PART II — PHẦN II
LIGHT ON THE PATH — ÁNH SÁNG TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO
CHAPTER 1 — CHƯƠNG 1
THE PRELIMINARY COMMENT — LỜI BÌNH SƠ KHỞI
|
C.W.L.—The second part of Light on the Path assumes that the student has passed the First Initiation; it carries the man on through the steps of the Path leading up to the Adept level. But a second and higher interpretation of it begins beyond that, and helps to guide the man who has already become an Adept on to His next stage. Swarm T. Subba Row, who knew a great deal about these matters, told me once that there were really seven meanings for this book—seven ways in which it could be interpreted—all apparently at different levels, and he said that the highest interpretations carried a man up to the Initiation of the Mahachohan. That, of course, is dealing with matters which are absolutely beyond our ken. We could not possibly understand to what it refers at such a high level, so it is useless for us even to seek for such an interpretation. It is possible that we may be able to form some idea of a double meaning, but anything beyond that will certainly be quite out of our reach. |
C.W.L.—Phần thứ hai của Ánh sáng trên Đường Đạo giả định rằng đạo sinh đã vượt qua lần điểm đạo thứ nhất; nó đưa con người đi qua các bước của Đường Đạo dẫn lên đến cấp độ Chân sư. Nhưng một cách diễn giải thứ hai và cao hơn của phần này bắt đầu vượt quá đó, và giúp hướng dẫn người đã trở thành một Chân sư đi đến giai đoạn kế tiếp của Ngài. Swami T. Subba Row, người biết rất nhiều về các vấn đề này, từng nói với tôi rằng thật ra có bảy ý nghĩa cho quyển sách này—bảy cách để diễn giải nó—tất cả dường như ở các cấp độ khác nhau, và ông nói rằng những diễn giải cao nhất đưa một người lên đến điểm đạo của Đức Mahachohan. Dĩ nhiên, điều đó đề cập đến những vấn đề hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Chúng ta không thể nào thấu hiểu nó nói đến điều gì ở một cấp độ cao như thế, nên ngay cả việc tìm kiếm một diễn giải như vậy đối với chúng ta cũng là vô ích. Có thể chúng ta sẽ hình thành được một ý niệm nào đó về một ý nghĩa kép, nhưng bất cứ điều gì vượt quá điều đó chắc chắn sẽ hoàn toàn ngoài tầm với của chúng ta. |
|
In what we have already studied we have been told to cast off the lower self—the personality. In the higher interpretation, that would mean casting off the individuality. Just as the first part in its lowest interpretation was thus intended to produce the union of the higher and lower self, so in its second interpretation it aims at the unity of the ego with the Monad; that which is the second interpretation of the first part must be the first interpretation of the second part, since it follows from the first. It would be well for us to bear that in mind; then here and there we may be able to catch a glimpse of what must be the meaning of the next interpretation higher still. |
Trong những điều chúng ta đã nghiên cứu, chúng ta đã được bảo phải vứt bỏ phàm ngã—phàm nhân. Trong cách diễn giải cao hơn, điều đó có nghĩa là vứt bỏ cá thể tính. Cũng như phần thứ nhất, trong cách diễn giải thấp nhất của nó, được nhằm để tạo nên sự hợp nhất của chân ngã và phàm ngã, thì trong cách diễn giải thứ hai, nó nhắm đến sự hợp nhất của chân ngã với chân thần; điều vốn là cách diễn giải thứ hai của phần thứ nhất phải là cách diễn giải thứ nhất của phần thứ hai, vì nó theo sau phần thứ nhất. Chúng ta nên ghi nhớ điều đó; rồi đây đó chúng ta có thể bắt được một thoáng nhìn về ý nghĩa hẳn phải có của cách diễn giải kế tiếp, còn cao hơn nữa. |
|
Out of the silence that is peace a resonant voice shall arise. And this voice will say: It is not well; thou has reaped, now thou must sow. And knowing this voice to be the silence itself thou wilt obey. |
Từ sự im lặng vốn là bình an, một tiếng nói vang dội sẽ nổi lên. Và tiếng nói này sẽ nói: Điều ấy không tốt; ngươi đã gặt, nay ngươi phải gieo. Và biết tiếng nói này chính là sự im lặng, ngươi sẽ vâng theo. |
|
Thou who art now a disciple, able to stand, able to hear, able to see, able to speak, who hast conquered desire and attained to self-knowledge, who hast seen thy soul in its bloom and recognized it, and heard the Voice of the Silence—go thou to the Hall of Learning and read what is written there for thee. |
Ngươi, người nay là một đệ tử, có thể đứng vững, có thể nghe, có thể thấy, có thể nói, người đã chinh phục dục vọng và đạt đến sự tự tri, người đã thấy linh hồn mình trong lúc nở hoa và nhận biết nó, và đã nghe Tiếng Nói của Im Lặng—hãy đi đến Phòng Học Tập và đọc những gì được viết ở đó cho ngươi. |
|
That is the introduction to this second part, written by the Venetian Master. First of all, perhaps, one ought to refer to those opening words: “Out of the silence that is peace a resonant voice shall arise. And knowing this voice to be the silence itself thou wilt obey.” There has been much speculation among Theosophists as to the exact meaning of the voice of the silence, but it is now generally understood that the expression does not always mean the same thing. The silence is always that which lies just above the point which the man has reached, and the voice of the silence is the voice coming down to him from above, the voice of the inner self, as we have already seen.58 |
Đó là lời mở đầu cho phần thứ hai này, do Chân sư Venice viết. Trước hết, có lẽ, ta nên đề cập đến những lời mở đầu ấy: “Từ sự im lặng vốn là bình an, một tiếng nói vang dội sẽ nổi lên. Và biết tiếng nói này chính là sự im lặng, ngươi sẽ vâng theo.” Đã có nhiều suy đoán giữa các nhà Thông Thiên Học về ý nghĩa chính xác của tiếng nói của im lặng, nhưng nay người ta thường hiểu rằng cách diễn đạt ấy không phải lúc nào cũng có cùng một nghĩa. Sự im lặng luôn là điều nằm ngay phía trên điểm mà con người đã đạt tới, và tiếng nói của im lặng là tiếng nói đi xuống với y từ bên trên, tiếng nói của bản ngã bên trong, như chúng ta đã thấy. |
|
In all cases this voice which speaks from above is that which when heard must be obeyed, and to the newly initiated man (if we take the lower interpretation), or to him who has attained Adeptship (if we consider the higher interpretation), this voice says that while he is resting in the enjoyment of this wonderful peace, it is not well to rest too long. In the silence the man has remained in wonder at the glory of all he has received by Initiation; he will rest in contemplation awhile; he will spend some little time in studying everything in the new light that has come to him. He is now recalled by the voice, which tells him that he has reaped, and now he must sow again. Since the man has reached this level and gained all that it means in knowledge and certainty and peace, he must try to communicate these gifts to others. He must not rest satisfied with having attained them himself. |
Trong mọi trường hợp, tiếng nói phát ra từ bên trên này là điều mà khi nghe thấy thì phải vâng theo; và đối với người mới được điểm đạo, nếu chúng ta lấy cách diễn giải thấp hơn, hoặc đối với người đã đạt Chân sư vị, nếu chúng ta xét cách diễn giải cao hơn, tiếng nói này bảo rằng trong khi y đang nghỉ ngơi trong sự hưởng thụ nền bình an kỳ diệu này, thì không tốt nếu nghỉ quá lâu. Trong sự im lặng, con người đã ở lại trong niềm kinh ngạc trước vinh quang của tất cả những gì y đã nhận được qua điểm đạo; y sẽ nghỉ trong chiêm ngưỡng một thời gian; y sẽ dành một ít thời gian để nghiên cứu mọi sự trong ánh sáng mới đã đến với y. Nay y được tiếng nói gọi trở lại, tiếng nói bảo y rằng y đã gặt, và nay y phải gieo trở lại. Vì con người đã đạt đến cấp độ này và thu nhận tất cả những gì cấp độ ấy hàm chứa trong tri thức, sự chắc chắn và bình an, y phải cố gắng truyền đạt những ân huệ này cho người khác. Y không được tự mãn với việc chính mình đã đạt được chúng. |
|
The Chohan goes on to remind the student of his qualifications: “Thou art now a disciple, able to stand, able to hear, able to see, able to speak.” And the explanation of the Master is that to be able to stand is to have confidence. Now, the man has that confidence because he knows. At the First Initiation the disciple has received a definite touch with the buddhic plane. He has had experience in connection with that, not necessarily of very long duration, but it has been definite, so that he knows for himself that there is such a reality, and that life is one. |
Đức Chohan tiếp tục nhắc đạo sinh về các tư cách của y: “Ngươi nay là một đệ tử, có thể đứng vững, có thể nghe, có thể thấy, có thể nói.” Và lời giải thích của Chân sư là có thể đứng vững tức là có niềm tin chắc. Nay con người có niềm tin chắc ấy bởi vì y biết. Ở lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử đã nhận được một sự tiếp xúc xác định với cõi Bồ đề. Y đã có kinh nghiệm liên quan đến điều đó, không nhất thiết kéo dài lâu, nhưng nó đã xác định, đến nỗi y tự mình biết rằng có một thực tại như thế, và sự sống là một. |
|
Then comes a long note by the Master Hilarion, and we can see at once from looking at that note that He is dealing with the whole matter very differently in this second part. Before, He gave us what we might call a general comment upon what was said; here He explains practically every word of the text, so that evidently He regards this as something much more difficult to understand, requiring explanation rather than mere comment. |
Rồi đến một ghi chú dài của Chân sư Hilarion, và nhìn ngay vào ghi chú ấy chúng ta có thể thấy rằng trong phần thứ hai này Ngài xử lý toàn bộ vấn đề theo một cách rất khác. Trước kia, Ngài trao cho chúng ta điều có thể gọi là một lời bình chung về những gì đã được nói; ở đây, Ngài giải thích thực tế từng lời của bản văn, nên hiển nhiên Ngài xem đây là điều khó thấu hiểu hơn nhiều, cần giải thích hơn là chỉ bình luận. |
|
He says to begin with: |
Ngài mở đầu bằng lời: |
|
To be able to stand is to have confidence; to be able to hear is to have opened the doors of the soul. |
Có thể đứng vững là có niềm tin chắc; có thể nghe là đã mở các cánh cửa của linh hồn. |
|
The expression “doors of the soul” reminds one of the Pali name given to the first qualification on the probationary path, which is discrimination between the real and the unreal. In Pali it is called manodwaravaj-jana, which means “the opening the doors of the mind”.59 The man’s mind becomes open to the difference between the things which are worth following and the things which are not, and so they say his mind has opened its doors to receive the truth. At Initiation he has to open more doors, those of the soul; in other words, he has to acquire buddhic consciousness. Then for -the first time the man is really a soul, and is looking at things from the point of view of a soul. Below that level there is separation, due to matter, so even in the causal body he is still a long way from the real meaning of existence as the soul looks at it. But with the realization of buddhic consciousness the man is drawn into a condition which differs in kind, not only in degree, from what has gone before. Therefore so much importance is attached to it. Therefore it is made part of the First Initiation, though it is quite open to us to attain that consciousness apart from and before we reach Initiation. |
Cách diễn đạt “các cánh cửa của linh hồn” nhắc ta nhớ đến danh xưng Pali được đặt cho tư cách đầu tiên trên Con Đường Dự Bị, tức là sự phân biện giữa thực và phi thực. Trong tiếng Pali, nó được gọi là manodwaravajjana, nghĩa là “sự mở các cánh cửa của thể trí”. Thể trí của con người trở nên mở ra đối với sự khác biệt giữa những điều đáng theo đuổi và những điều không đáng, và vì vậy người ta nói thể trí của y đã mở các cánh cửa để tiếp nhận chân lý. Ở điểm đạo, y phải mở thêm các cánh cửa nữa, tức là các cánh cửa của linh hồn; nói cách khác, y phải đạt được tâm thức Bồ đề. Khi ấy, lần đầu tiên con người thật sự là một linh hồn, và nhìn mọi sự từ quan điểm của một linh hồn. Dưới cấp độ ấy có sự chia cách do vật chất, nên ngay cả trong thể nguyên nhân, y vẫn còn rất xa ý nghĩa đích thực của hiện tồn như linh hồn nhìn thấy. Nhưng với sự chứng nghiệm tâm thức Bồ đề, con người được cuốn vào một trạng thái khác biệt về loại, không chỉ về mức độ, so với những gì đã đi trước. Vì vậy, người ta gán tầm quan trọng lớn lao như thế cho nó. Vì vậy, nó được làm thành một phần của lần điểm đạo thứ nhất, dù chúng ta hoàn toàn có thể đạt đến tâm thức ấy tách khỏi và trước khi chúng ta đạt điểm đạo. |
|
To be able to see is to have attained perception. |
Có thể thấy là đã đạt được tri giác. |
|
Although it is true that the initiate directly sees considerably more than the ordinary man of the physical world does, it is also true that from what he sees he can infer very much more than can be easily told or accurately understood. Thoughtful men have long been wondering and discussing and arguing as to whether or not God exists. No trained clairvoyant ever argues that question, because he knows. I do not mean to say that he sees God. “No man hath seen God at any time,” you will read in the Christian Scriptures.60 That is not quite true if you speak of the Solar Logos; but even so it is true for the vast majority of students. But though most men have never seen electricity they have plenty of proof that there is such a thing; that we have light, and that our tram-cars are driven by its agency, proves to us that there is such a force, though we have never seen it. Just in the same way the clairvoyant who has never seen the solar Deity has yet seen sufficient evidence of His work to prove that He must exist. That is our position with regard to many Theosophical doctrines referring to higher matters. We do not always know directly, but we see results. |
Dù đúng là điểm đạo đồ trực tiếp thấy nhiều hơn đáng kể so với người bình thường của thế giới hồng trần, cũng đúng là từ những gì y thấy, y có thể suy ra nhiều điều hơn rất nhiều so với những gì có thể dễ dàng kể lại hoặc thấu hiểu chính xác. Những người suy tư từ lâu đã tự hỏi, thảo luận và tranh luận xem Thượng đế có hiện hữu hay không. Không một nhà thông nhãn được huấn luyện nào từng tranh luận câu hỏi ấy, bởi y biết. Tôi không có ý nói rằng y thấy Thượng đế. “Chưa từng có người nào thấy Thượng đế vào bất cứ lúc nào,” các bạn sẽ đọc thấy trong Kinh Thánh Kitô. Điều đó không hoàn toàn đúng nếu các bạn nói về Thái dương Thượng đế; nhưng ngay cả như vậy, nó vẫn đúng đối với đại đa số đạo sinh. Nhưng dù phần lớn con người chưa từng thấy điện, họ vẫn có nhiều bằng chứng rằng có một điều như thế; việc chúng ta có ánh sáng, và xe điện của chúng ta chạy nhờ tác lực của nó, chứng minh cho chúng ta rằng có một mãnh lực như vậy, dù chúng ta chưa từng thấy nó. Cũng đúng như thế, nhà thông nhãn chưa từng thấy Thượng đế thái dương vẫn đã thấy đủ bằng chứng về công việc của Ngài để chứng minh rằng Ngài phải hiện hữu. Đó là vị thế của chúng ta đối với nhiều giáo lý Thông Thiên Học liên quan đến những vấn đề cao siêu. Không phải lúc nào chúng ta cũng biết trực tiếp, nhưng chúng ta thấy các kết quả. |
|
No one below the rank of the Adept can see the Monad, but the Arhat may know of its existence. On the nirvanic plane, which is that next below the habitat of the Monad, we see a triple manifestation, which we call the triple spirit.61 The rays which make that threefold manifestation are obviously converging as they rise to the highest point. We can see that they must become one, though the actual unity is out of our sight. The phenomena which we see with regard to them indicate that they can be only three facets of one great body, or great light. So although we do not actually know by our own sight that the Monad exists, we accept it on the evidence which we can utterly trust—the testimony of our Masters—and the phenomena which we can see on the highest plane we can reach demand that there shall be such a reality as that. |
Không ai dưới cấp bậc Chân sư có thể thấy chân thần, nhưng vị La Hán có thể biết về sự hiện hữu của nó. Trên cõi Niết Bàn, là cõi ngay dưới trú xứ của chân thần, chúng ta thấy một biểu lộ tam phân, mà chúng ta gọi là tinh thần tam phân. Các tia tạo nên biểu lộ tam phân ấy hiển nhiên hội tụ khi chúng vươn lên điểm cao nhất. Chúng ta có thể thấy rằng chúng phải trở thành một, dù sự hợp nhất thực sự nằm ngoài tầm nhìn của chúng ta. Các hiện tượng mà chúng ta thấy liên quan đến chúng chỉ ra rằng chúng chỉ có thể là ba mặt của một thể lớn, hay một ánh sáng lớn. Vì vậy, dù chúng ta không thật sự biết bằng thị giác của chính mình rằng chân thần hiện hữu, chúng ta chấp nhận điều đó trên bằng chứng mà chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy—chứng ngôn của các Chân sư của chúng ta—và các hiện tượng mà chúng ta có thể thấy trên cõi cao nhất chúng ta có thể đạt tới đòi hỏi phải có một thực tại như thế. |
|
We have been told by these Great Ones of certain things which as yet are out of our reach, but in every case when we have taken an additional step we have been able to realize more of those things which have been told. This has happened to us over and over again. So although when one attains the level to which this text refers I do not say that he will see the Logos, I do say he will see such evidence of His existence as will make it quite impossible to doubt it. Seeing that/and also the working of the evolutionary law, one gains absolute certainty that all is well. |
Các Đấng Cao Cả này đã nói với chúng ta về một số điều hiện còn ngoài tầm với của chúng ta, nhưng trong mọi trường hợp, khi chúng ta bước thêm một bước, chúng ta đã có thể chứng nghiệm nhiều hơn về những điều đã được nói. Điều này đã xảy ra với chúng ta hết lần này đến lần khác. Vì vậy, dù khi một người đạt đến cấp độ mà bản văn này nói đến, tôi không nói rằng y sẽ thấy Thượng đế, nhưng tôi nói rằng y sẽ thấy những bằng chứng về sự hiện hữu của Ngài đến mức khiến cho việc nghi ngờ điều đó hoàn toàn không thể. Thấy điều đó, và cũng thấy hoạt động của định luật tiến hoá, người ta đạt được sự chắc chắn tuyệt đối rằng mọi sự đều tốt đẹp. |
|
A little of the higher sight does bring the certainty that all is well, and that is a very great thing indeed. I suppose that until one reaches it he hardly knows what it is—the absolute certainty that nothing can finally go wrong, that however dark things, may seem it is only seeming, and presently the clouds will break and the everlasting sunshine which has been there all the time will show through once more. |
Một chút linh thị cao hơn quả thật đem lại sự chắc chắn rằng mọi sự đều tốt đẹp, và đó thật sự là một điều rất vĩ đại. Tôi cho rằng cho đến khi một người đạt tới điều ấy, y hầu như không biết nó là gì—sự chắc chắn tuyệt đối rằng cuối cùng không điều gì có thể sai hỏng, rằng dù mọi sự có thể trông tối tăm đến đâu, đó chỉ là vẻ ngoài, và rồi mây sẽ tan, ánh nắng vĩnh cửu vốn đã ở đó suốt thời gian qua sẽ lại chiếu xuyên qua. |
|
It is perhaps not so hard with a little practice to think that all is going well for oneself. As we go through life we meet with all sorts of troubles and difficulties, and even apart from occultism the theosophically minded man soon comes to recognize that it is not so much what happens to him that matters as his own attitude towards the happening—that he can make himself very happy under circumstances which would make many other people miserable. The reverse is also true; a man may contrive to make himself unhappy amid circumstances which would make most other people happy. So it may not be so difficult to come to believe that all is working for good so far as oneself is concerned; but it is much harder to believe it for those we love, if we see them getting into trouble, making mistakes and suffering in various ways. It is much harder to believe that all is being properly managed as regards them, because one naturally feels a protective interest; one wants to shield them from these blows of karma. |
Có lẽ không quá khó, với một ít thực hành, để nghĩ rằng mọi sự đang diễn tiến tốt đẹp cho chính mình. Khi đi qua đời sống, chúng ta gặp đủ loại phiền não và khó khăn, và ngay cả ngoài huyền bí học, người có khuynh hướng Thông Thiên Học sớm nhận ra rằng điều quan trọng không phải là điều gì xảy đến với y cho bằng thái độ của chính y đối với sự việc xảy ra—rằng y có thể làm cho mình rất hạnh phúc trong những hoàn cảnh khiến nhiều người khác khốn khổ. Điều ngược lại cũng đúng; một người có thể xoay xở làm cho mình bất hạnh giữa những hoàn cảnh khiến phần lớn người khác hạnh phúc. Vì vậy, có thể không quá khó để đi đến chỗ tin rằng mọi sự đang vận hành vì điều thiện, xét trong phạm vi chính mình; nhưng khó hơn nhiều để tin điều ấy đối với những người chúng ta yêu thương, nếu chúng ta thấy họ rơi vào phiền não, phạm sai lầm và đau khổ theo nhiều cách. Khó hơn nhiều để tin rằng mọi sự đang được điều hành đúng đắn liên quan đến họ, bởi người ta tự nhiên cảm thấy một mối quan tâm bảo vệ; người ta muốn che chở họ khỏi những đòn đánh của nghiệp quả. |
|
They say that love is blind. It may perhaps blind one a little in that way. My own personal experience, however, is the other way—that strong affection makes a person particularly keen-eyed with regard to a fault, in order that one may help to get it out of the way. The proverb is taken to mean that one does not see the faults of the person loved; however that may be, when something of the sense of reality is attained one of the great benefits that one gains from it is that he is then quite sure, both for himself and for those whom he loves, that all things are working together for good, and that the eventual result will in every case be the best that could be gained. It is a great source of peace to have that certainty. |
Người ta nói rằng tình thương là mù quáng. Có lẽ nó có thể làm người ta hơi mù theo cách ấy. Tuy nhiên, kinh nghiệm cá nhân của tôi lại ngược lại—tình thương mạnh mẽ khiến một người đặc biệt tinh mắt đối với một lỗi lầm, để người ta có thể giúp loại bỏ nó. Tục ngữ ấy được hiểu là người ta không thấy các lỗi lầm của người được yêu; dù thế nào đi nữa, khi đạt được một phần nào đó của ý thức về thực tại, một trong những lợi ích lớn lao mà người ta thu nhận từ đó là y bấy giờ hoàn toàn chắc chắn, cho cả chính mình và những người y yêu thương, rằng mọi sự đang cùng vận hành vì điều thiện, và kết quả cuối cùng trong mọi trường hợp sẽ là điều tốt nhất có thể đạt được. Có được sự chắc chắn ấy là một nguồn bình an lớn lao. |
|
To be able to speak is to have attained the power of helping others. |
Có thể nói là đã đạt được quyền năng giúp đỡ người khác. |
|
It is significant that He chooses speaking as the way in which we can most easily help others. It is true for most of us. We can do various things on the physical plane in the way of helping others, but perhaps the greatest help which we as Theosophists can give to others is by speech, or writing, which is only another form of speech. We can put before them what we know. Very few of us have direct knowledge of these matters, but we have a certain interior conviction for which we could not, if pressed back to the ultimate, give an actual reason. What gives such tremendous power to what Dr. Besant says is that people feel when she speaks that she is speaking of that which she knows. She has in addition the most marvellous eloquence. One cannot hope to attain to that in a short time, for eloquence is not a gift. It has been earned, by very hard work continued through many lives. She has turned a great deal of her intellectual power through many lives in the direction of speech. The result of such practice is that she can do it well. I remember someone complimenting her on her wonderful eloquence. She replied: “Well, I have been speaking in public for twelve thousand years; I suppose I ought to know something about it by this time.” It is exactly that practice that has given her such remarkable power, and it is only by a commensurate amount of work that we can hope to gain it. However, any of us, without that marvellous eloquence, can speak about the things which we know, and our conviction will carry confidence to others. |
Điều đáng chú ý là Ngài chọn lời nói như phương tiện nhờ đó chúng ta có thể dễ dàng giúp đỡ người khác nhất. Điều đó đúng với phần lớn chúng ta. Chúng ta có thể làm nhiều việc khác nhau trên cõi hồng trần để giúp đỡ người khác, nhưng có lẽ sự giúp đỡ lớn nhất mà chúng ta, với tư cách là những nhà Thông Thiên Học, có thể trao cho người khác là bằng lời nói, hoặc bằng chữ viết, vốn chỉ là một hình thức khác của lời nói. Chúng ta có thể đặt trước họ những gì chúng ta biết. Rất ít người trong chúng ta có tri thức trực tiếp về những vấn đề này, nhưng chúng ta có một niềm xác tín bên trong nào đó mà, nếu bị truy hỏi đến tận cùng, chúng ta không thể đưa ra một lý do thực sự. Điều trao quyền năng lớn lao như thế cho những gì Bà Besant nói là người ta cảm thấy khi bà nói rằng bà đang nói về điều bà biết. Ngoài ra, bà còn có tài hùng biện kỳ diệu nhất. Người ta không thể hy vọng đạt được điều đó trong một thời gian ngắn, vì hùng biện không phải là một ân huệ. Nó đã được giành lấy bằng lao động rất gian khổ kéo dài qua nhiều kiếp sống. Bà đã hướng phần lớn quyền năng trí tuệ của mình qua nhiều kiếp sống về phía lời nói. Kết quả của sự thực hành như thế là bà có thể làm điều đó rất tốt. Tôi nhớ có người khen bà về tài hùng biện kỳ diệu của bà. Bà đáp: “Tôi đã nói trước công chúng mười hai nghìn năm rồi; tôi cho rằng đến lúc này tôi cũng phải biết đôi điều về việc ấy.” Chính sự thực hành ấy đã trao cho bà quyền năng đáng kể như vậy, và chỉ bằng một lượng công việc tương xứng chúng ta mới có thể hy vọng đạt được nó. Tuy nhiên, bất kỳ ai trong chúng ta, dù không có tài hùng biện kỳ diệu ấy, cũng có thể nói về những điều mình biết, và niềm xác tín của chúng ta sẽ truyền niềm tin chắc cho người khác. |
|
Just in so far as we feel sure ourselves can we impart our conviction to others and be a real help to them; therefore if it were for that reason alone it is worth while to seek to attain that conviction. We should study more and more fully, and not be satisfied with merely superficial views of Theosophical ideas; we need to live into them. I know there are members of the Theosophical Society who have belonged to it for twenty years and do not know any more now than the day they joined. But I also know that a great many of the older members have gradually lived into the teachings until these have become, as it were, part of themselves and they are able to speak with certainty and indeed, to feel a certainty which the newer students, however enthusiastic, do not readily acquire. It remains true now, as it was in the days of old: “If any man will do His will, he shall know of the doctrine, whether it be of God.62“.) The only way to attain certainty before one can see at all for oneself is to live as though it were true. In doing that, evidences will gradually accumulate round one that this is so, and though each one of those may perhaps seem small in itself, taken together they will constitute a testimony which one cannot doubt or deny. |
Chỉ trong chừng mực chúng ta tự mình cảm thấy chắc chắn, chúng ta mới có thể truyền niềm xác tín của mình cho người khác và là một sự trợ giúp thật sự cho họ; vì vậy, dù chỉ vì lý do ấy thôi, việc tìm cách đạt được niềm xác tín đó cũng đáng làm. Chúng ta nên nghiên cứu ngày càng đầy đủ hơn, và không hài lòng với những quan điểm chỉ hời hợt về các ý tưởng Thông Thiên Học; chúng ta cần sống vào trong chúng. Tôi biết có những hội viên của Hội Thông Thiên Học đã thuộc về hội hai mươi năm mà nay không biết nhiều hơn ngày họ gia nhập. Nhưng tôi cũng biết rằng rất nhiều hội viên lâu năm đã dần dần sống vào trong các giáo huấn cho đến khi các giáo huấn ấy trở thành, có thể nói, một phần của chính họ, và họ có thể nói với sự chắc chắn, và quả thật, cảm thấy một sự chắc chắn mà các đạo sinh mới hơn, dù nhiệt thành đến đâu, không dễ dàng đạt được. Điều này vẫn đúng hiện nay, như đã đúng trong những ngày xưa: “Nếu ai muốn làm theo ý muốn của Ngài, người ấy sẽ biết giáo lý ấy có thuộc về Thượng đế hay không.” Con đường duy nhất để đạt được sự chắc chắn trước khi một người có thể tự mình thấy chút nào là sống như thể điều ấy là thật. Khi làm như vậy, các bằng chứng sẽ dần dần tích tụ quanh người ấy rằng điều này là như thế, và dù mỗi bằng chứng ấy có thể tự nó có vẻ nhỏ bé, nhưng khi được gom lại, chúng sẽ cấu thành một chứng ngôn mà người ta không thể nghi ngờ hay phủ nhận. |
|
To have conquered desire is to have learned how to use and control the self; to have attained to self-knowledge is to have retreated to the inner fortress whence the personal man can be viewed with impartiality. |
Đã chinh phục dục vọng là đã học cách sử dụng và kiểm soát bản ngã; đã đạt đến sự tự tri là đã rút lui vào thành trì bên trong, từ đó phàm nhân có thể được nhìn với sự vô tư. |
|
The inner fortress is, of course, the ego in this case. There is a further stage where the inner fortress is the Monad, with which the ego must be unified. I have already explained how the ego puts himself down into the personality. Let us have it clearly in mind. The Monad puts down a ray of himself—that is about as near a simile as we can find for it—into the nirvanic plane, the next below his own. That breaks into three rays and becomes the triple atma, or triple spirit, and the three aspects of that descend1 and manifest on lower planes until it appears as atma-buddhi-manas, which taken together make the ego. Now that ego is only a partial manifestation of the Monad, a small fragment of him, as it were, but nevertheless it behaves as though it were an entirely separate entity,, just as the ordinary person thinks of himself as the separate entity, and is inclined to think of the soul as something which floats vaguely over him, like a captive balloon. |
Thành trì bên trong, dĩ nhiên, trong trường hợp này là chân ngã. Có một giai đoạn xa hơn, nơi thành trì bên trong là chân thần, mà chân ngã phải được hợp nhất với nó. Tôi đã giải thích cách chân ngã tự hạ mình xuống phàm ngã. Chúng ta hãy giữ điều đó rõ ràng trong trí. Chân thần đưa xuống một tia của chính mình—đó là hình ảnh so sánh gần đúng nhất mà chúng ta có thể tìm được—vào cõi Niết Bàn, cõi ngay dưới cõi của chính nó. Tia ấy phân thành ba tia và trở thành atma tam phân, hay tinh thần tam phân, và ba phương diện của nó đi xuống1 và biểu lộ trên các cõi thấp hơn cho đến khi nó xuất hiện như atma-bồ đề-manas, mà khi được lấy chung lại tạo thành chân ngã. Nay chân ngã ấy chỉ là một biểu lộ từng phần của chân thần, có thể nói là một mảnh nhỏ của chân thần, nhưng tuy vậy nó hành xử như thể nó là một thực thể hoàn toàn riêng biệt, cũng như người bình thường nghĩ về mình như một thực thể riêng biệt, và có khuynh hướng nghĩ về linh hồn như một điều gì đó lơ lửng mơ hồ phía trên mình, như một khinh khí cầu bị buộc giữ. |
|
I believe that all Theosophists who have not already done so, would do well to read Human Personality by Prof. Myers, because it is a most remarkable exposition of the relation between the higher and the lower, and it is especially interesting to our members, because he began as a sceptic and ended by having to admit apparitions, and in point of fact all that necessarily follows. I have seen him often. He used to be with Madame Blavatsky a great deal. He was much impressed by what she told him, but never got entire satisfaction. He was always seeking something definite from his intellectual point of view, and that is what practically cannot be given; it is at any rate overwhelmingly difficult to give in regard to anything on higher planes. One cannot express the functions or powers or conditions of the higher planes in terms of the lower at all. This is as impossible as to give the contents of a cube in square measure. The difference is precisely that kind of difference. |
Tôi tin rằng tất cả các nhà Thông Thiên Học nào chưa làm như vậy nên đọc Phàm Ngã Con Người của Giáo sư Myers, bởi đó là một trình bày hết sức đáng chú ý về mối liên hệ giữa cao và thấp, và nó đặc biệt thú vị đối với các hội viên của chúng ta, bởi ông bắt đầu như một người hoài nghi và kết thúc bằng việc phải thừa nhận các hiện hình, và thật ra mọi điều tất yếu theo sau. Tôi đã gặp ông thường xuyên. Ông từng ở bên Bà Blavatsky rất nhiều. Ông rất ấn tượng bởi những gì bà nói với ông, nhưng không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn. Ông luôn tìm kiếm một điều gì xác định từ quan điểm trí tuệ của mình, và đó là điều thực tế không thể trao được; dù sao đi nữa, nó cực kỳ khó trao đối với bất cứ điều gì trên các cõi cao. Người ta hoàn toàn không thể diễn tả các chức năng, quyền năng hay trạng thái của các cõi cao bằng những thuật ngữ của cõi thấp. Điều này cũng bất khả như việc cho nội dung của một khối lập phương bằng thước đo hình vuông. Sự khác biệt chính xác là loại khác biệt ấy. |
|
Prof. Myers was seeking the expression of the higher world in terms of the lower. We can approximate; we can aim at it, and try to stimulate the intuition in our readers and hearers, but we cannot tell it in so many words—not because we are told we must not, but because it cannot be done. People must develop the higher faculties in order to see on the higher planes. We may tell them all we can about the astral world; when they reach that astral world in full consciousness, they will say: “The half has not been told me.” That is true, because it cannot be told. These higher things cannot really be known down here, but at least partially to know them is already a very great comfort and advantage. We may not fully understand, but we know enough to be sure there is no need for fear and doubt, and that at least is a great and glorious benefit which Theosophical study gives us. |
Giáo sư Myers tìm kiếm sự diễn đạt thế giới cao bằng thuật ngữ của thế giới thấp. Chúng ta có thể xấp xỉ; chúng ta có thể nhắm đến điều đó, và cố gắng kích thích trực giác nơi độc giả và thính giả của mình, nhưng chúng ta không thể nói nó bằng từng lời rõ ràng—không phải vì người ta bảo chúng ta không được, mà vì điều đó không thể làm được. Con người phải phát triển các quan năng cao để thấy trên các cõi cao. Chúng ta có thể nói với họ tất cả những gì mình có thể về cõi cảm dục; khi họ đạt đến cõi cảm dục ấy trong tâm thức đầy đủ, họ sẽ nói: “Một nửa vẫn chưa được kể cho tôi.” Điều đó đúng, bởi nó không thể được kể. Những điều cao siêu này thật sự không thể được biết ở dưới này, nhưng ít nhất biết chúng một phần đã là một niềm an ủi và lợi ích rất lớn. Chúng ta có thể không thấu hiểu trọn vẹn, nhưng chúng ta biết đủ để chắc chắn rằng không cần sợ hãi và nghi ngờ, và ít nhất đó là một lợi ích lớn lao và vinh quang mà việc nghiên cứu Thông Thiên Học trao cho chúng ta. |
|
To have seen thy soul in its bloom is to have obtained a momentary glimpse in thyself of the transfiguration which shall eventually make thee more than man. |
Đã thấy linh hồn ngươi trong lúc nở hoa là đã đạt được một thoáng nhìn nhất thời trong chính ngươi về sự Biến hình cuối cùng sẽ làm cho ngươi trở nên hơn con người. |
|
When a man reaches the buddhic consciousness he gains that wider insight which is more than insight because it is also feeling. And it is so wonderful, something so entirely new in the man’s experience, that the Master here refers to it again and again in different ways, approaching it from different points of view. To have the first glimpse of that which shall make thee more than man is to have this first touch of the unity with the Logos, that is, with the God of the solar system. But it must be remembered that at Initiation a man does not attain the full buddhic consciousness, nor does he in any way develop a buddhic vehicle. |
Khi một người đạt đến tâm thức Bồ đề, y đạt được cái nhìn sâu rộng hơn, vốn còn hơn cả cái nhìn sâu, bởi nó cũng là cảm nhận. Và nó kỳ diệu đến thế, là một điều hoàn toàn mới trong kinh nghiệm của con người, đến nỗi Chân sư ở đây nhắc đến nó hết lần này đến lần khác theo những cách khác nhau, tiếp cận nó từ những quan điểm khác nhau. Có thoáng nhìn đầu tiên về điều sẽ làm cho ngươi trở nên hơn con người là có sự tiếp xúc đầu tiên này với sự hợp nhất cùng Thượng đế, tức là với Thượng đế của hệ mặt trời. Nhưng cần nhớ rằng tại điểm đạo, một người không đạt được tâm thức Bồ đề trọn vẹn, cũng không phát triển một vận cụ Bồ đề theo bất cứ cách nào. |
|
The pupil has already practised himself in the development of the buddhic consciousness so that he has usually had experiences at that level. But if he has not, his first experience now takes place, and that is directly related to the fetters which he is beginning to cast off. The first three which have to go are the delusion of self, doubt and superstition. These are all dispelled by that glimpse. He can have no delusion of separateness when he has recognized the unity. He can no longer doubt the facts. He is told he must not doubt evolution, the great law of karma, and the fact that the highest advance is to be attained by holiness. It is assuredly true—the man cannot doubt those things. He can see them in operation, and because he is standing there where many ways meet he knows that there are many roads and that they all lead to the one Bliss; he can no longer hold to the superstition that any one form of belief is necessary to one who has attained that level. He stands upon the mountain peak and sees all the roads which lead up to it, and sees that all are good. So great stress is laid upon this buddhic experience; from any points of view it is the attainment of “a glimpse of that which shall make thee more than man”. |
Đệ tử đã thực hành trước trong việc phát triển tâm thức Bồ đề, nên thường y đã có các kinh nghiệm ở cấp độ ấy. Nhưng nếu y chưa có, thì kinh nghiệm đầu tiên của y nay diễn ra, và điều đó liên hệ trực tiếp với các xiềng xích mà y đang bắt đầu vứt bỏ. Ba xiềng xích đầu tiên phải được loại bỏ là ảo tưởng về bản ngã, nghi ngờ và mê tín. Tất cả những điều này đều bị xua tan bởi thoáng nhìn ấy. Y không thể có ảo tưởng về sự chia cách khi đã nhận biết sự hợp nhất. Y không còn có thể nghi ngờ các sự kiện. Y được bảo rằng y không được nghi ngờ tiến hoá, định luật lớn lao của nghiệp quả, và sự kiện rằng bước tiến cao nhất đạt được bằng sự thánh thiện. Điều đó chắc chắn là thật—con người không thể nghi ngờ những điều ấy. Y có thể thấy chúng đang vận hành, và bởi y đang đứng nơi nhiều con đường gặp nhau, y biết rằng có nhiều con đường và tất cả đều dẫn đến một Chí Phúc duy nhất; y không còn có thể giữ lấy mê tín rằng bất kỳ hình thức tín ngưỡng riêng biệt nào là cần thiết cho người đã đạt đến cấp độ ấy. Y đứng trên đỉnh núi và thấy tất cả những con đường dẫn lên đó, và thấy rằng tất cả đều tốt lành. Vì vậy, kinh nghiệm Bồ đề này được nhấn mạnh rất lớn; từ mọi quan điểm, đó là sự đạt được “một thoáng nhìn về điều sẽ làm cho ngươi trở nên hơn con người”. |
|
For one who has attained Adeptship it means still very much more than that, because He has definitely become One with a certain manifestation of the Deity. As He shows Himself in that set of planes which all taken together make the prakritic plane, the lowest of the great cosmic planes, He shows Himself as Three and yet One, the Ever Blessed Trinity which is yet a glorious Unity. |
Đối với người đã đạt Chân sư vị, điều đó còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa, bởi Ngài đã xác định trở thành Một với một biểu lộ nào đó của Thượng đế. Khi Ngài tự biểu lộ trong tập hợp các cõi mà tất cả được lấy chung lại tạo thành cõi prakriti, cõi thấp nhất trong các cõi vũ trụ lớn, Ngài tự biểu lộ như Ba mà vẫn là Một, Ba Ngôi Hằng Chân Phúc mà vẫn là một Hợp Nhất vinh quang. |
|
Again and again we are told that we must keep these two ideas always in our minds when we think of Him, that we must “neither confound the Persons nor divide the Substance”, but must try as well as we may to grasp the idea of this great Mystery of the Three who yet are One, which cannot be perfectly understood or explained. So much importance has at all times and in almost all religions been attached to a comprehension of that Mystery that it is clearly of great practical importance. Many thousands of people have said that all such doctrines as these are merely of theoretical value, that they make no difference in practical life. That is not quite true. It is unquestionably a necessity that one should understand a little of this at least. All of it we cannot grasp, but at least we should know that there are these three lines of force, and yet that all the force is one and the same; without knowing that we cannot grasp the method by which our world came into existence nor can we understand man, because “God made man in His own image” and man therefore has this same characteristic—that he is three and yet one. Now the Three and the One in our cosmic prakritic plane show themselves by an arrangement very similar to the atma-buddhi-manas in man—or, it would be more correct to say that ours resembles That. |
Hết lần này đến lần khác, chúng ta được bảo rằng phải luôn giữ hai ý tưởng này trong thể trí khi nghĩ về Ngài, rằng chúng ta không được “lẫn lộn các Ngôi cũng không chia rẽ chất liệu”, mà phải cố gắng hết sức có thể để nắm bắt ý tưởng về Bí Nhiệm vĩ đại này của Ba Đấng mà vẫn là Một, điều không thể được thấu hiểu hay giải thích hoàn hảo. Vào mọi thời và trong hầu hết mọi tôn giáo, người ta đã gán tầm quan trọng rất lớn cho việc thấu hiểu Bí Nhiệm ấy, nên rõ ràng nó có tầm quan trọng thực tiễn lớn lao. Hàng nghìn người đã nói rằng mọi giáo lý như thế này chỉ có giá trị lý thuyết, rằng chúng không tạo ra khác biệt nào trong đời sống thực tế. Điều đó không hoàn toàn đúng. Chắc chắn có một sự cần thiết là người ta phải thấu hiểu ít nhất một phần nhỏ về điều này. Toàn bộ điều đó chúng ta không thể nắm bắt, nhưng ít nhất chúng ta nên biết rằng có ba đường mãnh lực này, và tuy vậy mọi mãnh lực đều là một và như nhau; nếu không biết điều đó, chúng ta không thể nắm bắt phương pháp nhờ đó thế giới của chúng ta đi vào hiện hữu, cũng không thể thấu hiểu con người, bởi “Thượng đế tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài”, và vì vậy con người có cùng đặc tính này—rằng y là ba mà vẫn là một. Nay Ba và Một trong cõi prakriti vũ trụ của chúng ta tự biểu lộ bằng một sự sắp đặt rất giống với atma-bồ đề-manas trong con người—hay nói đúng hơn là cái của chúng ta giống với Điều Đó. |
|
We have the highest Spirit on the highest of our planes, and then the second Aspect of that Spirit which descends one plane—and so has within itself two qualities, that on the higher plane and that on the lower. People speak of it as dual; in Christianity we hear of Christ as God and man “, and in The Secret Doctrine we read that “Father-Mother spin a web”.63 That aspect is always two-sided: it is equal to the Father as touching His Godhead, yet when it descends one plane it is inferior to the Father as touching His Manhood. Yet these two are not separate, but they make one Christ, and this Christ is one with the Father. |
Chúng ta có Tinh thần cao nhất trên cõi cao nhất của chúng ta, rồi đến Phương diện thứ hai của Tinh thần ấy, vốn đi xuống một cõi—và do đó có trong chính nó hai phẩm tính, một trên cõi cao hơn và một trên cõi thấp hơn. Người ta nói nó là kép; trong Kitô giáo, chúng ta nghe nói về Đức Christ như Thượng đế và con người, và trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta đọc rằng “Cha-Mẹ dệt một tấm lưới”. Phương diện ấy luôn có hai mặt: nó ngang bằng với Cha về Thần tính của Ngài, nhưng khi nó đi xuống một cõi, nó thấp hơn Cha về Nhân tính của Ngài. Tuy nhiên, hai điều này không tách rời, mà tạo thành một Đức Christ, và Đức Christ này là một với Cha. |
|
Then there is the Third Person of the Blessed Trinity. Descending to the second plane and standing there level with the Son, and then descending one stage further and manifesting in the higher part of what we sometimes call the nirvanic or atmic plane, still beyond anything we can reach, He abides there. Then it will be seen that there are three lines making all together a triangle. We have the horizontal line which connects the three Aspects or Persons at their own level, then there is the perpendicular of the triangle—but coming down in this case from what we may call the base instead of going up to it—which links together the three different states or aspects of the Three Persons; then there is the hypotenuse of the triangle. Now that line, the hypotenuse of the triangle, the square of which is equal to the sum of the squares on the other two sides, represents the Deity. To us down below it represents the Three Persons as Persons, and yet links them together into one. |
Rồi có Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Chân Phúc. Đi xuống cõi thứ hai và đứng ở đó ngang với Con, rồi đi xuống thêm một bậc nữa và biểu lộ trong phần cao hơn của điều đôi khi chúng ta gọi là cõi Niết Bàn hay cõi atma, vẫn vượt ngoài bất cứ điều gì chúng ta có thể đạt tới, Ngài an trụ ở đó. Khi ấy sẽ thấy rằng có ba đường tạo thành một tam giác. Chúng ta có đường ngang nối ba Phương diện hay ba Ngôi ở cấp độ riêng của các Ngài, rồi có đường vuông góc của tam giác—nhưng trong trường hợp này đi xuống từ điều chúng ta có thể gọi là đáy thay vì đi lên đến nó—nối kết ba trạng thái hay phương diện khác nhau của Ba Ngôi; rồi có cạnh huyền của tam giác. Nay đường ấy, cạnh huyền của tam giác, mà bình phương của nó bằng tổng bình phương của hai cạnh kia, tượng trưng cho Thượng đế. Đối với chúng ta ở dưới này, nó tượng trưng cho Ba Ngôi như các Ngôi, và tuy vậy nối kết các Ngài thành một. |
|
A man attains Adeptship when he raises His ordinary consciousness to the nirvanic level, and the very fact which differentiates Him and an Adept is that He has unified the Monad with the ego. Since, then, He has become one with the Monad, He has already reached the level of the third or lowest manifestation of the Deity. Therefore that showers itself upon Him in the manner which is typified by the description of Pentecost. After He has passed through the crucifixion and the resurrection which typify the Arhat level, he has before him the ascension, and after the ascension comes the descent of the Holy Ghost. In the symbol as it is given to us the Christ ascended; and the Holy Ghost descended upon the apostles, according to the story in which it is put before us, independently of the Christ, and after He had left. But in the great Gnostic doctrine in the Pistis Sophia it is said that Christ stayed eleven years after His ascension, teaching His people, whence it will be seen that the descent of the Holy Ghost took place not after but very decidedly during His presence with His church. It must represent the attainment of Adeptship of all those who are typified as the apostles (whoever they really may have been), because “tongues of fire sat upon them”; a statement which points very closely to certain phenomena well known in the East. |
Một người đạt Chân sư vị khi nâng tâm thức bình thường của mình lên cấp độ Niết Bàn, và chính sự kiện phân biệt Ngài với một Chân sư là Ngài đã hợp nhất chân thần với chân ngã. Vì vậy, do Ngài đã trở thành một với chân thần, Ngài đã đạt đến cấp độ của biểu lộ thứ ba hay thấp nhất của Thượng đế. Do đó, điều ấy tuôn xuống trên Ngài theo cách được tượng trưng bởi mô tả về Lễ Ngũ Tuần. Sau khi Ngài đã đi qua cuộc đóng đinh và sự phục sinh, vốn tượng trưng cho cấp độ La Hán, trước mặt Ngài là sự thăng thiên, và sau sự thăng thiên là sự giáng xuống của Chúa Thánh Thần. Trong biểu tượng được trao cho chúng ta, Đức Christ thăng thiên; và Chúa Thánh Thần giáng xuống trên các tông đồ, theo câu chuyện được đặt trước chúng ta, độc lập với Đức Christ, và sau khi Ngài đã rời đi. Nhưng trong giáo lý Ngộ đạo vĩ đại trong Pistis Sophia, người ta nói rằng Đức Christ ở lại mười một năm sau khi thăng thiên, dạy dỗ dân của Ngài, từ đó có thể thấy rằng sự giáng xuống của Chúa Thánh Thần diễn ra không phải sau mà rõ ràng là trong khi Ngài hiện diện với giáo hội của Ngài. Điều đó phải tượng trưng cho sự đạt Chân sư vị của tất cả những ai được biểu trưng như các tông đồ, dù họ thật sự có thể là ai, bởi “những lưỡi lửa đậu trên họ”; một lời khẳng định chỉ rất sát đến một số hiện tượng được biết rõ ở phương Đông. |
|
Those who have seen statues of the Lord Buddha or any of the great saints or deities of India will have noticed that there is often a curious little double dome at the top of the head. Very few have any conception of what it really means. There is at the top of the head a certain chakra spoken of sometimes as “the thousand-petalled lotus”. In the ordinary man it is a vortex or depression in the etheric body, but when a man attains to a certain high level he is able to turn that outward instead of inward, and make of it a mound instead of a depression. That is what they are trying to represent when they depict the Lord Buddha with that curious little double dome rising on the top of the head. That would glow and would give much the impression of a flame of fire. So “tongues of fire” is by no means a bad poetical description. |
Những ai đã thấy các tượng của Đức Phật hoặc bất kỳ vị thánh hay thần linh vĩ đại nào của Ấn Độ sẽ nhận thấy rằng thường có một vòm đôi nhỏ kỳ lạ ở đỉnh đầu. Rất ít người có bất kỳ quan niệm nào về ý nghĩa thật sự của nó. Ở đỉnh đầu có một luân xa nhất định, đôi khi được gọi là “hoa sen nghìn cánh”. Trong người bình thường, nó là một xoáy hay chỗ lõm trong thể dĩ thái, nhưng khi một người đạt đến một cấp độ cao nào đó, y có thể xoay nó ra ngoài thay vì vào trong, và biến nó thành một gò nổi thay vì một chỗ lõm. Đó là điều người ta cố gắng biểu trưng khi miêu tả Đức Phật với vòm đôi nhỏ kỳ lạ ấy nhô lên trên đỉnh đầu. Nó sẽ phát sáng và tạo ấn tượng rất giống một ngọn lửa. Vì vậy “những lưỡi lửa” tuyệt nhiên không phải là một mô tả thi ca kém. |
|
The other strange phenomenon which is described in connection with that descent, the fact that they who spoke were heard by every man in his own tongue, is not, so far as we know now, a necessary concomitant of Adeptship, but it does belong to a higher stage. I myself have known one instance of this phenomenon. It would appear that it descended upon those apostles at that time, if we are to take the record as representing an historical fact. |
Hiện tượng kỳ lạ khác được mô tả liên quan đến sự giáng xuống ấy, tức là việc những người nói được mỗi người nghe bằng ngôn ngữ riêng của mình, theo như chúng ta hiện biết, không phải là một điều tất yếu đi kèm Chân sư vị, nhưng nó thuộc về một giai đoạn cao hơn. Chính tôi đã biết một trường hợp của hiện tượng này. Dường như nó đã giáng xuống trên các tông đồ ấy vào lúc đó, nếu chúng ta xem ghi chép ấy là đại diện cho một sự kiện lịch sử. |
|
Clairvoyantly we have not seen the apostles arranged in that way. It is not that there was no such person as Peter, but there were many Peters. That was the title given to the head of each church—petros, a rock upon which the church was built—because the leader of the church was the rock upon which it arose. It is not an inapt symbol; for we know how very often Theosophical Lodges and other organizations depend upon one person in just that way. It would seem that in the old days the same thing held good. There were those who could lead, and where there is a leader there will always be followers. So his knowledge is the rock on which that particular church is built. For the rest, we have not investigated sufficiently closely to speak with precision, but one cannot but doubt very much of this story, especially as Origen especially warned us not to take it as history, and compared it with the story of Hagar and Ishmael, of which it is written in the Bible: “Which things are an allegory”.64 We obtain a much wider and more useful view of all these things if we apply that idea to them, because, as Origen puts it, “Whether these things happened in Judea or not, it is at least certain that through all eternity they are happening in the lives of Christian men,” and that is the important side of the occurrence, not the material event. |
Bằng thông nhãn, chúng tôi đã không thấy các tông đồ được sắp đặt theo cách ấy. Không phải là không có người nào tên Peter, nhưng có nhiều Peter. Đó là danh hiệu được trao cho người đứng đầu mỗi giáo hội—petros, một tảng đá trên đó giáo hội được xây dựng—bởi người lãnh đạo giáo hội là tảng đá trên đó nó được dựng lên. Đó không phải là một biểu tượng không thích hợp; vì chúng ta biết rất thường xuyên các Chi bộ Thông Thiên Học và những tổ chức khác phụ thuộc vào một người theo đúng cách ấy. Dường như trong thời xưa điều tương tự cũng đúng. Có những người có thể lãnh đạo, và nơi nào có người lãnh đạo, nơi đó luôn có những người đi theo. Vì vậy, tri thức của y là tảng đá trên đó giáo hội riêng biệt ấy được xây dựng. Còn về phần còn lại, chúng tôi chưa khảo sát đủ sát để nói với sự chính xác, nhưng người ta không thể không nghi ngờ rất nhiều về câu chuyện này, đặc biệt vì Origen đã đặc biệt cảnh báo chúng ta không nên xem nó là lịch sử, và so sánh nó với câu chuyện Hagar và Ishmael, về điều được viết trong Kinh Thánh: “Những điều ấy là một ngụ ngôn.” Chúng ta đạt được một quan điểm rộng hơn và hữu ích hơn nhiều về tất cả những điều này nếu áp dụng ý tưởng ấy cho chúng, bởi như Origen diễn đạt: “Dù những điều này có xảy ra ở Judea hay không, ít nhất chắc chắn rằng qua mọi vĩnh cửu, chúng đang xảy ra trong đời sống của những người Kitô hữu,” và đó là mặt quan trọng của sự kiện, chứ không phải biến cố vật chất. |
|
Thus the Adept becomes one in consciousness with the Third Person of the Blessed Trinity. That must be something like the way in which, a whole plane lower, we find ourselves attaining to unity of consciousness; we find that others seem part of ourselves when we reach the full consciousness of that nirvanic level; all alike are then seen as facets of the One. |
Như vậy, Chân sư trở thành một trong tâm thức với Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Chân Phúc. Điều đó hẳn phần nào giống với cách mà, ở thấp hơn trọn một cõi, chúng ta thấy mình đạt đến sự hợp nhất của tâm thức; chúng ta thấy những người khác dường như là một phần của chính mình khi chúng ta đạt đến tâm thức đầy đủ của cấp độ Niết Bàn ấy; bấy giờ tất cả đều được thấy như các mặt của Đấng Duy Nhất. |
|
To recognize is to achieve the great task of gazing upon the blazing light without dropping the eyes, and not falling back in terror, as though before some ghastly phantom. This happens to some, and so when the victory is all but won it is lost. |
Nhận biết là hoàn thành nhiệm vụ lớn lao của việc nhìn vào ánh sáng rực cháy mà không hạ mắt xuống, và không lùi lại trong kinh hãi như thể trước một bóng ma ghê rợn. Điều này xảy ra với một số người, và vì vậy khi chiến thắng gần như đã đạt được thì nó lại mất đi. |
|
It sounds very strange that any at such a height should fall, and yet some do. Before that level is reached all possibility of fear ought to have been entirely transcended, but there are those who shrink from these magnificent developments because they fear to lose their individuality. The same thing at a much lower level confronts a man after death. There are many who cling intensely to physical life, feeling certain of no other life than that. When the etheric double, which is composed of physical matter, is drawn out from the dense body, such a man, in his astral body, clings to the etheric counterpart, which still surrounds him, instead of letting it dissipate as it should, and so he lays up much trouble for himself. He lives in the “grey world”, as it is sometimes called. |
Nghe có vẻ rất lạ khi bất kỳ ai ở một độ cao như thế lại sa ngã, nhưng vẫn có một số người như vậy. Trước khi đạt đến cấp độ ấy, mọi khả năng sợ hãi lẽ ra phải được vượt qua hoàn toàn, nhưng có những người co rút trước những sự khai mở huy hoàng này vì họ sợ đánh mất cá thể tính của mình. Điều tương tự, ở một cấp độ thấp hơn nhiều, đối diện với con người sau khi chết. Có nhiều người bám chặt mãnh liệt vào đời sống hồng trần, chắc chắn rằng không có đời sống nào khác ngoài đời sống ấy. Khi bản sao dĩ thái, vốn được cấu tạo bằng vật chất hồng trần, được rút ra khỏi thể đậm đặc, một người như vậy, trong thể cảm dục của mình, bám lấy đối phần dĩ thái vẫn còn bao quanh y, thay vì để nó làm tiêu tan như nó nên thế, và vì vậy y tích chứa nhiều phiền não cho chính mình. Y sống trong “thế giới xám”, như đôi khi người ta gọi. |
|
We find the same phenomenon at this higher level. The man through all his incarnations has had a causal body; he identifies that causal body with his individuality, and shrinks from losing it. The bliss and the infinite light of the buddhic plane loom before him, but he can reach it only by dropping his causal body, and that terrifies him sometimes. He is afraid that in losing that he will lose all, and will be merged into that infinite light, so he falls back at the very threshold. He fears the entire novelty of merging in union. He does not know that when he has so merged he will still feel himself just as much as before, and will feel not that the drop has been merged into the ocean but that the ocean has been poured into the drop. |
We thấy cùng hiện tượng ấy ở cấp độ cao hơn này. Con người, qua mọi kiếp nhập thể của mình, đã có một thể nguyên nhân; y đồng hoá thể nguyên nhân ấy với cá tính của mình, và co rút trước viễn tượng mất nó. Chí phúc và ánh sáng vô biên của cõi Bồ đề hiện ra trước y, nhưng y chỉ có thể đạt tới đó bằng cách buông bỏ thể nguyên nhân của mình, và điều đó đôi khi làm y kinh hãi. Y sợ rằng khi mất điều ấy y sẽ mất tất cả, và sẽ bị hòa tan vào ánh sáng vô biên kia, nên y lùi lại ngay tại ngưỡng cửa. Y sợ toàn bộ sự mới lạ của việc hòa nhập trong hợp nhất. Y không biết rằng khi đã hòa nhập như thế, y vẫn sẽ cảm thấy mình trọn vẹn như trước, và sẽ không cảm thấy rằng giọt nước đã hòa vào đại dương, mà là đại dương đã được rót vào giọt nước. |
|
Occasionally we have other examples of that at lower levels. The man functioning in his mind body is sometimes afraid to let it go and to sink back into the causal body, which is no longer concrete, but abstract; so at that stage he halts and hesitates, and fears to pass. The progress of the person in any of these cases depends upon the power behind, the tremendous enthusiasm and devotion which is carrying him through; since that is the propelling force, for the man to hesitate means that that enthusiasm fails, since fear and enthusiasm of that kind cannot exist together. The moment he allows himself to fear, by that very thought he shrinks back and falls away, and has no longer the place which he had attained. |
Đôi khi chúng ta có những ví dụ khác về điều đó ở các cấp độ thấp hơn. Con người hoạt động trong thể trí của mình đôi khi sợ buông nó ra và chìm trở lại vào thể nguyên nhân, vốn không còn cụ thể nữa mà là trừu tượng; vì vậy ở giai đoạn ấy y dừng lại, do dự, và sợ vượt qua. Sự tiến bộ của người ấy trong bất kỳ trường hợp nào như thế tùy thuộc vào quyền năng ở phía sau, vào nhiệt tâm và lòng sùng tín mãnh liệt đang đưa y vượt qua; vì đó là mãnh lực thúc đẩy, nên đối với con người, do dự có nghĩa là nhiệt tâm ấy suy yếu, bởi vì sợ hãi và nhiệt tâm thuộc loại ấy không thể cùng tồn tại. Khoảnh khắc y cho phép mình sợ hãi, chính tư tưởng ấy khiến y co rút lại và rơi xuống, và không còn giữ được vị trí mà y đã đạt tới. |
|
There is a certain justification for the shrinking back in some cases, and I think that the ground for it is that if a man goes beyond the level at which he can be conscious he falls into a trance and loses himself. In India men talk of going into samadhi. We wondered what stage this could be, and identified it with various levels, one after another, and then found that it was not constant. It took a long time to discover that samadhi is a different thing for different people. It means the condition just beyond the level where the man is capable of retaining consciousness. For a savage whose consciousness is clear only on the physical plane, the astral plane would be samadhi. For most of those of our race who have not studied these matters, to enter into the causal body would be samadhi, because they would not be sufficiently conscious for the experience to be of any use to them. Many of us, if we could succeed in forcing ourselves into the buddhic plane, would be unconscious at that level. That would mean that when we presently drifted back into our lower vehicles, we should come back without any definite additional knowledge. We should arrive with the sense of great bliss, a sensation of having bathed in all sorts of intangible glories, but with no definite knowledge and no new power of doing anything of use. |
Trong một vài trường hợp, sự co rút lại có một sự biện minh nào đó, và tôi nghĩ rằng nền tảng của điều ấy là nếu một người vượt quá cấp độ mà y có thể duy trì tâm thức, y rơi vào trạng thái xuất thần và đánh mất chính mình. Ở Ấn Độ, người ta nói đến việc đi vào samadhi. Chúng tôi tự hỏi đây có thể là giai đoạn nào, và đồng hoá nó với nhiều cấp độ khác nhau, lần lượt từng cấp độ, rồi nhận thấy rằng nó không cố định. Phải mất một thời gian dài mới khám phá ra rằng samadhi là điều khác nhau đối với những người khác nhau. Nó có nghĩa là trạng thái ngay bên kia cấp độ mà con người có khả năng duy trì tâm thức. Đối với một người man dã mà tâm thức chỉ rõ ràng trên cõi hồng trần, cõi cảm dục sẽ là samadhi. Đối với phần lớn những người thuộc nhân loại chúng ta chưa nghiên cứu các vấn đề này, việc đi vào thể nguyên nhân sẽ là samadhi, bởi vì họ sẽ không đủ tỉnh thức để kinh nghiệm ấy có ích cho họ. Nhiều người trong chúng ta, nếu có thể thành công trong việc cưỡng ép mình vào cõi Bồ đề, sẽ vô thức ở cấp độ ấy. Điều đó có nghĩa là khi sau đó chúng ta trôi trở lại vào các vận cụ thấp của mình, chúng ta sẽ trở về mà không có thêm tri thức xác định nào. Chúng ta sẽ trở về với cảm thức chí phúc lớn lao, một cảm giác như đã tắm mình trong đủ loại vinh quang vô hình, nhưng không có tri thức xác định và không có quyền năng mới nào để làm điều hữu ích. |
|
This kind of samadhi—a condition just beyond your consciousness—is not encouraged by our Masters. Those Great Ones would say: “By all means attain the very highest level you can reach, but do it consciously; work your way up gradually, do not leap into it. Be careful; push steadily up, keeping your consciousness all the time you do it.” There are possibilities which might be said to be dangerous; nothing is actually dangerous, because at those higher levels one has not a separate life to lose in the same way that one has down here, but it is quite possible to be swept out of the line of evolution if one makes rash experiments. Yet this is not probable for the ordinary student, because he is working steadily away at levels which he knows, and aims at attaining. |
Loại samadhi này — một trạng thái ngay bên kia tâm thức của bạn — không được các Chân sư của chúng ta khuyến khích. Các Đấng Cao Cả ấy sẽ nói: “Bằng mọi cách hãy đạt tới cấp độ cao nhất mà bạn có thể vươn tới, nhưng hãy làm điều đó một cách có ý thức; hãy tiến lên dần dần, đừng nhảy vọt vào đó. Hãy cẩn trọng; hãy tiến lên đều đặn, giữ tâm thức của bạn suốt thời gian bạn làm điều ấy.” Có những khả năng có thể nói là nguy hiểm; thực ra không có gì thật sự nguy hiểm, bởi vì ở các cấp độ cao ấy người ta không có một sự sống riêng biệt để mất theo cùng cách như ở dưới này, nhưng hoàn toàn có thể bị cuốn ra khỏi đường tiến hoá nếu người ta thực hiện những thử nghiệm liều lĩnh. Tuy vậy, điều này không có khả năng xảy ra đối với đạo sinh bình thường, bởi vì y đang làm việc đều đặn ở những cấp độ mà y biết, và nhắm đến việc đạt tới chúng. |
|
The fact of the possibility of falling back—fearing to face the higher developments—was put strongly before us in the initiations of the ancient Egyptian Mysteries. The candidates were taught that in the pursuit of knowledge they must be neither rash nor fearful; when the candidate was brought to the door of the crypt or underground hall in which these great ceremonies were held he received a practical lesson in that way, for, as he entered, a sword was held in front of him touching his breast, to typify that he must not rush rashly forward in search of those mysteries, and at the same time his conductor led him by means of a rope thrown round his neck, so that if he had been frightened and rushed backward he would have injured himself. Afterwards this was explained to him. He was told that a man must have quiet confidence; he must never rush rashly into something which he did not understand, nor on the other hand must he draw back in fear when he encountered something which seemed terrible to him. |
Sự kiện về khả năng rơi trở lại — sợ phải đối diện với những phát triển cao hơn — đã được đặt ra rất mạnh mẽ trước chúng tôi trong các cuộc điểm đạo của các Bí Pháp Ai Cập cổ đại. Các ứng viên được dạy rằng trong việc theo đuổi tri thức, họ không được liều lĩnh cũng không được sợ hãi; khi ứng viên được đưa đến cửa hầm mộ hay đại sảnh dưới lòng đất nơi các nghi lễ vĩ đại này được cử hành, y nhận được một bài học thực tiễn theo cách ấy, vì khi y bước vào, một thanh kiếm được giữ trước mặt y, chạm vào ngực y, để tượng trưng rằng y không được lao tới một cách liều lĩnh trong việc tìm kiếm các bí pháp ấy, đồng thời người dẫn đường của y dẫn y bằng một sợi dây quấn quanh cổ, để nếu y sợ hãi và lao lùi lại thì y sẽ tự làm mình bị thương. Sau đó điều này được giải thích cho y. Y được bảo rằng con người phải có sự tự tin tĩnh lặng; y không bao giờ được liều lĩnh lao vào điều gì mình không thấu hiểu, cũng không được, mặt khác, lùi lại trong sợ hãi khi gặp điều gì có vẻ khủng khiếp đối với y. |
|
Our great founder, Madame Blavatsky herself, whom none could accuse of lack of courage, who dressed as a man and fought under Garibaldi in 1864, told me that when she was first taken into the presence of the Lord of the World, the One Initiator, the great Spiritual King of the World, she fell upon her face and could not look at Him, because of the tremendous power and majesty in His face. It does not affect all candidates in at all the same way, but yet, if that were the result on a person so entirely dauntless as Madame Blavatsky, one may understand that it is no slight test to be brought face to face with the representative of the Solar Logos on this planet; it is a tremendous experience. |
Vị sáng lập vĩ đại của chúng ta, chính Bà Blavatsky, người mà không ai có thể cáo buộc là thiếu can đảm, người đã mặc như nam giới và chiến đấu dưới quyền Garibaldi vào năm 1864, đã nói với tôi rằng khi bà lần đầu được đưa vào sự hiện diện của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, vị Vua Tinh Thần vĩ đại của Thế Giới, bà đã sấp mặt xuống và không thể nhìn Ngài, vì quyền năng và uy nghi mãnh liệt trên gương mặt Ngài. Điều đó không tác động lên tất cả các ứng viên theo cùng một cách, nhưng nếu đó là kết quả đối với một người hoàn toàn không biết sợ như Bà Blavatsky, người ta có thể thấu hiểu rằng việc được đưa mặt đối mặt với vị đại diện của Thái dương Thượng đế trên hành tinh này không phải là một thử thách nhỏ; đó là một kinh nghiệm mãnh liệt. |
|
Those who become pupils of the Master will one day in due course be led by the Master up the path which leads to Initiation, and then they must face the One Initiator, not indeed at the first step, nor even at the second, but at the third and fourth. But before that comes they will have had so many experiences on the way to it that probably they will be to a great extent prepared; so had Madame Blavatsky, yet what I have said is what she told me. Although I entirely agree with her that that face is full of majesty and might—quite incredible power, beyond anything that you can imagine of power—yet it is also so full of love that it seems to me that one could not feel fear in His presence, nor I think did Madame Blavatsky, but simply awe so great that she felt as though the light were dazzling and not to be faced—she felt it too great for her. |
Những ai trở thành học trò của Chân sư một ngày kia, đúng thời điểm, sẽ được Chân sư dẫn lên con đường đưa đến Điểm đạo, và khi ấy họ phải đối diện với Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, không phải ở bước thứ nhất, cũng không phải ở bước thứ hai, mà ở bước thứ ba và thứ tư. Nhưng trước khi điều đó đến, họ sẽ đã có rất nhiều kinh nghiệm trên đường đi đến đó, đến mức có lẽ họ sẽ được chuẩn bị rất nhiều; Bà Blavatsky cũng đã như thế, vậy mà điều tôi đã nói là điều bà kể với tôi. Mặc dù tôi hoàn toàn đồng ý với bà rằng gương mặt ấy đầy uy nghi và quyền năng — một quyền năng hoàn toàn không thể tin nổi, vượt quá bất cứ điều gì bạn có thể tưởng tượng về quyền năng — tuy vậy nó cũng đầy tình thương đến nỗi đối với tôi dường như người ta không thể cảm thấy sợ hãi trong sự hiện diện của Ngài; và tôi nghĩ Bà Blavatsky cũng không sợ, mà chỉ là niềm kính úy lớn lao đến mức bà cảm thấy như thể ánh sáng quá chói lọi và không thể đối diện — bà cảm thấy nó quá vĩ đại đối với mình. |
|
But what is spoken of here is not the meeting with the One Initiator, but the meeting with one’s own higher self—the entrance into that wider spiritual realm. Men do shrink back from that, as I have said, because they fear that when they plunge into that shining sea they may never come back again, that the individuality may be lost. A man who thinks would know that many others have plunged into it and have not been lost, but one does not always think at such moments, but acts perhaps rather by instinct. One must endeavour so to arrange one’s instinctive action that it will be reasonable and right action. We s must not shrink back before the divine, whether it shows itself in ourselves or in any other. It says here that some have done that; and so, when the victory was almost won, it was lost. That would be sad. But we should not let ourselves be deceived by the manner in which it is put. |
Nhưng điều được nói đến ở đây không phải là cuộc gặp gỡ với Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, mà là cuộc gặp gỡ với chân ngã của chính mình — lối vào cõi giới tinh thần rộng lớn hơn ấy. Như tôi đã nói, người ta co rút lại trước điều đó, bởi vì họ sợ rằng khi lao vào biển sáng chói ấy, họ có thể không bao giờ trở lại nữa, rằng cá tính có thể bị mất. Một người biết suy nghĩ sẽ biết rằng nhiều người khác đã lao vào đó và đã không bị mất, nhưng người ta không phải lúc nào cũng suy nghĩ vào những khoảnh khắc như thế, mà có lẽ hành động nhiều hơn theo bản năng. Người ta phải nỗ lực sắp đặt hành động bản năng của mình sao cho nó trở thành hành động hợp lý và đúng đắn. Chúng ta không được co rút lại trước điều thiêng liêng, dù nó biểu lộ trong chính chúng ta hay trong bất cứ điều gì khác. Ở đây nói rằng một số người đã làm như thế; và do đó, khi chiến thắng gần như đã đạt được, nó lại bị mất. Điều đó thật đáng buồn. Nhưng chúng ta không nên để mình bị lừa bởi cách diễn đạt điều ấy. |
|
Often we are warned that the higher a man rises the further he may fall. There are several reasons for that. One is that he may misuse the divine force which has come to him; the other is that he may fall into such a condition as to cause a leak in the channel which is composed of a number of disciples, including himself. The Great Ones send out a huge wave of force through such a channel, and cannot recall it. If the channel becomes defective a great portion of the force may be lost. It is not always a vast outpouring in one direction—sometimes some of it goes in one way and some in another, to do different things—and only if all the various people who form the channel stand firm in their special lines is success assured. It would be a sad thing if one should fail, and so cause a leakage, which would be very serious on account of the great pressure of the force behind, and would result in a fall for that man. Again, for one to shrink back from good work within one’s power through fear of the responsibility also involves a fall. |
Chúng ta thường được cảnh báo rằng con người càng vươn cao thì y có thể rơi càng xa. Có nhiều lý do cho điều đó. Một lý do là y có thể lạm dụng mãnh lực thiêng liêng đã đến với y; lý do khác là y có thể rơi vào một tình trạng gây nên một chỗ rò rỉ trong vận hà gồm một số đệ tử, kể cả chính y. Các Đấng Cao Cả phóng ra một làn sóng mãnh lực khổng lồ qua một vận hà như thế, và không thể thu hồi nó. Nếu vận hà trở nên khiếm khuyết, một phần lớn mãnh lực có thể bị mất. Không phải lúc nào đó cũng là một lần tuôn đổ rộng lớn theo một hướng — đôi khi một phần của nó đi theo một hướng và một phần theo hướng khác, để làm những việc khác nhau — và chỉ khi tất cả những người khác nhau tạo thành vận hà đứng vững trong những đường hướng riêng của họ thì thành công mới được bảo đảm. Sẽ là một điều đáng buồn nếu một người thất bại, và do đó gây nên một sự rò rỉ, điều này sẽ rất nghiêm trọng do áp lực lớn của mãnh lực phía sau, và sẽ dẫn đến một sự sa ngã cho người ấy. Lại nữa, việc một người co rút khỏi công việc tốt lành nằm trong khả năng của mình vì sợ trách nhiệm cũng bao hàm một sự sa ngã. |
|
The further a man climbs the further he may fall, if he falls to the bottom; it would be a very sad thing that a man should fall back at this high point, but it is very unlikely that one who had climbed so high would fall to the bottom. We must not get the impression that a fall even such as is described in our text is fatal. “Who mounts may fall, who falls will mount; the wheel goes round, unceasingly.” There is no fatal fall, because it is God’s will that every man shall progress; therefore every man will do so, and it is only a question of the rate at which he moves65. |
Con người càng leo cao thì y có thể rơi càng xa, nếu y rơi xuống tận đáy; sẽ là điều rất đáng buồn nếu một người rơi trở lại ở điểm cao này, nhưng rất khó có khả năng một người đã leo cao như thế lại rơi xuống tận đáy. Chúng ta không được có ấn tượng rằng một sự sa ngã, ngay cả như được mô tả trong bản văn của chúng ta, là chí tử. “Ai lên cao có thể ngã, ai ngã sẽ lại lên; bánh xe xoay mãi, không ngừng.” Không có sự sa ngã chí tử nào, bởi vì Ý Chí của Thượng Đế là mọi người đều phải tiến bộ; vì vậy mọi người sẽ tiến bộ, và đó chỉ là vấn đề tốc độ mà y di chuyển65. |
|
For such a man to lose his position would be a great waste of high opportunity, but it would not throw him back to the beginning. It would mean that he must work deliberately to develop within himself the consciousness of his own divinity, and learn to trust it. |
Đối với một người như thế, việc mất vị trí của mình sẽ là một sự lãng phí lớn lao cơ hội cao cả, nhưng nó sẽ không ném y trở lại điểm khởi đầu. Điều đó có nghĩa là y phải làm việc một cách có chủ đích để phát triển trong chính mình tâm thức về thiên tính của mình, và học cách tin cậy nó. |
|
That would not be at all easy, of course, because a man who had lost control of himself at a critical moment, who had lost his nerve, would find it difficult to regain it. In climbing, if a man looks down and sees a great gulf below him, he will probably become frightened and fall, but the man who has never been frightened would be very likely to go on to the end and not have any fear whatever. The man who has once lost his nerve through looking down will take a long time to go safely on his way, but I do not want anyone to think that the man who falls will not recover. It is a sad pity; he ought to have known better; one cannot help seeing and saying that; but he will recover himself and go on again sooner or later. |
Dĩ nhiên, điều đó sẽ không dễ chút nào, bởi vì một người đã mất sự tự chủ ở một khoảnh khắc then chốt, đã mất khí phách, sẽ thấy khó mà giành lại nó. Trong khi leo núi, nếu một người nhìn xuống và thấy một vực sâu lớn bên dưới, y có lẽ sẽ sợ hãi và ngã xuống, nhưng người chưa bao giờ sợ hãi rất có thể sẽ đi tiếp đến cùng và không hề có chút sợ hãi nào. Người đã một lần mất khí phách vì nhìn xuống sẽ mất rất lâu mới có thể đi tiếp an toàn trên đường mình, nhưng tôi không muốn bất cứ ai nghĩ rằng người ngã xuống sẽ không hồi phục. Đó là một điều rất đáng tiếc; lẽ ra y phải biết rõ hơn; người ta không thể không thấy và nói như vậy; nhưng y sẽ tự phục hồi và sớm hay muộn sẽ lại đi tiếp. |
|
It is very easy to say that one should have perfect confidence in one’s divinity, but it is a more difficult matter when one comes face to face with some of these great trials; if there is a fall at least one may be sure that the work done still counts, so there is no possibility of a fatal final fall. It is something like failing for an examination on the physical plane. It means a good deal of trouble, but the man still has all the knowledge he gained in working for the examination. When he is able to try again he is tolerably certain to succeed. |
Rất dễ nói rằng người ta nên có niềm tin hoàn hảo vào thiên tính của mình, nhưng đó là một vấn đề khó hơn khi người ta đối diện với một số thử thách lớn lao này; nếu có một sự sa ngã, ít nhất người ta có thể chắc chắn rằng công việc đã làm vẫn được tính, cho nên không có khả năng có một sự sa ngã cuối cùng chí tử. Điều đó giống như thi trượt một kỳ thi trên cõi hồng trần. Nó có nghĩa là rất nhiều rắc rối, nhưng người ấy vẫn có tất cả tri thức mà y đã thu được khi chuẩn bị cho kỳ thi. Khi y có thể thử lại, y gần như chắc chắn sẽ thành công. |
|
It sometimes seems very sad when a man who is making good occult progress suddenly dies; one is apt to say: “What a pity; if he had continued at that rate he would probably have reached Initiation in this life.” But what happens is karma and is for the best, and he will not lose what he has gained. The Self retains all it has achieved. What it will have to do is to bring a fresh physical vehicle into subjection, but it will be very easy for it to do so up to the point it has reached, and only after that the difficulties will commence again. |
Đôi khi có vẻ rất đáng buồn khi một người đang có tiến bộ huyền bí tốt đẹp bỗng nhiên qua đời; người ta dễ nói: “Thật đáng tiếc; nếu y tiếp tục với tốc độ ấy, có lẽ y đã đạt Điểm đạo trong kiếp này.” Nhưng điều xảy ra là nghiệp quả và là điều tốt nhất, và y sẽ không mất những gì y đã đạt được. Bản Ngã giữ lại tất cả những gì nó đã thành tựu. Điều nó phải làm là đưa một vận cụ hồng trần mới vào sự chế ngự, nhưng nó sẽ làm điều đó rất dễ dàng cho đến điểm mà nó đã đạt tới, và chỉ sau đó những khó khăn mới lại bắt đầu. |
|
To hear the Voice of the Silence is to understand that from within comes the only true guidance: to go to the Hall of Learning is to enter the state in which learning becomes possible. Then will many words be written there for thee, and written in fiery letters for thee easily to read. For when the disciple is ready, the Master is ready also. |
Nghe Tiếng Nói của Im Lặng là thấu hiểu rằng chỉ từ bên trong mới đến sự dẫn dắt chân thật duy nhất: đi đến Phòng Học Tập là bước vào trạng thái trong đó việc học trở nên khả hữu. Khi ấy nhiều lời sẽ được viết ở đó cho ngươi, và được viết bằng những chữ lửa để ngươi dễ đọc. Vì khi đệ tử sẵn sàng, Chân sư cũng sẵn sàng. |
|
We have already seen that the ball of learning begins on the astral plane, the lowest plane upon which you can learn anything practically with regard to the higher states. That does not mean that there is nothing to be learnt on the higher levels, in the heaven-world, for example; there is very much to be learnt, but for the ordinary man the astral plane is his hall of learning, and when out of his physical body in that astral world he will receive much of the teaching that must be given to him. There are very many students who do not quite understand what it means to be taken as a pupil by a Master. Some seem to expect that if that great privilege came to them they would be constantly in receipt of teaching from the Master, that He would especially instruct them with regard to minute details of their progress. When the Master takes pupils on probation, it means much more that He watches them in ordinary life than that He specially teaches them anything. One main object, then, is to have the whole detail of the pupil’s life and thoughts and feelings before Him, so that He may know whether He can usefully take that pupil into the closer relationship. He must know that before He takes a further step, otherwise it might cause Him a great deal of trouble, and it would not be worth His while from the point of view of the work. While he is on probation the pupil may be used as a channel for force—that often happens—but it is only when the closer link is made that he is in constant communication with the Master, and even then he will not necessarily know of the communication. He may feel sometimes that the force is flowing through him, and a wonderful experience it is, a great privilege and delight to be used for the dissemination of the Master’s force, but he will not be instructed by the Master except on very rare occasions. |
Chúng ta đã thấy rằng khối cầu học tập bắt đầu trên cõi cảm dục, cõi thấp nhất mà trên đó bạn có thể học được điều gì thực tiễn liên quan đến các trạng thái cao hơn. Điều đó không có nghĩa là không có gì để học trên các cấp độ cao hơn, chẳng hạn trong thiên giới; có rất nhiều điều để học, nhưng đối với người bình thường, cõi cảm dục là phòng học tập của y, và khi rời khỏi thể xác trong thế giới cảm dục ấy, y sẽ nhận được nhiều giáo huấn phải được trao cho y. Có rất nhiều đạo sinh không hoàn toàn thấu hiểu việc được một Chân sư nhận làm học trò có nghĩa là gì. Một số dường như mong đợi rằng nếu đặc ân lớn lao ấy đến với họ, họ sẽ liên tục nhận giáo huấn từ Chân sư, rằng Ngài sẽ đặc biệt chỉ dạy họ về những chi tiết nhỏ trong sự tiến bộ của họ. Khi Chân sư nhận học trò dự bị, điều đó có nghĩa là Ngài quan sát họ trong đời sống bình thường nhiều hơn là Ngài đặc biệt dạy họ điều gì. Khi ấy, một mục tiêu chính là đặt toàn bộ chi tiết đời sống, tư tưởng và cảm xúc của học trò trước Ngài, để Ngài có thể biết liệu Ngài có thể hữu ích đưa học trò ấy vào mối liên hệ gần gũi hơn hay không. Ngài phải biết điều đó trước khi tiến thêm một bước, nếu không điều ấy có thể gây cho Ngài rất nhiều phiền phức, và sẽ không đáng công Ngài xét theo quan điểm của công việc. Khi còn trong giai đoạn dự bị, học trò có thể được dùng như một vận hà cho mãnh lực — điều đó thường xảy ra — nhưng chỉ khi mối liên kết gần gũi hơn được thiết lập, y mới ở trong sự giao tiếp liên tục với Chân sư, và ngay cả khi ấy y cũng không nhất thiết biết về sự giao tiếp đó. Đôi khi y có thể cảm thấy mãnh lực đang tuôn chảy qua mình, và đó là một kinh nghiệm kỳ diệu, một đặc ân và niềm vui lớn lao khi được dùng để truyền bá mãnh lực của Chân sư, nhưng y sẽ không được Chân sư chỉ dạy trừ những dịp rất hiếm hoi. |
|
In most cases an elder pupil is appointed to look after the neophyte and to give him such instruction as is necessary. In my own case, Madame Blavatsky taught me very much on behalf of the Master, but I was separated from her for some five years and sent out to India when she was in Europe. Consequently, it was impossible for her, except by occasional letters and on the astral plane sometimes, to give me any help. Therefore I was put into the care of Swami T. Subba Row. He was an exceptionally patient teacher as to all the detail, and so I was greatly helped by him66. |
Trong đa số trường hợp, một học trò trưởng thượng được chỉ định để chăm sóc người sơ cơ và trao cho y sự hướng dẫn cần thiết. Trong trường hợp của chính tôi, Bà Blavatsky đã dạy tôi rất nhiều thay mặt Chân sư, nhưng tôi bị tách khỏi bà khoảng năm năm và được gửi sang Ấn Độ khi bà ở châu Âu. Do đó, bà không thể giúp tôi, ngoại trừ bằng những lá thư thỉnh thoảng và đôi khi trên cõi cảm dục. Vì vậy tôi được đặt dưới sự chăm sóc của Swami T. Subba Row. Ông là một huấn sư đặc biệt kiên nhẫn đối với mọi chi tiết, và vì thế tôi được ông giúp đỡ rất nhiều66. |
|
In those days I saw my own Master only occasionally, and even when I did see Him it was not usually anything in the way of teaching that He gave me, but rather instructions as to something He wanted me to do. But in process of doing the work one gained a vast amount of knowledge and training. The attempt to do some service, even without knowing how at first, shows one in what directions one is lacking. One then sets to work to fill those gaps, so as to be able to do the next piece of work better; and I think I may say for myself that it was in that way that I learnt most of what came to me. I would invent a way somehow or other to do the thing, and then see where the method might be improved, until I came to know how to put into practice the higher methods such as Swami T. Subba Row could give me. But it meant a great deal of hard work, of strain, and often very slow development. Still, it had to be done and it was done, and I think that is the way all pupils are trained. They will be given a piece of work to do and in the doing of the work they will learn how to do greater work. But on this great subject of the relation between Master and pupil I have written at length in The Masters and the Path. |
Vào những ngày ấy tôi chỉ thỉnh thoảng thấy Chân sư của mình, và ngay cả khi tôi thấy Ngài, điều Ngài trao cho tôi thường không phải là giáo huấn, mà đúng hơn là những chỉ thị về điều gì đó Ngài muốn tôi làm. Nhưng trong tiến trình làm công việc ấy, người ta thu được một lượng tri thức và rèn luyện rất lớn. Nỗ lực thực hiện một sự phụng sự nào đó, dù lúc đầu không biết cách làm, cho người ta thấy mình còn thiếu sót ở những hướng nào. Rồi người ta bắt tay vào lấp đầy những khoảng trống ấy, để có thể làm phần công việc kế tiếp tốt hơn; và tôi nghĩ tôi có thể nói về chính mình rằng chính theo cách ấy tôi đã học được phần lớn những gì đến với tôi. Bằng cách nào đó tôi sẽ nghĩ ra một phương pháp để làm việc ấy, rồi xem phương pháp ấy có thể được cải thiện ở đâu, cho đến khi tôi biết cách áp dụng những phương pháp cao hơn như Swami T. Subba Row có thể trao cho tôi. Nhưng điều đó có nghĩa là rất nhiều lao động gian khổ, căng thẳng, và thường là sự phát triển rất chậm. Tuy vậy, nó phải được làm và đã được làm, và tôi nghĩ đó là cách mọi học trò được huấn luyện. Họ sẽ được giao một phần công việc để làm, và trong khi làm công việc ấy họ sẽ học cách làm công việc lớn hơn. Nhưng về đề tài lớn lao này, mối quan hệ giữa Chân sư và học trò, tôi đã viết dài trong Các Chân sư và Đường Đạo. |
|
Various possibilities of learning open before the pupil. Many of them are equally open to any of us on the astral plane if we choose to take advantage of them. We sometimes go to lectures on the physical plane in order to learn something about Theosophy, because some people learn more easily by having facts told to them in that way, whereas other people learn more easily by taking a book and reading on the subject. For those who like the spoken word there are always lecturers in occultism. |
Nhiều khả năng học tập mở ra trước học trò. Nhiều khả năng trong số đó cũng mở ra như nhau cho bất cứ ai trong chúng ta trên cõi cảm dục nếu chúng ta chọn tận dụng chúng. Đôi khi chúng ta đi nghe thuyết giảng trên cõi hồng trần để học điều gì đó về Thông Thiên Học, bởi vì một số người học dễ hơn khi các sự kiện được nói cho họ theo cách ấy, trong khi những người khác học dễ hơn bằng cách lấy một cuốn sách và đọc về đề tài đó. Đối với những ai thích lời nói, luôn luôn có những diễn giả về huyền bí học. |
|
Some of those who are workers and helpers in the astral world devote most of their time to that branch of work. Our former Vice-President, Mr. A. P. Sinnett, used to take that as his share of the astral plane duties. He did not as a rule plunge into the ordinary work of the invisible helpers, but instead of that he had a department of his own, and was always to be found giving instruction upon Theosophy to anyone who in that vast astral world would care to listen. In that way he brought many, people, both dead and living, into touch with these great truths, for he happened to have a certain dogmatic method of stating his points which many people found very useful and easy to follow. |
Một số người hoạt động và trợ giúp trong thế giới cảm dục dành phần lớn thời gian của họ cho ngành công việc ấy. Cựu Phó Chủ tịch của chúng ta, ông A. P. Sinnett, thường nhận đó là phần nhiệm vụ của mình trên cõi cảm dục. Theo lệ, ông không lao vào công việc thông thường của những người trợ giúp vô hình, mà thay vào đó ông có một bộ phận riêng của mình, và luôn có thể được thấy đang giảng dạy về Thông Thiên Học cho bất cứ ai trong thế giới cảm dục rộng lớn ấy muốn lắng nghe. Theo cách đó, ông đã đưa nhiều người, cả đã chết lẫn còn sống, tiếp xúc với những chân lý vĩ đại này, vì ông tình cờ có một phương pháp trình bày các điểm của mình hơi giáo điều, điều mà nhiều người thấy rất hữu ích và dễ theo. |
CHAPTER 2 — CHƯƠNG 2
RULES 1 TO 4 — CÁC QUY LUẬT 1 ĐẾN 4
|
C.W.L.—In the last chapter we considered what is really a preface to the second part of the book, but now we come to the rules. Up to Rule 12 these are numbered in the same manner as in Part I: Rules 1 to 3, 5 to 7, and 9 to 11 belong in sets of three to the ancient palm-leaf manuscript, and Rules 4, 8 and 12 are comments by the Chohan. Further on the numbering follows a different plan. |
C.W.L.—Trong chương trước, chúng ta đã xem xét điều thực sự là một lời tựa cho phần thứ hai của cuốn sách, nhưng giờ đây chúng ta đi đến các quy luật. Cho đến Quy luật 12, những quy luật này được đánh số theo cùng cách như trong Phần I: Các Quy luật 1 đến 3, 5 đến 7, và 9 đến 11 thuộc về các bộ ba trong bản thảo lá cọ cổ xưa, còn các Quy luật 4, 8 và 12 là những lời bình của Chohan. Xa hơn nữa, việc đánh số theo một kế hoạch khác. |
|
In this chapter we will take Rules 1 to 3, and I will divide up the comment of the Chohan, which is Rule 4, into its three portions, and deal with them along with the rules to which they apply. |
Trong chương này chúng ta sẽ lấy các Quy luật 1 đến 3, và tôi sẽ chia lời bình của Chohan, tức Quy luật 4, thành ba phần của nó, và bàn đến chúng cùng với các quy luật mà chúng áp dụng. |
|
Stand aside in the coming battle, and though thou fightest be not thou the warrior. |
Hãy đứng sang một bên trong trận chiến sắp đến, và dù ngươi chiến đấu, đừng là chiến sĩ. |
|
He is thyself. Yet thou art but finite and liable to error. He is eternal and is sure. He is eternal truth. When once He has entered thee and become thy Warrior, He will never utterly desert thee; and at the day of the great peace He will become one with thee. |
Ngài là chính ngươi. Tuy vậy ngươi chỉ hữu hạn và có thể sai lầm. Ngài là vĩnh cửu và chắc chắn. Ngài là chân lý vĩnh cửu. Một khi Ngài đã đi vào ngươi và trở thành Chiến Sĩ của ngươi, Ngài sẽ không bao giờ hoàn toàn bỏ rơi ngươi; và vào ngày của nền hòa bình vĩ đại, Ngài sẽ trở nên một với ngươi. |
|
The disciple must fight. He must throw himself into the evolution that is going on around him. He must struggle on the side of the spirit. Spirit is gradually learning to use matter; having mastered it at a certain level it rises out of that to conquer a higher plane of matter, and to learn to use that. It is in process of dominating matter at all levels. This is going on all around as well as within us; so we enlist ourselves in this struggle, to smooth the way of the evolutionary forces. |
Đệ tử phải chiến đấu. Y phải dấn mình vào cuộc tiến hoá đang diễn ra quanh y. Y phải đấu tranh về phía tinh thần. Tinh thần đang dần học cách sử dụng vật chất; khi đã làm chủ nó ở một cấp độ nào đó, tinh thần vươn lên khỏi đó để chinh phục một cõi vật chất cao hơn, và học cách sử dụng cõi ấy. Tinh thần đang trong tiến trình chế ngự vật chất ở mọi cấp độ. Điều này diễn ra quanh chúng ta cũng như bên trong chúng ta; vì vậy chúng ta tự gia nhập vào cuộc đấu tranh này, để làm bằng phẳng con đường của các mãnh lực tiến hoá. |
|
We must make the personality stand aside in this strife for the progress of evolution; he must not come into the fight at all. The personality must be used, because it is only through that as an instrument that we can reach other people in the world, but we must not let the personal self obtrude itself. On each of the planes of personality one must get rid of the entanglement, while retaining the power. So we withdraw ourselves gradually from the physical, astral and mental bodies and yet retain the ability to function in them. |
Chúng ta phải làm cho phàm ngã đứng sang một bên trong cuộc xung đột này vì sự tiến bộ của tiến hoá; nó không được bước vào cuộc chiến chút nào. Phàm ngã phải được sử dụng, bởi vì chỉ qua nó như một khí cụ mà chúng ta có thể chạm tới những người khác trong thế gian, nhưng chúng ta không được để cái ngã cá nhân tự phô bày. Trên mỗi cõi của phàm ngã, người ta phải thoát khỏi sự vướng mắc, trong khi vẫn giữ lại quyền năng. Vì vậy chúng ta dần rút mình khỏi các thể xác, thể cảm dục và thể trí, nhưng vẫn giữ khả năng hoạt động trong chúng. |
|
The higher interpretation of this aphorism applies when the personality has been set aside, and the man is at one with the ego. Then he learns that the individuality must be put aside, and looks for the consciousness of the Monad. The Monad must be allowed to work through the ego. |
Cách diễn giải cao hơn của châm ngôn này áp dụng khi phàm ngã đã được đặt sang một bên, và con người là một với chân ngã. Khi ấy y học rằng cá tính phải được đặt sang một bên, và tìm kiếm tâm thức của chân thần. Chân thần phải được cho phép hoạt động qua chân ngã. |
|
That the warrior is eternal and sure may be taken as relatively true of the ego in relation to the lower self. We may take it as absolutely true with regard to the Monad in relation to the ego. The ego, as has been said, may often make mistakes at an earlier stage, but he is far less likely to do so than is the personality. The Monad makes no mistakes; but on the other hand, if one may venture to speak of the Monad as though one understood him when really one does not, one might say that the Monad’s knowledge of conditions down here would probably be somewhat vague. His instinct cannot but be on the side of right, for he is divine. He is eternal and is sure, as is said here, but it may be that the views taken both by the Monad and the ego are often general, and in our efforts to apply them on this plane we may make errors, because the whole purpose of descent into matter is to gain the precision and accuracy which result from perfect acquaintance with lower conditions. Since their evolution is not complete both the Monad and ego have not yet this accurate knowledge. They are for us the guides; one must not do other than obey them; but even these guides are themselves unfolding. |
Việc chiến sĩ là vĩnh cửu và chắc chắn có thể được xem là tương đối đúng đối với chân ngã trong mối liên hệ với phàm ngã. Chúng ta có thể xem điều đó là tuyệt đối đúng đối với chân thần trong mối liên hệ với chân ngã. Như đã nói, chân ngã thường có thể phạm sai lầm ở một giai đoạn sớm hơn, nhưng nó ít có khả năng làm như vậy hơn rất nhiều so với phàm ngã. Chân thần không phạm sai lầm; nhưng mặt khác, nếu người ta dám nói về chân thần như thể mình thấu hiểu nó trong khi thật ra mình không thấu hiểu, người ta có thể nói rằng tri thức của chân thần về các điều kiện dưới này có lẽ khá mơ hồ. Bản năng của nó không thể không ở về phía đúng, vì nó là thiêng liêng. Nó là vĩnh cửu và chắc chắn, như ở đây nói, nhưng có thể những quan điểm được cả chân thần lẫn chân ngã nắm giữ thường có tính tổng quát, và trong nỗ lực áp dụng chúng trên cõi này, chúng ta có thể phạm sai lầm, bởi vì toàn bộ mục đích của việc đi xuống vật chất là để đạt được sự chính xác và chuẩn xác, vốn là kết quả của sự quen thuộc hoàn hảo với các điều kiện thấp. Vì sự tiến hoá của họ chưa hoàn tất, cả chân thần lẫn chân ngã vẫn chưa có tri thức chính xác này. Đối với chúng ta, họ là những vị hướng đạo; người ta không được làm điều gì khác hơn là vâng theo họ; nhưng ngay cả các vị hướng đạo này cũng đang tự khai mở. |
|
On the higher level the day of the great peace will be the attainment of nirvana. At the lower level it means the unification of the lower and the higher self. |
Ở cấp độ cao hơn, ngày của nền hòa bình vĩ đại sẽ là việc đạt tới Niết Bàn. Ở cấp độ thấp hơn, nó có nghĩa là sự hợp nhất của phàm ngã và chân ngã. |
|
2. Look for the Warrior, and let him fight in thee. |
2. Hãy tìm Chiến Sĩ, và để Ngài chiến đấu trong ngươi. |
|
Look for him, else in the fever and hurry of the fight thou mayest pass him; and he will not know thee unless thou knowest him. If thy cry reach his listening ear, then will he fight in thee, and fill the dull void within. And if this is so, then canst thou go through the fight cool and unwearied, standing aside and letting him battle for thee. Then it will be impossible for thee to strike one blow amiss. |
Hãy tìm Ngài, nếu không trong cơn sốt và sự vội vã của trận chiến, ngươi có thể đi lướt qua Ngài; và Ngài sẽ không biết ngươi trừ khi ngươi biết Ngài. Nếu tiếng kêu của ngươi chạm đến tai lắng nghe của Ngài, khi ấy Ngài sẽ chiến đấu trong ngươi, và lấp đầy khoảng trống u ám bên trong. Và nếu điều này là như vậy, khi ấy ngươi có thể đi qua trận chiến một cách điềm tĩnh và không mệt mỏi, đứng sang một bên và để Ngài chiến đấu cho ngươi. Khi ấy ngươi sẽ không thể đánh sai dù chỉ một đòn. |
|
That seems a curious thing to say about the higher self, but it is true; he is raying out splendidly, but indefinitely. Until one can see the ego in men one has no conception of how great a being an ego really is, how infinitely wiser and stronger than the incarnate entity. Still, there is no need for anyone to be proud or conceited about the fact that he is a very fine person, a magnificent person, at a much higher level, for so is every other soul of man. Every one is in reality very much better than he ever seems to be. The greatest saint can never fully express his ego; he is always on that higher plane a still greater saint than he can ever be down here. Therefore we must try to let this higher part of ourselves play through us. This ego is far finer, far better than the personality, but he puts forth the personality in order that he may evolve, to become himself more nearly perfect. He requires that evolution, so we must not make the mistake of regarding the ego as perfect; he is not. What he needs mainly for his evolution is definiteness, accuracy. He is magnificent but, if we may venture to say so, vague in his magnificence. |
Điều đó có vẻ là một điều kỳ lạ khi nói về chân ngã, nhưng nó là sự thật; chân ngã đang phát quang rực rỡ, nhưng không xác định. Cho đến khi người ta có thể thấy chân ngã trong con người, người ta không có quan niệm nào về một chân ngã thật sự là một hữu thể vĩ đại đến đâu, vô cùng minh triết và mạnh mẽ hơn thực thể nhập thể biết bao. Tuy vậy, không ai cần phải tự hào hay tự phụ về sự kiện rằng y là một người rất tốt đẹp, một người tráng lệ, ở một cấp độ cao hơn nhiều, vì mọi linh hồn khác của con người cũng như thế. Mỗi người trong thực tại đều tốt đẹp hơn rất nhiều so với vẻ ngoài của mình. Vị thánh vĩ đại nhất cũng không bao giờ có thể biểu lộ trọn vẹn chân ngã của mình; trên cõi cao hơn ấy, y luôn là một vị thánh còn vĩ đại hơn bất cứ điều gì y có thể là ở dưới này. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để phần cao hơn này của chính mình hoạt động xuyên qua chúng ta. Chân ngã này tốt đẹp hơn rất nhiều, cao đẹp hơn rất nhiều so với phàm ngã, nhưng nó phóng xuất phàm ngã để nhờ đó nó có thể tiến hoá, để chính nó trở nên gần với sự hoàn thiện hơn. Nó cần sự tiến hoá ấy, nên chúng ta không được phạm sai lầm khi xem chân ngã là hoàn hảo; nó không hoàn hảo. Điều nó cần chủ yếu cho sự tiến hoá của mình là tính xác định, sự chính xác. Nó tráng lệ, nhưng nếu chúng ta có thể dám nói như vậy, nó mơ hồ trong sự tráng lệ của nó. |
|
He desires to develop through that fragment of himself which is incarnated down here. He knows how to descend, but until he is himself to some extent developed he does not know how to guide the lower self. It is through the experiences of the lower self down here that he will learn how to do the things which he desires. His desire is evolution; he puts some of himself down, a tip of a finger, as it were into lower planes; that finger tip learns definiteness, but when it returns into him at the end of one short cycle of physical, astral, and mental life, what it takes back is only, if one might put it materially, a small amount of definiteness. Remember how the group soul has been gradually tinged by the experience of the different animals. 67 A lion, a cat or a dog may go through certain experiences and acquire certain qualities which may be very well marked in it as an individual. There may be enough of courage to make a remarkably courageous animal of that one cat, dog or lion, but when you put that amount into a group soul for a hundred there is only a hundredth part for each, so it needs a great many lives directed along similar lines in order that the quality may be strongly developed in the group soul as a whole. |
Nó mong muốn phát triển qua mảnh của chính nó đang nhập thể dưới này. Nó biết cách đi xuống, nhưng cho đến khi chính nó đã phát triển đến một mức nào đó, nó không biết cách hướng dẫn phàm ngã. Chính qua các kinh nghiệm của phàm ngã dưới này mà nó sẽ học cách làm những điều nó mong muốn. Mong muốn của nó là tiến hoá; nó đưa một phần của chính nó xuống, như thể đầu một ngón tay, vào các cõi thấp; đầu ngón tay ấy học tính xác định, nhưng khi nó trở về với chân ngã vào cuối một chu kỳ ngắn của đời sống hồng trần, cảm dục và trí tuệ, điều nó mang về chỉ là, nếu có thể diễn đạt một cách vật chất, một lượng nhỏ tính xác định. Hãy nhớ hồn nhóm đã dần dần được nhuộm màu bởi kinh nghiệm của các loài động vật khác nhau như thế nào. 67 Một con sư tử, mèo hay chó có thể trải qua những kinh nghiệm nào đó và thu được những phẩm tính nào đó có thể được đánh dấu rất rõ trong nó như một cá thể. Có thể có đủ lòng can đảm để khiến một con mèo, chó hay sư tử ấy trở thành một con vật can đảm đáng chú ý, nhưng khi bạn đưa lượng ấy vào một hồn nhóm dành cho một trăm cá thể, thì chỉ có một phần trăm cho mỗi cá thể, vì vậy cần rất nhiều kiếp sống được hướng dẫn theo những đường hướng tương tự để phẩm tính ấy có thể được phát triển mạnh mẽ trong toàn bộ hồn nhóm. |
|
Though the ego is an individual and is quite different from the group soul, yet in a way the same thing is true of him. He develops accuracy in a personality, but when that goes back into the ego the same amount has to be spread over the whole causal body. The amount which was quite sufficient to make one personality very accurate, when it goes into the ego is only a fractional part of his requirements. He may need many lives to develop enough of the quality to make it prominent in the next life, since the ego does not keep a particular piece of himself which is to be the personality, but out of the whole mass of himself he puts down something, yet not the same piece twice. |
Mặc dù chân ngã là một cá thể và hoàn toàn khác với hồn nhóm, nhưng theo một cách nào đó, điều tương tự cũng đúng với nó. Nó phát triển sự chính xác trong một phàm ngã, nhưng khi điều ấy trở về với chân ngã, cùng lượng ấy phải được trải ra trên toàn bộ thể nguyên nhân. Lượng đủ để làm cho một phàm ngã trở nên rất chính xác, khi đi vào chân ngã, chỉ là một phần nhỏ trong những gì nó cần. Nó có thể cần nhiều kiếp sống để phát triển đủ phẩm tính ấy khiến nó nổi bật trong kiếp sau, vì chân ngã không giữ một mảnh riêng biệt nào của chính nó để làm phàm ngã, mà từ toàn khối của chính nó, nó đưa xuống một điều gì đó, nhưng không phải cùng một mảnh hai lần. |
|
A highly developed ego, who has already acquired a great deal of accuracy, will understand the personality, and will work through it intelligently and try to make it an efficient instrument. But for the ordinary man of the world that is not in the least so. Therefore the personality must call out to him and then look for this influence. If the man down here, wanting to help in the Plan, does this, the ego instantly responds, and immediately pours himself out through the personality, who should then stand aside and let the warrior fight in him. |
Một chân ngã phát triển cao, đã thu được rất nhiều sự chính xác, sẽ thấu hiểu phàm ngã, và sẽ hoạt động qua nó một cách thông minh, đồng thời cố gắng làm cho nó trở thành một khí cụ hữu hiệu. Nhưng đối với người bình thường của thế gian thì điều đó hoàn toàn không như vậy. Vì vậy phàm ngã phải kêu gọi nó rồi tìm kiếm ảnh hưởng này. Nếu con người dưới này, muốn trợ giúp trong Thiên Cơ, làm điều đó, chân ngã lập tức đáp ứng, và ngay tức khắc tuôn đổ chính nó qua phàm ngã, rồi phàm ngã nên đứng sang một bên và để chiến sĩ chiến đấu trong mình. |
|
The ego has many splendid possibilities, which only need awakening. That is one reason for the great advance which is often made by a rough man who goes to war and perhaps loses his life for his convictions, or in any case stands a very definite risk of doing so. To do a big thing like that—to set an ideal above his personal comfort, above the possibility, of frightful pain, above the possibility, nay, even the probability, of death, wakens in the ego a very large response. |
Chân ngã có nhiều khả năng huy hoàng, chỉ cần được đánh thức. Đó là một lý do cho bước tiến lớn thường được thực hiện bởi một người thô ráp đi ra chiến tranh và có lẽ mất mạng vì niềm tin của mình, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào cũng đứng trước một nguy cơ rất xác định của việc ấy. Làm một điều lớn lao như thế — đặt một lý tưởng lên trên sự thoải mái cá nhân, lên trên khả năng chịu đau đớn khủng khiếp, lên trên khả năng, đúng hơn, thậm chí xác suất, của cái chết — đánh thức trong chân ngã một sự đáp ứng rất lớn. |
|
I have heard people argue somewhat against that. People have written to me saying: “You say that a soldier gains spirituality, but how can that be, because the soldier goes out inspired rather by hatred than by any noble feeling?” Even if it be true that he has such a feeling against the enemy, if he has volunteered to fight for what he considers the right, he does a big, noble and unselfish thing, and that reacts on the ego and awakens it more than almost any other single action would be likely to do. Sometimes in private life a man has an opportunity for sacrifice which is greater than the risk of his life; he may, for example, devote the whole of his time to the uncomplaining and unselfish service of another, foregoing amusements and change, and watching by a sick bed, in a case of chronic illness. Such sacrifices are greater even than the dramatic heroism of the soldier. But they are only few, while in time of war many thousands go forth and take the large opportunity. The man makes a wonderful effort of self-sacrifice; then the ego is aroused, and he pours down in response a splendid flood of devotion, capable of causing still more consistent sacrifice in another life. An effort of courage is perhaps required; that evokes from the ego a steady stream of courage, and so the man who loses his life shall find it, as Christ said long ago. He who has lost his life in such a way as this has certainly gained a much fuller life for his next incarnation, which will unquestionably be a bigger personality. The ego will be able to put down more of his power, and will also be much more able to direct the personality. |
Tôi đã nghe người ta tranh luận phần nào chống lại điều đó. Người ta đã viết cho tôi rằng: “Ông nói rằng một người lính đạt được tinh thần, nhưng làm sao điều đó có thể như vậy, bởi vì người lính ra trận được thôi thúc bởi lòng căm ghét hơn là bởi bất kỳ cảm xúc cao thượng nào?” Ngay cả nếu đúng là y có một cảm xúc như thế đối với kẻ thù, nếu y đã tình nguyện chiến đấu cho điều mà y xem là đúng, y làm một điều lớn lao, cao thượng và vị tha, và điều đó tác động lên chân ngã và đánh thức nó nhiều hơn hầu như bất kỳ hành động đơn lẻ nào khác có thể làm. Đôi khi trong đời sống riêng tư, một người có cơ hội hy sinh còn lớn hơn nguy cơ mất mạng; chẳng hạn, y có thể hiến toàn bộ thời gian của mình cho sự phụng sự không than phiền và vị tha đối với một người khác, từ bỏ thú vui và sự thay đổi, và canh bên giường bệnh trong một trường hợp bệnh mãn tính. Những hy sinh như thế còn lớn hơn cả chủ nghĩa anh hùng kịch tính của người lính. Nhưng chúng chỉ ít, trong khi vào thời chiến, nhiều nghìn người ra đi và nắm lấy cơ hội lớn. Con người thực hiện một nỗ lực hy sinh bản thân kỳ diệu; khi ấy chân ngã được khơi dậy, và nó tuôn xuống để đáp ứng bằng một dòng sùng tín huy hoàng, có khả năng gây nên sự hy sinh còn bền bỉ hơn trong một kiếp sống khác. Có lẽ cần một nỗ lực can đảm; điều đó gợi lên từ chân ngã một dòng can đảm đều đặn, và như thế người nào mất mạng mình sẽ tìm được nó, như Đức Christ đã nói từ lâu. Người đã mất mạng mình theo cách như thế chắc chắn đã đạt được một đời sống đầy đủ hơn nhiều cho kiếp nhập thể kế tiếp, vốn chắc chắn sẽ là một phàm ngã lớn hơn. Chân ngã sẽ có thể đưa xuống nhiều quyền năng hơn của nó, và cũng sẽ có khả năng hướng dẫn phàm ngã nhiều hơn. |
|
Another way in which “in the fever and hurry of the fight thou mayest pass him” becomes possible when men are devoting themselves to good works^ and they permit the personality to come up in them. It ought never to happen with students of occultism, but it does. There is a vast amount of good work being done in the Theosophical Society, and quite assuredly those who do it ought to be entirely above any sort of personal feeling in regard to it; but often they are not. A person feels: “This little bit of work is mine, and therefore it must take precedence of other work. It is not that I am doing, it for j my own satisfaction and therefore do not want to see anybody else doing it; but I want to do it because I am quite sure they could not do it as well.” Such an attitude is full of personal aggrandizement. To have any connection with work like ours develops a person, makes his feelings keener, and ought to make his intellect brighter: the very fact that it has this stimulating influence tends to accentuate the personality, but that is no excuse for the folly of permitting it so to do. |
Một cách khác khiến “trong cơn sốt và sự vội vã của trận chiến, ngươi có thể đi lướt qua Ngài” trở nên khả hữu là khi con người hiến mình cho các công việc tốt lành^ và họ cho phép phàm ngã nổi lên trong họ. Điều đó không bao giờ nên xảy ra với các đạo sinh huyền bí học, nhưng nó vẫn xảy ra. Có một khối lượng lớn công việc tốt lành đang được thực hiện trong Hội Thông Thiên Học, và chắc chắn những người làm điều đó đáng lẽ phải hoàn toàn vượt trên mọi loại cảm xúc cá nhân liên quan đến nó; nhưng họ thường không như vậy. Một người cảm thấy: “Mảnh công việc nhỏ này là của tôi, và vì vậy nó phải được ưu tiên hơn công việc khác. Không phải tôi làm nó vì sự thỏa mãn của riêng tôi và do đó không muốn thấy bất cứ ai khác làm nó; mà tôi muốn làm nó vì tôi hoàn toàn chắc chắn họ không thể làm tốt bằng.” Một thái độ như thế đầy sự tự khuếch đại cá nhân. Có bất kỳ liên hệ nào với công việc như của chúng ta đều phát triển một người, làm cho cảm xúc của y bén nhạy hơn, và đáng lẽ phải làm cho trí tuệ của y sáng hơn: chính sự kiện nó có ảnh hưởng kích thích này có khuynh hướng làm nổi bật phàm ngã, nhưng đó không phải là lý do bào chữa cho sự điên rồ của việc cho phép nó làm như vậy. |
|
The same thing occurs in other organizations. In my younger days as a priest I had a great deal to do with church work of all sorts, including the training of choirs. The people concerned in that work are all labouring directly for the church of God, supposed to be devoting themselves to something higher than the average man outside, yet I think there is no other set of people among whom there is so much squabbling as there is among church workers and choirs. No one who has had to train them but will recognize that it is a fact. It is sad but true, and it ought not to be so. Yet it occurs precisely because they have been working in connection with something a little above the ordinary level, and in doing that the life in them has been roused more than is usual. |
Điều tương tự xảy ra trong các tổ chức khác. Khi tôi còn trẻ là một linh mục, tôi có rất nhiều việc phải làm với đủ loại công việc nhà thờ, bao gồm việc huấn luyện các ca đoàn. Những người liên quan đến công việc ấy đều đang lao động trực tiếp cho giáo hội của Thượng đế, được cho là đang hiến mình cho điều gì cao hơn người bình thường bên ngoài, vậy mà tôi nghĩ không có nhóm người nào khác trong đó có nhiều sự cãi vã như giữa những người hoạt động nhà thờ và các ca đoàn. Không ai từng phải huấn luyện họ mà không nhận ra đó là một sự kiện. Điều ấy đáng buồn nhưng đúng, và lẽ ra không nên như thế. Tuy vậy nó xảy ra chính vì họ đã làm việc trong liên hệ với điều gì đó hơi cao hơn cấp độ thông thường, và khi làm như vậy, sự sống trong họ đã được khơi dậy nhiều hơn thường lệ. |
|
The disciple has to take care that his personality does not come up in these good works, because if it does he will lose sight of the higher guide. The ego can fight in him and work through him only when he is devoted to the work, not to his personal share or part in it. He may forget the higher self in a rush of personality, and then he will not be in a condition to receive his help, to listen to a hint from him; thus he may for the time shut himself off from the ego and lose the great benefit of his help. The vagueness of the higher self, unless he is a developed ego, would perhaps preclude him from indicating a particular line of work, but when the personality, being more definite, has found the work, the ego can and does pour himself down into it, and does enable him to do it in a much better manner and in an altogether grander frame of mind than the personality could attain unaided. |
Đệ tử phải cẩn thận để phàm ngã của mình không nổi lên trong các công việc tốt lành này, bởi vì nếu nó nổi lên, y sẽ mất dấu vị hướng đạo cao hơn. Chân ngã có thể chiến đấu trong y và hoạt động qua y chỉ khi y hiến mình cho công việc, chứ không cho phần hay vai trò cá nhân của y trong đó. Y có thể quên chân ngã trong một cơn dâng trào của phàm ngã, và khi ấy y sẽ không ở trong điều kiện để nhận sự trợ giúp của nó, để lắng nghe một gợi ý từ nó; như vậy trong một thời gian y có thể tự cắt mình khỏi chân ngã và mất lợi ích lớn lao từ sự trợ giúp của nó. Sự mơ hồ của chân ngã, trừ khi nó là một chân ngã đã phát triển, có lẽ sẽ ngăn nó chỉ ra một đường lối công việc cụ thể, nhưng khi phàm ngã, vì xác định hơn, đã tìm thấy công việc, chân ngã có thể và thật sự tuôn chính nó xuống vào công việc ấy, và quả thật giúp y làm nó theo một cách tốt hơn nhiều và trong một trạng thái tâm thức hoàn toàn cao cả hơn phàm ngã có thể đạt được nếu không được trợ giúp. |
|
But if thou look not for him, if thou pass him by, then there is no safeguard for thee. Thy brain will reel, thy heart grow uncertain, and in the dust of the battle-field thy sight and senses will fail, and thou wilt not know thy friends from thy enemies. |
Nhưng nếu ngươi không tìm Ngài, nếu ngươi đi lướt qua Ngài, khi ấy không có sự bảo vệ nào cho ngươi. Bộ não ngươi sẽ quay cuồng, trái tim ngươi trở nên bất định, và trong bụi của chiến trường, thị giác và các giác quan của ngươi sẽ thất bại, và ngươi sẽ không biết bạn mình với kẻ thù của mình. |
|
All that is described here does occur when the personality does not look for the higher guidance. He does not know his friends from his enemies; he is carried away by the swirl of passion, and under its influence will believe what is said by someone who is not in the least a real friend. One sees that often in daily life; if a person is excited or angry or jealous, he will listen to the ridiculous gossip of those who call themselves friends but in reality are not friends at all. |
Tất cả những gì được mô tả ở đây đều xảy ra khi phàm ngã không tìm kiếm sự dẫn dắt cao hơn. Y không biết bạn mình với kẻ thù của mình; y bị cuốn đi bởi vòng xoáy của đam mê, và dưới ảnh hưởng của nó sẽ tin điều được nói bởi một người hoàn toàn không phải là một người bạn thật sự. Người ta thường thấy điều đó trong đời sống hằng ngày; nếu một người bị kích động, tức giận hay ganh tị, y sẽ lắng nghe lời đồn nhảm nhí của những người tự gọi mình là bạn nhưng trong thực tế hoàn toàn không phải là bạn. |
|
A gossip, a mischief-maker, is no one’s friend; he is the worst enemy to those to whom he speaks. It is a very sad thing indeed for one who contacts a person of that sort, and believes what is said by him. As soon as we hear a person beginning to speak censoriously about someone else it is best to avoid him as soon as possible, because we may be quite sure that we shall learn nothing of any good, and also that the person who speaks wrongly about another to us will speak in the same way about us to the next person whom he or she happens to meet. Therefore it is better to have nothing whatever to do with these gossiping people, and not to be in the least influenced by anything that they say. Often when a person hears what they say he replies, “I do not believe it; I will not pay attention to it,” but all the same he is somewhat affected by it; he lets it recur to bis mind again and again, and wonders whether what was said could have had any foundation in fact, instead of at once treating it with contempt, which is the only reasonable attitude to take. |
Kẻ ngồi lê đôi mách, kẻ gây chia rẽ, không phải là bạn của ai cả; y là kẻ thù tồi tệ nhất đối với những người mà y nói chuyện. Thật là một điều rất đáng buồn cho người nào tiếp xúc với một người như thế và tin điều y nói. Ngay khi chúng ta nghe một người bắt đầu nói xét đoán về người khác, tốt nhất là tránh y càng sớm càng tốt, bởi vì chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng chúng ta sẽ không học được điều gì tốt lành, và cũng rằng người nói sai về người khác với chúng ta sẽ nói theo cùng cách về chúng ta với người kế tiếp mà y hoặc bà tình cờ gặp. Vì vậy tốt hơn là hoàn toàn không liên hệ gì với những người hay ngồi lê đôi mách ấy, và không bị ảnh hưởng chút nào bởi bất cứ điều gì họ nói. Thường khi một người nghe điều họ nói, y đáp: “Tôi không tin điều đó; tôi sẽ không chú ý đến điều đó,” nhưng dù vậy y vẫn phần nào bị ảnh hưởng bởi nó; y để nó trở đi trở lại trong trí mình, và tự hỏi liệu điều đã được nói có thể có nền tảng nào trong sự kiện hay không, thay vì lập tức đối xử với nó bằng sự khinh thường, vốn là thái độ hợp lý duy nhất cần có. |
|
When once one knows a person well, one ought to be prepared to follow one’s own knowledge of him, and not be swept away by what is said by others who may know him less. There are among us different dispositions of all kinds, but broadly speaking one cannot go wrong if one keeps to one’s own knowledge of what a person is and thinks and does, until one sees quite clearly for oneself that that person has in some way changed, and even then one must not take a single example. One must wait and see, because often for the moment a person is changed by a little ill-health, or sleeplessness, and then he says and does things that he would not say or do under other circumstances. So one must not judge one’s friend hastily by a single word or action, but must wait and see how things really are with him.68 To suppose him to be changed because somebody says he is, is absolutely unfair. When you have a friend, stand by him and wait until he himself says something or does something which supports this idea of what he is supposed to be thinking or doing or saying; do not accept the evidence of other people who may be speaking under some mistake, made by carelessness or because they do not like him. |
Một khi người ta biết rõ một người, người ta phải sẵn sàng đi theo tri thức của chính mình về người ấy, và không bị cuốn đi bởi điều được nói bởi những người khác có thể biết người ấy ít hơn. Giữa chúng ta có đủ loại khuynh hướng khác nhau, nhưng nói rộng ra, người ta không thể sai nếu giữ vững tri thức của chính mình về việc một người là gì, nghĩ gì và làm gì, cho đến khi người ta tự mình thấy thật rõ rằng người ấy bằng cách nào đó đã thay đổi, và ngay cả khi ấy người ta cũng không được dựa vào một ví dụ đơn lẻ. Người ta phải chờ và xem, bởi vì thường trong một khoảnh khắc, một người bị thay đổi bởi một chút bệnh tật hay mất ngủ, rồi y nói và làm những điều mà y sẽ không nói hay làm trong những hoàn cảnh khác. Vì vậy người ta không được vội phán xét bạn mình bởi một lời nói hay hành động đơn lẻ, mà phải chờ và xem mọi việc thật sự ra sao với y.68 Giả định rằng y đã thay đổi vì ai đó nói y đã thay đổi là hoàn toàn bất công. Khi bạn có một người bạn, hãy đứng về phía y và chờ cho đến khi chính y nói điều gì đó hay làm điều gì đó hỗ trợ ý tưởng này về điều y được cho là đang nghĩ, làm hay nói; đừng chấp nhận bằng chứng của những người khác, những người có thể đang nói dưới một sự hiểu lầm nào đó, do bất cẩn hoặc vì họ không thích y. |
|
Just as a person who allows himself to be swayed in that way comes not to know his friends from his enemies and not to understand the facts at all, so also the very same happens to the man who lets his personality dominate him. If jealousy seizes upon him he becomes absolutely blinded. His normal senses are of no use to him; he does not listen to them at all; he makes up his mind beforehand on every subject and it is quite useless to try to turn him. It is very odd, and it is sad to see how ready people are to believe evil of others. The evil may be refuted; it may be clearly shown that there is no foundation for it; but still a certain suspicion remains. |
Cũng như một người cho phép mình bị dao động theo cách ấy đi đến chỗ không biết bạn mình với kẻ thù của mình và hoàn toàn không thấu hiểu các sự kiện, điều tương tự cũng xảy ra với người để phàm ngã chi phối mình. Nếu sự ganh tị chiếm lấy y, y trở nên hoàn toàn mù quáng. Các giác quan bình thường của y không còn ích gì cho y; y hoàn toàn không lắng nghe chúng; y quyết định trước về mọi đề tài và việc cố làm y đổi hướng là hoàn toàn vô ích. Điều đó rất lạ, và thật đáng buồn khi thấy người ta sẵn sàng tin điều xấu về người khác đến thế nào. Điều xấu có thể bị bác bỏ; có thể được chỉ rõ rằng nó không có nền tảng; nhưng vẫn còn lại một sự nghi ngờ nào đó. |
|
All this should not be so, but it comes partly from an excess of the development of the particular part of ourselves in the evolution of which humanity is at present engaged. The lower mind learns by discrimination, by distinguishing differences between this thing and that, and therefore it always pounces first of all upon differences. Therefore when a man comes into contact with a person whom he does not know, with any idea which is unfamiliar to him, or with a book which he has not seen before, the general tendency is to seize first upon the things he does, not like, those which are different from the things to which he is accustomed, and then magnify them out of all proportion. The reason for this is that we have developed this discriminating faculty a little too much, or rather we have not yet developed the counterbalancing buddhic faculty sufficiently. It is very well to be able to discriminate. It is a necessity; but we ought to have as well the spirit of synthesis, which sees likenesses as well as differences. |
Tất cả điều này không nên như vậy, nhưng nó phần nào đến từ sự phát triển quá mức của phần đặc thù trong chính chúng ta mà nhân loại hiện nay đang tham gia vào sự tiến hoá của nó. Hạ trí học bằng sự phân biện, bằng cách phân biệt những khác biệt giữa điều này và điều kia, và vì vậy nó luôn chụp lấy trước hết những khác biệt. Do đó, khi một người tiếp xúc với một người mà y không biết, với bất kỳ ý tưởng nào xa lạ với y, hay với một cuốn sách mà y chưa từng thấy trước đó, khuynh hướng chung là trước hết nắm lấy những điều y không thích, những điều khác với những gì y quen thuộc, rồi phóng đại chúng vượt quá mọi tỉ lệ. Lý do là chúng ta đã phát triển khả năng phân biện này hơi quá mức, hay đúng hơn, chúng ta chưa phát triển đầy đủ khả năng Bồ đề đối trọng. Có thể phân biện là điều rất tốt. Đó là một nhu cầu thiết yếu; nhưng chúng ta cũng phải có tinh thần tổng hợp, thấy những điểm tương đồng cũng như những khác biệt. |
|
The teaching given in this passage also appears very emphatically in The Bhagavad-Gita: |
Giáo huấn được trao trong đoạn này cũng xuất hiện rất mạnh mẽ trong Chí Tôn Ca: |
|
Man, musing on the objects of sense, conceiveth an attachment to these; from attachment ariseth desire; from desire anger cometh forth; from anger proceedeth delusion; from delusion confused memory; from confused memory the destruction of buddhi; from destruction of buddhi he perishes.69 |
Con người, khi suy tưởng về các đối tượng của giác quan, tạo nên sự quyến luyến đối với chúng; từ quyến luyến phát sinh dục vọng; từ dục vọng, cơn giận xuất hiện; từ cơn giận phát sinh ảo tưởng; từ ảo tưởng, ký ức rối loạn; từ ký ức rối loạn, sự hủy diệt của Bồ đề; từ sự hủy diệt của Bồ đề, y diệt vong.69 |
|
It is difficult, I know, for us to realize how the Monad can be divine and yet at the same time undeveloped, how he can be different at the end of his incarnation in the individuality from what he was at the beginning. Let us take an analogy, imperfect as it is. The human body is composed of millions upon millions of cells. Those are human cells because they are part of the man, and yet if there be any kind of evolution—and perhaps there is—by which the soul of the cell can one day become the soul of a human being, surely one would not say that in the end there had been no evolution, because the cell was human to begin with. That simile may suggest how the Monad is part of the Logos, yet not unfolded. It is not safe, I know, to make analogies of that kind from the lower to the higher, and then press them to fit into every detail, because usually they will not. There is a great occult saying: “As above, so below,” but the converse of that: “As below, so above,” is true only with narrow and restricting limitations. I think we may safely reason down, as the Hindus do, from what they are told exists above, to what therefore they must find somewhere below, in a general way. But it is not quite safe to reverse the process, because the arrangements on the higher planes are obviously greater and wider, though we do not know the ways in which they are so. We may often mislead ourselves if we say that because a certain thing happens down here it must also happen up above. Something which is an expression of the same law must happen up above, but it may take some form which we should not recognize. |
Điều đó thật khó, tôi biết, để chúng ta nhận ra làm sao chân thần có thể thiêng liêng mà đồng thời vẫn chưa phát triển, làm sao Ngài có thể khác ở cuối cuộc lâm phàm trong cá thể tính so với lúc ban đầu. Chúng ta hãy lấy một phép tương đồng, dù không hoàn hảo. Thể xác con người gồm hàng triệu triệu tế bào. Chúng là các tế bào người vì chúng là một phần của con người, thế nhưng nếu có một loại tiến hoá nào đó — và có lẽ là có — nhờ đó linh hồn của tế bào một ngày kia có thể trở thành linh hồn của một con người, thì chắc chắn người ta sẽ không nói rằng rốt cuộc không hề có sự tiến hoá nào, chỉ vì tế bào ấy vốn đã là người ngay từ đầu. Hình ảnh so sánh ấy có thể gợi ý cách chân thần là một phần của Thượng đế, nhưng vẫn chưa khai mở. Tôi biết, không an toàn khi lấy những phép tương đồng như thế từ thấp lên cao, rồi ép chúng phải khớp với từng chi tiết, vì thường thì chúng sẽ không khớp. Có một câu nói huyền bí vĩ đại: “trên sao, dưới vậy”, nhưng câu đảo lại: “dưới sao, trên vậy”, chỉ đúng trong những giới hạn hẹp và hạn chế. Tôi nghĩ chúng ta có thể lý luận một cách an toàn từ trên xuống, như người Ấn Độ vẫn làm, từ những gì họ được cho biết là tồn tại ở trên, đến những gì vì thế họ phải tìm thấy ở đâu đó bên dưới, theo nghĩa tổng quát. Nhưng đảo ngược tiến trình ấy thì không hoàn toàn an toàn, vì những sắp đặt trên các cõi cao hiển nhiên lớn lao và rộng rãi hơn, dù chúng ta không biết chúng lớn lao và rộng rãi theo những cách nào. Chúng ta thường có thể tự đánh lừa mình nếu nói rằng vì một điều nào đó xảy ra dưới này nên nó cũng phải xảy ra ở trên kia. Một điều gì đó là biểu hiện của cùng một định luật hẳn phải xảy ra ở trên kia, nhưng nó có thể mang một hình thức mà chúng ta không nhận ra. |
|
The analogy of the cells within the body is not quite a safe one to follow far, but there are various points across which we come in our study which indicate that something of that kind is taking place. We know that the ensouling life of all the lower kingdoms becomes in its turn only a vehicle for a still higher life when man is individualized. The causal body that we are using now was the soul of some animal from which we individualized, so what is at one stage the ensouling life may later on become a vehicle. Stated in that way, however, this truth needs reservations, because although what is in man the causal body was all of the soul that could be seen with regard to the animal and the plant, yet it is matter on a definite level, and there must have been life from above, ensouling and vivifying that matter, unseen. We must remember always that the energy, the spirit, we can never really see, but only its manifestation in some form of matter. Let us take this physical body as an example. What is it that is ensouling that? It is the man in his astral body. That astral body we cannot see; therefore at this stage it is to us the soul. If astral sight is developed we find that it in turn is energized by something higher. That proves to be the mental body; and that in turn is energized by the ego—and so it goes on, all the way up. What to us appears the ensouling life is never the real spirit, but some manifestation of it. When we get to the highest that we can, the bubbles of koilon—in the true aether of space—to our present sight appear to be empty. Of course they are not so, because there is in them something which has power to hold the incredible force of the aether apart. Therefore very decidedly there is something in that apparently empty space. At present we cannot see it, but perhaps later developments may enable us to do so. Then what we see will not be the ensouling spirit, but some higher form of matter through which that ensouling spirit is manifesting. The higher force is never seen at all. |
Phép tương đồng về các tế bào trong thân thể không thật an toàn để theo quá xa, nhưng có nhiều điểm mà chúng ta gặp trong việc nghiên cứu cho thấy rằng một điều gì đó thuộc loại ấy đang diễn ra. Chúng ta biết rằng sự sống phú linh của tất cả các giới thấp đến lượt nó chỉ trở thành một vận cụ cho một sự sống còn cao hơn khi con người được biệt ngã hóa. Thể nguyên nhân mà chúng ta đang dùng hiện nay từng là linh hồn của một con vật nào đó mà từ đó chúng ta biệt ngã hóa; như vậy, điều ở một giai đoạn là sự sống phú linh về sau có thể trở thành một vận cụ. Tuy nhiên, khi phát biểu như thế, chân lý này cần có những dè dặt, bởi vì tuy điều trong con người là thể nguyên nhân từng là tất cả phần linh hồn có thể thấy được liên quan đến con vật và cây cỏ, nó vẫn là vật chất trên một cấp độ xác định, và hẳn đã có sự sống từ trên cao phú linh và tiếp sinh lực cho vật chất ấy, dù không thấy được. Chúng ta phải luôn nhớ rằng năng lượng, tinh thần, chúng ta không bao giờ thật sự thấy được, mà chỉ thấy sự biểu hiện của nó trong một hình thức vật chất nào đó. Hãy lấy thể xác này làm ví dụ. Điều gì đang phú linh cho nó? Đó là con người trong thể cảm dục của y. Thể cảm dục ấy chúng ta không thấy được; vì thế ở giai đoạn này, đối với chúng ta, nó là linh hồn. Nếu nhãn quan cảm dục được phát triển, chúng ta thấy rằng đến lượt nó lại được tiếp năng lượng bởi một điều gì cao hơn. Điều ấy chứng tỏ là thể trí; và đến lượt thể trí lại được tiếp năng lượng bởi chân ngã — và cứ thế tiếp diễn, suốt lên trên. Điều đối với chúng ta có vẻ là sự sống phú linh không bao giờ là tinh thần thật sự, mà chỉ là một biểu hiện nào đó của nó. Khi chúng ta đi đến mức cao nhất mà chúng ta có thể, những bọt koilon — trong dĩ thái chân thực của không gian — đối với nhãn quan hiện nay của chúng ta có vẻ trống rỗng. Dĩ nhiên chúng không phải như vậy, vì trong chúng có một điều gì đó có quyền năng giữ mãnh lực không thể tin nổi của dĩ thái tách rời ra. Vì vậy, rất chắc chắn có một điều gì đó trong khoảng không dường như trống rỗng ấy. Hiện nay chúng ta không thể thấy nó, nhưng có lẽ những phát triển về sau sẽ giúp chúng ta làm được điều đó. Khi ấy, điều chúng ta thấy sẽ không phải là tinh thần phú linh, mà là một hình thức vật chất cao hơn nào đó qua đó tinh thần phú linh ấy đang biểu hiện. Mãnh lực cao hơn thì không bao giờ được thấy cả. |
|
3. Take his orders for battle, and obey them. |
3. Hãy nhận các mệnh lệnh chiến đấu của Ngài, và tuân phục chúng. |
|
Obey him, not as though he were a general, but as though he were thyself, and his spoken words were the utterance of thy secret desires; for he is thyself, yet infinitely wiser and stronger than thyself. |
Hãy tuân phục Ngài, không phải như thể Ngài là một vị tướng, mà như thể Ngài là chính ngươi, và những lời Ngài nói ra là sự phát biểu của những ước vọng bí mật của ngươi; vì Ngài là chính ngươi, nhưng minh triết và mạnh mẽ hơn ngươi vô hạn. |
|
We must learn that whenever there is a conflict between the higher and the lower, we are the higher. At first we do not feel definitely that it is ourself. Believing that it is so from our teaching, we must act as though we felt it to be so, and then very soon we shall find that it is true. Our danger is that we may identify ourselves with the lower and forsake the higher. |
Chúng ta phải học rằng bất cứ khi nào có một cuộc xung đột giữa cái cao và cái thấp, chúng ta là cái cao. Lúc đầu chúng ta không cảm thấy rõ ràng rằng đó là chính mình. Vì tin rằng điều ấy là như vậy theo giáo huấn của mình, chúng ta phải hành động như thể chúng ta cảm thấy nó là như vậy, rồi rất sớm chúng ta sẽ thấy rằng điều ấy là thật. Mối nguy của chúng ta là chúng ta có thể đồng hoá với cái thấp và rời bỏ cái cao. |
CHAPTER 3 — CHƯƠNG 3
RULES 5 TO 8 — CÁC QUY LUẬT 5 ĐẾN 8
|
C.W.L.—Rules 5, 6, 7 and 8 fall into one of our familiar groups. I will divide Rule 8, which consists of the comments by the Chohan, into the three portions appropriate to each of the shorter rules, and deal with them along with those rules, as in the last chapter. We have thus: |
C.W.L.—Các Quy luật 5, 6, 7 và 8 rơi vào một trong những nhóm quen thuộc của chúng ta. Tôi sẽ chia Quy luật 8, vốn gồm những lời bình của Đức Chohan, thành ba phần thích hợp với mỗi quy luật ngắn hơn, và bàn đến chúng cùng với các quy luật ấy, như trong chương trước. Như vậy chúng ta có: |
|
5. Listen to the song of life. |
5. Hãy lắng nghe bài ca của sự sống. |
|
Life itself has speech and is never silent. And its utterance is not, as you that are deaf may suppose, a cry: it is a song. Learn from it that you are part of the harmony; learn from it to obey the laws of harmony. |
Chính sự sống có tiếng nói và không bao giờ im lặng. Và lời phát biểu của nó không phải, như các ngươi là kẻ điếc có thể tưởng, là một tiếng kêu: đó là một bài ca. Hãy học từ đó rằng các ngươi là một phần của sự hòa điệu; hãy học từ đó để tuân phục các định luật của sự hòa điệu. |
|
On Aphorism 5 there is also a long note by the Master Hilarion, which begins: |
Về Cách ngôn 5 cũng có một chú giải dài của Chân sư Hilarion, bắt đầu như sau: |
|
Look for it, and listen to it, first in your own heart. At first you may say, “It is not there; when I search I find only discord.” Look deeper. If again you are disappointed, pause and look deeper again. There is a natural melody, an obscure fount in every human heart. It may be hidden over and utterly concealed and silenced—but it is there. At the very base of your nature you will find faith, hope, and love. |
Hãy tìm kiếm nó, và lắng nghe nó, trước hết trong chính trái tim ngươi. Ban đầu ngươi có thể nói: “Nó không có ở đó; khi tôi tìm kiếm, tôi chỉ thấy bất hòa.” Hãy nhìn sâu hơn. Nếu một lần nữa ngươi thất vọng, hãy dừng lại và nhìn sâu hơn nữa. Có một giai điệu tự nhiên, một nguồn mạch âm u trong mỗi trái tim con người. Nó có thể bị che phủ và hoàn toàn bị che giấu, bị làm cho im lặng — nhưng nó vẫn ở đó. Ngay nơi nền tảng sâu nhất của bản chất mình, ngươi sẽ tìm thấy đức tin, hy vọng và tình thương. |
|
What is meant is that underneath all life, and exhibited more or less according to the state of development of each life, is the great force that moves all things. In Christianity we have been taught to call it the will of God, or the love of God, but people very often use these religious terms in a vague way, so that they lose much of their reality and power. In popular religion there are several of these expressions which have a certain historical or traditional connotation, but really do not actually mean much to the people who use them. People talk, for example, about the grace of God, but I think very often they have but little idea of what they really mean. Again, when in church the Litany is recited, people say: “Spare us, good Lord.” That is a most amazing and utterly illogical and impossible sentence, but nobody ever seems to think of it. They say spare us “and call Him “good Lord” at the same time—a contradiction in terms. A good Lord would never need to be asked to spare anybody. To ask that is worse than wrong, because it suggests evil in God. It is blasphemy even worse than that of using His name in casual swearing, as people sometimes do in the streets, though that is bad enough. They are attributing to Him human passions, and malignity at that, and are asking Him not to exercise His malignity upon them. |
Điều muốn nói là bên dưới mọi sự sống, và được biểu lộ ít nhiều tùy theo trạng thái phát triển của mỗi sự sống, có mãnh lực vĩ đại làm chuyển động mọi sự. Trong Cơ Đốc giáo, chúng ta được dạy gọi nó là Ý Chí của Thượng Đế, hay tình thương của Thượng đế, nhưng người ta rất thường dùng các thuật ngữ tôn giáo này một cách mơ hồ, khiến chúng mất đi phần lớn thực tại và quyền năng của chúng. Trong tôn giáo phổ thông có nhiều cách diễn đạt như thế, có một ý nghĩa lịch sử hay truyền thống nào đó, nhưng thật ra không thực sự có nhiều ý nghĩa đối với những người dùng chúng. Chẳng hạn, người ta nói về ân sủng của Thượng đế, nhưng tôi nghĩ rất thường họ chỉ có rất ít ý niệm về điều họ thật sự muốn nói. Lại nữa, khi trong nhà thờ người ta đọc kinh cầu, họ nói: “Xin tha cho chúng con, lạy Chúa nhân lành.” Đó là một câu hết sức kỳ lạ, hoàn toàn phi lý và bất khả, nhưng dường như không ai từng nghĩ đến điều ấy. Họ nói xin tha cho chúng con “và đồng thời gọi Ngài là “Chúa nhân lành” — một mâu thuẫn trong chính thuật ngữ. Một Chúa nhân lành sẽ không bao giờ cần được cầu xin để tha cho bất cứ ai. Cầu xin như thế còn tệ hơn là sai lầm, vì nó gợi ý có điều ác trong Thượng đế. Đó là sự báng bổ còn tệ hơn cả việc dùng danh Ngài trong những lời chửi thề tùy tiện, như đôi khi người ta làm ngoài đường, dù điều ấy đã đủ xấu rồi. Họ gán cho Ngài những dục vọng của con người, hơn nữa là sự độc ác, và cầu xin Ngài đừng thi hành sự độc ác của Ngài đối với họ. |
|
In the same way people speak of the mercy of God. That again contains very much the same idea, that He might do something quite dreadful to you, but instead He elects to show mercy. Certainly all such phrases imply an utter misunderstanding of what the word God means; it is the grandest, the finest word that exists; it means the Good, and He who is good needs no entreaty to show mercy in a certain case, for He is always so full of love that the idea of anything else but mercy would be utterly unthinkable. God will certainly show love to all, irrespective of what they do. I do not know how people think a loving father would be likely to feel, if he found his children crawling to his feet and begging him to have mercy upon them. |
Cũng như vậy, người ta nói về lòng thương xót của Thượng đế. Điều ấy lại chứa gần như cùng một ý tưởng, rằng Ngài có thể làm một điều gì rất khủng khiếp đối với bạn, nhưng thay vào đó Ngài chọn bày tỏ lòng thương xót. Chắc chắn tất cả những cụm từ như thế đều hàm ý một sự hiểu lầm hoàn toàn về ý nghĩa của từ Thượng đế; đó là từ cao cả nhất, đẹp nhất hiện hữu; nó có nghĩa là Điều Thiện, và Đấng thiện lành không cần lời khẩn nài để bày tỏ lòng thương xót trong một trường hợp nào đó, vì Ngài luôn đầy tràn tình thương đến nỗi ý tưởng về bất cứ điều gì khác ngoài lòng thương xót sẽ hoàn toàn không thể nghĩ tới. Thượng đế chắc chắn sẽ bày tỏ tình thương với tất cả, bất kể họ làm gì. Tôi không biết người ta nghĩ một người cha yêu thương sẽ cảm thấy thế nào nếu ông thấy con cái mình bò đến dưới chân mình và van xin ông thương xót chúng. |
|
We have that difficulty to fight against when in Theosophy we try to talk about these higher forces. Those of us who have come through the various churches and chapels unfortunately have been accustomed to speak about such things freely, but to think of them as being utterly vague and meaning nothing in particular. People go to church and perhaps ask for the divine blessing, with a general idea that God will look after them, or something of that kind. I am afraid it is a very unscientific conception. What one ought to understand is that a church service is a means intended to convey a perfectly definite force. This thing—the blessing of God—is a force absolutely as definite as electricity, as real as the steam that moves our trains, and it flows through the channels appointed for it, through the priest or the Bishop. When he extends his hand a definite force flows from it over the people. There is a very definite raying out of force, which floods the whole church, and is received and appropriated by such people as have made themselves ready to receive it. It is true that some may sit there and not be influenced, but that is only because they have not in any way previously prepared themselves. |
Chúng ta phải chiến đấu với khó khăn ấy khi trong Thông Thiên Học chúng ta cố nói về những mãnh lực cao hơn này. Những ai trong chúng ta đã đi qua các giáo hội và nhà nguyện khác nhau, đáng tiếc thay, đã quen nói về những điều như thế một cách thoải mái, nhưng lại nghĩ về chúng như hoàn toàn mơ hồ và không mang một ý nghĩa đặc biệt nào. Người ta đi nhà thờ và có lẽ cầu xin phúc lành thiêng liêng, với một ý niệm chung chung rằng Thượng đế sẽ chăm sóc họ, hay điều gì đó thuộc loại ấy. Tôi e rằng đó là một quan niệm rất thiếu khoa học. Điều người ta nên thấu hiểu là một nghi lễ nhà thờ là một phương tiện nhằm truyền đạt một mãnh lực hoàn toàn xác định. Điều này — phúc lành của Thượng đế — là một mãnh lực tuyệt đối xác định như điện lực, thật như hơi nước vận hành những đoàn tàu của chúng ta, và nó tuôn chảy qua các kênh đã được chỉ định cho nó, qua linh mục hay Giám mục. Khi ông đưa tay ra, một mãnh lực xác định tuôn từ đó lên mọi người. Có một sự tỏa chiếu mãnh lực rất rõ ràng, tràn ngập toàn thể nhà thờ, và được tiếp nhận, hấp thu bởi những người đã tự chuẩn bị để tiếp nhận nó. Đúng là một số người có thể ngồi đó mà không chịu ảnh hưởng, nhưng đó chỉ vì trước đó họ không hề chuẩn bị bản thân theo bất cứ cách nào. |
|
So when people talk about the love and the grace of God they are usually thinking vaguely about things which are in reality very definite forces. It is sometimes hard for us to rid ourselves of this loose method of thought. It is not only those who have come along the line of the churches who suffer from it, but also those who have not, have lost something. Those who have come through this line have acquired in the process certain attitudes and powers of comprehension which those who have been free-thinkers have not so easily to hand. The orthodox church training is on the whole a good training, except for its bigotry and narrowness, and for the conception of God which it so often puts before its people. For the rest, the ideas of serving God by worship and by praise, and of gathering together so to worship Him, and to employ in that worship all such beauty as can be provided, are fine and beautiful, and I think that it is quite possible for them to co-exist with the widest and most liberal doctrine. They have not so co-existed for many centuries now, unfortunately, except in the case of a very few people, here and there. I have long believed that a church would sooner or later spring up which would combine these things, and now we have it in the Liberal Catholic Church. Those people who love the old church and her methods, her ritual and music, and all the beauty and gentleness of holiness, are now able to have all that, and yet at the same time to have with it a doctrine which is to all intents and purposes Theosophy. |
Vì vậy, khi người ta nói về tình thương và ân sủng của Thượng đế, họ thường nghĩ một cách mơ hồ về những điều trong thực tại là các mãnh lực rất xác định. Đôi khi thật khó cho chúng ta thoát khỏi phương pháp tư tưởng lỏng lẻo này. Không chỉ những ai đã đi theo con đường của các giáo hội mới chịu ảnh hưởng của nó; cả những người không đi theo con đường ấy cũng đã mất một điều gì đó. Những ai đã đi qua con đường này trong tiến trình ấy đã thu được một số thái độ và quyền năng thấu hiểu mà những người theo tư tưởng tự do không dễ có sẵn. Việc huấn luyện của giáo hội chính thống nói chung là một sự huấn luyện tốt, ngoại trừ tính cố chấp và hẹp hòi của nó, và quan niệm về Thượng đế mà nó thường đặt trước tín đồ của mình. Ngoài ra, các ý tưởng phụng sự Thượng đế bằng sự thờ phượng và ngợi ca, tụ họp lại để thờ phượng Ngài như thế, và dùng trong sự thờ phượng ấy tất cả vẻ đẹp có thể cung cấp, đều tốt đẹp và mỹ lệ, và tôi nghĩ hoàn toàn có thể để chúng cùng tồn tại với giáo lý rộng rãi và tự do nhất. Đáng tiếc thay, trong nhiều thế kỷ nay chúng đã không cùng tồn tại như vậy, ngoại trừ trong trường hợp rất ít người, rải rác đây đó. Từ lâu tôi đã tin rằng sớm muộn sẽ xuất hiện một giáo hội kết hợp được những điều này, và nay chúng ta có điều đó trong Giáo hội Công giáo Tự do. Những người yêu mến giáo hội xưa và các phương pháp của giáo hội ấy, nghi lễ và âm nhạc của giáo hội ấy, cùng mọi vẻ đẹp và sự dịu dàng của thánh thiện, nay có thể có tất cả những điều ấy, đồng thời lại có cùng với chúng một giáo lý mà xét mọi ý định và mục đích thì chính là Thông Thiên Học. |
|
So when in Theosophy we use terms corresponding to those which are commonly used in this vague way, we should understand that they are not cloudy or indefinite in any sense. If I speak of giving to anyone the blessing of the Master I mean a definite pouring out of a spiritual influence. It uses as its vehicle matter at a higher level than the physical plane, in most cases, but nevertheless it employs matter through which it influences the matter of the causal or mental or astral body, as the case may be; so let us altogether divest our minds of the least fragment of thought that this is a vague good influence which does not mean anything much. |
Vì vậy, khi trong Thông Thiên Học chúng ta dùng các thuật ngữ tương ứng với những thuật ngữ thường được dùng theo cách mơ hồ ấy, chúng ta nên thấu hiểu rằng chúng không hề mây mù hay bất định theo bất cứ nghĩa nào. Nếu tôi nói đến việc trao cho ai đó phúc lành của Chân sư, tôi muốn nói đến một sự tuôn đổ xác định của một ảnh hưởng tinh thần. Trong đa số trường hợp, nó dùng làm vận cụ của nó vật chất ở một cấp độ cao hơn cõi hồng trần, nhưng tuy vậy nó vẫn sử dụng vật chất qua đó nó ảnh hưởng đến vật chất của thể nguyên nhân, thể trí hay thể cảm dục, tùy trường hợp; vì vậy chúng ta hãy hoàn toàn loại khỏi thể trí mình mảnh nhỏ nhất của ý nghĩ rằng đây là một ảnh hưởng tốt lành mơ hồ, không mang nhiều ý nghĩa. |
|
This great force that moves all things has another side to it, which is the law of sacrifice. Sacrifice is a grand word, but people generally use it wrongly. They talk about making a sacrifice when they give up something and it tears the heart to do so. If men want to know what sacrifice really means in religion, they will have to wipe that idea out of their minds. They must take an entirely new interpretation of a word they have known all their lives. They may sometimes think that they now hold the true interpretation and have set aside the other, when the shadow of the old idea is still upon them, and it comes up and clouds the mind without their being aware of it; only gradually will it fade away completely. |
Mãnh lực vĩ đại làm chuyển động mọi sự này có một mặt khác, đó là định luật hi sinh. Hi sinh là một từ cao cả, nhưng người ta thường dùng nó sai. Họ nói về việc làm một sự hi sinh khi họ từ bỏ một điều gì đó và việc ấy làm xé nát trái tim. Nếu những người nam muốn biết hi sinh thật sự có nghĩa gì trong tôn giáo, họ sẽ phải xóa bỏ ý tưởng ấy khỏi trí mình. Họ phải nhận lấy một cách diễn giải hoàn toàn mới về một từ mà họ đã biết suốt đời. Đôi khi họ có thể nghĩ rằng nay họ đã nắm giữ cách diễn giải đúng và đã gạt bỏ cách kia, trong khi cái bóng của ý tưởng cũ vẫn còn trên họ, và nó nổi lên làm mờ thể trí mà họ không hay biết; chỉ dần dần nó mới phai đi hoàn toàn. |
|
The word “sacrifice” comes from the Latin sacrificio—“I make holy”. To sacrifice a thing is to offer it to God, thereby making it holy. The idea that when you offer it to Him you take it away from yourself is a secondary meaning introduced into it; if you want, as it is so often expressed in the Scriptures, to make yourself a perfect sacrifice unto God, there must in that be no idea of giving up anything at all. The truth is, though it sounds paradoxical, that as long as you feel anything to be a sacrifice it is not really so; it is not made holy at all. You are giving it but with a grudging hand. When you feel that you cannot do other than pour yourself out, as it were,^ at the feet of God or of Christ in perfect devotion; when you have no thought at all of giving up anything, because in the very nature of things you could not, do otherwise from the way in which you feel; when what you have within you makes it so that there is nothing else in the whole world that you could do but yield utterly to Him; perhaps then you are a perfect sacrifice. It is only when we have altogether forgotten the ideas that are ordinarily connected with the word that we can make a true sacrifice. It is a glorious word, but it does not mean to give up; it means to make holy. |
Từ “hi sinh” xuất phát từ tiếng La-tinh sacrificio—“tôi làm cho thánh thiện”. Hi sinh một điều gì là dâng nó cho Thượng đế, nhờ đó làm cho nó thánh thiện. Ý tưởng rằng khi bạn dâng nó cho Ngài thì bạn lấy nó khỏi chính mình là một ý nghĩa thứ yếu được đưa vào đó; nếu bạn muốn, như thường được diễn đạt trong Thánh Kinh, làm cho chính mình thành một sự hi sinh hoàn hảo dâng lên Thượng đế, thì trong đó không được có ý tưởng từ bỏ bất cứ điều gì cả. Sự thật là, dù nghe có vẻ nghịch lý, chừng nào bạn còn cảm thấy bất cứ điều gì là một sự hi sinh, thì nó chưa thật sự là như vậy; nó chưa hề được làm cho thánh thiện. Bạn đang trao nó với bàn tay miễn cưỡng. Khi bạn cảm thấy rằng mình không thể làm gì khác ngoài việc, có thể nói như vậy,^ tuôn đổ chính mình dưới chân Thượng đế hay Đức Christ trong sự sùng tín hoàn hảo; khi bạn không hề có ý nghĩ từ bỏ bất cứ điều gì, vì theo chính bản chất sự việc bạn không thể làm khác, bởi cách bạn cảm thấy; khi điều bạn có bên trong khiến cho không có điều gì khác trong toàn thế giới mà bạn có thể làm ngoài việc hoàn toàn thuận phục Ngài; có lẽ khi ấy bạn là một sự hi sinh hoàn hảo. Chỉ khi nào chúng ta đã hoàn toàn quên những ý tưởng thường được gắn với từ ấy, chúng ta mới có thể thực hiện một sự hi sinh chân thật. Đó là một từ huy hoàng, nhưng nó không có nghĩa là từ bỏ; nó có nghĩa là làm cho thánh thiện. |
|
The Logos Himself makes the greatest sacrifice of all, for He pours Himself down into matter. He limits His power and sheds His glory; truly, “For us men and for our salvation He came down from Heaven”. Those are beautiful words, but the meaning that is attached to them in modern days is often far from that; it is often altogether a degradation of the real idea. When understood, these ideas are seen to be beautiful and glorious and entirely to be commended and admired—but we must understand first. So the Christ makes of all sacrifices the greatest, and we, in so far as we dedicate ourselves to His service, take part in that sacrifice and make ourselves one with it. If one has once seen the reality behind, one can do no other than this; but then the world would no longer think of it as a sacrifice, because it would seem to be following one’s own will. Then the man goes on working with the evolutionary force, but he has forgotten what he gave. It is no longer a matter of giving up anything, but of having reached the true realization of oneself, and of knowing what one is here for. The thought of the Logos is such as that, and we must be like Him if we would truly sacrifice. |
Chính Thượng đế thực hiện sự hi sinh lớn lao nhất trong tất cả, vì Ngài tuôn chính mình xuống vật chất. Ngài giới hạn quyền năng của Ngài và rải ánh vinh quang của Ngài; thật vậy, “Vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta, Ngài đã từ Trời xuống”. Đó là những lời đẹp đẽ, nhưng ý nghĩa gán cho chúng trong thời hiện đại thường rất xa với điều ấy; thường hoàn toàn là một sự hạ thấp ý tưởng thật sự. Khi được thấu hiểu, những ý tưởng này được thấy là đẹp đẽ, huy hoàng và hoàn toàn đáng được tán dương, ngưỡng mộ — nhưng trước hết chúng ta phải thấu hiểu. Vì vậy Đức Christ thực hiện sự hi sinh lớn lao nhất trong mọi sự hi sinh, và chúng ta, trong mức độ hiến dâng bản thân cho sự phụng sự Ngài, tham dự vào sự hi sinh ấy và làm cho mình hợp nhất với nó. Nếu một người đã từng thấy thực tại phía sau, y không thể làm gì khác ngoài điều này; nhưng khi ấy thế gian sẽ không còn nghĩ về nó như một sự hi sinh, vì nó dường như là đi theo ý chí của chính mình. Khi ấy con người tiếp tục làm việc với mãnh lực tiến hoá, nhưng y đã quên điều y đã trao đi. Nó không còn là vấn đề từ bỏ điều gì, mà là vấn đề đã đạt đến sự chứng nghiệm chân thật về chính mình, và biết mình ở đây để làm gì. Tư tưởng của Thượng đế là như thế, và chúng ta phải giống Ngài nếu chúng ta muốn thật sự hi sinh. |
|
Dr. Besant has said that the fact that there is no religion in the world which is not full of ideas of sacrifice shows that there is some great esoteric truth underlying it. The Law of sacrifice has not been fully studied as yet, although a Master once said that it is as important as those of reincarnation and karma. |
Bà Besant đã nói rằng sự kiện không có tôn giáo nào trên thế giới không đầy những ý tưởng về hi sinh cho thấy rằng có một chân lý huyền bí lớn lao nào đó làm nền tảng cho nó. Định luật hi sinh vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, mặc dù một Chân sư từng nói rằng nó quan trọng như các định luật tái sinh và nghiệp quả. |
|
To see that reality behind things is to listen to the song of life. The song of life is the force which is all the time running under life. All the different movements in nature have sound and colour as their expressions and accompaniments—there are others of which we know nothing, but at least sound and colour are within our experience. It is possible to learn to hear something of the harmony of nature and to see something of its beauty and glory and order, and it is in that way more than in any other that one may come to be quite certain that all things are working together for good, and that the order which underlies this apparent disorder is out of all proportion and in every way greater, more important, more effective. The disorder is nothing but a slight disturbance, foam on the surface; the real depth of the sea lies beneath, and that obeys the divine law perfectly, even though on the surface that law may seem to be set at naught. |
Thấy thực tại ấy phía sau mọi sự là lắng nghe bài ca của sự sống. Bài ca của sự sống là mãnh lực luôn luôn vận hành bên dưới sự sống. Tất cả những chuyển động khác nhau trong thiên nhiên đều có âm thanh và màu sắc làm các biểu hiện và phần đi kèm của chúng — còn có những điều khác mà chúng ta không biết gì, nhưng ít nhất âm thanh và màu sắc nằm trong kinh nghiệm của chúng ta. Có thể học nghe được phần nào sự hòa điệu của thiên nhiên và thấy được phần nào vẻ đẹp, vinh quang và trật tự của nó; và theo cách ấy, hơn bất cứ cách nào khác, người ta có thể trở nên hoàn toàn chắc chắn rằng mọi sự đang cùng làm việc cho điều thiện, và trật tự nằm bên dưới sự hỗn loạn biểu kiến này lớn hơn, quan trọng hơn, hiệu quả hơn đến mức không thể so sánh theo mọi cách. Sự hỗn loạn chỉ là một xáo động nhỏ, bọt trên mặt nước; chiều sâu thật sự của biển nằm bên dưới, và nó tuân phục định luật thiêng liêng một cách hoàn hảo, dù trên bề mặt định luật ấy có thể dường như bị coi thường. |
|
It is important for us to try, if we can, to sense the reality which lies behind, to feel that which is incapable of being turned aside or disturbed in any way. It is a great comfort, a great consolation, a great security, when once we can get into touch with this, and feel absolutely sure that everything is marching steadily on its way, and that therefore it does not matter what happens on the surface, because it is at worst a small temporary annoyance, a little flutter. All the while we are moving onwards towards unity with the One. We are all the time part of it; we are moving towards the realization of that, and the One through us is developing His manifestation of Himself. |
Điều quan trọng đối với chúng ta là cố gắng, nếu có thể, cảm nhận thực tại nằm phía sau, cảm thấy điều không thể bị làm lệch hướng hay quấy nhiễu theo bất cứ cách nào. Đó là một niềm an ủi lớn, một sự nâng đỡ lớn, một sự bảo đảm lớn, một khi chúng ta có thể tiếp xúc với điều này, và cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng mọi sự đang vững vàng tiến bước trên đường của nó, và vì thế điều gì xảy ra trên bề mặt cũng không quan trọng, bởi tệ nhất nó chỉ là một phiền nhiễu nhỏ tạm thời, một chút xao động. Suốt thời gian ấy chúng ta đang tiến về hợp nhất với Đấng Duy Nhất. Chúng ta luôn luôn là một phần của điều đó; chúng ta đang tiến tới sự chứng nghiệm điều đó, và Đấng Duy Nhất qua chúng ta đang phát triển sự biểu hiện của Ngài về chính Ngài. |
|
There is a song, a great chord of harmony, as it were, always sounding beyond the worlds. In classic days they spoke about the music of the spheres, the idea being that the sun, the planets and the stars, moving in their courses, produce a mighty harmony. In the Old Testament, too, we read that “The morning stars sang together, and all the sons of God shouted for joy.”70 Many people think of that as a beautiful expression, but merely poetic symbolism. A common proverb speaks of things as “too good to be true”; but everything good and beautiful must be true, because it is good and beautiful. Wherever there is a fine idea, there is a basis for it; one could not think it unless there were something corresponding to it on the higher levels. All the highest and noblest and greatest things are the divine thoughts; our thoughts are high and pure and true and noble just in proportion as they reach up towards that. We must try to acquire this idea—not as a poetical conception to play with, but as a real basic fact—that above all and in all and at the heart of all there is always the beautiful and the true. The ideas commonly put before us are man’s thoughts about things; the realities behind things are God’s thoughts about them; as God is greater than man so are His thoughts higher than our thoughts. Higher does not mean more austere, or more unpractical, or more distant from ordinary life, but greater, more beautiful, more glorious. |
Có một bài ca, có thể nói là một hợp âm hòa điệu vĩ đại, luôn vang lên bên ngoài các thế giới. Trong thời cổ điển, người ta nói về âm nhạc của các khối cầu, ý tưởng là mặt trời, các hành tinh và các vì sao, khi chuyển động trên quỹ đạo của chúng, tạo nên một sự hòa điệu hùng mạnh. Trong Cựu Ước cũng vậy, chúng ta đọc rằng “Các sao mai cùng hát, và tất cả các con của Thượng đế reo mừng.”70 Nhiều người nghĩ về điều ấy như một cách diễn đạt đẹp đẽ, nhưng chỉ là biểu tượng thi ca. Một câu tục ngữ thông thường nói về những điều “quá tốt đẹp nên không thể là thật”; nhưng mọi điều tốt đẹp và mỹ lệ đều phải là thật, bởi vì nó tốt đẹp và mỹ lệ. Bất cứ nơi nào có một ý tưởng đẹp, nơi đó có nền tảng cho nó; người ta không thể nghĩ đến nó nếu không có một điều gì tương ứng với nó trên các cấp độ cao hơn. Tất cả những điều cao nhất, cao quý nhất và vĩ đại nhất là các tư tưởng thiêng liêng; tư tưởng của chúng ta cao, trong sạch, chân thật và cao quý đúng theo mức độ chúng vươn lên tới điều đó. Chúng ta phải cố gắng thủ đắc ý tưởng này — không phải như một quan niệm thi ca để đùa chơi, mà như một sự kiện nền tảng thật sự — rằng bên trên tất cả, trong tất cả và nơi trái tim của tất cả, luôn có cái đẹp và cái chân. Các ý tưởng thường được đặt trước chúng ta là tư tưởng của con người về sự vật; các thực tại phía sau sự vật là tư tưởng của Thượng đế về chúng; như Thượng đế lớn hơn con người, tư tưởng của Ngài cũng cao hơn tư tưởng của chúng ta. Cao hơn không có nghĩa là khắc khổ hơn, hay thiếu thực tiễn hơn, hay xa rời đời sống thường ngày hơn, mà là lớn lao hơn, đẹp đẽ hơn, huy hoàng hơn. |
|
We are listening to the song of life whenever we try to find in everything that which is best and most beautiful. All students of occultism must necessarily be optimists, because they know that the facts far more than justify the most optimistic view that we can possibly take. The truth behind is always grand. We misunderstand it and fall short of it; that is not the fault of the truth, but of our lack of comprehension. So in many ways—some of them small ways—in daily life we may listen to this song of life, and when once we do come to hear it we shall not entirely lose the sound again. It is to be heard on all the different planes; even if we could hear the entirety of the song on one plane we should still have only a very small part, one note. As we reach plane after plane we shall always find more and more of its beauty and glory. The more one hears of it the more perfect the harmony becomes. If one struck all the notes of an octave at once one would not get harmony, but discord; but on the higher planes there is what I can only describe in a somewhat paradoxical way—the possibility that the more notes you are able to strike the more perfect is the harmony, because there all things fit into one another in a way which down here one cannot in the least degree suggest.; If part of a melody is in one key and part in another we get an effect of disharmony. If we could imagine some kind of projection into space in which each of 0these parts would work itself out in perfect harmony within itself, and then a scheme in another direction in which those parts would blend together, in which each of those harmonies would be one note, it might give an idea of it; it is not possible to put it into words. But the effect of it is that you can so project a number of keys, which here would be discordant, that they make in higher worlds a perfect harmony. |
Chúng ta đang lắng nghe bài ca của sự sống bất cứ khi nào chúng ta cố tìm trong mọi sự điều tốt đẹp nhất và mỹ lệ nhất. Tất cả đạo sinh huyền bí học tất yếu phải là những người lạc quan, vì họ biết rằng các sự kiện còn biện minh nhiều hơn nữa cho quan điểm lạc quan nhất mà chúng ta có thể có. Chân lý phía sau luôn luôn cao cả. Chúng ta hiểu lầm nó và không đạt tới nó; đó không phải lỗi của chân lý, mà là của sự thiếu thấu hiểu nơi chúng ta. Vì vậy, theo nhiều cách — một số là những cách nhỏ bé — trong đời sống hằng ngày chúng ta có thể lắng nghe bài ca của sự sống, và một khi chúng ta thật sự nghe được nó, chúng ta sẽ không hoàn toàn mất âm thanh ấy nữa. Nó có thể được nghe trên tất cả các cõi khác nhau; ngay cả nếu chúng ta có thể nghe toàn bộ bài ca trên một cõi, chúng ta vẫn chỉ có một phần rất nhỏ, một nốt nhạc. Khi chúng ta đạt đến cõi này rồi cõi khác, chúng ta sẽ luôn tìm thấy ngày càng nhiều hơn vẻ đẹp và vinh quang của nó. Người ta càng nghe được nhiều hơn về nó, sự hòa điệu càng trở nên hoàn hảo hơn. Nếu người ta đánh tất cả các nốt của một quãng tám cùng một lúc, người ta sẽ không có sự hòa điệu, mà là sự bất hòa; nhưng trên các cõi cao có điều mà tôi chỉ có thể mô tả theo một cách hơi nghịch lý — khả năng rằng càng nhiều nốt bạn có thể đánh, sự hòa điệu càng hoàn hảo hơn, vì ở đó mọi sự khớp vào nhau theo một cách mà dưới này người ta không thể gợi ý dù ở mức độ nhỏ nhất.; Nếu một phần của giai điệu ở một giọng và một phần ở giọng khác, chúng ta có hiệu ứng bất hòa. Nếu chúng ta có thể tưởng tượng một loại phóng chiếu nào đó vào không gian trong đó mỗi 0phần này tự vận hành trọn vẹn trong sự hòa điệu hoàn hảo nơi chính nó, rồi một hệ thống theo một hướng khác trong đó các phần ấy hòa vào nhau, trong đó mỗi hòa điệu ấy là một nốt, điều đó có thể cho ta một ý niệm về nó; không thể diễn đạt nó bằng lời. Nhưng hiệu quả của nó là bạn có thể phóng chiếu một số giọng, vốn ở đây sẽ bất hòa, sao cho trong các thế giới cao hơn chúng tạo nên một sự hòa điệu hoàn hảo. |
|
Much modern music is less harmonious than the older music. It plunges into wild discords and seeks thereby somehow to produce a finer harmony. It does not succeed in doing so; but I believe that the people who are working at it are gaining glimpses of this of which I have been speaking, and are trying to express it. They are seeking for some method whereby discords will produce harmony. I do not think it can be done on the physical plane; but I must confess I do not like these curious later manifestations, and therefore I am probably far from understanding them. The people who compose all this weird music are probably aiming at something the astral and mental counterparts of which will not be discords but harmonies; but at this level they produce an effect which is not harmonious. I suppose those who have come to appreciate it have learned how to produce the effects in their higher bodies, and so they like that queer and inharmonious sound. |
Nhiều âm nhạc hiện đại kém hòa điệu hơn âm nhạc xưa. Nó lao vào những bất hòa dữ dội và qua đó tìm cách nào đó tạo ra một sự hòa điệu tinh tế hơn. Nó không thành công trong việc ấy; nhưng tôi tin rằng những người đang làm việc với nó đang thoáng thấy điều mà tôi đã nói đến, và đang cố diễn tả nó. Họ đang tìm kiếm một phương pháp nhờ đó các bất hòa sẽ tạo ra hòa điệu. Tôi không nghĩ điều đó có thể thực hiện trên cõi hồng trần; nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi không thích những biểu hiện kỳ lạ về sau này, và vì vậy có lẽ tôi còn rất xa mới thấu hiểu chúng. Những người sáng tác tất cả thứ âm nhạc kỳ dị này có lẽ đang nhắm đến một điều mà các đối phần cảm dục và trí tuệ của nó sẽ không phải là bất hòa mà là hòa điệu; nhưng ở cấp độ này chúng tạo ra một hiệu quả không hòa điệu. Tôi cho rằng những ai đã học biết trân trọng nó đã học cách tạo ra các hiệu quả trong các thể cao hơn của họ, và vì vậy họ thích âm thanh lạ lùng, thiếu hòa điệu ấy. |
|
Many of the curious modern manifestations of art, not only in music but also in painting, are definitely struggling towards the future, and they are producing effects beyond that which can be seen and heard. What can be seen and heard us very unbeautiful in many cases, but I can well imagine that they are aiming at something which will be very beautiful when the result is attained. One wishes that it might be reasonably harmonious on all planes, so that even down here the thing might be beautiful in itself for those who do not understand the higher side! |
Nhiều biểu hiện kỳ lạ hiện đại của nghệ thuật, không chỉ trong âm nhạc mà cả trong hội họa, chắc chắn đang vật lộn hướng về tương lai, và chúng đang tạo ra những hiệu quả vượt ngoài điều có thể thấy và nghe. Điều có thể thấy và nghe trong nhiều trường hợp rất không đẹp, nhưng tôi có thể hình dung rằng họ đang nhắm đến một điều gì đó sẽ rất đẹp khi kết quả được đạt tới. Người ta mong rằng nó có thể hòa điệu một cách hợp lý trên tất cả các cõi, để ngay cả dưới này sự vật ấy tự nó cũng có thể đẹp đối với những ai không thấu hiểu phương diện cao hơn! |
|
I have heard a number of people say that one piece of music sounded much the same to them as another. There are many of us who get a certain amount of vague pleasure from music, but do not in any way understand it. There are others to whom a piece of music is not only pleasing to the ear, but to whom it is as definite as speech in a lecture would be, to whom it conveys a clear form, which they can see and appreciate. I have heard great musicians speaking among themselves, and I therefore realize that the thought-form with which a composer writes a certain piece of music can quite definitely be conveyed to another roan. I met with such a case when I was in Italy a few years ago. A man wrote a piece of music which was intended to represent a fountain in a garden, and this fountain had three basins one above the other. As he wrote his music describing this he had that thought-form in his mind. I know the same thought-form was conveyed to another musician who had never seen the fountain or the garden, and had no idea of what the music was intended to portray; when he played it, it called up the exact picture before him, so that he knew which parts referred to the different basins of the fountain and which part was descriptive of the garden. I could see certain correspondences, but until I had heard what it meant it did not call up the picture to me. That is a higher musical development; when we are at the level when we can sense a meaning like that in music, it will convey more than it does at present to most of us. The same thing is true of a picture. Precisely what it conveys to one differs from what is indicated to another. Some are like the man in Wordsworth’s poem: |
Tôi đã nghe nhiều người nói rằng đối với họ một bản nhạc nghe cũng gần giống như bản khác. Có nhiều người trong chúng ta nhận được một mức độ khoái cảm mơ hồ nào đó từ âm nhạc, nhưng không hề thấu hiểu nó theo bất cứ cách nào. Có những người khác mà đối với họ một bản nhạc không chỉ dễ chịu cho tai, mà còn xác định như lời nói trong một bài giảng, truyền đạt cho họ một hình tướng rõ ràng mà họ có thể thấy và trân trọng. Tôi đã nghe các nhạc sĩ lớn nói chuyện với nhau, và vì vậy tôi nhận ra rằng hình tư tưởng mà một nhà soạn nhạc dùng để viết một bản nhạc nào đó có thể được truyền đạt một cách khá xác định đến một người khác. Tôi đã gặp một trường hợp như thế khi tôi ở Ý vài năm trước. Một người viết một bản nhạc nhằm biểu thị một đài phun nước trong một khu vườn, và đài phun nước này có ba bồn, bồn này ở trên bồn kia. Khi ông viết bản nhạc mô tả điều này, ông có hình tư tưởng ấy trong trí. Tôi biết cùng hình tư tưởng ấy đã được truyền đạt đến một nhạc sĩ khác, người chưa bao giờ thấy đài phun nước hay khu vườn, và không có ý niệm gì về điều bản nhạc định miêu tả; khi ông chơi nó, nó gọi lên trước mắt ông đúng bức tranh ấy, đến nỗi ông biết phần nào liên hệ đến các bồn khác nhau của đài phun nước và phần nào mô tả khu vườn. Tôi có thể thấy một số tương ứng, nhưng cho đến khi tôi nghe nói nó có nghĩa gì, nó không gọi lên bức tranh ấy cho tôi. Đó là một sự phát triển âm nhạc cao hơn; khi chúng ta ở cấp độ có thể cảm nhận một ý nghĩa như thế trong âm nhạc, nó sẽ truyền đạt nhiều hơn hiện nay đối với phần lớn chúng ta. Điều tương tự cũng đúng với một bức tranh. Chính xác điều nó truyền đạt cho người này khác với điều được chỉ ra cho người khác. Một số người giống như người trong bài thơ của Wordsworth: |
|
A primrose by the river’s brink |
Một đóa anh thảo bên bờ sông |
|
A yellow primrose was to him, |
Với y chỉ là một đóa anh thảo vàng, |
|
And it was nothing more. |
Và không gì hơn nữa. |
|
But to the poet the primrose suggested a host of beautiful ideas. When this faculty is definitely established we shall arrive at a condition of thinking in symbols. The ego does that in his causal body; he thinks in symbols, not in concrete things, and quite evidently one way of psychic unfoldment is along that line, although it is very different from the more ordinary form of development. |
Nhưng đối với nhà thơ, đóa anh thảo gợi lên vô số ý tưởng đẹp đẽ. Khi năng lực này được xác lập rõ ràng, chúng ta sẽ đạt tới một trạng thái tư duy bằng biểu tượng. Chân ngã làm điều đó trong thể nguyên nhân của y; y tư duy bằng biểu tượng, không bằng những sự vật cụ thể, và hiển nhiên một con đường của sự khai mở thông linh nằm theo tuyến ấy, dù nó rất khác với hình thức phát triển thông thường hơn. |
|
Many of the newer forms of art, such as the futurist and cubist pictures—things which are like nothing in heaven or earth, but may symbolize something at higher levels—are at present in a transition stage; it is half done work. They always say that children should not be allowed to see half done work. Some of us are only children in this respect, so we do not appreciate it; but when it is completed it may be a great success. The song of life is not one part, but a whole orchestra; it is a vast number of melodies all run together, and it may be that the votaries of the new art are reaching up towards another manifestation which as yet we do not see. |
Nhiều hình thức nghệ thuật mới hơn, như tranh vị lai và lập thể — những thứ không giống bất cứ điều gì trên trời hay dưới đất, nhưng có thể biểu tượng cho một điều gì đó ở các cấp độ cao hơn — hiện nay đang ở giai đoạn chuyển tiếp; đó là công việc mới làm một nửa. Người ta luôn nói rằng trẻ em không nên được phép thấy công việc mới làm một nửa. Một số chúng ta chỉ là trẻ em về phương diện này, vì vậy chúng ta không trân trọng nó; nhưng khi nó hoàn tất, nó có thể là một thành công lớn. Bài ca của sự sống không phải là một phần, mà là cả một dàn nhạc; đó là một số lượng mênh mông các giai điệu cùng hòa vào nhau, và có thể những người sùng mộ nghệ thuật mới đang vươn lên hướng tới một biểu hiện khác mà chúng ta hiện chưa thấy. |
|
Great changes may take place in art and music, as well as in religion, social reform and politics, when the World-Teacher comes. We think habitually of Him as leading us in religion only. I do not know why we should confine our ideas to that, because surely there is a great deal of human evolution outside of actual religious teaching. I do not mean that religious teaching ought not to permeate our entire life; I think it should, but that very religion may manifest itself in many different lines. It may therefore be that the Teacher will show us how these things should be done, that He will inspire not only the priest, but also the poet, the artist, the sculptor, the musician, and the scientist. When we get a more modern presentation of religion, one more in harmony with the particular stage of evolution which humanity has now reached, it may well be that that new statement will give us a wonderful impulse along all these lines. Very truly, His message will bring us nearer to the comprehension of the song of life in all ways. It will show us more of the underlying glory, and beauty, and harmony and order. |
Những thay đổi lớn có thể diễn ra trong nghệ thuật và âm nhạc, cũng như trong tôn giáo, cải cách xã hội và chính trị, khi Đức Chưởng Giáo đến. Chúng ta thường nghĩ về Ngài như chỉ dẫn dắt chúng ta trong tôn giáo. Tôi không biết vì sao chúng ta lại giới hạn các ý tưởng của mình vào điều đó, bởi chắc chắn có rất nhiều tiến hoá của con người nằm ngoài giáo huấn tôn giáo thực sự. Tôi không có ý nói rằng giáo huấn tôn giáo không nên thấm nhuần toàn bộ đời sống của chúng ta; tôi nghĩ nó nên như vậy, nhưng chính tôn giáo ấy có thể biểu hiện theo nhiều đường lối khác nhau. Vì thế có thể là Đức Huấn sư sẽ chỉ cho chúng ta cách những điều này nên được thực hiện, rằng Ngài sẽ truyền cảm hứng không chỉ cho linh mục, mà còn cho nhà thơ, nghệ sĩ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ và nhà khoa học. Khi chúng ta có một trình bày hiện đại hơn về tôn giáo, một trình bày hòa hợp hơn với giai đoạn tiến hoá đặc thù mà nhân loại hiện nay đã đạt tới, rất có thể phát biểu mới ấy sẽ đem lại cho chúng ta một xung lực kỳ diệu theo tất cả những đường lối này. Thật vậy, thông điệp của Ngài sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với sự thấu hiểu bài ca của sự sống theo mọi cách. Nó sẽ cho chúng ta thấy nhiều hơn về vinh quang, vẻ đẹp, sự hòa điệu và trật tự nằm bên dưới. |
|
It is important to realize order. We are now passing through a democratic phase of things, in connection with which it seems inevitable that there should be considerable manifestation of disorder; some people, in fact, rather glory in disorder, call it individualism, and say that every man must go his own way no matter what happens to the rest. It is necessary that people should learn to be able to go their own way; it is also necessary that, when they have done that, they should also learn to subordinate their wills to the Divine Will. Having developed the power to stand alone, and the powers to act and think, they must learn to use them only in the right direction. One must have a will to subordinate to the Divine Will. When a man has no will life is quite easy, because he lets everything drift and trusts in “Providence”. The people who have developed a will sometimes assert it against the Divine Will, and really it seems better for their evolution that people should be strong enough thus to go wrong in order that they may presently go right, because the people who have not the will to do either good or evil are not likely to be particularly useful, nor to go very far.71 |
Điều quan trọng là nhận ra trật tự. Hiện nay chúng ta đang đi qua một giai đoạn dân chủ của sự vật, liên quan đến điều ấy dường như không thể tránh khỏi việc có một biểu hiện đáng kể của sự hỗn loạn; thật ra, một số người còn khá tự hào về sự hỗn loạn, gọi nó là chủ nghĩa cá nhân, và nói rằng mỗi người phải đi theo con đường riêng của mình bất kể điều gì xảy ra cho phần còn lại. Điều thật sự cần thiết là người ta phải học để có thể đi theo con đường riêng của mình; cũng cần thiết rằng, khi họ đã làm được điều đó, họ cũng phải học đặt ý chí của mình dưới Ý Chí thiêng liêng. Sau khi đã phát triển quyền năng đứng một mình, và các quyền năng hành động và suy nghĩ, họ phải học chỉ dùng chúng theo hướng đúng. Người ta phải có một ý chí để đặt dưới Ý Chí thiêng liêng. Khi một người không có ý chí, đời sống khá dễ dàng, vì y để mọi sự trôi đi và tin cậy vào “Thiên Ý”. Những người đã phát triển một ý chí đôi khi khẳng định nó chống lại Ý Chí thiêng liêng, và thật ra dường như tốt hơn cho sự tiến hoá của họ nếu người ta đủ mạnh mẽ để sai lầm như thế, hầu rồi sau đó họ có thể đi đúng, bởi những người không có ý chí để làm thiện hay làm ác thì không có khả năng đặc biệt hữu ích, cũng không đi được rất xa.71 |
|
To follow the Divine Will is to listen to the song of life. The more we seek it the more we shall discover it. As we reach plane after plane, we shall hear it more grandly and more fully. It is said here that even now we may form some faint idea, may see some dim reflection of the splendour of the whole, because this song of life is within us, and if we look deep down we shall find it. We have the divine spirit, the divine breath within us. It is crusted over by what we call our human nature, and so the melody does not readily come through—the spark burns low. But it is there, and that spark is never separate, as we thought it. It is always part of the totality of the divine flame, and our duty is to make these lower selves of ours lamps through which that can shine. There is always within us a manifestation of the divine which is not soiled or in any way clouded by its association with matter. If we can realize ourselves as that, matter will no longer have any power over us; but to do that fully means a very high development—perhaps even more than Adeptship. Always there is that manifestation, absolutely unstained, unclouded, untouched; if we can realize even a little our oneness with that, feel that that is “I”, we shall hear the song of life always. However we may be surrounded by the struggle and clash of the lower worlds, that song will always be sung within us; we shall do our work in the outer world in utter peace and contentment, because we know that within is the only real truth and all the rest is merely a temporary manifestation. Some touch with our own higher consciousness or that of the Master is often the beginning of the hearing of this melody; it brings a sense of that inner life, of rejoicing, of bliss, of conquest, a feeling that you have been victorious in a great struggle. |
Đi theo Ý Chí thiêng liêng là lắng nghe bài ca của sự sống. Chúng ta càng tìm kiếm nó, chúng ta càng khám phá nó. Khi chúng ta đạt đến cõi này rồi cõi khác, chúng ta sẽ nghe nó hùng vĩ hơn và đầy đủ hơn. Ở đây nói rằng ngay bây giờ chúng ta có thể hình thành một ý niệm mờ nhạt nào đó, có thể thấy một phản chiếu lờ mờ nào đó của vẻ huy hoàng của toàn thể, bởi bài ca của sự sống này ở bên trong chúng ta, và nếu chúng ta nhìn thật sâu xuống, chúng ta sẽ tìm thấy nó. Chúng ta có tinh thần thiêng liêng, hơi thở thiêng liêng bên trong mình. Nó bị đóng vỏ bởi điều chúng ta gọi là bản chất con người của chúng ta, và vì thế giai điệu không dễ xuyên qua — tia lửa cháy yếu. Nhưng nó vẫn ở đó, và tia lửa ấy không bao giờ tách rời, như chúng ta từng nghĩ. Nó luôn luôn là một phần của toàn thể ngọn lửa thiêng liêng, và bổn phận của chúng ta là làm cho các phàm ngã này của mình trở thành những ngọn đèn qua đó điều ấy có thể chiếu sáng. Luôn luôn có bên trong chúng ta một biểu hiện của thiên tính, không bị vấy bẩn hay bị che mờ theo bất cứ cách nào bởi sự liên kết của nó với vật chất. Nếu chúng ta có thể nhận ra mình là điều đó, vật chất sẽ không còn quyền năng nào đối với chúng ta; nhưng làm điều đó một cách trọn vẹn có nghĩa là một sự phát triển rất cao — có lẽ còn hơn cả địa vị Chân sư. Luôn luôn có biểu hiện ấy, tuyệt đối không hoen ố, không bị che mờ, không bị chạm đến; nếu chúng ta có thể nhận ra dù chỉ một chút sự hợp nhất của mình với điều ấy, cảm thấy rằng điều ấy là “Tôi”, chúng ta sẽ luôn nghe bài ca của sự sống. Dù chúng ta có thể bị bao quanh bởi sự đấu tranh và va chạm của các cõi thấp, bài ca ấy vẫn luôn được hát lên trong chúng ta; chúng ta sẽ làm công việc của mình trong thế giới bên ngoài trong sự bình an và mãn nguyện hoàn toàn, vì chúng ta biết rằng bên trong là chân lý duy nhất thật sự, và tất cả phần còn lại chỉ là một biểu hiện tạm thời. Một tiếp xúc nào đó với tâm thức cao hơn của chính chúng ta hay của Chân sư thường là khởi đầu của việc nghe giai điệu này; nó đem lại một cảm thức về đời sống nội tâm ấy, về niềm hân hoan, về chí phúc, về chiến thắng, một cảm giác rằng bạn đã chiến thắng trong một cuộc đấu tranh lớn lao. |
|
The Master’s note continues: |
Chú giải của Chân sư tiếp tục: |
|
He that chooses evil refuses to look within himself, shuts his ears to the melody of his heart, as he blinds his eyes to the light of his soul. He does this because he finds it easier to live in desires. But underneath all life is the strong current that cannot be checked; the great waters are there in reality. Find them and you will perceive that none, not the most wretched of creatures, but is a part of it, however he blind himself to the fact and build up for himself a phantasmal outer form of horror. |
Kẻ chọn điều ác từ chối nhìn vào bên trong chính mình, bịt tai trước giai điệu của trái tim mình, cũng như y làm mù mắt mình trước ánh sáng của linh hồn. Y làm điều này vì y thấy sống trong các dục vọng dễ dàng hơn. Nhưng bên dưới mọi sự sống là dòng chảy mạnh mẽ không thể bị ngăn lại; những dòng nước lớn thật sự đang ở đó. Hãy tìm chúng và ngươi sẽ nhận ra rằng không ai, kể cả sinh vật khốn khổ nhất, lại không là một phần của nó, dù y tự làm mù mình trước sự kiện ấy và xây dựng cho mình một hình tướng bên ngoài huyễn ảo đầy kinh hãi. |
|
If a man chooses evil it is because he refuses to look deep within himself. It is scarcely that he chooses evil intentionally, but as he never goes deep down into himself at all, he mistakes his astral vehicle for himself, and so lives in his desires, following the lower path because he wants to satisfy them. It is because he will not face the facts of life that he is working against the current of evolution. Long after he has reached the point where he could change over to the higher life he usually averts his face; it is too uncomfortable for him to realize that he has gone far on the wrong road, that he will have to turn round and face a great deal of hard work and trouble and sorrow, arising from the fact that he has set up an impetus in the wrong direction. It may not seem to be a very serious matter that there are many people in that state, but if a man having those characteristics reaches a position in which he has it in his power to do much good or much evil, he is in very great danger from the point of view of occult progress. |
Nếu một người chọn điều ác, đó là vì y từ chối nhìn sâu vào bên trong chính mình. Hầu như không phải y cố ý chọn điều ác, nhưng vì y không hề đi sâu xuống trong chính mình, y lầm tưởng vận cụ cảm dục của mình là chính mình, và vì thế sống trong các dục vọng của mình, đi theo con đường thấp vì y muốn thỏa mãn chúng. Chính vì y không chịu đối diện với các sự kiện của đời sống nên y đang làm việc chống lại dòng chảy của tiến hoá. Rất lâu sau khi y đã đạt đến điểm có thể chuyển sang đời sống cao hơn, y thường quay mặt đi; thật quá khó chịu cho y khi nhận ra rằng y đã đi xa trên con đường sai, rằng y sẽ phải quay lại và đối diện với rất nhiều công việc khó khăn, rắc rối và đau buồn, phát sinh từ sự kiện y đã dựng lên một xung lực theo hướng sai. Có thể dường như không phải là một vấn đề rất nghiêm trọng khi có nhiều người ở trạng thái ấy, nhưng nếu một người có những đặc tính ấy đạt tới một vị trí trong đó y có quyền năng làm nhiều điều thiện hay nhiều điều ác, y đang ở trong nguy hiểm rất lớn xét từ quan điểm tiến bộ huyền bí. |
|
When one reads passages like this, one thinks usually of a man who takes up black magic on a grand scale, but it is equally true with regard to smaller matters. The man who will not face facts is very liable to be led away into the easier but more dangerous path. He will do what is easy, instead of what is right. We have to see ourselves frankly as we are. The man who wilfully declines to do so has probably reason to fear that if he did see himself face to face he might not like the prospect. Still, it is possible to err in the opposite way; to fall into a condition of morbid introspection is really a serious trouble and difficulty, as we saw in studying At the feet of the Master.72 The people who are always pulling themselves up by the roots to see how they are growing do not make progress. The great thing is to make sure that you are set in the right direction, that you are trying to work for good, and then go quietly and steadily on and do the best you can. Do not worry about your own progress. It is necessary, truly, that you should make progress, but the best progress is made when you are not thinking of it, when you have lost all thought of yourself in doing some good and useful work for others.73 Such advance as I have myself been able to make in the course of the last forty-five years has come absolutely and entirely from throwing myself into any work that had to be done, and leaving the question of advancement to take care of itself. |
Khi đọc những đoạn như thế này, người ta thường nghĩ đến một người theo Hắc thuật trên quy mô lớn, nhưng điều ấy cũng đúng như vậy đối với những vấn đề nhỏ hơn. Người không chịu đối diện với sự kiện rất dễ bị dẫn vào con đường dễ dàng hơn nhưng nguy hiểm hơn. Y sẽ làm điều dễ, thay vì điều đúng. Chúng ta phải nhìn chính mình một cách thẳng thắn như chúng ta là. Người cố ý từ chối làm như thế có lẽ có lý do để sợ rằng nếu y thật sự đối diện với chính mình, y có thể không thích viễn cảnh ấy. Tuy nhiên, cũng có thể sai lầm theo hướng ngược lại; rơi vào trạng thái tự soi xét bệnh hoạn thật sự là một rắc rối và khó khăn nghiêm trọng, như chúng ta đã thấy khi nghiên cứu Dưới Chân Thầy.72 Những người luôn nhổ bật chính mình lên tận gốc để xem mình đang lớn ra sao thì không tiến bộ. Điều lớn lao là phải chắc chắn rằng bạn đã đặt mình theo hướng đúng, rằng bạn đang cố làm việc cho điều thiện, rồi cứ lặng lẽ và vững vàng tiến lên và làm điều tốt nhất bạn có thể. Đừng lo lắng về sự tiến bộ của riêng mình. Quả thật, bạn cần tiến bộ, nhưng sự tiến bộ tốt nhất được tạo ra khi bạn không nghĩ đến nó, khi bạn đã mất mọi ý nghĩ về bản thân trong việc làm một công việc tốt đẹp và hữu ích cho người khác.73 Bất cứ bước tiến nào mà chính tôi có thể đạt được trong suốt bốn mươi lăm năm qua đều hoàn toàn và trọn vẹn đến từ việc dấn mình vào bất cứ công việc nào cần được làm, và để cho vấn đề thăng tiến tự chăm sóc lấy chính nó. |
|
It is true that the man who blinds himself to the fact that he is divine builds for himself a form of horror. Our difficulty in dealing with him is that what we meet down here is the form of horror and not the soul behind. Nevertheless, we have to try to realize that that soul is there. I believe I have mentioned before that I had a certain amount of experience as a lay helper in the Church in my younger days in one of the worst parts of London. In the course of my experience there I met with people who were perhaps as low and degraded as any one would be likely to find in the world. They had no thought of gaining any sort of honest or reputable livelihood. Their only idea of life was to steal and to commit outrages of various kinds. They knew absolutely nothing more. Those who live under better conditions have very little conception of life among the real London poor. I have known five families living in one room—one in each corner and one in the middle. They got on fairly well in a curious pigsty sort of way, until the party in the middle took in a lodger, and then there was a fight. In the newer countries there is scarcely anything resembling the slums of Britain. In every race there are men more and less advanced, but in Britain we have produced extreme conditions, because we have not always lived up to our powers and responsibilities. In some cases we have massacred savage races, have slaughtered them as wild beasts, have gone out to shoot them as men shoot game. In many instances those who were so treated have in consequence incarnated in our own race, and become slum-dwellers. Though they are given the opportunity of a body of a superior race they are usually unable to take much advantage of it, especially while their surroundings are so bad. |
Đúng là người tự làm mù mình trước sự kiện rằng y là thiêng liêng xây dựng cho mình một hình tướng kinh hãi. Khó khăn của chúng ta khi xử lý y là điều chúng ta gặp dưới này là hình tướng kinh hãi chứ không phải linh hồn phía sau. Tuy vậy, chúng ta phải cố nhận ra rằng linh hồn ấy vẫn ở đó. Tôi tin rằng trước đây tôi đã nhắc rằng khi còn trẻ tôi có một ít kinh nghiệm làm người trợ giúp giáo dân trong Giáo hội tại một trong những khu tệ hại nhất của Luân Đôn. Trong quá trình trải nghiệm ở đó, tôi đã gặp những người có lẽ thấp kém và suy đồi đến mức người ta có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trên thế giới. Họ không hề nghĩ đến việc kiếm bất cứ sinh kế lương thiện hay đáng trọng nào. Ý tưởng duy nhất của họ về đời sống là trộm cắp và phạm đủ loại hành vi bạo ngược. Họ hoàn toàn không biết gì hơn. Những ai sống trong điều kiện tốt hơn có rất ít quan niệm về đời sống giữa những người nghèo thật sự ở Luân Đôn. Tôi từng biết năm gia đình sống trong một căn phòng — mỗi gia đình ở một góc và một gia đình ở giữa. Họ sống với nhau khá ổn theo một kiểu chuồng lợn kỳ lạ, cho đến khi nhóm ở giữa nhận thêm một người thuê trọ, và rồi xảy ra đánh nhau. Ở các nước mới hơn hầu như không có gì giống với những khu ổ chuột của Anh quốc. Trong mỗi nhân loại đều có những người tiến bộ hơn và kém tiến bộ hơn, nhưng ở Anh quốc chúng ta đã tạo ra những điều kiện cực đoan, vì chúng ta không phải lúc nào cũng sống đúng với quyền năng và trách nhiệm của mình. Trong một số trường hợp, chúng ta đã tàn sát các nhân loại man rợ, đã giết họ như thú dữ, đã ra ngoài bắn họ như người ta bắn thú săn. Trong nhiều trường hợp, những người bị đối xử như thế do đó đã lâm phàm trong chính nhân loại của chúng ta, và trở thành cư dân ổ chuột. Dù họ được trao cơ hội có một thể của một nhân loại cao hơn, họ thường không thể tận dụng được nhiều điều đó, nhất là khi môi trường xung quanh họ quá tệ. |
|
When people are living under conditions like that I do not think we can expect anything very high in the way of morality, or humanity. These people, with a record of crime behind them, with a heredity of crime from their fathers and mothers, and living under terrible conditions such as I have described, nevertheless always had some little spark of something better in them—a little kindness that they would show towards a sick neighbour, to a child, to a dog. I remember one man who was a very bad case indeed, and I think the only gleam of anything I saw of good in him was that he had a strong affection for a dog, and would share his last morsel with him. The divine spark exists in every one of those people, and will show through when you least expect it. You know it’ is always there, and that is something to work upon. If there should ever be a case where you cannot find any trace of it, be sure all the same that it is there. |
Khi người ta sống dưới những điều kiện như thế, tôi không nghĩ chúng ta có thể mong đợi điều gì rất cao về phương diện đạo đức hay nhân tính. Những người này, với một hồ sơ tội phạm phía sau, với di truyền tội phạm từ cha mẹ họ, và sống dưới những điều kiện khủng khiếp như tôi đã mô tả, tuy vậy luôn có một tia nhỏ nào đó của điều tốt hơn trong họ — một chút lòng tốt mà họ sẽ bày tỏ đối với một người láng giềng đau ốm, với một đứa trẻ, với một con chó. Tôi nhớ một người đàn ông là một trường hợp rất xấu, và tôi nghĩ tia sáng duy nhất của bất cứ điều gì tốt đẹp mà tôi thấy nơi ông là ông có một tình thương mạnh mẽ đối với một con chó, và sẽ chia sẻ mẩu thức ăn cuối cùng của mình với nó. Tia lửa thiêng liêng tồn tại trong mỗi người trong số những người ấy, và sẽ lóe ra khi bạn ít ngờ nhất. Bạn biết nó luôn ở đó, và đó là một điều để làm việc dựa vào. Nếu từng có một trường hợp mà bạn không thể tìm thấy bất cứ dấu vết nào của nó, hãy vẫn tin chắc rằng nó ở đó. |
|
While we should always try to remember the glory that is behind a man, and that it will be in evidence in some future life, we have yet to face the fact that the external presentment at present is often very defective. We must try to help the divine spark to manifest, though we shall find cases in which we can scarcely touch it. It is not given to every one to find the way. We meet with persons for whom we cannot do very much. We try; we do our best; it may not be the man’s karma that we should be able to help him; it may not be our karma to be strong enough to find the way in that particular case. In these affairs we must always remember the importance of common sense, and must not permit ourselves to be swept away from that into helplessness or despair on the one side, or into any kind of sentimentality which will blind us to obvious facts on the other. It is often said that there is only one step between the sublime and the ridiculous, and one may sometimes make that which is noble and beautiful quite ridiculous by pursuing it too far, or carrying it to an exaggerated length. There are many such instances and possibilities in connection with our Theosophical teaching and work. |
Trong khi chúng ta luôn nên cố nhớ đến vinh quang phía sau một con người, và rằng nó sẽ hiển lộ trong một đời tương lai nào đó, chúng ta vẫn phải đối diện với sự kiện rằng biểu hiện bên ngoài hiện tại thường rất khiếm khuyết. Chúng ta phải cố giúp tia lửa thiêng liêng biểu hiện, dù chúng ta sẽ gặp những trường hợp mà chúng ta hầu như không thể chạm đến nó. Không phải ai cũng được ban cho khả năng tìm ra đường lối. Chúng ta gặp những người mà chúng ta không thể làm được nhiều cho họ. Chúng ta cố gắng; chúng ta làm hết sức mình; có thể không phải nghiệp quả của người ấy cho phép chúng ta giúp y; có thể không phải nghiệp quả của chúng ta là đủ mạnh để tìm ra đường lối trong trường hợp đặc biệt ấy. Trong những việc này chúng ta phải luôn nhớ tầm quan trọng của lẽ thường, và không được để mình bị cuốn khỏi đó vào sự bất lực hay tuyệt vọng ở một phía, hoặc vào bất cứ loại đa cảm nào làm chúng ta mù trước những sự kiện hiển nhiên ở phía kia. Người ta thường nói rằng chỉ có một bước giữa cái cao cả và cái lố bịch, và đôi khi người ta có thể làm cho điều cao quý và đẹp đẽ trở nên khá lố bịch bằng cách theo đuổi nó quá xa, hay đưa nó đến mức phóng đại. Có nhiều trường hợp và khả năng như thế liên quan đến giáo huấn và công việc Thông Thiên Học của chúng ta. |
|
The divine life is in every one, but in many cases it may be showing itself but poorly and dimly. We have then to deal with the matter as it stands. On the physical plane, for our life as a community, we must have certain laws. Those who offended against those laws, who become what is called habitual criminals, must be dealt with in some way that will help both them and the community. I know that some people carry the idea of the indwelling light so far that they say the criminal ought not to be restrained. That seems to me to be foolish, because we should then be delivering ourselves over into the hands of the criminal, and life and order and progress would become impossible for thousands of people whose opportunity of progress is very much better, who are far more important for the progress of the world than that criminal. |
Sự sống thiêng liêng ở trong mỗi người, nhưng trong nhiều trường hợp, nó có thể chỉ biểu lộ rất nghèo nàn và mờ nhạt. Vậy chúng ta phải xử lý vấn đề đúng như nó đang là. Trên cõi hồng trần, đối với đời sống cộng đồng của chúng ta, chúng ta phải có một số luật lệ nhất định. Những ai phạm vào các luật lệ ấy, những ai trở thành điều được gọi là tội phạm quen thói, phải được xử lý theo một cách nào đó có thể giúp ích cả cho họ lẫn cho cộng đồng. Tôi biết có một số người đẩy ý tưởng về ánh sáng nội tại đi xa đến mức họ nói rằng tội phạm không nên bị kiềm chế. Điều đó đối với tôi có vẻ là ngu xuẩn, bởi vì khi ấy chúng ta sẽ tự giao mình vào tay tội phạm, và đời sống, trật tự cùng sự tiến bộ sẽ trở nên bất khả đối với hàng ngàn người có cơ hội tiến bộ tốt hơn rất nhiều, những người quan trọng hơn xa đối với sự tiến bộ của thế giới so với tội phạm ấy. |
|
We must do no wrong to our criminal. We should treat him as a case, as a sick man, rather than as a wicked man, because the habitual criminal is a person who is mentally defective. Clever he may be along certain lines, but he is certainly deficient in other ways. He is unable to see the necessity for unselfishness and unity and solidarity, otherwise he could not be the habitual criminal. Those who have read the works of Prof. Lombroso will remember that, after a long series of experiments, he came to the conclusion that all habitual criminals were defective in brain, and that in all cases, clever though they may be, their brains weighed less than the brains of normal men. He said that certain parts of the brain were not yet in activity in them. |
Chúng ta không được làm điều sai trái đối với tội phạm của mình. Chúng ta nên đối xử với y như một trường hợp, như một người bệnh, hơn là như một người ác, bởi vì tội phạm quen thói là một người khiếm khuyết về trí tuệ. Y có thể khôn khéo theo một số đường hướng nào đó, nhưng chắc chắn y thiếu sót theo những cách khác. Y không thể thấy được sự cần thiết của tính vô tư, của sự hợp nhất và tình đoàn kết; nếu không, y đã không thể là tội phạm quen thói. Những ai đã đọc các tác phẩm của Giáo sư Lombroso sẽ nhớ rằng, sau một chuỗi dài thí nghiệm, ông đi đến kết luận rằng tất cả những tội phạm quen thói đều khiếm khuyết trong bộ não, và trong mọi trường hợp, dù họ có thể khôn khéo đến đâu, não của họ vẫn nhẹ hơn não của những người bình thường. Ông nói rằng một số phần của bộ não nơi họ vẫn chưa hoạt động. |
|
The usual idea of taking revenge upon the criminal is surely quite the wrong way to approach the matter. It seems to me unworthy of a civilized body of people. We must protect ourselves against the attacks of the criminal classes, but since they are also men and brothers even though very much younger brothers, we should try in protecting ourselves to help and educate them, not to be revenged upon them. There is an idea that other crimes may be prevented by making an awful example of one person.74 That is doing evil that good may come; history shows that good does not come in that way. |
Ý tưởng thông thường về việc trả thù tội phạm chắc chắn là một cách tiếp cận vấn đề hoàn toàn sai lầm. Đối với tôi, điều đó có vẻ không xứng đáng với một tập thể người văn minh. Chúng ta phải bảo vệ mình trước những cuộc tấn công của các tầng lớp tội phạm, nhưng vì họ cũng là con người và là huynh đệ, dù là những huynh đệ còn rất trẻ, nên trong khi bảo vệ mình, chúng ta nên cố gắng giúp đỡ và giáo dục họ, chứ không trả thù họ. Có một ý tưởng cho rằng có thể ngăn ngừa các tội ác khác bằng cách biến một người thành một tấm gương khủng khiếp.74 Đó là làm điều ác để điều thiện có thể đến; lịch sử cho thấy điều thiện không đến theo cách ấy. |
|
All these forms of horror are phantasmagoric. They have no existence in the divine reality. They say in China that evil is but a dark shadow of good. We have produced most of the evil in the world because we have not worked in harmony with the divine laws in this life or in past lives. If it were possible that we could all work in harmony with them, evil would be eliminated. It was necessary that some free will should be gained in order that we might learn how to use it, but quite naturally and with no blame attached to anybody we have used our free will wrongly about as often as rightly, and the consequence of that has been the introduction of what we call evil into the world. But always it is a mere surface disturbance, always in the deep waters behind are the great currents of the divine life, and the evolution which the Logos has mapped out for us. Those are the permanent realities of life. The other is only superficial, though to us it often seems of tremendous importance and of very great power. In reality, as compared to the rest, it is not at all a powerful thing. The great waters are not affected by anything that we can see. In some mysterious way it is true that “Blindly the wicked work the righteous will of heaven,” as Southey said. In that sense it is that 1 say to you: All those beings among whom you struggle on are fragments of the Divine. And so deceptive is the illusion in which you live that it is hard to guess where you will first detect the sweet voice in the hearts of others. But know that it is certainly within yourself. Look for it there, and once having heard it, you will more readily recognize it around you. |
Tất cả những hình thức kinh hoàng này đều như ảo ảnh biến hiện. Chúng không có sự tồn tại trong thực tại thiêng liêng. Ở Trung Hoa, người ta nói rằng điều ác chỉ là bóng tối của điều thiện. Chúng ta đã tạo ra phần lớn điều ác trong thế giới bởi vì chúng ta đã không làm việc hài hòa với các định luật thiêng liêng trong đời sống này hoặc trong những đời sống quá khứ. Nếu có thể tất cả chúng ta đều làm việc hài hòa với chúng, điều ác sẽ bị loại trừ. Cần phải đạt được một phần ý chí tự do nào đó để chúng ta có thể học cách sử dụng nó, nhưng một cách rất tự nhiên và không quy lỗi cho bất cứ ai, chúng ta đã sử dụng ý chí tự do của mình sai lầm gần như thường xuyên ngang với đúng đắn, và hậu quả của điều đó là sự đưa vào thế giới điều mà chúng ta gọi là điều ác. Nhưng nó luôn luôn chỉ là một xáo động trên bề mặt; luôn luôn trong những vùng nước sâu phía sau là các dòng chảy vĩ đại của sự sống thiêng liêng, và cuộc tiến hoá mà Thượng đế đã vạch ra cho chúng ta. Đó là những thực tại thường tồn của đời sống. Điều kia chỉ là hời hợt, dù đối với chúng ta nó thường có vẻ vô cùng quan trọng và có quyền năng rất lớn. Trong thực tại, so với phần còn lại, nó hoàn toàn không phải là một điều mạnh mẽ. Những vùng nước vĩ đại không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì chúng ta có thể thấy. Theo một cách huyền nhiệm nào đó, điều Southey nói là đúng: “Một cách mù quáng, kẻ ác thực hiện ý chí công chính của trời.” Chính theo ý nghĩa ấy mà tôi nói với bạn: Tất cả những hữu thể giữa họ bạn đang vật lộn tiến bước đều là những mảnh của Thiêng Liêng. Và ảo tưởng trong đó bạn đang sống lừa dối đến mức thật khó đoán nơi nào trước tiên bạn sẽ phát hiện tiếng nói dịu ngọt trong tâm những người khác. Nhưng hãy biết rằng chắc chắn nó ở trong chính bạn. Hãy tìm nó ở đó, và một khi đã nghe được nó, bạn sẽ dễ dàng nhận ra nó quanh mình hơn. |
|
If we can look at things from the point of view of the ego in the causal body, still more if we can penetrate to the next plane, the buddhic, we shall see the real meaning of all this. It is no longer one little part of.the lower side of it all that we then see, but the whole thing; and we can realize what the proportion is, and see how really small it is, how “The evil is null, is naught, is silence implying sound.” That is truer than perhaps Browning knew when he wrote it. Behind and beyond and above all the evil we may be very sure that the great current is steadily flowing, that the song of life is to be heard, if we go down deep enough to hear it, for the soul of things is sweet, and the heart of being is celestial rest as the Lord Buddha told us long ago. |
Nếu chúng ta có thể nhìn sự vật từ quan điểm của chân ngã trong thể nguyên nhân, và còn hơn nữa nếu chúng ta có thể thâm nhập đến cõi kế tiếp, cõi Bồ đề, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa thật sự của tất cả điều này. Khi ấy, chúng ta không còn thấy chỉ một phần nhỏ bé của phía thấp của toàn thể sự việc, mà thấy toàn thể; và chúng ta có thể nhận ra tỉ lệ là gì, và thấy nó thật sự nhỏ bé đến đâu, thấy rằng “Điều ác là không, là hư vô, là im lặng hàm chứa âm thanh.” Điều đó đúng hơn có lẽ Browning đã biết khi ông viết nó. Đằng sau, vượt ngoài và bên trên mọi điều ác, chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng dòng chảy vĩ đại vẫn đều đặn tuôn đi, rằng bài ca của đời sống có thể được nghe thấy, nếu chúng ta đi đủ sâu để nghe nó, vì linh hồn của vạn vật thì dịu ngọt, và tâm của bản thể là sự nghỉ ngơi thiên thượng, như Đức Phật đã nói với chúng ta từ lâu. |
|
We have to find the way to God by the cultivation of the spark until it becomes a flame. It will then burn away the walls that the individuality has built up, but in destroying them it will not lose the strength and definiteness which it gained in building and using them. So the power which it thus gains will enable it eventually to act not as a spark, but as a sun radiating life and light through a vast solar system, and then, indeed, man will have become as God. |
Chúng ta phải tìm con đường đến với Thượng đế bằng cách vun bồi tia lửa cho đến khi nó trở thành ngọn lửa. Khi ấy nó sẽ thiêu rụi các bức tường mà cá tính đã xây dựng lên, nhưng khi phá hủy chúng, nó sẽ không mất đi sức mạnh và tính xác định mà nó đã đạt được trong việc xây dựng và sử dụng chúng. Vì vậy, quyền năng mà nó đạt được như thế cuối cùng sẽ giúp nó hành động không phải như một tia lửa, mà như một mặt trời tỏa phát sự sống và ánh sáng qua một hệ mặt trời rộng lớn; và khi ấy, thật vậy, con người sẽ trở nên như Thượng đế. |
|
We may now consider the Chohan’s comment on Rule 5: |
Bây giờ chúng ta có thể xem xét lời bình của Đức Chohan về Quy luật 5: |
|
Life itself has speech and is never silent. And its utterance is not, as you that are deaf may suppose, a cry: it is a song. Learn from it that you are part of the harmony; learn from it to obey the laws of the harmony. |
Chính sự sống có tiếng nói và không bao giờ im lặng. Và lời phát biểu của nó không phải, như các bạn là những kẻ điếc có thể giả định, là một tiếng kêu: đó là một bài ca. Hãy học từ đó rằng bạn là một phần của sự hài hòa; hãy học từ đó để tuân theo các định luật của sự hài hòa. |
|
Down here on the surface one sees plenty of confusion, of crying and sorrow and misery and grasping and overreaching and ill-will, and one might well think that if one could penetrate to the heart of life one would find it a cry for help, a cry of misery; but it is not—one will find it is not a cry, but a song. Whatever the spray on the surface may do, whatever currents and eddies may be seen here by our outward eyes, the mighty current goes steadily on, and it is that which counts, that which makes the mark. |
Ở dưới đây, trên bề mặt, người ta thấy rất nhiều hỗn loạn, tiếng kêu than, nỗi buồn, sự khốn khổ, sự vơ vét, sự lấn lướt và ác ý, và người ta rất có thể nghĩ rằng nếu có thể thâm nhập đến tâm của đời sống, người ta sẽ thấy đó là một tiếng kêu cầu cứu, một tiếng kêu khốn khổ; nhưng không phải vậy—người ta sẽ thấy đó không phải là một tiếng kêu, mà là một bài ca. Dù bọt sóng trên bề mặt có thể làm gì, dù những dòng chảy và xoáy nước nào có thể được đôi mắt bên ngoài của chúng ta thấy ở đây, dòng chảy hùng mạnh vẫn đều đặn tiến lên, và chính điều đó mới đáng kể, chính điều đó mới tạo dấu ấn. |
|
The cry for rest and peace is often all that we can hear in the physical world. When we rise to the higher planes we realize that the whole current of life which flows from within is not uttering any cry for rest, but is singing a glorious song of triumph as it flows steadily onward in the way which God has appointed for it. You may learn from that song, as is said here—you are part of the harmony and you may learn from it to obey the laws of the harmony. All this wonderful and glorious universe is an expression of God’s will.; it moves steadily on as He means it to move, and all that we have to do, if we would only understand it, is to make ourselves an intelligent part of that movement, to see what it is that He wants us to do, and then do it. |
Tiếng kêu cầu nghỉ ngơi và bình an thường là tất cả những gì chúng ta có thể nghe trong thế giới hồng trần. Khi chúng ta vươn lên các cõi cao hơn, chúng ta nhận ra rằng toàn bộ dòng chảy của sự sống tuôn ra từ bên trong không phát ra bất kỳ tiếng kêu nào cầu nghỉ ngơi, mà đang hát một bài ca chiến thắng huy hoàng khi nó đều đặn tuôn tới trên con đường mà Thượng đế đã chỉ định cho nó. Bạn có thể học từ bài ca ấy, như ở đây đã nói—bạn là một phần của sự hài hòa và bạn có thể học từ đó để tuân theo các định luật của sự hài hòa. Toàn thể vũ trụ kỳ diệu và huy hoàng này là một biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế; nó đều đặn vận hành như Ngài muốn nó vận hành, và tất cả những gì chúng ta phải làm, nếu chúng ta chỉ chịu thấu hiểu điều đó, là làm cho mình trở thành một phần có trí tuệ của chuyển động ấy, thấy điều Ngài muốn chúng ta làm, rồi làm điều đó. |
|
There is no difficulty and there never has been any difficulty in knowing what He wants us to do, for religion in the world from the earliest times of which we have any record has taught precisely this with regard to the actions of men. They have had as ‘many forms of belief, and as many different names for things, as there have been religions, but all of them are agreed as to what a man should do. That is the important thing, and it is strange that people cannot be induced to see that idea and to work with it. They all agree that the good man is the man of generous heart, the unselfish man, the kindly man who does not oppress others but tries in all ways to help them on their way—the man who is charitable to the poor, who will give food to the hungry and drink to the thirsty and clothes to those who are naked, and will visit those who are sick and in prison. These are the things of which Christ is reported to have spoken as deciding the fates of men.75 In Buddhism, the last of the religions-founded by His great predecessor, the Lord Gautama Buddha, you will find exactly the same virtues laid down. When the present World-Teacher came to us in His incarnation as Shri Krishna He preached the same doctrine. There is a variation in certain outward forms and names which do not matter, but the teaching itself has ever been the same. Yet although men have always been told, have always known what was God’s will, it is very hard to get them to do it. |
Không có khó khăn nào và chưa từng có khó khăn nào trong việc biết Ngài muốn chúng ta làm gì, bởi vì tôn giáo trên thế giới, từ những thời kỳ sớm nhất mà chúng ta có bất kỳ ghi chép nào, đã dạy chính xác điều này liên quan đến hành động của con người. Các tôn giáo đã có bao nhiêu hình thức tín ngưỡng, và bao nhiêu tên gọi khác nhau cho sự vật, thì cũng nhiều như số tôn giáo, nhưng tất cả đều đồng ý về điều con người nên làm. Đó là điều quan trọng, và thật lạ lùng là người ta không thể được dẫn dắt để thấy ý tưởng ấy và làm việc với nó. Tất cả đều đồng ý rằng người thiện là người có tâm rộng lượng, người vô tư, người tử tế không áp bức người khác mà cố gắng bằng mọi cách giúp họ trên đường đi của họ—người từ thiện với kẻ nghèo, người sẽ cho kẻ đói thức ăn, cho kẻ khát nước uống, cho kẻ trần truồng áo mặc, và sẽ thăm viếng những người đau ốm và bị giam cầm. Đây là những điều mà Đức Christ được thuật lại là đã nói đến như những điều quyết định số phận của con người.75 Trong Phật giáo, tôn giáo cuối cùng do Vị tiền nhiệm vĩ đại của Ngài, Đức Chúa Gautama Buddha, sáng lập, bạn sẽ thấy chính những đức hạnh ấy được quy định. Khi Đức Chưởng Giáo hiện nay đến với chúng ta trong lần lâm phàm của Ngài với tư cách Shri Krishna, Ngài đã thuyết giảng cùng một giáo lý. Có sự khác biệt trong một số hình thức và tên gọi bên ngoài không quan trọng, nhưng chính giáo huấn thì luôn luôn như nhau. Tuy vậy, mặc dù con người luôn luôn được bảo, luôn luôn biết Ý Chí của Thượng Đế là gì, vẫn rất khó khiến họ thực hiện điều đó. |
|
We read much of the simple life; the simplest lives of all 1 suppose were led by the hermits of old, are led even today in India by people who go forth into the jungle absolutely without anything, and devote themselves entirely to following the higher life. I am well aware that that often deteriorates some of them, and those who are supposed to be devoting themselves to the higher life are sometimes in reality not yet able fully to do so, are not yet at the level where they can spend a whole life in meditation. Thus there are yogis who have caused yoga to be criticized, and hermits who have brought disgrace upon the religion for which they are working. Still, the fact remains that the highest and simplest life of all is in reality the fullest life—the life which is lived wholly upon higher planes. |
Chúng ta đọc nhiều về đời sống giản dị; tôi cho rằng những đời sống giản dị nhất trong tất cả là những đời sống của các ẩn sĩ xưa kia, và thậm chí ngày nay ở Ấn Độ vẫn được sống bởi những người đi vào rừng rậm tuyệt đối không mang theo gì, và hiến mình hoàn toàn cho việc theo đuổi đời sống cao hơn. Tôi hoàn toàn biết rằng điều đó thường làm một số người trong họ suy thoái, và những người được cho là đang hiến mình cho đời sống cao hơn đôi khi trong thực tế vẫn chưa thể làm điều đó trọn vẹn, vẫn chưa ở cấp độ mà họ có thể dành cả một đời sống cho tham thiền. Vì vậy có những yogi đã khiến yoga bị chỉ trích, và những ẩn sĩ đã mang ô danh đến cho tôn giáo mà họ đang phụng sự. Tuy nhiên, sự thật vẫn là đời sống cao nhất và giản dị nhất trong tất cả, trong thực tại, là đời sống viên mãn nhất—đời sống được sống hoàn toàn trên các cõi cao hơn. |
|
That is not for all; most of us are on the line of karma yoga, or active service; our business is to work for the benefit of the world on the physical plane. The man who retires from the world should be working for it far more decidedly and strongly, but at the higher level. He does not retire to meditate in a jungle or a cave merely because he wants to get away from the rest of the world and save his own soul more easily in that way. He goes because, being already a soul which is saved, radiant, rejoicing, strong, a spiritual power, he feels that he can do greater work on higher planes than he could in a city, amid interferences from the physical plane.76 |
Điều đó không dành cho tất cả; phần lớn chúng ta ở trên đường hướng Karma Yoga, hay phụng sự tích cực; công việc của chúng ta là làm việc vì lợi ích của thế giới trên cõi hồng trần. Người rút lui khỏi thế giới nên làm việc cho thế giới một cách rõ rệt và mạnh mẽ hơn nhiều, nhưng ở cấp độ cao hơn. Y không rút lui để tham thiền trong rừng rậm hay hang động chỉ vì y muốn thoát khỏi phần còn lại của thế giới và cứu linh hồn của chính mình dễ dàng hơn theo cách ấy. Y đi vì, vốn đã là một linh hồn được cứu, rạng rỡ, hoan hỉ, mạnh mẽ, một quyền năng tinh thần, y cảm thấy mình có thể làm công việc lớn hơn trên các cõi cao hơn so với điều y có thể làm trong một thành phố, giữa những can nhiễu từ cõi hồng trần.76 |
|
Sometimes men have retired to the jungle merely to avoid the responsibilities and difficulties of worldly duty; but the man who has transcended worldly duty will find that it will fade away from him, and when the way thus opens up for him, he may permit himself to try the higher life of the sannyasi or monk. Yet even then in this period of the world’s history that monastic life does not seem to be the way generally indicated. There is so much to do in the world that at least we must fulfil all our duties there before we may feel ourselves at liberty to retire from it and leave that work to others. It may be that when the great World-Teacher comes He will choose those who are to work upon these different lines. It may well be that among those who are young some may be chosen to lead the life of the monk. We do not know; but it is quite certain that He will need loving, active, willing helpers on the physical plane. For the moment let us do that work, because that comes to our hand to do. If when He comes He chooses to draw some of us away to do some higher work, then He will give us the power to do it, but for the moment let us do that, which is obviously our duty, and do it with all our might as unto the Lord and not unto men. |
Đôi khi con người đã rút vào rừng rậm chỉ để tránh các trách nhiệm và khó khăn của bổn phận thế gian; nhưng người đã vượt lên trên bổn phận thế gian sẽ thấy nó phai dần khỏi y, và khi con đường như vậy mở ra cho y, y có thể cho phép mình thử đời sống cao hơn của sannyasi hay tu sĩ. Tuy nhiên, ngay cả khi ấy, trong thời kỳ này của lịch sử thế giới, đời sống tu viện ấy dường như không phải là con đường thường được chỉ định. Có quá nhiều việc phải làm trong thế giới đến nỗi ít nhất chúng ta phải hoàn thành mọi bổn phận của mình ở đó trước khi có thể cảm thấy mình được tự do rút khỏi nó và để công việc ấy cho người khác. Có thể khi Đức Chưởng Giáo vĩ đại đến, Ngài sẽ chọn những người sẽ làm việc theo các đường hướng khác nhau này. Rất có thể trong số những người trẻ, một số người có thể được chọn để sống đời tu sĩ. Chúng ta không biết; nhưng hoàn toàn chắc chắn rằng Ngài sẽ cần những người trợ giúp đầy tình thương, năng động và sẵn lòng trên cõi hồng trần. Trong lúc này, chúng ta hãy làm công việc ấy, bởi vì đó là điều nằm trong tay chúng ta để làm. Nếu khi Ngài đến, Ngài chọn kéo một số người trong chúng ta ra để làm một công việc cao hơn nào đó, khi ấy Ngài sẽ ban cho chúng ta quyền năng để làm điều đó; nhưng trong lúc này, chúng ta hãy làm điều hiển nhiên là bổn phận của mình, và làm điều đó với tất cả sức mạnh của mình như làm cho Chúa, chứ không phải cho con người. |
|
6. Store in your memory the melody you hear. |
6. Hãy lưu giữ trong ký ức bạn giai điệu mà bạn nghe. |
|
Only fragments of the great song come to your ears while yet you are but man. But if you listen to it, remember it faithfully, so that none which has reached you is lost, and endeavour to learn from it the meaning of the mystery which surrounds you. In time you will need no teacher. For as the individual has voice, so has that in which the individual exists. |
Chỉ những mảnh của bài ca vĩ đại đến tai bạn khi bạn vẫn còn chỉ là con người. Nhưng nếu bạn lắng nghe nó, hãy ghi nhớ nó một cách trung thành, để không điều gì đã đến với bạn bị mất đi, và hãy cố gắng học từ nó ý nghĩa của huyền nhiệm bao quanh bạn. Theo thời gian, bạn sẽ không cần huấn sư nào. Vì cũng như cá nhân có tiếng nói, thì điều trong đó cá nhân tồn tại cũng có tiếng nói. |
|
If you listen you will hear the great song sometimes; then remember it and never forget what you have heard, so that nothing that has reached you may be lost; in that way, by piecing together the fragments of the great song you may gradually learn from it the meaning of the mystery that surrounds you. |
Nếu bạn lắng nghe, đôi khi bạn sẽ nghe bài ca vĩ đại; rồi hãy ghi nhớ nó và đừng bao giờ quên điều bạn đã nghe, để không có gì đã đến với bạn bị mất đi; bằng cách ấy, khi ghép lại các mảnh của bài ca vĩ đại, bạn có thể dần dần học từ nó ý nghĩa của huyền nhiệm bao quanh bạn. |
|
Life is a mystery to those who do not see it as a whole, and none of us can see it fully until we become one with the Logos of the system, the Logos of whom all this life is the expression. Only He can see it fully. We, as minute fragments (I know that is not philosophical, but it comes nearer to the fact than any other expression, I think), as tiny parts, of His consciousness, may identify ourselves to a greater or less extent with that great consciousness. And just in proportion as we do so shall we be able to see this, to sense it, to know it. Each one of us who is trying to hear the song of life is trying to piece together the fragments which he sees here and there. |
Đời sống là một huyền nhiệm đối với những ai không thấy nó như một toàn thể, và không ai trong chúng ta có thể thấy nó trọn vẹn cho đến khi chúng ta trở nên hợp nhất với Thượng đế của hệ thống, Thượng đế mà tất cả sự sống này là biểu hiện của Ngài. Chỉ Ngài mới có thể thấy nó trọn vẹn. Chúng ta, như những mảnh cực nhỏ—tôi biết điều đó không mang tính triết học, nhưng tôi nghĩ nó đến gần sự thật hơn bất kỳ cách diễn đạt nào khác—như những phần tí hon của tâm thức Ngài, có thể đồng hoá mình ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn với tâm thức vĩ đại ấy. Và đúng theo mức độ chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ có thể thấy điều này, cảm nhận nó, biết nó. Mỗi người trong chúng ta đang cố gắng nghe bài ca của đời sống đều đang cố ghép lại các mảnh mà y thấy nơi này nơi kia. |
|
Probably the whole of nature is the expression of something which is simple; a very few simple forces under different conditions account for all we see around us; but we are not yet in a position to see exactly what these forces are and how the conditions work.77 It seems at first strange, therefore, that the further we inquire in a scientific way into nature the greater is the complexity we find. You put on higher and higher powers to your microscope, for example, and you find that what seemed only a simple little speck is in reality a wonderfully complex organism. Until recently chemists used to think of an element, such as gold or iron, as a simple thing, but years ago, by clairvoyant sight, which goes far beyond the power of the microscope, we saw that it was a most complex object. We saw, for example, that what is commonly called a chemical atom of gold contains three thousand five hundred and forty-six of the ultimate physical atoms, and that they are moving in groups round their own centre of gravity in close imitation of the solar system. |
Có lẽ toàn thể thiên nhiên là biểu hiện của một điều gì đó đơn giản; một rất ít mãnh lực đơn giản dưới những điều kiện khác nhau giải thích tất cả những gì chúng ta thấy quanh mình; nhưng chúng ta vẫn chưa ở vị trí có thể thấy chính xác những mãnh lực này là gì và các điều kiện vận hành ra sao.77 Vì vậy, thoạt đầu có vẻ lạ rằng càng khảo sát thiên nhiên theo cách khoa học, chúng ta càng thấy sự phức tạp lớn hơn. Chẳng hạn, bạn gắn vào kính hiển vi những độ phóng đại ngày càng cao, và bạn thấy điều tưởng như chỉ là một đốm nhỏ đơn giản, trong thực tại, là một cơ cấu sống phức tạp một cách kỳ diệu. Cho đến gần đây, các nhà hóa học thường nghĩ về một nguyên tố, như vàng hay sắt, như một vật đơn giản, nhưng nhiều năm trước, bằng thị giác thông nhãn, vốn vượt xa quyền năng của kính hiển vi, chúng tôi đã thấy rằng nó là một đối tượng hết sức phức tạp. Chẳng hạn, chúng tôi đã thấy rằng điều thường được gọi là một nguyên tử hóa học của vàng chứa ba ngàn năm trăm bốn mươi sáu nguyên tử hồng trần tối hậu, và chúng chuyển động thành từng nhóm quanh trọng tâm riêng của chúng, mô phỏng sát sao hệ mặt trời. |
|
So it would appear that the more deeply we investigate the more complex we find everything. Yet ultimately that is not true, because if we go further and further still we at last find that all is built of bubbles in koilon—built of nothing—and the whole material universe is in a way an illusion. Indeed, the Indian books told us this, long ago—that there is an ultimate simplicity behind all the complexity. We cannot speak with certainty because as yet we have not seen it, but it seems so probable that we may almost take it as a certainty that that same rule will hold good everywhere: that while the complexities are quite infinitely greater than we have thought them to be, yet behind all that lies absolute simplicity. |
Vậy dường như càng khảo sát sâu, chúng ta càng thấy mọi sự phức tạp hơn. Tuy nhiên, rốt cuộc điều đó không đúng, bởi vì nếu chúng ta đi xa hơn và xa hơn nữa, cuối cùng chúng ta thấy rằng tất cả được xây bằng những bong bóng trong koilon—được xây bằng hư vô—và toàn thể vũ trụ vật chất, theo một cách nào đó, là một ảo tưởng. Thật vậy, các sách Ấn Độ đã nói với chúng ta điều này từ lâu—rằng có một sự đơn giản tối hậu đằng sau mọi sự phức tạp. Chúng ta không thể nói với sự chắc chắn vì cho đến nay chúng ta chưa thấy nó, nhưng điều đó có vẻ rất có khả năng đến mức chúng ta hầu như có thể xem nó như một điều chắc chắn: rằng cùng một quy luật ấy sẽ đúng ở mọi nơi; rằng trong khi các phức tạp lớn hơn vô hạn so với điều chúng ta đã nghĩ, thì đằng sau tất cả điều đó có sự đơn giản tuyệt đối. |
|
7. Learn from it the lesson of harmony. |
7. Hãy học từ nó bài học của sự hài hòa. |
|
You can stand upright now, firm as a rock amid the turmoil, obeying the Warrior who is thyself and thy king. Unconcerned in the battle save to do his bidding, having no longer any care as to the result of the battle, for one thing only is important, that the Warrior shall win, and you know he is incapable of defeat—standing thus, cool and awakened, use the hearing you have acquired by pain and by the destruction of pain. |
Giờ đây bạn có thể đứng thẳng, vững như đá giữa cơn hỗn loạn, tuân theo Chiến Sĩ vốn là chính ngươi và là vua của ngươi. Không bận tâm trong trận chiến ngoại trừ làm theo mệnh lệnh của Ngài, không còn quan tâm gì đến kết quả của trận chiến, vì chỉ một điều là quan trọng, đó là Chiến Sĩ sẽ chiến thắng, và bạn biết Ngài không thể bị đánh bại—đứng như thế, điềm tĩnh và tỉnh thức, hãy sử dụng thính giác mà bạn đã đạt được nhờ đau khổ và nhờ sự hủy diệt đau khổ. |
|
The great Venetian Master is describing here the state at which the man ought to have arrived when the higher self is the warrior, the one who fights. When the man recognizes that he is that warrior in truth, that he is that higher self, and that it is divine and within the Logos, then he becomes unconcerned as to the battle of life, except to do the bidding of that higher self. |
Ở đây, Chân sư vĩ đại người Venice đang mô tả trạng thái mà con người lẽ ra phải đạt đến khi chân ngã là chiến sĩ, là người chiến đấu. Khi con người nhận ra rằng trong chân lý y là chiến sĩ ấy, rằng y là chân ngã ấy, và rằng chân ngã ấy là thiêng liêng và ở trong Thượng đế, khi ấy y trở nên không bận tâm về trận chiến của đời sống, ngoại trừ việc làm theo mệnh lệnh của chân ngã ấy. |
|
At first in our struggle in the world, in our endeavour to do our work and fulfil our duties, we are very much concerned about the result. We feel that unless we are able to work for it the right will not win. The right will always win in the end. It would be sad that any one of us should fail to do his part towards securing that end, but we may be-sure that whatever is done the right must eventually triumph, and so long as we do the bidding of the higher self, so long as we are making our utmost effort, the fact that that utmost effort appears to fail should not trouble or concern us. But we must be very sure that we are making the utmost effort and that we are not using the certainty that the right will win as an excuse for laziness. |
Lúc đầu, trong cuộc đấu tranh của chúng ta trong thế giới, trong nỗ lực làm công việc của mình và hoàn thành các bổn phận, chúng ta rất quan tâm đến kết quả. Chúng ta cảm thấy rằng nếu chúng ta không thể làm việc cho điều chính đáng, điều chính đáng sẽ không chiến thắng. Điều chính đáng cuối cùng sẽ luôn luôn chiến thắng. Sẽ là điều đáng buồn nếu bất kỳ ai trong chúng ta không làm phần của mình để bảo đảm mục tiêu ấy, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng dù điều gì được làm, điều chính đáng cuối cùng phải khải hoàn; và chừng nào chúng ta còn làm theo mệnh lệnh của chân ngã, chừng nào chúng ta còn nỗ lực hết sức, thì sự kiện rằng nỗ lực hết sức ấy dường như thất bại không nên làm chúng ta phiền não hay bận tâm. Nhưng chúng ta phải hết sức chắc chắn rằng mình đang nỗ lực hết sức và rằng chúng ta không dùng sự chắc chắn rằng điều chính đáng sẽ chiến thắng như một cái cớ cho sự lười biếng. |
|
Thousands of people said with regard to the great war: “O well, the right will win; why should we do anything?” Yes, the right did win; but it was a very sad thing for those who, having had the opportunity to help, deliberately refused. On them lies the karma of a great opportunity lost, and also the karma of all the additional evil that happened because of the delay. If more people had come forward boldly and been willing to sacrifice themselves the right would have won much sooner and many lives would have been saved. Those who hung back were responsible for the lives of the additional people who had to die. I suppose there are many people, though it seems hard to believe it, who would rather send someone else to die for them than die themselves. It is a low stage in evolution, but there are those, apparently. |
Hàng ngàn người đã nói về cuộc đại chiến: “Ồ, điều chính đáng sẽ chiến thắng; tại sao chúng ta phải làm gì?” Đúng, điều chính đáng đã chiến thắng; nhưng đó là một điều rất đáng buồn đối với những người, khi đã có cơ hội giúp đỡ, lại cố ý từ chối. Trên họ có nghiệp quả của một cơ hội lớn bị bỏ lỡ, và cũng có nghiệp quả của tất cả điều ác thêm vào đã xảy ra vì sự trì hoãn. Nếu nhiều người hơn đã can đảm tiến lên và sẵn lòng hy sinh, điều chính đáng hẳn đã chiến thắng sớm hơn nhiều và nhiều mạng sống hẳn đã được cứu. Những ai chùn bước phải chịu trách nhiệm về mạng sống của những người thêm vào đã phải chết. Tôi cho rằng có nhiều người, dù thật khó tin, thà gửi người khác đi chết thay cho mình hơn là tự mình chết. Đó là một giai đoạn thấp trong tiến hoá, nhưng rõ ràng có những người như vậy. |
|
It is absolutely certain that in the great struggle of life the right will win, and also that all will evolve to perfection some day, somehow, not perhaps in this chain of worlds but in some other. Yet those who take that as an excuse for laziness, and say: “All will come out well; I need not exert myself; the ego will fight somewhere on some higher level; it does not matter what I, as a personality, do,” will be making very sad karma for themselves, because they are delaying the final triumph of good in this cycle of evolution. |
Hoàn toàn chắc chắn rằng trong cuộc đấu tranh lớn của đời sống, điều chính đáng sẽ chiến thắng, và cũng chắc chắn rằng tất cả sẽ tiến hoá đến toàn thiện một ngày nào đó, theo cách nào đó, có lẽ không trong Dãy thế giới này mà trong một Dãy khác. Tuy nhiên, những ai lấy điều đó làm cớ cho sự lười biếng và nói: “Tất cả sẽ kết thúc tốt đẹp; tôi không cần nỗ lực; chân ngã sẽ chiến đấu ở đâu đó trên một cấp độ cao hơn nào đó; điều tôi, với tư cách phàm ngã, làm không quan trọng,” sẽ tạo ra nghiệp quả rất đáng buồn cho chính họ, bởi vì họ đang trì hoãn cuộc khải hoàn cuối cùng của điều thiện trong chu kỳ tiến hoá này. |
|
There is a great difference between knowing that the warrior within you must win, and the stage before that when you do not know for certain. In the latter case you feel only vaguely that he must win, and you are very much concerned about your part in the battle; this is a necessary stage, even though it is a mistake. But he who certainly knows attains to perfect calm even in the midst of failure—not the calm of inactivity, but of the divine will in the higher self. From the point of view of the great consummation no one’s work is insignificant. All the little efforts taken together make the mighty whole, but yet each man’s part in it is so small a part that he must not be unduly proud with regard to it. The right must win, but the question is whether we are going to form part of this conquering host now or whether we are to be one of those who are to be left. We must be among either the lifters or the lifted; each man must be one of those who are working for the world, or one of those for whom the work is being done. |
Có một khác biệt lớn giữa việc biết rằng chiến sĩ bên trong bạn phải chiến thắng, và giai đoạn trước đó khi bạn chưa biết chắc. Trong trường hợp sau, bạn chỉ cảm thấy mơ hồ rằng y phải chiến thắng, và bạn rất quan tâm đến phần của mình trong trận chiến; đây là một giai đoạn cần thiết, dù nó là một sai lầm. Nhưng người biết chắc sẽ đạt đến sự bình thản hoàn hảo ngay giữa thất bại—không phải sự bình thản của bất hoạt, mà là của Ý Chí thiêng liêng trong chân ngã. Từ quan điểm của sự thành tựu vĩ đại, công việc của không ai là không đáng kể. Tất cả những nỗ lực nhỏ bé hợp lại tạo nên toàn thể hùng mạnh, nhưng phần của mỗi người trong đó vẫn là một phần nhỏ đến mức y không được quá tự hào về nó. Điều chính đáng phải chiến thắng, nhưng câu hỏi là liệu chúng ta sẽ trở thành một phần của đạo quân chiến thắng này ngay bây giờ hay sẽ là một trong những người bị bỏ lại. Chúng ta phải thuộc về một trong hai nhóm: những người nâng lên hoặc những người được nâng lên; mỗi người phải là một trong những người đang làm việc cho thế giới, hoặc là một trong những người mà công việc đang được làm cho họ. |
|
The real Self will win; it is incapable of defeat. When the personality is thrown off and the warrior within the man fights he must win; when you have identified yourself fully with him, you stand cool and awakened, and you watch the contest in which you are taking part precisely as though you were not taking part in it. You try through it all to listen to that song of life; you use that hearing which you have acquired by pain and by the destruction of pain. So long as you have the pain, and feel it as such, you are still fighting, you are only on the way; but by the destruction of that you come into that state in which you have another sense, as it were, which enables you to hear and to see all the while what it is that lies behind. Amidst all the turmoil and the strife you hear the song of life; amidst the wild confusion you see the mighty current. You have come to know that this pain is only a temporary thing; you pass beyond it so that it is no longer woe to you; it is no longer suffering. You know its meaning, and its power to hurt you is therefore dead. |
Chân Ngã thật sự sẽ chiến thắng; nó không thể bị đánh bại. Khi phàm ngã bị vứt bỏ và chiến sĩ bên trong con người chiến đấu, y phải chiến thắng; khi bạn đã đồng hoá trọn vẹn với y, bạn đứng điềm tĩnh và tỉnh thức, và bạn quan sát cuộc tranh đấu trong đó bạn đang tham dự chính xác như thể bạn không tham dự vào đó. Qua tất cả điều ấy, bạn cố lắng nghe bài ca của đời sống; bạn sử dụng thính giác mà bạn đã đạt được nhờ đau khổ và nhờ sự hủy diệt đau khổ. Chừng nào bạn còn có đau khổ và cảm thấy nó như đau khổ, bạn vẫn đang chiến đấu, bạn chỉ đang trên đường; nhưng nhờ sự hủy diệt điều đó, bạn đi vào trạng thái trong đó bạn có một giác quan khác, có thể nói như vậy, cho phép bạn nghe và thấy suốt thời gian điều nằm phía sau là gì. Giữa mọi hỗn loạn và tranh chấp, bạn nghe bài ca của đời sống; giữa sự rối loạn cuồng loạn, bạn thấy dòng chảy hùng mạnh. Bạn đã đi đến chỗ biết rằng đau khổ này chỉ là một điều tạm thời; bạn vượt qua nó để nó không còn là nỗi thống khổ đối với bạn; nó không còn là khổ đau. Bạn biết ý nghĩa của nó, và vì vậy quyền năng làm tổn thương bạn của nó đã chết. |