung gian của đôi mắt, thu hình ảnh các thể dạng hữu hình nhờ thấu kính trong mắt, rồi ghi lên cuộn phim tuyệt vời mà mọi người đều có sẵn. [68] Cái thấy này vốn hạn chế và giới hạn.
2. Etheric vision. This is a rapidly developing faculty of the human eye which ultimately will reveal the health aura of all forms in the four kingdoms of nature, which will bring about recognition of the vital pranic emanations of all living centres and will make manifest the conditions of the centres.
2. Nhãn quan dĩ thái. Đây là quan năng thị giác của con người đang phát triển nhanh chóng. Rốt cuộc nó sẽ cho thấy hào quang sức khỏe của tất cả các hình thể trong bốn trường tiến hoá của thiên nhiên. Nó sẽ giúp nhận biết những phát xạ sinh lực prana của các luân xa đang hoạt động, và thấy được tình trạng của các luân xa này.
3. Clairvoyance. This is the faculty of sight upon the astral plane and is one of the lower "siddhis" or psychic powers. It is achieved through a surface sensibility of the entire "body of feeling," the emotional sheath, and is sensuous perception carried to a very advanced condition. It is misleading and, apart from its higher correspondence, which is spiritual perception, is the very apotheosis of maya or illusion.
3. Thông nhãn. Đây là quan năng thị giác trên cõi cảm dục, là một trong các “siddhi” hay thần thông loại thấp. Nhãn quan này có được nhờ sự nhạy cảm bề mặt của toàn bộ “thể xúc cảm”, hay thể tình cảm, và là cảm nhận của giác quan được tăng cường đến mức rất cao. Nếu thiếu tương ứng cấp cao của nó là nhận thức tinh thần, thì nhãn quan này dễ gây nhầm lẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho ảo ảnh và ảo tưởng phát sinh.
4. Symbolic vision. This is a faculty of the mental body and the factor which produces the seeing of colours, of geometrical symbols, fourth dimensional sight, and those dreams and visions which are the result of mental activity, and not of astral sight. Frequently these visions have a quality of prevision.
4. Nhãn quan biểu tượng. Đây là quan năng của thể trí. Nó là yếu tố giúp thấy được các màu sắc, các biểu tượng hình học, quang cảnh trong bề đo thứ tư, những giấc mơ và linh ảnh do kết quả hoạt động của thể trí, chứ không do cái thấy của cảm dục. Thường thì những điều thấy được có tính cách dự kiến.
These four types of vision are the cause of wrong perception and will only produce illusion and error until that time when the higher forms of vision, enumerated below, supersede them. These higher forms of sight include the others.
Bốn loại nhãn quan nói trên là nguyên nhân gây ra nhận thức sai lầm. Chúng sẽ chỉ tạo nên ảo tưởng và nhầm lẫn, nếu chưa được thay thế bởi các nhãn quan cao hơn như nêu dưới đây. Những dạng nhãn quan cao cấp này cũng bao gồm các nhãn quan nói trên.
5. Pure vision. This is spoken of by Patanjali in the words:
5. Nhãn quan thuần khiết. Patanjali nói về cái thấy này như sau:
"The seer is pure Knowledge (gnosis). Though [69] pure, he looks upon the presented idea through the medium of the mind." (Book II, Sutra 20.)
“Người tri kiến là cái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). [69] Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.” (Quyển II, Câu 20.)
The words "pure knowledge" have been translated "pure vision." This vision is the faculty of the soul which is pure knowledge, and is manifest when the soul uses the mind as its instrument of vision. Charles Johnston translates the same Sutra as follows: "The seer is pure vision.... He looks out through the vesture of the mind."
Các từ “cái biết thuần túy” đã được chuyển dịch là “cái thấy thuần túy.” Cái thấy này là quan năng của linh hồn vốn là cái biết thuần túy. Cái thấy này rõ ràng, minh bạch khi linh hồn dùng thể trí làm phương tiện cho thị giác. Charles Johnston chuyển dịch Câu kinh nói trên như sau: “Người thị kiến là cái thấy thuần túy... Y nhìn ra ngoài qua lớp áo của thể trí.”
It is that clear apprehension of knowledge and a perfect comprehension of the things of the soul which is characteristic of the man who—through concentration and meditation—has achieved mind control. The mind then becomes the window of the soul, and through it the spiritual man can look out onto a new and higher realm of knowledge. Simultaneously with the development of this type of vision, the pineal gland becomes active, and the third eye (in etheric matter) develops with a paralleling activity.
Chính nhờ tập trung và tham thiền, hành giả chế ngự được thể trí. Bấy giờ y biết rõ và hoàn toàn thấu đáo những vấn đề của linh hồn. Bấy giờ thể trí trở thành cửa sổ của linh hồn, và qua đó con người tinh thần có thể nhìn ra một lĩnh vực hiểu biết mới mẻ và cao siêu hơn. Đồng thời với sự phát triển loại nhãn quan này, tuyến tùng bắt đầu sinh động, và con mắt thứ ba (trong vật chất dĩ thái) cũng phát triển với hoạt động song hành.
6. Spiritual vision or true perception. This type of vision opens up the world of the intuitional or buddhic plane, and takes its possessor beyond the abstract levels of the mental plane. The things of pure spirit, and the basic purposes underlying all manifestation are thus realised, just as pure vision permitted its owner to tap the resources of pure wisdom. With the development of this vision the alta major centre becomes active, and the thousand-petalled lotus unfolded.
6. Nhãn quan tinh thần hay nhận thức đúng thực. Loại nhãn quan này mở ra với thế giới trực giác hay cõi bồ-đề, giúp hành giả vượt khỏi cấp độ trừu tượng của cõi trí. Y nhận thức được những vấn đề của tinh thần thuần khiết, và mục đích cơ bản của toàn cuộc biểu hiện. Giống như cái thấy thuần túy đã giúp y tiếp xúc với nguồn minh triết thuần khiết. Khi nhãn quan này phát triển, trung tâm ở đầu cột sống trở nên linh hoạt, và hoa sen ngàn cánh khai mở.
7. Cosmic sight. This is of a nature inconceivable to man and characterises the realisation of those Existences Who manifest through the [70] medium of a planetary scheme in a solar system just as a man manifests through his bodies.
7. Nhãn quan vũ trụ. Con người chưa thể có ý niệm nào về nhãn quan này. Đây là nhận thức của những Đấng biểu hiện qua một hệ thống hành tinh trong một thái dương hệ, [70] giống như một người biểu hiện qua các thể của mình.
By the study of these types of perception, the student will arrive at a just appreciation of the work he has to do. He is thus aided to place himself where he at present stands, and consequently to prepare intelligently for the next step forward.
Khi nghiên cứu các loại quan năng nhận thức này, người môn sinh sẽ đánh giá đúng được những gì mình cần phải thực hiện. Y biết được vị trí của mình hiện nay, nhờ đó mà chuẩn bị một cách thông minh cho bước tiến kế tiếp.
Obstacle VIII. Inability to achieve concentration.
Trở ngại VIII. Không thể tập trung.
The two last obstacles indicate the way whereby "old things can pass away" and the new man come into his heritage. The method of the disciple must not only include self-discipline or the subjugation of the vestures or sheaths, nor must it only include service or identification with group consciousness, but it must also include the two stages of concentration, focussing or control of the mind, and meditation, the steady process of pondering upon what the soul has contacted and knows. These two will later be dealt with and will not be further touched upon here.
Hai trở ngại sau cùng cho thấy cách “từ bỏ những thói quen xưa cũ” và hành giả trở thành con người mới, thừa hưởng di sản của mình. Phương pháp mà người đệ tử cần thực hiện không chỉ bao gồm kỹ luật tự giác hay là chế ngự các lớp áo hay các thể; không chỉ gồm việc phụng sự hay đồng nhất với tâm thức tập thể; mà cũng phải bao gồm hai giai đoạn tập trung, chú tâm hay kiểm soát thể trí, và tham thiền, là tiến trình suy ngẫm liên tục về những gì mà linh hồn đã giao tiếp và hiểu biết. Hai giai đoạn này sẽ được bàn sau, và không cần phải nói thêm ở đây.
Obstacle IX. Failure to hold the meditative attitude.
Trở ngại IX. Không giữ được tâm thái thiền.
It will be apparent therefore that the first six obstacles deal with wrong conditions and the last three with the results of those conditions. They contain a hint as to the method whereby liberation from the wrong states of consciousness can be effected.
Vì thế, chúng ta thấy rõ rằng sáu trở ngại đầu nói về những tình trạng sai lầm, và ba trở ngại sau là kết quả của những sai lầm đó. Ở đây có ngụ ý về phương pháp giúp hành giả có thể thoát khỏi những tâm thái sai lầm. [71]
The next sutra is most interesting as it deals with the effects produced in each of the four bodies [71] of the lower nature, in the case of the man who has not overcome the obstacles.
Câu kế tiếp rất hay vì bàn về ảnh hưởng đến mỗi một trong bốn hạ thể phàm nhân, nếu người ấy chưa vượt qua các trở ngại nói trên.
31. Pain, despair, misplaced bodily activity and wrong direction (or control) of the life currents are the results of the obstacles in the lower psychic nature.
31. Đau khổ, tuyệt vọng, hoạt động nhầm lẫn của xác thân, điều khiển (hay kiểm soát) sai các dòng sống, là hậu quả của những trở ngại này trong phàm tính.
Each of these four results expresses the condition of the lower man; they deal with the effects of wrong centralisation or identification.
Mỗi một trong bốn hậu quả nói trên đều nói lên tình trạng của phàm nhân, là do việc đặt mình vào vị trí trung tâm hoặc đồng hóa một cách sai lầm.
1. Pain is the effect produced when the astral or emotional body is wrongly polarised. Pain is the outcome of failure to balance correctly the pairs of opposites. It indicates lack of equilibrium.
1. Đau khổ là hậu quả của việc phân cực sai trong thể cảm dục hay tình cảm. Đau khổ là do không cân bằng được các cặp đối cực, tức là thiếu quân bình.
2. Despair is an effect of remorse, produced in the mental body and is itself a characteristic of what may be called "the unregenerated mental" nature. The aspirant has a perception of what might be, though the obstacles as yet overcome him; he is ceaselessly conscious of failure, and this engenders in him a condition of remorse, of disgust, despair and of despondency.
2. Tuyệt vọng là do sự hối tiếc trong thể trí, cũng có thể gọi là tình trạng “trí tuệ không được phục hồi.” Người chí nguyện ý thức được điều có thể thực hiện, dù đang bị chìm trong trở ngại. Y cứ mãi cảm thấy thất bại, khiến có tâm trạng hối tiếc, chán ghét, tuyệt vọng và buồn nản.
3. Misplaced bodily activity. The inner condition works out on the physical plane as an intense activity, a violent seeking for solution or for solace, a constant running hither and thither in search of peace. It is the main characteristic at this time of our mental Aryan race and is the cause of the aggressive intensity of endeavour found in all walks of life. To this the educational processes (as they speed up the mental body) have been largely contributory factors. The [72] great contribution of education (in schools, colleges, universities and other allied activities) has been to stimulate the mental bodies of men. It is all part of the great plan, working ever towards the one objective—soul unfoldment.
3. Hoạt động nhầm lẫn của xác thân. Tình trạng nội tâm biểu lộ thành hoạt động sôi nổi bên ngoài, sự ráo riết tìm kiếm giải pháp, cứ mãi rong ruổi đó đây để mong được bình an. Đó là đặc trưng chính yếu của giống dân Aryan thiên về trí năng hiện nay. Và đó là nguyên nhân tạo nên cố gắng năng nổ của mọi hoạt động trong đời sống. Các quá trình giáo dục đã góp phần rất nhiều vào cố gắng này (vì giúp trí năng phát triển nhanh). Đóng góp lớn lao của giáo dục (trong các trường học, cao đẳng, đại học và những hoạt động kết hợp khác) đã là sự kích thích thể trí của mọi người. [72] Toàn bộ cố gắng này là thành phần của kế hoạch vĩ đại, bao giờ cũng hướng đến mục tiêu duy nhất − là khai mở nguồn sống linh hồn.
4. Wrong directions of the life currents. This is the effect produced in the etheric body by the inner turmoil. These life currents (for the student of occultism) are two in number:
4. Điều khiển sai các dòng sống. Đây là hậu quả trong thể dĩ thái do sự xáo trộn nội tâm. Đối với người môn sinh huyền bí học, các dòng sống này gồm hai loại:
a. The life breath or prana,
a. Hơi thở của sự sống hay prana,
b. The life force or the fires of the body.
b. Mãnh lực của sự sống hay là các loại lửa trong cơ thể.
It is the misuse of the life breath or wrong utilisation of prana that is the cause of eighty per cent of the present physical diseases. The other twenty per cent is produced through ill directed life force through the centres, and attacks primarily the twenty per cent of humanity which can be called mentally polarised. The clue for the student of occultism who aspires to liberation is not to be found in breathing exercises, however, nor in any work with the seven centres in the body. It will be found in an intense inner concentration upon rhythmic living and in the careful organisation of the life. As he does this, coordination of the subtler bodies with the physical body on the one hand, and with the soul on the other, will eventuate in the automatic subsequent adjustment of pranic and vital energies.
Chính việc sử dụng sai hơi thở của sự sống hay là vận dụng prana sai lầm là nguyên nhân của tám mươi phần trăm các bệnh thể chất hiện nay. Hai mươi phần trăm còn lại là do điều khiển sai mãnh lực của sự sống. Tình trạng này chủ yếu ảnh hưởng đến hai mươi phần trăm số người trong nhân loại có thể gọi là đã phân cực trí tuệ. Tuy nhiên, phương cách dành cho người môn sinh huyền bí mong muốn giải thoát không phải là luyện hơi thở hoặc vận dụng bảy luân xa trong cơ thể. Đó là sự chú tâm mạnh mẽ vào cuộc sống tiết điệu và thận trọng tổ chức đời sống. Khi y thực hiện điều này, một mặt phối hợp các thể thanh với thể xác, và mặt khác phối hợp chúng với linh hồn, thì sau đó các năng lượng prana và năng lượng sống sẽ tự động được điều chỉnh.
32. To overcome the obstacles and their accompaniments, the intense application of the will to some one truth (or principle) is required.
32. Để khắc phục các trở ngại và hệ quả của chúng, cần mạnh mẽ áp dụng ý chí với chú tâm vào một chân lý (hay nguyên khí).
It would be wise here, if the aspirant to yoga [73] would note that there are seven ways whereby peace may be achieved, and thus the goal be reached. These seven are next dealt with, and each has a distinct relation to the seven obstacles earlier considered.
Ở đây người chí nguyện tu tập yoga cần lưu ý rằng [73] có bảy cách để đạt sự bình an, và nhờ đó mà tiến đến mục tiêu. Bảy cách này được trình bày dưới đây, và mỗi cách đều có liên quan rõ rệt đến một trong bảy trở ngại nói trên.
Trở ngại Cách khắc phục
Obstacle
Remedy
1. Bodily disability
Wholesome, sane living. (1.33.)
2. Mental inertia
Control of the life force. (1.34.)
3. Wrong questioning
One pointed thought. (1.35.)
4. Carelessness
Meditation. (1.36.)
5. Laziness
Self discipline. (1.37.)
6. Lack of dispassion
Correct analyis. (1.38.)
7. Erroneous perception
Illumination. (1.39.)
1. Khiếm khuyết thân thể
Lối sống lành mạnh, quân bình. (1.33.)
2. Trì trệ trí tuệ
Kiểm soát sinh lực. (1.34.)
3. Hỏi sai cách
Tư tưởng nhất tâm. (1.35.)
4. Cẩu thả
Tham thiền. (1.36.)
5. Lười biếng
Tự kỷ luật. (1.37.)
6. Thiếu tính vô dục
Phân tích đúng đắn. (1.38.)
7. Nhận thức sai lầm
Sự soi sáng. (1.39.)
These corrections of wrong conditions are of profound importance in the early stages of yoga and hence their emphasis in Book I.
Những cách khắc phục các tình trạng sai lầm này có tầm quan trọng sâu xa trong các giai đoạn đầu của yoga, và do đó được chú trọng trong Quyển I.
But a theoretical understanding of the obstacles and their cure is of small avail as long as the intense application of the will is omitted. Only the constant, steady, enduring effort of the will, functioning through the mind, will suffice to bring the aspirant out of darkness into light and to lead him from the condition of death into immortality.
Thế nhưng chỉ hiểu các trở ngại và cách khắc phục chúng về mặt lý thuyết thì cũng không mấy hữu ích, nếu chưa áp dụng ý chí một cách mạnh mẽ. Cần có nỗ lực thường xuyên, liên tục, bền bỉ của ý chí, tác động qua thể trí. Bấy giờ người chí nguyện mới đủ khả năng ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng, và từ sự chết đến sự bất tử.
Once the principle is understood, then the disciple can work intelligently and hence the necessity of a right understanding of the principles or qualities where the truth regarding reality or God can be known.
Khi đã hiểu về nguyên khí thì người đệ tử có thể hành động một cách thông minh. Vì thế, cần hiểu rõ các nguyên khí hay phẩm tính, nhờ đó mà thấu đáo được chân lý về thực tại hay Thượng Đế.
All forms exist in order to express truth. By the steady application of God's will in the Whole is truth revealed through the medium of matter. When the truth or basic principle is known spirit will then stand revealed. When the disciple realises [74] what principle his various forms, sheaths, or bodies are intended to express, then he will know how to direct his will with exactitude so as to bring about the desired conditions. The sheaths and vehicles are simply his bodies of manifestation on the various planes of the system, and those sheaths must express the principle which is the characteristic or quality underlying each plane. For instance, the seven principles with which man is concerned are:
Tất cả các hình hài sắc tướng đều hiện hữu để biểu lộ chân lý. Nhờ sự liên tục áp dụng Thiên ý trong cái Toàn thể, chân lý được hiển lộ qua trung gian của vật chất. Khi có sự thấu hiểu chân lý hay nguyên khí căn bản, tinh thần sẽ tự hiển lộ. [74] Người đệ tử cần nhận thức được cái nguyên khí mà mỗi hình tướng, mỗi lớp áo, hay mỗi thể khác nhau nhằm phát biểu. Bấy giờ y sẽ biết cách vận dụng ý chí của mình một cách chính xác để mang lại những điều kiện như mong muốn. Các lớp áo và vận cụ chỉ là các thể biểu hiện của y trên những cảnh giới khác nhau của thái dương hệ. Các thể ấy phải phát biểu cái nguyên khí vốn là đặc trưng hay phẩm tính ẩn trong mỗi cảnh giới. Ví dụ như, sau đây là bảy nguyên khí liên quan đến con người:
1. Prana
vital energy
etheric body
physical plane.
2. Kama
desire, feeling
astral body
astral plane.
3. Lower Manas
concrete mind
mental body
mental plane.
4. Higher Manas
abstract mind
egoic body
mental plane.
5. Buddhi
Intuition
buddhic body
buddhic plane.
6. Atma
spiritual will
atmic body
atmic plane.
1. Prana
năng lượng sống
thể dĩ thái
cõi hồng trần.
2. Kama
dục vọng, cảm xúc
thể cảm dục
cõi cảm dục.
3. Hạ trí
trí cụ thể
thể trí
cõi trí.
4. Thượng trí
trí trừu tượng
thể chân ngã
cõi trí.
5. Bồ-đề
trực giác
thể bồ-đề
cõi bồ-đề.
6. Atma
ý chí tinh thần
thể atma
cõi niết-bàn.