Trích nội dung chương
(Publisher’s Note: Since this chapter was written, experiments with the ductless glands have continued. Details given here are not final or conclusive but the basic postulates of the Author remain untouched. F.B.) (Ghi chú của Nhà Xuất Bản: Kể từ khi chương này được viết, các thí nghiệm với các tuyến không ống dẫn vẫn tiếp tục. Các chi tiết được đưa ra ở đây chưa phải là kết quả cuối cùng hay có tính kết luận dứt khoát nhưng các định đề cơ bản của Tác giả vẫn không bị ảnh hưởng. F.B.)
(Publisher’s Note: Since this chapter was written, experiments with the ductless glands have continued. Details given here are not final or conclusive but the basic postulates of the Author remain untouched. F.B.)
(Ghi chú của Nhà Xuất Bản: Kể từ khi chương này được viết, các thí nghiệm với các tuyến không ống dẫn vẫn tiếp tục. Các chi tiết được đưa ra ở đây chưa phải là kết quả cuối cùng hay có tính kết luận dứt khoát nhưng các định đề cơ bản của Tác giả vẫn không bị ảnh hưởng. F.B.)
Thus we have distributed over the head and torso a network of important glands, which, it is claimed, physiologically govern the structure, growth and chemical changes of the body, and, psychologically, are responsible for the emotional reactions and the thought processes of the human being. Hence, they would be the producers of his [41] qualities, good and bad, of his behaviour and conduct of affairs, and of his very character.
Như vậy chúng ta có phân bố trên đầu và thân mình một mạng lưới các tuyến quan trọng, mà người ta khẳng định rằng, về mặt sinh lý cai quản cấu trúc, sự tăng trưởng và các thay đổi hóa học của cơ thể, và, về mặt tâm lý, chịu trách nhiệm cho các phản ứng cảm xúc và các tiến trình tư tưởng của con người. Do đó, chúng sẽ là những cơ quan tạo ra các [41] phẩm tính của y, tốt và xấu, sự cư xử và hành vi của y trong các công việc, và chính tính cách của y.
We shall now consider the seven glands mentioned, but confining our discussion to their mental and psychic effects.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét bảy tuyến được đề cập, nhưng giới hạn cuộc thảo luận của chúng ta vào các tác dụng về mặt trí tuệ và thông linh của chúng.
1. The pineal gland—location, head—secretion, unknown.
1. Tuyến tùng—vị trí, đầu—chất tiết, chưa biết.
The pineal gland is cone-shaped, about the size of a pea, and is in the centre of the brain in a tiny cave behind and above the pituitary gland which lies a little behind the root of the nose. The pineal gland is attached to the third ventricle of the brain. It contains a pigment similar to that in the retina of the eye, and also collections of what have been called “brain sand particles.” Dr. Tilney says:
Tuyến tùng có hình nón, kích thước khoảng bằng hạt đậu, và nằm ở trung tâm bộ não trong một hang nhỏ phía sau và bên trên tuyến yên, nằm hơi lui về phía sau gốc mũi. Tuyến tùng được gắn vào não thất ba. Nó chứa một sắc tố tương tự như trong võng mạc của mắt, và cũng chứa các tập hợp của cái được gọi là “các hạt cát não.” Tiến sĩ Tilney nói:
“Numerous attempts have been made to determine what function, if any, the pineal body possesses. Is it indispensable to life, or does it play some role important to a particular phase of metabolic activity? We may perhaps concede that this organ does possess a function in man and in most mammals. It is not improbable that this function is particularly determined by an internal secretion, a secretion, however, which is certainly not indispensable to life. The exact influence of the pineal secretion is still obscure.” (Frederick Tilney, M. D., The Pineal Gland, pp. 537, 542)
“Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để xác định thể tùng sở hữu chức năng gì, nếu có. Nó có không thể thiếu đối với sự sống không, hay nó đóng một vai trò quan trọng đối với một giai đoạn cụ thể của hoạt động trao đổi chất? Chúng ta có lẽ có thể thừa nhận rằng cơ quan này thực sự sở hữu một chức năng ở con người và ở hầu hết các động vật có vú. Không phải là không thể xảy ra việc chức năng này được xác định cụ thể bởi một sự tiết bên trong, tuy nhiên, một sự tiết chắc chắn không phải là không thể thiếu đối với sự sống. Ảnh hưởng chính xác của chất tiết tuyến tùng vẫn còn mơ hồ.” (Frederick Tilney, M. D., Tuyến Tùng, tr. 537, 542)
It has also been suggested that this gland regulates our susceptibility to light, that it has a definite effect upon the sex nature, that it is related to brain growth and that its active functioning [42] causes intellectual precocity as is clearly indicated in the historic case discussed below. This gland has also been called the third eye, and the eye of the Cyclops. Beyond these facts or conjectures, investigators frankly say they know nothing, and experiments have produced little information. In the experiment of feeding pineal gland extract to children and to defectives the response was nothing when the subject was over fifteen years of age, and contradictory in all other cases, so deduction was impossible.
Cũng có ý kiến cho rằng tuyến này điều chỉnh sự nhạy cảm của chúng ta với ánh sáng, rằng nó có tác dụng rõ rệt đối với bản chất tình dục và rằng nó liên quan đến sự phát triển não bộ và rằng hoạt động tích cực của nó [42] gây ra sự sớm phát triển trí tuệ như được chỉ ra rõ ràng trong trường hợp lịch sử được thảo luận dưới đây. Tuyến này cũng được gọi là con mắt thứ ba, và con mắt của Cyclops. Ngoài những thực tế hoặc phỏng đoán này, các nhà điều tra thẳng thắn nói rằng họ không biết gì cả, và các thí nghiệm đã tạo ra ít thông tin. Trong thí nghiệm cho trẻ em và những người khiếm khuyết ăn chiết xuất tuyến tùng, phản ứng là không có gì khi đối tượng trên mười lăm tuổi, và mâu thuẫn trong tất cả các trường hợp khác, vì vậy không thể suy luận được.
Until a few decades ago scant attention was paid to the pineal gland. Then came the case, noted by Dr. Berman, in which a child was brought to a German clinic suffering from eye trouble and headaches. He was five years old and very mature, and apparently had reached the age of adolescence. He was abnormally bright mentally, discussing metaphysical and spiritual subjects. He was strongly group-conscious and only happy when sharing what he had with others. After his arrival at the clinic, he rapidly grew worse and died in a month. An autopsy showed a tumour of the pineal gland. (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personlaity, p. 89)
Cho đến vài thập kỷ trước, ít sự chú ý được dành cho tuyến tùng. Sau đó đến trường hợp, được ghi nhận bởi Tiến sĩ Berman, trong đó một đứa trẻ được đưa đến một phòng khám Đức vì bị bệnh mắt và đau đầu. Cậu bé mới năm tuổi và rất trưởng thành, và dường như đã đến tuổi dậy thì. Cậu bé thông minh bất thường về mặt trí tuệ, thảo luận các chủ đề siêu hình và tinh thần. Cậu có ý thức nhóm mạnh mẽ và chỉ hạnh phúc khi chia sẻ những gì mình có với người khác. Sau khi đến phòng khám, cậu bé nhanh chóng trở bệnh nặng hơn và qua đời trong vòng một tháng. Một cuộc khám nghiệm tử thi cho thấy một khối u ở tuyến tùng. (Louis Berman, M.D., Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, tr. 89)
As will be seen later, this historic case has a special interest in view of the conclusions of Oriental philosophers.
Như sẽ thấy sau này, trường hợp lịch sử này đặc biệt đáng chú ý xét về các kết luận của các triết gia Phương Đông.
Most of the books note that the pineal gland is stated by ancient philosophers to be the seat of the soul, and Descartes is frequently quoted as [43] saying, “In man, soul and body touch each other only at a single point, the pineal gland in the head.”
Hầu hết các cuốn sách đều ghi chú rằng tuyến tùng được các triết gia cổ đại tuyên bố là nơi trú ngụ của linh hồn, và Descartes thường được trích dẫn là [43] nói rằng, “Ở con người, linh hồn và thân thể chỉ chạm nhau tại một điểm duy nhất, tuyến tùng trong đầu.”
In the ancient belief that the pineal gland is the seat of the soul and in the fact apparently established that the pineal gland is a distinctive gland of childhood and atrophies later, is there not, perhaps, some real connection, some indication of hidden truth? Children have a ready belief in God and recognition of Him. Christ said, “The Kingdom of Heaven is within you” and “Except ye become as little children ye shall not enter into the Kingdom of Heaven.”
Trong niềm tin cổ xưa rằng tuyến tùng là nơi trú ngụ của linh hồn và trong thực tế dường như đã được xác lập rằng tuyến tùng là một tuyến đặc biệt của thời thơ ấu và teo đi sau này, liệu có lẽ không có một mối liên hệ thực sự nào đó, một chỉ dẫn nào đó về chân lý ẩn giấu sao? Trẻ em có niềm tin sẵn có vào Thượng đế và sự nhận biết Ngài. Đức Christ nói, “Nước Trời ở trong các ngươi” và “Nếu các ngươi không trở nên như con trẻ, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời.”
One is mindful too, of Wordsworth’s “Ode on Intimations of Immortality from Recollections of Early Childhood.”
Người ta cũng nhớ đến bài “Ode on Intimations of Immortality from Recollections of Early Childhood” (Tạm dịch: Bài Thơ Về Những Gợi Ý Của Sự Bất Tử Từ Những Hồi Ức Của Thời Thơ Ấu) của Wordsworth.
“Our birth is but a sleep and a forgetting;
“Sự ra đời của chúng ta chỉ là một giấc ngủ và một sự lãng quên;
The soul that rises with us, our life’s star,
Linh hồn mọc lên cùng chúng ta, ngôi sao của cuộc đời chúng ta,
Hath had elsewhere its setting
Đã lặn ở nơi khác
And cometh from afar;
Và đến từ phương xa;
Not in entire forgetfulness,
Không phải trong sự lãng quên hoàn toàn,
And not in utter nakedness,
Và không phải trong sự trần trụi hoàn toàn,
But trailing clouds of glory do we come
Nhưng kéo theo những đám mây vinh quang, chúng ta đến
From God who is our home:
Từ Thượng đế, là ngôi nhà của chúng ta:
Heaven lies about us in our infancy!
Thiên đường nằm quanh chúng ta trong thời thơ ấu!
Shades of the prison-house begin to close
Những bóng tối của nhà tù bắt đầu khép lại
Upon the growing Boy,
Trên Cậu Bé đang lớn,
But he beholds the light, and whence it flows,
Nhưng cậu nhìn thấy ánh sáng, và nơi nó bắt nguồn,
He sees it in his joy.
Cậu thấy nó trong niềm vui của mình.
The youth, who daily farther from the East
Chàng thanh niên, người hàng ngày phải đi xa hơn
Must travel, still is Nature’s priest,
Khỏi Phương Đông, vẫn là tư tế của Thiên Nhiên,
And by the vision splendid
Và bởi tầm nhìn huy hoàng
Is on his way attended; [44]
Được tầm nhìn ấy đồng hành trên đường đi của mình; [44]
At length the Man perceives it die away,
Cuối cùng, Người Đàn Ông nhận thấy nó chết dần,
And fade into the light of common day.”
Và phai nhạt vào ánh sáng của ngày thường.”
Oriental philosophy confirms this possible connection between the pineal gland and the soul.
Triết học phương Đông xác nhận mối liên hệ có thể có này giữa tuyến tùng và linh hồn.
2. Pituitary—location head—secretion of anterior gland unknown, secretion of posterior, pituitrin.
2. Tuyến yên—vị trí đầu—chất tiết của thùy trước chưa biết, chất tiết của thùy sau, pituitrin.
Interest in the pituitary gland has been evidenced for centuries but until the late eighties so little was known about it that it was regarded as an organ of external secretion. It is really two glands in one. It is about the size of a pea and lies at the base of the brain a short distance behind the root of the nose.
Sự quan tâm đến tuyến yên đã được chứng minh trong nhiều thế kỷ nhưng cho đến cuối những năm tám mươi, người ta biết rất ít về nó đến nỗi nó được coi là một cơ quan ngoại tiết. Nó thực sự là hai tuyến trong một. Nó có kích thước khoảng bằng hạt đậu và nằm ở đáy não một khoảng ngắn phía sau gốc mũi.
This gland has been called “nature’s darling treasure,” being cradled in a niche, like a “skull within a skull.” As most of the glands do, in some form or other, it has a close relation to sex, and is also related to such periodic phenomena as sleep and sex epochs. We are told that it is a gland of continued effort, of energy consumption, and is essential to life. It is believed to stimulate the brain cells and to have a “direct and important bearing upon the personality.” We are also informed that insufficient pituitary development causes, or at least accompanies conspicuous moral and intellectual inferiority, and lack of self-control; but that with a good pituitary development there will also be pronounced mental activity and endurance. It seems to have a very close connection with our emotional and mental qualities.
Tuyến này đã được gọi là “kho báu yêu dấu của thiên nhiên,” được nâng niu trong một hốc nhỏ, giống như một “hộp sọ bên trong hộp sọ.” Như hầu hết các tuyến, dưới hình thức này hay hình thức khác, nó có mối liên hệ chặt chẽ với tình dục, và cũng liên quan đến các hiện tượng định kỳ như giấc ngủ và các giai đoạn tình dục. Chúng ta được biết rằng đó là một tuyến của nỗ lực liên tục, của sự tiêu thụ năng lượng, và là thiết yếu đối với sự sống. Nó được tin là kích thích các tế bào não và có “tác động trực tiếp và quan trọng đến phàm ngã.” Chúng ta cũng được thông báo rằng sự phát triển tuyến yên không đầy đủ gây ra, hoặc ít nhất đi kèm với sự thấp kém rõ rệt về đạo đức và trí tuệ, và thiếu sự tự kiểm soát; nhưng với sự phát triển tốt của tuyến yên, cũng sẽ có hoạt động trí tuệ và sức bền rõ rệt. Nó dường như có một mối liên hệ rất chặt chẽ với các phẩm tính cảm xúc và trí tuệ của chúng ta.
[45] The pituitary, as we have said, is really two glands in one. The secretion of the post-pituitary is pituitrin.
[45] Tuyến yên, như chúng ta đã nói, thực sự là hai tuyến trong một. Chất tiết của thùy sau tuyến yên là pituitrin.
“The post-pituitary governs the maternal-sexual instincts and their sublimations, the social and creative instincts.... It might be said to energize deeply the tender emotions.... For all the basic sentiments (as opposed to the intellectualized self-protective sentimentalism), tender-heartedness, sympathy and suggestibility, are interlocked with its functions.”
“Thùy sau tuyến yên cai quản các bản năng mẫu tử-tình dục và sự thăng hoa của chúng, các bản năng xã hội và sáng tạo.... Có thể nói nó cung cấp năng lượng sâu sắc cho các cảm xúc dịu dàng.... Vì tất cả các tình cảm cơ bản (đối lập với chủ nghĩa tình cảm tự bảo vệ được trí tuệ hóa), lòng nhân hậu, sự cảm thông và tính dễ bị ám thị, đều được liên kết với các chức năng của nó.”
The secretion of the ante-pituitary is unknown.
Chất tiết của thùy trước tuyến yên chưa được biết đến.
“The ante-pituitary has been depicted as the gland of intellectuality.... By intellectuality we mean the capacity of the mind to control its environment by concepts and abstract ideas.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p.178)
“Thùy trước tuyến yên đã được mô tả là tuyến của trí năng.... Bởi trí năng, chúng ta muốn nói đến khả năng của tâm trí để kiểm soát môi trường của nó bằng các khái niệm và ý tưởng trừu tượng.” (Louis Berman, M.D., Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, tr.178)
Dr. Berman also adds, “Mental activity is accompanied by increased function of the ante-pituitary, if intellectual, or of the post-pituitary, if emotional.” ( Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p.236)
Tiến sĩ Berman cũng nói thêm, “Hoạt động trí tuệ đi kèm với chức năng gia tăng của thùy trước tuyến yên, nếu thuộc về trí năng, hoặc của thùy sau tuyến yên, nếu thuộc về cảm xúc.” ( Louis Berman, M.D., Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, tr.236)
From a study of these comments, it becomes apparent that the personality qualities—emotions, whether we mean maternal instincts shared with all animals, love of one’s fellowmen, or love of God—are regarded as largely dependent upon the condition of the pituitary gland, as is also the ability to intellectualise.
Từ việc nghiên cứu những bình luận này, rõ ràng là các phẩm tính phàm ngã—cảm xúc, cho dù chúng ta muốn nói đến bản năng mẫu tử chia sẻ với tất cả các loài động vật, tình thương đối với đồng loại, hay tình yêu đối với Thượng đế—được coi là phụ thuộc phần lớn vào tình trạng của tuyến yên, cũng như khả năng hoạt động trí tuệ.
Approaching the problem from a different angle, the student of the Eastern wisdom proves the relative correctness of all these inferences. [46]
Tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác, người học viên của minh triết Phương Đông chứng minh sự đúng đắn tương đối của tất cả những suy luận này. [46]
3. Thyroid—location, throat—secretion, thyroxin.
3. Tuyến giáp—vị trí, cổ họng—chất tiết, thyroxin.
Of the thyroid gland, more is known than of the pineal gland or the pituitary body, and from the standpoint of Eastern wisdom, this was to be expected. This gland is found astride the neck, above the wind-pipe, close to the larynx, and is a very large gland. It was once a sex gland, is frequently called the “third ovary,” is always involved in ovarian cases. In the lower vertebrates it is clearly connected with the ducts of the sexual organs, but in the march of evolution upwards, “that relationship is lost, the thyroid migrates more and more to the head region, to become the great link between sex and brain.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p.46) We are told also that it is the great differentiator of tissues, and has anti-toxic power, preventing poisoning and increasing resistance to poison.
Về tuyến giáp, người ta biết nhiều hơn so với tuyến tùng hay thể yên, và theo quan điểm của minh triết Phương Đông, điều này có thể dự đoán được. Tuyến này được tìm thấy nằm vắt ngang cổ, phía trên khí quản, gần thanh quản, và là một tuyến rất lớn. Nó từng là một tuyến sinh dục, thường được gọi là “buồng trứng thứ ba,” luôn liên quan đến các trường hợp về buồng trứng. Ở các động vật có xương sống thấp hơn, nó liên kết rõ ràng với các ống dẫn của cơ quan sinh dục, nhưng trong cuộc hành trình tiến hóa đi lên, “mối quan hệ đó bị mất, tuyến giáp di chuyển ngày càng nhiều hơn về vùng đầu, để trở thành mối liên kết lớn giữa tình dục và não bộ.” (Louis Berman, M.D., Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, tr.46) Chúng ta cũng được biết rằng nó là tác nhân phân hóa lớn của các mô, và có khả năng chống độc, ngăn ngừa ngộ độc và tăng sức đề kháng với chất độc.
Above everything else, however, the thyroid gland is the controller of the metabolism of energy. It has been called the efficient lubricator of energy transformation, and is the great catalyst of energy in the body. It controls the speed of living and is the keystone of the endocrine system. It is indispensable to life.
Tuy nhiên, trên hết mọi thứ khác, tuyến giáp là bộ điều khiển sự chuyển hóa năng lượng. Nó đã được gọi là bộ bôi trơn hiệu quả của sự chuyển đổi năng lượng, và là chất xúc tác lớn của năng lượng trong cơ thể. Nó kiểm soát tốc độ sống và là trụ cột của hệ nội tiết. Nó không thể thiếu đối với sự sống.
Through the work done with subnormal people, deficients and idiots, investigators have come to the conclusion that, in the words of Dr. Berman:
Thông qua công việc được thực hiện với những người dưới mức bình thường, những người khiếm khuyết và những người mắc chứng đần độn, các nhà điều tra đã đi đến kết luận rằng, theo lời của Tiến sĩ Berman:
“Without thyroid there can be no complexity of thought, no learning, no education, no habit-formation, [47] no responsive energy for situations, as well as no physical unfolding of faculty and function and no reproduction of kind, with no sign of adolescence at the expected age, and no exhibition of sex tendencies thereafter.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 55)
“Nếu không có tuyến giáp thì không thể có sự phức tạp của tư tưởng, không có sự học hỏi, không có giáo dục, không có sự hình thành thói quen, [47] không có năng lượng đáp ứng cho các tình huống, cũng như không có sự mở ra về mặt vật lý của khả năng và chức năng và không có sự sinh sản đồng loại, không có dấu hiệu của tuổi dậy thì ở độ tuổi dự kiến, và không có sự thể hiện các xu hướng tình dục sau đó.” (Louis Berman, M.D., Các Tuyến Điều Chỉnh Phàm Ngã, tr. 55)
We are also told that
Chúng ta cũng được bảo rằng
“Sensitivity, the ability to discriminate between grades of sensation or acuteness of perception is another thyroid quality. Just as the thyroid plus is more energetic, so is he more sensitive. He feels things more, he feels pain more readily, because he arrives more quickly at the stage when the stimulus damages his nerve apparatus.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 180)
“Sự nhạy cảm, khả năng phân biện giữa các cấp độ cảm giác hay sự sắc bén của tri giác là một phẩm tính khác của tuyến giáp. Cũng như người có tuyến giáp hoạt động mạnh có nhiều năng lượng hơn, y cũng nhạy cảm hơn. Y cảm nhận sự việc nhiều hơn, y cảm thấy đau đớn dễ dàng hơn, bởi vì y đạt đến giai đoạn mà sự kích thích gây tổn hại cho bộ máy thần kinh của mình nhanh hơn.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, tr. 180)
The thyroid, like the pituitary, has also close connection with the memory.
Tuyến giáp, giống như tuyến yên, cũng có mối liên hệ mật thiết với trí nhớ.
“... the pituitary seems to be related to preservation of the memory deposit.... The thyroid memory applies particularly to perception and precepts, the pituitary to conception (reading, studying, thinking) and concepts.”(Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 182)
“... tuyến yên dường như liên quan đến việc bảo tồn kho lưu trữ ký ức.... Trí nhớ của tuyến giáp áp dụng đặc biệt cho tri giác và các quy tắc, còn tuyến yên cho quan niệm (đọc, nghiên cứu, suy nghĩ) và các khái niệm.”(Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, tr. 182)
4. Thymus—location, upper chest—secretion, unknown.
4. Tuyến ức—vị trí, ngực trên—chất tiết, chưa rõ.
Of the thymus gland, we know practically nothing, and it is one of the most mysterious of all. Like the pineal gland, it is regarded as a gland of childhood, but both as yet baffle investigation.
Về tuyến ức, chúng ta hầu như không biết gì cả, và nó là một trong những tuyến bí ẩn nhất. Giống như tuyến tùng, nó được xem là tuyến của thời thơ ấu, nhưng cả hai cho đến nay vẫn làm các cuộc điều tra thất bại.
The thymus gland is situated in the chest, covers the upper portion of the heart, and, perhaps, has relation to nutrition and growth. It seems to be [48] connected with the irresponsible nature of children, and, when over-functioning in adult years, produces the irresponsible man or woman, and the amoral people.
Tuyến ức nằm ở ngực, bao phủ phần trên của tim, và có lẽ có liên hệ với sự dinh dưỡng và tăng trưởng. Nó dường như [48] liên kết với bản chất vô trách nhiệm của trẻ em, và khi hoạt động quá mức ở tuổi trưởng thành, nó tạo ra người đàn ông hay phụ nữ vô trách nhiệm, và những người phi luân.
5. Pancreas—location, solar plexus region—secretion, insulin.
5. Tuyến tụy—vị trí, vùng tùng thái dương—chất tiết, insulin.
Most of the information given in connection with the pancreas is strictly physiological, and, therefore, out of place here. Suffice it to say, however, that it lies in the abdomen and is close to the solar plexus (which is the brain of the instinctual animal nature) and is closely concerned with the “mobilization of energy for physical and mental purposes. It has two secretions, both insulin, one concerned with the digestive processes and the other known to be vital to the metabolism of sugar. Without sufficient sugar for the cells, no muscle work or nerve work—essentials in the struggle for existence—are possible.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 55)
Hầu hết thông tin được đưa ra liên quan đến tuyến tụy hoàn toàn thuộc về sinh lý học, và do đó, không phù hợp ở đây. Tuy nhiên, chỉ cần nói rằng nó nằm trong ổ bụng và gần tùng thái dương (vốn là bộ não của bản chất thú tính bản năng) và liên quan chặt chẽ đến việc “huy động năng lượng cho các mục đích thể chất và trí tuệ. Nó có hai loại chất tiết, cả hai đều là insulin, một liên quan đến các quá trình tiêu hóa và loại kia được biết là thiết yếu cho sự chuyển hóa đường. Nếu không có đủ đường cho các tế bào, thì không hoạt động cơ bắp hay hoạt động thần kinh nào—những yếu tố cốt yếu trong cuộc đấu tranh sinh tồn—có thể diễn ra.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, tr. 55)
6. Adrenals—location behind the kidneys—secretion of the cortex adrenals unknown, of the medulla adrenals adrenalin.
6. Tuyến thượng thận—vị trí sau thận—chất tiết của vỏ thượng thận chưa rõ, của tủy thượng thận là adrenalin.
The adrenal glands are each of them dual and are situated on both sides of the abdomen, astride and back of the kidneys. They are concerned with general growth, and the growth of the brain cells. The adrenal cortex secretion (to which no name has been given) is one source of the internal secretions producing maturity.
Các tuyến thượng thận đều là tuyến kép và nằm ở hai bên ổ bụng, nằm trên và phía sau thận. Chúng liên quan đến sự tăng trưởng chung, và sự tăng trưởng của các tế bào não. Nội tiết tố vỏ thượng thận (chưa được đặt tên) là một nguồn của các nội tiết tố bên trong tạo nên sự trưởng thành.
[49] The adrenal glands, however, are primarily the glands of combat. They produce that immediate and active response which men exhibit in times of danger or anger, and their secretion is stimulated in times of emergency. Pain, rage and fear have a definite effect upon the discharge, and we are told, “all the evidence points to its medulla as the secretor of the substance which makes for the phenomena of fear, and to its cortex as dominant in the reactions of anger.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 76)
[49] Tuy nhiên, các tuyến thượng thận chủ yếu là các tuyến của sự chiến đấu. Chúng tạo ra phản ứng tức thời và tích cực mà con người thể hiện trong những lúc nguy hiểm hay giận dữ, và sự tiết ra của chúng được kích thích trong những lúc khẩn cấp. Đau đớn, phẫn nộ và sợ hãi có tác động rõ rệt lên sự phóng xuất này, và chúng ta được bảo rằng, “mọi bằng chứng đều chỉ ra tủy của nó là nơi tiết ra chất tạo nên các hiện tượng sợ hãi, và vỏ của nó đóng vai trò chủ đạo trong các phản ứng giận dữ.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, tr. 76)
Also:
Ngoài ra:
“Courage is so closely related to fear and anger that all are always associated in any discussion. Courage is commonly thought of as the emotion that is the opposite of fear. It would follow that courage meant simply inhibition of the adrenal medulla. As a matter of fact the mechanism of courage is more complex. One must distinguish animal courage and deliberate courage. Animal courage is literally the courage of the beast. As noted, animals with the largest amounts of adrenal cortex are the pugnacious, aggressive, charging kings of the fields and forests. The emotion experienced by them is probably anger with a sort of blood-lust, and no consideration of the consequences. The object attacked acted like a red rag waved at a bull—it had stimulated a flow of the secretion of the adrenal cortex, and the instinct of anger became sparked, as it were, by the new condition of the blood. In courage, deliberate courage, there is more than instinct. There is an act of volition, a display of will. Admitting that without the adrenal cortex such courage would be impossible, the chief credit for courage [50] must be ascribed to the ante-pituitary. It is the proper conjunction of its secretion and that of the adrenal cortex that makes for true courage. So it is we find that acts of courage have been recorded most often of individuals of the ante-pituitary type.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, p. 177)
“Lòng can đảm liên quan chặt chẽ đến sợ hãi và giận dữ đến nỗi tất cả luôn được liên kết trong bất kỳ cuộc thảo luận nào. Lòng can đảm thường được nghĩ đến như là cảm xúc đối lập với sợ hãi. Theo đó, lòng can đảm chỉ đơn giản là sự ức chế tủy thượng thận. Thực tế, cơ chế của lòng can đảm phức tạp hơn. Người ta phải phân biệt lòng can đảm của thú vật và lòng can đảm có suy tính. Lòng can đảm thú vật đúng nghĩa là lòng can đảm của loài thú. Như đã lưu ý, những động vật có lượng vỏ thượng thận lớn nhất là những vua chúa hiếu chiến, hung hăng, tấn công của các cánh đồng và khu rừng. Cảm xúc mà chúng trải qua có lẽ là sự giận dữ với một loại khát máu, và không hề cân nhắc đến hậu quả. Đối tượng bị tấn công hành động như một miếng giẻ đỏ vẫy trước con bò tót—nó đã kích thích dòng chảy nội tiết tố của vỏ thượng thận, và bản năng giận dữ bùng lên, cứ như thể, bởi tình trạng mới của máu. Trong lòng can đảm, lòng can đảm có suy tính, có nhiều thứ hơn là bản năng. Có một hành động của ý chí, một sự biểu lộ của ý chí. Thừa nhận rằng nếu không có vỏ thượng thận thì lòng can đảm như vậy sẽ là không thể, nhưng công lao chính cho lòng can đảm [50] phải được quy cho thùy trước tuyến yên. Chính sự kết hợp thích hợp giữa sự tiết ra của nó và của vỏ thượng thận tạo nên lòng can đảm thực sự. Vì vậy, chúng ta thấy rằng các hành động can đảm được ghi lại thường xuyên nhất ở những cá nhân thuộc loại hình thùy trước tuyến yên.” (Louis Berman, M.D., The Glands Regulating Personality, tr. 177)
Gonads—location, lower abdomen—secretion, that of male testes and female ovaries.
Tuyến sinh dục—vị trí, bụng dưới—chất tiết, của tinh hoàn nam và buồng trứng nữ.
The gonads or interstitial glands are the sex glands of external secretion, but are known to have an internal secretion also. Their gross secretion is the medium for reproduction. It is unnecessary to dwell at length upon the effects of the gonads on personality. The sex impulse and its various subsidiary effects, both physical and psychical, are well recognised and much studied, and this study, largely of perversions and inhibitions, has proved of paramount importance to the understanding of humanity. Some psychologists relate all human reactions—physical, emotional and mental—to sex and sex alone, and, back of every extreme position, we know there lies a substratum of truth. Others regard sex as playing an important part, but not as responsible for the entire story. The Eastern wisdom offers an interpretation which warrants consideration and which will appear when we consider the force centres and their relation to the glands.
Các tuyến sinh dục hay tuyến kẽ là các tuyến giới tính ngoại tiết, nhưng cũng được biết là có sự tiết bên trong. Sự tiết thô của chúng là môi trường cho sự sinh sản. Không cần thiết phải bàn dài dòng về những ảnh hưởng của tuyến sinh dục đối với phàm ngã. Xung lực tình dục và các tác động phụ thuộc khác nhau của nó, cả về thể chất lẫn tâm lý, đều được công nhận rõ ràng và được nghiên cứu nhiều, và sự nghiên cứu này, phần lớn về các sự đồi trụy và ức chế, đã chứng tỏ tầm quan trọng tối cao đối với việc thấu hiểu nhân loại. Một số nhà tâm lý học liên hệ mọi phản ứng của con người—thể chất, cảm xúc và trí tuệ—với tình dục và chỉ tình dục mà thôi, và, đằng sau mỗi lập trường cực đoan, chúng ta biết có một nền tảng sự thật. Những người khác xem tình dục đóng vai trò quan trọng, nhưng không chịu trách nhiệm cho toàn bộ câu chuyện. Minh triết phương Đông đưa ra một sự giải thích đáng được xem xét và sẽ xuất hiện khi chúng ta xem xét các trung tâm mãnh lực và mối quan hệ của chúng với các tuyến.
Of all the foregoing, and of many books and articles on the subject, the following may be given as a brief summary.
Về tất cả những điều trên, và về nhiều cuốn sách cũng như bài viết về chủ đề này, phần sau đây có thể được đưa ra như một bản tóm tắt ngắn gọn.
[51] The whole subject is in an experimental stage, and much remains to be done. Clearly, however, there is a close relationship between the glands and a similarity of function, and most of them have to do with the metabolism of the body and with growth, and all of them seem closely related to sex life. Finally, they determine, apparently, the type and temperament of the personality.
[51] Toàn bộ chủ đề đang ở giai đoạn thử nghiệm, và còn nhiều việc phải làm. Tuy nhiên, rõ ràng là có một mối quan hệ chặt chẽ giữa các tuyến và một sự tương đồng về chức năng, và hầu hết chúng đều liên quan đến sự chuyển hóa của cơ thể và sự tăng trưởng, và tất cả chúng dường như liên quan chặt chẽ đến đời sống tình dục. Cuối cùng, dường như chúng xác định loại hình và khí chất của phàm ngã.
Experimental as the science is, man seems to have been psycho-analysed and understood at last. Those elusive and intangible processes, called emotions and mental concepts, are accounted for in terms of matter. To the glands and to the nervous system, and to the poor or good development and functioning of man’s apparatus of contact and response, is ascribed all that he is. A saint can be made into a sinner and the sinner into a saint, and this merely by increasing or decreasing certain internal secretions. Thus a man is no better, no worse, than the equipment with which he comes into the world and his mechanism is the sum total of him. He can improve it or misuse it, but the apparatus is the determining factor. Free-will is eliminated and immortality denied. The best a man can do is so to act that he is happy and, also, to shoulder the responsibility of building better bodies in order that the next generation can manifest better psychically.
Mặc dù khoa học này mang tính thử nghiệm, con người dường như cuối cùng đã được phân tích theo phương pháp phân tâm học và thấu hiểu. Những quá trình khó nắm bắt và vô hình đó, được gọi là cảm xúc và các khái niệm trí tuệ, được giải thích theo thuật ngữ của vật chất. Đối với các tuyến và hệ thần kinh, và đối với sự phát triển cũng như hoạt động kém hay tốt của bộ máy tiếp xúc và đáp ứng của con người, tất cả những gì y là đều được quy vào đó. Một vị thánh có thể bị biến thành kẻ tội đồ và kẻ tội đồ thành một vị thánh, và điều này chỉ đơn thuần bằng cách tăng hoặc giảm một số nội tiết tố nhất định. Do đó, một người không tốt hơn, không xấu hơn thiết bị mà y mang theo khi vào thế giới, và cơ chế của y là tổng số của con người y. Y có thể cải thiện nó hoặc sử dụng sai nó, nhưng bộ máy là yếu tố quyết định. Ý chí tự do bị loại bỏ và sự bất tử bị phủ nhận. Điều tốt nhất một người có thể làm là hành động sao cho y hạnh phúc và, cũng vậy, gánh vác trách nhiệm xây dựng những cơ thể tốt hơn để thế hệ tiếp theo có thể biểu hiện tốt hơn về mặt thông linh.
Whether we agree with those conclusions or disagree, we must at least admit that, with the mechanism the object of all study, it should eventually [52] be possible to ascertain the laws and methods by which perfect bodies may be constructed which, in turn, can be the instruments through which a perfect psychic nature can function.
Dù chúng ta đồng ý hay không đồng ý với những kết luận đó, ít nhất chúng ta phải thừa nhận rằng, với cơ chế là đối tượng của mọi nghiên cứu, cuối cùng [52] sẽ có thể xác định được các quy luật và phương pháp để xây dựng những cơ thể hoàn hảo, mà đến lượt chúng, có thể là những công cụ qua đó một bản chất thông linh hoàn hảo có thể hoạt động.
But are all these conclusions as to the endocrine glands, in fact correct? Has man, in outline, been classified and labelled, and does there remain only the filling of blanks in the general outline? Who can say? But to my mind the answer lies in two questions or groups of questions, the one primarily a matter of the individual, and the second all-embracing.
Nhưng liệu tất cả những kết luận này về các tuyến nội tiết, thực tế có đúng không? Phải chăng con người, về mặt đại cương, đã được phân loại và dán nhãn, và chỉ còn lại việc điền vào các chỗ trống trong phác thảo chung? Ai có thể nói được? Nhưng theo tôi, câu trả lời nằm trong hai câu hỏi hoặc hai nhóm câu hỏi, nhóm thứ nhất chủ yếu là vấn đề của cá nhân, và nhóm thứ hai mang tính bao trùm tất cả.
As for the individual, are glands and glandular functions primary causes, or are they merely effects or instrumentalities? Is there not, in truth, something greater which lies beyond? Is there not in each of us a soul which functions through the whole physical and psychic mechanism? Was not St. Paul, in short, right in saying that man has a natural body and a spiritual body, and in implying that the glory of the natural is one, and the glory of the spiritual another?
Đối với cá nhân, các tuyến và chức năng tuyến là nguyên nhân sơ cấp, hay chúng chỉ đơn thuần là kết quả hoặc các phương tiện? Phải chăng, thực sự, không có điều gì vĩ đại hơn nằm bên kia sao? Phải chăng trong mỗi chúng ta không có một linh hồn hoạt động thông qua toàn bộ cơ chế thể chất và thông linh? Tóm lại, chẳng phải Thánh Paul đã đúng khi nói rằng con người có một thể xác tự nhiên và một thể tinh thần, và ngụ ý rằng vinh quang của cái tự nhiên là một, và vinh quang của cái tinh thần là một cái khác sao?
And as for the second and broader question, is a mere mechanism the be-all and end-all of existence, and our only guiding star the perfecting of that mechanism? Then, indeed, “let us eat and drink, for tomorrow we die.” Is it not that there is not only a finer self in us—call it spirit, soul, or what you will—but does it not, itself form a part of a transcendent whole—call it God as religion does, or Oversoul as Emerson does, or by any other [53] name—but in any case a transcendent whole, the glory and radiance of which surpass all understanding? Shall we never be at-one with That, and meanwhile the longing for that at-one-ment lead us onward? Shall this corruptible never put on incorruption, or this mortal never put on immortality? Shall death never be swallowed up in victory?
Và đối với câu hỏi thứ hai và rộng hơn, liệu một cơ chế đơn thuần có phải là tất cả mục đích và cứu cánh của sự tồn tại, và ngôi sao dẫn đường duy nhất của chúng ta là việc hoàn thiện cơ chế đó? Vậy thì, quả thực, “chúng ta hãy ăn và uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết.” Phải chăng không chỉ có một cái bản ngã tốt đẹp hơn trong chúng ta—hãy gọi nó là tinh thần, linh hồn, hay bất cứ gì bạn muốn—mà chính nó cũng tạo thành một phần của một tổng thể siêu việt—hãy gọi là Thượng đế như tôn giáo gọi, hay Đại hồn như Emerson gọi, hay bằng bất kỳ [53] tên gọi nào khác—nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng là một tổng thể siêu việt, mà vinh quang và sự rạng ngời của nó vượt qua mọi sự hiểu biết? Phải chăng chúng ta sẽ không bao giờ hợp nhất với Cái Đó, và trong khi đó niềm khao khát cho sự hợp nhất đó dẫn dắt chúng ta tiến lên? Phải chăng cái hư nát này sẽ không bao giờ mặc lấy sự bất hư nát, hay kẻ phải chết này không bao giờ mặc lấy sự bất tử? Phải chăng cái chết sẽ không bao giờ bị nuốt chửng trong chiến thắng?
For answers to these questions, let us turn to the Wisdom of the East.
Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta hãy quay về với Minh Triết Phương Đông.
CHAPTER III — THE THEORY OF THE ETHERIC BODY—CHƯƠNG III — LÝ THUYẾT VỀ THỂ DĨ THÁI
[54] The Oriental psychologist starts with that which the Occidental regards as hypothetical. He lays the emphasis upon the spiritual nature of man, and believes that the physical nature itself is the result of spiritual activity. He asserts that all that is objectively seen is but the outward manifestation of inner subjective energies. He regards the entire mechanics of the cosmos and of man as effects, and believes the scientist is dealing only with effects. His position may be summed up as follows:
[54] Nhà tâm lý học Phương Đông bắt đầu với điều mà người Phương Tây xem là giả thuyết. Y đặt trọng tâm vào bản chất tinh thần của con người, và tin rằng bản chất thể chất chính nó là kết quả của hoạt động tinh thần. Y khẳng định rằng tất cả những gì được nhìn thấy ở ngoại giới chỉ là biểu hiện bên ngoài của các năng lượng nội giới bên trong. Y xem toàn bộ cơ học của vũ trụ và của con người là các kết quả, và tin rằng nhà khoa học chỉ đang xử lý các kết quả. Lập trường của y có thể được tóm tắt như sau:
First: There is nothing but energy, and it functions through a substance which interpenetrates and actuates all forms, and which is analogous to the ether of the modern world. Matter is energy or spirit in its densest form, and spirit is matter in its most sublimated aspect.
Thứ nhất: Không có gì ngoài năng lượng, và nó hoạt động thông qua một chất liệu thâm nhập và kích hoạt mọi hình tướng, và tương tự như dĩ thái của thế giới hiện đại. Vật chất là năng lượng hay tinh thần ở hình thái đậm đặc nhất của nó, và tinh thần là vật chất ở phương diện thăng hoa nhất của nó.
Second: As all forms are interpenetrated by this ether, every form has an etheric form or etheric body.
Thứ hai: Vì tất cả các hình tướng đều được dĩ thái này thâm nhập, nên mọi hình tướng đều có một hình tướng dĩ thái hay thể dĩ thái.
Third: As the tiny atom has a positive nucleus, or positive nuclei, as well as negative aspects, so in every etheric body there are positive centres of force in the midst of negative substance. The human being too has an etheric body which is positive to the negative physical body, which galvanises it [55] into activity, and which acts as its coherent force, holding it in being.
Thứ ba: Cũng như nguyên tử nhỏ bé có một hạt nhân dương, hay các hạt nhân dương, cũng như các phương diện âm, thì trong mỗi thể dĩ thái đều có các trung tâm mãnh lực dương ở giữa chất liệu âm. Con người cũng có một thể dĩ thái vốn dương tính đối với thể xác âm tính, nó kích thích thể xác [55] đi vào hoạt động, và hành động như mãnh lực kết dính của thể xác, giữ cho thể xác tồn tại.
Fourth: The etheric body of man has seven main nuclei of energy through which various types of energy flow, producing his psychical activity. These nuclei are related to the cerebro-spinal system, and the base of this psychical activity, or the seat of the soul nature, is situated in the head. The governing principle therefore is in the head and from this centre the entire mechanism should be directed, and energised through the medium of the other six force centres.
Thứ tư: Thể dĩ thái của con người có bảy hạt nhân năng lượng chính qua đó các loại năng lượng khác nhau tuôn chảy, tạo ra hoạt động thông linh của y. Các hạt nhân này liên quan đến hệ thống não-tủy, và cơ sở của hoạt động thông linh này, hay chỗ ngự của bản chất linh hồn, nằm ở trong đầu. Do đó, nguyên khí chủ đạo nằm ở trong đầu và từ trung tâm này, toàn bộ cơ chế nên được chỉ đạo, và được tiếp sinh lực thông qua trung gian của sáu trung tâm mãnh lực khác.
Fifth: Only certain centres are now functioning in man and the rest are quiescent. In a perfect human being all the centres will function fully and produce perfect psychical unfoldment and a perfect mechanism.
Thứ năm: Hiện nay chỉ một số trung tâm đang hoạt động ở con người và phần còn lại đang yên nghỉ. Ở một con người hoàn hảo, tất cả các trung tâm sẽ hoạt động đầy đủ và tạo ra sự khai mở hoàn hảo về thông linh và một cơ chế hoàn hảo.
This Oriental emphasis upon spiritual energy and the Occidental emphasis upon the structure or mechanism, it will be seen, accounts fully for the psychical nature of man, both in its higher and in its lower aspects.
Sự nhấn mạnh của Phương Đông vào năng lượng tinh thần và sự nhấn mạnh của Phương Tây vào cấu trúc hay cơ chế, như chúng ta sẽ thấy, giải thích đầy đủ cho bản chất thông linh của con người, cả ở các phương diện cao hơn và thấp hơn của nó.
To unite the Eastern or vitalistic conception, and the Western or mechanistic conception, and so bridge the gap between them, it is necessary to establish the fact of the existence of the etheric body.
Để hợp nhất quan niệm Phương Đông hay quan niệm duy sinh, và quan niệm Phương Tây hay quan niệm cơ giới, và do đó bắc cầu qua khoảng cách giữa chúng, cần thiết phải xác lập sự thật về sự tồn tại của thể dĩ thái.
The Oriental system is abstruse and intricate, and defies summarisation. Still, some brief introduction must be made and the following outline is therefore given. It is incomplete, but if it gives an [56] intelligible survey of the field, however brief, it will serve its purpose.
Hệ thống Phương Đông rất thâm sâu và phức tạp, và không thể tóm tắt được. Tuy nhiên, một vài lời giới thiệu ngắn gọn phải được đưa ra và do đó phác thảo sau đây được trình bày. Nó không đầy đủ, nhưng nếu nó đưa ra một [56] cái nhìn tổng quan dễ hiểu về lĩnh vực này, dù ngắn gọn, nó sẽ phục vụ được mục đích của nó.
In giving this outline, we shall make positive statements instead of continually repeating that “the Eastern psychologist believes” or “the Orientalist states” or similar expressions. It is enough to recognise once and fully that to the Western mind it must be presented as an hypothesis, to be submitted to test, to stand proved or fall disproved.
Khi đưa ra phác thảo này, chúng tôi sẽ đưa ra những tuyên bố khẳng định thay vì liên tục lặp lại rằng “nhà tâm lý học Phương Đông tin rằng” hay “nhà Đông phương học nói rằng” hoặc các cách diễn đạt tương tự. Chỉ cần nhận ra một lần và đầy đủ rằng đối với tâm trí Phương Tây, nó phải được trình bày như một giả thuyết, để được đưa ra thử nghiệm, để đứng vững khi được chứng minh hoặc sụp đổ khi bị bác bỏ.
With this introduction we proceed to outline the Eastern theory.
Với lời giới thiệu này, chúng ta tiến hành phác thảo lý thuyết Phương Đông.
There is a universal substance, the source of all, but so sublimated, so subtle that it is truly beyond the real grasp of human intelligence. In comparison with it, the most delicate fragrance, the dancing radiance of sunbeams, the crimson glory of the sunset, are gross and earthly. It is “a web of light,” forever invisible to human eye.
Có một chất liệu vũ trụ, nguồn gốc của tất cả, nhưng thăng hoa đến mức, vi tế đến mức nó thực sự vượt ra ngoài sự nắm bắt thực sự của trí thông minh con người. So với nó, hương thơm tinh tế nhất, ánh rạng ngời nhảy múa của những tia nắng, vinh quang đỏ thắm của hoàng hôn, đều là thô kệch và trần tục. Nó là “một mạng lưới ánh sáng”, mãi mãi vô hình đối với mắt người.
The key word “substance” with its suggestion of materiality is a misnomer. It is helpful however, to reduce this word to its Latin roots: “sub” under and “sto” to stand. So, substance is that which stands underneath, or underlies. The spelling, or misspelling “sub-stans” is more indicative and suggestive.
Từ khóa “chất liệu” (substance) với sự gợi ý về tính vật chất của nó là một sự nhầm lẫn về tên gọi. Tuy nhiên, thật hữu ích khi quy từ này về các gốc Latin của nó: “sub” là dưới và “sto” là đứng. Vì vậy, chất liệu là cái đứng bên dưới, hay làm nền tảng. Cách đánh vần, hay đánh vần sai “sub-stans” có tính biểu thị và gợi ý nhiều hơn.
Subtle and fugitive as this universal substance is, yet in another sense it is denser even than matter. If we could conceive of an agent outside of universal substance—an hypothesis contrary to all fact and possibility—and if such an external agent attempted to compress universal substance, or in some [57] other way affect it from without, then substance would be found denser than any known material.
Dù chất liệu vũ trụ này vi tế và khó nắm bắt như thế nào, nhưng theo một nghĩa khác, nó còn đậm đặc hơn cả vật chất. Nếu chúng ta có thể hình dung về một tác nhân bên ngoài chất liệu vũ trụ—một giả thuyết trái ngược với mọi thực tế và khả năng—và nếu tác nhân bên ngoài như vậy cố gắng nén chất liệu vũ trụ, hoặc theo một [57] cách nào đó tác động đến nó từ bên ngoài, thì chất liệu sẽ được thấy là đậm đặc hơn bất kỳ vật liệu nào đã biết.
Inherent in substance, and a perpetual counterpart of it, is life, incessant life. Life and substance are one and the same, one and forever inseparable, but different aspects however, of the one reality. Life is as positive electricity, substance negative. Life is dynamic, substance static. Life is activity or spirit, and substance form or matter. Life is the father and begets, substance is the mother and conceives.
Vốn có trong chất liệu, và là một đối phần vĩnh viễn của nó, là sự sống, sự sống không ngừng. Sự sống và chất liệu là một và giống nhau, là một và không thể tách rời mãi mãi, tuy nhiên là những phương diện khác nhau của một thực tại duy nhất. Sự sống giống như điện dương, chất liệu là âm. Sự sống là động, chất liệu là tĩnh. Sự sống là hoạt động hay tinh thần, và chất liệu là hình tướng hay vật chất. Sự sống là cha và sinh ra, chất liệu là mẹ và thụ thai.
In addition to these two aspects of life and substance, there is still a third. Life is theoretical or potential activity, and needs a field of operation. Substance furnishes this and in the union of life and substance, there flames forth active energy.
Ngoài hai phương diện sự sống và chất liệu này, còn có một phương diện thứ ba. Sự sống là hoạt động về mặt lý thuyết hay tiềm năng, và cần một trường hoạt động. Chất liệu cung cấp điều này và trong sự kết hợp của sự sống và chất liệu, bùng lên năng lượng hoạt động.
Thus we have a single reality, universal substance—but at the same time a co-existent duality—life and substance; and at the same time, a coexistent trinity, life, substance, and the resultant interaction which we call consciousness or soul.
Vì vậy, chúng ta có một thực tại đơn nhất, chất liệu vũ trụ—nhưng đồng thời là một nhị nguyên cùng tồn tại—sự sống và chất liệu; và đồng thời, một tam nguyên cùng tồn tại, sự sống, chất liệu, và sự tương tác kết quả mà chúng ta gọi là tâm thức hay linh hồn.
The entire manifested world arises from energy (and the co-factors substance and consciousness). All that is seen, from the tiniest grain of sand to the widest sweep of starry heaven, from an African savage to a Buddha or a Christ, all are outgrowths of energy. Matter is energy in its densest or lowest form; spirit is this same Energy in highest or most subtle form. So matter is spirit descending and debased; spirit, conversely, is matter ascending and glorified.
Toàn bộ thế giới biểu hiện nảy sinh từ năng lượng (và các yếu tố đồng hành là chất liệu và tâm thức). Tất cả những gì được nhìn thấy, từ hạt cát nhỏ nhất đến sự bao la rộng lớn nhất của bầu trời đầy sao, từ một người hoang dã Châu Phi đến một Đức Phật hay một Đức Christ, tất cả đều là sự phát triển của năng lượng. Vật chất là năng lượng ở hình thái đậm đặc nhất hay thấp nhất của nó; tinh thần chính là Năng lượng này ở hình thái cao nhất hay vi tế nhất. Vì vậy vật chất là tinh thần đang giáng hạ và bị làm cho thấp kém; ngược lại, tinh thần là vật chất đang thăng lên và được vinh hiển.
[58] In taking on density, energy takes on, or descends into, seven degrees or planes. Man exemplifies three. He has his physical body, his emotional mechanism and his mind-body, and consequently functions on three planes, or is awake on three, the physical, the emotional and the mental. He is on the threshold of the recognition of a fourth and higher factor, the Soul, the Self, and will next awaken to that realisation. The three higher planes require no comment in this elementary discussion.
[58] Khi nhận lấy độ đậm đặc, năng lượng nhận lấy, hay giáng xuống, bảy cấp độ hay bảy cõi. Con người minh họa cho ba cõi. Y có thể xác, cơ chế cảm xúc và thể trí của mình, và do đó hoạt động trên ba cõi, hay thức tỉnh trên ba cõi, cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí. Y đang ở ngưỡng cửa của sự nhận biết một yếu tố thứ tư và cao hơn, Linh hồn, Chân Ngã, và tiếp theo sẽ thức tỉnh với sự chứng nghiệm đó. Ba cõi cao hơn không cần bình luận trong cuộc thảo luận sơ đẳng này.
In addition to seven planes, each plane has seven subplanes. We shall discuss only the seven subplanes of the lowest or physical plane.
Ngoài bảy cõi, mỗi cõi có bảy cõi phụ. Chúng ta sẽ chỉ thảo luận về bảy cõi phụ của cõi thấp nhất hay cõi hồng trần.
Three subplanes of the physical are known to every school-boy—the solid, liquid and gaseous, for example, ice, water and steam. In addition there are four subtler planes, or rather four different types of ether. These four are co-existent with each of the three well known subplanes, and interpenetrate them.
Ba cõi phụ của cõi hồng trần đều được mọi cậu học trò biết đến—chất rắn, chất lỏng và chất khí, ví dụ như nước đá, nước và hơi nước. Ngoài ra còn có bốn cõi vi tế hơn, hay đúng hơn là bốn loại dĩ thái khác nhau. Bốn loại này cùng tồn tại với ba cõi phụ đã biết rõ, và thâm nhập chúng.
The physical body of man is no exception. It, too, has its etheric counterpart, its etheric body. This is positive, while the dense physical body is negative. The etheric body is the cohesive factor, and maintains the physical body in life and being.
Thể xác của con người không phải là ngoại lệ. Nó cũng có đối phần dĩ thái của nó, thể dĩ thái của nó. Thể này là dương, trong khi thể xác đậm đặc là âm. Thể dĩ thái là yếu tố kết dính, và duy trì thể xác trong sự sống và sự tồn tại.
The etheric counterpart, whether of man or of any physical thing, is of the universal substance, of universal life, and of universal energy. It partakes of all of these. But it is not self-sufficient or independently existing. It draws upon the reservoir [59] of universal energy, and in it the etheric counterpart lives and moves and has its being. Energy is thus functioning through the etheric.
Đối phần dĩ thái, dù là của con người hay của bất kỳ vật thể vật lý nào, đều thuộc về chất liệu vũ trụ, sự sống vũ trụ, và năng lượng vũ trụ. Nó mang những đặc tính của tất cả những điều này. Nhưng nó không tự cung tự cấp hay tồn tại độc lập. Nó rút lấy từ hồ chứa [59] năng lượng vũ trụ, và trong đó đối phần dĩ thái sống, chuyển động và tồn tại. Như vậy năng lượng đang hoạt động thông qua dĩ thái.
This is true of man also. The universal energy functions through his etheric body. And as man exists on seven planes, so the etheric body has seven points of contact with energy—but as only three planes are active, and four dormant, so only three force centres are fully developed and four as yet undeveloped. Of this, more later.
Điều này cũng đúng với con người. Năng lượng vũ trụ hoạt động thông qua thể dĩ thái của y. Và vì con người tồn tại trên bảy cõi, nên thể dĩ thái có bảy điểm tiếp xúc với năng lượng—nhưng vì chỉ có ba cõi đang hoạt động, và bốn cõi còn tiềm ẩn, nên chỉ có ba trung tâm mãnh lực phát triển đầy đủ và bốn trung tâm chưa phát triển. Về điều này, sẽ nói thêm sau.
In harmonising the two schools, the question naturally arises, does Western Science corroborate the Eastern theory?
Trong việc hài hòa hai trường phái, câu hỏi tự nhiên nảy sinh là, liệu Khoa học Phương Tây có xác nhận lý thuyết Phương Đông không?
No less a scientist than Sir Isaac Newton accepts the universal medium of ether without question. In the last paragraph of his Principia, he says:
Chính nhà khoa học tầm cỡ như Sir Isaac Newton chấp nhận môi trường dĩ thái phổ quát mà không thắc mắc. Trong đoạn cuối của tác phẩm Principia, ông nói:
“And now we might add something concerning a certain most subtle spirit which pervades and lies hid in all gross bodies; by the force and action of which spirit the particles of bodies mutually attract one another at near distances, and cohere if contiguous; and electric bodies operate to greater distances, as well repelling as attracting the neighbouring corpuscles; and light is emitted, reflected, refracted, inflected, and heats bodies; and all sensation is excited, and the members of animal bodies move at the command of the will, namely by the vibrations of this spirit, mutually propagated along the solid firmaments of the nerves, from the outward organs of sense to the brain, and from the brain into the muscles. But these are things that cannot be explained in few words, nor are we furnished with that sufficiency of experiments which is required to an accurate determination and [60] demonstration of the laws by which this electric and elastic spirit operates.” (Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, p. 275)
“Và bây giờ chúng ta có thể thêm đôi điều liên quan đến một tinh thần vi tế nhất nào đó thâm nhập và ẩn giấu trong tất cả các vật thể thô; nhờ sức mạnh và tác động của tinh thần này mà các hạt của các vật thể thu hút lẫn nhau ở khoảng cách gần, và kết dính nếu tiếp giáp; và các vật thể điện tác động đến những khoảng cách lớn hơn, vừa đẩy vừa hút các tiểu thể lân cận; và ánh sáng được phát ra, phản xạ, khúc xạ, nhiễu xạ, và làm nóng các vật thể; và mọi cảm giác được kích thích, và các chi của cơ thể động vật di chuyển theo mệnh lệnh của ý chí, cụ thể là nhờ các rung động của tinh thần này, được truyền qua lại dọc theo các cấu trúc rắn chắc của các dây thần kinh, từ các cơ quan giác quan bên ngoài đến não bộ, và từ não bộ vào các cơ bắp. Nhưng đây là những điều không thể giải thích bằng vài từ, chúng ta cũng không được trang bị đầy đủ các thí nghiệm cần thiết cho một sự xác định chính xác và [60] chứng minh các quy luật mà tinh thần điện và đàn hồi này hoạt động.” (Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, tr. 275)
Thus it can be argued from the above that Newton recognised the facts of the etheric body, underlying all forms, including the human.
Do đó, từ những điều trên có thể lập luận rằng Newton đã công nhận các sự thật về thể dĩ thái, nằm bên dưới tất cả các hình tướng, bao gồm cả con người.
As Newton is not of this century or the last, let us turn to a recent edition (1926) of the Encyclopaedia Britannica. The following discussion is given under the heading of “ether.”
Vì Newton không thuộc thế kỷ này hay thế kỷ trước, chúng ta hãy chuyển sang một ấn bản gần đây (1926) của bộ Bách khoa toàn thư Britannica. Cuộc thảo luận sau đây được đưa ra dưới tiêu đề “dĩ thái”.
“Whether space is a mere geometrical abstraction, or whether it has definite physical properties which can be investigated, is a question which in one form or another has often been debated. As to the parts which are occupied by matter, that is by a substance which appeals to the senses, there has never been any doubt; and the whole of science may be said to be an investigation of the properties of matter. But from time to time attention has been directed to the intervening portions of space from which sensible matter is absent; and this also has physical properties, of which the complete investigation has hardly begun.
“Liệu không gian chỉ là một sự trừu tượng hình học, hay liệu nó có những tính chất vật lý xác định có thể được điều tra, là một câu hỏi mà dưới hình thức này hay hình thức khác thường được tranh luận. Đối với các phần bị chiếm giữ bởi vật chất, nghĩa là bởi một chất liệu mà các giác quan có thể cảm nhận, thì chưa bao giờ có bất kỳ sự nghi ngờ nào; và toàn bộ khoa học có thể được nói là một cuộc điều tra về các tính chất của vật chất. Nhưng thỉnh thoảng sự chú ý đã được hướng đến các phần không gian trung gian nơi vắng mặt vật chất khả giác; và phần này cũng có các tính chất vật lý, mà cuộc điều tra trọn vẹn về chúng hầu như chưa bắt đầu.
“These physical properties do not appeal directly to the senses, and are therefore comparatively obscure; but there is now no doubt of their existence; even among those who still prefer to use the term space. But a space endowed with physical properties is more than a geometrical abstraction, and is most conveniently thought of as a substantial reality, to which therefore some other name is appropriate. The term used is unimportant, but long ago the term ETHER was invented; it was adopted by Isaac Newton, and is good enough for us. The term ether therefore [61] connotes a genuine entity filling all space, without any break or cavity anywhere, the one omnipresent physical reality, of which there is a growing tendency to perceive that everything in the material universe consists; matter itself being in all probability one of its modifications....
“Những tính chất vật lý này không trực tiếp tác động đến các giác quan, và do đó tương đối mơ hồ; nhưng hiện nay không còn nghi ngờ gì về sự tồn tại của chúng; ngay cả trong số những người vẫn thích sử dụng thuật ngữ không gian. Nhưng một không gian được phú cho các tính chất vật lý thì còn hơn cả một sự trừu tượng hình học, và được nghĩ đến một cách thuận tiện nhất như một thực tại có thật, mà đối với nó một cái tên khác là thích hợp. Thuật ngữ được sử dụng không quan trọng, nhưng từ lâu thuật ngữ DĨ THÁI đã được phát minh; nó được Isaac Newton chấp nhận, và đủ tốt cho chúng ta. Do đó, thuật ngữ dĩ thái [61] bao hàm một thực thể đích thực lấp đầy mọi không gian, không có bất kỳ sự đứt đoạn hay lỗ hổng nào ở bất cứ đâu, là thực tại vật lý toàn hiện duy nhất, mà có một xu hướng ngày càng tăng để nhận thấy rằng mọi thứ trong vũ trụ vật chất đều được cấu thành từ thực tại ấy; bản thân vật chất rất có thể là một trong những biến thể của nó....
“Thus an ether is necessary for the purpose of transmitting what is called gravitational force between one piece of matter and another, and for the still more important and universal purpose of transmitting waves of radiation between one piece of matter and another however small and distant they be....
“Do đó, một dĩ thái là cần thiết cho mục đích truyền dẫn cái gọi là lực hấp dẫn giữa một mảnh vật chất này và mảnh vật chất khác, và cho mục đích quan trọng và phổ quát hơn nữa là truyền dẫn các sóng bức xạ giữa một mảnh vật chất này và mảnh vật chất khác dù chúng nhỏ bé và xa cách đến đâu....
“The properties of the ether are not likely to be expressible in terms of matter; but, as we have no better clue, we must proceed by analogy, and we may apologetically speak of the elasticity and density of the ether as representing things which, if it were matter, would be called by those names. What these terms really express we have not yet fathomed; but if, as is now regarded as very probable, atomic matter is a structure in ether, there is every reason for saying that the ether must in some sense be far denser than any known material substance....
“Các tính chất của dĩ thái dường như không thể diễn đạt bằng các thuật ngữ của vật chất; nhưng, vì chúng ta không có manh mối nào tốt hơn, chúng ta phải tiến hành bằng sự tương đồng, và chúng ta có thể biện hộ khi nói về độ đàn hồi và độ đậm đặc của dĩ thái như đại diện cho những thứ mà, nếu là vật chất, sẽ được gọi bằng những cái tên đó. Những thuật ngữ này thực sự diễn đạt điều gì chúng ta vẫn chưa hiểu thấu; nhưng nếu, như hiện nay được coi là rất có thể, vật chất nguyên tử là một cấu trúc trong dĩ thái, thì có mọi lý do để nói rằng dĩ thái theo một nghĩa nào đó phải đậm đặc hơn nhiều so với bất kỳ chất liệu vật chất nào đã biết....
“Matter therefore is comparatively a gossamer structure, subsisting in a very substantial medium....” (Encyclopedia Britannica, 13th Edition: Article: Ether)
“Do đó, vật chất là một cấu trúc tương đối mỏng manh, tồn tại trong một môi trường rất thực chất....” (Encyclopedia Britannica, Ấn bản thứ 13: Bài viết: Dĩ thái)
These views are amplified by other scientists of note.
Những quan điểm này được các nhà khoa học nổi tiếng khác trình bày thêm.
Writing in the 17th century, Henry More, the Cambridge Platonist as quoted by Dr. Burtt said:
Viết vào thế kỷ 17, Henry More, nhà Platon học Cambridge như được Tiến sĩ Burtt trích dẫn, đã nói:
“Whence, I ask if it be unworthy of a philosopher to inquire of a philosopher if there be not in nature an incorporeal substance, which, while it can impress on any body all the qualities of body, or at least most [62] of them, such as motion, figure, position of parts, etc.,... would be further able, since it is almost certain that this substance removes and stops bodies, to add whatever is involved in such motion, that is, it can unite, divide, scatter, bind, form the small parts, order the forms, set in circular motion those which are disposed for it, or move them in any way whatever, arrest their circular motion, and do such similar further things with them as are necessary to produce according to your principles light, colours, and the other objects of the senses.... Finally, incorporeal substance having the marvellous power of cohering and dissipating matter, of combining it, dividing it, thrusting it forth and at the same time retaining control of it, by mere application of itself without bonds, without hooks, without projections or other instruments; does it not appear probable that it can enter once more in itself, since there is no impenetrability to frustrate it, and expand itself again, and the like.”
“Do đó, tôi hỏi liệu có không xứng đáng với một triết gia khi hỏi một triết gia rằng liệu có hay không trong tự nhiên một chất liệu vô hình, mà, trong khi nó có thể in dấu lên bất kỳ vật thể nào tất cả các phẩm tính của vật thể, hoặc ít nhất là hầu hết [62] trong số chúng, chẳng hạn như chuyển động, hình dáng, vị trí của các bộ phận, v.v.,... liệu sẽ còn có thể, vì gần như chắc chắn rằng chất liệu này di dời và dừng các vật thể, thêm bất cứ điều gì liên quan đến chuyển động đó, nghĩa là, nó có thể hợp nhất, phân chia, phân tán, trói buộc, hình thành các phần nhỏ, sắp xếp các hình tướng, đặt vào chuyển động tròn những cái được sắp đặt cho điều đó, hoặc di chuyển chúng theo bất kỳ cách nào, ngăn chặn chuyển động tròn của chúng, và làm những việc tương tự khác với chúng cần thiết để tạo ra theo các nguyên lý của ngài ánh sáng, màu sắc, và các đối tượng khác của các giác quan.... Cuối cùng, chất liệu vô hình có sức mạnh kỳ diệu trong việc kết dính và làm tiêu tan vật chất, kết hợp nó, phân chia nó, đẩy nó ra và đồng thời giữ quyền kiểm soát nó, chỉ bằng cách áp dụng chính nó mà không cần dây trói, không cần móc, không cần vật phóng hay các công cụ khác; liệu có vẻ không hợp lý khi nó có thể đi vào một lần nữa trong chính nó, vì không có tính bất khả thâm nhập để ngăn chặn nó, và mở rộng chính nó một lần nữa, và những điều tương tự.”
In discussing Henry More, Dr. Burtt goes on to say:
Khi thảo luận về Henry More, Tiến sĩ Burtt tiếp tục nói:
“In this passage More extends his reasoning from the conclusion of an incorporeal substance in human beings to the assumption of a similar and greater incorporeal substance in nature as a whole, for he was convinced that the facts of science showed nature to be no more a simple machine than is a human being.”(Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, pp. 131-132)
“Trong đoạn văn này, More mở rộng lập luận của mình từ kết luận về một chất liệu vô hình trong con người sang giả định về một chất liệu vô hình tương tự và vĩ đại hơn trong tự nhiên nói chung, vì ông tin rằng các sự thật của khoa học cho thấy tự nhiên cũng không phải là một cỗ máy đơn thuần, cũng như con người không phải là một cỗ máy như vậy.”(Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, các trang 131-132)
Also writing in the 17th century, Robert Boyle brought forward the same hypothesis and ascribed two functions to ether, to propagate motion by successive impacts and to be a medium through which [63] curious phenomena manifested, such as magnetism, Boyle said:
Cũng viết vào thế kỷ 17, Robert Boyle đã đưa ra giả thuyết tương tự và quy hai chức năng cho dĩ thái, để truyền chuyển động bằng các tác động liên tiếp và là một môi trường qua đó [63] các hiện tượng kỳ lạ biểu hiện, chẳng hạn như từ tính, Boyle nói:
“That there may be such a substance in the universe, the asserters of it will probably bring for proofs several of the phenomena I am about to relate; but whether there be or be not in the world any matter that exactly answers to the descriptions they make of their first and second elements I shall not here discuss, though divers experiments seem to argue that there is an ethereal substance, very subtle and not a little diffused.” (Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, pp. 182, 183)
“Rằng có thể có một chất liệu như vậy trong vũ trụ, những người khẳng định điều đó có lẽ sẽ đưa ra bằng chứng là một số hiện tượng tôi sắp kể lại; nhưng liệu có hay không có trong thế giới bất kỳ vật chất nào đáp ứng chính xác các mô tả mà họ đưa ra về các nguyên tố thứ nhất và thứ hai của họ, tôi sẽ không thảo luận ở đây, mặc dù nhiều thí nghiệm dường như lập luận rằng có một chất liệu dĩ thái, rất vi tế và khuếch tán không ít.” (Edwin Arthur Burtt, Ph.D., Metaphysical Foundations of Modern Physical Science, các trang 182, 183)
Coming again to modern times Sir William Barrett said:
Trở lại với thời hiện đại, Sir William Barrett đã nói:
“The universe presents us with an assemblage of phenomena—physical, vital, and intellectual—the connecting link between the worlds of intellect and matter being that of organized vitality, occupying the whole domain of animal and vegetable life, throughout which, in some way inscrutable to us, movements among the molecules of matter are originated of such a character as apparently to bring them under the control of an agency other than physical, superseding the ordinary laws which regulate the movements of inanimate matter, or in other words, giving rise to movements which would not result from the action of those laws uninterfered with; and therefore implying, on the very same principle, the origination of force.” (Sir William Barrett, On the Threshold of the Unseen, p. 274)
“Vũ trụ trình bày cho chúng ta một tập hợp các hiện tượng—vật lý, sinh lực, và trí tuệ—mối liên kết giữa thế giới của trí tuệ và vật chất là mối liên kết của sức sống có tổ chức, chiếm toàn bộ lĩnh vực của đời sống động vật và thực vật, trong đó, theo một cách nào đó bí ẩn đối với chúng ta, các chuyển động giữa các phân tử của vật chất được khởi phát với đặc tính dường như đưa chúng dưới sự kiểm soát của một tác nhân khác với vật lý, thay thế các định luật thông thường điều chỉnh các chuyển động của vật chất vô tri, hay nói cách khác, làm nảy sinh các chuyển động sẽ không là kết quả từ hành động của các định luật đó nếu không bị can thiệp; và do đó ngụ ý, trên chính nguyên tắc đó, sự khởi phát của lực.” (Sir William Barrett, On the Threshold of the Unseen, tr. 274)
The Eastern teaching regards the vital body as the intermediary between the physical and the intellectual: it acts as the agency of the mind in a human being and of the Universal Mind in a solar [64] system, and it is interesting to note in this connection Sir William Barrett’s threefold enumeration of “physical, vital and intellectual.”
Giáo lý Phương Đông xem thể sinh lực là trung gian giữa thể xác và trí tuệ: nó hoạt động như tác nhân của tâm trí ở con người và của Vũ Trụ Trí trong một hệ mặt trời [64], và thật thú vị khi lưu ý trong mối liên hệ này sự liệt kê bộ ba của Sir William Barrett là “vật lý, sinh lực và trí tuệ.”
Sir Oliver Lodge, though often criticised for his views as to communication between the living and the dead, is, in matters of pure science, in the front rank of this age. He says:
Sir Oliver Lodge, mặc dù thường bị chỉ trích vì quan điểm của ông về sự giao tiếp giữa người sống và người chết, nhưng trong các vấn đề khoa học thuần túy, ông đứng ở hàng đầu của thời đại này. Ông nói:
“What about the Ether which holds the atoms together, the welding ether which is essential to the characteristic configuration of a body—which is as essential as the matter itself?
“Còn về Dĩ thái giữ các nguyên tử lại với nhau, dĩ thái hàn gắn vốn thiết yếu cho cấu hình đặc trưng của một vật thể—thứ cũng thiết yếu như chính vật chất thì sao?
“We do not usually attend to the ether aspect of a body; we have no sense organ for its appreciation, we only directly apprehend matter. Matter we apprehend clearly when young children, but as we grow up we infer the Ether, too, or some of us do. We know that a body of characteristic shape, or indeed of any definite shape, cannot exist without the forces of cohesion—cannot exist therefore without the Ether—meaning by the Ether now, not the whole, but the unmaterialized part of it, the part which is the region of strain, the receptacle of potential energy, the substance in which the atoms of matter are embedded. Not only is there a matter body, there is also an ether body: the two are coexistent.” (Sir Oliver Lodge, Ether and Reality, pp. 161, 162)
“Chúng ta thường không chú ý đến phương diện dĩ thái của một vật thể; chúng ta không có cơ quan giác quan để đánh giá nó, chúng ta chỉ trực tiếp lĩnh hội vật chất. Chúng ta lĩnh hội vật chất rõ ràng khi còn là trẻ nhỏ, nhưng khi lớn lên, chúng ta cũng suy luận ra Dĩ thái, hoặc một số người trong chúng ta làm vậy. Chúng ta biết rằng một vật thể có hình dạng đặc trưng, hay thực sự bất kỳ hình dạng xác định nào, không thể tồn tại nếu không có các lực kết dính—do đó không thể tồn tại nếu không có Dĩ thái—ngụ ý Dĩ thái bây giờ, không phải là toàn bộ, mà là phần phi vật chất hóa của nó, phần là vùng của sự căng thẳng, nơi chứa năng lượng tiềm tàng, chất liệu trong đó các nguyên tử của vật chất được nhúng vào. Không chỉ có một thể vật chất, còn có một thể dĩ thái: cả hai cùng tồn tại.” (Sir Oliver Lodge, Ether and Reality, các trang 161, 162)
He takes up the same subject again in an article which appeared in The Hibbert Journal and presents some most interesting and suggestive conclusions, as follows:
Ông lại đề cập đến cùng chủ đề trong một bài viết xuất hiện trên tạp chí The Hibbert Journal và trình bày một số kết luận thú vị và gợi mở nhất, như sau:
“Light is an affection of the ether. Light is to ether as sound is to matter.... Subject to all the laws of [65] time and space, fully amenable to the laws of energy, largely the source of terrestrial energy, governing all the manifestations of physical forces, at the root of elasticity and tenacity and every other static property of matter, the ether is just beginning to take its rightful place in the scheme of physics....
“Ánh sáng là một biến động trong dĩ thái. Ánh sáng đối với dĩ thái cũng như âm thanh đối với vật chất.... Chịu sự chi phối của tất cả các quy luật về [65] thời gian và không gian, hoàn toàn tuân theo các định luật về năng lượng, phần lớn là nguồn gốc của năng lượng địa cầu, chi phối tất cả các biểu hiện của các lực vật lý, là gốc rễ của tính đàn hồi và độ bền và mọi tính chất tĩnh khác của vật chất, dĩ thái chỉ mới bắt đầu chiếm vị trí xứng đáng của nó trong sơ đồ vật lý....
“Electric charges, composed of modified ether, are likely to prove to be the cosmic building material.... There is the great bulk of undifferentiated ether, the entity which fills all space and in which everything material occurs. A duality runs through the scheme of physics—matter and ether.
“Các điện tích, bao gồm dĩ thái được biến đổi, có khả năng chứng tỏ là vật liệu xây dựng vũ trụ.... Có một khối lượng lớn dĩ thái không biệt phân, thực thể lấp đầy mọi không gian và trong đó mọi thứ vật chất xuất hiện. Một tính nhị nguyên chạy xuyên suốt sơ đồ vật lý—vật chất và dĩ thái.
“All kinetic energy belongs to what we call matter, whether in the atomic or the corpuscular form; movement or locomotion is its characteristic. All static energy belongs to the ether, the unmodified and universal ether; its characteristics are strain and stress. Energy is always passing to and fro from one to the other—from ether to matter or vice versa—and in this passage is all work done.
“Tất cả động năng thuộc về cái chúng ta gọi là vật chất, dù ở dạng nguyên tử hay tiểu thể; chuyển động hay sự di chuyển là đặc tính của nó. Tất cả năng lượng tĩnh thuộc về dĩ thái, dĩ thái không biến đổi và phổ quát; các đặc tính của nó là sự căng và sức ép. Năng lượng luôn chuyển qua lại từ cái này sang cái kia—từ dĩ thái sang vật chất hoặc ngược lại—và trong sự chuyển tiếp này mọi công được thực hiện.
“Now, the probability is that every sensible object has both a material and an etherial counterpart. One side only are we sensibly aware of, the other we have to infer. But the difficulty of perceiving this other side—the necessity for indirect inference—depends essentially and entirely on the nature of our sense organs, which tell us of matter and do not tell us of ether. Yet one is as real and substantial as the other, and their fundamental joint quality is coexistence and interaction. Not interaction everywhere and always, for there are plenty of regions without matter—though there is no region without ether; but the potentiality of interaction, and often the conspicuous reality of it, everywhere prevails and constitutes the whole of our purely mundane experience.”
“Nay, khả năng là mọi đối tượng khả giác đều có cả một đối phần vật chất và một đối phần dĩ thái. Chúng ta chỉ nhận thức được một mặt qua giác quan, mặt kia chúng ta phải suy luận. Nhưng khó khăn trong việc nhận thức mặt kia—sự cần thiết của suy luận gián tiếp—phụ thuộc thiết yếu và hoàn toàn vào bản chất của các cơ quan giác quan của chúng ta, vốn cho chúng ta biết về vật chất và không cho chúng ta biết về dĩ thái. Tuy nhiên, cái này cũng thực và thực chất như cái kia, và phẩm tính chung cơ bản của chúng là sự cùng tồn tại và tương tác. Không phải tương tác ở mọi nơi và mọi lúc, vì có rất nhiều vùng không có vật chất—mặc dù không có vùng nào không có dĩ thái; nhưng tiềm năng tương tác, và thường là thực tại dễ thấy của nó, chiếm ưu thế ở mọi nơi và cấu thành toàn bộ trải nghiệm trần tục thuần túy của chúng ta.”
[66] In a supplementary note to the article, he says:
[66] Trong một ghi chú bổ sung cho bài viết, ông nói:
“Ether belongs to the physical frame of things, no one supposes it be a psychic entity; but it probably subserves psychical purposes, just as matter does. Professors Tait and Balfour Stewart surmised a psychic significance for the ether of space so long ago as 1875, and treated it from a religious point of view in that much criticized book The Unseen Universe. And that great mathematical physicist, James Clerk Maxwell, concluded his article “Ether” in the ninth edition of the Encyclopedia Britannica with an expression of faith, not indeed in this speculation, about which he evinced great caution, but in the real existence of a supersensuous universal connecting medium, and in the probability of its having many unsuspected functions.” (Sir Oliver Lodge, Matter and Soul, Hibbert Journal, January, 1919)
“Dĩ thái thuộc về khung vật lý của sự vật, không ai cho rằng nó là một thực thể thông linh; nhưng nó có lẽ phục vụ cho các mục đích thông linh, cũng giống như vật chất vậy. Các giáo sư Tait và Balfour Stewart đã phỏng đoán một ý nghĩa thông linh cho dĩ thái của không gian từ lâu vào năm 1875, và đã xử lý nó từ quan điểm tôn giáo trong cuốn sách bị chỉ trích nhiều đó The Unseen Universe. Và nhà vật lý toán học vĩ đại đó, James Clerk Maxwell, đã kết thúc bài viết “Dĩ thái” của mình trong ấn bản thứ chín của Encyclopedia Britannica với một biểu lộ đức tin, thực sự không phải vào sự suy đoán này, mà về nó ông tỏ ra rất thận trọng, nhưng vào sự tồn tại thực sự của một môi trường kết nối phổ quát siêu cảm giác, và vào khả năng nó có nhiều chức năng không ngờ tới.” (Sir Oliver Lodge, Matter and Soul, Hibbert Journal, tháng 1 năm 1919)
Dr. Sajous, Professor of Endocrinology in Pennsylvania University asserts his belief in this universal medium in the following terms:
Tiến sĩ Sajous, Giáo sư Nội tiết học tại Đại học Pennsylvania khẳng định niềm tin của mình vào môi trường phổ quát này bằng những thuật ngữ sau:
“It seems plain that the need of a primary intelligent and coordinative creative medium such as the ether asserts itself on all sides....
“Dường như rõ ràng là nhu cầu về một môi trường sáng tạo nguyên sơ, thông tuệ và có khả năng phối hợp như dĩ thái khẳng định chính nó ở mọi phía....
“The ether, as interpreted by scientists, meets all these conditions and is the only medium known to science that is capable of doing so. It is invisible, permeates all matter and pervades all space by wave motion, without limit in the universe. It offers practically no resistance to radiant energy, even to light from the sun and the most distant stars discovered. It is the medium which transmits ‘radio’ waves, wireless telegraphy waves, Becquerel rays, X- or Roentgen rays, etc. [67]
“Dĩ thái, như được các nhà khoa học giải thích, đáp ứng tất cả những điều kiện này và là môi trường duy nhất được khoa học biết đến có khả năng làm như vậy. Nó vô hình, thâm nhập mọi vật chất và lan tỏa khắp không gian bằng chuyển động sóng, không giới hạn trong vũ trụ. Nó hầu như không gây trở ngại cho năng lượng bức xạ, ngay cả ánh sáng từ mặt trời và những ngôi sao xa xôi nhất được phát hiện. Nó là môi trường truyền các sóng ‘vô tuyến’, sóng điện báo không dây, tia Becquerel, tia X hay tia Roentgen, v.v. [67]
“The ether is endowed with creative power in space and on earth.... The ether of space, therefore, builds solar systems as it does matter, with co-ordination and intelligence, and endows all chemical elements it forms with the properties they are known to possess....” (Chas. E. de M. Sajous, M.D., ScD., LLD., Strength of Religion as Shown by Science, pp. 152,153)
“Dĩ thái được phú cho quyền năng sáng tạo trong không gian và trên trái đất.... Do đó, dĩ thái của không gian xây dựng nên các hệ mặt trời cũng như nó xây dựng vật chất, với sự phối hợp và trí tuệ, và ban cho mọi nguyên tố hóa học mà nó tạo thành những đặc tính mà người ta biết chúng sở hữu....” (Chas. E. de M. Sajous, M.D., ScD., LLD., Sức Mạnh của Tôn Giáo như được Khoa Học Chứng Minh, tr. 152,153)
Dr. Joad of Oxford University pictures for us the activity of this vital force, of the ‘livingness’ animating matter and shows the relationship between life and form. He comes close indeed, to the Eastern theory of the etheric counterpart and the energy functioning through it.
Tiến sĩ Joad thuộc Đại học Oxford mô tả cho chúng ta hoạt động của mãnh lực sự sống này, của ‘sức sống’ đang làm cho vật chất trở nên sống động và chỉ ra mối quan hệ giữa sự sống và hình tướng. Thực ra, ông đã tiến rất gần đến lý thuyết phương Đông về đối phần dĩ thái và năng lượng hoạt động qua nó.
“The Life Force. Let us suppose that in the first instance the universe was purely material. It was chaos, deadness and blankness, without energy or purpose, and devoid of life. Into this inorganic universe there is introduced at some stage or other, and from some source unexplained, a principle of life, and by life I mean a something which is not expressible in terms of matter. At first blind and stumbling, a purely instinctive thrust or pulse, it seeks to express itself by struggling to achieve an ever higher degree of consciousness. We may conceive the ultimate purpose of the life force to be the achievement of complete and universal consciousness, a result which can only be secured by the permeation of the whole universe with life and energy, so that beginning as a world of ‘matter’ it may end as a world of ‘mind,’ or ‘spirit.’ With this object it works in and through matter, infusing and permeating matter with its own principle of energy and life. To matter so infused we give the name of a living organism. Living organisms are to be regarded [68] in the light of the tools or weapons which the life force creates to assist it in the accomplishment of its purpose. Like the universe itself, each living organism is formed of a substratum of matter which has been animated by life, much as a length of wire may be charged with an electric current. It is a current of life which has been insulated in a piece of matter.
“Mãnh Lực Sự Sống. Chúng ta hãy giả sử rằng thuở ban đầu, vũ trụ hoàn toàn là vật chất. Đó là sự hỗn độn, chết chóc và trống rỗng, không có năng lượng hay mục đích, và không có sự sống. Vào vũ trụ vô cơ này, ở giai đoạn này hay giai đoạn khác, và từ một nguồn nào đó không được giải thích, một nguyên khí của sự sống được đưa vào, và bởi sự sống, tôi muốn nói đến một cái gì đó không thể diễn tả bằng ngôn ngữ của vật chất. Lúc đầu mù quáng và vấp váp, một sức đẩy hoặc xung lực hoàn toàn theo bản năng, nó tìm cách tự biểu hiện bằng sự đấu tranh để đạt tới một mức độ tâm thức ngày càng cao hơn. Chúng ta có thể quan niệm mục đích tối hậu của mãnh lực sự sống là việc đạt được tâm thức trọn vẹn và phổ quát, một kết quả chỉ có thể được đảm bảo bằng sự thâm nhập của sự sống và năng lượng vào toàn bộ vũ trụ, để rồi bắt đầu như một thế giới của ‘vật chất’, nó có thể kết thúc như một thế giới của ‘trí’, hoặc ‘tinh thần’. Với mục tiêu này, nó hoạt động trong và thông qua vật chất, truyền và thấm nhuần vật chất với nguyên khí năng lượng và sự sống của chính nó. Đối với vật chất được truyền sự sống như vậy, chúng ta đặt tên là một sinh vật. Các sinh vật phải được xem xét [68] dưới ánh sáng của các công cụ hoặc vũ khí mà mãnh lực sự sống tạo ra để hỗ trợ nó trong việc hoàn thành mục đích của mình. Giống như chính vũ trụ, mỗi sinh vật được hình thành từ một nền tảng vật chất đã được làm cho sống động bởi sự sống, cũng giống như một đoạn dây dẫn có thể được nạp một dòng điện. Đó là một dòng sự sống đã được cách ly trong một mảnh vật chất.
“The life force is far from being all-powerful. It is limited by the matter which it seeks to overcome, and its methods are experimental, varying according to the stage of evolution which, in the persons of the organisms created by it, it has succeeded in reaching. Different types of beings best serve its purpose at different stages.” (C. E. M. Joad, B.A., Mind and Matter, pp. 178, 179)
“Mãnh lực sự sống còn lâu mới là toàn năng. Nó bị giới hạn bởi vật chất mà nó tìm cách khắc phục, và các phương pháp của nó mang tính thử nghiệm, thay đổi tùy theo giai đoạn tiến hóa mà nó đã thành công đạt tới thông qua các sinh vật do nó tạo ra. Các loại sinh linh khác nhau phụng sự tốt nhất cho mục đích của nó ở các giai đoạn khác nhau.” (C. E. M. Joad, B.A., Trí và Vật Chất, tr. 178, 179)
Will Durant, doubtless the most widely read and popular author on philosophical subjects, says:
Will Durant, chắc chắn là tác giả được đọc nhiều nhất và phổ biến nhất về các chủ đề triết học, nói rằng:
“The more we study matter the less we see it as fundamental, the more we perceive it as merely the externality of energy, as our flesh is the outward sign of life and mind.... In the heart of matter, giving it form and power, is something not material, possessed of its own spontaneity and life; and this subtle, hidden and yet always revealed vitality is the final essence of everything that we know.... Life is first, and within; matter, coeval with it in time and inextricable from it in space, is second to it in essence, in logic, and in significance; matter is the form and visibility of life....
“Càng nghiên cứu vật chất, chúng ta càng ít thấy nó là cơ bản, chúng ta càng nhận thức nó chỉ đơn thuần là bề ngoài của năng lượng, cũng như xác thịt của chúng ta là dấu hiệu bên ngoài của sự sống và trí tuệ.... Trong trái tim của vật chất, mang lại cho nó hình tướng và sức mạnh, là một cái gì đó phi vật chất, sở hữu tính tự phát và sự sống của riêng nó; và sức sống tinh tế, ẩn giấu nhưng luôn luôn được tiết lộ này là tinh chất cuối cùng của mọi thứ mà chúng ta biết.... Sự sống là cái đầu tiên, và ở bên trong; vật chất, cùng tuổi với nó về thời gian và không thể tách rời khỏi nó trong không gian, là thứ yếu so với nó về tinh chất, về logic, và về tầm quan trọng; vật chất là hình tướng và tính khả kiến của sự sống....
“The life is not a function of the form, the form is a product of the life; the weight and solidity of matter are the result and expression of intra-atomic energy, and every muscle or nerve in the body is the moulded instrument of desire.” (Will Durant, Mansions of Philosophy, pp. 66,67, 80, 81)
“Sự sống không phải là một chức năng của hình tướng, hình tướng là một sản phẩm của sự sống; trọng lượng và độ rắn của vật chất là kết quả và biểu hiện của năng lượng nội nguyên tử, và mọi cơ bắp hay dây thần kinh trong cơ thể là công cụ được đúc nặn của dục vọng.” (Will Durant, Những Lâu Đài của Triết Học, tr. 66, 67, 80, 81)
[69] These books and scientists show that the Eastern doctrine of an etheric body, the medium of a vital force, of energy or life, is not the vague dream of a mystically inclined people, but is regarded as a fact in nature by many practical minded Occidental investigators.
[69] Những cuốn sách và các nhà khoa học này cho thấy rằng học thuyết phương Đông về thể dĩ thái, trung gian dẫn truyền một mãnh lực sự sống, của năng lượng hay sự sống, không phải là giấc mơ mơ hồ của một dân tộc có khuynh hướng thần bí, mà được coi là một sự kiện trong tự nhiên bởi nhiều nhà nghiên cứu phương Tây có đầu óc thực tế.
In summarising our ideas we might formulate them as follows:
Khi tóm tắt các ý tưởng của mình, chúng ta có thể trình bày chúng như sau:
Behind the objective body lies a subjective form constituted of etheric matter and acting as a conductor of the life principle of energy, or prana. This life principle is the force aspect of the soul, and through the medium of the etheric body the soul animates the form, gives it its peculiar qualities and attributes, impresses upon it its desires and, eventually directs it through the activity of the mind. Through the medium of the brain the soul galvanises the body into conscious activity and through the medium of the heart all parts of the body are pervaded by life.
Đằng sau thân thể ngoại giới có một hình tướng nội giới được cấu tạo từ vật chất dĩ thái và hoạt động như một chất dẫn truyền của nguyên khí năng lượng của sự sống, hay prana. Nguyên khí sự sống này là phương diện mãnh lực của linh hồn, và thông qua trung gian của thể dĩ thái, linh hồn làm cho hình tướng trở nên sống động, mang lại cho nó những phẩm tính và thuộc tính riêng biệt, ghi khắc lên nó những dục vọng của mình và, cuối cùng điều khiển nó thông qua hoạt động của thể trí. Thông qua trung gian của bộ não, linh hồn kích thích cơ thể vào hoạt động có ý thức và thông qua trung gian của trái tim, tất cả các phần của cơ thể được thấm nhuần bởi sự sống.
This theory has a close correspondence to the animistic theory of the West and will be defined later. The term animism has sufficed up to the present, but is likely to be superseded by that of “dynamism,” owing to the developments taking place within the human consciousness itself. Man, being now a fully self-conscious entity and the personality being now integrated and functioning, the time has come when he can, for the first time, demonstrate conscious purpose and directive will.
Lý thuyết này có sự tương ứng chặt chẽ với thuyết vật linh của phương Tây và sẽ được định nghĩa sau. Thuật ngữ thuyết vật linh đã đủ dùng cho đến nay, nhưng có khả năng sẽ bị thay thế bởi thuật ngữ “thuyết động lực,” do những phát triển đang diễn ra bên trong chính tâm thức con người. Con người, giờ đây là một thực thể hoàn toàn tự ý thức và phàm ngã hiện đang được tích hợp và hoạt động, thời điểm đã đến khi y, lần đầu tiên, có thể thể hiện mục đích có ý thức và ý chí chỉ đạo.
The three states of man’s nature, referred to [70] earlier in this chapter—physical, sentient and mental—form a coordinated unity for the first time in the history of the race. The directing self, therefore, can now take control, and, through the mind, acting on the vital or etheric body and having its point of contact in the brain, drive its instrument into fully controlled expression, and subsequent creative activity. Thus will emerge what Keyserling calls the “deeper Being.” He says:
Ba trạng thái trong bản chất của con người, được đề cập đến [70] trước đó trong chương này—thể xác, cảm dục và trí tuệ—tạo thành một sự thống nhất được phối hợp lần đầu tiên trong lịch sử của giống dân. Do đó, cái ngã chỉ đạo hiện có thể nắm quyền kiểm soát, và, thông qua trí tuệ, tác động lên thể sinh lực hay thể dĩ thái và có điểm tiếp xúc trong bộ não, điều khiển công cụ của nó đi vào biểu hiện được kiểm soát hoàn toàn, và hoạt động sáng tạo sau đó. Như vậy sẽ xuất hiện cái mà Keyserling gọi là “Hữu thể sâu thẳm hơn.” Ông nói:
“The next question is whether and how it is possible to develop deeper Being. When we speak of the Being of a man in contradistinction to his ability, we mean his vital soul; and when we say that this Being decides, we mean that all his utterances are penetrated with individual life, that every single expression radiates personality, and that this personality is ultimately responsible. Now such a penetration can actually be achieved where it does not already exist. It is possible, thanks for the fact that man as a being possessing a mind and a soul represents a Sense connection within which his consciousness moves freely. He is free to lay the emphasis wherever he pleases; according to the ‘place’ thus stressed the psychic organism actually shifts its centre, and thus actually obtains a new centre of Being. Therefore, if theoretical inquiry shows that it depends upon the centring of consciousness, whether the centre of a man lies in his Being or at the surface, then it must be practically possible to induce the necessary process of shifting. Hence in principle everybody can succeed in raising his Being; to this end he need only persistently lay the emphasis on his essential Being, persistently demand of himself that he should never utter anything but what is really consistent with his inner Being. Surely the task is a [71] hard one. Its solution is not only a very slow process; it necessitates a specific technique of training.” (Count Hermann Keyserling, Creative Understanding, pp. 180, 181)
“Câu hỏi tiếp theo là liệu có thể và làm thế nào để phát triển Hữu thể sâu thẳm hơn. Khi chúng ta nói về Hữu thể của một người trong sự phân biệt với khả năng của y, chúng ta muốn nói đến linh hồn sống động của y; và khi chúng ta nói rằng Hữu thể này quyết định, chúng ta muốn nói rằng tất cả các lời nói của y đều được thâm nhập bằng sự sống cá nhân, rằng mỗi biểu hiện đơn lẻ đều tỏa ra phàm ngã, và rằng phàm ngã này chịu trách nhiệm cuối cùng. Nay sự thâm nhập như vậy thực sự có thể đạt được ở nơi nó chưa tồn tại. Điều này là có thể, nhờ sự thật rằng con người như một hữu thể sở hữu một trí tuệ và một linh hồn đại diện cho một sự kết nối Giác quan mà trong đó tâm thức của y di chuyển tự do. Y tự do đặt trọng tâm ở bất cứ nơi nào y muốn; tùy theo ‘vị trí’ được nhấn mạnh như vậy, cơ thể thông linh thực sự chuyển dịch trung tâm của nó, và do đó thực sự đạt được một trung tâm Hữu thể mới. Vì vậy, nếu sự tìm hiểu lý thuyết cho thấy rằng điều đó phụ thuộc vào việc tập trung tâm thức, liệu trung tâm của một người nằm trong Hữu thể của y hay ở bề mặt, thì về mặt thực hành phải có thể tạo ra quy trình chuyển dịch cần thiết. Do đó, về nguyên tắc, mọi người đều có thể thành công trong việc nâng cao Hữu thể của mình; để đạt mục đích này, y chỉ cần kiên trì đặt trọng tâm vào Hữu thể thiết yếu của mình, kiên trì đòi hỏi bản thân rằng y không bao giờ thốt ra bất cứ điều gì ngoại trừ những gì thực sự nhất quán với Hữu thể bên trong của mình. Chắc chắn nhiệm vụ này là một [71] nhiệm vụ khó khăn. Giải pháp của nó không chỉ là một quá trình rất chậm; nó đòi hỏi một kỹ thuật rèn luyện cụ thể.” (Bá tước Hermann Keyserling, Sự Hiểu Biết Sáng Tạo, tr. 180, 181)
The possibility of man functioning as a soul, as a synthesis of mechanism, life and purpose, will, I believe, be greatly hastened when the Eastern and Western psychologies are merged and the relationship of the Glands to the vital body, with its centres of force, studied and understood. Hocking, in this connection, comes to this conclusion:
Khả năng con người hoạt động như một linh hồn, như một sự tổng hợp của cơ chế, sự sống và mục đích, tôi tin rằng, sẽ được đẩy nhanh đáng kể khi các nền tâm lý học phương Đông và phương Tây được hợp nhất và mối quan hệ của các Tuyến với thể sinh lực, với các trung tâm mãnh lực của nó, được nghiên cứu và thấu hiểu. Trong sự liên quan này, Hocking đi đến kết luận sau:
“There seems reason to hope for a better physical future of the race by the aid of a sound mental hygiene. After the era of the charlatans has gone by, and to some extent by their aid, there appears a possibility of steadily enlarging self-mastery, as the spiritual sense of such discipline as the Yoga joins with the sober elements of Western psychology and a sane system of ethics. No one of these is worth much without the others.” ( Wm. E. Hocking, Self, Its Body and Freedom)
“Dường như có lý do để hy vọng vào một tương lai thể chất tốt đẹp hơn của giống dân nhờ sự hỗ trợ của một nền vệ sinh tâm trí lành mạnh. Sau khi kỷ nguyên của những kẻ lang băm đã qua đi, và ở một mức độ nào đó nhờ sự trợ giúp của họ, xuất hiện một khả năng mở rộng đều đặn sự tự làm chủ, khi ý nghĩa tinh thần của phép rèn luyện như Yoga kết hợp với các yếu tố tỉnh táo của tâm lý học phương Tây và một hệ thống đạo đức lành mạnh. Không một cái nào trong số này có giá trị nhiều nếu thiếu những cái khác.” (Wm. E. Hocking, Bản Ngã, Thân Thể và Sự Tự Do của Nó)
Two points merit discussion, before we pass on to a detailed account of the Eastern teaching as to the force centres. One is a consideration as to the nature of the soul, and the other is an attempt to consider the testimony of the centuries as to the probable location of the soul consciousness.
Hai điểm đáng được thảo luận, trước khi chúng ta chuyển sang một bản tường trình chi tiết về giáo lý phương Đông đối với các trung tâm mãnh lực. Một là sự xem xét về bản chất của linh hồn, và hai là nỗ lực xem xét lời chứng của nhiều thế kỷ về vị trí có thể có của tâm thức linh hồn.
CHAPTER IV — THE NATURE OF THE SOUL AND ITS LOCATION—CHƯƠNG IV — BẢN CHẤT CỦA LINH HỒN VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ
[72] Throughout the ages the soul has been the subject of discussion, of argument, and of attempted definition. It has been, and still is, the paramount intellectual interest of the ages, and the outstanding theme of all religions and philosophies. From this alone, we may perhaps deduce that the soul is possibly a fact in nature, for the testimony of millennia must have some basis in reality. After the elimination of all conclusions founded on the visions and experiences of hysterics, of neurotics, and of pathological cases, there remains a residue of testimony and a structure of deduction, emanating from sane and reputable thinkers, philosophers and scientists, which evades negation and warrants recognition by humanity.
[72] Trong suốt các thời đại, linh hồn đã là chủ đề của sự thảo luận, của sự tranh luận và của nỗ lực định nghĩa. Nó đã, và vẫn là, mối quan tâm trí tuệ tối cao của các thời đại, và là chủ đề nổi bật của tất cả các tôn giáo và triết học. Chỉ riêng từ điều này, chúng ta có lẽ có thể suy luận rằng linh hồn có khả năng là một sự kiện trong tự nhiên, vì lời chứng của hàng thiên niên kỷ hẳn phải có cơ sở nào đó trong thực tại. Sau khi loại bỏ tất cả các kết luận dựa trên các linh ảnh và trải nghiệm của những người cuồng loạn, của những người loạn thần kinh chức năng, và của các trường hợp bệnh lý, vẫn còn lại một phần dư của lời chứng và một cấu trúc suy luận, xuất phát từ những nhà tư tưởng, triết gia và nhà khoa học lành mạnh và có uy tín, những điều này không thể bị phủ nhận và đáng được nhân loại công nhận.
Dr. Richard Müller-Freienfels says, “To write the history of man’s belief in the soul one would have at the same time to write the history of the whole human race.” (Richard Müller-Freienfels, Mysteries of the Soul, p. 24)
Tiến sĩ Richard Müller-Freienfels nói, “Để viết lịch sử về niềm tin của con người vào linh hồn, người ta đồng thời sẽ phải viết lịch sử của toàn bộ nhân loại.” (Richard Müller-Freienfels, Những Bí Ẩn của Linh Hồn, tr. 24)
The problem has been well summarized for us by Professor Ames:
Vấn đề đã được tóm tắt rất tốt cho chúng ta bởi Giáo sư Ames:
“On the one side was this self or soul, with its thinking; on the other, all the world of objects, other persons [73] and God. The efforts of wise men for centuries have been to find a way to span the chasm between the self and other objects. But with ideas as events in the head, and things existing outside, there was no sure bridge upon which to make the passage that alone could guarantee that the representations in the head were true to the objects in the outer realm. Upon the two sides of this gulf have been arrayed the armies of philosophers: the idealists upon the side of the self, vainly trying to stretch themselves to reach the reality they have posited as separated from their grasp; and on the opposite side the materialists, striving to ignore the self or to regard it as a phantom, or epiphenomenon, a breath or mist, exuding from the physical world itself. Some, called dualists, assumed the reality of both the psychical and the physical, but allowed each its place and never succeeded in an adequate answer to the question as to how the mind goes out of itself to so different an object, or how the object could be itself and yet be known.” (Edward Scribner Ames, Prof. of Philosophy, Universtity of Chicago, Religion, pp. 127-128)
“Ở một bên là cái ngã hay linh hồn này, với tư duy của nó; ở bên kia, là toàn bộ thế giới của các đối tượng, những người khác [73] và Thượng đế. Những nỗ lực của các nhà hiền triết trong nhiều thế kỷ là tìm ra một cách để bắc cầu qua hố sâu ngăn cách giữa cái ngã và các đối tượng khác. Nhưng với các ý tưởng như là những sự kiện ở trong đầu, và các sự vật tồn tại bên ngoài, không có cây cầu chắc chắn nào để thực hiện việc băng qua vốn là cách duy nhất có thể đảm bảo rằng những sự trình hiện trong đầu là đúng với các đối tượng ở cõi bên ngoài. Tại hai bên của vực thẳm này, các đội quân triết gia đã dàn trận: những người duy tâm ở phía của cái ngã, cố gắng vươn mình một cách vô vọng để chạm tới thực tại mà họ đã định vị là tách biệt khỏi tầm nắm bắt của họ; và ở phía đối diện là những người duy vật, phấn đấu để phớt lờ cái ngã hoặc xem nó như một ảo ảnh, hay hiện tượng phụ, một hơi thở hay làn sương, tiết ra từ chính thế giới vật lý. Một số người, được gọi là những người theo thuyết nhị nguyên, giả định thực tại của cả cái thuộc về tâm lý và cái thuộc về vật lý, nhưng cho phép mỗi cái có vị trí của nó và chưa bao giờ thành công trong một câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi về việc làm thế nào tâm trí đi ra khỏi chính nó để đến với một đối tượng quá khác biệt, hay làm thế nào đối tượng có thể là chính nó và lại được nhận biết.” (Edward Scribner Ames, Giáo sư Triết học, Đại học Chicago, Tôn Giáo, tr. 127-128)
Some definitions of the soul might here have place. They have been gathered out of a vast number. It is noticeable that there is a very remarkable uniformity in definition and exegesis. Webster defines the soul in most interesting terms, and from the standpoint of the Eastern wisdom, with great exactitude.
Một số định nghĩa về linh hồn có thể có chỗ ở đây. Chúng đã được thu thập từ một số lượng lớn. Đáng chú ý là có một sự đồng nhất rất đáng kể trong định nghĩa và sự giải thích. Webster định nghĩa linh hồn bằng những thuật ngữ thú vị nhất, và từ quan điểm của minh triết phương Đông, với độ chính xác tuyệt vời.
“An entity, conceived as the essence, substance, or actuating cause of individual life, especially of life manifested in psychical activities; the vehicle of individual existence, separate in nature from the body and usually held to be separable in existence.”
“Một thực thể, được quan niệm là tinh chất, chất liệu, hay nguyên nhân thúc đẩy của sự sống cá nhân, đặc biệt là của sự sống biểu hiện trong các hoạt động tâm lý; phương tiện của sự tồn tại cá nhân, tách biệt về bản chất khỏi thân thể và thường được coi là có thể tách rời trong sự tồn tại.”
[74] As one investigates the different interpretations as to the nature of the soul, three points of view emerge and these have been well summarised for us in Webster’s Dictionary:
[74] Khi người ta điều tra các cách giải thích khác nhau về bản chất của linh hồn, ba quan điểm xuất hiện và những điều này đã được tóm tắt rất tốt cho chúng ta trong Từ điển Webster:
“First, the soul has been treated as an entity or subject, manifested especially in man’s volitional thinking activities; it is the subject of the experience meditated by the body; it is not the mind, but that which thinks and wills.
“Thứ nhất, linh hồn được coi là một thực thể hay chủ thể, biểu hiện đặc biệt trong các hoạt động tư duy có ý chí của con người; nó là chủ thể của trải nghiệm được truyền qua trung gian của thân thể; nó không phải là tâm trí, mà là cái suy nghĩ và định đoạt.
“Second, the soul is identified with the mind or with conscious experience; this is the usual sense of the word in psychology, and is the general conception of idealists.
“Thứ hai, linh hồn được đồng nhất với tâm trí hoặc với trải nghiệm có ý thức; đây là nghĩa thông thường của từ này trong tâm lý học, và là quan niệm chung của những người duy tâm.
“Third, the soul is treated as a function or the sum of the functions of the brain; thus Pierre J. G. Cabanis (1757-1808) taught that the brain secretes thought as the stomach digests food.”
“Thứ ba, linh hồn được coi là một chức năng hoặc tổng hợp các chức năng của bộ não; do đó Pierre J. G. Cabanis (1757-1808) đã dạy rằng bộ não tiết ra tư tưởng cũng như dạ dày tiêu hóa thức ăn.”
Webster adds the following comment which is appropriate in its application to the present trend of world thought:
Webster thêm lời bình luận sau đây, rất thích hợp trong việc áp dụng vào xu hướng tư tưởng thế giới hiện nay:
“Some conceptions, such as that of Fechner, that the soul is the whole unitary, spiritual process in conjunction with the whole unitary bodily process, appear to stand mid-way between the idealistic and materialistic views.” (Webster’s Dictionary, Edition of 1923)
“Một số quan niệm, chẳng hạn như của Fechner, cho rằng linh hồn là toàn bộ quá trình tinh thần thống nhất kết hợp với toàn bộ quá trình thân thể thống nhất, dường như đứng giữa các quan điểm duy tâm và duy vật.” (Từ điển Webster, Ấn bản năm 1923)