Trích nội dung chương
Tôi biên dịch thư của Chân sư DK gởi cho một đệ tử “khá lớn” của Ngài, RSU, tên ngoài đời là Regina Keller, người gốc Hungary, nhưng thuộc chủng tộc Do Thái. Bà là người bạn thân thiết của Bà Alice Bailey, người giúp biên tập tất cả các sách của Chân sư DK, nhất là các thư trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Bà thân thiết với Alice Bailey nên khi xuất bản quyển I của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Bà Bailey đã viết lời đề tặng cho Bà: “Pháp danh” của Regina Keller là RSU, viết tắt của Restraint, Strength, Understanding, trong đó yếu tố quan trọng nhất với Bà Kềm Chế, và kềm chế ở đây là kềm chế “tinh linh thể xác”. Cũng thật lạ, một đệ tử…
Giới thiệu:
Tôi biên dịch thư của Chân sư DK gởi cho một đệ tử “khá lớn” của Ngài, RSU, tên ngoài đời là Regina Keller, người gốc Hungary, nhưng thuộc chủng tộc Do Thái. Bà là người bạn thân thiết của Bà Alice Bailey, người giúp biên tập tất cả các sách của Chân sư DK, nhất là các thư trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Bà thân thiết với Alice Bailey nên khi xuất bản quyển I của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Bà Bailey đã viết lời đề tặng cho Bà:
DÀNH TẶNG REGINA KELLER
một đệ tử đồng môn, người đã cùng tôi bước đi trên Đường Đạo hơn hai mươi năm qua.
“Pháp danh” của Regina Keller là RSU, viết tắt của Restraint, Strength, Understanding, trong đó yếu tố quan trọng nhất với Bà Kềm Chế, và kềm chế ở đây là kềm chế “tinh linh thể xác”. Cũng thật lạ, một đệ tử khá cao như Bà lại vướng với vấn đề về thể xác, cái mà nhiều đệ tử chính thức đã vượt qua từ lâu. Theo lời Chân sư DK:
Thường thì các người chí nguyện gặp điểm yếu chủ yếu ở một thể cụ thể nào đó; đối với em, đó là thể xác chưa được điều chỉnh đúng mức và không áp dụng được lý tưởng vào nó khi cần thiết. Đôi lúc em đối xử với nó quá tử tế, tuy nhiên thỉnh thoảng lại đan xen việc đối xử tử tế với những khoảng thời gian hành xử với tinh linh thể xác một cách khắc nghiệt không cần thiết.
Em bị hạn chế bởi thể xác của mình. Em đã được thừa hưởng (để hoàn thành các trách nhiệm nghiệp quả) một cơ thể không quá cao cấp thuộc loại Slav-Semitic kèm theo một chút Latin. Di sản đó mang lại cho em sự kiên định và bền bỉ trên Thánh đạo; nó ban cho sự nhạy cảm với mọi thứ thuộc về cõi giới thần bí; nó cũng mang đến cho em tình thương cái đẹp và sự phát triển của trái tim. Di sản này đã hé lộ cho em [361] một chút về bí ẩn của nỗi đau và sự khổ sở. Nhưng nó cũng mang cho em một thể xác thừa hưởng sức mạnh để kháng cự và khả năng ngăn chặn sự biểu hiện từ thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài. Bên cạnh đó, cơ thể này có những nguyên tử nặng nề và trì trệ, khiến chúng không được kích hoạt để mang lại sinh lực tinh tế mà em mơ ước, trừ khi em đưa ra rất nhiều nỗ lực và một kỷ luật tự giác vô cùng nghiêm ngặt. Do đó, linh hồn của em đã lựa chọn công việc với phàm ngã này—một công việc hàm chứa sự phụng sự, lay động trái tim và đồng thời có bản chất hết sức cần thiết, bắt buộc em phải nỗ lực tốt nhất.
Theo Thầy Hiệu trưởng kể lại, đệ tử RSW nói rằng Bà có thói quen ăn uống không có sự kiểm soát 😊.
Một điểm yếu thứ hai của RSU là tâm thức chủng tộc. Bà và FCD đều có nguồn gốc Do Thái, nhưng FCD không bị tâm thức chủng tộc ám ảnh, riêng Bà thì bị ảnh hưởng nặng nề. Riêng đệ tử FCD còn được Thánh Đoàn sử dụng để hoá giải những hạn chế của người Do Thái vì bản thân Ông là người Do Thái, khi lên tiếng nói sẽ ít bị nghi ngờ và chỉ trích hơn. Riêng Bà thì khác, và khi Chân sư nêu ra khuyết điểm của Bà, thì Bà phủ nhận, nhưng sau đó lại đổi thay độ 180 độ:
Ảo cảm của “chuyến bay vào nơi an toàn của tâm thức chủng tộc” [600] là một trong những ảo cảm chi phối của em, ngay cả khi—trong tâm thức của riêng em—em phủ nhận nó. Mỗi cá nhân, không có ngoại lệ, đều là đối tượng của ảo cảm chủng tộc này và sức mạnh của nó là không thể tin được. Cuộc sống chủ quan của bất kỳ quốc gia nào, sản sinh ra tâm lý chủng tộc, khuynh hướng dân tộc, đặc điểm và tính cách, nằm sau mỗi cá nhân, và y có thể ném mình vào đó bất cứ lúc nào, và y có thể rút lui vào đó, như vậy ẩn náu trong quá khứ và nhấn mạnh thái độ chủng tộc nhất định. Trong trường hợp của em, việc khắc phục những đặc điểm và thái độ di truyền là điều cần thiết. Em thực sự là người quốc tế.
Khi một cá nhân đã đạt đến cấp điểm đạo 2, thì yếu tố chủng tộc sẽ không còn chi phối nhiều nữa, mà sẽ là người của thế giới. Tôi chưa dịch Bình giảng của Thầy Hiệu trưởng về RSU (gần 200 trang, sẽ dịch 😊) để xem Thầy đánh giá thế nào về cấp điểm đạo của RSU, nhưng có lẽ Bà trong khoảng giữa lần điểm đạo 2 và 3.
Một điểm khác là Thầy Hiệu trưởng có được những bức thư gốc của Chân sư gởi RSU (có lẽ từ đệ tử RSW trao lại cho Thầy), nên những đoạn nhạy cảm mà chính RSU đã xoá bỏ khỏi sách được Thầy phục hồi lại để hiểu rõ vấn đề của RSU hơn. Các đoạn này nằm ở thư 1946 và 1948, qua đó, chúng ta có thể thấy sự minh triết của một Chân sư bao quát cỡ nào, nhìn rõ mọi ảo cảm ngóc ngách của một đệ tử. RSU là một đệ tử lớn, nhưng không thoát khỏi sự ganh tị với bà Bailey vì những gì mà Ngài dành cho Bà (chữ màu tím là những đoạn văn đã bị xoá được Thầy Hiệu trưởng thêm lại):
Vấn đề mà em đang đối mặt, chỉ cần em chịu suy nghĩ rõ ràng, có thể chia thành hai phần: vấn đề về phản ứng của em đối với câu hỏi về các dân tộc thiểu số và vấn đề về mối quan hệ của em với D.R.S. Vấn đề đầu tiên em cho rằng không tồn tại; vấn đề thứ hai em coi hoàn toàn là lỗi của D.R.S., và do đó, huynh đệ của tôi, em tự cho rằng mình hoàn toàn vô tội và không có trách nhiệm ở cả hai điểm. Vì em vẫn đang sống trong một phàm ngã và chưa đạt được lần điểm đạo thứ ba, sự vô tội hoàn toàn này rất khó có thể xảy ra.
“Về vấn đề Nhóm Thiểu số Do Thái, phản ứng đầu tiên của em là sự nổi loạn, sự oán giận, từ chối chấp nhận những gì tôi đã nói và có một nỗ lực rõ ràng để khiến tôi thay đổi cách trình bày, và sửa đổi một số đoạn văn và câu; em cảm thấy rằng chúng không khôn ngoan và không đúng, và em đã tuyên bố như vậy. Tôi muốn em ghi nhớ, huynh đệ của tôi, rằng như mọi khi, tôi biết chính xác những gì tôi đang làm; ngoài ra, AAB và tôi đã hai lần chỉnh sửa bản thảo đã được soạn thảo ban đầu. Trong phản ứng đầu tiên này, em hành động dưới sự chi phối của tâm thức chủng tộc của mình và phàm ngã cung ba của em (được chi phối bởi cùng cung cai quản dân tộc Do Thái); em cũng phản ứng với những lời nói đầy cảm tính và thiếu suy xét của người thân. Sau đó, em đã thay đổi tất cả điều này và có một phản ứng thứ hai. Trong chính bản thân em, em đã từ bỏ thái độ đầu tiên mà em đã có và chấp nhận những gì được nói trong bài viết vì tôi đã nói nó. Tôi có thể ước rằng em thay đổi thái độ của mình bởi vì em tự mình bị thuyết phục về tính đúng đắn của những tuyên bố của tôi, chứ không phải chấp nhận một cách mù quáng những gì tôi đã nói – điều mà tôi luôn kiên quyết chống lại. Giờ đây, em đang ở vị trí mà em mong muốn người khác cũng làm theo em, em chưa bao giờ phản ứng như em đã làm ban đầu; em đã hợp lý hóa bản thân thành sự vô tội hoàn toàn về những phản ứng mà em đã có. Thái độ hiện tại này của em đối với những gì tôi đã nói về người Do Thái có lẽ là chân thành, và tôi và các huynh đệ trong nhóm của em phải chấp nhận nó như vậy.
Chúng ta sẽ chuyển sang phần thứ hai của vấn đề của em – liên quan đến mối quan hệ của em với AAB. Tôi không có thói quen đụng chạm đến các mối quan hệ trên cõi trần của các phàm ngã; tuy nhiên, thái độ này của em đã tạo ra một tình huống trong Ashram, vì mối quan hệ của em trong quá khứ với Ashram của K.H. và công việc mà đã được lên kế hoạch rằng em sẽ làm như một viên chức liên lạc đứng ở điểm giữa. A.A.B. có một vị trí rõ ràng trong Ashram của Chân sư K.H. và thường sẽ là người cộng tác với em; do đó, tình hình đã thay đổi và trở thành một điều cần điều chỉnh. Nó phải được điều chỉnh từ phía em, và đây chính là khó khăn. Em đang cho rằng em bị A.A.B. bức hại. Em đã rõ ràng nói rằng Bà đã cố gắng loại bỏ em trong suốt hai năm qua, rằng Bà đã cố ý làm khó em, và rằng tất cả những gì Bà nói về những phản ứng đầu tiên của em với bài viết của tôi về Vấn đề Do Thái là không đúng. Một lần nữa, em thấy mình đã nhanh chóng hợp lý hóa bản thân và quay trở lại vị trí của người Do Thái bị bức hại – con đường ít kháng cự nhất cho hầu hết người Do Thái. Một lần nữa, em đứng ở vị trí hoàn toàn đúng và người khác hoàn toàn sai. Tôi không quan tâm đến việc bảo vệ A.A.B., huynh đệ của tôi. Bà không cần sự bảo vệ của tôi. Bà đã và vẫn là một người bạn trung thành của em. Tuy nhiên, tôi quan tâm đến việc giúp em giải thoát bản thân khỏi ảo cảm mà em đã xây dựng liên quan đến A.A.B. Do đó, tôi muốn nhắc nhở em rằng – với sự cho phép của tôi, không phải ngay lập tức, vì tôi biết rõ về em và đã tiên đoán những thử thách này – Bà đã dành cuốn Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới cho em và đã làm điều này trong hai năm, thế mà em tuyên bố rằng Bà đã cố gắng loại bỏ em. Ngoài ra, vào mùa thu năm ngoái, Bà đã dành nhiều thời gian thuyết phục em nghỉ hưu và đến giúp Bà trong công việc. Bà biết – ngoài công việc của cung bốn, rằng em cần được tự do và yên tĩnh để thực hiện công việc nội tâm chuyên sâu mà em đang đối diện về mặt tinh thần. Em đang ở vị trí hiện tại – là một nhân viên trong văn phòng của Trường Arcane – vì A.A.B. không để em ra đi. Đó không phải là sự tiện lợi hay sự đe dọa hay sự đe dọa mà khiến Bà kiên định ở quan điểm này, vì Bà không dễ bị đe dọa và chắc chắn không sợ em, mà vì Bà yêu em và đối xử với em như một đệ tử đang được huấn luyện cho công việc khó khăn; Bà cũng biết ơn em vì sự giúp đỡ và tình bạn với em đã kéo dài trong nhiều năm. Tôi đã nêu ra những điều trên để giúp em thấy và suy nghĩ rõ ràng.
Toàn bộ các thư này chưa nhiều thông tin vô cùng quý giá trong việc học hỏi trên đường đạo. Xin gởi đến các bạn như một tham khảo hữu ích trên đường tu tập.