← The Rays and the Initiations (A Treatise on the Seven Rays Book 5)

The Results of the Fourth Ray Activity upon the individual Disciple — Kết Quả của Hoạt Động Cung Bốn đối với người Đệ tử cá nhân

The Results of the Fourth Ray Activity upon the individual Disciple — Kết Quả của Hoạt Động Cung Bốn đối với người Đệ tử cá nhân

The disciples of the world today are submerged in an ocean of warring energies; the Principle of Conflict touches every life, is potent in the consciousness of each individual aspirant, and is conditioning the mass consciousness of mankind. Emotionally and physically, the masses in every land are roused by this conflict; the disciples on earth and the thinking people everywhere are aroused mentally, as well as emotionally and physically, and hence the intensity of their problem. The points of crisis in the lives of disciples have—during the past few decades—been many; a point of tension has now been reached of an extreme nature; how rapidly can this tension bring about the needed point of emergence?

Các đệ tử của thế giới ngày nay đang chìm ngập trong một đại dương những năng lượng giao chiến; Nguyên Khí Xung Đột chạm đến mọi sự sống, đầy mãnh lực trong tâm thức của mỗi người chí nguyện cá nhân, và đang tác động lên tâm thức quần chúng của nhân loại. Về cảm xúc và thể xác, quần chúng ở mọi quốc gia đều bị khuấy động bởi xung đột này; các đệ tử trên Trái Đất và những người biết suy nghĩ ở khắp nơi đều bị khuấy động về trí tuệ, cũng như về cảm xúc và thể xác, và do đó vấn đề của họ trở nên mãnh liệt. Những điểm khủng hoảng trong đời sống của các đệ tử—trong vài thập niên qua—đã rất nhiều; giờ đây một điểm tập trung nhất tâm có tính chất cực độ đã đạt tới; sự căng thẳng này có thể nhanh chóng đưa đến điểm xuất hiện cần thiết đến mức nào?

It is not my intention to deal at length with the effect of this conflict in the life of disciples. It deals with the most familiar story to all of them; the aspirants and the disciples are, from the angle of evolution, the most strictly human beings to be found in the fourth kingdom in nature, for the reason that mind, emotion and physical activity are integrated or are in process of integration into one functioning whole. The disciple knows, however, that—as a result of conflict—the complete harmonising of his entire nature will be brought about; the fusion of soul and personality will be consummated, and for this he works. The same principle can also be applied by him in his consideration of general human affairs; he needs to see in all world conflict the needed steps towards an eventual harmony—a harmony based upon a true mental perception and a sound idealism. It is this process of developing mental understanding and a sound rational yet spiritual attitude which is now going on; the emergence of the many ideologies are the guarantee that the true idealism will eventually appear and control—the ideal of right human relations; it is the [638] struggle between emotional control and a steadily developing mind control which is conditioning mankind at this time. When a mental, an emotional and a physical conflict are raging simultaneously, the results must necessarily be difficult, but they are surmountable.

Tôi không có ý định bàn dài về ảnh hưởng của xung đột này trong đời sống của các đệ tử. Nó liên quan đến câu chuyện quen thuộc nhất đối với tất cả họ; những người chí nguyện và các đệ tử, xét từ góc độ tiến hoá, là những con người đúng nghĩa nhất được tìm thấy trong giới thứ tư của thiên nhiên, vì lý do là trí tuệ, cảm xúc và hoạt động thể xác đã được tích hợp hoặc đang trong tiến trình tích hợp thành một toàn thể hoạt động duy nhất. Tuy nhiên, đệ tử biết rằng—như là kết quả của xung đột—sự điều hòa hoàn toàn toàn bộ bản chất của y sẽ được mang lại; sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã sẽ được hoàn tất, và vì điều này mà y hoạt động. Cùng nguyên lý ấy cũng có thể được y áp dụng trong việc xem xét các vấn đề chung của nhân loại; y cần thấy trong mọi xung đột thế giới những bước cần thiết hướng tới một sự hài hòa cuối cùng—một sự hài hòa dựa trên nhận thức trí tuệ chân chính và một chủ nghĩa lý tưởng lành mạnh. Chính tiến trình phát triển sự thấu hiểu trí tuệ và một thái độ hợp lý nhưng tinh thần lành mạnh này hiện đang diễn ra; sự xuất hiện của nhiều hệ tư tưởng là bảo chứng rằng chủ nghĩa lý tưởng chân chính cuối cùng sẽ xuất hiện và kiểm soát—lý tưởng về những liên hệ đúng đắn giữa người với người; chính là cuộc [638] đấu tranh giữa sự kiểm soát của cảm xúc và sự kiểm soát của trí tuệ đang phát triển vững chắc đang tác động lên nhân loại vào lúc này. Khi một xung đột trí tuệ, một xung đột cảm xúc và một xung đột thể xác cùng lúc diễn ra, thì kết quả tất yếu phải khó khăn, nhưng chúng có thể vượt qua được.

Today, the conflicts are numerous, vital and unavoidable; they are present in the individual consciousness and in the mass consciousness; they present constant points of crises and are today bringing about a point of world tension which seems well-nigh unbearable. But ahead of the individual disciple and of humanity lies a point of emergence.

Ngày nay, các xung đột thì nhiều, sống động và không thể tránh; chúng hiện diện trong tâm thức cá nhân và trong tâm thức quần chúng; chúng tạo ra những điểm khủng hoảng liên tục và ngày nay đang đưa đến một điểm tập trung nhất tâm của thế giới dường như gần như không thể chịu nổi. Nhưng phía trước người đệ tử cá nhân và phía trước nhân loại là một điểm xuất hiện.

What must the disciple do whilst the point of tension is dominating him and his fellowmen? The answer is a simple one. Let each disciple and all groups of disciples develop the ability to think sanely, with right orientation and a broad point of view; let them think truly, evading no issues, but preserving always a calm, dispassionate and loving understanding; let them demonstrate in their environment the qualities which will establish right human relations and show on a small scale the behaviour which will some day characterise enlightened humanity; let them not be discouraged, but let them hold firmly to the conviction of the inevitable spiritual destiny of humanity; let them realise practically that “the souls of men are one” and learn to look beyond the immediate outer seeming to the inner (and sometimes remote) spiritual consciousness; let them know that the present world conflict will be terminated.

Đệ tử phải làm gì trong khi điểm tập trung nhất tâm đang chi phối y và đồng loại của y? Câu trả lời thật đơn giản. Hãy để mỗi đệ tử và mọi nhóm đệ tử phát triển khả năng suy nghĩ lành mạnh, với định hướng đúng đắn và một quan điểm rộng lớn; hãy để họ suy nghĩ chân thật, không né tránh vấn đề nào, nhưng luôn luôn giữ một sự thấu hiểu bình tĩnh, vô tư và đầy bác ái; hãy để họ biểu lộ trong môi trường của mình những phẩm tính sẽ thiết lập những liên hệ đúng đắn giữa người với người và cho thấy ở quy mô nhỏ hành vi mà một ngày kia sẽ đặc trưng cho nhân loại được giác ngộ; hãy để họ không nản lòng, nhưng giữ vững niềm xác tín về định mệnh tinh thần tất yếu của nhân loại; hãy để họ nhận ra một cách thực tiễn rằng “các linh hồn của loài người là một” và học cách nhìn vượt qua vẻ ngoài tức thời bên ngoài để đến với tâm thức tinh thần bên trong (và đôi khi xa xôi); hãy để họ biết rằng cuộc xung đột thế giới hiện nay sẽ chấm dứt.

The perfect outcome of the conflict will necessarily be lacking, for perfection is not yet possible to man; nevertheless, a situation can be brought about which will permit the return of the Christ into objective relation with mankind, and which will enable Him to set about His task of resurrecting the human spirit, out of the tomb of materialism into the clear light of spiritual perception. For this, all men must work. [639]

Kết quả hoàn hảo của xung đột tất yếu sẽ không có, vì sự hoàn hảo vẫn chưa thể có đối với con người; tuy nhiên, một tình thế có thể được tạo ra cho phép Đức Christ trở lại trong mối liên hệ khách quan với nhân loại, và sẽ giúp Ngài bắt tay vào nhiệm vụ phục sinh tinh thần nhân loại, ra khỏi ngôi mộ của chủ nghĩa duy vật để bước vào ánh sáng trong trẻo của tri giác tinh thần. Vì điều này, mọi người phải hoạt động. [639]

A Summation and Forecast — Tóm Lược và Dự Báo

Let me now summarise for you some of the points of importance in this instruction:

Giờ đây hãy để tôi tóm lược cho các bạn một số điểm quan trọng trong huấn thị này:

1. The fourth Ray of Harmony through Conflict is a controlling factor in human affairs at all times, and peculiarly today.

1. Cung bốn của Hài Hòa thông qua Xung Đột là một yếu tố kiểm soát trong các vấn đề nhân loại vào mọi lúc, và đặc biệt là ngày nay.

2. The Principle of Conflict is the agent of the Principle of Harmony and produces the strains and the stresses which will lead, finally, to liberation.

2. Nguyên Khí Xung Đột là tác nhân của Nguyên Khí Hài Hòa và tạo ra những căng thẳng và áp lực cuối cùng sẽ dẫn đến giải thoát.

3. The great initiation of the Renunciation, plus the many smaller renunciations, is the result of inner conflict and ever precedes liberation into harmony and peace.

3. cuộc điểm đạo lớn của Sự từ bỏ, cộng với nhiều sự từ bỏ nhỏ hơn, là kết quả của xung đột bên trong và luôn luôn đi trước sự giải thoát vào hài hòa và bình an.

4. Conflict produces: War-Renunciation-Liberation.

4. Xung đột tạo ra: Chiến tranh-Sự từ bỏ-Giải thoát.

5. Humanity is subjected to crises of discrimination, leading to right choice. That is the problem confronting humanity today, leading to a crisis within the United Nations.

5. Nhân loại đang chịu những khủng hoảng của sự phân biện, dẫn đến lựa chọn đúng đắn. Đó là vấn đề đang đối diện nhân loại ngày nay, dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong Liên Hiệp Quốc.

6. The Hierarchy is subjected to crises of decision, leading to perception of the Plan, participation in the Purpose, and the prevention of evil.

6. Thánh Đoàn đang chịu những khủng hoảng của quyết định, dẫn đến sự nhận thức Thiên Cơ, sự tham dự vào Thiên Ý, và sự ngăn chặn điều ác.

7. The Principle of Conflict is today active in all nations, in all religions, in all organisations, leading to the emergence of the New Age.

7. Nguyên Khí Xung Đột ngày nay đang hoạt động trong mọi quốc gia, trong mọi tôn giáo, trong mọi tổ chức, dẫn đến sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Mới.

8. Conflict produces points of crisis, then a point of tension, and eventually a point of emergence.

8. Xung đột tạo ra những điểm khủng hoảng, rồi một điểm tập trung nhất tâm, và cuối cùng là một điểm xuất hiện.

9. This Principle of Conflict is preparing the way for the return of the Christ, Who will inaugurate the new era of harmony.

9. Nguyên Khí Xung Đột này đang chuẩn bị con đường cho sự trở lại của Đức Christ, Đấng sẽ khai mở kỷ nguyên mới của hài hòa.

10. Christ will come in three different ways:

10. Đức Christ sẽ đến theo ba cách khác nhau:

a. Through the overshadowing, on the mental plane, of all disciples and aspirants.

a. Qua sự phủ bóng, trên cõi trí, lên tất cả các đệ tử và người chí nguyện.

b. Through the pouring out of love or of the Christ consciousness upon the masses on the emotional plane.

b. Qua sự tuôn đổ tình thương hay tâm thức Christ lên quần chúng trên cõi cảm dục.

c. Through His recognised physical Presence upon Earth.

c. Qua Sự Hiện Diện thể xác được nhận biết của Ngài trên Trái Đất.

11. Certain nations are today torn with conflict but are [640] moving toward harmony. Other nations are focal points of discord and thereby serve the Principle of Conflict.

11. Một số quốc gia ngày nay đang bị giằng xé bởi xung đột nhưng đang [640] tiến tới hài hòa. Những quốc gia khác là các tiêu điểm của bất hòa và nhờ đó phụng sự Nguyên Khí Xung Đột.

12. The U.S.S.R., the U.S.A., and the U.K. constitute a governing triangle of energy which, when right relations have been established, can and will create and foster right human relations among men.

12. U.S.S.R., U.S.A., và U.K. tạo thành một tam giác năng lượng cai quản mà, khi những liên hệ đúng đắn đã được thiết lập, có thể và sẽ tạo ra và nuôi dưỡng những liên hệ đúng đắn giữa người với người.

13. The Jewish race is a symbol of humanity in its mass sense; in the resolution of its conflict and in the taking of right action, a great step forward in human liberation will take place.

13. Nhân loại Do Thái là biểu tượng của nhân loại theo ý nghĩa quần chúng; trong việc giải quyết xung đột của họ và trong việc thực hiện hành động đúng đắn, một bước tiến lớn trong sự giải thoát của nhân loại sẽ diễn ra.

14. As the individual disciple learns to harmonise himself through conflict, he sets an example which is of definite aid to humanity as a whole.

14. Khi người đệ tử cá nhân học cách điều hòa chính mình thông qua xung đột, y nêu một tấm gương có sự trợ giúp rõ rệt cho toàn thể nhân loại.

What can I prophesy? What may I foretell in relation to human affairs and of the future ahead of the race?

Tôi có thể tiên tri điều gì? Tôi có thể báo trước điều gì liên quan đến các vấn đề nhân loại và tương lai phía trước của nhân loại?

I would remind you that even the Hierarchy of spiritual and liberated souls, the Church of God invisible, knows not the way that humanity will choose to go. General trends are watched and possibilities are considered; the energies pouring into the human family are directed and manipulated, and conditions can frequently be adjusted, but men decide for themselves direct action; they make their own choices and exert unimpeded the free will with which they may at any time be equipped. I prophecy not, because I do not know. I can, however, say that the issues at stake are now becoming so clear that right decision is more possible than at any other time in human history. Unless, therefore, emotional stresses are too acute, humanity will decide upon right action eventually. Emotions are, however, running high and the spiritual people of the world are not sufficiently aroused as yet to handle them. It is the arousing and the awakening to the critical nature of the time and to the world problems which is immediately needed, and this all men of goodwill should regard as their paramount duty.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng ngay cả Thánh Đoàn của các linh hồn tinh thần và được giải thoát, Giáo Hội vô hình của Thượng đế, cũng không biết con đường mà nhân loại sẽ chọn để đi. Những xu hướng chung được theo dõi và những khả năng được xem xét; các năng lượng tuôn vào gia đình nhân loại được định hướng và điều động, và các điều kiện thường có thể được điều chỉnh, nhưng con người tự quyết định hành động trực tiếp cho chính mình; họ tự đưa ra lựa chọn của mình và thực thi không bị cản trở ý chí tự do mà họ có thể được trang bị vào bất cứ lúc nào. Tôi không tiên tri, vì tôi không biết. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng những vấn đề đang bị đe dọa hiện nay đang trở nên rõ ràng đến mức quyết định đúng đắn có thể thực hiện được hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, trừ phi những căng thẳng cảm xúc quá gay gắt, nhân loại cuối cùng sẽ quyết định hành động đúng đắn. Tuy nhiên, cảm xúc đang dâng cao và những người tinh thần trên thế giới vẫn chưa được đánh thức đầy đủ để xử lý chúng. Điều cần thiết ngay lập tức là sự thức tỉnh và sự tỉnh thức trước tính chất nguy cấp của thời đại và trước các vấn đề thế giới, và tất cả những người thiện chí nên xem đó là bổn phận tối thượng của mình.

As I earlier remarked, if the trends which are today being established are rightly developed, the Hierarchy does not foresee the immediacy of war; war can be averted if [641] the nations are fully occupied with the task of reconstruction and if an educational programme in right human relations is launched and systematically and most carefully carried out. If the subjective relations between the nations are emphasised and the outer frictions and the objective disagreements are ignored, a great fusion of human interests can take place; this will be binding and lasting; if the cleavage between separateness and right relations is clearly to be seen, men will know of themselves what action they should take.

Như tôi đã nhận xét trước đây, nếu những xu hướng đang được thiết lập ngày nay được phát triển đúng đắn, Thánh Đoàn không thấy trước tính cấp bách của chiến tranh; chiến tranh có thể được ngăn chặn nếu [641] các quốc gia hoàn toàn bận rộn với nhiệm vụ tái thiết và nếu một chương trình giáo dục về những liên hệ đúng đắn giữa người với người được khởi xướng và được thực hiện một cách có hệ thống và hết sức cẩn trọng. Nếu những liên hệ chủ quan giữa các quốc gia được nhấn mạnh và những ma sát bên ngoài cùng những bất đồng khách quan bị bỏ qua, thì một sự dung hợp lớn lao của các lợi ích nhân loại có thể diễn ra; điều này sẽ có tính ràng buộc và bền vững; nếu sự phân rẽ giữa tính chia rẽ và những liên hệ đúng đắn được nhìn thấy rõ ràng, con người sẽ tự biết mình nên hành động thế nào.

In the war raging today between conflicting ideas, it is essential that this cleavage be made abundantly clear. Only the voice of a trained public opinion and the intelligent demand of the masses for right human relations can save the world from chaos. If this is so, then the duty of each individual disciple, man of goodwill and intelligent thinker is also clear. Let me bring the theme to a close with this thought and this indicated action.

Trong cuộc chiến đang diễn ra ngày nay giữa những ý tưởng xung đột, điều cốt yếu là sự phân rẽ này phải được làm cho hết sức rõ ràng. Chỉ có tiếng nói của một dư luận công chúng được rèn luyện và đòi hỏi thông minh của quần chúng về những liên hệ đúng đắn giữa người với người mới có thể cứu thế giới khỏi hỗn loạn. Nếu đúng như vậy, thì bổn phận của mỗi đệ tử cá nhân, người thiện chí và nhà tư tưởng thông minh cũng rõ ràng. Hãy để tôi kết thúc chủ đề bằng tư tưởng này và hành động được chỉ ra này.

THE RAYS OF ASPECT AND THE HIGHER INITIATIONS — CÁC CUNG TRẠNG THÁI VÀ NHỮNG LẦN ĐIỂM ĐẠO CAO HƠN

We completed our consideration of the effect of the four Rays of Attribute upon humanity as a whole and upon the individual disciple. If you will study the relationship of these rays to each other, you will discover that the energies which made their impact upon the would-be initiate were, first of all, two rays: the seventh Ray of Ceremonial Order and the fifth Ray of Science which are both along the line of the first Ray of Will or Power, plus two other rays, the sixth Ray of Devotion or Idealism and the fourth Ray of Harmony through Conflict, which are both along the line of the second Ray of Love-Wisdom. All these Rays of Attribute were—in connection with the initiations concerned—functioning within the realm of knowledge; it is a knowledge, however, dedicated eventually to spiritual intent and attained through conflict.

Chúng ta đã hoàn tất việc xem xét ảnh hưởng của bốn Các Cung Thuộc Tính lên toàn thể nhân loại và lên người đệ tử cá nhân. Nếu các bạn nghiên cứu mối liên hệ của các cung này với nhau, các bạn sẽ khám phá rằng những năng lượng đã tác động lên người điểm đạo đồ tương lai trước hết là hai cung: cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ và cung năm của Khoa Học, cả hai đều nằm trên đường của cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, cộng với hai cung khác, cung sáu của Sùng Tín hay Chủ Nghĩa Lý Tưởng và cung bốn của Hài Hòa thông qua Xung Đột, cả hai đều nằm trên đường của cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Tất cả Các Cung Thuộc Tính này—liên quan đến các lần điểm đạo được xét đến—đều đang hoạt động trong phạm vi của tri thức; tuy nhiên, đó là một tri thức cuối cùng được hiến dâng cho ý hướng tinh thần và đạt được qua xung đột.

We come now to the consideration of the three Rays of Aspect and their general and momentous effect upon [642] mankind in this cycle, and upon the disciple preparing for initiation. We are dealing, therefore, with

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét ba Các Cung Trạng Thái và ảnh hưởng chung cùng trọng đại của chúng lên [642] nhân loại trong chu kỳ này, và lên người đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo. Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến

Ray 1. Will or Power, active in connection with the 5th Initiation.

Cung 1. Ý Chí hay Quyền Năng, hoạt động liên quan đến lần Điểm Đạo thứ 5.

Ray 2. Love-Wisdom, active in connection with the 7th Initiation.

Cung 2. Bác Ái – Minh Triết, hoạt động liên quan đến lần Điểm Đạo thứ 7.

Ray 3. Active Intelligence, active in connection with the 6th Initiation.

Cung 3. Trí Tuệ Hoạt Động, hoạt động liên quan đến lần Điểm Đạo thứ 6.

The united activity of these rays lifts humanity to the higher, spiritual realm and concerns those initiations which lie a long way ahead of mankind. They lie also a considerable distance on the Path from the present point of the average disciple. I am dealing with them, however, as best I can, because the next one hundred years will see a demonstrable orientation of trained disciples towards the higher perception. You must make what you can of this information; it concerns primarily action within the Ashram—action which is, however, concerned with human development and welfare.

Hoạt động hợp nhất của các cung này nâng nhân loại lên cõi giới tinh thần cao hơn và liên quan đến những lần điểm đạo còn ở rất xa phía trước của nhân loại. Chúng cũng nằm ở một khoảng cách đáng kể trên Con Đường so với điểm hiện tại của người đệ tử trung bình. Tuy nhiên, tôi đang đề cập đến chúng hết sức có thể, vì một trăm năm tới sẽ chứng kiến một sự định hướng rõ rệt của các đệ tử được huấn luyện hướng tới tri giác cao hơn. Các bạn phải tận dụng thông tin này theo khả năng của mình; nó chủ yếu liên quan đến hoạt động bên trong ashram—một hoạt động tuy vậy vẫn liên quan đến sự phát triển và phúc lợi của nhân loại.

The 8th and the 9th initiations, governed by the four Rays of Attribute working in synthesis with the three Rays of Aspect (and working simultaneously), will necessarily be far beyond our comprehension; there is little I shall be able to tell you because I know but little myself.

Lần điểm đạo thứ 8 và thứ 9, được cai quản bởi bốn Các Cung Thuộc Tính hoạt động trong tổng hợp với ba Các Cung Trạng Thái (và hoạt động đồng thời), tất yếu sẽ vượt xa sự hiểu biết của chúng ta; tôi sẽ có thể nói với các bạn rất ít vì chính tôi cũng biết rất ít.

Does this last remark surprise you? It should not. From the exoteric angle, evolution means growth and development and is largely applied to the form side of nature, and the term “evolution” might thus be confined entirely to the evolution of the form nature. It might also be applied to development within the three worlds and to the third aspect of the divine Life. However, from the esoteric angle, evolution means a steadily increasing sensitivity to light and illumination. A Master may not possess all knowledge possible from the exoteric angle; this He does not need because (after evolution, along the line of knowledge, decided for Him by His ray type) He is on the “way of light,” and the light which is in Him and in which He lives and moves and functions serves a dual purpose: [643]

Nhận xét cuối cùng này có làm các bạn ngạc nhiên không? Điều đó không nên. Từ góc độ ngoại môn, tiến hoá có nghĩa là tăng trưởng và phát triển và phần lớn được áp dụng cho phương diện hình tướng của thiên nhiên, và do đó thuật ngữ “tiến hoá” có thể được giới hạn hoàn toàn vào sự tiến hoá của bản chất hình tướng. Nó cũng có thể được áp dụng cho sự phát triển trong ba cõi giới và cho phương diện thứ ba của Sự sống thiêng liêng. Tuy nhiên, từ góc độ nội môn, tiến hoá có nghĩa là một sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với ánh sáng và sự soi sáng. Một Chân sư có thể không sở hữu mọi tri thức có thể có từ góc độ ngoại môn; điều này Ngài không cần vì (sau khi tiến hoá, theo đường lối tri thức, đã được quyết định cho Ngài bởi loại cung của Ngài) Ngài đang ở trên “con đường ánh sáng,” và ánh sáng ở trong Ngài và trong đó Ngài sống, vận động và hoạt động phục vụ một mục đích kép: [643]

1. It can be used to ascertain whatever is needed in the realm of knowledge by the revelation of where the needed information can be found; this is far more literally so than you realise. (It was through the use of this form of light that I, for instance, found A.A.B.; I was searching for a secretary with more than the usual education and perception generally to be found, and the light revealed her from the personality angle in the three worlds.)

1. Nó có thể được dùng để xác định bất cứ điều gì cần thiết trong phạm vi tri thức bằng sự mặc khải về nơi có thể tìm thấy thông tin cần thiết; điều này đúng theo nghĩa đen hơn nhiều so với các bạn nhận ra. (Chẳng hạn, chính nhờ việc sử dụng hình thức ánh sáng này mà tôi đã tìm thấy A.A.B.; tôi đang tìm một thư ký có trình độ học vấn và tri giác cao hơn mức thông thường thường thấy, và ánh sáng đã mặc khải bà từ góc độ phàm ngã trong ba cõi giới.)

2. It can be used also to reveal to the Master that which lies ahead for Him, and those further reaches of awareness to which He knows He must eventually attain.

2. Nó cũng có thể được dùng để mặc khải cho Chân sư điều nằm phía trước Ngài, và những tầm mức nhận biết xa hơn mà Ngài biết rằng cuối cùng Ngài phải đạt tới.

The lower aspects of this light are in reality generated by the soul, whilst the higher are those which emanate from the Monad. When an initiate takes the fifth initiation (with which we are now going to deal) he has to demonstrate his facility in using the “light available” by initiating some new project in line with the hierarchical Plan and in tune with his own ray impulses. This project must have both an exoteric side and esoteric. (To illustrate further: The exoteric side of the work which I—as a newly made Master—had purposed to do can be seen in the activities which I have been enabled to accomplish in the outer world through the books which A.A.B. has taken down for me and by the establishing of the Service Activities, associated with the Arcane School. The esoteric side is of course known to me, but an analysis of it would be of no service to you, as you are not yet of the required initiate-consciousness.)

Những phương diện thấp hơn của ánh sáng này thực ra được tạo ra bởi linh hồn, trong khi những phương diện cao hơn là những gì phát xuất từ chân thần. Khi một điểm đạo đồ trải qua lần điểm đạo thứ năm (mà giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến) y phải chứng tỏ khả năng của mình trong việc sử dụng “ánh sáng sẵn có” bằng cách khởi xướng một dự án mới phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn và hòa điệu với những xung lực cung riêng của y. Dự án này phải có cả một phương diện ngoại môn lẫn nội môn. (Để minh họa thêm: phương diện ngoại môn của công việc mà tôi—với tư cách một Chân sư vừa mới được thành tựu—đã chủ định thực hiện có thể được thấy trong những hoạt động mà tôi đã có thể hoàn thành trong thế giới bên ngoài qua các cuốn sách mà A.A.B. đã ghi lại cho tôi và qua việc thiết lập các Hoạt Động Phụng Sự, gắn liền với Trường Arcane. Dĩ nhiên phương diện nội môn thì tôi biết, nhưng việc phân tích nó sẽ không ích lợi gì cho các bạn, vì các bạn chưa có tâm thức điểm đạo đồ cần thiết.)

You can see, however, how the above information can throw light upon our immediate theme:

Tuy nhiên, các bạn có thể thấy thông tin trên có thể soi sáng cho chủ đề trực tiếp của chúng ta như thế nào:

Initiation V. Revelation. Ray I. — Điểm Đạo V. Mặc Khải. Cung I.

The Energy of the Will-to-Good. Power.

Năng Lượng của Ý Chí-hướng Thiện. Quyền Năng.

This initiation has always been called in the Christian church by the name of the Resurrection, whereas it is the seventh initiation which is the true resurrection. The correct name for the fifth initiation is the Initiation of Revelation; this signifies the power to wield light as [644] the carrier of life to all in the three worlds, and to know likewise the next step to be taken upon the Way of the Higher Evolution. This Way is revealed to the initiate in a new light and with an entirely different significance when the fifth initiation is taken. It is the true time of emergence from the tomb of darkness and constitutes an entrance into a light of an entirely different nature to any hitherto experienced.

Lần điểm đạo này trong giáo hội Cơ Đốc luôn luôn được gọi là Sự Phục Sinh, trong khi chính lần điểm đạo thứ bảy mới là sự phục sinh đích thực. Tên đúng của lần điểm đạo thứ năm là Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải; điều này biểu thị quyền năng vận dụng ánh sáng như [644] vật mang sự sống đến cho tất cả trong ba cõi giới, và đồng thời biết bước kế tiếp phải thực hiện trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Con đường này được mặc khải cho điểm đạo đồ trong một ánh sáng mới và với một ý nghĩa hoàn toàn khác khi lần điểm đạo thứ năm được trải qua. Đó là thời điểm xuất hiện đích thực ra khỏi ngôi mộ của bóng tối và tạo thành một sự đi vào một ánh sáng có bản chất hoàn toàn khác với bất kỳ ánh sáng nào từng được kinh nghiệm trước đây.

Development and revelation or (if you so prefer it) a developing revelation, form essentially the entire theme and objective of all activity upon our planet. This gives us a clue to the goal of the planetary Logos. All life, from the first descent of the soul into incarnation, is only a series of revelations, all of which lead up to the revelation accorded at the fifth initiation. The relation between the fifth and the seventh initiations is exceedingly deep and mysterious. It is the revelation accorded in the fifth initiation which makes the seventh initiation possible. The Master, as He emerges at the fifth initiation into the light of day, realises in that light:

Sự phát triển và sự mặc khải hay (nếu các bạn thích) một sự mặc khải đang phát triển, về cơ bản tạo thành toàn bộ chủ đề và mục tiêu của mọi hoạt động trên hành tinh chúng ta. Điều này cho chúng ta một manh mối về mục tiêu của Hành Tinh Thượng đế. Mọi sự sống, từ lần đầu tiên linh hồn giáng xuống lâm phàm, chỉ là một chuỗi những sự mặc khải, tất cả đều dẫn đến sự mặc khải được ban ở lần điểm đạo thứ năm. Mối liên hệ giữa lần điểm đạo thứ năm và thứ bảy là vô cùng sâu xa và huyền nhiệm. Chính sự mặc khải được ban trong lần điểm đạo thứ năm làm cho lần điểm đạo thứ bảy trở nên khả hữu. Chân sư, khi Ngài xuất hiện ở lần điểm đạo thứ năm vào ánh sáng ban ngày, nhận ra trong ánh sáng đó:

1. The true and hitherto unknown significance of the three worlds which he has viewed almost entirely from the angle of meaning. Now its significance is apparent, and the revelation is so tremendous that “he withdraws into the world of light and joins his brothers. He gathers all his forces and seeks new light upon the Plan. That light shines forth and with the force of its revealing power, new loyalties arise, new goals are seen, and that which shall be and the thing which is, both become lost in the radiant light of revelation.”

1. Ý nghĩa đích thực và cho đến nay chưa được biết của ba cõi giới mà y đã nhìn gần như hoàn toàn từ góc độ của ý nghĩa. Giờ đây thâm nghĩa của nó trở nên hiển nhiên, và sự mặc khải lớn lao đến mức “y rút vào thế giới ánh sáng và gia nhập các huynh đệ của mình. Y tập hợp mọi mãnh lực của mình và tìm kiếm ánh sáng mới về Thiên Cơ. Ánh sáng đó chiếu rạng và với mãnh lực của quyền năng mặc khải của nó, những trung thành mới xuất hiện, những mục tiêu mới được nhìn thấy, và điều sẽ là cùng điều đang là, cả hai đều mất hút trong ánh sáng rực rỡ của mặc khải.”

2. That the first vibration or influencing energy of the cosmic ray of prevailing energy in its highest aspect is the Ray of Love-Wisdom, and this is now contacted; this is made possible by the Master's response to the first Ray of Power or of the Will-to-Good, experienced in its second aspect at the fifth initiation. Forget not that all rays have three aspects, and that all three can be contacted by the human consciousness of the spiritual man, thus [645] placing at his disposal the energies of the seven rays and of the twenty-one forces. It is this synthesis which is revealed at the fifth initiation and—as I said above—the combination of these forces produces the Ascension; this is an exceeding great mystery and one which cannot as yet be grasped by you. From the height of the Mount of Ascension light is thrown upon the hierarchical Plan in such a manner that the purpose in the mind of the planetary Logos is (for the first time) truly grasped.

2. Rằng rung động đầu tiên hay năng lượng tác động của cung vũ trụ của năng lượng đang chi phối trong phương diện cao nhất của nó là cung Bác Ái – Minh Triết, và giờ đây điều này được tiếp xúc; điều này trở nên khả hữu nhờ sự đáp ứng của Chân sư đối với cung một của Quyền Năng hay của Ý Chí-hướng Thiện, được kinh nghiệm trong phương diện thứ hai của nó ở lần điểm đạo thứ năm. Đừng quên rằng mọi cung đều có ba phương diện, và cả ba đều có thể được tiếp xúc bởi tâm thức nhân loại của con người tinh thần, do đó [645] đặt vào quyền sử dụng của y các năng lượng của bảy cung và của hai mươi mốt mãnh lực. Chính sự tổng hợp này được mặc khải ở lần điểm đạo thứ năm và—như tôi đã nói ở trên—sự kết hợp của các mãnh lực này tạo ra Sự Thăng Thiên; đây là một huyền nhiệm vô cùng lớn lao và hiện các bạn chưa thể nắm bắt được. Từ đỉnh của Núi Thăng Thiên, ánh sáng được chiếu rọi lên Thiên Cơ của Thánh đoàn theo cách mà mục đích trong trí của Hành Tinh Thượng đế được thực sự nắm bắt (lần đầu tiên).

3. From that height also, the mystery of the human soul is revealed and a great triangular pattern will be seen, relating the human spirit to the world of forms, to the united Hierarchy and to the Council Chamber of the Lord. Upon this I may not here enlarge, for we must not diverge too far from our study. One thing only can be said: from that high place, atma-buddhi-manas (will, love and intelligent action) can be seen in united activity and the theory of an existing Plan and the belief in the three divine aspects, or in the Trinity of Energies, is factually demonstrated.

3. Từ đỉnh cao đó cũng vậy, huyền nhiệm của linh hồn nhân loại được mặc khải và một mô hình tam giác vĩ đại sẽ được nhìn thấy, liên hệ tinh thần nhân loại với thế giới các hình tướng, với Thánh đoàn hợp nhất và với Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể. Về điều này tôi không thể nói rộng ở đây, vì chúng ta không được đi quá xa khỏi đề tài nghiên cứu của mình. Chỉ có thể nói một điều: từ nơi cao đó, atma-buddhi-manas (ý chí, bác ái và hành động thông minh) có thể được nhìn thấy trong hoạt động hợp nhất và lý thuyết về một Thiên Cơ hiện hữu cùng niềm tin vào ba phương diện thiêng liêng, hay vào Tam Vị Năng Lượng, được chứng minh như một sự kiện.

The first Ray of Will or Power is distinguished by the highest known divine quality (there are others still higher). In the word, GOODWILL, the secret purpose of the planetary Logos is hidden. It is being slowly brought to the attention of humanity by means of the three phrases: God is Love. Goodwill. The Will-to-Good. These three phrases, in reality concern the three aspects of the first ray.

Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng được phân biệt bởi phẩm tính thiêng liêng cao nhất đã biết (vẫn còn những phẩm tính cao hơn nữa). Trong từ THIỆN CHÍ, mục đích bí mật của Hành Tinh Thượng đế được ẩn giấu. Nó đang dần dần được đưa đến sự chú ý của nhân loại qua ba cụm từ: Thượng đế là Bác Ái. Thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện. Ba cụm từ này thực ra liên quan đến ba phương diện của cung một.

When a Master takes the fifth initiation He already knows the significance of the first two aspects, and must become consciously aware of the highest aspect: the Will-to-Good. He has developed in Himself “the love necessary to salvation, His own and that of those He loves, His fellow-men;” all His actions and His thinking are qualified by goodwill, in its esoteric sense, and the significance of the Will-to-Good lies ahead of Him and will be later revealed.

Khi một Chân sư trải qua lần điểm đạo thứ năm, Ngài đã biết ý nghĩa của hai phương diện đầu tiên, và phải trở nên hữu thức về phương diện cao nhất: Ý Chí-hướng Thiện. Ngài đã phát triển trong chính mình “bác ái cần thiết cho sự cứu rỗi, của chính Ngài và của những người Ngài yêu thương, những đồng loại của Ngài;” mọi hành động và tư tưởng của Ngài đều được phẩm định bởi thiện chí, theo ý nghĩa nội môn của nó, và ý nghĩa của Ý Chí-hướng Thiện nằm phía trước Ngài và sẽ được mặc khải về sau.

As this first ray is not in incarnation at this time, and therefore souls who can fully express it are absent, the entire theme anent this type of energy, and its influence [646] and quality when related to the energies and the forces, is most difficult to express. Each great ray, as it comes into incarnation, transforms the speech of the cycle, enriches the existent vocabulary, and brings new knowledge to humanity; the many civilisations—past and present—are the result of this.

Vì cung một hiện không đang lâm phàm vào lúc này, và do đó các linh hồn có thể biểu lộ trọn vẹn nó đều vắng mặt, nên toàn bộ chủ đề liên quan đến loại năng lượng này, và ảnh hưởng [646] cùng phẩm tính của nó khi liên hệ với các năng lượng và các mãnh lực, là điều rất khó diễn đạt. Mỗi đại cung, khi đi vào lâm phàm, đều chuyển hóa ngôn ngữ của chu kỳ, làm phong phú vốn từ hiện có, và mang tri thức mới đến cho nhân loại; nhiều nền văn minh—quá khứ và hiện tại—là kết quả của điều này.

I would ask you to consider the relation of the fifth initiation, the fifth Ray of Science and the first Ray of Will, for there lies the key to the revelation accorded to the initiate-Master.

Tôi muốn yêu cầu các bạn xem xét mối liên hệ giữa lần điểm đạo thứ năm, cung năm của Khoa Học và cung một của Ý Chí, vì ở đó có chìa khóa cho sự mặc khải được ban cho vị Chân sư-điểm đạo đồ.

As you can see, we are venturing into realms far beyond your comprehension; but the effort to grasp the unattainable and to exercise the mind along the line of abstract thought is ever of value.

Như các bạn có thể thấy, chúng ta đang mạo hiểm bước vào những lĩnh vực vượt xa sự hiểu biết của các bạn; nhưng nỗ lực nắm bắt điều không thể đạt tới và vận dụng trí tuệ theo đường lối tư tưởng trừu tượng luôn luôn có giá trị.

It must be remembered therefore (and I reiterate) that the revelation accorded to the disciple-initiate is along the line of the first Ray of Will or Power, and that is a ray which is as yet a long way from full manifestation. From one angle, it is of course always in manifestation for it is the ray which holds the planet and all that is upon it in one coherent manifesting whole; the reason for this coherent synthesis is the evolutionary effort to work out divine purpose. The first ray ever implements that purpose. From another angle, it is cyclic in its manifestation; here I mean from the angle of recognised manifestation—and such is the case at this time.

Do đó cần nhớ rằng (và tôi nhắc lại) sự mặc khải được ban cho đệ tử-điểm đạo đồ là theo đường lối của cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, và đó là một cung vẫn còn rất xa mới biểu hiện trọn vẹn. Từ một góc độ, dĩ nhiên nó luôn luôn ở trong biểu hiện vì đó là cung giữ hành tinh và mọi thứ trên đó trong một toàn thể biểu hiện cố kết; lý do của sự tổng hợp cố kết này là nỗ lực tiến hoá nhằm triển khai mục đích thiêng liêng. cung một luôn luôn thực thi mục đích đó. Từ một góc độ khác, nó có tính chu kỳ trong biểu hiện của nó; ở đây tôi muốn nói từ góc độ của biểu hiện được nhận biết—và hiện nay đúng là như vậy.

The Effect of Ray I on Humanity Today — Ảnh Hưởng của Cung I lên Nhân Loại Ngày Nay

Owing to extra-planetary stimulation, to the immediate planetary crisis and to the present invocative cry of humanity, energy from Shamballa has been permitted to play upon the “centre which is called the race of men” and has produced two potent results: first, the world war was precipitated and, secondly, the fission of the atom, resulting in the atomic bomb, was brought about. Both these events were made possible by the pouring-in of the energy and power of the third aspect of the first Ray of Power or Will. This is the lowest aspect, and definite [647] material effects were produced. The destroyer aspect was therefore the first aspect to take effect. It split the thought-form of materialistic living (which was governing and controlling humanity everywhere) upon the mental plane and, at the same time, it produced a great agent of destruction upon the physical plane.

Do sự kích thích ngoài hành tinh, do cuộc khủng hoảng hành tinh trước mắt và do tiếng kêu khẩn cầu hiện nay của nhân loại, năng lượng từ Shamballa đã được cho phép tác động lên “trung tâm được gọi là nhân loại” và đã tạo ra hai kết quả mạnh mẽ: thứ nhất, chiến tranh thế giới đã bị làm bùng phát và, thứ hai, sự phân hạch nguyên tử, dẫn đến bom nguyên tử, đã được mang lại. Cả hai biến cố này đều trở nên khả hữu nhờ sự tuôn vào của năng lượng và quyền năng của phương diện thứ ba của cung một của Quyền Năng hay Ý Chí. Đây là phương diện thấp nhất, và những hiệu quả vật chất rõ rệt đã được tạo ra. Do đó phương diện hủy diệt là phương diện đầu tiên phát huy tác dụng. Nó đã chẻ đôi hình tư tưởng của lối sống duy vật (đang cai quản và kiểm soát nhân loại ở khắp nơi) trên cõi trí và đồng thời tạo ra một tác nhân hủy diệt lớn lao trên cõi hồng trần.

Thus was the new era ushered in; thus was the stage set for a better future. This was the intent and the purpose of Those Who compose the Council Chamber of the Lord. It rests with humanity itself to take advantage of the proffered opportunity which this destructive manifestation made possible.

Như thế kỷ nguyên mới đã được khai mở; như thế sân khấu đã được dọn sẵn cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là ý định và mục đích của Các Ngài tạo thành Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể. Việc tận dụng cơ hội được trao mà sự biểu hiện hủy diệt này đã làm cho khả hữu hay không là tùy ở chính nhân loại.

Shamballa having acted in this manner, it is nevertheless the Hierarchy which will bring into expression a measure of the second aspect of the first Ray of Will or Power, and it is for this that the Hierarchy is preparing; it is for this event that the Christ is fitting Himself to be the distributing Agent and the directing Factor, with the concentrated assistance of the united Hierarchy; it is this that will begin to manifest when He appears. You have here the true reason for His proclaimed Coming or Reappearance. The distinction between material living and spiritual living will be clearly demonstrated. This is made possible by the cleavage of the ancient materialistic thoughtform on mental levels; the reorientation of human thinking, as this fact is grasped, will have its first results upon emotional levels through the focussed expression of human goodwill; this is the lowest aspect of the second Ray of Love-Wisdom, implemented and strengthened by the second aspect of the first Ray of Will.

Tuy Shamballa đã hành động theo cách này, nhưng chính Thánh Đoàn sẽ đưa vào biểu hiện một mức độ nào đó của phương diện thứ hai của cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, và chính cho điều này mà Thánh Đoàn đang chuẩn bị; chính cho biến cố này mà Đức Christ đang tự chuẩn bị để trở thành Tác Nhân phân phối và Yếu Tố chỉ đạo, với sự trợ giúp tập trung của Thánh Đoàn hợp nhất; chính điều này sẽ bắt đầu biểu hiện khi Ngài xuất hiện. Ở đây các bạn có lý do thực sự cho sự Đến hay Tái Xuất Hiện đã được công bố của Ngài. Sự phân biệt giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần sẽ được chứng minh rõ ràng. Điều này trở nên khả hữu nhờ sự phân rẽ của hình tư tưởng duy vật cổ xưa trên các cấp độ trí tuệ; sự tái định hướng tư tưởng nhân loại, khi sự kiện này được nắm bắt, sẽ có những kết quả đầu tiên của nó trên các cấp độ cảm xúc qua sự biểu lộ tập trung của thiện chí nhân loại; đây là phương diện thấp nhất của cung hai của Bác Ái – Minh Triết, được thực thi và tăng cường bởi phương diện thứ hai của cung một của Ý Chí.

On the physical plane, the great scientific discovery, called colloquially the “splitting of the atom,” will be turned eventually to the production of those conditions which will enable mankind to follow the good, the beautiful and the true. This men will then be able to do, freed from the dread presence of purely materialistic thinking. This is no idle vision or vague dream. Many scientists today (and particularly those who love their fellowmen) [648] are not only visioning the non-destructive aspect of atomic energy but are already engaged in harnessing—for the good of humanity—some of its products and its radioactive properties.

Trên cõi hồng trần, khám phá khoa học vĩ đại, thường được gọi là “sự tách nguyên tử,” cuối cùng sẽ được chuyển sang việc tạo ra những điều kiện giúp nhân loại theo đuổi điều thiện, điều đẹp và điều chân. Khi đó con người sẽ có thể làm được điều này, được giải thoát khỏi sự hiện diện đáng sợ của tư tưởng thuần duy vật. Đây không phải là một linh ảnh viển vông hay một giấc mơ mơ hồ. Nhiều nhà khoa học ngày nay (và đặc biệt là những người yêu thương đồng loại mình) [648] không những đang hình dung phương diện không hủy diệt của năng lượng nguyên tử mà còn đang dấn thân vào việc chế ngự—vì lợi ích của nhân loại—một số sản phẩm và các đặc tính phóng xạ của nó.

Curiously enough, it is the wise, controlled use of the results of this scientific adventure in connection with the atomic bomb which will eventually bring about a specific revelation of the nature of certain forces in relation to light; this event will transform world thinking and lead to a new type of transmutative process, as far as man is concerned.

Điều kỳ lạ là chính việc sử dụng khôn ngoan, có kiểm soát các kết quả của cuộc phiêu lưu khoa học này liên quan đến bom nguyên tử cuối cùng sẽ mang lại một sự mặc khải đặc thù về bản chất của một số mãnh lực trong mối liên hệ với ánh sáng; biến cố này sẽ chuyển đổi tư tưởng thế giới và dẫn đến một loại tiến trình chuyển hoá mới, xét theo phía con người.

It must not be inferred from the above that humanity, as a whole, will be taking the fifth initiation, for such is not the case. Many advanced souls (perhaps amounting to many thousands) may and will take this initiation, but the masses of men everywhere, constituting the sum total of the world disciple will eventually take either the first or the second initiation. The effect however of hierarchical happenings, in conjunction with Shamballa, will lead finally to the great stimulation of the fifth Principle of manas, the intelligence principle in man. A revelation which is not perceived, which remains unrelated and unexpressed, is of no true service to mankind, except from a purely subjective standpoint; nevertheless, through the proposed stimulation, through the efforts of those who have taken or who will take the fifth initiation, and through the new direction of first ray energy from Shamballa, the mental plane will receive such an inflow of energy that the thinking principle, the reasoning factor within humanity, will reach new heights. Thus will the “light stream forth into the minds of men,” and the first stanza of the Invocation prove that it can and does receive an answer to its invocative appeal.

Không nên suy ra từ những điều trên rằng toàn thể nhân loại sẽ trải qua lần điểm đạo thứ năm, vì không phải như vậy. Nhiều linh hồn tiến bộ (có lẽ lên đến nhiều ngàn) có thể và sẽ trải qua lần điểm đạo này, nhưng quần chúng ở khắp nơi, tạo thành tổng số của đệ tử thế giới, cuối cùng sẽ chỉ trải qua hoặc lần điểm đạo thứ nhất hoặc lần điểm đạo thứ hai. Tuy nhiên, ảnh hưởng của những biến cố trong Thánh đoàn, kết hợp với Shamballa, cuối cùng sẽ dẫn đến sự kích thích lớn lao đối với nguyên khí thứ năm của manas, nguyên khí trí tuệ trong con người. Một sự mặc khải không được nhận ra, vẫn không liên hệ và không được biểu lộ, thì không thực sự phụng sự nhân loại, ngoại trừ từ một quan điểm hoàn toàn chủ quan; tuy nhiên, nhờ sự kích thích được dự định, nhờ những nỗ lực của những ai đã trải qua hoặc sẽ trải qua lần điểm đạo thứ năm, và nhờ sự định hướng mới của năng lượng cung một từ Shamballa, cõi trí sẽ nhận được một dòng năng lượng tuôn vào đến mức nguyên khí tư duy, yếu tố lý trí trong nhân loại, sẽ đạt đến những đỉnh cao mới. Như thế “ánh sáng sẽ tuôn vào tâm trí loài người,” và bài kệ đầu tiên của Đại Khấn Nguyện sẽ chứng minh rằng nó có thể và thực sự nhận được sự đáp ứng đối với lời khẩn cầu của mình.

It would be good to let your spiritual imagination look forward into the future, and then vision—if you can—what is the true significance of the tremendous activity of the Hierarchy. One of the signs of the coming of this new light and energy inflow is a definitely curious one; it is [649] to be found in the instability of the human mental mechanism and the human thinking processes at this time. This is due to their premature response to the new incoming potency. It is a mass reaction, and therefore the statistical returns are somewhat misleading. It is the unready who thus react, and this entails no possible reflection upon those thus distressed (and they are to be found today in all classes and nations). The Law of Rebirth will take care of this reaction, and in the next incarnation these same people will enter a physical body with a better equipment. In reality, it is this energy from Shamballa in its third and destructive aspect which is acting upon certain members of the human family and unfortunately evoking a ready response. I tell you this for your encouragement; destruction always evokes questioning in minds attuned to human welfare and in those thinkers who are apprehensive of the suffering to which their fellowmen are subjected.

Sẽ là điều tốt nếu để sự tưởng tượng tinh thần của các bạn nhìn về tương lai, rồi hình dung—nếu có thể—ý nghĩa đích thực của hoạt động to lớn của Thánh Đoàn là gì. Một trong những dấu hiệu của sự xuất hiện của ánh sáng mới này và của dòng năng lượng tuôn vào là một dấu hiệu rõ rệt khá kỳ lạ; nó [649] được tìm thấy trong sự bất ổn của bộ máy trí tuệ con người và các tiến trình tư duy của con người vào lúc này. Điều này là do sự đáp ứng quá sớm của chúng đối với tiềm lực mới đang đi vào. Đó là một phản ứng quần chúng, và vì vậy các số liệu thống kê phần nào gây hiểu lầm. Chính những người chưa sẵn sàng phản ứng theo cách đó, và điều này không hề hàm ý sự phê phán nào đối với những người đang đau khổ như vậy (và ngày nay họ có mặt trong mọi giai cấp và mọi quốc gia). Định luật Tái Sinh sẽ chăm lo phản ứng này, và trong lần nhập thể kế tiếp chính những người ấy sẽ bước vào một thể xác với trang bị tốt hơn. Thực ra, chính năng lượng này từ Shamballa trong phương diện thứ ba và hủy diệt của nó đang tác động lên một số thành viên của gia đình nhân loại và đáng tiếc là gợi lên một sự đáp ứng sẵn sàng. Tôi nói điều này để khích lệ các bạn; sự hủy diệt luôn luôn gợi lên những câu hỏi trong những trí tuệ hòa điệu với phúc lợi nhân loại và trong những nhà tư tưởng lo ngại về nỗi đau khổ mà đồng loại họ đang phải chịu.

One of the most difficult things for the average thinking man to understand and to interpret is the destructive processes of what he (for lack of a better name) calls “the will of God.” This is one of the results (and only one) of a purely materialistic civilisation which has laid all its emphasis upon the form side of experience and thus regards physical well-being and physical comfort, plus material possessions, as the true goal of all human effort. It is upon this widespread attitude and reaction that the new incoming light will concentrate itself; as the light reveals reality, the world of phenomena and the world of spiritual values will enter into a better, directed relation.

Một trong những điều khó hiểu và khó diễn giải nhất đối với người biết suy nghĩ trung bình là các tiến trình hủy diệt của điều mà ông (vì không có tên nào tốt hơn) gọi là “ý chí của Thượng đế.” Đây là một trong những kết quả (và chỉ là một) của một nền văn minh thuần duy vật đã đặt toàn bộ sự nhấn mạnh của nó lên phương diện hình tướng của kinh nghiệm và do đó xem phúc lợi thể xác và sự tiện nghi thể xác, cộng với của cải vật chất, là mục tiêu đích thực của mọi nỗ lực nhân loại. Chính trên thái độ và phản ứng phổ biến này mà ánh sáng mới đang đi vào sẽ tập trung; khi ánh sáng mặc khải thực tại, thế giới hiện tượng và thế giới các giá trị tinh thần sẽ đi vào một mối liên hệ tốt đẹp hơn, có định hướng hơn.

From all the above, you will note that some of the effects upon humanity as a whole and the skeleton structure of the new and beautiful future will take place as a result of the new incoming first ray activity. No details can yet be given, but enough has been written down anent the basic, predisposing cause to enable you who read to ponder upon the possible effect, spiritually speaking. What is coming is a civilisation of a different yet still material nature, but animated by a growing registration by the masses [650] everywhere of an emerging spiritual objective which will transform all life and give new value and purpose to that which is material.

Từ tất cả những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy rằng một số ảnh hưởng lên toàn thể nhân loại và cấu trúc khung sườn của tương lai mới mẻ và tươi đẹp sẽ diễn ra như là kết quả của hoạt động mới đang đi vào của cung một. Chưa thể đưa ra chi tiết nào, nhưng đã viết ra đủ về nguyên nhân căn bản, có tính định hướng trước, để giúp các bạn là những người đọc có thể suy ngẫm về ảnh hưởng có thể có, xét theo phương diện tinh thần. Điều đang đến là một nền văn minh có bản chất khác nhưng vẫn còn vật chất, song được sinh động bởi sự ghi nhận ngày càng tăng của quần chúng [650] ở khắp nơi về một mục tiêu tinh thần đang xuất hiện, mục tiêu này sẽ chuyển đổi toàn bộ đời sống và ban cho điều vật chất một giá trị và mục đích mới.

Next we must consider what will be the effect of this first ray energy upon the individual disciple as he prepares for and undergoes the fifth initiation, and keys himself up for the promised revelation, thus laying himself open to an entirely new inflow of force. This he must do consciously. It is conscious absorption of energy and its conscious assimilation, plus its conscious use which distinguishes the initiate from the rest of mankind; there are of course many degrees of this desired consciousness. What the initiate will receive as a result of first ray energy will be an inflow of the second aspect of this ray—a blazing forth of the light which will focus clearly for him, and in a flash of time, the significance of that which is slowly being revealed on Earth; he sees this vision in toto for the first time. At the fourth initiation, he responds to the third aspect of this ray, the aspect of destruction; this divested him of everything, and finally and eternally destroyed all that which held him in the three worlds of human endeavour. Thus was harmony produced through conflict, and the success of the individual initiate is the guarantee of the final success of the world disciple.

Tiếp theo chúng ta phải xem xét ảnh hưởng của năng lượng cung một này lên người đệ tử cá nhân khi y chuẩn bị cho và trải qua lần điểm đạo thứ năm, và tự nâng mình lên để đón nhận sự mặc khải đã hứa, do đó mở mình ra cho một dòng mãnh lực hoàn toàn mới tuôn vào. Điều này y phải làm một cách hữu thức. Chính sự hấp thụ năng lượng hữu thức và sự đồng hóa nó hữu thức, cộng với việc sử dụng nó hữu thức, là điều phân biệt điểm đạo đồ với phần còn lại của nhân loại; dĩ nhiên có nhiều cấp độ của tâm thức mong muốn này. Điều mà điểm đạo đồ sẽ nhận được như là kết quả của năng lượng cung một sẽ là một dòng tuôn vào của phương diện thứ hai của cung này—một sự bừng sáng của ánh sáng sẽ tập trung rõ ràng cho y, và trong một khoảnh khắc thời gian, ý nghĩa của điều đang dần dần được mặc khải trên Trái Đất; lần đầu tiên y thấy linh ảnh này trong toàn thể của nó. Ở lần điểm đạo thứ tư, y đáp ứng với phương diện thứ ba của cung này, phương diện hủy diệt; điều này đã tước bỏ khỏi y mọi thứ, và cuối cùng cùng vĩnh viễn hủy diệt tất cả những gì đã giữ y trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Như thế hài hòa đã được tạo ra thông qua xung đột, và thành công của điểm đạo đồ cá nhân là sự bảo đảm cho thành công cuối cùng của đệ tử thế giới.

When it comes to a consideration of the effect of this ray at the time of the fifth initiation, you must bear in mind that the disciple has passed, in a previous incarnation, through the Initiation of Renunciation, and has established within himself a condition of complete harmony as a result of conflict—a conflict which has been raging for millennia of years and whose goal has ever been revelation. Just as a camera has to be correctly focussed in order to register correctly that which is visioned, so this harmony, once finally achieved, can be regarded as a form of focussed orientation. Throughout the many lives the disciple has lived, there have been many such moments, but they were brief and passing, serving only to stir the aspiration into activity. With the disciple of the fourth initiation, submitting [651] himself to the fifth initiation, the orientation and the focus attained remains a permanent condition. This prefaces an entirely new cycle of spiritual experience—the experience of the higher evolution—leading to that great moment when the revelation of the seven Paths is accorded to him at the following or sixth Initiation of Decision.

Khi đi đến việc xem xét ảnh hưởng của cung này vào thời điểm của lần điểm đạo thứ năm, các bạn phải ghi nhớ rằng đệ tử đã trải qua, trong một kiếp sống trước, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, và đã thiết lập bên trong mình một trạng thái hài hòa hoàn toàn như là kết quả của xung đột—một xung đột đã diễn ra suốt hàng thiên niên kỷ và mục tiêu của nó luôn luôn là sự mặc khải. Cũng như một máy ảnh phải được lấy nét đúng để ghi nhận chính xác điều được nhìn thấy, thì sự hài hòa này, một khi đã đạt được sau cùng, có thể được xem như một hình thức định hướng được tập trung. Suốt nhiều kiếp sống mà đệ tử đã sống, đã có nhiều khoảnh khắc như vậy, nhưng chúng ngắn ngủi và thoáng qua, chỉ phục vụ để khuấy động khát vọng vào hoạt động. Với đệ tử của lần điểm đạo thứ tư, đang tự đặt mình [651] dưới lần điểm đạo thứ năm, sự định hướng và sự tập trung đã đạt được vẫn là một trạng thái thường trực. Điều này mở đầu cho một chu kỳ hoàn toàn mới của kinh nghiệm tinh thần—kinh nghiệm của tiến hoá cao hơn—dẫn đến khoảnh khắc vĩ đại khi sự mặc khải về bảy Con Đường được ban cho y ở lần Điểm Đạo Quyết Định kế tiếp hay lần điểm đạo thứ sáu.

Where the ordinary everyday man is concerned, the propelling aspiration (if I may use such an unusual phrase) is of a material nature and concerns his successful progress in the world of everyday physical plane life. It might be wise to consider ambition as the lower expression of aspiration; this ambition covers all the many phases of the Path of Evolution, from the ambition of the raw savage in primeval times to gain food and shelter for himself and family to the ambition of the modern business man to reach the height of financial gain or power. Having achieved that goal, it frequently happens that, on the way to the higher octave of ambition (aspiration), there may come a cycle of lives where the ambition is directed to the creative arts. Next comes gradually the transmutation of all these ambitions into a steadily growing and consciously spiritual aspiration. The man treads then the Probationary Path and eventually the Path of Discipleship, and as his spiritual ambition grows and is paralleled by an equally steady growth in mental realisation, he passes from initiation to initiation, until there comes the culminating fifth initiation.

Đối với con người bình thường trong đời sống hằng ngày, khát vọng thúc đẩy (nếu tôi có thể dùng một cụm từ khác thường như thế) mang bản chất vật chất và liên quan đến sự tiến bộ thành công của y trong thế giới của đời sống thường nhật trên cõi hồng trần. Có lẽ nên xem tham vọng là biểu hiện thấp của khát vọng; tham vọng này bao trùm mọi giai đoạn khác nhau của Con Đường Tiến Hóa, từ tham vọng của người man dã thô sơ thời nguyên thủy muốn kiếm thức ăn và chỗ trú cho bản thân và gia đình, cho đến tham vọng của nhà kinh doanh hiện đại muốn đạt tới đỉnh cao của lợi lộc tài chính hay quyền lực. Sau khi đã đạt được mục tiêu đó, thường xảy ra rằng, trên đường tiến tới quãng tám cao hơn của tham vọng (khát vọng), có thể xuất hiện một chu kỳ nhiều kiếp sống trong đó tham vọng được hướng vào các nghệ thuật sáng tạo. Kế đó dần dần đến sự chuyển hoá của mọi tham vọng ấy thành một khát vọng tinh thần tăng trưởng đều đặn và có ý thức. Khi ấy con người bước trên Con Đường Dự Bị và cuối cùng là Con Đường Đệ Tử, và khi tham vọng tinh thần của y tăng trưởng, song hành với một sự tăng trưởng cũng đều đặn như thế trong (sự)chứng nghiệm trí tuệ, y đi từ điểm đạo này sang điểm đạo khác, cho đến khi đạt tới lần điểm đạo thứ năm tối hậu.

All his past realisations—both his material and also his spiritual realisation—have been renounced. He stands entirely free from every aspect of desire. The spiritual will has been substituted for desire. Then, reinforced by the inflow of the first ray Shamballic energy, and offering no obstructions or hindrances from within himself, as a personality, he is in a position to receive the stimulation which will enable him “to see that which is to be revealed and to accept revelation,” transmuting it into that definite realisation which will enable him to live by means of its light. You have, therefore, certain words which are concerned [652] with the method whereby the vision is accorded and revelation given:

Mọi (sự)chứng nghiệm trong quá khứ của y—cả (sự)chứng nghiệm vật chất lẫn (sự)chứng nghiệm tinh thần—đều đã được từ bỏ. Y đứng hoàn toàn tự do khỏi mọi phương diện của dục vọng. Ý chí tinh thần đã thay thế cho dục vọng. Khi ấy, được tăng cường bởi dòng năng lượng Shamballa cung một tuôn vào, và không còn đưa ra bất cứ chướng ngại hay cản trở nào từ bên trong chính mình với tư cách là một phàm ngã, y ở vào vị thế có thể tiếp nhận sự kích thích sẽ giúp y “thấy điều phải được mặc khải và chấp nhận sự mặc khải,” chuyển hoá nó thành (sự)chứng nghiệm xác định ấy, nhờ đó y có thể sống bằng ánh sáng của nó. Vì vậy, bạn có một số từ ngữ liên quan [652] đến phương pháp nhờ đó linh ảnh được ban cho và sự mặc khải được trao truyền:

1. Ambition, implemented by determination.

1. Tham vọng, được thực hiện bằng quyết tâm.

2. Aspiration, implemented by devotion or one-pointed attention.

2. Khát vọng, được thực hiện bằng sự sùng tín hay sự chú tâm nhất tâm.

3. Revelation, implemented by the will in its two lower aspects.

3. Sự mặc khải, được thực hiện bằng ý chí trong hai phương diện thấp của nó.

4. Realisation, implemented by the will in its highest aspect.

4. (Sự)chứng nghiệm, được thực hiện bằng ý chí trong phương diện cao nhất của nó.

That, briefly, is the evolutionary story of the “initiate in good standing” and it is basically the story of the will to self-betterment, the will to human service, goodwill, and finally, the will-to-good. You can see, therefore, how the great first aspect of divinity, through its three aspects, is the hidden, basic, motivating potency of life and of evolution, from the very dawn of the evolutionary cycle.

Tóm lại, đó là câu chuyện tiến hoá của “điểm đạo đồ ở vị thế vững chắc,” và về căn bản đó là câu chuyện của ý chí tự hoàn thiện, ý chí phụng sự nhân loại, thiện chí, và cuối cùng là Ý Chí-hướng Thiện. Vì vậy, bạn có thể thấy phương diện thứ nhất vĩ đại của thiên tính, qua ba phương diện của nó, là tiềm lực ẩn giấu, căn bản, thúc đẩy của sự sống và của tiến hoá, ngay từ buổi bình minh của chu kỳ tiến hoá.

The initiate in good standing looks into the heart of things; he has forced his way to the very “Heart of the Sun” (using those words in a “planetary” and not in a “solar” sense) and—from that vantage point—he becomes aware of the “Central Spiritual Sun” and the Way of the Higher Evolution which leads inevitably to that assured centre of the Most High. The three worlds of material living and the inner world of meaning which the soul has revealed to him are now left behind; he is suddenly confronted with the world of significances, with the true world of causes and of origination, and by the realm of the universal. He discovers that all he had thought anent the Law of Cause and Effect was so limited that—in the light of this Higher Evolution—it has practically become meaningless, except as the A B C whereby he can teach the children of men. He realises, through the revelation accorded, more clearly than has hitherto been possible, the Purpose of the planetary Logos. From the time of the third initiation, this purpose has been gradually revealing itself; he sees it expressing itself through Sanat Kumara, Who is the Personality expression of the planetary Logos. During the coming interval and cycle of preparation for the sixth [653] initiation, that purpose will burst upon him in blazing and synthetic glory.

Điểm đạo đồ ở vị thế vững chắc nhìn vào trái tim của vạn vật; y đã cưỡng bức mở đường đến chính “Trái Tim của Mặt Trời” (dùng những từ ấy theo nghĩa “hành tinh” chứ không phải theo nghĩa “thái dương”) và—từ điểm thuận lợi đó—y trở nên nhận biết “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” và Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, con đường tất yếu dẫn đến trung tâm bảo đảm ấy của Đấng Tối Cao. Ba cõi của đời sống vật chất và thế giới nội tại của ý nghĩa mà linh hồn đã mặc khải cho y nay bị bỏ lại phía sau; y đột nhiên đối diện với thế giới của thâm nghĩa, với thế giới chân thực của các nguyên nhân và của sự khởi nguyên, và với lĩnh vực của cái phổ quát. Y khám phá rằng mọi điều y từng nghĩ về Định luật Nhân Quả đều quá giới hạn đến nỗi—dưới ánh sáng của Tiến Hóa Cao Siêu này—nó hầu như trở nên vô nghĩa, ngoại trừ như bảng chữ cái A B C nhờ đó y có thể dạy dỗ những người con của nhân loại. Qua sự mặc khải được ban cho, y nhận ra rõ ràng hơn trước đây có thể được về Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế. Từ lần điểm đạo thứ ba, thiên ý này đã dần dần tự mặc khải; y thấy nó biểu lộ qua Đức Sanat Kumara, Đấng là biểu hiện phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế. Trong khoảng thời gian sắp tới và chu kỳ chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ sáu [653], thiên ý ấy sẽ bừng nở trước y trong vinh quang rực cháy và tổng hợp.

The way to the Central Spiritual Sun is therefore revealed to him, and he knows that he faces a period of intense preparation (not training, as that word is usually understood) for a length of time determined by world need, the nature of his service and certain undefinable ray conditions.

Vì vậy, con đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương được mặc khải cho y, và y biết rằng mình đang đối diện với một thời kỳ chuẩn bị mãnh liệt (không phải huấn luyện, theo cách từ ấy thường được hiểu) trong một khoảng thời gian được quyết định bởi nhu cầu thế giới, bản chất của sự phụng sự của y và một số điều kiện cung không thể định nghĩa.

He has to fulfill the magnetic condition which will enable him to form his own Ashram; he has to unfold a new phase of selective spiritual discrimination. The word discrimination is, however, misleading, because the form of it which he can now express carries no quality of rejection or of separation. It is a right knowledge and understanding of those karmically linked to him, a right use of an impelling attractive force which will, occultly speaking, attract the attention of those who should enter his Ashram, plus an esoteric process of blending himself and his Ashram into the full body of the Hierarchy. New Ashrams within the Hierarchy present much the same type of difficulty and problems as the entrance of a new disciple into an Ashram.

Y phải hoàn thành điều kiện từ tính sẽ giúp y có thể hình thành ashram riêng của mình; y phải khai mở một giai đoạn mới của sự phân biện tinh thần tinh thần có chọn lọc. Tuy nhiên, từ discrimination gây hiểu lầm, bởi vì hình thức của nó mà giờ đây y có thể biểu lộ không mang phẩm tính loại trừ hay phân ly nào. Đó là tri thức và thấu hiểu đúng đắn về những ai được liên kết với y bởi nghiệp quả, là việc sử dụng đúng đắn một mãnh lực hấp dẫn thôi thúc mà, nói theo huyền bí học, sẽ thu hút sự chú ý của những ai nên bước vào ashram của y, cộng thêm một tiến trình nội môn nhờ đó y và ashram của y được hòa nhập vào toàn thể Thánh Đoàn. Những ashram mới trong Thánh Đoàn cũng đặt ra gần như cùng một loại khó khăn và vấn đề như việc một đệ tử mới bước vào một ashram.

It might be said that that which holds the Hierarchy together, and that which produces a coherent Ashram, is the revelation, received in the light which that revelation produced and which leads to realisation. Ashramic responsibility, constant service within the planetary Life and the subjection of Himself and of His Ashram to cyclic stimulation from Shamballa, plus certain mysterious processes which have naught to do with form or consciousness, but with the “sensitivity of the universe,” occupy the interim between the fifth and the sixth initiations.

Có thể nói rằng điều giữ cho Thánh Đoàn gắn kết với nhau, và điều tạo ra một ashram cố kết, chính là sự mặc khải, được tiếp nhận trong ánh sáng mà sự mặc khải ấy tạo ra và dẫn đến (sự)chứng nghiệm. Trách nhiệm ashram, sự phụng sự liên tục trong Sự sống Hành tinh và việc đặt chính Ngài cùng ashram của Ngài dưới sự kích thích theo chu kỳ từ Shamballa, cộng thêm một số tiến trình huyền nhiệm nào đó không liên quan đến hình tướng hay tâm thức mà liên quan đến “tính nhạy cảm của vũ trụ,” chiếm trọn khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ năm và lần điểm đạo thứ sáu.

Initiation VI. Decision. Ray III — Điểm Đạo VI. Quyết Định. Cung III

We have concluded our study of the rays and the five initiations, and there is little more that I can tell you about the remaining four initiations, except one or two points anent the sixth Initiation of Decision; this initiation [654] is governed by the third Ray of Active Intelligence. The only reason that I am making a few comments upon the sixth initiation is that at this time a number of the Masters are taking this great step, and it has a most peculiar application to the time of the reappearance of the Christ.

Chúng ta đã kết thúc việc nghiên cứu các cung và năm lần điểm đạo, và tôi có rất ít điều hơn nữa có thể nói với bạn về bốn lần điểm đạo còn lại, ngoại trừ một hay hai điểm liên quan đến lần Điểm Đạo Quyết Định thứ sáu; lần điểm đạo này [654] được chi phối bởi cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. Lý do duy nhất khiến tôi đưa ra vài nhận xét về lần điểm đạo thứ sáu là vì vào lúc này một số Chân sư đang thực hiện bước tiến lớn lao ấy, và nó có một ứng dụng hết sức đặc biệt đối với thời kỳ Đức Christ tái lâm.

At this Initiation of Decision the Master concerned decides usually which of the seven Paths He intends to tread; some Masters decide to remain until the close of our planetary Life, at which time the “last weary Pilgrim will have found his way home”; the Earth can then be prepared for a new Humanity. When this happens, our planet will no longer be known as the planet of sorrow and of pain, but will be distinguished by a quality of tranquillity and by an aura of calm potency wherein the will of God (to be demonstrated in the next solar system) will be focussed; this—in some mysterious way—will enable the solar Logos (not the planetary Logos) to bring the first great divine aspect, that of Will or Power, into expression throughout the solar system. Instead, therefore, of the statement which explains our present solar system, “God is Love,” we shall have a dynamic expression of the will-to-good—an energy which will have been generated to some extent upon our Earth. This is the reward which the present Earth humanity will reap, and this is the consummation of the preordained task of our planetary Logos. He undertook, when He came into incarnation (through the medium of our little planet), to aid the work of the Solar Logos in expressing the will aspect of divinity.

Trong Cuộc Điểm Đạo Quyết Định này, Chân sư liên hệ thường quyết định Ngài dự định bước trên con đường nào trong bảy Con Đường; một số Chân sư quyết định ở lại cho đến lúc kết thúc Sự sống Hành tinh của chúng ta, vào thời điểm mà “người Hành Hương mệt mỏi cuối cùng sẽ tìm được đường về nhà”; khi ấy Trái Đất có thể được chuẩn bị cho một Nhân Loại mới. Khi điều này xảy ra, hành tinh của chúng ta sẽ không còn được biết đến như hành tinh của sầu khổ và đau đớn nữa, mà sẽ được phân biệt bởi một phẩm tính tĩnh lặng và bởi một hào quang của mãnh lực an bình, trong đó Ý Chí của Thượng Đế (sẽ được biểu lộ trong hệ mặt trời kế tiếp) sẽ được hội tụ; điều này—theo một cách huyền nhiệm nào đó—sẽ giúp Thái dương Thượng đế (không phải Hành Tinh Thượng đế) đưa phương diện thiêng liêng vĩ đại thứ nhất, tức Ý Chí hay Quyền Năng, vào biểu hiện khắp hệ mặt trời. Vì vậy, thay cho mệnh đề giải thích hệ mặt trời hiện nay của chúng ta, “Thượng đế là Tình thương,” chúng ta sẽ có một biểu hiện năng động của Ý Chí-hướng Thiện—một năng lượng sẽ đã được phát sinh ở một mức độ nào đó trên Trái Đất của chúng ta. Đây là phần thưởng mà nhân loại Trái Đất hiện nay sẽ gặt hái, và đây là sự hoàn tất nhiệm vụ đã được tiền định của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Khi Ngài đến lâm phàm (qua trung gian hành tinh nhỏ bé của chúng ta), Ngài đã đảm nhận việc trợ giúp công việc của Thái dương Thượng đế trong việc biểu lộ phương diện ý chí của thiên tính.

It might be simpler if I said that the experiment of manifesting the first divine aspect, through the medium of form and through a humanity which has behind it the experience of five initiations (and is therefore expressing intelligent love), will be attempted. This statement is necessarily misleading, but it embodies a truth and indicates the unfinished story of solar expression.

Có lẽ sẽ đơn giản hơn nếu tôi nói rằng thí nghiệm biểu lộ phương diện thiêng liêng thứ nhất, qua trung gian của hình tướng và qua một nhân loại có đằng sau mình kinh nghiệm của năm lần điểm đạo (và vì vậy đang biểu lộ bác ái thông tuệ), sẽ được thử nghiệm. Mệnh đề này tất yếu gây hiểu lầm, nhưng nó hàm chứa một chân lý và chỉ ra câu chuyện chưa hoàn tất của sự biểu lộ thái dương.

Today, however, in taking this sixth initiation, all of the Masters so doing and under the suggestion of the Christ, [655] continue to make the decision which will control Their future progress on one of the seven Paths of the Higher Evolution, but—at the same time—all of Them are postponing this proposed progress upon Their chosen Path in order, for a brief time, to implement and aid the work of the Christ and help towards the externalisation of the Hierarchy, through the medium of certain of its Ashrams; They will also form a protecting wall around the Christ, and act as liaison officers between Their great Leader and the Avatar of Synthesis.

Tuy nhiên, ngày nay, khi thực hiện lần điểm đạo thứ sáu này, tất cả các Chân sư làm như vậy và dưới sự gợi ý của Đức Christ, [655] vẫn tiếp tục đưa ra quyết định sẽ chi phối sự tiến bộ tương lai của Các Ngài trên một trong bảy Con Đường của Tiến Hóa Cao Siêu, nhưng—đồng thời—tất cả Các Ngài đều trì hoãn sự tiến bộ dự định này trên Con Đường đã chọn của Các Ngài để, trong một thời gian ngắn, thực hiện và trợ giúp công việc của Đức Christ và góp phần vào Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn, qua trung gian của một số ashram của Thánh đoàn; Các Ngài cũng sẽ tạo thành một bức tường bảo vệ quanh Đức Christ, và hoạt động như những viên chức liên lạc giữa Vị Lãnh Đạo vĩ đại của Các Ngài và Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp.

Christ Himself took this initiation some time ago and passed through the Resurrection Initiation and the experience of the seventh initiation. These Masters can, in a mysterious fashion, implement the expression of the divine will-to-good on Earth. They will work in collaboration with Those Masters Whose Ashrams will be the first to be anchored on Earth in the sense of physical expression because, esoterically speaking, it is “the will of God which holds them there.”

Chính Đức Christ đã trải qua lần điểm đạo này từ một thời gian trước và đã đi qua Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh cùng kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ bảy. Các Chân sư này có thể, theo một cách huyền nhiệm, thực hiện sự biểu lộ của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng trên Trái Đất. Các Ngài sẽ làm việc cộng tác với những Chân sư mà ashram của Các Ngài sẽ là những ashram đầu tiên được neo giữ trên Trái Đất theo nghĩa biểu hiện hồng trần bởi vì, nói theo huyền bí học, chính “Ý Chí của Thượng Đế giữ các Ngài ở đó.”

For ages, the potency of that which lies behind the fifth initiation—in the planetary sense and not in connection with the individual initiation with its revelation indicating first ray purpose—has held sway on Earth. Knowledge, the revealing of the Mysteries, the attainment of scientific achievement, producing the activity of the fifth plane of mind, has governed human thinking and advancement; God in nature (i.e., the planetary Logos in concrete and material expression) has been revealed, and this has culminated in that tremendous expression of power—the atomic bomb.

Trong nhiều thời đại, mãnh lực của điều nằm phía sau lần điểm đạo thứ năm—theo nghĩa hành tinh chứ không liên hệ với điểm đạo cá nhân cùng sự mặc khải của nó chỉ ra thiên ý cung một—đã ngự trị trên Trái Đất. Tri thức, sự mặc khải các Huyền Nhiệm, việc đạt được thành tựu khoa học, tạo ra hoạt động của cõi trí thứ năm, đã chi phối tư tưởng và sự tiến bộ của nhân loại; Thượng đế trong thiên nhiên (tức Hành Tinh Thượng đế trong biểu hiện cụ thể và vật chất) đã được mặc khải, và điều này đã lên đến tột đỉnh trong biểu hiện quyền năng ghê gớm ấy—quả bom nguyên tử.

Now, the potency of that which lies behind the sixth initiation will take hold of the evolutionary process and will implement divine purpose. What that potency in truth may be, we cannot yet know; we do know, however, that it is closely related to the will-to-synthesis; this will enable the Christ to break down the barriers and the separating walls which selfish, self-centred and materialistic humanity (largely with the aid of the churches of the world, with their materialistic bias) has built, thereby letting in the [656] light of understanding and clearing the way for a fuller expression of the will of God.

Giờ đây, mãnh lực của điều nằm phía sau lần điểm đạo thứ sáu sẽ nắm lấy tiến trình tiến hoá và sẽ thực hiện thiên ý. Chúng ta chưa thể biết mãnh lực ấy thực sự có thể là gì; tuy nhiên, chúng ta biết rằng nó liên hệ mật thiết với ý chí hướng đến tổng hợp; điều này sẽ giúp Đức Christ phá vỡ những rào cản và những bức tường phân cách mà nhân loại ích kỷ, tập trung vào bản thân và duy vật (phần lớn với sự trợ giúp của các giáo hội trên thế giới, với khuynh hướng duy vật của họ) đã dựng nên, nhờ đó để cho [656] ánh sáng của sự thấu hiểu tràn vào và dọn đường cho một sự biểu lộ đầy đủ hơn của Ý Chí của Thượng Đế.

I felt that the practical aspect of what the Masters are doing might prove useful to you. As to the remaining three initiations:

Tôi cảm thấy rằng phương diện thực tiễn của điều các Chân sư đang làm có thể hữu ích cho bạn. Còn về ba lần điểm đạo còn lại:

Initiation VII...The Resurrection...Ray II

Điểm Đạo VII...Sự Phục Sinh...Cung II

Initiation VIII...The Great Transition...Rays IV, V, VI, VII (the four minor Rays)

Điểm Đạo VIII...Đại Chuyển Tiếp...Các cung IV, V, VI, VII (bốn Cung phụ)

Initiation IX...The Refusal...Rays I, II, III (the three major Rays)

Điểm Đạo IX...Sự Khước Từ...Các cung I, II, III (ba Cung chính)

an analysis of them would prove to you that your comprehension has not yet been developed to the point where understanding is possible; it would therefore be a waste of time further to consider them. If you will re-read the instructions earlier given upon the seven Paths (pp. 395-427) you may glean some ideas about these later initiations; they would still, however, be impossible of application and practical usefulness at your particular stage of evolutionary development.

một sự phân tích về chúng sẽ chứng tỏ với bạn rằng sự lĩnh hội của bạn chưa phát triển đến mức có thể thấu hiểu; vì vậy, tiếp tục xem xét chúng sẽ là một sự phí thời gian. Nếu bạn đọc lại những huấn thị đã được đưa ra trước đây về bảy Con Đường (tr. 395-427), bạn có thể rút ra một số ý tưởng về những lần điểm đạo sau này; tuy nhiên, chúng vẫn sẽ không thể được áp dụng và không có ích lợi thực tiễn ở giai đoạn phát triển tiến hoá riêng biệt của bạn.

THE SEVEN AND THE NINE INITIATIONS OF OUR PLANETARY LIFE — BẢY VÀ CHÍN LẦN ĐIỂM ĐẠO CỦA SỰ SỐNG HÀNH TINH CỦA CHÚNG TA

Now let us look at these initiations from the angle of the planetary Life, as far as in us lies. We have for long looked at them from the angle of humanity, the world disciple, as well as from the angle of the individual initiate, but it must not be forgotten that these initiations have also a planetary significance. From the standpoint of the Hierarchy and of Shamballa, they constitute the major factors which make possible the initiatory process on Earth among men.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn các lần điểm đạo này từ góc độ của Sự sống Hành tinh, trong chừng mực khả năng của chúng ta. Từ lâu chúng ta đã nhìn chúng từ góc độ của nhân loại, đệ tử thế gian, cũng như từ góc độ của điểm đạo đồ cá nhân, nhưng không được quên rằng các lần điểm đạo này cũng có một ý nghĩa hành tinh. Từ quan điểm của Thánh Đoàn và của Shamballa, chúng cấu thành những yếu tố chính yếu làm cho tiến trình điểm đạo trên Trái Đất giữa những người nam và nữ trở nên khả hữu.

This naturally means in relation to our planetary Logos. It must never be forgotten that it is the progress forward upon His chosen cosmic Path which makes the entire evolutionary process possible. Just as a Master Who has taken the fifth initiation has to project His own specific undertaking, through the medium of His Ashram, thus [657] proving His response to the will aspect of the planetary Logos and making Himself responsible for a phase of the planetary Plan, so a planetary Logos has likewise—under the Law of Synthesis—to carry forward a specific project in line with the will of the Solar Logos. This our planetary Logos, Sanat Kumara, is in process of doing, providing a definite culture wherein the germ of the solar will can be fostered in one of its aspects. Then—in conjunction with a similar project going on in two other planets, thus fostering two other aspects—the nucleus of the third solar system will be brought eventually into expression.

Điều này đương nhiên có nghĩa là trong mối liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Không bao giờ được quên rằng chính sự tiến bước của Ngài trên Con Đường vũ trụ đã chọn của Ngài làm cho toàn bộ tiến trình tiến hoá trở nên khả hữu. Cũng như một Chân sư đã trải qua lần điểm đạo thứ năm phải phóng chiếu công việc đảm trách đặc thù của riêng Ngài qua trung gian ashram của Ngài, nhờ đó [657] chứng tỏ sự đáp ứng của Ngài đối với phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế và tự làm cho mình có trách nhiệm đối với một giai đoạn của Thiên Cơ hành tinh, thì một Hành Tinh Thượng đế cũng vậy—dưới Định luật Tổng Hợp—phải xúc tiến một dự án đặc thù phù hợp với ý chí của Thái dương Thượng đế. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đức Sanat Kumara, đang trong tiến trình thực hiện điều này, cung cấp một nền văn hóa xác định trong đó mầm giống của ý chí thái dương có thể được nuôi dưỡng trong một trong các phương diện của nó. Khi ấy—kết hợp với một dự án tương tự đang diễn ra trên hai hành tinh khác, nhờ đó nuôi dưỡng hai phương diện khác—hạt nhân của hệ mặt trời thứ ba cuối cùng sẽ được đưa vào biểu hiện.

It is hard for the human mind to appreciate this basic synthesis and this relationship which exists throughout the entire solar system, with the planetary Logoi implementing divine purpose; men cannot yet grasp the relations within the personality aspect of our planetary Logos—the Earth and all that is therein. But that synthesis exists and is the relating factor between our Earth and the Sun, between the various planetary Logoi and the Solar Logos. All that we can do is to get a general picture of the planetary initiations, the seven initiations and the nine.

Đối với trí tuệ con người, thật khó để đánh giá tổng hợp căn bản này và mối liên hệ tồn tại khắp toàn bộ hệ mặt trời, với các Hành Tinh Thượng đế đang thực hiện thiên ý; con người chưa thể nắm bắt được các mối liên hệ bên trong phương diện phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta—Trái Đất và mọi sự trong đó. Nhưng sự tổng hợp ấy có tồn tại và là yếu tố liên kết giữa Trái Đất của chúng ta với Mặt Trời, giữa các Hành Tinh Thượng đế khác nhau với Thái dương Thượng đế. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là có được một bức tranh tổng quát về các lần điểm đạo hành tinh, bảy lần điểm đạo và chín lần điểm đạo.

The only manner in which we can grasp even a small measure of planetary intention is through a study of the great civilisations which have been developed by humanity under impression from the highest spiritual sources on our planet; these have hitherto reached us via the Hierarchy. To these civilisations must be added the cultures which have evolved out of them. This obviously we cannot do, for it would require research into all the known and the unknown historical periods and cycles, plus a consideration of all the evidence—anthropological, architectural and sociological. To this approach to the intent and the purpose of the planetary Logos must be added a consideration of certain crises in the life of mankind which are in the nature of minor initiations to which the planetary Logos has subjected Himself, in the sense that He is the Initiator. Humanity, being the most highly developed evolutionary product upon our planet, reacts to these initiations; they [658] produce world events, and those stupendous points of crisis which (up to date) have worked destructively where the form aspect is concerned, but which have developed into those stages of sensitive unfoldment and progression when the work of the Builders (the second divine aspect) is added to and takes advantage of the liberty or release brought about by the Destroyer (the first aspect). There are always these two phases.

Cách duy nhất mà chúng ta có thể nắm bắt dù chỉ một phần nhỏ của ý định hành tinh là qua việc nghiên cứu những nền văn minh lớn đã được nhân loại phát triển dưới sự cảm ứng từ các nguồn tinh thần cao nhất trên hành tinh của chúng ta; cho đến nay, những điều này đã đến với chúng ta qua Thánh Đoàn. Vào các nền văn minh ấy phải cộng thêm những nền văn hóa đã tiến hoá từ chúng. Hiển nhiên chúng ta không thể làm điều này, vì nó sẽ đòi hỏi sự khảo cứu mọi thời kỳ và chu kỳ lịch sử đã biết lẫn chưa biết, cộng thêm việc xem xét mọi bằng chứng—nhân học, kiến trúc học và xã hội học. Vào cách tiếp cận này đối với ý định và thiên ý của Hành Tinh Thượng đế còn phải thêm vào việc xem xét một số cuộc khủng hoảng trong đời sống nhân loại, vốn có bản chất là những lần điểm đạo nhỏ mà Hành Tinh Thượng đế đã tự đặt mình vào, theo nghĩa Ngài là Đấng Điểm đạo. Nhân loại, là sản phẩm tiến hoá phát triển cao nhất trên hành tinh שלנו, phản ứng với những lần điểm đạo này; chúng [658] tạo ra các biến cố thế giới, và những điểm khủng hoảng to lớn ấy mà (cho đến nay) đã hoạt động một cách hủy diệt xét về phương diện hình tướng, nhưng đã phát triển thành những giai đoạn khai mở nhạy cảm và tiến bộ khi công việc của các đấng kiến tạo (phương diện thiêng liêng thứ hai) được thêm vào và tận dụng sự tự do hay giải thoát do Đấng Hủy Diệt (phương diện thứ nhất) mang lại. Luôn luôn có hai giai đoạn này.

Through the past civilisations and their eventual catastrophic destruction, the planetary Logos has gradually prepared the ground or planetary field for the “planting of the germ of Will”—the nurturing of which is a future part of human destiny. The seven major phases of the unfoldment of the human race (of which our modern Aryan race is the fifth) are in the nature of seven planetary initiations or unfoldments; the word “initiation” is not to be understood in the exact sense in which human initiations are understood and interpreted. Men are initiated into phases of the divine consciousness through applied stimulation, whereby their vehicles evidence readiness; in connection with the planetary Logos, it is He Who initiated a new process in seven phases, preparatory to the expected divine planting. It must be borne in mind that the use of the word “planting” is purely symbolic. Each phase brings the original divine purpose or spiritual project nearer to fruition, and it is for this that Sanat Kumara came into manifestation or incarnation.

Qua các nền văn minh trong quá khứ và sự hủy diệt thảm khốc cuối cùng của chúng, Hành Tinh Thượng đế đã dần dần chuẩn bị mặt đất hay cánh đồng hành tinh cho “việc gieo trồng mầm giống của Ý Chí”—việc nuôi dưỡng nó là một phần tương lai trong định mệnh của nhân loại. Bảy giai đoạn chính của sự khai mở của nhân loại (trong đó nhân loại Arya hiện đại của chúng ta là giai đoạn thứ năm) có bản chất là bảy lần điểm đạo hay khai mở hành tinh; từ “điểm đạo” không được hiểu theo đúng nghĩa mà các lần điểm đạo của con người được hiểu và diễn giải. Con người được điểm đạo vào các giai đoạn của tâm thức thiêng liêng qua sự kích thích được áp dụng, nhờ đó các hiện thể của họ biểu lộ sự sẵn sàng; còn liên quan đến Hành Tinh Thượng đế, chính Ngài là Đấng đã khởi xướng một tiến trình mới trong bảy giai đoạn, chuẩn bị cho việc gieo trồng thiêng liêng được mong đợi. Cần ghi nhớ rằng việc dùng từ “gieo trồng” hoàn toàn có tính biểu tượng. Mỗi giai đoạn đưa thiên ý nguyên thủy hay dự án tinh thần đến gần sự thành tựu hơn, và chính vì điều này mà Đức Sanat Kumara đã đi vào biểu hiện hay lâm phàm.

Each of these phases affects all the four kingdoms in nature, producing a higher stage of sensitivity in each successive one, but it is only in the fourth kingdom, the human, that there exists the possibility of a conscious registering and recognition of divine intent and a faint vibrating response to the will aspect of divinity. It has taken a millennia of years to bring this about. When you remember that it has only been in the present world crisis that the planetary Logos dared subject the forms in all the four kingdoms to the direct stimulation of His impelling will, you will realise the long, long patience which is perhaps [659] His most distinctive characteristic. Patience is a quality of will; it is of the nature of a strict adherence to a fixed intention. At each transition from one civilisation to another (each being built upon the cultural seed of the preceding one, after a due flowering of the civilisation) we could say of Sanat Kumara what has been said of the Christ, that “He sees of the travail of His soul and is satisfied.” So blind are men that when a civilisation comes to an end, when the familiar mode of cultural expression is brought (as is usual) under the hand of the destroyer, humanity regards it as a major disaster and dreads and fears the ruin which usually surrounds such an event. But from the standpoint of the world of significances, progress is seen and the day of fulfillment draws much nearer.

Mỗi giai đoạn này ảnh hưởng đến cả bốn giới trong thiên nhiên, tạo ra một mức độ nhạy cảm cao hơn trong từng giới kế tiếp, nhưng chỉ trong giới thứ tư, giới nhân loại, mới tồn tại khả năng ghi nhận và nhận biết một cách có ý thức về ý định thiêng liêng cùng một đáp ứng rung động mờ nhạt đối với phương diện ý chí của thiên tính. Phải mất hàng ngàn năm mới đem lại được điều này. Khi bạn nhớ rằng chỉ trong cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay Hành Tinh Thượng đế mới dám đặt các hình tướng trong cả bốn giới dưới sự kích thích trực tiếp của ý chí thôi thúc của Ngài, bạn sẽ nhận ra sự kiên nhẫn lâu dài, lâu dài ấy, vốn có lẽ [659] là đặc tính nổi bật nhất của Ngài. Kiên nhẫn là một phẩm tính của ý chí; nó thuộc về bản chất của sự kiên trì nghiêm ngặt đối với một ý định cố định. Ở mỗi cuộc chuyển tiếp từ nền văn minh này sang nền văn minh khác (mỗi nền được xây dựng trên hạt giống văn hóa của nền trước, sau khi nền văn minh ấy đã nở hoa đúng mức), chúng ta có thể nói về Đức Sanat Kumara điều đã được nói về Đức Christ, rằng “Ngài thấy sự lao khổ của linh hồn Ngài và được thỏa lòng.” Con người mù quáng đến nỗi khi một nền văn minh đi đến chỗ kết thúc, khi phương thức biểu lộ văn hóa quen thuộc bị đặt (như thường lệ) dưới bàn tay của đấng hủy diệt, nhân loại xem đó là một tai họa lớn và kinh hãi, sợ hãi trước sự đổ nát thường bao quanh một biến cố như thế. Nhưng từ quan điểm của thế giới của thâm nghĩa, sự tiến bộ được nhìn thấy và ngày thành tựu đang đến gần hơn nhiều.

Our modern civilisation today (under the hammer of the destroyer aspect) is being changed; old things are passing away, having served their purpose. The new thing is not yet noted or appreciated, though already present. The work of preparation for the planting of the germ or seed of the divine will on Earth is nearly over; when the Hierarchy is externalised, and men as a whole recognise the position on Earth of the Christ and of His church “invisible” (the union of all souls made perfect, which is a true description of the Hierarchy), then—in a manner unforeseen by humanity—Shamballa will assume control, and from the Council Chamber of Sanat Kumara will issue forth the Sower of the seed; He will sow it within the ground prepared by humanity, and thus the future is assured, not for the planetary Logos alone, but for that greater Whole in which our planet plays its little part. That moment lies ahead in the civilisation which shall be, and in the next great race which will emerge out of all our modern races and nations, the sowing will take place. The next race will be a fusion of the whole, and a world-wide recognition of the One Humanity is an essential prerequisite of the sowing. It is the creation of this universal recognition which will be one of the major tasks of the reappearing Christ and His attendant Hierarchy. When the “little wills of [660] men” are beginning to respond on a measurably large scale to the greater Will of the divine Life, then the major task of Shamballa will become possible; nevertheless, prior to that, humanity must respond to the light and the love which are the preparatory streams of spiritual energy and which are already pouring forth in response to human invocation.

Nền văn minh hiện đại của chúng ta ngày nay (dưới búa tạ của phương diện hủy diệt) đang được thay đổi; những điều cũ đang qua đi, vì chúng đã phục vụ xong mục đích của mình. Điều mới chưa được nhận thấy hay đánh giá, dù đã hiện diện rồi. Công việc chuẩn bị cho việc gieo trồng mầm giống hay hạt giống của ý chí thiêng liêng trên Trái Đất gần như đã hoàn tất; khi Thánh Đoàn được ngoại hiện, và con người nói chung nhận ra vị trí trên Trái Đất của Đức Christ và giáo hội “vô hình” của Ngài (sự hợp nhất của mọi linh hồn đã được hoàn thiện, vốn là một mô tả chân thực về Thánh Đoàn), khi ấy—theo một cách không lường trước được đối với nhân loại—Shamballa sẽ nắm quyền kiểm soát, và từ Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara sẽ xuất hiện Đấng Gieo Hạt; Ngài sẽ gieo nó vào trong mảnh đất do nhân loại chuẩn bị, và như thế tương lai được bảo đảm, không chỉ cho riêng Hành Tinh Thượng đế mà còn cho Toàn Thể lớn lao hơn trong đó hành tinh của chúng ta đóng vai trò nhỏ bé của mình. Thời điểm ấy nằm ở phía trước trong nền văn minh sẽ đến, và trong nhân loại lớn tiếp theo sẽ xuất hiện từ tất cả các nhân loại và quốc gia hiện đại của chúng ta, việc gieo hạt sẽ diễn ra. Nhân loại kế tiếp sẽ là một sự dung hợp của toàn thể, và sự công nhận trên toàn thế giới về Một Nhân Loại là điều kiện tiên quyết thiết yếu cho việc gieo hạt. Việc tạo ra sự công nhận phổ quát này sẽ là một trong những nhiệm vụ lớn của Đức Christ tái lâm và Thánh Đoàn đi theo Ngài. Khi “những ý chí nhỏ bé của [660] con người” bắt đầu đáp ứng ở một quy mô lớn có thể đo lường được đối với Ý Chí lớn hơn của Sự sống thiêng liêng, khi ấy nhiệm vụ lớn của Shamballa sẽ trở nên khả hữu; tuy nhiên, trước đó, nhân loại phải đáp ứng với ánh sáng và tình thương, là những dòng năng lượng tinh thần chuẩn bị và hiện đang tuôn đổ để đáp lại sự khẩn cầu của nhân loại.

In comprehending the planetary initiatory processes as instituted by the planetary Logos, men must relate them to the great crises which have occurred in all the races of men. Just as the initiate-disciple passes from one initiation to another through a process of continuously leaving behind those aspects of the form life which have been destroyed by him as useless, so humanity leaves behind civilisation after civilisation under the stimulus of the evolving purpose of Sanat Kumara Who initiates constantly that which is new and that which will better serve His will. Men are apt to think that the whole evolutionary process—including the development of the subhuman kingdoms in nature—is merely a mode whereby men can reach perfection and develop better forms through which to manifest that perfection. But in the last analysis, human progress is purely relative and incidental. The factor of supreme importance is the ability of the planetary Logos to carry out His primary intention and bring His “project” to a sound consummation, thus fulfilling the task given to Him by His great superior, the Solar Logos.

Trong việc thấu hiểu các tiến trình điểm đạo hành tinh do Hành Tinh Thượng đế thiết lập, con người phải liên hệ chúng với những cuộc khủng hoảng lớn đã xảy ra trong mọi nhân loại của loài người. Cũng như đệ tử-điểm đạo đồ đi từ điểm đạo này sang điểm đạo khác qua một tiến trình liên tục bỏ lại phía sau những phương diện của đời sống hình tướng mà y đã hủy bỏ như vô dụng, thì nhân loại cũng bỏ lại phía sau nền văn minh này đến nền văn minh khác dưới sự kích thích của thiên ý đang tiến hoá của Đức Sanat Kumara, Đấng không ngừng khởi xướng điều mới mẻ và điều sẽ phụng sự ý chí của Ngài tốt hơn. Con người có khuynh hướng nghĩ rằng toàn bộ tiến trình tiến hoá—bao gồm cả sự phát triển của các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên—chỉ đơn thuần là một phương thức nhờ đó con người có thể đạt đến sự hoàn thiện và phát triển những hình tướng tốt hơn để biểu lộ sự hoàn thiện ấy. Nhưng trong phân tích cuối cùng, sự tiến bộ của con người chỉ là tương đối và ngẫu nhiên. Yếu tố có tầm quan trọng tối thượng là khả năng của Hành Tinh Thượng đế trong việc thực hiện ý định sơ khởi của Ngài và đưa “dự án” của Ngài đến chỗ hoàn tất vững chắc, nhờ đó hoàn thành nhiệm vụ được giao cho Ngài bởi Đấng bề trên vĩ đại của Ngài, Thái dương Thượng đế.

The eighth and the ninth initiations (of which neither you nor I can know practically anything) relate to the initiations of those methods and techniques whereby the “seed of will,” which will later flower into the third solar system, can be nurtured and fostered and its growth promoted. This nurturing and fostering will be the task of a group of Masters (to be developed in the next major race) Who, at the Initiation of Decision, the sixth initiation, will dedicate Themselves, as a group, to the Path of Earth Service. They will specifically and with full enlightenment pledge Themselves to the promotion of Sanat Kumara's project. With this our present group of Masters are not specifically [661] concerned; Their task is the application of the evolutionary process with a view to the preparation of the field of the world for the future divine sowing.

Lần điểm đạo thứ tám và thứ chín (mà cả bạn lẫn tôi đều không thể biết được thực tế điều gì) liên quan đến việc điểm đạo vào những phương pháp và kỹ thuật nhờ đó “hạt giống của ý chí,” về sau sẽ nở hoa thành hệ mặt trời thứ ba, có thể được nuôi dưỡng, chăm bón và thúc đẩy tăng trưởng. Việc nuôi dưỡng và chăm bón này sẽ là nhiệm vụ của một nhóm Chân sư (sẽ được phát triển trong nhân loại lớn tiếp theo), những Đấng mà trong Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, lần điểm đạo thứ sáu, sẽ hiến mình, với tư cách một nhóm, cho Con Đường Phụng Sự Trái Đất. Các Ngài sẽ đặc biệt và với sự giác ngộ trọn vẹn cam kết chính mình cho việc thúc đẩy dự án của Đức Sanat Kumara. Với điều này, nhóm Chân sư hiện nay của chúng ta không đặc biệt [661] liên quan; nhiệm vụ của Các Ngài là áp dụng tiến trình tiến hoá nhằm chuẩn bị cánh đồng thế giới cho việc gieo hạt thiêng liêng trong tương lai.

More I cannot tell you. All I have done is to give you a hint as to the significance of the initiations, instituted by the Lord of the World. These are not, may I repeat, initiations to which the planetary Logos is Himself subjected. The world crises, which ever precede initiation on a planetary scale, are part of the preparatory work, tests and trials which make possible some cosmic initiation to which He has been and will eventually be subjected. With them we have no concern, nor would you understand if I were to be in any way explicit. The Law of Analogy and of Correspondences breaks down at a certain point upon the path of understanding, and something new and utterly different enters in. The Law of Analogy holds good when considering the microcosm within the life of the Macrocosm, but if you ventured outside that limited and manifested Life (if that were possible, which it is not) you would contact other Laws and other approaches to truth, existent on cosmic levels.

Tôi không thể nói thêm với bạn. Tất cả những gì tôi đã làm là gợi cho bạn một ám chỉ về ý nghĩa của các lần điểm đạo do Đức Chúa Tể Thế Giới thiết lập. Xin nhắc lại, đây không phải là những lần điểm đạo mà chính Hành Tinh Thượng đế phải chịu. Những cuộc khủng hoảng thế giới, vốn luôn đi trước điểm đạo trên quy mô hành tinh, là một phần của công việc chuẩn bị, những thử nghiệm và khảo nghiệm làm cho một cuộc điểm đạo vũ trụ nào đó mà Ngài đã và cuối cùng sẽ phải trải qua trở nên khả hữu. Chúng không liên quan gì đến chúng ta, và bạn cũng sẽ không hiểu nếu tôi nói rõ theo bất kỳ cách nào. Định luật tương đồng và định luật tương ứng bị phá vỡ tại một điểm nhất định trên con đường thấu hiểu, và một điều gì đó mới mẻ và hoàn toàn khác biệt đi vào. Định luật tương đồng vẫn đúng khi xem xét tiểu thiên địa trong sự sống của Đại thiên địa, nhưng nếu bạn mạo hiểm đi ra ngoài Sự sống biểu hiện và giới hạn ấy (nếu điều đó là có thể, mà thực ra không phải), bạn sẽ tiếp xúc với những Định luật khác và những cách tiếp cận chân lý khác, tồn tại trên các cấp độ vũ trụ.

There is little more that I can tell you anent the planetary initiations or—as they might be more correctly called—the planetary initiatory processes. These affect our entire planetary life but are not essentially initiations as we understand the term, or as that word could be applied to Sanat Kumara. They are a definite part of cosmic process and particularly of solar evolution, but they are, as we have seen, only preparatory to that initiation for which our world was made—the manifestation on Earth of the highest of the three aspects: the WILL of God, as it is universally called.

Tôi có rất ít điều hơn nữa có thể nói với bạn liên quan đến các lần điểm đạo hành tinh hay—như có lẽ nên gọi chính xác hơn—các tiến trình điểm đạo hành tinh. Chúng ảnh hưởng đến toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta nhưng về bản chất không phải là các lần điểm đạo như chúng ta hiểu thuật ngữ này, hay như từ ấy có thể được áp dụng cho Đức Sanat Kumara. Chúng là một phần xác định của tiến trình vũ trụ và đặc biệt của tiến hoá thái dương, nhưng như chúng ta đã thấy, chúng chỉ là sự chuẩn bị cho lần điểm đạo mà thế giới của chúng ta đã được tạo ra để phục vụ—sự biểu lộ trên Trái Đất của phương diện cao nhất trong ba phương diện: Ý CHÍ của Thượng Đế, như nó được gọi một cách phổ quát.

THE SIGNIFICANCE OF THE INITIATIONS — Ý NGHĨA CỦA CÁC LẦN ĐIỂM ĐẠO

We now start our consideration of the nine initiations, only this time we shall be occupied with the relationship and the detail connected with each initiation, [662] viewing them when possible from the angle of the Hierarchy and its effort on behalf of the evolutionary progress of the race, and not so much from the angle of the soul-infused personality of the disciple. It must be remembered from the start that no disciple can pass through the initiatory experience unless he is a soul-infused individual and is consciously aware on soul levels of the various happenings, possibilities, undertakings and implications.

Giờ đây chúng ta bắt đầu xem xét chín lần điểm đạo, chỉ khác là lần này chúng ta sẽ bận tâm đến mối liên hệ và chi tiết gắn với từng lần điểm đạo, [662] khi có thể thì nhìn chúng từ góc độ của Thánh Đoàn và nỗ lực của Thánh Đoàn vì sự tiến bộ tiến hoá của nhân loại, chứ không quá nhiều từ góc độ của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của đệ tử. Ngay từ đầu cần nhớ rằng không đệ tử nào có thể trải qua kinh nghiệm điểm đạo trừ phi y là một cá nhân được linh hồn thấm nhuần và có ý thức nhận biết trên các cấp độ linh hồn về những biến cố, khả năng, công việc đảm trách và hàm ý khác nhau.

In all the many books which I have given to the world I have taught much anent initiation; I have sought to bring a saner, more reasonable presentation of these great crises in the life of every disciple. It is wise to note that an initiation is in reality a crisis, a climaxing event, and is only truly brought about when the disciple has learnt patience, endurance and sagacity in emerging from the many preceding and less important crises. An initiation is a culminating episode, made possible because of the self-inspired discipline to which the disciple has forced himself to conform.

Trong tất cả nhiều quyển sách mà tôi đã trao cho thế giới, tôi đã giảng dạy nhiều điều liên quan đến điểm đạo; tôi đã tìm cách mang lại một cách trình bày lành mạnh hơn, hợp lý hơn về những cuộc khủng hoảng lớn này trong đời sống của mọi đệ tử. Khôn ngoan thay khi lưu ý rằng một lần điểm đạo thực ra là một cuộc khủng hoảng, một biến cố đạt đến cực điểm, và chỉ thực sự được mang lại khi đệ tử đã học được sự kiên nhẫn, sức chịu đựng và sự minh triết trong việc vượt ra khỏi nhiều cuộc khủng hoảng đi trước và ít quan trọng hơn. Một lần điểm đạo là một giai đoạn đỉnh điểm, trở nên khả hữu nhờ sự kỷ luật do chính mình khơi dậy mà đệ tử đã buộc mình phải tuân theo.

Much has been said in the occult books about the preparatory work to be done and the effort which such a task entails, plus the realisation of the consequences initiated and expressing themselves through the individual aspirant. Little has been said anent the more important truth that initiation admits a man into some area or level of the divine consciousness—into a plane or rather a state of being hitherto regarded as sealed and closed.

Nhiều điều đã được nói trong các sách huyền bí về công việc chuẩn bị phải làm và nỗ lực mà nhiệm vụ ấy đòi hỏi, cộng thêm sự chứng nghiệm về những hậu quả được khởi động và biểu lộ qua người chí nguyện cá nhân. Ít điều đã được nói liên quan đến chân lý quan trọng hơn rằng điểm đạo cho phép một người bước vào một khu vực hay cấp độ nào đó của tâm thức thiêng liêng—vào một cõi hay đúng hơn là một trạng thái hiện hữu mà trước đây được xem là niêm phong và khép kín.

I shall not touch upon the ray effects, because we have already considered them, and because each level of consciousness, each phase or revealed area of the “lighted Way” is open to souls on all the rays and to every type of initiate.

Tôi sẽ không đề cập đến các hiệu ứng của cung, vì chúng ta đã xem xét chúng rồi, và vì mỗi cấp độ tâm thức, mỗi giai đoạn hay khu vực được mặc khải của “Con Đường được Soi Sáng” đều mở ra cho các linh hồn trên mọi cung và cho mọi loại điểm đạo đồ.

From the standpoint of the Hierarchy, it is not the individual initiate who is of importance, but the groups in every land who face initiation, and who fall into three categories:

Từ quan điểm của Thánh Đoàn, điều quan trọng không phải là điểm đạo đồ cá nhân, mà là các nhóm ở mọi quốc gia đang đối diện với điểm đạo, và rơi vào ba loại:

1. Those in the group who have caught the vision, who accept the fact of the Hierarchy and of proffered opportunity, [663] but who are nevertheless quite unready for their next step and must be taught and prepared to take it. Yet they are “set apart for fulfillment,” as it is esoterically called, and in spite of fluctuations and the many vicissitudes of the Path, they will eventually attain their goal.

1. Những người trong nhóm đã nắm bắt được linh ảnh, chấp nhận sự kiện về Thánh Đoàn và cơ hội được trao ban, [663] nhưng tuy vậy vẫn hoàn toàn chưa sẵn sàng cho bước kế tiếp của mình và phải được dạy dỗ và chuẩn bị để thực hiện nó. Tuy nhiên, họ “được biệt riêng cho sự hoàn thành,” như cách gọi trong huyền bí học, và bất chấp những dao động cùng nhiều thăng trầm của Con Đường, cuối cùng họ sẽ đạt được mục tiêu của mình.

2. Those in preparation for some specific initiation, particularly the first initiation to the third (inclusive). They have set their hands to the plow—another way of saying symbolically that they are toiling for and serving their fellowmen.

2. Những người đang chuẩn bị cho một lần điểm đạo đặc thù nào đó, đặc biệt là từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần điểm đạo thứ ba (kể cả). Họ đã đặt tay mình vào lưỡi cày—một cách khác để nói theo biểu tượng rằng họ đang lao động và phụng sự đồng loại của mình.

3. Those who have had the needed training and await the hour of initiation. As I have said, the first two initiations—those of the Birth and the Baptism—are not regarded by the Hierarchy as major initiations. They are in the nature of initiations of the threshold and are simply phases of, or preparatory to, the third initiation (as occult students call it), which is in reality the first major initiation. This must be most carefully held in mind, for these initiations indicate the process through which the personality can become soul-infused and the energy of the Spiritual Triad can make its presence felt.

3. Những người đã có sự huấn luyện cần thiết và đang chờ giờ điểm đạo. Như tôi đã nói, hai lần điểm đạo đầu tiên—đó là điểm đạo Giáng Sinh và điểm đạo Thanh Tẩy—không được Thánh Đoàn xem là những lần điểm đạo chính. Chúng có bản chất là những lần điểm đạo nơi ngưỡng cửa và chỉ đơn giản là các giai đoạn của, hay sự chuẩn bị cho, lần điểm đạo thứ ba (như các đạo sinh huyền bí học gọi), vốn thực ra là lần điểm đạo chính đầu tiên. Điều này phải được ghi nhớ hết sức cẩn thận, vì các lần điểm đạo này chỉ ra tiến trình nhờ đó phàm ngã có thể được linh hồn thấm nhuần và năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần có thể làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận.

For the sake of clarity, however, and because the Birth and Baptism initiations have been counted in with the true major initiations by the modern teachers of theosophy and similar occult bodies, and because people are therefore accustomed so to consider them, we will preserve the old method of counting them. The thought of soul-infusion must be held in mind—a soul-indwelling which culminates at the third initiation, and of monadic control which increasingly possesses the soul-infused personality. This higher possessiveness steadily increases from the time of the third initiation until the seventh initiation; after the seventh initiation a condition can be seen which is extra-planetary in nature and of which little can be known. This brings in—for the first time—a registration or recognition of cosmic consciousness.

Tuy nhiên, vì mục đích rõ ràng, và bởi vì các lần điểm đạo Giáng Sinh và Thanh Tẩy đã được các huấn sư Thông Thiên Học hiện đại và các tổ chức huyền bí tương tự tính chung vào các lần điểm đạo chính thực sự, và vì vậy mọi người đã quen xem chúng như thế, chúng ta sẽ giữ phương pháp đếm cũ. Tư tưởng về sự phú linh của linh hồn phải được ghi nhớ—một sự ngự nhập của linh hồn đạt đến cực điểm ở lần điểm đạo thứ ba, và về sự kiểm soát của chân thần ngày càng chiếm hữu phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Sự chiếm hữu cao hơn này tăng đều từ lần điểm đạo thứ ba cho đến lần điểm đạo thứ bảy; sau lần điểm đạo thứ bảy có thể thấy một trạng thái có bản chất ngoài hành tinh và rất ít điều có thể được biết về nó. Điều này lần đầu tiên đưa vào một sự ghi nhận hay nhận biết về tâm thức vũ trụ.

Let us now consider these initiations, one by one. [664]

Giờ đây, chúng ta hãy xem xét các lần điểm đạo này, từng cái một. [664]

Initiation I. The Birth at Bethlehem — Điểm Đạo I. Sự Giáng Sinh tại Bethlehem

I have preserved the above Christian nomenclature because of its familiarity and because (symbolically speaking) it conveys an aspect of a major truth. Just as the birth of a child is an entrance into light, literally speaking, and the beginning of an entirely new way of life, so each successive initiation is in an exactly similar manner an entrance into light, involving the revelation of a different world to the one hitherto known, and the undergoing of entirely new experiences. If students would keep this symbology and this definition carefully in mind, they would arrive at a keener concept of the processes which lie ahead of them. This is particularly true in connection with this first initiation; the analogy holds good from the very dawn of history, where humanity is considered.

Tôi đã giữ lại danh xưng Kitô giáo trên đây vì tính quen thuộc của nó và vì (nói theo biểu tượng) nó chuyển tải một phương diện của một chân lý lớn. Cũng như sự sinh ra của một đứa trẻ là một sự đi vào ánh sáng, theo nghĩa đen, và là khởi đầu của một lối sống hoàn toàn mới, thì mỗi lần điểm đạo kế tiếp cũng theo cách hoàn toàn tương tự là một sự đi vào ánh sáng, bao hàm sự mặc khải của một thế giới khác với thế giới đã biết trước đó, và việc trải qua những kinh nghiệm hoàn toàn mới. Nếu các đạo sinh ghi nhớ cẩn thận biểu tượng học và định nghĩa này, họ sẽ đạt đến một quan niệm sắc bén hơn về những tiến trình đang ở phía trước họ. Điều này đặc biệt đúng liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất này; phép loại suy vẫn đúng ngay từ buổi bình minh của lịch sử, khi xét đến nhân loại.

In ancient Lemuria, with the coming in of the mental idea and mechanism, the low grade animal life (which, to a certain extent, looked human but was definitely mindless, unknowing and unseeing) became suddenly aware of that which threw light upon its way. It meant little to the animal men of those days, but it came increasingly to have significance as millennia of years elapsed; civilisations came and went; races developed and disappeared. In Lemurian days, the indwelling light of perception (though it was a perception so remote from ours as to be practically inconceivable) revealed the physical world and that found upon it which the human being of that time would deem desirable. Later, in Atlantean times, that same indwelling light and unfolding light of the mind served to reveal the world of emotions, and in the later half of that period it revealed the more aesthetic values; the arts began to flourish; colour and beauty were registered. In our more modern Aryan race, the light has revealed the world of thought and has brought us to a synthesis of the senses; these senses were developed in earlier cycles of human living. Each of these three races, in a mysterious manner, has a correspondence on a racial scale to the first three initiations.

Trong Lemuria cổ xưa, với sự xuất hiện của ý tưởng và bộ máy trí tuệ, đời sống động vật cấp thấp (vốn, ở một mức độ nào đó, trông giống con người nhưng rõ ràng là vô trí, không biết và không thấy) bỗng nhiên nhận biết được điều đã soi sáng con đường của nó. Điều đó có rất ít ý nghĩa đối với những người thú của thời ấy, nhưng dần dần nó ngày càng có thâm nghĩa khi hàng ngàn năm trôi qua; các nền văn minh đến rồi đi; các nhân loại phát triển rồi biến mất. Trong thời Lemuria, ánh sáng nội tại của sự tri giác (dù đó là một sự tri giác xa cách với chúng ta đến mức hầu như không thể hình dung) đã mặc khải thế giới hồng trần và những gì có trên đó mà con người thời ấy sẽ xem là đáng mong muốn. Về sau, trong thời Atlantis, chính ánh sáng nội tại ấy và ánh sáng đang khai mở của trí tuệ đã phục vụ để mặc khải thế giới cảm xúc, và trong nửa sau của thời kỳ đó nó mặc khải các giá trị thẩm mỹ hơn; nghệ thuật bắt đầu nở rộ; màu sắc và vẻ đẹp được ghi nhận. Trong nhân loại Arya hiện đại hơn của chúng ta, ánh sáng đã mặc khải thế giới tư tưởng và đã đưa chúng ta đến một sự tổng hợp của các giác quan; các giác quan này đã được phát triển trong những chu kỳ trước của đời sống nhân loại. Mỗi một trong ba nhân loại này, theo một cách huyền nhiệm, có một sự tương ứng trên quy mô chủng tộc với ba lần điểm đạo đầu tiên.

[665]

[665]

Today, as we enter the new era, the symbology of the fourth initiation, that of the Renunciation, has application; men face the necessity of renouncing the material values and of substituting the spiritual. The ferment of the initiation process goes on all the time, undermining the materialism of the race of men, revealing more and more of the reality underlying the phenomenal world (the only world recognised by the Lemurians) and—at the same time—providing that cultural field of experience in which those sons of men who are ready to do so can undergo the five initiations, technically understood. This is the factor of importance. This, therefore, is our starting point.

Ngày nay, khi chúng ta bước vào kỷ nguyên mới, biểu tượng học của lần điểm đạo thứ tư, tức Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ, có sự ứng dụng; con người đối diện với sự cần thiết phải từ bỏ các giá trị vật chất và thay thế chúng bằng các giá trị tinh thần. Sự lên men của tiến trình điểm đạo diễn ra liên tục, làm xói mòn chủ nghĩa duy vật của nhân loại, mặc khải ngày càng nhiều hơn thực tại nằm dưới thế giới hiện tượng (thế giới duy nhất được người Lemuria công nhận) và—đồng thời—cung cấp cánh đồng kinh nghiệm văn hóa ấy trong đó những người con của nhân loại sẵn sàng làm như vậy có thể trải qua năm lần điểm đạo, theo nghĩa kỹ thuật. Đây là yếu tố quan trọng. Vì vậy, đây là điểm khởi đầu của chúng ta.

The historical process can (and will) reveal the gradual entrance of mankind into ever-expanding “lighted areas” of consciousness; into these areas the way of evolutionary unfoldment has led the race of men right up to the point where there are many, many thousands (and millions if you consider all of humanity—those in incarnation today and those that are out of incarnation upon the inner planes) who have been enabled to step out of the lighted field of the three worlds into another area where the light of the mind can be blended with the still greater light of the soul. They have (in past lives, even though recollection may be lacking) undergone the birth experience and initiation, and as a result of this, that which can reveal what the mind is unable to illumine is now developing and functioning within them. The “light of life” is now available, in a sense far more literally true than you can at this time perceive, and each successive initiation will see this fact more clearly demonstrated. The Birth Initiation lies behind in the experience of many, and this is factually proved by the lives of those who are consciously and willingly oriented towards the light, who see a wider world than that of their own selfish interests, who are sensitive to the Christ life and to the spiritual consciousness in their fellowmen and who see an horizon and vistas of contact unperceived by the average man; they realise a possible spiritual achievement, unknown and undesired by those whose [666] lives are conditioned entirely by either the emotions or the lower concrete mind. At this stage of unfoldment they have a sense of conscious dualism, knowing the fact of the existence of that “something other” than the phenomenal, emotional and mental self.

Tiến trình lịch sử có thể (và sẽ) mặc khải sự đi vào dần dần của nhân loại vào những “khu vực được soi sáng” ngày càng mở rộng của tâm thức; vào những khu vực này, con đường của sự khai mở tiến hoá đã dẫn dắt nhân loại cho đến tận điểm mà hiện có rất, rất nhiều ngàn người (và hàng triệu nếu bạn xét toàn thể nhân loại—những người đang lâm phàm ngày nay và những người đã ra khỏi lâm phàm trên các cõi bên trong) đã được giúp để bước ra khỏi cánh đồng được soi sáng của ba cõi giới vào một khu vực khác, nơi ánh sáng của trí tuệ có thể được hòa trộn với ánh sáng còn lớn hơn của linh hồn. Họ đã (trong các kiếp quá khứ, dù có thể thiếu ký ức) trải qua kinh nghiệm và điểm đạo giáng sinh, và kết quả là điều có thể mặc khải cái mà trí tuệ không thể soi sáng hiện đang phát triển và hoạt động bên trong họ. “Ánh sáng của sự sống” nay đã sẵn có, theo một nghĩa đúng theo nghĩa đen hơn nhiều so với điều bạn hiện nay có thể nhận ra, và mỗi lần điểm đạo kế tiếp sẽ cho thấy sự kiện này được biểu lộ rõ ràng hơn. Điểm Đạo Giáng Sinh nằm phía sau trong kinh nghiệm của nhiều người, và điều này được chứng minh thực tế bởi đời sống của những ai có ý thức và tự nguyện định hướng về ánh sáng, những người thấy một thế giới rộng lớn hơn thế giới của các quyền lợi ích kỷ riêng mình, những người nhạy cảm với sự sống Christ và với tâm thức tinh thần nơi đồng loại của mình, và những người thấy một chân trời và những viễn cảnh tiếp xúc mà con người trung bình không nhận ra; họ nhận ra một thành tựu tinh thần khả hữu, không được biết đến và không được mong muốn bởi những người mà [666] đời sống của họ hoàn toàn bị tác động bởi hoặc cảm xúc hoặc hạ trí cụ thể. Ở giai đoạn khai mở này, họ có một cảm giác về nhị nguyên tính có ý thức, biết sự kiện tồn tại của “một cái gì khác” ngoài cái ngã hiện tượng, cảm xúc và trí tuệ.

The first initiation might be regarded as the goal and the reward of the mystical experience; it is fundamentally not an occult experience in the true sense of the term, for it is seldom accurately realised or consciously prepared for, as is the case of the later initiations, and this is why the first two initiations are not considered major initiations. In the mystical realisation there is naturally and normally an emphasis upon dualism, but in the new area of unfoldment—visioned and later to be struggled for and attained, initiation by initiation—unity is achieved and dualism disappears. Students should therefore have in mind the following definite occult concept: The mystical Way leads to the first initiation. Having achieved its purpose, it is then renounced, and the “lighted Way” of occultism is then followed, leading to the lighted areas of the higher states of consciousness.

Lần điểm đạo thứ nhất có thể được xem như mục tiêu và phần thưởng của kinh nghiệm thần bí; về căn bản nó không phải là một kinh nghiệm huyền bí học theo đúng nghĩa của thuật ngữ, vì nó hiếm khi được chứng nghiệm một cách chính xác hay được chuẩn bị một cách có ý thức, như trường hợp của các lần điểm đạo sau, và đây là lý do tại sao hai lần điểm đạo đầu tiên không được xem là những lần điểm đạo chính. Trong sự chứng nghiệm thần bí, dĩ nhiên và bình thường có một sự nhấn mạnh vào nhị nguyên tính, nhưng trong khu vực khai mở mới—được linh thị thấy và về sau phải được phấn đấu để đạt tới, lần điểm đạo này qua lần điểm đạo khác—sự hợp nhất được đạt đến và nhị nguyên tính biến mất. Vì vậy, các đạo sinh nên ghi nhớ quan niệm huyền bí học xác định sau đây: Con Đường thần bí dẫn đến lần điểm đạo thứ nhất. Sau khi đã đạt được mục đích của nó, nó bị từ bỏ, và “Con Đường được Soi Sáng” của huyền bí học khi ấy được theo đuổi, dẫn đến các khu vực được soi sáng của những trạng thái tâm thức cao hơn.

Thus both ways are seen to be essential; the mystical way is for the majority at this time, and an increasingly large number of mystics will emerge out of the modern masses of men; paralleling this, the occult way is attracting more and more of the world intelligentsia. Its experience is not basically religious, as the orthodox churchman understands the word. The way of science is as deeply needed by mankind as is the way of religion, for “God” is found equally on both ways. The scientific way leads the aspirant into the world of energies and forces, which is the true world of occult endeavour, revealing the Universal Mind and the workings of that great Intelligence which created the manifested universe. The “new man” who has come to birth at the first initiation must and will tread the occult or scientific way, which inevitably leads him out of the world of mysticism into the scientific and assured perception of God as life or energy.

Như vậy, cả hai con đường đều được thấy là thiết yếu; con đường thần bí dành cho đa số vào lúc này, và một số lượng ngày càng lớn các nhà thần bí sẽ xuất hiện từ quần chúng hiện đại; song song với điều này, con đường huyền bí học đang thu hút ngày càng nhiều giới trí thức của thế giới. Kinh nghiệm của nó về căn bản không mang tính tôn giáo, theo cách mà người theo giáo hội chính thống hiểu từ ấy. Con đường khoa học cần thiết cho nhân loại sâu xa không kém gì con đường tôn giáo, vì “Thượng đế” được tìm thấy như nhau trên cả hai con đường. Con đường khoa học dẫn người chí nguyện vào thế giới của các năng lượng và mãnh lực, vốn là thế giới chân thực của nỗ lực huyền bí học, mặc khải Trí Tuệ Vũ Trụ và hoạt động của Đại Trí Tuệ đã sáng tạo vũ trụ biểu hiện. “Con người mới” đã đi vào giáng sinh ở lần điểm đạo thứ nhất phải và sẽ bước trên con đường huyền bí học hay khoa học, con đường tất yếu dẫn y ra khỏi thế giới thần bí học để đi vào sự tri giác khoa học và chắc chắn về Thượng đế như sự sống hay năng lượng.

[667]

[667]

The first initiation marks the beginning of a totally new life and mode of living; it marks the commencement of a new manner of thinking and of conscious perception. The life of the personality in the three worlds has for aeons nurtured the germ of this new life and fostered the tiny spark of light within the relative darkness of the lower nature. This process is now being brought to a close, though it is not at this stage entirely discontinued, for the “new man” has to learn to walk, to talk, and to create; the consciousness is now, however, being focussed elsewhere. This leads to much pain and suffering until the definite choice is made, a new dedication to service is vouchsafed, and the initiate is ready to undergo the Baptism Initiation.

Lần điểm đạo thứ nhất đánh dấu sự khởi đầu của một đời sống và một phương thức sống hoàn toàn mới; nó đánh dấu sự bắt đầu của một cách suy nghĩ và tri giác có ý thức mới. Đời sống của phàm ngã trong ba cõi giới đã nuôi dưỡng mầm giống của đời sống mới này qua nhiều đại kiếp và đã chăm bón tia sáng nhỏ bé bên trong bóng tối tương đối của bản chất thấp. Tiến trình này nay đang được đưa đến chỗ kết thúc, dù ở giai đoạn này nó chưa hoàn toàn bị chấm dứt, vì “con người mới” phải học đi, học nói và học sáng tạo; tuy nhiên, tâm thức giờ đây đang được hội tụ ở nơi khác. Điều này dẫn đến nhiều đau đớn và khổ sở cho đến khi sự lựa chọn dứt khoát được thực hiện, một sự hiến dâng mới cho phụng sự được bảo đảm, và điểm đạo đồ sẵn sàng trải qua Cuộc Điểm Đạo Thanh Tẩy.

Members of the New Group of World Servers should watch with care for all those who show signs of having passed through the “birth” experience and should help them toward a greater maturity. They should assume that all those who truly love their fellowmen, who are interested in the esoteric teaching, and who seek to discipline themselves in order to attain greater beauty of life, are initiate and have undergone the first initiation. When they discover those who are seeking mental polarisation and who evidence a desire and aspiration to think and to know, coupled with the distinguishing marks of those who have taken the first initiation, they can, in all probability, safely assume that such people have taken the second initiation or are on the verge of so doing. Their duty will then be clear. It is by this close observation on the part of the world servers that the ranks of the New Group are filled. Today, the opportunity and the stimulation are so great that all servers must keep alert, developing in themselves the ability to register the quality for which search must be made, and giving the help and guidance which will weld into one cooperative band those disciples and initiates who should prepare the way for the Christ.

Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên cẩn thận quan sát tất cả những ai cho thấy dấu hiệu đã trải qua kinh nghiệm “giáng sinh” và nên giúp họ tiến tới sự trưởng thành lớn hơn. Họ nên giả định rằng tất cả những ai thực sự yêu thương đồng loại, quan tâm đến giáo huấn nội môn, và tìm cách kỷ luật bản thân để đạt tới vẻ đẹp lớn hơn trong đời sống, đều là điểm đạo đồ và đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Khi họ phát hiện những ai đang tìm kiếm sự phân cực trí tuệ và biểu lộ một ước muốn cùng khát vọng suy nghĩ và hiểu biết, kết hợp với những dấu hiệu phân biệt của những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, thì rất có thể họ có thể yên tâm giả định rằng những người ấy đã trải qua lần điểm đạo thứ hai hoặc đang ở bên bờ của việc ấy. Khi đó bổn phận của họ sẽ rõ ràng. Chính nhờ sự quan sát chặt chẽ này của những Người Phụng Sự Thế Gian mà hàng ngũ của Đoàn Người Mới được lấp đầy. Ngày nay, cơ hội và sự kích thích lớn lao đến nỗi mọi người phụng sự phải luôn tỉnh thức, phát triển trong chính mình khả năng ghi nhận phẩm tính cần được tìm kiếm, và trao sự trợ giúp cùng hướng dẫn sẽ hàn gắn thành một đoàn thể hợp tác duy nhất những đệ tử và điểm đạo đồ cần chuẩn bị con đường cho Đức Christ.

The first initiation should be regarded as instituting a new attitude towards relationships. This is not yet the case. The relationships hitherto recognised, speaking generally, [668] have been those karmically, physically and emotionally instituted; they are largely objective and predominantly concern the phenomenal plane with its contacts, duties, responsibilities and obligations. The new relationships however, to be increasingly recognised, are subjective and may have but little phenomenal indication. They embrace the recognition of those who must be served; they involve the expansion of the individual consciousness into a growing group awareness; they lead eventually to an eager response to hierarchical quality and to the magnetic pull of the Ashram. Such a development in the recognition of relationships leads finally to a recognition of the Presence of the Christ and to relationship with Him. With the recognition of and the relationship to the planetary Logos we need not at this point deal. All these relationships begin, in their truest connotation and with a correctly realised objective, at the birth of the “new man.” To this the Christ referred when He said: “Except a man be born again, he cannot see the Kingdom of God.” I am here using the Christian terminology but prefer to speak of the “new man” rather than the strictly Christian phrase “the birth of the Christ Child in the heart.” It is by means of the touchstone of relationships that world servers can contact the initiates and the accepted disciples in the world, and can discover those aspirants who can be helped and trained.

Lần điểm đạo thứ nhất nên được xem như thiết lập một thái độ mới đối với các mối quan hệ. Điều này hiện chưa phải như vậy. Các mối quan hệ cho đến nay được công nhận, nói chung, [668] là những mối quan hệ được thiết lập bởi nghiệp quả, hồng trần và cảm xúc; chúng phần lớn mang tính khách quan và chủ yếu liên quan đến cõi hiện tượng với các tiếp xúc, bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của nó. Tuy nhiên, các mối quan hệ mới, ngày càng được công nhận, lại mang tính chủ quan và có thể có rất ít dấu hiệu hiện tượng. Chúng bao gồm sự nhận biết những ai phải được phụng sự; chúng bao hàm sự mở rộng của tâm thức cá nhân thành một nhận thức nhóm đang tăng trưởng; cuối cùng chúng dẫn đến một sự đáp ứng hăng hái đối với phẩm tính của Thánh Đoàn và đối với sức hút từ tính của ashram. Sự phát triển như thế trong việc nhận biết các mối quan hệ cuối cùng dẫn đến sự nhận biết Sự Hiện Diện của Đức Christ và mối quan hệ với Ngài. Về sự nhận biết và mối quan hệ với Hành Tinh Thượng đế, lúc này chúng ta không cần bàn đến. Tất cả những mối quan hệ này bắt đầu, theo ý nghĩa chân thực nhất của chúng và với một mục tiêu được chứng nghiệm đúng đắn, vào lúc “con người mới” giáng sinh. Đức Christ đã nói đến điều này khi Ngài phán: “Nếu một người không được sinh lại, người ấy không thể thấy Thiên Giới.” Ở đây tôi đang dùng thuật ngữ Kitô giáo nhưng thích nói về “con người mới” hơn là cụm từ Kitô giáo chặt chẽ “sự giáng sinh của Hài Nhi Christ trong tim.” Chính nhờ hòn đá thử vàng của các mối quan hệ mà những người phụng sự thế gian có thể tiếp xúc với các điểm đạo đồ và các đệ tử được chấp nhận trên thế giới, và có thể khám phá những người chí nguyện nào có thể được giúp đỡ và huấn luyện.

Let me bring another point to your attention. In the phenomenal world of the average human being who has not yet passed through the initiatory experience of the rebirth, the emphasis has ever been and is today upon the dual relationship of the sexes and to this our novels, plays, movies and affairs of all men bear testimony. Creativity expresses itself mainly through the propagation of the race, brought about through the relation of male and female, or of the positive and negative poles in the human family. This is right and good and part of the divine Plan. Even though men have prostituted their capacities and debased their relationships, the basic plan is divine and ideal. After the first initiation, the entire sex relationship shifts gradually [669] and steadily into its proper place as simply a natural phase of existence in the three worlds and as one of the normal and correct appetites, but the emphasis changes. The higher experience and correspondence, that of which physical sex is only the symbol, becomes apparent. Instead of male and female, there emerges the magnetic relationship between the now negative personality and the positive soul, with consequent creativity upon the higher planes. Of this relationship the head centre and the centre between the eyebrows (the ajna centre) are the agents and eventually—through the medium of the pituitary body and the pineal gland—they condition the personality, rendering it soul-infused.

Hãy để tôi lưu ý bạn thêm một điểm nữa. Trong thế giới hiện tượng của con người trung bình chưa trải qua kinh nghiệm điểm đạo của sự tái sinh, sự nhấn mạnh từ trước đến nay và ngày nay vẫn đặt trên mối quan hệ nhị nguyên của hai giới tính, và các tiểu thuyết, kịch, phim ảnh cùng các công việc của mọi người đều làm chứng cho điều đó. Tính sáng tạo chủ yếu biểu lộ qua sự sinh sản của nhân loại, được mang lại qua mối quan hệ nam và nữ, hay của hai cực dương và âm trong gia đình nhân loại. Điều này là đúng và tốt và là một phần của Thiên Cơ. Dù con người đã làm ô uế các năng lực của mình và hạ thấp các mối quan hệ của mình, kế hoạch căn bản vẫn là thiêng liêng và lý tưởng. Sau lần điểm đạo thứ nhất, toàn bộ mối quan hệ giới tính dần dần [669] và đều đặn chuyển vào vị trí đúng đắn của nó như chỉ là một giai đoạn tự nhiên của sự tồn tại trong ba cõi giới và như một trong những ham muốn bình thường và đúng đắn, nhưng sự nhấn mạnh thay đổi. Kinh nghiệm cao hơn và sự tương ứng cao hơn, mà giới tính hồng trần chỉ là biểu tượng, trở nên hiển nhiên. Thay vì nam và nữ, xuất hiện mối quan hệ từ tính giữa phàm ngã nay là âm và linh hồn là dương, với kết quả là tính sáng tạo trên các cõi cao hơn. Trong mối quan hệ này, trung tâm đầu và trung tâm giữa hai chân mày (trung tâm ajna) là những tác nhân, và cuối cùng—qua trung gian tuyến yên và tuyến tùng—chúng tác động lên phàm ngã, làm cho nó được linh hồn thấm nhuần.

I have given you so much information anent initiation and the rays and centres in my many books that there is no need for me to repeat it here; there is, however, great need for you to collect and tabulate the scattered information so that you can register it as a whole. Many who read these instructions and who study the books I have written are in process of preparation for one or other of the initiations, and the entire theme should therefore be of major interest to you. You should decide (at least tentatively) which initiation lies ahead of you and then discover all you possibly can about it and its prerequisites, endeavouring to make practical application of the imparted information; either that which I give to you is true or it is not; if true, it is vital to your future progress and you should aim at achieving a measure of real understanding.

Tôi đã cung cấp cho các bạn quá nhiều thông tin liên quan đến điểm đạo, các cung và các trung tâm trong nhiều sách của tôi đến nỗi tôi không cần lặp lại ở đây; tuy nhiên, các bạn rất cần phải thu thập và lập bảng những thông tin rải rác ấy để có thể ghi nhận chúng như một toàn thể. Nhiều người đọc những chỉ dẫn này và nghiên cứu các sách tôi đã viết đang trong tiến trình chuẩn bị cho lần điểm đạo này hay lần điểm đạo khác, và vì thế toàn bộ chủ đề này hẳn phải là điều các bạn đặc biệt quan tâm. Các bạn nên quyết định (ít nhất là tạm thời) lần điểm đạo nào đang ở phía trước mình, rồi tìm hiểu mọi điều có thể về nó và các điều kiện tiên quyết của nó, cố gắng áp dụng một cách thực tiễn những thông tin đã được truyền đạt; hoặc điều tôi trao cho các bạn là đúng, hoặc không đúng; nếu đúng, thì nó có ý nghĩa sống còn đối với sự tiến bộ tương lai của các bạn và các bạn nên nhắm đến việc đạt được một mức độ thấu hiểu thực sự.

You have been taught that the activity or the inactivity of the centres conditions the personality, working through the endocrine system; the energies which the centres channel and the forces which they generate can be controlled and directed by the soul, by the spiritual man. You have likewise been told that the energy of the sacral centre (the centre most implicated and active at the time of the first initiation) has to be transmuted and raised to the throat centre, thereby transforming the physical creative act into the creative process of producing the good, [670] the beautiful and the true. This is the A B C of your fundamental knowledge: the transmutation of sex. In that transmutative process men have greatly erred and have approached the subject from two angles:

Các bạn đã được dạy rằng hoạt động hay sự bất hoạt của các trung tâm tác động lên phàm ngã, vận hành qua hệ nội tiết; các năng lượng mà các trung tâm dẫn truyền và các mãnh lực mà chúng tạo ra có thể được linh hồn, bởi con người tinh thần, kiểm soát và định hướng. Tương tự, các bạn cũng đã được bảo rằng năng lượng của trung tâm xương cùng (trung tâm liên hệ nhiều nhất và hoạt động mạnh nhất vào thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất) phải được chuyển hoá và nâng lên trung tâm cổ họng, nhờ đó chuyển đổi hành vi sáng tạo hồng trần thành tiến trình sáng tạo ra điều thiện, [670] cái đẹp và cái chân. Đây là ABC của tri thức căn bản của các bạn: sự chuyển hoá tính dục. Trong tiến trình chuyển hoá đó, những người nam và nữ đã sai lầm rất nhiều và đã tiếp cận chủ đề này từ hai góc độ:

1. They have sought to stamp out natural desire and have endeavoured to emphasise an enforced celibacy; they have thus frequently warped the nature and subjected the “natural man” to rules and regulations which were not of divine intent.

1. Họ đã tìm cách dập tắt dục vọng tự nhiên và cố nhấn mạnh một sự độc thân bị cưỡng ép; vì thế họ thường xuyên làm lệch lạc bản chất và bắt “phàm nhân tự nhiên” phải phục tùng những quy luật và quy định vốn không phải là ý định thiêng liêng.

2. They have tried—at the other extreme—to exhaust normal sexual desire by promiscuity, license and perversions, damaging themselves and laying up the basis for trouble for many incarnations ahead.

2. Ở cực đoan đối nghịch, họ đã cố làm cạn kiệt dục vọng tính dục bình thường bằng sự phóng túng, buông thả và lệch lạc, gây tổn hại cho chính mình và đặt nền tảng cho rắc rối trong nhiều kiếp sống về sau.

True transmutation is in reality the achieving of a correct sense of proportion in relation to any phase of human life, and for the race of men today has particular reference to the sacral centre and the energies which bring it into activity. When a proper recognition of the place the sex life should play in the daily life is paralleled by the concentration of thought anent the throat centre, that centre becomes automatically magnetic and attracts the forces of the sacral centre upward through the spine into “the place of creative building”; the normal sex life is then regulated and not atrophied, and is relegated to its rightful place as one of the usual faculties or appetites with which man is endowed; it is brought under control through the lack of directed interest and is subordinated to the law of the land as regards its relation to its opposite pole—either negative and feminine or masculine and positive. To the aspirant it becomes mainly the agent for the creation of the vehicles needed for reincarnating souls. Thus by force of example, by the avoiding of all extremes, by the dedication of the bodily energies to the higher uses, and by the acceptance of the law of the land in any given country and at any given time, the present disorder and the current misuse of the sex principle will give way to orderly living and to the right use of this major bodily function.

Sự chuyển hoá chân chính thực ra là đạt được một ý thức đúng đắn về tỉ lệ liên quan đến bất kỳ phương diện nào của đời sống con người, và đối với nhân loại ngày nay, điều này đặc biệt liên hệ đến trung tâm xương cùng và các năng lượng khiến nó hoạt động. Khi sự nhìn nhận đúng đắn về vị trí mà đời sống tính dục nên giữ trong đời sống hằng ngày được song hành với sự tập trung tư tưởng vào trung tâm cổ họng, thì trung tâm ấy tự động trở nên từ tính và hút các mãnh lực của trung tâm xương cùng đi lên qua cột sống vào “nơi kiến tạo sáng tạo”; khi đó đời sống tính dục bình thường được điều hòa chứ không bị teo đi, và được đặt vào đúng vị trí của nó như một trong những năng lực hay dục năng thông thường mà con người được phú cho; nó được đưa vào vòng kiểm soát nhờ sự thiếu vắng mối quan tâm có định hướng và được đặt dưới luật pháp của quốc gia xét về mối liên hệ của nó với cực đối nghịch—hoặc âm và nữ tính, hoặc dương và nam tính. Đối với người chí nguyện, nó chủ yếu trở thành tác nhân để tạo ra những vận cụ cần thiết cho các linh hồn tái sinh. Như vậy, bằng sức mạnh của gương mẫu, bằng việc tránh mọi cực đoan, bằng sự hiến dâng các năng lượng thể xác cho những công dụng cao hơn, và bằng việc chấp nhận luật pháp của quốc gia trong bất kỳ nước nào và vào bất kỳ thời điểm nào, tình trạng hỗn loạn hiện nay và sự lạm dụng nguyên khí tính dục hiện thời sẽ nhường chỗ cho đời sống có trật tự và cho việc sử dụng đúng đắn chức năng thể xác quan trọng này.

This regulated physical life comes about when the [671] personality is sufficiently integrated and coordinated and the ajna centre (the centre between the eyebrows) is active and is coming under the control of the soul. This has an immediate effect—automatically induced—upon the gland associated with this centre; it becomes a balanced part of the general endocrine system and past imbalance is avoided. Simultaneously, the head centre becomes active as a result of the aspirant's mental perception, meditation and service; this brings the allied gland, the pineal gland, into action. All this is again only the A B C of occultism.

Đời sống hồng trần được điều hòa này xuất hiện khi [671] phàm ngã được tích hợp và phối hợp đầy đủ, và trung tâm ajna (trung tâm giữa hai chân mày) hoạt động và đang dần chịu sự kiểm soát của linh hồn. Điều này tạo ra một tác động tức thời—được gây ra một cách tự động—lên tuyến liên kết với trung tâm này; nó trở thành một phần quân bình của toàn bộ hệ nội tiết và sự mất quân bình trong quá khứ được tránh khỏi. Đồng thời, trung tâm đầu trở nên hoạt động như kết quả của tri giác trí tuệ, tham thiền và phụng sự của người chí nguyện; điều này đưa tuyến liên hệ, tức tuyến tùng quả, vào hoạt động. Tất cả điều này, một lần nữa, chỉ là ABC của huyền bí học.

What is oft omitted from normal consideration is the fact that the increasing activity of these two “points of light within the head” is basically related to what is occurring in the sacral and throat centres, as the transmutative process proceeds and the energies of the sacral centre are gathered up into the throat centre—without, however, withdrawing all the energy from the lower centre; thus its normal activity is properly preserved. The two centres in the head then become correspondingly active; the negative and the positive elements affect each other, and the light in the head shines forth; a line of light, permitting free interplay, is established between the ajna centre and the head centre, and therefore between the pituitary body and the pineal gland. When this line of light is present and there is an unobstructed relation between the two centres and the two glands, then the first initiation becomes possible. When this takes place, it must not be inferred that the task of transmutation going on between the lower and the higher centres and the relationship between the two head centres is fully and finally completed and established. The line of light is still tenuous and unstable, but it is in existence. It is the energy let loose at the first initiation and distributed into the sacral and the throat centres (via the slowly awakening head centre) which brings the transmutation process to a successful conclusion and stabilises the relationship within the head. This process may take several lives of steadily intensifying effort on the part of the initiate-disciple.

Điều thường bị bỏ qua trong sự xem xét thông thường là sự kiện rằng hoạt động ngày càng tăng của hai “điểm sáng trong đầu” này về căn bản có liên hệ với điều đang xảy ra trong các trung tâm xương cùng và cổ họng, khi tiến trình chuyển hoá tiếp diễn và các năng lượng của trung tâm xương cùng được thu hút vào trung tâm cổ họng—tuy nhiên không rút hết toàn bộ năng lượng khỏi trung tâm thấp hơn; nhờ đó hoạt động bình thường của nó được bảo tồn đúng mức. Khi ấy hai trung tâm trong đầu trở nên hoạt động tương ứng; các yếu tố âm và dương tác động lẫn nhau, và ánh sáng trong đầu chiếu rạng; một đường ánh sáng, cho phép sự tương tác tự do, được thiết lập giữa trung tâm ajna và trung tâm đầu, và do đó giữa tuyến yên và tuyến tùng quả. Khi đường ánh sáng này hiện diện và có một mối liên hệ không bị cản trở giữa hai trung tâm và hai tuyến, thì lần điểm đạo thứ nhất trở nên khả hữu. Khi điều này xảy ra, không nên suy ra rằng nhiệm vụ chuyển hoá đang diễn ra giữa các trung tâm thấp và cao hơn, cũng như mối liên hệ giữa hai trung tâm đầu, đã hoàn toàn và dứt khoát hoàn tất và được thiết lập. Đường ánh sáng vẫn còn mong manh và bất ổn, nhưng nó đã hiện hữu. Chính năng lượng được giải phóng ở lần điểm đạo thứ nhất và được phân phối vào các trung tâm xương cùng và cổ họng (qua trung tâm đầu đang chậm rãi thức tỉnh) sẽ đưa tiến trình chuyển hoá đến một kết luận thành công và ổn định hóa mối liên hệ trong đầu. Tiến trình này có thể cần đến nhiều kiếp sống với nỗ lực ngày càng tăng cường một cách bền bỉ nơi điểm đạo đồ-đệ tử.

[672]

[672]

Thus the work of magical reformation starts, and it is here that the influence of the seventh ray (which governs the first initiation) enters in; one of the functions of this ray is to bring together soul and body, the higher and the lower, life and form, spirit and matter. This is the creative task confronting the disciple who is engaged in lifting the energies of the sacral centre to the throat centre and of establishing a right relation between the personality and the soul. Just as the antahkarana has to be constructed and established as a bridge of light between the Spiritual Triad and the soul-infused personality, so a similar bridge or correspondence is established between the soul and the personality, and, in connection with the mechanism of the disciple, between the two head centres and the two glands within the head.

Như vậy công việc cải cách huyền thuật bắt đầu, và chính ở đây ảnh hưởng của cung bảy (cung chi phối lần điểm đạo thứ nhất) đi vào; một trong những chức năng của cung này là đưa linh hồn và thể xác, cái cao và cái thấp, sự sống và hình tướng, tinh thần và vật chất lại với nhau. Đây là nhiệm vụ sáng tạo đối diện với đệ tử đang dấn thân nâng các năng lượng của trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng và thiết lập một mối liên hệ đúng đắn giữa phàm ngã và linh hồn. Cũng như antahkarana phải được kiến tạo và thiết lập như một cây cầu ánh sáng giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, thì một cây cầu tương tự hay một sự tương ứng cũng được thiết lập giữa linh hồn và phàm ngã, và, liên hệ đến bộ máy của đệ tử, giữa hai trung tâm đầu và hai tuyến bên trong đầu.

When that line of light has related the higher spiritual aspects and the lower, and when the sacral centre and the throat centre are in true related alignment, the initiate-disciple becomes a creative worker under the divine Plan and a “magical exponent” of the divine building work; he is then a constructive force, wielding energy consciously on the physical plane. He creates forms as expressions of reality. This is the true work of magic.

Khi đường ánh sáng ấy đã liên kết các phương diện tinh thần cao hơn với các phương diện thấp hơn, và khi trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng ở trong sự chỉnh hợp liên hệ chân chính, thì điểm đạo đồ-đệ tử trở thành một người hoạt động sáng tạo dưới Thiên Cơ thiêng liêng và là một “người biểu đạt huyền thuật” của công việc kiến tạo thiêng liêng; khi ấy y là một mãnh lực kiến tạo, vận dụng năng lượng một cách hữu thức trên cõi hồng trần. Y tạo ra các hình tướng như những biểu hiện của thực tại. Đây là công việc chân chính của huyền thuật.

You can see, therefore, that in the creative work three energies are brought into a related activity:

Vì vậy, các bạn có thể thấy rằng trong công việc sáng tạo, ba năng lượng được đưa vào một hoạt động có liên hệ:

1. The energy concentrated in the ajna centre and which is indicative of the personality life.

1. Năng lượng tập trung trong trung tâm ajna và là dấu hiệu của đời sống phàm ngã.

2. The energy concentrated in the head centre as a result of soul activity.

2. Năng lượng tập trung trong trung tâm đầu như kết quả của hoạt động linh hồn.

3. The energy of the seventh Ray of Ceremonial Order or Magic, making possible true creative activity under the divine Plan.

3. Năng lượng của cung bảy về Trật Tự Nghi Lễ hay huyền thuật, làm cho hoạt động sáng tạo chân chính dưới Thiên Cơ thiêng liêng trở nên khả hữu.

There is nothing spectacular to be told anent the first initiation; the initiate-disciple still works in the dimly lit “cave of the spiritual birth”; he has to continue his struggle to reveal divinity, primarily on the physical plane—symbolised for us in the word “Bethlehem” which means the “house of bread”; he has to learn the dual function of [673] “lifting up the lower energies into the light” and—at the same time—of “bringing down the higher energies into bodily expression.” Thus he becomes a white magician.

Không có gì ngoạn mục để nói về lần điểm đạo thứ nhất; điểm đạo đồ-đệ tử vẫn còn làm việc trong “hang động của sự sinh ra tinh thần” được soi sáng lờ mờ; y phải tiếp tục cuộc đấu tranh để biểu lộ thiên tính, chủ yếu trên cõi hồng trần—được tượng trưng cho chúng ta trong từ “Bethlehem”, nghĩa là “ngôi nhà bánh mì”; y phải học chức năng kép của [673] “nâng các năng lượng thấp lên ánh sáng” và—đồng thời—“đưa các năng lượng cao xuống biểu hiện trong thể xác.” Như vậy y trở thành một nhà huyền thuật chánh đạo.

At this initiation he sees, for the first time, what are the major energies which he must bring into expression, and this vision is summed up for him in the Old Commentary in the following words:

Ở lần điểm đạo này, lần đầu tiên y thấy những năng lượng chủ yếu mà y phải đưa vào biểu hiện là gì, và linh thị này được tóm lược cho y trong Cổ Luận bằng những lời sau đây:

“When the Rod of Initiation descends and touches the lower part of the spine, there is a lifting up; when the eyes are opened in the light, that which must be lowered into form is now perceived. The vision is acknowledged. The burden of the future is assumed. The cave is lighted up and the new man issues forth.”

“Khi Thần Trượng Điểm đạo giáng xuống và chạm vào phần thấp của cột sống, có một sự nâng lên; khi đôi mắt mở ra trong ánh sáng, điều phải được hạ xuống hình tướng nay được nhận biết. Linh ảnh được thừa nhận. Gánh nặng của tương lai được đảm nhận. Hang động được thắp sáng và con người mới bước ra.”

That this may be true of all of you who read these words is the prayer and the wish of your friend and counsellor.

Mong sao điều này có thể đúng với tất cả các bạn đang đọc những lời này; đó là lời cầu nguyện và ước nguyện của người bạn và cố vấn của các bạn.

Initiation II. The Baptism in Jordan — Điểm Đạo II. Phép Rửa tại Jordan

The initiation which we are now to study is perhaps one of the most important, because it concerns that aspect of the personality which gives the most difficulty to everybody: the emotional or astral body. Today the mass of men are swept by the emotions and by a sensitive response to circumstance; they are not swept usually by an intelligent reaction to life as it is. The normal and usually violent reaction serves only to increase the confusion and the attending difficulties, producing vortices of uncontrolled energies, glamour and delusion. Even though it may at the same time produce a saving aspect in some cases, the violence of the astral testing and the potency of the astral temptation (as it might well be called) leads to a greatly increased sphere of suffering. To this must be added the materialistic bias of the many presented solutions, bringing in the force of the world maya and thus greatly complicating the problem.

Lần điểm đạo mà giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu có lẽ là một trong những lần quan trọng nhất, bởi vì nó liên quan đến phương diện của phàm ngã gây khó khăn nhiều nhất cho mọi người: thể cảm dục hay thể cảm xúc. Ngày nay quần chúng nhân loại bị cuốn theo cảm xúc và bởi sự đáp ứng nhạy cảm với hoàn cảnh; họ thường không bị cuốn theo một phản ứng thông minh đối với đời sống như chính nó là. Phản ứng bình thường và thường là dữ dội chỉ làm gia tăng sự hỗn loạn và những khó khăn đi kèm, tạo ra những xoáy năng lượng không được kiểm soát, ảo cảm và mê vọng. Dù đồng thời trong một số trường hợp nó có thể tạo ra một phương diện cứu rỗi, sự dữ dội của thử thách cảm dục và sức mạnh của cám dỗ cảm dục (như có thể gọi như vậy) dẫn đến một phạm vi đau khổ gia tăng rất lớn. Vào đó còn phải cộng thêm khuynh hướng duy vật của nhiều giải pháp được đưa ra, mang vào mãnh lực của ảo lực thế gian và do đó làm cho vấn đề phức tạp hơn rất nhiều.

Distressing as all this may be, and significant of the end of this age and the cessation of the Atlantean vibration and quality which has carried over so potently into [674] this Aryan cycle, it is however indicative of the attainment of a definitely racial opportunity. Humanity—on a relatively large scale—faces the second initiation, or the Baptism Initiation.

Dù tất cả điều này có thể đau buồn và là dấu hiệu của sự kết thúc thời đại này cũng như sự chấm dứt rung động và phẩm tính Atlantis đã được mang sang một cách mạnh mẽ đến thế vào [674] chu kỳ Arya này, tuy nhiên nó vẫn cho thấy việc đạt đến một cơ hội rõ rệt của toàn nhân loại. Nhân loại—trên một quy mô tương đối lớn—đang đối diện với lần điểm đạo thứ hai, hay Điểm Đạo Phép Rửa.

The concept of baptism is ever associated with that of purification. Water has ever been the symbol of that which purifies; it is also the symbol of the astral plane, with its instability, its storms, its tranquillities, its overwhelming emotional reactions and its pliability, which makes it such a good agent for the deceptive thought-forming faculties of the unregenerate man. It reacts to every impulse, every desire and every possible magnetic “pull” coming from the material or substantial form side of nature. In its cycles of tranquillity it reflects equally the good as well as the bad; it is the agent, therefore, of deception when manipulated by the Black Lodge, or of aspirational reaction when influenced by the great White Lodge, the spiritual Hierarchy of our planet. It is the battleground between the pairs of opposites; the problem is complicated by the fact that men have to learn to recognise these opposites before right choice, leading to spiritual victory, is theirs.

Khái niệm về phép rửa luôn gắn liền với khái niệm thanh tẩy. Nước từ lâu vẫn là biểu tượng của điều thanh tẩy; nó cũng là biểu tượng của cõi cảm dục, với tính bất ổn, những cơn bão tố, những lúc tĩnh lặng, những phản ứng cảm xúc áp đảo và tính dễ uốn nắn của nó, khiến nó trở thành một tác nhân rất tốt cho các năng lực tạo hình tư tưởng đầy lừa dối của con người chưa được tái sinh. Nó đáp ứng với mọi xung lực, mọi dục vọng và mọi “sức hút” từ tính khả hữu đến từ phía vật chất hay hình tướng bản thể của bản chất. Trong những chu kỳ tĩnh lặng của nó, nó phản chiếu điều tốt cũng như điều xấu; vì vậy nó là tác nhân của sự lừa dối khi bị Hắc đoàn thao túng, hoặc là tác nhân của phản ứng chí nguyện khi chịu ảnh hưởng của Thánh đoàn vĩ đại, Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta. Nó là chiến trường giữa các cặp đối nghịch; vấn đề trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng con người phải học cách nhận ra các đối nghịch này trước khi sự lựa chọn đúng đắn, dẫn đến chiến thắng tinh thần, thuộc về họ.

Today, desire for peace at any price, for adequate food, warmth and housing, for the restoration of stability and security and for the cessation of anxiety controls the mass of human reactions and makes the astral plane loom so large in men's affairs and in world decisions. This is so dominantly so that the realisation which the mind could reveal and of which the intelligentsia are the custodians is lost to sight and has small influence.

Ngày nay, khát vọng hòa bình bằng bất cứ giá nào, có đủ thực phẩm, hơi ấm và nhà ở, khôi phục sự ổn định và an toàn, và chấm dứt lo âu đang kiểm soát phần lớn các phản ứng của con người và khiến cõi cảm dục hiện lên quá lớn trong công việc của con người và trong các quyết định thế giới. Điều này mang tính chi phối đến mức sự chứng nghiệm mà trí tuệ có thể mặc khải và mà giới trí thức là những người gìn giữ đã bị khuất khỏi tầm nhìn và có rất ít ảnh hưởng.

At the third initiation the control of the soul-illumined mind is finally established, and the soul itself assumes the dominant position and not the phenomenal form. All the limits of the form nature are then transcended. It is the vision of this transcendence which is communicated at the time of the second initiation under the symbolism of a positively applied purification.

Ở lần điểm đạo thứ ba, sự kiểm soát của trí tuệ được linh hồn soi sáng được thiết lập dứt khoát, và chính linh hồn đảm nhận vị trí chi phối chứ không phải hình tướng hiện tượng. Khi ấy mọi giới hạn của bản chất hình tướng đều được siêu vượt. Chính linh ảnh về sự siêu vượt này được truyền đạt vào thời điểm của lần điểm đạo thứ hai dưới biểu tượng của một sự thanh tẩy được áp dụng một cách tích cực.

I am not here emphasising the Biblical account of that purificatory process. That summarised symbolically [675] the watery nature of the astral plane and the “washing by water” of the initiate. It expressed the purely Atlantean form of the initiatory process, giving us the concept of a descent into water and of ascent out of water in response to a Word of Power from on high. The Aryan approach to this same initiation has not yet been fully understood.

Ở đây tôi không nhấn mạnh bản tường thuật trong Kinh Thánh về tiến trình thanh tẩy đó. Bản tường thuật ấy đã tóm lược một cách biểu tượng [675] bản chất thủy của cõi cảm dục và sự “rửa bằng nước” của điểm đạo đồ. Nó diễn tả hình thức Atlantis thuần túy của tiến trình điểm đạo, trao cho chúng ta khái niệm về sự đi xuống nước và đi lên khỏi nước để đáp ứng một Quyền năng từ từ cõi cao. Cách tiếp cận Arya đối với cùng lần điểm đạo này vẫn chưa được thấu hiểu đầy đủ.

This second initiation—as now undergone—is to some extent one of the most difficult. It involves purification, but it is purification by fire, symbolically understood. The occult “application of fire to water” produces certain most serious and devastating results. The water, under the action of fire, “is resolved into steam and the initiate is immersed in the fogs and miasmas, the glamours and the mists” thus caused. Out of this fog and out of the glamours, the initiate must emerge; out of the present fog of human affairs humanity will also emerge eventually. The success of the individual initiate is the guarantee of the racial destiny. The complications, produced by water in conjunction with fire in these Aryan days, are far greater than those produced entirely by water in Atlantean times; this age is kama-manasic and not simply kamic or strictly astral. Remember therefore as you read these words that I am speaking symbolically. The fire of mind today has to be reckoned with in conjunction with the water of desire, and it is owing to this that much of humanity's problem develops. It is because of this that the second initiation has become one of the most difficult which the modern disciple has to take.

Lần điểm đạo thứ hai này—như hiện nay được trải qua—ở một mức độ nào đó là một trong những lần khó khăn nhất. Nó bao hàm sự thanh tẩy, nhưng là sự thanh tẩy bằng lửa, được hiểu theo biểu tượng. “Sự áp dụng lửa vào nước” theo huyền bí học tạo ra những kết quả cực kỳ nghiêm trọng và tàn phá. Nước, dưới tác động của lửa, “được phân giải thành hơi nước và điểm đạo đồ bị nhấn chìm trong sương mù và khí độc, trong ảo cảm và màn sương” do đó gây ra. Từ trong màn sương này và từ trong các ảo cảm ấy, điểm đạo đồ phải bước ra; từ trong màn sương hiện tại của các công việc nhân loại, nhân loại rồi cũng sẽ bước ra. Thành công của điểm đạo đồ cá nhân là sự bảo đảm cho định mệnh của toàn nhân loại. Những phức tạp do nước kết hợp với lửa tạo ra trong những ngày Arya này lớn hơn nhiều so với những gì chỉ do nước tạo ra trong thời Atlantis; thời đại này là trí-cảm chứ không đơn thuần là cảm dục hay thuần túy cảm dục. Vì vậy, khi đọc những lời này, hãy nhớ rằng tôi đang nói theo biểu tượng. Ngày nay lửa của trí tuệ phải được tính đến cùng với nước của dục vọng, và chính vì điều này mà phần lớn vấn đề của nhân loại phát triển. Chính vì thế mà lần điểm đạo thứ hai đã trở thành một trong những lần khó khăn nhất mà đệ tử hiện đại phải trải qua.

The result, however, of the modern initiatory process is of a much higher order. This statement is related to the emerging fact that the Hierarchy and its personnel in process of assembling will be of a much higher order than that previously responsible for human guidance. A more advanced humanity demands a more advanced Hierarchy and hierarchical supervision; this has ever been the case. The evolutionary process covers all that is. Even Sanat Kumara is learning and advancing from a relative imperfection to perfection.

Tuy nhiên, kết quả của tiến trình điểm đạo hiện đại thuộc về một trật tự cao hơn nhiều. Phát biểu này liên hệ đến sự kiện đang xuất hiện rằng Thánh đoàn và nhân sự của Thánh đoàn đang trong tiến trình tập hợp sẽ thuộc về một trật tự cao hơn nhiều so với những vị trước đây chịu trách nhiệm hướng dẫn nhân loại. Một nhân loại tiến bộ hơn đòi hỏi một Thánh đoàn tiến bộ hơn và một sự giám sát có tính thánh đoàn cao hơn; điều này luôn luôn là như vậy. Tiến trình tiến hoá bao trùm mọi sự hiện hữu. Ngay cả Đức Sanat Kumara cũng đang học hỏi và tiến bộ từ một sự bất toàn tương đối đến sự toàn hảo.

This baptism of fire (to which reference is made in [676] the Western Scriptures) carries with it inevitably the connotation of pain, and this to an extent hitherto unknown. Even a casual glance at world affairs will reveal the truth of this statement.

Phép rửa bằng lửa này (được nhắc đến trong [676] Kinh điển phương Tây) tất yếu mang theo hàm ý về đau khổ, và ở một mức độ chưa từng được biết đến trước đây. Chỉ cần nhìn lướt qua tình hình thế giới cũng sẽ cho thấy sự thật của phát biểu này.

What, therefore, is really happening, and what are the major facts involved? Much will depend upon my answer and upon your interpretation of it. I would ask you consequently to give careful consideration to my reply to these two questions.

Vậy thì điều gì thực sự đang xảy ra, và những sự kiện chủ yếu liên quan là gì? Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào câu trả lời của tôi và vào cách các bạn diễn giải nó. Do đó, tôi muốn yêu cầu các bạn suy xét cẩn trọng câu trả lời của tôi cho hai câu hỏi này.

Under the influence of the Piscean cycle which is now in process of termination, the sixth Ray of Idealism or Devotion was predominantly active. This is the ray of one-pointed determination and—from one angle—it is the ray of blind procedure. The individual, the group or humanity, sees only one aspect of reality at any one time, and (because of man's present point in the evolutionary process) usually the least desirable aspect. All else is sealed to them; they vision only one picture; their horizon is limited to only one point of the compass (speaking esoterically). To the mass of humanity, the aspect of reality which was visioned and for which men lived and died was the material world, material comfort, material possessions and material enterprises; to this the labour movement today and the tendencies already apparent in the United Nations bear incontrovertible testimony. To a much smaller group of human beings the world of the intelligence appears paramount, and the concrete mind is the desired ruler or controlling factor. All, therefore, remains within the area of material control and interest.

Dưới ảnh hưởng của chu kỳ Song Ngư hiện đang trong tiến trình chấm dứt, cung sáu của Chủ nghĩa Duy tâm hay Sùng tín đã hoạt động một cách nổi trội. Đây là cung của sự quyết tâm nhất tâm và—từ một góc độ—nó là cung của tiến trình mù quáng. Cá nhân, nhóm hay nhân loại chỉ thấy một phương diện của thực tại tại một thời điểm, và (do điểm tiến hoá hiện nay của con người) thường là phương diện ít đáng mong muốn nhất. Mọi điều khác đều bị niêm phong đối với họ; họ chỉ thấy một bức tranh; chân trời của họ bị giới hạn vào chỉ một điểm của la bàn (nói theo huyền bí học). Đối với quần chúng nhân loại, phương diện của thực tại được nhìn thấy và vì đó mà con người sống và chết là thế giới vật chất, tiện nghi vật chất, sở hữu vật chất và các công cuộc vật chất; phong trào lao động ngày nay và những khuynh hướng đã hiện rõ trong Liên Hiệp Quốc là bằng chứng không thể bác bỏ cho điều đó. Đối với một nhóm người nhỏ hơn nhiều, thế giới của trí tuệ có vẻ là tối thượng, và trí cụ thể là kẻ cai quản hay yếu tố kiểm soát được mong muốn. Vì vậy, mọi sự vẫn nằm trong phạm vi của sự kiểm soát và quan tâm vật chất.

The solar plexus centre is consequently the dominant factor, because—even in the case of the intelligentsia—it is desire for material well-being, for territorial possessions and for planned governmental and economic material decisions which control and motivate the individual, the group or the nation. These are not necessarily wrong, but (under the present emotional-desire concept) they are placed in the foremost position and are regarded as causal in their nature; nevertheless they are fundamentally secondary [677] in their nature, and are effectual in their essential nature, placing the emphasis upon the word “effect.” Humanity, even in its advanced brackets, is not yet able to think on causal levels.

Do đó trung tâm tùng thái dương là yếu tố chi phối, bởi vì—ngay cả trong trường hợp của giới trí thức—chính dục vọng về phúc lợi vật chất, về sở hữu lãnh thổ và về các quyết định vật chất có kế hoạch của chính quyền và kinh tế kiểm soát và thúc đẩy cá nhân, nhóm hay quốc gia. Những điều này không nhất thiết là sai, nhưng (dưới quan niệm cảm xúc-dục vọng hiện nay) chúng được đặt vào vị trí hàng đầu và được xem là có tính nhân quả trong bản chất của chúng; tuy nhiên, về căn bản chúng chỉ là thứ yếu [677] trong bản chất của chúng, và trong bản chất cốt yếu của chúng, chúng là những hiệu quả, nhấn mạnh vào từ “hiệu quả.” Nhân loại, ngay cả trong những tầng lớp tiến bộ của mình, vẫn chưa thể suy nghĩ trên các cấp độ nhân quả.

What is the basic goal of the initiate who has taken the second initiation? I would ask you to transit in consciousness from the concept that the process of initiation is a consummation of effort, to the higher and better concept that it is initiatory in effect and marks a beginning and not a consummation. What, therefore, lies ahead of the initiate who has entered the purificatory water, or rather, fire? To what is he pledged? What is to happen within “the area of livingness” (I want you to familiarise yourselves with that phrase) and what results will take place within the mechanism with which he approaches the place of initiation? These are the factors of importance, and these are the aspects of the life process which should condition him. At the close of the initiatory process certain energies and divine aspects should be recognised by him as now playing a part in his thinking and his purposes—energies which heretofore (even if present) were quiescent and not controlling.

Mục tiêu căn bản của điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ hai là gì? Tôi muốn yêu cầu các bạn chuyển dịch trong tâm thức từ khái niệm cho rằng tiến trình điểm đạo là sự hoàn tất của nỗ lực, sang khái niệm cao hơn và tốt hơn rằng nó có tính khởi đầu trong hiệu quả và đánh dấu một sự bắt đầu chứ không phải một sự hoàn tất. Vậy thì điều gì đang ở phía trước điểm đạo đồ đã bước vào làn nước thanh tẩy, hay đúng hơn là lửa? Y cam kết với điều gì? Điều gì sẽ xảy ra trong “lĩnh vực của sự sống động” (tôi muốn các bạn làm quen với cụm từ đó) và những kết quả nào sẽ diễn ra trong bộ máy mà y dùng để tiếp cận nơi điểm đạo? Đây là những yếu tố quan trọng, và đây là những phương diện của tiến trình sự sống nên tác động lên y. Khi kết thúc tiến trình điểm đạo, một số năng lượng và phương diện thiêng liêng nhất định phải được y nhận ra là nay đang đóng một vai trò trong tư tưởng và mục đích của y—những năng lượng mà trước đây (dù có hiện diện) vẫn ở trạng thái tiềm ẩn và không kiểm soát.

Before him lies the third Initiation of the Transfiguration. Facing him is a great transition from an emotional aspirational focus to an intelligent, thinking focus. He has, theoretically at least, cast off the control of the astral body and nature; much still remains to be done; old desires, ancient astral reactions and habitual emotions are still powerful, but he has developed a new attitude to them and a new perspective to the astral body. Water, fire, steam, glamour, delusion, misinterpretation and emotional continuity still mean something specific and undesirable to him. He is now negative to their appeal and positive to the higher demanding focus. That which he now loves and longs for, desires and plans for, lies in another and higher dimension. He has, through his willingness to pass through the second initiation, struck the first blow at his innate selfishness and has demonstrated his determination to think [678] in wider and more inclusive terms. The group begins to mean more to him than himself.

Phía trước y là lần điểm đạo thứ ba của Biến hình. Đối diện với y là một sự chuyển tiếp lớn từ một tiêu điểm chí nguyện cảm xúc sang một tiêu điểm trí tuệ, suy tư. Về mặt lý thuyết, ít nhất y đã gạt bỏ sự kiểm soát của thể cảm dục và bản chất cảm dục; vẫn còn nhiều điều phải làm; những dục vọng cũ, những phản ứng cảm dục cổ xưa và những cảm xúc theo thói quen vẫn còn mạnh mẽ, nhưng y đã phát triển một thái độ mới đối với chúng và một viễn cảnh mới đối với thể cảm dục. Nước, lửa, hơi nước, ảo cảm, mê vọng, sự diễn giải sai và tính liên tục cảm xúc vẫn còn mang một ý nghĩa xác định và không mong muốn đối với y. Giờ đây y âm đối với sức hấp dẫn của chúng và dương đối với tiêu điểm đòi hỏi cao hơn. Điều mà giờ đây y yêu mến và khao khát, mong muốn và hoạch định, nằm trong một chiều kích khác và cao hơn. Thông qua sự sẵn lòng đi qua lần điểm đạo thứ hai, y đã giáng đòn đầu tiên vào tính ích kỷ bẩm sinh của mình và đã chứng tỏ quyết tâm suy nghĩ [678] theo những thuật ngữ rộng lớn hơn và bao gồm hơn. Nhóm bắt đầu có ý nghĩa đối với y nhiều hơn chính bản thân y.

What has happened, technically speaking? The energies of the solar plexus centre are being transferred from the major clearing house below the diaphragm to the heart centre—one of the three major centres into which all the lower energies must transfer. At the first initiation he was granted a vision of a higher creativity and the energy of the sacral centre began its slow ascent to the throat centre. At the second initiation, he is granted a vision of a higher focus, and his place in the larger whole begins slowly to reveal itself. A new creativity and a new focus become his immediate goals, and for him life can never again be the same. The old physical attitudes and desires may still at times assume control; selfishness may continue to play a potent part in his life expression, but—underlying these and subordinating them—will be found a deep dissatisfaction about things as they are and an agonising realisation of failure. It is at this point that the disciple begins to learn the uses of failure and to know certain fundamental distinctions between that which is natural and objective and that which is supernatural and subjective.

Về mặt kỹ thuật, điều gì đã xảy ra? Các năng lượng của trung tâm tùng thái dương đang được chuyển dịch từ trạm thanh lọc lớn bên dưới cơ hoành lên trung tâm tim—một trong ba trung tâm lớn mà vào đó mọi năng lượng thấp hơn phải được chuyển dịch. Ở lần điểm đạo thứ nhất, y đã được ban cho một linh ảnh về một sự sáng tạo cao hơn và năng lượng của trung tâm xương cùng bắt đầu chậm rãi đi lên trung tâm cổ họng. Ở lần điểm đạo thứ hai, y được ban cho một linh ảnh về một tiêu điểm cao hơn, và vị trí của y trong toàn thể lớn hơn bắt đầu chậm rãi tự bộc lộ. Một sự sáng tạo mới và một tiêu điểm mới trở thành những mục tiêu trước mắt của y, và đối với y, đời sống không bao giờ còn như cũ nữa. Những thái độ và dục vọng hồng trần cũ đôi khi vẫn có thể giành quyền kiểm soát; tính ích kỷ vẫn có thể tiếp tục đóng một vai trò mạnh mẽ trong sự biểu lộ đời sống của y, nhưng—nằm bên dưới những điều này và chế ngự chúng—sẽ thấy có một sự bất mãn sâu sắc về mọi sự như chúng đang là và một sự chứng nghiệm đau đớn về thất bại. Chính tại điểm này mà đệ tử bắt đầu học những công dụng của thất bại và biết đến một số phân biệt căn bản giữa điều gì là tự nhiên và khách quan với điều gì là siêu nhiên và chủ quan.

Do these ideas make the concept of initiation more useful to you and more practical? Any initiation which does not find interpretation in daily reactions is of small service and basically unreal. It is the unreality of its presentation which has led to the rejection of the Theosophical Society as an agent of the Hierarchy at this time. Earlier and prior to its ridiculous emphasis upon initiation and initiates, and prior to its recognition of the probationary disciples as full initiates, the Society did good work. It however failed to recognise mediocrity and to realise that no one “takes” initiation and passes through these crises without a previous demonstration of a wide usefulness and of a trained intelligent capacity. This may not be the case where the first initiation is concerned, but where the second initiation is involved there must ever be the background of a useful dedicated life and an expressed determination [679] to enter the field of world service. There must also be humility and a voiced realisation of the divinity in all men. To these requirements, the so-called initiate of the Theosophical Society (with the exception of Mrs. Besant) did not conform. I would not call attention to their prideful demonstration, were it not that the same claims are being made and the same delusions presented to the public.

Những ý tưởng này có làm cho khái niệm điểm đạo trở nên hữu ích hơn và thực tiễn hơn đối với các bạn không? Bất kỳ lần điểm đạo nào không tìm được sự diễn giải trong các phản ứng hằng ngày thì ít có ích lợi và về căn bản là không thực. Chính tính không thực trong cách trình bày của nó đã dẫn đến việc Hội Thông Thiên Học bị bác bỏ như một tác nhân của Thánh đoàn vào thời điểm này. Trước kia, và trước khi nó nhấn mạnh một cách lố bịch vào điểm đạo và các điểm đạo đồ, và trước khi nó công nhận các đệ tử dự bị như những điểm đạo đồ trọn vẹn, Hội đã làm được công việc tốt. Tuy nhiên, Hội đã không nhận ra tính tầm thường và không hiểu rằng không ai “trải qua” điểm đạo và đi qua những khủng hoảng này mà không có sự chứng tỏ trước đó về tính hữu dụng rộng lớn và một năng lực thông minh đã được rèn luyện. Điều này có thể không đúng trong trường hợp liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất, nhưng khi lần điểm đạo thứ hai được xét đến thì luôn luôn phải có bối cảnh của một đời sống hữu ích, hiến dâng và một quyết tâm được biểu lộ [679] để bước vào lĩnh vực phụng sự thế gian. Cũng phải có sự khiêm nhường và một sự nhận biết được phát biểu về thiên tính trong mọi người. Những người được gọi là điểm đạo đồ của Hội Thông Thiên Học (ngoại trừ bà Besant) đã không phù hợp với những đòi hỏi này. Tôi đã không muốn lưu ý đến sự phô diễn đầy kiêu ngạo của họ, nếu không phải vì hiện nay những tuyên bố tương tự đang được đưa ra và những mê vọng tương tự đang được trình bày trước công chúng.

The problem of freedom from the limitations of matter should now be considered and the entire theme be rendered practical.

Vấn đề giải thoát khỏi những giới hạn của vật chất giờ đây nên được xem xét và toàn bộ chủ đề này cần được làm cho thực tiễn.

There is perhaps an ultimate opinion that it is the realm of the emotions and the susceptibility to emotional reactions which constitute the major human limitation—both from the individual angle and also from that of the national angle. It is everywhere realised that the demagogue, for instance, who sways public opinion, is one who also and emphatically plays on human emotions as well as upon human selfishness. As the race progresses towards mental expression, this distorting influence will become increasingly less important, and once the masses (composed of the millions of so-called “men in the street”) begin definitely to think, the power of the demagogic approach will have disappeared. The major battle in the world today is that of the freedom of the average citizen to think for himself and to come to his own decisions and conclusions. It is here that the major quarrel between the Great White Lodge and the Black Lodge is to be found. It is a battle in which humanity itself is the decisive factor, and for this reason the Black Lodge is working through the group which is controlling the destiny of Russia and also through the Zionist movement. The leaders of the U.S.S.R. are working intelligently and potently against human freedom and particularly against freedom of thought. Communism per se has no such objective; it is the totalitarian policies of the national rulers which are so disastrous, plus their ambition and their hatred of true freedom. Zionism today stands for aggression and for the use of force, and the keynote is permission to take what you want irrespective [680] of other people or of their inalienable rights. These points of view are against the position of the spiritual leaders of humanity, and therefore the leaders of the Zionist movement, and the group of men who direct and control the policies of Russia, are against the policies of the spiritual Hierarchy and are contrary to the lasting good of mankind.

Có lẽ có một quan điểm cuối cùng cho rằng chính lĩnh vực cảm xúc và tính dễ bị phản ứng cảm xúc mới cấu thành giới hạn lớn nhất của con người—cả từ góc độ cá nhân lẫn từ góc độ quốc gia. Ở khắp nơi người ta đều nhận ra rằng chẳng hạn, kẻ mị dân thao túng dư luận cũng là kẻ rõ ràng khai thác cảm xúc con người cũng như tính ích kỷ của con người. Khi nhân loại tiến bộ hướng tới sự biểu lộ trí tuệ, ảnh hưởng bóp méo này sẽ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn, và một khi quần chúng (gồm hàng triệu người được gọi là “người dân ngoài phố”) bắt đầu suy nghĩ một cách rõ rệt, thì quyền lực của lối tiếp cận mị dân sẽ biến mất. Trận chiến chủ yếu trong thế giới ngày nay là trận chiến vì quyền tự do của công dân bình thường được tự mình suy nghĩ và đi đến những quyết định và kết luận của riêng mình. Chính ở đây có thể tìm thấy cuộc xung đột lớn giữa Thánh đoàn và Hắc đoàn. Đây là một trận chiến mà trong đó chính nhân loại là yếu tố quyết định, và vì lý do này Hắc đoàn đang hoạt động thông qua nhóm đang kiểm soát vận mệnh của nước Nga và cũng thông qua phong trào Zionist. Các nhà lãnh đạo của U.S.S.R. đang hoạt động một cách thông minh và mạnh mẽ chống lại tự do của con người và đặc biệt chống lại tự do tư tưởng. Chính chủ nghĩa cộng sản không có mục tiêu như vậy; chính các chính sách toàn trị của những người cai trị quốc gia mới tai hại đến thế, cộng với tham vọng của họ và sự thù ghét của họ đối với tự do chân chính. Chủ nghĩa Zion ngày nay đại diện cho sự xâm lược và việc sử dụng vũ lực, và chủ âm của nó là được phép lấy điều mình muốn bất kể [680] người khác hay những quyền bất khả nhượng của họ. Những quan điểm này chống lại lập trường của các nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại, và vì vậy các nhà lãnh đạo của phong trào Zionist, cùng nhóm người chỉ đạo và kiểm soát các chính sách của nước Nga, chống lại các chính sách của Huyền Giai Tinh Thần và đi ngược lại lợi ích lâu dài của nhân loại.

The freedom of the human spirit, the freedom to think, govern and worship as innate, human, instinctual human desire may dictate, under the influence of the evolutionary process, the liberty to decide on the required form of government or of religion—these are the rightful prerogatives of mankind. Any group of men or any form of government which fails to recognise this inherent right runs counter to the principle which governs the Great White Lodge. The menace to world freedom today lies in the known policies of the rulers of the U.S.S.R. and in the devious and lying machinations of the Zionists. In neither group is there any true spiritual potency, and both are doomed to failure even though they may succeed from the angle of material gain; from the spiritual angle, they are doomed. The leaders of the Russian enterprise against the freedom of the individual are doomed, because inherently man is free and fundamentally divine, and it is assured (from the long range vision) that masses of men in Russia and in the communistically inclined “satellite states” will inevitably react divinely and potently. The true communistic platform is sound; it is brotherhood in action and it does not—in its original platform—run counter to the spirit of Christ. The imposition of intellectual and formal communism by a group of ambitious and sometimes evil men is not sound; it does not adhere to the true communistic platform, but is based on personal ambitions, love of power and on interpretations of the writings of Lenin and Marx which are also personal and run counter to the meaning of these two men, just as the theologians of the Church interpret the words of Christ in a fashion which has no relation to His original intention. The rulers of Russia are not truly working for the good of the people, any more [681] than academic Zionism is working and carrying out its projects for any humanitarian reasons. But the people hold the ultimate triumph in their hands, for the heart of the people in all nations is basically sound, fundamentally good and God-inclined. This the rulers of the communistic regime forget.

Tự do của tinh thần con người, tự do suy nghĩ, cai quản và thờ phụng theo như khát vọng bẩm sinh, nhân bản, bản năng của con người có thể chỉ định dưới ảnh hưởng của tiến trình tiến hoá, quyền tự do quyết định hình thức chính quyền hay tôn giáo cần thiết—đó là những đặc quyền chính đáng của nhân loại. Bất kỳ nhóm người nào hay bất kỳ hình thức chính quyền nào không công nhận quyền cố hữu này đều đi ngược lại nguyên lý chi phối Thánh đoàn. Mối đe dọa đối với tự do thế giới ngày nay nằm trong các chính sách đã biết của những người cai trị U.S.S.R. và trong những mưu đồ quanh co và dối trá của những người Zionist. Trong cả hai nhóm đều không có mãnh lực tinh thần chân chính nào, và cả hai đều bị định trước là sẽ thất bại dù họ có thể thành công từ góc độ lợi ích vật chất; từ góc độ tinh thần, họ đã bị định trước là thất bại. Những người lãnh đạo công cuộc của Nga chống lại tự do của cá nhân bị định trước là thất bại, bởi vì về bản chất con người là tự do và về căn bản là thiêng liêng, và điều chắc chắn (từ tầm nhìn dài hạn) là quần chúng ở Nga và trong các “quốc gia vệ tinh” có khuynh hướng cộng sản sẽ tất yếu đáp ứng một cách thiêng liêng và mạnh mẽ. Cương lĩnh cộng sản chân chính là lành mạnh; đó là tình huynh đệ trong hành động và trong cương lĩnh nguyên thủy của nó, nó không đi ngược lại tinh thần của Đức Christ. Việc áp đặt chủ nghĩa cộng sản trí tuệ và hình thức bởi một nhóm người đầy tham vọng và đôi khi xấu ác thì không lành mạnh; nó không tuân theo cương lĩnh cộng sản chân chính, mà dựa trên những tham vọng cá nhân, lòng ham quyền lực và những diễn giải các tác phẩm của Lenin và Marx cũng mang tính cá nhân và đi ngược lại ý nghĩa của hai người này, cũng như các nhà thần học của Giáo hội diễn giải lời của Đức Christ theo một cách không liên hệ gì đến ý định nguyên thủy của Ngài. Những người cai trị nước Nga không thực sự làm việc vì lợi ích của nhân dân, cũng không hơn gì [681] chủ nghĩa Zion học viện đang làm việc và thực hiện các dự án của nó vì những lý do nhân đạo. Nhưng chính nhân dân nắm giữ chiến thắng tối hậu trong tay họ, vì trái tim của nhân dân trong mọi quốc gia về căn bản là lành mạnh, tốt đẹp và hướng về Thượng đế. Điều này những người cai trị chế độ cộng sản quên mất.

The leaders of the Zionist movement of aggression constitute a real danger to world peace and human development and their activities have been endorsed by the expediency policy of the U.S.A. and, in a secondary degree, by Great Britain, under the influence of the U.S.A. It is the Zionists who have defied the United Nations, lowered its prestige and made its position both negative and negligible to the world. It is the Zionists who have perpetrated the major act of aggression since the formation of the United Nations, and who were clever enough to gain the endorsement of the United Nations, turning the original “recommendation” of the United Nations into an order. The rule of force, of aggression and of territorial conquest by force of arms is demonstrated today by the Zionists in Palestine, as well as the demonstration of the power of money to purchase governments. These activities run counter to all the plans of the spiritual Hierarchy and mark a point of triumph of the forces of evil. I am emphasising the activities of these two countries because through the leaders of these groups of aggressive men the forces of evil—dammed back temporarily by the defeat of the evil group which Hitler gathered around him—have again organised their attack on the spiritual development of humanity.

Các nhà lãnh đạo của phong trào Zionist xâm lược tạo thành một mối nguy thực sự đối với hòa bình thế giới và sự phát triển của con người, và các hoạt động của họ đã được chính sách cơ hội của U.S.A. tán thành và, ở mức độ thứ yếu, bởi Anh quốc dưới ảnh hưởng của U.S.A. Chính những người Zionist đã thách thức Liên Hiệp Quốc, hạ thấp uy tín của tổ chức này và khiến vị thế của nó trở nên vừa tiêu cực vừa không đáng kể đối với thế giới. Chính những người Zionist đã thực hiện hành động xâm lược lớn nhất kể từ khi Liên Hiệp Quốc được thành lập, và họ đủ khôn khéo để giành được sự tán thành của Liên Hiệp Quốc, biến “khuyến nghị” ban đầu của Liên Hiệp Quốc thành một mệnh lệnh. Sự cai trị bằng vũ lực, bằng xâm lược và bằng chinh phục lãnh thổ bằng sức mạnh vũ trang ngày nay được những người Zionist biểu lộ tại Palestine, cũng như sự biểu lộ quyền lực của tiền bạc để mua chuộc các chính phủ. Những hoạt động này đi ngược lại mọi kế hoạch của Huyền Giai Tinh Thần và đánh dấu một điểm chiến thắng của các mãnh lực ác. Tôi nhấn mạnh các hoạt động của hai quốc gia này bởi vì thông qua các nhà lãnh đạo của những nhóm người hiếu chiến này, các mãnh lực ác—đã tạm thời bị chặn lại bởi sự thất bại của nhóm ác mà Hitler đã tập hợp quanh ông—lại một lần nữa tổ chức cuộc tấn công của chúng vào sự phát triển tinh thần của nhân loại.

The world today still remains divided into people of evil intention and great power and their victims, plus the negative reactions of the remaining nations. There is no nation in the United Nations which has attempted to swing the tide of evil by ranging itself and other nations on the side of freedom. There are only groups of unillumined men who seek to control national destinies. There is still emotional reaction to situations and the emotional exploitation of individuals and nations by those who are in [682] no way emotional but who are mentally convinced that certain lines of activity must be followed, leading to their own individual good but which—in the long run—are not good for the peoples involved.

Thế giới ngày nay vẫn còn bị chia thành những người có ý đồ xấu và quyền lực lớn cùng các nạn nhân của họ, cộng với những phản ứng tiêu cực của các quốc gia còn lại. Không có quốc gia nào trong Liên Hiệp Quốc đã cố gắng xoay chuyển làn sóng ác bằng cách đứng về phía tự do cùng với các quốc gia khác. Chỉ có những nhóm người không được soi sáng đang tìm cách kiểm soát vận mệnh quốc gia. Vẫn còn phản ứng cảm xúc đối với các tình huống và sự khai thác cảm xúc của cá nhân và quốc gia bởi những kẻ [682] hoàn toàn không cảm xúc nhưng lại bị thuyết phục về mặt trí tuệ rằng phải theo những đường lối hoạt động nhất định, dẫn đến lợi ích cá nhân của chính họ nhưng—về lâu dài—không tốt cho các dân tộc liên quan.

We therefore come back to the problems of the astral plane, of the emotional level of consciousness, and to the second initiation; this initiation releases men from emotional control and enables them to shift their consciousness on to mental levels, and from that higher point of focus to control their normal and well developed emotional attitudes.

Vì vậy, chúng ta quay trở lại với các vấn đề của cõi cảm dục, của cấp độ tâm thức cảm xúc, và với lần điểm đạo thứ hai; lần điểm đạo này giải phóng con người khỏi sự kiểm soát của cảm xúc và giúp họ chuyển tâm thức của mình lên các cấp độ trí tuệ, và từ điểm tập trung cao hơn đó kiểm soát những thái độ cảm xúc bình thường và đã phát triển tốt của họ.

If you will turn back to page 340, you will find that the three keynotes are given for this second initiation and for its technique. I would like to call your attention to them because they present those keynotes which give us the clue to the world problems and indicate at the same time the solution and the way out of the present impasse. These three words are: Dedication. Glamour. Devotion.

Nếu các bạn lật lại trang 340, các bạn sẽ thấy ba chủ âm được nêu ra cho lần điểm đạo thứ hai này và cho kỹ thuật của nó. Tôi muốn lưu ý các bạn đến chúng vì chúng trình bày những chủ âm cho chúng ta manh mối về các vấn đề thế giới và đồng thời chỉ ra giải pháp cũng như lối thoát khỏi thế bế tắc hiện nay. Ba từ ấy là: Hiến dâng. Ảo cảm. Sùng tín.

It is the dedication of the aspirant which invokes the fire. You have here a statement of major importance. The aspirant upon the higher levels of the astral plane is swept by the “fire of dedication.” This immediately focusses his will as it demonstrates on the mental plane, and this focussing in due time starts the serious undertaking of the shifting of his consciousness on to mental levels. Then immediately the “fire” works, and the first reaction (as I have earlier pointed out) is the “meeting of fire and water,” and consequently the production of fog, mist, of glamour and illusion. All of these four words must be understood symbolically. The glamours thus induced are dependent upon the ray and the point of evolution of the individual and the nation. It is essential that you learn to think in the widest possible terms. With these I shall not deal. Individuals are rapidly discovering the nature of their glamours, once their “spiritual intention” is determined; also national glamour is well recognised by onlookers, though seldom yet by the nations involved. The factor which leads to the dissipation of glamour is devotion—devotion to an [683] individual, to a Master (as taught by the Theosophical Society) or to some idealistic project. It is finally an unlimited devotion to the Way, to the treading of the Path at any cost, and to the unswerving attachment to service—as constituting the major technique of the Path.

Chính sự hiến dâng của người chí nguyện khẩn cầu lửa. Ở đây các bạn có một phát biểu mang tầm quan trọng lớn. Người chí nguyện trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục bị cuốn theo “lửa của sự hiến dâng.” Điều này ngay lập tức tập trung ý chí của y như nó biểu lộ trên cõi trí, và sự tập trung này đến lúc sẽ khởi động công cuộc nghiêm túc chuyển tâm thức của y lên các cấp độ trí tuệ. Khi đó ngay lập tức “lửa” hoạt động, và phản ứng đầu tiên (như tôi đã chỉ ra trước đây) là “sự gặp gỡ của lửa và nước,” và do đó tạo ra sương mù, màn sương, ảo cảm và ảo tưởng. Cả bốn từ này đều phải được hiểu theo biểu tượng. Những ảo cảm được gây ra như vậy tùy thuộc vào cung và điểm tiến hoá của cá nhân và quốc gia. Điều thiết yếu là các bạn phải học cách suy nghĩ theo những thuật ngữ rộng nhất có thể. Tôi sẽ không đề cập đến chúng. Các cá nhân đang nhanh chóng khám phá bản chất các ảo cảm của mình, một khi “ý định tinh thần” của họ được xác định; ảo cảm quốc gia cũng được những người quan sát nhận ra rõ, dù hiếm khi được chính các quốc gia liên quan nhận ra. Yếu tố dẫn đến việc làm tiêu tan ảo cảm là sự sùng tín—sùng tín đối với một cá nhân, đối với một Chân sư (như Hội Thông Thiên Học đã dạy) hay đối với một dự án duy tâm nào đó. Cuối cùng, đó là sự sùng tín vô hạn đối với Con Đường, đối với việc bước đi trên Đường Đạo bằng bất cứ giá nào, và đối với sự gắn bó không lay chuyển với phụng sự—như cấu thành kỹ thuật chủ yếu của Con Đường.

Dedication, resulting in glamour, which is dissipated by devotion—these are the keynotes of the second initiation. Forget not that nationalism is the result of dedication to a particular national set-up and produces the glamours which lead to world difficulty.

Hiến dâng, dẫn đến ảo cảm, và được làm tiêu tan bởi sùng tín—đó là những chủ âm của lần điểm đạo thứ hai. Đừng quên rằng chủ nghĩa dân tộc là kết quả của sự hiến dâng cho một cơ cấu quốc gia riêng biệt và tạo ra những ảo cảm dẫn đến khó khăn thế giới.

These three aspects of evolutionary unfoldment must be recognised by every aspirant; their existence determines his place upon the Path, the initiation for which he is being prepared and the nature of his service for humanity.

Ba phương diện này của sự khai mở tiến hoá phải được mọi người chí nguyện nhận ra; sự hiện hữu của chúng quyết định vị trí của y trên Con Đường, lần điểm đạo mà y đang được chuẩn bị cho, và bản chất sự phụng sự của y đối với nhân loại.

And what will be the result of the combination in one's life of these three factors? Primarily two things:

Và kết quả của sự kết hợp ba yếu tố này trong đời sống một người sẽ là gì? Chủ yếu là hai điều:

1. The solar plexus centre will be brought, first of all, into a condition of almost violent and compelling activity. This activity is induced by dedication and produces glamour inevitably.

1. Trung tâm tùng thái dương trước hết sẽ được đưa vào một trạng thái hoạt động gần như dữ dội và cưỡng bách. Hoạt động này được gây ra bởi sự hiến dâng và tất yếu tạo ra ảo cảm.

2. The violent energies of the solar plexus centre will eventually be controlled by the quality of devotion. It is this quality which transforms the solar plexus centre into the great clearing house for all emotional reactions and for all glamours, and makes it temporarily a cause of disaster, of conflict, of pain and of distress.

2. Các năng lượng dữ dội của trung tâm tùng thái dương cuối cùng sẽ được kiểm soát bởi phẩm tính sùng tín. Chính phẩm tính này chuyển đổi trung tâm tùng thái dương thành trạm thanh lọc lớn cho mọi phản ứng cảm xúc và cho mọi ảo cảm, và tạm thời khiến nó trở thành nguyên nhân của tai họa, xung đột, đau đớn và khổ sở.

As a result of both of these, a great transforming agency is set in motion by the quality of devotion, and the solar plexus centre becomes not only a clearing house but the main factor in lifting both physical and emotional active energies from below the diaphragm into the heart centre. This constitutes a long process which the aspirant is forced to face in the interim between initiations. We are told (and it is factually true) that the longest period between initiations is that to be found between the first and the second initiations. This is a truth which must be faced, but it should also be remembered that it is by no means the hardest period. The hardest period for the sensitive, feeling [684] aspirant is to be found between the second and the third initiations.

Kết quả của cả hai điều này là một tác nhân chuyển đổi lớn được khởi động bởi phẩm tính sùng tín, và trung tâm tùng thái dương không chỉ trở thành một trạm thanh lọc mà còn là yếu tố chính trong việc nâng cả các năng lượng hoạt động hồng trần lẫn cảm xúc từ dưới cơ hoành lên trung tâm tim. Điều này cấu thành một tiến trình dài mà người chí nguyện buộc phải đối diện trong khoảng thời gian giữa các lần điểm đạo. Người ta đã nói với chúng ta (và điều đó đúng trên thực tế) rằng khoảng thời gian dài nhất giữa các lần điểm đạo là khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Đây là một sự thật phải được đối diện, nhưng cũng nên nhớ rằng đó hoàn toàn không phải là giai đoạn khó khăn nhất. Giai đoạn khó khăn nhất đối với người chí nguyện nhạy cảm, giàu cảm xúc [684] là giai đoạn giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba.

It is a period of intense suffering, of the penalty of applying factors of glamour and illusion, of pronounced involvement in situations which, for a long time, remain unclarified, and of a steady moving forward as best the beleaguered aspirant can—under the influence of right direction and spiritual determination. This he has usually to do in the dark, working under the action of the logical and understanding mind, but seldom under the influence of inspiration. Nevertheless, the good work goes on. The emotions are brought under control, and necessarily the factor of the mind assumes an increasingly right importance. Light—flickering and as yet uncertain and unpredictable—pours occasionally in from the soul, via the mind, adding frequently to the complications but producing eventually the needed control which will lead to and result in freedom.

Đó là một giai đoạn đau khổ mãnh liệt, của cái giá phải trả do áp dụng các yếu tố ảo cảm và ảo tưởng, của sự vướng mắc rõ rệt vào những tình huống mà trong một thời gian dài vẫn không được làm sáng tỏ, và của việc tiếp tục tiến lên đều đặn hết sức có thể đối với người chí nguyện bị vây hãm—dưới ảnh hưởng của sự định hướng đúng đắn và quyết tâm tinh thần. Điều này y thường phải làm trong bóng tối, hoạt động dưới tác động của trí tuệ logic và thấu hiểu, nhưng hiếm khi dưới ảnh hưởng của cảm hứng. Tuy nhiên, công việc tốt đẹp vẫn tiếp tục. Các cảm xúc được đưa vào vòng kiểm soát, và tất yếu yếu tố trí tuệ đảm nhận một tầm quan trọng ngày càng đúng đắn. Ánh sáng—chập chờn và còn chưa chắc chắn, không thể đoán trước—thỉnh thoảng tuôn vào từ linh hồn, qua trí tuệ, thường làm tăng thêm các phức tạp nhưng cuối cùng tạo ra sự kiểm soát cần thiết sẽ dẫn đến và đưa đến tự do.

Ponder on these things. Freedom is the keynote of the individual who is facing the second initiation and its aftermath—preparation for the third initiation. Freedom is the keynote for the world disciple today, and it is freedom to live, freedom to think and freedom to know and plan, which humanity demands at this time.

Hãy suy ngẫm về những điều này. Tự do là chủ âm của cá nhân đang đối diện với lần điểm đạo thứ hai và hậu quả của nó—sự chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba. Tự do là chủ âm của đệ tử thế gian ngày nay, và chính tự do để sống, tự do để suy nghĩ, và tự do để biết và hoạch định là điều nhân loại đang đòi hỏi vào lúc này.

The initiation (that of the Transfiguration) which we are next to study is one of the most important of them all. From one particular angle, it is peculiarly related to the fifth Initiation of Revelation and to the seventh Initiation of Resurrection. All three are concerned with freedom: freedom from the personality, freedom from blindness, or freedom from all the seven planes of our planetary existence—the planes which are sometimes referred to as the planes of human and superhuman evolution. You will have noted that lately I have been emphasising an aspect of initiation hitherto little emphasised—the aspect of freedom. The Path of Initiation has at times been called the Path of Liberation, and it is to this essential aspect of the initiatory process that I am seeking to call your attention. I have [685] pointed out continuously that initiation is not really the curious mixture of self-satisfied attainment, ceremonial, and hierarchical recognition as portrayed by the major occult groups. It is far more a process of excessively hard work, during which process the initiate becomes what he is. This may entail hierarchical recognition, but not in the form usually pictured. The initiate finds himself in the company of those who have preceded him, and he is not rejected but is seen and noted and then put to work.

Lần điểm đạo (đó là Biến hình) mà tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu là một trong những lần quan trọng nhất. Từ một góc độ đặc biệt nào đó, nó liên hệ một cách đặc thù với lần điểm đạo thứ năm của Sự Mặc Khải và lần điểm đạo thứ bảy của Phục Sinh. Cả ba đều liên quan đến tự do: tự do khỏi phàm ngã, tự do khỏi sự mù lòa, hay tự do khỏi toàn bộ bảy cõi của sự tồn tại hành tinh của chúng ta—những cõi đôi khi được gọi là các cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại. Các bạn hẳn đã lưu ý rằng gần đây tôi đã nhấn mạnh một phương diện của điểm đạo trước đây ít được nhấn mạnh—phương diện tự do. Con Đường Điểm Đạo đôi khi đã được gọi là Con Đường Giải Thoát, và chính đến phương diện cốt yếu này của tiến trình điểm đạo mà tôi đang tìm cách thu hút sự chú ý của các bạn. Tôi đã [685] liên tục chỉ ra rằng điểm đạo thực ra không phải là sự pha trộn kỳ lạ giữa thành tựu tự mãn, nghi lễ và sự công nhận của thánh đoàn như được mô tả bởi các nhóm huyền bí học lớn. Nó đúng hơn là một tiến trình lao động cực kỳ gian khổ, trong đó điểm đạo đồ trở thành chính điều y là. Điều này có thể kéo theo sự công nhận của thánh đoàn, nhưng không phải dưới hình thức thường được hình dung. Điểm đạo đồ thấy mình ở trong công ty của những người đã đi trước y, và y không bị khước từ mà được nhìn thấy, được ghi nhận rồi được giao việc.

It is also a graded series of liberations, resulting in the attainment of increased freedom from that which lies behind in his experience; this carries with it the permission (soul enjoined or given) to proceed further on the WAY. These freedoms are the result of Detachment, Dispassion, and Discrimination. At the same time Discipline enforces and makes possible the hard work required to pass the grade. All these four techniques (for that is what they are) are preceded by a series of disillusionments which, when realised and comprehended, leave the aspirant no choice but to move forward into greater light.

Đó cũng là một chuỗi giải thoát có cấp bậc, đưa đến việc đạt được sự tự do ngày càng lớn hơn khỏi điều nằm phía sau trong kinh nghiệm của y; điều này kéo theo sự cho phép (do linh hồn truyền lệnh hay ban cho) để tiến xa hơn trên CON ĐƯỜNG. Những sự tự do này là kết quả của sự tách rời, vô dục và phân biện. Đồng thời, kỷ luật áp đặt và làm cho công việc gian khổ cần thiết để vượt qua cấp bậc trở nên khả hữu. Tất cả bốn kỹ thuật này (vì đó chính là chúng) đều được đi trước bởi một chuỗi những sự vỡ mộng mà khi được chứng nghiệm và thấu hiểu, sẽ không để lại cho người chí nguyện lựa chọn nào khác ngoài việc tiến vào ánh sáng lớn hơn.

I would like to have you study initiation from the angle of liberation, looking upon it as a process of strenuously attained freedoms. This basic aspect of initiation—when realised by the initiate—ties his experience into a firm relation with that of the whole of humanity, whose fundamental struggle is the attainment of that freedom “whereby the soul and its powers can unfold and all men be free because of an individually attained freedom.”

Tôi muốn các bạn nghiên cứu điểm đạo từ góc độ giải thoát, xem nó như một tiến trình đạt được những sự tự do bằng nỗ lực mãnh liệt. Phương diện căn bản này của điểm đạo—khi được điểm đạo đồ chứng nghiệm—gắn kinh nghiệm của y vào một mối liên hệ vững chắc với kinh nghiệm của toàn thể nhân loại, mà cuộc đấu tranh căn bản của họ là đạt được sự tự do “nhờ đó linh hồn và các quyền năng của nó có thể khai mở và mọi người được tự do bởi một sự tự do đạt được một cách cá nhân.”

If you will study the nine initiations and look upon them from this angle, you will see how each does most definitely mark a point of attainment, and therefore the entire subject of initiation takes on a new beauty and appears more worthy of the pain and struggle of attainment. Let me give you an indication (no more than that) of what I mean.

Nếu các bạn nghiên cứu chín lần điểm đạo và nhìn chúng từ góc độ này, các bạn sẽ thấy mỗi lần đều rất rõ ràng đánh dấu một điểm thành tựu, và vì thế toàn bộ chủ đề điểm đạo mang một vẻ đẹp mới và có vẻ xứng đáng hơn với đau đớn và đấu tranh để đạt được. Hãy để tôi cho các bạn một chỉ dẫn (không hơn thế) về điều tôi muốn nói.

Initiation I. Birth. Freedom from the control of the physical body and its appetites.

Điểm Đạo I. Sinh ra. Tự do khỏi sự kiểm soát của thể xác và các dục năng của nó.

Initiation II. Baptism. Freedom from the control of [686] the emotional nature and the selfish sensitivity of the lower self.

Điểm Đạo II. Phép Rửa. Tự do khỏi sự kiểm soát của [686] bản chất cảm xúc và tính nhạy cảm ích kỷ của phàm ngã.

Initiation III. Transfiguration. Freedom from the ancient authority of the threefold personality, marking a climaxing moment in the history of all initiates.

Điểm Đạo III. Biến hình. Tự do khỏi quyền uy cổ xưa của phàm ngã tam phân, đánh dấu một thời điểm cao trào trong lịch sử của mọi điểm đạo đồ.

Initiation IV. Renunciation. Freedom from all self-interest, and the renouncing of the personal life in the interest of a larger whole. Even soul-consciousness ceases to be of importance and a more universal awareness, and one closer to the divine Mind, takes its place.

Điểm Đạo IV. Từ Bỏ. Tự do khỏi mọi tư lợi, và sự từ bỏ đời sống cá nhân vì lợi ích của một toàn thể lớn hơn. Ngay cả tâm thức linh hồn cũng không còn quan trọng nữa và một nhận biết phổ quát hơn, gần với Trí của Thượng đế hơn, thay thế chỗ của nó.

Initiation V. Revelation. Freedom from blindness—a liberation which enables the initiate to see a new vision. This vision concerns the Reality lying beyond any hitherto sensed or known.

Điểm Đạo V. Sự Mặc Khải. Tự do khỏi sự mù lòa—một sự giải thoát giúp điểm đạo đồ thấy một linh ảnh mới. Linh ảnh này liên quan đến Thực Tại nằm vượt ngoài bất cứ điều gì trước đây đã được cảm nhận hay biết đến.

Initiation VI. Decision. Freedom of choice. I have dealt with these choices in an earlier part of this book.

Điểm Đạo VI. Quyết Định. Tự do lựa chọn. Tôi đã bàn đến những lựa chọn này trong một phần trước của cuốn sách này.

Initiation VII. Resurrection. Freedom from the hold of the phenomenal life of the seven planes of our planetary Life. It is in reality a “lifting out of or above” the cosmic physical plane.

Điểm Đạo VII. Phục Sinh. Tự do khỏi sự nắm giữ của đời sống hiện tượng của bảy cõi thuộc Sự sống hành tinh của chúng ta. Thực ra đó là một sự “nâng ra khỏi hay vượt lên trên” cõi hồng trần vũ trụ.

Initiation VIII. Transition. Freedom from the reaction of consciousness (as that word is understood by you) and a liberation into a state of awareness, a form of conscious recognition which has no relation to consciousness, as you understand that term. It might be regarded as complete freedom from sensitivity, yet with a full flowering of that quality to which we give the inadequate name “compassion.” More I cannot say. [687]

Điểm Đạo VIII. Chuyển tiếp. Tự do khỏi phản ứng của tâm thức (theo cách các bạn hiểu từ đó) và một sự giải thoát vào một trạng thái nhận biết, một hình thức nhận biết hữu thức không có liên hệ gì với tâm thức như các bạn hiểu thuật ngữ ấy. Nó có thể được xem như sự tự do hoàn toàn khỏi tính nhạy cảm, nhưng lại với sự nở rộ trọn vẹn của phẩm tính mà chúng ta đặt cho cái tên chưa đầy đủ là “lòng từ bi.” Tôi không thể nói thêm. [687]

Initiation IX. Refusal. Freedom from all possible forms of enticement, particularly with reference to the higher planes. It must constantly be remembered (and hence my constant reiteration) that our seven planes are the seven subplanes of the cosmic physical plane.

Điểm Đạo IX. Từ Chối. Tự do khỏi mọi hình thức cám dỗ khả hữu, đặc biệt liên hệ đến các cõi cao hơn. Phải luôn luôn nhớ (và vì thế tôi liên tục nhắc lại) rằng bảy cõi của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

This goal of freedom is in reality the main incentive to tread the Path of Return. One of the most spiritually exciting things taking place in the world today is the use, in every country, of the word FREEDOM; it was that great disciple, F. D. Roosevelt, who “anchored” the word in a new and more universal sense. It now has a fuller and deeper meaning to humanity.

Mục tiêu tự do này thực ra là động lực chính để bước đi trên Con Đường Trở Về. Một trong những điều gây phấn khích tinh thần nhất đang diễn ra trong thế giới ngày nay là việc sử dụng, ở mọi quốc gia, từ TỰ DO; chính vị đệ tử vĩ đại ấy, F. D. Roosevelt, đã “neo giữ” từ này trong một ý nghĩa mới và phổ quát hơn. Giờ đây nó có một ý nghĩa đầy đủ và sâu sắc hơn đối với nhân loại.