← Thư Chân sư gửi các Đệ tử

Giới thiệu:

Trích nội dung chương

RVB là Vict or Fox, sinh năm 1893, khi được thâu nhận vào Ashram của Chân sư DK Ông còn khá trẻ (năm 1931, lá thư đầu tiên được viết khi Ông mới 38 tuổi). Ông có lẽ (trong kiếp sống này) đã tiến đến địa vị của Đệ tử trên đường dây, thông qua lời của Chân sư DK cho phép Ông “kêu gọi” đến Ngài khi cần thiết. Ngoài ra, một yếu tố khác khiến chúng ta có thể kết luận là Chân sư DK nói cho Ông biết Ngài đang huấn luyện Ông để trong tương lai Ông có thể chuyển vào Ashram của Chân sư K.H Hãy gọi tôi khi em muốn, nhưng chỉ khi cần thiết. Những từ “khi em muốn” mang ý nghĩa huyền môn. Chính việc sử dụng ý chí là điều cần thiết khi sự chú ý của Chân…


Giới thiệu:

RVB là Vict or Fox, sinh năm 1893, khi được thâu nhận vào Ashram của Chân sư DK Ông còn khá trẻ (năm 1931, lá thư đầu tiên được viết khi Ông mới 38 tuổi). Ông có lẽ (trong kiếp sống này) đã tiến đến địa vị của Đệ tử trên đường dây, thông qua lời của Chân sư DK cho phép Ông “kêu gọi” đến Ngài khi cần thiết. Ngoài ra, một yếu tố khác khiến chúng ta có thể kết luận là Chân sư DK nói cho Ông biết Ngài đang huấn luyện Ông để trong tương lai Ông có thể chuyển vào Ashram của Chân sư K.H

Hãy gọi tôi khi em muốn, nhưng chỉ khi cần thiết. Những từ “khi em muốn” mang ý nghĩa huyền môn. Chính việc sử dụng ý chí là điều cần thiết khi sự chú ý của Chân sư cần được kêu gọi, trong trường hợp của một đệ tử ở mức tiếp xúc với Ashram như em. Mối liên kết giữa em và tôi vẫn không bị gián đoạn.

Một trong những đệ tử cao cấp đó, A.A.B., như em đã biết, đã hỗ trợ tôi trong công việc này. Tôi cũng đã đảm nhận việc chuẩn bị một số đệ tử chưa từng ở trong Ashram của Chân sư KH hoặc Chân sư M. để họ có thể được chuyển từ Ashram của tôi sang Ashram của các Ngài; trong số đó có em. Với em, đây chính là lý do chính cho hoàn cảnh hiện tại của em.

Sự khác biệt giữa một Ashram của một Chân sư và của một Đấng Chohan là sức mạnh của mãnh lực Shamballa truyền dẫn qua Ashram đó. Một Chohan có thể “ra vào Thánh Điện Shamballa” tùy ý, nhưng một Chân sư chỉ thể tiếp xúc với Shamballa vào những lúc đặc biệt:

Vậy tại sao tôi lại hướng em đến với khía cạnh Ý Chí trong khi cả hai Ashram đều thuộc cung hai và em vốn là một đệ tử cung hai rõ rệt? Bởi vì các Ashram phụ xử lý các phẩm tính của cung trong hành động và trong sự phụng sự, trong khi các Ashram chính hay cao cấp hơn luôn luôn liên quan đến Ý Chí hành động qua các phẩm tính của cung. Điều này khả thi vì các Ashram chính được điều hành bởi những vị đã đạt được điểm đạo thứ sáu; các Ashram như của tôi thì dưới sự hướng dẫn của một Chân sư hay một điểm đạo đồ ở cấp năm.

Mức độ mạnh mẽ của một Ashram tất yếu phụ thuộc vào địa vị, cấp độ và kinh nghiệm của vị Chân sư tại trung tâm hay cốt lõi của nó. Cấp độ của vị Chân sư càng cao, thì càng có nhiều năng lượng từ Shamballa tuôn đổ vào Ashram. Chân sư KH, là một vị Chohan và là một trong những Chân sư cao cấp (chỉ xếp sau Đức Christ), có thể “bước vào các đại sảnh của Shamballa” theo ý muốn. Các Chân sư ở cấp độ của tôi chỉ có thể tiếp xúc với Shamballa vào những thời điểm xác định, và một trong những mục tiêu trong sự huấn luyện của chúng tôi là tiến bước đều đặn để thiết lập mối liên hệ mật thiết hơn với Đức Christ, và qua Ngài, với Đức Chúa Tể Thế Giới. Các Ashram mà các Chân sư thuộc cấp độ của tôi chịu trách nhiệm do đó không thể mạnh mẽ bằng.

Một chỉ dẫn quan trọng liên quan đến cấp độ đệ tử được chấp nhận là sự phát xạ từ tính của vị đệ tử đó, mãnh lực từ tính thu hút những người chí nguyện tìm đến để được hướng dẫn và huấn luyện, hình thành mầm mống cho Ashram tương lai của vị đệ tử:

Tất cả các đệ tử đang được đào luyện cho giai đoạn được gọi bằng tên không thích hợp là “đệ tử được chấp nhận” đều đang được dạy cách sử dụng rung động từ tính riêng của họ để thu hút về mình những người sẽ cấu thành nhóm riêng của họ, những người mà họ có thể giúp đỡ một cách cụ thể. Công việc này được dạy cho họ bằng cách đặt họ vào một vị trí tin cậy trong mối liên hệ với đồng loại. Do đó, công việc của em là công việc huấn luyện con người thành những người phụng sự, và như thế làm cho họ thích hợp để trở thành những người hợp tác với Thiên Cơ. Em sẽ tiếp xúc với những người cần đến em, không phải như một người lãnh đạo hay một người thầy. Họ sẽ là những người mà em biết và cảm nhận được rằng họ cần được huấn luyện và trợ giúp. Họ phải được dạy để làm việc một cách bao gồm và được thúc đẩy bởi tình thương thông minh. Hãy đưa họ vào hào quang của em và giữ họ trong ánh sáng.

Các đệ tử cần tự hỏi: Liệu khía cạnh tình thương trong bản chất của tôi có thu hút con người đến với tôi như một cá nhân để tôi có thể giúp họ, hay nó thiết lập một sự tương tác linh hồn giữa họ và tôi? Đây là điều mà tôi muốn em suy xét và thực hiện. Mức độ tỏa chiếu từ tính của em hoàn toàn có thể tăng gấp đôi và hiện tại vẫn chưa tương xứng với tiềm lực bên trong của em.

Ngài cũng nhấn mạnh lại các luân xa nằm phía sau cột sống, cách cột sống 3 in (7-8cm)

Em có sự điềm tĩnh, can đảm và hiểu biết, và “con đường của người đệ tử” mà người đệ tử phải bước đi thì em đã biết; nhưng các tế bào của thể xác cần được làm cho nhạy bén nhanh hơn, và điều này phải thực hiện bằng cách mang năng lượng vào chứ không phải qua chế độ ăn uống hay [264] các phương tiện cõi hồng trần khác. Trong sáu tháng tới, hãy gửi năng lượng mà em có thể tiếp xúc đến trung tâm cổ họng—không phải đến cổ họng vật lý, mà đến trung tâm nằm phía sau cơ quan vật lý ấy dọc theo cột sống, và tuy vậy lại hoàn toàn ở bên ngoài thể xác. Mọi đệ tử cần ghi nhớ sự kiện này. Bảy trung tâm năng lượng được tìm thấy cách vị trí thường được chỉ định của chúng khoảng ba inch về phía sau. Nếu điều này được ghi nhớ, nhiều nguy cơ sinh lý sẽ được tránh khỏi.

Ngài cũng lặp lại tác dụng của việc phụng sự: Phụng sự khơi dậy sự chú ý của linh hồn, và dẫn đến khủng hoảng

Sự dấn thân đến mức cực độ của người đệ tử trong phụng sự rốt cuộc sẽ lôi kéo được sự quan tâm của linh hồn. Sau lần điểm đạo thứ ba, sự cùng cực của linh hồn (nói theo biểu tượng và không mang ý nghĩa thực sự nào đối với người chí nguyện) sẽ khơi dậy sự hợp tác của chân thần. Như vậy, phụng sự chính là phương thức khoa học, trên hết mọi phương thức khác, để khơi dậy sự tích hợp tinh thần và gọi ra các nguồn lực của một Con của Thượng đế thiêng liêng. Tôi nhấn mạnh điều này với em vì tôi mong em, trong năm sắp tới, lưu ý đến những điểm khủng hoảng trong đời sống mình vốn là kết quả của áp lực phải phụng sự.

Luôn luôn phải có những cuộc khủng hoảng của sự thành tựu, vốn sẽ đòi hỏi toàn bộ các nguồn lực của linh hồn. Những điều này phải được phàm ngã đòi hỏi.

Một đoạn quan trọng Chân sư DK nói về giá trị tinh thần của tiền bạc:

Toàn bộ vấn đề liên quan đến tiền bạc là một trong những vấn đề khó khăn nhất vào thời điểm này và đồng thời cũng là một trong những điều đơn giản nhất. Sự khó khăn là do tư tưởng sai lầm mà từ nhiều thế hệ nay đã được áp đặt lên vấn đề này, dẫn đến các thái độ sai lệch, ngay cả nơi những đệ tử tận tâm nhất. Thái độ của nhân loại đối với tiền bạc đã bị nhuốm màu bởi lòng tham, bởi sự chộp giật vì cái tôi thấp, bởi sự ganh tị, bởi dục vọng vật chất và bởi nhu cầu khẩn thiết đầy đau khổ về nó—mà bản thân điều này lại là kết quả của các thái độ sai lầm ấy. Những thái độ sai lầm này dẫn đến [272] các điều kiện kinh tế tai hại mà chúng ta thấy khắp nơi quanh mình. Chúng là những hậu quả từ các nguyên nhân được chính con người khởi phát. Trong việc tái sinh hóa tiền bạc và trong sự thay đổi thái độ của con người đối với nó sẽ xuất hiện sự giải thoát cho thế giới. Nếu điều này không thể xảy ra, thì một tình trạng nghiêm trọng nào đó sẽ nảy sinh; tiền bạc (như ta vẫn biết) sẽ biến mất khỏi mặt đất và tình huống sẽ phải được đối diện theo một cách khác. Hãy hy vọng rằng điều này sẽ không cần thiết mà sẽ có thể thay đổi tư tưởng của nhân loại về tiền bạc sao cho nó được xem như là một tài sản tâm linh lớn lao, như là một trách nhiệm tâm linh rõ ràng và như một phương tiện để thực hiện công việc thực sự vì thế gian. Khi đó, những người giữ tiền sẽ đảm nhận trách nhiệm của họ mà không sợ hãi và với sự hiểu biết đúng đắn. Hiện tại, họ bám giữ tiền bạc vì sợ hãi tương lai và vì thiếu tin tưởng lẫn nhau. Chìa khóa cho việc chi tiêu tiền bạc đúng đắn và sử dụng nó một cách chính xác có thể được tóm gọn trong tuyên bố sau mà tôi mong tất cả các em chú ý:

Cũng như tiền bạc trong quá khứ đã phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình, thì trong tương lai nó phải phục vụ cho nhu cầu nhóm và nhu cầu thế gian. Mỗi đơn vị trước đây đã tìm cách hành xử như một nam châm và thu hút về phía mình những gì mà họ cho là cần thiết—bằng hoạt động cá nhân và lao động nếu không có ảnh hưởng hay học thức, và bằng sự thao túng tài chính khi điều đó khả thi. Trong tương lai, các nhóm phải hành xử như những nam châm; họ phải đảm bảo rằng mình được thúc đẩy bởi tinh thần của tình thương. Tôi đưa ra cho các em một tư tưởng ở đây có thể được mở rộng rất nhiều. Nhu cầu, tình thương và mãnh lực từ hóa là ba yếu tố mà—dù có ý thức hay không—thu hút tiền bạc. Nhưng cả ba yếu tố này phải cùng được biểu lộ. Nhu cầu trong quá khứ không phải lúc nào cũng là thực, mặc dù đã được cảm nhận (đó là ảo cảm và ảo tưởng của thế giới). Tình thương thì ích kỷ hoặc không chân thực; đòi hỏi về các vật chất thì dành cho những điều không cần thiết đối với sức khỏe hay hạnh phúc. Do đó, mãnh lực từ hóa được sử dụng đã có động cơ sai lệch, và tiến trình này—kéo dài trong một thời gian rất lâu—đã dẫn đến tình trạng tài chính nghiêm trọng hiện nay trên thế giới.

Bằng cách chuyển hóa các yếu tố này và biểu lộ các tương ứng cao hơn của chúng—thông qua tình thương đúng đắn, tư tưởng đúng đắn hoặc tham thiền và kỹ thuật đúng đắn—các nhu cầu tài chính [273] của các nhóm mới và của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ được đáp ứng. Tôi đề nghị rằng những ý tưởng này nên được triển khai và phổ biến trong số tất cả những người mà em biết có thể giúp đỡ. Tôi mong em suy ngẫm thật nhiều về những tư tưởng này, vì trong việc giáo dục những người phụng sự thông minh của thế giới, câu hỏi về tiền bạc, về thái độ đúng đắn đối với tiền bạc và việc tham thiền đúng về tiền bạc phải được đối diện một cách mạnh dạn. Sự nhấn mạnh mà một số nhóm lớn đặt vào việc tham thiền để gây quỹ (thường là cho mục đích cá nhân hoặc cho những mục tiêu ích kỷ của tổ chức hay nhóm riêng của họ) đã được dựa trên khái niệm mới nổi lên về việc sử dụng tiền bạc trong nhóm. Tuy nhiên, vì có động cơ ích kỷ và cá nhân, tiền bạc được xem xét trong mối liên hệ với cá nhân chứ không phải với nhóm. Thái độ này phải và sẽ được thay đổi.

Tiền bạc là sự biểu hiện của năng lượng. Mọi năng lượng đều có thể được áp dụng theo nhiều cách khác nhau, vì bản thân nó là một mãnh lực vô ngã và mù quáng. Nó có thể được sử dụng một cách ích kỷ hay vô vị kỷ. Đó chính là sự khác biệt chủ yếu. Động cơ và tư tưởng sáng tạo quyết định mãnh lực từ hóa của bất kỳ cá nhân, nhóm hay trung tâm nào. Hãy xác định động cơ của em; đảm bảo rằng lý tưởng và tình thương của nhóm là điều chi phối; hãy hành động khéo léo; điều này sẽ bao hàm việc tham thiền chuẩn bị đúng đắn, cùng với tư tưởng chính xác; rồi em sẽ thấy rằng những gì em cần sẽ đến với em.

Về việc làm việc cùng với người khác:

Hãy trở thành một trung tâm toả sáng rõ ràng của sự sống từ tính, kết hợp những người mà em có thể làm việc cùng thông qua tình thương và sự thấu hiểu. Đó là một nhiệm vụ khó khăn và nặng nề vì nó có nghĩa là đưa nhiều yếu tố—vốn không thể dung hợp với nhau—vào trong các mối liên kết của sự phụng sự. Điều này đòi hỏi sự thấu hiểu, phân tích con người và một công việc chậm rãi, kiên nhẫn. Khi công việc của em phát triển và phạm vi ảnh hưởng của nó mở rộng, em sẽ ngày càng phải đối mặt với những điều rối rắm và khó khăn phát sinh từ các mối quan hệ giữa con người với nhau. Những điều này cần được xử lý bằng sự vô ngã, tình thương và im lặng.

Một chi tiết thú vị mà Ngài nói về việc phụng sự bằng cách lan tỏa từ tính của bộ sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới: Các quyển sách sẽ phục vụ như một trung tâm từ tính thu hút những người tầm đạo đến với Ashram của Chân sư, và các đệ tử được chấp nhận phải là tác nhân lan tỏa từ lực đó thông qua tham thiền về quyển sách:

Tôi mong em lấy quyển sách mới, Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, và mỗi ngày tham thiền về ý nghĩa, tính hữu dụng và giá trị giáo huấn của nó trong thời kỳ hậu chiến sắp đến. Hãy đọc nó một cách cẩn thận, ngay cả khi em đã biết nhiều điều được nói đến trong đó; hãy kiến tạo một hình tư tưởng về quyển sách và hình dung nó lan tỏa đến tận cùng Trái Đất. Quyển sách này, nếu được phân phối đúng cách, có thể đóng vai trò như một nam châm lớn, thu hút những người từ khắp nơi trên địa cầu vào các Ashram của các Chân sư, và nhờ đó gia tăng năng lực của các công nhân phụng sự nhân loại cũng như gia tăng số lượng của họ. Quyển sách này nên được phát ra trên đôi cánh của tham thiền, và nếu em mong muốn, em có thể trở thành một điểm hội tụ mãnh liệt trên các cõi bên trong trong tiến trình tham thiền ấy. Em có sẵn sàng cùng tôi khởi động quyển sách này trên hành trình phụng sự của nó không, huynh đệ của tôi? Tôi biết rằng em sẽ hiến dâng sự phụng sự này cho những ai đang tìm kiếm Ánh Sáng, và cho tôi, vì tôi là một trong những người phân phối Ánh Sáng.

Một đệ tử trở nên từ hoá về mặt tinh thần; sự bức xạ của y bắt đầu tạo ảnh hưởng; điều này tất yếu sẽ xảy ra khi đầu và tim được liên kết một cách có ý thức. Dần dần, từ lực và sự bức xạ ấy tạo ra ảnh hưởng rõ rệt trong môi trường của người đệ tử và khơi dậy sự đáp ứng từ người khác. Không chỉ như vậy, rung động từ lực và bức xạ ấy còn thu hút sự chú ý của Chân sư, và người đệ tử tìm được đường vào Ashram dọc theo tuyến hoặc tia sáng phát ra từ chính hoạt động bức xạ của mình, vốn đồng dạng với bức xạ của Ashram. Ở đó, sự huấn luyện được gia cường mà y nhận lãnh khiến y càng trở nên hữu hiệu về mặt tinh thần và “hấp dẫn một cách huyền bí” hơn nữa trong thế giới của loài người. Y tiếp tục nhiệm vụ tập hợp quanh mình những ai mà y có thể giúp đỡ và những người nhận ra y là người trợ giúp và hướng đạo đã được chọn. Như thế, một Ashram được hình thành—mỗi Ashram theo rung động của cung riêng mình, và mỗi Ashram cần nhiều thời gian và nhiều kiếp sống lựa chọn và bức xạ để được hình thành. Ngày nay có nhiều đệ tử—như em—đang được huấn luyện để đảm trách giai đoạn này của công việc Thánh đoàn giữa lòng nhân loại. Điều này có thể được diễn tả như là động cơ nền tảng và mục tiêu của Thánh đoàn đằng sau Trường Nội Môn. Mỗi đệ tử trong Ashram của tôi nên ý thức rằng đời sống hiện tại và kiếp kế tiếp phải chứng kiến y bắt đầu tập hợp quanh mình những người thuộc về y. Quyển sách mới này được viết ra để hỗ trợ cho tiến trình ấy, và chính trên khía cạnh này mà tôi mong em hỗ trợ trong tham thiền.

***