Initiation III. The Transfiguration. Ray V. — Điểm Đạo III. Biến hình. Cung V.
The Energy of Concrete Knowledge.
Năng Lượng của Tri Thức Cụ Thể.
As all disciples have to be focussed on the mental plane and must operate from that level of consciousness, the understanding of this type of consciousness is one of major importance. It is glibly and most easily said that disciples and (necessarily so) initiates must use the mind, and that their polarisation must be mental. But what does this mean? Let me give you some concise definitions of this ray energy, leaving you to make your own individual application, and from your study of these concepts anent the mind, learn to gauge your own mental condition. [590]
Vì mọi đệ tử đều phải được tập trung trên cõi trí và phải hoạt động từ cấp độ tâm thức đó, nên việc thấu hiểu loại tâm thức này là điều hết sức quan trọng. Người ta nói rất trơn tru và rất dễ dàng rằng các đệ tử và (đương nhiên là như vậy) các điểm đạo đồ phải sử dụng trí tuệ, và sự phân cực của họ phải là trí tuệ. Nhưng điều đó có nghĩa là gì? Hãy để tôi đưa ra cho bạn vài định nghĩa ngắn gọn về năng lượng cung này, để bạn tự áp dụng cho riêng mình, và từ việc nghiên cứu các khái niệm này liên quan đến trí tuệ, học cách đo lường tình trạng trí tuệ của chính mình. [590]
1. The energy of what is so peculiarly called “concrete science” is the quality or the conditioning nature of the fifth ray.
1. Năng lượng của cái được gọi một cách rất đặc biệt là “khoa học cụ thể” là phẩm tính hay bản chất tác động của cung năm.
2. It is pre-eminently the substance of the mental plane. This plane corresponds to the third subplane of the physical plane, and is therefore gaseous in nature—if you care to use its correspondence as a symbol of its nature. It is volatile, easily dispersed, is the receptive agent of illumination, and can be poisonous in its effect, for there are undoubtedly conditions in which “the mind is the slayer of the Real.”
2. Nó nổi bật là chất liệu của cõi trí. Cõi này tương ứng với cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần, và vì vậy có bản chất khí—nếu bạn muốn dùng sự tương ứng của nó như một biểu tượng cho bản chất ấy. Nó dễ bay hơi, dễ phân tán, là tác nhân tiếp nhận của sự soi sáng, và có thể độc hại trong tác động của nó, vì chắc chắn có những tình trạng trong đó “trí tuệ là kẻ sát hại Thực Tại.”
3. This energy is characterised by three qualities:
3. Năng lượng này được đặc trưng bởi ba phẩm tính:
a. The quality which is the result of relationship with the Spiritual Triad. We call this “abstract mind” and the impact which affects it comes from the atmic level of the Spiritual Triad, that of spiritual will.
a. Phẩm tính là kết quả của mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta gọi đây là “trí trừu tượng” và tác động ảnh hưởng đến nó đến từ cấp độ atma của Tam Nguyên Tinh Thần, tức cấp độ của ý chí tinh thần.
b. The quality which in this solar system is easily responsive to the major ray of the planet, that of love-wisdom. So responsive is it that—in conjunction with emanations from the three worlds—it has produced the one existent form upon the mental plane. This form (in the planetary sense) is that of the Kingdom of God and, in the individual sense, is that of the ego or soul.
b. Phẩm tính mà trong hệ mặt trời này dễ dàng đáp ứng với cung chính của hành tinh, tức cung bác ái-minh triết. Nó đáp ứng mạnh đến mức—kết hợp với các phát xạ từ ba cõi giới—đã tạo ra hình tướng hiện tồn duy nhất trên cõi trí. Hình tướng này (theo nghĩa hành tinh) là hình tướng của Thiên Giới và, theo nghĩa cá nhân, là hình tướng của chân ngã hay linh hồn.
c. The quality which is basically related to the emanations or vibrations arising from the three worlds; these creatively result in the myriads of thoughtforms which are found upon the lower levels of the mental plane. It might therefore be said that these qualities or aspects of the fifth ray of spiritual energy produce:
c. Phẩm tính về căn bản liên hệ với các phát xạ hay rung động phát sinh từ ba cõi giới; các rung động này một cách sáng tạo tạo ra vô số hình tư tưởng được tìm thấy trên các cấp thấp của cõi trí. Vì vậy có thể nói rằng các phẩm tính hay phương diện này của năng lượng tinh thần cung năm tạo ra:
Pure thought
Tư tưởng thuần túy
The thinker or the Son of Mind
Thức giả hay Con của Trí Tuệ
Thoughtforms
Các hình tư tưởng
4. This energy (as far as mankind is concerned) is the thoughtform making energy, and all impressions from the physical, etheric and astral planes force it into activity on the level of concrete knowledge, with a resultant kaleidoscopic presentation of thoughtforms. [591]
4. Năng lượng này (xét theo nhân loại) là năng lượng tạo hình tư tưởng, và mọi ấn tượng từ cõi hồng trần, cõi dĩ thái và cõi cảm dục đều buộc nó vào hoạt động ở cấp độ tri thức cụ thể, với kết quả là một sự trình hiện muôn hình vạn trạng của các hình tư tưởng. [591]
5. It is fundamentally the most potent energy at this time in the planet, because it was brought to maturity in the first solar system, that of active intelligence.
5. Về căn bản, đây là năng lượng mạnh nhất trên hành tinh vào lúc này, bởi vì nó đã được đưa đến chín muồi trong hệ mặt trời thứ nhất, tức hệ của trí tuệ linh hoạt.
6. It is the energy which admits humanity (and particularly the trained disciple or initiate) into the mysteries of the Mind of God Himself. It is the “substantial” key to the Universal Mind.
6. Đây là năng lượng cho phép nhân loại (và đặc biệt là đệ tử lão luyện hay điểm đạo đồ) đi vào các huyền nhiệm của chính Trí của Thượng đế. Nó là chiếc chìa khóa “bản thể” dẫn vào Vũ Trụ Trí.
7. It is profoundly susceptible to the energy of Love-Wisdom, and its fusion with the love aspect is given the name of “wisdom” by us, because all wisdom is knowledge gained by experience and implemented by love.
7. Nó hết sức nhạy cảm với năng lượng Bác Ái – Minh Triết, và sự dung hợp của nó với phương diện bác ái được chúng ta gọi là “minh triết”, bởi vì mọi minh triết đều là tri thức đạt được qua kinh nghiệm và được tình thương thực thi.
8. This energy, in its three aspects, is related in a peculiar sense to the three Buddhas of Activity. These great Lives reached Their present state of development in the previous solar system.
8. Năng lượng này, trong ba phương diện của nó, liên hệ theo một ý nghĩa đặc biệt với ba Đức Phật Hoạt Động. Các Sự Sống vĩ đại này đã đạt đến trạng thái phát triển hiện nay của Các Ngài trong hệ mặt trời trước.
9. This energy, in so far as it is considered as the mental energy of a human being—and this is one of its minor limitations though a major one for a human being—is the higher correspondence of the physical brain. It might be said that the brain exists because the mind exists and needs a brain as its focal point upon the physical plane.
9. Năng lượng này, trong chừng mực nó được xem là năng lượng trí tuệ của một con người—và đây là một trong những giới hạn nhỏ của nó, dù lại là một giới hạn lớn đối với con người—là đối ứng cao hơn của bộ não hồng trần. Có thể nói rằng bộ não tồn tại vì trí tuệ tồn tại và cần một bộ não làm tiêu điểm của nó trên cõi hồng trần.
10. The quality of this energy of concrete knowledge or science is twofold:
10. Phẩm tính của năng lượng tri thức cụ thể hay khoa học này là nhị phân:
a. It is extraordinarily responsive to impressions coming from some source or other.
a. Nó đáp ứng một cách phi thường với các ấn tượng đến từ nguồn này hay nguồn khác.
b. It is rapidly thrown into forms in response to impression.
b. Nó nhanh chóng bị ném vào các hình tướng để đáp ứng với ấn tượng.
11. The impressions received come from three sources and are sequentially revealed to man. These three are:
11. Các ấn tượng được tiếp nhận đến từ ba nguồn và được mặc khải tuần tự cho con người. Ba nguồn đó là:
a. Impressions from the three worlds; these come, first of all, from the individual and then, secondly, from the levels of planetary consciousness.
a. Các ấn tượng từ ba cõi giới; trước hết chúng đến từ cá nhân và sau đó, thứ hai, từ các cấp độ tâm thức hành tinh.
b. Impressions from the soul, the Son of Mind, upon the level of mentality itself.
b. Các ấn tượng từ linh hồn, Con của Trí Tuệ, trên chính cấp độ trí tuệ.
c. Impressions from the Spiritual Triad, via the antahkarana; these come when the antahkarana is constructed or in process of construction. [592]
c. Các ấn tượng từ Tam Nguyên Tinh Thần, qua antahkarana; chúng đến khi antahkarana đã được xây dựng hoặc đang trong tiến trình xây dựng. [592]
12. This energy is essentially a light-bearer. It responds—again sequentially in time and space—to the light of the Logos. It is for this reason that the mind is regarded both as illumined when higher contacts are present and as an illuminator where the lower planes are concerned.
12. Năng lượng này về bản chất là kẻ mang ánh sáng. Nó đáp ứng—cũng tuần tự trong thời gian và không gian—với ánh sáng của Thượng đế. Chính vì lý do này mà trí tuệ vừa được xem là được soi sáng khi có các tiếp xúc cao hơn hiện diện, vừa là một kẻ soi sáng đối với các cõi thấp.
13. This energy is (from the human standpoint) awakened and brought into activity through the action of the five senses which are the conveyors of information from the three worlds to the mental plane. It might be said that
13. Năng lượng này (từ quan điểm con người) được đánh thức và đưa vào hoạt động qua tác động của năm giác quan, là những kẻ chuyển tải thông tin từ ba cõi giới đến cõi trí. Có thể nói rằng
a. Five streams of informative energy, therefore, make their impact upon the concrete mind and emanate from the physico-astral plane.
a. Do đó, năm dòng năng lượng thông tin tạo tác động lên trí cụ thể và phát ra từ cõi hồng trần-cảm dục.
b. Three streams of energy, coming from the soul, also make an impression upon the concrete mind.
b. Ba dòng năng lượng, đến từ linh hồn, cũng tạo ấn tượng lên trí cụ thể.
c. One stream of energy—during the initiatory process—contacts the mind. This comes from the Spiritual Triad and utilises the antahkarana.
c. Một dòng năng lượng—trong tiến trình điểm đạo—tiếp xúc với trí tuệ. Nó đến từ Tam Nguyên Tinh Thần và sử dụng antahkarana.
14. The energy of this fifth ray might be regarded as the commonsense, because it receives all these impacts of varying energies, synthesises them, produces order out of the many ceaseless impacts and interprets them, thus creating the multiplicity of forms to which we give the name of “world thought”.
14. Năng lượng của cung năm này có thể được xem như thường thức, bởi vì nó tiếp nhận tất cả các tác động của những năng lượng khác nhau này, tổng hợp chúng, tạo ra trật tự từ vô số tác động không ngừng và diễn giải chúng, nhờ đó tạo ra tính đa tạp của các hình tướng mà chúng ta gọi là “tư tưởng thế giới”.
15. This energy transforms the divine ideas into human ideals, relating the knowledges and sciences of humanity to these ideals, thus making them workable factors in human evolution, its cultures and civilisations.
15. Năng lượng này chuyển đổi các ý tưởng thiêng liêng thành các lý tưởng nhân loại, liên hệ các tri thức và khoa học của nhân loại với các lý tưởng ấy, nhờ đó làm cho chúng trở thành những yếu tố khả dụng trong tiến hoá nhân loại, trong các nền văn hóa và văn minh của nó.
There is much more that I could add, but the above gives you a series of simple definitions of value as you study the mental unfoldment of the disciple, as he undergoes the initiatory process which is our theme at this time. It also throws light upon the ray effects upon humanity as a whole. This ray energy is indeed sadly concrete in its expression in our Aryan race—a race, however, which will see more people take initiation than ever before in human history, and which will, in a peculiar sense, see the descent of the Kingdom of God to Earth as a result of the ascent of so many upon the ladder of evolution. Just as the disciple [593] or the initiate is a soul-infused personality, so will humanity—upon the physical plane—be also soul-infused, thus precipitating the Kingdom of God and giving birth to a new kingdom in nature. This great spiritual descent will be prefaced (if I may use such a word) by the appearance of the Christ among the peoples of the world and by a stupendous inflow of love-wisdom. There is a tendency in the minds of esotericists always to refer to the great lines of force: 1-3-5-7 and 2-4-6. I would have you remember with still greater emphasis the relation of rays II and V and of the second plane, the monadic plane, and the fifth plane, the mental plane; it is the relation of these major energies which makes the initiation of the Transfiguration possible.
Còn nhiều điều tôi có thể thêm vào, nhưng những điều trên cung cấp cho bạn một loạt định nghĩa đơn giản có giá trị khi bạn nghiên cứu sự khai mở trí tuệ của đệ tử, khi y trải qua tiến trình điểm đạo là chủ đề của chúng ta vào lúc này. Điều đó cũng soi sáng các tác động của cung lên nhân loại như một toàn thể. Năng lượng cung này quả thật biểu lộ một cách đáng buồn là quá cụ thể trong nhân loại Arya của chúng ta—tuy nhiên đó là một nhân loại sẽ chứng kiến nhiều người nhận điểm đạo hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người, và theo một ý nghĩa đặc biệt, sẽ chứng kiến sự giáng hạ của Thiên Giới xuống Trái Đất như kết quả của sự thăng lên của rất nhiều người trên chiếc thang tiến hoá. Cũng như đệ tử [593] hay điểm đạo đồ là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì nhân loại—trên cõi hồng trần—cũng sẽ được linh hồn thấm nhuần như vậy, nhờ đó ngưng tụ Thiên Giới và sinh ra một giới mới trong thiên nhiên. Sự giáng hạ tinh thần vĩ đại này sẽ được mở đầu (nếu tôi có thể dùng một từ như vậy) bằng sự xuất hiện của Đức Christ giữa các dân tộc trên thế giới và bởi một dòng tuôn đổ bác ái-minh triết kỳ vĩ. Trong trí của các nhà bí truyền học luôn có khuynh hướng quy chiếu đến các tuyến mãnh lực lớn: 1-3-5-7 và 2-4-6. Tôi muốn bạn ghi nhớ với sự nhấn mạnh còn lớn hơn nữa mối liên hệ của cung II và cung V, của cõi thứ hai, cõi chân thần, và cõi thứ năm, cõi trí; chính mối liên hệ của các năng lượng chính này làm cho cuộc điểm đạo Biến hình trở nên khả hữu.
What is the effect of this ray upon humanity as a whole and at this time? The effect of these influences is very great and of supreme importance in this fifth root race, the Aryan race, in this second solar system. Again you can see the clarity of the correspondences which are emerging. I would have you note them again.
Tác động của cung này lên toàn thể nhân loại và vào lúc này là gì? Tác động của các ảnh hưởng này là rất lớn và có tầm quan trọng tối cao trong giống dân gốc thứ năm này, giống dân Arya, trong hệ mặt trời thứ hai này. Một lần nữa bạn có thể thấy sự rõ ràng của các tương ứng đang xuất hiện. Tôi muốn bạn lưu ý lại chúng.
1. Ray II, the Ray of Love-Wisdom; and Ray V, the Ray of Concrete Knowledge or Science.
1. Cung II, Cung Bác Ái – Minh Triết; và Cung V, Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.
2. The second plane, the monadic plane; and the fifth plane, the mental plane.
2. Cõi thứ hai, cõi chân thần; và cõi thứ năm, cõi trí.
3. The second solar system of love; and the fifth root race, the Aryan race, of active intelligence.
3. Hệ mặt trời thứ hai của bác ái; và giống dân gốc thứ năm, giống dân Arya, của trí tuệ linh hoạt.
In all these basic relationships, that which is the fifth in order is destined to be the instrument, the vehicle or the implementing factor for the second. The Universal Mind, as it works through all the planes of our conscious planetary life, is the creative agent and the form-building factor which makes the revelation of love possible.
Trong tất cả các mối liên hệ căn bản này, cái đứng thứ năm theo trật tự được định sẵn là khí cụ, vận cụ hay yếu tố thực thi cho cái thứ hai. Vũ Trụ Trí, khi hoạt động qua mọi cõi của đời sống hành tinh hữu thức của chúng ta, là tác nhân sáng tạo và yếu tố xây dựng hình tướng làm cho sự mặc khải của bác ái trở nên khả hữu.
Today in our Aryan age and race, we see the vital expression of this fifth ray energy. When I use the word “race” I deal not with man-made or pseudo-scientific differentiations of nations and races or types. I deal with a state of consciousness which is the Aryan or mental consciousness or state of thinking; this finds its exponents and [594] its “race members” in every nation, without any distinction or omissions. This I would have you carefully remember, for there is no new race in process of appearing, from the territorial angle; there is only a general distribution of those persons who have what have been called the sixth root race characteristics. This state of consciousness will find its expression in people as far apart racially as the Japanese and the American or the Negro and the Russian. It posits an ability to function with clarity upon the mental plane, to collate information, rightly to interpret and relate that information, and to create the needed thoughtforms or concepts for those interpretations.
Ngày nay trong thời đại và nhân loại Arya của chúng ta, chúng ta thấy sự biểu lộ sinh động của năng lượng cung năm này. Khi tôi dùng từ “nhân loại”, tôi không đề cập đến những phân biệt do con người tạo ra hay giả-khoa-học về các quốc gia và chủng tộc hay loại người. Tôi đề cập đến một trạng thái tâm thức là tâm thức Arya hay trí tuệ, hay trạng thái tư duy; trạng thái này tìm thấy những người biểu hiện của nó và [594] những “thành viên nhân loại” của nó trong mọi quốc gia, không có phân biệt hay loại trừ nào. Tôi muốn bạn ghi nhớ điều này cẩn thận, vì không có một nhân loại mới nào đang xuất hiện xét từ góc độ lãnh thổ; chỉ có một sự phân bố chung của những người có các đặc tính của giống dân gốc thứ sáu như đã được gọi. Trạng thái tâm thức này sẽ tìm thấy sự biểu lộ nơi những người khác biệt về chủng tộc xa nhau như người Nhật và người Mỹ hay người da đen và người Nga. Nó giả định một khả năng hoạt động minh bạch trên cõi trí, thu thập thông tin, diễn giải và liên hệ thông tin đó một cách đúng đắn, và tạo ra các hình tư tưởng hay khái niệm cần thiết cho những diễn giải ấy.
These thoughtforms fall into three major fields of thought or thoughtform areas of consciousness:
Các hình tư tưởng này rơi vào ba lĩnh vực tư tưởng chính hay ba vùng tâm thức hình tư tưởng:
1. Science. Under this word I include all that which the educational processes cover or are supposed to cover, and such a useful science as medicine.
1. Khoa học. Dưới từ này tôi bao gồm tất cả những gì mà các tiến trình giáo dục bao trùm hoặc được cho là phải bao trùm, và cả một khoa học hữu ích như y học.
2. Philosophy, with its presentation of great conditioning ideas.
2. Triết học, với sự trình bày các ý tưởng tác động lớn lao.
3. Psychology, with its effort to account for humanity and to discover what man is essentially and how he functions.
3. Tâm lý học, với nỗ lực giải thích nhân loại và khám phá con người về bản chất là gì và y vận hành như thế nào.
You will note that I have not included religion in this analysis. The reason for this is that IF the world religions were really controlled by concrete knowledge or science, they would not be the vague, speculative, mystical and glamour-controlled systems which they are at present. Some day the minds of men—illumined by the light of the soul—will formulate the One universal religion, recognisable by all. Then the Kingdom of God will be known for what it is, another kingdom in nature. Speculation, wishful thinking and hopeful aspiration will disappear. The science of occultism is the first step upon the way of true religion, and the scientific investigation of human psychology will greatly help toward this end.
Bạn sẽ lưu ý rằng tôi không đưa tôn giáo vào phân tích này. Lý do là nếu các tôn giáo thế giới thực sự được kiểm soát bởi tri thức cụ thể hay khoa học, thì chúng đã không phải là những hệ thống mơ hồ, suy đoán, thần bí và bị ảo cảm kiểm soát như hiện nay. Một ngày nào đó trí tuệ của con người—được soi sáng bởi ánh sáng của linh hồn—sẽ hình thành Tôn giáo phổ quát duy nhất, được mọi người công nhận. Khi đó Thiên Giới sẽ được biết đúng như nó là, một giới khác trong thiên nhiên. Sự suy đoán, tư duy ước vọng và khát vọng đầy hy vọng sẽ biến mất. Khoa học huyền bí học là bước đầu tiên trên con đường của tôn giáo chân chính, và sự khảo cứu khoa học về tâm lý học con người sẽ giúp ích rất nhiều cho mục tiêu này.
Today we find this ray energy expressing itself mainly through science—a science sadly debased and corrupted by materialism and human greed, but a science which (when [595] animated entirely by goodwill) will lift humanity on to higher levels of consciousness, thus laying the foundation for that time when humanity on a large scale can pass through the Transfiguration Initiation. Steps in this direction are already being laid and the existence of the press, the radio and the rapid means of transportation have done much to further the revelation of that unity and that Oneness which is the major characteristic of the Universal Mind.
Ngày nay chúng ta thấy năng lượng cung này biểu lộ chủ yếu qua khoa học—một khoa học đáng buồn là đã bị hạ thấp và làm băng hoại bởi chủ nghĩa duy vật và lòng tham của con người, nhưng là một khoa học mà (khi được thiện chí làm sinh động hoàn toàn) sẽ nâng nhân loại lên các cấp độ tâm thức cao hơn, nhờ đó đặt nền móng cho thời kỳ khi nhân loại trên quy mô lớn có thể đi qua Cuộc Điểm Đạo Biến Hình. Những bước đi theo hướng này đã được đặt nền, và sự hiện hữu của báo chí, radio và các phương tiện vận chuyển nhanh đã làm rất nhiều để thúc đẩy sự mặc khải về sự hợp nhất và tính duy nhất vốn là đặc tính chính của Vũ Trụ Trí.
These developments can be regarded as the initial steps of the initiatory process for the third initiation—far ahead as that initiation may lie for the mass of men. It is unification and a growing sense of oneness which is required in order to take this initiation, and it is the integrated personality which takes it. The major sin of Russia, and that which has prostituted and warped the initial divine impulse underlying the ideology of that country, is the determination she demonstrates at this time to be separative and to shut the Russian people away from world contact, using the implements of deception and the withholding of information. It is not the totalitarian nature of the Russian government which is the prime disaster; it is the refusal to develop the universal consciousness. Many governments today are totalitarian in nature, either openly or subtly, but—at the same time—their peoples have free access to press and radio and are not kept in ignorance of world events. Russia is drifting into a pronounced expression of the great heresy of separateness. There lies her problem—a problem which is refused recognition by her rulers.
Những phát triển này có thể được xem như các bước đầu của tiến trình điểm đạo cho lần điểm đạo thứ ba—dù lần điểm đạo đó còn ở rất xa đối với quần chúng loài người. Điều cần thiết để nhận lần điểm đạo này là sự hợp nhất và ý thức ngày càng tăng về tính duy nhất, và chính phàm ngã tích hợp là kẻ nhận nó. Tội lỗi lớn của nước Nga, và điều đã làm sa đọa và bóp méo xung lực thiêng liêng ban đầu nằm dưới ý thức hệ của quốc gia đó, là quyết tâm mà nước này đang biểu lộ vào lúc này muốn tách biệt và cô lập dân Nga khỏi sự tiếp xúc với thế giới, sử dụng các công cụ lừa dối và việc giữ lại thông tin. Không phải bản chất toàn trị của chính phủ Nga là tai họa chủ yếu; mà là sự từ chối phát triển tâm thức phổ quát. Nhiều chính phủ ngày nay có bản chất toàn trị, hoặc công khai hoặc tinh vi, nhưng đồng thời dân chúng của họ có quyền tiếp cận tự do với báo chí và radio và không bị giữ trong vô minh về các biến cố thế giới. Nước Nga đang trôi dần vào một biểu hiện rõ rệt của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Chính ở đó có vấn đề của nước này—một vấn đề mà những người cai trị của họ từ chối nhìn nhận.
The existence of a closed mind on a national scale is dangerous in the extreme, just as the individual is in a dangerous “state of mind” when he closes it to world contact, world news and world understanding, and when he refuses to admit new ideas and new modes of behaviour. Fortunately, the influence of this fifth ray energy—which is always present, whether the ray is in incarnation or not—is steadily leading humanity towards illumination. [596]
Sự tồn tại của một trí tuệ khép kín trên quy mô quốc gia là cực kỳ nguy hiểm, cũng như cá nhân ở trong một “trạng thái trí tuệ” nguy hiểm khi y khép trí mình lại trước sự tiếp xúc với thế giới, tin tức thế giới và sự thấu hiểu thế giới, và khi y từ chối tiếp nhận các ý tưởng mới và các phương thức hành xử mới. May thay, ảnh hưởng của năng lượng cung năm này—vốn luôn hiện diện, dù cung có đang lâm phàm hay không—đang đều đặn dẫn dắt nhân loại tới sự soi sáng. [596]
This ray energy operates always in connection with the Law of Cleavages. Today, tremendous cleavages between the past and the present are in order. The importance of this statement is to be found in the fact that—for the first time in human history—humanity is aware of cleavage at the time it is being brought about. Hitherto cleavages have been noted during an historical retrospect. Today, all men everywhere are conscious of the fact that the old order, the old cultures and civilisations are rapidly passing away, and they are universally clamouring for the new. Everywhere men are laying the foundation for the new order, the coming of which is threatened only by one country, Russia, owing to its separativeness (and not because of its ideology), and by one world group in every country, those guilty of financial greed and consequent aggressiveness.
Năng lượng cung này luôn hoạt động liên hệ với Định luật Phân Ly. Ngày nay, những sự phân ly to lớn giữa quá khứ và hiện tại là điều cần thiết. Tầm quan trọng của phát biểu này nằm ở sự kiện rằng—lần đầu tiên trong lịch sử loài người—nhân loại nhận biết sự phân ly ngay vào lúc nó đang được tạo ra. Trước đây, các sự phân ly chỉ được ghi nhận trong sự hồi cố lịch sử. Ngày nay, mọi người ở khắp nơi đều ý thức được sự kiện rằng trật tự cũ, các nền văn hóa và văn minh cũ đang nhanh chóng qua đi, và họ đồng loạt kêu gọi cái mới. Ở khắp nơi con người đang đặt nền móng cho trật tự mới, mà sự xuất hiện của nó chỉ bị đe dọa bởi một quốc gia, nước Nga, do tính chia rẽ của nước này (chứ không phải vì ý thức hệ của nó), và bởi một nhóm thế giới trong mọi quốc gia, những kẻ phạm tội vì lòng tham tài chính và tính xâm lấn hệ quả.
Before humanity can pass through the Transfiguration Initiation the new world order must be functioning and the coming civilisation must be at its height. It is useless for me to consider with you this third initiation in connection with humanity as a whole, or its preparatory or subsequent initiatory process. All this lies too far ahead for even advanced humanity to consider; there are, however, senior disciples who are preparing for this initiation, just as there are a few who are passing through the initiatory process, prior to taking the fourth initiation.
Trước khi nhân loại có thể đi qua Cuộc Điểm Đạo Biến Hình, trật tự thế giới mới phải đang vận hành và nền văn minh sắp đến phải ở đỉnh cao của nó. Tôi bàn với bạn về lần điểm đạo thứ ba này liên hệ với toàn thể nhân loại, hay về tiến trình điểm đạo chuẩn bị hay tiếp theo của nó, là điều vô ích. Tất cả điều đó còn ở quá xa phía trước để ngay cả nhân loại tiến bộ cũng có thể xem xét; tuy nhiên, có những đệ tử cao cấp đang chuẩn bị cho lần điểm đạo này, cũng như có một số ít đang đi qua tiến trình điểm đạo trước khi nhận lần điểm đạo thứ tư.
The outstanding expression of this fifth ray energy can be seen in the rapid formulating of the many ideologies which have taken place since the year 1900. Such words as Fascism, Communism, National Socialism, Socialism as the British accept it, and the names of many schools of psychology and philosophy, were unknown one hundred years ago; today they are the common talk and phrases of the man in the street. The inflow of this mental energy into the world of men, the attainment in consciousness of mental ability by many thousands, and the achievement of mental polarisation by aspirants all the world over, are all due to the activity of this fifth ray energy; this may be [597] regarded as preparatory work for the first and the second initiations. Some of this success is due also to a little-realised function of this fifth ray energy—that of telepathic interplay. Few people realise in the slightest degree how naturally telepathic every human being is or how impressionable are their minds; this again is an effect of fifth ray influence.
Biểu hiện nổi bật của năng lượng cung năm này có thể được thấy trong việc hình thành nhanh chóng nhiều ý thức hệ đã diễn ra từ năm 1900. Những từ như Chủ nghĩa Phát xít, Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, Chủ nghĩa Xã hội như người Anh chấp nhận nó, và tên gọi của nhiều trường phái tâm lý học và triết học, đều chưa được biết đến cách đây một trăm năm; ngày nay chúng là những lời nói và cụm từ thông dụng của người bình thường ngoài phố. Dòng tuôn đổ của năng lượng trí tuệ này vào thế giới loài người, sự đạt được khả năng trí tuệ trong tâm thức của nhiều ngàn người, và việc đạt được sự phân cực trí tuệ của những người chí nguyện trên khắp thế giới, tất cả đều là do hoạt động của năng lượng cung năm này; điều này có thể được [597] xem như công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Một phần của thành công này cũng là do một chức năng ít được nhận ra của năng lượng cung năm này—đó là sự tương tác viễn cảm. Rất ít người nhận ra dù chỉ ở mức nhỏ nhất rằng mọi con người đều viễn cảm một cách tự nhiên đến thế nào hay trí tuệ của họ dễ tiếp nhận ấn tượng đến mức nào; đây lại là một tác động của ảnh hưởng cung năm.
The creation (and, I should add, the over-creation) of the millions of material things which men everywhere regard as essential to their well-being is also the result of the creative activity of the fifth ray consciousness. This is, of course, as it demonstrates upon the physical plane. When it demonstrates upon the mental plane, we then talk of ideas, concepts, philosophies and ideologies. When it demonstrates upon the astral plane, we are aware of the religious impulse, of mysticism and of the emotional and conditioning desires. All these aspects are present in the consciousness of men everywhere today. Everything is crystallising in human consciousness, and this takes place in order to make man aware of where he stands upon the ladder of evolution, and of what is wrong and what is right. All this again is due to the influence of fifth ray energy. This will begin to transform human living and human desires and also human affairs and attitudes, and will lead eventually (in the middle of the sixth root race) to the great Transfiguration Initiation in which the reality that lies behind all human phenomena will stand revealed.
Việc tạo ra (và tôi nên thêm là tạo ra quá mức) hàng triệu vật dụng vật chất mà con người ở khắp nơi xem là thiết yếu cho phúc lợi của mình cũng là kết quả của hoạt động sáng tạo của tâm thức cung năm. Dĩ nhiên, đây là khi nó biểu lộ trên cõi hồng trần. Khi nó biểu lộ trên cõi trí, khi ấy chúng ta nói đến các ý tưởng, khái niệm, triết học và ý thức hệ. Khi nó biểu lộ trên cõi cảm dục, chúng ta nhận biết xung lực tôn giáo, thần bí học và các dục vọng cảm xúc cùng tác động. Tất cả các phương diện này đều hiện diện trong tâm thức của con người ở khắp nơi ngày nay. Mọi thứ đang kết tinh trong tâm thức nhân loại, và điều này diễn ra để làm cho con người nhận biết mình đang đứng ở đâu trên chiếc thang tiến hoá, và điều gì là sai, điều gì là đúng. Tất cả điều này một lần nữa là do ảnh hưởng của năng lượng cung năm. Điều này sẽ bắt đầu chuyển đổi đời sống con người và các dục vọng của con người, cũng như các công việc và thái độ của con người, và cuối cùng sẽ dẫn đến (vào giữa giống dân gốc thứ sáu) Cuộc Điểm Đạo Biến Hình vĩ đại, trong đó thực tại nằm sau mọi hiện tượng nhân loại sẽ được mặc khải.
Let us now consider the effect of this ray energy upon the life of the individual, as he faces the third initiation. This third initiation is, as earlier said, the first initiation, from the angle of the Hierarchy; it is the one in which the spiritual man demonstrates his complete control of the personality. The physical body has been controlled through the medium of the physical disciplines; the emotional nature has been reorganised and made receptive to spiritual impression coming from the plane of pure reason (the buddhic plane) through the transforming processes of the mind or the fifth principle. In this connection, the mind has acted as an organiser of astral reaction and as a dispeller [598] of glamour. The disciple is now focussed in his everyday consciousness upon the mental plane, and the triangular relation of the three aspects of the mind upon this plane is now dominant. In the next initiation, the Renunciation, this relationship becomes a dual one instead of a triangular one, through the destruction of the soul vehicle which is no longer needed. Soul fusion with the personality is now completed.
Bây giờ chúng ta hãy xét đến tác động của năng lượng cung này lên đời sống của cá nhân, khi y đối diện với lần điểm đạo thứ ba. Lần điểm đạo thứ ba này, như đã nói trước đây, là lần điểm đạo thứ nhất, xét từ góc độ của Thánh đoàn; đó là lần điểm đạo trong đó con người tinh thần chứng tỏ sự kiểm soát hoàn toàn của mình đối với phàm ngã. Thể xác đã được kiểm soát qua trung gian của các kỷ luật hồng trần; bản chất cảm xúc đã được tái tổ chức và trở nên tiếp nhận ấn tượng tinh thần đến từ cõi của lý trí thuần túy (cõi Bồ đề) qua các tiến trình chuyển hoá của trí tuệ hay nguyên khí thứ năm. Trong mối liên hệ này, trí tuệ đã hoạt động như một tác nhân tổ chức phản ứng cảm dục và như một tác nhân làm tiêu tan [598] ảo cảm. Giờ đây đệ tử được tập trung trong tâm thức hằng ngày của mình trên cõi trí, và mối liên hệ tam giác của ba phương diện của trí tuệ trên cõi này hiện đang chi phối. Trong lần điểm đạo kế tiếp, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, mối liên hệ này trở thành nhị nguyên thay vì tam giác, do sự hủy diệt của vận cụ linh hồn vốn không còn cần thiết nữa. Sự dung hợp của linh hồn với phàm ngã nay đã hoàn tất.
During the initiatory process preceding the third initiation, the mind works in a new manner. Its transmuting work with the physical body has been accomplished; its transforming work with the emotional nature has been successful, and now its transfiguring work with the personality as a whole is carried forward, making the initiation of the Transfiguration possible. It is of value to the student to consider these three activities of the mind. The transmuting agent in the first case is the lower or concrete mind; the transforming agent is the soul, whilst the transfiguring agent is the Spiritual Triad, working through the higher or abstract mind. You will here note the wonderful synthesis of the spiritual work. When this work is concluded, you have the initiation of the third degree made possible. This produces impelling and new contacts. It should here be remembered that when I use the word “new” I mean that which is new in consciousness, for the basic synthesis and fundamental relationship always exists in factual recognition, but is only progressively realised by the evolving spiritual man.
Trong tiến trình điểm đạo dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, trí tuệ hoạt động theo một cách mới. Công việc chuyển hoá của nó đối với thể xác đã được hoàn thành; công việc chuyển đổi của nó đối với bản chất cảm xúc đã thành công, và giờ đây công việc biến hình của nó đối với toàn thể phàm ngã đang được tiếp tục, làm cho lần điểm đạo Biến hình trở nên khả hữu. Việc đạo sinh suy xét ba hoạt động này của trí tuệ là điều có giá trị. Tác nhân chuyển hoá trong trường hợp thứ nhất là hạ trí hay trí cụ thể; tác nhân chuyển đổi là linh hồn, trong khi tác nhân biến hình là Tam Nguyên Tinh Thần, hoạt động qua thượng trí hay trí trừu tượng. Ở đây bạn sẽ lưu ý đến sự tổng hợp kỳ diệu của công việc tinh thần. Khi công việc này kết thúc, lần điểm đạo bậc ba trở nên khả hữu. Điều này tạo ra những tiếp xúc mới và có tính thúc đẩy. Ở đây cần nhớ rằng khi tôi dùng từ “mới”, tôi muốn nói đến điều mới trong tâm thức, vì sự tổng hợp căn bản và mối liên hệ nền tảng luôn luôn tồn tại trong sự nhận biết thực tại, nhưng chỉ được con người tinh thần đang tiến hoá chứng nghiệm dần dần.
It is well nigh impossible to differentiate the results of fifth ray energy in the various aspects of the personality, for the reason that the initiate is now functioning as a soul-infused personality, and therefore the three aspects of that personality are nothing more or less than agents of the soul, and thus are progressively responsive to the inflow of triadal energy. It might therefore be said that, as a result of the Transfiguration Initiation—the culminating point of strictly human unfoldment—the three types of energy which are expressed through the Spiritual Triad [599] man begin—only begin—to flow through the reflection of itself in the three worlds. Let me state this as follows:
Hầu như không thể phân biệt các kết quả của năng lượng cung năm trong các phương diện khác nhau của phàm ngã, vì điểm đạo đồ hiện nay đang hoạt động như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, và do đó ba phương diện của phàm ngã ấy không hơn không kém gì những tác nhân của linh hồn, và vì vậy ngày càng đáp ứng với dòng tuôn đổ của năng lượng tam nguyên. Do đó có thể nói rằng, như là kết quả của Cuộc Điểm Đạo Biến hình—điểm cao nhất của sự khai mở thuần túy nhân loại—ba loại năng lượng được biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần [599] của con người bắt đầu—chỉ mới bắt đầu—tuôn chảy qua sự phản chiếu của chính nó trong ba cõi thấp. Tôi xin trình bày điều này như sau:
1. The directing energy of the higher mind is—as a result of the Transfiguration Initiation and via the antahkarana—thrown into the brain; therefore the man upon the physical plane is guided, directed and controlled by group purpose and by the hierarchical plan.
1. Năng lượng chỉ đạo của thượng trí—như là kết quả của Cuộc Điểm Đạo Biến hình và qua antahkarana—được phóng vào bộ não; do đó con người trên cõi hồng trần được hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm soát bởi mục đích nhóm và bởi Thiên Cơ của Thánh đoàn.
2. The illuminating energy of pure reason, emanating from the buddhic plane, pours down into the clarified and organised body of sensitive response which is all that remains of what has been called the astral body. This produces complete freedom from glamour and the creation of “a limpid pool of such reasonable response to the love of divine relationship” that the initiate becomes a sensitive revealer of that love.
2. Năng lượng soi sáng của lý trí thuần túy, phát ra từ cõi Bồ đề, tuôn xuống thể đáp ứng nhạy cảm đã được làm trong sáng và tổ chức, là tất cả những gì còn lại của cái từng được gọi là thể cảm dục. Điều này tạo ra sự giải thoát hoàn toàn khỏi ảo cảm và sự tạo thành “một hồ nước trong vắt với sự đáp ứng hợp lý như thế đối với tình thương của mối liên hệ thiêng liêng” đến nỗi điểm đạo đồ trở thành một đấng mặc khải nhạy bén của tình thương ấy.
3. The dynamic energy from the atmic plane (the highest aspect of the Spiritual Triad) pours into the mind and begins slowly to reveal the will-to-good, which is essentially the will of God.
3. Năng lượng năng động từ cõi atma (phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần) tuôn vào trí tuệ và bắt đầu chậm rãi mặc khải Ý Chí-hướng Thiện, vốn về bản chất là Ý Chí của Thượng Đế.
Behind these three differentiations which are all of them expressions or aspects of the divine or the universal mind, the initiate dimly senses or becomes consciously aware of what has been called the Monad or Spirit or Life. This is subtly revealed in the Transfiguration Initiation of the Master Jesus Who re-enacted all the five human initiations for the benefit of humanity. In this dramatic picturing of the third initiation, the three disciples (or the three vehicles of the personality) prostrate themselves upon the ground and the Master Himself (the glorified personality) is transfigured before them. At this climaxing point they hear that which is called “the voice of the Father” speaking to the transfigured Jesus.
Đằng sau ba sự phân biệt này, vốn tất cả đều là những biểu hiện hay phương diện của trí tuệ thiêng liêng hay Trí Tuệ Vũ Trụ, điểm đạo đồ mơ hồ cảm nhận hoặc trở nên hữu thức về điều đã được gọi là Chân thần hay Tinh thần hay Sự sống. Điều này được mặc khải một cách vi tế trong Cuộc Điểm Đạo Biến hình của Đức Jesus, Đấng đã tái hiện cả năm lần điểm đạo nhân loại vì lợi ích của nhân loại. Trong sự mô tả đầy kịch tính này về lần điểm đạo thứ ba, ba đệ tử (hay ba vận cụ của phàm ngã) phủ phục xuống đất và chính Chân sư (phàm ngã được vinh quang hóa) được biến hình trước mặt họ. Ở điểm cao trào này họ nghe điều được gọi là “tiếng nói của Đức Cha” phán với Đức Jesus đã được biến hình.
The personality is now possessed of knowledge, for fifth ray energy has done its needed work; the disciple is also aware that he is in possession of the wisdom which enables him to use knowledge in the furtherance of the Plan, and therefore to work as an illuminating factor in the world of men. He knows clearly what has been accomplished [600] and senses something of what lies ahead. The great principle of cleavage (which the fifth ray governs) is the dominating factor in his time sense; he now differentiates sharply between past and present and that which has to be ascertained in the future. Cleavage, in the sense of separateness, is finished for him and he now feels and knows something of the essential unity of all manifested life; therefore, from the angle of space, he has dominated and overcome cleavage and division; in the sense of time he has not. The great heresy of separateness no longer exists in his consciousness; the consciousness of the initiatory process is not yet over, however for that involves the recognition of time.
Phàm ngã giờ đây sở hữu tri thức, vì năng lượng cung năm đã hoàn thành công việc cần thiết của nó; đệ tử cũng ý thức rằng mình đang sở hữu minh triết, điều giúp y sử dụng tri thức để thúc đẩy Thiên Cơ, và do đó hoạt động như một nhân tố soi sáng trong thế giới loài người. Y biết rõ điều gì đã được hoàn thành [600] và cảm nhận phần nào điều nằm phía trước. Đại nguyên lý của sự phân ly (mà cung năm chi phối) là yếu tố thống trị trong cảm thức thời gian của y; giờ đây y phân biệt rõ rệt giữa quá khứ và hiện tại và điều phải được xác định trong tương lai. Sự phân ly, theo nghĩa tách biệt, đã chấm dứt đối với y và giờ đây y cảm nhận và biết được phần nào sự hợp nhất cốt yếu của mọi sự sống biểu hiện; do đó, xét từ góc độ không gian, y đã chế ngự và vượt qua sự phân ly và chia rẽ; nhưng xét theo nghĩa thời gian thì chưa. Đại Tà thuyết về sự tách biệt không còn tồn tại trong tâm thức của y nữa; tuy nhiên, tâm thức về tiến trình điểm đạo vẫn chưa chấm dứt, vì điều đó bao hàm sự nhận biết thời gian.
During the initiatory process between the second and the third initiations, the initiate has to battle with illusion in exactly the same sense as he earlier had to battle with glamour. Illusion is, in the last analysis, the control of the mental processes by great and massive thoughtforms; this conflict persists from the moment that the disciple has achieved mental polarisation (at a midway point between the second and the third initiations) until he stands before the Initiator at the sixth Initiation of Decision, when the last illusion disappears. You will feel and comment that the Masters are therefore subject to illusion. This They definitely are, and there are great and basic illusions governing life within the Hierarchy. Nevertheless, they are illusions of such a high order that—for advanced humanity—they would signify achievement. I may not give you more than one instance of such illusion, but that should prove clear and sufficient. It is not until the sixth Initiation of Decision that the illusion of the planetary ring-pass-not finally disappears. The Master then knows that such a limitation is non-existent. For Him, the choice between the seven Paths becomes possible. This basic illusion constitutes for mankind a great hierarchical mystery and is based upon the Principle of Privation, by means of which the planetary Logos chooses to circumscribe His freedom and to limit His activities. [601]
Trong tiến trình điểm đạo giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ phải chiến đấu với ảo tưởng đúng theo cùng ý nghĩa như trước đây y đã phải chiến đấu với ảo cảm. Ảo tưởng, xét đến cùng, là sự kiểm soát các tiến trình trí tuệ bởi những hình tư tưởng lớn lao và đồ sộ; cuộc xung đột này kéo dài từ lúc đệ tử đạt được sự phân cực trí tuệ (ở một Điểm ở giữa giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba) cho đến khi y đứng trước Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định, khi ảo tưởng cuối cùng biến mất. Bạn sẽ cảm thấy và nhận xét rằng như vậy các Chân sư cũng chịu ảo tưởng chi phối. Điều này quả thật đúng, và có những ảo tưởng lớn lao và căn bản chi phối đời sống bên trong Thánh đoàn. Tuy nhiên, đó là những ảo tưởng ở một cấp độ cao đến mức—đối với nhân loại tiến bộ—chúng sẽ biểu thị thành tựu. Tôi không thể cho bạn hơn một ví dụ về loại ảo tưởng ấy, nhưng như thế hẳn là đủ rõ và đầy đủ. Chỉ đến lần điểm đạo thứ sáu của Quyết Định thì ảo tưởng về vòng-giới-hạn hành tinh mới hoàn toàn biến mất. Khi ấy Chân sư biết rằng một giới hạn như thế không hề tồn tại. Đối với Ngài, sự lựa chọn giữa bảy Con Đường trở nên khả hữu. Ảo tưởng căn bản này tạo thành một huyền nhiệm lớn của Thánh đoàn đối với nhân loại và dựa trên Nguyên khí Tước Đoạt, nhờ đó Hành Tinh Thượng đế chọn tự giới hạn sự tự do của Ngài và hạn chế các hoạt động của Ngài. [601]
This curious freedom from successive limitations is experienced at the third, the sixth and the ninth initiations; these are, all three of them, related in a mysterious manner to each other. Transfiguration leads eventually to Decision, which culminates in due time with a final refusal to accept any planetary limitations whatsoever.
Sự giải thoát kỳ lạ này khỏi những giới hạn kế tiếp nhau được kinh nghiệm ở lần điểm đạo thứ ba, thứ sáu và thứ chín; cả ba lần này đều liên hệ với nhau theo một cách huyền nhiệm. Biến hình cuối cùng dẫn đến Quyết Định, và đến đúng thời điểm sẽ lên đến tột đỉnh bằng một sự từ chối sau cùng không chấp nhận bất kỳ giới hạn hành tinh nào nữa.
It will be obvious to you that the higher the initiation, the less will any involved energy have a personality control or connection. Progressive and recognised fusions have taken place as one initiation after another is undergone; the effect of the energy involved will be noted in relation to humanity as a whole, to the work of the Ashram within the Hierarchy and to the planetary life. This must ever be borne in mind and must necessarily limit the scope of the teaching which I am able to give you.
Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng điểm đạo càng cao thì bất kỳ năng lượng liên hệ nào càng ít có sự kiểm soát hay liên hệ với phàm ngã. Những sự dung hợp tiến bộ và được nhận biết đã diễn ra khi lần điểm đạo này tiếp nối lần điểm đạo khác; tác động của năng lượng liên hệ sẽ được lưu ý trong mối liên hệ với toàn thể nhân loại, với công việc của ashram bên trong Thánh đoàn và với sự sống hành tinh. Điều này phải luôn luôn được ghi nhớ và tất yếu phải giới hạn phạm vi giáo huấn mà tôi có thể truyền đạt cho bạn.
Let me now summarise the effects of this fifth ray energy in relation to humanity and to the individual initiate:
Bây giờ tôi xin tóm lược các tác động của năng lượng cung năm này trong mối liên hệ với nhân loại và với điểm đạo đồ cá nhân:
1. I gave, first of all, fifteen items of information anent this fifth ray energy, or fifteen definitions of its activity. These will warrant careful study.
1. Trước hết, tôi đã đưa ra mười lăm mục thông tin liên quan đến năng lượng cung năm này, hay mười lăm định nghĩa về hoạt động của nó. Những điều này đáng được nghiên cứu cẩn thận.
2. The effect of this fifth ray energy upon humanity in this fifth root race was considered; it was noted that this Aryan effect was dominant and dynamic in the extreme and that it has greatly hastened human evolution.
2. Tác động của năng lượng cung năm này lên nhân loại trong giống dân gốc thứ năm này đã được xem xét; đã lưu ý rằng tác động Arya này cực kỳ chi phối và năng động, và đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tiến hoá của nhân loại.
3. I pointed out the close relation between love and mind, as follows:
3. Tôi đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa bác ái và trí tuệ, như sau:
a. Ray II and Ray V
a. Cung hai và cung năm
b. Plane II and plane V
b. Cõi II và cõi V
c. Solar system II and root race V
c. Hệ mặt trời II và giống dân gốc V
In all of these relationships, the fifth in order is the prime agent and the revealer of the second type of spiritual energy
Trong tất cả các mối liên hệ này, yếu tố thứ năm theo thứ tự là tác nhân chủ yếu và là đấng mặc khải loại năng lượng tinh thần thứ hai
4. The fifth ray energy produces three major areas of thought, or three prime conditions wherein the thought-form-making energy expresses itself:
4. Năng lượng cung năm này tạo ra ba lĩnh vực tư tưởng chính, hay ba điều kiện chủ yếu trong đó năng lượng tạo hình tư tưởng biểu lộ:
a. Science... education... medicine
a. Khoa học... giáo dục... y học
b. Philosophy... ideas... ideals
b. Triết học... ý tưởng... lý tưởng
c. Psychology... in process of modern development
c. Tâm lý học... đang trong tiến trình phát triển hiện đại
[602]
[602]
5. This fifth ray energy operates in connection with the Law of Cleavages.
5. Năng lượng cung năm này hoạt động liên hệ với Định luật của các Sự Phân Ly.
6. It is also responsible for the rapid formation of great conditioning ideologies.
6. Nó cũng chịu trách nhiệm cho sự hình thành nhanh chóng của các hệ tư tưởng lớn có tính định hình.
7. This fifth ray energy is the important factor in making possible the first major initiation, the Transfiguration Initiation.
7. Năng lượng cung năm này là yếu tố quan trọng làm cho lần điểm đạo lớn đầu tiên, Cuộc Điểm Đạo Biến hình, trở nên khả hữu.
8. Fifth ray energy works in three ways in connection with the three aspects of the personality:
8. Năng lượng cung năm hoạt động theo ba cách liên hệ với ba phương diện của phàm ngã:
a. As the transmuting agent... the physical body
a. Như tác nhân chuyển hoá... thể xác
b. As the transforming agent... the astral body
b. Như tác nhân chuyển đổi... thể cảm dục
c. As the transfiguring agent... the mental body
c. Như tác nhân biến hình... thể trí
This gives you much food for thought; it indicates the personality goal and the mode whereby it is attained. After the third initiation, we reach out in consciousness to higher expansions of consciousness and will then enter a realm of ideas which are not yet easy for the disciple to appreciate or to understand. Much that I will have to say anent ray energy and the higher initiations will mean little to many, but it will mean much to the initiate-consciousness. The world initiates will be coming into incarnation at this time, and will read my words towards the end of this century with great understanding.—
Điều này cho bạn nhiều điều đáng suy ngẫm; nó chỉ ra mục tiêu của phàm ngã và phương thức nhờ đó mục tiêu ấy được đạt đến. Sau lần điểm đạo thứ ba, chúng ta vươn ra trong tâm thức đến những sự mở rộng tâm thức cao hơn và khi ấy sẽ bước vào một lĩnh vực ý tưởng mà hiện nay đệ tử chưa dễ đánh giá hay thấu hiểu. Nhiều điều tôi sẽ phải nói liên quan đến năng lượng cung và các lần điểm đạo cao hơn sẽ có ít ý nghĩa đối với nhiều người, nhưng sẽ có nhiều ý nghĩa đối với tâm thức điểm đạo đồ. Các điểm đạo đồ của thế gian sẽ đang lâm phàm vào lúc này, và sẽ đọc lời tôi vào cuối thế kỷ này với sự thấu hiểu sâu sắc.—
Initiation IV. The Renunciation. Ray IV. — Điểm đạo IV. Sự Từ Bỏ. Cung IV.
The Energy of Harmony through Conflict.
Năng lượng của Hài Hòa qua Xung Đột.
Our study today is of profound interest and has a great bearing on the present world situation. I would like to make clear two important facts:
Bài nghiên cứu của chúng ta hôm nay có mối quan tâm sâu sắc và có liên hệ lớn đến tình hình thế giới hiện nay. Tôi muốn làm rõ hai sự kiện quan trọng:
1. The fact that the world war (1914-1945) was quite unavoidable, though the conflict might have been retained upon mental levels, had humanity decided rightly.
1. Sự kiện rằng chiến tranh thế giới (1914-1945) hoàn toàn không thể tránh khỏi, mặc dù xung đột có thể đã được giữ lại trên các cấp độ trí tuệ, nếu nhân loại đã quyết định đúng đắn.
2. The fact of the inevitability of the return of the Christ in this era and in the relatively immediate future. We are here dealing with immutable law, for the energies of the various rays move under law; humanity can therefore do naught but accept, determining only what I might [603] call the locale, or the sphere of activity, of both these major events. The determination of mankind to fight out the issues involved in the world war upon the physical plane, at the same time automatically determined the sphere of Christ's activity—as I shall attempt to show you. In many ways, this particular instruction is one of the most important I have yet given because of its essential and obvious implications. We will therefore study the fourth initiation and its relation to the fourth Ray of Harmony through Conflict.
2. Sự kiện về tính tất yếu của sự trở lại của Đức Christ trong kỷ nguyên này và trong tương lai tương đối gần. Ở đây chúng ta đang đề cập đến định luật bất biến, vì các năng lượng của những cung khác nhau vận động dưới định luật; do đó nhân loại không thể làm gì khác ngoài chấp nhận, chỉ quyết định điều mà tôi có thể [603] gọi là địa điểm, hay phạm vi hoạt động, của cả hai biến cố lớn này. Việc nhân loại quyết tâm giải quyết các vấn đề liên hệ trong chiến tranh thế giới trên cõi hồng trần, đồng thời tự động quyết định phạm vi hoạt động của Đức Christ—như tôi sẽ cố gắng chỉ ra cho bạn. Theo nhiều phương diện, huấn thị đặc biệt này là một trong những huấn thị quan trọng nhất mà tôi từng đưa ra vì những hàm ý cốt yếu và hiển nhiên của nó. Do đó chúng ta sẽ nghiên cứu lần điểm đạo thứ tư và mối liên hệ của nó với cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột.
This fourth ray, as you have several times been told, is out of incarnation, as far as the reincarnating egos or souls of men are concerned. From another angle, however, it is always active and ever present, because it is the ray which governs the fourth kingdom in nature, the human kingdom in the three worlds of strictly human evolution.
Cung bốn này, như bạn đã nhiều lần được bảo, hiện không lâm phàm, xét theo các chân ngã hay linh hồn của loài người đang tái sinh. Tuy nhiên, từ một góc độ khác, nó luôn luôn hoạt động và luôn hiện diện, vì đó là cung chi phối giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại trong ba cõi thấp của sự tiến hoá thuần túy nhân loại.
It is the dominant energy, always exerting pressure upon the fourth kingdom; this pressure began to exert itself primarily towards the end of the fourth human race, the Atlantean race of men; at that time men began to give evidence of a growing sense of responsibility, and therefore of the power to demonstrate discriminative choice. This led to the great war in the fourth race which culminated in the Flood, to which all parts of the world testify and to which the majority of the world Scriptures bear evidence. In that era, in which the then known world of men was extensively involved, the Black and the White Lodges of adepts were also implicated, and the first major fight between the demonstrators of evil and the Forces of Light took place; it was inconclusive, with the evidence for defeat to be found on the side of the good more than on the side of evil. Under the symbolism of the Flood, it is apparent to students that the fight was focussed primarily upon the astral plane, though fought out historically upon the physical plane; it resulted in the destruction of the world by water, as it might be symbolically expressed.
Đó là năng lượng chi phối, luôn luôn gây áp lực lên giới thứ tư; áp lực này bắt đầu tự biểu lộ chủ yếu vào cuối nhân loại thứ tư, nhân loại Atlantis; vào thời điểm đó con người bắt đầu cho thấy bằng chứng về một ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng, và do đó về năng lực biểu lộ sự lựa chọn có phân biện. Điều này dẫn đến cuộc chiến lớn trong nhân loại thứ tư, lên đến tột đỉnh trong Đại Hồng Thủy, điều mà mọi nơi trên thế giới đều làm chứng và phần lớn các Kinh điển thế giới đều xác nhận. Trong kỷ nguyên ấy, khi thế giới loài người được biết đến lúc bấy giờ bị cuốn vào trên diện rộng, Hắc đoàn và Thánh đoàn của các chân sư cũng bị liên lụy, và cuộc chiến lớn đầu tiên giữa những kẻ biểu lộ điều ác và các Lực lượng Ánh sáng đã diễn ra; nó không ngã ngũ, với bằng chứng thất bại được tìm thấy ở phía thiện nhiều hơn phía ác. Dưới biểu tượng của Đại Hồng Thủy, đối với các đạo sinh, rõ ràng là cuộc chiến chủ yếu tập trung trên cõi cảm dục, dù về mặt lịch sử được chiến đấu trên cõi hồng trần; kết quả là sự hủy diệt thế giới bởi nước, nếu có thể diễn tả một cách biểu tượng như vậy.
In the climaxing war of the immediate past, the mental plane was the focus of the amalgamated forces, for [604] the war was in reality a clash of ideologies and has been far more the result of man's thinking than of man's emotional desires. It therefore automatically involved the three levels of human activity and was fought out upon the physical plane, although it was impulsed from the mental plane. The symbol of fire was this time involved, instead of water, and this fire led to the destruction of men and of cities by fire (literally, “fire from heaven”), by the evocation of the fiery emotions so prevalent in the councils of men at this time, and by the drought of the year 1947 which burnt up the terrain in Europe and in Great Britain, being—curiously enough—preceded by the floods and waters of the earlier spring, thus evidencing the repetition of cycles; this repetition is distinctive of natural process, leaving each stage of man's evolution depicted, but producing a climaxing point which is indicative of the past and of the present, but leaving (as is the case today) the future locked in the determinative processes of man's thinking and planning. As man thinks and decides “in his heart,” so will the future of humanity prove to be, for it is the same process for mankind as a whole as it is for the individual.
Trong cuộc chiến cao trào của quá khứ gần đây, cõi trí là tiêu điểm của các lực lượng hợp nhất, vì [604] chiến tranh thực ra là một sự va chạm của các hệ tư tưởng và là kết quả của tư tưởng con người nhiều hơn là của các ham muốn cảm xúc của con người. Do đó nó tự động bao gồm ba cấp độ hoạt động của con người và được chiến đấu trên cõi hồng trần, mặc dù được thúc đẩy từ cõi trí. Lần này biểu tượng của lửa được bao hàm thay vì nước, và lửa này đã dẫn đến sự hủy diệt con người và các thành phố bằng lửa (theo nghĩa đen là “lửa từ trời”), bằng sự gợi lên những cảm xúc bốc lửa rất phổ biến trong các hội đồng của loài người vào lúc này, và bằng cơn hạn hán năm 1947 đã thiêu cháy địa hình ở châu Âu và tại Anh quốc, điều này—một cách kỳ lạ—lại được đi trước bởi các trận lụt và nước của đầu mùa xuân trước đó, do vậy cho thấy sự lặp lại của các chu kỳ; sự lặp lại này là đặc trưng của tiến trình tự nhiên, để lại mỗi giai đoạn tiến hoá của con người được mô tả, nhưng tạo ra một điểm cao trào biểu thị quá khứ và hiện tại, song để lại (như trường hợp ngày nay) tương lai bị khóa trong các tiến trình quyết định của tư tưởng và hoạch định của con người. Con người suy nghĩ và quyết định “trong tim mình” thế nào, thì tương lai của nhân loại sẽ chứng tỏ như thế ấy, vì đối với toàn thể nhân loại cũng là cùng một tiến trình như đối với cá nhân.
I would like to cover this theme by dividing my subject into the following parts:
Tôi muốn trình bày chủ đề này bằng cách chia đề tài của mình thành các phần sau:
1. The particular type of energy involved and its initiatory effect. This concerns the Principle of Conflict as contained in the activity of this fourth ray.
1. Loại năng lượng đặc thù liên hệ và tác động điểm đạo của nó. Điều này liên quan đến Nguyên khí Xung Đột như được chứa đựng trong hoạt động của cung bốn này.
2. The effect upon humanity as a whole. The “Renunciation Initiation” is an expression of the result of the activity of this Principle.
2. Tác động lên toàn thể nhân loại. “Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ” là một biểu hiện của kết quả hoạt động của Nguyên khí này.
3. The factor of the second Ray of Love-Wisdom as it basically controls Ray IV and implements the return of the Christ, because the potency of the heart centre is involved.
3. Yếu tố của cung hai Bác Ái – Minh Triết khi nó kiểm soát căn bản cung IV và thực hiện sự trở lại của Đức Christ, vì năng lực của trung tâm tim có liên hệ.
4. The effect of this Ray IV in the modern world of nations and of fundamental organisations.
4. Tác động của cung IV này trong thế giới hiện đại của các quốc gia và các tổ chức nền tảng.
5. The result of this fourth ray activity upon the individual disciple: [605]
5. Kết quả của hoạt động cung bốn này lên đệ tử cá nhân: [605]
a. In the three aspects of his nature, physical, emotional and mental.
a. Trong ba phương diện của bản chất y, hồng trần, cảm xúc và trí tuệ.
b. Upon the soul-infused personality.
b. Lên phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.
6. Summation of the whole theme and a forecast of future possibilities.
6. Tổng kết toàn bộ chủ đề và một dự báo về những khả năng tương lai.
I shall attempt to deal with this as concisely as possible, and will keep the handling of this subject exceedingly brief, or as brief as its historical importance will permit and its definitive angle will allow. The whole of human history has been conditioned by the fourth Ray of Harmony through Conflict, and it is this ray which has determined the ring-pass-not within which humanity must work.
Tôi sẽ cố gắng đề cập đến điều này một cách ngắn gọn nhất có thể, và sẽ giữ cách xử lý chủ đề này cực kỳ vắn tắt, hay ngắn gọn trong mức mà tầm quan trọng lịch sử của nó cho phép và góc độ xác định của nó chấp nhận. Toàn bộ lịch sử nhân loại đã bị cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột tác động định hình, và chính cung này đã xác định vòng-giới-hạn trong đó nhân loại phải hoạt động.
At this time, the effect of this ray is predominantly of a group nature, and there are—except in the ranks of disciples of the Great White Lodge—no fourth ray souls in incarnation. Once humanity has decided upon the goal and the method of reconstruction and of reorganisation which is to take place within the periphery of the fourth ray ring-pass-not, then (if humanity's decision is correct and is not postponed) many fourth ray souls will resume incarnation, and so implement human decision. This will mark a great turning point in human history and will enable seventh ray energy to be turned to the best advantage.
Hiện nay, tác động của cung này chủ yếu có tính nhóm, và—ngoại trừ trong hàng ngũ các đệ tử của Thánh đoàn—không có linh hồn cung bốn nào đang lâm phàm. Một khi nhân loại đã quyết định về mục tiêu và phương pháp tái thiết và tái tổ chức sẽ diễn ra trong chu vi của vòng-giới-hạn cung bốn, thì (nếu quyết định của nhân loại là đúng và không bị trì hoãn) nhiều linh hồn cung bốn sẽ lại lâm phàm, và như thế thực hiện quyết định của nhân loại. Điều này sẽ đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại và sẽ làm cho năng lượng cung bảy có thể được sử dụng với lợi thế tốt nhất.
The Particular Type of Energy involved and its Initiatory Effect
Loại Năng Lượng Đặc Thù Liên Hệ và Tác Động Điểm Đạo của Nó
Here we are confronted with a basic problem, i.e., the nature of the Principle of Conflict which is the outstanding characteristic of this fourth Ray of Harmony through Conflict. This is by no means an easy subject to handle or to make clear, for the correctness of conflict, its naturally separative and eliminative effect and its power to condition not only Humanity but also the Hierarchy, will have to be considered. When we study the fourth initiation, that of the Renunciation, the effects of its activity will emerge more clearly.
Ở đây chúng ta đối diện với một vấn đề căn bản, tức là bản chất của Nguyên khí Xung Đột, vốn là đặc tính nổi bật của cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột này. Đây hoàn toàn không phải là một chủ đề dễ xử lý hay dễ làm sáng tỏ, vì tính đúng đắn của xung đột, tác động tự nhiên có tính tách biệt và loại trừ của nó, và năng lực của nó trong việc tác động định hình không chỉ Nhân loại mà cả Thánh đoàn, sẽ phải được xem xét. Khi chúng ta nghiên cứu lần điểm đạo thứ tư, lần điểm đạo của Sự Từ Bỏ, các tác động của hoạt động của nó sẽ hiện ra rõ ràng hơn.
Fundamentally, this fourth ray is that which is responsible [606] for the strains and the stresses, and for the initial conflict between the major pair of opposites to which we give the name of spirit-matter. It is this fourth ray energy which makes apparent the distinction (so often misunderstood by man) between good and evil. In Atlantean days, the leaders of men, under the influence of this paramount fourth ray energy, made a decision which laid the emphasis upon the matter aspect, according to their desire and their emotional reaction, which is present in the essential duality of manifestation, and thus inaugurated the Age of Materialism. This age has wrought itself out through its accompanying greeds, hate, separativeness and aggression. During the present century, this materialism led to the world war which was in reality the expression of a shifting orientation, and therefore to a certain extent, of a coming triumph of Good.
Về căn bản, cung bốn này là cung chịu trách nhiệm [606] cho những căng thẳng và áp lực, và cho cuộc xung đột ban đầu giữa cặp đối cực lớn mà chúng ta gọi là tinh thần-vật chất. Chính năng lượng cung bốn này làm hiển lộ sự phân biệt (thường bị con người hiểu sai) giữa thiện và ác. Trong thời Atlantis, các nhà lãnh đạo loài người, dưới ảnh hưởng của năng lượng cung bốn tối thượng này, đã đưa ra một quyết định đặt trọng tâm vào phương diện vật chất, theo dục vọng và phản ứng cảm xúc của họ, vốn hiện diện trong tính nhị nguyên cốt yếu của biểu hiện, và như thế khai mở Kỷ Nguyên Duy Vật. Kỷ nguyên này đã tự triển khai qua những lòng tham, hận thù, tính tách biệt và sự xâm lược đi kèm. Trong thế kỷ hiện tại, chủ nghĩa duy vật này đã dẫn đến chiến tranh thế giới, vốn thực ra là biểu hiện của một sự chuyển đổi định hướng, và do đó ở một mức độ nào đó, là của một chiến thắng sắp đến của Điều Thiện.
The balance is slowly, very slowly, swinging over to the side of the spirit aspect of the duality; it has not yet swung, even in intention, completely over, but the issues are becoming increasingly clearer in men's minds and the indications are that man will eventually decide correctly, will attain a point of balance or equilibrium, and will finally throw the weight of public opinion on the side of spiritual values, thus leading to a collective renunciation of materialism, particularly in its grosser and physical forms. The time is not yet, but a great awakening is in process; men, however, will only see correctly when this Principle of Conflict is properly evaluated as a spiritual necessity and is used by humanity as an instrument to bring about emergence from the wrong controls and principles. Just as the individual disciple uses it to emerge out of the control of matter in the three worlds, beginning with the emergence from the control of the physical body, passing out of the control of the emotional nature, and formulating for himself a spiritual ideology which enables him to pass out of the control of the three worlds of forms, and so begin to function as a soul-infused personality, so mankind also has to do the same in mass formation. [607]
Cán cân đang chậm rãi, rất chậm rãi, nghiêng về phía phương diện tinh thần của tính nhị nguyên; nó vẫn chưa nghiêng hẳn sang, ngay cả trong ý định, nhưng các vấn đề đang ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong trí tuệ con người và các dấu hiệu cho thấy rằng cuối cùng con người sẽ quyết định đúng, sẽ đạt đến một điểm quân bình hay cân bằng, và rốt cuộc sẽ đặt sức nặng của dư luận về phía các giá trị tinh thần, như thế dẫn đến một sự từ bỏ tập thể đối với chủ nghĩa duy vật, đặc biệt trong những hình thức thô thiển và hồng trần hơn của nó. Thời điểm ấy chưa đến, nhưng một sự thức tỉnh lớn đang diễn ra; tuy nhiên, con người sẽ chỉ thấy đúng khi Nguyên khí Xung Đột này được đánh giá đúng như một tất yếu tinh thần và được nhân loại sử dụng như một công cụ để đưa đến sự thoát ra khỏi những kiểm soát và nguyên khí sai lầm. Cũng như đệ tử cá nhân sử dụng nó để thoát khỏi sự kiểm soát của vật chất trong ba cõi thấp, bắt đầu bằng việc thoát khỏi sự kiểm soát của thể xác, vượt ra khỏi sự kiểm soát của bản chất cảm xúc, và hình thành cho mình một hệ tư tưởng tinh thần giúp y vượt ra khỏi sự kiểm soát của ba cõi giới của hình tướng, và như thế bắt đầu hoạt động như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì nhân loại cũng phải làm điều tương tự trong sự hình thành tập thể. [607]
This whole process culminates when the fourth initiation, the Great Renunciation, is taken by man today, and by humanity in some distant future; this “point of emergence” is reached by right decision and as a result of a right use of the Principle of Conflict.
Toàn bộ tiến trình này lên đến tột đỉnh khi lần điểm đạo thứ tư, Đại Từ Bỏ, được con người ngày nay và nhân loại trong một tương lai xa xôi tiếp nhận; “điểm thoát ra” này đạt được nhờ quyết định đúng và như là kết quả của việc sử dụng đúng Nguyên khí Xung Đột.
It will be obvious to you that this Principle of Conflict is closely related to death. By death, I mean extraction from form conditions—physical, emotional or mental; I mean cessation of contact (temporarily or permanently) with physical form, with astral glamour and with mental illusion; I mean the rejection of Maya, the name of that all-inclusive effect which overwhelms a man who is immersed in materialism of any kind, and is therefore overcome (from the soul angle) by life in the three worlds. It is the Principle of Conflict, latent in every atom of substance, which produces, first of all, conflict, then renunciation, and finally emancipation; which produces war in some form or another, then rejection, and finally liberation. This principle is, as you can well see, closely linked to the law of Karma; it is to this principle that Mrs. Besant refers when she speaks in one of her books of the fact that the substance whereof all forms are made is already—from the very dawn of the creative process—tinged with karma. There is deep occult significance to the thought, often voiced, that death is the great Liberator; it means that the Principle of Conflict has succeeded in bringing about conditions wherein the spirit aspect is released (temporarily or permanently) from imprisonment in some kind of form life, either individual or group.
Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng Nguyên khí Xung Đột này liên hệ mật thiết với cái chết. Bởi cái chết, tôi muốn nói đến sự rút ra khỏi các điều kiện hình tướng—hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ; tôi muốn nói đến sự chấm dứt tiếp xúc (tạm thời hay vĩnh viễn) với hình tướng hồng trần, với ảo cảm cảm dục và với ảo tưởng trí tuệ; tôi muốn nói đến sự khước từ ảo lực, tên gọi của hiệu quả bao trùm tất cả ấy vốn áp đảo một con người bị chìm đắm trong chủ nghĩa duy vật dưới bất kỳ hình thức nào, và do đó bị đời sống trong ba cõi thấp chế ngự (xét từ góc độ linh hồn). Chính Nguyên khí Xung Đột, tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử chất liệu, trước hết tạo ra xung đột, rồi đến từ bỏ, và cuối cùng là giải thoát; tạo ra chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác, rồi đến khước từ, và cuối cùng là tự do. Như bạn có thể thấy rõ, nguyên khí này liên hệ chặt chẽ với định luật Nghiệp quả; chính đến nguyên khí này mà bà Besant đề cập khi bà nói trong một cuốn sách của mình về sự kiện rằng chất liệu mà từ đó mọi hình tướng được tạo thành, ngay từ buổi bình minh của tiến trình sáng tạo, đã nhuốm màu nghiệp quả. Có ý nghĩa huyền bí sâu xa trong tư tưởng thường được phát biểu rằng cái chết là Đấng Giải Thoát vĩ đại; điều đó có nghĩa là Nguyên khí Xung Đột đã thành công trong việc tạo ra những điều kiện mà trong đó phương diện tinh thần được giải thoát (tạm thời hay vĩnh viễn) khỏi sự giam cầm trong một loại đời sống hình tướng nào đó, cá nhân hay tập thể.
You will all, as disciples or aspirants, be able to interpret the working of this principle as you watch the effect, in your own lives, of the action of the strains and stresses, the points of crisis or of tension which the conflict between soul and personality produces. Conflict is always present prior to renunciation, and it is only at this fourth great spiritual crisis that conflict, as we understand it, ends. In the realms of formless living wherein the Hierarchy lives and moves and has its being, conflict, which has developed [608] in man the sense of discriminative choice, is superseded by crises of decision—not decision based upon discriminative perception between right and wrong or between spirituality and materialism, but crises of decision based upon perception of the Plan, participation in the Purpose, and the prevention of evil. I would have you ponder on these three phrases which distinguish the crises of decision which confront the Master after the fourth initiation, and which take the place of the crises of discrimination which precede that stage:
Tất cả các bạn, với tư cách là đệ tử hay người chí nguyện, sẽ có thể diễn giải hoạt động của nguyên khí này khi quan sát tác động, trong chính đời sống của mình, của hành động của những căng thẳng và áp lực, những điểm khủng hoảng hay điểm tập trung nhất tâm mà cuộc xung đột giữa linh hồn và phàm ngã tạo ra. Xung đột luôn luôn hiện diện trước sự từ bỏ, và chỉ ở cuộc khủng hoảng tinh thần lớn thứ tư này thì xung đột, theo cách chúng ta hiểu, mới chấm dứt. Trong các lĩnh vực của đời sống vô tướng nơi Thánh đoàn sống, vận động và tồn tại, xung đột, vốn đã phát triển [608] trong con người ý thức về sự lựa chọn có phân biện, được thay thế bằng các khủng hoảng của quyết định—không phải quyết định dựa trên sự nhận thức phân biện giữa đúng và sai hay giữa tinh thần và duy vật, mà là các khủng hoảng của quyết định dựa trên sự nhận thức Thiên Cơ, sự tham dự vào Thiên Ý, và sự ngăn ngừa điều ác. Tôi muốn bạn suy ngẫm về ba cụm từ này, vốn phân biệt các khủng hoảng của quyết định mà Chân sư phải đối diện sau lần điểm đạo thứ tư, và thay thế cho các khủng hoảng của sự phân biện đi trước giai đoạn đó:
Perception of the Plan.
Nhận thức Thiên Cơ.
Participation in the Purpose.
Tham dự vào Thiên Ý.
Prevention of evil.
Ngăn ngừa điều ác.
These decisions are based, first of all, on goodwill to all forms in the three worlds, and secondly, upon the will-to-good which impulses and implements the three creative and manifesting aspects of divinity.
Những quyết định này trước hết dựa trên thiện chí đối với mọi hình tướng trong ba cõi thấp, và thứ hai, dựa trên Ý Chí-hướng Thiện vốn thúc đẩy và thực hiện ba phương diện sáng tạo và biểu hiện của thiên tính.
These are deep things whereof we speak; it is wise to remember that all crises in the material world—individual crises and those related to humanity as a whole—are governed by the Principle of Conflict, whilst crises in the spiritual world are controlled by the esoteric Principle of Decision.
Đây là những điều sâu xa mà chúng ta đang nói đến; thật khôn ngoan khi nhớ rằng mọi khủng hoảng trong thế giới vật chất—các khủng hoảng cá nhân và những khủng hoảng liên hệ đến toàn thể nhân loại—đều được chi phối bởi Nguyên khí Xung Đột, trong khi các khủng hoảng trong thế giới tinh thần được kiểm soát bởi Nguyên khí Quyết Định huyền bí.
The Principle of Conflict is the prime factor lying behind the evolution of form as the field of experience for the soul in the four kingdoms in nature: the human and the three subhuman. It is based on the intellectual factor of discrimination which is inherent in the smallest atom of substance, and which reaches its fullest expression in advanced humanity; the indications that it has achieved its purpose, as far as humanity is concerned, are to be found in the passing through the Initiation of Renunciation. The Principle of Decision which controls the Master governs His work within the Hierarchy, in relation to Shamballa and in connection with all the service rendered in the three worlds; it is based on the energy of the second Ray of Love-Wisdom, just as the Principle of Conflict is based on the energy of the third Ray of Active Intelligence. [609] This Principle of Decision, as a controlling factor, is put to the test at the sixth initiation, the Initiation of Decision; at that time, the will aspect of divinity summarises in a unique manner all past achievements of the two principles and brings in a final cycle of unfoldment to which I can give no truly appropriate name, but which climaxes in the ninth Initiation of Refusal. You have, therefore, in relation to these principles (which are all related to the Law of Karma) three great initiations at which the effectiveness of the liberation brought about by their inherent action is finally tested:
Nguyên khí Xung Đột là yếu tố chủ yếu nằm sau sự tiến hoá của hình tướng như là cánh đồng kinh nghiệm cho linh hồn trong bốn giới trong thiên nhiên: giới nhân loại và ba giới dưới nhân loại. Nó dựa trên yếu tố trí tuệ của sự phân biện vốn tiềm ẩn trong nguyên tử nhỏ nhất của chất liệu, và đạt đến biểu hiện đầy đủ nhất trong nhân loại tiến bộ; những dấu hiệu cho thấy nó đã hoàn thành mục đích của mình, xét theo nhân loại, được tìm thấy trong việc đi qua Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ. Nguyên khí Quyết Định, vốn kiểm soát Chân sư, chi phối công việc của Ngài trong Thánh đoàn, trong mối liên hệ với Shamballa và trong sự liên hệ với mọi sự phụng sự được thực hiện trong ba cõi thấp; nó dựa trên năng lượng của cung hai Bác Ái – Minh Triết, cũng như Nguyên khí Xung Đột dựa trên năng lượng của cung ba Trí Tuệ Linh Hoạt. [609] Nguyên khí Quyết Định này, như một yếu tố kiểm soát, được đem ra thử thách ở lần điểm đạo thứ sáu, Cuộc Điểm Đạo Quyết Định; vào lúc đó, phương diện ý chí của thiên tính tổng hợp theo một cách độc đáo mọi thành tựu quá khứ của hai nguyên khí và đưa vào một chu kỳ khai mở cuối cùng mà tôi không thể đặt cho nó một tên gọi thật sự thích hợp, nhưng nó lên đến tột đỉnh trong lần Điểm Đạo thứ chín của Sự Khước Từ. Do đó, trong mối liên hệ với các nguyên khí này (vốn tất cả đều liên hệ với Định luật Nghiệp quả), bạn có ba lần điểm đạo lớn mà tại đó hiệu lực của sự giải thoát do hành động nội tại của chúng mang lại được thử nghiệm sau cùng:
1. The Initiation of Renunciation... 4th Initiation
1. Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ... lần điểm đạo thứ 4
The Principle of Conflict
Nguyên khí Xung Đột
Governed by Ray IV
Được chi phối bởi cung IV
Active in the Human Kingdom, the 4th
Hoạt động trong Giới Nhân Loại, giới thứ 4
Leading to right Discrimination
Dẫn đến sự Phân Biện đúng đắn
2. The Initiation of Decision... 6th Initiation
2. Cuộc Điểm Đạo Quyết Định... lần điểm đạo thứ 6
The Principle of Decision
Nguyên khí Quyết Định
Governed by Ray III
Được chi phối bởi cung III
Active in the Hierarchy
Hoạt động trong Thánh đoàn
Leading to right Perception
Dẫn đến sự Nhận thức đúng đắn
and Participation
và sự Tham dự
3. The Initiation of Refusal... 9th Initiation
3. Cuộc Điểm Đạo Khước Từ... lần điểm đạo thứ 9
The Principle of liberated Being (shall we call it thus?)
Nguyên khí của Bản Thể được giải thoát (chúng ta hãy gọi như vậy chăng?)
Governed by all three major Rays
Được chi phối bởi cả ba Cung chính
Active in Shamballa
Hoạt động trong Shamballa
Leading to one or other of the 7 Paths
Dẫn đến một trong 7 Con Đường
In the above tabulation you have a wide and general picture of three major Principles, leading to three great spiritual events, each of which is an expression of the personality, the soul and the Monad. Where humanity as a whole is involved, the effect is upon the reincarnating soul of the human kingdom, then on the liberated souls of the members of the Hierarchy, and finally on the Being which is distinctive of the Council at Shamballa.
Trong bảng liệt kê trên, bạn có một bức tranh rộng lớn và khái quát về ba Nguyên khí lớn, dẫn đến ba biến cố tinh thần vĩ đại, mỗi biến cố là một biểu hiện của phàm ngã, linh hồn và chân thần. Khi toàn thể nhân loại có liên hệ, tác động là lên linh hồn tái sinh của giới nhân loại, rồi lên các linh hồn được giải thoát của các thành viên Thánh đoàn, và cuối cùng lên Bản Thể vốn là nét đặc trưng của Hội Đồng tại Shamballa.
A planned synthesis thus appears, producing immutability, [610] inevitability and correct prevision; it is also the result of the liberation of free will, and in no way infringes the right of the individual man or disciple to make free choice, once the Principle of Conflict has made him aware of the basic dualism of the manifested worlds. This presents him with a battleground and a field of experience wherein he makes great experimental choices and comes eventually to correct orientation and to the door of initiation, progressively revealed to him as the result of right choice, right perception and right decision. Thus the nine initiations are covered.
Như thế một sự tổng hợp có kế hoạch xuất hiện, tạo ra tính bất biến, [610] tính tất yếu và sự tiên liệu đúng đắn; nó cũng là kết quả của sự giải phóng ý chí tự do, và không hề xâm phạm quyền của con người hay đệ tử cá nhân trong việc đưa ra lựa chọn tự do, một khi Nguyên khí Xung Đột đã làm cho y ý thức được tính nhị nguyên căn bản của các thế giới biểu hiện. Điều này đặt trước y một chiến trường và một cánh đồng kinh nghiệm, nơi y thực hiện những lựa chọn thử nghiệm lớn lao và cuối cùng đi đến định hướng đúng và đến cánh cửa điểm đạo, dần dần được mặc khải cho y như là kết quả của lựa chọn đúng, nhận thức đúng và quyết định đúng. Như thế chín lần điểm đạo đều được bao quát.
The Principle of Conflict has a close connection with the Path of Discipleship, and here lies the reason for the inclusive and synthetic aspect of the present world conflict; though the physical aspects of the conflict are today greatly lessened (but are still present on a small scale in various parts of the world), the conflict is by no means over or yet resolved. It is still being violently waged by advanced human beings upon the mental plane and by the masses upon the plane of emotional reactions; it will be some time before the war truly is brought to a finish.
Nguyên khí Xung Đột có liên hệ mật thiết với Con Đường Đệ Tử, và chính ở đây có lý do cho phương diện bao gồm và tổng hợp của cuộc xung đột thế giới hiện nay; mặc dù các phương diện hồng trần của xung đột ngày nay đã giảm đi rất nhiều (nhưng vẫn còn hiện diện ở quy mô nhỏ tại nhiều nơi trên thế giới), xung đột hoàn toàn chưa chấm dứt hay được giải quyết. Nó vẫn đang được tiến hành dữ dội bởi những con người tiến bộ trên cõi trí và bởi quần chúng trên cõi của các phản ứng cảm xúc; sẽ còn một thời gian nữa trước khi chiến tranh thật sự được kết thúc.
There could, however, be no disaster more serious than a too abrupt ending of this clash of the emotional reactions of humanity and of the current ideologies. It is essential that the issues become still clearer in the minds of men, prior to any final choice or decision. This must be remembered, and students would do well to avoid discouragement and train themselves to wait with spiritual optimism for the way of humanity to clear. Too prompt a choice at this time might prove only a makeshift decision and one based on expediency and impatience. The Hierarchy is in no way discouraged, though somewhat concerned that the factor of timing may not prove correct.
Tuy nhiên, không thể có tai họa nào nghiêm trọng hơn một sự chấm dứt quá đột ngột của sự va chạm giữa các phản ứng cảm xúc của nhân loại và các hệ tư tưởng hiện hành. Điều cốt yếu là các vấn đề phải trở nên rõ ràng hơn nữa trong trí tuệ con người trước bất kỳ sự lựa chọn hay quyết định cuối cùng nào. Điều này phải được ghi nhớ, và các đạo sinh nên tránh nản lòng và tự rèn luyện để chờ đợi với tinh thần lạc quan cho đến khi con đường của nhân loại trở nên sáng tỏ. Một sự lựa chọn quá vội vàng vào lúc này có thể chỉ chứng tỏ là một quyết định tạm bợ và dựa trên tính vụ lợi cùng sự thiếu kiên nhẫn. Thánh đoàn hoàn toàn không nản lòng, dù có phần quan ngại rằng yếu tố thời điểm có thể không chứng tỏ là đúng.
This Principle of Conflict is a familiar one to every struggling aspirant and conditions his whole life, producing crises and tensions, sometimes almost past endurance; they indicate nevertheless rapid development and steady progress. The activity of this principle is greatly increased [611] at this time through the medium of the following spiritual events (the full discussion appears on pages 741-760):
Nguyên khí Xung Đột này là điều quen thuộc với mọi người chí nguyện đang đấu tranh và tác động định hình toàn bộ đời sống của y, tạo ra các khủng hoảng và căng thẳng, đôi khi gần như vượt quá sức chịu đựng; tuy nhiên, chúng cho thấy sự phát triển nhanh chóng và tiến bộ vững chắc. Hoạt động của nguyên khí này hiện đang được gia tăng mạnh mẽ [611] qua trung gian của các biến cố tinh thần sau đây (phần thảo luận đầy đủ xuất hiện ở các trang 741-760):
1. The crisis of the ideologies.
1. Cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng.
2. The awakening of humanity to better understanding.
2. Sự thức tỉnh của nhân loại đối với sự thấu hiểu tốt hơn.
3. The growth of goodwill which leads to the presentation of certain fundamental cleavages which must be bridged by human effort.
3. Sự tăng trưởng của thiện chí dẫn đến việc trình bày một số sự phân ly căn bản phải được bắt cầu bằng nỗ lực của con người.
4. The partial “sealing of the door where evil dwells.”
4. Sự “niêm phong một phần cánh cửa nơi điều ác ngự trị.”
5. The use of the Great Invocation with its extraordinary and rapid effects, at present unrealised by you.
5. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện với những tác động phi thường và nhanh chóng của nó, hiện nay bạn chưa nhận ra.
6. The gradual approach of the Hierarchy to a closer and more intimate relation to Humanity.
6. Sự tiếp cận dần dần của Thánh đoàn đến một mối liên hệ gần gũi và mật thiết hơn với Nhân loại.
7. The imminent return of the Christ.
7. Sự trở lại sắp xảy ra của Đức Christ.
There are other factors, but these will be adequate to demonstrate to you the increased expression of conflict on all the three levels of strictly human evolution. It is a conflict which has engulfed the masses in every land, which is still producing physical conflict, emotional strain and tremendous mental issues, and which will greatly lessen when the masses of people everywhere are convinced that right human relations are of far greater importance than greed, human pride, territorial grabbing, and material possessions.
Còn có những yếu tố khác, nhưng những điều này đủ để chứng minh cho bạn sự biểu lộ gia tăng của xung đột trên cả ba cấp độ của sự tiến hoá thuần túy nhân loại. Đó là một cuộc xung đột đã cuốn lấy quần chúng ở mọi quốc gia, vẫn đang tạo ra xung đột hồng trần, căng thẳng cảm xúc và những vấn đề trí tuệ to lớn, và sẽ giảm đi rất nhiều khi quần chúng ở khắp nơi được thuyết phục rằng những tương quan nhân loại đúng đắn quan trọng hơn rất nhiều so với lòng tham, lòng kiêu hãnh của con người, sự chiếm đoạt lãnh thổ và của cải vật chất.
The Effect of the Energy of Harmony through Conflict upon Humanity — Tác Động của Năng Lượng Hài Hòa qua Xung Đột lên Nhân Loại
It will be obvious that this ray energy, embodying the Principle of Conflict, has a unique and curious effect upon relationships. This is due to the interrelation of this Ray of Harmony through Conflict and the second Ray of Love-Wisdom; this second ray is primarily the ray of right human relations—as far as the fourth kingdom in nature is concerned. The energy of love governs all relations between souls and controls the Hierarchy, the Kingdom of Souls; the energy of wisdom should govern all relations within the fourth kingdom, the human; some day it will inevitably do so, hence the emphasis laid upon the need for soul-infused personalities in the world today, as promulgated by all true esoteric schools. [612]
Bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng năng lượng cung này, hiện thân cho Nguyên khí Xung Đột, có một tác động độc đáo và kỳ lạ lên các mối liên hệ. Điều này là do sự tương liên giữa cung Hài Hòa qua Xung Đột này và cung hai Bác Ái – Minh Triết; cung hai này trước hết là cung của những tương quan nhân loại đúng đắn—xét theo giới thứ tư trong thiên nhiên. Năng lượng bác ái chi phối mọi mối liên hệ giữa các linh hồn và kiểm soát Thánh đoàn, Vương Quốc của các Linh Hồn; năng lượng minh triết phải chi phối mọi mối liên hệ trong giới thứ tư, giới nhân loại; một ngày nào đó nó tất yếu sẽ làm như vậy, do đó mới có sự nhấn mạnh đặt lên nhu cầu về những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần trong thế giới ngày nay, như được mọi trường phái huyền bí chân chính công bố. [612]
It might be said that the effect of the Principle of Conflict, operating under Ray IV and controlled by Ray II, will be—as far as humanity is concerned—to bring about right human relations and the growth of the universal spirit of goodwill among men. Only the most benighted and uncouth of thinkers would fail to see that these two results of the conflict, engendered at this time, are the two most desirable factors for which all men of goodwill should work. The inflow of energy into humanity at this time is all in favour of such efforts, and the Principle of Conflict has worked so effectively that all men are desiring harmony, peace, equilibrium, right adjustment to life and circumstances, and right and balanced human relations.
Có thể nói rằng tác động của Nguyên khí Xung Đột, hoạt động dưới cung IV và được kiểm soát bởi cung II, sẽ là—xét theo nhân loại—đưa đến những tương quan nhân loại đúng đắn và sự tăng trưởng của tinh thần thiện chí phổ quát giữa loài người. Chỉ những nhà tư tưởng tối tăm và thô lậu nhất mới không thấy rằng hai kết quả này của cuộc xung đột, được tạo ra vào lúc này, là hai yếu tố đáng mong muốn nhất mà mọi người thiện chí nên nỗ lực vì chúng. Dòng năng lượng tuôn vào nhân loại lúc này hoàn toàn ủng hộ những nỗ lực như thế, và Nguyên khí Xung Đột đã hoạt động hiệu quả đến mức mọi người đều mong muốn hài hòa, hòa bình, quân bình, sự thích nghi đúng đắn với đời sống và hoàn cảnh, và những tương quan nhân loại đúng đắn và cân bằng.
In every country and among all types of men—sincerely or insincerely—the talk of the newspapers, on the radio and upon the lecture platforms is on behalf of harmony and a widespread recognition of the needed adjustments. Even the evil forces which still remain active hide their greedy purposes behind a spurious desire for world unity, world harmony and right human relations. The masses of the people in all lands have been convinced by the evidence made available by the Principle of Conflict that basic changes in man's attitude and goals must be brought about if humanity is to survive; they are, in their own ways (wisely or unwisely), seeking a solution.
Ở mọi quốc gia và giữa mọi loại người—chân thành hay không chân thành—những gì được nói đến trên báo chí, trên đài phát thanh và trên các diễn đàn thuyết giảng đều là vì sự hài hòa và sự nhìn nhận rộng rãi về những điều chỉnh cần thiết. Ngay cả các lực lượng ác vẫn còn hoạt động cũng che giấu những mục đích tham lam của chúng sau một khát vọng giả tạo về sự hợp nhất thế giới, hài hòa thế giới và những tương quan nhân loại đúng đắn. Quần chúng ở mọi quốc gia đã được thuyết phục bởi bằng chứng do Nguyên khí Xung Đột cung cấp rằng những thay đổi căn bản trong thái độ và mục tiêu của con người phải được thực hiện nếu nhân loại muốn tồn tại; họ đang, theo cách riêng của mình (khôn ngoan hay không khôn ngoan), tìm kiếm một giải pháp.
The war has produced much good—in spite of the destruction of forms. The causes of war are better understood; the issues involved are slowly being clarified; information about all nations—even when incorrectly presented—has awakened mankind to the fact of the One World; the community of pain, sorrow, anxiety, starvation and despair have brought all men closer together, and this relation is a far greater breeder of harmony than man realises; the world of men today is more closely knit subjectively (in spite of all outer cleavages and conflicts) than ever before in human history; there is a firmer determination to establish right human relations and a clearer perception of the factors involved; the new Principle of Sharing, [613] inherent in the second Ray of Love-Wisdom which is concerned so fundamentally with relationships, is gaining ground, and its potency is being released by the activity of the fourth Ray of Harmony through Conflict. This Principle of Sharing, though still divorced from any official sanctions, is under consideration and will some day be the governing factor in the economic life of the world, regulated and controlled by those men who are alert to human need upon the physical plane.
Chiến tranh đã tạo ra nhiều điều tốt đẹp—bất chấp sự hủy diệt các hình tướng. Nguyên nhân của chiến tranh được hiểu rõ hơn; các vấn đề liên hệ đang dần được làm sáng tỏ; thông tin về mọi quốc gia—ngay cả khi được trình bày không đúng—đã đánh thức nhân loại trước sự kiện về Một Thế Giới; sự đồng cảm trong đau đớn, buồn khổ, lo âu, đói khát và tuyệt vọng đã đưa mọi người đến gần nhau hơn, và mối liên hệ này là một tác nhân tạo ra hài hòa lớn hơn con người nhận ra; thế giới loài người ngày nay gắn bó với nhau chặt chẽ hơn về mặt chủ quan (bất chấp mọi sự phân ly và xung đột bên ngoài) hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại; có một quyết tâm vững chắc hơn để thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn và một nhận thức rõ ràng hơn về các yếu tố liên hệ; Nguyên khí Chia Sẻ mới, [613] vốn tiềm ẩn trong cung hai Bác Ái – Minh Triết, cung liên hệ rất căn bản đến các mối liên hệ, đang ngày càng được chấp nhận, và năng lực của nó đang được giải phóng bởi hoạt động của cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột. Nguyên khí Chia Sẻ này, dù vẫn chưa gắn với bất kỳ sự chuẩn nhận chính thức nào, đang được xem xét và một ngày nào đó sẽ là yếu tố chi phối trong đời sống kinh tế của thế giới, được điều chỉnh và kiểm soát bởi những người nhạy bén trước nhu cầu của con người trên cõi hồng trần.
This Principle of Conflict is also active in all institutions, groups and organisations in all lands and in every department of human thought. Its results are, first, the awakening of humanity to certain major human developments and possibilities, and secondly, it will lead to certain basic renunciations, once the issues are clearly seen and the cleavage which exists in reality between the desirable spiritual values and the undesirable material values has been made clear. In politics, for instance, the two-party system is based upon a correct premise, but it is not at present a satisfactory system because of human stupidity. It stands in truth for the reactionary groups in any land and also for the progressive party who are alert to the new possibilities; one party aims at the holding back of the life of the spirit, at clarifying by obstruction and at holding back or preventing the too rapid rushing forward of the impatient and the immature; the progressive party should be composed of those who are aware of the unneeded and old issues, and who pioneer all the time, even though frequently without much still in action. Such a clear line of demarcation between the two basic world parties is not yet possible, nor are the spiritual values of either group appreciated by the unthinking masses. Today, party politics are as selfish, and therefore as reactionary, as are the mass of men; the real good of humanity is not the goal of the average politician in either group, for usually only his own selfish ambition and the desire to preserve a certain political ideology which has put him into power are the goal of his efforts. [614]
Nguyên khí Xung Đột này cũng hoạt động trong mọi định chế, nhóm và tổ chức ở mọi quốc gia và trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Kết quả của nó, thứ nhất, là sự thức tỉnh của nhân loại trước một số phát triển và khả năng lớn của con người, và thứ hai, nó sẽ dẫn đến một số sự từ bỏ căn bản, một khi các vấn đề được thấy rõ và sự phân ly thực sự tồn tại giữa các giá trị tinh thần đáng mong muốn và các giá trị vật chất không đáng mong muốn đã được làm sáng tỏ. Chẳng hạn trong chính trị, hệ thống hai đảng dựa trên một tiền đề đúng, nhưng hiện nay không phải là một hệ thống thỏa đáng vì sự ngu muội của con người. Thực ra nó đại diện cho các nhóm phản động ở bất kỳ quốc gia nào và cũng cho đảng tiến bộ nhạy bén trước những khả năng mới; một đảng nhắm đến việc kìm hãm đời sống của tinh thần, làm sáng tỏ bằng sự cản trở và giữ lại hay ngăn chặn sự lao tới quá nhanh của những người thiếu kiên nhẫn và chưa trưởng thành; đảng tiến bộ lẽ ra phải gồm những người nhận thức được các vấn đề cũ kỹ và không cần thiết, và luôn luôn tiên phong, dù thường không có nhiều điều vẫn còn đang hoạt động. Một đường ranh giới phân định rõ ràng như thế giữa hai đảng cơ bản của thế giới hiện chưa thể có, và các giá trị tinh thần của cả hai nhóm cũng không được quần chúng thiếu suy nghĩ đánh giá đúng. Ngày nay, chính trị đảng phái cũng ích kỷ, và do đó cũng phản động, như chính quần chúng; lợi ích thực sự của nhân loại không phải là mục tiêu của chính khách trung bình trong bất kỳ nhóm nào, vì thường chỉ có tham vọng ích kỷ của riêng ông và mong muốn duy trì một hệ tư tưởng chính trị nào đó đã đưa ông lên nắm quyền mới là mục tiêu cho các nỗ lực của ông. [614]
The Principle of Conflict is working also in the churches, but more slowly, unfortunately, owing to the corruption and soporific effect of theological churchianity; I would have you note my choice of words; I said not “of Christianity,” for true Christianity, as Christ taught it, is free from theological abuses and must and will be restored or—perhaps more accurately—reach its first stage of expression.
Nguyên khí Xung Đột cũng đang hoạt động trong các giáo hội, nhưng chậm hơn, thật đáng tiếc, do ảnh hưởng suy đồi và gây mê ngủ của chủ nghĩa giáo hội thần học; tôi muốn bạn lưu ý đến cách chọn từ của tôi; tôi không nói “của Cơ Đốc giáo,” vì Cơ Đốc giáo chân chính, như Đức Christ đã dạy, không có những lạm dụng thần học và phải, và sẽ, được phục hồi hoặc—có lẽ nói chính xác hơn—đạt đến giai đoạn biểu lộ đầu tiên của nó.
Everywhere the fourth Ray of Harmony through Conflict is active in the human family and is dominating human affairs; everywhere in the life of the individual, in the lives of groups, organisations and churches, in the life of nations and in the life of mankind as a whole, the issues are being clarified, and humanity is being led from one renunciation to another, until some day the human kingdom will unitedly take the fourth initiation and the Great Renunciation will be accepted; this step, lying far ahead as yet in the future, will affiliate humanity with the Hierarchy and release millions of men from the thralldom of materialism. This moment in human history will inevitably come. The first indication that the distant vision has been glimpsed might perhaps be noted in the prevalent instinct to share, motivated at present by the instinct to self-preservation, but definitely developing as a possible mode of action upon the far horizon of man's thinking. True sharing definitely involves many little renunciations, and it is upon these small renunciations that the capacity for freedom is slowly being generated and the habit of renunciation can eventually be stabilised; this capacity and these habits, these unselfish activities and these spiritual habitual attitudes are the preparatory stages for the Initiation of Renunciation, just as the effort to serve one's fellowmen is preparatory to the taking of the third Initiation, of the Transfiguration.
Khắp nơi, cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột đang hoạt động trong gia đình nhân loại và đang chi phối các công việc của con người; khắp nơi trong đời sống cá nhân, trong đời sống của các nhóm, tổ chức và giáo hội, trong đời sống các quốc gia và trong đời sống của toàn thể nhân loại, các vấn đề đang được làm sáng tỏ, và nhân loại đang được dẫn dắt từ sự từ bỏ này sang sự từ bỏ khác, cho đến một ngày nào đó giới nhân loại sẽ cùng nhau tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư và Đại Từ Bỏ sẽ được chấp nhận; bước này, hiện còn ở rất xa trong tương lai, sẽ liên kết nhân loại với Thánh đoàn và giải thoát hàng triệu người khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa duy vật. Thời điểm này trong lịch sử nhân loại tất yếu sẽ đến. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh ảnh xa xôi ấy đã được thoáng thấy có lẽ có thể nhận ra trong bản năng phổ biến muốn chia sẻ, hiện nay được thúc đẩy bởi bản năng tự bảo tồn, nhưng chắc chắn đang phát triển như một phương thức hành động khả dĩ trên chân trời xa của tư tưởng con người. Sự chia sẻ chân chính chắc chắn bao hàm nhiều sự từ bỏ nhỏ, và chính trên những sự từ bỏ nhỏ này mà năng lực hướng đến tự do đang dần được tạo ra và thói quen từ bỏ cuối cùng có thể được ổn định; năng lực này và những thói quen này, những hoạt động vô ngã này và những thái độ tinh thần mang tính thói quen này là các giai đoạn chuẩn bị cho Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, cũng như nỗ lực phụng sự đồng loại là sự chuẩn bị cho việc tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba, Biến hình.
The Factor of the Ray of Love-Wisdom as it controls the Ray of Harmony through Conflict and implements the Return of the Christ — Yếu Tố của Cung Bác Ái – Minh Triết khi nó kiểm soát Cung Hài Hòa qua Xung Đột và thực hiện sự Trở Lại của Đức Christ
In the first paragraph of this instruction, I ascribed the inevitability of Christ's imminent return to the decision [615] of humanity to precipitate the existent conflict on to the physical plane, thus determining the sphere of Christ's activity. In earlier teachings also I have pointed out that He might come in one of three ways or in all three of them simultaneously. The issues which have emerged as the result of the conflict upon the physical plane, and of its shifting (by man's decision) today on to the mental plane, have made completely evident the fact that the locale of Christ's influence will be, therefore, the entire three worlds Of human evolution, which naturally includes the physical levels of experience and demands His physical Presence.
Trong đoạn đầu của huấn thị này, tôi đã quy tính tất yếu của sự trở lại sắp xảy ra của Đức Christ cho quyết định [615] của nhân loại trong việc ngưng tụ cuộc xung đột hiện hữu xuống cõi hồng trần, như thế quyết định phạm vi hoạt động của Đức Christ. Trong các giáo huấn trước đây, tôi cũng đã chỉ ra rằng Ngài có thể đến theo một trong ba cách hoặc đồng thời theo cả ba cách ấy. Các vấn đề đã xuất hiện như là kết quả của cuộc xung đột trên cõi hồng trần, và của việc nó được chuyển dịch (do quyết định của con người) ngày nay lên cõi trí, đã làm hiển lộ hoàn toàn sự kiện rằng địa điểm ảnh hưởng của Đức Christ, do đó, sẽ là toàn bộ ba cõi giới của sự tiến hoá nhân loại, điều này tự nhiên bao gồm các cấp độ kinh nghiệm hồng trần và đòi hỏi Sự Hiện Diện hồng trần của Ngài.
Let me make the facts somewhat clearer and enlarge somewhat upon these three modes of His appearing, of His coming, His advent and of His physical recognition by humanity:
Để tôi làm cho các sự kiện rõ ràng hơn đôi chút và khai triển thêm đôi chút về ba phương thức xuất hiện của Ngài, về sự đến của Ngài, cuộc giáng lâm của Ngài và sự được nhân loại nhận biết về mặt hồng trần của Ngài:
1. By His overshadowing of all initiates and disciples who are today, or will be at the time of His arrival, active in the three worlds of human evolution. This involves His influencing their minds telepathically. This overshadowing or influencing will be His primary work upon the mental plane. This will constitute one of His most effective methods in His proposed spiritual interference in world affairs. Through the medium of these members or affiliates of the Hierarchy, He will have outposts of His consciousness in every nation. Through them He can work.
1. Bằng sự phủ bóng của Ngài lên tất cả các điểm đạo đồ và đệ tử hiện nay đang hoạt động, hoặc sẽ hoạt động vào lúc Ngài quang lâm, trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại. Điều này bao hàm việc Ngài ảnh hưởng lên trí tuệ của họ bằng viễn cảm. Sự phủ bóng hay ảnh hưởng này sẽ là công việc chính yếu của Ngài trên cõi trí. Điều này sẽ tạo thành một trong những phương pháp hữu hiệu nhất của Ngài trong sự can thiệp tinh thần mà Ngài dự định thực hiện vào các công việc thế giới. Qua trung gian của các thành viên hay các cộng sự viên này của Thánh Đoàn, Ngài sẽ có những tiền đồn của tâm thức Ngài trong mọi quốc gia. Qua họ, Ngài có thể hoạt động.
2. By the pouring out of the Christ life or consciousness upon the masses everywhere and in every nation. This spiritual inflow will bring about the reorienting of human desire and will evoke the emotional reaction to His Presence. This therefore brings the astral plane within the active sphere of His influence; this involves the release of the energy of goodwill into the hearts of men, predisposing them towards right human relations. It is this establishing of right relations which is the major objective of His coming triple activity. The masses everywhere will be responsive to the work and the message of the Christ, as it is [616] implemented from the mental plane by the disciples and initiates, overshadowed by the mind of Christ.
2. Bằng sự tuôn đổ sự sống hay tâm thức của Đức Christ lên quần chúng ở khắp nơi và trong mọi quốc gia. Dòng tuôn đổ tinh thần này sẽ đem lại sự tái định hướng của dục vọng nhân loại và sẽ khơi dậy phản ứng cảm xúc đối với Hiện Diện của Ngài. Vì vậy, điều này đưa cõi cảm dục vào trong phạm vi hoạt động của ảnh hưởng Ngài; điều này bao hàm sự giải phóng năng lượng thiện chí vào trái tim con người, khiến họ thiên về các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Chính việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn này là mục tiêu chủ yếu của hoạt động tam phân mà sự quang lâm của Ngài sẽ thực hiện. Quần chúng ở khắp nơi sẽ đáp ứng với công việc và thông điệp của Đức Christ, khi điều đó được [616] các đệ tử và điểm đạo đồ, được trí của Đức Christ phủ bóng, thực hiện từ cõi trí.
3. By His physical appearance among men. Through His Own immediate appearance, He can establish a potent focal point of hierarchical energy upon Earth in a manner not hitherto possible. He has never deserted humanity and has always kept His promise to stay with us all the days, even unto the end of the age. Men in all lands will know where He can be found. The locale of this focal point of His threefold spiritual activity cannot here be disclosed, for it is contingent upon the results of the sequential processes of overshadowing and outpouring.
3. Bằng sự xuất hiện hồng trần của Ngài giữa loài người. Qua chính sự xuất hiện trực tiếp của Ngài, Ngài có thể thiết lập một tiêu điểm mãnh liệt của năng lượng Thánh đoàn trên Trái Đất theo một cách mà trước đây chưa thể có. Ngài chưa bao giờ bỏ rơi nhân loại và luôn giữ lời hứa ở cùng chúng ta mọi ngày, cho đến tận cùng thời đại. Con người ở mọi xứ sở sẽ biết có thể tìm thấy Ngài ở đâu. Địa điểm của tiêu điểm này cho hoạt động tinh thần tam phân của Ngài không thể được tiết lộ ở đây, vì nó tùy thuộc vào kết quả của các tiến trình tuần tự là phủ bóng và tuôn đổ.
The first of the methods which will lead to the eventual physical reappearance of the Christ has already been set in motion; disciples and initiates in all lands are starting the work preparatory to the outpouring of the Christ spiritual force, leading to the awakening of the Christ consciousness (as it is usually called) in the hearts of men. This outpouring will come as the result of three activities:
Phương pháp thứ nhất trong các phương pháp sẽ dẫn đến sự tái xuất hiện hồng trần sau cùng của Đức Christ đã được khởi động; các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi xứ sở đang bắt đầu công việc chuẩn bị cho sự tuôn đổ mãnh lực tinh thần của Đức Christ, dẫn đến sự thức tỉnh tâm thức Christ (như thường được gọi) trong trái tim con người. Sự tuôn đổ này sẽ đến như kết quả của ba hoạt động:
1. The work and the teaching of the trained disciples and initiates, as each of them, in his own way, points out the surety of Christ's coming and thus implements the innate expectancy of the masses.
1. Công việc và giáo huấn của các đệ tử và điểm đạo đồ đã được huấn luyện, khi mỗi người trong họ, theo cách riêng của mình, chỉ ra tính chắc chắn của sự quang lâm của Đức Christ và nhờ đó thực hiện sự mong đợi bẩm sinh của quần chúng.
2. The evocation of a united hierarchical response through the use of the Great Invocation. You will note how this invocation can be interpreted in terms of the three modes of the return of the Christ:
2. Sự gợi lên một đáp ứng hợp nhất của Thánh đoàn qua việc sử dụng Đại Khấn Nguyện. Bạn sẽ lưu ý cách khấn nguyện này có thể được diễn giải theo ba phương thức quang lâm của Đức Christ:
a. “Let Light stream forth into the minds of men.”
a. “Hãy để Ánh sáng tuôn đổ vào trí tuệ loài người.”
The influencing of the minds of disciples.
Sự ảnh hưởng lên trí tuệ của các đệ tử.
The enlightening of intelligent humanity.
Sự soi sáng nhân loại thông minh.
The mental plane.
Cõi trí.
Stanza I.
Bài kệ I.
b. “Let Love stream forth into the hearts of men.”
b. “Hãy để Tình thương tuôn đổ vào trái tim loài người.”
The influencing of the masses everywhere.
Sự ảnh hưởng lên quần chúng ở khắp nơi.
The outpouring of the Christ spirit.
Sự tuôn đổ tinh thần của Đức Christ.
The astral plane.
Cõi cảm dục.
Stanza II. [617]
Bài kệ II. [617]
c. “The Purpose which the Masters know and serve.”
c. “Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự.”
The anchoring of hierarchical energy on Earth.
Sự neo giữ năng lượng Thánh đoàn trên Trái Đất.
The physical appearance of the Christ.
Sự xuất hiện hồng trần của Đức Christ.
The physical plane.
Cõi hồng trần.
Stanza III.
Bài kệ III.
What this divine purpose may be the Christ Himself will reveal upon His arrival; the focal point of His activity will be dependent upon the medium used by Him to implement that purpose—known only to Him and to the senior members of the Hierarchy. Should politics be the medium through which He best can serve, that then will determine the locality of the focal point; if it should be the religious organisations of the world, it may prove to be elsewhere; if the field of economics or of the social sciences, then still another locality may prove appropriate. The determining factor in all cases, and that which will indicate to Him the appropriate place for this focal point, will be the number and the ability and status of the disciples found active in the chosen field. More, I may not suggest.
Thiên Ý này có thể là gì thì chính Đức Christ sẽ mặc khải khi Ngài quang lâm; tiêu điểm hoạt động của Ngài sẽ tùy thuộc vào phương tiện mà Ngài dùng để thực hiện Thiên Ý đó—chỉ mình Ngài và các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn biết. Nếu chính trị là phương tiện mà qua đó Ngài có thể phụng sự tốt nhất, thì điều đó sẽ quyết định địa điểm của tiêu điểm; nếu đó là các tổ chức tôn giáo của thế giới, thì có thể sẽ là một nơi khác; nếu là lĩnh vực kinh tế hay khoa học xã hội, thì một địa điểm khác nữa có thể thích hợp. Yếu tố quyết định trong mọi trường hợp, và điều sẽ chỉ cho Ngài nơi thích hợp cho tiêu điểm này, sẽ là số lượng, khả năng và địa vị của các đệ tử được thấy đang hoạt động trong lĩnh vực được chọn. Tôi không thể gợi ý thêm.
3. The demand or prayer or outgoing desire of the masses for the appearance of a Liberator and for the establishing of right human relations, plus the work of all the spiritually-minded people in all nations and of all faiths. All these three factors are today present but have not yet the needed potency to prove immediately effective. This triple nucleus of determining factors is, however, already firmly established; in this fact is to be found a sure ground for a sane optimism.
3. Nhu cầu hay lời cầu nguyện hay dục vọng hướng ngoại của quần chúng đối với sự xuất hiện của một Đấng Giải Thoát và đối với việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, cộng với công việc của tất cả những người có tinh thần ở mọi quốc gia và thuộc mọi tín ngưỡng. Cả ba yếu tố này ngày nay đều hiện diện nhưng chưa có đủ mãnh lực cần thiết để chứng tỏ hiệu quả tức thời. Tuy nhiên, hạt nhân tam phân của các yếu tố quyết định này đã được thiết lập vững chắc; chính trong sự kiện này có thể tìm thấy một nền tảng chắc chắn cho một sự lạc quan lành mạnh.
It should be pointed out that the Principle of Conflict is motivated strongly by these same factors. The over-shadowing of all disciples and initiates, and the consequent stimulation of their natures and of their environment, must inevitably produce conflict; the outpouring of the stimulating love of God into the hearts of men must equally and inevitably produce conflict; the line of cleavage between men of goodwill and the unresponsive natures of those uninfluenced by this quality will be made abundantly, usefully and constructively clear. It will be obvious also [618] that when Christ establishes the “centre or focal point of the divine Purpose” in some definite place on Earth, its radiation and implementary potency will also produce the needed conflict which precedes the clarification and the renunciation of obstructions.
Cần chỉ ra rằng Nguyên Khí Xung Đột cũng được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chính các yếu tố này. Sự phủ bóng lên tất cả các đệ tử và điểm đạo đồ, và sự kích thích tiếp theo đối với bản chất của họ và môi trường của họ, tất yếu phải tạo ra xung đột; sự tuôn đổ tình thương kích thích của Thượng đế vào trái tim con người cũng đồng thời và tất yếu tạo ra xung đột; đường phân cách giữa những người thiện chí và bản chất không đáp ứng của những kẻ không bị ảnh hưởng bởi phẩm tính này sẽ được làm cho rõ ràng một cách dồi dào, hữu ích và có tính xây dựng. Cũng sẽ hiển nhiên [618] rằng khi Đức Christ thiết lập “trung tâm hay tiêu điểm của Thiên Ý” tại một nơi xác định nào đó trên Trái Đất, sự bức xạ và hiệu lực thực thi của nó cũng sẽ tạo ra xung đột cần thiết, vốn đi trước sự làm sáng tỏ và sự từ bỏ các chướng ngại.
But there will come a point in all these three spheres of Christ's proposed activity when conflict will be superseded by harmony; this is due to the fact that the energy of harmony through conflict is under the control or influence of the energy of the second Ray of Love-Wisdom. As far as humanity as a sum total is concerned, the conflict of ideas and of emotional desire is today so acute that it will finally exhaust itself, and men will turn, with relief and with a longing to escape from further turmoil, towards right human relations; this will constitute the first major human decision leading to the longed-for harmony. The attitude of the masses will then be soundly tending towards harmony, owing to the work of the men and women of goodwill as they implement the “streaming forth of the love of God into the hearts of men.”
Nhưng sẽ đến một thời điểm trong cả ba lĩnh vực hoạt động mà Đức Christ dự định này khi xung đột sẽ được thay thế bằng hài hoà; điều này là do năng lượng của hài hoà qua xung đột nằm dưới sự kiểm soát hay ảnh hưởng của năng lượng cung hai Bác Ái – Minh Triết. Xét về nhân loại như một tổng thể, xung đột của các ý tưởng và của dục vọng cảm xúc ngày nay gay gắt đến mức cuối cùng nó sẽ tự làm kiệt quệ, và con người sẽ quay về, với sự nhẹ nhõm và với khát vọng thoát khỏi những hỗn loạn tiếp theo, hướng tới các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; điều này sẽ tạo thành quyết định lớn đầu tiên của nhân loại dẫn đến sự hài hoà được mong mỏi. Khi đó thái độ của quần chúng sẽ vững vàng hướng về hài hoà, nhờ công việc của những người nam và nữ thiện chí khi họ thực hiện “sự tuôn đổ tình thương của Thượng đế vào trái tim loài người.”
We have now reached a point where the inevitability of Christ's return is established, scientifically and under law; this constitutes a call which He may not deny and one which He must obey. This fourth Ray of Harmony through Conflict works (where the initiatory process is concerned) through the heart, or through what esotericists call “the heart centre”—the focal point through which the energy of love can flow. When the Christ founds His focal point on Earth, it will be in the nature of a tiny heart centre through which the love energy of the Hierarchy can persistently flow. The harmony (which the Principle of Conflict produces) causes an alignment, so that the love—streaming forth from the Heart of God—enters the hearts of men; so that the Hierarchy (which is the heart centre or the place where love prevails upon our planet) is brought into relationship with humanity; so that the New Group of World Servers (implementing the love of God and enlightened by the Mind of God) are brought also into relation with the [619] men and women of goodwill in all lands whose task it is to make men's hearts responsive to and receptive of the love of God; this is another way of saying receptive to the consciousness of the Christ.
Giờ đây chúng ta đã đạt đến một điểm mà tính tất yếu của sự trở lại của Đức Christ đã được xác lập, một cách khoa học và dưới định luật; điều này tạo thành một tiếng gọi mà Ngài không thể từ chối và một tiếng gọi mà Ngài phải tuân theo. Cung bốn Hài Hoà qua Xung Đột này hoạt động (xét về tiến trình điểm đạo) qua tim, hay qua điều mà các nhà huyền bí học gọi là “trung tâm tim”—tiêu điểm mà qua đó năng lượng bác ái có thể tuôn chảy. Khi Đức Christ thiết lập tiêu điểm của Ngài trên Trái Đất, nó sẽ có bản chất của một trung tâm tim nhỏ bé mà qua đó năng lượng bác ái của Thánh Đoàn có thể tuôn chảy bền bỉ. Sự hài hoà (do Nguyên Khí Xung Đột tạo ra) gây nên một sự chỉnh hợp, để cho tình thương—tuôn đổ từ Trái Tim của Thượng đế—đi vào trái tim con người; để cho Thánh Đoàn (là trung tâm tim hay nơi mà bác ái ngự trị trên hành tinh chúng ta) được đưa vào mối liên hệ với nhân loại; để cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian (thực hiện tình thương của Thượng đế và được Trí của Thượng đế soi sáng) cũng được đưa vào mối liên hệ với [619] những người nam và nữ thiện chí ở mọi xứ sở, mà nhiệm vụ của họ là làm cho trái tim con người đáp ứng và tiếp nhận tình thương của Thượng đế; đây là một cách khác để nói rằng tiếp nhận tâm thức của Đức Christ.
This alignment is now in process of being made; it will be brought about automatically when the effectiveness of the Principle of Conflict in producing liberation is generally recognised. Thus the hearts of men, the heart of the planet, i.e., the Hierarchy, and the heart of the Hierarchy, the Christ, are in a state of positive contact; when this channel is open and unobstructed, then the Christ will come. Nothing can stop His appearance and—under law—He may not turn His back upon the presented opportunity.
Sự chỉnh hợp này hiện đang trong tiến trình được thực hiện; nó sẽ được mang lại một cách tự động khi hiệu quả của Nguyên Khí Xung Đột trong việc tạo ra giải thoát được nhìn nhận rộng rãi. Như vậy, trái tim con người, trái tim của hành tinh, tức là Thánh Đoàn, và trái tim của Thánh Đoàn, tức là Đức Christ, đang ở trong trạng thái tiếp xúc tích cực; khi kênh này được mở ra và không bị cản trở, thì Đức Christ sẽ đến. Không gì có thể ngăn chặn sự xuất hiện của Ngài và—dưới định luật—Ngài không thể quay lưng với cơ hội được trao ra.
Thus, eventually, the Lord of Love—in response to the invocative cry of humanity, aroused by the Principle of Conflict—must “proceed again to the high place of sacrifice and walk openly with men on Earth.” His heart, embodying as it does the love of God, is drawn forth from the heart of the planet (the Hierarchy) to the hearts of men, and the path of His return to Earth service stands unchallenged and unobstructed. Again, under law, a profound optimism is engendered and may be rightly developed.
Như vậy, cuối cùng, Chúa Tể của Bác Ái—đáp lại tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại, được Nguyên Khí Xung Đột khơi dậy—phải “một lần nữa tiến lên nơi cao của hi sinh và công khai bước đi với loài người trên Trái Đất.” Trái tim của Ngài, vì hiện thân cho tình thương của Thượng đế, được kéo ra từ trái tim của hành tinh (Thánh Đoàn) đến trái tim con người, và con đường Ngài trở lại phụng sự trên Trái Đất đứng vững, không bị thách thức và không bị cản trở. Một lần nữa, dưới định luật, một sự lạc quan sâu xa được sinh ra và có thể được phát triển một cách đúng đắn.
The heart centre of humanity is created by the sum total of the hearts (symbolically speaking) of all those men of goodwill (in or out of the churches and irrespective of their political concepts) who are serving their fellowmen, sponsoring human welfare movements, working for the establishing of right human relations, and constantly offsetting the separativeness of the human mind through the inclusiveness of the divine love nature. You have, therefore, as a guarantee of the return of Christ into public recognition, an implementing of a great alignment. This alignment, when effectively concluded, will bring about a clear channel or pathway of return or line of light or magnetic power between:
Trung tâm tim của nhân loại được tạo nên bởi tổng số các trái tim (nói theo biểu tượng) của tất cả những người thiện chí ấy (ở trong hay ngoài các giáo hội và bất kể quan niệm chính trị của họ) đang phụng sự đồng loại, bảo trợ các phong trào phúc lợi nhân loại, hoạt động cho việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, và không ngừng hóa giải tính chia rẽ của trí tuệ con người bằng tính bao gồm của bản chất bác ái thiêng liêng. Vì vậy, bạn có, như một bảo chứng cho sự trở lại của Đức Christ vào sự nhìn nhận công khai, một sự thực hiện của một chỉnh hợp lớn lao. Sự chỉnh hợp này, khi được hoàn tất một cách hữu hiệu, sẽ đem lại một kênh rõ ràng hay một con đường trở lại hay một đường ánh sáng hay quyền năng từ tính giữa:
1. The centre where the will of God is known. This is Shamballa where the will-to-good originates. This will-to-good is essential love. [620]
1. Trung tâm nơi ý chí của Thượng đế được biết đến. Đây là Shamballa, nơi Ý Chí-hướng Thiện phát sinh. Ý Chí-hướng Thiện này là tình thương cốt yếu. [620]
2. The Hierarchy, which is the planetary heart centre.
2. Thánh Đoàn, là trung tâm tim của hành tinh.
3. The Christ, the very heart of love within the Hierarchy.
3. Đức Christ, chính là trái tim của bác ái bên trong Thánh Đoàn.
4. The initiates, disciples and aspirants who form the New Group of World Servers, seeking to embody the love and light needed in the world today.
4. Các điểm đạo đồ, đệ tử và người chí nguyện tạo thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đang tìm cách hiện thân cho tình thương và ánh sáng cần thiết trong thế giới ngày nay.
5. The hearts of the men of goodwill in all lands who are responsive to love as it can express itself through right human relations.
5. Trái tim của những người thiện chí ở mọi xứ sở, những người đáp ứng với tình thương khi nó có thể biểu lộ qua các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.
6. The focal point through which the Lord of Love will work on Earth.
6. Tiêu điểm mà qua đó Chúa Tể của Bác Ái sẽ hoạt động trên Trái Đất.
If you will study this sixfold progression of divine love from the highest manifestation of Deity down to its appearance through the medium of some focal point in our known modern world, it will be apparent to you that a very definite “structure of approach” has been created, and that a “Path of Return” is being constructed which will bring the long-awaited Christ into our midst. Nothing can stop or prevent His return today; the evidence of this structure can be seen everywhere.
Nếu bạn nghiên cứu sự tiến triển lục phân này của tình thương thiêng liêng từ biểu hiện cao nhất của Thượng đế xuống đến sự xuất hiện của nó qua trung gian của một tiêu điểm nào đó trong thế giới hiện đại quen thuộc của chúng ta, thì bạn sẽ thấy rõ rằng một “cấu trúc tiếp cận” rất xác định đã được tạo ra, và một “Con Đường Trở Về” đang được xây dựng, con đường sẽ đưa Đức Christ được chờ đợi từ lâu vào giữa chúng ta. Không gì ngày nay có thể ngăn chặn hay cản trở sự trở lại của Ngài; bằng chứng của cấu trúc này có thể được thấy ở khắp nơi.
The Effect of the Ray of Harmony through Conflict in the modern world of Nations — Hiệu quả của cung Hài Hoà qua Xung Đột trong thế giới hiện đại của các Quốc gia
As we approach what some may regard as a highly controversial subject, I would remind you that we must attempt to see the picture whole in some such manner as the Agents of the divine Will see it, embracing the past of the nations involved (a past which is seldom good), seeing the effects of that past as they work out in the present and as they are the inevitable result of the Law of Cause and Effect, and attempting also to foresee the future in terms of lessons learnt and new habits of a better nature established (written in 1948). I would remind you also that the governing principle of this ray is conditioning all the nations and has done so with increasing potency since the year 1850. Just in the same manner as this principle of conflict controls the battling life of the aspirant and of the world aspirant, the entire human family, so it must [621] inevitably control the life of nations to a greater or lesser degree, according to their materialistic or their spiritual status, according to the type of energy which may be expressing itself through them, and according to the age of the nation under consideration. From certain angles, the youngest of the nations are Germany and Italy, for they only arrived at nationhood in the nineteenth century; the oldest nation with the clearest unified record is Japan. The United States of America is always regarded as a young nation, but from the angle of a unified central government, the two Axis Powers are still younger, and this has had a definite bearing on their activities.
Khi chúng ta tiến đến điều mà một số người có thể xem là một chủ đề rất gây tranh cãi, tôi muốn nhắc bạn rằng chúng ta phải cố gắng nhìn toàn cảnh theo một cách nào đó giống như các Tác Nhân của Ý Chí thiêng liêng nhìn thấy nó, bao quát quá khứ của các quốc gia liên hệ (một quá khứ hiếm khi tốt đẹp), thấy các hiệu quả của quá khứ ấy khi chúng vận hành trong hiện tại và khi chúng là kết quả tất yếu của Định luật Nhân Quả, đồng thời cũng cố gắng thấy trước tương lai theo các bài học đã học được và các thói quen mới có bản chất tốt đẹp hơn đã được thiết lập (viết năm 1948). Tôi cũng muốn nhắc bạn rằng nguyên lý chi phối của cung này đang tác động lên tất cả các quốc gia và đã làm như vậy với mãnh lực ngày càng tăng kể từ năm 1850. Cũng đúng như nguyên lý xung đột này kiểm soát đời sống chiến đấu của người chí nguyện và của người chí nguyện thế giới, tức toàn thể gia đình nhân loại, thì nó cũng tất yếu [621] kiểm soát đời sống của các quốc gia ở mức độ lớn hay nhỏ, tùy theo địa vị vật chất hay tinh thần của họ, tùy theo loại năng lượng có thể đang biểu lộ qua họ, và tùy theo tuổi đời của quốc gia đang được xét đến. Từ một số góc độ, trẻ nhất trong các quốc gia là Đức và Ý, vì họ chỉ đạt đến tư cách quốc gia trong thế kỷ mười chín; quốc gia lâu đời nhất với hồ sơ thống nhất rõ ràng nhất là Nhật Bản. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ luôn được xem là một quốc gia trẻ, nhưng xét từ góc độ một chính quyền trung ương thống nhất, hai Cường quốc Trục còn trẻ hơn nữa, và điều này đã có ảnh hưởng rõ rệt lên các hoạt động của họ.
In the world at this time the two aspects of this fourth ray—the aspect or Principle of Conflict and the aspect or Principle of Harmony—are struggling to bring about the liberation into equilibrium of mankind. Until quite lately, the Principle of Conflict has grown increasingly in power, yet as a result of this conflict a definite trend towards harmony can be seen emerging in human thinking; the concept of harmony through the establishing of right human relations is slowly coming into recognition. The activities of mankind, and particularly of governments, have been ignobly selfish and controlled by the concepts of fighting, aggression and competition for untold millenia; the territories of the planet have changed hands many times and the earth has been the playground of a long succession of conquerors; the heroes of the race—perpetuated in history, stone and human thinking—have been the warriors, and conquest has been an ideal. The world war (1914-1945) marked a culminating point in the work of the Principle of Conflict and, as I have shown, the results of this work are today inaugurating a new era of harmony and cooperation because the trend of human thinking is towards the cessation of conflict. This is an event of major importance and should be regarded as indicating a turning point in human affairs. This trend is impulsed by a weariness of fighting, by a changing rating as to the values in human accomplishment, and by a recognition that true greatness [622] is not expressed through such activities as those of Alexander the Great, Julius Caesar, Napoleon or Hitler, but by those who see life, humanity and the world as one united whole, interrelated, cooperative and harmonised. Those who struggle for this world unity, and who educate the race in the Principles of Harmony and of right human relations, will some day be recognised as the true heroes.
Trong thế giới vào lúc này, hai phương diện của cung bốn này—phương diện hay Nguyên Khí Xung Đột và phương diện hay Nguyên Khí Hài Hoà—đang đấu tranh để đem lại sự giải phóng vào thế quân bình của nhân loại. Cho đến khá gần đây, Nguyên Khí Xung Đột đã ngày càng tăng quyền lực, tuy nhiên như một kết quả của xung đột này, một xu hướng rõ rệt hướng tới hài hoà có thể được thấy đang xuất hiện trong tư tưởng nhân loại; khái niệm về hài hoà qua việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người đang chậm rãi được nhìn nhận. Các hoạt động của nhân loại, và đặc biệt của các chính phủ, đã ích kỷ một cách thấp hèn và bị kiểm soát bởi các khái niệm chiến đấu, xâm lược và cạnh tranh trong vô số thiên niên kỷ; các lãnh thổ của hành tinh đã đổi chủ nhiều lần và trái đất đã là sân chơi của một chuỗi dài những kẻ chinh phục; các anh hùng của nhân loại—được lưu truyền trong lịch sử, trong đá và trong tư tưởng con người—đã là các chiến binh, và chinh phục đã là một lý tưởng. Đại chiến thế giới (1914-1945) đánh dấu một điểm cực thịnh trong công việc của Nguyên Khí Xung Đột và, như tôi đã chỉ ra, các kết quả của công việc này ngày nay đang khai mở một kỷ nguyên mới của hài hoà và hợp tác vì xu hướng của tư tưởng nhân loại là hướng tới sự chấm dứt xung đột. Đây là một biến cố có tầm quan trọng lớn lao và nên được xem như chỉ ra một bước ngoặt trong các công việc nhân loại. Xu hướng này được thúc đẩy bởi sự mệt mỏi vì chiến đấu, bởi một sự thay đổi trong cách đánh giá các giá trị của thành tựu nhân loại, và bởi sự nhìn nhận rằng sự vĩ đại đích thực [622] không được biểu lộ qua những hoạt động như của Alexander Đại Đế, Julius Caesar, Napoleon hay Hitler, mà bởi những ai nhìn sự sống, nhân loại và thế giới như một toàn thể hợp nhất, tương liên, hợp tác và hài hoà. Những ai đấu tranh cho sự hợp nhất thế giới này, và giáo dục nhân loại về các Nguyên Khí Hài Hoà và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, một ngày nào đó sẽ được nhìn nhận là những anh hùng chân chính.
The factor that must and will relate the Principle of Conflict to the expression of harmony and bring about the new world order, the new civilisation and culture, is the trend and the voice of public opinion, and the opportunity offered to people everywhere to bring about social security and right human relations. It is not the government of any nation which will bring this about, but the innate rightness of the people themselves when they have been educated to see the issues clearly, the relationships which should be established, and the immense subjective unity of mankind. This will not come about without an intensive period of planned education, of a truly free press and radio—both free to speak the exact truth and to present the facts as they occur, without being controlled or influenced by governmental interference, pressure groups, religious organisations, or by any dictating parties or dictators. The sin of the Roman Catholic Church is its effort to dictate to people what they should think—theologically and politically—what they should do, read and wear; this, to a still greater extent, is the crime of Russia. The mass of the people in the strictly Catholic countries are not as free in their thinking as are those living in the Protestant lands; the Russian people know no freedom and have no opportunity to form their own point of view; commercial interests and expediency impose restrictions in other countries. By means of these sources of control, the growth of true understanding is prevented, distorted or stunted. Curiously enough, the intention of the dictating agents, in both the Catholic Church and in Russia, is basically good; they believe that the uneducated masses are not fitted to decide for themselves what they should hear, think or [623] decide; they must therefore be protected—in the one case by decrees and prohibitions from the Vatican (via the organised priesthood) as to right attitude and right action to be followed without questioning; and in the other, by withholding the truth as to events and happenings. But men are awakening everywhere and—given some sound leadership, which at present is not to be found in any country in the world—they can be trusted to swing the tide into a great harmonising and unifying movement.
Yếu tố phải và sẽ liên hệ Nguyên Khí Xung Đột với sự biểu lộ của hài hoà và đem lại trật tự thế giới mới, nền văn minh và văn hoá mới, là xu hướng và tiếng nói của dư luận quần chúng, cùng cơ hội được trao cho con người ở khắp nơi để đem lại an sinh xã hội và các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Không phải chính phủ của bất kỳ quốc gia nào sẽ đem lại điều này, mà là sự đúng đắn bẩm sinh của chính người dân khi họ đã được giáo dục để thấy rõ các vấn đề, các mối liên hệ cần được thiết lập, và sự hợp nhất chủ quan bao la của nhân loại. Điều này sẽ không xảy ra nếu không có một giai đoạn giáo dục chuyên sâu có kế hoạch, một nền báo chí và phát thanh thực sự tự do—cả hai đều tự do nói lên sự thật chính xác và trình bày các sự kiện như chúng xảy ra, mà không bị kiểm soát hay ảnh hưởng bởi sự can thiệp của chính phủ, các nhóm áp lực, các tổ chức tôn giáo, hay bất kỳ đảng phái hay nhà độc tài nào áp đặt. Tội lỗi của Giáo hội Công giáo La Mã là nỗ lực áp đặt cho con người phải nghĩ gì—về thần học và chính trị—phải làm gì, đọc gì và mặc gì; điều này, ở mức độ còn lớn hơn, là tội ác của nước Nga. Quần chúng ở các quốc gia thuần Công giáo không được tự do trong tư tưởng như những người sống ở các xứ Tin Lành; người dân Nga không biết đến tự do và không có cơ hội hình thành quan điểm riêng của mình; các quyền lợi thương mại và tính vụ lợi áp đặt những hạn chế ở các quốc gia khác. Bằng các nguồn kiểm soát này, sự tăng trưởng của sự thấu hiểu chân chính bị ngăn cản, bóp méo hoặc làm còi cọc. Điều kỳ lạ là ý định của các tác nhân áp đặt, cả trong Giáo hội Công giáo lẫn ở Nga, về căn bản là tốt; họ tin rằng quần chúng chưa được giáo dục không thích hợp để tự quyết định điều họ nên nghe, nghĩ hay [623] quyết định; vì thế họ phải được bảo vệ—trong trường hợp này bằng các sắc lệnh và cấm đoán từ Vatican (qua hàng giáo phẩm có tổ chức) về thái độ đúng và hành động đúng phải được tuân theo mà không được chất vấn; và trong trường hợp kia, bằng việc che giấu sự thật về các biến cố và sự việc. Nhưng con người đang thức tỉnh ở khắp nơi và—nếu được trao một sự lãnh đạo lành mạnh, điều hiện nay không thể tìm thấy ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới—họ có thể được tin cậy để xoay chuyển dòng triều thành một phong trào lớn lao của hài hoà và hợp nhất.
As we study the effect of the Principle of Conflict as the instigator of eventual harmony in relation to the nations. let us remember that the widespread extent of the conflict is indicative of climax, that the “points of crisis” which express the conflict are today well known to all men, that a “point of tension” has now been reached (of which the United Nations is a symbol) which will eventually prove to be the agent that will bring about a “point of emergence.” I would ask you to keep these three phrases—descriptive of the working of the Ray of Harmony through Conflict—constantly in mind in relation to developments in your own life, in the life of your nation or of any nation, and in the life of humanity as a whole. They embody the technique whereby the spiritual Hierarchy of our planet brings good out of evil without originating the evil or infringing the free will of mankind.
Khi chúng ta nghiên cứu hiệu quả của Nguyên Khí Xung Đột như kẻ khởi phát của sự hài hoà sau cùng trong mối liên hệ với các quốc gia, hãy nhớ rằng mức độ lan rộng của xung đột là dấu hiệu của cực điểm, rằng các “điểm khủng hoảng” biểu lộ xung đột ngày nay đều đã được mọi người biết rõ, rằng một “điểm tập trung nhất tâm” nay đã đạt tới (mà Liên Hiệp Quốc là một biểu tượng) và cuối cùng sẽ chứng tỏ là tác nhân đem lại một “điểm xuất hiện.” Tôi muốn yêu cầu bạn luôn ghi nhớ ba cụm từ này—mô tả hoạt động của cung Hài Hoà qua Xung Đột—trong mối liên hệ với các diễn biến trong chính đời sống của bạn, trong đời sống của quốc gia bạn hay của bất kỳ quốc gia nào, và trong đời sống của toàn thể nhân loại. Chúng hiện thân cho kỹ thuật mà Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta dùng để rút điều thiện ra từ điều ác mà không khởi sinh điều ác hay xâm phạm ý chí tự do của nhân loại.
There are certain nations which are necessarily more responsive to the energy of this fourth ray than some of the others, because it is either the energy which is conditioning their personality activities or that which conditions their soul expression. Forget not that nations are like individuals, expressive of soul and body. The nations responsive to this ray energy are:
Có một số quốc gia tất yếu đáp ứng với năng lượng cung bốn này nhiều hơn một số quốc gia khác, bởi vì đó hoặc là năng lượng đang tác động lên các hoạt động phàm ngã của họ hoặc là năng lượng tác động lên sự biểu lộ linh hồn của họ. Đừng quên rằng các quốc gia cũng như các cá nhân, biểu lộ linh hồn và thể xác. Các quốc gia đáp ứng với năng lượng cung này là:
India, whose personality or material ray is that of Harmony through Conflict. This could be seen in full expression in that unhappy country during the years 1947-1948. India is old and crystallised in her separativeness, in her myriads of diversified sects and religious groups, in her manifold languages and in her ancient antagonisms; [624] it will be long before there is any basic synthesis or harmony. There lies her problem, and unfortunately she lacks pure disinterested leadership; as is the case elsewhere in the world, party politics and religious cleavages condition her many peoples. The soul energy of India is that of the Will to Power or government, but that spiritual energy will not come into true activity until she has resolved her many differences and has returned to the old ways of spiritual understanding and of enlightened wisdom which distinguished her many centuries ago. India has nearly lost the light, but when she has passed through the coming points of crisis, and has achieved a point of united tension, then she will find the door or point of emergence into light.
Ấn Độ, mà cung phàm ngã hay cung vật chất là Hài Hoà qua Xung Đột. Điều này có thể được thấy biểu lộ trọn vẹn tại quốc gia bất hạnh ấy trong các năm 1947-1948. Ấn Độ già cỗi và kết tinh trong tính chia rẽ của mình, trong vô số giáo phái và nhóm tôn giáo đa dạng, trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và trong các đối kháng cổ xưa của mình; [624] sẽ còn lâu mới có được bất kỳ sự tổng hợp hay hài hoà căn bản nào. Đó là vấn đề của bà, và đáng tiếc là bà thiếu sự lãnh đạo thuần khiết vô tư; cũng như ở những nơi khác trên thế giới, chính trị đảng phái và các chia rẽ tôn giáo tác động lên nhiều dân tộc của bà. Năng lượng linh hồn của Ấn Độ là Ý Chí hướng tới Quyền lực hay cai quản, nhưng năng lượng tinh thần đó sẽ không đi vào hoạt động chân chính cho đến khi bà giải quyết được nhiều dị biệt của mình và trở về với những con đường xưa của sự thấu hiểu tinh thần và minh triết giác ngộ đã từng làm nên nét đặc trưng của bà nhiều thế kỷ trước. Ấn Độ gần như đã đánh mất ánh sáng, nhưng khi bà đã đi qua các điểm khủng hoảng sắp tới, và đã đạt được một điểm nhất tâm hợp nhất, thì bà sẽ tìm thấy cánh cửa hay điểm xuất hiện đi vào ánh sáng.
The ray governing the soul expression of the German race is that of Harmony through Conflict, but her materialistic personality, focussed in the emotional nature and not yet under control of the soul, is conditioned by the first Ray of Power. Germany as a nation is too young, immature, and negative to realise the true uses of power; she lacks the wisdom to use power, and her sense of inferiority (based on youth) leads her to misuse it when she has it. The German race is very old, and the German leaders during the past one hundred years have confused racial issues and national ambitions. Races are basically subjective, and nations are basically objective. Their leaders have permitted the ideal of power (which is a great spiritual responsibility) to lead them to make the Germanic race synchronise with the German nation. It was this immaturity and this misguided and almost childish ambition which set the Principle of Conflict operating violently through the world war (1914-1945) in order to bring to an end the increasing nationalism of Germany and of all the nations. Great Britain is at the point of emergence from the nationalistic thoughtform; the United States and Russia are arriving—the first at the point of tension where the concept is concerned, and the other at the point of crisis. Germany's point of crisis and of tension led to the explosion of the world war; nevertheless, after due process of pain, of re-education [625] and of training in right human relations, the German people will discover their soul, and then the soul-infused personality of the German people will demonstrate in a unique manner the significance of harmony. The basic and subjective synthesis of the Germanic race must not be confused with the separate nation of the German people, and the underlying emotional and sentimental unity (using the word “sentimental” in its correct sense) must not be confounded with territorial unity. There is a racial and subjective unity between the British Commonwealth of Nations and the United States of America, but this in turn must not be confused with the outer national groupings and aims.
Cung chi phối sự biểu lộ linh hồn của nhân loại Đức là Hài Hoà qua Xung Đột, nhưng phàm ngã duy vật của họ, tập trung trong bản chất cảm xúc và chưa được linh hồn kiểm soát, lại bị tác động bởi Cung một Quyền lực. Đức với tư cách một quốc gia còn quá trẻ, non nớt và tiêu cực để nhận ra những cách sử dụng chân chính của quyền lực; bà thiếu minh triết để sử dụng quyền lực, và cảm giác tự ti của bà (dựa trên tuổi trẻ) khiến bà lạm dụng nó khi có được nó. Nhân loại Đức thì rất cổ xưa, và các nhà lãnh đạo Đức trong một trăm năm qua đã nhầm lẫn các vấn đề chủng tộc với các tham vọng quốc gia. Các chủng tộc về căn bản là chủ quan, còn các quốc gia về căn bản là khách quan. Các nhà lãnh đạo của họ đã để cho lý tưởng quyền lực (vốn là một trách nhiệm tinh thần lớn lao) dẫn họ đến chỗ làm cho nhân loại Germanic đồng bộ với quốc gia Đức. Chính sự non nớt này và tham vọng lầm lạc, gần như trẻ con này đã khiến Nguyên Khí Xung Đột vận hành dữ dội qua đại chiến thế giới (1914-1945) nhằm chấm dứt chủ nghĩa dân tộc ngày càng tăng của Đức và của mọi quốc gia. Đại Anh đang ở điểm xuất hiện ra khỏi hình tư tưởng quốc gia chủ nghĩa; Hoa Kỳ và Nga đang tiến đến—nước thứ nhất đến điểm tập trung nhất tâm xét về khái niệm này, còn nước kia đến điểm khủng hoảng. Điểm khủng hoảng và điểm nhất tâm của Đức đã dẫn đến sự bùng nổ của đại chiến thế giới; tuy nhiên, sau một tiến trình thích đáng của đau khổ, tái giáo dục [625] và huấn luyện trong các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, dân tộc Đức sẽ khám phá linh hồn của mình, và khi đó phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của dân tộc Đức sẽ biểu lộ theo một cách độc đáo ý nghĩa của hài hoà. Sự tổng hợp căn bản và chủ quan của nhân loại Germanic không được nhầm lẫn với quốc gia riêng biệt của dân tộc Đức, và sự hợp nhất cảm xúc và tình cảm nằm bên dưới (dùng từ “tình cảm” theo nghĩa đúng của nó) không được lẫn lộn với sự hợp nhất lãnh thổ. Có một sự hợp nhất chủng tộc và chủ quan giữa Khối Thịnh vượng chung Anh và Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, nhưng điều này cũng không được nhầm lẫn với các tập hợp và mục tiêu quốc gia bên ngoài.
Italy also is influenced by the Ray of Harmony through Conflict because her personality or material expression is conditioned by this ray. During the world war, Italy had a king, a dictator, and a pope, and this produced a vortex of conflict in the highly intelligent Italian people. The dictator is no longer there; the monarchy has also disappeared, and only the continuing voice of the Vatican is left, but—curiously enough—receives less attention in Italy than in the other Catholic countries. Conflict during the centuries has done much for the Italian people, and their highly extraverted psychology has produced in them a balance which may prove most promising in the future. The conflict of thought through which they have passed during the past one hundred years has worked well for them. Torn as they are by party politics, in revolt against ecclesiasticism, and lacking leadership, they are nevertheless well on the way to the resolution of their problem.
Ý cũng chịu ảnh hưởng của cung Hài Hoà qua Xung Đột vì sự biểu lộ phàm ngã hay vật chất của bà bị tác động bởi cung này. Trong đại chiến thế giới, Ý có một vị vua, một nhà độc tài và một giáo hoàng, và điều này tạo ra một xoáy lốc xung đột trong dân tộc Ý rất thông minh. Nhà độc tài không còn nữa; chế độ quân chủ cũng đã biến mất, và chỉ còn tiếng nói liên tục của Vatican, nhưng—điều kỳ lạ là—ở Ý lại nhận được ít chú ý hơn ở các quốc gia Công giáo khác. Xung đột trong nhiều thế kỷ đã làm được nhiều điều cho dân tộc Ý, và tâm lý học rất hướng ngoại của họ đã tạo ra nơi họ một sự quân bình có thể tỏ ra đầy hứa hẹn trong tương lai. Xung đột tư tưởng mà họ đã trải qua trong một trăm năm qua đã tác động tốt cho họ. Bị xé rách bởi chính trị đảng phái, nổi loạn chống giáo quyền, và thiếu lãnh đạo, tuy nhiên họ vẫn đang trên đường đi tốt đẹp tới việc giải quyết vấn đề của mình.
When the fourth Ray of Harmony through Conflict is the energy expressing itself through the soul, the indications are that the country concerned is nearing the Path of Discipleship or the Path of Probation. Austria and Germany are nearing the Path of Discipleship; Brazil is on the Path of Probation and will rapidly move forward; Austria is nearer true discipleship than is Germany and, spiritually, Austria has much eventually to give. Spiritual [626] leadership will not be lacking once a measure of security and better living conditions have been assured. Germany has a bitter price to pay because her immaturity and childish interpretation of world affairs, her lack of thinking capacity and her curious innate cruelty permitted the Forces of Evil (temporarily) to work through Germany and precipitate the world conflict. But Germany will recover, provided she does not again permit herself to become a battleground, owing to her strategic position in central Europe. It is for this recovery that all men of goodwill must work.
Khi cung bốn Hài Hoà qua Xung Đột là năng lượng biểu lộ qua linh hồn, các dấu hiệu cho thấy quốc gia liên hệ đang tiến gần Con Đường Đệ Tử hoặc Con Đường Dự Bị. Áo và Đức đang tiến gần Con Đường Đệ Tử; Brazil đang ở trên Con Đường Dự Bị và sẽ nhanh chóng tiến lên; Áo gần với địa vị đệ tử chân chính hơn Đức và, về mặt tinh thần, Áo cuối cùng còn có nhiều điều để cống hiến. Sự lãnh đạo tinh thần [626] sẽ không thiếu một khi một mức độ an ninh và điều kiện sống tốt hơn đã được bảo đảm. Đức phải trả một giá cay đắng vì sự non nớt và cách diễn giải trẻ con của bà về các công việc thế giới, sự thiếu năng lực tư duy và sự tàn nhẫn bẩm sinh kỳ lạ của bà đã cho phép các Lực lượng Ác tà (tạm thời) hoạt động qua Đức và làm ngưng tụ xung đột thế giới. Nhưng Đức sẽ hồi phục, miễn là bà không một lần nữa cho phép mình trở thành một chiến trường, do vị trí chiến lược của bà ở trung Âu. Chính cho sự hồi phục này mà mọi người thiện chí phải hoạt động.
It is perhaps appropriate to point out here that the spiritual forces of the planet do not greatly fear a renewed outbreak of war upon the physical plane. There are many chances that it can be averted because the mounting revolt of the masses against physical plane war, the general fatigue of the nations and the use of the United Nations councils for the ventilation of difficulties and problems may prove effective.
Có lẽ thích hợp để chỉ ra ở đây rằng các lực lượng tinh thần của hành tinh không quá lo sợ về một sự bùng nổ chiến tranh mới trên cõi hồng trần. Có nhiều khả năng điều đó có thể được ngăn ngừa vì sự nổi dậy ngày càng tăng của quần chúng chống lại chiến tranh trên cõi hồng trần, sự mệt mỏi chung của các quốc gia và việc sử dụng các hội đồng Liên Hiệp Quốc để thông khí các khó khăn và vấn đề có thể tỏ ra hữu hiệu.
Each of the three Great Powers has its own internal conflict, conditioned by its historical tradition, its national emphases, and its developed habits of thought or—as the case may be—of feeling.
Mỗi một trong ba Cường quốc đều có xung đột nội bộ riêng, bị tác động bởi truyền thống lịch sử, các điểm nhấn quốc gia, và các thói quen tư tưởng đã phát triển của mình hoặc—tuỳ trường hợp—của cảm xúc.
The major conflict in Great Britain at this time is between the reactionary thinkers and those unskilled labourers in the political field who favour the socialistic ideology. This conflict goes deep and is undermining and destroying old forms and producing intense national friction in all groups and parties. One group is fighting to preserve the old order; the other group is fighting fiercely to abolish all the old ways in the shortest possible time; other groups are fighting for their various ideologies and complicating the problem. The interesting thing is that the conflict is largely between party leaders and their immediate convinced followers, with the mass of people questioning the wisdom, the capacity and the activities of both groups and slowly deciding that they like and desire neither of them, but (lacking real leadership) they know not what [627] to do. The predisposing characteristic of the British is a sense of justice and it is for this that the people seek. They find, however, that neither party has an effective plan or programme, that both are animated by party politics, and that the interests of the people as a whole which could be served by a wise coalition are not of major importance to the present party leaders. This internal conflict is slowly, however, going to produce a harmony of purpose and of intention within the mind of the population; this will largely be the result of the increasing power of women in the land and their increasing penetration in municipal and national politics. The quality of the British historical retrospect has been predominantly masculine. Today the balancing factor of feminine interpretation and the feminine point of view is needed and will be provided. Great Britain, from the angle of its personality or material problem, is governed by the energy or Ray of Will or Power, whilst the soul of the country is conditioned by the Ray of Love-Wisdom. In this you have the presentation of a positive and a negative energy, and when they are fused and blended you will have a balance and a wisdom which is at present lacking.
Xung đột chủ yếu ở Đại Anh vào lúc này là giữa các nhà tư tưởng phản động và những người lao động không lành nghề trong lĩnh vực chính trị, những người ủng hộ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Xung đột này đi rất sâu và đang làm xói mòn, phá huỷ các hình tướng cũ và tạo ra sự ma sát quốc gia dữ dội trong mọi nhóm và đảng phái. Một nhóm đang chiến đấu để bảo tồn trật tự cũ; nhóm kia đang chiến đấu dữ dội để bãi bỏ mọi lề lối cũ trong thời gian ngắn nhất có thể; các nhóm khác đang chiến đấu cho các hệ tư tưởng khác nhau của họ và làm cho vấn đề thêm phức tạp. Điều thú vị là xung đột phần lớn diễn ra giữa các lãnh tụ đảng và những người theo họ một cách xác tín trực tiếp, trong khi quần chúng thì đang đặt câu hỏi về minh triết, năng lực và hoạt động của cả hai nhóm và chậm rãi quyết định rằng họ không thích và cũng không mong muốn nhóm nào cả, nhưng (vì thiếu sự lãnh đạo thực sự) họ không biết [627] phải làm gì. Đặc tính thiên hướng của người Anh là ý thức về công lý và chính điều này là điều dân chúng tìm kiếm. Tuy nhiên, họ nhận thấy rằng không đảng nào có một kế hoạch hay chương trình hữu hiệu, rằng cả hai đều bị thúc đẩy bởi chính trị đảng phái, và rằng quyền lợi của toàn thể dân chúng, vốn có thể được phụng sự bởi một liên minh khôn ngoan, lại không phải là điều quan trọng hàng đầu đối với các lãnh tụ đảng hiện nay. Tuy nhiên, xung đột nội bộ này sẽ chậm rãi tạo ra một sự hài hoà về mục đích và ý định trong trí tuệ của dân chúng; điều này phần lớn sẽ là kết quả của quyền lực ngày càng tăng của phụ nữ trong nước và sự thâm nhập ngày càng tăng của họ vào chính trị địa phương và quốc gia. Phẩm tính của cái nhìn hồi cố lịch sử của người Anh chủ yếu là nam tính. Ngày nay cần đến yếu tố quân bình của sự diễn giải nữ tính và quan điểm nữ tính, và điều đó sẽ được cung cấp. Đại Anh, xét từ góc độ vấn đề phàm ngã hay vật chất của mình, được chi phối bởi năng lượng hay cung Ý Chí hoặc Quyền lực, trong khi linh hồn của quốc gia này bị tác động bởi cung Bác Ái – Minh Triết. Trong điều này bạn có sự trình bày của một năng lượng dương và một năng lượng âm, và khi chúng được dung hợp và hòa trộn, bạn sẽ có một sự quân bình và một minh triết hiện nay còn thiếu.
In France, where the contributing rays are both along the line of the intellect, you have necessarily and naturally a strong materialistic influence and the conflict there is hard to resolve. It is ever the mind aspect which produces all the separativeness, the cleavages and the differences in the human arena in France, making it the playground of untold numbers of conflicting ideas, a diversity of groups and of clashing personalities, and leading to an intense preoccupation with France and its welfare; there is small interest in anything else, or in any other nations or groups, except as they affect France or the French people. The French are in no way as yet ready to balance conflict with harmony, even interiorly. The qualities of the mind—pride, self-centredness, a separative attitude, a selfish planning and a materialism which penetrates deep into the mass consciousness—are dominating in their activity and are [628] focussed upon the material well-being of France. There is no dominant ideology, so that the conflict is not lifted on to the ideological level, and until a recognised idealism begins to sway the French mind and the mass consciousness, France cannot grow; there is no basic religious or spiritual sense to be found on a large scale, because the mind which can so inspiringly illumine the plane of the spirit is focussed primarily upon the three worlds of material living. This pronounced activity of the intellect, of which the French are so proud, is largely responsible for the situation in the political and economic fields in France, plus the difficulties which they share with all the nations which were implicated in the war. Any prospect of internal harmony is still far away but it will come. Forget not what I wrote much earlier in one of my books that it is France which will eventually reveal the true nature of the soul or of the psyche and inaugurate the era of true esoteric psychology. To do this she must inevitably find her own soul, and in finding it—through the medium of the illumined mind—she will bring light to humanity. The conflict now raging in France will eventually be resolved into harmony, and France will awaken to the higher spiritual values. Once her soul ray of pure knowledge is active, it will dominate her personality or material Ray of Active Intelligence, once the most powerful of all the rays. The task of the Ray of Harmony through Conflict is to bring this about, thus releasing France into the light.
Ở Pháp, nơi các cung đóng góp đều nằm trên đường của trí tuệ, tất yếu và tự nhiên có một ảnh hưởng duy vật mạnh mẽ và xung đột ở đó khó giải quyết. Chính phương diện trí tuệ luôn tạo ra mọi tính chia rẽ, các phân cách và dị biệt trong đấu trường nhân loại ở Pháp, khiến nước này trở thành sân chơi của vô số ý tưởng xung đột, một sự đa dạng của các nhóm và các phàm ngã va chạm nhau, và dẫn đến một sự bận tâm mãnh liệt với nước Pháp và phúc lợi của nước này; hầu như không có mối quan tâm nào đến bất cứ điều gì khác, hay đến bất kỳ quốc gia hay nhóm nào khác, ngoại trừ khi chúng ảnh hưởng đến nước Pháp hay dân tộc Pháp. Người Pháp hiện chưa sẵn sàng theo bất kỳ cách nào để quân bình xung đột với hài hoà, ngay cả trong nội tâm. Các phẩm tính của trí tuệ—kiêu hãnh, sự tập trung vào bản thân, thái độ chia rẽ, sự hoạch định ích kỷ và một chủ nghĩa duy vật thấm sâu vào tâm thức quần chúng—đang chi phối hoạt động của họ và đang [628] tập trung vào phúc lợi vật chất của nước Pháp. Không có một hệ tư tưởng chi phối nào, nên xung đột không được nâng lên cấp độ hệ tư tưởng, và cho đến khi một chủ nghĩa lý tưởng được nhìn nhận bắt đầu chi phối trí tuệ Pháp và tâm thức quần chúng, nước Pháp không thể tăng trưởng; không có cảm thức tôn giáo hay tinh thần căn bản nào được tìm thấy trên quy mô lớn, bởi vì trí tuệ, vốn có thể soi sáng cõi tinh thần một cách đầy cảm hứng, lại chủ yếu tập trung vào ba cõi giới của đời sống vật chất. Hoạt động nổi bật này của trí tuệ, điều mà người Pháp rất tự hào, phần lớn chịu trách nhiệm cho tình hình trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế ở Pháp, cộng với những khó khăn mà họ chia sẻ với tất cả các quốc gia đã bị lôi cuốn vào chiến tranh. Bất kỳ triển vọng nào về hài hoà nội bộ vẫn còn rất xa nhưng nó sẽ đến. Đừng quên điều tôi đã viết sớm hơn nhiều trong một trong các sách của tôi rằng chính nước Pháp cuối cùng sẽ mặc khải bản chất chân thật của linh hồn hay của psyche và khai mở kỷ nguyên của Tâm Lý Học Nội Môn chân chính. Để làm điều này, bà tất yếu phải tìm thấy linh hồn của chính mình, và khi tìm thấy nó—qua trung gian của trí tuệ được soi sáng—bà sẽ mang ánh sáng đến cho nhân loại. Xung đột hiện đang diễn ra ở Pháp cuối cùng sẽ được giải quyết thành hài hoà, và nước Pháp sẽ thức tỉnh đối với các giá trị tinh thần cao hơn. Một khi cung linh hồn của bà là tri thức thuần khiết hoạt động, nó sẽ chi phối cung phàm ngã hay cung vật chất của bà là Trí Tuệ Hoạt Động, vốn từng là mạnh nhất trong tất cả các cung. Nhiệm vụ của cung Hài Hoà qua Xung Đột là đem lại điều này, nhờ đó giải phóng nước Pháp vào trong ánh sáng.
In the United States, this fourth energy is peculiarly active, because of the conflict of races, nations, ideas, political theories, immature development, corrupt politics, and childish selfishness; this is more prevalent among the leaders in the municipalities and in politics than it is among the masses of little people in every state, who are basically sound though easily misled by their so-called leaders; the southern states are, however, almost unbelievably degenerated and deluded. Remember always, as we look at these various nations dispassionately, that we are concerned with the same trends and ideas which are to be [629] found in each individual aspirant—the conflict of ingrained personality habits and thoughts and faults, with a steadily increasing soul pressure. The United States, though one of the younger nations, is—owing to the many racial types represented—one of the oldest; this curious balancing must inevitably lead to a rapid development, with a consequent assumption of power, a growing incentive to love and a shouldering of responsibility.
Ở Hoa Kỳ, năng lượng cung bốn này hoạt động một cách đặc biệt, vì xung đột của các chủng tộc, quốc gia, ý tưởng, lý thuyết chính trị, sự phát triển non nớt, chính trị thối nát, và tính ích kỷ trẻ con; điều này phổ biến nơi các nhà lãnh đạo ở các đô thị và trong chính trị hơn là nơi quần chúng bình dân ở mọi tiểu bang, những người về căn bản là lành mạnh dù dễ bị các nhà lãnh đạo tự xưng của họ dẫn lạc; tuy nhiên, các bang miền nam thì gần như suy đồi và mê lầm đến khó tin. Hãy luôn nhớ, khi chúng ta nhìn các quốc gia khác nhau này một cách vô tư, rằng chúng ta đang đề cập đến cùng những xu hướng và ý tưởng được [629] tìm thấy nơi mỗi người chí nguyện cá nhân—xung đột giữa các thói quen, tư tưởng và lỗi lầm ăn sâu của phàm ngã với áp lực linh hồn ngày càng tăng đều đặn. Hoa Kỳ, dù là một trong những quốc gia trẻ hơn, lại—do nhiều loại chủng tộc được đại diện—là một trong những quốc gia cổ hơn; sự quân bình kỳ lạ này tất yếu sẽ dẫn đến một sự phát triển nhanh chóng, với việc đảm nhận quyền lực tiếp theo, một động lực bác ái ngày càng tăng và sự gánh vác trách nhiệm.
The conflict in the United States is between a love of freedom which amounts almost to irresponsibility and license, and a growing humanitarian ideology which will result in world service and non-separateness. The rays of energy governing the United States are the 6th Ray of Idealism, which is the energy of the country's personality, and the 2nd Ray of Love-Wisdom, which governs the soul of the country. I would here point out to you that it is the soul ray of the United States which relates it to Great Britain. The sixth ray personality energy (at the present stage of unfoldment) produces an idealism which requires transmuting and changing from an idealism intensely preoccupied with the preservation of a high standard of living and physical comfort to an idealistic appreciation of the real spiritual values; these are at present veiled and hidden in the material philosophy of the country. The youthful interpretation of this idealism can be seen in the complete conviction of the American people that everything in the United States is better than anything anywhere else, in its willingness to tell all the world what should or should not be done, in its revolt from all controls, in its unthinking acceptance of any information which falls in with its preconceived ideas and prejudices; the mature aspect of American idealism leads its people to a prompt response to the good, the beautiful and the true, to the expression of an active humanitarianism and an invocative spiritual approach to reality.
Xung đột ở Hoa Kỳ là giữa một tình yêu tự do gần như thành vô trách nhiệm và buông thả, với một hệ tư tưởng nhân đạo đang tăng trưởng, hệ tư tưởng này sẽ dẫn đến phụng sự thế giới và tính không chia rẽ. Các cung năng lượng chi phối Hoa Kỳ là cung sáu Lý Tưởng, là năng lượng của phàm ngã quốc gia, và cung hai Bác Ái – Minh Triết, chi phối linh hồn quốc gia. Ở đây tôi muốn chỉ cho bạn rằng chính cung linh hồn của Hoa Kỳ liên hệ nước này với Đại Anh. Năng lượng phàm ngã cung sáu (ở giai đoạn khai mở hiện nay) tạo ra một chủ nghĩa lý tưởng cần được chuyển hoá và thay đổi từ một chủ nghĩa lý tưởng bận tâm mãnh liệt với việc bảo tồn mức sống cao và tiện nghi thể xác sang một sự đánh giá lý tưởng về các giá trị tinh thần chân thật; các giá trị này hiện đang bị che phủ và ẩn giấu trong triết lý duy vật của quốc gia. Sự diễn giải trẻ trung của chủ nghĩa lý tưởng này có thể được thấy trong niềm xác tín hoàn toàn của người Mỹ rằng mọi thứ ở Hoa Kỳ đều tốt hơn bất cứ thứ gì ở bất cứ nơi nào khác, trong sự sẵn sàng nói cho cả thế giới biết điều gì nên hay không nên làm, trong sự nổi loạn chống lại mọi kiểm soát, trong sự chấp nhận thiếu suy nghĩ bất kỳ thông tin nào phù hợp với các ý tưởng và thành kiến có sẵn của họ; phương diện trưởng thành của chủ nghĩa lý tưởng Mỹ dẫn dân chúng của họ đến một đáp ứng mau lẹ với điều thiện, điều đẹp và điều chân, đến sự biểu lộ của một chủ nghĩa nhân đạo tích cực và một cách tiếp cận tinh thần mang tính khẩn cầu đối với thực tại.
It is interesting to note the unusual alignment of ray energies to be found at this time in the United States: [630]
Thật thú vị khi lưu ý sự chỉnh hợp khác thường của các năng lượng cung hiện có vào lúc này ở Hoa Kỳ: [630]
The energy of the soul...Ray of Love-Wisdom...Ray II
Năng lượng của linh hồn...cung Bác Ái – Minh Triết...cung II
The energy of the personality...Ray of Idealism...Ray VI
Năng lượng của phàm ngã...cung Lý Tưởng...cung VI
The energy relating the two...Ray of Harmony through conflict...Ray IV
Năng lượng liên hệ hai cung ấy...cung Hài Hoà qua xung đột...cung IV
These Rays—2, 4, 6—are all on the second line of spiritual energy and lack all the stiffening and strengthening dualities of the first line of ray energy—l, 3, 5, 7—which are governed by Will or Power. The American civilisation, with all its clamour of youthful precocity, is in reality the heir of the passing sixth ray civilisation, the Piscean; therefore, you have here the reason for the tendency of the American people to adopt violently conditioning idealisms and ideologies. It is the idealistic tendency in conflict with pronounced materialistic trends of this particular modern era which will finally evoke the harmony which will liberate the spirit of America, which will reveal to its people that it is one world and which will enable the people of this land to harmonise with the rest of the world and draw forth the loving response of other nations. It is for this that the men of goodwill must work.
Các cung này—2, 4, 6—đều nằm trên tuyến thứ hai của năng lượng tinh thần và thiếu mọi nhị nguyên tính làm cứng và tăng cường của tuyến thứ nhất của năng lượng cung—1, 3, 5, 7—vốn được chi phối bởi Ý Chí hay Quyền lực. Nền văn minh Mỹ, với tất cả sự ồn ào của tính chín sớm trẻ trung, trên thực tế là người thừa kế của nền văn minh cung sáu đang qua đi, nền văn minh Song Ngư; vì vậy, ở đây bạn có lý do cho khuynh hướng của người Mỹ chấp nhận một cách mãnh liệt các chủ nghĩa lý tưởng và hệ tư tưởng có tính tác động mạnh. Chính khuynh hướng lý tưởng đang xung đột với các xu hướng duy vật rõ rệt của kỷ nguyên hiện đại đặc biệt này cuối cùng sẽ gợi lên sự hài hoà sẽ giải phóng tinh thần của nước Mỹ, sẽ mặc khải cho dân chúng của nước này rằng chỉ có một thế giới và sẽ giúp dân chúng của xứ sở này hài hoà với phần còn lại của thế giới và rút ra đáp ứng bác ái của các quốc gia khác. Chính cho điều này mà những người thiện chí phải hoạt động.
Russia is, if you could but realise it, a battleground today within her own sealed walls. Her iron curtain is to Russia what the Monroe Doctrine was to the American people. In connection with all the three Great Powers—the U.S.S.R., the U.S.A. and the U.K.—certain major conflicts are being specifically precipitated; these will fundamentally affect the destiny of humanity. These three nations constitute the three points of a most potent world triangle of energy, and once there is a free circulation and a true understanding established between them, then world peace will be assured and the Christ can come. This understanding and this free harmony (if I may use such a term) will come as the result of each of the three Nations arriving at a real measure of internal harmony as a result of their own particular conflict, and then moving forward in an effort to harmonise with each other and the rest of the world.
Nga, nếu bạn chỉ có thể nhận ra điều đó, ngày nay là một chiến trường bên trong những bức tường khép kín của chính mình. Bức màn sắt của bà đối với nước Nga cũng giống như Học thuyết Monroe đối với người dân Mỹ. Liên quan đến cả ba Cường quốc—Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh Quốc—một số xung đột lớn đang được làm ngưng tụ một cách đặc biệt; những xung đột này sẽ ảnh hưởng căn bản đến số phận của nhân loại. Ba quốc gia này tạo thành ba điểm của một tam giác năng lượng thế giới cực kỳ mãnh liệt, và một khi có sự lưu thông tự do và một sự thấu hiểu chân chính được thiết lập giữa họ, thì hoà bình thế giới sẽ được bảo đảm và Đức Christ có thể quang lâm. Sự thấu hiểu này và sự hài hoà tự do này (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy) sẽ đến như kết quả của việc mỗi một trong ba Quốc gia đạt đến một mức độ hài hoà nội bộ thực sự như kết quả của xung đột riêng của mình, rồi sau đó tiến lên trong nỗ lực hài hoà với nhau và với phần còn lại của thế giới.
Russia has the same personality ray as the United [631] States and her seventh ray soul (conditioned by the Ray of Order) is closely related to the personality ray of Great Britain, the first Ray of Will or Power; the will aspect of divinity works out on the physical plane as the seventh Ray of Order or of conformity to the inner divine will.
Nga có cùng cung phàm ngã với Hoa [631] Kỳ và cung linh hồn bảy của bà (bị tác động bởi cung Trật Tự) liên hệ chặt chẽ với cung phàm ngã của Đại Anh, cung một Ý Chí hay Quyền lực; phương diện ý chí của thiên tính được biểu lộ trên cõi hồng trần như cung bảy Trật Tự hay sự tuân hợp với ý chí thiêng liêng bên trong.
The interior problem of the U.S.S.R. is the conflict raging between the imposed, arrogant will of a handful of powerful dictators and the fluid, unstable and ignorant reaction of a people from whom the truth is constantly withheld; they therefore have to fight blindly for their freedom, to fight instinctively and without knowledge of the facts. They are not yet waging a successful fight.
Vấn đề nội tại của Liên Xô là xung đột đang diễn ra giữa ý chí áp đặt, ngạo mạn của một nhóm nhỏ các nhà độc tài quyền lực và phản ứng linh động, bất ổn và thiếu hiểu biết của một dân tộc mà sự thật luôn bị che giấu; vì thế họ phải chiến đấu một cách mù quáng cho tự do của mình, chiến đấu theo bản năng và không biết các sự kiện. Họ chưa tiến hành một cuộc chiến thành công.
The point, however, which is of major importance to us is the recognition that each of these three nations is distinguished by:
Tuy nhiên, điểm có tầm quan trọng chủ yếu đối với chúng ta là sự nhìn nhận rằng mỗi một trong ba quốc gia này đều được phân biệt bởi:
a. A similarity of problem.
a. Một sự tương đồng về vấn đề.
b. A battleground which is leading to the formation of a triangle of relationships brought about through the Principle of Conflict.
b. Một chiến trường đang dẫn đến sự hình thành một tam giác các mối liên hệ được tạo ra qua Nguyên Khí Xung Đột.
The similarity of problems consists in the fact that each of these three nations is essentially composite in nature and is formed by an amalgamation of many nations, of many peoples speaking many different languages, and is consequently staging a great experiment in fusion.
Sự tương đồng về các vấn đề nằm ở chỗ mỗi một trong ba quốc gia này về căn bản đều có bản chất tổng hợp và được hình thành bởi sự hòa trộn của nhiều quốc gia, của nhiều dân tộc nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, và do đó đang tiến hành một thí nghiệm lớn về dung hợp.
1. The U.K. is the nucleus or the living germ of the British Commonwealth of Nations wherein a great experiment in free government is being tried out; this gives complete internal freedom and choice to each related Dominion, plus an equally complete and free interrelationship. The Dominions are all of them independent nations, but belong to a united Commonwealth; a pattern is thereby presented for world consideration.
1. Anh Quốc là hạt nhân hay mầm sống của Khối Thịnh vượng chung Anh, trong đó một thí nghiệm lớn về chính quyền tự do đang được thử nghiệm; điều này trao cho mỗi Dominion liên hệ sự tự do và lựa chọn nội bộ hoàn toàn, cộng với một mối tương liên cũng hoàn toàn và tự do như vậy. Các Dominion đều là những quốc gia độc lập, nhưng thuộc về một Khối Thịnh vượng chung hợp nhất; nhờ đó một mô hình được trình bày cho thế giới xem xét.
2. The U.S.A. is a fusing centre wherein all nationalities are represented and are being slowly blended into a miniature One Humanity. A great experiment in right relationships is being undertaken and is making real progress. A culture and a civilisation will emerge which will be the [632] result of right human relations and which can provide a world pattern in relationships. I refer here to the presentation of democracy. There is nothing satisfactory yet in the presentation of the dreamed-of democracy. France and Great Britain are equally democratic, and more successful because more mature and experienced, but the “melting pot” of the U.S.A. will provide eventually the outstanding experiment in right relations because of its many races and nationalities—all blended together within the borders of one country.
2. Hoa Kỳ là một trung tâm dung hợp, trong đó mọi quốc tịch đều được đại diện và đang chậm rãi được hòa trộn thành một Nhân Loại Duy Nhất thu nhỏ. Một thí nghiệm lớn về các mối quan hệ đúng đắn đang được tiến hành và đang đạt tiến bộ thực sự. Một nền văn hoá và một nền văn minh sẽ xuất hiện, là [632] kết quả của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và có thể cung cấp một mô hình thế giới về các mối liên hệ. Ở đây tôi nói đến sự trình bày của nền dân chủ. Hiện chưa có gì thỏa đáng trong sự trình bày nền dân chủ được mơ ước. Pháp và Đại Anh cũng dân chủ như vậy, và thành công hơn vì trưởng thành và giàu kinh nghiệm hơn, nhưng “nồi nấu chảy” của Hoa Kỳ cuối cùng sẽ cung cấp thí nghiệm nổi bật về các mối quan hệ đúng đắn vì có nhiều chủng tộc và quốc tịch—tất cả được hòa trộn với nhau trong biên giới của một quốc gia.
3. The U.S.S.R. is also seeking to blend and unite into one great national project many diverse nations and races—European and Asiatic—and the effort is still largely embryonic. In Russia a world ideology is being wrought out which (when proven) can be presented to the world as a model system; this, however, will not come as a result of dictatorship, nor can it be presented aggressively to the world. Russia is in reality—whether She realises it or not at present—undertaking a great experiment in education and, in spite of evil methods and sinning against the soul of human freedom, eventually this educational process will prove convincing to the world and provide a world model. This can only take place when the present group of dictators and arrogant men have passed away or been forced out of power by an awakening people.
3. Liên Xô cũng đang tìm cách hòa trộn và hợp nhất vào một dự án quốc gia lớn nhiều quốc gia và chủng tộc đa dạng—Âu và Á—và nỗ lực này vẫn còn phần lớn ở giai đoạn phôi thai. Ở Nga, một hệ tư tưởng thế giới đang được xây dựng, hệ tư tưởng này (khi được chứng minh) có thể được trình bày cho thế giới như một hệ thống kiểu mẫu; tuy nhiên, điều này sẽ không đến như kết quả của chế độ độc tài, cũng không thể được trình bày một cách hung hăng cho thế giới. Trên thực tế, Nga—dù hiện nay bà có nhận ra hay không—đang tiến hành một thí nghiệm lớn về giáo dục và, bất chấp các phương pháp xấu xa và việc phạm tội chống lại linh hồn của tự do nhân loại, cuối cùng tiến trình giáo dục này sẽ tỏ ra có sức thuyết phục đối với thế giới và cung cấp một mô hình thế giới. Điều này chỉ có thể xảy ra khi nhóm các nhà độc tài và những kẻ ngạo mạn hiện nay đã qua đi hoặc bị một dân tộc thức tỉnh buộc phải rời khỏi quyền lực.
In these three great nations, therefore, the three major divine aspects are being brought into manifestation, thus laying the foundation for the new world order. All three are of equal importance.
Vì vậy, trong ba quốc gia lớn này, ba phương diện thiêng liêng chủ yếu đang được đưa vào biểu hiện, nhờ đó đặt nền móng cho trật tự thế giới mới. Cả ba đều quan trọng ngang nhau.
In Great Britain—right human government—Will or Power
Ở Đại Anh—chính quyền đúng đắn của con người—Ý Chí hay Quyền lực
In the U.S.A.—right human relations—Love-Wisdom
Ở Hoa Kỳ—các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người—Bác Ái – Minh Triết
In the U.S.S.R.—right use of the mind—Intelligence
Ở Liên Xô—sự sử dụng đúng đắn trí tuệ—Trí Tuệ
This must be remembered and taught, and men of goodwill everywhere should work for a closer relationship between these three peoples. These three points of a divine triangle of energy should not be isolated points, each holding its own point of tensions they should be related points, each point distributing strengthening energy to the other [633] points and admitting a free circulation between all points around the triangle.
Điều này phải được ghi nhớ và giảng dạy, và những người thiện chí ở khắp nơi nên hoạt động cho một mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa ba dân tộc này. Ba điểm này của một tam giác năng lượng thiêng liêng không nên là những điểm cô lập, mỗi điểm giữ lấy điểm tập trung nhất tâm riêng của mình; chúng phải là những điểm có liên hệ, mỗi điểm phân phối năng lượng tăng cường cho hai điểm kia [633] và cho phép một sự lưu thông tự do giữa mọi điểm quanh tam giác.
These great world problems are also being worked out in each of these three nations:
Những vấn đề lớn của thế giới này cũng đang được giải quyết trong mỗi một của ba quốc gia này:
1. In Great Britain, the problem of socialism is being resolved and the sound judgment of the people will eventually balance the two conditions of a socialist programme and free enterprise; this needs doing, for the extreme position in either case is untenable. This today presents a conflict which all the world is watching. The transition period between group living (in the true and spiritual sense) and the present and past period of an intense individualism is not easy, and in Great Britain the whole matter is being put to the test. The bridge will be built.
1. Ở Đại Anh, vấn đề của chủ nghĩa xã hội đang được giải quyết và phán đoán lành mạnh của dân chúng cuối cùng sẽ quân bình hai điều kiện của một chương trình xã hội chủ nghĩa và doanh nghiệp tự do; điều này cần phải được thực hiện, vì lập trường cực đoan trong cả hai trường hợp đều không thể đứng vững. Điều này ngày nay tạo ra một xung đột mà cả thế giới đang theo dõi. Giai đoạn chuyển tiếp giữa đời sống nhóm (theo nghĩa chân chính và tinh thần) và giai đoạn hiện tại cũng như quá khứ của một chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt không phải là điều dễ dàng, và ở Đại Anh toàn bộ vấn đề đang được đem ra thử nghiệm. Cây cầu sẽ được xây dựng.
2. In the U.S.A. you have the problem of the relationship between capital and labour awaiting solution; the conflict is fierce but a compromise will eventually be worked out if capital concedes certain arrogant powers, recognises the rights of other human beings and demonstrates less selfish greed, and if labour will work with less selfishness, prove less exacting and evince a more understanding spirit. The bridge between these two great groups must and will be built.
2. Ở Hoa Kỳ, bạn có vấn đề về mối liên hệ giữa tư bản và lao động đang chờ được giải quyết; xung đột rất dữ dội nhưng cuối cùng một sự thỏa hiệp sẽ được hình thành nếu tư bản nhượng bộ một số quyền lực ngạo mạn, nhìn nhận các quyền của những con người khác và biểu lộ ít lòng tham ích kỷ hơn, và nếu lao động sẽ làm việc với ít ích kỷ hơn, bớt đòi hỏi hơn và biểu lộ một tinh thần thấu hiểu hơn. Cây cầu giữa hai nhóm lớn này phải và sẽ được xây dựng.
3. In the U.S.S.R. you have the problem of the levelling of the masses in all classes; this levelling has produced a low standard of living and the work to be done is to raise more than to bridge. This levelling produces serious conflict and one that is little realised by those who cannot penetrate into the sealed citadel which is Russia. It is really a conflict between the mounting human spirit and the force of the totalitarian regime which seeks to hold it down, killing individualism. The innate strength of the human spirit to rise has never yet failed, and this conflict will prove the agent in harmonising many factors.
3. Trong U.S.S.R. các bạn có vấn đề về sự san bằng quần chúng trong mọi giai cấp; sự san bằng này đã tạo ra một mức sống thấp và công việc cần làm là nâng lên hơn là bắt cầu. Sự san bằng này tạo ra xung đột nghiêm trọng, và đó là một xung đột ít được nhận ra bởi những ai không thể thâm nhập vào thành trì khép kín là nước Nga. Thực ra đó là một xung đột giữa tinh thần nhân loại đang dâng lên và mãnh lực của chế độ toàn trị đang tìm cách đè nén nó xuống, giết chết tính cá nhân. Sức mạnh bẩm sinh của tinh thần nhân loại trong việc vươn lên chưa bao giờ thất bại, và xung đột này sẽ chứng tỏ là tác nhân điều hòa nhiều yếu tố.
Within the comity of nations, certain of them have ever been prime agents for producing conflict. This is largely owing to their fiery temperament and their strong [634] emotional bias and condition. The Poles and the Irish are prime “catalysts of conflict” and are constantly instigating difficulties between peoples. Such has ever been their history. French aggression in the Middle Ages has also caused difficulty, and in later days, Germany became the prime agent of conflict. Today the Jewish people are engineering trouble, and it is interesting to note that the main contention in the past of Poland, lately of the Irish, and today of the Jews, is territory, thus evidencing a most distorted sense of values. There is in the last analysis but one world and one humanity, and in a shorter time than you may think boundaries and territories will mean but little. World citizenship will be the only factor of importance.
Trong cộng đồng các quốc gia, một số quốc gia trong đó từ trước đến nay vẫn luôn là những tác nhân chủ yếu tạo ra xung đột. Điều này phần lớn là do khí chất bốc lửa của họ và thiên kiến cùng trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của họ. [634] Người Ba Lan và người Ireland là những “chất xúc tác của xung đột” điển hình và liên tục kích động những khó khăn giữa các dân tộc. Lịch sử của họ từ trước đến nay vẫn là như vậy. Sự hiếu chiến của Pháp trong thời Trung Cổ cũng đã gây ra khó khăn, và về sau, nước Đức trở thành tác nhân chủ yếu của xung đột. Ngày nay dân tộc Do Thái đang tạo ra rối ren, và điều đáng chú ý là điểm tranh chấp chính trong quá khứ của Ba Lan, gần đây của người Ireland, và ngày nay của người Do Thái, là lãnh thổ, do đó cho thấy một ý thức giá trị bị bóp méo sâu sắc nhất. Rốt cuộc chỉ có một thế giới và một nhân loại, và trong một thời gian ngắn hơn các bạn nghĩ, biên giới và lãnh thổ sẽ chỉ còn rất ít ý nghĩa. Quyền công dân thế giới sẽ là yếu tố quan trọng duy nhất.
The Jews are governed by the third Ray of Active Intelligence, the energy which permeates and controls matter or substance. They were also, during the years immediately following the war, under the control of a glamour imposed by the Zionist Dictators, who were attempting (somewhat unsuccessfully) to be to the Jewish people what Stalin and his group, and Hitler and his gang, have been to their people. They worked through the same methods—terrorising, withholding information, browbeating their opponents, making false claims and bribing and corrupting. They were and are a minority, but a powerful minority because of their great wealth and their being in positions of power. They are claiming a land to which they have no possible right and which the Jews have ignored for two thousand years. Their attitude is perhaps the culminating aggressive action of the age and marks a climaxing point; it has produced a serious world tension, but out of this good may come and a “point of emergence for mankind” be reached. The issue of aggression can be more clearly seen because of their activities. Very few lands today are in the possession of their original inhabitants, and if restoration is made to all original inhabitants (which is not possible) an impossible situation would be brought about just as legitimate as the Zionist position. If the Zionist claims are to be considered (and they have been) they in their turn [635] should realise that (if The Old Testament is to be believed) they originally took the land of Palestine away from its original owners nearly three thousand years ago, at the point of the sword and through an unprovoked aggression.
Người Do Thái được cai quản bởi cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động, năng lượng thấm nhuần và kiểm soát vật chất hay chất liệu. Họ cũng đã, trong những năm ngay sau chiến tranh, ở dưới sự kiểm soát của một ảo cảm do các nhà độc tài Zion áp đặt, những kẻ đang cố gắng (khá là không thành công) trở thành đối với dân Do Thái điều mà Stalin và nhóm của ông, cùng Hitler và bọn của ông, đã là đối với dân của họ. Họ hoạt động bằng cùng những phương pháp—khủng bố, bưng bít thông tin, uy hiếp đối thủ, đưa ra những tuyên bố sai sự thật, và hối lộ cùng làm băng hoại. Họ đã và đang là một thiểu số, nhưng là một thiểu số đầy quyền lực vì tài sản to lớn của họ và vì họ nắm giữ những vị trí quyền lực. Họ đang đòi hỏi một vùng đất mà họ hoàn toàn không có quyền gì đối với nó và là vùng đất mà người Do Thái đã phớt lờ suốt hai ngàn năm. Thái độ của họ có lẽ là hành động hiếu chiến lên đến tột đỉnh của thời đại này và đánh dấu một điểm cực đỉnh; nó đã tạo ra một sự căng thẳng nghiêm trọng trên thế giới, nhưng từ đó điều tốt lành có thể xuất hiện và một “điểm xuất hiện của nhân loại” có thể đạt tới. Vấn đề xâm lược có thể được nhìn thấy rõ hơn nhờ các hoạt động của họ. Ngày nay rất ít vùng đất còn nằm trong tay những cư dân nguyên thủy của nó, và nếu việc hoàn trả được thực hiện cho tất cả cư dân nguyên thủy (điều không thể làm được) thì sẽ nảy sinh một tình thế bất khả thi, cũng chính đáng như lập trường của người Zion. Nếu những đòi hỏi của người Zion được xem xét đến (và chúng đã được xem xét) thì đến lượt họ [635] cũng nên nhận ra rằng (nếu Cựu Ước là đáng tin) thì ban đầu họ đã chiếm lấy vùng đất Palestine từ những chủ nhân nguyên thủy của nó gần ba ngàn năm trước, bằng mũi gươm và qua một hành động xâm lược vô cớ.
This conflict which the Zionists have precipitated is basic and useful. It constitutes a test case, being based upon physical plane aggression, being fought with the most violent emotional disturbance and being founded upon completely illogical premises. The Jew has ever been (could he but usefully remember it) the symbol of humanity—evolving, seeking, restless, materialistic, separative and greedy. He is the symbol of the mass consciousness, presenting this consciousness in an exaggerated form; he is ever seeking and searching a home and is the true Prodigal Son of The New Testament.
Xung đột mà những người Zion đã làm bùng phát này là căn bản và hữu ích. Nó tạo thành một trường hợp thử nghiệm, vì nó dựa trên sự xâm lược ở cõi hồng trần, được tiến hành với sự xáo trộn cảm xúc dữ dội nhất, và được xây dựng trên những tiền đề hoàn toàn phi lý. Người Do Thái từ trước đến nay vẫn là (nếu y có thể nhớ điều đó một cách hữu ích) biểu tượng của nhân loại—đang tiến hoá, đang tìm kiếm, bất an, duy vật, chia rẽ và tham lam. Y là biểu tượng của tâm thức quần chúng, biểu hiện tâm thức này dưới một hình thức cường điệu; y luôn luôn tìm kiếm và truy tầm một mái nhà và là Đứa Con Hoang Đàng đích thực của Tân Ước.
Curiously enough, the Jews have never been a fighting race since the time of the sorry story of the conquest of the early tribes in Palestine; they have been persecuted and repudiated down the centuries, but have retaliated simply by moving on—the wandering Jew seeking a home, wandering humanity, saying always, “I must arise and go to my Father.” The motive given to the Prodigal Son in the Gospel story is a strictly material one, and we have here an outstanding instance of the prophetic knowledge of the Christ.
Điều kỳ lạ là người Do Thái chưa bao giờ là một nhân loại hiếu chiến kể từ thời câu chuyện đáng buồn về cuộc chinh phục các bộ lạc đầu tiên ở Palestine; họ đã bị bách hại và bị khước từ qua nhiều thế kỷ, nhưng chỉ đáp trả bằng cách tiếp tục di chuyển—người Do Thái lang thang tìm kiếm một mái nhà, nhân loại lang thang, luôn luôn nói rằng: “Tôi phải đứng dậy và đi đến với Cha tôi.” Động cơ được gán cho Đứa Con Hoang Đàng trong câu chuyện Phúc Âm là một động cơ hoàn toàn vật chất, và ở đây chúng ta có một ví dụ nổi bật về tri thức tiên tri của Đức Christ.
The Jewish people have not only repudiated the Messiah (which their race produced), but they have forgotten their unique relation to humanity; they forget that millions in the world today have suffered as they have suffered and that—for instance—there are eighty per cent of other people in the concentration camps of Europe and only twenty per cent Jews. The Jew, however, fought only for himself, and largely ignored the sufferings of his fellowmen in the concentration camps.
Dân tộc Do Thái không những đã khước từ Đấng Messiah (mà chính nhân loại của họ đã sinh ra), mà họ còn quên mất mối liên hệ độc đáo của họ với nhân loại; họ quên rằng hàng triệu người trên thế giới ngày nay đã chịu đau khổ như họ đã chịu đau khổ và rằng—chẳng hạn—có tám mươi phần trăm những người khác trong các trại tập trung ở châu Âu và chỉ có hai mươi phần trăm là người Do Thái. Tuy nhiên, người Do Thái chỉ chiến đấu cho chính mình, và phần lớn phớt lờ những đau khổ của đồng loại mình trong các trại tập trung.
I have enlarged thus upon the Jewish conflict because it is the symbol of all past conflicts in human history, based upon universal selfishness and the greed of undeveloped humanity, and because the crucial test of the nations and [636] of the United Nations Assembly is to be found in the decisions which they made and may make concerning Palestine.
Tôi đã nói rộng như vậy về cuộc xung đột Do Thái vì nó là biểu tượng của mọi xung đột trong quá khứ của lịch sử nhân loại, dựa trên tính ích kỷ phổ quát và lòng tham của nhân loại chưa phát triển, và vì phép thử quyết định của các quốc gia và [636] của Đại hội Liên Hiệp Quốc được tìm thấy trong những quyết định mà họ đã đưa ra và có thể sẽ đưa ra liên quan đến Palestine.
The test, as far as the nations are concerned, lies in their willingness to give refuge to the Jews, and such a refuge would have been offered if the partitioning of Palestine had been refused. The unwillingness of the nations to admit the Jews (though many have willingly offered), and particularly the refusal of the United States to admit them, is separative, wrong and based upon political expediency. The test, as far as the United Nations is concerned, was whether they would endorse partition, and thus perpetuate the spirit of aggression and territorial greed, against which the Forces of Light were arrayed in the last war. The United Nations has already made a major mistake by their original admittance of Russia—a totalitarian power, as was Germany—to their councils. Now they have made another. In the first mistake they precipitated into the United Nations the element of conflict and that spirit of “fanatical imposition” which is distinctive of the totalitarian ideology; in this second case, through the endorsement of partition, they perpetuate the ancient technique of taking what is wanted (with force of arms, if necessary) from the rightful owners. It was a test for the United States, for it is the American Jews who have created the situation, with relatively little help or endorsement from the Jews of other nations. The United States, urged by expediency, by the financial weight of the Zionists, and by the strategic position of Palestine, have thrown the weight of their influence into the conflict on the side of aggression and of territorial theft. They could have worked for the Principle of Harmony and permitted time and the non-separativeness of the nations to adjust and solve the Jewish problem.
Phép thử, xét theo phía các quốc gia, nằm ở sự sẵn lòng của họ trong việc cho người Do Thái nơi trú ẩn, và nơi trú ẩn như vậy đã có thể được trao nếu việc phân chia Palestine bị từ chối. Sự không sẵn lòng của các quốc gia trong việc tiếp nhận người Do Thái (dù nhiều nước đã sẵn lòng đề nghị), và đặc biệt là sự từ chối của Hoa Kỳ không tiếp nhận họ, là chia rẽ, sai lầm và dựa trên sự thuận tiện chính trị. Phép thử, xét theo phía Liên Hiệp Quốc, là liệu họ có tán thành việc phân chia hay không, và như thế kéo dài tinh thần xâm lược và lòng tham lãnh thổ, điều mà các Lực Lượng Ánh Sáng đã chống lại trong cuộc chiến vừa qua. Liên Hiệp Quốc đã phạm một sai lầm lớn ngay từ việc ban đầu chấp nhận Nga—một cường quốc toàn trị, cũng như Đức—vào hội đồng của mình. Giờ đây họ lại phạm thêm một sai lầm nữa. Trong sai lầm thứ nhất, họ đã đưa vào Liên Hiệp Quốc yếu tố xung đột và tinh thần “áp đặt cuồng tín” vốn là nét đặc trưng của ý thức hệ toàn trị; trong trường hợp thứ hai này, qua việc tán thành sự phân chia, họ kéo dài kỹ thuật cổ xưa là lấy điều mình muốn (bằng vũ lực, nếu cần) từ những chủ nhân chính đáng. Đây là một phép thử đối với Hoa Kỳ, vì chính người Do Thái Mỹ đã tạo ra tình thế này, với tương đối ít sự giúp đỡ hay tán thành từ người Do Thái ở các quốc gia khác. Hoa Kỳ, bị thúc đẩy bởi sự thuận tiện, bởi sức nặng tài chính của những người Zion, và bởi vị trí chiến lược của Palestine, đã dồn sức nặng ảnh hưởng của mình vào cuộc xung đột về phía xâm lược và trộm cắp lãnh thổ. Họ đã có thể hoạt động cho Nguyên Khí Hài Hòa và cho phép thời gian cùng tính không chia rẽ của các quốc gia điều chỉnh và giải quyết vấn đề Do Thái.
More I will not say; the symbolic nature of this basic world problem and its dynamic importance to humanity have led me thus to enlarge. The decision anent the Jews is one of hierarchical importance, owing to the karmic relation of the Christ to the Jewish race, to the fact that they repudiated Him as the Messiah and are still doing so, [637] and of the interpretive nature of the Jewish problem as far as the whole of humanity is concerned.
Tôi sẽ không nói thêm nữa; bản chất biểu tượng của vấn đề thế giới căn bản này và tầm quan trọng năng động của nó đối với nhân loại đã khiến tôi nói rộng như vậy. Quyết định liên quan đến người Do Thái là một quyết định có tầm quan trọng đối với Thánh đoàn, do mối liên hệ nghiệp quả của Đức Christ với nhân loại Do Thái, do sự kiện rằng họ đã khước từ Ngài như Đấng Messiah và vẫn còn đang làm như vậy, [637] và do bản chất diễn giải của vấn đề Do Thái đối với toàn thể nhân loại.